Tạp Ghi và Phiếm Luận :  TỨ KHOÁI của NGƯỜI XƯA 

       Năm 1964, khi tôi thi đậu bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp, có bác tài phú Gia làm chung chành lúa với ba tôi trong nhà máy xay lúa Công Thành của Thị trấn Cái Răng, bác đọc thấy tên tôi trong Danh Sách Thí Sinh Thi Đậu Bằng Trung Học được đăng trên báo, bác đã chúc mừng ba tôi và khen tôi còn nhỏ mà đã đậu Diplom (diploma) và đọc một câu trong bài thơ Tứ Khoái của người xưa là “Kim bảng tánh danh đề 金榜姓名题” cho ba tôi nghe. TỨ KHOÁI của người xưa là 4 cái KHOÁI nào ? Xin kính trình với Quý Thầy Cô và bằng hữu một bài thơ xưa nữa, bài thơ TỨ KHOÁI 四 快, nói về bốn cái “KHOÁI” nhất của các Cụ ngày xưa như sau :

                Cửu hạn phùng cam vũ,         久 旱 逢 甘 雨,

                Tha hương ngộ cố tri.            他 鄉 遇 故 知.

                Động phòng hoa chúc dạ,      洞 房 花 燭 夜,

                Kim bảng quải danh thì.        金 榜 掛 名 時.

Chú thích :

    1. CAM 甘 là Ngọt. Vũ 雨: Là Mưa. Như Phong Vũ 風雨 : là Mưa gió. Còn được đọc là VÕ. Vd như : Đão Võ 禱雨 : là Cầu cho mưa xuống. 

    2. Cố 故 : Là Xưa, là Cũ. Vd : Cố nhân 故人 là Người xưa, Cố Tri 故知 là Người quen biết cũ.      

    3. Quải 掛 : Là Treo. Quải danh 掛名 là Tên được treo lên. “Quải danh thì 掛名時” là Khi tên được treo lên. 

* Nghĩa từng câu :

Câu 1 : Trời hạn hán lâu ngày, gặp được trận mưa rào (ngọt) đổ xuống.

Cầu 2 : Ở nơi xa quê hương mà gặp được người quen cũ, bạn cũ.

Câu 3 : Đêm động phòng hoa chúc khi ta kết hôn.

Câu 4 : Khi được treo tên trên bảng vàng, tức là khi thi đậu làm quan.

      Câu chót có dị bản là : “Kim bảng tánh danh đề 金榜姓名题”. Có nghĩa Tên tuổi được ghi lên trên bảng vàng , nghĩa thì cũng tương tự, nhưng “… quải danh THÌ” ăn vận với “…Ngộ cố TRI” ở trên hơn là “…tánh danh ĐỀ”.

     Đây là 4 cái KHOÁI nhất của các ông bà ngày xưa,  xin được diễn nôm như sau :

                     Hạn lâu, gặp được mưa rào,

                     Xa quê lại được chào người quen xưa,

                     Động phòng hoa chúc sướng chưa,

                     Bảng vàng bia đá cho vừa lòng em. !

      Thật ra đây là bài thơ Thần Đồng TỨ HỈ THI 神童四喜詩 (Tứ Hỉ 四喜 là 4 điều VUI) của thi nhân Uông Thù 汪洙 ở cuối đời Bắc Tống làm lúc mới có 9 tuổi, nên mới gọi là Thần Đồng Thi (Thơ của Thần đồng). Các cụ ta mượn để chỉ 4 cái khoái trá nhất trong đời. Nhưng có Cụ còn cho như thế vẫn còn chưa đủ “Khoái”. Muốn diễn tả cho “thật khoái”, thì phải thêm vào mỗi đầu câu 2 chữ như sau đây :

              THẬP NIÊN cữu hạn phùng cam võ,    十  年  久 旱 逢 甘 雨,

              THIÊN LÝ tha hương ngộ cố tri,          千  里  他 鄉 遇 故 知.  

              LÃO GIẢ động phòng hoa chúc dạ,     老  者  洞 房 花 燭 夜,

              THIẾU NIÊN kim bảng quải danh thì!  少  年  金 榜 掛 名 時.

    Xin tạm diễn nôm như sau :

                       Mười năm hạn hán bỗng tuôn mưa,

                       Ngàn dặm quê người gặp bạn xưa,

                       Lão ông còn động phòng hoa chúc,

                       Tuổi trẻ bảng vàng quả sướng chưa !

       Bốn câu thơ trên gọi là “Tứ cực khoái 四極快”. Bốn cái KHOÁI lên đến đĩnh điểm luôn !. Nhưng “Lạc cực sinh bi 樂極生悲”, VUI quá sẽ đến lúc sinh ra BUỒN. Như muốn diễn tả 4 điều làm cho người ta bực mình nhất là “Tứ bất khoái 四不快” thì sẽ thêm vào mỗi đầu câu 2 chữ như sau :

            VIÊM ĐIỀN cữu hạn phùng cam võ,     鹽  田  久 旱 逢 甘 雨,

            ĐÀO TRÁI tha hương ngộ cố tri,          逃  債  他 鄉 遇 故 知.

            THÁI GIÁM động phòng hoa chúc dạ,   太  監  洞 房 花 燭 夜,

            CỪU NHÂN kim bảng quải danh thì.     仇  人  金 榜 掛 名 時.

     Cũng xin diễn nôm như sau :

                           Ruộng muối nắng lâu chợt đổ mưa,

                           Trốn nợ quê người gặp bạn xưa,

                           Thái giám bắt động phòng hoa chúc,

                           Kẻ thù đậu đạt, khổ hay chưa?!

       Người xưa luận về Tứ Khoái thì như thế, còn hiện nay chúng ta có được những thứ nào khả dĩ gọi là KHOÁI hay không ?                                                                         

       Sau đây là tài liệu sưu tầm của em Kim Chấn Võ, một cựu học sinh Tân Hưng Cái Răng, về bài thơ “Tứ Khoái” mà thành “Hết Khoái” vì có một sự kiện đi kèm theo sau đó. Bài thơ và “Sự Kiện Đi Kèm” như sau :

久 旱 逢 甘 雨  

Cửu hạn phùng cam vũ

                                              暴 雨 淹 沒 村   !                                 

                                          – Bạo vũ yêm một thôn !

他 鄉 遇 故 知                         

Tha hương ngộ cố tri ,

                                              久 住 難 為 人  !                                                                      

                                          – Cửu trú nan vi nhân !

洞 房 花 燭 夜                        

Động phòng hoa chúc dạ,

                                               親 友 醉 不 歸  !                                                                        

                                          – Thân hửu túy bất qui !

金 榜 掛 名 時                        

Kim bảng quải danh thì .

                                                公 主 已 嫁 去 !                                                        

                                          – Công chúa dĩ giá khứ !

* Ghi Chú :

        1. Bạo vũ 暴雨 : Trong thành ngữ “Cuồng phong bạo vũ 狂風暴雨” , ta thường nói là “Mưa cuồng gió loạn”. Bạo vũ là Mưa lớn, Mưa xối xả, Mưa như trút nước !

        2. Yêm một 淹没: Yêm là Ngập, Một là mất. Yêm Một là Chìm ngập, chìm đắm.

        3. Nan vi Nhân 難為人 : là Khó làm người, nghĩa là rất khó xử trong việc ăn ở chung với ai đó, khó sống với ai đó. Khác với VI NHÂN NAN 為人難 : Làm người rất khó, ý chỉ Cái đạo làm người phải rất thông tình đạt lý, giữ mình nghiêm cẩn cho phải đạo . 

        4. Giá 嫁: là Gã, là lấy chồng. Giá Khứ 嫁 去: Gã đi rồi, đã lấy chồng rồi !

* Nghĩa từng câu :

         1. Cửu hạn phùng cam võ : Nắng lâu gặp mưa ngọt, mưa rào.(khoái). Nhưng…  Bạo vũ yêm một thôn : Mưa lại quá lớn làm chìm ngập cả thôn xóm.(hết khoái !).

         2. Tha hương ngộ cố tri : Ở nơi xa quê hương mà gặp được người quen.(khoái). Nhưng… Cửu trú nan vi nhân : là Ở lâu khó làm người. Đây là vế sau của câu : Tương kiến dị đắc hảo 相見易得好 (Cửu trú nan vi nhân 久住難為人). Con người, ở xứ lạ mới gặp nhau thì tay bắt mặt mừng rất dễ thân thiện và tốt với nhau, rất niềm nở với nhau. Nhưng nếu, ở chung với nhau lâu ngày, thì sẽ sanh ra nhiều chuyện, rắc rối với nhau, thậm chí cải lộn, đánh lộn, hoặc ghét đến nỗi không thèm nhìn mặt nhau luôn thì… hết khoái !

         3. Động phòng hoa chúc dạ : Đêm động phòng hoa chúc thì KHOÁI khỏi phải nói rồi ! Nhưng… Thân hữu túy bất qui : Bạn bè thân thích nhậu say cứ la cà, rề rà, nhừa nhựa nhậu hoài không chịu về, làm chú rễ bực mình (hết khoái) vì không vào động phòng hoa chúc được !

        4. Kim Bảng quải danh thì : Khi tên họ được treo trên bảng vàng, thi đậu làm quan (khoái thiệt !). Ngày xưa, thường thì khi thi đậu Trạng Nguyên, nhà Vua hay gả Công Chúa cho làm vợ, được làm Phò Mã, vừa Đại Đăng Khoa vừa Tiểu Đăng Khoa, Khoái biết chừng nào. Đằng nầy, thi đậu mà nghe tin… Công Chúa dĩ giá khứ : Công Chúa đã gả đi rồi, đã đi lấy chồng rồi ! Hết Khoái luôn !!!

Diễn nôm :

                   Hạn lâu gặp được mưa rào (Khoái).

                   Nhưng mưa ngập lụt, nước trào xóm thôn (Hết khoái).

                   Xa quê gặp được người quen (Khoái)

                   Ở chung lâu giận, chẳng thèm nhìn nhau (Thôi khoái).

                   Động phòng hoa chúc khoái sao !

                   Bạn bè say nhậu, VÔ ! VÀO ! suốt đêm (Hỏng khoái).

                   Bảng vàng Khoái tỉ, thấy tên,

                   Nhưng nàng Công Chúa đã lên…xe hoa rồi ! (Bớt khoái).

       Hẹn bài viết tới !

                                                                              杜紹德                                                                                                                               Đỗ Chiêu Đức 




Có Những Ân Tình




PHẬT SỐNG GIỮA ĐỜI THƯỜNG

1 câu chuyện có thật

Sinh ra tại Edinburgh (Scotland) nhưng Scott Neeson đã chuyển tới Australia định cư khi mới 5 tuổi. Ông là con trai của một lao công và một quân nhân. Năm 17 tuổi, Scott quyết định bỏ học và sống dựa vào tiền trợ cấp thất nghiệp. Nhờ chương trình hỗ trợ của chính phủ, ông được nhận vào vào một rạp chiếu phim là nhân viên kỹ thuật phòng chiếu.

Câu chuyện nhẽ ra sẽ kết thúc tại đây nếu không phải Scott là người khá tham vọng và tràn đầy nhiệt huyết. Người đàn ông này kiên trì leo lên từng bậc thang trong ngành điện ảnh, từ một nhân viên phát hành phim đến nhân viên kinh doanh phim. Cuối cùng, mọi công sức của Scott cũng được đền đáp khi ông được bổ nhiệm là Giám đốc Chi nhánh Australia của hãng 20th Century Fox (nay là 20th Century Studios thuộc Disney).

Bước ngoặt đến với Scott vào năm 2000 khi ông chuyển tới Los Angeles để tiếp quản vị trí trong mơ – Chủ tịch của 20th Century Fox International. Ông có thu nhập hơn 1,5 triệu USD/năm, sánh vai cùng với những tài tử hạng A của Hollywood trên thảm đỏ.

Chuyến đi định mệnh tới bãi rác nghèo nhất Campuchia
Trong 10 năm tại Fox, Scott đã có một sự nghiệp thành công rực rỡ, giám sát nhiều bộ phim có doanh thu cao nhất thời đại như Titanic, Star Wars, and X-Men. Đối với nhiều người, vị Chủ tịch sở hữu mọi thứ trong tay: một vị trí quyền lực trong ngành phim, những người bạn nổi tiếng, một căn biệt thự nguy nga, siêu xe và du thuyền.

Tuy nhiên, ông vẫn cảm thấy thiếu điều gì đó. “Tôi nghĩ là mình có vấn đề. Càng kiếm được nhiều, tôi càng không hạnh phúc”, ông tâm sự.

Năm 2003, chỉ vài tuần trước khi nhận vị trí mới ở Sony Pictures, Scott tới Phnom Penh (Campuchia) để du lịch. Chuyến đi 6 tuần này đã thay đổi hoàn toàn cuộc đời ông.

“Tôi muốn xem nơi nghèo nhất đất nước”, Scott nói. “Họ đưa tôi đến Stung Meanchey – một bãi rác sâu hơn 90m và rộng hơn 100.000 m2”.

Tại đây, Scott chứng kiến hơn 1.500 đứa trẻ đang nhặt nhạnh giữa cái nóng hơn 50 độ C, xung quanh là đống rác đang phân hủy đầy và thải khí mê-tan, còn mặt đất như bị nung chảy. Ông còn bị bỏng ở chân do không để ý nơi mình giẫm lên. Khắp nơi nồng nặc mùi hôi thối.

Nhiều đứa trẻ ở đây bị cha mẹ bỏ rơi vì nợ nần, ốm đau, nghiện rượu hoặc tái hôn. Chúng buộc phải tìm phế liệu ở bãi rác này để đam bán, hôm nào may mắn thì được khoảng 1 USD (khoảng 23.000 VNĐ)
Scott muốn giúp những đứa trẻ này, nhưng ông có thành kiến với các tổ chức từ thiện. Cựu Chủ tịch 20th Century Fox sợ tiền không đến tay các em, lại lo “một cây chẳng làm nên non”.

“Lý do thứ ba: Đây vốn không phải là chuyện của tôi”, ông nói. “Tại Mỹ, bạn như đang sống ở bên kia thế giới. Bạn trả tiền thuế và chính phủ có quyền quyết định các khoản viện trợ nước ngoài”.

Tuy nhiên, bản chất lương thiện khiến Scott không thể lờ đi hoàn cảnh của lũ trẻ.

“Tôi biết chúng sẽ không bao giờ rời khỏi bãi rác nà. Chúng sống ở đây, chết cũng ở đây. Chúng có thể trở thành nạn nhân buôn người. Những bà mẹ sẽ sinh con tại đây. Điều này chẳng khác nào tận thế. Thật kinh khủng”, ông nói.

Khi thấy một đứa trẻ 9 tuổi đi ngang qua mình trong bộ dạng rách rưới, Scott đau lòng khôn xiết. Bụi bẩn, rác thải bám đầy người đứa trẻ, khiến ông còn chẳng thể nhận ra em là trai hay gái. Chỉ mất 90 phút và 35 USD tiền phí dịch vụ, Scott đã giúp đứa trẻ đó được tới trường và có tiền trang trải sinh hoạt hàng tháng.

Đây cũng là lúc mọi hoài nghi về từ thiện biến mất trong lòng ông.

“Là một con người, là một sinh vật đang sống trên Trái đất này, đây là nghĩa vụ của tôi. Tôi không ngờ rằng việc thay đổi số phận của đứa trẻ đó lại dễ như vậy”, ông cho biết.

Cuộc sống giằng xé giữa hai thế giới giàu – nghèo
Khi quay về Mỹ để bắt đầu công việc mới, Scott Neeson tự hứa sẽ không để bản thân rơi vào cảnh khủng hoảng tuổi trung niên thường thấy tại Los Angeles.

“Tôi đã làm việc hơn 26 năm trong ngành điện ảnh. Từ một nhân viên kỹ thuật chiếu bóng tại rạp phim lưu động, tôi đã nỗ lực hết mình để có ngày hôm nay. Tôi sẽ không vứt bỏ mọi thứ đi như vậy”, ông thuyết phục chính mình.

Tuy nhiên, khao khát được giúp đỡ lũ trẻ khiến Scott suy nghĩ rất nhiều. Trong một năm sau đó, cựu Chủ tịch 20th Century Fox vừa làm việc tại Hollywood, vừa tới Campuchia để làm thiện nguyện.

Có hai thế giới song song tồn tại trong cuộc sống của ông: Mỗi tháng, ông sẽ dành 3 tuần để giải quyết công việc, ngồi ghế hạng nhất trên máy bay, tham dự giải Oscars, gặp gỡ các ngôi sao điện ảnh, kiếm cả triệu USD/năm. Sau đó, ông sẽ gửi số tiền này đến Campuchia.

“Điều tôi không tính tới là những sang chấn tâm lý do phải liên tục chuyển đổi giữa hai thế giới khác nhau trong vòng 24 tiếng. Một bên là lối sống buông thả và xa hoa, một bên là bãi rác nghèo nàn và tồi tệ – nơi lũ trẻ có thể chết trước mặt bạn chỉ vì thiếu sự chăm sóc y tế cơ bản”, ông nói.

“Tôi không thể sống giữa hai thế giới như vậy được”.

Dù vậy, phải đến khi chứng kiến một khoảnh khắc sinh tử khó quên, Scott Neeson mới hạ quyết tâm buông bỏ tất cả.

Vào thời điểm đó, cựu Chủ tịch 20th Century Fox đang đàm phán với một diễn viên nổi tiếng cho bộ phim sắp công bố. Xong việc, ông bay tới Campuchia, còn ngôi sao kia đến Tokyo (Nhật Bản).

Scott tới thẳng bãi rác và gặp bốn đứa trẻ mồ côi dưới 10 tuổi. Các em đang hấp hối và không ai có thể đưa các em tới bệnh viện. Ông hoảng sợ và không biết mình nên làm gì.

Đúng lúc ấy, nam diễn viên vừa bay tới Tokyo kia gọi điện cho Scott. Anh ta khá bực mình vì công ty ông đã cung cấp sai tiện nghi trên chuyên cơ. “Tôi không nên bị làm khó như vậy”, ngôi sao đó phàn nàn.

“Đó là điều anh ta đã nói với tôi, khi tôi đang đứng trước mặt những đứa trẻ hấp hối”, ông nhớ lại. “Chính giây phút ấy đã thức tỉnh tôi; mọi nỗi lo lắng về việc bỏ Hollywood để tới sống ở Campuchia đều biến mất. Đó là tín hiệu rõ ràng nhất cho thấy tôi đang đi đúng hướng”.

Ngay lập tức, Scott trở về Los Angeles và xin từ chức vào ngày thứ Hai.

Không phải ai cũng nghĩ quyết định của Scott là đúng đắn. “Cả thế giới đều cho rằng tôi bị điên khi từ bỏ công việc trong mơ đó”, cựu Chủ tịch 20th Century Fox nhớ lại. “Nhưng tôi không cần nó nữa”.
Năm 2004, Scott chuyển hẳn tới Campuchia và thành lập Quỹ Trẻ em Campuchia (CCF). Tổ chức này giúp đỡ các cộng đồng nghèo đang sống nhờ bãi rác ở Steung Meanchey, cung cấp các chương trình giáo dục, lãnh đạo, chăm sóc sức khỏe, chăm sóc trẻ em và hướng nghiệp.

Để có tiền, Scott không ngần ngại từ bỏ mọi thứ mình sở hữu. Ông bán biệt thự sang trọng ở Los Angeles, tổ chức một buổi garage sale (bán đồ cũ) để loại bớt “những thứ vô dụng” trong nhà. Kể cả siêu xe Porsche và du thuyền ông cũng không cần tới.

Vứt bỏ hào quang Hollywood để tới bãi rác làm từ thiện
Khi mới bắt đầu, mục tiêu của Scott chỉ là đưa 80 trẻ em ở bãi rác Stung Meanchey đến trường. Năm 2007, khi con số này lên tới 200 em, CCF đã thành lập một trung tâm cộng đồng, xây dựng các trường học lưu động, cung cấp nước sạch, lương thực và các dịch vụ cơ bản cho người dân nơi đây.

Năm 2009, bãi rác khổng lồ này chính thức đóng cửa. Số học sinh tại CCF cũng đã đạt số lượng 500 em. Tổ chức này mở thêm nhiều phòng khám tại địa phương, cung cấp dịch vụ y tế và tư vấn miễn phí cho người dân ở mọi lứa tuổi.

“Tôi khiến nhân viên phát điên”, Scott nói về 300 cấp dưới của mình, nhiều người trong số họ cũng từng lớn lên ở bãi rác. “Nếu nghĩ ra một kế hoạch nào đó, tôi muốn nó được thực hiện trong vòng 48 tiếng. Bạn không muốn mọi người phải chịu khổ quá lâu”.

Điều khiến Scott ấn tượng nhất về lũ trẻ là dù sống trong cảnh khốn cùng, chúng không bao giờ vòi tiền.

“Mỗi lần tôi đến bãi rác, các em sẽ chạy theo tôi và nói: ‘Som tov rien’ (Xin hãy cho cháu đi học)”, ông nhớ lại. “Thật khó để nói không, bởi đơn giản là chúng chỉ hỏi xin một cơ hội”.
Trong vòng 16 năm qua, Scott Neeson đã thay đổi hoàn toàn số phận của hơn 3.300 mảnh đời bất hạnh ở đây. Sreyoun – cô bé 9 tuổi năm xưa được ông cứu giúp – đã tốt nghiệp đại học chuyên ngành tài chính và kinh tế vào năm 2019. 80% số trẻ được CCF hỗ trợ đều vào được đại học, theo đuổi các chuyên ngành như luật, kỹ sư xây dựng dân dụng, tâm lý học…

Vị doanh nhân này cũng chia sẻ rằng ông nhớ mặt, nhớ tên của từng đứa trẻ mà mình đã cứu, bởi “mỗi em là một cuộc hành trình”.

Bên cạnh đó, Scott cũng có nhiều đóng góp tích cực trong việc giảm tỷ lệ tử vong ở sản phụ và trẻ sơ sinh tại Stung Meanchey. Ông còn cùng người cao tuổi ở đây khôi phục lại những giá trị truyền thống đã mai một tại Campuchia, để thế hệ trẻ có thể hiểu hơn về văn hóa nước mình.

Giờ đây, Scott Neeson vẫn sống một cuộc đời giản dị ở Phnom Penh, tiếp tục theo đuổi sứ mệnh cứu người của mình. Ông thường mặc áo phông và quần canvas trắng, chân đi đất, nhìn như dân Campuchia thứ thiệt.

Trên bức tường trong văn phòng ông, bên cạnh những chiếc poster phim có chữ ký người nổi tiếng là hàng trăm tấm ảnh trước-và-sau của từng đứa trẻ được cứu giúp.

Sống quá lâu ở Campuchia, Scott Neeson đã thấm nhuần không ít tư tưởng Phật giáo. Ông hiểu rằng mình phải thay đổi bản thân trước khi thay đổi những số phận ngoài kia.

“Bạn phải bỏ đi cái tôi của mình”, ông nói. Đây chính là lý mà vị doanh nhân này cố gắng rèn luyện để vượt qua sự phán xét của chính mình và người khác, kiên trì với lý tưởng của mình.

“Tôi chưa từng cảm thấy vừa không có gì, vừa có tất cả như lúc này”, Scott bày tỏ. “Về mặt vật chất, tôi không còn gì. Nhưng lạ thay, tôi cũng không cần chúng. Đó là một cảm giác tuyệt vời. Nó đem lại sự tự do tuyệt đối”.

“Sống ở Hollywood có nhiều lợi ích – những chiếc xe limo hiện đại, những chuyên cơ đắt tiền, những cô bạn gái xinh đẹp, được tham dự Oscars. Tuy nhiên, đó không còn là lối sống mà tôi theo đuổi nữa, khi tôi có thể thay đổi cuộc sống của hàng trăm đứa trẻ theo hướng tốt hơn”.

Scott Neeson tâm niệm rằng ông chính là người may mắn nhất thế gian này.

“Có những người sống cả một đời mà chưa từng trải qua giây phút giác ngộ như khi tôi gặp lũ trẻ ngày ấy tại bãi rác Stung Meanchey. Tôi cảm thấy thật may mắn”, vị doanh nhân mỉm cười nói

(Theo CCF, Csmonitor, Lion’s Roar)




Người Giàu Ở Khắp Nơi

Kiều Mỹ Duyên

Tỷ phú, triệu phú ở Orange County nhiều lắm. Người Việt Nam tị nạn tỷ phú ở Mỹ chỉ có 9 người nhưng triệu phú thì nhiều lắm, nhiều lắm. Nơi nào có người Việt Nam tị nạn là nơi đó có triệu phú. Già cũng là triệu phú, trẻ cũng là triệu phú. Đầu tư vào địa ốc trở thành triệu phú là chuyện bình thường, từ 1 đến 5 triệu mỹ kim thì ai cũng làm được, dễ quá mà, miễn là phải chăm chỉ làm ăn, dành dụm, đầu tư sinh lợi, có ai mà không là triệu phú chứ?

         Một buổi tiếp tân của một ngân hàng vừa mới khai trương 2 tháng, chủ nhân là tỷ phú Stephen Gordon, người Do Thái, ở Newport Beach. Orange County gồm có 34 thành phố, Newport Beach là một thành phố giàu trong 6 thành phố của quận này. Buổi tiếp tân của ngân hàng Genesis, quan khách tham gia khoảng 300 người, trong đó có 10 tỷ phú: 1 tỷ phú người Mỹ gốc Việt là ông Frank Jao, còn 9 tỷ phú kia là người Mỹ đến từ Âu Châu. Tỷ phú Steve Mihaylo đã tặng cho đại học Cal State Fullerton 35 triệu để xây thêm phòng ốc cho sinh viên, và tỷ phú Frank Jao đã từng là Founder của đại học Fullgright.

         Trước khi buổi tiếp tân bắt đầu, tỷ phú Stephen Gordon tiếp chúng tôi gồm có 5 người khách: 2 vợ chồng luật sư ở Los Angeles, 3 người Việt Nam là khách. Chủ Tịch cũng là giám đốc điều hành của ngân hàng Genesis cho chúng tôi biết ông sẽ mở thêm 15 chi nhánh, Newport Beach là trụ sở chính. Tỷ phú giám đốc điều hành ngân hàng là người Mỹ, gốc Do Thái đến từ Âu Châu, tiếp chúng tôi với tư cách truyền thông được mời. Với sự tham dự của 11 người trong ban điều hành rất quan trọng, những người này có 25 năm kinh nghiệm trở lên. Trong 11 người lãnh đạo nhà băng này có một ông Mỹ hãnh diện giới thiệu vợ ông là người Việt Nam, người Đà Nẵng. Ông khen vợ ông hết mình, vợ ông hiền lành, làm thẩm mỹ, nhà ở Los Angeles. Ông đang làm ở Los Angeles mà đến Newport Beach để làm việc với tỷ phú Gordon. Những người được làm việc với nhà băng mới này phải thật giỏi, đương nhiên là lương rất cao.

         Đặc biệt nhà băng Genesis không cho mượn tiền mua nhà, chỉ cho mượn tiền mua chung cư từ 5 đơn vị trở lại, hoặc shopping center. Người Do Thái ở khắp nơi trên thế giới giàu nhờ đầu tư vào bất động sản, nhà băng, Hollywood, v.v.

         Những người đầu não của nhà băng Genesis là bà Jamie Carter, phó giám đốc đặc trách về điều hành, ông Bob Bihr, phó giám đốc về định giá nhà, ông Christopher Ware đặc trách về hành chánh, ông Brian Fitxmaurice lo về tín chỉ, ông Andy Gallardo, luật sư, bà Lauren Dibiase, đặc trách về tìm khách hàng, Jenny Simmons, giám đốc điều hành, và Will Han, giám đốc tài chánh. Ngoài truyền thông Việt Nam, có nữ ký giả người Phi Luật Tân tên là Cora M. Oriel làm cho báo Asian Journal, v.v.

         Người Do Thái đi đến đâu đầu tư về nhà đất, shopping, hột xoàn. Ở New York những tòa nhà cao nhất ở Times Square chủ nhân là người Do Thái, cửa hàng hột xoàn chủ nhân cũng là người Do Thái. Họ hướng về quê hương của họ, tuy họ ít người hơn các sắc dân khác nhưng họ có quyền lực vì họ giàu, họ không làm chính trị nhưng họ ủng hộ đồng hương của họ làm chính trị hoặc người địa phương làm chính trị. Quê hương của người Do Thái không lọt vào tay kẻ thù vì có những người Do Thái lưu vong yêu thương quê hương của họ và hết lòng giúp đỡ quê hương của mình.

         Tỷ phú Stephen Gordon có rất nhiều năm kinh nghiệm trong ngành ngân hàng. Ông đã từng điều hành cho nhiều nhà băng như Opus Bank, Commercial Capital.

         Tỷ phú Frank Jao nói về tỷ phú Stephen Gordon như sau:

         – Ông Gordon có kế hoạch, có kinh nghiệm nhiều năm trong ngành ngân hàng. Tôi tin trong 3 năm nữa ông sẽ phát triển mạnh mẽ ngân hàng này.

         Tôi cũng tin như thế vì một người có 35 năm kinh nghiệm trong nghề nghiệp, lại là tỷ phú, quyết tâm làm việc thì thế nào cũng thành công. Tiền sẵn trong tay, mướn người giỏi, trả lương cao thì thế nào cũng thành công theo ý muốn.

         Người Mỹ gốc Việt tham dự buổi tiếp tân này không nhiều như ông Frank Jao, Đức Nguyễn, John Dương, Peter Nguyễn, Kiệt Nguyễn (đến từ Sacramento), Như Hảo, Minh Nguyễn, Mindy, v.v.

         20 món ăn đãi khách, thức ăn Việt Nam của chủ nhà hàng là Việt Phạm, cháu nội của chủ báo Trắng Đen là ông bà Việt Định Phương. Người trẻ này rất thành công và làm việc từ thiện rất nhiều trong mùa dịch cúm này.

         Người Do Thái ở khắp nơi trên thế giới, ở nơi nào họ cũng giàu, đoàn kết, yêu thương quê hương của họ. Tình báo của họ rất giỏi, tại sao người Do Thái làm ở Ngũ Giác Đài mà không có người nào chết khi bị dội bom, vì cộng đồng của họ biết trước. Cộng đồng của họ thông báo cho người Mỹ gốc Do Thái biết trước, không đi làm ngày hôm đó nên tránh thiệt mạng.

         Hiện nay người Việt Nam tị nạn khắp nơi trên thế giới, nếu chúng ta yêu thương nhau, đùm bọc lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau, giúp cho người trẻ vào dòng chính, hành pháp, lập pháp và tư pháp thì cộng đồng tị nạn Việt Nam rất mạnh. Người Việt Nam ở hải ngoại giúp đỡ người trong nước, người Việt Nam thương người Việt Nam như người Do Thái thương người Do Thái, thì thế nào đồng bào của chúng ta cũng sẽ có sức mạnh để đương đầu với giặc Tàu trong nước.

         Người Việt Nam tị nạn đầu tư vào địa ốc nhiều lắm. Người Do Thái rất thông minh cứ 2 người thì có một người tốt nghiệp đại học 4 năm. Người Việt Nam rất chăm chỉ làm ăn, chăm chỉ học thì người Việt Nam sẽ làm nở mày nở mặt ở xứ người. Mỗi năm người Việt Nam ở hải ngoại giúp về cho bà con của mình 18 tỷ Mỹ kim, với số tiền giúp cho bà con của mình để sống, cho con cháu đi học, thế nào tuổi trẻ cũng vươn lên, thế hệ sau sẽ khá hơn thế hệ trước.

         Bác sĩ Tâm Nguyễn, người Việt Nam duy nhất là Board Directr của ngân hàng Genesis.

         Bác sĩ Tâm Nguyễn nói:

         – Đây là ngân hàng duy nhất bỏ vốn ra 57 triệu. Tất cả nhân viên muốn làm cho ngân hàng Genesis phải có nhiều năm kinh nghiệm. Tôi rất hân hạnh được chọn vào hội đồng quản trị, là người Châu Á duy nhất. Với một ngân hàng toàn là người có kinh nghiệm, có lãnh đạo giỏi thì nhất định phải thành công. Những người có kinh nghiệm làm việc ở đây đến từ những ngân hàng khác như Bank of America, Chase, từ San Bernardino, Riverside, Los Angeles County thì nhất định phải thành công.

         Sự tự tin ở người trẻ này vươn lên từ ánh mắt, từ giọng nói hùng hồn.

         Mở cơ sở thương mại với số vốn quá nhiều trong lúc dịch cúm Covid Delta đang hăm dọa thật là người có can đảm, nhưng khi đã nói tỷ phú, tỷ tức là 1,000 triệu thì số vốn bỏ ra 57 triệu đâu có nghĩa gì đối với một tỷ phú?

         Chúng tôi chúc ngân hàng Genesis thành công, trong nhà băng này có người trẻ Việt Nam lãnh đạo trong hội đồng quản trị.

         Chúc lành, chúc lành và chúc lành.

Orange County, 12/10/2021

KIỀU MỸ DUYÊN

(kieumyduyen1@yahoo.com)




Dấu Chân Tình Hè

Minh Thúy

Bao nhiêu giai đoạn lo âu lần lượt từ khi dịch bệnh Covid-19, giờ lại nghe tin tức những biến thể Delta. Chúng tôi gồm có chị Đỗ Dung, chị Phương Hoa, chị Lê Diễm tin tưởng mình đã chích 2 liều Pfizer hoặc Moderna nên có ý làm cánh chim bay theo trời hạ, sau khi được chị Phan Lang mời về thăm nhà mới của chị ở “Thành Phố Lướt Sóng” tại Mỹ, nơi có bãi biển Huntington Beach xinh đẹp.

Tôi có nhân duyên được trang chủ Minh Châu Trời Đông gồm chị Ngọc Hà và chị Đỗ Dung làm moderator và Cô Gái Việt là bà bầu Phương Thuý mời gia nhập hội. Đặt biệt hai hội này dành riêng giới phụ nữ, chị em sinh hoạt tâm tình, làm thơ nối đuôi chung đề tài nào đó hoặc vốn liếng thơ văn, nhạc rất dồi dào, gởi cho nhau đọc và nghe giải trí. Tiếp theo tôi được chủ tịch hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Vùng Đông Bắc là chị Hồng Thuỷ mời nhập hội viên, từ đó tôi quen chị Phan Lang, một phụ nữ Việt Nam đầu tiên gia nhập quân đội Mỹ với chức vụ Trung Tá, người đàn bà tài sắc vẹn toàn. Chị có bản tính lạc quan, mạnh mẽ hay nghĩ thoáng về mọi chuyện, quyết định nhanh chóng và năng nổ trong các việc. Khi nhớ những kỷ niệm buồn, duyên phận dang dở với người chồng xấu số của chị đã qua đời, nhớ về quê hương đang đau khổ hoặc nhớ thương cha mẹ già ở bên kia quả địa cầu… thì chị dâng lên cảm xúc tràn trên những bài thơ đọc rất buồn và cảm động.

Được biết chồng chị là anh Phạm văn Diên, một cựu thiếu tá trước 75 đã từng chỉ huy chiến hạm PGM615 (loại nhỏ). Đến Mỹ năm 75 anh chị đã làm đủ nghề sinh sống như thợ mộc, thợ hồ, rửa bát đĩa cho nhà hàng, nhổ cỏ, hái trái cây, trông nom trại gà. Anh Diên hoạt động hăng say cùng thân hữu vận động thành lập hội Ái Hữu người Việt đầu tiên tại Columbia, mở trường dạy Việt Ngữ, tổ chức lễ hội truyền thống, Tết Trung Thu, Tết Nguyên Đán, tranh đấu nhân quyền, tự do ở Việt Nam, gây quỹ cứu thuyền nhân…v…v…

Anh chị vừa làm vừa theo học chương trình đại học tại University of Maryland, Eastern Shore. Chị tốt nghiệp 2 bằng cử nhân, trong đó có bằng Nutrition và Dietetics (dinh dưỡng học), chị vẫn tiếp tục học lên thạc sĩ, và chị chọn chương trình Army (Quân Đội).

Anh Diên mất năm 1985 vào dịp lễ Độc Lập, trong buổi tiệc picnic ở bờ biển Foley Beach, SC nằm cách Columbia 3 tiếng đồng hồ lái xe từ nhà anh chị, vì trẻ con bị sóng cuốn, anh cứu con cùng vài trẻ khác sống, nhưng anh đã bỏ mạng, thượng nghĩ sĩ South Carolina (thời đó ban bằng khen cũng như báo chí, mọi người thương tiếc ngưỡng mộ xem anh như một vị anh hùng.

