Việt Nam 33 năm sau “Đổi mới” (12.1986 – 12.2019)

Việt Nam 33 năm sau “Đổi mới” (12.1986 – 12.2019):

Thủ đoạn lừa đảo nhân dân và trí trá với đảng viên!

Âu Dương Thệ

15-12-2019

Ngày 6.12.2019 Thủ tướng Đức bà Merkel đã tới viếng các nạn nhân tại Trại tập trung Auschwitz (Ba Lan). Nơi đây, trong Thế chiến thứ 2 dưới chế độ Quốc xã, Hitler tôn thờ chủ nghĩa quốc gia cực đoan, đã giết hại trên 1,1 triệu người. Tại đây bà Merkel đã đọc một diễn văn quan trọng. Trong đó, cũng như hai Thủ tướng Đức trước, bà đã đề cao lương tri và tinh thần trách nhiệm của người lãnh đạo một Nước Đức Mới. Đó là tôn trọng những giá trị dân chủ và pháp quyền, dám can đảm nhìn nhận thẳng thắn những tội ác của chế độ độc tài Hitler. Một số đoạn rất đáng chú ý (lược dịch):

“Hôm nay tại đây, đứng trước quí vị, nói với tư cách là Thủ tướng Đức, tôi thấy thật không dễ dàng. Tôi cảm thấy cực kỳ xẩu hổ trước những tội ác dã man, những gì đã diễn ra do người Đức đã hành động. Những tội ác này đã vượt qua tất cả những gì có thể hình dung được. Thật là khủng khiếp về những gì mà phụ nữ, đàn ông và trẻ em đã phải trải qua ở đây…Vì từ ngữ nào có thể diễn tả nổi sự đau buồn đến như thế, khiến bao nhiêu người đã bị hành hạ, đày ải và thủ tiêu?…Nhưng im lặng không được phép là câu trả lời duy nhất của chúng tôi. Nơi đây ràng buộc trách nhiệm chúng tôi, phải cảnh thức hồi tưởng. Chúng tôi phải nhớ lại những tội ác đã diễn ra ở đây và phải nói đúng tội danh của nó!…

Nhớ lại những tội ác, vạch rõ thủ phạm và trân trọng tưởng nhớ tới các nạn nhân. Đó là trách nhiệm không bao giờ chấm dứt. Trách nhiệm này không thể nào san sẻ được, nó liên hệ trực tiếp tới đất nước tôi. Ý thức trách nhiệm này là bổn phận của chúng tôi, nó là phần liên đới chặt chẽ tới hình ảnh của đất nước chúng tôi, đó là một thái độ tự nhiên của một xã hội có ý thức và tự do, cùng với dân chủ và tôn trọng pháp quyền”. (Bundeskanzleramt, 6.12.19)

Sau khi chế độ Hitler tan rã, nước Đức đã can đảm và kiên tâm đấu tranh trở thành một Nước Đức Mới – Trước hết là ở Tây Đức. Từ một đống tro tàn, hận thù với các lân bang, Tây Đức đã mau chóng chỉ sau khoảng hai thập niên, đối nội đã trở thành quốc gia tân tiến, tôn trọng các giá trị dân chủ, tự do, pháp trị của một xã hội Dân chủ đa nguyên (DCĐN). Đối ngoại Tây Đức đã xóa hận thù với các lân bang, là thành viên tích cực trong Liên minh Âu châu (EU). Biết chọn Hoa Kỳ làm đồng minh khiến Liên Xô (cũ) không dám đụng tới. Nhờ thế, cuối cùng Đông Đức đã thống nhất với Tây Đức không tốn một viên đạn từ trên 30 năm nay. Nay Nước Đức Mới là cường quốc kinh tế thứ ba, thứ tư trên thế giới, các công dân được quyền hành xử các quyền tự do căn bản và xã hội phồn vinh.

