sự SƯỚNG, sự KHỔ của người Hà Nội hôm nay

sự SƯỚNG, sự KHỔ của người Hà Nội hôm nay

 

Nhà văn Nguyễn Quang Thân đã có một lối nghĩ độc đáo về cái sự SƯỚNG, sự KHỔ của người Hà Nội hôm nay

1. Người Hà Nội sướng. Mèo mù vớ cá rán, chân chỉ hạt bột, theo đoàn quân về giải phóng Thủ đô, chiến tích cùng mình nhưng khiêm tốn nhận một chức bảo vệ cơ quan, khi phân nhà thấp cổ bé họng được chia gian đầu hồi gần một cái ao thối hoắc, hai bên bờ chỉ có rác. Không thắc mắc gì, yên phận trông coi cơ quan, về hưu thì trông cháu. Đùng một cái thành phố quy hoạch con đường đi qua cái ao. Đường chưa làm xong đất đã lên 7 cây vàng một mét. Bán đi, mua một cái nhà lầu, mỗi đứa con một xe máy, mở một tài khoản ở ngân hàng mà không còn giấu giếm ai, rút tiền lời ăn tiêu, đi du lịch châu Âu, châu Úc. Ai bảo người Hà Nội khổ?

Người Hà Nội sướng. Con một thứ trưởng, không bữa đãi bạn nào dưới 10 triệu đồng, cắm quán nhẵn mặt, thanh toán đã có papa cử thư ký riêng là một ông tiến sĩ đánh mẹc-xê-đẹc xăng nhà nước, tài nhà nước đến trả. Hết tiền, có giấy papa ký khống đó, điền chữ vô, gọi một cú điện thoại thế là túi lại đầy ắp. Ai bảo người Hà Nội khổ?

Không biết phân biệt con cá trích với con cá nục, súc thịt bắp với thịt vai nhưng về hưu cái là mở quán ăn ngay trên miệng cống của phường, chỗ đưa nước thải ra sông Tô Lịch. Miệng cống không mất tiền thuê đất, che một tấm vải bạt lên, một cái bàn ba chân, vài cái ghế, dựng tấm bảng viết phấn riêu cua – bánh đa cua, thế là tha hồ nuôi hai con học đại học. Kiểm tra vệ sinh đến, sẵn riêu cua đó mời mỗi người một bát, lại dúi vào tay một tờ pô-ly-me. Người Tràng An thanh lịch mà, chỗ lối xóm bỏ qua cho nhau thỉnh thoảng còn được bát riêu cua. Lại tiếp tục bán trên miệng cống. Hà Nội dân vãng lai với cửu vạn các tỉnh đầy đường, ai biết đây là miệng cống? Ai bảo người Hà Nội khổ?

2. Người Hà Nội khổ. Mười hai gia đình chia nhau dùng một cái hố xí. Vì là dân phố cổ nên không được xây dựng bừa bãi vi phạm di tích. Thương lượng mãi với nhau rồi mỗi nhà cũng xây được một cái hố xí riêng. Nhưng đêm ngủ phải rắc tro quanh cửa hố xí xem thằng con nào đi ỉa nhờ mà không vứt giấy vào sọt, bắt bà ngày nào cũng phải quét. Thật là ăn không ngon ngủ không yên. Ai bảo người Hà nội sướng?

Người Hà Nội khổ. Mùa thi, nhà chật, con cháu ở quê ra đi thi ăn ngủ nhờ, nó lại còn kéo thêm bạn của bạn thằng con út ông thông gia của ông bác ở quê. Trăm dâu đổ đầu tằm, ai bảo người Hà Nội sướng?

Người Hà Nội khổ. Nhà chỉ hai vợ chồng. Con trai cho đi du học Úc để cai nghiện hêrôin và dễ bố trí vào làm việc chỗ bố. Con gái lấy chồng sang Pháp ở. Tết Trung Thu đến, các thuộc hạ và những nơi xin vay vốn, duyệt dự án, xin cô-ta mang đến hàng thùng bánh nướng, đây là thứ dưới mức tình cảm, không nhận cũng phí. Nhận rồi không biết làm gì, chuột quấy suốt đêm mất cả ăn lẫn ngủ. Nghĩ ra mưu bán được đống bánh biếu ấy thì ngoài đường đã treo biển đại hạ giá bánh Trung Thu, bán một tặng một, bán một tặng hai. Cuối tháng Tám rồi vẫn không biết phải làm gì để đẩy cái thứ "tình cảm chiến hữu" ấy đi được. Ai bảo người Hà Nội sướng?

Phố đã ồn tiếng xe tiếng còi, tiếng chửi nhau giữa hai bà hàng cá đi xe đạp, bỗng rồ rồ, cắc cắc, bụp bụp, "đ…mẹ, chuột cắn mất giắc cắm rồi"; và một lúc sau "Đây là đài truyền thanh phường…". Giật mình suýt rụng tim và thực sự đã có người rụng tim. Ai bảo người Hà Nội sướng?

Vậy thì làm người Hà Nội khổ hay sướng?
…..

Trân trọng

HVLY




TIỄN NGƯỜI ÐI. (Giao Chỉ)

TIỄN NGƯỜI ÐI.
GIAO CHỈ, SAN JOSE (Viet Tribune)

 

Cuối tuần này, San Jose lại tiễn thêm một vị niên trưởng ra đi :

Thiếu Tướng BÙI ÐÌNH ÐẠM.

 

  

 

Tuần trước là ông NGUYỄN BÁ CẨN, vị thủ tướng cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa. Ai cũng nói là, mới gặp bác Cẩn hôm trước, hôm nay đã đi rồi . Thiếu Tướng Ðạm cũng nói như vậy khi đưa tiễn người chiến hữu Saigon về nơi vĩnh cữu. Bây giờ ông Ðạm cũng ra đi, hết sức bất ngờ và nhẹ nhàng. Bác sẽ không bao giờ có dịp trở lại quê nhà, xứ Hà Ðông nghìn trùng xa cách.

Gia đình bác thuộc diện công giáo hai lần di cư tỵ nạn.

Nói đến tỵ nạn là phải nói đến quân đội và thuyền nhân. Nói đến quân đội là phải nói đến tướng lãnh. Tại miền Nam California, từ 6 năm qua có 3 vị sĩ quan ngồi bên nhau cùng làm một chuyện. Viết tiểu sử binh nghiệp các vị tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa.

Không viết về chuyện xấu hay tốt, không viết về quan điểm chính trị hay văn hóa nghệ thuật. Chỉ đơn thuần là tiểu sử. Ngày sinh tháng đẻ, sinh quán, xuất thân. Binh nghiệp. Rõ ràng, đơn giản: Ai, ở đâu, thế nào, làm gì. Mất còn ra sao.

Ngày xưa, chúng tôi ghi nhận được danh sách 130 vị, khi mới gặp lại Ðại tá Lại Ðức Chuẩn, phòng nhất Tổng Tham Mưu mới ở tù ra, đem hỏi lại. Rồi lại tham khảo với thiếu tướng Bùi đình Ðạm. Quí vị góp ý kiến và nói rằng, chắc cũng gần đúng rồi đấy. Một bác làm về nhân viên tổng tham mưu, một bác ngồi ở bộ quốc phòng, mỗi khi muốn hỏi về các tướng lãnh, đây chính là nơi cần tham khảo. Ngày qua ngày, trên Internet chúng tôi tìm thêm ra danh sách 150 vị. Tìm vào web của gia đình tướng Hiếu lại tổng hợp được 161 vị. Sau cùng thiếu tá Hồ Ðắc Huân báo cáo dứt khoát là 170 vị tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa gồm cả hải lục không quân. Có nhiều vị đại tá ra đi được truy thăng nên nằm trong danh sách cố chuẩn tướng, nhiều người không biết.

Thiếu tá Huân là một trong ba sĩ quan ngày đêm sưu tầm để hoàn tất cuốn tiểu sử các niên trưởng đeo sao của Việt Nam Cộng Hòa. Các tướng lãnh một thời anh hùng tạo thời thế cho miền Nam.

Ba vị soạn giả đó là đại tá Trần Ngọc Thống, thiếu tá Hồ Ðắc Huân và trung úy Lê Ðình Thụy. Sách bây giờ tạm xong, đang dò lại để đem in nhưng 1 trong 3 ông tác giả đã qua đời. Trung úy Lê Ðình Thụy đi trước mất rồi. Anh Huân lâu lâu lại điện thoại khoe. Thưa niên trưởng rằng sách của chúng tôi chính xác hơn 90%. Bao nhiêu tướng cảnh sát, bao nhiêu hải quân, bao nhiêu tướng đi tù. Có cả 80 chữ ký thực của các vị tướng lãnh. Sách dầy 700 trang, 20 trang mầu. Và đặc biệt báo tin cho các đại tá mừng là có cả danh sách một số đại tá. Coi như nếu đất nước còn, trước sau cũng có ông lên Tướng. Than ôi! Bây giờ đất nước mất, là mất tất cã. Trung tướng Thiệu đã nói như một nhà tiên tri.

Tôi hỏi rằng : “Thế tiền đâu mà soạn sách, tiền đâu mà in sách”. Ðược trả lời là tự bỏ tiền ra. Thấy cần là làm. Ðâu có nhận lệnh của ai .

Hy vọng tác phẩm sẽ phát hành năm nay nhưng có thể phải chờ đến năm 2010.

Sẽ có nhiều chi tiết chính xác, ngày sinh của quý niên trưởng có thể đúng, nhưng ngày ra đi thì sẽ còn bỏ trống. Có người đã ra đi kín đáo không ai biết. Có người vẫn còn ở lại.

Trong một tuần lễ đã có 3 vị niên trưởng ra đi :

Trung tướng Trần văn Minh, chức vụ cuối cùng là đại sứ vừa qua đời tại Pháp. Bác sĩ Hoàng Cơ Lân cho tôi hay là ông Minh sống kín đáo nên sự ra đi cũng khép kín trong vòng gia tộc. Chuẩn tướng Lê Trung Tường mất tại Saigon, gia đình hết sức đơn chiếc, đang gặp khó khăn, vừa lên tiếng kêu gọi chiến hữu yểm trợ. Ông Tường là vị tư lệnh cuối cùng của Sư đoàn 23 Bộ binh, đơn vị tan hàng tại Ban mê Thuột. Ðại tá Vũ thế Quang, tư lệnh phó bị bắt làm tù binh.

Tại San Jose người ra đi là niên trưởng Bùi Ðình Ðạm.

Trong công việc sưu tầm, anh Hồ đắc Huân hết sức kiên nhẫn liên lạc với hàng trăm vị tướng lãnh ở bốn phương trời. Hỏi thăm qua gia đình, hỏi thăm anh em và hỏi thăm chính các niên trưởng.

Huân kể rằng đã gặp rất nhiều gian truân. Có vị đáp ứng, có vị không. Có vị dễ, có vị khó và có vị khó “cực kỳ“.

Ý kiến phát biểu rất nhiều : người tán thành, người bác bỏ, người nồng nhiệt, người lạnh lùng. Người bao dung chấp nhận, người thắc mắc đặt vấn đề.

Ban tu thư soạn thảo hết sức lễ độ, kiên trì và tiếp tục xúc tiến công việc. Tuy nhiên nếu không phát hành sớm, e rằng sẽ không còn bao nhiêu niên trưởng ngồi chờ để làm độc giả cho bản tiểu sử của chính mình.

Một trong các niên trưởng nhiệt thành yểm trợ cho tác phẩm là tướng Bùi Ðình Ðạm. Nhưng bác Ðạm sẽ không có cơ hội được cầm trên tay cuốn sách của 6 năm đợi chờ. Chỉ còn để lại trong tác phẩm sẽ phát hành 1 tấm hình chân dung hết sức đẹp đẽ.

Tại San Jose, chẳng ai ngạc nhiên khi được thiếu tá Huân báo cáo là vị niên trưởng của chúng tôi đã bày tỏ sự khích lệ nhiệt thành cho ban tu thư tình nguyện của đại tá Trần Ngọc Thống, nguyên trưởng phòng TQT, Bộ TTM.

Từ biết bao nhiêu năm, ông Ðạm vẫn nổi tiếng là người lịch sự, hòa nhã và được lòng anh em. Với một đức tin tôn giáo mạnh mẽ, tình chiến hữu đậm đà, ông là gạch nối đã hàn gắn cho nhiều mối tơ duyên của cả một cộng đồng tuy nhỏ bé nhưng hết sức phức tạp.

Vốn là con người cầu tiến, niên trưởng Bùi Ðình Ðạm đã tốt nghiệp cao học tại Việt Nam. Sang Hoa kỳ ông cắp sách đi học lại, tốt nghiệp về xã hội, làm công việc xã hội cho quận hạt, cho cộng đồng, cho giáo hội và cho cả các hội đoàn từ cựu chiến sĩ đến hội cao niên.

Ông là người xuất sắc trong lãnh vực điều hợp các buổi họp rắc rối nhiêu khê và hòa giải mọi bất hòa.

Trong thang thuốc Bắc thường cay đắng khó uống, Thiếu tướng Bùi Ðình Ðạm là vị táo Tàu. Phải bỏ thêm vào để anh em nuốt cho trôi vị đắng.

Mặc dù sống trên nước Mỹ, trải qua 34 lần tưởng niệm quốc hận, sắp sửa kỷ niệm ngày quân lực lần thứ 44, cộng đồng chúng ta dường như vẫn sống biệt lập. Những bất đồng khác biệt có lý do hay không có lý do cứ lên xuống như thủy triều. Ðất bằng nổi sóng rồi lại bình yên, rồi lại nổi sóng.

Riêng phần niên trưởng Bùi Ðình Ðạm, ông hết sức giữ được tấm lòng tử tế và bình yên. Chúng tôi không bao giờ nghe ông phê phán chê bai. Ðây chính là gạch nối không những trong anh em cựu chiến sĩ mà cả trong hàng ngũ cựu tướng lãnh. Luôn luôn bác theo đúng phẩm cách của con người cao niên đạo đức. Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.

Tuy nhiên, bác Ðạm cũng không hề ngần ngại khi phải dấn thân vào những chuyện khó khăn. Trên 80 tuổi, con người nhỏ bé, nhanh nhẹn vẫn nhiệt thành với tất cã mọi công việc cộng đồng, dù là tôn giáo, xã hội, chính trị hay ái hữu.

Cá nhân chúng tôi quen biết gia đình bác Bùi Ðình Ðạm từ 30 năm qua. Các cháu trong nhà cùng học sư phạm với nhau tại SJSU. Tình chiến hữu pha tình thân hữu, bây giờ ông ra đi để lại thật nhiều thương tiếc. Rất nhiều tin tức tham khảo, chúng tôi vẫn trông cậy vào ông.