Năm 2002 chị “Phan Lang về hưu, các con đều ăn học thành tài. Chị lập gia đình với Barry (người Mỹ), trước kia là sĩ quan Không quân trong Quân Lực Hoa Kỳ, Barry học lại tốt nghiệp bằng PhD, dạy trường University of Hawaii vài năm, sau này làm việc cho US Navy/Submarine, công việc của Barry là Technical Director at Theater Antisubmarine Warfare Force US Pacific Fleet cho đến ngày về hưu. (Mời đọc bài phỏng vấn rất tỉ mỉ của ông Phạm Tín An Ninh về Trung Tá Phan Lang trên Google).

Hiện nay anh chị sinh sống trên hòn đảo Oahu / Hawaii. Thời gian gần đây vợ chồng chị về mua thêm căn nhà vùng Huntington Beach. Tánh chị thích sống với bạn bè, luôn tham dự họp mặt trung học trường Võ Tánh Nha Trang, bạn mấy diễn đàn MCTĐ, CGV kể cả VBVNHNVĐBHK. Chị mở lòng mời tất cả các chị em về nhà chơi không phân biệt, chỉ đến bằng cái tình thân thiện vui vẻ và cởi mở, chính thái độ hòa nhã nhiệt tình đó làm chúng tôi hứng chí. 

Bắc Cali gồm chị Đỗ Dung, chị Phương Hoa, chị Lê Diễm và tôi rủ nhau về. Ban đầu dự tính chị Lê Diễm lái xe, chị LD là người sinh hoạt năng nổ ngoài cộng đồng những việc lợi ích, viết báo, phóng viên, rất mạnh mẽ tài giỏi, nhưng chúng tôi cũng mong có người đàn ông thay phiên chị lái xe, vì còn lại ba người này yếu tay lái chẳng dám, cuối cùng bạn chị giúp lái phụ.

Đúng lúc tin tức cảnh báo những biến thể của Delta, ông xã chị Phương Hoa lo sợ hăm he “đi về phải cách ly nửa tháng”, chị im lặng âm thầm cuốn gói ra đi. Ông xã chị Đỗ Dung thấy vợ đi chơi với sự háo hức mạnh mẽ nên thương và chìu chuộng, anh cùng hai con đưa chị đến tập trung nhà tôi đầy vẻ khuyến khích. 

Chúng tôi khởi hành ngày 16/7 từ 12 giờ trưa đến hơn 7 giờ tối đến nhà chị Phan Lang. Chúc Anh và chồng đến thăm hẹn mai sẽ chở chúng tôi đi nhiều cảnh đặc biệt của LA, gặp lúc vùng LA có lệnh phải đeo khẩu trang, tính lui tính tới cũng hơi ngán nên dự định hủy bỏ. Chủ nhà dọn sẵn buổi tiệc tối gồm bánh bèo, bánh lọc, món xào chay, gỏi và bún bò. Phần đói lại thấy các món VN do một tay chị PL đứng bếp đảm trách, và vui quá với không khí ấm cúng nên ăn thật ngon miệng.

Barry (chồng chị PL) có nét mặt hiền hậu như tiên ông, ít nói và vô cùng lịch sự với khách. Phe đàn bà ham chụp hình nên chị PL kêu gọi Barry mãi hoài, ông mỉm cười hòa chung niềm vui của vợ trông rất dễ mến.

Đêm nói chuyện râm ran, thức dậy sớm tiếp tục nói, nghe các chị kể chuyện cùng không khí ăn hưởng, tinh thần tôi thấy sảng khoái chị lạ. Sáng các chị em phụ chị PL lột mít, lặt rau, còn chị PL đứng suốt buổi làm đủ món mới, bún xáo tôm thịt bò, nem chả, đổ bánh, nấu món chay cho chị Phương Hoa dùng. Bày ra một bàn xong, lại lẹ làng chớp hình, hối thúc chuyển hình qua các phone, mỗi người đều say sưa dán con mắt vào phone chẳng thiết ăn uống, cho đến khi có chị Như Hảo (đài Mẹ Việt Nam) và chị Kiều Mỹ Duyên (phóng viên chiến trường trước 75) đến thăm mới buông phone vào nhập tiệc.

Chiều có khách đến thăm, dùng chung buổi cơm chiều với món cá kho tộ, tôm thịt kho thật đậm đà, cứ thế vì vui, vì được ngồi chung nên ăn đến cứng bụng …tới đâu thì tới, lên cân thì mặc lên cân…Tối chị PL chở đi xem biển và khu shopping chốc lát, đêm về xem hình từ máy chị PL edit cẩn thẩn từng tấm một rất công phu.

Sáng kế tiếp thức dậy thấy cảnh nhà yên ắng, nghĩ chị PL có lẽ nấu ăn phục vụ bạn quá mệt, nên không dám thức dậy, chị em chạy ra biển lội nước nhìn từng đợt sóng trắng dập dồ thật đẹp, chị Lê Diễm đứng tập thể dục, chị Phương Hoa nhặt từng con sò màu đen, trắng, vàng xinh xắn dạt vào theo từng đợt sóng, tôi dầm chân dưới nước nhìn ngắm mây trời lửng thừng bay, nước xanh mát mênh mông thả hồn về khoảng thời gian đi vượt biên năm nào…

Tiếp tục chương trình các chị đi thăm bạn, có lẽ vì ăn chơi vui quá nên mọi người hồn tự đi xa, bước xuống quên khoá cửa xe, leo lên xe mò chìa khoá không có, chạy vào văn phòng chị Như Hảo tìm. Ghé khu Phước Lộc Thọ mua áo dài, giày dép mỗi người một bao lớn. Thỏa mãn xong, chị Lê Diễm đang cầm phone chị Đỗ Dung lấy địa chỉ, ghé vào nhà khác đón bạn chị, lúc trở ra xe nổ máy, chị Đỗ Dung tìm phone không thấy, chị Lê Diễm chạy trở vào thấy để quên trên bàn. Chị Kiều Mỹ Duyên gọi Lê Diễm không hay, nên gọi chị Phan Lang nhờ chuyển máy, chị PL đưa phone qua chị LD nói chuyện.

Ra về chia tay, ôm nhau bịn rịn hồi lâu, khi xe chạy được 2/3 đường về trong đêm tối, tình cờ chị Đỗ Dung mở phone đọc email, thấy chị Phan Lang nhắn “phone lạc đâu rồi, các chị xem giúp, PL không có internet connection cho TV, GPS cho xe, và không có số phone bạn bè dù dùng phone Barry để gọi”, chị Phương Hoa vội vàng dùng phone gọi số của chị PL thì nó reng trong túi xách của chị Lê Diễm!!! Đọc email vừa thương nhưng cũng mắc cười nghĩ trớ trêu nghịch cảnh, tiếng cười vỡ oang đến nghẹn vì không thể đè nén.  

Đến San Jose hơn 1 giờ sáng, chị Lê Diễm đầy tình cảm chịu khó chở chị Đỗ Dung về tận nhà. Anh Thọ ra đón mừng rỡ, chị Đỗ Dung chỉ chồng lấy các thứ trên xe xuống. Xe chạy gần đến nhà tôi thì chị Đỗ Dung gọi “Mình quên gói quần áo mua nơi khu Phước Lộc Thọ”!!!

“Tới rồi …tới rồi…” tiếng chị Lê Diễm thoải mái nói. Xe leo lên thềm đậu, chị Phương Hoa nhanh nhẹn nhảy xuống chuyền đồ của chị xuống mở sẵn xe và nhờ tôi chuyền qua, trong khi chị tranh thủ dọn thùng sách phía trên. Trước khi ra về chị PH kỹ càng kiểm lại các thứ mới phát hiện tôi bỏ …lộn các thứ trở lại xe chị Lê Diễm!!! (May mắn chị LD chưa về).

Ôi thôi …lứa tuổi này còn được đi xa, gặp bạn bè chị em là điều hiếm hoi và quý hoá, chứ cái đầu ai hình như cũng lơ lửng bay cao…hay tại vui quá nên dư âm vẫn còn ngây ngất những ngày bên nhau?!!!

Cám ơn chị Phan Lang đã bày tỏ tình cảm qua nghĩa cử thương yêu trải rộng cùng bạn bè, tất cả kỷ niệm sẽ được nâng niu giữ gìn trong ký ức như cất giữ tinh hoa đẹp trong cuộc sống

Bóng Mát Trường Xưa 

            Cuối tháng bảy, tin tức bên Việt Nam bị dịch Covid_19 lây lan nặng nề, trí óc bị chi phối, những việc làm theo dự tính của group trường học vẫn phải bước tới. Trước khi về Sacramento tôi nhờ ông xã chuyển tiền của chị em trong gia đình đóng góp, gởi về Huế cũng như Sài Gòn nhờ người nhà bên đó giúp đỡ những kẻ nghèo khổ hoặc người bán hàng rong, bán vé số bị bế tắt, trong lòng mới thấy nhẹ nhàng bớt ray rức là mình không vô cảm.      

Ngày xưa ngôi trường Nữ Trung Học Thành Nội nằm trong thành, học sinh ở ngoài thành học Đồng Khánh, ai ở trong thành học trường Thành Nội. Cô Tôn nữ Tiểu Bích làm Hiệu Trưởng thời đó đã bỏ công rất nhiều từ thuở khai sơ, khi trường Đồng Khánh quá đông không cung ứng đủ lớp học, ty giáo dục cho xây thêm ngôi trường nữ trong thành chỉ có đệ nhất cấp, lên đệ tam lại trở qua trường Đồng Khánh học tiếp, sau thời gian Cô Tiểu Bích vận động xin xây thêm lên đệ nhị cấp hoàn thành. Ngôi trường thọ được 10 năm cho đến tháng tư năm 75 thì thay tên và đổi hiệu trưởng.

Thời đó Cô xã giao bên ngoài rất lanh lẹ. Còn nhớ mỗi cuối kỳ nghỉ hè Cô xin được xe nhà binh đến chở học sinh đi biển Cảnh Dương, biển Thuận An, có lần tàu hải quân đón tại bờ sông Hương chở thầy trò đi thăm Điện Hòn Chén thật ngoạn mục. Cô luôn có những thông báo yêu cầu học sinh thêu khăn để nhà trường gởi ra tiền tuyến làm quà cho các anh chiến sĩ, hoặc dẫn học sinh vào thăm các anh bị thương nằm Quân y Viện trong Mang Cá, năm vừa qua Cô Tiểu Bích cùng Cô Thanh Loan (hiệu trưởng trường Đồng Khánh), phối hợp quyên góp cựu học sinh tiền gởi các anh Thương Phế Binh ở quê nhà, do các cựu học sinh bên đó chia nhau đến tận địa chỉ theo danh sách. Cô sống rất tình cảm, mùa đông thường đan len phát cho các học sinh nghèo, chính vì vậy mà chị Xuân Ba tuy chỉ học một năm và sau đổi vào Nha Trang, nhưng mối ân tình nhận chiếc áo len ngày ấy vẫn nằm trong trái tim của chị. Qua Mỹ chị vẫn trăn trở thương yêu Cô nên bỏ công tìm kiếm những đứa con trường Thành Nội lưu lạc trên xứ người liên kết và tổ chức những buổi họp mặt tình nghĩa. Cô Tiểu Bích và một số học sinh lọt ra nước ngoài ở rải rác. Năm nay Cô đã 84 tuổi làm bạn đời với một bác sĩ người Mỹ tên Fred, hiện ở tại thủ phủ Sacramento thuộc Bắc Cali. Tháng này là Sinh Nhật 89 của Thầy Fred.

Nói về tình nghĩa Thầy trò thật là tinh khiết chứa đựng tình thương, lòng biết ơn quý mến sâu đậm “nhất tự vi sư, bán tự vi sư”. Chờ đợi qua mùa dịch dự định một nhóm tổ chức về thăm Cô hiệu trưởng nay cũng lớn tuổi, ngày tháng qua mau nào ai biết hôm mai, nên muốn tạo cho cô niềm vui được lúc nào hay lúc đó.

SÁNG THỨ SÁU ngày 23/7 tôi cùng Thanh Xuân, Phương Chi và cô giáo Đạm Tuyết thuê xe Uber về nhà Cô Hiệu Trưởng, đặc biệt, Phương Chi từ San Diego tình cờ lên thăm con trên SF, ghé nhà tôi chơi, nghe về chuyến họp mặt liền đổi vé máy bay ở lại thêm hai ngày để đi chung. Từng đợt đến kế tiếp, chị Xuân Ba đến từ New York, chị Mễ Khuê từ Colorado, Hoàng Yến từ Texas, vợ chồng anh Tân, Dạ Điểm cũng như vài bạn đến từ Santa Ana. Tại Sacramento có 4 cặp vợ chồng khởi xướng nhiệt tình lo phần ăn uống trong mấy ngày. Vậy là học trò xông pha đại náo nhà Cô hiệu trưởng. Người ta thường nói “chật bụng chứ không chật nhà”. Cô và Phu Quân hân hoan đón chào tất cả. Chúng tôi chiếm giữ phòng ốc cho đến phòng khách, từ dưới thảm lên ghế sofa.

Chiều thứ sáu tập trung tay bắt mặt mừng. Thức ăn tràn ngập do bốn đầu bếp Kim Xuân, Huỳnh Thơ, Dạ Minh, Phạm Vinh tự tay nấu nào là miếng gà, nem chả, bánh lọc trần, bánh gói, bún bò chạo tôm, xôi trắng, xôi đậu đỏ, gà bóp rau răm, chè bột lọc, đậu xanh, và nhiều món lạ, chưa kể Dạ Điểm và rể Tân từ Santa Ana vác cả gia tài gồm bịch Vả to, hũ tôm chua bự lớn, giỏ trái cây, và nhổ cả vườn rau đem đến, Chị Thí anh Phước đặt áo đồng phục màu cam tặng và mấy chục đòn bánh tét, ngoài ra các chị em khác còn mang những món ăn vặt linh tinh, cô Đạm Tuyết mang mấy bịch kẹo chocolate lớn, lem thèm dân bị tiểu đường chơi.

Kể thêm hai cặp Dạ Điểm & Tân, Phước & Thí luôn làm người hùng nhiệt tình mọi việc từ tài chánh, vật chất cũng như công lao để chị em có những cuộc họp thật đầy đủ. Lần này Thao Thao bỏ công hướng dẫn cuộc vui với nhiều địa danh tuyệt vời.

Đêm nhộn nhịp ăn hưởng, nói chuyện râm ran, nói say sưa, nhắc nhở kỷ niệm thời đi học, nhắc tên Thầy Cô ngày ấy. Cô Tiểu Bích ngồi nhìn đàn con cười sung sướng và giỡn hết ga, rể Tân có một bụng chuyện tếu xổ ra làm chị em cười thắt ruột. Còn nhớ những lần họp mặt trước, chị Xuân Ba kể chuyện tiếu lâm, cô Đạm Tuyết nhăn mặt

– đừng nói rứa

Nhưng chị Xuân Ba không nghe và vẫn thao thao bất tuyệt, cô không biết gọi ai quay qua tôi

– Thuý…Thuý …mấy người ni …mấy người ni… chi… lạ…

Tức thì rể khác quay nhìn cô cười  

            – “Đừng nói rứa” thì mần răng cô cho ra những “nhi đồng cứu quốc” đó tề

Cô biết không trả lời được với lũ “nhất quỷ nhì ma thứ ba học trò” nên đành im lặng trong khi lũ này cười ngắc nghẻo. Có người còn nói

– “đừng nói rứa” chứ sau này sẽ có một ngày cô nói “kể nữa đi” cho mà xem

Giờ đây rể Tân kể đều đều cô Đạm Tuyết im lặng nghe và cười “hiểu rồi…hiểu rồi’ cô Tiểu Bích khoái trá nhái lại

– “đừng nói rứa” hay là “nói nữa đi”… ha…ha… “Đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy” 

Vì đề tài tạo những trận cười dòn dã nên rể Tân càng hăng hái, cống hiến thêm nhiều chuyện vui nữa.

SÁNG THỨ BẢY, Cô trò ra William B Pond Recreation Area trong William B Pond Regional Park, bên bờ sông American River, người khiêng kẻ vác thức ăn, các ông rể ra trước dựng lều che nắng. Vui hơn nữa có anh Luận & chị Dạ Minh, chị Yến, chị Hồng Soan và chị Minh Thu đến.

Chị em trường Nữ Thành Nội lại điệu đà trong tà áo dài tha thướt chụp chung, chụp riêng, làm mấy ông rể Tân, Phước, Hào, Huy và đặc biệt là rể Lâm chạy ê càng chiều lòng quý nữ. Chưa xong, …màn hai thay đổi xiêm y đồng phục quần trắng áo cam đứng ngồi nghiêng ngả, trong khi trời nóng trên 100 độ, mấy ông rể mồ hôi nhễ nhại thật dễ thương vẫn vui vẻ bị mấy bà la gọi ơi ới, khi hình chất như núi mới thỏa mãn bày biện thức ăn trưa. Chị Yến (khóa đàn chị) đem món bánh ướt chả lụa chay do tự tay chị làm thật ngon miệng. Thỏa mãn bao tử xong, cô trò xuống suối lội nước trong veo thấy từng viên sỏi, giòng nước mát rượi giữa trưa nắng hè, mọi người ngâm chân hưởng làn gió mát dễ chịu, rồi khoái quá ngâm mình ướt từ cổ đến chân.

Trở về nhà Cô Tiểu Bích…. chị em mệt lả, nằm nghỉ dưỡng sức cho tỉnh táo, chờ khoẻ chơi tiếp. Bốn chị em đầu bếp lại tiếp tục sửa soạn thức ăn khác cho buổi tối để mừng sinh nhật thầy Fred, đặc biệt chị Dạ Minh đặt món Tira Misu tại tiệm bánh Ettore’s nổi tiếng tặng cô thầy rất ngon, kế tiếp Huỳnh Thơ làm chè Khúc Bạch, tôi thấy món lạ quá nên muốn học hỏi, bạn cho biết loại chè này gồm có: Gelatine, Sữa Tươi, Sữa Đặc, trái cây (Xoài, Nhãn, Vải, Chôm Chôm, Strawberry… v..v…)       Đêm văn nghệ bỏ túi thân mật, có hai giọng ca hay nhất là rể Phước và Kim Xuân được yêu cầu hát hoài, tới khuya cuộc vui dừng lại để ngày mai chuẩn bị lên đường đi chơi nơi khác.

SÁNG CHỦ NHẬT mờ sương mọi người thức dậy chào nhau, tiếng nói râm ran, mùi cà phê thơm phức, chị Thí luôn là người nội trợ giỏi, đảm đang lo hâm nồi bún bò, cắt bánh tét phục vụ mọi người ăn sáng no nê. Đúng 9 giờ cả đoàn tập trung tại nhà cô Tiểu Bích. Xe chạy khoảng hơn 2 tiếng đến Hotel Tahoe Hacienda Inn thuộc South Lake Tahoe Meadows, ăn trưa xong chờ lấy chìa khoá phòng đẩy hành lý vào. Chúng tôi đi bộ ra biển, trên đường nhìn toàn những cây thông cao bao bọc dẫn đến bãi, khách đạp xe nhàn lãm, người đông trên biển, chị em lội nước vui chơi mấy tiếng đồng hồ rồi trở về thay đổi xiêm y chuẩn bị đi ăn tối. Một… hiền phụ chạy qua phòng tôi thở dài

– Mình đem hai bộ áo dài, ba bộ đầm nhưng quên mang giày dép

Tôi trố mắt 

– rứa thì khi leo lên xe mi đi chân đất à? mi ở Stockton chứ mô có xa

– mình…mình…quên 

Lại được trận cười nữa, chị em đem dư giày đưa thử, sau cũng có đôi mang vừa, 10 phút sau bạn tôi trong chiếc dress thật sang trọng, càng đẹp thêm nhờ bạn có dáng cao ráo, thon thả quý phái, cộng thêm lối nói chuyện nhẹ nhàng ngọt ngào với nụ cười luôn nở trên môi thoải mái. Ơi chao! đến cái tuổi …quên…quên đủ thứ xảy ra trong nhóm liên tục mấy ngày qua.

Thao Thao tìm ra quán Thai On Ski Run, trời đêm gió mát ngồi ngoài sân say sưa nói chuyện trong lúc chờ đợi, không ngờ quán đông khách quá, chúng tôi bắt đầu thấy đói bụng nhưng phải đợi hơn một tiếng đồng hồ thức ăn mới đem ra từ từ. Ngồi ăn cùng nhau không phải là điều dễ nên chúng tôi cảm thấy hạnh phúc lâng lâng biết quý những giây phút hiện tại.

SÁNG THỨ HAI đoàn tiếp tục đi tới Nevada Beach, bãi biển này vào cửa đóng $10 mỗi xe, nơi cắm trại với khung cảnh chung quanh là những cây thông cao vợi. Sáng sớm biển vắng người yên tĩnh, nắng hạ đang còn lưng chừng, một vùng sương mù bên kia những dãy núi, nước màu xanh ngọc dịu mát, bãi cát vàng mịn màng êm như nhung. Các chị em tha hồ tung tăng lội nước, chờ những con sóng nhào tới nhảy lên đầy thích thú. Nhìn Hoàng Yến nhảy liên tục dưới nước khiến tôi đầy kinh ngạc, vì đêm đầu tiên mới đến, Hoàng Yến vô ý bị vấp chân nơi bậc thềm va chạm mạnh, chân sưng vù, chị em hoảng sợ, người lấy đá, người lấy thau cho bạn ngâm chân, từ đó bạn đi cà nhắc từng bước và chân vẫn còn sưng…Đang còn ngơ ngẩn bỗng thấy Thanh Xuân chạy trên cát, có điều gì đó làm tôi khựng lại suy nghĩ chưa ra, sau sực nhớ Thanh Xuân bị gãy xương, một chân bắt vít ốc đã mấy năm, vì vậy Thanh Xuân không thể tham dự những cuộc họp mặt vì hễ chân đi bộ một đoạn là sẽ đau và sưng vù, lần này trước khi tham dự, Thanh Xuân cũng hơi lo chuyện đi bộ sẽ ảnh hưởng đến cổ chân…vậy mà bây giờ nhìn Hoàng Yến và Thanh Xuân chạy nhảy, thật hết sức ngạc nhiên, đến hỏi hai người có đau chân không? cả hai cười khì lắc đầu. Niềm vui giúp tinh thần mạnh mẽ đến như vậy, giúp vượt qua vết thương của thể xác đến không còn biết đau đớn gì, tôi mỉm cười như vừa tìm ra chân lý.

Vẫn tiếp tục đeo nhau xúm xít hành các ông rể chụp hình không biết bao nhiêu là đủ, có hai cặp còn ngồi lên lưng chồng nhờ rể khác chụp hình nữa…Vậy đó! toàn những cô nữ sinh Thành Nội một thời áo trắng đội nón bài thơ, tan trường như bươm bướm lượn hướng về cửa Đông Ba, cửa Thượng Tứ hay Cầu Kho, Tây Lộc hoặc trên đường Phượng Bay có bóng mát êm dịu của hàng cây xanh, có hồ Sen tươi mát trước cổng Đại Nội. Nay tỵ nạn trên xứ người, gầy công cày bừa chăm nuôi các con ăn học nên người, đạt danh phận cao hãnh diện, giờ họ đã thành bà nội, bà ngoại cả rồi chứ đâu còn trẻ nhỏ, nhưng chị em bạn học cũ gặp nhau bỗng sống lại thời nghịch ngợm hồn nhiên. Ôi! cuộc gặp gỡ giữa tình thầy trò, tình bạn thật đáng giá níu lại tuổi thanh xuân và cũng sẽ được tăng tuổi thọ, tôi nghĩ vậy. 

Dọc theo bờ biển thong dong hưởng khí trời trong mát, nắng đã lên cao chiếu hồng rực rỡ, thương quá tiếng sóng rì rào êm ái. Thả mặc các bạn vẫn say mê chụp hình, tôi ngồi xuống duỗi thẳng đôi chân chờ những đợt sóng cuồn cuộn tấp đến, trời xanh dịu theo những cụm mây trắng nhẹ nhàng, biển mênh mông bát ngát, vài cánh buồm nhấp nhô xa tít đưa tâm hồn tôi trở về ngôi trường Thành Nội, nhớ bạn bè, thầy cô, số còn sống, số đã qua đời, cứ vậy miên man từ hình ảnh này qua kỷ niệm khác say sưa cho đến khi chị em gọi đi về.

Dọn dẹp hành lý check out ra về vẫn còn luyến tiếc khung cảnh Nevada Beach quá đẹp. Anh Tân và Dạ Điểm mời cả đoàn ăn trưa, muốn những người thổ địa vùng Sacramento chọn dùm nhà hàng, nghe cô Tiểu Bích và các em nói có nhà hàng Lemon Grass rất ngon cũng như khung cảnh lịch sự, nhưng rất tiếc thứ hai đóng cửa. Cô Tiểu Bích nhờ thầy Fred chọn dùm tên tiệm là Summer 52 nằm trong khu shopping rộng lớn. Tiệm dành cho cả đoàn theo sự đặt chỗ của thầy Fred vào gian phòng riêng biệt, cho nên phe ta lại hát hò, hợp ca thoải mái dù ồn ào vẫn không ảnh hưởng bên ngoài. Rể Tân trả tiền nhưng Cô Thầy đã thanh toán tự hồi nào làm anh khựng người chẳng nói nên lời. Tuy ăn trưa nhưng cũng kéo dài tới chiều thong thả.

Về nhà cô Tiểu Bích phát hiện mất chùm chìa khoá và các giấy tờ tùy thân, học trò lớp xổ tung vali cũng như túi xách của Cô ra tìm, lớp gọi phone liên lạc hotel nhờ kiếm giúp, vẫn không có kết quả, thầy Fred lên máy gọi cancel số các thẻ visa.

Đêm cuối cùng, cô muốn ngồi nói chuyện hoài dù cô Đạm Tuyết nhắc nhở bao nhiêu lần là “đã khuya rồi” 

Cô Tiểu Bích nói

– Rất vui vì cuối đời có được hạnh phúc bên thầy Fred, và thêm bầy học trò luôn xúm xít quanh cô, lại được chị Xuân Ba tìm kiếm thêm cựu nữ sinh, tổ chức những cuộc họp mặt đầy tình nghĩa thầy trò, hôm nay dù sau mùa dịch, chỉ là cuộc văn nghệ bỏ túi nhưng thật sự quá vui, trò chơi đâu kéo cô theo đó, có ai sung sướng bằng cô không?

Giờ khuya cả nhà ngủ say, thầy Fred nghe tiếng nước chảy ầm ầm sau vườn, dậy phát hiện ống nước bể, rể Tân thức theo phụ hứng nước nhiều bình trước khi khoá ống.

SÁNG THỨ BA thức sớm, Cô lo nước và bánh trái cho chúng tôi bới theo, Dạ Điếm và anh Tân cùng về một lượt. Tôi muốn học tánh Cô dù gặp xui xẻo điều gì, Cô vẫn nhanh chóng đẩy lùi nhường bước cho sự vui vẻ và nụ cười lạc quan tiếp tục, Thầy Cô chở ra bến xe đò Hoàng, chúng tôi leo xe ngồi thúc giục cô trở về, nhưng thầy cô vẫn đứng đợi cho đến khi xe chạy.

Chuyến đi như được hồi sinh lại cuộc sống, tươi vui trọn vẹn. Trước tiên em cám ơn thầy Fred và cô Tiểu Bích, đã để tụi em tới phá nhà phá cửa, ăn sạch hết tủ lạnh, và buổi cuối được thầy cô đãi ăn nhà hàng đắt tiền, cám ơn Huỳnh Thơ và anh Minh, Phạm Vinh và anh Huy, Chị Dạ Minh và anh Luận, Kim Xuân và Lâm đã lo phần thực phẩm ê hề, cám ơn chị Thí anh Phước, Dạ Điểm anh Tân cung cấp thêm thức ăn ngập mặt, thương lắm những người ở xa đầy nhiệt huyết như chị Mễ Khuê, chị Xuân Ba và Hoàng Yến cùng các chị em khác đã góp mặt, cám ơn Thao Thao tìm tòi những phong cảnh đẹp, thuê khách sạn, sắp xếp tổ chức chu đáo và người quan trọng nữa là cô Đạm Tuyết đã kêu gọi, liên lạc thông tin gói trọn niềm vui dâng đến Cô Tiểu Bích của mùa hè 2021.

Ngày Hè Của Lính

Chủ nhật ngày 8 /8 quý hội đoàn cựu quân nhân tổ chức buổi picnic tại Lake Cunningham Park tại thành phố San Jose (Bắc Cali). Ngày rực nắng họp mặt vui chơi văn nghệ. Nhìn các chú, các anh trong mọi binh chủng QLVNCH, mái đầu điểm sương trắng, có chú đi chậm chạp chống gậy vẫn cố gắng tham dự để gặp bạn hữu tìm kiếm niềm vui tuổi già, tôi đi quanh quan sát và thật sự xúc động nhìn họ tay bắt mặt mừng với nét mặt rạng rỡ.

Tôi hồi tưởng đến những ngày xa xưa, thời nữ sinh mặc áo dài trắng cắp sách đến trường, thì các anh phải xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ theo tiếng gọi non sông, thời các anh chiến đấu dũng cảm với quân thù để bảo vệ đất nước, cho chúng tôi 20 năm sống trong tự do no ấm. Đối với tôi người lính VNCH ngày ấy quá hy sinh công lao xương máu cho tổ quốc thật kiên cường. Biết bao nhiêu trận chiến thắng từ trong Nam ra đến miền Trung, tôi nhớ có lần được cô Hiệu Trưởng điều động học trò ra Phu Vân Lâu,  dưới sự sắp xếp hướng dẫn của các nữ quân nhân để choàng vòng hoa chiến thắng cho các anh trong trận đánh tại Quảng Trị, cảm giác hồi hộp e dè đứng trước mặt người lính, nhạc vang rộn ràng  “ Vòng hoa chiến thắng, chúng em xin dâng tặng anh …” cho đến khi nhạc ngừng với tiếng nói trên loa “Các em nữ sinh choàng vòng hoa chiến thắng cho các anh chiến sĩ VNCH “, tay tôi run run pha lẫn chút mắc cỡ mà trong lòng vui theo niềm vui của các anh. Bên cạnh đó chiến tranh cũng đem đến nỗi đau khổ cho người lính Thương Phế Binh, hay những vị anh hùng tử trận, đã để lại bao nhiêu hình ảnh bi thương cô nhi quả phụ mặt còn non trẻ đã quấn vành khăn tang ẵm con thơ đi đầy đường.

Sau 75, miền Nam thất thủ lại càng điêu đứng cảnh vào tù, những người vợ khổ cực gánh gồng bươn chải thật tội nghiệp. Nay nhờ sự ân huệ cứu giúp của đất nước Mỹ, một phần lớn Cựu Quân Nhân VNCH và gia đình được qua Mỹ tỵ nạn. Nhưng trong lòng các anh vẫn mang nỗi buồn nhục khôn nguôi, dù vậy, các anh chị vẫn bắt tay vào đời sống thực tế, làm lụng nuôi con. Thế hệ con cháu nay đã thành danh rạng rỡ trên xứ Mỹ, thì người cha bắt đầu mỏi gối lưng còng, tuy vậy họ vẫn vận dụng tối đa sức lực bằng cách tổ chức gây quỹ hay quyên góp tiền bạc để chia sẻ các anh TPBVNCH còn lại ở trong nước.

Nhìn những khuôn mặt già nua tươi cười, có số mặc lại bộ quân phục ngày nào, họ chào nhau, ngồi lại với nhau từng nhóm trò chuyện ăn uống, tôi cảm nhận ra mình cũng đang vui theo niềm vui của các chú các anh. Nhóm chị em chúng tôi góp hai tiết mục hợp ca bài “Việt Nam” và “Cô Gái Việt” cũng như hát chào cờ. Mùa hè nhen lên sinh khí yêu đời của một ngày nắng rực rỡ, tạm quên nỗi lo lắng về dịch Delta…

Lễ Vu Lan 

Mùa báo hiếu đã đến, nhận nhiều thư mời dự từ các Chùa, trước tiên tôi đến Chùa Phổ Từ đúng ngày rằm tháng bảy. Không khí Chùa vẫn còn e dè theo dịch bịnh Covid chưa xong nay lại thêm nạn Delta. Rằm tháng bảy niềm tin của người con Phật theo câu chuyện ngài Đại Hiếu Mục Kiền Liên, chỉ biết làm phước và hồi hướng công đức cho cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp cũng như hiện tại luôn được siêu thoát vãng sanh về cõi Tây Phương Cực Lạc, cầu nguyện nạn dịch Covid -19 đi khỏi cho nhân loại nói chung và Việt Nam nói riêng được nhận mọi sự bình an trở lại, nhất là quê hương dân hiền đang đói khổ thảm hại. 

          Quý Thầy cho thời pháp về câu chuyện của ngài Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát, tứ chúng bịt khẩu trang ngồi tụng kinh thành tâm, các em gia đình Phật tử Chánh Hoà mừng ngày kỷ niệm 16 năm thành lập, gia đình Phật tử Chánh Tâm sau giờ hành lễ, tề tựu trong chánh điện thưởng thức màn trình diễn âm nhạc đặt biệt của cô Vân Ánh Võ và dàn nhạc Trăng Máu (Blood Moon Orchestra),  một chương trình âm nhạc miễn phí  dành cho cộng đồng với sự hỗ trợ của rất nhiều cá nhân và các quỹ văn hoá của tiểu bang: Vietnamese Educational & Cultural Association (Veca), Alliance for California Traditional Arts (ACTA), California Arts Council (CAC), Vietnamese American Non-governmental Network(VANGO), và quỹ hỗ trợ tài năng trẻ của chính họ lập ra: “Music Bridge” . Mọi người được thưởng thức bé Kira đàn bài “Lòng Mẹ”, cô Vân Ánh bài “Mưa Trên Phố Huế”, dân ca miền Trung… v…v… thật hay và thấm thía. Mùa thu lãng vãng đó đây theo luồng gió mát, bóng nắng yếu ớt mơn man những giàn hoa vàng, đỏ tươi thắm, mùa hạ sắp ra đi, nhưng tình hạ đã để lại trong lòng tôi những kỷ niệm thân thương nhẹ nhàng vô cùng.

                                                                   Minh Thuý Thành Nội 2021




LÀM THẾ NÀO ĐỂ THÊM BẠN BỚT THÙ?

KIỀU MỸ DUYÊN

          Ông bà mình thường dạy con cháu: thêm bạn bớt thù. Câu này tôi thuộc lòng. Tôi thường nói với các chuyên viên của tôi: mọi người trong chúng ta chỉ có một cha, một mẹ sinh mình ra là thương mình, nhưng làm thế nào ra đời được nhiều người thương mới là chuyện khó? Chỉ có Trời hại mình, mình mới chết, còn như mình sống thật thà ngay thẳng, nếu có người bắt nạt mình thì sẽ có người khác bênh vực ngay. Cho nên sống làm sao để cho người khác thương thì nhất định không sợ đói.

          Mình chào mọi người bằng nụ cười hồn nhiên, đâu có mất gì đâu, tại sao không cười chứ? Nụ cười hay tiếng cười đem sự vui vẻ, thân thiện với người khác, tại sao không cười chứ? Tôi thích nhìn nụ cười, tôi thích nghe tiếng cười reo vui của người xung quanh tôi, ai cũng thích vui, không ai thích nhìn người khác khóc, tiếng khóc thường đem đến cho người khác buồn phiền.

          Một hôm đẹp trời, cô thư ký của tôi cho cá ăn, và nói:

          – Kiếp sau con sẽ làm cá, cá ăn rồi bơi lội nhởn nhơ, mỗi ngày có người đem thức ăn đến, cuối tuần có người lau chùi bồn cá, để cho nước trong veo. Làm cá sướng hơn làm người, suốt đời có người cho ăn, thảnh thơi bơi lội.

          Tôi nói:

          – Đây là cá kiểng cho người ta ngắm. Ở trong các nhà hàng có cá lội nhởn nhơ, hay tôm hùm cũng bơi lội nhưng khách đến, nhân viên của nhà hàng đem cá sống đến và nói với khách: ông bà có thích con cá này hay con tôm hùm này không?

          Thế rồi, con tôm, con cá bị chặt đầu, lột da đem lên lò lửa. Than ôi, xong đời con cá, con tôm hùm.

          Nhiều khi con tôm, con cá mới vừa chào đời một vài ba tháng đã vào bụng khách hàng.

Cá kiểng nhởn nhơ bơi lội vì có người chăm sóc.

          Tuổi trẻ ở Mỹ bây giờ cũng thích ăn chay. Ăn chay không phải vì đạo, nhưng ăn chay vì tránh sát sinh. Tôi rất ngưỡng mộ người trẻ ăn chay một cách ngon lành. Có nhiều người ăn chay không quen, ăn một cách miễn cưỡng, vì không muốn làm mất lòng người khác đã mời mình.

