SẼ CÓ MÙA XUÂN PRAGUE VIỆT NAM

SẼ CÓ MÙA XUÂN PRAGUE VIỆT NAM    

 

   Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất 

     Trong phong trào các quốc gia Đông Âu đấu tranh dành lại tự do dân chủ từ tay cộng sản trước đây, thế giới được chứng kiến một biến cố quan trọng quen gọi là Mùa Xuân Prague (Prague Spring). Prague là thủ đô của Tiệp Khắc ( Czechoslovakia ). Mùa Xuân Prague là giai đoạn giải phóng chính trị của nhân dân Tiệp trong thời gian nước này sau Thế Chiến II bị Liên Sô thống trị. Cuộc Cách Mạng khởi đầu từ ngày 05-1-1968 khi nhà cải cách Alexander Dubcek lên cầm quyền tại Tiệp và kéo dài cho tới ngày 21-8-1968 khi hồng quân Liên Sô và các nước trong Hiệp Ước Warsaw tràn vào dập tắt công cuộc cải cách của Tiệp Khắc. Cuộc đấu tranh của nhân dân Tiệp vẫn kiên trì kéo dài dưới hình tức bất bạo động cho đến khi chế độ cộng sản bị hoàn toàn sụp đổ trong biến cố gọi là cuộc Cách Mạng Nhung (Velvet Revolution) ngày 29-11-1989. Tiệp Khắc trở thành nước độc lập tự chủ, dân chủ và tự do. 

     Có hay không có Mùa Xuân Prague Việt Nam ? Ý “Mùa Xuân Prague” trong chủ đề tập chú vào việc Liên Sô xua quân xâm lăng Tiệp Khắc, biến nước này thành một thuộc địa của Liên Sô. Do đó, nhóm chữ “Mùa Xuân Prague VN” được hiểu là việc quân đội Tầu cộng tràn xuống chiếm đóng nước ta, giống như Liên Sô chiếm Tiệp Khắc, biến Việt Nam thành quận, huyện của Tầu như trong các thời Bắc Thuộc trước kia. Dựa trên cơ sở nào để trả lời rằng có hoặc không có việc quân Tầu cộng sẽ tràn xuống xâm lược VN. Bài phân tích dưới đây rút ra từ kinh nghiệm học hỏi được của nước Tiệp Khắc bên Đông Âu để trả lời cho câu hỏi mà tiêu đề trên đặt ra và ước đoán rằng một Mùa Xuân Prague sẽ đến với Việt Nam trong một ngày nào đó, có thể không xa lắm. 

I.   Biến cố Mùa Xuân Prague tại Tiệp Khắc.  

     Đảng CS Tiệp thắng trong cuộc bầu cử Quốc Hội năm 1946. Hai năm sau tức là vào tháng 2-1948 với sự hậu thuẫn của Liên Sô, đảng này đã hoàn toàn nắm quyền cai trị Tiệp Khắc, áp đặt nền chuyên chính vô sản kiểu Stalin (Stalinization *) trên toàn quốc, và tuyên bố nền cộng hòa nhân dân Tiệp (people’s  republic), mặc dầu trên nguyên tắc Tiệp Khắc vẫn còn là một chế độ đa đảng. Theo giáo điều Marxit, đây là bước đầu tiến tới xã hội chủ nghĩa và sau cùng là cộng sản chủ nghĩa. Chế độ chính trị tại Tiệp Khắc rập khuôn như Liên Sô. Người VN hẳn không ai không biết chuyên chính vô sản kiểu stalin (stalinization) là cái gì, vì từng người chúng ta ít nhiều đã có kinh nghiệm bản thân. Tuy nhiên việc đảng CS Tiệp thi hành chuyên chính đã không gặp thuận lợi. Lý do là vì thứ nhất, chủ trương kỹ nghệ hóa nước Tiệp theo mô hình của Liên Sô của đảng CS Tiệp là một việc làm đi thụt lùi với thực tế nền kinh tế Tiệp Khắc. Nền kỹ nghệ của Tiệp trước Thế Chiến II sánh ngang với các nước Tây Âu, hơn hẳn các nưóc Đông Âu kể cả Nga. Lúc đó, Liên Sô chỉ được đánh giá là một nước kém mở mang trong khi Tiệp Khắc đang trên đường kỹ nghệ hóa đất nước rồi. Thứ hai, tham vọng thay đổi đường lối kinh tế của chủ tịch đảng CS Tiệp Antonin Novotny đụng phải sức cản là khơi dậy đòi hỏi phải có cải tổ chính trị. Tự do dân chủ đã là một nếp sống đã có sẵn của người dân Tiệp Khắc. Đường lối chuyên chính kiểu stalin của CS đi ngược lại nếp sống đó nên gặp phải sức chống đối quyết liệt của các tầng lớp dân chúng, nhất là của Hội Các Nhà Văn, của sinh viên và tầng lớp trí thức. 

     Từ đầu thập niên 1960, nền kinh tế Tiệp Khắc bước vào thời kỳ trì trệ nghiêm trọng, và sự chống đối của dân chúng trở nên gay gắt hơn. Đảng CS buộc phải dần dần giải trừ chuyên chính vô sản (de-stalinization *) và nới lỏng các quyền tự do dân chủ. Tháng giêng 1968, Alexander Dubcek, một người có tinh thần cải cách, thay thế Novotny làm bí thư thứ nhất đảng CS Tiệp. Ông đưa ra một đề án gọi là Chương Trình Hành Động (Action Program) để tự do hóa Tiệp với sự cam kết thi hành những việc làm cụ thể như ban hành quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận, bãi bỏ kiểm duyệt, tự do hội họp, có thể thành lập chính phủ đa đảng, và nền kinh tế đặt căn bản trên việc sản xuất hàng hóa tiêu dùng hơn là dựa vào nền kỹ nghệ nặng, sức lao động, và nguyên liệu thô. Tuy nhiên chương trình cải cách của Dubcek cũng chỉ mới là những hứa hẹn và có tính cách vá víu, không đi từ căn bản là dứt bỏ luôn chủ nghĩa CS, vì độc tài toàn trị luôn luôn và hoàn toàn đối kháng với tự do dân chủ cả về mặt lý thuyết lẫn hành động. Dubcek vẫn chủ trương tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Marxit-Leninit, vẫn đứng chân trong Hiệp Ước Warsaw và khối Comecon. Ông chủ trương cải tổ là để giữ cho đảng CS Tiệp có một bộ mặt nhân bản hơn được gọi là mô hình mới xã hội chủ nghĩa Tiệp (new model of Czechoslovak socialism).  

     Việc bãi bỏ kiểm duyệt báo chí đã đưa tình thế đi nhanh hơn việc thi hành các cam kết cải cách của Dubcek và vuột khỏi bàn tay kiểm soát của ông ta. Trước tình hình đó, đảng CS Tiệp không còn cách giải quyết nào khác hơn là dùng biện pháp trấn áp để tái lập uy quyền. Nhưng kết quả ngược lại. Tình hình càng ngày càng rối ren hơn, nhất là sau khi có sự ra đời của Hiến Chương 77 vào đầu năm 1977. Lãnh đạo Liên Sô Leonid Brezhnev và các lãnh tụ CS Đông Âu khác lo sợ vị thế của khối CS bị suy yếu đi, nên Brezhnev phải cố gắng chấm dứt hay ít nhất giới hạn sự thay đổi tại Tiệp Khắc. Nhưng ông ta không thành công vì mọi sự đã trễ rồi. Cuối cùng quân đội của khối Warsaw do Liên Sô lãnh đạo đã tiến vào đất Tiệp ngày 21-8-1968 chấm dứt chương trình cải cách của Alexander Dubcek. 

 II.   Chuyên Chính Vô Sản Tại Việt Nam  

     Có thể phân chia chính sách chuyên chính của VGCS ra làm 2 giai đoạn: giai đoạn 1 là chuyên chính triệt để từ khi CS chiếm được miền Nam từ 1975 cho đến 1986. Giai đoạn 2 gọi là thời kỳ mở cửa từ năm 1986 đến nay. (Xin lưu ý, trong bài này, chúng tôi chỉ khảo sát chế độ CS tại VN từ 1975 trở về sau). 

1.  Giai Đoạn Chuyên Chính Triệt Để 

          Như đã thấy trên đây, đảng CS Tiệp Khắc áp dụng chuyên chính vô sản chỉ 12 năm (1948 – 1960) họ đã tự nhận ra mình lạc hướng và tìm biện pháp điều chỉnh. Biện pháp là làm theo ý nguyện của nhân dân Tiệp, trở về với con đường tự do dân chủ. Điều bất hạnh cho họ là  tự do và dân chủ lại là những khái niệm mâu thuẫn với giáo điều Marxit. Bởi lẽ đó, Liên Sô rất lo sợ nên phải đem quân trấn áp và dập tắt ngay cuộc cải cách tại Tiệp.  

     Vấn đề VN thì có khác. Đảng cộng sản VN cũng biết rất rõ khát vọng tự do dân chủ của nhân dân, nhưng không những chúng đã không đáp ứng như Tiệp Khắc, mà còn luôn luôn dùng biện pháp đàn áp để tiêu diệt. Có thể nói rằng trong suốt 34 năm kể từ ngày chiếm được miền Nam, VGCS chưa hề bao giờ chứng tỏ một hành động cụ thể nào được coi là có ý tháo gỡ nền chuyên chính (de-stalinize), trái lại chúng luôn dùng mọi thủ đoạn để xiết chặt thêm sức mạnh của chuyên chính mà chúng gọi là bạo lực cách mạng. Xin dẫn chứng một số các thí dụ điển hình sau đây như những việc:

–  Tập trung cải tạo quân cán chính chế độ VNCH và tất cả những thành phần bị chúng nghi ngờ là nguy hiểm sau khi chúng chiếm được miền Nam .

–  Đổi tiền VNCH, cải tạo công thương nghiệp, hợp tác hóa nông nghiệp, đuổi dân thành thị miền Nam đi vùng kinh tế mới. Tất cả đều có mục đích bần cùng hóa người dân, biến nhân dân miền Nam thành nô lệ cho đảng CS.

–  Cô lập, uy hiếp, và răn đe lãnh đạo giáo hội của tất cả các tôn giáo để tách giáo dân, tín đồ ra khỏi tôn giáo. Quốc doanh hóa các giáo hội.

–  Quốc hữu hóa toàn ngành giáo dục, toàn bộ truyền thông đại chúng. Bỏ tù hầu hết những nhà văn nhà báo của chế độ VNCH. 

    Với những chính sách chuyên chính cơ bản trên, chỉ 4 năm sau khi VGCS chiếm được miền Nam thì mọi gia đình đã trở thành khánh kiệt, đất nước xơ xác. Xã hội miền Nam không mấy chốc đã bắt kip bước lùi của xã hội miền Bắc. Gia đình tan rã. Nhân tâm ly tán. Mọi người trở thành vô sản đồng đều. Toàn bộ sinh hoạt xã hội được các nhà văn nhà báo mô tả là một xã hội trại lính. VGCS đã thực sự nhìn thấy chúng thất bại. Nhưng thay vì tháo gỡ chuyên chính như Tiệp Khắc, chúng lại càng chuyên chính triệt để hơn và đưa ra những chính sách lừa bịp tinh vi hơn.  

2.   Giai Đoạn Đổi Mới hay Mở Cửa 

     Chuyên chính (Stalinization) mục đích là để củng cố chế độ và giữ vững đảng. Đứng trước những bế tắc chính trị và xã hội, đảng CS Tiệp đã can đảm gỡ bỏ chuyên chính (de-stalinization) để cứu nguy đất nước. VN thì không thế, trong hoàn cảnh nào đảng CSVN cũng nắm vững chuyên chính. Với chính sách mở cửa, việc chuyên chính của VGCS có biến thái, nhưng thay đổi một cách rất tinh vi ngõ hầu lòe bịp dư luận. 

     Năm 1986, đứng trước nguy cơ bị diệt vong, Nguyễn Văn Linh, tổng bí thư đảng lúc đó, đưa ra chính sách cởi trói với khẩu hiệu “đổi mới hay là chết”. Ý nghĩa như người ta hiểu là gỡ bỏ chuyên chính (de-stalinize) để cứu đảng. Nhưng hoàn toàn không phải vậy. Sự cởi trói của Linh là một quả lừa vĩ đại. Bọn báo nô trong nước chưa kịp vui mừng vì tưởng được tha hồ ăn nói thì đã lại bị khóa mõm liền tức thì. Trong khi VGCS đổi mới về kinh tế, chúng lại bóp nghẹt hơn về nhân quyền và các quyền chính trị. Và, thay vì trả lại quyền tư hữu cho toàn dân, đảng VGCS lại chỉ lo tư bản hóa các đảng viên của chúng. Chính sách đổi mới của VGCS đưa đến kết quả là đảng viên càng ngày càng trở thành giầu sụ, ngược lại dân chúng càng ngày càng nghèo kiết. Ngày nay các đảng viên đảng CS đứa nào cũng giầu sụ. Bọn này kết hợp lại thành một tầng lớp mà người dân đặt cho cái tên là “tư bản đỏ”. Lũ tư bản đỏ nắm hết mọi nguồn huyết mạch kinh tế trong nước và hoạt động y hệt như Mafia. Nói đến Mafia người ta đã sợ. Mafia nắm quyền cai trị đất nước thì người dân làm sao mà sống nổi. Đặc thù này của VGCS là một tai họa khủng khiếp nhất nhân dân VN phải gánh chịu kể từ ngày lập quốc. Bọn tư bản đỏ càng ngày càng bóc lột tàn nhẫn đến tận xương tủy người dân. Nhân dân VN vì thế càng càng càng trở nên lầm than, kiệt quệ. So sánh với Tiệp Khắc, từ đầu thập niên 1960, nền kinh tế Tiệp bị đình trệ khiến đời sống người dân Tiệp trở nên khó khăn. Mới chỉ là khó khăn thôi chứ chưa đến nỗi đói khổ. Ở VN, thanh niên phải bán sức lao động ở nước ngoài để nuôi gia đình. Con gái bán thân tứ xứ hầu kiếm miếng ăn. Ngay tại đồng bằng sông Cửu Long, nơi xưa kia người dân có tiếng là làm chơi ăn thiệt, thế mà hiện nay nhiều gia đình trở thành thiếu ăn, thiếu mặc. Theo thống kê của một số cơ quan nước ngoài, trong những năm gần đây quả thật kinh tế VN có phát triển, nhưng sự phát triển chỉ tập trung tại một số thành thị và cho một số người nhất định là các đảng viên đảng CS và thân nhân của họ. 90% dân chúng không hưởng được lợi ích gì từ sự phát triển, trái lại họ càng ngày càng trở nên vô sản đích thực. Khoảng cách giầu nghèo càng ngày càng trở nên trầm trọng đúng với câu dân gian thường nói: kẻ ăn không hết người lần không ra.  Ngay chính trong bọn cán bộ CS, có người nhận định, chỉ có trở lại chuyên chính vô sản (re-stalinize) thì mới giải quyết được vấn đề.   

     Từ tình trạng nghèo đói, xã hội VN rơi vào thảm trạng băng hoại đạo đức chưa từng thấy. Nền móng gia đình bật tung từ gốc rễ, trật tự xã hội hoàn toàn bị đảo lộn, những giá trị tinh thần từ hàng ngàn năm nay mất sạch, học đường là nới buôn bán chữ nghĩa và bằng cấp, tinh thần tôn sư trọng đạo đã trở thành lỗi thời, con ngưòi trong xã hội sống và cư xử với nhau bằng dối trá, lừa đảo, và bịp bợm. Một xã hội mất gốc và tan nát không có một bàn tay nào ngăn cản từ giới cầm quyền như thế, chỉ còn cách giải thích duy nhất đây chính là chính sách và đường lối của đảng VGCS. Ngu dân và lưu manh hóa người dân để dễ cai trị đã tỏ ra có một số tác dung nào đó. Cụ thể là việc VGCS sử dụng những thành phần đầu trộm đuôi cướp để trấn áp những người dân lương thiện đứng lên đòi quyền sống như chúng ta thấy trong các cuộc tranh đấu của giáo dân tại Thái Hà và Tam Tòa hiện nay. Công an lùa bọn thanh niên đầu gấu từng có tiền tích và cả chính công an mặc thường phục xông vào tấn công và hành hung những giáo dân tập trung cầu nguyện một cách hòa bình. Chủ đích của công an là khiêu khích giáo dân bạo động đánh trả bọn đầu gấu để chúng có lý do ra tay đàn áp mạnh. có thể gọi đây là phương pháp “lấy độc trị độc” trong y học cổ truyền. VGCS tạo ra một tầng lớp xấu trong xã hội và dùng nó để chế ngự những người đối lập với cường quyền. Về lâu về dài phương pháp lấy độc trị độc này không biết hiệu nghiệm đến đâu, nhưng bè lũ VGCS không có đứa nào học những lời dậy bảo của tiền nhân: nuôi ong tay áo, hay gậy ông đập lưng ông. Tất cả đó là thành quả của chính sách đổi mới. Tất cả mọi đường lối chính sách chỉ là để bảo vệ và duy trì quyền hành, nhưng đồng thời gây tác dụng ngược là tạo ra bất công và từ đó đưa đến tranh đấu. 

III.   Nguy Cơ Mất Nước Trước Mặt 

     Đặt căn bản lý luận trên định đề chân lý của Marx: đâu có bất công, ở đó có đấu tranh, chúng ta có thể khẳng định rằng dưới chế độ cộng sản hiện nay, cuộc đấu tranh của nhân dân VN là tất yếu, và càng ngày càng trở nên gay gắt và quyết liệt hơn chứ không thể nào giảm cường độ, bởi lẽ dễ hiểu là bất công tại VN càng ngày càng chồng chất theo thời gian chứ không bao giờ vơi đi cả. Mọi diễn biến của tình hình tự nó đi theo cái qui luật luẩn quẩn là càng đấu tranh thì càng đàn áp, và càng đàn áp lại càng đấu tranh quyết liệt hơn. Yếu tố thúc đẩy cuộc đấu tranh của nhân dân VN rõ ràng bắt nguồn từ việc áp dụng mù quáng chuyên chính vô sản (Stalinization) của đảng VGCS. Chuyên chính hay mở cửa cũng vậy, đều là con đường một chiều không có lối rẽ, thô bạo, triệt để, tàn nhẫn, và rừng rú khiến cho người dân không thể chịu đựng nổi phải đứng lên tranh đấu. Đường lối chuyên chính tại VN gay gắt và thúc bách hơn rất nhiều nếu so sánh với của Tiệp Khắc vào thời điểm Mùa Xuân Pruague. Cuộc tranh đấu này vì thế chắc chắn sẽ rất cam go.  