 

 

Ngày nào năm xưa, chúng tôi làm văn nghệ trên đồi Charlie. Hân hạnh có các ca sĩ tướng lãnh đứng trên sân khấu. Niên trưởng Nguyễn Khắc Bình, Bùi Ðình Ðạm và Nguyễn văn Tần. Bác Bình hăng hái nhận lời mời các bạn già làm ca sĩ trong ca đoàn. Sau buổi trình diễn ông đã nói rằng, thực không ngờ “già Ðạm” lại hăng hái như vậy. Khi kết thúc chương trình, lá đại kỳ bay trên đầu một ngàn khán giả, tràn ngập hội trường rồi vượt lên sân khấu. Tất cả bừng lên trong bản xuất quân. Một chiến binh cầm ngọn cờ vàng phất theo nhịp quân hành. Ông Ðạm dành lại cây cờ và ngài phất lia lịa. Ông Tần, cựu tư lệnh không quân vùng 4 vì không thuộc lời nên lẩm nhẩm hát theo, hai tay hăng hái vỗ nhịp.

Năm ngoái bác Nguyễn hữu Tần lên chùa rồi về cõi Phật.

Năm nay đến lượt bác Bùi Ðình Ðạm được Chúa gọi về nước Thiên Ðàng.

Trong 3 vị hiện diện trên sân khấu năm xưa, lần đầu tiên làm ca sĩ, ai ngờ lại là lần cuối cùng. Chỉ còn lại tướng Nguyễn Khắc Bình. Mùa quân lực năm nay, không biết ông Tướng sẽ đi dự chỗ nào ?

 

Tháng 5 năm 2010, San Jose ghi dấu 35 năm lưu vong biệt xứ, còn ai lên sân khấu để đồng ca bản xuất quân. Còn ai sẽ ngồi lại đọc cuốn tiểu sử niên giám của chính mình. Và cộng đồng Việt Nam tại San Jose, trong phạm vi các chiến hữu cựu quân nhân, nếu gặp lúc trái gió trở trời phải uống thang thuốc Bắc, ta lại thiếu mất vị táo Tàu.

 

                

 

Ngàn thu vĩnh biệt, thiếu tướng Bùi Ðình Ðạm.

                   Xin chia buồn với bác gái và tang quyến.

GIAO CHỈ, SAN JOSE




Hội Cựu Sĩ Quan Hải Quân Các Khóa Lưu Đày đã tổ chức “Đêm Hội Ngộ “ năm 2009

Hội  Cựu Sĩ Quan Hải Quân Các Khóa Lưu Đày đã tổ chức “Đêm Hội Ngộ “ năm 2009

Hội  Cựu Sĩ Quan Hải Quân Các Khóa Lưu Đày đã tổ chức “Đêm Hội Ngộ “ năm 2009 vào lúc 7 giờ chiề ungày 18, 7, 2009  tại Seattle Washington State. Năm 1969 Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân  ở Nha Trang không còn chỗ nên đã chuyển một số anh em sang thụ huấn ở trường Bộ Binh Thủ Đức. Hai chữ Lưu Đày không có nghĩa là bị đày ải, lưu vong, mà nó được các anh em Hải Quân tự đặt cho  mình để diễn tả tâm trạng trong thời gian thụ huấn đầy thử thách tại  truòng Bộ Binh Thủ Đức , mà nó cũng gợi nhớ  một quá khứ thật êm đềm của những chàng lính trẻ trên quê hương VN và nó cũng  phản ảnh một sự trùng hợp lịch sử rất hào hùng của dân tộc VN.




TRƯỜNG MẸ CỦA TÔI NGÀY ẤY.

                                                                     Hoài Niệm:


                                                                      
TRƯỜNG MẸ  CỦA TÔI NGÀY ẤY.

 

Thiện Ý Nguyễn Văn Thắng

Cựu học sinh Trung học Banmêthuột

(1959-1966)

 

                                                                                                     Nếu cha mẹ đã có công sinh thành dưỡng dục tôi khôn lớn thành người, thì Trường Trung học Banmêthuột đã là Người Mẹ sinh ra tôi về mặt tri thức vì đã trang bị cho tôi những kiến thức căn bản chặng thứ hai con đường học vấn. Là vì sau chặng đầu tiểu học, suốt bẩy năm Trung học, tôi đã học và chỉ học một Trường Mẹ Banmêthuột mà thôi.

        Vì vậy, nhận cuộc Hội Ngộ ở Washington DC, Thủ đô của nước mỹ vào các ngày 3&4 tháng Bẩy năm 2010, của các giáo sư và các cựu học sinh Trung học Công lập Banmêthuột, tôi muốn ghi lại một chút hòai niệm về “Trường Mẹ Của Tôi Ngày Ấy”, để gửi tới Quý Thầy Cô, Quý Niên Trưởng và các Bạn đồng môn qua Đặc san Kỷ Yếu ấn hành trong dịp này, nhân kỷ niệm 55 năm thành lập Trường Mẹ của chúng ta (1955-2010).

 

  • * * * * * * * *

         Ngày ấy, cách nay đúng nửa Thế kỷ (1959-2009), sau khi đậu bằng Tiểu Học, Cha tôi nói, nếu không thi đậu vào trường công, thì phải ở nhà làm ruộng rẫy, chứ gia đình nghèo, không có tiền bạc đâu mà học trường tư. Cha tôi nói thật, vì gia đình tôi lúc ấy nghèo thật, sống bằng nghề làm ruộng rẫy ở Chi Lăng, một khu dinh điền cho những người di cư từ các nơi đến lập nghiệp, cách thành phố Banmêthuột khỏang 7 hay 8 cây số về phía Nam.

        Vì không muốn con thất học, Mẹ tôi đã cố gắng dành dụm riêng cho tôi được học lớp luyện thi đệ thất của Thầy giáo Thùy và may mắn thay nhờ đó tôi đã có tên trong danh sách 100 thí sinh thi đậu chính thức vào trường Trung học công lập Banmêthuột niên học 1959-1960.Cha mẹ tội đều rất vui mừng, riêng cha tôi thì có vẻ ngạc nhiên khi biết tôi đã thi đậu được vào trường công. Bởi trước đó Cha tôi vốn có định kiến với xã hội, không tin tưởng vì nghĩ rằng  muốn vào được trường công học giỏi chưa đủ mà còn phải có thần thế hay chậy chọt tiền bạc mới vào được. Nay thấy tôi thi đậu vào trường công Ông nhạc nhiên là phải. Trước ngày tựu trường Cha tôi đã vui ra mặt, dẫn tôi đi lên thành phố mua cặp bút, sách vở học cụ và hai bộ quần áo đồng phục quần xanh nuớc biển và áo mầu xanh lơ, đôi dầy vải mầu nâu, thay ví áo trắng, quần xanh, giầy vải trắng  như đồng phục học sinh trung học ở các tỉnh thành khác thời bấy giờ; có lẽ để cho phù hợp với thổ nhưỡng cao nguyên đất đỏ của nơi đây chăng? Đồng thời, mua lại cho tôi một chiếc xe đạp cũ làm phương tiện đến trường, xa nhà cả bẩy tám cây số, đường đất, đường nhựa đồi dốc quanh co.

        Tôi còn nhớ lúc đó, thành phố Banmêthuột còn hoang sơ, dân cư thưa thớt, đó đây rừng cây um tùm. Trường Trung Học Công Lập Banmêthuột ở vị trí hiện nay mới xây dựng xong. Trước đó, cơ sở nhà trường và các lớp, nếu tôi nhớ không lầm, vốn là một khách sạn cũ của người Pháp để lại có tên là Hotel Nicholas. Cơ sở này  nhìn ra công viên thành phố, bao quanh công viên là Biệt điện của vua Bảo Đại (Vị vua cuối cùng nhà Nguyễn, triều đại phong kiến Việt Nam), Bệnh viện Banmêthuột, Tòa Đại Biểu Chính Phủ và Ty Ngân Khố của Tỉnh Darlak (?). Trường lúc ấy có tên là Trung học Nguyễn Trường Tộ, chỉ có các lớp từ Đệ thất đến Đệ ngũ hay Đệ tứ thì phải. Trường dựa lưng phía sau là trại Trần Hưng Đạo, một thung lũng dinh điền tập hợp đông đảo các gia đình di cư từ nhiều nơi đến lập nghiệp và cũng có khá đông học sinh của Trường Mẹ gốc ở trại di cư này, trong đó có những người bạn cùng lớp với tôi.

    Nhớ lại, cách nay đúng 50 năm, kề từ năm đầu tiên được học Trường Mẹ, cũng là năm đầu tiên Trường Mẹ được đặt ở địa điểm mới này (1959-2009), không biết những căn nhà sàn dành cho các học sinh nội trú Việt gốc Thượng phía sau nhà Thầy Hiệu Trưởng , sát sân bóng rổ, thư viện phía trái cộng trường do chúng tôi tự xây dựng dưới sự điều động của Gs. Bùi Dương Chi sau này… bây giờ có còn không hay đã thay đôi hoặc bị  dỡ bỏ từ khi nào, sau khi tôi về Sàigòn theo học đại học .

       Tất nhiên, theo thời gian tôi chỉ biết rằng Trường Mẹ chắc là đã phải thay da đổi thịt theo hướng phát triển và ngày một phát triển mọi mặt. Số lớp học cũng tăng lên cùng với sĩ số học sinh ngày một gia tăng. Từ mỗi cấp lớp lúc đầu chỉ có hai lớp ban Anh văn, ban Pháp Văn, theo năm học tăng lên ba, bốn hay nhiều hơn nữa. Niên học đầu tiên của trường mới chỉ đến lớp Đệ Tứ, tức hết Trung học Đệ nhất cấp, năm học sau đôn một cấp lớp, có thêm lớp Đệ tam, rồi Đệ Nhị, các ban, rồi Đệ nhất ban A, Ban B, Ban C. Thời chúng tôi học, hết năm lớp Đệ Tứ còn thi lấy bằng Trung học Đệ nhất cấp, ngòai thi viết, có cả thi vấn đáp, thi ngay tại Trường. Năm Đệ Nhị thì thi lấy bằng Tú Tài I, hết năm Đệ Nhất thì  lấy bằng Tú Tài II ban A, B hay C. Mỗi khi đi thi, chúng tôi phải khăn gói quả mướp xuống thành phố Nha trang để dự thi. Vì lúc đó Nha Trang, một thành phố ven biển Miền Trung được chọn là trung tâm khảo thí dành cho các học sinh thi Tú tài I và Tú Tài II từ một số tỉnh vùng cao nguyên và duyên hải Trung phần Việt Nam như Darlak (Banmêthuột), Đà Lạt, Bảo Lộc, Quy nhơn, Khánh Hòa (Nha Trang)…về dự.   

 

        Có thể nói, tôi thuộc lớp Đệ thất đầu tiên được học trường mới cùng với cái tên mới là trường Trung học Công Lập Banmêthuột, với cái huy hiệu đầu con voi to tổ bố bọc plastic gắn trên ngực áo, biểu tượng đặc thù của một thành phố núi rừng Cao nguyên Trung phần Việt Nam. Cổng trường chắc bây giờ vẫn thế, song cơ sở văn phòng Ban giám hiệu, học vụ, trường lớp thì đã thay đổi nhiều theo thời gian năm tháng cả về số lượng lẫn chất lượng?

         Ngày ấy mới chỉ có một dẫy nhà dài mái tôn xanh nằm phía bên tay phải cổng trường nhìn ra sân cột cờ ở giữa sân, với hàng cây trứng cá và phượng vỹ xen nhau chậy dọc theo trước hành lang các lớp. Dẫy nhà dài này được xây trên nền cao ngang thắt lưng, có các bậc tam cấp đề thầy trò bước lên hành lang phía trước cửa lớp, phía sau chỉ có cửa sổ kiếng đóng mở, nhìn ra sân sau dất đỏ hoang sơ của trường, với nhà vệ sinh nằm sát ven đường đất đỏ Lê Lợi.

      Ngày ấy tôi học lớp Đệ Thất B ban Pháp văn, vì lúc đó mới chỉ có hai lớp, Đệ Thất A,  Anh văn,


Đệ thất B Pháp văn. Cha tôi vốn ảnh hưởng văn hóa Pháp, tốt nghiệp Trung học Pháp, từng là thầy giáo nói và viết thông thảo tiếng Pháp, nên ông muốn tôi học Pháp văn, có lẽ để ông có thể kèm dậy thêm cho tôi chăng, chứ thực tế sau này tiếng anh thông dụng hơn tiếng Pháp nhiều, vì thời thế đã đổi thay, khiến tôi gặp nhiều thất lợi trong học tập, nghề nghiệp và cuộc sống sau này.

      

       Lớp Thất B của tôi nằm ngay cuối dẫy, mà đầu dẫy là văn phòng Hiệu Trưởng và học vụ, chỉ cách ngôi nhà dành cho gia đình Thầy Hiệu Trưởng Phạm Văn Đồng lúc đó một khỏanh đất hẹp. Vì ở cuối dẫy xa “Mặt trời” nên chúng tôi có nhiều thế thuận lợi để thực hành cái mà người ta thường gọi chẳng oan là “nhất quỷ, nhì ma, thứ ba …học trò”.

 

        Tất nhiên, về đại thể thì đúng, nhưng cá thể thì sai vì rất nhiều học sinh không phải như thế mà “hiền như ma Seur”, trong đó có tôi; bằng cớ là suốt 7 năm Trung hoc tôi đã không bị gán cho một “Biệt danh” nào cả, không tin quý Bạn  cứ hỏi quý Thầy dậy tôi và quý bạn cùng lớp mà xem, tôi không nói sai đâu! Nói cho ngay, chăng qua vì biết thân phân nghèo, muốn có trương lai tốt đẹp hơn, nên tôi chỉ biết cắm đầu lo “vừa học vừa làm” , không dám phá phách nghịch ngợm, để phải ở lại lớp hay bị kỷ luật thế thôi. Chứ nếu có điều kiện sống đây đủ chỉ biết ăn học thì chắc tôi cũng chẳng chịu thua kém ai để thể hiện câu “ranh ngôn” của tuổi học trò đâu.