***

Còn VN từ sau Thế chiến Thứ hai thì như thế nào? Nhờ lòng yêu nước và sự đấu tranh của nhân dân nên chế độ thực dân đã chấm dứt. Nhưng thay vì để lương tri hướng dẫn thực hiện dân chủ và tôn trọng tự do thực sự cho mọi người, thì Hồ Chí Minh đã vội nuốt lời hứa. Sau khi nắm quyền ở miền Bắc ông đã dùng những thủ đoạn cực kỳ gian xảo để buộc chặt đất nước trong chủ nghĩa Marx-Lenin, coi là “đũa thần”; lấy bạo lực, đấu tranh giai cấp, đàn áp các người khác chính kiến là những tiêu chuẩn giá trị trong xã hội.

Vì thế đã diễn ra cuộc nội chiến dài tàn khốc và dã man chưa từng có trong lịch sử dân tộc, với sự tiếp tay từ bên ngoài. Bao nhiêu triệu người cùng là đồng bào máu mủ đã bị giết hại trên các chiến trường Nam-Bắc. Hàng trăm ngàn người bị bị đấu tố, nhục hình, bắt con cháu tố cáo cha mẹ, ông bà. Hàng triệu người bị giam cầm trong các trại tập trung, trại cải tạo, trở thành thuyền nhân phải bỏ thân quyến và quê hương ra đi! Cao điểm của chính sách tàn bạo chưa từng có trong lịch sử dân tộc là từ 1975, khi chế độ toàn trị toàn thắng ở miền Nam!

Những tội ác khủng khiếp như vậy đối với chính đồng bào ruột thịt của mình chẳng khác những tội ác tày trời của Hitler với người Do thái. Nhưng cho tới hôm nay chưa có một nhân vật nào đương quyền của CSVN dám can đảm công khai nhìn nhận và xin lỗi trước nhân dân. Trái lại, trước sau họ vẫn phản ứng theo quán tính, tiếp tục ngụp lặn trong độc tài, đàn áp và tham nhũng; vì thế đã bỏ lỡ nhiều cơ hội canh tân đất nước!

***

Đúng vào dịp này 33 năm trước, số phận chế độ toàn trị và cả những người cầm đầu nó đang rơi vào thế cực kỳ hiểm nguy, như sợi chỉ treo ngàn cân. Bên ngoài Bắc kinh tiếp tục dùng chiến tranh gây áp lực ở biên giới phía Bắc và tiếp tay Pol Pot để CSVN bị sa lầy. Không những thế, VN còn bị Hoa Kỳ (HK) và các nước Tây phương phong tỏa thương mại và tẩy chay ngoại giao. Nguy hiểm nữa là Liên Xô khi đó, mụ đỡ tinh thần và vật chất cho CSVN, cũng đang rơi vào tình trạng tổng khủng hoảng. Giữa khi ấy ở trong nước nạn đói khủng khiếp không kém thời 1945, tiền Đồng bị mất giá với nạn lạm phát phi mã 700-800%. Nhân dân bất mãn. Cán bộ, đảng viên mất niềm tin.

Vì thế đúng vào những ngày này 33 năm trước, tại Đại hội 6 (15-18.12.1986) Trường Chinh thề thốt “Lấy dân làm gốc”, Nguyễn Văn Linh long trọng tuyên bố “Đổi mới hay là chết”! Sau đó họ còn hồ hởi tuyên bố “Cởi trói” cho người cầm bút và tôn trọng quyền phản biện của các chuyên viên và trí thức. Từ Hội nghị Đại biểu toàn quốc 1.1994 Đỗ Mười đã hứa đưa VN tới năm 2020 trở thành một nước công nghiệp! Nay Nguyễn Phú Trọng cũng hô hoán như thế. Nhưng hơn ba thập niên sau, mặc dầu Liên Xô đã tan rã, chủ nghĩa Marx-Lenin đã bị vất vào sọt rác, nhưng dịp kỉ niệm 100 năm chế độ Xô-viết người cầm đầu chế độ Nguyễn Phú Trọng vẫn còn ngủ mơ, lảm nhảm nói sảng rằng: “Tinh thần Cách mạng Tháng 10 và những thành quả lịch sử cũng như những cống hiến to lớn của nhân dân các dân tộc trong Liên bang Xô-viết đối với loài người mãi mãi không bao giờ phai mờ, mãi mãi sẽ còn ghi đậm trong tâm trí của mọi người có lương tâm trên toàn thế giới”. (Diễn văn của Nguyễn Phú Trọng tại lễ Kỉ niệm 100 năm Cách mạng Tháng 10 Nga (1917-2017), Nhân dân 5.11.17)