     Mặc dầu VGCS nhận thức rất rõ nguy cơ, chúng cũng đã có đề ra những biện pháp hóa giải, nhưng tựu trung chỉ là trò lừa gạt. Thí dụ như để chấn hưng đạo đức xã hội và lấy lại lòng tin của quần chúng, chúng lại bắt buộc người dân phải học tập đạo đức của Hồ Chí Minh. Muốn làm hòa với đồng bào miền Nam, nhất là những người đã bỏ nước ra đi, chúng triệt hạ nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa, áp lực chính quyền Indonesia phá bỏ trại tỵ nạn Galang. Thay vì dân chủ hóa đất nước, chúng dựng lên các tổ chức ma, những tên tranh đấu cuội ở trong cũng như ngoài nước để vô hiệu hóa các hoạt động cứu quốc của những người yêu nước chân chính. 

     Các cuộc tranh đấu ở trong nước, đặc biệt của GH Công Giáo theo thời gian đang dần dần lớn lên trông thấỵ, từ các vụ lẻ tẻ rải rác nhiều nơi, đến Thái Hà là một xứ đạo lớn tại thủ đô, và nay đến Tam Tòa với qui mô giáo phận. Tam Tòa là một dilemma lớn đối với VGCS. Chúng không thể nào giải quyết nổi. Nếu nhưọng bộ, đảng CS chứng tỏ thế yếu. Hàng ngàn, hàng vạn Tam Tòa khác sẽ nổ ra vì người dân không còn sợ nữa. Cũng chẳng có ai sợ kẻ yếu bao giờ. Nếu VGCS thắng và thắng bằng đàn áp thì lòng căm thù CS sẽ càng được nuôi dưỡng và càng lớn lên. Một ngày nào đó lửa Tam Tòa sẽ lại bùng cháy lại. Cần làm sao tinh thần TamTòa tồn tại. Ngọn lửa Tam Tòa chắc chắn sẽ dần dần lan rộng sang các giáo xứ, giáo phận khác. Tiếp theo là đến công nhân chống bất công, đòi quyền lợi, phong trào dân oan khắp nơi đòi đất, đòi nhà, trí thức, sinh viên, học sinh xuống đường chống Tầu cộng xâm lược v.v. Cho đến khi công an và quân đội VGCS phải run sợ trước sức mạnh của nhân dân và không còn khả năng đàn áp được dân nữa thì vấn đề VN sẽ đi vào con đường cùng là quân đội Tầu cộng bắt buộc phải can thiệp.  

     Một câu hỏi cần đặt ra là tại sao Tầu lại phải (chữ PHẢI nhấn mạnh) đem quân vào can thiệp. Có nhiều lý do, nhưng cái lý do chính là miếng mồi VN quá béo bở nuốt đã gần xong, không thể nhả ra được nữa. Và thứ hai là hiện nay không có một thế lực quốc tế nào có đủ khả năng can thiệp vào chuyện này của Tầu. Chỉ có nước Mỹ, nhưng Mỹ đang sa lầy tại nhiều nơi trên thế giới. Nhất là vào lúc này khuynh hướng phóng túng chủ bại đang nắm quyền tại Mỹ. Việc Tầu đem quân vào VN như thế là tất nhiên, nhưng có thể là do VGCS yêu cầu, và cũng có thể không. 

1.   Tầu can thiệp do VGCS yêu cầu –  Cả cộng sản Tầu lẫn VGCS đều có nhu cầu gắn bó liên hệ với nhau mặc dầu trên căn bản chủ tớ. Điểm này thiết tưởng khỏi cần phải giải thích thêm vì đã quá hiển nhiên rồi. Có 3 lý do khiến đảng VGCS phải cầu cứu quận đội Tầu che chở. Thứ nhất, Chúng ta đã rõ, đối với VGCS thì thà để mất nước chứ không bao giờ chịu mất đảng. Nếu VGCS đã dám bán đất bán biển để mưu sự tồn tại thì tại sao chúng không dám yêu cầu Tầu đưa quân bảo vệ khi sinh mạng đảng của chúng bị lâm nguy?  Thứ hai, VGCS đã phạm quá nhiều tội ác đối với nhân dân VN, cái tội ác lớn nhất là tội bán nước, cho nên chúng không còn con đường quay trở lại với Tổ Quốc nữa vì sợ nhân dân trả thù. Thứ ba, mỗi tên VGCS, nhất là từ cấp ủy trở lên hiện nay đều là triệu phú dollar. Chúng rất sợ mất cái đầu, sợ mất tiền bạc, và sợ gia đình khó tránh họa, nước đến chân không còn chạy đi đâu được nữa.  

     Hiện nay quân đội Tầu đã sẵn sàng ở biên giới, ở Hải Nam , ở Trường Sa và Hoàng Sa. 375.000 lính tầu dưới cái vỏ công nhân đang làm việc tại VN chỉ cần thay áo mang súng vào là thành một đạo quân hùng mạnh rồi. Các làng Tầu ở Móng Cái, Hải Phòng, Hội An, Đà Nẵng, Chợ Lớn, Hà Tiên cũng có thể là những trại lính Tầu sẵn sàng hữu dụng khi cần đến. Tuy nhiên cũng có thể là cả Tầu lẫn VGCS sẽ cần đến một tờ giấy lộn quen gọi là “Hiệp Ước An Ninh Hỗ Tương” để một bên tránh bị mang tiếng xâm lược, và bên kia không bị mang tiếng bán nước. Hiệp ước này có thể đã có sẵn, cũng có thể sẽ có trong tương lai. VGCS sẽ dựa vào cơ sở pháp lý này để cầu cứu với Tầu cho có hình thức phải đạo. Nên biết rằng có tới trên 2/3 thành viên Trung Ương đảng CS Tiệp biểu quyết chống việc Liên Sô chiếm đóng Tiệp. VGCS hẳn sẽ không được như thế.

 

2.   Tầu tự động can thiệp không do VGCS yêu cầu –   Cho dù vạn nhất VGCS không yêu cầu can thiệp thì Tầu cộng cũng sẽ đem quân chiếm đóng VN vì lý do như đã trình bầy trên. Còn có lý do khác mang nét đặc thù Hán tính là tham vọng bành trướng của người Tầu. Tầu không bao giờ bỏ lỡ cơ hội xâm lăng VN. Xưa nay người Tầu vốn coi VN là một phần lãnh thổ của Tầu, là cửa ngõ giao thương, cũng là bức tường giống như Tây Tạng, Tân Cương, Triều Tiên che chắn cho nước Tầu được kín đáo. Vì thế, nhân cơ hội này Tầu không can thiệp mới là chuyện lạ. Xưa nay lý của kẻ mạnh bao giờ cũng hữu lý. Trong bến cố Mùa Xuân Prague, Brezhnev đã tự đưa ra học thuyết (doctrine) riêng để đem quân vào Tiệp Khắc: Liên Sô có quyền can thiệp bất cứ khi nào một quốc gia trong khối Đông Âu có ý định chạy theo chủ nghĩa tư bản (U.S.S.R has the right to intervene whenever a country in the Eastern Bloc appeared to be making a shift towards capitalism). Tại sao Hồ Cẩm Đào lại không biết đưa ra một học thuyết tương tự? Như chúng tôi vừa nói, lý của kẻ mạnh luôn luôn là có lý kia mà. 

IV.   Kết Luận 

     Đã có người la lên: mất nước rồi! Mất nước rồi! Tiếng kêu la thảm thiết này không phải là không có lý do. Xét về nhiều mặt, VN thực tế kể như đã mất nước rồi. Về kinh tế, dân ta xài đồ Tầu tới 70%. Về văn hóa, người Việt đọc truyện Tầu, xem phim ảnh Tầu từ thành thị đến thôn quê. Về chủ quyền quốc gia, các vi phạm lãnh thổ, lãnh hải, bắn giết ngư dân không lãnh đạo VN nào dám mở miệng. Người Tầu ra vô VN không cần giấy tờ gì hết. Về lãnh đạo, chóp bu là một thằng Nùng ngu si ngốc nghếch, con rơi của thằng Hồ bán nước, hai thằng nắm thực quyền điều hành đất nưóc hiện nay là Nguyễn tấn Dũng thủ tướng, và Nguyễn Chí Vịnh tổng cục trưởng T2 an ninh tình báo là anh em ruột, con của thằng Nguyễn Chí Thanh, một tên tay sai trung thành tuyệt đối của Tầu cộng. Như thế không mất nước thì còn là gì? Có hai cách mất nước. Mất nước êm thấm như kiểu mưa dầm thấm đất, và mất nước qua một cuộc xâm lăng ồ ạt. Mất nước kiểu mưa dầm thấm đất thì hiện chúng ta thấy rồi đấy. Chỉ còn chuyện này là một ngày nào đó Bộ Quốc Gia Giáo Dục VGCS bắt các thầy cô dậy con em: Tổ tiên chúng ta là người Hán thì chỉ chừng ba, bốn thế hệ nữa, con Rồng cháu Tiên sẽ biến thành con cháu Văn, Võ Đế là xong thôi. Rất tiếc trước đây Thống Chế PéTain dậy trẻ nít Annam : tổ tiên ta là người Gaulois (nos ancêtres sont des Gaulois) trễ quá. Nếu ông cầm quyền nước Pháp lâu tí nữa thì có lẽ chúng ta biến thành tây Phú Lãng Sa hết rồi. Còn như mất nước qua việc quân Tầu ồ ạt tràn sang chiếm đóng nước ta thì không chừng lại là cái may. Chắc chắn sẽ có chết chóc, sẽ có tàn phá, và sẽ có khổ đau. Nhưng thà là thế, chúng ta sẽ có được nhiều lợi thế. Lợi thứ nhất là cái biến cố sẽ làm thức tỉnh toàn dân Việt để mọi người đoàn kết cứu nước. Ai yêu nước, ai theo giặc sẽ lòi ra hết thôi. Lợi thứ hai là chúng ta có bằng chứng cụ thể để đánh thức lương tri và lương tâm thế giới. Họ sẽ giúp đỡ chúng ta. Cho dù mất nước cách nào thì cũng là Mùa Xuân Prague đến với Dân Tộc VN. Nhân dân Tiệp Khắc phải mất 22 năm (1968 – 1990) mới dành lại được độc lập tự chủ. Còn VN thì bao lâu chưa thể biết trước được. Cha ông ta chiến đấu chống Tầu cả ngàn năm kia mà.

 

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất 

(*)  Trong bài này quí bạn đọc gặp các chữ Chuyên Chính hoặc Chuyên Chính Vô Sản và Tháo Gỡ Chuyên Chính mà chúng tôi dịch từ các chữ Stalinization và de-Stalinization trong tiếng Anh. Thật ra Chuyên Chính, chữ tương đương trong tiếng Anh ngưòi ta thường dùng là Totalitarianism hoặc Dictatorship, và Tháo Gỡ Chuyên Chính tức Dân Chủ Hóa, chữ tương đương là Democratize. Ở đây chúng tôi dịch chữ theo cái ý của sự việc, nếu có sai ngữ pháp thì xin quí vị thứ lỗi cho. Thành thật cám ơn. 

Nhân dân Tiệp Khắc phải mất 22 năm mới dành lại được độc lập tự chủ, còn VN thì không thể biết được là bao lâu.




Bác Cháu Lên Mạng

Chào Cu Tèo,

Đọc “Đơn Xin Côn Đồ Khoan Hồng”, Bác đây nhột quá, xấu hổ qúa, mặc dầu Bác đà thú tội nhiều lần với Tèo, con đuờng Bác đi là cực kỳ Bi Đát. Bác viết hoa hai chữ “Bi Đát”, vì trên thế gian này, đã có không ít lãnh tụ đưa nước đưa dân họ vào con đường bi đát, nhưng con đường bi đát của họ chỉ hẹp, ngắn, vì họ sớm nhận ra con đường họ đang đi là bi đát, nên họ hè cổ chạy rẽ sang ngà khác mà đi. Chứ không vĩ đại và trường kỳ như con đường bi đát do Bác dẫn đi.Như thế gian này chỉ có một ông Giáo Hoàng, nên khi nào người ta cũng phải viết hoa chữ Pope, thế gian này cũng chỉ có con đường Bác đi nó bi đát đến độ không giống ai, không ai có, nó độc nhất vô nhị, nên bác phải viết hoa là vậy. Rồi Tèo sẽ thấy Việt Nam ta sau này, nhà nhà sẽ treo ngay bàn thờ bốn chữ đại tự cho con cháu nhớ mãi đời đời, “BÁC ĐI BI ĐÁT”.

Nó bi đát như Bác đang trên đường vô Nam. Hết ăn Phở Dâm ở Kỳ Anh nay lại ặp Cơm Tù ở Quảng Bình, quê của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp. Ôi làm sao Bác kể cho đầy đủ được, mắt  Bác thì kèm nhèm, đánh máy thì như mổ cò, làm sao tả cho Tèo đâỵ .Thôi để Bác chôm tạm bài phóng sự của báo của Tuổi Trẻ, mô tả giống như tình huống Bác đang…chịu trận. Tèo chịu khó đọc nha . 

 

Những bữa cơm tủi nhục

  này.

Thiếu Phụ : GẶP GỠ ĐẦU NĂM CỌP

Hi Cúc Vàng, Thanh Yến.

 

Hôm qua đi với Phan Tưởng Niệm ra bến Bạch Đằng ngồi nhìn sông nước.

Chợt viết bài thơ Buồn xưa, gởi hai nàng thơ để đọc cho vui.

Tiếc rằng anh không biết E-mail của Nhật Hạ.

 

Buồn Xưa.

 

Ba mấy năm rồi tóc đã phai
Mộng xưa trăn trở đớn đau hoài
Bến xuân ước cũ không quay lại
Chua xót biển đời ai gọi ai…!

 

Ba mấy năm rồi tôi đợi ai !!!
Chiều ngồi trên bến lệ ngắn dài
Dòng nước xôn xao bào kỷ niệm
Nhớ người tóc bím chửa nguôi ngoai.

 

Nhìn sóng dập dềnh lục bình trôi

Thời gian bóng cũ một mình tôi
Lăn tăn bóng nước em ẩn hiện
Em khóc hay cười, tôi mặn môi.

 

Em hỡi tình hoang ! hồn trở lại !!!
Nhớ anh không, bến cũ sông xưa ?
Nhớ mang về ngọn triều năm đó
Và tình người đã khóc tay đưa.  

Nhìn lục bình trôi nhớ mặt người
Chiều xưa tóc rũ chỉ đôi mươi
Đớn đau em nhận… thương yêu gởi
Ngọn sóng xô tầu em biệt tôi… 
 

Tạ ơn em một nụ môi hồng
Cám em mật ngọt ngóng trông

Bên kia sương tỏa mờ tâm ảnh
Bên này ngớ ngẩn ánh đèn mong 

 

Một buổi chiều ngồi nhìn lục bình trôi trên bến Bạch Đằng Sài Gòn.
Jan. 25,2010.

————————————————————————————————————-

Anh Chinh Nguyên oi

Cám ơn anh bài thơ Buồn Xưa với chút man mác buồn nhưng hay lắm .

Em cũng gởi anh xem bài viết của chi Thiếu Phụ về buổi gặp mặt hôm vừa rồi . Luôn vui anh nhé . Tối thứ 6 anh nhớ về chơi cùng tụi em .

 

GẶP GỠ ĐẦU NĂM CỌP

Đang ngồi làm việc, cell phone "reng …" vang dội, nhìn tên người gọi là NHẬT HẠ SG, ồ, chắc có chuyện gì đặc biệt rồi, nên người đẹp Sài Gòn mới gọi phone, hay là Nhật Hạ từ giã đi Mỹ ??? Ý nghĩa thoáng qua, thiếu phụ vội bấm nút
– Alo, nghe người đẹp ơi, có chuyện gì đặc biệt ha ?
– Nói nghe nè, tối nay thiếu phụ rảnh không, đến phòng trà "Tình Ca" trên đường Phổ Quang đi nha, ở đó vừa có hát với nhau, vừa có khiêu vũ nữa – có người từ San Jose về nè, là anh Phan Tưởng Niệm đó, anh nhờ NHạ mời thiếu phụ, đến chơi cho vui nha

Woa, giọng nói ngọt ngào mời mọc như vậy, làm sao thiếu phụ nói "không rảnh" được chứ, lại thêm có anh Phan Tưởng Niệm về nữa

– Rồi, D’acord, gặp nhau mấy giờ ?
– 8g00 tối ha, nếu từ đây đến tối Hạ không gọi gì nữa, thì chị cứ vậy mà đến đó nha
– D’acord, d’acord

Đến 6g00 chiều, không nghe Nhật Hạ gọi gì nữa, nhưng, linh cảm thấy cần hỏi lại cho chắc ăn, thiếu phụ gọi lại cho NHạ
– Sao hả Nhật Hạ ui, kế hoạch có gì thay đổi không ?
– Hihihi, dạ có, Hạ cũng vừa định gọi cho chị hay, vì ngày mai anh PTN đã phải về Mỹ, nên tối nay, mình đổi chỗ gặp, ra Sài Gòn phố uống cafe trò chuyện, đến 10g00 đêm thì về nha
– Ủa, chứ nếu đi Tình ca, thì mấy giờ về ?
– 12g00 đêm
– Hả ??? Thôi vậy đi Sài gòn phố đi, vì trễ nhất 10g00 thiếu phụ phải về để rước con gái á
– Rồi 7g30 tối gặp ở SGòn phố nha – có 3 chị em mình, với anh PTN và anh LTPhong nữa đó
– Ja, 7g30 tối gặp nhau há

"Lọ mọ" tìm ra được Sài Gòn phố, nhìn đồng hồ đã 7g45, thôi chết, mình trễ giờ rồi, nhìn quán cafe, nửa tin, nửa ngờ, thiếu phụ lấy cell phone gọi Nhật Hạ – Một câu chào cất lên, tiếng đàn ông

– Thôi chết, mình có bấm nhầm tên không ?