        Vị thế lớp Thất B của tôi còn có một lợi thế thứ hai là gần quán của anh chị Kiếm, tùy phái kiêm bảo vệ nhà trường ngày đêm. Lợi thế là khi kẻng báo giờ ra chơi, chúng tôi có thể đến mua quà sớm nhất, không phải hì hục chen lấn, đổ mồ hôi, có đụng chạm, xô sát, xung đột mất đòan kết. Lớp Thất B của tôi ngày ấy sĩ số gần con số 60, với chị Lan làm trưởng lớp, anh Cường …yếu một mắt làm phó lớp, cả hai vị lúc đó dường như là cao niên nhất lớp.Nghĩa lả ở tuối ấy theo các cụ xưa thường nói, có thể dựng vợ gả chống có con có cái rồi đấy. Chẳng biết sau năm Đệ Thất hai vị này đi đâu lúc nào không biết và giờ này hai vị ở đâu?

         Một vài nhân vật có biệt danh được nhiều người biết đến trong lớp Thất B là Chư lý tóet, có cái tật ai ăn gì cũng chìa tay xin “Miếng coi” để rồi bị bạn bè xúm vào chế nhạo “Miếng coi…đồ thằng cha Lý kia kìa!”thật tội nghiệp. Lâm thò lò,Xuân ốc tiêu và một vài cô thuộc lọai “đanh đá một cách đáng yêu” cũng được phong cho biệt danh…nhưng mà thôi sợ lắm chả dám viết ra đâu. Khốn nỗi, trong số những nàng “đanh đá đáng yêu” này có một nàng tôi “yêu thầm, nhớ trộm”, tôi không giám viết ra đây sợ…nhưng đã “Thú tội riêng” với bạn cùng lớp Lương Minh Châu hôm gặp ở Cali trong dịp nghỉ hè tháng 7-2009 vừa qua, và nói Minh Châu nếu gặp “Người Ấy” thì nói riêng để “cười về một mối tình đơn phương thóang qua của tuổi học trò” thôi đấy nhé. Tất nhiên, đây mới chỉ là “mối tình đầu câm lặng” của năm đầu Trung học, mở đầu cho những mối tình câm khác trong những năm học còn lại nơi Trường Mẹ. ơ, yêu một cô bé cùng lớp vỡ lòng nơi Quê Ngọai, tất nhiên cũng chỉ là tình yêu đơn phương thơ dại…Nhưng thôi, để khỏi lạc đề, xin trở lại chủ đề tôi đang viết, còn  “Mối tình thơ dại” xin hẹn quý vị trong một “Tác phẩm nhớn” mà tôi có ý định sẽ viết sau này.

Quý vị nói tôi đa tình? Tôi không chối, nhưng tất cả chỉ là những mối tình đơn phương thanh cao trong sạch và đầy mộng mơ của tuổi học trò. Quý vị bảo tôi yêu sớm thế? Không sớm đâu, vì tôi biết nhiều bạn cùng trang lứa cũng đã biết yêu, đơn phương cũng như song phương. Có điều tôi phải tự thú, với tôi biết yêu còn sớm hơn nữa kìa, mối tình đầu của tôi đã có từ năm  sáu bẩy tuổi c

     Thời gian đầu, Hiệu Trưởng là Thầy Phạm Văn Đồng cốt cách điển hình về đạo đức tác phong mô phạm được cả các giáo sư kính nể, học trò kính sợ. Một giáo sư của Trường sau này kể cho cúng tôi nghe, Thầy Đồng rất mô phạm, không chỉ nghiêm khắc với học sinh về đạo đức, mà còn khó khăn với đồng nghiệp trên lãnh vực ái tình giữa Thầy và Trò. Hồi đó, với tư cách Hiệu Trưởng, Thầy Đồng đã lưu ý trước các Giáo sư, đại khái trong quá trình giảng dậy mà vị Thầy nào con tim lỡ yêu em học sinh nào, thì không ai cấm, chỉ yêu cầu âm thầm xin đổi đi nơi khác, để tiếp tục yêu và và sau đó có thế cưới làm vợ cũng tốt thôi.

               Tôi và các bạn cùng thời chắc không thể nào quyên được Giáo sư Pháp văn Phạm Ngọc Đỉnh, kiêm Tổng Giám Thị oai phong lẫm liệt, “Hét ra lửa, mửa ra khói” làm nhiều học sinh phát rét. Ấy vậy mà có lần Thầy tâm tình với chúng tôi đại để, nếu như đang lúc thày hùng dũng ra oai với học sinh giữa sân cờ như thế, mà xuất hiện bóng dáng “Cô nhà” đâu đó là lập tức Thầy bị “khựng lại” ngay. Thầy giải thích, chẳng phải vì “Sợ vợ” mà vì theo tâm lý chung, bất chợt có một người thân trong gia  đình xuất hiện khi mình đang thao thao bất tuyệt thí tâm lý chung đều bị “Khựng lại” như thế cả. Học sinh sợ nhưng rất kính yêu Thày Phạm Ngọc Đỉnh, nay Thầy đã qua vãng khá lâu, con trai Thầy là Phạm Ngọc Trấn cùng học chung lớp Thất B với tôi, bây giờ cũng định cư ở Hoa Kỳ, đã gặp lại trong một lần họp mặt Chsbmt tại Houston, hy vọng sẽ gặp lại lần thứ hai trong cuộc Hội Ngộ 2010 tới đây tại Washington DC.

              Về các giáo sư dạy chúng tôi năm Đệ Thất thì nhiều, song đã để lại nhiều dấu ấn trong tôi có lẽ là giáo sư Nguyễn Văn Thành dạy Việt văn, thường dành mưoi mưới lăm phút cuối giờ, sau khi kết thúc các bài giảng văn, bằng kể chuyện, một chuyện tôi nhớ nhất là  “Phi Lac Sang Tầu” của Hồ Hữu Tường, nói về nhà thông thái Mạc Đĩnh Chi đi xứ Tầu, rất lôi cuốn hẫp dẫn học sinh. Giáo sư Đặng Kim Quy dậy tóan rất phong độ, cũng thường kết thúc bài giảng bằng kể chuyển phim trinh thám gián điệp ly kỳ. Tôi còn nhớ Thầy đã dậy cho chúng tôi hát bài “Que sera Sera”  (Biết ra sao ngàysau) nhạc khúc trong một cuốn phim cùng tên thì phải. Một số câu hát lời Việt tôi còn nhớ:

      “Ngày em còn thơ thường hay mộng mơ, thường hay hỏi má em, má ơi, ngày sau?

       Con sẽ thắm tơ duyên,và vui sướng hơn? Thì má khẽ khuyên bảo rằng: Biết ra sao ngày sau, đời luyến lưu vui cười khổ đau, vì sắc duyên là sóng bể dâu, nào ai biết ngày sau. Que… sera… sera” 

 

       Quả đúng thế, nào ai biết ngày sau. Thày Thành ngày sau là một luật sư có tiếng ở Đà Lạt, hiện cùng gia đình sống ở Florida, tôi đã có dịp gặp lại đôi lần, gần nhất là dịp qua nghỉ hè ờ Cali tháng 7 năm 2009. Thầy sức khỏe hơi yếu, nhưng vẫn hăng say,nhiệt thành trong cuộc sống. Thày Quy sau là một phi ông, nghe nói hiện nay cùng gia đình sinh sống êm đềm ở vùng thung lũng hoa vàng Bắc California, tôi chưa có dịp gặp lại và cũng rất mong được gặp lại Thầy. Đó là hai giáo sư trẻ lúc bấy giờ, bên cạnh hai giáo sư thuộc thế hệ già lúc đó mà tôi nhớ nhất, đó là giáo sư Nguyễn văn Ngọan dạy Pháp văn nghiêm  khắc mà khả kính và giáo sư Thụ hiền lành cổ kính như một nhà nho, dậy hán văn với bài học vỡ lòng: “Nhân chi thân thể, hữu tam bộ phận, đầu cán dự tứ chi”… Cả hai vị Thầy khả kính nay đã là người thiên cổ.

       Qua năm Đệ lục, thì một biến cố xẩy ra trong đời tôi. Cha tôi, một trí thức “bất phụng thời” phải lao động cực nhọc nơi nương rẫy, ăn uống thiếu thốn, nên đã qua đời ở tuổi 53 tại bệnh viện Banmêthuột vào ngày 18-11-1960 vì lao lực. Khi

           “Luống đất trồng khoai còn bỏ dở,

             Mẹ lại một mình đói khổ nuôi con!”

                           (Trích bài Thơ Nhớ Mẹ Hiền viết năm 1980, và đã đọc trước khi hạ huyệt Mẹ tôi tại Sài gòn năm 2003)

        

         Tôi còn nhớ, cả lớp Đệ lục và giáo sư hướng dẫn là Thầy Trần Đình Đàm, nếu tôi nhớ không lầm, đã đến tiễn đưa Cha tôi từ nhà xác Bệnh viện Banmêthuột, đối diện với Trường Kỹ thuật Y Jut và Trường Tiểu học Nguyễn Du,  đến nghĩa trang ở gần khu Xóm Đạo, cạnh phi trường L.19 lúc bấy giờ. Xin một lần nữa cảm ơn quý Thầy và quý bạn ngày ấy đã chia xẻ nỗi đau mất Cha của tôi. Năm học này (1960-1961) trong nỗi buồn mất Cha, cuộc sống bắt đầu nhiều cơ cực hơn đã đến với tôi, khi chỉ còn hai Mẹ con cùng bươn trải trong cuộc sống.

        “Mẹ ơi, Mẹ có nhớ những chiều nắng Hạ,

          Ta vào rừng tìm hái lá dong,

           Ta về ta gói bánh chưng,

           Con đem đội bán khắp vùng Chi Lăng”

 Con tủi phận nên càng gắng học,

Mẹ thương con nào quản nhọc nhằn,

Mong sao con sớm thành nhân,

Để Mẹ bớt phần nặng gánh lo toan…”

                           ( Trích bài thơ Nhớ Mẹ Hiền)

 

          Trong hòan cảnh bĩ cực này, nên tôi đã không còn nhớ những kỷ niệm nào với thầy với bạn, với ngôi trường thân yêu…trong năm học này.

         

         Bước qua năm Đệ Ngũ, nhà trường đã xây thêm dẫy nhà lợp ngói đỏ tươi trên một nền cao, khá cao, đối xứng song song với dẫy nhà tôn xanh, ôm lấy hai bên sân cờ ở chính giữ, phía bên trái cổng trường, nhìn từ con đường nhựa trước cổng. Các lớp Đệ Ngũ của chúng tôi nằm trong dẫy nhà ngói đỏ mới này. Những niên học sau đó, sân bóng rổ và dẫy nhà ngói kế bên dần dần được xây dựng thêm, tôi không nhớ rõ thời gian. Dẫy nhà này lúc đầu chia làm ba căn, căn đầu làm phòng học vụ, căn giữa làm phòng thí nghiệm và căn cuối dẫy tạm làm phòng học. Thày Tổng Giám Thị Nguyễn Đình Liễn đóng đô ở phòng học vụ, thường là nỗi kinh hòang đối với những học sinh phá phách, vi phạm kỷ luật mỗi khi bị gọi lên gặp thầy Tổng Giám Thị. Giáo sư Liễn sau này là phu quân của cưu học sinh Lâm Thị Thu Thủy, Bạn học cùng lớp với tôi từ năm Đệ Thất, rồi trở thành Cô giáo Thủy sau khi tốt nghiệp Tú tài kép trở lại Trường Mẹ làm cô giáo.

         Viết đến đây tôi không thế không ghi lại kỷ niệm đặc biệt với nhóm bạn “Bàn Tay Trắng” năm  Đệ Ngũ của tôi. Nhóm gồm năm bạn cùng lớp chơi thân với nhau là NVĐ, NVH, LTTT, ĐTTX và tôi. Cái tên nhóm “Bàn Tay Trắng” do chúng tôi tự đặt và tự biết với nhau, có ý nghĩa nhóm gồm năm người bạn chơi với nhau trong tình bạn trong trắng như cái tuổi “trắng trong thơ ngây vô tội và đầy mộng mơ của tuổi học trò”. Cái tên chúng tôi đặt này hình như có ảnh hưởng hơi hướng của chuyện trinh thám gián điêp ly kỳ rùng rợn có tên là “Bàn Tay Máu” lúc đó đang được đăng từng kỳ trên nhật báo Sàigòn Mới thì phải. Chẳng phải là hình như nữa mà chắc là như vậy, vì chúng tôi đã lấy tên của các nhân vật của câu chuyện đặt cho mỗi người, có điều tên nhân vật Nam thì đặt cho nữ và ngược lại để đánh lạc hướng và thư báo họp mặt giữa chúng tôi cũng dùng hộp thư bí mật để liên lạc y như tiểu thuyết gián điệp ly kỳ “Bàn Tay Máu”. Đúng là trẻ con phải không quý Thầy và quý bạn?. Năm ấy,cũng vì mê đọc tiếp “Bài Tay Máu” trên báo Sàigon Mới ở Ty Thông Tin BMT trên đường Amatrang Long, nhìn qua chợ BMT, nên  tôi đã bị mất chiếc xe đạp mới mà Mẹ tôi đã dành dụm mua cho….Mẹ tôi đã khóc hết nước mắt khi biết chuyện này và tôi rất ân hận, tự trách mình chứ biết làm gì hơn.

         Hồi ấy chúng tôi cũng biết và hãnh diễn rằng nhóm “Bàn Tay Trắng” chúng tôi có hai hoa khôi được không chỉ nhiều học sinh cùng lớp, cùng trường theo đuổi công khai hay thầm yêu trộm nhớ…..mà có cả dăm ba giáo sư trẻ quan tâm.Yêu thì phải ghen, hậu quả là một thành viên của “Bàn Tay Trắng”  là NVĐ bị MTT đánh ghen oan tại vườn hoa trước Biệt Điện vua Bảo Đại. Oan là vì người yêu của NVĐ không phải là một trong hai hoa khôi trong nhóm, mà là người ngòai nhóm, đó là ĐTNH. …. Nhưng thực tế cuối cùng trên trường tình “Ai thắng ai “ thì đã rõ, “kiên nhẫn là mẹ đẻ ra thành công” mà lỵ?

      Sau lớp Đệ Ngũ, lên lớp Đệ Tứ, nhóm “Bàn Tay Trắng” của chúng tôi cũng không còn, lúc đó chúng tôi đã lớn khôn hơn, đã là người lớn rồi, không còn chơi “trò trẻ con nữa”. Thêm vào đó, chúng tôi bị phân tán khác lớp, lại lo học bù đầu để thi lấy bằng Trung Học, nên quan hệ tình bạn giữa chúng tôi bình thường như với các bạn khác. Khi hết bậc trung học, tôi thì lên Đại học tiếp tục học, Đ. và H.  thì vào quân đội, T.T, T.X thì lập gia đình, chúng tôi không còn liên lạc với nhau một thời gian khá lâu. Tôi chỉ gặp lại Bạn T.T lúc qua Mỹ, trong những dịp họp mặt cựu học sinh Banmê ở Houston, còn Bạn T.X, có gặp lại đôi lần ở Sài gòn sau 1975, hy vọng sẽ được gặp lại trong cuộc Hội Ngộ 2010 tới đây. H. thì sau này gặp lại nhiều lần ở Sàigòn, và lần gần nhất cách đây cũng khỏang 6 năm khi Mẹ tôi mất tại Sàigòn, cả gia đình chúng tôi về chịu tang. Lúc đó H. đã dẫn cả một phái đòan đông đảo cựu học sinh Banmê cùng vòng hoa phúng điếu đến chia buồn với gia đình chúng tôi. Xin cảm ơn các Bạn.