          Sống ở đời làm vừa lòng người khác rất khó, vì mỗi người một tính, cùng cha mẹ nhiều khi anh chị em còn khác tính nhau, nói chi người ở ngoài gia đình.

          Người thích uống trà nóng, người thích uống nước lạnh, nên tôn trọng ý kiến lẫn nhau, đừng làm phiền người khác, nhất là đừng để ý đến đời tư của người xung quanh, dù người đó là bạn của của mình hay người thân trong gia đình của mình.

          Sống để cho người xung quanh thương rất khó, làm cho người ta ghét mình thì dễ, chỉ cần một câu nói, một cử chỉ, hay ánh mắt có thể làm cho người ta giận mình, ghét mình.

Thêm bạn bớt thù: hãy khoan dung.

          Một người bạn suốt đời làm việc xã hội thường nói với tôi:

          – Mình làm cho người khác 99 điều tốt, họ rất hài lòng, chỉ cần làm một điều họ không bằng lòng là họ ghét mình ngay, và những điều mình làm tốt họ đổ ra sông ra biển.

          Tại sao người ta thích nuôi chó, chó không nói, chỉ biết sủa nhưng rất trung thành với chủ. Chủ chết, chó ra mộ của chủ nằm dài, để chứng tỏ lòng trung thành, còn con người mau quên lắm, người chết rồi vài năm sau có ai còn nhớ mình?

          Tôi nói:

          – Bạn bi quan quá, đâu có đến đỗi như thế.

          Trung Tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn qua đời đã mấy năm rồi nhưng mỗi lần đi ngang qua con đường Westminster, công viên của Garden Grove, tôi đều nhớ đến chị Hạnh Nhơn, nhớ ánh đèn sân khấu, nhớ đến Đại nhạc hội Cảm Ơn Anh Người Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, nhớ đến thương phế binh, cô nhi quả phụ ở quê nhà.

          Người mang ơn người vẫn ở trong lòng người còn hiện hữu quanh đây. Một người quên thì còn 99 người nhớ, nhớ cả người tốt lẫn người xấu. Nhà độc tài Hitler đã chết lâu rồi nhưng người sinh thời vẫn nhớ sự độc ác của nhà độc tài này.

          Sống làm sao để người khác thương? Hãy thêm bạn bớt thù.

Thêm bạn bớt thù: hãy tha thứ.

          Những đứa trẻ được ông bà, cha mẹ giáo dục một cách cẩn thận, sống với trái tim nhân hậu của mình, sống được thương yêu và dạy bảo thương yêu người khác, khi đứa trẻ lớn lên, nếu được giáo dục kỹ lưỡng, sống với trái tim nhân hậu của mình, chia sẻ những gì mình có, giúp người xung quanh những gì họ cần, thì làm sao mà không được thương yêu chứ?

          Đừng bao giờ dạy con cháu của mình: con ăn thức ăn này ngon, mặc áo này đẹp, đi xe này sang trọng, mà hãy dạy những đứa trẻ: con hãy thương yêu người nghèo, khi thấy một cụ già đi chợ, con có thể khuân thức ăn dùm các cụ vào xe, hãy dìu dắt cụ già qua đường; vào trường học, nếu con thấy bằng hữu của con không mang theo thức ăn trưa, con chia sẻ thức ăn của con với bạn bè của con, con hãy sống với trái tim nhân hậu của mình.

          Rồi từ từ đứa nhỏ lớn lên, những điều học hỏi từ nhỏ, đứa trẻ thương yêu người xung quanh và được thương yêu, nhất định đứa trẻ sẽ thành công trong xã hội này.

          Không ai sống một mình, mà thường sống với mọi người. Còn nhỏ thì sống với ông bà, cha mẹ, khi lớn lên sống với vợ chồng, hay sống với đoàn thể, sống với công ăn việc làm, sống làm sao cho vui, sống được thương yêu và thương yêu người khác. Nhất định trong đời sống của chúng ta không nên gieo rắc oán thù, không thù ai thì lòng mình sẽ bình thản, hạnh phúc. Sống làm sao buổi tối về nhà trong lòng mình thanh thản, ngủ ngon. Nhất định không nhìn ai với ánh mắt thù hằn. Thù người khác để làm gì chứ? Mệt cái đầu lắm? Nếu sống không để ai thù mình, tốt nhất là không nghe, không thấy và không nói: không nghe những gì xấu của người khác, không nói những gì làm phiền người khác, không thấy những gì người khác làm không tốt. Nếu làm được 3 điều này, nhất định sẽ không gây thù, gây oán với ai?

Nếu sống không để ai thù mình, tốt nhất là không nghe, không thấy và không nói.

          Ông bà mình thường nói: lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. Ông bà, cha mẹ dạy con cháu giống nhau, người nào cũng học nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, v.v. nhưng học xong có thực hành được hay không còn tùy từng người, có người nghe từ tai này rồi sang tai kia, nghe rồi quên ngay.

          Nếu người nào cũng nói năng một cách khéo léo, khéo nhưng phải thành thật chứ không phải nói ngọt như đường, như mật lịm nhưng nói vậy không phải vậy. Nếu lời nói thành thật từ tâm của mình mà ra thì người nghe sẽ cảm nhận được những gì mình nói là thật sẽ cảm kích lắm.

          Giúp người cũng vậy, giúp xong quên ngay, thi ân bất cầu báo, nhưng nếu mình nhận sự giúp đỡ của người khác thì mình phải nhớ, dù người làm ơn cho mình không cần báo đáp. Mình giúp người này thì sẽ có người khác giúp cho con cháu của mình. Sống được người thương thì đi bất cứ nơi đâu trên quả đất này cũng không sợ đói.

          Một thương gia thường tâm sự với tôi:

          – Chị ơi, em không sợ gì hết, không sợ nắng gió, bão táp của cuộc đời, nhưng em sợ người ta ghét em. Nhiều khi mình nói lỡ lời bị người ta thù mình, dù vô tình cũng thế. Nhất là em sợ làm mất lòng người thân.

          Tôi đề nghị:

          – Mỗi buổi tối, sau khi em tập thể dục, em nên suy nghĩ ngày hôm nay mình có làm mất lòng ai không? Ghi ra những lời mình nói, những việc mình làm có thể làm mất lòng người khác. Nếu ngày nào mình cũng kiểm điểm việc làm của mình thì mình sẽ đi đến hoàn hảo. Buổi tối, em cầu nguyện trước khi đi ngủ thì nên kiểm điểm lại chính mình trước khi cầu nguyện. Cầu nguyện cho tất cả những người thân yêu của mình được bình yên, đồng bào của mình được may mắn và hạnh phúc.

          Tôi thường viết ra những việc làm hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng và những người tôi sẽ gặp, sẽ gọi điện thoại, làm việc gì tôi viết ra giấy, một ngày viết ra chừng 20 việc phải làm, những việc chưa làm hết  ngày hôm nay thì hôm sau tiếp tục làm cho xong. Một cuộc đời mấy chục năm nghe dài lắm nhưng thật sự quá ngắn vì có những mơ ước chưa thực hiện được, có những việc làm chưa xong. Có một việc duy nhất mà ông bà, cha mẹ dạy cho con cháu là thêm bạn bớt thù, sống phải thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau. Có ai tự hào mình làm được tất cả những gì mình mơ ước trong cuộc đời này?

Kiều Mỹ Duyên mơ ước những đứa trẻ ở các nước đang phát triển có đủ cơm ăn, áo mặc, và được giáo dục một cách cẩn thận.
(Kiều Mỹ Duyên thăm cô nhi viện ở Cà Mau)

          Thôi thì sống có mơ ước hơn là không có mơ ước gì, thực hiện được hay không còn tùy từng người. Riêng tôi, tôi mơ những đứa trẻ ở các nước đang phát triển có đủ cơm ăn, áo mặc, được giáo dục một cách cẩn thận. Những đứa trẻ là hình ảnh của thiên thần, những đứa trẻ lớn lên vào đời, sẽ sống hạnh phúc, giúp người và giúp đời.

          Nếu chúng ta sống với trái tim nhân hậu, yêu thương mọi người, không làm mất lòng ai thì đời sống sẽ vui và hạnh phúc hơn. Chúng ta sẽ nhìn thấy nhiều nụ cười hồn nhiên trên khuôn mặt mọi người hơn là nhìn những khuôn mặt nhăn nhó, giận hờn, mắt trợn dọc dữ dằn. Đời sống sẽ êm đẹp hơn nếu được thương yêu và có nhiều bằng hữu hơn kẻ thù.

          Mong mọi người đến với nhau bằng sự yêu thương, đùm bọc hơn là đến với nhau bằng sự thù hằn?

          Xin Thượng Đế ban phúc lành cho tất cả mọi người.

Orange County, 14/9/2021

KIỀU MỸ DUYÊN

(kieumyduyen1@yahoo.com)




CHIẾC ÁO BÀ BA – TS Mai Thanh Truyết

Chiếc áo Bà Ba

Vừa chuyển lên FB và gửi qua email chia xẻ cùng bè bạn bài tản mạn vui về…Những tam giác thiên thần, có nhiều phản hồi từ khắp nơi như sau:

  • Một chiến hữu già từ Paris viết qua:”Sao toa lại khều “Chống Tàu Diệt Việt Cộng” vào đây làm loãng đi tính dí dỏm của bài viết?”
  • Có một người bạn khác trên FB tuổi trên dưới 60 (do một người bạn khác cho biết) phán:””Em” tức tác giả còn quá trẻ trung”.
  • Một người bạn trong Nhóm chụp hình COFFA cho ý kiến:”Ha ha, anh bấy giờ lại có ý nghĩ …lợn cợn rồi đây. Ý nói là kỷ niệm xưa của tam giác tt thôi bác ah!!! nhớ ngày xưa các nữ sinh trung học phải mặc áo lót phía trong áo dài nữa, nên tam giác tt phải đợi tới cuối tuần!!!”
  • Nhận định của một nữ nhân trên FB:”Cám ơn anh những nhận định về tam giác thiên thần bên chiếc áo dài VN, một nhận định không giống phàm phu tục tử mà nó thuộc hàng tao nhân mặc khách. Hiện nay giới trẻ họ thích cách tân nhưng áo dài truyền thống với tam giác thiên thần vẫn còn hiện diện xuất hiện nhiều nhất ở các con chiên đi lễ nhà thờ Công giáo.”
  • Một người trẻ khác góp ý:”Chiếc áo dài với tam giác thiên thần của tác giả hiện giờ đã thành hiếm lạ tại quê nhà rồi, người ta chỉ thích Tây đầm cho sang trọng thôi!?”
  • Một nữ nhân vui tính viết lên mạng:”Mới đọc đến hình tam giác đã …hết hồn rồi.”
  • Một BS ở Việt Nam, Đại diện cho Quỹ Khuyến học Cao Đài xuất khẩu thành thơ:”Thấp thoáng em về trong giấc mơ – Chập chờn áo lụa tóc buông hờ – Em là ảo vọng hay mây trắng – Để lại hương thầm cho khách thơ.

Thân tặng ai còn mơ áo dài.”

Và để giữ lời hứa, hôm nay người viết bắt đầu truy tìm trên mạng về những hình ảnh biếm họa về những tam giác thiên thần trong chiếc áo bà ba. Có khó khăn gặp phải là các hình ảnh chiếc áo bà ba cổ truyền dành cho các cô gái miền Đồng bằng sông Cửu Long chơn chất hầu như không còn nữa. Đó là hình ảnh chiếc áo bà ba cổ tròn đơn sơ, vạt áo ngắn vừa đủ để che phủ “bàn tọa” và chiếc quần lãnh đen óng ánh màu xanh đậm do phẩm màu từ trái mặc nưa mọc đầy rẫy ở vùng Châu Đốc dọc theo biên giới Miên – Việt.

­

Có thể nói, hình trên mạng bây giờ chỉ trình bày những chiếc áo bà ba đủ màu sặc sỡ, có tà áo rất dài đôi khi chỉ ngắn hơn tà áo dài chút xíu mà thôi. Và chiếc quần lãnh đen được thay thế bằng các màu tổng hợp, nhiều khi áo bà ba và quần cùng một màu không thể nào so sánh được với chiếc quần lãnh đen dân tộc được!. Tất cả biến thể không còn là chiếc áo bà ba nguyên thủy nữa, không khác chi biến thể Delta của con Covid Wuhan!

Trở lại hình ảnh tam giác thiên thần qua chiếc áo ba ba, đây cũng là một trong những hình ảnh đặc thu của miền Nam sông nước. Chiếc áo bà ba hiện diện khắp nơi trong mọi sinh hoạt của người dân dù nam hay nữ, trong tư thế ngồi, lúc giã gạo, lúc giặt quần áo bên bờ sông, khi chèo ghe, lúc hong tóc ngoài nắng sớm… Và nhiều nhiều nữa. Đây mới chính thức là một nét văn hóa Nam Kỳ (Từ nhỏ từ những năm cuối thập niên 40 của thế kỷ trước, tôi đã từng học, từng đọc là Nam Kỳ, chứ có nào nghe “Nam Bộ” như trong hầu hết các bài viết ở hải ngoại khi nói về địa danh nầy).

Thưa bạn,

Tôi sắp nói đến sự khác biệt giữa hai “tam giác thiên thần” của chiếc áo dài và áo bà ba đây.

Các bạn có thấy điều gì khác không? Có lẽ không, tôi trả lời dùm cho bạn đó.

Nhưng đối với riêng tôi, có một khác biệt rất lớn làm cho “người ngắm” có những rung động với “nồng độ” của mức …”sững sờ” khác nhau.

Vì sao?

  • Thứ nhứt, hai tà áo dài rất dài phủ tận chân và được kết nối nhau bằng một nút bóp, hay một móc áo, hoặc một dây kéo (fermeture), từ đó làm cho hai mép áo tạo ra hai cạnh của tam giác khó di động được qua nhịp bước đi hay do gió…và tam giác thiên thần không linh động hay “lung linh” nếu không nói là…tam giác chết.
  • Ngược lại, với chiếc áo bà ba, hai tà áo ngắn do đó hai cạnh của tam giác thiên thần tương đối dễ di động hơn và cạnh huyền của tam giác là ranh giới của lưng quần lãnh đen. Khi xưa lưng quần được luồn bằng sợi dây thun cho nết không bám chặt vào thân thể người mặc. Qua hai đặc tính trên, mỗi khi đi đứng hay làm bất cứ một công việc gì, chúng ta có thể thấy được ba cạnh của tam giác thiên thần…di chuyển, lung linh, mờ mờ, ảo ảo…Từ đó càng làm cho …lòng trai rộn ràng hơn những tam giác thiên thần của chiếc áo dài.

        Các bạn nghĩ người viết phân tích như vậy có đúng hay không?

        Xin được nghe và đọc ý kiến phản hồi của các bạn, nhứt là trong phái nữ, người viết có một câu hỏi phụ thêm

        là:”Khi bạn đang mặc một chiếc áo bà bà với quần lãnh đen, được một người nam đứng ngó trân trân (tôi không dùng chữ …nhìn), bạn cảm thấy thế nào? Bạn có lúng túng…vân vê tà áo không?

        Người viết rất muốn nghe tiếng nói của các bạn.

         Riêng phần người viết, những điều ghi lại trên đây, tuy viết qua ký ức từ hơn 60 năm về trước. Nhưng hôm nay, kỷ niệm lại về, một kỷ niệm cách đây 9 năm tại phi trường Hobby, Houston. Hình ảnh một ông già, 70 tuổi bước ra khỏi phi trường sau khi lấy hành lý xong. Hình bóng một chiếc áo bà ba màu “beige” quyện khúc với chiếc quần lãnh đen đứng chờ bên cạnh xe. Chính buổi tao ngộ nầy làm dừng bước giang hồ của một lãng tử …già!

         Xin dừng lại đây, và chúc các bạn có được vài giây phút trở về thời hoa niên và chiêm nghiệm lại khoảng thời gian đẹp nhứt của đời người: chiếc áo bà ba.

          Mai Thanh Truyết

         Cô đơn-Cô độc-Cô liêu-Emptiness-Nothingness

         Houston – Thứ sáu 13-8-2021




Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ (Vũ Đình Liên)

 Giao Chỉ San Jose                                            

Hơn nửa đời người sống tại San Jose, dài gần nửa thế kỷ, chúng tôi có nhiều bằng hữu. Mỗi lần tiễn người đi, tôi có dịp viết một bài ai điếu. Có duyên thì sáng tác, bất kể thân sơ, nhưng không may mắn viết cho tất cả anh chị em. Không phải vì giàu nghèo hay sự nghiệp hơn kém. Bây giờ gần đến lượt mình bèn góp lại những bài vô tình còn lưu lại trên thế giới ảo để in thành tác phẩm. Giữ cuộc đời của anh chị em còn ở lại bằng văn tự Giao Chỉ. Lấy câu thơ của cụ Vũ Đình Liên làm tựa đề tác phẩm. Mỗi bài tạp văn mang linh hồn của một bằng hữu đã cùng một thời sống gần nhau. Xin gọi là nhờ văn chương một lần giữ Đời cho nhau. Năm nay 2021, nhân danh Viet Museum chúng tôi sẽ đem tất cả các DVD và tác phẩm hiện có và sẽ xuất bản, gửi đi bốn phương cho tất cả bè bạn xa gần. Bán cũng không phải bán, biếu cũng không hẳn là biếu. Chỉ là chương trình nhờ độc giả và khán giả Giữ Đời Cho Nhau.  Cuốn tạp văn này cũng thế. Trân trọng.

Giao Chỉ, San Jose.

 (1) HÀ THƯỢNG NHÂN, không một lời than thở. 

 Nhà Thơ Không Có Tác Phẩm.                                                                                           

Những mái đầu cất cao, không một lời than thở. (HTN)

Quả thực bác này đúng là chàng thi sĩ miền quê. Nếu năm trước, khi bác mới được HO qua Mỹ, làng văn thơ hải ngoại mời bác làm chủ tịch Văn bút Việt Nam Tự do thì chắc hẳn ai cũng cho là rất xứng đáng. Ấy vậy mà, bác lại không đủ điều kiện để nộp đơn xin vào làm hội viên bình thường của Văn bút Việt Nam Hải ngoại. Bởi vì dù là tác giả của hàng ngàn bài thơ nhưng chưa bao giờ ông có được một tác phẩm thi ca. Không tác phẩm là không hội viên. Nói gì là chủ tịch.

Chàng thi sĩ niên trưởng ở San Jose của chúng tôi là người Thanh Hóa, quê làng Hà Thượng, sinh năm 1919. Khi đệ nhị thế chiến chấm dứt (1939- 45) ông bắt đầu làm báo và theo kháng chiến suốt 7 năm. Ðó là thời kỳ bài ca Tuổi Xanh của Phạm Duy gọi lên hồn nước làm rung động toàn thể thanh thiếu niên Việt Nam.

“Một mùa thu năm qua, cách mạng tiến ra…”

Thời kỳ đó có lần làng Bình Hải, huyện Yên Mô tổ chức đón các đại biểu liên khu về hội họp. Những cậu bé trong đoàn thiếu niên Kim Ðồng của Hà Nam Ninh chúng tôi hết lòng sùng kính các đàn anh từ liên khu Thanh Nghệ Tĩnh về nói chuyện. Gia đình tôi từ Nam Ðịnh tản cư về Yên Mô, Ninh Bình.Từ miền Hoa Lư, đường vào xứ Nghệ phải qua Thanh Hóa với cây cầu Hàm Rồng đầy huyền thoại.

Các anh từ khu Tư nổi tiếng về họp tại đình làng Bình Hải.Năm đó, tuổi 16 tôi đứng dựa cột đình. Dường như chàng thi sĩ làng Hà Thượng cũng có mặt trong vai trò cán bộ văn hóa quan trọng của kháng chiến. Phần văn nghệ có cả cô bé Thái Thanh 15 tuổi tham dự chống nạn mù chữ hát bài chữ i chữ tờ.

Hơn 60 năm sau, bây giờ 2010, tại San Jose tôi xin gửi đến các bạn bài viết về Trung Tá Phạm Xuân Ninh, tức là nhà thơ Hà Thượng Nhân, người Thanh Hóa.

Một đời văn nghệ

Có thể nói suốt đời bác Ninh là một đời văn nghệ. Ði lính từ đại úy đến trung tá nhưng ông không hề liên quan gì đến quân trường và súng đạn. Làm chủ nhiệm báo Tiền Tuyến nhưng chàng luôn luôn ở hậu phương. Cuộc đời của ông tất cả là bằng hữu và thơ phú.

Năm 1935, cậu Ninh 16 tuổi đã có dịp dự cuộc thi thơ với các bậc tiền bối và đoạt giải với bài Trăng Thu.

“Sương mỏng manh, canh vắng lặng tờ

Buồn xưa náo động mấy vần thơ…

Quả thực bài thơ trúng giải của cậu thư sinh đã làm náo động cả hội thơ Vỹ Dạ thuở xưa. Trải qua 7 năm theo kháng chiến, năm 1952 ông về thành và 1954 ông di cư vào Nam.

Do nhu cầu của tâm lý chiến miền Nam và do thân hữu đề cử, thủ tướng Ngô Ðình Diệm ký lệnh cho me-xừ Phạm Xuân Ninh đặc cách mang lon đại úy trừ bị. Ðây là cấp bậc theo quy chế đồng hóa thuộc bộ quốc phòng. Sau đó ông được đề nghị thăng cấp thiếu tá và trung tá. Suốt 21 năm ông làm việc tại Tổng cục Chiến tranh Chính trị. Sau 75 ông đi tù tập trung cải tạo từ Nam ra Bắc và từ Bắc vào Nam. Sau cùng HO qua định cư tại San Jose.

* Anh em văn nghệ cao niên chúng tôi tại San Jose thường ghi nhận rằng cuộc đời từ hoa niên, binh nghiệp, tù đầy, tỵ nạn và định cư trải qua các giai đoạn chính như sau. Lẽ dĩ nhiên cũng có người đi theo thứ tự, có người đặc cách khác anh em. Sau đây là các dấu mốc: 1) Sinh quán, sinh nhật 2) Trường học và quân trường 3) Trại binh, trại gia binh, trại tù, trại tỵ nạn 4) Nhà tạm trú, nhà housing, nhà trả góp, nhà mobile, và nhà dưỡng lão.

Anh bạn cùng khóa Cương quyết II Thủ Ðức của tôi là Trung tá Lực lượng Đặc biệt Ðỗ Hữu Nhơn đã có lần còn nhắc đến chuyện nhà quàn từ Down Hill cho đến Oak Hill. Riêng phần các bác, xin cứ ghi nhận và xem lại để thấy rằng mình đang ở giai đoạn nào và đã đặc cách vượt cấp ra sao.

 Sau đây là giai đoạn cuộc đời bằng Anh Ngữ.

DOP, POB / School, Military School / Military Camp, Concentrate Camp, Refugee Camp / Half way House, Housing, Single House, Mobile Home, Nursing Home.

Và cuộc đời bác Ninh của chúng tôi hiện ở giai đoạn hết sức hoàng hôn.Ông đang được điều trị tại khu dưỡng lão Willow Glen, San Jose. Chàng vốn không có tên trong các hội ái hữu quân trường dù là Ðồng Ðế, Thủ Ðức hay Ðà Lạt. Cũng chẳng phải là thành viên của các quân binh chủng bay bướm oai hùng. Ở đây hội ái hữu đồng hương chẳng thiếu địa danh nào nhưng lại chẳng hề có hội đồng hương Thanh Hóa. Nhưng bằng hữu thơ văn thì ai mà chẳng biết Hà Thượng Nhân. Ðặc biệt ông bạn tù là nhà thơ Nguyễn Ðình Tạo, quê làng Ðông Anh sớm tối vào thăm bác Ninh. Bác Ðông Anh là người điều hợp thi đàn Lạc Việt, có bạn Chinh Nguyên làm tổng thư ký. Hội ta vẫn thường trực chuyên chở bác hội viên cố vấn Hà Thượng Nhân. Vì vậy chàng thi sĩ của chúng ta đã từng viết câu thơ mãi mãi tràn đầy tình nghĩa…

“Ta từ có bạn đến giờ,

Lời thơ lại bỗng bất ngờ thành vui…”

Những bài thơ…

Nếu đem in những bài thơ của thi sĩ người làng Hà Thượng thì xoàng ra cũng có được năm bảy tác phẩm. Thực ra với nhiều bút hiệu khác nhau, bác Phạm Xuân Ninh đã từng soạn nhiều tài liệu nghiên cứu do Nha Chiến tranh Tâm lý xuất bản.

Tuy nhiên, đây chỉ là sáng tác thuộc về lãnh vực nghiên cứu của một công chức quốc gia. Còn những vần thơ gan ruột của thi nhân, những bài thơ về tình yêu của nhà thơ thì chưa bao giờ in thành sách.

Ông đã từng viết :

“Ta có một tình yêu, bao la như trời đất.

Ta viết vào trang Thơ, tình yêu ta không mất.”

  Và mục đích của cuộc đời được ghi lại.

“Sống chỉ lấy cái tâm làm trọng.

Gửi ngàn sau mấy giọng tiêu dao.”

Trong số hàng ngàn bài thơ của thi nhân tôi thích nhất những bài thơ ông làm trong thời gian ở tù. Trong hằng trăm bài thơ tù, tôi ghi nhận có 3 bài hết sức rung động. Xin giới thiệu bài Thắp Sáng. Xin các bác lưu ý. Mỗi câu thơ đều là một lời kinh đấu tranh.Mỗi câu thơ đều có thể đặt tựa cho cả bài thơ. Bài thơ ngũ ngôn, một sở trường của tác giả như sau:

Thắp sáng muôn vì sao

Nếu như không đau khổ.      

Làm sao biết căm hờn.     

Càng muôn trùng sóng gió.

Tay chèo càng vững hơn.

Chúng ta cùng có nhau.

Nhìn nhau vui hớn hở.

Trên luống cày khổ đau.

Hoa Tự do vẫn nở

Những mái đầu cất cao.

Không một lời than thở.

 Tác giả chỉ giải thích lòng căm hờn bắt nguồn từ thân tù đầy oan trái, tuy nhiên, như lời thơ đã viết, tác giả không nuôi dưỡng căm hờn. Chỉ là:

“Những mái đầu cất cao, không một lời than thở”.

Nhưng có hai bài thơ trong tù tràn ngập yêu thương xin gửi đến các bác đọc lại thật rõ từng lời để cùng rung động với tác giả.

Năm 1975 mới vào tù, ông làm bài Mưa Buồn từ trại Long Giao trong lòng đất quê hương miền Nam. Năm 1978 sau khi bị đưa ra đất Bắc ông làm bài Cỏ Biếc, vào lúc tác giả chuyển trại từ Thác Bà, Yên Bái về Thanh Chương, Nghệ Tĩnh. Ðây là lời thơ của bài Mưa Buồn Long Giao. Xin hãy nhớ cho, tác giả làm bài thơ này vào thời gian sau tháng 4/75.Người tù già ngồi nghe mưa miền Nam tại Long Giao.

Ngũ ngôn tứ tuyệt đoạn cuối, tác giả dùng chữ nẻo cụt chỉ bước đường cùng, tưởng là giấc mơ, tưởng chỉ là cơn ác mộng, hút điếu thuốc lào, hỏi lòng mình đã say chưa.

 Mưa Buồn Long Giao

Trời có điều chi buồn?

Mà trời mưa mãi thế!

Cây cỏ có chi buồn?                                                                                                               

Mà cỏ cây ứa lệ!                                                             

Anh nhớ em từng phút,

Anh thương con từng giây.

Chim nào không có cánh,

Cánh nào không thèm bay.

Người nào không có lòng,

Lòng nào không ngất ngây.

Gửi làm sao nỗi nhớ, 

Trao làm sao niềm thương. 

Nhớ thương như trời đất,

Trời đất vốn vô thường.

Ngày xưa chim hồng hộc,

Vượt chín tầng mây cao,

Ngày xưa khắp năm châu,

Bước chân coi nhỏ hẹp,

Bây giờ giữa Long Giao,

Ngồi nghe mưa sùi sụt,

Cuộc đời như chiêm bao.

Có hay không nẻo cụt,

Anh châm điếu thuốc lào,

Mình say, mình say sao!! 

Trại Long Giao 1975 

Và sau cùng là bài Cỏ Biếc làm trong trại tù nơi quê hương của tác giả, liên khu 4, Thanh Nghệ Tĩnh ngày xưa: 

Xin Làm Cỏ Biếc

Anh cầm tay em, 

Bàn tay khô héo.

Anh nhìn mắt em, 

Gió lùa lạnh lẽo.

Anh nhìn lòng mình, 

Mùa Đông mông mênh.

Cỏ non mùa Xuân,  

Còn vương dấu chân.

Trăng non mùa Hạ, 

Ướt đôi vai trần.

Có xa không nhỉ 

Ngày xưa thật gần.

Thời gian! Thời gian.  

Em vẫn là em…  

Nụ cười rạng rỡ,

Ngày nào vừa quen, 

Mai đưa em về,

Xin làm cỏ biếc, 

Vương chân em đi.

Xin làm giọt mưa  

Mưa dầm rưng rức.

Trên vai người yêu,

Sài Gòn Sài Gòn,                                                                                                                 

Không là quê hương,                                                                                                       

Mà sao mình nhớ,                                                                                                             

Mà sao mình thương. 

Ngày từ trại Thác Bà, Yên Bái về trại 6 Thanh Chương Nghệ Tĩnh 1978.

Ngày nay, tại hải ngoại có biết bao nhiêu Little Saigon. Có bao nhiêu người đã tranh đấu cho tên gọi thành phố Sài Gòn. Nhưng có ai yêu Sài Gòn hơn được người thi sĩ Thanh Hóa.

Saigon Saigon, / không là quê hương.

Mà sao mình nhớ, / mà sao mình thương.

Gửi ông bạn già, 

Bác Hà Thượng Nhân, tôi chưa biết ông 60 năm về trước. Hồi thập niên 70 ở Sài Gòn tôi cũng không quen bác. Bác H.O. về San Jose, mới biết bác qua bạn Ðông Anh. Năm xưa, chúng tôi mời bác lên sân khấu nhận giải sự nghiệp một đời của tiểu bang California. Bác chiều lòng anh em mà lên nhận bản tuyên dương, tôi biết bác đâu có quan tâm gì những vinh quang phù phiếm đó.

Tấm lòng bác đôn hậu, tinh thần bác an nhiên.

“Chẳng cầu cạnh, chẳng ưu phiền,

Miễn sao lòng cứ an nhiên là mừng.”

Năm nay bác đã ngoài 90.Tuy không còn hút thuốc lào nhưng đang trải qua giai đoạn khi tỉnh khi mê.Lúc quên lúc nhớ. Khi tỉnh bác làm thơ hay. Khi say thơ vẫn còn hồn. Lúc trẻ lời thơ đã uyên bác.Khi về già thơ vẫn còn tình tứ.

Bác phê bình Giao Chỉ tôi viết văn như bổ củi.Hết bó này đến bó khác.Mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng, mỗi năm. Hôm nay gặp bó củi cao niên, tôi xin tiếp tục làm công tác bổ củi.Chẻ thật nhỏ ra làm đóm để bác châm lửa hút lại điếu thuốc lào.Tôi có lần hỏi tuổi bác, bác trả lời 9 chục. Rồi nói tiếp: “Mình cũng không biết tại sao lại sống lâu như vậy”. Tôi nói rằng:

“Tại bác sống đời thi sĩ. Sống bên cạnh cuộc đời. Tại bác không sống tỉnh.             

Bác sống say say.

Bác tự hỏi lòng : “Mình say sao? Bác say thật rồi.

Một đời sung sướng. Một cuộc sống tuyệt vời.

Bác thuộc về một số rất ít.

Những mái đầu cất cao, không một lời than thở.

Ngoc Lan post (theo Giao Chỉ)

Phần tiểu sử Nhà thơ HÀ THƯỢNG NHÂN

  Hà Thượng Nhân (1920- 11/10/2011) là bút hiệu của nhà thơ Phạm Xuân Ninh, nguyên danh Hoàng Sĩ Trinh.Ông quê ở Hà Thượng, huyện Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa.

  Ông từng dạy học ở trường Dũng Lạc Hà Nội và trường Thiếu Sinh Quân Liên khu IV, rồi theo Kháng chiến nhưng đến năm 1952 thì ông về thành rồi di cư vào Nam. Ông gia nhập Quân đội VNCH lúc đó thăng đến cấp trung tá.

Đóng góp văn học

Nhà thơ Hà Thượng Nhân làm Giám đốc Đài Phát thanh Quốc gia, chủ bút rồi chủ nhiệm nhật báo Tiền tuyến, lúc đầu do Cục Tâm lý chiến đảm nhiệm, sau tập thể của quân đội. Với nhật báo Tự Do ông thường góp bài dưới bút hiệu Tiểu Nhã và phụ trách mục thơ châm biếm “Đàn ngang cung”. Bút hiệu khác của ông là Nam Phương Sóc trên báo Ngôn luận. Ông là thành viên của Trung tâm Văn Bút VN.

Về tài văn thơ, ông có biệt tài làm thơ trào phúng nhưng khi còn trẻ tuổi ông cũng sính thơ Đường. Khi vào Huế trong một cuộc chơi thơ, ông có ứng khẩu một bài thơ vịnh “Trăng Thu” được chấm là hay nhất.”

Nhà thơ Hà Thượng Nhân từng được Phủ Quốc vụ khanh Văn hóa của VNCH đề cử làm giám khảo Giải Văn Học Nghệ Thuật về bộ môn Thơ.

Sau năm 1975 ông đi “tù cải tạo” cho đến năm 1983 mới được về và sang định cư ở Hoa Kỳ vào năm 1990 dưới diện HO. Ông mất vào ngày 11/10/2011 tại San Jose California, thọ 91 tuổi.                    

(Thụy Vi) 

Giao Chi San Jose.   giaochi12@gmail.com  (408) 316 8393




Tiền và Người

Quý Vị và Các Bạn thân mến,

Trong đời sống, quả thật đồng tiền hết sức quan trọng cho chính mỗi chúng ta. Vì tiền là thước đo sự thành công và giàu có của một người, một gia đình hay một quốc gia. Khi có nhiều tiền thì ta trở nên giàu có; nhiều của cải, nhiều vật chất, cũng như có được địa vị, có được danh tiếng… Và thế nên nó trở thành một động lực và chúng ta luôn cố gắng tìm mọi cách để sở hữu đồng tiền. 

Tuy nhiên có một sự thật rằng, dẫu chúng ta có sở hữu thật nhiều tiền chăng nữa cũng không thể tránh khỏi bệnh tật – hay nói một cách khác là tránh được sự chết. 

Để kiếm được nhiều tiền, cũng có nghĩa ta phải dành nhiều thời gian để làm việc, và như thế ta lại bỏ qua những điều quý giá và ý nghĩa khác trong cuộc sống.

Thật ra bản chất của đồng tiền không mang giá trị, nhưng nó chỉ là một phương tiện để chúng ta trao đổi với nhau trong cuộc sống. Giá trị đích thực của đồng tiền chỉ có khi chúng ta nhận thấy bản thân mình có giá trị hơn nó. Nghĩa là chúng ta sẽ không chỉ nhìn một người có nhiều tiền và giàu có, mà còn thêm vào các giá trị trải nghiệm mà họ có từ tư cách, nhân cách, danh dự, chân chính và đạo đức con người… Vì cuộc đời đã cho ta thấy không phải ai giàu có cũng đều được kính trọng !

Quan điểm của nhiều người cho rằng : “Tiền không phải là tất cả, nhưng không có tiền là không có tất cả”. Rất đúng nhưng, riêng cá nhân tôi điều đó đúng trong tương đối. Vì tiền không thể mua được sự hiểu biết và tri thức con người. Nghĩa là bạn có thể mua được bằng cấp bằng tiền, hoặc tiền có thể mua được cuốn sách, nhưng tuyệt nhiên không mua được kiến thức.

Như tôi đề cập ở trên. Bản chất của đồng tiền vốn chẳng tốt cũng chẳng xấu, nhưng do người biết sử dụng nó vào mục đích gì. Đồng tiền do con người làm ra, nhưng cũng vì nó mà con người gặp bao lao đao, đắng cay và tai ương. Người có nhiều tiền mà không chân chính và đạo đức, họ sống vô cảm và sẽ làm suy đồi phẩm chất con người. Họ sẽ mua thế lực và dùng tiền để làm điều sai trái cho mục đích đen tối của mình. Họ cũng dùng đồng tiền để ức hiếp và lăng nhục những người làm trái ý họ, và cũng không ngoại trừ dùng những thủ đoạn giết đi mạng sống của người khác.

Trong khi bạn và tôi vì cuộc sống, nên cũng không tránh khỏi và đã nhiều lần khiến ta phải nô lệ đồng tiền. Cũng vì nô lệ nó mà tôi với bạn đã đánh mất biết bao điều quý giá trong cuộc sống mà đôi khi hối hận thì đã quá muộn.