Nhìn lại cell phone, đúng tên Nhật Hạ rồi, ngập ngừng thiếu phụ còn chưa biết nói gì, thì đã nghe giọng nói tiếp tục hỏi "thiếu phụ đến chưa ?" – Một tia sáng "loé lên"

– A, dạ, anh Niệm phải không ạ – Thiếu phụ đến Cafe Góc phố rồi nè
– Không phải Góc phố – Sài Gòn phố

Thiếu phụ vội tìm tấm biển tên – "dạ, đúng rồi, Sài Gòn phố, anh và các bạn đang ngồi ở đâu vậy". Sau lời "chỉ dẫn " của anh PTN, Tphụ tìm đường đi vào, còn đang ngơ ngác "trước ngã 3 quán" thì nghe tiếng chị Cúc vàng gọi, thì ra không yên tâm, nên chị Cúc Vàng đã chạy ra để dẫn thiếu phụ vào

Sau "màn tay bắt, miệng chào", vừa ngồi xuống thì thức ăn, nước uống cũng vừa được mang ra, sẵn có service, chị Cúc Vàng nhờ chụp luôn 4 anh em "1 pô" làm kỷ niệm

Hình chụp xong, thiếu phụ quay qua nhìn kỹ anh PT.Niệm
– Anh Niệm nè, hôm tháng 7, họp mặt bến SM ở San Jose, xem hình thấy anh ốm quá, nghe nói anh bênh. hôm nay anh sao rồi
– Ừ, lúc đó, đúng là vừa bệnh xong, hôm nay anh khoẻ, không sao
– Dạ, hôm nay nhìn lại sau một năm gặp mặt, thiếu phụ thấy anh Niệm như trẻ ra hơn năm trước đó
– Đẹp trai hơn nữa chứ

Tiếng chị Cúc Vàng vang lên, làm một tràng cười vỡ ra, mọi người vừa ăn, vừa uống, vừa thăm hỏi, trò chuyện với nhau, vì thật ra chị Cúc Vàng, Nhật Hạ, thiếu phụ cũng lâu lắm rồi mới có dịp gặp lại, nhưng đối tượng được thăm hỏi nhiều nhất vẫn là anh Phan Tưởng Niệm

Anh kể chúng tôi nghe một vài kỷ niệm khi anh về SGòn, nhất là đêm giao thừa đầu tiên, anh về lại Việt Nam trong dịp tết Nguyên Đán, 1g00 đêm, một mình anh ngồi lặng lẽ trong Lăng Ông – chợ Bà Chiểu mà "ôm sầu mênh mông"

– ủa, vậy sao lúc đó anh không gọi cho Nhật Hạ ra trò chuyện cho vui

Sau tràng cười giòn tan, Nhật hạ nói "Lúc đó, Hạ và anh PTN chưa biết nhau"

Nói đến tết, phong tục được nhắc đến, anh PTN đã lì xì cho 3 chị em mỗi người một tờ "đô la may mắn".

– Woa, hồm rày, ở Sgòn râm ran chuyện tìm tờ 2USD để lấy may năm mới
– Thiệt hả
– Dạ phải, tuy thiếu phụ không hiểu vì sao – nhưng thấy báo đăng mọi người đổ xô tìm tờ 2USD, vì tờ 2USD sẽ đem lại may mắn cho mọi người, nay thiếu phụ cũng có may mắn rồi, thiếu phụ cảm ơn anh PTN nhiều nha.

Qua chuyện lì xì, chúng tôi lại nhắc đến những kỷ niệm của lần gặp trước, nhắc đến bến SM … một chút không khí chùng xuống khi chúng tôi nhắc đến anh Phạm Sĩ Trung, và Thiều Nhiên, hai người bạn thơ đã ra đi … nhưng rồi khi nhắc đến dịp "Tam nương OC" về SGòn vào tháng 10 vừa qua, với biệt tài "hài hước" chị Cúc Vàng luôn làm cho 4 ACE chúng tôi có những nụ cười vui trở lại trong niềm thân ấm tình bạn bè.

Đến 9g00 đêm, thì anh CHINH NGUYÊN – cũng là một cư dân của vùng "Săn Hô Zê", BẠN THƠ VĂN của anh PTN xuất hiện, anh Chinh Nguyên vốn đã quen với NHạ và chị CVàng từ trước, nên dù anh chưa kịp ngồi xuống thì tiếng cười đùa từ anh đã râm ran rồi, và kh
ông khí trò chuyện lại thêm rộn rã

Nửa tiếng sau, anh Lã Thế Phong xuất hiện, một màn chào hỏi giới thiệu diễn ra, dù đã biết "danh tánh" của nhau, nhưng anh PTN và anh LTP lần đầu gặp mặt, nên một chút thời gian lắng đọng, để hai anh làm quen với nhau, và anh LTP làm quen với anh Chinh Nguyên

Đây rồi, "túm" được cậu bé service, chị Cúc Vàng nhờ "em" chụp giùm các anh chị "1 pô" đi nè, ngôi xoay lại, xoay lại

Í, khoan, khoan, chụp cái nữa cho chắc ăn

Chiếc máy được chuyền tay cho nhau xem, câu chuyện lại tiếp tục, đề tài lần này là xoay quanh các bài thơ, văn phong, con chữ trong thơ, chữ nôm, chữ Hán … Anh Chinh Nguyên, anh PTN, anh LTP đều là những "lão làng", từng "chinh chiến" nhiều năm trên các diễn đàn thơ văn hải ngoại, nên xem ra câu chuyện ngày càng thêm rôm rã

Chết, 10g00 đêm rồi, nhớ đến con gái đang đợi, thiếu phụ vội xin phép cáo từ các anh chị, thiếu phụ ra về trước, những bàn tay giơ ra nắm tay thiếu phụ, những câu chào, những lời dặn dò được các anh chị em nhắn gởi – Anh Phan Tưởng Niệm đưa chân thiếu phụ ra đến cửa rồi mới quay vào, với lời chúc nhau "một năm mới an lành, nhiều may mắn" và lời hứa hẹn "năm sau gặp lại" …

Trên đường chạy về, gió Xuân thổi nhè nhẹ bên tai, dư âm cuộc gặp mặt làm thiếu phụ bổng dưng nhớ đến, cũng một ngày cuối tháng giêng năm trước, khi Xuân cũng sắp về, một cuộc họp mặt đông đúc hơn, đầy đủ hơn, có chị Hà Khánh Phương, có anh Đông Hoà … cùng nâng ly chúc mừng sinh nhật Nhật Hạ … Mới đó đã một năm rồi, bữa nay, tuy chưa đến ngày sinh nhật của NHạ, nhưng cũng vài bữa nữa thôi, chị HKP năm nay đã ở xa xôi tận San Jose … không biết giờ này chị đang làm gì, có nhớ đến chúng tôi bên này không …

Mãi suy nghĩ, suýt nữa thiếu phụ "chạy luôn", may mà gần đến ngã tư, xe cộ đông đúc, thiếu phụ rà thắng lại, và … thấy con gái đang đứng nhìn mẹ một cách trông ngóng. Ui chà, thiệt "tội llỗi, tấp xe vào, rước con gái, thiếu phụ vừa chạy, vừa kể cho con gái nghe về cuộc họp mặt với các cô, các chú, các bác … như một "lời tạ lỗi" vì sự trễ nãi, nhưng cũng như một sự giải toả cảm xúc trong lòng …

Chiều nay, mở mailbox, thấy thư chị Cúc vàng gởi kèm những tấm hình chụp hồi hôm, ngắm nhìn lại những gương mặt thân quen, thiếu phụ lại thấy bồi hồi … Một chút vui với thân tình của Nhật Hạ, của chị Cúc Vàng đã không quên gởi hình cho thiếu phụ, một chút bâng khuâng khi nghĩ đến anh PTN giờ này chắc đang ngôi trên bầu trời cao …

Cảm ơn anh PTN đã giành thời gian hiếm hoi ở Sgòn để gặp gỡ NHạ, chị CVàng, TPhụ … Cảm ơn tình thân của các anh chị, các bạn đã đem lại cho cuộc sống thêm một niềm vui nhỏ

Mong là, tất cả các anh chị em, các bạn sẽ luôn bình an, mạnh khoẻ, nhiều may mắn trong cuộc đời để có lúc chúng ta lại có thể gặp nhau, giành cho nhau một chút tình thân quý hiếm, trong cõi sống vô thường này

rose1c.gif rose1c.gif rose1c.gif rose1c.gif rose1c.gif rose1c.gif rose1c.gif rose1c.gif rose1c.gif rose1c.gif rose1c.gif rose1c.gif rose1c.gif rose1c.gif rose1c.gif rose1c.gif rose1c.gif

Thiếu Phụ
Tue Jan 26, 2010 4:36 am




TS Trần An Bình : Vạ Tuyệt Thông cũa GHCG dành cho người theo Cộng Sãn

"Anh em không dược làm tôi hai chũ !!"

 


Ts Trần An Bài:

Vạ Tuyệt Thông cũa GHCG dành cho người theo Cộng Sãn

      

Thánh lễ tạ ơn và chào đón Đức Tân Tổng Giám Mục Phó Hà Nội Phêrô Nguyễn Văn Nhơn
 
        Vạ Tuyệt Thông của Giáo Hội dành cho người theo Cộng Sản

 

 
Học thuyết Cộng Sản (CS) là một quái thai của nhân loại trong thế kỷ 19 và 20. Bất cứ cá nhân nào, tổ chức xã hội nào, quốc gia nào hoặc tôn giáo nào cũng đều có bổn phận và trách nhiệm tiêu diệt cái quái thai này, để bảo vệ thế giới của con người, vì học thuyết CS không nhằm phục vụ con người mà nhằm tiêu hủy con người.

Các quốc gia Đông Âu đã nhận ra điều này và đã thành công trong việc tiêu trừ nó vào trước lễ Giáng Sinh năm 1989. Điều trớ trêu và đáng buồn là hiện nay trên thế giới chỉ còn 4 quốc gia theo chủ nghĩa CS và Việt Nam lại là một trong số những quốc gia ấy: Trung Cộng, Cuba và Bắc Hàn.

Ngay khi tà thuyết CS ra đời, Giáo Hội Công Giáo (GHCG) là một trong những tôn giáo đã chống lại nó một cách mạnh mẽ nhất. Đức Giáo Hoàng Piô XII vào năm 1949 đã ra Sắc Luật chống chủ thuyết Cộng Sản và tuyên bố áp đặt vạ tuyệt thông cho tất cả những người Công Giáo nào hợp tác với các tổ chức Cộng Sản (The Decree against Communism is a 1949 Catholic Church document (by Pope Pius XII) which excommunicates all Catholics collaborating in communist organizations. ) Sắc Luật này đã tạo nên một hậu quả khủng khiếp nhất chưa hề có trong lịch sử GHCG là số người bị khai trừ khỏi GH lên tới cả triệu người. Dù biết rõ hậu quả như vậy, nhưng GH vẫn tiến tới, vì hai học thuyết Công Giáo và Cộng Sản không thể đội trời chung với nhau.

Tưởng cần nhắc lại là Sắc Luật nghiêm khắc này chỉ là để thi hành một Thông Điệp chống Cộng đã có từ năm 1937, với tên là "Divini Redemptoris" (Của Đấng Cứu Thế Thần Linh).

Vào ngày 15-7-1948, báo L’Obsservatore Romano, cơ quan ngôn luận chính thức của Toà Thánh đã đăng tải một Sắc Luật chống Cộng, nhằm công bố vạ tuyệt thông cho tất cả những ai "tuyên truyền các học thuyết Cộng Sản nhằm cổ võ thuyết duy vật và chống báng Kitô giáo". Vào thời điểm đó, Sắc Luật có chủ đích ra vạ tuyệt thông cho các đảng viên Đảng CS Ý.

Có thể nói: ngược dòng lịch sử GHCG suốt 100 năm qua, các vị Giáo Hoàng Piô IX, Lêô XIII, Thánh Giáo Hoàng Piô X, Piô XI, Piô XII, Gioan XXIII, Phaolô VI, Công Đồng Vatican II và Đức Gioan Phaolô II đều liên tục lên án chế độ Cộng Sản một cách mãnh liệt. Đức Chân Phước Giáo Hoàng Gioan XXIII đã ban hành án vạ tuyệt thông cho Fidel Castro, lãnh đạo cuộc Cách Mạng CS Cuba mà CSVN vẫn nhận là anh em nối khố để canh chừng thế giới: "Anh ngủ, em thức". Chỉ có ĐGH Bênêdictô XVI mới lên ngôi được 5 năm và có lẽ đang dồn nỗ lực vào việc phục hồi các Giáo Hội tại Âu Châu và Mỹ Châu, nên đã lơ là trong việc chống lại 3 quái thai CS đang hoành hành tại Á Châu là Trung Quốc, Bắc Hàn và VN thôi.

Các văn kiện của Toà Thánh minh định rằng tất cả những tín hữu nào bảo vệ hay cổ võ học thuyết Cộng sản thì "đương nhiên" bị khai trừ khỏi Giáo Hội. (Q.4 If Christians declare openly the materialist and antichristian doctrine of the communists, and, mainly, if they defend it or promulgate it, “ipso facto”, do they incur in excommunication ("speciali modo") reserved to the Apostolic See? R. Affirmative) .

Ngoài ra, những tín hữu nào bỏ phiếu cho đảng CS hoặc gia nhập đảng này hoặc viết lách cho các báo chí CS thì cũng cùng chung số phận như vậy.

Tất cả những luật lệ trên cho tới nay vẫn còn hiệu lực, vì chưa hề có một văn thư nào của Toà Thánh hủy bỏ, tu chính hoặc sửa chữa nội dung các Sắc Luật chống Cộng kể trên. Cho nên, một tín hữu Công Giáo – bất kể thuộc thành phần nào: từ Giáo Hoàng, Hồng Y, Tổng GM, Giám Mục, Linh Mục, tu sĩ nam nữ đến giáo dân – mà hợp tác, ca ngợi, tán đồng học thuyết và chế độ CS dưới bất cứ hình thức nào, đều đương nhiên bị vạ tuyệt thông, tức không còn phải là phần tử trong Giáo Hội Công Giáo nữa.

LẬP TRƯỜNG HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM
Thái độ của Hội Đồng Giám Mục VN đối với chế độ CS kể từ khi Hồ Chí Minh và các đồng chí của ông đặt ách thống trị trên Quê Hương Việt Nam như thế nào? Một cách tổng quát, chúng ta có thể tóm lược lập trường chống Cộng khác nhau của HĐGM/VN như sau:

– Dưới thời Đức Hồng Y Trịnh Văn Căn, Tổng GM Hà Nội, Hội Đồng GMVN không muốn có bất cứ liên hệ nào với Nhà Nước CSVN. Đó là một tinh thần chống Cộng quyết liệt.

– Đến thời Đức Cha Nguyễn Minh Nhật, Giám Mục Xuân Lộc, làm Chủ Tịch HĐGM thì các Giám Mục viết kiến nghị yêu cầu Nhà Nước thỏa mãn các yêu sách của Giáo Hội, ví dụ: xin gia tăng chiêu sinh, tự do truyền chức linh mục, trả lại tài sản cho Giáo Hội, v.v… Các bản kiến nghị đó cũng được gửi cho các cơ quan ngôn luận trong và ngoài nước để tạo sức ép trên Nhà Nước. Kết quả, Giáo Hội không được gì, vì Nhà Nước không bao giờ cứu xét các kiến nghị đó.

– Đến thời ĐC Nguyễn Văn Hòa, Giám Mục Nha Trang, làm Chủ Tịch HĐGM thì cũng có kiến nghị, nhưng không công bố mà đến gặp thẳng các viên chức Nhà Nước để đặt vấn đề. Nói cách khác, HĐGM tìm cách đối thoại thay vì đối đầu. Kết quả là Nh&ag
rave; Nước áp dụng chế độ "Xin-Cho". Trên thực tế, có một vài kết quả trong chế độ "Xin – Cho" này. "Xin" có điều kiện thì "Cho" cũng có điều kiện. Hai bên đều có lợi.

– Khi ĐC Nguyễn Văn Nhơn, Giám Mục Đà Lạt, làm Chủ Tịch HĐGM thì chính sách đối thoại vẫn được duy trì và còn được thăng hoa bằng "lý thuyết thực dụng" nữa.

Kể từ khi Hoa Kỳ – Trung Cộng bắt tay nhau và thoả thuận cho Cộng Sản Bắc Việt cưỡng chiếm miền Nam và đặt ách thống trị trên toàn lãnh thổ VN, Vatican vẫn thường xuyên gửi các phái đoàn đến thương thuyết với Hà Nội, mặc dù hai quốc gia Vatican và VN chưa thiết lập quan hệ ngoại giao.