               

          Trong suốt bẩy năm Trung học, trong các sinh họat học đường, tôi nhớ nhất hai buổi cắm trại tòan trường xa nhất là ở khu rừng tre trúc cạnh thác Nhà Đèn Di Linh và gần là Thác Nhà Đèn ở phía sau Trường Mẹ Banmê không xa. Trong những buổi cắm trại này chúng tôi đã tham dự  các trò chơi lớn, lần theo bản đồ, chìa khóa bí mật, đi tìm kho tàng, thi trang trí trại, văn nghệ và nấu ăn giữa các lớp thật hào hứng. Trong cuộc cắm trại ở thác Nhà Đèn gần Trường Mẹ năm ấy, tôi đang học lớp Đệ Tam, và dược chọn là một thuyết trình viên trong cuộc Hội Thảo đề tài “Học và hành”, nếu tối nhớ không lầm.

         Tôi cũng nhớ những đêm văn nghệ cuối năm tại sân trường hay tại các rạp hát Tường Hiệp, Thăng Long trong thành phố, hay văn nghệ vào dịp Noel, Lễ Tết hay kết thúc năm học phát thưởng cho học sinh tòàn trường; hay những sinh họat văn nghệ giữa giờ chơi đã để lại trong tôi nhiều dấu ấn mà bụi thời gian không thể xóa mờ.

         Tôi nhớ những buổi tập dượt văn nghệ ngày đêm ở đâu đó cho các chương trình văn nghệ lớn của trường hay tại nhà Lê Văn Thể ở đường Lý Thường Kiệt chuẩn bị cho văn nghệ giữa giờ chơi mà mỗi lớp phải thay nhau thực hiện. Tiếng đàn Tây Ban Cầm độc tấu réo rắt ngân vang của anh Nguyễn Đăng Hòan, anh của Nguyễn Đăng Đỉnh người Ban cùng lớp đã mất sau 1975; tiếng ca cao vút ngân dài của Bạn Lê Văn Thể (lùn) với bản nhạc Mexico gắn liền với tên tuổi thuở học trò của anh; hay tiếng ca những nhạc phẩm quê hương truyền cảm của Lê Đức Thành trong các sinh họat văn nghệ giờ chơi hay văn nghệ nhà trường…   Riêng tôi không thể nào quên vở hài kịch “Bố Cu Tèo” năm ấy, trong đêm văn nghệ tại sân khấu lộ thiên dựng trong sân trường dựa lưng vào hành lang dẫy nhà tôn xanh, với Phạm Viết Khiết (tức Tám Phệ) đóng vai Bố cu tèo, ĐTTX đóng vai Mẹ của Bố Cu Tèo và tôi giả gái đóng vai “Vợ của Bố Cu Tèo”….

         Tôi cũng nhớ những buổi thi đấu thể thao sôi nổi, hào hứng giữa các lớp hay với các trường bạn trên sân vận động gần trường hay của thành phố, với các cầu thủ trứ danh Phạm Công Lạc, Trương Ngọc Quý (Tức Tư Híp), Oanh, Trọng (Tức Mười Lồi)….của lớp tôi. Chắng biết có phải vì mê đá bóng quá sớm mà mấy cầu thủ này đã bị tiêu hao sụn tiếp hợp ở đầu gối, nên sau này đều có một chiều cao khiêm tốn? Xin Quý Thầy dây Van Vật xác nhận có đúng vậy không a?

         Tôi cũng không thể quên những người Thầy Cô đã dậy lớp tôi hay dậy các bạn khác lớp  trong cùng thời gian này như các giáo sư khả kính và khả ái đã dạy các lớp Đệ Nhất Cấp: ngòai các giáo sư Thành, Gs Quy, Gs. Thụ, Gs. Ngọan; Gs. Đỉnh tôi đã kể ở trên, còn có các giáo sư  Quang dạy vẽ, Gs. Dần dạy nhạc và là tác giả bản Hiệu Đòan Ca của Trường Mẹ, cả hai Thầy đều quá vãng; Gs.Nguyễn Duy Trại tức thi sĩ Thái Anh Duy, dậy Việt Văn, hiện nghỉ hưu bên con cháu ờ Nam Cali; Gs. Nguyễn Văn Hường dạy Vạn Vật, Gs. Nguyễn Xuân  Các dậy Pháp Văn, Gs. Lương Em dậy tóan,; Gs. Lương Duyên Hãn dạy anh văn, cả bốn vị hiện ở Houston, Tiểu bang Texas Hoa Kỳ; Gs. Trần Văn Thịnh dạy Công dân phu quân của bạn cùng lớp Đinh Thị Thanh Xuân hiện ở Úc; Gs. Cung Kim Trạch dạy tóan thì đã qua đời tại BMT nhiều năm trước;Gs. Di dậy Anh văn hiện ở Việt Nam nghe tin mới qua đời, Gs. Đồng Văn Long dậy Việt Văn (mà chúng tôi từng đùa với nhau viết tên họ Đồng của Thày theo ký hiệu hóa học của đồng= Cu ) và Gs.Nhất dậy Pháp Văn không rõ hiện các vị ở đâu; Gs. Bùi Dương Chi dạy Anh Văn thì đã định cư ở Mỹ từ lâu có đi về Việt Nam nhiều lần song tôi vẫn chưa có dịp gặp lại; Gs. Chế Minh Điền dạy Anh văn và  Gs. Trúc dậy Anh Văn không rõ hiện hai Thầy ở đâu; Gs. Kiểm dạy Việt Văn và Hán văn không biết hiện ở đâu; Gs. Trần Đình Đàm dậy Việt Văn, nghe nói đã qua định cư tại Hoa Kỳ? Gs Tỏan dậy Việt Văn cũng không rõ hiện ở đâu, Gs. Vũ ĐìnhTiến dậy vạn vật sau 1975 có gặp lại ở Saigon, nghe nói hiện định cư tại Úc; Gs. Ngự dạy Việt văn đã qua đời tại Việt Nam; Gs. Nhàn dạy Anh văn hiện định cư tại Dallas, TX; Gs. Dũng dạy Tóan không rõ hiện ở đâu; Gs. Phúc dạy Tóan hiện định cư tại Hoa Kỳ, chúng tôi có gặp lại nhân Thày đến dự một đám cưới con một cựu học sinh BMT tại Houston; Gs. Thắng dậy Thể dục Thế thao, nghe nói đã qua đời tại Nam California. … và một số Thầy Cô nữa mà tôi không còn nhớ được.

      Và các giáo sư Đệ Nhị cấp như Gs. Nguyễn Thị Tiên dạy Việt Văn mà tôi đã được gặp lại đôi ba lần trên đất Mỹ trong các dịp Hội Ngô cựu học sinh Banmê, đặc biệt là trong dịp ra mắt sách của tôi tại New Orleans, lại được chính Cô giới thiếu tác giả là học trò cũ của mình mà cả Thầy và trò chúng tôi hôm ấy đều xúc động như muốn khóc phải không thưa Cô và Thầy Ẩn? Hồi còn học Cô, bọn học sinh chúng tôi thường nói nhỏ với nhau, các Cụ thân sinh sao khéo đặt tên cho Cô thế, thật chính xác. Vì quả thực hồi đó Cô đẹp như Tiên phải không các đồng môn Banmê? Và bây giờ Cô vẫn đẹp, có khác chăng trước đây Cô đẹp như “Tiên nữ” , giờ đây Cô đẹp như  “Tiên lão” tức đẹp lão phải không ạ, thưa CôTiên?.

          Gs. Phan Ngọc dạy Tóan, hiên dịnh cư ở Washington DC và tôi đã gặp lại khi Thầy đến Houston họp mặt với các Gíáo sư  và các cựu hoc sinh Banmê cách đây ít năm; Gs. Mai Xuân Kính dậy lý hóa hiện còn ở Việt Nam, trước và sau 1975 tôi có gặp lại đôi lần khi Thầy dậy ở trường nữ Trung Học Lê Văn Duyệt ở Gia Định và mở tiệm sửa TV, Radio sau 1975 trên đường Lê Văn Sĩ Quận 3 Sàigon, gần Lăng Cha Cả, dù vẫn tiếp tục dậy học; Gs. Trần Văn Tùng dạy vạn vật, hiện ở Canada, rất tiếc hôm Thầy ghé Houston, năm nào, tôi đã không gặp lại được Thầy. Đặc điểm của Thầy mà học sinh học môn Vạn vật của Thầy ai cũng biết, là trước khi vào bài giảng, là năm mười phút im lặng nặng nề trôi qua, dương như Thầy muốn để học sinh “ổn định tâm hồn” trước khi đi vào bài học?

        Cá nhân tôi thì một kỷ niệm khó quên với Thầy, là một nửa cấm túc Thầy dành cho tôi năm Đệ Tam về cái tội bỏ áo ngòai quần, cũng là cấm túc duy nhất trong suốt 7 năm Trung học của tôi. Tôi rất khổ sở, nên giờ ra chơi,tôi đã lẽo đẽo theo chân Thày đến tận cửa phòng Giáo sư và Hiệu Trưởng ở đầu dãy nhà mái tôn xanh để kêu oan với Thầy rằng: “Em không có ý vi phạm kỷ luật, chẳng qua là vì buổi sáng đến trường đúc gạch đất trộn xi-măng để xây thư viện,quần bị dơ nên bỏ áo ngòai quần để che đậy”, năn  nỉ Thầy cách mấy Thày cũng không tha. Ức qua, tôi đã nói “Như thế là Thày phạt oan ,em sẽ không đi cấm túc”. Không biết ThầyTùng lúc đó có nghe thấy không, chỉ thấy Thầy lẳng lặng bước vào phòng Giáo sư. Chủ nhật tôi không đi cấm túc tại trường và đã chuẩn bị một bài cãi hùng hồn vào giờ của Thầy trong tuần kế đó, nếu Thầy bắt lỗi về vụ không đi cấm túc. Kết thúc bài cãi này là tôi có ý định sẽ xin nghỉ học, tự động ra khỏi lớp, về nhà mua sách tự học…oai chưa! Thế nhưng, may quá, giờ học của Thầy không thấy Thày nói gì. Cảm ơn Thầy Tùng. Vì nếu ngày ấy, ý nghĩ nông nổi này của tôi, nếu trở thành hiện thực, thì sự ngông cuồng nông cạn của tuổi trẻ ngày ấy chắc chắn là tai hại cho tương lai đời tôi. Vì chắc gì ý định tự học mà tôi thực hiện được hay phải bỏ học luôn, và đường học vấn bị cắt ngang, tôi sẽ làm gì và ở đâu hôm nay đây?

         

         Gs. Viên dạy Tóan, vừa mới qua đời ở Sàigòn, khi tôi còn ở Việt Nam có được gặp lại Thầy trong một vài cuộc họp mặt của cựu học sinh Banmê, có cả Thầy Trại, Thầy Di tham dự…Thày là một nhà mô phạm nghiên nghị, ít nói, giảng bài chừng mực, ít gần gũi tâm tình với học sinh ngòai giảng dậy chuyên môn; Gs. Tuấn dạy Triết dường như vẫn ở Đà Lạt Việt Nam, con người Thầy đúng là triết gia,như chúng tôi thường nói với nhau. Triết đến độ một lần tôi nhớ vào năm Đệ Nhất, trong giờ Triết, Thầy gọi bạn tôi là Nguyễn Văn Sự lên trả bài, nó đang hút thốc lén, đứng lên nói “Dạ thưa Thầy em đang bận”, ấy thế mà Thầy Tuấn Triết vẫn bình thản cho qua kêu học sinh khác.Tôi đã không gặp lại Thầy sau khi rời Trường Mẹ.Nay vừa nghe tin Thầy Tuấn mới qua đời. Tôi rất súc động và xin được khóc Thầy và phân ưu với cac con Thầy cùng tang quyến. Được biết Cô Tuấn cũng đã qua đời trước Thầy đã lâu. Nơi cõi Vĩnh hằng cực lạc, nơi dành cho những người hiền đức, chắc Thày Cô đã sum họp vui vầy . Vĩnh Biện Thầy Tuấn. Vĩnh biệt Thầy!

          Gs. Đính dạy Vạn vật, là phu nhân của Thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Khoa Phước, hiên dịnh cư tại Mỹ, chúng tôi đã gặp lại Thầy Cô tại Houston cách nay vài năm trong một bữa ăn trưa với anh em cưu học sinh Banmê ở đây; Gs. Võ Ngọc Lô dạy Lý Hóa hiện vẫn sống ở BanMêThuột và dạy ở Trường Mẹ Banmê, Phu nhân  của Thầy Lô là Nguyễn Thị Trâm, bạn cùng lớp Đệ Nhị cấp với tôi; Gs. Tấn dạy Tóan, Gs. Tôn Thất Diễm Bào dạy Anh Văn, Gs. Sung dậy Công dân, Gs. Doanh dậy Việt Văn cà bốn vị Giáo sư tôi không biết hiện giờ ở đâu; Gs. Ngô Thanh Châu dạy sử địa hiện vẫn ở Sàigòn, năm Đệ Nhất thấy nhà ở xa, để có điều kiện học thi, Gs. Châu đã cho tôi ở trọ chung với Thầy và Gs. Doanh tại ngôi nhà dành cho các giáo sư ở gần trường, trên đường đất đỏ Lê Lợi. Sau 1975 tôi vẫn thường gặp Gs. Ngô Thanh Châu, nhưng từ khi định cư tại Mỹ, tôi đã mất liên lạc và có ý định sẽ tìm cách liên lạc lại với Thầy …Còn một số Thầy cô nữa mà tôi quên. Xin cảm ơn tất cả Quý Thày Cô ……và chân thành tưởng niệm các Thầy Cô quá vãng.

     Về các Thầy Hiệu Trưởng  trong các năm tôi học tại Trường Mẹ, theo thời gian nếu chúng tôi không nhớ lầm:Tiên khởi là Giáo sư Phạm Văn Đồng, kế lần lượt đến Gs. Nguyễn Khoa Phước; Gs. Tôn Thất Diễm Bào (Quyền Hiệu Trưởng?), Gs. Quang. Gs. Nguyễn Khoa Tuấn và sau khi tôi rời Trường Mẹ, Thầy Trần Văn Tùng là Hiệu Trưởng cho đến 1975 và sau đó tôi không rõ.