Nay đất nước đang chuyển sang năm 2020. Nhưng sau 33 năm gọi là “Đổi mới” đó, VN đang đứng ở vị thế nào? Trí thức được mở miệng? Các quyền căn bản của nhân dân được tôn trọng? Việt Nam đã trở thành một nước công nghiệp tiên tiến, hay đang trở thành bãi rác chứa chất thải độc hại do các công ty nước ngoài và các doanh nghiệp nhà nước tự do thải ra? Các quan đỏ nắm quyền lực đang phục vụ nhân dân, hay chỉ lo tham nhũng đất đai và tiền bạc? Biển đảo và toàn vẹn lãnh thổ được bảo vệ, hay đang để người “Bạn” Tập Cận Bình của Nguyễn Phú Trọng cày nát biển Đông?

Giữa lúc triều đại Tập Cận Bình cổ súy chủ nghĩa tân đế quốc theo đuổi tham vọng “Thực hiện giấc mộng vĩ đại cùa Trung quốc”, khiến nước này đang như con hổ đói. Tại Hội nghị cấp cao kỷ niệm 70 năm thành lập NATO (3-4.12.2019) ở London, mặc dù còn có nhiều khác biệt, nhưng NATO đã chính thức coi chính sách tăng cường hải quân-không quân và uy hiếp biển Đông của Cộng sản Trung quốc (TQ) là một “thách đố” nghiêm trọng tới an ninh thế giới!

Nhưng mới đây Nguyễn Phú Trọng lại vẫn nhu nhược và ngờ nghệch cho công bố “Sách trắng Quốc phòng 2019” với chính sách 4 không: “Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nuớc này để chống nuớc kia; không cho nuớc ngoài đặt căn cứ quân sự, hoăc sử dụng länh thổ Vit Nam để chống lại nuớc khác; không sử dụng vũ lực hoc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan h quốc tế”. (tr. 25, QPVN 2019).

Tại Diễn đàn Hương sơn ở Bắc kinh (BK) lần thứ 9 ngày 21.10.19 trước sự hiện diện của bộ trưởng quốc phòng nhiều nước và các chuyên viên quốc tế, trong diễn văn khai mạc Bộ trưởng Quốc phòng Trung quốc Ngụy Phượng Hòa đã lập lại quan điểm của Tập Cận Bình: Biển Đông là “phần không thể tách rời của lãnh thổ Trung quốc”. Trong khi đó cũng tại Hội nghị này, Bộ trưởng Quốc phòng CSVN Ngô Xuân Lịch không dám phản bác thẳng thắn chính sách đế quốc của Ngụy Phương Hòa, nhưng lại ấp úng, chỉ lập lại chủ trương 4 không và kêu gào những điều hoàn toàn không có thực trong quan hệ giữa hai nước: “Trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và phát huy truyền thống đoàn kết, hữu nghị, những vấn đề còn tồn tại trong quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc cần được kiên trì xử lý theo tinh thần thỏa thuận cấp cao giữa lãnh đạo hai nước” (BBC,VOA, Reuters 22.10.19).

Chẳng những thế ngày 10.12.19 Đại sứ TQ Hùng Ba còn được mời tới Học viện Chính trị Quốc gia HCM “giảng bài cho lớp đào tạo cán bộ quy hoạch cấp chiến lược Việt Nam”. Trong đó ông đã lên tiếng như chỉ bảo cho 100 học viên là Ủy viên Trung ương tương lai sẽ nắm giữ các chức vụ then chốt tại Đại hội 13 vào đầu năm 2021: “Là nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo, hai nước Trung-Việt có con đường phát triển tương tự, tiền đồ và vận mệnh tương quan, việc tăng cường giao lưu kinh nghiệm quản lý Đảng và quản lý đất nước giữa hai Đảng trong tình hình mới có ý nghĩa chiến lược quan trọng!” (đài Bắc kinh 14.12.19)