Giai đoạn đầu, với Trưởng phái đoàn là Đức Ông Celli, cuộc gặp gỡ đôi lúc rất căng thẳng, đến nỗi có lần đã phải đập bàn đập ghế. Nhưng đến thời Đức Ông Migliore làm trưởng phái đoàn thì bầu không khí có vẻ dịu hơn và cho đến thời Đức Ông Parolin thì cuộc đối thoại mang nhiều nụ cười cởi mở. Mới đây nhất, khi Đức Ông Nguyễn Văn Phương – người liên tục có mặt trong phái đoàn Vatican đối thoại với Ủy Ban Tôn Giáo Nhà Nước – chuẩn bị về hưu thì xuất hiện một khuôn mặt mới, trẻ trung, hoạt bát hơn. Đó là Đức Ông Cao Minh Dung. Có người để ý theo dõi và ghi nhận rằng: Nhà Nước tiếp đãi phái đoàn cũng như cá nhân Đức Ông Dung một cách nồng hậu khác thường. Qua cách ứng xử của Đức Ông Dung với Đức Tổng Kiệt trong những ngày qua, có dư luận còn cho rằng CSVN đã "cài" được Đức Ông vào trong guồng máy của Vatican rồi. Dư luận đúng sai tới đâu thì chưa rõ, nhưng xưa nay, những trò tiểu xảo cài gián điệp của Bắc Việt vào guồng máy VNCH vẫn còn làm nhiều người khiếp sợ!

Người ta thấy rõ bầu khí "đối thoại" giữa Vatican và CSVN cùng chung một nhịp với mối quan hệ giữa HĐGMVN và guồng máy cai trị của Hà Nội.

Tưởng cần phải ghi nhận một điểm khá đặc biệt và rất nghịch thường ở đây là Giáo Hoàng vừa là Giáo Chủ Đạo Công Giáo, kế quyền Thánh Phêrô và Đại Diện Đức Kitô trên trần gian này vừa là Quốc Trưởng của quốc gia Vatican, một quốc gia mà diện tích chỉ rộng bằng khuôn viên Dinh Độc Lập của VNCH thôi. Với quyền uy Giáo Hoàng, các ngài có hàng trăm triệu tín đồ trên khắp thế giới và đã ra vạ tuyệt thông cho hàng triệu tín đồ "thiên Cộng". Nhưng với tư cách Quốc Trưởng Vatican, các ngài chỉ có khoảng 800 công dân mang quốc tịch Vatican, nhưng Sứ Thần Toà Thánh hiện diện ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Cho nên, mặc dầu Fidel Castro đang mang án vạ tuyệt thông mà Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II vẫn đến thăm, bắt tay Fidel Castro, cử hành Thánh Lễ công khai mà không ai phân biệt được ngài đến Cuba trong tư thế Giáo Hoàng hay Quốc Trưởng Vatican. Biết được điểm nghịch thường này, người ta mới hiểu được tại sao Giáo Hoàng có lúc quyết liệt ngoảnh mặt đi, nhất định không nói chuyện với CS, nhưng có lúc lại tay trong tay, niềm nở với Cộng Sản. Hiểu được nét độc đáo này, người ta mới không thắc mắc tại sao trong khi các giáo dân VN đọc câu kinh của cha Trinh Cát: "Xin cho gia đình con thoát ách Cộng Sản vô thần" thì Chủ Tịch Nhà Nước CS và Thủ Tướng CSVN vênh váo bước vào Điện Vatican bắt tay Đức Giáo Hoàng.

VÀI TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ Ở VIỆT NAM
Lệnh của Giáo Hội cấm hợp tác và ca tụng Cộng Sản vẫn còn hiệu lực, nhưng có vài trường hợp cụ thể đã và đang xảy ra tại VN mà nhiều người vẫn đề cập đến, vẫn thắc mắc, vẫn hoang mang, nhưng rồi vấn đề đâu vẫn còn đó, suốt năm này qua năm khác.

Trường hợp thứ nhất: LM Huỳnh Công Minh. Ông là người mang thẻ Đảng CSVN và đã có thời là Dân Biểu trong Quốc Hội của Nhà Nước CS. Theo Luật hiện hành của Giáo Hội, ông Linh Mục Cộng Sản này đương nhiên đã bị dứt phép thông công. Mọi người cùng biết, cả nước đều biết, Giáo Hội La Mã cũng biết. Vậy mà ông vẫn thản nhiên cử hành các bí tích công khai như một linh mục bình thường. Điều đáng nói và quan trọng hơn nữa là ông Huỳnh Công Minh còn được ngồi trong chức vụ quan trọng số 2 của Tổng Giáo Phận Saigon, đó là chức Tổng Quản hay còn gọi là Cha Chính Địa Phận. Chức vụ này quyền uy chỉ sau chức Tổng Giám Mục Saigon thôi. Ở các địa phận khác, chức này được thay đổi thường xuyên, nhưng không hiểu sao ông Huỳnh Công Minh ngồi ở chức này từ suốt 35 năm qua. Đã có người hỏi ĐHY Phạm Minh Mẫn về việc này thì Ngài trả lời: "Khi tôi về nhận chức thì đã có cha Huỳnh Công Minh rồi. Có sao tôi cứ để vậy!" Một câu trả lời được đánh giá là rất "huề vốn"!

Trường hợp thứ nhì: LM Phan Khắc Từ. Ông linh mục này mang biệt danh "linh mục hốt rác", vì ông đã nhân danh những công nhân hốt rác xách động biểu tình gây rối chế độ VNCH để làm lợi cho CS Bắc Việt. Chính ông này đã công khai kể công với Đảng CSVN là ông đã dùng nhà thờ để chế bom đánh M
ỹ. Ông cũng có thẻ Đảng CS. Ông đã công khai phế bỏ luật Giáo Hội bắt linh mục phải sống độc thân, vì ông đã có vợ, có con. Ông còn tổ chức ăn thôi nôi con linh đình ngay tại Giáo Xứ Vườn Xoài, nơi ông được bổ nhiệm làm Linh Mục Chánh Xứ. Thời gian ông giữ chức Chánh Xứ cũng lâu như ông Huỳnh Công Minh ngồi ở ghế Tổng Quản vậy. Giáo Xứ Vườn Xoài ở ngay Trung Tâm Saigon và cũng thuộc quyền cai quản của ĐHY Phạm Minh Mẫn.

Không biết đến bao giờ những sự thực chung quanh hai ông linh mục CS bị vạ tuyệt thông mới được phanh phui. Chắc chắn sau lưng hai ông phải có cả một thế lực Búa Liềm, khiến Giáo Hội phải nể sợ. Ngoài ra, các nhà thần học của GHCG sau này phải giải thích làm sao cho những giáo dân đã nhận những phép bí tích từ nơi những ông linh mục đã bị án tuyệt thông này? Những bí tích này có thành không? Tại sao thành? Thành ở chỗ nào? Giá trị của bí tích sẽ phải cắt nghĩa thế nào khi giáo dân cứ lãnh nhận từ tay một người mà họ biết là linh mục đã bị đuổi khỏi Giáo Hội và đã có vợ con? Chính những ông linh mục này cũng biết rõ họ không còn phải là linh mục nữa. Và hơn hết, Tổng Giám Mục Saigon là người đã bổ nhiệm một-linh-mục-không-phải-linh-mục về ban bí tích cho giáo dân, có khác nào Tổng GM Saigon đã cho giáo dân ăn bánh mà biết rằng trong bánh có con bọ cạp. Tổng GM Saigon biết, HĐGMVN biết, Giáo Hội La Mã cũng biết. Nhưng tất cả đều im lặng. Thế nghĩa là sao?

CHÚA THÁNH THẦN SOI SÁNG
Có người giải thích rằng: Mọi việc của Giáo Hội đã có Chúa Thánh Thần soi đường chỉ lối. Các Đấng cầm quyền trong Giáo Hội đều nhận ơn Chúa Thánh Thần cách đặc biệt. Hãy cứ vâng lời và tuân phục, vì Chúa đã chọn các ngài thì Chúa dẫn đường cho các ngài. Đặt vấn đề này ra làm chi?

Tôi cho rằng luận cứ này là mê tín, phản đạo, xúc phạm tới Chúa Thánh Thần. Mọi tín hữu, dù ở phẩm trật nào trong Giáo Hội, kể cả giáo dân, đều lãnh nhận MỘT BÍ TÍCH THÊM SỨC, MỘT ƠN CHÚA THÁNH THẦN NHƯ NHAU. Chúa Thánh Thần soi sáng cho hết mọi thành phần dân Chúa, trong đó có cả thành phần chiếm đại đa số là giáo dân. Đừng ai tưởng nhầm là chỉ có các chức sắc Giáo Hội mới có ơn Chúa Thánh Thần. Chính nhờ Chúa Thánh Thần soi sáng, tăng sức mạnh, mà các nạn nhân tình dục của một số giáo sĩ mới có can đảm đứng lên tố cáo, trong lúc vẫn có những chức sắc cao cấp trong GH lại cố tình bao che. Hành động bao che tội ác này mà lại dám biện minh rằng có Chúa Thánh Thần hướng dẫn thì quả là phạm Thánh, là xúc phạm tới Chúa Thánh Thần, là gán cho Thiên Chúa đồng hành với tội ác. Chính nhờ ơn Chúa Thánh Thần tác động nơi các giáo dân mà những mụn ghẻ (tức những giáo sĩ dâm ô) bị trừ khử khỏi Giáo Hội và làm cho bộ mặt Giáo Hội được xinh đẹp trở lại. Chính nhờ ơn Chúa Thánh Thần tác động nơi các giáo dân mà hình ảnh đẹp của các tu sĩ thanh sạch được rạng ngời, chiếu sáng. Chính nhờ ơn Chúa Thánh Thần tác động nơi các nạn nhân của những vụ ấu dâm mà họ vẫn còn vững vàng tin yêu Giáo Hội và trung thành giữ đạo Thánh Chúa. Như vậy, Chúa Thánh Thần tác động ở khắp mọi thành phần dân Chúa, không nhất thiết phải là ở các chức sắc cao cấp trong Giáo Hội.

Đối với Đảng CSVN, Hồ Chí Minh tự xưng là một đảng viên CS. Ông đã theo chỉ thị của Cộng Sản quốc tế để thành lập Đảng CSVN, gây nên biết bao hệ lụy tang thương cho đất nước và dân tộc này. Những người cầm quyền hiện tại đều là đảng viên CS. Do đó, Giáo Hội VN không có lý do gì để bắt tay, hợp tác và duy trì chế độ này. Giáo Hội Ba Lan đã có một Tổng GM Stanislaw Wielgus, được Đức Thánh Cha Bênêdictô XVI tín nhiệm, bổ về cầm quyền giáo phận lớn vào bậc nhất Balan là Warsaw. Vậy mà cuối cùng Chúa Thánh Thần đã không soi sáng cho Đức Giáo Hoàng nhận ra con người thâm hiểm, lang sói này, mà lại soi sáng cho Ủy Ban Nhân Quyền Ba Lan phát giác ra một tin động trời là TGM Wielgus trước đây đã từng là gián điệp cho cơ quan tình báo CS Ba Lan. Sau đó, Chúa Thánh Thần cũng không soi sáng cho Đức Thánh Cha thu hồi lệnh bổ nhiệm tên điệp viên Cộng Sản này về giữ chức Tổng GM Warsaw, mà lại soi sáng cho chính đương sự biết nhận tội và từ nhiệm!

Hầu như chắc chắn rằng trong tương lai gần đây, khi Đảng CSVN sụp đổ, người ta sẽ khám phá ra nhiều chuyện động trời nơi Hội Đồng GMVN. Thực tế tang thương tới đâu, chưa rõ. Nhưng hiện tại, đã có rất nhiều điềm báo khác thường về những nanh vuốt Satan Cộng Sản đang hoành hành nơi các chức sắc của Giáo Hội VN. Điển hình là hai trường hợp cụ thể khó hiểu nhất vừa nói ở trên là Huỳnh Công Minh và Phan Khắc Từ, rồi đến văn thư "Cờ Đỏ, Cờ Vàng" của ĐHY Phạm Minh Mẫn; những lời tuyên bố mang tính cách lạc quan hồ hởi giữa Đạo và Đảng của ĐC Nguyễn Văn Nhơn; bài viết
"Sự kiện, thông tin và những góc nhìn" đăng trên Web chính thức của Hội Đồng GMVN. Có tin nói bài viết đó là của Giám Mục này, của GM kia. Sự thực chỉ có ĐC Nhơn và tác giả thật của nó biết, nhưng điều chắc chắn khi đọc lên thì đúng là tư tưởng, lời lẽ và mạch văn của một đảng viên Đảng Cộng Sản, chứ không phải của một giám mục chính danh. Chưa hết, một Chủ Tịch HĐGM, 73 tuổi, được bổ nhiệm về làm phó với quyền kế vị cho một Giám Mục, 58 tuổi, mà rồi lại được chính Hội Đồng GM đăng lời chúc mừng rầm rộ, y như là một "chiến thắng" lừng lẫy của một trận chiến cam go? Trong khi đó, GH không có gì để chiến thắng mà chỉ đang phải đối đầu với nhiều tang thương. Có chăng là Đảng CSVN đang reo mừng chiến thắng và chúc mừng nhau mà thôi.

Phải chờ cho đến ngày những tín hiệu bất thường này được giải mã và sự thật được phơi bày trước công luận.
Và ngày ấy chỉ đến khi Đảng CSVN và các bộ hạ của nó bị khai tử.

KẾT LUẬN:
Biến cố GM Nguyễn Văn Nhơn về làm Giám Mục Phụ tá, bề ngoài tưởng rằng Đức Tổng Kiệt được tăng quyền, nhưng bên trong, đó là một sự tước quyền. Trong lúc tôi ngồi viết những dòng này thì tại nhà thờ Chánh Toà Hà Nội đang diễn ra một cuộc chuyển quyền mặt ngoài tưởng như êm ái, nhưng mặt trong rất ngột ngạt. Sở dĩ tôi mường tượng nó ngột ngạt, căng thẳng vì chưa bao giờ Ban Tổ Chức một Thánh Lễ tôn giáo lại "yêu cầu giáo dân khi đến dự lễ không nên mang theo bất cứ một thứ gì không phù hợp với thánh lễ mừng Đức Tổng Phó Nguyễn Văn Nhơn". Có phải Ban Tổ Chức sợ giáo dân mang cà chua, trứng thối đến hay sao? Thì ra, các giáo dân hôm nay chỉ được quyền "mừng" mà không có quyền "buồn" hay "phẫn nộ".

Là một tín hữu tin Chúa, tôi phải tâm niệm rằng Giáo Hội không phải là Đức TGM Ngô Quang Kiệt này hay Đức GM Nguyễn Văn Nhơn nọ. Giáo Hội chính là Bàn Thánh mà TGM Ngô Quang Kiệt và GM Nguyễn Văn Nhơn đang đứng bên nhau, cùng dự một Bàn Tiệc, cùng ăn một Bánh Thánh, cùng uống một Chén Thánh, cùng tôn thờ một Thiên Chúa và phục vụ một Giáo Hội.

Thế nhưng, chiếc Bàn Thánh hôm nay hình như có những đệ tử của Karl Marx và Lénin đang thập thò đâu đó, khiến cho chiếc bàn có vết nứt ra làm đôi: Một bên cười rạng rỡ, có pha lời chúc mừng. Một bên buồn ray rứt, có dòng lệ hoen mi.

Những Sắc Luật ra vạ tuyệt thông cho tín hữu thiên Cộng nằm ngổn ngang trước mặt đã làm tôi thực sự hoang mang khi nghĩ về Tổng Giáo Phận Hà Nội giờ này. Đức TGM Ngô Quang Kiệt phải "chống Cộng" tới mức nào để Toà Thánh cho là không đi quá đà và khỏi bị thay thế theo yêu sách của Nhà Nước VN? Còn Đức GM Nguyễn Văn Nhơn phải "giao hảo" với CS tới mức nào mới không bị "đương nhiên" mắc vạ tuyệt thông để có đủ tư cách kế vị Đức TGM Kiệt?

Tôi chỉ còn biết ngửa mặt lên Trời cầu xin Thánh Thần Chúa ngự đến, ban cho tôi một Đức Tin bằng nửa hạt cải thôi, để tôi có được một giấc ngủ yên hàn đêm nay.

San Jose, ngày 6 tháng 5, 2010 (8 giờ tối)
TS Trần An Bài

HỢP  TÁC VỚI CỘNG SẢN LÀ ĐƯƠNG NHIÊN BỊ KHAI TRỪ KHỎI GIÁO HỘI

 

 

 




Trần Khải Thanh Thủy : Tôi Gánh Ở Trong Trái Tim Này

5.

Giam cầm trong ngục tối

II

III

Bao thơm tho

Xin đừng tin bạn hỡi

6.

Cơ sở thi văn Cội Nguồn và Nhà xuất bản Tân Văn phát hành ba cuốn sách: Đó là Viết từ hang đá, nhỏ lệ cùng dân (khi còn ở trong tù, ngày – 15 tháng 9-2007) và Hồ Chí Minh nhân vật trăm tên nghìn mặt, Nghĩ cùng thế sự (sau khi đã ra khỏi tù, ngày 3-12-2008). Chính nhờ số tiền nhuận bút sách này (11.000 USD) cùng dăm bảy giải thưởng trong lĩnh vực nhân quyền, quốc hận, cộng với số lương hàng tháng do báo Người Việt và đường dây trả, tiền hỗ trợ của các tổ chức yêu nước, đấu tranh trong các đợt tôi bị đảng hành, đảng cướp phương tiện làm việc, đảng giam giữ trong tù, hoặc bà con cho khi tôi ốm phải nằm bệnh viện cả trước và sau khi vào tù v.v. mà trong vòng 30 tháng tôi đã gom đủ số tiền 300 triệu đồng để đổi từ "Hang đá" ven ngoại ô thành một ngôi nhà đúng nghĩa giữa lòng Hà Nội, trong sự sặc tiết ghen tuông của đảng cướp sạch. Ơn này sống để dạ chết mang theo, không biết nói gì hơn, tôi chỉ biết bày tỏ bằng cách viết lại tâm trạng mình:

Nguyễn Hải, Trần Hùng, Song Nhị, Đỗ Thông Minh (những anh hùng cứu mỹ nhân khỏi tay đảng độc tài, đểu giả) đến anh Trúc Lê, Phương Duy, Phùng Mai, trong Hội bảo vệ – những người đã thầm lặng ở bên tôi từ những ngày cam go nhất trong cuộc đấu tranh chống lại độc tài, ác đảng, kể từ 18-11-2006, cho đến tận bây giờ và mãi mãi về sau (khi chế độ độc đảng bất nhân, phi lý chấm dứt trên mảnh đất nghèo nàn cằn cỗi của Việt Nam).