    Về các Thầy Giám học tôi nhớ hình như  có Gs. Lâm và Gs. Cung Kim Trạch. Thày Lâm không rõ hiện nay ơ đâu. Thày Trạch thỉ đã qua đời cách nay nhiều năm tại BMT. Về các thầy Tổng GiámThị, trong thời gian tôi học dường như chỉ có hai Thầy: Gs. Phạm Ngọc Đỉnh thì đã qua đời cách nay cũng khá lâu; Gs.Nguyễn Đình Liễn, thì hiện định cư tại Washington, Hoa Kỳ, sau đó giao sư nào làm Tổng giám thị nữa thì tôi không rõ.

 * * * * *

    

         Thấm thóat mà tôi đã xa Trường Mẹ Banmêthuột 43 năm (1966-2009), chắc hẳn cảnh vật giờ đây đã có nhiều đổi thay. Những người Thầy Cô dạy chúng tôi năm nào, cũng như những người bạn học cùng lớp hay khác lớp cùng trường trong thời khỏang 7 năm tôi học nơi Trường Mẹ, hiển nhiên kẻ còn người mất. Những vị Thầy và Trò đã mất thì đã yên nghỉ trong cõi Vĩnh Hằng. Những vị Thầy và Trò còn sống đã gặp hay nay mai gặp lại, trong cuôc Hội Ngộ 2010 tới đây, xin cũng đừng ngạc nhiên nếu có thấy sự đổi thay này: rằng ngày xưa tóc Thầy còn xanh, tóc Trò cũng còn xanh, mà ngày nay sao tóc Thầy đã bạc, tóc Trò cũng trắng phau  hay muối tiêu thế này…. Vì đó  là một tất yếu theo quy luật thời gian, năm tháng đã phá hủy tịnh tiến thân xác chúng ta.

          Thế nhưng có môt điều thời gian không phá hủy được là những kỷ niệm đẹp, thân thương đáng nhớ một thời đã qua của Thầy Trò chúng ta, cái thời mà cách đây hàng nửa Thế Kỷ, Thầy Trò chúng ta đã cùng hít thở một bầu không khí cao nguyên trong lành, đất đỏ bụi mù trời theo cơn lốc vào mùa nắng hạ và dính chặt như keo sơn vào mùa  mưa rừng, cùng sinh họat theo chức năng Thầy Trò của mình và đã để lại những dấu ấn sâu đặm mà bụi thời gian không thể xóa mờ.

 

         Mong rằng Thầy Trò và đồng môn, đồng liêu Trung học Banmêthuột sẽ được gặp lại nhau đông đủ trong ngày Hội Ngộ Tháng 7 –  2010 ở Washington DC tới đây,  để hàn huyên thân tình, kể lại cho nhau nghe những kỷ niệm đẹp, thân thương đáng nhớ ngày đó, để có chung cảm giác Hạnh Phúc, dù chỉ là hạnh phúc nhất thời vắn vỏi trong  dăm ba giờ, vài ngày nơi xứ lạ quê người, cách xa Trường Mẹ bằng cả một Đại Dương và xa kỷ niệm hàng nửa Thế Kỷ.

         Vì Hạnh Phúc là gì nếu không phải là những cảm giác có ý thức do những tác động của nội tâm hay ngọai cảnh? Hạnh phúc Hội Ngộ của Thầy Trò chúng ta chính là tác động từ nội tâm hòai niệm quá khứ và ngọai cảnh là bầu không khí họp mặt hiện tại của những con người có chung một quá khứ. Hiện tại và quá khứ như quyện vào nhau cho ta hạnh phúc hôm nay. Phải không, thưa Quý Thấy, Quý Niên Trưởng và các Bạn cựu học sinh Trường Mẹ Banmêthuôt?

 

                 Thiện Ý Nguyễn Văn Thắng


           Cựu học sinh Trung họcBanmêthuột

                       Niên học 1959-1966




Giao Chỉ : ÐỀ TÀI LỊCH SỬ

ÐỀ TÀI LỊCH SỬ

Nhân Lễ Tạ Ơn Hoa Kỳ Tháng 11-2009

Từ con tầu May Flower đến Thuyền Nhân Việt Nam

Loạt bài đặc biệt của Giao Chỉ, San Jose

Ghi dấu 35 năm định cư tại Hoa Kỳ (1975-2010)

 

                                                        

 

Phần 1: Lịch sử 400 năm Lễ Tạ Ơn Hoa Kỳ.

 

Phần 2: Lịch sử 50 năm di cư tỵ nạn Việt Nam.

               

Ði tìm ngày biểu tượng tỵ nạn Việt Nam?

                Một số dữ kiện.

20 tháng 7-1954: Chia đôi đất nước. / 30 tháng 4-1975: Mất nước tan hàng. / Ngày ODP năm 1980. / Ngày con lai Home Coming Act 1987. / 14 tháng 11-1988 Cao Ủy Tỵ Nạn đặt trọng tâm vào thuyền nhân Ðông Nam Á. / Ngày 14 tháng 3-1989: Mở đầu thanh lọc và cưỡng bách hồi hương. / 20 tháng 7-1989: Tự do cho tù chính trị. / 20 tháng 6-2000: Ngày Quốc tế tỵ nạn. / 11 tháng 5-2001 Ngày tuyên dương người tỵ nạn tại Hoa Kỳ.  

Dân số Việt Nam tại Hoa Kỳ:

 1970: NA,  1980: 250,000.   1990: 600,000,   2000:1,124,000,   2007: 1,750,000,   2010: 2,000,000 Est.. Hiện nay Á châu xếp hạng qua Census 2000 như sau. Tàu, Phi, Ấn, Hàn, VN.(# 5)

Census 2010 tiên đoán: Tầu (#1) Việt (#2)

               

                                                                                                 Phần 1

         NGƯỜI VIỆT và LỄ TẠ ƠN 2009 TẠI HOA KỲ

                                                                                                     Giao Chỉ,  San Jose

 

        LỊCH SỬ 400 NĂM CỦA THANKSGIVING HOA KỲ:

       

Mùa Lễ Tạ Ơn năm 2009, người Việt chúng ta tại Hoa Kỳ sẽ tham dự Thanksgiving Day lần thứ 10, thứ 20 hay là lần thứ 30. Và những người Việt tại Úc, Canada, tại Âu châu cũng đều có mùa tạ ơn trên khắp thế giới. Là người dân Việt tha hương, chúng ta sẽ có nhiều lý do để tạ ơn cuộc đời vì còn tồn tại đến ngày nay.

        Trước năm 1975, nửa triệu chiến binh Hoa Kỳ có mặt tại Việt Nam đã đem đến Sài Gòn một nền văn hóa đặc biệt cùng với những con gà tây hiện diện trên bàn ăn suốt từ Thanksgiving tháng 11 đến mùa Lễ Giáng Sinh tháng 12. Tuy nhiên, thực sự tục lệ tạ ơn vẫn còn xa lạ với phần đông người Việt.

        Qua định cư tại Hoa Kỳ, ảnh hưởng của nền văn hóa Hiệp Chủng Quốc đã đến với các gia đình Việt Nam, nhất là trường hợp con cái chúng ta làm ăn xa, tháng 11 kéo về xum họp một nhà.

        Bên lò sưởi ấm, gia đình tỵ nạn quây quần tưởng nhớ bà con thân thuộc, nhắc lại chuyện xưa và bữa ăn gà tây vì làm theo đám nhỏ yêu cầu nên thực đơn không khác gì gia đình người Mỹ đến xứ này 400 năm về trước.

        Câu chuyện sự tích mà chúng tôi kể lại hầu quý vị ngày hôm nay thực sự là một loại sử liệu rất tầm thường mà các bà giáo hiền lành đã bắt đầu kể cho các trò lớp tiểu học tại khắp nước Mỹ vào đầu tuần này.

        Tục lễ ăn uống hội hè gọi là lễ tạ ơn trời đất vốn đã được người La Mã và Hy Lạp truyền bá từ lâu. Sau đó người Anh, Nga, Na Uy, Hòa Lan, Ba Lan đều có ngày Lễ Tạ Ơn vào mùa Thu.

        Câu chuyện Lễ Tạ Ơn của Hoa Kỳ phải bắt đầu từ lúc con tàu May Flower chở di dân Thanh Giáo từ Anh quốc đi Tân Thế Giới vào ngày 6 tháng 9-1620 với các gia đình di dân chỉ vỏn vẹn có 44 người. Con tàu Hoa Tháng Năm lịch sử này lại được yểm trợ đông đảo bởi hơn 60 thành viên thuộc thủy thủ đoàn.

        Họ đi theo hải trình mà các nhà thám hiểm tiền phong đã mở đường từ trước, vượt Ðại Tây Dương 65 ngày để đến miền bờ biển miền Ðông Hoa Kỳ.

        Khi đến miền đất mới, đám di dân đã trải qua một mùa đông đầu tiên vô cùng khắc nghiệt làm chết 47 người trong số hơn 100 thành viên của May Flower.

        Qua mùa Xuân, với sự giúp đỡ của thổ dân da đỏ thuộc một bộ lạc hiền lành kế cận, di dân bắt đầu canh tác và vị thống đốc là William Bradford tổ chức Lễ Tạ Ơn vào năm 1621. Di dân và thổ dân đã có một lễ Thanksgiving đầu tiên tại Hoa Kỳ với các món gà rừng, đậu, bắp của năm đầu gặt hái được mùa. Tất cả các thực đơn chế biến pha trộn theo kinh nghiệm từ các món ăn quê hương Âu Châu phối hợp với các thức ăn của thổ dân da đỏ ở Mỹ châu.

        Lịch sử ghi lại là gần 100 di dân tỵ nạn đã cùng với 90 thổ dân tham dự một lễ hội hòa bình suốt ba ngày. Sau mỗi bữa ăn còn có các cuộc thi tài giữa hai bên.

        Buổi Lễ Tạ Ơn đầu tiên dù đã mở đầu nhưng rồi tiếp theo những năm sau vì những khó khăn, thiên tai, chiến tranh nên chưa chính thực tạo thành truyền thống.

        Năm 1789, tổng thống Washington mới ra tuyên ngôn ngày 26 tháng 11 là Ngày Tạ Ơn, nhưng cũng chỉ có một ngày.

        Trong suốt 240 năm tiếp theo, Hoa Kỳ có tổ chức nhiều Lễ Tạ Ơn trong các dịp ký hòa ước, tuyên ngôn hòa bình, mừng chiến thắng trên chiến trường nhưng chưa có một ngày Thanksgiving với ý nghĩa thuần túy dâng lời cảm ơn về cuộc sống lên thượng đế. Do đó Hoa Kỳ vẫn chưa có một ngày Thanksgiving thống nhất.

        Năm 1830, một nhà báo phụ nữ lên tiếng đòi hỏi chính phủ phải chính thức tuyên ngôn một ngày lễ tạ ơn cho toàn quốc. Bà tiếp tục đòi hỏi như vậy suốt 30 năm.

        Cho đến năm 1863, sau khi chiến thắng miền Nam, thống nhất đất nước. Tổng thống Lincoln mới có cơ hội tuyên bố ngày thứ Năm cuối cùng của tháng 11 hàng năm sẽ là Ngày Lễ Tạ Ơn.

        Từ 1863 đến năm nay 2009 là đã trải qua gần 150 năm, Hoa Kỳ đã làm gì với những ngày Thanksgiving. Một mặt họ giữ truyền thống văn hóa gồm các thực đơn căn bản và đốt ngọn lửa tâm linh trong tinh thần xum họp gia đình. Mặt khác nước Mỹ hùng cường đã có dịp thương mại hóa để ngày Lễ Tạ Ơn trở thành tuần lễ mở đầu cho mùa lễ hội cuối năm, kích thích cả guồng máy kinh tế quốc gia.

        Khác với Lễ Giáng Sinh, Thanksgiving vượt lên trên các tập tục tôn giáo. Hầu như mọi gia đình đều có thể tổ chức Ngày Lễ Tạ Ơn theo các tôn giáo khác nhau đúng như 3 ngày Lễ Tạ Ơn của tiền nhân Bắc Mỹ vào năm 1621. Lúc đó các di dân và thổ dân không hề có một lễ nghi tôn giáo nào khác ngoài việc ăn uống, vui chơi.

        Ngày Lễ Tạ Ơn hiện nay ấn định vào ngày thứ Năm đã cho Hoa Kỳ có cơ hội dành luôn 4 ngày cuối tuần được coi là tuần lễ bận rộn nhất trong năm. Các xa lộ, phi trường, các trạm xe đều tấp nập. Các tiệm ăn, các chợ thực phẩm phải chuẩn bị nhiều ngày cho các gia đình mua sắm. Những hàng trái cây, các con gà tây nhồi thịt được đặt trước, các siêu thị tấp nập khách ra vào.

        Và sắc dân từ bốn phương trời đến định cư tại Hoa Kỳ đã đồng thời đem đến biết bao nhiêu thực đơn đặc thù bày trên bàn tiệc Thanksgiving những màu sắc văn hóa khác biệt để xây dựng Mỹ quốc thành một Hiệp Chủng Quốc đích thực trên toàn thế giới.

        Trong các gia đình Việt Nam, Lễ Tạ Ơn có cả đèn nhang cúng ông bà, heo quay, bánh hỏi, chạo tôm, nem nướng, chả giò và phở tái tương gừng.

        Khi những đứa con, đứa cháu từ xa về xum họp, tiếng Việt, tiếng Anh ồn ào trên bàn ăn với thực đơn ba miền vừa dọn dẹp xong thì cũng là lúc ông nội kể lại về chuyến tàu vượt biên Hải Hồng chở 2,500 người cả Hoa lẫn Việt cắm neo ở bờ biển Mãi Lai vào tháng 11-1978. Năm đó cả nhà Việt Nam mang tên giả Trung Hoa ghi danh đi bán chính thức phải nằm chờ đói khát hơn hai tháng trong mùa Lễ Tạ Ơn trên con tàu vượt biên vĩ đại ở biển Ðông. Hình ảnh tàu Hải Hồng đã làm rung động thế giới.

        Ðó là lý do chúng ta mang câu chuyện tàu May Flower 400 năm về trước của thế kỷ 16 nối kết với các con tàu vượt biển Nam Hải của thế kỷ thứ 20.