Bài thơ TÔI CHỈ LÀ TỜ GIẤY của một thiền sư : Thượng Tọa Thích Tánh Tuệ. Bài thơ này tôi chọn để phổ thành ca khúc mà Quý Vị và Các Bạn sẽ nghe dưới đây. 

Quả thật lời và ý thơ là một sự mỉa mai cay đắng cho chính mỗi chúng ta – trong đó có tôi và có bạn. 

Vâng, chỉ là một tờ giấy mỏng manh có in hình đồng tiền đó mà nó có uy lực vô song, khiến chúng ta phải long đong trong đời sống, khiến ta phải run rẩy để đổi giọng và đổi cả tấm lòng. Tờ giấy mỏng manh đó nó “hóa phép” để biến đen thành trắng, và trắng nó nhuộm thành đen. Tờ giấy đó nó cũng khiến người xa lạ trở thành thành thân quen – ôm hôn nhau thắm thiết như các lãnh tụ Xô Viết ! Cũng là tờ giấy đó mà lắm kẻ cao thượng bỗng dưng…. hèn, và kẻ hèn thành…. thượng đế !?

Chưa hết, đồng tiền giấy đó nó cũng có khả năng không những chỉ xua Đời mà còn khiến đến cả Đạo. Nghĩa là nó có thể khiến một số tu hành cũng bị lôi cuốn, lẩn quẩn trong vòng xoáy của luân hồi !

Tư Mã Thiên đã cảm nhận sâu sắc và thấu đáo để rồi ông phải thốt lên rằng : “Thiên hạ ồn ào đều vì lợi mà đến…” Và tôi xin thêm rằng : Thiên hạ cũng không chịu buông bỏ dù biết lợi đó là lợi bẩn !

Thưa Quý Vị và Các Bạn,

Những điều trên đây cho ta thấy về giá trị đồng tiền trong đời sống, cũng như mặt phải và trái, là “dao hai lưỡi” của nó. 

Không gì giá trị và quý nhất mà đồng tiền do chính bản thân và công sức của mình làm ra một cách chân chính và lương thiện. Điều quan trọng hơn là cũng đừng vì đồng tiền mà đánh mất đi sự lương thiện và chân chính luôn có và hiện hữu trong lòng của mỗi chúng ta.

Nhân đây, tôi xin cám ơn đặc biệt đến người anh em là ca sĩ Anh Dũng đã thu âm bài hát này bằng tấm lòng và nghệ thuật mà không bị chi phối bởi “tờ giấy mỏng manh” đó. 

Quả thật anh ấy đến với tôi trong nghệ thuật và âm nhạc, và cùng nhau muốn tôn “cái đẹp” trong thế giới nhiễu nhương hôm nay. Vì anh ấy biết rất sâu sắc, rằng : “Cái đẹp cứu rỗi thế giới”.

Xin chia sẻ đến Quý Vị và Các Bạn ca khúc TÔI CHỈ LÀ TỜ GIẤY theo link Youtube sau đây :

Thơ : Thích Tánh Tuệ

Nhạc : Văn Duy Tùng

Ca sĩ : Anh Dũng

Diễn ảnh : Trúc Tiên

Muốn hát karaoke ca khúc này, xin bấm vào đây : 

Và bài hát PDF (đính kèm)

Trân trọng,

Văn Duy Tùng




Ngày Sau Nối Lại Ngày Xưa

Ngày thứ ba 17 tháng 3 năm 2020 nghe tin cô Thái Thanh ra đi, dẫu biết cô đã 86 tuổi, cái tuổi của Sinh, Lão, Bệnh và bây giờ là Tử. Giữa lúc bệnh dịch Covid_19 lây lan hoành hành khắp nơi, mọi người đều bị cách ly ở nhà, chẳng ai gặp ai, tôi thật ngậm ngùi thương cảm Cô mất trong hoàn cảnh éo le, không có bạn bè thăm viếng, đưa tiễn…

Cô là người gắn liền biết bao kỷ niệm thời con gái. Tôi nghĩ phải có một bài viết về thần tượng của mình. Từ lúc nào tiếng hát của Cô đã thấm trong tim trong óc tôi “Người Đi Qua Đời Tôi” (thơ Trần Dạ Từ, nhạc Phạm đình Chương)

“Người đi qua đời tôi trong những chiều đông sầu

Mưa mù lên mấy vai gió mù lên mấy trời

Người đi qua đời tôi hồn lưng miền rét mướt,

Vàng xưa đầy dấu chân đen tối vùng lãng quên

Bàn tay mềm khói sương tiếng hát nào hơ nóng

Và ai qua đời tôi chiều âm vang ngàn sóng

Trên lối về nghĩa trang

Nghe những lời linh hồn, nghe những lời linh hồn

Trong mộ phần đen tối đen…”

            Hồi đó Huế có những quán cà phê bàn ghế thường đặt trong sân vườn rất thơ mộng, dân Huế đi uống cà phê như cái thú tao nhã , ngồi trầm ngâm hàng giờ, nhìn phin cà phê nhỏ giọt, thả hồn theo dòng nhạc êm dịu, không nhất thiết phải là đôi tình nhân, hay đám thanh niên, mà còn có đám nữ rủ nhau lựa góc hiên thềm nhìn những giọt mưa rơi tí tách xuống thành bong bóng vỡ, nghe Cô TT ru hồn với “Ngàn Thu Áo Tím”

“Ngàn thu mưa rơi trên áo em màu tím

Ngàn thu đau thương vương áo em màu tím

Nhuộm tím những chuỗi ngày vắng nhau

Tháng năm càng lướt mau

Biết bao giờ thấy nhau…” (Hoàng Trọng & Vĩnh Phúc)

            Những chiều Hạ vàng nhóm chúng tôi thường rủ nhau đến nhà bạn Nhã Phương bên Đập Đá hái khế ngọt và nhiều thứ trái cây trong khu vườn rộng, trải chiếu sau vườn nhìn ra bến sông, bạn xách cassette kèm cuốn băng Thái Thanh, có lúc gặp anh Cường của bạn đi lính về thăm nhà, thấy tụi này cũng nhập bọn vác đàn theo ca hát. Chúng tôi ngồi nhìn bóng con đò lững thững trôi chầm chậm với hình ảnh người đứng buông tay chèo, chiều nhạt bên kia bờ, thấm từng lời nhạc của Cung Tiến theo tiếng hát réo rắc huyễn hoặc của Cô trong bài “Hương Xưa”

“Người ơi, chiều nào có nắng vàng hiền hoà sưởi ấm nơi nơi?

Người ơi, chiều nào có thu về cho tôi nhặt lá thu rơi?

Tình có ghi lên đôi môi. Sầu có phai nhoà cuộc đời

Người vẫn thương yêu loài người và yên vui cuộc sống vui

Đời êm như tiếng hát của lứa đôi.

Đời êm như tiếng hát của lứa đôi…”

            Mặc ai nói chuyện, tôi vẫn thu mình trong thế giới xa xôi mơ hồ theo cung điệu trầm bổng cùng “Dạ Khúc” (serenade) lời Việt: Phạm Duy

                                  “Chiều buồn nhẹ xuống đời

                                    Người tình tìm đến người

Thấy run run trong chiều phai

Vẻ sầu của đóa cười

Tình bền của lứa đôi

Thoáng hương trong chiều rơi…”

            Giọng càng lúc càng cao vút điệu luyện về nhạc lý và kỹ thuật, nhất là bài “Dòng Sông Xanh” với điệu valse dồn dập ngây ngất cho ta mơ cảnh đẹp nước Pháp tuyệt vời lãng mạn.

            Có lần xem tivi chương trình nhạc “Tiếng Tơ Đồng”, lúc đó Cô chỉ 42 tuổi xuất hiện với bài “Ồ Mê Ly” của Văn Phụng. Cô đang hát, tóc xõa ngang vai, anh tôi đi đâu về vừa thấy thì la lên “Tội quá má ơi, cột tóc lên cho con nhờ…”. Vì tôi rất sợ anh nên không hề nói chuyện ngang hàng, nhưng trong lòng giận lắm chẳng thèm ngó mặt một thời gian. Tiếc là bây giờ anh đã nằm dưới lòng đất lạnh, chứ nếu còn sống thấy tôi xõa tóc, chắc bị anh rượt chạy khắp làng quá, mà cũng lạ thiệt… đến tuổi 65 tôi vẫn còn muốn xõa tóc mỗi khi mặc áo dài “dáng huyền tha thướt đê mê, tóc dài thả gió lê thê…”, thơ văn nhiều lúc đã trang điểm cho tôi cái cảm giác mình vẫn còn… trẻ, có lẽ sẽ làm ngứa mắt thiên hạ, nhưng lại làm tôi hạnh phúc mơ hồ rằng… tôi không còn thời xuân mộng, nhưng cũng chưa già, mà tôi ở thế giới của âm nhạc mây mưa ảo tưởng, đêm cụng chén nguyệt, ngày nhặt nắng hạ…, có lẽ tôi mê mẩn thơ văn, trong đầu chỉ muốn sống với thế giới đầy tiếng thu trăng sầu nên bị lạm “Mái Tóc Dạ Hương” (thơ Đinh Hùng, Nguyễn Hiền phổ nhạc).

“Rồi đây trên những lối đi này.

Ta sẽ cùng ai tay nắm tay.

Nhịp chân lưu luyến mãi cung đàn.

Buông lắng chìm tâm tư đắm say

Dĩ vãng nào xanh như mắt em.

Chao ôi! màu suối tóc buông mềm

Nét buồn Khuê các hoen sương phủ.

Nhạt ánh sao ngàn bên dáng xiêm…”

            Còn nhớ giờ ra chơi trong sân trường, từng cặp, từng nhóm đi dạo dưới hàng cây xanh, chúng tôi 3 đứa gồm Thu Sương, Hiền và tôi đi lượm từng giọt nắng đầu hạ, tình cờ nói chuyện về thơ Phạm Thiên Thư được Phạm Duy phổ nhạc bài “Ngày xưa Hoàng Thị”

“Em tan trường về. Mưa bay mờ mờ.

Anh trao vội vàng. Chùm hoa mới nở

Ép vào cuốn vở. Muôn thuở còn thương còn thương…”

Hiền đang say sưa hát, bỗng dưng ngừng lại, hỏi tôi

– Ê Minh …mi thích giọng ai hát

– Đối với tao nghe ai cũng không bằng Thái Thanh, thấy đậm đà làm sao

Hiền nghe vậy khoái quá

– Đúng, tao cùng sở thích như mi, tao thích giọng Cô lắm, rứa còn Thu Sương… mi thích ca sĩ mô

Thu Sương từ tốn nói

– Tao thích LT, nghe giọng TT có vẻ …mệt mệt làm sao

– Hiền nghe nói vậy như bị điện giật, lúc đó tôi đi giữa, nó chồm qua người tôi, giận dữ với Thu Sương

– Xin lỗi mi …chính LT giọng nghe mới mệt mệt

Dù tôi không cùng quan điểm với Thu Sương, dù thần tượng của tôi bị chê “nghe mệt mệt’, nhưng thường chơi bạn tôi không muốn mất lòng ai, nên im lặng và can ngăn 2 đứa bỏ qua chuyện đó. Thu Sương tánh đằm chẳng nói thêm gì nữa khi bị Hiền sừng sộ, bỏ ngang 2 đứa tôi, trở về lớp sớm. Còn lại tôi với Hiền

– Mi làm cái chi mà nổi nóng ghê rứa

– Chứ mi không thấy giọng ca như rứa mà hắn “nghe mệt mệt” à?

            Rồi thì 2 đứa giận đến mấy tháng, chúng nó nhìn nhau kênh kênh cái mặt lên, Thu Sương giận cả tôi luôn, nhưng không kênh mặt, chỉ là không thân như trước thôi

            Một hôm theo Tuyền Ái về quê Ngoại ăn đám giỗ, xe đò dừng ngoài lộ, muốn vào làng phải đi bộ rất xa, ngang qua thửa ruộng lúa chín vàng, có số người lom khom cắt lúa. Nhìn đồng hồ mới khoảng 2 giờ chiều, Tuyền Ái không muốn về nhà Ngoại sớm, hắn bảo về sớm phải phụ làm việc, chi bằng ngồi ngoài nhìn trời nhìn đất xem cảnh đồng quê thoải mái, canh giờ về chỉ có ăn thôi, tôi trợn mắt nhìn hắn nhưng rồi 2 đứa phá lên cười đồng tình cái lười biếng ở thành phố lâu nay chỉ có ăn học… nhác chảy thây.

            Hai đứa ngồi xuống lề bờ ruộng, hái những cây lúa non thấy hạt gạo bên trong, tự nhiên cảm giác bồi hồi thích thú. Có anh thanh niên đang hốt vén cỏ gần đó, Tuyền Ái mon men tới gần hỏi:

– Anh hốt cỏ đó về làm chi rứa ?

– Về phơi khô chụm nấu cơm

– Anh gặt lúa, làm lụng suốt ngày có mệt không?

– Mệt chớ, nhưng dưới quê thì chỉ làm nghề ni thôi, mà 2 O ở thành phố xuống phải không?

Bạn tôi gật đầu, rồi không biết hỏi chi nữa, máu nghịch ngợm hắn bắt đầu nổi lên

– Anh cúp tóc ở mô rứa ?

– Hỏi chi rứa?

Mắt anh chàng ngẩng lên nhìn có vẻ ngạc nhiên.

– Thấy đầu tóc anh đẹp quá hỏi cho biết

– Cám ơn …tui làm chi đẹp bằng mấy O mấy Cậu trên thành phố được.

– Anh có vợ chưa ?

Lần này anh thanh niên không thèm trả lời, cứ im lặng làm việc. Bạn tôi hết chọc ghẹo được, rủ tôi đi tà tà ngắm mọi người trên đồng ruộng. Tôi bắt đầu thấy rung động với nét đẹp quê hương, con người mộc mạc và sự cần cù lao động, mà từ lâu nơi thành phố chẳng hề thấy. Giọt nắng làm áo họ thấm ướt mồ hôi, mùi lúa thơm phảng phất, đồng ruộng bát ngát mênh mông, gió thổi rì rào những khóm tre trên bờ đường… Thật thỏa lòng tôi luôn ao ước, nên thường dặn dò các bạn “Khi mô về làng ngoại nội nhớ rủ đi với nghe”

Canh giờ tới nhà ngoại của Tuyền Ái, đến nơi đúng lúc bà con vừa cúng xong, dọn mâm xuống. Cậu, mợ, dì, bà Ngoại mừng rỡ ôm cháu hỏi đủ điều, đã có sẵn ba mẹ Tuyền Ái về trước hôm qua, còn dự tính mai mới lên lại thành phố. Mọi người chăm thức ăn cho 2 đứa, bới xôi, thịt gà, cam quýt trong vườn dồn lại một xách, bắt chúng tôi lên sớm, mai còn đi học.

            Sau chuyến đó, cứ nhớ hoài cảnh đồng quê, về nhà tôi thích nghe bài “Tình Ca” của Phạm Duy qua tiếng hát Thái Thanh thấm trong mạch máu từng lời nhạc, nghĩa tình quê hương đậm đà…

“Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi

Mẹ hiền ru những câu xa vời

À à ơi! Tiếng ru muôn đời

Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui

Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi…

Tiếng nước tôi! Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi

Thoát nghìn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi

…………………………….

Tôi yêu bác nông phu, đội sương nắng bên bờ ruộng sâu

Vài ngàn năm đứng trên đất nghèo

Mình đồng da sắc không phai màu

Tấm áo nâu! Những mẹ quê chỉ biết cần lao

Những trẻ quê bạn với đàn trâu, áo ơi

Tấm áo nâu! Rướn mình đi từ cõi rừng cao

Dắt dìu nhau vào đến Cà Mau, áo ơi

Tôi yêu biết bao người

Lý, Lê, Trần… và còn ai nữa

Những anh hùng của thời xa xưa

Những anh hùng của một ngày mai

Vì yêu, yêu nước, yêu nòi

Ngày xuân tôi hát nên bài tình ca

Ruộng xanh tươi tốt quê nhà

Lòng tôi đã nở như là đóa hoa…”

            Một thời xóm tôi xuất hiện chàng họa sĩ tới thuê nhà trước mặt, tôi nhìn anh chàng cũng như bao người khác với trạng thái bình thường, nhưng khi mỗi chiều hè anh ra đứng bất động, mắt chăm chú ngó nền trời, tôi đoán có thể quan sát chân trời, có thể mây bay, hoặc có thể ráng mặt trời… để lấy màu hòa sắc. Những lúc ấy tôi đang ngồi bên khung cửa sổ, ngẩng lên chợt rung động theo hình ảnh người thanh niên đứng  phút giây xuất thần. Không hiểu sao anh ta hay bỏ nhạc bài “Một Mùa Đông” được phổ thơ của Lưu Trọng Lư do cô TT hát, dù lúc đó đang vào thời tiết hạ, tôi hay lắng nghe và nhớ đoạn …

“Em ngồi trong song cửa. Anh đứng dựa tường hoa,

Nhìn nhau mà lệ ứa, Một ngày một cách xa

Yêu hết một mùa đông. Không một lần đã nói

Nhìn nhau buồn vời vợi. Có nói cũng không cùng…” (Phạm Duy)

            Buổi chiều trên đường đi học về, gần đến ngõ đã nghe tiếng cô TT vang lên điệp khúc ấy, lòng tôi cũng nao nao tưởng tượng như anh chàng đang dành tặng bài hát này cho mình, “chắc hẳn anh vẫn thấy mình ngồi bên song cửa…”, sắp tới nhà anh, người tôi run lên, tim đập rộn ràng, mặt quay ngược lại, bên tai tiếng hát vẫn vang lên “Em ngồi trong song cửa. Anh đứng tựa vườn hoa…”

            Rồi một chiều Thu… mùa Thu nơi xứ Huế thường pha chút tím trên nền trời, cuối chân mây và khắp nẻo đường biết bao tà áo tím thấp thoáng, đó là đặc điểm của Huế …Anh lại ra đứng ngoài ban công nhưng lần này có hình bóng người thiếu nữ diễm kiều trong tà áo tím, mái tóc xõa dài, cùng đứng cạnh nhìn theo hướng tay anh chỉ về phía chân trời. Hai người có vẻ tương đắc đang bàn điều gì, có lẽ cô đó học cùng lớp về ngành hội họa!!

Từ đó tôi ôm mùa đông xứ Huế buồn hiu hắt, bản nhạc vẫn mở, cô Thái Thanh vẫn thả làn hơi du dương nhưng tôi thấy “mỗi ngày mỗi cách xa…” xa trong cuộc sống, xa với tình yêu mà thật gần bài hát. Tôi đã biết cảm nhận “trên ngọn tình sầu”

Qua khỏi mùa đông anh cũng dọn nhà đi nơi khác, để lại trong tôi kỷ niệm về “Một Mùa Đông” anh đã cho những mơ màng rung động, những phút dệt mộng tình yêu đơn phương nhẹ nhàng như sương khói.

            Còn nhớ những buổi chiều bạn bè tìm đến quán Hoa hồng 9, trời mùa đông lạnh lẽo, bên ngoài mưa rơi, trong quán Thái Thanh hát “Giòng Sông Xanh”, “Tình Hoài Hương”, “Dưới Giàn Hoa Cũ”, “Dạ Khúc”… Cùng tách trà lipton nóng, được bỏ hạt ô mai vào trong, trên có lát cam, vị thơm của trà pha mặn, mùi ngọt của lát cam thật ấm áp và sảng khoái. Số bản nhạc được chúng tôi yêu cầu vì giờ vắng khách, mỗi đứa mỗi tâm trạng… có đứa đang yêu thầm, có đứa đang vỡ mộng chán chường, có đứa đang mệt mỏi tình cảm, thất tình… cho nên nghe bản nào cũng thấy hợp, cũng se lòng thắt dạ đến ngây ngất. Không nhất thiết phải nói với nhau, nhưng chúng tôi rất cần có nhau mỗi khi đi uống cà phê, bởi vì đa số những quán cà phê ở Huế rất trầm lắng và thanh lịch, hầu như vào đó để nghe nhạc cho nên bọn con gái chẳng ngại điều gì mà không hưởng những giây phút thần tiên như vậy.

            Sau 1975 mọi người như từ trên cao rớt xuống vực sâu, tinh thần suy sụp, không còn niềm tin, không còn nguồn vui bám víu. Mọi gia đình đều ly tán, bế tắc… Dân Huế bán nhà vào Nam rất đông. Gia đình bạn tôi tên Dung cũng vào cư xá Thanh Đa ở chật hẹp trong căn chung cư. Vào khoảng năm 80, 81 tôi cũng tìm đường vượt biển, ở nhà bạn thêu hàng áo dài chung. Tôi chỉ cần có chỗ tá túc trong thời gian chờ đợi liên lạc đường dây tổ chức, nên thêu kiếm bao nhiêu tiền tôi không để ý, giao hết cho bạn chi tiêu ăn uống. Gia đình bạn có tới 12 chị em, mẹ mất trước 75, cha đi “tù cải tạo” chưa về. Một hôm Dung mua được cuốn casettes cũ của ai với tựa đề “Em Ra Đi Mùa Thu” cô TT hát, nhưng trước khi mua, Dung hỏi cả nhà:

            Tiền chợ mỗi ngày tiêu chuẩn chỉ $10 (bạc bắc) có ai chấp nhận hôm nay ăn rau muống chấm xì dầu, để tiền mua cuốn nhạc không? Mấy em nhỏ chẳng để ý, người lớn muốn làm gì thì làm, các chị lớn hoan nghênh liền:

– Chị Dung mua đi, ăn rau một ngày mô có chết, nghe nhạc cho đã tai.

Thế là mâm cơm chỉ có tô xì dầu xắn ớt tươi chan cơm và mấy bó rau luộc. Giây phút lịm người nhất là sau những buổi cơm trưa, đóng cửa, không gian mờ tối cả nhà nằm hết dưới sàn xi măng, mở nhạc ru giấc ngủ, nghe đến thuộc làu các bản nhạc “Hòn vọng phu 1”, “Gánh Lúa”, “Cho Tôi Yêu Lại Từ Đầu”, “Em Ra Đi Mùa Thu”, “Quê Em”, “Thư Gởi Người Chiến Binh”, “Ca Dao Me”, “Phút Đầu Tiên” …v..v… Dù thời gian đó ai cũng bị tình trạng ăn uống thiếu chất, nhưng những buổi trưa như vậy đã bổ dưỡng nhiều cho tâm hồn chúng tôi được tươi mát dịu vợi, nhất là …

 “Em ra đi mùa thu, mùa thu không trở lại

Đếm lá úa mùa thu, đo sầu ngập tim tôi

………………………………..

Hôm em ra đi mùa thu. Mùa thu không trở lại

Lá úa khóc người đi. Sương mờ dâng lên mi

Em ra đi mùa thu. Mùa lá rơi ngập ngừng

Đếm lá úa sầu lên, bao giờ cho tôi quên… (Phạm Trọng Cầu)

            Còn gì sung sướng hơn được hài lòng với mộng, tôi còn nhớ thầy dạy môn đạo đức đã giảng “tưởng tượng hay giấc mơ là trạng thái của sự thiếu thốn đè nén”, nên nó giải tỏa và thỏa mãn bằng phương cách đó. Chúng tôi được ve vuốt bởi tiếng hát “thuốc phiện”, đưa hồn lâng lâng lên thấu tầng mây xanh, quay lưng thực tại để được ru, được đi vào khung trời lãng mạn của Paris với khu vườn Luxembourg, và hóng mát bên dòng sông Seine rồi đi dần vào giấc ngủ thần tiên.

Không còn niềm rung động nào bằng thời điểm đó chìm lắng theo “Cho Tôi Lại Từ Đầu” sáng tác của Trần Quang Lộc, chúng tôi gần như mê man với bản nhạc này, dĩ nhiên chỉ có “Tiếng hát vượt thời gian” mới diễn đạt sâu sắc được

“Cho tôi bước lại con đường làng. Ngày đầu cắp sách đến trường.

Bên tai tiếng cười tiếng nói lạ. Dịu dàng mùi thơm giấy mới

Cho tôi hát lại câu hát đầu. Như thuở mẹ ru rất yêu

Tay tôi xếp hoài con diều nhỏ. Để ước mơ vào mây cao

Cho tôi giữ lại khung trời mộng. Chiều về đuổi bướm trên đồng 

Nâng niu hát đùa với dế nhỏ. Trải mình nằm trên cỏ ấm

Cho tôi đứng chờ em cuối đường. Lá đổ lòng nghe vấn vương

Thơ tôi viết hoài cho tình mộng. Để hát cho người yêu nhau

Cho tôi lại từ đầu …Để được khóc, được thương được nhớ

Cho tôi lòng thật thà …trên môi đời nghiệt ngã

Để hương xưa …nhỏ xuống tình già

Cho tôi nói lại tiếng tình đầu. Một chiều em đứng bên cầu

Che nghiêng nón cười như dấu mộng. Thẹn thùng nụ hoa mới hé

Cho tôi nhớ lại hương tóc mềm. Gió chiều thả hương ấm vai

Đêm mơ thấy tình đi nhè nhẹ. Mà nhớ em ngày xa xăm…”

            Cuối năm 1985 tôi qua Mỹ bằng đường biển, cô em họ của ông xã tôi cũng vượt biển tới đảo Galang, được bố chồng tôi bảo lãnh qua Mỹ sống chung nhà. Một hôm ông Thầy cũ muốn thăm cô em, cô không muốn tiếp tại nhà đông đúc nên rủ tôi đến nơi ông ở. Hai người nói chuyện, tôi ngồi nhìn mấy tờ báo, tình cờ thấy tấm poster quảng cáo đêm nhạc Thái Thanh vừa qua Mỹ, thấy tôi cứ nhìn chăm, ông Thầy quay qua hỏi tôi:

– Chị thích tiếng hát ca sĩ nào nhất

– Thái Thanh

Ông Thầy sáng mắt:

– OK…tôi mời chị và Vân đi xem buổi ca nhạc cuối tuần này có được không?

Tôi đưa mắt nhìn Vân không trả lời, Vân lanh ý nói sẽ xem lại chương trình rồi trả lời sau.

Nhìn giá vé buổi ca nhạc dù không phải hạng nhất nhưng tôi cũng le lưỡi thấy số tiền rất lớn, mới qua lại tay trắng rất ngại chẳng muốn đi, còn Vân thì không mê nhạc cho lắm, nhưng ông Thầy có vẻ nhiệt tình mời mọc như người gặp được tri kỷ

– Chị mê tiếng hát Thái Thanh nên tôi mừng lắm, muốn có người hợp sở thích cùng đi nghe.

Vân thương tôi nên cũng xiêu lòng nhận lời. Đêm đó ông thầy đến nhà chở 2 chị em đi. Nếu như còn ở VN, mà lại ở Huế đời nào tôi được xem buổi văn nghệ như vậy.

Bước vào rạp, tim tôi hồi hộp như sắp được gặp lại cố nhân. Chương trình có phần phụ diễn ca sĩ Ngọc Lan. Cô TT hát say sưa những bản quen thuộc tôi từng nghe như “Mái Tóc Dạ Hương”, “Kỷ Vật Cho Em”, “ Quán Bên Đường”, “Tình Ca”, “Bóng Người Đi”….v..v…. Giờ giải lao tôi không ngần ngại chen chân mua cuốn CD “Quê Hương và Kỷ Niệm”, mừng rỡ có 2 bài tôi ghiền nhiều là “Giòng Sông Xanh” và “Đôi Mắt Người Sơn Tây”. Đó là món quà đặc biệt nhất ngày tôi vừa bước chân đến Mỹ được hơn 3 tháng.

            Thời gian kế tiếp tôi học lái xe có người chuyên nghề dạy. Ông là cựu sĩ quan, ngoài giờ làm hãng điện tử, dạy thêm kiếm tiền. Sau giờ học trên đường trở về nhà, tôi thấy ông bỏ nhạc Minh Hiếu trên xe, ông hỏi tôi thích giọng ai, tôi cho biết thích TT, ông nổi hứng hứa sẽ tặng tôi cuốn băng TT. Tối ông đến nhà đưa liền cuốn CD chủ đề “Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn”, đây là những kỷ niệm liên quan đến tiếng hát cô Thái Thanh tôi rất trân quý giữ nó một góc trong tâm hồn…

            Cuộc sống bắt đầu thấm mệt theo những bận rộn công việc, không còn thời gian để nghỉ ngơi. Tôi cày ngày 12 tiếng, tháng 30 ngày, đạp theo chân người Mỹ vì cũng phải sắm xe, nợ nhà, thêm bản tính dân Huế hay lo xa, cày được cứ cày, lỡ ngày mai thất nghiệp. Về nhà chỉ biết thèm giấc ngủ, tuy nhiên cũng còn nũng nịu bắt cô TT dỗ dù chỉ 1, 2 bài rồi say giấc ngủ dễ dàng. Vài năm sau tôi thay công việc làm cho company Kyle Design nên được nghỉ ngày cuối tuần thong thả.      

Giấc ngủ muộn màng, mở tung cánh cửa sổ thấy bầu trời trong sáng rực nắng hạ, hay màn mưa mù ngoài song, cảm giác sung sướng thoát khỏi cảnh bị đồng hồ báo thức. Nằm nướng mở nhạc chiếc máy để đầu giường, nghe cô đưa vào kỷ niệm xa xưa… Hay là pha ly cà phê sữa nóng, ngồi một mình nơi phòng khách mở nhạc lớn thoải mái, ngồi bất động để tâm hồn lạc lối về miền quá khứ…

“Mời người lên xe về miền quá khứ.

Mời người đem theo toàn vẹn thương yêu

Đứng tiễn người vào dĩ vãng nhạt mầu.

Sẽ có chẳng nhiều đớn đau

Nối gót người vào dĩ vãng nhiệm mầu.

Có lũ kỷ niệm trước sau …”

            Giọng hát cô uốn lượn theo nhiều cung bậc, xoáy sâu vào lời nhạc mang hồn thi ca phong phú, xoắn mạnh vào tâm hồn tôi ngây ngất, có lúc dồn dập….

“Chiều hành quân qua những đồi sim, những đồi sim, những đồi sim, đồi tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt…” (thơ Hữu Loan nhạc Phạm Duy )

Có lúc lâng lâng …

“Lắng trong tiếng chiều ngân, nhạc dặt dìu ái ân.

Người ơi nhớ mãi cũng đàn, năm tháng phai tàn, duyên kiếp vẫn còn lỡ làng… 

“Chiều Tà” (Phạm Duy dịch)

Có lúc thắt ruột 

“Lòng Mẹ bao la như biển thái bình dạt dào…”(Y Vân)

Có lúc chùng xuống “Đêm Cuối Cùng” (Phạm đình Chương).

“Đêm nay đêm cuối cùng gần nhau. Lệ buồn rưng rưng, lời hát thương đau.

Nhịp bước bâng khuâng ngoài phố lạnh. Giọt sầu rơi rớt hồn phiêu linh….”

            Tất cả cô đều chuyên chở vào âm nhạc những vui buồn cảm xúc bằng tiếng ca lời nhạc, đã đem tâm hồn tôi đi xa, xa lắm …tạm quên đời cơm áo, những đè nặng lo âu hiện tại, tìm lại chiếc bóng ngây thơ dẫm trên đường hoa mộng, trở lại dòng sông xưa, có “bạn bè hiền như thỏ, đêm đêm về gặm cỏ dưới ánh trăng thanh…”. Thuở mây mưa giăng lối, thuở có giàn ti gôn trước hiên nhà, thuở một sớm thức dậy nghe tiếng chim hót, nhìn ánh nắng tràn qua song, vươn vai ra quét sân, thật nhẹ nhàng sợ đau những xác hoa vung vãi, nghe dư âm vang vọng tiếng hát thần tượng bên tai, rồi hát nho nhỏ:

                        “Bao nhiêu là ngày. Theo nhau đường dài

                        Trưa trưa chiều chiều. Thu đông chẳng nhiều

                        Xuân qua rồi thì. Chia tay phượng nở sang hè…”

Xứ Mỹ luôn luôn vội vã, tất bật, chính giọng hát cô đã kéo lại những giây phút thanh thản cho tâm hồn, bù đắp sau giờ làm việc mệt nhọc. Tôi chợt nhớ đã đọc đâu đó những tư tưởng lớn bày tỏ về giá trị tuyệt vời của âm nhạc, do những nhà soạn nhạc nổi tiếng thế giới đã nói:

Robert Schumann :“Nhiệm vụ cao quý của âm nhạc là chiếu sáng vào những cõi sâu thẳm trong trái tim con người”.

            Gioachino Rossini: “Ngôn ngữ của âm nhạc là ngôn ngữ chung của tất cả mọi thế hệ và mọi dân tộc; ai cũng hiểu được nó, bởi nó được hiểu bằng trái tim”.

Beethoven: “Âm nhạc khơi ngọn lửa trong tim người đàn ông và dâng lệ lên mắt người phụ nữ”.

J. B Bach: “Âm nhạc có thể giúp tinh thần rũ sạch mọi bụi trần của cuộc sống thường ngày”

Tôi làm việc trên thành phố Livermore, phải chạy qua 2 freeway 880& 580. Mỗi chiều trên đường về bị kẹt xe, mấy cuốn CD luôn là bạn gần gũi, cô luôn đi cạnh tôi an ủi, vỗ về theo nhịp “Tiếng Sông Hương” (Phạm đình Chương), “ “Hát Nữa Đi Hương” (Trầm Tử Thiêng), “ Mẹ Việt Nam Ơi” (Nguyễn Ánh 9)… Cô là người ve vuốt tôi rất nhiều bằng sự diễn đạt sâu sắc trong từng lời nhạc, bao nhiêu tình tự lãng mạn, về tình yêu quê hương, về đất nước đau buồn trong thời loạn ly, đủ sắc thái cho tôi rung động nhịp thở un đúc những cảm giác buồn vui lẫn lộn…

Cô ra đi… ngậm ngùi và nuối tiếc một bảo vật vừa bị mất mát. Đám tang Cô được tổ chức tại thành phố Westminster thuộc Nam Cali vào lúc 12 giờ trưa ngày 25 tháng 3. Trước khi tang lễ diễn ra có phần Livestream, tôi thấy có nhiều nghệ sĩ như Cô Kiều Chinh, cô Kim Tước, cô Châu Hà, nhạc sĩ Lam Phương, ca nhạc sĩ Từ Công Phụng, giám đốc Trung Tâm Thúy Nga Tô Văn Lai nói lời chia buồn. Nhìn các nghệ sĩ nay đã tuổi hạc bày tỏ cảm xúc, nước mắt tôi ràn rụa ngậm ngùi ….vì bệnh dịch Covid-19, bạn bè thân thiết, khán giả hâm mộ không thể đến thắp nén hương giã biệt, chỉ biết tưởng nhớ nén hương lòng buồn bã lặng lẽ.