7.

Trần Khải Thanh Thủy

Hồng Nguyên : THĂNG LONG 1000 NĂM, THẮP LÊN NGỌN LỬA NIỀM TIN.

THĂNG LONG 1000 NĂM, THẮP LÊN NGỌN LỬA NIỀM TIN.

Cả thế giới đang nhìn vào Đại Lễ 1000 năm Thăng Long . Đang đọc lại những trang sử hào hùng của người dân việt . Đây cũng là cơ hội của lãnh đạo thắp sáng lên niềm tin cho dân Việt .

   Hãy thẳng thắn nhìn vào thực tế , 35 năm qua đã làm đuợc gì cho dân VN ? Lãnh thổ VN cha ông ta đã tốn bao xương máu cho con cháu thừa hưởng ? Ai đúng ? Ai sai ? Chúng ta đã làm được gì cho dân Việt ? Đất đai , ruộng vườn của người dân chiếm đoạt làm của riêng ? Làm giàu trên xương máu của giai cấp nông dân ! Chúng ta đừng vì cái danh hão huyền : Đảng – để rồi bao che cho nhau vắt nặn lên những thần tượng bẩn thỉu , không còn cái thời Nam Bắc phân chia để lừa bịp dân chúng – Những người Mẹ nghèo khổ đã dành những củ khoai ngon nhất để chi viện chiến trường Miền Nam , chỉ dám ăn những củ khoai sùng, những rễ khoai sống qua ngày vì thương người dân Miền Nam quá " nghèo khổ " . Không thể , không thể tuyên truyền lối này nữa, giờ lại thẳng tay ăn cướp . Dùng nhà tù , súng đạn đàn áp những ân nhân đã nuôi mình 35 năm trước !!
     Xã hội đã tiến bộ . Sao giờ này còn đưa cái thời Vua quan  ra  để nối dõi " tông đường "! Sao lại đưa cái thuyết Quân chủ ra để trị dân . Đừng khóac lác che đậy những tội phạm lịch sử . Hãy mạnh dạn nhìn vào sự thật . Những bài học của thế giới , của các nước láng giềng lấy danh dự đất nước làm trọng . Thẳng thắn nhìn vào đàn anh Liên Xô vĩ đại . Sự xụp đổ của Liên Xô đã tạo ra bao quốc gia độc lập . Đã cho nhân dân đời sống ấm no hơn . " Môi hở răng lạnh " những ngày ấm êm giúp đỡ của Tàu Cộng chỉ là thủ đoạn đê hèn " Tin bạn thì mất vợ " chân đã vấy bùn không tẩy rửa sẽ không còn kịp . Mất vợ thì còn lấy được vợ khác chứ cháy nhà thì ra đường mà ở .
    Trở về với chính sách : độc đảng – Ai nói sẽ bị ở tù . Bao nhiêu người đã can đảm vào tù " Chết vinh hơn sống nhục " đã nói lên cái nhân quyền báo đài ngày nào cũng rêu rao . Tại sao các vị lãnh đạo VN không có tai để nghe ? Không có mắt để nhìn  ?
     Bao nhiêu phản ứng về chủ quyền lãnh thổ . Bao nhiêu nhà đất bị chiếm đoạt làm của riêng. Bao nhiêu cuộc biểu tình đòi hỏi sự công bằng …. chắc chắn có tổ chức đại lễ 1000 năm Thăng Long  long trọng mấy cũng không che đậy được tội ác với nhân dân , với hương hồn của Lạc Long Quân , của Âu Cơ .
     "Nhà dột tại nóc" Xã hội VN được coi là cái nôi của đạo đức . Chúng ta lấy chữ Tâm làm Trọng. VN có rất nhiều tôn giáo . Tôn giáo nào cũng dạy ăn ngay ở lành . Không cần phải dựng lên một đạo đức Hồ Chí Minh nữa . Trái lại , càng dựng lên càng phản tác dụng . Cái nóc đạo đức Hồ Chí Minh nhân dân cả nước ai cũng biết . Cái nóc của Tổng bí thư đảng ai cũng biết : Con hoang là con hư . Con không cha là con hoang . Biết đứa con hư đó rồi sao còn đưa lên lãnh đạo một đảng cầm quyền ? Lần theo dấu vết lịch sử . Đứa con hoang đó có cha, nhưng cha không thừa nhận . Vậy người cha đó trách nhiệm hay không ? Có đạo đức hay không ? Từ Liên Xô – Trung Quốc đến VN  người cha đó đã cập bao nhiêu bến ? Đã vậy còn phản bạn . Một Lê Hồng Phong được cho là một nhà cách mạng mẫu mực . Khi vào tù đã để lại một người vợ hiền: Nguyễn thị Minh Khai – Bác cũng xơi luôn . Cái luân lý , cái đạo đức của xã hội VN sẽ suy đồi nếu lúc nào cũng đưa cái đạo đức Hồ Chí Minh ra giảng dạy tại các trường lớp bắt con cháu noi theo .
     Tạm kết thúc với câu chuyện của một đôi vợ chồng trẻ .
     – Mai anh đưa em đến BV phụ sản khám thai định kỳ nha anh .
     – Ngày mai anh bận học chính trị để hôm khác đi .
     – Chính trị , chính trị . Lúc nào cũng chính trị . Học gì mà học hoài vậy .
     – Học làm theo đạo đức Hồ Chí Minh em ạ . Quan trọng lắm .
     – Thôi đi anh ơi . Học đã chết , bắt làm theo nữa chắc tan cửa nát nhà mất . Xin nghỉ việc thôi anh ạ . Có mắm ăn mắm , có muối ăn muối mà gia đình hạnh phúc , con cái nên người . Anh nghỉ việc đi nghe anh .

Hồng Nguyên .

—————————————————————————————————–

1000 Năm Thăng Long, tìm lại những

nỗ lực bảo vệ biên cương của cha ông

*

Ải Nam Quan 1887-1895 

 Trong thời gian từ 1010 đến 1225, dưới triều Lý, bên Trung-quốc là triều Tống. Đại-Việt là nước nhỏ, hằng năm phải tiến cống Trung-quốc một số sản vật tượng trưng: Voi, ngà voi, hương liệu, đôi khi một vài vật dụng bằng vàng, bạc. Trong thời gian trên, trước sau có 18 lần đụng độ, tranh chấp biên giới. Trong 18 lần đó, có 6 lần đánh lớn, 5  lần quân Việt vượt biên đánh sang Trung-quốc để triệt phá cơ sở vật chất tiềm tàng của Tống- triều nhằm chuẩn bị xâm lăng Đại-Việt. Cuộc tiến quân năm 1075-1076, quân Việt tiến tới vùng thuộc Quảng-Đông, Quảng-Tây, Quý-châu, Hồ-Nam hiện thời. Và 1 lần Trung-quốc mang 40 vạn quân và 50 vạn dân phu sang trả thù. Quân Trung-quốc đã tiến chiếm lãnh thổ Đại-Việt tới cách thủ đô Thăng-long (Hà-nội) có 25 cây số, rồi bị đánh bật về biên giới.

 
Lần thứ nhất

Năm 1022, do vua Lý Thái-tổ ban chỉ, Khai-Thiên vương tổng chỉ huy, đánh sang trại Như-hồng của Tống đốt kho đụn rồi rút về. Cuộc xuất chinh để trừng phạt quân Tống tại đây thường vượt biên sang trấn Triều-dương của Đại-Việt cướp bóc. Trấn Triều-dương nay thuộc vùng Hạ-long. Trại Như-hồng thuộc Quảng-Tây Nam-lộ. Đại-Việt toàn thắng. Cuộc chiến tranh có tính cách trừng phạt một khê-động.

Lần thứ nhì

Năm 1028, tướng Tống là Lý Tự đem quân vượt biên, cướp phá trên lãnh thổ Việt. Việt ra quân đánh tràn sang châu Thất-nguyên của Tống. Cuộc ra quân do Khai-Quốc vương lãnh đạo, tổng chỉ huy là công chúa Lĩnh-Nam Bảo-Hòa và phò-mã Thân Thừa-Quý. Mục đích chiếm lại mấy châu động đã mất về Tống, do các biên thần Tống chủ trương. Giết chết Lý Tự. Toàn thắng. Cuộc chiến có tính cách tự vệ, dằn mặt các biên thần Quảng-Tây.

Lần thứ ba

Dưới thời vua Thái-tông, do Khai-Quốc vương lãnh đạo (1053), mục đích chiếm lại lãnh thổ thời vua Hùng, vua An-Dương, vua Trưng, bị người Hán chiếm mất (Nay thuộc Quảng-Đông, Quảng-Tây, Vân-Nam, Quý-châu, Hồ-Nam), rồi đẩy dân Việt về sống ở vùng Bắc-cương thành 207 trang-động. Cuộc khởi binh thành công, đưa Nùng Trí-Cao lên làm vua, lấy lãnh thổ vùng Quảng-Đông, Quảng-Tây, Quý-châu lập thành nước Đại-Nam. Nhưng khi Nùng Trí-Cao thành công, y lại trở mặt với Đại-Việt. Nên khi quân Tống đánh Cao, Đại-Việt không tiếp cứu, Cao bị bại. Cuộc chiến tranh có tính cách toàn diện. Đại-Việt không ra mặt khai chiến với Tống.

Lần thứ tư

Cũng do Khai-Quốc vương lãnh đạo, diễn ra dưới thời vua Thánh-tông. Vùng tấn công là Khâm-châu. Người tổng chỉ huy là công-chúa Bình-Dương với phò mã Thân Thiệu-Thái (1059-1060). Mục đích cuộc Bắc phạt này là chiếm lại một số trang động do các bộ tộc thiểu số tự trị; bị Tống lấn chiếm, hoặc chiêu dụ các động chủ phản Việt, đem cả đất lẫn dân theo Tống. Sau khi chiếm lại các trang đã mất, trả đất cho các tộc bị mất, quân Việt tiến sâu vào vùng Tả-giang, Hữu-giang, chiếm hơn mười ải, giết nhiều tướng Tống. Tống cực kỳ phẫn uất, nhiều đại thần khuyên vua Tống Nhân-tông đem quân sang đánh Đại-Việt để trừng phạt; nhân đó chiếm nước đặt làm quận huyện. Ngặt vì bấy giờ phía Tây, Tống đang mắc họa với Hạ, phía Bắc thì Liêu chiếm đất, đòi cống vàng lụa; vả vua Tống cũng sợ binh hùng tướng mạnh của Đại-Việt, nên bàn hòa. Công-chúa Bình-Dương đòi nhiều điều kiện khắt khe mới chịu rút quân. Tống cũng phải nhượng.

Lần thứ năm

Diễn ra dưới thời vua Nhân-tông vào năm 1075, bấy giờ vua mới chín tuổi, Linh-Nhân hoàng thái hậu phụ chính. Vua còn thơ, chư sự lớn nhỏ đều do Linh-Nhân hoàng thái hậu quyết định. Nguyên do: Vua Tống Thần-tông dùng những cải cách về kinh-tế, nông-nghiệp, binh-bị, tài-chánh của Vương An-Thạch từ năm 1066, đã được chín năm, khiến binh lực trở thành hùng hậu, quốc-sản sung túc. Nhà vua muốn nhân đó tiến quân lên Bắc đánh Liêu, chiếm lại đất cũ, để rửa nhục. Nhưng Vương An-Thạch lại khuyên nên đánh Đại-Việt trước. Sau khi bại Đại-Việt, thì Chiêm-thành, Chân-lạp, Ai-lao, Xiêm-la, Đại-lý phải quy hàng. Bấy giờ dùng nhân lực, tài lực sáu nước, đem lên Bắc, thì thắng Liêu dễ dàng. Vua nghe theo, bí mật cho các châu Nam biên luyện binh, tích trữ lương thảo. Cuộc chuẩn bị được ba năm, thì bị Đại-Việt biết được. Linh-Nhân hoàng thái hậu quyết định: Ngồi yên đợi giặc, sao bằng mình ra tay trước. Mục đích cuộc hành quân là phá hết các kho lương thảo, vũ khí, thành trì, cầu cống, diệt các đạo quân mới huấn luyện của Nam thùy Tống. Thế là cuộc Bắc phạt nổ ra vào cuối năm 1075. Quân Việt tiến đánh 18 ải dọc biên thùy Tống, rồi công phá các  châu Khâm, Liêm, Ung, Dung, Nghi, Bạch, cùng diệt viện quân ở núi Đại-giáp (Nay thuộc lãnh thổ Quảng-Đông, Quảng-Tây, Quý-châu, Hồ-Nam). Nhiệm vụ chu toàn rồi, quân Việt rút về. Thắng toàn diện. Đến đây Đại-Việt ra mặt khai chiến với Tống. Cả hai bên cùng đem toàn lực ra đối phó với nhau. Cuộc ra quân của Việt lần này quá lớn lao, phá nát kế hoạch cải cách của Tống ở Giang-Nam. Quá uất hận, Tống chịu nhục; nhường Hạ ở phía Tây, cắt đất dâng cho Liêu ở phương Bắc… để cho rảnh tay, rồi họ mang quân nghiêng nước sang định chiếm Đại-Việt đặt làm quận huyện (1076-1077). Nhưng Tống lại bị thất bại phải rút quân về, và chịu hòa. Người có hùng tâm, tráng-chí, lãnh đạo là một thiếu phụ ở tuổi ba mươi, đó là Linh-Nhân hoàng thái hậu (Ỷ-Lan). Còn người Tổng chỉ huy cuộc vượt biên Bắc phạt là Lý Thường-Kiệt, Tôn Đản, Lý Hoằng-Chân, Lý Chiêu-Văn, Lý Kế-Nguyên.

Lần thứ sáu

Sau cuộc Bắc phạt, và giữa lúc cuộc kháng Tống của Đại-Việt, chiến cuộc đang diễn ra cực kỳ khốc liệt (1076), Vương An-Thạch bị cách chức Tể-tướng, giáng xuống tri Giang-ninh phủ, lĩnh Trấn-Nam quân tiết độ sứ, Đồng-bình chương-sự. Lúc Vương độ giang, bị một nhân sĩ bắt con sâu bỏ lên xe rồi làm bài thơ mỉa mai như sau:

Thanh-miêu, trợ-dịch lưỡng phương nông,
Thiên hạ ngao ngao oán tướng công.
Ðộc hữu hoàng trùng thiên cảm đức,
Hữu tùy xa giá, quá Giang-Ðông.

Dịch nghĩa:

Thanh-miêu trợ dịch hại canh nông,
Thiên hạ nhao nhao oán tướng công.
Chỉ có sâu vàng theo tiễn biệt,
Cùng trên xa giá, quá Giang-Ðông.

Có người ví cái thất bại của Vương An-Thạch cũng đau đớn như cái thất bại của Hạng Võ xưa, khuyên Thạch nên tự tử: Khi Hạng-Vương mưu đuổi hươu ở Trung-nguyên, bị thất bại, lui về Nam; lúc qua sông này tự cảm thấy xấu hổ, đã tự tử, mà hậu thế kính phục. Còn Vương An-Thạch không đủ can đảm.

Tiếc thay, một cuộc cải cách về kinh-tế, binh-bị, tài-chánh, xã-hội, nông nghiệp của Vương An-Thạch như vậy, đang trên đường thành công rực rỡ; bị tan vỡ, bị hủy bỏ chỉ vì tham vọng đánh Đại-Việt. Mà đau đớn biết bao, khi người phá vỡ chỉ là một thiếu phụ Việt ở tuổi ba mươi. Giá như Thạch không chủ trương Nam xâm, chỉ cần mười năm nữa, toàn bộ xã hội Trung-quốc thay đổi; rồi với cái đà đó, thì Trung-quốc sẽ là nước hùng mạnh vô song, e rằng muôn đời mặt trời vẫn ở phương Đông, chứ không ngả về Tây như hồi thế kỷ thứ 18 cho đến nay và bao giờ..???…???
Sau cuộc ra quân của Đại-Việt, trên từ vua Tống Thần-tông cho tới các quan đều uất hận. Tống xuất quân nghiêng nước, 40 vạn binh, 50 vạn dân phu (phụ lực quân) sang đánh trả thù (1066-1067). Nhưng khi quân Tống do Quách Quỳ, Triệu Tiết, Yên Đạt, Tu Kỷ tiến đến cách Thăng-long 50 dặm (25 cây số) thì bị đánh bật về Bắc. Sau đó Tống rút quân chịu hòa.

Tuy Tống chịu hòa, nhưng còn giữ của Đại-Việt các châu Quảng-nguyên, Tô-mậu mà bọn động trưởng Lưu Kỷ, Vi Thủ-An đem cả dân lẫn đất theo Tống. Quan trọng nhất là châu Quảng-nguyên có mỏ vàng. Năm 1078, Việt sai sứ sang Tống đòi đất. Tống không trả. Mãi năm 1081, Việt trả tù binh trong trận 1075-1077, Tống mới trả châu Quảng-nguyên. Năm 1084, Việt sai Binh-bộ thị-lang Lê Văn Thịnh sang nghị hòa với các đại thần Tống, Tống chịu trả cho Việt thêm 6 huyện, 3 động. Việt tặng Tống con voi lớn. Danh sĩ Trung-quốc nhân chuyện này làm thơ than:

Nhân tham Giao-chỉ tượng,
Khước thất Quảng-nguyên kim.
______________________________________________________________

Tư Liệu Tham khảo về Ải Nam Quan (?)

Có tất cả  có 5 "Nam-quan"
 

NAM QUAN THỨ NHẤT – 1558-1885 (TQ xây)

Hình ải Nam-quan 1558-1885.