Từ tháng 7.2019 bá quyền BK lại ngang ngược cho mấy chục tàu hải quân TQ cày nát biển Đông, thuộc khu vực lãnh hải của VN. Trong khi nhiều tổ chức xã hội dân sự, nhân sĩ, trí thức, thanh niên và cả đảng viên tiến bộ đòi phải đưa những đòi hỏi sai trái và ngang ngược của BK ra kiện tại Tòa án Quốc tế, thì Nguyễn Phú Trọng lại ra lệnh báo chí xuyên tạc và bôi nhọ, và để công an đe dọa khủng bố và bắt giam nhiều người dân chủ! Đồng thời không cho phép Quốc hội (QH) được công khai thảo luận về sự xâm lấn của BK! Vì thế trong khi đất nước đang phải đối diện đương đầu với chủ trương bành trướng xâm lược hiện nay của Tập Cận Bình thì việc thực hiện chính sách quốc phòng-ngoại giao 4 không này, rõ ràng không phải là “ngăn địch từ xa” mà chính là mời kẻ thù vào nhanh hơn, thả cửa cho con hổ đói Trung quốc lộng hành. Do đó chính sách quốc phòng-ngoại giao 4 không này sẽ dẫn tất yếu tới cái không thứ 5, đó là không bảo vệ được chủ quyền biển-đảo, tài nguyên và quốc phòng của VN!

Những người cầm đầu chế độ toàn trị cũng không dám nhìn thẳng vào thực trạng tang thương của đất nước và cơ cực của nhân dân, do chính những sai lầm và tàn bạo do họ gây ra. Nguyễn Phú Trọng đã từng mở miệng: “Dân chủ như thế là cùng”“Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”. Nhưng giữa khi ấy hình ảnh 39 thanh thiếu niên VN bị chết đông lạnh trong các container trên đường đi tìm cuộc sống mới đã làm thế giới bàng hoàng và đau buồn về một nước đang phải sống dưới chế độ đứng đầu về chà đạp nhân quyền, kìm kẹp báo chí!

Sau 33 năm đổi mới giả hiệu, chế độ toàn trị độc tài gian ác tưởng như vẫn vững chắc. Nhưng thực sự nó đang biến dạng từ chế độ độc tài của một đảng trở thành chế độ độc tài cá nhân với sự tiếp tay và thỏa hiệp giữa một số nhóm lợi ích với các đại gia đỏ đang thao túng chính trị, chiếm đất vàng, xây biệt điện và tham nhũng tiền bạc. Họ đang dùng quyền-tiền để buôn bán và tham nhũng, từ thượng tầng trong Bộ chính trị, Trung ương đảng, các Ban trong đảng, các Bộ trong chính phủ tới các thành ủy, tỉnh ủy trên toàn quốc. Sự tha hóa đạo đức cùng cực của tầng lớp cán bộ có quyền đã khiến số đảng viên bất mãn ngày càng gia tăng, khinh bỉ thành phần lãnh đạo. Vì thế Nguyễn Phú Trọng đã phải ra Quyết định số 102/QĐTW 15.11.17 cực kỳ phản động: “Đảng viên sẽ bị kỉ luật bằng hình thức khai trừ, nếu đòi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập”, “xã hội dân sự”, “đa nguyên, đa đảng”; bôi nhọ lãnh tụ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước”.