*      *      *

        TỪ DI DÂN ÐẾN TỴ NẠN:

        Vào thế kỷ thứ 16, hơn 400 năm trước, May Flower đem di dân đến Bắc Mỹ không có phủ Cao Ủy Tỵ Nạn, không có Sở Di Trú. Ðến thế kỷ thứ 20 thì di dân Việt Nam vượt biển được gọi là tỵ nạn và bách khoa tự điển bắt đầu có chữ Boat People-Thuyền Nhân.

        Ðể bắt đầu bài học lịch sử, chúng ta hãy chuẩn bị một chút kiến thức để làm hành trang cho cuộc đời tỵ nạn. Sau bao nhiêu gian khổ mà còn sống đến ngày nay thì hãy ngồi xuống để chiêm nghiệm xem mình là ai.

       

1.     Tỵ nạn là ai?

        Liên Hiệp Quốc định nghĩa rằng: “Người nào bị bắt buộc phải rời bỏ quê hương để tránh tù đày, hành hạ, vì lý do sắc tộc, tôn giáo, chính trị, hay xã hội, văn hóa khác biệt thì người đó là dân tỵ nạn. Nếu anh phải rời nơi cư trú, vượt biên, vượt biển vì chiến tranh, vì biến cố hay vì nhân quyền không được tôn trọng, rồi bây giờ không muốn trở về hay không trở về được thì anh sẽ thành người tỵ nạn.”

        Một cách văn vẻ triết lý hơn, người ta nói rằng: “Tỵ nạn là con người bình thường ở trong một hoàn cảnh khác thường.” Như vậy, sau khi đã hiểu thân phận tỵ nạn thì chúng ta nên biết rằng dù có mang căn cước gốc tỵ nạn nhưng người Việt tại Hoa Kỳ hiện không còn là tỵ nạn đương nhiệm. Chúng ta đã trở thành công dân Mỹ gốc tỵ nạn Việt mà thôi.

        Trên thế giới ngày nay có 15 triệu dân tỵ nạn còn nằm trong trại ở các quốc gia đệ tam và 22 triệu dân tỵ nạn lưu đày ngay trên xứ sở của mình vì lý do chiến tranh, biến cố chính trị hay thiên tai. Ðó mới là những người tỵ nạn đương nhiệm.

       

2.     Sách vở tỵ nạn:

        Lại nói một cách văn vẻ thì hiến chương tỵ nạn nằm trong điều 14 của tuyên ngôn thế giới nhân quyền ghi rằng dân tỵ nạn có toàn quyền đi tìm nơi để sinh sống. Các quốc gia đều phải có nghĩa vụ tiếp nhận và định cư người tỵ nạn nếu họ muốn đến nơi đó để lập nghiệp.

        Trên thực tế thì chính các quốc gia tự do tùy lòng bác ái và khả năng tiếp nhận sẽ đứng ra lựa chọn người tỵ nạn. Và cũng trên thực tế, từ cuối thế kỷ 20 đến nay thế giới đã mỏi mệt và phần lớn đã làm ngơ. Các nước không còn tích cực thi hành sứ mạng nhân đạo mà sách vở đã ghi rõ cho quyền tỵ nạn.

        Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng lúc còn ở đảo khi được tin các phái đoàn quốc tế trở lại trại tỵ nạn để phỏng vấn tiếp nhận thuyền nhân đã vô cùng xúc động viết lên bản nhạc bất hủ với lời ca cay đắng: “Người đã cứu Người.”

       

3.    Lịch sử của di dân tỵ nạn         

         Thực ra lịch sử của di dân tỵ nạn đã bắt đầu ngay từ lúc có loài người. Khi có tranh chấp, có chiến tranh là có di cư tỵ nạn. Tuy nhiên, thảm họa thực sự mang kích thước toàn thế giới là sau thế chiến thứ hai kết thúc năm 1945. Toàn thể Âu châu đầy rẫy di dân tỵ nạn của thời hậu chiến. Ba năm sau, 1948, Liên Hiệp Quốc ban hành tuyên ngôn quốc tế nhân quyền, trong đó quyền tỵ nạn và quyền mưu cầu hạnh phúc.

        Năm 1950, Phủ Cao Ủy Tỵ Nạn ra đời và năm 1951 soạn xong tuyên ngôn quốc tế về tỵ nạn. Bản tuyên ngôn này mới được duyệt lại và ký tên bởi 140 quốc gia vào tháng 2-2002.

 

4.     Ðâu là miền đất khổ:

        Cuối thế kỷ thứ 19, tâm điểm của tỵ nạn thế giới là Ðông Nam Á. Ðông Dương chính là miền đất khổ. Việt Nam là quốc gia đứng đầu trang sử tỵ nạn thế giới và trở thành công việc hàng ngày của Phủ Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc.

        Con số ngân sách tỵ nạn thường niên của Cao Ủy năm 1975 là 80 triệu Mỹ kim mà chỉ 5 năm sau vào năm 1980, thế giới phải đóng góp cho ngân sách Cao Ủy lên đến 500 triệu Mỹ kim.

        Cũng vào năm 1980, con số tỵ nạn ở các trại Ðông Nam Á lên đến 140 ngàn người với 37 cơ quan thiện nguyện từ khắp thế giới về đảm trách điều hành sinh hoạt và lo kiếm đường cho tỵ nạn đến các quốc gia đệ tam.

        Ðó là thời gian vừa là thảm kịch vừa là vàng son của tỵ nạn Ðông Nam Á. Cả miền Nam Việt Nam đều ngó ra biển Nam hải. Những chuyến đi 5 ăn 5 thua. Người đi năm lần bảy lượt. Những câu chuyện về thảm kịch, sóng gió, hải tặc, người ăn thịt người cùng với những tấm hình màu từ Bắc Mỹ gửi về. Gia đình chú Sáu, cô Năm đi Mỹ gửi về tấm hình mặc áo lông đứng cạnh xe Mỹ, trước căn nhà tuyết phủ trông như ở cõi thiên đàng.

        Rồi thì mặc cho sóng gió bão bùng, nhạc Phạm Duy như lời tiên tri của thế kỷ với những lời ca thúc dục lòng người trong bài Viễn Du. “Ra đi thấy trời Âu Á, Ra đi biết mặt trùng khơi. Ra đi thấy ta hãi hùng.”

        Kèm theo những tấm hình màu là những gói quà gửi về quê hương. Những tờ giấy 100 Mỹ kim cho vào túp thuốc đánh răng. Và cho cả vào bao Plastic nhét dưới hộp cá mòi. Thư gửi về nói là cá này ăn bổ lắm, đứng có bán đi, mà cũng đừng nấu chín. Cá hộp của Mỹ phải mở ra ăn sống mới ngon. Quê nhà làm đúng lời dặn ngớ ngẩn của người phương xa đã tìm thấy đồng tiền Mỹ còn tanh mùi cá.

        Từ San Jose, Việt Dzũng và Nguyệt Ánh cất tiếng ca gửi về cho mẹ những chiếc kim may, gửi về cho em hộp diêm nhóm lửa.

        Những ngày cũ đã hơn 20 năm rồi. Những ngày cay đắng nở hoa. Khổ thì thật khổ, ra đi cả nhà đến trại chỉ còn một nửa. Chờ đợi hai năm ở đảo khi được đi đã vội mừng quên cả khổ đau. Ngày nay thì bao nhiêu đau khổ cũng chỉ là tiền kiếp.

        Bước vào thế kỷ thứ 21, trang sử tỵ nạn đã lật qua. Tâm điểm hiện nay của thế giới là Trung Ðông và Phi châu. Tại rừng già Phi châu đen tối, dân nước nọ chạy qua nước kia. Chiến tranh tôn giáo ở Trung Ðông như cơn giận dữ trừng phạt của Thượng đế. Ðàn bà trẻ con cũng bị giết.

        Mục tiêu của chiến tranh ngày nay không phải là trại lính với quân trường. Mục tiêu bây giờ là trường học, nhà thờ, quán ăn và chợ búa. Tất cả mọi người đều là mục tiêu và vũ khí lại chính là thân xác của người tử đạo. Thế giới đã quên tỵ nạn Việt Nam. Bây giờ khổ đau đến lượt người khác lên phiên.

 

5.       Vì đâu nên nỗi:

        Như vậy là, suốt cả 100 năm qua, thế giới đã vật lộn với vấn đề chiến tranh và tỵ nạn. Nhưng ngày nay thì cuộc chiến đã thay đổi. Khủng bố và chống khủng bố là đề tài số một. Tất cả còn lại chỉ là thứ yếu. Ðối với dân Việt tỵ nạn trên khắp thế giới, đây là giai đoạn tìm về sự ổn định và sống trong cuộc vui buồn với quê hương mới. Trong cái hỗn mang của thế giới ngày nay, ngồi kiểm điểm lại trang sử tỵ nạn của riêng ta trong suốt 50 năm qua để đi tìm ngày căn cước cho thế hệ mai sau.

*      *      *

             

(Tàu Tự Do ra đi từ Phú Quốc chở 39 người, tháng 9-1977, vượt qua vịnh Thái Lan và đến Mã Lai. Ðược tiếp tế rồi đi tiếp với phương tiện

    rất giới hạn đã đến Darwin, Úc Châu tháng 11-1977, vượt trên 6,000 miles. Tàu Tự Do hiện thuộc về viện bảo tàng hàng hải của Úc.)

 

Tuy nhiên, tất cả những người vươn lên được, tiến xa hơn được là nhờ đã rũ bỏ được những vướng bận của quá khứ để tiến bước vào tương lai.

        Nếu quả thực cộng đồng Việt Nam đã tiến một bước dài suốt 34 năm qua thì đây là lúc chúng ta cùng nghỉ chân để cùng tìm lại kỷ niệm, xác định căn cước, bảo toàn các di sản cho thế hệ tương lai.

        Nhưng nếu trong thời gian qua, người tỵ nạn vẫn còn đứng nguyên một chỗ khóc than cho quá khứ suốt một phần tư thế kỷ thì việc đi tìm kiếm căn cước tỵ nạn sẽ không cần thiết vì người ta chưa hề rời bỏ được gánh nặng của danh nghĩa tỵ nạn để nhập cuộc vào một dòng đời rào rạt trong nhịp sống mãnh liệt tại Hoa Kỳ.

        Sau cùng thì đề tài căn cước của di dân không phải là của cả cộng đồng mà lại trở thành vấn đề của mỗi gia đình, mỗi người trong chúng ta.

Giao Chỉ , San Jose

*************************************************************

 

                                                                                                   Phần 2

SƠ LƯỢC LỊCH SỬ TỊ NẠN VIỆT NAM

Giao Chỉ, San Jose 2009

 

        Ngay sau khi Ðệ II Thế Chiến 1939-1945 chấm dứt, thế giới hòa bình lại là lúc dân tộc Việt Nam bắt đầu bước vào một cuộc tranh đấu mới. Cuộc đấu tranh dành độc lập đưa đến những khổ nạn của cả dân tộc.

        Trong suốt 30 năm, từ năm 1945 đến 1975, đầy những xung đột can qua đã làm cho dân Việt Nam 2 miền Nam Bắc đều phải tản cư, di cư, tỵ nạn rồi tạm cư và định cư. Biết bao nhiêu gia đình ly tán, chia cắt và biết bao nhiêu tan tác đau thương.

        Suốt 30 năm sống trong hận thù chiến tranh, nồi da nấu thịt, cuộc nội chiến khoác chiêu bài ý thức hệ- vì độc lập, vì tự do dân chủ để sau cùng gần 2 triệu người hy sinh, 1 triệu dân tị nạn trên quê hương từ Bắc vào Nam sau, Hiệp Ðịnh Geneve 1954 và sau cùng 3 triệu dân lưu vong sau Hiệp Ðịnh Paris 1973.

       

1.     Cuộc di cư thứ nhất sau hiệp định Geneve chia đôi đất nước

        Một triệu người Bắc vào Nam từ 1954 đến 1956, đồng thời 130,000 dân miền Nam tập kết ra Bắc. Người Bắc vào Nam bằng tàu Mỹ và Pháp. Người Nam ra Bắc trên tàu Ba Lan và Nga Sô.

       

2.     Tản cư trong chiến tranh.

        Sau đó, trong chiến tranh, ở miền Nam dân quê có hàng trăm ngàn người đã phải di tản, nhiều nhất là vùng hỏa tuyến. Tại miền Bắc trong các trận không tập đầu thập niên 70 của Hoa Kỳ, dân thành phố gần 3 triệu người phải chạy về các miền quê.

       

3.     Di tản tháng 4-1975.

        Hiệp Ðịnh Paris đình chiến năm 1973, hai năm sau Saigon thất thủ, miền Nam có 130,000 người di tản, đa số định cư tại Hoa Kỳ. Ðây là kết quả của đạo luật khẩn cấp Indochina Migration and Refugee Act 1975 do tổng thống Ford ban hành.

       

4.     Trại tù cải tạo.

        Sau khi miền Bắc chiến thắng, thống nhất đất nước, tại miền Nam, trên 1 triệu quân cán chính phải đi học tập trong các trại cải tạo. Tuỳ theo hoàn cảnh và cấp bậc, từ vài tuần, vài tháng đến nhiều năm. Có người bị giam lâu nhất là 17 năm. Nhiều người đã qua đời trong trại cải tạo. Gia đình của tù cải tạo phải tái định cư ở các khu kinh tế mới.

       

5.     Tống xuất Hoa Kiều.

        Trong khi đó kể từ năm 1978, người Hoa tại Việt Nam bắt đầu bị thanh trừng và cùng một lúc các chuyến vượt biên của người Việt bằng thuyền khởi sự để rồi thành một phong trào từ 1979 kéo dài đến đầu thập niên 1990. Một số 250,000 Việt gốc Hoa miền Bắc đã tìm đường tị nạn tại Trung Hoa.

       

6.     Thuyền nhân.

        Vào cuối năm 1978 đã có hơn 60,000 thuyền nhân tại các trại tị nạn Ðông Nam Á. Từ các thuyền đánh cá mong manh chở 1 gia đình 5 người đến Thái Lan cho tới con tàu trên 2,500 người đến Mã Lai như trường hợp tàu Hải Hồng.

       

7.     Làn sóng vượt biên lên cao, Ðông Nam Á từ chối.

        Riêng tháng 6-1979 đã có 54,000 thuyền nhân đến các trại. Nếu cho rằng chỉ có 50% thành công thì đã có 100,000 người ra đi trong một tháng. Cũng vào cuối tháng 6, các quốc gia Ðông Nam á gồm Indonesia, Mã Lai, Phi, Singapore và Thái Lan đã họp khẩn và tuyên bố sẽ đẩy thuyền ra biển.