Vua Gia-Tĩnh, triều Minh ban chỉ kiến tạo năm 1558, mang tên Trấn Nam-quan, nhưng thường gọi bằng danh tự Nam-quan. Trấn Này nằm giữa hai ngọn núi nhỏ, chặn ngang đường từ Lạng-sơn đi Ung-châu (Nam-ninh). Nằm về phía Nam trấn này 2 dặm là ải Phả-lũy của Việt-Nam. Biên giới Hoa-Việt được kể từ chân ải Nam-quan. Tháng 6 năm Đinh Hợi 1406, tại phía Nam ải này có cuộc tiễn đưa lịch sử giữa Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trãi, rồi có suối Phi-Khanh.

Năm 1884, triều đình Nguyễn ký hiệp ước chịu sự bảo hộ của Pháp. Thiếu-tướng Francois Oscar De Négrier được cử làm tư  lệnh vùng biên giới phía Đông của Hoa-Việt. Trong lúc giao thời Pháp-Việt, ải Phả-lũy bỏ không. Quân Thanh tràn sang phá ải, rồi cướp phá vùng Đồng-đăng. Ngày 24 tháng 3 năm 1884, Thiếu-tướng De Négrier tổ chức cuộc hành quân đánh đuổi quân Thanh.  Quân Thanh đại bại, Tổng-binh Sầm Quang Anh bị giết. Ngày đầu năm 1985, Tổng-binh Nùng Mặc Sơn, đem một trung đoàn Thanh tấn công, chiếm đồn Phả-lũy rồi tràn vào Lạng-sơn cướp phá. Tướng De Négrier đem 3 tiểu đoàn (2 tiểu đoàn Pháo-thủ, một Tiểu-đoàn bộ binh thuộc địa), đánh đuổi quân Thanh, giết Nùng Mặc Sơn. Ngày 5-1-1885, chiếm ải Nam-quan, đặt chất nổ san bằng.

NAM QUAN THỨ NHÌ – 1886-1952 (TQ&VN cùng xây dựng)

Sau khi thỏa ước Pháp-Thanh ký, Nam-quan được xây lại bằng ngân sách của chính phủ Đông-dương và  Thanh-triều. Ải xây bằng đá mài, mái cong rất đẹp. Trong ải một nửa thuộc Pháp, một nửa thuộc Thanh. Mỗi bên đều có cơ quan Cảnh-sát, lính biên phòng, quan thuế. Tiền tu bổ hằng năm, do ngân sách tỉnh Quảng-Tây và Lạng-sơn đài thọ.  

Biên giới Hoa-Việt được kể từ giữa ải: Nam của Việt, Bắc của Hoa. Thời gian này VN soạn thảo sách giáo khoa Việt-ngữ, bởi vậy mới có câu:

"Nước Việt-Nam hình chữ S từ ải Nam-quan đến mũi Cà-mâu"

Trong chiến tranh Quốc-Cộng 1949, ải này bị phá hủy.

NAM QUAN THỨ BA (MỤC NAM QUAN, TQ xây) – 1952-2001

Hồi chiến tranh Việt-Pháp (1946-2001), sau chiến dịch Cao-Bắc-Lạng, Việt Nam và Trung Hoa trở thành "núi liền núi sông liền sông". Trung-quốc cho xây Mục Nam-quan, lùi vào lãnh địa Việt-Nam. Hình trên, không thấy hai ngọn núi và suối Phi-Khanh đâu. Mục đích việc lùi biên giới này như sau: Vùng phía Bắc Mục Nam-quan tuy là lãnh thổ Việt-Nam, nhưng bây giờ tạm cắt sang là của Trung-quốc. Như vậy Pháp không dám xâm nhập hay bắn phá vùng đất do Trung Quốc mới tiếp quản này. Đó chính là an toàn khu để Hồng-quân lập các trung tâm huấn luyện và tập kết các kho vũ khí giúp cho quân Việt-Minh. Sau chiến tranh (1954) Trung-quốc giữ luôn. Trong chiến tranh 1960-1975, nơi đây cũng là các trạm trung chuyển các nguồn viện trợ vũ khí, khí tài cũng như quân trang quân dụng, lương thực thực phẩm từ các nước XHCN theo tuyến đường xe lửa chi viện cho chiến tranh với Mỹ. Vì Trung Quốc kéo cờ chủ quyền, nên không quân Hoa-kỳ cũng ngại va chạm với Trung Quốc, không dám oanh tạc khu vực này.

NAM-QUAN THỨ TƯ – (1952-1979)

Phía Nam Mục Nam-quan mấy trăm thước, chính phủ Việt-Nam Dân-chủ Cộng-hòa cũng cho xây một cửa ải nữa, mang tên cửa Hữu-nghị. Tại đây có đầy đủ các cơ quan như: Công-an biên phòng, Hải-quan, Bưu-điện v.v. Trong chiến tranh 1979, Trung-quốc san bằng cái cửa Hữu-nghị của Việt Nam, chiếm lĩnh tất cả các điểm cao, đặt thành các đài quan sát quân sự kiên cố, dù đó vốn là đất cũ của Việt nam.

Sau chiến tranh, VN cho xây lại một cửa Hữu-nghị khác. Nhưng từ khi ký hiệp định 1999, thì cái Hữu-nghị này phá bỏ. Việt Nam xây cửa Hữu-nghị mới lùi lại sau mấy trăm thước nữa.

NAM-QUAN THỨ NĂM (2001- ?)

Cửa Hữu-nghị mới xây lại năm 2001

Ảnh chụp tháng 8-2001, cửa Nam-quan cũ lùi lại sau,
Cửa Hữu-nghị mới!!!

Cột cây số 0 – Địa đầu tổ quốc Việt Nam

Cái cây số không đó là cây số 1,5 cũ đấy. Cột cây số Zéro bây giờ ở nằm giữa Mục Nam-quan và cửa Hữu-nghị mới. (Từ cây số Zéro đến cây số 1 cũ,  nay thuộc Trung-quốc)

Sát Mục Nam-quan, phía bên Trung-quốc cũng như Việt-Nam, đều có nhiều cơ sở:

  • Cơ sở Hải-quan

  • Bãi đậu cho hằng trăm xe tải, để chờ kiểm soát, chờ làm thủ tục nộp thuế

  • Cơ sở di trú của Công-an để kiểm soát Passeport

  • Đồn của quân đội để tuần phòng, bảo vệ lãnh thổ

  • Hằng chục cơ quan, khác như Bưu-điện, Ngân-hàng, công ty điện, nước

  • Về phía dân chúng, hằng trăm cửa hàng ăn, nhà ngủ, khách sạn

Các cơ sở phía Nam thuộc Việt-Nam, trong chiến tranh Hoa-Việt 1979, quân đội Trung-quốc đã san bằng hết. Kể cả cây cột biên giới.

Tuy vậy sau chiến tranh, đã xây dựng lại hoàn toàn. Từ khi có phong trào mở cửa, đổi mới chính trị, dân chúng cả hai bên đã xây dựng lại khang trang hơn cũ, rộng lớn hơn cũ, và hiện đại hơn  cũ. Nhưng từ khi hiệp định 30-12-1999 ký thì toàn bộ khu này thuộc Trung-quốc. Những cơ sở đó bây giờ được thay bằng một tòa nhà duy nhất. (Hình đính kèm)

Ảnh chụp tháng 8-2001, cửa Nam-quan cũ lùi lại sau,
Cửa Hữu-nghị mới!!!

 

 

Ải Nam Quan 1979

Huu Nghi Quan

Ải Nam Quan (Hữu Nghị Quan) 2005

友谊关-摄于东侧城墙

Quốc kỳ CHND Trung Hoa tung bay trên Ải Nam Quan

*

Tài Liệu: Thác Bản Giốc
 
Thác Bản Giốc
 
 


  

*Biên-bản ghi bằng tiếng Hán   *Cột 53 tên Bách-Nga Khẩu    *Biên-bản tiếng Pháp

 

Cột mốc 53 hiện tại nằm ở đâu?

 

Theo ông Lê Công Phụng, cột mốc hiện tại nằm ở "một cồn nhỏ ở giữa suối, cách đấy khoảng mấy trăm mét". Nhưng theo vị trí đánh dấu trên Google Earth, cột mốc nằm ở bên bờ bên kia suối, thuộc lãnh thổ Trung Quốc.

 

Ảnh vệ tinh chụp từ Google Rarth, với vòng vàng đánh dấu

vị trí cột mốc 53, hai vòng đỏ đánh dấu thác Bản Giốc

Hình chụp cận cảnh cột mốc 53 ở gần thác Bản Giốc


Vị trí cột mốc phù hợp với tấm hình do khách du lịch chụp cận cảnh cột mốc.

Dưới góc nhìn thuận lợi này, chúng ta có thể thấy cột mốc nằm sát chân núi dốc đứng, chứ không phải cồn giữa suối như ông Lê Công Phụng nói.

 

Nếu cột mốc 53 nằm ở cồn thật thì sao?

 Thì thác Bản Giốc chia làm đôi:

Thác lớn thuộc Trung Quốc và thác bé thuộc Việt Nam

 

 

 

———————————||———————————

Phần thác nằm bên Việt Nam

 

Phần thác nằm bên Trung Quốc

 

 

Phần Bản Giốc Nằm bên Việt Nam

 

 

Phần Bản Giốc nằm bên Trung Quốc

 

 
 

    Bản đồ Thác Bản Giốc hướng dẫn du lịch của công ty du lịch Trung Quốc

 

 

Tài liệu năm 1887 do nhà nghiên cứu Trương Nhân Tuấn tìm thấy trong văn khố của Pháp ghi rất rõ thác Bản Giốc nằm 2km sâu bên trong nội địa Việt Nam

     *   *   *

Thác Bản Giốc

Thác Bản Giốc nằm trên biên giới Việt – Trung, thuộc xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, cách thị xã Cao Bằng 89 km theo tỉnh lộ 206 về phía Bắc, cách thị trấn Trùng Khánh 26 km. Sau dòng thác là dòng sông, bạn có thể đi du thuyền trên sông.

Bờ sông với cảnh quan đẹp nên thơ, trong lành với thảm cỏ, rừng núi xanh ngắt, mây trắng bồng bềnh. Với độ cao 53 m, rộng 300 m, thác có 3 tầng gồm nhiều ngọn thác lớn nhỏ khác nhau. Những khối nước lớn đổ xuống qua nhiều bậc đá vôi, tạo thành một màn bụi nước trắng xóa.

Ngay từ xa, du khách đã có thể nghe thấy tiếng ầm ào của thác vang động cả một vùng rộng lớn. Giữa thác có một mô đá rộng phủ đầy cây đã xẻ dòng sông thành ba luồng nước như ba dải lụa trắng.

Theo HTV, vào những ngày hè nắng nóng, không khí ở đây vẫn mát lạnh, mỗi buổi sáng khi ánh mặt trời chiếu qua làn hơi nước tạo thành dải cầu vồng lung linh huyền ảo. Thác Bản Giốc với những vẻ đẹp, ưu thế riêng đang ngày càng thu hút nhiều khách tham quan trong và ngoài nước.

 
 
 

*

Các hình ảnh quảng cáo du lịch của CHND Trung Hoa

Ở khu vực thác Bản Giốc thuộc phía Trung Quốc

Trang web của công ty du lịch Trung Quốc giới thiệu về thác Bản Giốc:

Daxin County is under the jurisdiction of Nanning City, Guangxi Zhuang Autonomous Region, and shares over 40 kilometers of its southern border with Vietnam. Formerly an undeveloped area, it is famous for its Detian Scenic Zone, which boasts a variety of fantastic landscapes.

Along with the enhancement of friendly ties between China and Vietnam, the Detian Scenic Zone was established several years ago, and was so named for its spectacular Detian Waterfall.

The Detian Waterfall is over 200 meters wide and has a drop of more than 70 meters. Its water rushes down a three-tiered cliff with tremendous force. It is the largest waterfall in Asia, and the second largest transnational waterfall in the world, connecting with a waterfall in Vietnam. The fall is awe-inspiring, and its thunder is audible before it even comes into view.

The changing seasons transform the natural scenery of the waterfall throughout the year. In spring, the flame-red blossoms of the kapok trees that surround the fall are in full bloom, symbolizing success. Throughout the autumn months, though, the area around the waterfall turns golden-yellow, creating a harvest scene. In the summer, visitors feel a complete freedom of mind and ease of spirit as they see the waters of the fall cascade with the momentum force of an avalanche. During winter, on the other hand, the fall’s clear water drops slowly, making visitors feel even-tempered and good-humored. The Detian Waterfall appears to be a sculpture made by nature.

Fifty-three kilometers away from the county seat of Daxin is the Mingshi Tourist Attraction, a state-level scenic spot known as the Lesser Guilin. The Mingshi River winds its way through green hills and flat land, and its banks are dotted with groves of bamboo. The tranquil waters of the river, along with the green hills, terraced fields, and farmers’ houses around the Mingshi Bridge, form a beautiful countryside scene.

The Heishui (Black Water) River Tourist Attraction is another state-level scenic spot that is 33 kilometers away from the county seat of Daxin. It is located in a 45.5-kilometer section of the river between Shatundie Waterfall in Shuolong Township and the Leipingnaan Hydropower Station. By the river, there are a number of trees and odd-shaped pinnacles, whose inverted reflection in the river’s blue water is the color black, hence the name of the river. With pinnacles, groves of bamboo and longan trees, and farmers’ houses, this section of the river looks like an elegant Chinese ink and wash painting throughout the seasons.

Shatundie Waterfall, also known as Niandi Waterfall, is 55 kilometers away from the county seat of Daxin. The fall has seven tiers; and if you view it from afar, it looks like a flight of steps made of water. Compared with the Detian Waterfall, it is moderate and calm.

Visitors from other parts of the country can travel by air, train, or long-distance bus to Nanning, the capital city of the Guangxi Zhuang Autonomous Region. From Nanning, they can take scheduled buses, dispatched every 20 minutes, to the county seat of Daxin. There are tourist buses to every scenic spot in the county.

 
 

图集:超级美景:中越边境的山水画廊--德天瀑布
2005年07月20日 08:42  

 

详细行程: 超级美丽的瀑布;超级漂亮的景色;超级值得一去的地方。(点小图看大图)

  》》德天瀑布位于中越边境广西大新县大新县硕龙乡德天村,距离县城78公里,距首府南宁市仅140多公里。为国家特级景点。横跨中国越南两个国家,是亚洲第一、世界第二大的跨国瀑布。它源起广西靖西县归

春河,终年有水,流入越南又流回广西,经大新县德天村处遇断崖跌落而成瀑布。 

 

  这次去德天真的是不虚此行,虽然从深圳座车到德天景区需要12个小时,但因在晚上出发,一路聊天、看碟、听歌很快晚上进入梦乡。

  第二天早晨抵达服务站梳洗过后,在小店吃碗桂林米粉,味道真的好。吃完米粉再行车30分钟就进入我们的行车的第一站:归春河徒步,观看归春河美景--沙屯叠瀑。沿归春河河畔,观看两岸的青山绿水,轻松惬意。整个徒步时间越1个半小时,沿途路况很好轻松。

  》》归春河的青山秀水,让人心旷神怡。

 

 》》沿着河岸行走,可以从不同的角度拍摄景色。这是沙屯叠瀑

 

》》因前段时间雨水充沛,所以沙屯叠瀑的感觉更加浓了

 

》》河畔小路

 

 》》近景

 

》》垂钓的小孩

 

 

徒步归春河整个约1小时30分钟,当我们行走到大马路时,车会直接开到终点接我们。接着我们驱车到了德天瀑布景区用中餐,考虑到德天瀑布在早晨去看,光线最好,所以我们决定下去先去看通灵大峡谷。通灵大峡谷位于靖西县,距离德天瀑布30公里的路程,盘山公路过去,行车约1小时。通灵大峡谷有中国单级落差最大的瀑布。

  沿着石壁修造的台阶可以直下谷底。沿途树阴浓密,即使外面炎炎烈日,峡谷之内却凉气袭人。

  游览完通灵大峡谷回到硕龙镇住宿。

  提示:在以德天为中心,以15km为半径的圈子里面,散落着各种不同档次的酒店。价格从15-100元\人不等。大可自行选择。不过最好还是在出发之前说明需要定房。我们这次比较被动,到了当地才找房子。虽然大家最后都找到了住的地方,但却分开好几个地方。第三天早晨集合的时候有点拖延。另进入德天瀑布景区之后才发现,原来在景区内有个酒店,运气好住的房间,竟可直接看到瀑布,坐在房间内欣赏美景,爽阿。可惜开始不知道。

  晚上可以三五成群,散落在小镇的各处自行FB。

  当地的名菜--青竹鱼、蚂蚁蛋(真的是蚂蚁生的蛋哦,油炸出来,吃起来有点想春卷,呵呵,味道还不错)等酒菜,酒饱饭足,睡觉去也……。

  第三天,我起了个大早。

  俺以前的经验告诉俺,这些小山村的清晨别有一番味道。想当年,俺自行到张家界游玩,那时候张家界还没有索道呢。俺住在索溪峪也是早晨起来,走在河畔,那看到的清晨美景,俺到现在都无法忘记呢。

  》》清晨的硕龙镇

》》听说那边是越南

 

 》》恍如仙境

 

  在镇上的小店吃了碗正宗桂林米粉,进入到我们此次行程的主题--德天瀑布,早已经按耐不住心情了,哈哈。

  》》先来个全面滴!(这是俺站在景区内酒店的旁边照滴呢,要是住在这里,那多爽ING。)

 

 》》这边是中国滴!