Ý Lan, Quỳnh Hương và con cháu mặc áo hồng trong đám tang, cô Thái Thanh nằm bình thản được khoác y phục màu hồng tươi đẹp như mong muốn của cô lúc còn sống, cô đã quan niệm đó là “Màu Hạnh Phúc”. Nhạc vang trong đám tang bằng bài “Tình Ca”

“Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi

Mẹ hiền ru những câu xa vời

À à ơi! Tiếng ru muôn đời

Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui

Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi…”

            Chiếc xe đẩy quan tài và con cháu đi sau một đoạn đường xa, mọi người đều hát “Nghìn Trùng Xa Cách” (Phạm Duy)

Nghìn trùng xa cách đời đứt ngang rồi

Còn lời trăn trối gởi đến cho người

Nghìn trùng xa cách người cuối chân trời

Đường dài hạnh phúc cầu chúc cho người…”

            Tiếng hát Ý Lan và Quỳnh Hương nức nở nghẹn ngào, chắc hẳn bao nhiêu người hâm mộ cô cũng hát theo và rơi lệ. Bài hát này đã xoắn vào tim tôi ngày xưa khi tôi thất tình, và khi vượt biên qua đảo Pulau Bidong đầu năm 1985, mỗi khi có chuyến tàu rời đảo, tôi thường chứng kiến những cặp yêu thương nhau phải rời xa đau khổ, tiếng hát cô Thái Thanh vang lên xé buốt, giờ đây tôi lại đưa tiễn cô, nghe lại bài hát trong nỗi luyến thương, dẫu biết mọi người cũng sẽ lần lượt ra đi mà thôi…

Bệnh dịch xáo trộn mọi thứ, mọi việc. Tôi đã nghỉ hưu, suốt ngày trong nhà không đi đâu, vì nghĩ tuổi mình không còn trẻ, sức miễn nhiễm có thể yếu đề phòng kỹ lưỡng vẫn tốt hơn. Ra vườn chăm tưới hoa, vào nhà ngồi đọc sách nhưng không tập trung đầu óc. Tôi mở Google gõ những bài yêu thích, chỉ trừ không tìm ra số bài cô Thái Thanh đã hát, thì quay qua dùng CD mở máy. Tiếng hát cô vẫn du dương, vẫn đưa tôi về nhiều kỷ niệm xa xưa. Tiếng hát muôn đời ở lại. Đêm tôi bị mất ngủ, bên tai nghe tiếng yêu thương của Cô, tôi say sưa làm thơ về Cô:

Nhớ Ca Sĩ Thái Thanh

Mưa buồn mở nhạc giọng trong thanh

Hơi vút đưa tình lướt phím nhanh

Tưởng nhớ yêu thương người nghệ sĩ

Năng tài lão luyện đã thành danh

Tròn trăng thiếu nữ thấm khi nào

Tuyệt diệu âm bè luyến láy cao

“Kỷ Vật Cho Em “ buồn ứa lệ

“Giòng Sông Xanh”, “Gánh Lúa” ngời ca

“Ồ Mê Ly” bộ tứ hoà nhau

Gắn bó anh em một chuyến tàu

Ban hợp ca Thăng Long nổi tiếng

Dâng đời tài nghệ những viên châu 

“Người Về”, “Lòng Mẹ” nở ngàn hoa

“Dạ Khúc” ngày xưa quyện nắng tà

“Mái Tóc Dạ Hương” còn đắm đuối

“Nghìn Thu” tiếng hát chẳng rời xa      

                                Minh ThúyThành Nội

Giã Biệt Thái Thanh

Cánh Nhạn bay xa tiếc vạn hồi

Theo vời tiếng hát gởi mây trôi

Hơi cao thả sóng danh lừng đỉnh

Giọng vút buông thuyền tiếng nổi ngôi

Rộn rã lời duyên gieo ánh mắt

Êm đềm chữ ái thả làn môi

Người đi để lại lòng thương nhớ

Nghệ sĩ ưu tài chẳng nhạt phôi

                Minh ThúyThành Nội

Tưởng Nhớ Ca Sĩ Thái Thanh 

Chị Thái Thanh lìa cõi giá băng

Buồn dâng ký ức vẫn in hằn

“Người Về “thuở ấy trời mơ phủ

“Dạ Khúc” hôm nào khói ảo giăng

“Kỷ Niệm” từng làm trăng uốn đảo

“Tình Ca” đã khiến gió xoay quằn

Say mê tiếng hát ngôi thần tượng

Nguyện ước cho người sớm vãn thăng

                    Minh Thúy Thành Nội

Trời đã cuối thu… màu sắc bên ngoài héo úa, cành lá trơ trọi chuẩn bị đi theo mùa đông ảm đạm. Biết bao giờ cuộc sống hết con vi khuẩn tàn ác phá hoại. Thiên tai hỏa hoạn tại Bắc Cali, bão gió bên Texas, biểu tình bên Seattle… Buồn và lo âu đủ thứ chuyện. Mùa đông lại sắp đến, mùa thường làm con người ta trầm ngâm ngồi nhìn mưa… thả tâm hồn trở về ngày tháng cũ, ký ức mơ hồ hoang vắng, tâm tư lạc lõng chơi vơi buông rơi niềm đau nỗi nhớ trên cung sầu phím lạc…

Tôi đang nghe bài “Tình Cầm” (thơ Hoàng Cầm, nhạc Phạm Duy)

Tiếng hát cô lanh lảnh, ngây ngất se thắt lòng tôi. Đêm tĩnh lặng, thơ nhạc giờ này là người bạn gần gũi tôi nhất, cô vẫn luôn bên tôi, tiếng hát cô đang vỗ về, dìu dắt tôi đi vào giấc mộng êm đềm thật xa…

“Nếu anh còn trẻ như năm cũ

Quyết đón em về sống với anh

Những buổi chiều buồn phơ phất lại

Anh đàn em hát níu xuân xanh

Nhưng thuyền em buộc bên sông hận

Anh chẳng quay về với trúc tơ

Ngày tháng Tỳ Bà vương ánh nguyệt

Mộng héo bên song vẫn đợi chờ

Có mây bàng bạc gây thương nhớ

Có ánh trăng vàng soi giấc mơ

Có anh ngồi lặng so phím cũ

Mong chờ em hát khúc xuân xưa

Nếu có ngày nào em quay gót

Lui về thăm lại bến thu xa

Thì đôi mái tóc không xanh nữa

Mây bạc, trăng vàng vẫn thướt tha…”

Minh Thúy Thành Nội 2020




Vọng xuân thanh bình

Tony Nguyễn

Nhân Tết Tân Sửu, thay lời chúc, xin mời quý bạn thưởng thức một bài thơ « đọc xuôi, đọc ngược » (thuận nghịch độc) :


Vọng xuân thanh bình
Ðông tàn, đã thắm rộ đào, mai,
Tết chúc mừng: vinh, phúc, lộc, tài.
Sông núi rộn reo hò chốn chốn,
Thị-thành vang hát xướng nơi nơi.
Mong chờ, vẫn biển ngàn ngăn cách,
Ðợi ngóng, hàng năm tháng miệt mài.
Lòng héo úa thêm chồng chất tuổi,
Nông, sâu, đục nước chuyện cùng ai ?

Ðọc ngược, ta có một bài thơ khác, vẫn giàu tính thơ:
Ai cùng chuyện nước đục, sâu, nông ?
Tuổi chất chồng thêm héo úa lòng.
Mài miệt tháng năm hằng ngóng đợi,
Cách ngăn ngàn biển vẫn chờ mong:
Nơi nơi xướng hát vang thành thị,
Chốn chốn hò reo rộn núi sông,
Tài, lộc, phúc, vinh, mừng chúc Tết,
Mai, đào rộ thắm, đã tàn Ðông.
 
                  Đỗ Quang Vinh

Xin mượn bài thơ này gửi đến bè bạn mọi nơi : đây là lúc mà tâm tình những kẻ tha hương, ngày càng giống nhau và gần nhau hơn[1].
Có thể, vì chúng ta gốc gác Việt Nam nên khen « Tiếng Việt tuyệt vời » nghe không chói tai, chứ kỳ thực người nước nào mà chẳng trau dồi tiếng xứ ấy và sẵn sàng gán cho ngôn ngữ ấy hai chữ « tuyệt vời ». Cách « đọc ngược, đọc xuôi » (« thuận nghịch độc ») đâu phải chỉ là sở trường của ngôn ngữ thơ văn Việt Nam. Sử dụng ngôn ngữ như vậy, đọc xuôi, đọc ngược, gọi là « palindromes », tiếng Pháp tiếng Anh đều có cả.
Sau đây là vài thí dụ văn xuôi tiếng Pháp : ta có thể đọc một từ, hoặc một cụm từ, từ trái sang phải, hoặc đọc từ phải sang trái, đều giống nhau, và nghĩa cũng như nhau. Từng từ một, như : « non », « ici », « ressasser », hoặc một câu nhiều từ như : « élu par cette crapule », « Ésope[2] reste ici et se repose », « un roc si biscornu », « engage le jeu, que je le gagne », « eh, ça va la vache », « Léon n’osa rêver à son Noël », « à l’autel elle alla, elle le tua là »…
Tiếng Anh không thiếu trường hợp tương tự, hoặc một từ, như : « eye », « Eve », « noon », « civic », « madam », hoặc một câu nhiều từ như : « was it a car or a cat I saw ? », « even in eden I win eden in Eve », « Tivoli, I lov’it », « a man, a plan, a canal, Panama », hoặc đọc thuận đọc xuôi cả cụm từ : « King, are you glad you are King ? »…

Tuy nhiên, không phải ngôn ngữ nào cũng đưa cách chơi chữ này đến một vị trí như trong tiếng Việt. Theo Nguyễn Văn Ngọc, trong Nam Thi Hợp Tuyển, thơ thuận nghịch độc tuy làm theo thể thơ Đường nhưng lại là một lối riêng của thơ Việt Nam. Làm một bài thơ Đường luật đã khó, nhưng khi làm thơ « thuận nghịch độc » thì mỗi câu thơ lại đọc xuôi, đọc ngược làm sao cho cả hai cách đọc (xuôi, ngược) đều có ý nghĩa và hợp vần luật. Muốn được như thế, phải nắm bắt được một số quy luật, tuy không khó viết, nhưng viết xong lại khó hay. Hàn Mặc Tử, Tự Đức cũng từng làm thơ đọc xuôi, đọc ngược, nhưng nếu đem so những bài này với các bài thơ khác trứ danh, thì không có gì thật là « siêu phàm »[3]. Có người, vì đã nắm bắt được quy luật như thế, cho đăng luôn trên Mạng đúng 400 bài « thuận nghịch độc ». Làm thơ như vậy, đúng là để phá kỷ lục, chứ không phải vì yêu thơ.
Cho nên, thơ thuận nghịch độc tuy không hiếm, nhưng bấy lâu nay, vẫn chỉ thấy có một bài với tám cách đọc, không biết ai là tác giả :[4]

Bài thơ kỳ lạ, tám cách đọc : đọc xuôi, đọc ngược…

1. Bài thơ gốc:

Ta mến cảnh xuân ánh sáng ngời
Thú vui thơ rượu chén đầy vơi
Hoa cài giậu trúc cành xanh biếc
Lá quyện hương xuân sắc thắm tươi
Qua lại khách chờ sông lặng sóng
Ngược xuôi thuyền đợi bến đông người
Xa ngân tiếng hát đàn trầm bổng
Tha thướt bóng ai mắt mỉm cười.

2. Ðọc ngược bài gốc từ dưới lên:

Cười mỉm mắt ai bóng thướt tha
Bổng trầm đàn hát tiếng ngân xa
Người đông bến đợi thuyền xuôi ngược
Sóng lặng sông chờ khách lại qua
Tươi thắm sắc xuân hương quyện lá
Biếc xanh cành trúc giậu cài hoa
Vơi đầy chén rượu thơ vui thú
Ngời sáng ánh xuân cảnh mến ta.

3. Bỏ hai chữ đầu mỗi câu trong bài gốc,
ta được bài (ngũ ngôn bát cú, luật bằng vần bằng):

Cảnh xuân ánh sáng ngời
Thơ rượu chén đầy vơi
Giậu trúc cành xanh biếc
Hương xuân sắc thắm tươi
Khách chờ sông lặng sóng
Thuyền đợi bến đông người
Tiếng hát đàn trầm bổng
Bóng ai mắt mỉm cười.

4. Bỏ hai chữ cuối mỗi câu trong bài gốc,
đọc ngược từ dưới lên, ta được bài
(ngũ ngôn bát cú, luật bằng vần bằng):

Mắt ai bóng thướt tha
Ðàn hát tiếng ngân xa
Bến đợi thuyền xuôi ngược
Sông chờ khách lại qua
Sắc xuân hương quyện lá
Cành trúc giậu cài hoa
Chén rượu thơ vui thú
Ánh xuân cảnh mến ta.

5. Bỏ ba chữ cuối mỗi câu trong bài gốc,
ta được bài (tám câu, mỗi câu bốn chữ ):

Ta mến cảnh xuân
Thú vui thơ rượu
Hoa cài giậu trúc
Lá quyện hương xuân
Qua lại khách chờ
Ngược xuôi thuyền đợi
Xa ngân tiếng hát
Tha thướt bóng ai.

6. Bỏ ba chữ đầu mỗi câu trong bài gốc, đọc ngược từ dưới lên, ta được bài (tám câu, mỗi câu  bốn chữ):

Cười mỉm mắt ai
Bổng trầm đàn hát
Người đông bến đợi
Sóng lặng sông chờ
Tươi thắm sắc xuân
Biếc xanh cành trúc
Vơi đầy chén rượu
Ngời sáng ánh xuân.
7. Bỏ bốn chữ đầu mỗi câu trong bài gốc,
ta được bài (tám câu, mỗi câu ba chữ) :

Ánh sáng ngời
Chén đầy vơi
Cành xanh biếc
Sắc thắm tươi
Sông lặng sóng
Bến đông người
Ðàn trầm bổng
Mắt mỉm cười.

8. Bỏ bốn chữ cuối mỗi câu trong bài gốc,
đọc ngược từ dưới lên, ta được bài (tám câu, mỗi câu ba chữ):

Bóng thướt tha
Tiếng ngân xa
Thuyền xuôi ngược
Khách lại qua
Hương quyện lá
Giậu cài hoa
Thơ vui thú
Cảnh mến ta.
Âu cũng là một cách thưởng Xuân nhẹ nhàng, ý nhị…
Đ.T.H.
 


[1] http://www.vietnamdaily.com/index.php?c=article&p=14893
[2] Ésope : tác gia ngụ ngôn, gốc cổ Hy Lạp.
[3] https://ocuaso.com/tho-viet-nam/chum-tho-bat-hu/2-bai-tho-thuan-nghich-doc-luc-chuyen-hoi-van-cua-han-mac-tu.html
[4] http://vuhungviet.blogtiengviet.net/2017/03/19/m_tinh

– TẢN MẠN VỀ THƠ THUẬN NGHỊCH ĐỘC Ta thấy, theo bảng luật trên thì câu 1 và câu 8 (2 câu này niêm luật như nhau) đã bị lỗi khổ độc ở 1 chiều đọc, …
http://vuhungviet.blogtiengviet.net/2017/03/19/m_tinh



Tự Hào hai chữ SÀI GÒN

Chiếc đồng hồ Patek Philippe 2523 giờ thế giới có khắc tên SAIGON được sản xuất năm 1953 trở thành chiếc đồng hồ đắt nhất được bán ở Á châu.

SAIGON – cái tên địa danh 1 trong 40 thành phố nổi tiếng trên thế giới được khắc tên trên mặt đồng hồ Thụy Sỹ từ những năm 1953. Chiều qua uống cafe với đứa em, buôn chuyện khắp thế giới mới biết em cũng cùng sở thích mê đồng hồ (mình chỉ mê thôi nha). Em gởi hình cái đồng hồ và hỏi có biết  tin thú vị này không ? Xem xong thật sự mình rất rất ngạc nhiên xen lẫn tự hào cái tên SAIGON được khắc trên mặt đồng hồ của một thương hiệu nổi tiếng nhất thế giới – PATEK PHILIPPE – model 2523 của Thụy Sỹ.  Tin quá hay và quá thú vị không phải ai mê đồng hồ cũng biết. 

***

Tối mình về nhà lật đật “lục tung” internet tìm hiểu mới càng “nổi da gà”, khi biết nó được sản xuất năm 1953, khi miền Nam lúc đó do Pháp đô hộ, nhưng thành phố SAIGON được khắc tên 1 trong 24 múi giờ thế giới. 

Cái tên được ngạo ngễ đứng chung với 40 thành phố nổi tiếng đại diện trên thế giới: Sydney, Montreal, Moscow, New York, California, Rio De Janeiro, London, Paris, Geneva, Tokyo,…..có cả Singapore (mình hơi thắc mắc nước Singapore thành lập năm 1965, nhưng đồng hồ này lại được sản xuất năm 1953 ?).

Tương truyền, vào năm 1876 sau khi lỡ chuyến tàu ở Ireland, kỹ sư đường sắt người Scotland – Mr.Stanford Fleming bắt đầu tìm cách chuẩn hóa thời gian. Phát biểu trước Viện Hoàng gia Canada ở Toronto năm 1879, ông đề xuất chia trái đất thành 24 múi giờ, mỗi múi cách nhau một tiếng với thời gian chung cho từng múi giờ riêng lẻ. Ý tưởng của ông đã vấp phải sự phản đối đáng kể từ các chính phủ và cộng đồng khoa học nhưng sự kiên trì của ông đã được đền đáp khi khái niệm mang tính cách mạng của ông cuối cùng được thông qua vào năm 1884 tại Washington, khi 25 quốc gia tham gia hội nghị Kinh tuyến Quốc tế quyết định rằng kinh tuyến gốc của kinh độ 0 ° sẽ đi qua Greenwich, nước Anh.

Đồng hồ giờ thế giới dường như ít được các tín đồ đồng hồ quan tâm cho đến khi nhà chế tác đồng hồ thiên tài Mr.Louis Cottier thiết kế một bộ máy đồng hồ bỏ túi có giờ địa phương với kim giờ và kim phút ở trung tâm, được liên kết với một vòng xoay 24 giờ và được bao quanh bởi một vòng quay số cố định bên ngoài với tên của các thành phố khác nhau được ghi trên đó. Đồng hồ bỏ túi giờ thế giới, tiền thân của tất cả đồng hồ giờ thế giới, hiển thị đồng thời mọi múi giờ trên thế giới, đồng thời cho phép xem giờ địa phương dễ dàng và chính xác, và tất cả trên một mặt số duy nhất.

Cottier đã thu nhỏ phát minh của mình vào cuối những năm 1930, xuất hiện trên chiếc Patek Philippe model 1415. Đến năm 1953, Patek Philippe model 2523 có hệ thống hai núm vặn mới, một để lên dây cót và một ở vị trí 9h để điều khiển đĩa các thành phố. Khi được giới thiệu ra thị trường, đồng hồ hai núm mới này không thành công về mặt thương mại, nên rất ít sản phẩm được sản xuất. Chỉ có 7 cái được chế tác bằng vàng hồng,  5 cái có bản đồ thành phố Âu châu  và Bắc Mỹ. Trong đó, 1 trong 2 cái duy nhất dùng bản đồ Âu Châu & Á châu  có mặt sứ màu xanh nước biển, khi lặn xuống nước màu trên mặt có một chiều sâu như dưới biển. Đồng hồ duy nhất này có cả 2 thứ trên mặt mà các nhà sưu tập đồng hồ mong muốn là mặt bằng men Enamel (loại sứ trên cái mặt tròn ở giữa) phải nung 2 lần mới thành. Và mặt trang trí vói những pattern bằng máy (do huyền thoại Louis Cottier phát minh, sau đó hãng Patek Philippe sử dụng). Đặc biệt được sản xuất trong thập niên 50 thế kỷ trước, thập niên hoàng kim của chế tạo, thiết kế, kỹ thuật điêu luyện của đôi tay những bậc thầy.

Và…..chiếc đồng hồ Patek Philippe 2523 giờ thế giới có khắc tên SAIGON được sản xuất năm 1953 trở thành chiếc đồng hồ đắt nhất được bán ở Á châu. Nghe nói đâu  vài triệu đô chứ mấy ?!? Ahihi…!

Minh Hoà Photographer  (SaiGon – Nov. 16, 2020)




Chết tập thể trong trại tù “cải tạo”!

CHS/PCT/ ĐN54-60,

Cựu tù nhân cải tạo Chế Văn Thức

Lời nói đầu: Khi chính quyền Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) non trẻ của Miền Nam Việt Nam bị sụp đổ bởi sự phản bội của nước bạn đồng minh. Quân Cộng sản miền Bắc tiến chiếm Miền Nam, trên thế giới đã có một nhận định cho rằng: sẽ có cuộc tắm máu xảy ra.

Nhưng không, rút kinh nghiệm của các nước cộng sản “anh em” và của chính Cộng Sản Việt Nam (CSVN) qua những lần tắm máu, sau khi cướp được chính quyền, bị thế giới lên án nặng nề. Lần này, sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, CSVN không áp dụng thủ đoạn tắm máu mà thi hành chính sách KHÔ MÁU! Đối với Quân Dân Cán Chính VNCH.

Bài viết sau đây, tôi kể lại một chuyện thật, không hư cấu, một trong trăm ngàn sự thật về chính sách đối xử tàn độc của chế độ CSVN với nhân dân Miền Nam Việt Nam! Đề tài khô khan, mong người đọc thông cảm.


TRẠI TÙ SUỐI MÁU, Biên Hòa.

Phản Kháng Của Tù Cải Tạo Trong Đêm Noel 1978.

Sau ba năm lao động khổ sai trên vùng rừng núi cao nguyên Lambiang (Lâm Viên) cuối dãy Trường Sơn. Những sĩ quan QLVNCH, người tù chính trị không án, được ngụy trang dưới mỹ từ “cải tạo”, do các đơn vị bộ đội quản lý từ sau ngày 30 tháng Tư năm 1975. Nay vì nhu cầu cuộc chiến xâm chiếm nước láng giềng Cambodia vào cuối năm 1978, bộ đội đã chuyễn chúng tôi trở về trại Suối Máu, Biên Hòa, giao qua ngành công an quản lý.

Tùy tình thân giữa bạn tù với nhau, trong các ngày lễ lớn của bất cứ tôn giáo nào, hay những ngày lễ Quốc Gia, ngày tết Dương Lịch, tết Nguyên Đán, chúng tôi từng nhóm tụ năm tụ bảy hàn huyên tâm sự. Chiều hôm 24 tháng 12 năm 1978, từng nhóm bạn gom góp mỗi người một ít đường, gạo nếp, đốt lửa đó đây dọc theo hè nhà, nấu chè lạc để có bửa ăn chung đón mừng ngày Chúa Giáng Sinh. Trên vọng gác, công an trông thấy dấu hiệu lạ trong các khu giam tù từ K1, đên các khu K2, K3. Khoảng 7 giờ tối, từng toán công an võ trang vào bên trong tuần tra, hỏi chúng tôi chuyện gì mà tụ tập, chúng tôi giải thích. Toán tuần tra rão quanh một vòng rồi trở ra ngoài.

Đến 8 giờ tối, hầu hết các K vang lên tiếng cười cùng tiếng vỗ tay. Khu K1 nơi giam tù sĩ quan cấp Thiếu và Trung úy, tuổi chừng 20 đến 30 rất trẻ, còn tràn đầy sinh khí, ồn ào náo động nhất, họ hát Thánh ca, tình ca với những chiếc đàn guitar tự chế.

Các toán công an võ trang trở vào, ra lệnh “cải tạo viên “ giải tán vào bên trong láng (nhà). Chưa đến 10 giờ đêm, giờ ngủ theo quy định của trại, họ cưỡng lệnh không chịu vào. Có tiếng súng nổ, công an võ trang bắt đi ba người tù đem ra ngoài khu giam.

Lập tức, toàn thể tù nhân khu K1 gọi nhau tập trung ở sân trước đối diện với cửa ra vào Ban giám thị trại. Họ dùng tay làm loa che miệng, đồng thanh kêu gọi Giám thị trại thả người trở vào, cũng hướng về các khu K2 giam tù cấp Tá, khu K3 cấp Đại úy để thông báo tình hình và xin tiếp tay yểm trợ, bằng cách tất cả tù nhân ra khỏi láng, làm theo những gì bạn tù K1 yêu cầu với Giám thị trại.

Bên ngoài, Giám thị trại vẫn im lìm, bên trong âm thanh hò reo của tù nhân vang dội toàn khu trại tù Suối Máu. Ngay lúc này, tại K2 các bạn tù cấp Tá, nhanh chóng thành lập Ủy Ban Hành Động (UBHĐ). Thiếu tá Không Quân Lê Thanh Hồng Vân vóc người to cao, làm Trưởng UBHĐ (hiện nay anh đang định cư tại Florida). Thiếu tá Pháo binh Lê Văn Sanh làm Phó Trưởng Ban (nay anh định cư tại Texas) và nhiều thành viên cho từng bộ phận, như bộ phận Hành Động, bộ phận An Ninh, bộ phận Kế Hoạch. Một số thành viên trong UBHĐ chui hàng rào kẻm gai, sang K1 hổ trợ và bàn kế hoạch. Hàng rào kẽm gai ngăn giữa các K trước đấy rất kiên cố, nhưng sau ba năm do bộ đội quản lý, cán binh bộ đội nhổ bớt cọc sắt ấp chiến lược và tháo lấy kẽm gai để làm việc riêng tư, nên nay hàng rào thưa trống, người chui qua lại rất dễ dàng.

Đã giữa khuya, Giám thị trại vẫn không động tĩnh. Bước đầu UBHĐ kêu gọi nhau hát các bản Thánh ca, trong đó bản HANG BELEM :

Ðêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời

Chúa sinh ra đời nằm trong hang đá nơi máng lừa.

Trong hang Bê-lem ánh sáng tỏa lan tưng bừng . . .

là bản nhạc dễ hát nhất, hầu như ai cũng hát được, không phân biệt tôn giáo, các bạn tù Ki Tô Hữu hát lớn mọi người cùng hát theo, lặp đi lặp lại liên hồi, chen lẫn với tiếng vổ tay, tiếng kêu gọi thả tù. Trời về khuya tỉnh mịch, âm thanh vang dội đến tận vùng dân cư nhà thờ Hố Nai, Biên Hòa.

Có tiếng động cộc cạch từ những loa phóng thanh đặt sẵn trong các K giam tù, để Giám thị trại thông báo chỉ thị, mở đài (radio) phát thanh Hà Nội, đài Saigòn giải phóng cho tù nhân nghe tin tức vào mỗi sáng sớm và chiều tối. Giám thị trại lên tiếng:

“Yêu cầu tất cả “trại viên cải tạo” trong các K giải tán trở vào láng để ngủ, sau đó Ban giám thị sẽ cho ba trại viên trở vào.”

Không ai bảo ai mọi người đồng loạt trả lời:

“ Phải thả người vào trước đã”.

Hai bên, lời qua tiếng lại giằng co mãi, lồng trong tiếng hát Thánh ca mỗi lúc một vang dội hơn, mặc dù đêm đông giá lạnh nhưng mọi người vẫn kiên trì ngồi dưới sương khuya.

Từ xa vọng lại tiếng động cơ nổ rầm rì, rồi dần dần nghe rõ tiếng xích sắt của xe tăng nghiền trên mặt đường nhựa, từ hướng nhà thờ Hố Nai tiến về trại tù Suối Máu. Bọn cai tù lượng định tình thế, kéo dài thời gian xin chỉ thị cấp trên, điều động xe tăng đến mặt trước của trại tù để thị oai. Không nao núng, UBHĐ đưa ra quyết định, gọi lớn ra bên ngoài:

“Nếu ban giám thị trại không thả người vào, đêm nay tất cả trại viên cải tạo sẽ không vào ngủ”.

Tiếng gầm gừ của máy nổ, tiếng xích sắt của tăng nghiền trên mặt đường mỗi lúc nghe ác liệt hơn, rồi từng loạt đại liên trên tăng thay nhau nổ dòn, đạn hú xé không gian, xẹt ánh lửa vèo vèo ngang qua các nóc nhà trại giam.

Trước tình huống đã cởi lưng cọp không thể lùi, UBHĐ họp bàn quyết định, thông báo cho Giám thị trại:

“Ngày mai toàn thể trại viên cải tạo sẽ TUYỆT THỰC nếu trại không thả người vào”.

Đồng thời loan báo đến các K:

“Yêu cầu tất cả các toán anh nuôi, sáng ngày mai KHÔNG ĐƯỢC RA BỘ CHỈ HUY LÃNH GẠO VÀ THỰC PHÂM, cho đến khi Ban giám thị trại thả người vào.”

Tiếng hát Thánh ca tiếng vỗ tay, tiếng gọi thả tù vẫn tiếp tục vang vang trong đêm khuya. UBHĐ kêu gọi các bạn tù lớn tuổi vào láng để nghỉ trước, nhưng không một ai chịu rời chỗ. Biện pháp TUYỆT THỰC của tù nhân là sự việc bất ngờ đối với Giám thị trại. Phần chủ động của quyết định này thuộc về phía tù nhân. Không một toán anh nuôi nào có thể cưởng lại, không chấp hành, nếu họ muốn sống còn.

Thấy tình thế không thuyết phục được đám tù nhân nếu không thả tù:

“Giám thị trại Bằng lên tiếng yêu cầu toàn thể trại viên cải tạo giải tán vào ngủ. Ba trại viên sẽ trở vào khi làm xong kiểm điểm trong một thời gian ngắn”.
Cùng lúc ấy tiếng máy nổ của xe tăng xa dần khu trại tù Suối Máu.

Khuya lắm rôi, tù nhân vẫn ngồi hát Thánh ca. Bổng có tiếng dây xích sắt lỏn cỏn va chạm vào trụ cổng K1, của mở ba bạn tù bước vào bên trong. Tiêng hoan hô, reo hò gọi tên ba bạn tù. UBHĐ thông báo đến mọi người trở vào láng và bỏ lệnh tuyệt thực, để ngày mai các toán anh nuôi tiếp tục làm nhiệm vụ cơm nước.

ĐƯỜNG VÀO ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN

Noel, 24 tháng 12 năm 1978, đã là ngày 25 tháng 11 năm Mậu Ngọ, chỉ còn đúng một tháng đến tết Kỷ Mùi 1979. Thời gian này, nước lớn đàn anh Trung Cộng dạy cho bọn đàn em CSVN một bài học ở địa đầu giới tuyến. Không khí trong trại tù sôi sục về thời sự nghe được qua loa phóng thanh của trại.

Sau đêm tù cải tạo phản kháng, chúng tôi nghĩ sẽ có sự trừng phạt đến với một số người. Nhưng không, Giám thị trại, những con cáo già không biểu lộ một thái độ hằn học nào. Ngược lại cục trại giam đưa cán bộ tuyên huấn đến trại nói chuyện về tình hình biên giới Việt Trung, tuyên truyền, đề cao bộ đội cộng sản ở tuyến đầu chống trả quân bành trướng Trung Quốc v.v…

Giám thị trưởng trại tỏ ra thân thiện vui vẽ, liên tiếp vào trại tập họp “trại viên cải tạo” nói chuyện về chánh sách cải tạo khoan hồng của đảng, nhà nước và nhân dân . . . Ngoài ra, giám thị trại bàn đến ngày tết truyền thống, tết Kỷ Mùi, đề ra kế hoạch thi đua, mừng đón Xuân. Mục đích đánh lạc hướng kế hoạch đòn thù mà chúng sẽ áp dụng.

Sau những ngày tết Kỷ Mùi, đầu tháng 2-1979, bửa cơm chiều vừa xong, tù nhân cấp Tá ở K2 chúng tôi, có lệnh tập trung lên hội trường làm việc. Lệnh tập họp bất thường vào chiều tối, mọi người đã đoán có điều bất thường sẽ đến. Quanh hội trường công an võ trang canh gác. Trên bục, giám thị trưởng đọc “lệnh chuyễn trại”.

Trong đời người tù cải tạo, chuyễn trại là cả một cực hình, một nỗi kinh hoàng không kể xiết. Danh sách đen, hơn 350 tù cấp Thiếu, Trung và Đại tá chúng tôi, lần lược được gọi tên, tách riêng, ra sân xếp thành từng đội 30 người. Lệnh cho chúng tôi trở về láng thu xếp tù trang rồi đi ngủ.

Khi có lệnh tất cả tập họp lên sân trại. Chúng tôi được phát một khúc bánh mì bột bo bo kẹp chút thịt heo mỡ. Đúng 4 giờ sáng tiếng ì ầm của đoàn xe Molotova tiến vào trước cổng trại.

Đoàn xe tù lên đường còn trong đếm tối, mãi đến lúc bình minh ló dạng, chúng tôi mới biết đoàn xe đang chạy trên Quốc lộ I, đi về hướng Bắc. Mỗi xe tù có một công an võ trang đi theo, nhưng họ ngôi cùng tài xế ở trước xe, do vậy ở phía sau chúng tôi bàn tán với nhau, đoán già đoán non đủ thứ. Đến trưa đoàn xe tù vào thành phố Phan Rang, đoàn xe ngừng lại ở đầu thành phố. Tài xế vào phố ăn trưa, mỗi chúng tôi cầm khúc bánh mì bo bo ngao ngán.

Người bán hàng rong trong phố, thấy có đoàn xe vừa dừng ở bên ngoài, họ kéo nhau chạy ra, phụ nữ già trẻ có, các cháu nam nữ tuổi rất nhỏ, quần áo bạc màu, rạn rách. Trên tay mỗi người một cái mẹt, một chiếc rổ rá đựng ít củ khoai lan, củ mì (sắn) luộc, mớ trái cây, các loại bánh gói lá chuối. Ra đến nơi, ban đầu họ không biết xe chở khách gì, họ chạy ùa đến rao bán mớ hàng trên tay. Có sự đồng ý của công an võ trang, một số anh em tù chúng tôi đứng lên trong xe, chìa tiền mua thức ăn. Bất chợt một phụ nữ lớn tuổi trong nhóm, nhìn thấy chữ CẢI TẠO thật to, dấu đóng trên lưng áo, trên quần tù nhân. Bà ta la lớn lên gần như gào thét:

“Các chú CẢI TẠO tụi bay ơi, các chú cải tạo tụi bay ơi, đưa lên cho các chú đi đừng lấy tiền của các chú, đưa lẹ lên “.

Cả nhóm nghe theo lời bà. Chúng tôi cầm tiền, cúi gập người xuống năn nĩ các cháu nhỏ lấy tiền, nhưng chúng lắt đầu lia lịa, chúng chia nhau chạy khắp đoàn xe tù, ném đồ ăn lên xe. Một vài cháu lớn tuổi khỏe hơn, chạy thật nhanh vào trong phố gọi thêm các bạn mang hàng ra cho, ra đến nơi đoàn xe tù đã nổ máy chuyễn đi, họ ném theo lên xe tù những gì họ có trên rổ rá và đứng nhìn theo cho đến khi đoàn xe khuất xa – Mắt tôi cay cay nhỏ lệ, không phải chỉ lúc đó mà chính lúc này, tôi đang kể lại ký ức khó quên trong đời tù cải tạo, sau 30 tháng Tư-1975 – Xin nói rõ, trong giai đoạn đầu vào trại tù, bộ đội quản lý, không thu giữ tiền bạc và đồng hồ, nhẩn vàng.

Đoàn xe tù tiếp tục lăn bánh về hướng bắc Quốc lộ I, chúng tôi không đoán được sẽ đi về đâu. Khoảng 4 giờ chiều đoàn xe qua cầu đập Đồng Cam, rồi qua khỏi thị xã Tuy Hòa, Phú Yên đến quận Tuy An, đoàn xe rẽ trái, băng qua thiết lộ hỏa xa, dẫn vào quận Đồng Xuân. Lúc này tôi nhận ra địa danh vì tôi đã từng hành quân trên Khu 22 Chiến Thuật này gồm ba tỉnh: Bình Định, Phú Yên và Phú Bổn.

Trồi lên hụp xuống trên một độc đạo tung bụi đỏ mịt mù, đoàn xe mang chúng tôi vào một thung lũng rọ heo xa hun hút, dưới khí trời vàng vàng mờ ảo trong ánh nắng chiều. Đoàn xe dừng lại trước cổng một trại giam, tứ bề vòng rào lưới B40 và kẽm gai kiên cố. Trại cải tạo XUÂN PHƯỚC quận Đồng Xuân tỉnh Phú Yên, trại tù mang bí số A20. Những trại tù có mang bí số, trực thuộc Cục Quản Lý Trại Giam Trung Ương điều hành, là những trại tù nổi tiếng khắc nghiệt đối với tù nhân

CẢNH ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN

Trước khi vào đến trại giam A20, đoàn xe vượt qua một đoạn đường, bên phải là sườn đồi đất đỏ sỏi đá, bên trái là một cánh đông đất sét với những thửa rộng lúa cháy vàng bởi nắng hạn. Một cảnh tượng hải hung, thoạt đầu chúng tôi không ai hiểu nổi là hình ảnh gì, mặc dù chúng tôi cũng trong thân phận người tù!

Trên những thửa ruộng khô, đất đai nứt nẻ, lố nhố những toán người không áo không mũ nón, vỏn vẹn chỉ chiếc quần cụt, để lộ đôi ống xương chân khẳng khiu, thân hình da bọc xương với chiếc đầu lâu sậm màu! Hình ảnh ma quái này, ngày nay nếu sống ở Mỹ chúng ta có thể tưởng tượng được. Vào dịp lễ Halloween 31 tháng 10 mỗi năm, trong các của tiệm bán đồ trang trí lễ ma, chưng bày những bộ xương người, đầu lâu trắng hếu, trông ghê rợn, thì cảnh tượng trên cánh đồng khô, người tù đang lao động giống y chang như vậy. Ở đây những bộ xương ma quái kia biết cử động, đôi tay xương xẩu, nặng nề mệt nhọc nâng cây cuốc đưa lên thả xuống, đang đào xới thửa ruộng đất khô cằn chai cứng!

Trước cổng trại, chúng tôi được lùa xuống sắp hàng trên một sân gạch rộng lớn. Trời đã chiều, từ nhiều hướng các đội tù lao động lần lượt kéo về, sắp hàng chờ khám xét nhập trại. Chúng tôi sửng sờ, tận mắt nhìn rõ những bộ áo quần tù, xám tro bạc màu, rách tả tơi, bay phất phơ trên những bộ xương với có chiếc đầu lâu mà chúng tôi đã nhìn thấy trên cánh đồng trước đó. Những người tù đã cởi bỏ áo quần để không cho thấm ướt mồ hôi, hầu giữ ấm được thân thể khi về trại.