        Liền lập tức tháng 7-1979, đã có biết bao nhiêu thảm kịch xẩy ra. Thái Lan công khai dung dưỡng cho hải tặc hoành hành. Mã Lai kéo tàu vượt biển ra khơi cho chết chìm. Tiếng kêu khóc của người vượt biển thấu Trời xanh, Liên Hiệp Quốc họp khẩn, viện trợ tiền bạc nuôi dân tị nạn, xin thêm cấp khoản định cư trên thế giới và thậm chí cầu khẩn để Cộng Sản Việt Nam giữ cho dân đừng liều chết ra đi.

       

8.     Giải pháp ODP, Orderly Departure Program: Ra đi có trật tự.

Ðể giải quyết vấn đề thuyền nhân qua khía cạnh nhân đạo, thế giới tự do và Hoa Kỳ đưa ra chương trình ODP. Tại Mỹ, The Refugee Act 1980 ra đời và chương trình ra đi có trật tự bắt đầu. Chương trình này kéo dài đến ngày 14-9-1994 thì chấm dứt. Các thành phần còn lại được đưa qua các chương trình đoàn tụ gia đình thường lệ của luật di trú Hoa Kỳ.

       

9.     Con đường định cư, Niềm đau thương trong máu và nước mắt.

Từ thảm kịch tháng 7-1979 cho đến tháng 7-1982, nỗ lực 3 năm đã định cư được 623,000 người trên thế giới mà đa số là tại Hoa Kỳ. Và cũng do hậu quả của thảm kịch Biển Ðông liều chết ra đi trăm ngàn người một tháng, mà tháng 5-1979 Chương Trình Ra Ði Có Trật Tự được soạn thảo. Phải đến năm 1984 thì bài toán mới có đáp số vì lúc này tổng kết ghi nhận năm đầu tiên con số vượt biển ít hơn số người ra đi ODP. Năm 1984, con số ODP lên đến 29 ngàn người và thuyền nhân ra đi hạ xuống chỉ còn 24,800 người.

       

10.  Tổn thất trên Biển Ðông.

        Thảm kịch thuyền nhân Biển Ðông đã tạo ra rất nhiều vấn nạn mà trước đây thế giới không hề xẩy ra.

        a.     Từ các dân đánh cá hiền lành, tất cả ngư dân Thái Lan lần lượt trở thành hải tặc điên cuồng suốt 2 thập niên

        b.     Hàng ngàn thương thuyền trên biển đông hoàn toàn không tuân thủ luật lệ đạo đức hành hải vì tất cả đã làm ngơ cho thuyền nhân chết trên biển cả.

        c.     Không ai có thể xác định được số tổn thất của thuyền nhân trên biển, từ 20% đến 40% số người vượt biển đến các trại tỵ nạn.

        d.     Lần đầu tiên và duy nhất trên thế giới có chính phủ Việt Nam công khải tổ chức cho dân vượt biên để thu góp toàn bộ tài sản để lại.

        e.     Các quốc gia Ðông Nam Á đóng vai trò rất phức tạp vừa nhân đạo và bất nhân tùy giai đoạn và đã khai thác tối đa những ngân khoản lớn lao của thế giới về tỵ nạn.

 

11.  Vượt biên đường bộ.

        Sau một thời gian lắng dịu năm 1984, số tị nạn lại gia tăng trên đường bộ qua Cam Bốt vào năm 1987. Một số lớn không có điều kiện ODP đã tìm lối đi qua Thái Lan từ miền Nam và qua Hong Kong từ miền Bắc.

        Năm 1988 đã có 18,000 người vào Hong Kong và mặt khác Mã Lai lại bắt đầu kéo tàu ra biển vào năm 1989.

       

12. Cứu người vượt biển.

        Từ Pháp, Úc, Canada và Hoa Kỳ các tổ chức tư nhân, các bác sĩ ngoại quốc và Việt Nam đã lần lượt tổ chcừ các chuyến ra khơi cứu người vượt biển. Phong trào này đã tạo ra nhiều hy vọng và đã cứu được hàng ngàn thuyền nhân trên biển Ðông. Một cuộc biểu tình thắp nến trước Bạch Cung đã được tổng thống Carter đáp ứng và ra lệnh cho đệ thất hạm đội tiếp tay cứu thuyền nhân vượt biển.

       

13. Biện pháp mới.

        Cuối thập niên 80 các đợt sóng thuyền nhân mới gia tăng khi các nước cắt bớt cấp khoản định cư. Các trại tị nạn Ðông Nam Á trở thành ứ đọng. Các quốc gia Biển Ðông quyết định một ngày định mệnh, đó là ngày 14/3/1989. Thuyền nhân đến trại sau ngày 14/3/1989 sẽ bị thanh lọc. Và chữ thanh lọc- “đậu hay xù” trở thành ngôn ngữ của thuyền nhân trên đảo, đã lấy đi biết bao máu, mồ hôi và nước mắt của dân Việt trên Biển Ðông.

       

14. Vấn đề con lai, Ameriasian Home Coming Act 1987.

        Người Mỹ đã bắt đầu tìm đến di sản chiến tranh của chiến binh Hoa Kỳ đã để lại Việt Nam và mở rộng vòng tay đón nhận 25,000 hồ sơ con lai với gia đình thân quyến tổng cộng 100,000 người.

       

15. Cựu tù chính trị.

        Ngày 30/7/1989 Hoa Kỳ và Việt Nam ký thỏa hiệp để cho cựu tù chính trị ra đi có trật tự cùng gia đình. Chiến dịch này đã gia tăng ODP lên đến 86,451 người riêng vào năm 1991 gồm cả 21,500 cựu tù chính trị và 18,000 con lai.

        Thoả ước Việt Mỹ về tù chính trị đã mở cửa trại tù cải tạo cho 109,000 chiến hữu VNCH trở về với gia đình và một số lớ đã làm giấy tờ xin định cư tại Hoa Kỳ.

       

16. Cưỡng bách hồi hương.

        Bắt đầu từ 1989, từ thanh lọc bị loại, Phủ Cao Ủy và các quốc gia Ðông Nam Á phối hợp với chính quyền cộng sản Việt Nam bắt đầu cho cưỡng bách hồi hương. Hàng trăm cuộc biểu tình tuyệt thực tổ chức tại các trại và nhiều người tự tử hay tự gây thương tích để phản đối.

       

17. Tự nguyện hồi hương.

        Một chương trình của Liên Hiệp Quốc là khích lệ thuyền nhân ở trại tự nguyện hồi hương. Con số này đã lên đến 56,000 người. Mỗi gia đình được lãnh từ 300 Mỹ kim đến nhiều nhất là $20,000 Mỹ Kim làm vốn tái định cư. Thành phần tự nguyện hồi hương sau đó đã có cơ hội xin đi Hoa Kỳ và có một số lớn hiện đã qua Mỹ.

       

18. Trẻ em tị nạn.

        Trong số hàng trăm ngàn dân tị nạn đã có nhiều trẻ em không có thân nhân. Một thể thức đặc biệt đã được áp dụng và sau này hàng ngàn trẻ em không có thân nhân hay cha mẹ chết trên đường vượt biên đã được định cư tại Hoa Kỳ do các gia đình bảo trợ.

       

19. Các con số thống kê.

        Tổng kết từ năm 1975 đến 1995 con số thuyền nhân Việt Nam đã đến trại tị nạn là 796,310 người và tị nạn qua đường bộ là 42,918 người.

        Trong số này đã có 822,977 người định cư tại Hoa Kỳ và 2 quốc gia UÔc và Canada, có đồng đều mỗi nước có 137,000 thuyền nhân tị nạn.

        Có thể nói là cứ hai người tị nạn tại Hoa Kỳ đã có 1 người nếm mùi gia khổ trên biển đông tại các trại tị nạn.

       

20. Thuyền nhân tật nguyền.

        Các quốc gia nhỏ bé nhưng đầy tình nhân đạo như Thụy Sĩ, Thụy Ðiển đã cử phái đoàn đến chỉ nhận bảo trợ cho các gia đình thuyền nhân tật nguyền, các trẻ em bất hạnh chậm lớn. Những thành phần bất hạnh, vô thừa nhận của thảm kịch biển Ðông đã vui mừng chứa chan hạnh phúc khi được bồng bế nhau đi định cư ở Tây Âu gồm cả xe lăn và nhiều người nằm trên cáng trên đường đến xứ tự do.

       

                                                               

                                                          Tàu Cam Ranh. dài 35 foot chở 35 người. Sau 10 ngày vượt biển được tàu chiến

                                                          của Hoa Kỳ vớt ngày 15-05-84 ngoài khơi Ðông Bắc Cam Ranh 350 miles. tất cả

                                                          định cư tại Mỹ. Tàu Cam Ranh sau khi vớt người đã được phá hủy trên biển Ðông

 

21. Ðợt sóng cuối cùng.

        Câu chuyện thuyền nhân tại Phi Luật Tân được coi như đợt sóng cuối cùng. Trong khi tất cả các trại tỵ nạn Ðông Nam Á đóng cửa thì chỉ còn lại câu chuyện về các thuyền nhân tại Phi Luật Tân. Trải qua các đợt cưỡng bách hồi hương, tình nguyện hồi hương, sau cùng trại Palowan của Phi đóng cửa năm 1997.

        Hàng ngàn người Việt tỵ nạn tại Phi được giáo hội Thiên Chúa nhận định cư và thành lập Làng Việt Nam. Hàng triệu Mỹ kim của đồng hương trên thế giới quyên góp để xây dựng cho một quê hương Việt trên đất Phi. Kế hoạch không thành vì nhu cầu sinh kế người Việt tỵ nạn phải phân tán kiếm sống trên đất Phi. Dân làng ở lại rất ít.

        Hồ sơ tỵ nạn đợt cuối cùng bàn giao từ thế kỷ 20 qua thế kỷ 21. Sau cùng nhờ sự đấu tranh bền bỉ của một luật sư trẻ gốc Việt từ bên Úc tên là Trịnh Hội, Hoa Kỳ bắt đầu nhận phần còn lại vào Mỹ. Sau 18 năm chờ đợi, các gia đình tỵ nạn đã tới Mỹ tháng 10 năm 2005.

        Bốn năm trước, với đợt thuyền nhân cuối cùng đến Mỹ từ Phi Luật Tân để chào mừng Thanksgiving năm 2005 tại Hoa Kỳ, một trang sử tỵ nạn Việt Nam chính thức đóng lại. Chúng ta ước mong sẽ khép lại được một quá khứ đau buồn và cùng cầu nguyện cho một tương lai tốt đẹp hơn cho một thế giới không còn tỵ nạn. Chẳng biết đến bao giờ.

Giao Chỉ , San Jose 2009

**************************************************************************

      

 

Ghi chú: Những con tàu lịch sử.

Tàu Tự Do ra đi từ Phú Quốc chở 39 người, tháng 9-1977, vượt qua vịnh Thái Lan và đến Mã Lai. Ðược tiếp tế rồi đi tiếp với phương tiện rất giới hạn đã đến Darwin, Úc Châu tháng 11-1977, vượt trên 6,000 miles. Tàu Tự Do hiện thuộc về viện bảo tàng hàng hải của Úc.

Tàu Cam Ranh. dài 35 foot chở 35 người. Sau 10 ngày vượt biển được tàu chiến của Hoa Kỳ vớt ngày

15-05-84 ngoài khơi Ðông Bắc Cam Ranh 350 miles. tất cả định cư tại Mỹ. Tàu Cam Ranh sau khi vớt người đã được phá hủy trên biển Ðông.




Cuoc chien Nam Bac phan tranh (Luom tren net)