 

》》这边是越南滴,国家小,瀑布都小滴。

 


在沿着下山的小路从不同的角度观看德天瀑布,一直行到河谷底部。最好玩的是租了大大的竹排到江中玩,拍照或游泳,一不小心就出国了。过江到越南那边拍照是允许的,但是要自觉,停留时间不可太长。江水有深有浅,浅处才到腰部。可以请撑排的将竹排尽量撑向瀑布,去感受弥漫着的水雾。微风吹来,水花飞舞,飘在脸上,非常清爽。

  》》乘坐竹筏10元\人

看完大瀑布,已是中午11:00。恋恋不舍滴离开德天瀑布。考虑到要在周一早晨7点之前回到深圳,不耽误上班,所以我们决定早点用早餐,然后驱车前往名仕田园景区。在名仕田园,香港无线电台有好几部片子是以这里为背景拍摄的,如:《酒是故乡醇》《牛郎织女》等片子。可见这里风景的独特和漂亮

  》》去名仕田园途中经过的盘山公路

》》到达名仕田园,主要的项目是乘船游览名仕河。竹筏漂流在清水秀水之间,如果运气还可以看到美丽的倒影。竹筏20元\人,因为我们人多讲价到10元\人。

 

 》》当时拍戏时留下来的水车

 

》》老太太的独木舟。在乘船游览的途中,有当地的小姑娘或是老太太拿着新鲜的莲蓬乘着小竹筏到我们的船上来卖,尝一颗,清香四溢呢。

 

》》漂亮吧

 

看完名仕田园,我们此次行程的的游览部分就已经全部结束了。我们从名仕田园赶往大新县,在这里买了水、水果、小吃等物品。接着就出发返回深圳。我们决定在兴业用晚餐。约在晚上10点左右,我们抵达了兴业,按照原计划我们在这里吃完炒粉。继续我们的回程。第四天早餐7:00我们准时抵达了深圳,结束了此次四天之旅。回来迫不及待的看这照片,现在还觉得兴奋呢,哈哈哈哈……!

  》》行车图

》》行程  第一天:深圳晚上八时出门,经广深高速--广肇高速公路直抵云浮(刚开通的高速)--梧州--罗定--玉林--兴安上南梧高速公路到南宁,路程600多公里(六小时),住车上。

  第二天:南宁--(146km)大新--归春河徒步(沙屯叠瀑)--德天用中餐--下午去通灵大峡谷(30公里)--晚上回到硕龙镇住宿(或是选择在德天景区内住宿)。

  第三天:早餐后游览德天瀑布--德天用中餐--驱车30km去名仕田园--下午到大新--原路回程。

  第四天:早晨7:00抵达深圳。

  》》路况提示:

  整个行程下来往返路程约2200km。深圳到梧州均为高速公路。梧州到南宁段有一段是国道,不过路况良好。南宁–大新约150公里,路况基本良好,二级路已通车。德天–通灵,此路段为油山路,路面好,约30公里山水风景很美。名仕田园到大新段正在修路(大约50km左右),不过基本都没有什么问题。到了大新县城路就好走了。

 

 》》景区地图

 

注意事项:

  8月1日起,德天瀑布门票由30元涨至80元

  广西旅游网通讯员:在全国很多大景区的一遍涨价声中,广西的大景区在沉默了几个月后,终于打破了沉静,德天瀑布率先涨价,并且涨幅巨大,达到160%多,由原价30元涨至80元。

  据了解,这次的涨价已酝酿很久,之所以选择在8月1日涨价,是因为这个季节是德天水量最丰富,景观最壮观的时间,同时,又是暑期的旅游旺季,涨价可能会影响短暂的客源数量,但估计对景区的全年总收入影响不大。涨价究竟会对客源数量的影响有多大?还要看市场的反应。

_________________________
 

"Đường biên giới hiện nay

cách Ải Nam Quan 160 mét về phía Nam"

Monday, 23 February 2009

01.jpg

Cột mốc 836/2 ở thác Bản Giốc, được đổ móng bằng khối bê tông lớn. Foto: LÊ QUANG NHẬT

Hai chính phủ CHXHCN Việt Nam và CHND Trung Quốc hôm nay tổ chức lễ mừng hoàn thành cắm mốc biên giới trên đất liền. Theo RFA, Thứ trưởng Ngọai giao VN là ông Vũ Dũng cho hay đường biên giới hiện nay cách ải Nam Quan 160 mét về phía Nam.

Như vậy kể từ nay lãnh thổ Việt Nam không còn được minh định như trong sách vở giáo khoa xưa “Tổ Quốc Việt Nam kéo dài từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau”!

Buổi lễ đựơc long trọng tổ chức tại cửu khẩu gọi là “hữu nghị” Lạng Sơn vào hồi 3 giờ rưỡi chiều, với sự tham gia của khỏang 400 viên chức hai chính phủ hai nước Việt, Trung.

Về phía Việt Nam, có Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm và  Thứ trưởng ngọai giao Vũ Dũng. Về phía Trung quốc, có thành viên quốc vụ viện Đới Bình Quốc và thứ trưởng ngọai giao Vũ Đại Vĩ.

Phát biểu tại buổi lễ, ông Đới Bỉnh Quốc nhấn mạnh đến điều được gọi là “kết quả cùng thắng” của hai bên, trong lúc như lời ông Vũ Dũng nói: biên giới mới đã lùi cách ải Nam Quan 160 mét về phía Nam và Thác bản Giốc của Việt Nam nay chì còn một nữa.

 

Ngoại trưởng VN Phạm Gia Khiêm (phải) và Thứ trưởng ngoại giao TQ Vũ Đại Vĩ tại lễ chào mừng hòan thành cắm mốc biên giới trên đất liền hôm 23-2-2009. AFP PHOTO

Báo Tuổi Trẻ online cũng trích dẫn lời ông Dũng cho biết trong quá tình đàm phán, những khu vực nhậy cảm nhất là thác Bản giốc và các khu vực cửa khẩu.

Quá trình phân giới cắm mốc kéo dài gần 7 năm, kết thúc ngay truớc giao thừa Dương lịch 2008. 1971 cột mốc đã được cắm, trong đó có 1549 cột mốc chính và  422 cột mốc phụ.

Tác giả Huy Đức ở trong nước, trong bài viết “Biên giới cứng, biên giới mềm” đã nhắc đến những giọt nước mắt của những người lính biên phòng Việt Nam trước cảnh biên giới tổ quốc bị di dời. Bài viết cũng cho biết nhiều nhà cửa, ruộng đất dân Việt bị cắt nhập vào phía TQ.

*

BBCVietnamese.com
Ăn mừng hoàn thành cắm mốc Việt-Trung
23 Tháng 2 2009 – Cập nhật 15h45 GMT
 
 
 
Giới chức Việt Nam và Trung Quốc vừa tổ chức Lễ Chào mừng hoàn thành công tác phân giới, cắm mốc biên giới trên đất liền.
Thứ trưởng Ngoại giao Vũ Dũng tại cột mốc biên giới

Việc phân định cắm mốc kết thúc vào cuối năm 2008

 

Buổi lễ bắt đầu lúc 3:30 chiều tại cửa khẩu Hữu nghị Quan giữa Lạng Sơn và tỉnh Quảng Tây.

Hơn 400 quan chức chính phủ hai bên cùng nhiều người dân đã tham dự buổi lễ.

Trong số các khách mời có ông Đới Bỉnh Quốc, Ủy viên Quốc vụ viện , và thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vũ Đại Vỹ.

Về phía Việt Nam có phó thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Phạm Gia Khiêm và thứ trưởng Ngoại giao Vũ Dũng.

Ông Đới được Tân Hoa Xã trích lời nói: "Việc hoàn tất phân giới cắm mốc là sự kiện quan trọng trong quan hệ song phương, với ý nghĩa lịch sử sâu xa".

Ông nói thêm: "Điều này không chỉ tạo điều kiện cho hai nước phát triển hợp tác chiến lược, mà còn đóng góp cho hòa bình, ổn định và phát triển trong khu vực".

Trung Quốc và Việt Nam loan báo hoàn tất phân giới cắm mốc chỉ vài tiếng trước khi năm 2008 kết thúc.

Buổi lễ ăn mừng kéo dài 45 phút có các màn văn nghệ của cả hai nước.

Những việc cần làm

Thứ trưởng Ngoại giao VN Vũ Dũng, Trưởng đoàn đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ, cũng đã phát biểu trước báo chí Việt Nam nhân sự kiện này.

Ông Dũng cho hay hai bên cắm cột mốc đầu tiên tại cửa khẩu Móng Cái (Việt Nam) – Ðông Hưng (Trung Quốc) hồi tháng 12/2001.

Từ tháng 10/2002, việc phân giới cắm mốc được triển khai đồng loạt trên toàn tuyến biên giới giữa hai bên.

Cho tới 2004, do hai bên còn có nhận thức khác nhau về cách thức triển khai, nên công tác này tiến triển chậm, và chỉ sau khi thỏa thuận triển khai theo phương thức "dễ làm trước, khó làm sau", quá trình phân giới cấm mốc mới tiến triển nhanh hơn.

Hết năm 2006, hai bên thỏa thuận giải quyết các vấn đề nhạy cảm tồn đọng theo phương thức "cả gói".

Ông Vũ Dũng được TTXVN trích lời nói: "Sự kiện này cũng là cơ sở để mỗi bên quản lý và duy trì sự ổn định ở vùng biên giới, thực hiện chủ trương xây dựng biên giới Việt Nam – Trung Quốc hòa bình, hữu nghị, hợp tác và ổn định lâu dài".

Ông thứ trưởng cho biết, trong năm 2009, Việt Nam và Trung Quốc tiếp tục thảo luận nhằm hoàn chỉnh nội dung của Nghị định thư về phân giới cắm mốc và các phụ lục kèm theo, bao gồm bản đồ, hồ sơ ghi nhận những kết quả mà hai bên đã đạt được trên thực địa trong những năm qua.

Một trong các việc cần làm là thương lượng và ký kết Quy chế quản lý biên giới mới và Hiệp định quản lý hoạt động qua các cửa khẩu quốc tế.

Hai bên cũng sẽ thảo luận và ký Hiệp định về việc hợp tác khai thác tiềm năng du lịch thác Bản Giốc; Quy định về việc đi lại ở khu vực cửa sông Bắc Luân.

____________________

BBC Copyright Logo

"Cái cây tìm sự cô đơn ở trên cao/Ngọn cỏ tìm sự đông đảo ở dưới đất"

Biên Giới Cứng, Biên Giới Mềm

 
Hôm nay, 23-2, Trung Quốc và Việt Nam sẽ làm lễ hoàn tất công trình Phân giới cắm mốc, kết thúc 8 năm triển khai trên thực địa, kết thúc những tranh cãi căng thẳng, kéo dài. Nhưng, những tranh chấp không chỉ diễn ra trong vòng 8 năm ấy. Biết bao câu chuyện xứng đáng ghi vào lịch sử kể từ khi hai nước ký Hiệp định tạm thời, 07-11-1991.

Gió Chi Ma

Cho đến tận hôm nay, đường lên cửa khẩu Chi Ma, huyện Lộc Bình, Lạng Sơn, vẫn phải ngưng lại dở dang trước đường Biên 63m. Năm 1993, khi tỉnh Lạng Sơn cho rải đá, lực lượng vũ trang từ phía Ái Điểm, Trung Quốc, tràn sang ngăn cản, “bạn” cho rằng đấy là phần đất thuộc về Trung Quốc cho dù cột mốc 44 vẫn còn. Từ ngày 28-5 cho đến 11-6-1993, hàng trăm binh sỹ có vũ trang từ Ái Điểm tới, theo sau là 15 xe chở đá. Trong khi phía Việt Nam chưa kịp phản ứng, 2 xe “vượt biên” sang đổ đá chồng lên đoạn công nhân Việt Nam đang thi công. Ngay lập tức bộ đội Biên phòng, Hải quan, công nhân, đặc biệt là bà con nông dân Chi Ma xuất hiện. Họ rút.

Kể từ hôm đó, tổ cột mốc 44 được thành lập, 7 cán bộ Biên phòng có nhiệm vụ canh giữ cho mốc 44 trụ vững ở đúng vị trí mà nó đã đứng, kể từ sau Công ước Pháp- Thanh 1887 và 1895. Các anh phải túc trực 24/24, trong gió Chi Ma thổi bạc mặt; trong rét Chi Ma có khi xuống dưới độ Không; dưới một túp lều dựng bằng 6 cọc tre và những thùng giấy carton nằm sâu bên lãnh thổ Việt Nam 5m (vì bị ngăn cản không thể dựng nhà).

“Nhật ký” của tổ ghi nhận 32 sự kiện tiêu biểu xảy ra xung quanh mốc 44: một lần biên phòng Ái Điểm, Trung Quốc, cho dựng một nhà tạm lấn sang đất Việt Nam 2m; 22 lần lực lượng vũ trang Trung Quốc xâm nhập sâu vào đất Việt Nam từ 5-35m; 7 lần xâm canh; 1 lần lén chôn một bia đá sang đất Việt Nam 20m… Chiều 6-2-2009, chúng tôi có mặt ở Chi Ma, phía bên kia mốc 44 là một bức tường đá dày 1m cao 3m, bao bọc đồn Ái Điểm. Trên bức tường đó, sâu hoắm những lỗ châu mai, nhìn sang.

Thiếu tá Lục Văn Moong, người từng là đồn phó Chi Ma 4 năm, nói: “Có rất nhiều chuyện không được ghi chép, đó là những cục đá được ném sang từ phía bên kia lúc nửa đêm. Trận ‘đá kích’ cuối cùng xảy ra là vào năm 2003”. Theo thượng tá Nguyễn Anh Tuấn, phó chủ nhiệm chính trị Biên phòng tỉnh Lạng Sơn: “Anh em đã bám trụ trong điều kiện như thế suốt 15 năm, từ tháng 6-1993 đến tháng 1-2009. Khi viết đề nghị tặng huân chương Chiến công (hạng Ba) cho tổ cột mốc 44, có nhiều câu chuyện đã làm tôi khóc”.

Bản Giốc

Mãi cho tới ngày 14-1-2009, mốc 836 mới được cắm bên triền Bản Giốc. Thác Bản Giốc và cửa Bắc Luân cùng nằm chung trong một “gói đàm phán”, được phân giới sau cùng. Sông Quây Sơn chảy vào đất Việt ở cột mốc 67 (cũ) vòng qua các ngọn núi ở Trùng Khánh, Cao Bằng, khoảng 20km rồi chạy ra mốc 53 (cũ), thành con sông Biên giới dài 15km trước khi chảy sang Trung Quốc ở cột mốc 49 (cũ).

Thác Bản Giốc là một trong những thác đẹp nhất Việt Nam, nằm tại xã Đàm Thuỷ, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.

Giờ này, cánh đồng dưới chân Bản Giốc trơ rạ. Chưa tới mùa nước, thác chưa đầy như bức ảnh mà Võ An Ninh đã chụp. Nhưng, cảm giác về một Bản Giốc trọn vẹn vẫn nghèn nghẹn. Theo thứ trưởng Ngoại giao Vũ Dũng: “Ta và Trung Quốc đã thoả thuận đường biên giới đi từ mốc 53 cũ, qua cồn Pò Thoong, đến điểm giữa của mặt thác chính”.

Trong khoảng thời gian “gói Bản Giốc- Bắc Luân” đang đàm phán, Trung Quốc mấy lần định làm đường trên cồn Pò Thoong, mấy lần bị người dân Đàm Thủy đứng ra ngăn cản. Xưa nay, Pò Thoong vẫn nằm trong vùng quản lý của Biên phòng Việt Nam, người dân vẫn canh tác và lấy đá cát quanh đó. Trận “đá kích” sau cùng mà các cán bộ Biên phòng ghi nhận xảy ra là vào ngày 24-7-2007. Giờ đây, mốc đôi 835 đã được cắm thay thế cho mốc 53: 835/1 nằm bên bờ Trung Quốc của sông Quây Sơn; 835/2 nằm trên cồn, “phần thuộc về Việt Nam bây giờ là ¼ cồn Pò Thoong”.

        

        Khu lán sơ sài bán đồ lưu niệm của Việt Nam     Khu kinh doanh du lịch mới xây của Trung Quốc

Theo ông Vũ Dũng: “Ta và Trung Quốc nhất trí sẽ cùng hợp tác để phát triển tiềm năng du lịch, kinh tế tại khu vực thác Bản Giốc”. Cũng theo thỏa thuận ấy, thuyền du lịch có thể chở khách từ hai phía sang sát bờ của nhau ngắm thác, miễn là khách của bên này không lên bờ của phía bên kia. Từ xa, có cảm giác, Bản Giốc vẫn quay mặt về. Bên bờ Nam, một thung lũng mênh mông vừa có thể cấy cày vừa có chỗ cho khách tham quan hạ trại. Bên Trung Quốc, bờ sông dốc. Nhưng, nếu như phía Việt Nam chỉ có những lều lán tạm thì phía Trung Quốc, có nhà nghỉ Sơn Trang được xây khá hoành tráng trên một ngọn đồi. Có thể ngồi ở Sơn Trang mà ngắm cùng lúc cả thác cao và thác thấp. Nghe nói trong mấy ngày Tết, khách Việt Nam thăm thác cũng đông nhưng so với Trung Quốc thì không đáng kể. Hôm chúng tôi tới Bản Giốc, ngày 10 tháng Giêng, phía bờ Việt Nam vắng lặng trong khi phía Trung Quốc khách vẫn phải chờ để lên thuyền.

Biên Giới

Ngày 13-12-2008, hai nhóm phân giới Việt Nam và Trung Quốc đã đặt mốc 1224 vào đúng vị trí mốc 44. Nước mắt không thể cầm được trên gương mặt của các chiến sỹ Biên phòng Chi Ma. Các anh đã góp phần giữ được đường biên Hiệp ước 1999 đi cách nơi mà “Trung Quốc muốn” 63m. Tuy nhiên, đường phân giới mới vẫn cắt đi một phần thung ruộng cũ của 3 gia đình ở Chi Ma. Tại Hà Giang, 54 gia đình ở Lũng Cú cũng giao lại cho Trung Quốc 188ha và nhận từ phía Trung Quốc 66ha ở một khu vực khác. Trung tá đồn phó Lũng Cú Nông Minh Thạch nói: “Tất nhiên là bà con tâm tư nhưng chúng tôi động viên bà con tin vào Đảng và Nhà nước”. Đường biên giới mới cũng cắt ngang khu 13 nóc nhà của người dân Trung Quốc ở gần Lạng Sơn. Có tới 164 khu vực “có tranh chấp, hoặc có nhận thức khác nhau về hướng đi” như trường hợp của Lũng Cú và Chi Ma, rộng khoảng 227km2. Sau đàm phán, “quy thuộc khoảng 114,9 km2 cho Việt Nam và khoảng 117,2 km2 cho Trung Quốc”. Phó thủ tướng phụ trách ngoại giao thời kỳ đàm phán Hiệp ước Biên giới, ông Nguyễn Mạnh Cầm, cho rằng: “Kết quả đó là thỏa đáng”.