Hiện nay chính người cầm đầu chế độ Nguyễn Phú Trọng lại tiêu biểu nhất về tha hóa đạo đức trong thao túng quyền lực. Ông Trọng thề thốt “nhốt quyền lực”, “nêu gương”, “minh bạch” … nhưng các lần lấy phiếu tín nhiệm lại không dám công bố kết quả. Các lớp “đào tạo cán bộ cấp chiến lược” đã cài cắm gần 200 cán bộ sẽ được đưa vào Trung ương đảng Khóa 13 (đầu 2021) để nắm giữ các chức vụ chủ chốt trong Đảng và Chính phủ (CP), nhưng lại giấu nhẹm danh sách những người này, chỉ có Nguyễn Phú Trọng và những người trong phe nhóm biết! Từ nhiều năm nay do đầu óc cực kỳ bảo thủ và suy thoái đạo đức, nên ông Trọng đã tự xếp mình là “người đặc biệt” cực kỳ tham nhũng quyền lực. Vì thế mặc dầu từ gần một năm nay tuy bị bệnh nặng, không còn đủ sức khỏe để đảm đương việc nước, đang phải nhờ người dìu, sắp trở thành ngọa long hoàng đế đỏ, nhưng vẫn cố bám cả hai ghế Tổng bí thư (TBT) và Chủ tịch nước (CTN)!

***

Nói cho cùng, trong chính trị có nhiều loại người lãnh đạo, nhưng trong đó có hai loại người cầm quyền nổi bật nhất. Những người lãnh đạo biết dùng lương tri để hướng dẫn tri thức và hành động để xây dựng hạnh phúc cho nhân dân và đưa đất nước đi lên. Và những người cầm đầu chỉ lấy gian xảo và tàn ác làm kim chỉ nam cho các hành động của mình để xây dựng và bảo vệ quyền lực và tiền bạc bất chính!

Nước Đức đã đổi mới, đã thay đổi toàn diện và triệt để là do dứt khoát biết thay đổi chế độ chính trị. Từ chế độ Quốc xã độc tài, tôn thờ chủ nghĩa dân tộc cực đoan, nhưng từ sau Thế chiến Thứ hai đã dứt khoát chọn và thực hiện chế độ Dân chủ đa nguyên. Còn tại VN chế độ độc tài vẫn ngự trị và áp dụng chủ nghĩa sai lầm Marx-Lenin, nên trước sau không thể đổi mới được. Đây là một sự thực không ai có thể phủ nhận được. Từ Đại hội (ĐH) 6 (12.1986) tới nay 5 đời TBT Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh và Nguyễn Phú Trọng đã lừa đảo nhân dân và đảng viên, trương cờ “Đổi mới”, nhưng thực tình họ vẫn là những người độc tài, tôn thờ chủ nghĩa Marx-Lenin đã bị lịch sử vất vào sọt rác!

Đây là kết luận qua những dẫn chứng rất cụ thể và rõ ràng trong sách nghiên cứu “Việt Nam “Đổi mới”?! Hay: Treo đầu dê, bán thịt chó” !” trên 700 trang vừa phát hành ở Hoa Kỳ. Trong đó xuyên qua 11 chương, tác giả đã phân tích và dẫn chứng theo phương pháp khoa học, trình bày rõ ràng về các nguyên nhân và những công thức sai lầm đã khiến chủ trương gọi là “Đổi mới” đã đi đến thất bại; đồng thời nêu rõ những hậu quả vô cùng tai hại cho đất nước. Nhưng hiện nay sự tranh giành quyền lực và tiền bạc giữa các phe nhóm ngày càng tàn bạo và quỉ quyệt; vì thế theo qui luật “cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cửu” đang mở ra cơ hội tốt để thoát khỏi nạn độc tài, đưa đất nước thực sự thành một Nước Việt Nam Mới!

Để độc giả tiện theo dõi, toàn bộ ba chương cuối sẽ được phổ biến trong ba lần liên tiếp. Mở đầu loạt bài này, dưới đây là toàn bộ Chương 9:

Chương chínKết quả thực tiễn trên 30 năm “Đổi mới”

I. Mô hình “đổi mới trên 30 năm qua

Sau trên 30 năm “Đổi mới” từ 1986 trải qua 5 đời TBT Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh và Nguyễn Phú Trọng và xuyên qua 7 ĐH (từ ĐH 6 tới ĐH 12). Không biết bao nhiêu Nghị quyết đã được ban hành đề ra mục tiêu là, đưa VN tới năm 2020 trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nhưng trong cuộc họp nội các vào cuối năm 2014 sau gần 30 năm tiến hành “đổi mới”, Nguyễn Tấn Dũng lại than, “sao lại cứ phải đứng sau 6 nước ASEAN? Chúng ta có đuổi kịp được ASEAN-6 không? Không có lý do gì chúng ta không cải thiện được để bằng ASEAN-6”? [1] Trong thực tế nhiều mặt VN còn đi sau cả Campuchia và Lào.