Thành phần tù gì? Họ là ai? Họ là tù hình sự. Phần lớn là con cháu của quân nhân, công chức VNCH. Tuổi chừng 15 đến 30, vào tù cải tạo vì không chịu thi hành nghĩa vụ quân sự, không muốn đem thân bỏ mạng nơi chiến trường Cambodia. Không thi hành nghĩa vụ lao động, theo chính sách cưỡng bức lao động cá nhân, hay buộc phải đi lao động thay thế cho thân nhân già yếu trong gia đình. Công tác lao động thường là công trình thủy lợi, đào kênh dẫn nước, vào núi chẻ đá, khuân vác đất đá, đốn gỗ, xây đập ngăn nước. Một thành phần nữa, là con cháu các gia đình “ngụy quân, ngụy quyền và ngụy dân” bị chính quyền địa phương đẩy đi vùng “kinh tế mới”, cuộc sống thiếu thốn quá khổ, bỏ trốn về các thành phố, mua lén bán chui, kiếm sống, giúp đở mẹ, anh em, trong khi ông, cha đang trong tù cải tạo! Chỉ có dưới chế độ cộng sản, mới có chuyện ba thế hệ gặp nhau trong nhà TÙ!

Chúng tôi tù chính trị, được nhốt chung với tù hình sự trong trại giam Xuân Phước, nhưng ở riêng một khu, cách nhau một sân rộng và nhà hội trường. Trại cấm chúng tôi “liên hệ” với tù hình sự, nhưng rồi đó đây chúng tôi cũng tiếp xúc được.

Dãy nhà tôi ở mang số 8, gọi là láng 8, dài chừng 50 met, nơi tôi ở, sát cạnh một “trạm xá”, ngôi nhà nhỏ diện tích độ 10 x 5 mét, mái tranh vách đất, chỉ một cửa nhỏ ra vào . Nói là trạm xá nhưng nhiều ngày, chẳng thấy y tá hay y sĩ vãng lai, cũng không thấy khám bệnh. Thì ra nơi đó, các cháu bị bệnh lao phổi đến thời kỳ quá nặng, cán bộ trại đưa vào cách ly, nằm chờ chết. Tiếng ho sùng sục bên trong liên hồi vọng ra.

Những cháu còn chút sức, lê thân ra ngoài hóng nắng, mở nút áo để lộ thân hình da bọc xương, đầu trọc không còn chút tóc, người co quắp, thở hỗn hễn, đứt đoạn từng hơi! Dãy nhà 8 nằm cuối cùng, sát hàng rào trại, nên họ ngăn một đoạn ngay đầu nhà, chừng 5 met làm thành một phòng nhỏ, phòng xác! Do vậy, bọn tù ở láng 8 chúng tôi, nhìn qua khe cửa, mỗi ngày chứng kiến ít nhất có từ 2 đến 3 xác chết, quấn bằng manh chiếu hay mền. Trên đầu chiếc giường tre, ngọn đèn dầu leo lắc, một chén cơm có cắm đôi đủa. Họ đưa xác vào đó ban đêm sau 7 giờ tối, khi chúng tôi đã vào bên trong láng ngủ và cửa khóa chặt. Ngày hôm sau, lúc chúng tôi xuất trại đi lao động bên ngoài, cán bộ trại cho đội tù hình sự, có tên Đội Tự Giác, dùng xe cải tiến, loại xe thùng có 2 bánh sắt, chở xác chết ra chôn ở một ven rừng đất đỏ, nghĩa địa của trại.

Những lần đi lao động ngang qua đây, chúng tôi đã thấy nhiều nấm mộ lắm rồi.

Tù cải tạo thuộc diện tù chính trị như chúng tôi, thời kỳ do bộ đội quản lý, mặc dù lao động khổ sai trong vùng rừng núi Trường Sơn, nhưng khi làm lao động có thể đi lại đó đây, tìm kiếm rau lá, bẩy chuột, bắt rắn cóc nhái . . . cải thiện bửa ăn, phụ thêm mớ thực phẫm, do vợ con thân nhân, cực khổ gồng gánh, vượt vạn dặm thăm nuôi. Thân xác chúng tôi cũng đã kiệt quệ, nhưng chưa đến nổi nào.

Đến lúc vào tay ngành công an quản lý, tại trại tù A20 này, quy chế đời sống chúng tôi không khác gì so với các cháu tù hình sự. Phần ăn mỗi bửa đều giống nhau. Nấu bếp làm cơm do tù hình sự phụ trách. Bửa ăn sáng trước giờ đi đồng lao động, mỗi phần ăn độ 4, 5 lát “sâm”. gọi là sâm cho vui, cũng để đánh lừa cái miệng, thực ra nó là những lát mì (củ sắn).

Mì do tù nhân trồng trọt, đến mùa thu hoach (bới lấy củ), cán bộ trại bắt tù nhân ngồi giữa đồi trọc, mỗi người một khúc gỗ, một con dao lớn, chặt củ sắn thành nhiều lát, có bề dày bằng nữa đầu lóng tay, những lát mì tung ra phơi nắng ngay tại chỗ, trên nền đất cát đỏ, qua nhiều ngày đêm, bất kể nắng mưa sương gió, cát bụi bám đầy. Đến lúc lát mì khô đã đổi sang màu sậm, được đưa vào các kho chứa, bao bọc bởi những mành tre thưa mỏng, không đủ sức che mưa gió. Những lát mì đóng lại thành cục, lên men trắng, men vàng rồi men đỏ, lát mì không còn lên men được nữa, trở thành những lát Sâm Cao Ly màu đen lánh!

Phần cơm trưa và cơm chiều giống nhau. Chén cơm chỉ là một chén sâm, cỏng lưa thưa một vài hạt cơm! Thức ăn là tô canh rau xanh, rau do tù trồng, được bón loại phân XANH, tức phân người trộn với lá cây xanh, phân lấy từ cầu tiêu nổi có thùng chứa. Những lúc trời nắng hạn, không sản xuất đủ rau xanh, thay canh bằng lưng nửa chén mắm thối!. Cai tù thầu mua tất cả các loại cá do ngư dân đánh bắt, không đủ phương tiện ướp lạnh, không đủ muối ướp mặn, đã ươn sình, thối rữa. Lâu lâu, xe tải chở cá vào trại, đã nghe mùi hôi tanh. Chúng đổ cá vào hồ làm mắm, hồ xây bằng xi măng rất lớn, tường cao 2 mét, chia thành bốn ngăn khoản 3×2 mét, mặt trên bịt kín, chừa một nắp đậy vuông.

Cá không ăn muối cá ươn, ở đây cá đã ươn sình, đưa vào hồ làm mắn, đổ thêm nước lã, lại không bỏ đủ muối, cá lên men mục nát rất nhanh, trở thành nước mắn. Màu nước mắm đen ngồm, tựa nước ống cống chợ cầu ông Lãnh, Saigon! Những khi toán anh nuôi mở nắp hầm lấy mắm, mùi thối xông lên nồng nặc, tỏa đi khắp khu trại giam, đến nín thở. Cầm chén mắm, không cách nào tôi đưa chén mắm lên miệng được, cho dù dùng mấy ngón tay cố bóp kín lỗ mũi. Tôi không ăn được mắm thối, nhưng cũng không đổ bỏ đi. Đại tá bác sĩ Nguyễn Văn Khái cựu Chỉ huy trưởng Tổng Y Viện Cộng Hòa Saigon, khuyên tôi:

“Anh không ăn được anh cho người khác, tuy mắm thối nhưng nó có chất đạm, rất cần cho cơ thể hiện nay”.

Tôi đã đưa mắm cho người bạn, Đại tá Nguyễn Văn Luật, cùng đội lao động với tôi.

Người tù chính trị trong ngục tù cải tạo, có được sự sống còn, phải nhắc đến công lao vô bờ bến của những người vợ. Mãi mãi tôi ghi nhớ công ơn vợ tôi. Nhờ vợ, hơn một năm tôi thoát khỏi cảnh ăn mắm thối. Trước tết Kỹ Mùi-1979, từ Đà Nẵng vợ tôi lặn lội vào trại tù Suối Máu, Biên Hòa thăm nuôi. Khi ngang qua vùng Nha Trang, vợ tôi mua được 12 con mực khô lớn, loại xuất khẩu, họ đem bán chui.

Ngày đầu mới chuyễn đến trại tù A20 này, công an cán bộ khám xét tù trang, tất cả thức ăn do gia đình tiếp tế đều bị tịch thu, tiền bạc đồng hồ, nhẫn vàng bị thu giữ. May mắn cho tôi, tên công an cán bộ lo xốc xáo quần áo, chăm chú lục tìm những thứ mà chúng có thể bỏ túi luôn được.

Chiếc bao cát tôi đựng mấy con mực và gói muối bột, rơi ra một bên nằm cạnh chân tôi. Lẹ chân tôi hất nhẹ vào đống đồ đã khám xong, nhờ vậy tôi giữ được bao thức ăn vợ tôi vừa tiếp tế. Hàng tuần, trại cho tù xuống bếp hâm đồ ăn một lần vào buổi trưa. Tôi cắt một đoạn mực, chừng một lóng tay, xé thật nhỏ cho vào lon ghi-gô thêm chút muối bột, đun sôi làm thành nước mắm, ăn tằn tiện thoát nổi khổ húp mắn thối mỗi bửa!

CHẾT TẬP THỂ TRONG TRẠI TÙ CẢI TẠO.

Từ môi trường sống đó, ngoài bệnh lao như đã kể trên, hầu hết là ở các cháu tù hình sự. Nhiều thứ bệnh khác thi nhau hoành hành trên thân xác người tù, nhất là bệnh kiết lỵ, loại bệnh dễ lây lan, nguy hiễm, tử vong cao.

Người bệnh, bụng đau nhói ruột co thắt, hậu môn luôn bị thúc dục đi tiêu liên tục, nhưng rất khó khăn, chỉ tiêu ra chút ít đờm giãi lẫn lộn máu tươi. Không thuốc men chửa trị, nhiều bệnh nhân kiệt sức không lê ra được khỏi nơi nằm, tiểu tiện tại chỗ, mùi hôi tanh xông lên, từng đàn ruồi nhặng vù vù bay lượn, trông phát khiếp!

Địa ngục trần gian, đại học máu, những ngôn từ dành để chỉ “ Trại Cải Tạo” dưới chế độ cộng sản, không sai chút nào! Cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm được Miền Nam, chia người dân Miền Nam ra ba thành phần: “Ngụy quân, ngụy quyền và ngụy dân”, điều tôi không bịa đặt, mà lời nói ra từ cửa miệng bọn cán bộ tuyên huấn, trong những lần tiếp xúc với tù nhân.

Một trong những đòn phép tàn độc cộng sản Hà Nội dùng để trả thù nhân dân Miền Nam là: chính sách Bao Tử. Dùng bao tử để hành hạ thân xác con người, bỏ ĐÓI con người, làm cho con người mất hết lý trí, tiêu tan ý chí kháng cự. Nhưng chúng đã lầm!

Nói đến đói trong trại tù cải tạo, thú thật, tôi viết lên điều này, xin người đọc đừng cho tôi chê trách ai đó. Nếu ai chưa chịu đựng qua cái đói trong ngục tù cải tạo, khi nghe nói đến đói, không thể có cảm nhận như người tù cải tạo đã ĐÓI! họ đơn thuần thấy cái bao tử thiếu thiếu vì lỡ một bửa cơm, hay một vài ngày phải nhịn ăn để trị bệnh. Đói trong trại cải tạo là một đòn thù ác nghiệt, có tính toán của cộng sản.

Bao tử người tù cải tạo, lúc nào cũng trống trơn, cơ trắng bao tử chà xát vào nhau, một cảm giác đau đớn không biết diễn tả thế nào cho đúng. Ăn rồi cũng như chưa ăn!, khổ cho cái bao tử cứ bị đánh lừa triền miên. Sau bửa cơm, tôi buồn tình dùng đũa, gõ vào miệng chén, ngâm nga:

“Mình ngỡ những chưa ăn

ai ngờ đã ăn rồi.

Mình ngỡ những chưa ăn,

ai ngời đã ăn xong!

Ôi tấm thân tù tội …”

Khi viết bài này tôi mới biết, vô tình tôi đã đổi lời một đoạn ngắn trong bản nhạc của một nhạc sĩ ăn cơm Quốc Gia thờ ma cộng sản, nhạc sĩ Trịnh CS, bài “ Tình Nhớ “ (Tình ngỡ đã quên đi, như lòng cố lạnh lùng…). Lời tôi đổi, nói lên được tính dã man của con người cộng sản, mà Trịnh CS là một.

Các cháu tù hình sự, không còn lối thoát với cơn đói hoành hành thân xác. Trong những giờ làm lao động bên ngoài, các cháu vớ được bất cứ con trùng gì, như dế, châu chấu, cào cào, bọ ngựa hay cả con trùn, các cháu chỉ cần ngắt chân, lặt cánh, phủi phủi rồi đưa vào miệng ăn sống ngon lành! Gặp bửa, có cháu bắt được nhiều mồi hơn ăn tại chỗ không hết, dấu cán bộ, nhắt vào lai ống quần, tay áo, đem về trại đến đêm lén lút ăn tiếp. Ăn để mà sống qua ngày, đa số ngả bịnh, chết lai rai mỗi ngày.

Trại có một đội lao động gọi là Đội tự giác, nhân số khoảng 40, tất cả đều là các cháu tù hình sự. Được tuyển chọn từ những cháu học tập cải tạo “có tiến bộ”, sinh hoạt “có thành tích”!

Đội tự giác xử dụng khoảng 20 chiếc xe cải tiến, xe thùng có hai bánh niềng sắt. Nhận công việc làm từ cán bộ trại và được tự do ra vào trại để thi hành công tác, có công an Quản giáo giám thị, nhưng không có công an võ trang theo canh giữ. Sức khỏe các cháu Đội tự giác có phần khá hơn, nhờ những lúc chuyên chở thực phẩm từ Bộ chỉ huy trại vào khu giam tù, các cháu có cơ hội bòn tỉa được vài chút thức ăn, tuy vậy cũng không thấm đủ vào đâu, đói vẫn hoàn đói!

Những ngày không có công tác chuyên chở, đội tự giác cũng phải lao động cuốc đất trên các ruộng rẫy, nhưng các cháu Đội tự giác được đi lại dễ dãi hơn. Từ đó các cháu cử hai người đi tìm các loại rau cỏ có thể ăn được, dùng chiếc thùng lớn nấu nước để uống trong lúc làm lao động. Gần cuối giờ, cho rau vào thùng nấu chín, mang về trại chia nhau ăn, phụ thêm cho bửa cơm tù chẳng đủ vào đâu!

Mùa hè, miền rừng núi nắng cháy, rau cỏ dại không còn. Lâu lâu, gặp một vài cơn mưa giông, các vườn trồng cây mì (sắn) được bón phân xanh, gặp mưa rào đâm chồi nhanh hơn loại cây cỏ khác. Các cháu Đội tự giác vào vườn mì, hái đọt mì cho vào thùng nấu làm canh. Khoảng giữa tháng 5 năm 1981, đêm khuya đang ngủ, cửa nhà giam số 8 của chúng tôi có tiếng động mở khóa, cán bộ trực trại rọi đèn pin, bước vào gọi lớn: “Anh Khái, anh Nhu, mau theo tôi “ (tức đại tá bác sĩ Nguyễn Văn Khái và đại tá bác sĩ Phạm Văn Nhu )

Cán bộ trực trại dẫn 2 bác sĩ qua khu tù hình sự. Chừng 15 phút sau, hai vị bác sĩ quay trở về nhà giam số 8, vào trong cửa nói lớn:

“Các cháu Đội tự giác ăn canh đọt mì, trúng độc tình trạng rất nguy kịch, xin các bạn ai còn đường, còn đậu xanh, vui lòng nhín cho một ít để chúng tôi cấp tốc cứu các cháu”

Gom góp được một ít đường đậu, hai bác sĩ vội vã quay nhanh trở lại khu giam tù hình sự. Hơn một tiếng đồng hồ sau, hai bác sĩ trở về láng, trầm buồn nói nho nhỏ:

“Cả đội tự giác chết hết rồi ! cháu Sơn ( đội trưởng) to khỏe như vậy cũng đã chết ngay, may ra còn sống được hai em, nhờ đương bị bịnh, ăn ít hơn!”

Đây đó có tiếng sụt sùi vì qúa xúc động, cảm thương cho các cháu! Tôi thực sự lại khóc khi viết đến đây.

Thật vô nhân, tàn ác, giam tù bỏ đói, bệnh hoạn không thuốc men. Gặp lúc nguy ngập như vầy, không phương tiện cứu chữa. Bác sĩ “ngụy quân” đem giam tù đã 6 năm, hai bàn tay trắng, tài nào cứu được mạng người sắp chết. Vậy mà bọn chúng cũng trơ mặt, há mồm lên tiếng kêu, cứu người.

Xế chiều ngày hôm sau, đội tù chúng tôi đang cuốc đất trên thửa ruộng cạnh ven rừng. Xa xa về hướng trại giam, chúng tôi thấy một đoàn xe cải tiến chừng hơn 15 chiếc, các cháu tù hình sự, một đứa kéo, hai đứa đẩy phía sau xe, hì hục kéo qua con đường đất đỏ dưới chân đồi. Chúng tôi đoán biết đó là đoàn xe chở thi hài 37 cháu trong Đội tự giác đã chết tối hôm qua,

Khi đoàn xe gần đến sau lưng chúng tôi, không ai bảo ai, chúng tôi tự động quay mặt về đoàn xe chở xác, bỏ cuốc xẽm xuống đất, tay dở nón mũ áp vào ngực, đứng cúi đầu. Hai công an võ trang canh gác, đứng trên bờ ruộng, ngạc nhiên hét lớn:

– Các anh làm gì vậy, làm gì vậy, tất cả làm việc đi, làm việc đi.

Mặc cho tên công an võ trang quát tháo, chúng tôi cứ tiếp tục đứng im, chờ cho đoàn xe đưa ma qua hết, chúng tôi mới trở lại làm việc. Không có lấy một chiếc quan tài, thi hài của các cháu được bó trong những chiếc chiếu, chăn mền mà các cháu đã dùng để ngủ! Hai ba thi hài chất lên một xe, đưa ra chôn ở một triền đồi, nơi đã có nhiều mộ của các cháu tù hình sự chết lai rai trước đó, tù nhân chính trị chúng tôi cũng đã có người vĩnh viễn nằm đó.

Đến nay, nghĩa địa này đã nằm sâu dưới đáy đập nước thủy điện Xuân Phước, Phú Yên!

Viết để Tưởng Niệm các bạn tù chính trị, các cháu tù hình sự đã bỏ mình trong ngục tù Xuân Phước. Chắc các bạn, các cháu đã siêu thoát về một thế giới Vĩnh Hằng. Cầu xin các bạn, các cháu hộ trì lại cho Đất Nước Việt, Dân Tộc Việt sớm thoát khỏi chế độ Cộng sản tàn bạo, vô nhân!

CHS/PCT/ĐN5460
Cựu TNCT Chế Văn Thức




ẤM TỬ SA

Do Duy Ngoc

LTG

Sáng nay trời đẹp, rảnh rỗi lại thấy trong người sung sức mà không biết làm gì, bèn cầm máy vô Chợ Lớn kiếm vài tấm hình. Ngang qua một tiệm bán đồ gốm sứ Trung Hoa, ghé vô xem chơi. Thấy mấy cái ấm Tử sa, hỏi cô bé bán hàng, cô chẳng biết gì. Tình cờ ông chủ tiệm đi đâu về, hỏi ổng, ông ta cũng chỉ biết lờ mờ. Ông ta bảo ngộ chỉ biết bán hàng thôi, ngộ không biết nhiều về mấy hàng này đâu, nị biết nói cho ngộ nghe với. Tui nói với ổng sơ lược về mấy điều rồi hỏi ổng có chơi facebook không, ông ta bảo có. Tui mới bảo rằng tui có viết một bài về ấm Tử sa, mời ông vào xem. Về nhà, mở Facebook tìm lại bài viết, chắc tại lâu quá, nó trôi đâu mất rồi.   Thôi thì đăng lại lần nữa, xem như giữ trên Facebook cho dễ kiếm.

—————————————————

Ấm Tử Sa dùng chỉ dòng ấm gốm, cụ thể hơn là ấm pha trà được làm từ đất sét Tử Sa, vùng Nghi Hưng thành phố Vô Tích, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc.

Các cuộc khai quật khảo cổ cho thấy từ đầu thời Nhà Tống(thế kỷ X) đã có những bình gốm pha trà được làm từ loại đất sét tử sa hay còn gọi “tử nê”. Theo ghi chép của học giả triều Minh Chu Cao Khởi, thời hoàng đế Chính Đức có một nhà sư ở đền Tử Sa, Nghi Hưng đã nặn những bình trà từ đất sét địa phương, chúng được học giới đương thời ưa thích và danh tiếng bình gốm Tử Sa bắt đầu được biết đến.

Ấm trà tử sa, bên cạnh Kinh kịch, quốc họa thủy mặc và lụa Tô Châu được coi là một trong 4 quốc bảo Trung Hoa trong chiến lược bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống.

Tử sa được khai thác từ khu mỏ núi Hoàng Long tỉnh Giang Tô. Thời gian thành tạo cách đây khoảng 350 triệu năm, thuộc kỷ Devon đại cổ sinh Paleozoic. Nằm ở phần rìa cổ của nền sông Dương Tử và giao thoa của 3 đới biển, đất và hồ. Khoáng sản đất sét được thành tạo bởi các phần tử sét hạt mịn và các khoáng vật khác được nước và gió đưa đến.

Tử sa, nghĩa đen là cát màu tím, có thành phần khoáng vật gồm quartz, sét, hydromica và hematite. (Wikipedia)

Hương vị có được trong ấm tử sa do thành phần khoáng vi lượng. Nó có trong chất đất, và vì bề mặt không tráng men nên trong quá trình pha trà nó sẽ hoà vào nước. Khác với tinh dầu trà, nó tồn tại lâu bền trong ấm. Lâu dần lớp khoáng sẽ tích tụ lại và làm tăng hương vị của trà.

Khi chọn mua một ấm tử sa, người ta thường chỉ ra mấy chiêu để ta chọn như thả vào chậu nước, ấm phải nổi, nhận ấm xuống, ấm nổi lên không nghiêng, không bung nắp. Cách nữa là bịt lỗ thông hơi trên nắp thì rót sẽ không ra nước. Còn cách nữa là lấy nắp ấm gõ vào quai sẽ phát ra âm thanh như kim loại chạm vào nhau.

Mua một cái ấm tử sa về để uống trà thì nên chọn ấm đơn giản, ít hoa văn rườm rà, miệng rộng để dễ cho trà vào cũng như khi đổ xác trà. Chú ý chọn một chiếc ấm không dễ ngã đổ khi đặt trên bàn, ấm có hình thể cân đối, cầm thấy sướng tay.

Bằng mắt quan sát ta nên chọn ấm có hình dáng thanh thoát, nhìn thích mắt. Các bộ phận như :thân ấm, nắp, miệng, vòi, quai, đáy phải cân đối, liền lạc. Màu sắc đồng đều trong ngoài. Dấu triện của nghệ nhân hay nhà sản xuất nét chữ sắc sảo, đặt cân đối ở trung tâm đáy ấm, theo trục thẳng từ quai sang vòi ấm. Những chiếc ấm đắt tiền thường có thêm dấu triện phụ dưới nắp và quai cầm thật rõ nét. Vòi ấm có thể dài ngắn khác nhau, nhưng quan trọng là khi rót, nước chảy thông, đều và thẳng dòng, không rơi vãi hay đọng giọt nhểu ra ngoài.

Nghe bằng tai, ta đặt ấm lên lòng bàn tay, tay kia cầm nắp ấm khẽ gõ vào quai, tiếng kêu như kim loại chạm vào nhau.

Cầm trên tay ta thấy ấm trơn tru, mịn màng, không tì vết. Nắp và miệng ấm khít khao, vì ấm Tử sa được nung trong lò liên tục 23 tiếng đồng hồ ở nhiệt độ từ 1.190 – 1.270 độ C (trung bình 1.200 độ C), đòi hỏi tay nghề nghệ nhân phải cao, chất đất phải thật tốt và mịn mới không bị co giãn khi nung. Do tính bào mòn trong quá trình sử dụng, một chiếc ấm dùng càng lâu càng lên nước, không đổi màu, đó mới chính là đặc trưng ưu việt của ấm Tử sa, chứ màu sắc đất không liên quan gì đến chất lượng và công dụng.

Không có ấm Tử sa có mùi thơm, nếu có cũng chỉ do người ta bơm xịt vào vì đất lọc bao lần rồi vào nung, mùi thơm ở đâu mà có.

Sắm cái ấm Tử sa về xài, ta phải biết cách sử dụng và bảo trì nó. Nếu biết cách, sau thời gian dài sử dụng ấm sẽ trở nên sáng ngời, tròn trịa, dày nặng, rắn chắc và tinh khiết…Càng sử dụng, giá trị của ấm càng tăng. Ấm mua về, có người dùng giấy nhám loại nhuyễn thấm nước kỳ cọ mặt trong cho sạch lớp bùn (thời xưa, dùng ngói lợp nhà làm bằng đất đen ở vùng Giang Nam tán thành bột nhuyễn, dùng mấy lớp vải sô bọc lại để chà xát, cọ rửa), sau đó cho ấm vào một nồi nước đun sôi suốt mấy tiếng đồng hồ.

Có người dứt khoát đun sôi ấm như thế trong một nồi trà lớn, để ấm có thể hấp thu chất trà vào các lỗ thông khí kép (khí khổng), loại bỏ mùi của đất.

Uống trà bằng ấm Tử sa cũng như hút thuốc bằng tẩu, nên dùng mỗi loại trà mỗi ấm riêng để giữ được hương vị của mỗi loại trà. Mỗi lần uống xong, khi rửa bộ đồ trà, nên dùng xác trà cũ trong ấm chà xát lên toàn thân ấm, ấm thấm xác trà mà không gây trầy xước, càng chà lâu thân ấm càng đẹp.

Đối với những chiếc ấm cũ bề mặt nứt rạn nhẹ, dùng phương pháp “nước trà dưỡng ấm” có thể khôi phục, những vết nứt rạn sẽ dần dần khít lại, đúng là “tôn cổ xuất tân”.

Cái thú vị của chơi ấm Tử sa là chọn trà cho từng ấm và chọn ấm cho từng loại trà. Chiếc ấm cho ra chén trà ngon lại dùng trà để giữ ấm. Trà và ấm quấn quýt với nhau để cho người thưởng thức chén trà có được một đạo làm cuộc đời thêm đẹp

Viết lại ngày 3.6.2019

DODUYNGOC

Nói thêm:

CÁCH PHA TRÀ KHI DÙNG MỘT ẤM TRÀ MỚI:

Bình trà mới mua về, nên rửa bằng nước nóng. Có người dùng bàn chải đánh răng với kem chà trong và ngoài ấm. Sau đó bỏ vào nồi, đổ nước đun sôi 45 phút. Khi đun nhớ quấn vải quai và vòi cho kỹ, nhớ lót đáy ấm để khỏi bị va đập khi nước sôi. Sau đó, tắt bếp và để nguội. Khi nước nguội, lấy ấm ra rửa lại lần nữa. Cầu kỳ hơn, lại cho ấm vào nồi đun sôi trở lại, mở nắp ấm và cho vào khoảng 3 muỗng loại trà bạn dự định pha với ấm này. Tắt bếp, đậy nắp ấm và hãm trong 30 phút, sau đó đổ hết bã trà và rửa sạch bằng nước ấm. Lặp lại một lần nữa để tăng thêm hương vị trà vào bề mặt ấm trà.

SỬ DỤNG ẤM:

Luôn đổ tràn nước qua miệng ấm khi pha trà, và lau khô ấm bằng vải mềm sẽ làm ấm trà mau chóng có lớp cao trà bóng sáng. Không cọ rửa ấm, chỉ làm sạch bằng nước nóng. Khi bạn muốn đổi loại trà khác thích hợp hơn cho ấm trà, hãy làm lại các bước trước khi sử dụng ấm ở phần trên.




CHUYẾN XE CUỐI CÙNG

(Sưu tầm)

Image may contain: night, car, tree, sky, plant and outdoor

Tôi là một tài xế taxi. Không nhiều tài xế nhận làm việc ca đêm. Riêng tôi, vì cuộc hôn nhân mới tan vỡ nên tôi đồng ý. Và vị khách của đêm cuối năm ấy để lại trong tôi một ấn tượng đặc biệt.

Tôi nhận được lời nhắn vào lúc 2:30 sáng. Tôi dừng xe, xung quanh vẫn tối đen, chỉ trừ ánh đèn hắt ra từ một cửa sổ nhỏ ở tầng trệt. Bình thường, cũng như mọi tài xế taxi khác, tôi chỉ bấm còi một hai lần, đợi một chút, nếu vẫn chưa thấy khách ra thì lái xe đi. Nhưng không hiểu tại sao lần này, tôi lại ra khỏi xe, bước lên bậc tam cấp. Không khéo người ta cần mình giúp, tôi nghĩ vậy và gõ cửa.

– Xin chờ một phút – một giọng nói run rẩy cất lên. Sau một lát yên lặng, cửa mở. Một bà cụ nhỏ bé đứng trước mặt tôi, mặc một chiếc váy hoa, đội mũ nhỏ có mạng che mặt. Chiếc valy nhỏ đặt dưới chân.
Căn phòng phía sau lưng cụ trông như không có ai ở đã nhiều năm. Tất cả đồ đạc đều được phủ ga trắng.
– Cậu mang đồ ra xe giúp tôi được không? – bà cụ hỏi. Một tay tôi nhấc chiếc valy lên, nó còn nhẹ bẫng, còn tay kia thì khuỳnh ra cho bà cụ vịn. Chúng tôi đi rất chậm ra xe.

– Cậu tốt quá!, bà cụ nói nhẹ nhàng mắt không nhìn vào tôi, tựa như đang nói với một ai khác.
Khi chúng tôi vào xe, bà đưa cho tôi địa chỉ cần tới và nói:
– Cậu có thể đi xuyên qua khu chợ cũ được không?
– Nhưng đó không phải là đường ngắn nhất, cụ ạ!
– Tôi không vội mà!. Ngừng lại một lát, bà nói tiếp: Tôi đang đến viện dưỡng lão!
Mắt bà long lanh: Thế cũng tốt! Đằng nào thì bác sĩ cũng nói rằng tôi không còn sống được bao lâu nữa.

Tôi tắt đồng hồ đo cây số và hỏi: Đầu tiên cụ muốn cháu đưa đi đâu?
Hai tiếng đồng hồ, chúng tôi đi lòng vòng quanh thành phố. Bà cụ chỉ cho tôi tòa nhà bà từng làm việc, khu chung cư vợ chồng bà đã thuê khi họ mới cưới. Bà bảo tôi dừng lại trước một cửa hàng nội thất nơi trước đây là sàn nhảy, bà vẫn đến khiêu vũ khi còn thiếu nữ. Thỉnh thoảng bà bảo tôi đi chậm qua một tòa nhà hay một góc phố đặc-biệt-nào-đó dừng lại trong bóng tối và im lặng.
Khi những ánh mặt trời đầu tiên xuất hiện phía chân trời, bà cụ đột nhiên nói: Tôi mệt rồi, chúng ta đi thôi.

Chúng tôi tới địa chỉ mà bà cụ đưa cho tôi mà không nói thêm câu nào. Đó là một viện điều dưỡng dành cho những người già không nơi nương tựa. Hai người hộ lý và một chiếc xe lăn đã chờ sẵn ngoài cổng. Bà cụ dừng bước, vừa rút ví ra, vừa hỏi tôi, dịu dàng:
– Tôi phải trả cậu bao nhiêu?
– Không gì cả, cụ ạ!- Tôi nói
– Cậu cũng phải kiếm sống mà – Bà cụ hỏi, giọng vẫn dịu dàng, tuyệt nhiên không có chút ngạc nhiên nào.
– Sẽ còn những hành khách khác mà cụ – Tôi trả lời.
Bất giác, tôi cúi xuống ôm lấy bà cụ. Bà cũng ôm chặt tôi.
– Cậu đã cho tôi rất nhiều – Bà cụ nói – Cám ơn cậu.
Tôi siết nhẹ tay bà cụ rồi quay ra. Trời vẫn còn mờ tối. Sau lưng tôi, cánh cửa viện điều dưỡng đã đóng lại. Đó cũng là âm thanh khép lại một cuộc đời.

Cả ngày hôm đó tôi không đón thêm một hành khách nào nữa, tôi lái xe đi lang thang, đắm chìm trong suy nghĩ, rồi băn khoăn tự hỏi:
“Điều gì sẽ xảy ra nếu bà cụ gặp một tài xế dữ dằn, hoặc đang nóng vội trên chuyến xe cuối cùng? Điều gì sẽ xảy ra nếu tôi bóp còi rồi bỏ đi hoặc từ chối tuyến đường đặc biệt của bà cụ? Và bất giác tôi cảm thấy mình hạnh phúc xiết bao… ít ra tôi hiểu rằng sự cô đơn trong trái tim của một người từng bất hạnh như tôi vẫn còn rất nhiều yêu thương, và vì thế mọi cánh cửa vẫn chưa hề khép lại. “




Vị gì một miếng trầu cay

Không biết tục Ăn Trầu có từ lúc nào. Nhưng hồi nhỏ tôi thấy Bà Nội tôi lúc nào cũng có khay trầu kè kè bên hông. Lâu lâu bà lại cho một cục vào miệng nhai bõm bẽm. Cục này bà làm trước lúc rảnh rỗi, gồm lá trầu, quét một ít vôi, kèm theo miếng cau. Ba thứ đó kẹp chung lại thành một cái gói nhỏ nhỏ như một cục kẹo.

Anh về têm một trăm miếng trầu cho tinh tuyết,

Bỏ vào hộp thiếc, khay cẩn xà cừ

Để em vòng tay vô thưa với thầy, với mẹ: Gả chừ cho anh (*)

Hồi xưa, đi lễ dạm cưới hỏi Vợ không thể không có khay trầu cau. Gia đình Cô dâu mà chịu thì coi như nhận khay trầu, không nhận thì trả lại.

Hỡi cô mặc áo vá vai

Tay ngắn tay dài đã có chồng chưa?

Anh hỏi thì em xin thưa

Vài ba nơi hỏi nhưng chưa nhận trầu (*)

Em này chảnh, vài ba nơi hỏi đó nhe. Hay là Ba Mẹ đã nhận trầu rồi mà lòng em thì còn để ở đâu đâu?

Con chim xanh đậu cành dâu biếc

Em đi lấy chồng anh tiếc lắm thay

Vị gì một miếng trầu cay

Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?

Bây giờ em đã có chồng

Như chim vào lồng, như cá cắn câu

Cá cắn câu biết đâu mà gỡ

Chim vào lồng biết thuở nào ra (*)

Em có chồng như chim vào lồng, như cá cắn câu. Hồi đó anh không chịu mang mâm trầu, để giờ ván đóng thuyền rồi thì coi như là xong. Hồi xưa ăn trầu lại có kèm theo một miếng Quế nữa. Không chỉ có bà già mà gái trẻ cũng ăn. Thiệt là lạ.

Đêm qua trăng sáng mập mờ

Em đi gánh nước tình cờ gặp anh

Vào vườn trẩy quả cau xanh

Bổ ra làm sáu trình anh xơi trầu

Trầu này têm những vôi tàu

Ở giữa đệm quế, đôi đầu thơm cay

Mời anh xơi miếng trầu này

Dù mặn dù nhạt, dù cay dù nồng

Dù chẳng nên đạo vợ chồng

Xơi năm ba miếng kẻo lòng nhớ thương (*)

Đàn ông Việt ít ăn trầu cau, sau này thì hình như không còn. Nhưng đàn ông Đài Loan họ vẫn ăn cau, nhất là trong giới bình dân, lao động. Lên xe Taxi, sẽ thấy họ hay nhai bõm bẽm. Những cô gái bán cau ở Đài Bắc ăn mặc rất thiếu vải để câu khách. Không biết cứ tưởng em là gái đứng đường, nhưng lại là gái bán cau.

Đỗ T. Công

(*) ca dao

(*) hình phụ nữ Việt cả 100 năm trước và những cô gái bán cau ở Đài Bắc




Lại nói chuyện người tử tế

!0/3/2020

Tho Nguyen

Ngày bức tường Berlin bị phá bỏ 9.11.1989 và cả ngày thống nhất nước Đức 3.10.1990 tôi đang ở Việt Nam. Thiếu thông tin nên tôi có cảm giác lẫn lộn. Mừng vì đất nước Đức mà tôi đã gắn bó từ năm 1967 nay thống nhất mà không tốn xương máu. Khi còn là cậu thanh niên 16-17 tuổi, tôi đã chứng kiến sự chia ly của các gia đình Đức nên hiểu nỗi đau của họ.