Hy vọng cột mốc cắm xong, hiệp định phân định đường biên ký kết,

dân Việt sẽ yên tâm ổn định cuộc sống.

 

Nhiều nước trên thế giới cho đến nay vẫn còn những đường biên tranh chấp, thậm chí tranh chấp biên giới vẫn xảy ra với cả những nước như Mỹ và Canada. Không phải chính quyền nào cũng đủ dũng cảm đương đầu với sự phán xét của lịch sử để đặt bút ký vào bản phân chia từng tấc đất của tiền nhân, bởi thương lượng thì phải có đi có lại. Tất nhiên, cho dù có một đường biên chưa phân, nhiều nước vẫn có thể giữ nguyên hiện trạng mà hòa bình chung sống. Họ không phải đối phó với một con sông bị nắn dòng chảy xói vào đất mình; Họ không có một đoạn đường ray, một con đường “vô tư” vòng sang rồi trở thành nơi tranh chấp; họ không gặp những chiến dịch mua râu ngô, mua móng trâu, mua mèo… Biên giới của họ, cả sông núi và lòng người, không gặp phải quá nhiều hiểm trở.

Biên giới đất liền Việt – Trung dài 1.406km, nhưng: “thời Pháp- Thanh cắm mốc rất thưa; lời văn Công ước mô tả thì đơn giản, bản đồ tỷ lệ nhỏ, nhiều địa danh không thể hiện như bãi Tục Lãm, Tài Xẹc, Dậu Gót…”. Đường Biên giới Hiệp ước 1999, thay vì chỉ cắm 341 cột mốc như thời Pháp- Thanh, có hơn 1500 cột mốc chính và hơn 400 cột mốc phụ (tổng cộng 1971 cột mốc). Nơi nào đường Biên đi qua giữa sông thì mốc được cắm ở hai bờ; nơi nào đường phân giới có những khúc quanh thì cắm thêm mốc phụ.

Tại khu vực Cô Muông, Đàm Thủy, Cao Bằng, đôi bên cắm tới 26 mốc cho một đoạn núi dài chưa tới 2km. So với cột mốc thời Pháp- Thanh, cột mốc hiện nay làm bằng đá granid, có mốc nặng tới gần 1 tấn. Khi chúng tôi tới, mốc 836/2 ở thác Bản Giốc vẫn đang làm dở dang, nhờ thế mà nhìn thấy dàn móng bê tông mới được đổ vô cùng kiên cố.

Những ngày cuối năm, công tác cắm mốc đang tất bật. Chủ Tịch tỉnh Cao Bằng Lô Ích Giang (bìa phải) thân chinh đến kiểm tra, đốc thúc công việc xây dựng cột mốc mới.

Nhưng, sở dĩ qua bao nhiêu trắc trở Biên giới Công ước Pháp Thanh vẫn là nền tảng cho công trình đàm phán, phân giới, cắm mốc kéo dài suốt 17 năm qua; bởi, ngoài những cột mốc thấp bé, vẹt mòn theo năm tháng, còn có những ngôi mộ của cha ông, những nương khoai, nương sắn của người dân hai nước. Cũng tại khu vực Đàm Thủy, ở thôn Lũng Phiăc, đồng tiền mà bà con người Tày, người Nùng vẫn dùng ở đây là Nhân Dân Tệ. Lừa ngựa từ Trung Quốc được dắt sang để thu mua quặng. Lũng Phiăc với hơn 1000 khẩu, có hơn 100 phụ nữ lấy chồng bên Trung Quốc. Dọc theo Biên giới, từ Phong Thổ tới Móng Cái, nhiều gia đình ở bên này có bà con, hoặc bạn bè thâm giao ở bên kia. “Đường biên” ấy không thể nào rành mạch phân chia như đá và bê tông cốt thép.

Tất bật bên nồi thắng cố, mặt Mừng Thìn Pín đỏ au. Phiên “chợ cột mốc” mùng 8 Tết rất đông: người từ hương Giàng Vản, tỉnh Vân Nam sang; người từ xã Bạch Đích, huyện Yên Minh, Hà Giang, đến. Mốc 358 vừa mới cắm, nhà chợ xây chửa xong, giao thương đã bắt đầu nhộn nhịp. Theo thượng tá Dương Văn Thịnh, đồn trưởng Biên phòng Bạch Đích: “Trước phân giới cắm mốc, đôi bên vẫn căng thẳng”. Nay thì bà con đã có thể tới chợ. Nay, những nông dân như Mừng Thìn Pín đã có thể xây nhà và bưng nồi thắng cố lên đặt sát đường Biên. Một đường Biên giới mà cho tới năm 1991 vẫn phải rào dậu bằng mìn; một Biên giới mà cho tới trước tháng 1-2009, nhiều nơi bộ đội Biên phòng vẫn còn phải đứng canh cho người dân cày cấy… Khi đang ngồi viết những dòng này, tôi nhận được điện thoại từ Hà Giang, trung tá Thạch cho biết, những cây đào Lũng Cú đã đâm hoa, cho dù, ở Biên giới mùa này vẫn chưa hết những đợt gió lạnh tràn về từ phương Bắc.

Huy Đức

Osin’s Blog Full Post View | List View Tags: biengioi

Monday February 23, 2009 – 10:17am (ICT) Permanent Link | 44 Comments
_______________________________

 
 

 

      

  1. sahadin08

    sahadin08

    20:55 25-02-2009

    em dang nghien ngam bai viet cua bac pham thi hoai.cung dang nghien ngam 16 chu ve quan he viet trung..de xem ho co choi xo chu nghia gi voi minh khong..bai cua bac pham thi hoai thi doc lien tuc nhung van chua co gi de noi ..ma tren comment nay khong viet dai duoc…ro chan..cac su viec bac neu tren em cung da chui vao trang chinh cua bbc xem roi..ngheden thi buot ruot..nhung cu than khoc mai the a?? em nhieu luc phai tu nhac minh the ..nhung chua tim duoc loi giai dap bac a\…

  2. gocomay

    gocomay

    22:03 25-02-2009

    Đây không phải là than khóc, mà là hiểu cho đúng với sự thật khách quan thôi. Điều cần tránh nhất là các luận điệu tuyên truyền hay thù hận một cách vô lối. Dù là ai. Và làm điều đó với mục đích như thế nào.
    Có như vậy dân tộc mình mới lớn lên được sau những "thương hải biến vi tang điền" này!

  3. sahadin08

    sahadin08

    20:31 21-02-2009

    Di ngang qua ngon thac.
    Gio van hat ri rao..
    Nuoc van tuon tuon chay..
    Nhu long nguoi nao nao…

    Men ….Em oi .. 

    “ Thac ve ben do co buon khong .
    Chuyen hai ta da cach xa roi.
    Gan ngay ma sao xa xoi the.
    Tinh cu phai roi phai chang em.”

    Women….
    “Tinh co phai dau anh biet khong.
    Chi trach “ong troi” mong be dau.
    Chia lia doi lua khi vua chom.
    Em cach anh ma van thay anh.”

    Women..
    “Chang biet bao gio ve ben Anh.
    De cho hai dua ke chuyen xua.
    Ngay con dam duoi trong tinh mong.
    Anh voi Em ..doi lua . luc xuan xanh.”

    Audience….
    “Nghe chuyen giong thac ..long triu nang
    Mong chi co ngay hai dua co doi.
    Thac oi xin thac thoi dung(stop) chay.
    Vi long nguoi tan nhan “da” chia doi..”
     
    Bai karaoke nay ..bac nghe thay the nao…vi trong hai ngonthac bay gio chia lia roi ..Cung thay hoi giong co thieu nu voi mai toc dai ..va anh trai trang noi suc voc khoe manh..voi doi vai phong tran that rong.Nen chot nay ra y tho nay.Nhung cay dang trong long.

  4. gocomay

    gocomay

    23:45 21-02-2009

    "…giong co thieu nu voi mai toc dai .."
    Chà chà sahadin08   có một con mắt khá tinh tế. Nhìn thác mà thấy như mái tóc của nàng thiếu nữ thì còn gì đẹp hơn. Tiếc thay cô gái ấy nhan sắc ấy đã bị ép duyên, gả bán trong một cuộc hôn phối khá tù mù ..hu hu!

  5. sahadin08

    sahadin08

    18:46 21-02-2009

    Doc lai thay thieu mot cau trong kho thu hai cho em xin viet lai.
    Van vuong Co May
    Buon qua bac oi chuyen tich xua.
    Sao de day dua den tan gio..
    Nhu mang nang long ..cung song nui..
    Ngoi goc co may than cung ai…
    Nhung van vuong cu van vuong thoi ..
    Buon lam sao chuyen da roi.
    Nhu..bong co may …mang mam song..
    Gui gam ke qua ..khap do day.

  6. gocomay

    gocomay

    18:49 21-02-2009

  7. sahadin08

    sahadin08

    18:21 21-02-2009

    buon qua bac oi chuyen tich xua.
    sao de day dua den tan gio..
    nhu mang nang long ..cung song nui..
    ngoi goc co may than cung ai…
    nhung van vuong cu van vuong thoi ..
    nhu bong co may …mang mam song..
    gui gam ke qua ..khap do day.

    BAi nay muon viet ve cai ten GOCOMAY cua bac..ma mai den gio moi co mot bai..em se lam tiep bai khac cho tho mong hon…nhung hen luc khac bac nhe..trong quan vang nay chi co em voi ong "chu" quan …lang thang cho khac kiem ti kien thuc cuoc doi….bac vui len nhe…nhu bong co may ai di qua cu vuong lay ..chang phai nho thuong gi dau ,…chinh cay muon minh mang di nhung dua con yeu dau de su song cua no mai sinh ton thoi..kinh bac 

  8. gocomay

    gocomay

    18:45 21-02-2009

    Cám ơn sahadin08  đã tặng thơ. Quán mới mở, thì vắng vẻ cũng thường tình thôi. Mình có bán niềm vui hay nỗi sầu cho ai đâu!
    "Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
    Người khôn người tới chốn xôn xao"
    Nhưng khốn nỗi cái tâm lý "phò chính thống" thì vẫn luôn thịnh trị, nếu không muốn mốc mép treo niêu. Nhưng nếu không "phải quấy" một chút cho công bằng thì cũng có tội với công nghiệp của tiền nhân!
    "mặc dù gần chạng vạng
    Nắng được thì cứ nắng"
    Cho tổ tiên đỡ quạnh quẽ thôi!

  9. sahadin08

    sahadin08

    16:09 21-02-2009

    Va day la ca tam long cua nguoi xem tranh:
    Troi dat minh day .."song" cung "thac".
    Nhung sao lai thay ..chu dau nay.
    Ho viet chac la hay ho lam..
    Nhung phan con "nha\n" nup bong cay.
    Hieu chi mo chu nghia …xa xoi…
    Long ni chi muon .."song " …chung cung …"thac".
    "Dat" nuoc minh lai nhu vet dao dam.
    Dong long lam tho ma nghi ngoi.
    "Song"cung "thac"..tan..bao gio….. day.
    Bao gio "sapa" ve voi ho?  (day la cau hoi cho moi nguoi-nhung den luc do thi…)

    "Song "o tren nay "Thac" vut di..

  10. gocomay

    gocomay

    16:57 21-02-2009

    "Dat" nuoc minh lai nhu vet dao dam.
     Tấm lòng son với non sông gấm vóc như thế là qúi lắm qúi lắm

  11. sahadin08

    sahadin08

    15:56 21-02-2009

    Vua xem tranh vua lam tho…khong ngai bi nguoidoi cuoi che,,…cotamlong cung song nui ..noi ra bang cach gi cung khong biet then..(may cau  nay viet thanh kho tho nho duoc day nhi – chi can thay "khong biet then "="cung ha he")

    Troi dat minh day .."song" cung "thac".
    Nhung sao lai thay ..chu (word charactor) dau nay.
    Ho viet chac la hay ho lam..
    Nhung phan con "nha\n" nup bong cay.
    Hieu chi mo chu nghia cao sau…
    Long ni cung muon phoi …."song " voi  "thac".
    "Dat" nuoc minh  lai nhu vet dao dam.
    Dong long lam tho ma nghi ngoi.
    "Song"cung "thac"..tan..bao gio….. day..
    *co le lan nay phai giai thich ngay may tu "song"="river" nhung "song" cung = "live"
    "thac"=falling water nhung "thac" cung = "die" de moi nguoi hieu het ..
    bai tho lam ngay xong khi xem het tranh cua tac gia.(<5phut).khongphai tu khen hoac tu quang cao dau ..ma chinh la quang cao cai tam cua minh voi non song dat nuoc.

  12. gocomay

    gocomay

    17:01 21-02-2009

    Cám ơn sự chia sẻ của sahadin08  không ai được độc quyền yêu nước cả! Bày tỏ tấm lòng với đất nước là nhu cầu chính đáng! Không ai được phép cười chê hay ghen ghét cả!

  13. sahadin08

    sahadin08

    19:48 20-02-2009

    em xin cam on bac..kien thuc lich su trong bac nhieu nen em muon hoc hoi qua..nhung thoi gian lai khong cho phep .,nen xin bac cu tu tu ..vi em chi duoc cai can cu bu thong minh thoi…co trang blog nay chang biet bac da vo chua..nhung van xin dung no de dap lai thinh tinh cua bac.moi bac vo ….

    http://vn.myblog.yahoo.com/le-te

  14. gocomay

    gocomay

    19:53 20-02-2009

  15. sahadin08

    sahadin08

    05:50 20-02-2009

    Bac a ..nguoi viet minh co cau ..”biet thithua thot..khong biet thi dua cot ma nghe”
    Chi’ phai..bai ve 6 lan “no luc bao ve bien cuong” cua bac..qua that lam em tron xoe doi mat…vi da duoc nghe den dau.Bac chua nhac em cung da mo ngay wikipedia ra roi..Qua la loi cua minh ..chua doc thau het lich su nuoc nha..mac du trong nuoc emcam doan voibac khong co nhung dieu bac viet duoc in trongsachgiao khoa lich su vietnam.cai nua ten va thoi gian qua xa la..lam em thay nhu bac PHAM THI HOAI ..noi trong bai viet :”tu cach cua tri thuc vietnam” co doan “người Việt chẳng buồn học ai cả, chẳng buồn ngưỡng mộ ai cả.”….
    Nen cang to mo muon hoi bac thoi..co duy nhat mot lan duoc nghe ve chuyen Vua Quang Trung sau khi chien thang quan nha Thanh TQ thi duoc nha Thanh hua ga cong chua de giu tinh giao hao..roi cat dat ..(khong nho tinh nao bay giocua TQ )lam cua hoi mon..chuyen do the nao em cung tuong tan dau.Vi ban chat cua nguoi Viet roi ma..(tho thi chang phai ..thay cung khong)..cho nen cang thay la lam voi 6 lan bac phat..ma tim hieu duoc trong cac tang thu thi khong the cho het lich su chien tranh vietnam vao trong dau duoc ..vi no qua rong.
    Cung nhu trong may entry bacvua post..em chi biet them vai kho tho cho vui thoi..chu de tai qua rong ..va khong the ngay mot ngay hai la co the hieu het y cua tac gia duoc..them nua trong khuon kho vn.blog nay cang comment dai co khi khong load het duoc.Nen chung vui voi may cau tho tang cong suc cua bac ..da goi mo cho nguoi doc ..de tim toi them kien thuc thoi ..lan sau em xin dua cot ma nghe vay..Nhung xin bac cho em biet them chuyen ve VUA Quang Trung the nao ve viec xoa so Polpot (san sau cua Trung Quoc thoi do.)co duoc ghi them vao chien tich “bao ve bien cuong “to quoc khong. Kinh bac 

  16. gocomay

    gocomay

    16:37 20-02-2009

    Thưa bạn sahadin08  ! Như bạn biết đấy. Lịch sử do con người làm ra. Mặc dù chép sử là một ngành khoa học đòi hỏi sự khách quan rất lớn. Nhưng nó vẫn luôn tồn tại cả chính sử lẫn dã sử. Các sử gia ở các xứ toàn trị Phương Đông xưa dù có tâm tới mức nào thì cũng không thể thoát khỏi cái ngưỡng phải "Phò chính thống" (như lời của Phạm Thị Hoài). Vậy để tìm hiểu về một vấn đề nào đó, chưa chắc ở sách giáo hay trên Wikipedia tiếng Việt mà đã giải quyết được vấn đề. Vậy xin giới thiệu với bạn một tài liệu để tham khảo thêm ở điạ chỉ sau:
    Khi xem xong thì bạn có thể tìm thêm các nguồn khác để đối chiếu và tự tìm cho mình câu trả lời….!
    Rất cám ơn sahadin08  đã ưu ái và cùng quan tâm tới vấn đề vốn đang có nhiều nhạy cảm này.

  17. sahadin08

    sahadin08

    03:40 20-02-2009

      Ruou moi day roi ta lai say.
    O nay ong chu ruou lai thay.
      Bo coi non song dai rong the.
    Co that the khong ..phai khong
    ONG.

  18. gocomay

    gocomay

    04:05 20-02-2009

    Co that the khong ..phai khong ONG.

    Thật hay không thì phải chịu tìm tòi về Lịch sử. Và tự trả lời lấy thôi chứ có nhân chứng nào còn sống được tới bây giờ đâu mà trả lời được cái câu móc "Co that the khong"?

    Những tư liệu này đã được lưu trữ rất kỹ, rất hệ thống ở các thư tịch lớn bên Trung Quốc, Pháp. Nên nếu muốn và có điều kiện thuận lợi thì ai cũng có thể tiếp cận được.