April 7, 2010, 9:21 AM
 
 Cuoc chien Nam Bac phan tranh
 
Lúc bấy giờ là đêm ngày 8 tháng 4 năm 1865, Đại tướng Robert Lee, thống lãnh quân đội miền Nam, cùng Ban Tham Mưu ngừng chân đặt bản doanh bộ chỉ huy trong một cánh rừng gần Toà Thị Xã Appomattox, thuộc tiểu bang Virginia. Sáu ngày liên tiếp trước đó đạo quân miền Nam đã đi không ngừng nghỉ tiến về phía Tây hướng về dãy núi Blue Ridge, nơi tướng Lee từng tuyên bố ông có thể cầm cự chiến đấu ít nhất là 20 năm. Nhưng đêm nay khi tướng Lee và Bộ Tham Mưu mệt mỏi của ông dừng quân tại Appomattox thì đạo quân miền Nam đang bị quân đội miền Bắc bao vây, lương thực cạn, hy vọng tiếp tế không có, hy vọng tăng viện cũng không. Xa xa tiếng đại bác xé màn đêm dội về… Tất cả hy vọng của tướng Lee lúc này chỉ còn đặt vào một vị tướng trẻ gan dạ, John Gordon. Vị tướng này sáng sớm hôm sau sẽ tiến quân chọc thủng phòng tuyến bao vây của quân đội miền Bắc.
Cách đó không xa, viên sĩ quan phụ tá của tướng Grant, thống lãnh quân đội miển Bắc, bước vào phòng riêng của tướng Grant để đánh thức ông dậy. Người sĩ quan hầu cận vội mang đến tướng Grant một tách cà phê nóng hổi. Tách cà phê dẫu có giúp nhẹ đi cơn nhức đầu nhưng không làm giảm bớt mối căng thẳng lo âu của tướng Grant. Sau cùng tướng Grant kéo ghế ngồi, và khởi sự thảo bức thư trả lời thư mới nhận được từ tướng Robert Lee. “Tôi rất muốn hoà”, tướng Grant viết, “và mong muốn kết thúc cuộc chiến mà không phải tổn thất thêm một nhân mạng nào nữa. Nhưng cuộc hội kiến do Đại Tướng đề nghị vào 10 giờ sáng hôm nay không có một lợi ích nào cụ thể và tôi không có thẩm quyền quyết định hoà hay chiến.” Nhưng bức thư của tướng Grant chưa kịp đến tay tướng Lee, tiếng súng đã lại bắt đầu nổ.
5 giờ sáng, sương mù còn bao phủ rặng đồi bên kia Appomattox. Loạt đạn đầu tiên xé màn sương, đánh thức sáng chủ nhật 9/Apr/1865, tiếp theo là tiếng thét tiến quân của quân đội miền nam. Từng đợt tấn công của tướng Gordon đã đánh bật tuyến phòng thủ đầu của quân miền Bắc, chiếm nhiều cỗ súng đại bác, đánh bạt hai bên mở rộng đường tiến quân, và ào ạt tiến lên đồi. Nhưng từ phiá bên kia đồi, quân miền Nam đã đụng phải một bức tường dày đặc, kéo dài hơn 2 dặm, cuả hai đơn vị bộ binh quân đội miền Bắc. Và ép từ phiá sau là hai đơn vị bộ binh khác của quân miền Bắc tiến lên. Quân miền Nam bị ép vào giữa, tiến không được, lui cũng không xong, và “chém vè” cũng không được.
Chỉ trong vòng 3 tiếng đồng hồ sau, tướng Lee được tin khấp báo của tướng Gordon “Quân sĩ của tôi đã chiến đấu hết mình. Trình Đại Tướng tôi không làm gì hơn được nữa!”. Lập tức tướng Lee triệu tập Ban Tham Mưu thâu hẹp để quyết định hoà hay chiến. Tướng Lee nói với các tướng bao quanh: “Giờ đây tôi chẳng còn làm gì hơn là đến trình diện và đầu hàng trước tướng Grant”.
Nơi được chọn để nghị hoà là một căn nhà nhỏ mái ngói thuộc Appomattox, một thị xã hẻo lánh nằm vào phiá Nam tiểu bang Virginia. Có độ chừng 20 căn phố, lèo tèo vài cửa hàng nhỏ, một lữ quán và toà thị xã. Khi mặt trời leo lên cao là lúc tướng Lee đã đến điểm hẹn, ông bước theo sự hướng dẫn của vị sĩ quan tuỳ viên và một sĩ quan tham mưu thuộc Bộ Tham Mưu của Tướng Grant. Tướng Lee, uy nghi trong bộ binh phục đại lễ, hông đeo trường kiếm, ngồi xuống cạnh một chiếc bàn gỗ nhỏ. Giờ đây ông đã có mặt ngay trong lòng đất đối phương.
Vào khoảng nửa tiếng sau, tiếng giày nện trên sàn gỗ và tướng Grant bước vào. Khác hẳn với tướng Lee, tướng Grant không đeo kiếm, không mặc quân phục, quần và đôi ủng lấm đầy bùn.
Theo yêu cầu của tướng Lee, tướng Grant đích thân thảo bản văn kiện chính thức đầu hàng của quân đội liên hiệp miền Nam và sau tự tay trao cho tướng Lee xem lại. Chậm rãi, từ tốn, tướng Lee rút cặp kiếng đeo mắt, lấy khăn lau kỹ lưỡng, đeo kính lên và chăm chú đọc.
“….Vũ khí, đại bác và các tài sản công phải được liệt kê, sắp xếp và giao nộp cho một viên sĩ quan do tôi chỉ định. Những vũ khí này sẽ không gồm có vũ khí cá nhân của các sĩ quan, cũng như ngựa và tư trang của họ. Sau khi hoàn tất, mọi sĩ quan và binh sĩ sẽ được phép trở về nguyên quán, và sẽ không bị quấy nhiễu bởi các cơ quan cầm quyền chừng nào họ tôn trọng lệnh đầu hàng và tuân theo luật lệ địa phương nơi họ cư ngụ.”
Lần đầu tiên trong buổi hội kiến, gương mặt của tướng Lee tươi hẳn. Như vậy có nghĩa là sĩ quan và binh sĩ dưới quyền của ông sẽ không bị giam giữ như tù binh chiến tranh. Có nghĩa là họ sẽ không bị đem ra bêu riếu diễn hành hạ nhục trên các đường phố. Có nghĩa là họ sẽ không bị mang ra toà truy tố về tội phản loạn.
Tướng Lee nói, “Thưa Đại Tướng, những điều kiện đầu hàng thế này sẽ có ảnh hưởng rất tốt với quân đội của tôi.” Và tướng Lee nói tiếp, “Nhưng thưa ngài, trong qu&a
circ;n đội miền Nam cuả tôi, ngay cả binh sĩ khi gia nhập cũng mang theo ngựa của họ vào quân đội.”
Tướng Grant nói ông sẽ không thay đổi gì trong văn kiện đầu hàng, nhưng sẽ ra khẩu lệnh cho phép mọi binh sĩ miền Nam được phép mang ngưạ và lừa về quê quán để sử dụng trong việc trồng trọt ở các nông trại.
Trận đánh quyết định tại Five Forks (Tháng Tư 1865)
Tướng Lee còn thêm một lời yêu cầu nữa. Ông trình bày cho tướng Grant biết ông còn giam giữ hơn một ngàn tù binh quân đội miền Bắc nhưng không có lương thực cung cấp cho họ và ngay chính quân đội của ông cũng không còn lương thực. Không ngập ngừng, tướng Grant đề nghị sẽ ra lệnh xuất kho cấp ngay khẩu phần cho hơn 25,000 quân sĩ của quân đội liên hiệp miền Nam.
Tướng Grant hỏi, “Như vậy, đủ chưa?”
“Thưa, quá đủ, quá đủ, thưa đại tướng.” Tướng Lee trả lời.
Tướng Lee đứng dậy, lần lượt bắt tay các sĩ quan trong Bộ Tham Mưu của tướng Grant, bắt tay tướng Grant, nghiêng mình chào tất cả mọi người có mặt và bước ra khỏi phòng họp.
Tướng Grant và ban sĩ quan tham mưu đã đứng sẵn ở bao lơn trước căn nhà, nơi đôi bên nghị hoà. Khi ngựa tướng Lee rảo bước đi qua, cặp mắt của hai vị tướng quân chạm nhau trong giây phút, họ đồng ngả nón chào nhau. Trên bao lơn xung quanh tướng Grant và suốt trong sân trước căn nhà lịch sử, sĩ quan và binh sĩ miền Bắc đều đưa tay chào kính vị tướng bại trận quân đội liên hiệp miền Nam.
Tin đồn đầu hàng của tướng Lee tràn lan mau chóng như thuốc súng. Khắp nơi binh sĩ miền Bắc reo mừng. Họ liệng lên không trung mũ nón, giày, bao đạn, áo hay bất cứ vật gì có thể ném tung lên được. Họ ôm nhau, hôn nhau. Súng ống các loại, kể cả đại bác bắt đầu nổ. Thế nhưng tướng Grant nhanh chóng ra lệnh ngưng ngay tức khắc những biểu lộ nỗi vui mừng của binh sĩ miền Bắc. “Rồi sẽ có ngày mừng chiến thắng”, tướng Grant giải thích, “Nhưng không phải là ngày hôm nay. Quân đội miền Nam đã đầu hàng. Chúng ta không được phép reo mừng trên chiến bại của họ”. Điều quan trọng với tướng Grant là phải làm sao để thắng trận, đồng thời cũng phải gìn giữ cho bằng được sự toàn vẹn tình cảm giữa những người cùng trong cộng đồng dân tộc Hoa Kỳ.
4:30 chiều ngày 9 tháng 4, 1865, Bộ Trưởng Bộ Chiến Tranh tại Hoa Thịnh Đốn nhận được một điện văn ngắn ngủi của tướng Grant, “Tướng Lee đã buông súng đầu hàng quân đội miền Nam theo những điều kiện do tôi ấn định.”
Cách đó không bao xa, tướng Lee cỡi ngưạ trở về bản doanh của mình. Dọc hai bên đường, binh sĩ miền Nam nghiêm chào vị tướng lãnh mà họ tôn sùng. Nhiều người bật khóc, phủ phục bên đường. Tướng Lee cũng không cầm được nước mắt. Về đến đại bản doanh, trước mặt sĩ quan và binh sĩ đứng chờ, tướng Lee hướng về họ và nói: ”Tôi đã cố gắng làm tất cả những gì có thể làm được. Và nay lòng tôi nặng chĩu và không thể nói gì hơn”.
Bước đi vài bước, ông dừng lại và thêm: “Các anh em hãy trở về quê quán. Và nếu các ngươi sống được như những công dân tốt như các anh em đã từng chiến đầu như các chiến sĩ thì các ngươi sẽ thành công rồi. Và tôi sẽ luôn luôn hãnh diện vì các anh em.” Và tướng Lee biến mình vào trong lều vải của mình.
Điều kiện đầu hàng được hai tướng Lee và Grant ký kết tại Appomattox ngày 9 tháng 4, 1865 thì 3 ngày sau, ngày 12 tháng 4 mới là ngày quân liên hiệp miền Nam chính thức buông súng đầu hàng.
Hai đạo quân dàn đôi bên con đường chạy theo phiá Đông rừng Appomattox. Chỉ huy cánh quân miền Bắc và điều khiển buổi lễ là tướng Chamberlain, nguyên là một giáo sư đại học, Huy Chương Danh Dự, hai lần bị thương trên chiến trường.
Chỉ huy 28,000 sĩ quan và binh sĩ liên hiệp miền Nam là tướng Gordon, một trong những cận tướng can trường của Đại tướng Lee, 4 lần bị thương tại mặt trận, một lần bị trúng đạn xuyên qua mặt.
Tướng Chamberlain đã ghi lại trong hồi ký cuả mình: ” Từng đoàn, từng đoàn, họ tiến bước theo nhịp quân hành, ép chặt vào nhau giống như một giòng người đội vương miện màu đỏ ối, giương cao quân kỳ và hiệu kỳ. Đây là những người mà gian lao, đau khổ, nhọc nhằn, kể cả tử thần không bẻ cong được quyết tâm của họ. Họ đứng thẳng hàng trước mặt đoàn quân chúng tôi, một đoàn quân tơi tả, xương xẩu, nhưng hiên ngang, mắt sáng ngời chiến thắng, họ là những hình ảnh sống phản ảnh mối liên hệ thắm thiết chỉ có thể có giữa những đồng đội trên chiến trường”.
Không hề dự định trước, cũng như không hề được chuẩn y trước, tướng Chamberlain bất thần hô lớn ra lệnh, “Bồng súng chào!” cho quân đội miền Bắc. Một tiếng kèn lệnh vang lên, và lập tức toàn thể đoàn quân miền Bắc bồng súng lên vai, tiếng báng súng rập khuôn vang lên.
Phiá đối diện, tướng Gordon thúc nhẹ con tuấn mã khụy hai chân trước xuống, người và ngựa cùng cúi đầu, gươm tuốt trần chúc mũi trong một dáng đìệu hùng vĩ tuyệt vời. Cùng lúc, đoàn quân miền Bắc chuyển qua bồng súng nghiêm chào. Họ chào những “anh hùng bại trận”, họ bày tỏ sự kính trọng của những người Hoa Kỳ đối với những người Hoa Kỳ.
Và phiá hàng quân miền Bắc tiếp tục giữ đúng thế nghiêm. Không có thêm một tiếng kèn. Không có một tiếng trống. Không có một tiếng hô chiến thắng. Không có một tiếng nói. Không cả một tiếng thầm thì. Mà chỉ còn là một hàng quân im phăng phắc. Mọi nhịp thở như ngừng lại.

Buổi lễ đầu hàng kéo dài 7 tiếng đồng hồ. Gần 28,000 người, trên 100,000 tấn vũ khí, đạn dược, quân kỳ, hiệu kỳ lần lượt bỏ xuống. Từng đơn vị tiến lên, gác súng, tháo bao đạn, và xếp súng xuống. Kế đến họ trìu mến cuốn hay xếp quân kỳ, hiệu kỳ, lắm cái tơi tả và lắm cái nhuộm máu đã khô, sau cùng họ khẽ đặt những lá cờ kia xuống mặt đất…
Tại sao người Mỹ lại có được tháng 04/1865 tuyệt vời như thế kia? Tuyệt vời bởi lẽ cả người thắng lẩn kẻ bại đều thiết tha và chân thành tôn kính lẩn nhau. Tuyệt đối không có cảnh “nhảy múa trên đau khổ của kẻ bại”. Người đích thực là kẻ chiến thắng trong 04/1865 chính là dân tộc Hoa Kỳ.
Mang tháng 04/1865 đặt cạnh tháng 04/1975, mọi người, kể cả những người khác biệt chính kiến, đều có thể dễ dàng nhận ra những khác biệt lớn lao vì Chiến bại tháng 04/1975 là chiến bại của một quân đội bị “Đồng Minh” đâm sau lưng.
– Sau 04/1865, quân Bắc Mỹ không hề trả thù quân Nam Mỹ. Tất cả hình thức ăn mừng chiến thắng đều bị ngăn cấm. Chẳng những không bị ngược đãi, quân Nam Mỹ còn được Bắc quân trao tặng hơn hai mươi lăm ngàn 25000 phần ăn như một lời chúc thượng lộ bình an trên con đường trở về quê hương gốc. Sau 04/1975, CSVN ra lệnh mang ra chợ xử bắn những quân cán chính nào của VNCH mà Hà Nội gán cho danh hiệu “ác ôn”. Mặt khác, tất cả thương bệnh binh của VNCH lập tức bị đuổi ra khỏi toàn bộ hệ thống quân y viện của Miền Nam Việt Nam. Đó là lý do giải thích tại sao những ngày đầu tháng 05/1975 vô số thương binh VNCH, kể cả những thương binh vết thương còn mới nguyên, lê lết khắp phố chợ làng quê…
– Không một người lính nào trong quân đội Nam Mỹ bị bắt giam như những tù binh. Ngược lại, tại Việt Nam 04/1975, CSVN bắt giam nhiều trăm ngàn quân nhân từ tướng đến binh (an ninh tình báo) của VNCH. Hành động bắt giam này được thực hiện bằng lời kêu gọi mang theo mười ngày lương thực nhằm tạo cho “nạn nhân” hiểu lầm là họ chỉ đi “học tập cải tạo” mười ngày. Trong thực tế 10 ngày có nghĩa là một hai thập niên tù khổ sai
Khi mùa dứt chiến chinh trên quê hương tôi (Tháng Tư 1975)
Tháng 04/1865 quân Bắc Mỹ chỉ tịch thu vũ khí cộng đồng, họ cho phép quan,quân miền Nam giữ lấy ngựa và vũ khí cá nhân như những tài sản riêng. Tháng 04/1975 nhà cửa, xe cộ của sĩ quan cao cấp của VNCH bị tịch thu, vợ con của quân nhân các cấp bị mất việc làm, bị đuổi đi kinh tế mới. Đặc biệt, không chỉ riêng gia đình quân cán chính VNCH mà ngay cả người dân bị goi là “dân vùng ngụy” cũng bị CSVN đánh đòn rất cẩn thận: đánh tư sản mại bản, đánh công thương kỹ nghệ gia, đánh tiểu thương, đánh văn nghệ sĩ, đánh tu sĩ các tôn giáo. Nói chung, tháng 04/1975 là ngày ghi dấu toàn bộ xã hội miền Nam Việt Nam biến thành địa ngục trần gian.
Cùng là CON NGƯỜI, tai sao người Mỹ đối xử với người Mỹ khác hẳn CSVN đối xử với người Việt Nam? Phải chăng văn hoá Mỹ khác với văn hoá Cộng Sản?