Tuy biết Đức sẽ khác xa Việt Nam sau 1975, nhưng tôi vẫn lo, không biết số phận của thầy cô và bạn bè tôi sẽ ra sao trong tình hình mới. 

Ngay từ khi sang Đức định cư 1991, tôi lập tức lần mò tìm lại gần hết những thầy cô, bạn bè xưa. Điều hạnh phúc nhất là không ai trong số đó phải bất hạnh vì số phận, kể cả những người từng hợp tác với STASI để theo dõi đồng nghiệp.

Con người và cuộc sống ở CHDC Đức (Đông Đức) trong bốn năm 1967-1971 đã để lại cho tôi nhiều kỷ niệm đẹp. Nay tôi hay rủ bạn bè trở về trường cũ ở thị trấn nhỏ Königs Wusterhausen để thăm lại những ông bà giáo già. Mỗi lần như vậy, họ lại có dịp được gặp nhau, ăn cơm Việt Nam, nghe nhạc Việt nam. Người nào không tự đi được, chúng tôi cử nhau đón đưa. Nhiều người trước kia không hề thân nhau, giờ đây trở nên thân thiết, gắn kết với nhau.

Họ bảo: Học sinh Việt Nam các em đã trở thành cầu nối của chúng tôi.

Họ đã thành người thân của tôi. Có chuyện gì các ông bà đều gọi cho tôi để tâm sự. Ôn lại chuyện hơn 50 năm trước, chúng tôi vui, cười bò vì những trò ấu trĩ. Các thầy cô thì tự hào về những gì họ đã làm được cho kỹ nghệ điện tử phát thanh truyền hình trong điều kiện bế quan tỏa cảng với phương tây hồi đó.

Hôm nay, trong khi dân cư mạng xôn xao về vụ tranh cử đầy bùn ở Mỹ, về vụ ông Trump bị ám Covid-19, tôi chỉ viết về những người Đông Đức tử tế mà tôi được biết.

Chính những người dân Đông Đức bình dị đã tự tay xóa bỏ bức tường, chính họ là người đã mở đường cho công cuộc thống nhất trong hòa bình chứ không phải thế lực phương tây nào. Điều này được cả nước Đức khẳng định hàng năm, mỗi khi nói đến ngày 9.11, hay 3.10.

Trước mùa thu 1989, những người Đông Đức này đều là công nhân, viên chức, bộ đội, cảnh sát, giáo viên, mậu dịch viên v.v. trong một nhà nước mà quyền công dân bị thu hẹp đến mức tối thiểu. Áp bức, lừa dối, xuyên tạc ngự trị sinh hoạt xã hội. Mọi người dân vẫn sống và thực hiện nghĩa vụ công dân trong cái khuôn đó. Nhưng cái khuôn khổ chật hẹp, đầy rẫy dối trá đó không thể tiệu diệt được hết mầm mống của sự tử tế trong đa số người dân.

Mọi việc bắt đầu vào ngày 7.5.1989, khi một số sinh viên Leipzig phát hiện ra vài vụ gian lận bầu cử hội đồng địa phương. Các bạn kêu gọi biểu tình và tối hôm đó chỉ có 50 bạn trẻ đến dự ở quảng trường thành phố. Lập tức cảnh sát ra tay đánh đập đám sinh viên. Không ngờ bên cạnh đó có rất đông dân chúng đang dự một lễ hội. Chứng kiến cảnh đông đảo cảnh sát đánh đập một nhóm thanh niên nhỏ ôn hòa, dân chúng bỗng thịnh nộ đứng về phía 50 sinh viên. Sự áp đảo của dân chúng khiến cảnh sát phải lùi bước. Ngay tối hôm sau 8.5, sự việc tái diễn. Lần này dân chúng không ai bảo ai kéo đến bảo vệ những người làm lễ thánh trong nhà thờ Nikolai bị công an bao vây. Lý do bao vây vẫn là đề tài „Gian lận bầu cử“ được thuyết trình trong nhà thờ.

Ngọn lửa từ những người bất đồng chính kiến ít ỏi đã lây sang đám đông quần chúng xưa nay chẳng quan tâm đến thời cuộc. Cứ như thế làn sóng dâng lên dần, dẫn đến các cuộc „Biểu tình ngày thứ hai“[1].

STASI càng ra tay, sự tức giận càng tăng. Lúc đầu chỉ có 1.200 người đi biểu tình, dần tăng lên đến hàng trăm ngàn người. Đỉnh điểm là cuộc biểu tình ngày 6.11.1989 tại quảng trường Alexander ở Berlin với gần 1 triệu người tham dự [2].

Ba ngày sau bức tường „sập“.

Bức tường sập, đơn giản chỉ vì có nhiều người Đông Đức bình thường không muốn công an đánh con cháu mình, đơn giản vì nhiều nhà giáo không muốn phải nói dối mãi về lịch sử, đơn giản vì những cô cậu thanh niên không muốn cứ phải nghe kết quả bầu cử 99% năm này qua năm khác, vì có những phóng viên truyền hình đã quyết nói lên sự thật, bất chấp lệnh trên[3].

Trong khi đó, không ít kẻ ác tìm mọi cách phá hoại hạnh phúc của nhân dân, chỉ để giữ quyền lực. Những kẻ này không tiếc máu.

Nhưng bức tường sập mà không đổ máu vì có những sỹ quan STASI như Harald Jäger, tuy trung thành với đảng SED nhưng chấp hành đúng kỷ luật của Đức. Anh chỉ cho phép nổ súng khi bị tấn công[4]. Ở vào những giây phút quyết định, sự tử tế lương thiện cuối cùng đã thắng. Chỉ cần cái thiện nhỉnh hơn cái ác là van được mở. Đó chính là phẩm chất của một dân tộc.

Phẩm chất đó được hình thành lâu dài qua nếp sống văn minh, có kỷ cương. Ngày nay nước Đức thống nhất ca ngợi 14 cầu thủ Đông Đức đã trung thành với nghĩa vụ công dân đến cùng trong trận đấu ngày 12.9.1990 với Bỉ [5]. Không phải cầu thủ nào của Đức cũng như vậy, nhưng cái chất của dân tộc này đủ tập hợp 14 người con. Ở đâu cũng có người tử tế. Nhưng nếu chỉ có 9 hoặc 10 cầu thủ thì đã không có cuộc đấu lịch sử để chứng tỏ phẩm chất của dân tộc.

Phẩm chất đó không phải của chế độ nào.

Sau ngày 3.10.1990, nước Đức vật vã chuyển mình. Nhưng mối lo của tổng thống Pháp F.Mittrand và thủ tướng Anh M.Thatcher về môt chủ nghĩa Xô-Vanh Đức chỉ dẫn đến một nước Đức hòa bình đến mức nhũn nhặn.

Thiên đường TBCN mà một số người Đông Đức hy vọng đã trở thành hiện thực buồn bã. Nạn thất nghiệp ở Đông Đức tuy nay đã xuống mức 7% (so với 5% ở miền Tây), nhưng trong những năm 1990 đã từng ở mức 23%. „Bức tường trong đầu“ phân chia Đông-Tây dần dần thay thế bức tường thép gai.

Khoảng cách về tích lũy của từng gia đình Đông và Tây Đức hiện tại là 60.000 – 21.000 EURO. Lý do: Tư hữu ở miền Đông bị xóa bỏ suốt 45 năm, nay phải làm lại từ đầu, trong khi quá trình này liên tục từ nhiều thế kỷ ở miền Tây. Nhưng điều đó không cản trở miền Đông vươn lên đạt 76% năng lực công nghiệp của miền Tây. Năm 1990, năng suất lao động miền Đông khoảng 30% của miền Tây, nay đã đạt 86% (quy ra lương). Tuy nhiên do giá sinh hoạt ở miền Đông rẻ hơn nên không có chênh lệch nhiều về mức sống.

Có một nghịch lý nhỏ là dân Đông Đức lĩnh lương hưu nhiều hơn các cụ phía Tây. Một phần vì trước kia họ làm viên chức nhiều và phụ nữ đa số đi làm.

Trong quá trình cải tạo miền Đông, người dân Tây Đức đã bỏ ra khoản tiền khổng lồ hàng ngàn tỷ EURO để giúp đỡ đồng bào mình trong suốt 30 năm qua. Thay vào đó, nền quản lý và chính trị miền Tây đã được tạo dựng ở miền Đông. Chỉ có một số ít thành tựu của miền Đông được đưa sang miền Tây.

Tôi có thể đưa ra nhiều con số khác nữa để chứng tỏ bức tường trong đầu dân Đức là có cơ sở.

Nhưng dù sao có đến 75% người Đức coi qua trình thống nhất đất nước là một thành công, chỉ 23% coi đó là thất bại.

Cái đáng nói ở một xã hội dân chủ, tử tế là ở chỗ: Đa số cảm thấy có trách nhiệm phải làm sao hiểu và giúp đỡ 23% kia. Không ai coi họ là phản động hay bất mãn.

Köln 3.10.2020

[1] Montagsdemonstration https://en.wikipedia.org/…/Monday_demonstrations_in…

[2]Ủy viên bộ chính trị đảng SED Günter Schabowski hôm đó cũng thay mặt đảng SED đến đối thoại với phe đối lâp. Phe đối lập thì chưa hình thành, chẳng có ai lãnh đạo cả

[3] Trung tâm truyền hình Rostock bắt đầu đưa tin về các cuộc biểu tình từ tháng 10.1989, bất chấp lệnh của đài chủ quản từ Berlin.

[4] https://www.facebook.com/tho…/posts/1414934981857904

[5] https://www.facebook.com/tho.nguyen.9231/posts/4734892423195460

Gặp gỡ các thầy cô hè 2019

Gặp gỡ các thầy cô hè 2004

Tích lũy trung bình của các gia đình Đông và Tây tính theo đơn vị nghìn EUR




Từ nước mắm ngon thành nước mắm Lú

Theo dân gian, nước mắm loại ngon nhất, nước đầu tiên tức mắm Nhĩ để chừng 10 năm thì trở thành mắm Lú. Mắm Lú, đen đậm, không còn thơm nữa và cũng không dùng để ăn mà chỉ để trị bệnh.

Nước mắm ngon dòm sâu đáy hủ

Thả miếng đu đủ nó nổi lờ đờ

Phận em còn dại còn khờ

Làm dâu chưa đặng, cậy nhờ nơi anh (*)

Theo các bậc trưởng thượng. Nước mắm Nhĩ trở thành nước mắm Lú, có vị thuốc và khả năng trị được bệnh nhờ vào mật cá. Vị mặn của muối và đắng của mật quân bình, làm cho tinh thần được bình an, ngũ ngon và giãm huyết áp.

Mắm Lú cũng giúp trị bệnh ho, hen suyễn, thấp khớp, phong thấp, cãm cúm và nhiều chứng bệnh khác. Trời nó mà trị được con Vũ Hán Virus thì trời xập quá.

Nước mắm ngon dầm con cá liệt

Em có chồng nói thiệt anh hay

Nước mắm ngon dầm con cá trắng

Thấy em làm dang nắng anh thương

Muốn làm nước mắm Lú, lấy mắm ngon, cốt Nhĩ tinh khiết cho vào chai, lu, đem cất từ 5 năm trở lên, càng lâu, nước mắm Lú càng hiệu nghiệm. Nước mắm Lú có màu đậm đen, vị ngọt, đậm đà.

Nước mắm ngon dầm con cá bẹ

Anh biểu em rình, lén mẹ qua đây

Nước mắm ngon dầm con cá đối

Em biểu anh chờ để tối em qua

Thợ lặn uống một muỗng thì khõe ra có thể lặn sâu hơn. Ca sĩ giọng khàn, uống một hớp thì thanh tao. Cãm cúm, nhức đầu, đau xương, tê khớp thì mắm Lú sẽ thay thế thuốc Tây.

Nước mắm ngon dằm con cá trích

Anh có vợ rồi đứng xích em ra

Nước mắm ngon dằm con cá đối

Anh có vợ rồi nói dối em chi

Tại sao tên là Lú. Mắm nhĩ làm ra rồi bỏ sau hè, chừng 5 năm thì quên luôn, bỏ ở đâu cũng không nhớ, thành ra lú lẫn, và từ đó trở thành nước mắm Lú ở Phan Thiết. Mắm Lú, gia vị, và hương thơm bị mất theo thời gian. Nhưng độ đạm của nước mắm lại tăng, và đó là lý do nước mắm Lú trở thành thuốc Nam trong gia đình.

Đó là Nhĩ hồi xưa, mắm Nhĩ bây giờ ở Việt Nam, nhất là sau vụ Formosa thì không bảo đãm. Coi chừng uống vô thì Lú luôn. Nhắc trước rồi nhe.

Nước mắm ngon dằm con cá nục

Anh mê vợ bé em đục bể mình

Nước mắm ngon dằm con cá chình

Em ở một mình đừng rình nữa anh ơi (**)

Đỗ T. Công

(*) ca dao dân gian

(**) ca dao tân thời




ÔNG GIÁO SƯ DẠY SỬ

Vương Mộng Long K20

FB

– Cựu học sinh Trung Học Trần Quý Cáp , Hội An . – Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Khoá 20 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam . – Chức vụ sau cùng : Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân . – Từ 1975 tới 1988 tù cải tạo ( 13 năm ) từ Nam ra Bắc . – Từ 1993 định cư tại Thành Phố Seattle , tiểu bang Washington , USA . – Năm 2003 tốt nghiệp University of Washington , cấp bằng BA Social Sciences & Communication . – Gia cảnh hiện nay : Một vợ , 4 con , 1 cháu Nội , 3 cháu Ngoại .

* * *

Một chiều cuối năm 1998 tôi vào Trường University of Washington ( UW ) để đón đứa con gái áp út tan giờ học . Tình cờ tôi nhìn thấy một ông già đứng chờ xe bên bến Bus . Có lẽ ông cụ lớn tuổi hơn tôi nhiều . Hỏi chuyện , tôi mới hay , ông cụ đã qua tuổi bảy mươi , ăn tiền hưu , và đang học môn Truyền Thông ( Communication ) năm Senior . Tôi chợt nghĩ , thời gian này mình cũng không bận lắm , tại sao không trở lại trường ? Ít ra cũng học thêm được vài điều hay . Thế là , hôm sau tôi nộp đơn xin trắc nghiệm trình độ Toán và Anh Văn để xếp lớp tại Shoreline Community College ( Shoreline CC ) .

So với các trường đại học cộng đồng quanh vùng , thì học phí của Shoreline CC tương đối nhẹ . Thật là , không có gì diễn tả nổi niềm vui sướng tột cùng của tôi buổi đầu được cắp cặp trở lại trường làm học trò . Ba mươi lăm năm sau khi rời ghế nhà trường ( 1963 ) để tình nguyện vào quân ngũ , tôi đâu ngờ còn có ngày được ngồi dưới lớp nghe lời thầy giáo giảng ? Xung quanh tôi là những người trẻ tuổi vừa qua bậc Trung Học . Tôi làm việc 10 tiếng đồng hồ 1 ngày , 4 ngày 1 tuần lễ . Ngày , ngày , vừa tan sở , tôi lại vội lái xe tới lớp . Từ ấy , tôi làm việc full time , đi học full time , bận bịu vô cùng . Học kỳ ( quater ) đầu tiên , tôi ghi danh một lớp Toán , và hai lớp Anh Văn , mỗi lớp 5 tín chỉ ( credit ) . Tôi miệt mài trong công việc suốt ngày , và chuyên cần trong học tập mỗi đêm . Vào mùa thi , tôi thức trắng hai , ba đêm là thường . Tôi ghi danh full time để thúc đít thằng con út . Thằng nhỏ sợ ông bố theo kịp , nên phải gắng chạy có cờ để thoát lên đại học 4 năm .

Một niên khoá trôi qua . Con đường học hành của tôi đang có vẻ rộng mở thênh thang , thì bỗng dưng lại quẹo vào một khúc quanh , chỉ vì mùa Fall 2000 tôi đã ghi danh lớp History 274 « US and Vietnam » .

Tôi « lấy » lớp Sử Ký này với mục đích tìm hiểu xem cuộc chiến tranh vừa qua đã được các sử gia Mỹ ghi chép lại như thế nào ? Từ đó , hy vọng biết được phần nào , nguyên nhân vì sao , giữa đường , Mỹ đã bỏ rơi Việt Nam , vì sao chúng ta đã thua trận .

Người từ lâu độc quyền phụ trách lớp Sử 274 là thầy Dan . Trong thời gian dài cả chục năm qua , ông giáo kỳ cựu này đã đào tạo hàng ngàn môn sinh . Những học trò của ông sau khi chuyển tiếp lên trường đại học bốn năm , đã trở thành những Thạc Sĩ , Tiến Sĩ . Lâu lâu họ lại ghé về trường xưa , thăm ông thầy cũ .

Lớp « US and Vietnam » mùa Fall 2000 có chừng hơn hai chục học viên , trong đó da trắng chiếm đa số . Có 4 học trò gốc Châu Á , gồm 2 anh Tàu lục địa , một cậu bé H’Mong và tôi . Bạn đồng lớp với tôi còn nhỏ lắm . Họ trẻ hơn mấy đứa con tôi nhiều .

Tôi cứ tưởng rằng những tài liệu lịch sử mà các thầy giáo đem truyền bá , phải nằm trong chương trình đã kiểm duyệt và cho phép của Bộ Giáo Dục Hoa Kỳ . Nhưng thực tế không phải vậy . Nền giáo dục của Mỹ đã đi vào tự trị từ lâu . Thầy giáo có toàn quyền lèo lái , hướng dẫn con thuyền học vấn chở học trò mình tới bất kỳ bến bờ nào mà thày đã chọn . Thầy giáo chỉ định sách giáo khoa nào thầy sẽ dạy để chúng tôi mua . Thầy phổ biến những tài liệu nào mà thầy ưng ý . Trong hai phần ba thời gian đầu của học kỳ Fall 2000 , mỗi khi nói tới phong trào Việt Minh , ông giáo sư dạy Sử không ngớt ca tụng HCM như một lãnh tụ tài ba , và vô cùng sáng suốt đã khôn khéo hướng dẫn dân tộc Việt Nam tới chiến thắng thoát ách đô hộ của Đế Quốc Pháp .

Thầy khẳng định rằng , chính phủ Hoa Kỳ là nguyên nhân cuộc chiến tranh Đông Dưong lần thứ hai ( 1954-1975 ) . Vì theo lời thầy , thì HCM đã năm lần gửi mật thư cho Tổng Thống Harry Truman để xin thần phục và hợp tác , nhưng Tổng Thống Harry Truman đã từ chối . Thầy cho rằng người Mỹ đã lầm lẫn trợ giúp quân Pháp trở lại tái chiếm Đông Dương trong khi cao trào dân chủ , đấu tranh giành độc lập đang lan tràn trên toàn thế giới , và chủ nghĩa thực dân đã lỗi thời .

Chúng tôi đã được cho xem những đoạn phim cũ về trận Điện Biên Phủ , về Hiệp Định Geneve , và về cuộc di cư năm 1954 . Với những trận có âm vang quốc tế như Plei Me , Khe Sanh , Kontum , Bình Long , Long Khánh vân vân … chúng tôi chỉ được thấy những cảnh thương vong của quân đội Đồng Minh và Việt Nam Cộng Hoà . Trận Mậu Thân , chỉ là cảnh … nhà cháy , dân chạy loạn . Tất cả những « tư liệu » này đều có thực , nhưng thầy Dan chỉ trưng bày những phần có lợi cho Việt Cộng . Tôi chưa nghe được từ miệng thầy một lời nói tốt nào cho phía Việt Nam Cộng Hoà . Thầy mô tả Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà như một đội quân kém cỏi về cả tổ chức lẫn khả năng tác chiến . Với thầy Dan , chiến tranh Việt Nam chỉ là một gánh nặng cho ngân sách Quốc Phòng Hoa Kỳ , một sự phí phạm công quỹ . Đã có đôi lần tôi dơ tay nêu ý kiến bênh vực quân đội ta , chính quyền ta , thì ông chỉ cười , chỉ tay vào quyển Sử dày cộm : – Book said !

Cứ cái điệp khúc « Sách dạy ! » đó , ông thầy phản chiến đã lịch sự gián tiếp nhắc nhở cho tôi hay rằng , tôi là một học trò , còn ông là một vị giáo sư nói có sách , mách có chứng .

Thầy hùng hồn thuật lại những lần thầy tham gia biểu tình chống chiến tranh thời 1960s và nặng lời đả kích lệnh động viên ngày đó , đã đưa hàng trăm ngàn thanh niên Hoa Kỳ vào chỗ chết .

Kết quả hai lần khảo hạch giữa học kỳ ( Mid Term ) tôi đều lãnh điểm ( F ) bởi vì tôi chỉ làm trót lọt phần A , B , C khoanh , còn về bài tiểu luận ( essay ) thì tôi bị loại thẳng tay .

Cả hai bài đều lãnh điểm « không » ( 0 ) chỉ vì tôi đã viết không hợp ý ông thày . Ngặt một điều là , lớp History 274 này bị tính điểm đem lên trường đại học 4 năm . Bị đánh rớt lớp này thì giấc mơ chuyển tiếp lên University of Washington của tôi sẽ thành mây khói .

Tôi theo học lớp này đúng vào lúc nhà trường đang sôi sục với cuộc vận động bầu cử Tổng Thống . Ông thầy dạy Sử không phải là người độc nhất có ác cảm với chiến tranh , mà Tiểu Bang Washington tôi đang cư ngụ cũng là thành trì của Đảng Dân Chủ . Tâm sự này kiếm cả trường chắc cũng chẳng có ai thông cảm !

Thời gian này lòng tôi thật muộn phiền . Tôi tự trách rằng , mùa Fall 2000 có thiếu gì lớp tương đương với History 274 mà sao tôi lại nộp mạng vào cái lớp chết tiệt này ? Đúng là bỏ tiền ra ghi danh để ngồi nghe người ta chửi mình , chửi quân đội mình . Càng nghĩ tôi càng thấy tức ! Thằng con trai thấy ông bố rầu rầu bèn lân la hỏi chuyện . Khi hiểu nguồn cơn nỗi buồn của tôi , nó mới cho tôi hay , năm ngoái nó cũng ghi danh học lớp này , và đã bị một « vố » đau . Để thoát thân , từ bài thi thứ nhì nó phải viết theo ý ông giáo . Vất vả lắm nó mới kiếm được đủ điểm .

Sau ngày có kết quả khảo hạch kỳ thứ nhì , tôi bỏ công xuống thư viện nghiên cứu , sao chép những tài liệu sử liên quan tới chiến tranh Việt Nam . Tôi không màng đến vấn đề chuyển tiếp lên University of Washington nữa . Tôi chờ , nếu có cơ hội là tôi sẽ « choảng nhau » với ông giáo phản chiến này một trận , rồi muốn ra sao thì ra . Tôi lục lạo kệ sách loại chọn lọc ( preference ) và tìm được một quyển Sử Ký , trong đó , chứa đựng nhiều tài liệu ghi chép rõ ràng những thành quả mà Việt Nam Cộng Hoà đã thực hiện được . Trong số những tài liệu quý giá đó , có cả một bài đề cập tới đơn vị tôi , Liên Đoàn 2 Biệt Động Quân . Tôi vui mừng và cẩn thận photo copy những gi thu nhận được để dùng làm bằng chứng khi cãi lý với ông giáo sư dạy Sử . Tôi cũng tận dụng thời gian rảnh cuối tuần để sắp xếp cho có thứ tự những điều cần tranh luận . Tôi ghi sẵn những câu phê bình , những câu chất vấn thẳng thắn với thầy Dan về cung cách giáo dục học trò của ông , và về những tài liệu mà ông đã dùng để trợ huấn . Buổi học áp chót của mùa Fall chúng tôi có một giờ đầu thi A , B , C khoanh . Sau đó thầy giáo phát đề bài làm ở nhà . Thời gian còn lại , thày sẽ giảng gợi ý cho bài tiểu luận . Bài tiểu luận sẽ phải giao nộp vào đầu giờ buổi học cuối cùng . Vừa nghe chuông giải lao , tôi tiến tới bàn ông giáo Sử . Dù trong bụng đã chuẩn bị sẵn một mớ ngôn từ đao to búa lớn cho một cuộc đấu khẩu sống mái , nhưng tôi vẫn dằn lòng , nhỏ nhẹ : – Thưa giáo sư . Xin giáo sư vui lòng cho phép tôi được trình bày với ông đôi điều liên quan tới sự giảng dạy của ông trong thời gian vừa qua . Tôi có thể làm phiền ông vài phút được không ? Thầy Dan niềm nở : – Dĩ nhiên là được . Ông có điều gì cần cứ nói . Thấy câu chuyện đã mở đầu trót lọt , tôi mạnh miệng :

– Thưa giáo sư , tôi là một người Việt Nam tỵ nạn . Tôi là một cựu sĩ quan của Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà . Tôi còn nhớ trong bài giảng đầu tiên , thầy có nhắc đi , nhắc lại rằng , phi vụ đầu tiên của pháo đài bay B 52 trên Cao Nguyên Việt Nam là vụ oanh tạc Thung Lũng Ia Drang . Thầy có biết không ? Cũng vào ngày hôm đó , tôi đang tập dượt lễ mãn khoá sĩ quan Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam . Và 10 năm sau , trước khi tàn cuộc chiến , vùng đất mà tôi chịu trách nhiệm trấn giữ cũng bao gổm cả cái Thung Lũng Ia Drang đó . Thầy chỉ biết tới những trận đụng độ đẫm máu trong thung lũng Ia Drang qua báo chí , truyền thanh , và truyền hình . Còn tôi là người đã lặn lội mười năm ở đó , đã nhiều lần bị thương đổ máu ở đó , đã rơi lệ vuốt mắt cho nhiều đồng đội nằm xuống ở đó . Trong số những người nằm xuống ấy , không thiếu những thanh niên Mỹ đồng trang lứa với thầy . Nơi đó chúng tôi chiến đấu quên mình từng ngày , vì nền độc lập của đất nước tôi , và vì quyền lợi của nước Mỹ . Thầy chưa từng khoác áo nhà binh , chưa một lần có mặt trên chiến trường . Suốt đời thầy không hiểu nổi thế nào là niềm kiêu hãnh của một người lính chiến , thế nào là lòng khát khao chiến thắng , thế nào là tình huynh đệ chi binh .

Suốt đời thầy không hiểu được vì sao hơn hai chục thương binh què quặt của một đơn vị Biệt Động Quân Việt Nam Cộng Hoà phải mở đường máu rút lui mà vẫn cưu mang theo ba người lính Mỹ , trong đó có hai người bị trọng thương ; và vì sao một đại tá Hoa Kỳ đã đưa thân che chở cho một thương binh Việt Nam để rồi ông bị mảnh đạn vỡ đầu . Mạng lưới truyền thông thiên Cộng khổng lồ của Hoa Kỳ đã tiếp tay với bộ máy tuyên truyền của Cộng Sản Quốc Tế cố tình xuyên tạc , bóp méo tất cả những c liên quan tới nguyên nhân , diễn tiến , và hậu quả của cuộc Chiến Tranh Việt Nam . Từ đó , tên Việt Cộng khát máu HCM đã được tô vẽ , đánh bóng thành một vị lãnh tụ đức độ anh minh .

Chính tên sát nhân này và đảng Cộng Sản Việt Nam đã giết oan không biết bao nhiêu đồng bào vô tội của tôi trong suốt thời gian ba mươi năm chiến tranh . Nằm trong số hàng trăm ngàn nạn nhân bị giết , tù đầy , thủ tiêu , cha tôi và chú tôi cũng bị chặt đầu trôi sông trong thời gian đó . Nếu chế độ Cộng Sản là tốt đẹp , thì đã không có một triệu dân miền Bắc di cư vào Nam sau Hiệp Định Geneve năm 1954 , và sẽ chẳng có những cuộc vượt biên bi thảm của hàng triệu thuyền nhân trên biển bỏ quê hương sau khi Miền Nam rơi vào tay Cộng Sản năm 1975 . Thầy chỉ mới thấy hình bé gái Kim Phúc trần truồng , vừa khóc vừa chạy , thân mình phỏng cháy vì bom Napalm của quân Đồng Minh đánh lầm vào nhà dân , mà thầy đã thấy xót xa , cho rằng quân Đồng Minh tàn ác .

Nếu thầy ở vào vị trí của tôi , không hiểu thầy sẽ nghĩ sao ? Ngày 18/04/1974 , sau khi tái chiếm Căn Cứ Hoả Lực 711 , Pleiku , tôi đã tận mắt chứng kiến một cảnh dã man chưa từng thấy . Trong một căn hầm trú ẩn đầy ruồi nhặng , trên chiếc giường tre là cái xác trần truồng của một người vợ lính . Chị bị Việt Cộng lột hết quần áo , bị hãm hiếp , rồi bị đâm chết bởi nhiều nhát lưỡi lê , ruột gan lòi lòng thòng . Trên nền đất , máu đọng thành vũng . Trong góc hầm là xác đứa con trai hai tuổi của nạn nhân . Cháu bé bị trói hai tay , hai chân bằng dây dù và cũng bị hàng chục nhát lưỡi lê đâm vào bụng , vào ngực . Hai người này vừa theo chuyến xe tiếp tế của đơn vị lên thăm Chồng và Cha của họ được vài ngày . Họ đã không kịp chạy khi Việt Cộng tràn ngập căn cứ trưa 15/05/1974 . Câu chuyện vừa tới đây thì hết giờ giải lao , học trò trở lại lớp . Ông giáo vỗ vai tôi , – Ông cứ ngồi đây , ta sẽ tiếp tục .

Rồi ông lớn tiếng cho phép lớp nghỉ sớm , để học trò có thời gian chuẩn bị bài thi viết . Chờ cho người học trò sau cùng ra khỏi cửa , thầy Dan nói nhỏ với tôi : – Ông hãy tiếp tục câu chuyện của một nhân chứng sống . Tôi mong được nghe thêm .

Tôi không ngần ngại , tiếp lời :– Cám ơn Giáo Sư . Tôi chỉ nói những gì thấy tận mắt , nghe tận tai , và những gì xảy ra cho chính bản thân và gia đình tôi để thầy có một nhận định chính xác về cuộc chiến tranh Việt Nam đã ảnh hưởng như thế nào đối với người dân Việt .

Tôi tâm sự với thầy Dan rằng , tôi là một học trò tốt nghiệp trung học vào đúng thời điểm đất nước lâm nguy nên tôi đã tình nguyện vào quân ngũ để cứu nước . Tôi tóm lược cuộc đời chinh chiến của mình cho ông giáo nghe . Tôi thấy thầy Dan đặc biệt lưu tâm tới những chiến dịch xảy ra trên Tây Nguyên , và ông có vẻ rất quen thuộc với những địa danh Ban Mê Thuột , Pleiku , Plei Me , Đức Cơ , Kontum . Nghe tôi nói ở Tây Nguyên chiến trận , chết chóc xảy ra hàng ngày , ông vội hỏi : – Mỗi lần ra trận , ông có sợ không ?

Tôi cứ tình thực trả lời :– Sợ chứ ! Vào chỗ chết , ai mà không sợ ? Nhưng tinh thần trách nhiệm đã làm cho tôi quên cái sợ . Thấy ông giáo sư có vẻ muốn nghe truyện chiến trường , muốn hiểu tâm tư người đi trận ra sao , tôi đã không ngần ngại thuật lại hoàn cảnh của tôi trong trận Dak Tô năm 1969 . Cuối trận này tôi đã phải mở khói đỏ yêu cầu máy bay đánh ngay trên đầu mình để cùng chết với quân thù . Vào giờ phút tuyệt vọng nhứt của trận đánh đó , tôi đã nghĩ gì , tôi cũng thổ lộ cho ông giáo biết . Ông giáo sư đã từng nghe nói tới cái tên « Đường Mòn HCM » nhưng chưa bao giờ ông ngờ rằng đó là cả một hệ thống đường giao thông chằng chịt che dấu dưới rừng già dọc Trường Sơn . Tôi đã chia sẻ với ông những cảm giác hồi hộp , căng thẳng của người có cái kinh nghiệm đi toán Viễn Thám săn tin dọc biên giới Việt Miên Lào từ Khâm Đức tới Bu Prang vào những năm 1972-1973 . Ông cũng rất hứng thú khi nghe tôi thuyết trình về kỹ thuật bắn xe tank mà Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân đã áp dụng trong trận Xuân Lộc Tháng Tư năm 1975 . Trận Xuân Lộc này ông có nghe qua , nhưng ông không ngờ , một trong những cấp chỉ huy trực tiếp của trận đánh lừng lẫy ấy đang ngồi trước mặt ông . Tôi không quên nói tới những lần dừng quân bên xóm làng quê nghèo nàn , nhận những bát nước chè xanh , những củ khoai luộc của đồng bào tôi đem ra mời mọc . Tình quân dân cá nước ấy đã là những liều thuốc bổ giúp tinh thần chúng tôi mạnh mẽ hơn khi đối mặt với quân thù . Tôi thuật lại cho thầy nghe , trong tình thế hoàn toàn tuyệt vọng , chúng tôi đã chiến đấu kiên cường như thế nào .

Và sau khi biết rằng chỉ trong vòng một tháng cuối cùng , chín mươi phần trăm của quân số hơn năm trăm người thuộc Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân đã chết vì tổ quốc , thì ông giáo đã giơ hai tay lên trời , lắc đầu thốt ra hai tiếng ,

Thầy Dan la lên : – Trời ơi ! Thầy Dan cũng muốn tìm hiểu xem , sau khi mất nước thì số phận của tôi và gần một triệu quân nhân , công chức chính quyền Việt Nam Cộng Hoà ra sao . Ông đã trố mắt ngạc nhiên khi biết ra rằng , từ sau Tháng Tư năm 1975 , khắp đất nước tôi , « Trại Cải Tạo » đã mọc lên như nấm . Cái tên « Re Education Camp » mà ông đã nghe qua , trên thực tế chỉ là những trại tù khổ sai . Những « học viên » trong các trại đó sống không khác gì những con vật , quằn quại với cái đói . Họ bị ép buộc làm việc tới kiệt lực . Tinh thần bị khủng bố , căng thẳng liên miên bởi những buổi ngồi đồng học tập , phê bình , bầu bán . Tôi thú thật với ông giáo rằng , trong thời gian đó , tôi chỉ nghĩ tới tự do ; làm sao để tìm lại được tự do , dù có chết cũng cam lòng . Ông giáo đã tỏ ra say mê theo dõi truyện hai lần tôi trốn trại thất bại , cùng những cực hình mà tôi phải gánh chịu . Tôi cũng không ngần ngại thuật lại hoàn cảnh của vợ tôi ngày đó , một nách bốn đứa con thơ dại , vất vả , tảo tần nuôi con , chờ chồng trong 13 năm tôi bị giam giữ , tù đầy .

Tôi cho ông giáo biết tôi là người sinh ra tại Miền Bắc Việt Nam . Tháng 07/1954 gia đình tôi đã cùng gần một triệu người khác di cư vào Nam để trốn lánh Cộng Sản . Tôi cặn kẽ phân tích cho thầy rõ , sau Hiệp Định Geneve năm đó , hai miền Nam , Bắc Việt Nam đã thành hai quốc gia , độc lập và có chủ quyền , có biên giới . Chính HCM và đảng Cộng Sản Việt Nam đã chủ trương , phát động và điên rồ theo đuổi một cuộc chiến tranh tiến chiếm Miền Nam . Quân đội và nhân dân Việt Nam Cộng Hoà chỉ làm nhiệm vụ tự vệ . Quân Mỹ và Đồng Minh vào Việt Nam là để phụ giúp chúng tôi chống lại một cuộc xâm lược từ phương Bắc .

Chúng tôi thất trận không phải vì chúng tôi kém khả năng , thiếu tinh thần chiến đấu , mà vì người Mỹ đã phản bội , nửa đường rút quân , cắt viện trợ . Từ khi người Mỹ rút lui , chúng tôi bị bó chân bó tay , bụng đói mà vẫn phải chiến đấu . Trong khi đó , Miền Bắc lại tràn ngập lương thực , quân dụng , quân nhu , và vũ khí viện trợ từ khối Cộng . Thời gian khởi đầu chương trình Việt Nam Hoá chiến tranh , còn được cung ứng vũ khí , lương thực dồi dào , chúng tôi đã chứng tỏ khả năng có thể cáng đáng bất cứ nhiệm vụ nào của quân đội Đồng Minh bàn giao lại . Để chứng minh điều này , tôi mở tờ copy từ quyển History của thư viện , trong đó có sơ đồ các cánh quân Việt Nam Cộng Hoà vượt biên tiến chiếm miền Bắc Cam Bốt trong chiến dịch Bình Tây 1 , 2 , 3 cuối năm 1970 của Quân Đoàn II . Tôi chỉ cho ông cái dấu hiệu quân sự hình tam giác có chữ R ở giữa , cạnh trên có ba cọng râu , bên trái là con số 2 :

– Đây ! Thưa thầy , cuối năm 1970 , tại vùng 2 Chiến Thuật , chúng tôi đã đánh đuổi quân Bắc Việt tới bờ đông của sông Mê Kông trên đất Miên . Ngày đó tôi là người chỉ huy một đơn vị trực thuộc Liên Đoàn 2 Biệt Động Quân . Tôi đã đánh chiếm thành phố Ba Kev , và đóng quân tại nơi này một thời gian . Chúng tôi đã chứng tỏ rằng khả năng chiến đấu của chúng tôi đã hơn hẳn quân đội Bắc Việt . Nhưng những năm sau , viện trợ cắt giảm dần . Mặc dầu tinh thần của chúng tôi không suy giảm , nhưng chiến đấu trong cảnh thiếu thốn thường xuyên , chúng tôi vất vả lắm . Tôi xin đan cử ra đây một so sánh để thầy thấy rõ sự khác biệt .

Trước khi Mỹ rút , tháng 06/1968 , có một lần tôi đang dàn quân tiến chiếm một ngọn đồi thì Bộ Chỉ Huy Task Force South của Mỹ ở Đà Lạt đã bắt tôi ngừng lại để chờ pháo binh và không quân yểm trợ . Tôi đã nhận được một phi tuần hai phi xuất F4C và sau đó là một hoả tập tám trăm quả đạn đại bác 105 ly trên mục tiêu trước khi xung phong . Mục tiêu đó chỉ rộng bằng diện tích khuôn viên trường Shoreline CC này . Chỉ hơn một năm sau khi Mỹ rút , tháng 08/1974 , tiền đồn Plei Me do tôi trấn giữ đã bị một lực lượng địch đông gấp 9 lần vây hãm 34 ngày đêm . Plei Me cũng chỉ rộng bằng trường Shoreline CC thôi . Vậy mà mỗi ngày chúng tôi đã hứng chịu từ một ngàn tới hai ngàn viên đạn pháo cối của địch . Để chống lại , ngoài hai khẩu 155 ly của quân bạn yểm trợ từ xa , tôi chỉ có hai khẩu đại bác 105 ly . Vì tình trạng khan hiếm , tôi chỉ được phép bắn theo cấp số đạn giới hạn là bốn viên cho mỗi khẩu súng một ngày . Chiến đấu trong tình trạng thiếu thốn như thế , chúng tôi vẫn chiến thắng . Thầy nghĩ sao về chuyện này ? Chúng tôi đã chiến đấu cho chính nghĩa như thế đấy , chúng tôi đã hy sinh như thế đấy , và chúng tôi đã bị bỏ rơi như thế đấy . Tôi cũng không hiểu vì sao người Mỹ phản chiến , trong đó có thầy , lại xuống đường tranh đấu , cổ vũ cho kẻ thù của chúng tôi , và ngược đãi chiến binh của chính nước Hoa Kỳ ? Thầy ơi ! Sao thầy lại nỡ nhẫn tâm như thế ! Thầy đã tiếp tay với kẻ thù , đâm sau lưng thân nhân và bạn bè đồng minh của thầy . Nhân dịp này , tôi cũng chuyển lại cho thầy nghe tâm sự của anh Bill , một bạn cựu quân nhân Mỹ trở về từ Việt Nam năm 1973 . Anh Bill hiện nay ( 2000 ) là Supervisor của hãng mà tôi đang làm việc . Đây là lời của anh ấy :

– Bạn có cảm thông nỗi đau đớn của chúng tôi ngày đó không ? Hôm chúng tôi cặp bờ Everett , Washington , dân chúng Mỹ , kể cả những người thân , tiếp đón chúng tôi bằng cách dơ cao ngoắc ngoắc ngón tay giữa ! Đi đâu chúng tôi cũng bị nhìn với đôi mắt khinh khi . Bao nhiêu ê chề nhục nhã đổ lên đầu người thua trận . Thua trận đâu phải lỗi của chúng tôi ? Có bạn tôi đã buồn mà tự tử . Rồi tôi bị giải ngũ . Thời gian ấy kiếm được một việc làm là điều khó khăn trần ai . Hãng xưởng nào cũng không mặn mà với những hồ sơ xin việc của những cựu chiến binh . Cũng may , có người bạn học thời Mẫu Giáo đã giới thiệu tôi vào làm việc cho hãng này . Lương hướng thời ấy chỉ có 3 USD một giờ cũng đã khiến tôi mừng quá lắm rồi . Sau câu chuyện này , tôi chuyển sang phê bình cách giảng dạy của ông thầy , tôi nói thẳng với ông giáo sư rằng , bao năm nay ông đã bóp méo lịch sử của cuộc chiến tranh giữa hai miền Nam và Bắc Việt Nam , làm như thế ông đã phạm tội đối với lịch sử . Cách giảng dạy của ông đã gieo vào trí óc học trò những thành kiến sai lầm đối với Việt Nam Cộng Hoà , làm giảm giá trị sự trợ giúp của chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ đối với nước tôi . Cuối cùng , tôi hỏi ông giáo :

– Thầy còn nhớ , năm ngoái , có một cậu bé Việt Nam , mặt mày sáng sủa , lông mày rậm , tóc hớt kiểu nhà binh theo học lớp Sử 274 này không ? – Nhớ chứ ! Mỗi lớp chỉ có vài học trò Á Châu , dĩ nhiên là tôi nhớ !Cậu bé Việt Nam đó chính là thằng con út của tôi ! Năm ngoái , bài tiểu luận đầu của nó bị điểm « không » ( 0 ) vì nó viết theo quan điểm của một người dân Miền Nam . Những bài sau nó phải đổi cách viết , để thầy cho điểm khá hơn . Tôi là cha nó ; tôi là một trong những người chứng kiến , tham gia và trực tiếp gánh chịu hậu quả của cuộc chiến tranh vừa qua ; tôi không thể làm như con tôi được . Tôi đã nói hết những đều cần nói với giáo sư , và tôi sẵn sàng chấp nhận hậu quả .

Ông thầy dạy Sử như bừng tỉnh cơn mơ : – Tôi tin lời ông , vì chẳng có lý do gì để ông nói dối . Có điều là , từ đó tới nay , hơn hai mươi năm dài , kể từ ngày những gia đình Việt Nam đầu tiên tới định cư ở Hoa Kỳ , chưa ai nói cho tôi nghe những điều này . Có thể , người ta muốn quên đi quá khứ , hoặc là người ta không có can đảm nói ra . Tôi đã hiểu , và tôi phải cám ơn ông . Ông quả là một chiến binh thực thụ .

Nghe được những lời nói chân tình từ miệng ông giáo sư , lòng tôi cảm thấy ấm áp lạ lùng . Trước mắt tôi , ông đã thành một người bạn đồng minh , ông đưa bàn tay hộ pháp ra cho tôi bắt : – Thưa người chiến binh . Ông vừa lập một chiến công !

Đêm ấy trên đường về nhà , lòng tôi rộn ràng như thuở nào giữa sân vận động Pleiku , sau chiến thắng Plei Me , tôi đã đứng trước một đoàn hùng binh , quần áo hoa rừng , nhận những vòng hoa rực rỡ , tai nghe bản nhạc « Bài Ca Chiến Thắng » do ban quân nhạc Quân Đoàn II hoà tấu .

Ngày chấm dứt mùa Fall năm 2000 ông thầy dạy Sử tươi cười trao cho tôi bản tổng kết cuối khoá , trên đó điểm trung bình ( GPA ) lớp History 274 của tôi ghi 4 chấm ( 4,00 ) .

Cuối mùa Spring 2001 tôi dự lễ cấp văn bằng tốt nghiệp AA nơi vận động trường có mái che của Shoreline Community College . Khán đài đông nghẹt thân nhân . Vợ tôi và bốn đứa con tôi cũng có mặt ngày hôm ấy . Khi người điều hành gọi tên tôi lên bục để nhận văn bằng , cả hội trường đều ngạc nhiên vì thấy nơi hàng ghế giữa của khu giáo sư có tiếng ai gào lên như tiếng sấm : – Long ! I’m proud of you ! Đến lúc bà Hiệu Trưởng bắt tay tôi thì ông giáo Dan đứng dậy , bắc loa tay hướng về sân khấu : My soldier ! I’m loving you !

Ông là một người cao lớn . Trong chiếc áo thụng đen , trông ông dềnh dàng như nhân vật chính trong phim « Người Dơi » .

Những người có mặt trong hội trường buổi ấy đều quay mặt nhìn về hướng ông giáo , ai cũng ngạc nhiên vì hành động phá lệ của một ông thầy xưa nay nổi tiếng là mô phạm . Thấy ông giáo Dan réo tên tôi ầm ầm , vợ con tôi và những khán giả ngồi trên khán đài cũng vỗ tay , reo hò , la hét theo . Hai năm sau , khi tốt nghiệp BA từ University of Washington , tôi về thăm và báo cho ông biết , ông vui lắm .

Từ đó cho tới khi tôi ngồi viết lại những giòng này ( 2011 ) hàng chục ngàn học trò đã tới , rồi giã từ Shoreline Community College . Và chắc chắn , hàng trăm lượt người trẻ tuổi đã đi qua lớp History 274 . Mười một năm qua , tôi vẫn nhớ buổi tối năm nào , tôi với ông giáo sư dạy Sử đã ngồi tâm sự với nhau . Lời khen của ông , mà tôi quý như một tấm huy chương , vẫn còn văng vẳng : – Thưa người chiến binh . Ông vừa lập một chiến công !

Seattle 2011/07

Vương Mộng Long – K20




CÔ GÁI TRÀ VINH KIÊN CƯỜNG BẤT KHUẤT

VỀ CÔ GÁI TRÀ VINH KIÊN CƯỜNG BẤT KHUẤT Nguyễn Đặng Minh Mẫn

Cô ấy là một thuyền nhân tí hon. 4 tuổi theo gia đình lênh đênh trên biển đi tìm tự do. Qua bốn trại tị nạn , lao đao khốn khó nhưng những năm tháng ấy cũng đã kịp hình thành ý thức về tự do và quan trọng hơn, suốt 8 năm tị nạn trên đất Thái, cô đã tìm ra lẽ sống và niềm tin của cuộc đời. Cô xin được học giáo lý để được rửa tội theo chân Chúa. 12 tuổi, cái độ tuổi ham ăn ham chơi của đa số bạn đồng lứa thì cô bắt đầu chạm cú shock đầu tiên của đời mình. 12 tuổi cô cùng gia đình bị trả ngược về Việt Nam.

Do ngày vượt biển đến trại tị nạn đã quá ngày tiếp nhận thuyền nhân, cả nhà cô bị trả về với tâm thế bị cưỡng bức, không một mảnh giấy cầm tay. Cô về Trà Vinh nhập học lớp 4 và hành trình học tập của cô cũng bắt đầu lao đao theo những định kiến của chế độ đặt ra cho những “kẻ phản quốc”.”Kẻ phản quốc” cũng là câu nói cửa miệng của thầy cô trong trường khi nói tới tên Mẫn. Thầy giáo chủ nhiệm cấp 2 nói với cô “chỉ có những đứa phản quốc mới bỏ đi vượt biên thôi”.

Sau khoá sơ cấp Dược (cô học cho Cha Mẹ an lòng) cô quyết định thôi học vì cô biết có tiếp tục hành trình trường lớp cô cũng sẽ không thể vươn lên được trong cái xã hội nhỏ hẹp kia với những định kiến lệch lạc thiếu tình người đến độ bệnh hoạn. Vốn dĩ gia đình xuất thân từ nền Cộng Hoà nên việc sống và hoà nhập với nhận thức của xã hội và những người được mua chuộc để theo dõi cô cùng gia đình là một điều không thể.

Thị xã Trà Vinh nhỏ hẹp không thoả mãn được ý thức về tự do cũng như mong muốn về quyền được làm người đúng nghĩa mà cô đã sớm được gieo trồng và phát triển. Hằng đêm, ngoài việc đọc kinh cầu nguyện thì việc dò đài Radio trên sóng quốc tế cũng là một niềm vui sống và hi vọng của cô gái 24 tuổi đời. Cô biết được phía bên ngoài kia, thế giới của những người Việt lưu vong, lòng yêu nước vẫn luôn âm ĩ, cô biết nhiều hơn và ý thức nhiều hơn về lòng yêu nước của bản thân. 25 tuổi cô quyết định rời bỏ Trà Vinh lên Sài Gòn tìm những người cùng chí hướng, cùng suy nghĩ và cùng một nhận thức về yêu nước về tự do. 25 tuổi cô phải thay đổi chỗ ở liên tục vì sự đeo bám của công an, an ninh và sự quấy nhiễu của bọn họ, áp lực lên gia đình cô ở quê nhà.

Những hình ảnh của cô trong những cuộc cuộc biểu tình, biểu ngữ về Hoàng Sa – Trường Sa và tinh thần dân tộc của cô một ngày một dày thêm trong tủ hồ sơ an ninh về những kẻ phản động. Cô bị bắt tại sân bay cùng Mẹ và anh trai trong một chuyến bay về lại Việt Nam sau những ngày giao lưu gặp gỡ các bạn bè Việt Nam lưu vong trên khắp thế giới. Sau hai đợt Sơ thẩm – Phúc Thẩm cô bị kêu án 8 năm do tội danh phản quốc và lôi kéo đồng bọn (bao gồm Mẹ và anh trai).Mẹ cô bị kêu án 3 năm, anh trai sau gần hai năm tạm giam được thả về và hưởng án treo.

Suốt 8 năm trong lao tù, không ít lần cộng sản yêu cầu thoả thuận cùng cô để cô được giảm án nhưng cô đều từ chối vì không bao giờ bắt tay hay thoả thuận gì với cộng sản. 8 năm lừng lững và ung dung bước ra khỏi trại giam, cô về với tâm thế ngẩng cao đầu, được hỏi về những năm tháng tù đày cô bé cười rất tưoi và trả lời tôi. “Suốt tám năm em được Đức Mẹ che chở, em hay nằm mơ thấy Đức Mẹ đưa tay ra cho em nắm, và suốt những tháng năm đó em thấy mình đủ sức chị à. Đừng ai hỏi em có hối hận không vì em trả lời một lần duy nhất là em không bao giờ hối hận đâu”.

8 năm lưu vong trên đất Thái trải qua 4 trại tị nạn và 8 năm tù đày trên đất Việt Nam cũng trải qua 4 trại tù khủng khiếp nhất. 16 năm tuổi đời của cô đã trôi qua như thế. Có ai cảm thấy mình quá nhỏ bé trước cô ấy như tôi không?

Theo FB Chiêu Anh Nguyễn




Ngụ ngôn của phở

Ngụ ngôn của phở

Thứ bảy, 25/4/2020

Vietnamese Pho Recipe: Beef Noodle Soup • Steamy Kitchen Recipes ...

Sau những ngày cách ly xã hội, một trong những thứ mà người Việt nói đến nhiều nhất có lẽ là “phở”.

Tôi thức dậy vào cuối tuần. Ở trong bếp dưới lầu, mẹ đang hát. Chiếc muôi của bà kêu vang bên chiếc nồi và âm thanh đều đặn của con dao chặt trên thớt gỗ đã mòn.

Rất nhiều năm đã trôi qua, tôi vẫn nghe thấy chúng, cả những âm thanh lách cách của bát đĩa vang lên bên tai. Mùi phở trở thành một phần bí mật của tâm hồn.

Hơn chục năm sau, tôi vừa tốt nghiệp trường UC Berkeley, Mỹ và đi du lịch châu Âu. Người bạn cũ rủ tôi đến một nơi bí ẩn tại Bỉ. Chúng tôi xuống tàu giữa hư không, phía bắc Brussels, và đi trong nửa giờ. Vượt qua đồng cỏ và trang trại, chúng tôi tiến vào một khu rừng. Một lâu đài với cây cầu nối nó băng qua một con hào. Những bức tượng La Mã trên bãi cỏ. Tôi dừng lại, nghe một mùi thơm phức tạp. Tôi đã mong đợi nó. Bay lơ lửng trong không khí, quế và đinh hương, nước mắm và hoa hồi, nước dùng thịt bò. Có người đang làm phở.

Vào buổi chiều hè đó, đứng trên một con hào trước khi được vẫy gọi vào một lâu đài châu Âu, tôi tưởng như mùi hương cay nồng và thơm ngát đã lan tỏa khắp châu lục. Tôi đã thấy một cái gì đó gần với trải nghiệm ngoài cơ thể. Mùi thời thơ ấu Việt Nam của tôi đã phủ lên một cảnh quan mới, ngay lập tức, tôi cảm thấy hạnh phúc và hoài cổ, cố gắng nắm bắt cảm giác thú vị của cuộc phiêu lưu kỳ lạ này.

Tôi theo bạn xuống những bậc đá để đến một nhà bếp có thể chứa 30 đầu bếp làm việc. Ở phía xa trong gian bếp rộng lớn, một phụ nữ châu Á thanh lịch vào giữa những năm 30 tuổi chào chúng tôi bằng nụ cười duyên dáng. Cô nói bằng tiếng Việt: “Có em đây. Chị đã chờ đợi và chờ đợi. Chị nghĩ hai em bị lạc trong rừng”.

Khi bày lên trước mặt chúng tôi tô phở, cô kể câu chuyện của mình. Từng là giáo viên cấp ba ở Sài Gòn, cô mất việc sau chiến tranh. Một đêm nọ, cô và chị gái trốn lên chiếc thuyền đông đúc ra biển. Một tàu buôn Bỉ đón đoàn người. Hai chị em phải sống trong tầng hầm của một nhà thờ ở thị trấn bên ngoài Brussels. Ngày nọ, bá tước địa phương, người đã hy vọng trở thành một linh mục nhưng bị gia đình ông ngăn cản, thấy cô khi ông đang cầu nguyện trong nhà thờ. Họ nhìn nhau. Cô ngập ngừng, còn bá tước đã yêu. Họ cưới nhau. Bây giờ, là mẹ của hai đứa con có dòng máu quý tộc, đôi khi cô thấy mình lướt qua những chiếc gương mạ vàng dọc theo hành lang lâu đài và rùng mình, tự hỏi: “Đó là ai? có phải tôi không?”.

Người phụ nữ ấy đã đem thứ nước dùng vô song và thiêng liêng đến lâu đài cổ giữa rừng châu Âu. Hương hoa hồi, thảo quả, đinh hương, quế, gừng và hành tây nướng, món súp được ninh ở nhiệt độ vừa phải cho đến khi thịt mềm, tủy thấm. Nó truyền cảm hứng cho niềm đam mê. Nó đặc hữu hóa Việt Nam như một ngụ ngôn ẩm thực.

Ngày nay, nếu bạn gõ từ “phở”, bạn sẽ thấy hàng chục nghìn lượt tìm kiếm giống mình. Hàng trăm đầu bếp đưa ra công thức nấu món ăn và các nhà văn, nhà phê bình nhiệt tình công bố các bài viết, các học giả còn công bố cả bài báo học thuật về nguồn gốc của nước phở. Công ty Campbell Soup năm 2002 đã lấy công thức nước dùng món ăn để đưa ra sản phẩm nước dùng phở đóng hộp nhắm vào người mua là các quán ăn, nhà hàng. Ngay cả Food Network cũng có các đầu bếp dạy khán giả cách làm phở. Thậm chí, ngôn ngữ Mỹ còn sinh ra một từ mới: Phomance. Theo New York Times, nó được sử dụng vui nhộn, mô tả mối quan hệ tình cảm quá gần gũi với món ăn Việt Nam.

Nhưng món súp này đến từ đâu? Điều mà gần như chắc chắn, nó đến từ phía Bắc Việt Nam, cụ thể là Hà Nội, khoảng một thế kỷ trước. Cây hồi sao có nguồn gốc từ tây nam Trung Quốc được kết hợp với nước mắm Việt Nam để tạo cho phở hương vị đặc trưng của nó. Hành tây Pháp được sử dụng để làm ngọt nước dùng. Bạch đậu khấu đến từ Ấn Độ, bánh phở chắc chắn là từ Trung Quốc. Tuy nhiên, ở Việt Nam, thịt bò hiếm khi được sử dụng cho đến khi người Pháp đem nó đến đây vào cuối những năm 1800. Điều ít ai chắc chắn hơn là hành trình của nó đã thế nào. Có học giả tranh luận rằng từ này xuất phát từ tiếng Pháp “feu” hay “pot-au-feu” – có nghĩa “lửa cháy” hay một từ chỉ món ăn dạng lẩu. Người thì bảo nó có nguồn gốc từ “fen” – tiếng Trung chỉ món bún. 

Mỗi khi đại gia đình của tôi tụ tập bất cứ khi nào, ở Mỹ, Canada, Pháp hay Anh, để tổ chức lễ cưới hay thương tiếc cho sự ra đi của một người họ hàng, “Phở talk” thường đứng đầu danh sách các chủ đề đàm thoại.

“Em đã ở Athens năm ngoái và anh đoán xem em đã ăn gì? Phở ạ”. Một ai đó sẽ bắt đầu. Và một người khác sẽ thách thức: “Thật à, anh đã ăn phở rất ngon ở thành phố Jakarta”. Và vì vậy, các câu chuyện ồn ào và phóng đại. Kiểu như: “Tôi tình cờ ở khu vực ngoại ô Sydney và đọc thấy có bảo tàng đang triển lãm về phở. Tôi đã đi, tất nhiên. Họ phục vụ phở bên trong bảo tàng bởi một hàng phở từ Sài Gòn để tái tạo món ăn đường phố ngày xưa. Rồi tôi tình cờ gặp lại cô giáo P. từ trường Lê Qúy Đôn. Anh có thể tin được không? Tất nhiên, thầy trò rủ nhau ăn phở. Cách Sài Gòn rất xa, ba thập kỷ sau, ngồi trên một chiếc ghế gỗ đơn sơ, cười đùa giống như thời trẻ…”

Biết một thành phố xa xôi đang phục vụ những món tủ của người Việt cũng giống như chứng kiến niềm hy vọng thịnh vượng của người Việt nơi hải ngoại. Bất cứ nơi nào có người Việt mình, ở đó có phở. Chúng tôi kể chuyện phở như câu chuyện tự hào dân tộc.

Một món ăn đặc trưng của Việt Nam rất có thể có cả ảnh hưởng của Pháp và Trung Quốc, nhưng đó là cái mâu thuẫn của văn hoá. “Feu” hay “fen”, “phở” là thứ không thể phai mờ của bản chất Việt chính vì nó kết hợp ảnh hưởng nước ngoài. Giống như đất nước có lịch sử bị chinh phục bởi các thế lực và người dân phải liên tục thích nghi để sinh tồn, món phở có nguồn gốc từ rất nhiều di sản song vẫn giữ được hương vị đặc trưng của Việt Nam. Kể từ khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, món ăn cũng như người Việt di cư trở thành một âm vị toàn cầu.

Thế giới thanh bình trong ngôi biệt thự Pháp xa xưa của chúng tôi đã hoàn toàn mất đi, giờ chỉ có thể trở về trong hồi tưởng. Nhờ có phở, nhiều người Việt di cư đến mọi nơi tìm thấy một cảm giác an ủi khi biết rằng hương phở ngon lành cũng đã lan tràn cả thế giới.

Andrew Lâm




KHI DI SẢN BIẾN MẤT

KHI DI SẢN BIẾN MẤT

Khu vực trung tâm thành phố Hồ Chí Minh tập trung nhiều công trình và cảnh quan được xây dựng từ khi đô thị Sài Gòn hình thành. Đó là những công trình đẹp về kiến trúc và ẩn chứa trong nó biết bao câu chuyện về lịch sử và con người thành phố. Từ khoảng hai mươi năm nay “quá trình hiện đại hóa” đã làm mất đi và biến dạng quá nhiều di sản ở khu vực này. Đấy là sự “lấy đi” nguồn vốn xã hội dưới dạng di sản văn hóa. Sự biến đổi kiến trúc và cảnh quan tại khu vực trung tâm TP. Hồ Chí Minh làm thay đổi các mối quan hệ giữa các nhóm xã hội, chính nhờ các mối quan hệ này mà trước đây, khu vực này có những không gian giao tiếp độc đáo và đặc trưng của đô thị Sài Gòn.

Về xã hội.

Mất đi các di sản vật thể gắn với các sự kiện lịch sử và nhân vật lịch sử. 

Dọc theo trục Đồng Khởi và Lê Lợi có nhiều công trình di sản vật thể gắn với các sự kiện và nhân vật lịch sử, gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của thành phố. Khi nhắc đến Sài Gòn của thế kỷ 20, người ta nghĩ ngay đến trục Đồng Khởi với Café Givral, Café La Pagode, Nhà sách Xuân Thu, Rạp hát Eden… hay trục Lê Lợi với Thương xá Tax, Rex…Café Givral hình thành trong thập niên 1950-1960, nằm tại tầng trệt Chung cư Eden. Trước 1975 nơi đây được coi là một “trung tâm tin tức” do các nhà báo thường tụ tập ở đây vì nó nằm ngay trước trụ sở Hạ nghị viện (Nhà hát Thành phố ngày nay). Quán cà phê Givral còn gắn liền với tên tuổi của Thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn – nhà tình báo số 1 của Việt Nam.Café La Pagode có thiết kế nội thất giản dị, không rườm rà; từ bàn ghế, cột kèo đến cửa sổ mở to và mang đường nét kỷ hà. La Pagode không dành cho khách Tây và giới sành điệu cũng như người giàu có mà dành cho những họa sĩ, nhạc sĩ, nhà văn và nhà thơ… những người có tâm hồn sáng tạo và cách tân lúc bấy giờ của Sài Gòn.

Quá trình biến đổi cảnh quan và kiến trúc đã làm mất đi các công trình này, Sài Gòn mất đi một phần lịch sử và nhiều nét đặc trưng độc đáo về kiến trúc và cảnh quan đô thị. Giờ đây những địa chỉ quen thuộc này đã thay bằng những cửa hiệu sang trọng, hiện đại mà không chắc hơn vài chục năm sau có giá trị lịch sử hay văn hóa để trở thành một dấu ấn trong ký ức của người Sài Gòn hay không? Mất mát lớn nhất không chỉ là sự tiếc nuối của những thị dân Sài Gòn lớn tuổi, mà còn là mất đi cơ hội trải nghiệm “hồn đô thị Sài Gòn” đặc sắc trong không gian xưa cũ ấy của thế hệ trẻ ngày nay.

Mất đi các giá trị phi vật thể đặc trưng văn hóa Sài Gòn

Giao tiếp và dịch vụ vỉa hè là một hoạt động đặc trưng ở các đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là những hoạt động kiến tạo các không gian giao tiếp cộng đồng sinh động và linh hoạt; khách bộ hành hay người đi đường cảm nhận được sự hấp dẫn từ việc mua bán nhộn nhịp, các sản phẩm đa dạng và nhiều hoạt động khác. Trên các trục Đồng Khởi và Lê Lợi trước đây có rất nhiều hoạt động giao tiếp vỉa hè phong phú và đa dạng, từ lâu đã trở nên quen thuộc không chỉ đối với người Việt Nam và khách du lịch quốc tế; góp phần đa dạng hóa các không gian công cộng, tăng cường gắn kết quan hệ giữa con người với con người.

Ngày nay những hoạt động này đã mất dần. Trước đây, một phần dân cư sinh sống tại các chung cư cũ trên hai trục đường trên tổ chức buôn bán ở tầng trệt chung cư và khu vực vỉa hè xung quanh. Việc giải tỏa các chung cư cũ đồng thời xóa bỏ những hoạt động kinh doanh này. Các cao ốc với các chức năng mới (văn phòng, trung tâm thương mại, khách sạn, căn hộ…) với hình thức kiến trúc hiện đại, sang trọng được xây dựng trên khu đất thay cho các công trình cũ. Khu vực vỉa hè xung quanh các công trình mới không cho phép các hoạt động giao tiếp vỉa hè truyền thống; không gian tầng trệt và vỉa hè chỉ dành cho các dịch vụ của công trình hiện đại và cho đi bộ.Giờ đây, qua lại tại các trục Đồng Khởi và Lê Lợi sẽ thấy, hầu như không còn các hoạt động giao tiếp vỉa hè; “văn minh đô thị hiện đại” không có chỗ cho các hoạt động phi chính thức truyền thống.Hạn chế các hoạt động ngoài trời của người dânTrường hợp công viên Chi Lăng  trước đây là một khu vực sinh hoạt ngoài trời của người dân.

Ngày nay, công viên trước Trung tâm thương mại Vincom Đồng không còn để phục vụ các hoạt động ngoài trời của người dân mà có chức năng tạo cảnh quan phục vụ cho Vincom Đồng Khởi qua cách thiết kế không gian: tập trung vào mục tiêu tạo giá trị thẩm mỹ chứ không hướng đến sự tiện ích (mái che, đường dạo, ghế đá…) phục vụ người dân như một “chiếu nghỉ” trên phố đi bộ Đồng Khởi. Cây xanh lâu năm trước đây nay đã được thay bằng cây nhỏ, ít bóng mát mặc dù tạo được thảm cỏ xanh hiếm hoi tại khu vực trung tâm hiện hữu của Thành phố Hồ Chí Minh.Sự biến đổi kiến trúc và cảnh quan dọc trục Đồng Khởi và Lê Lợi làm hạn chế các hoạt động ngoài trời dọc các trục này. Các hoạt động giao tiếp ngoài trời đang có xu hướng chuyển dần vào các không gian tiện ích trong nhà của các tòa nhà mới được xây dựng, làm giàm đi và dần triệt tiêu sự sống động và nhộn nhịp của không gian cảnh quan đô thị.

Tác động sâu xa hơn là sự phân tách giàu nghèo trong khu vực này bởi người có thu nhập thấp không thể hoặc không lựa chọn việc sử dụng các dịch vụ cao cấp bên trong các tòa nhà; trái lại phần lớn người có thu nhập cao hơn sẽ có xu hướng tìm đến các dịch vụ cao cấp bên trong các tòa nhà, hơn là sử dụng các dịch vụ (phi chính thức) bên ngoài.

Thay đổi các mối quan hệ giữa các nhóm xã hội gắn bó với không gian của khu vực

Như đã phân tích trên về việc thay đổi tính chất hoạt động dọc trục, chuyển đổi từ thương mại, dịch vụ nhỏ sang thương mại lớn, hành chính, văn phòng đi kèm với tác động về việc thay đổi các mối quan hệ giữa các nhóm xã hội, cụ thể là từ mối quan hệ giữa các tiểu thương nhỏ với nhau sang mối quan hệ giữa các doanh nghiệp; từ mối quan hệ giữa người dân, khách du lịch với các tiểu thương sang mối quan hệ giữa nhân viên làm việc trong khu vực cung cấp dịch vụ với các khách hàng có nhu cầu cao.

Bên cạnh việc chuyển đổi các mối quan hệ, tác động của sự biến đổi kiến trúc và cảnh quan tại khu vực trung tâm còn phá vỡ các mối quan hệ của người dân địa phương đã từng sinh sống cùng nhau trong một tòa chung cư, một khu phố (quan hệ xóm giềng) hay phá vỡ các mối quan hệ giữa các tiểu thương nhỏ đã từng cùng nhau chia sẻ lợi ích từ hoạt động kinh doanh cùng tính chất, mất đi sự gắn kết giữa các tiểu thương vốn đã cùng nhau hình thành nên những dãy phố thương mại đặc trưng tại khu vực trung tâm thành phố.

Quá trình biến đổi kiến trúc và cảnh quan trong khu vực còn tạo những căng thẳng xã hội trong quá trình giải tỏa mặt bằng, đầu tư xây dựng và vận hành các dự án đầu tư bất động sản. Ngoài ra còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh truyền thống và những thương hiệu của thành phố như việc thay đổi cảnh quan đường Nguyễn Huệ, việc rào đường xây dựng các ga metro trong một thời gian dài…

Về kinh tế

Tạo thêm việc làm cho khu vực chính thức nhưng làm mất đi việc làm của khu vực phi chính thức. Không thể phủ nhận rằng việc đầu tư xây dựng và phát triển các công trình cao tầng mang lại rất nhiều lợi ích kinh tế cho khu vực, đáng kể nhất là việc tạo ra nhiều việc làm ở khu vực chính thức. Các công việc được tạo ra chủ yếu ở lĩnh vực thương mại và dịch vụ. 

Khu trung tâm hiện hữu Thành phố Hồ Chí Minh (930 ha) là khu vực tập trung các công trình có chức năng hành chính và dịch vụ công, thương mại – dịch vụ, khách sạn.Tuy nhiên, sự biến đổi này lại tác động tiêu cực đến việc làm của khu vực phi chính thức, vốn gắn liền với “kinh tế vỉa hè”; khi các hoạt động giao tiếp vỉa hè bị hạn chế thì hoạt động kinh tế phi chính thức cũng giảm đi. Hệ quả là mất đi không gian văn hóa cộng đồng có giá trị đặc trưng, ảnh hưởng đến việc làm và thu nhập của một bộ phận dân cư, đặc biệt là thành phần lao động nhập cư.Phân bố nguồn lực đầu tư trong và ngoài nước vào các khu đô thị. 

Sự biến đổi kiến trúc và cảnh quan khu vực trung tâm đã góp phần tạo thêm lực hấp dẫn cho khu vực này nói riêng và Thành phố Hồ Chí Minh nói chung. Chính điều này góp phần tiếp tục hướng các nguồn lực đầu tư phát triển bất động sản vào khu vực trung tâm hiện hữu, làm hạn chế nguồn lực đầu tư phát triển đô thị cho các khu vực đô thị mới, nhất là Nam Sài Gòn, Thủ Thiêm. Hậu quả là, trong khi kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội của khu vực trung tâm hiện hữu không đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của các hoạt động phát triển kinh tế – xã hội thì các khu đô thị mới đang “đói” nguồn vốn đầu tư, kể cả đầu tư vào kết cấu hạ tầng lẫn các dự án công trình xây dựng.

Về không gian, môi trường đô thị

Cảnh quan và kiến trúc ít thân thiện với môi trường. Sự biến đổi cảnh quan và kiến trúc trong khu vực nghiên cứu diễn ra theo xu hướng ít thân thiện với môi trường. Cây xanh tại các công viên (công viên trước Nhà thờ Đức Bà, công viên Chi Lăng, công viên trước Nhà hát Thành phố, công viên dọc bờ sông Sài Gòn) và tại các dải phân cách của trục Lê Lợi trong giai đoạn vừa qua giảm nhiều về số lượng và kém hơn về chất lượng tạo bóng mát.Các tòa nhà mới xây dựng, dưới áp lực hiệu quả kinh tế trong đầu tư, thường ít đạt được các tiêu chí thân thiện với môi trường, đặc biệt thường sử dụng sử dụng kính làm vật liệu bao che và ít thiết kế các kết cấu che nắng đặc thù của vùng nhiệt đới nên rất tốn năng lượng.

Tạo không gian ít thân thiện với con người. 

Sự biến đổi cảnh quan và kiến trúc trong khu vực nghiên cứu diễn ra theo xu hướng ít thân thiện với con người, nhất là với cộng đồng cư dân lâu đời cũng như du khách từ những quốc gia hiện đại, bởi tính chất đặc trưng không còn, thay vào đó là các công trình “hoành tráng” tỷ lệ áp đảo kích thước vỉa hè, đường phố cũ, gây cảm giác chật chội, đè nén hơn khi đi trên đường phố. Đồng thời, sự hiện đại mang tính phô trương của các công trình mới ít quan tâm đến việc thiết kế các cấu trúc phục vụ người đi bộ (hành lang/mái che bên ngoài công trình).

Những tổn hại xã hội xảy ra khi di sản biến mất càng cho thấy tầm quan trọng của việc giữ gìn di sản: trước hết vì “người sống” chứ không phải chỉ vì bản thân di sản, nếu di sản còn mà cộng đồng không hiểu biết giá trị và được hưởng giá trị đó thì không thể bảo vệ di sản. Bảo tồn những di tích lịch sử văn hóa của một đô thị chính là nhằm xây dựng đô thị hiện đại có một không gian sống với chiều sâu ký ức của nó. Sống trong không gian đó con người sẽ giàu có hơn về mặt tinh thần khi họ được thế hệ trước di truyền lại những ký ức về vùng đất mà họ đang sống. Bảo vệ di sản văn hóa là để con người sống tốt hơn cho hôm nay chứ không chỉ là bảo vệ một ý niệm nào đó của quá khứ dù đẹp đến đâu.

Nguyễn Thị Hậu


Cầu Mống quận 1 – cây cầu cổ xưa của Sài Gòn