Sau gần 30 năm đổi mới, lợi tức đầu người /năm của VN vào năm 2014 mới chỉ 2.052 USD, tức là VN mới chỉ bước vào những nước đang phát triển ở mức trung bình thấp. Trong khi đó Singapore lên tới 56.287 USD, Mã lai á là 10.830 USD, Thái lan là 5.561 USD và Nam dương là 3.515 USD. PGS, TS Phạm Quý Thọ thuộc Học viện Chính sách và phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhận xét, “chỉ tiêu này của nước ta tụt hậu so với Hàn quốc chừng 30 đến 35 năm, Malaysia khoảng 25 năm, Thái lan chừng 20 năm, Indonesia và Philippines chừng từ 5 đến 7 năm. Đến năm 2038 VN mới có thể bắt kịp năng suất lao động của Philippines và đến năm 2069 mới có thể bắt kịp Thái Lan”. [2]

Nếu xét về mặt diện tích và dân số thì VN không phải là nước nhỏ. Với dân số gần 94 triệu (2017) VN đứng thứ 13 trên thế giới[3]; với diện tích trên 331.114 km² VN đứng thứ 65. Nhưng về mặt kinh tế, xã hội (phát triển con người -HDI) hiện nay VN lại đứng thứ 116 trong tổng số gần 200 nước và ốc đảo trên giới.[4] Nhiều người cầm đầu chế độ toàn trị thường đổ lỗi cho rằng, VN là một nước nhược tiểu, đất hẹp, dân không đông và tài nguyên không nhiều. Đây là những khẳng định cực kỳ sai lầm để trốn tránh trách nhiệm. Một số các nước trong khu vực như Nam Hàn diện tích chỉ trên 99.000km², 50,6 triệu người, nhưng lợi tức đầu người 2015 trên 27.000 USD đang là nước giầu mạnh, công nghiệp cao. Nhật có dân số gần gấp rưỡi VN, diện tích xấp xỉ với VN, tài nguyên thiên nhiên không nhiều, nhưng từ lâu đã trở thành cường quốc kinh tế, lợi tức đầu người năm 2015 là gần 37.000 USD. Về dân số và diện tích giữa VN và Đức không chênh lệch bao nhiêu; nhưng Đức, cũng như Nhật, từ đống tro tàn sau Thế chiến thứ 2 đã nhanh chóng vượt lên thành cường quốc kinh tế đứng thứ ba, thứ bốn trên thế giới.

Những câu hỏi trung tâm rất nghiêm túc cần được đặt ra là, tại sao nhiều nước ngay trong khu vực khi bước vào thời kì phát triển kinh tế thì cũng ở trình độ ngang ngửa như VN, nhưng nay đã bỏ xa VN để trở thành các nước công nghiệp hàng đầu, lợi tức cao gấp mấy chục lần VN? Người dân không chỉ sống sung túc mà còn được tôn trọng nhân phẩm. Phải chăng các mô hình chính trị, kinh tế, giáo dục và văn hóa là những nền tảng căn bản cho sự tiến lên hưng thịnh, hạnh phúc và văn minh, hay sự tụt hậu, nghèo đói và tha hóa đạo đức của một xã hội? VN đang áp dụng mô hình chính trị-kinh tế nào, có những đặc điểm gì?

Trong suốt trên 30 năm cải cách kinh tế chưa bao giờ VN theo mô hình kinh tế thị trường hiện đại như ở các nước Tây phương. Mô hình phát triển của VN là “Kinh tế thị trường Định hướng XHCN”. Mô hình này có một số đặc tính căn bản khác biệt hoàn toàn với các nền Kinh tế thị trường hiện đại ở các nước Tây phương trong các lãnh vực then chốt:

  1. Chế độ độc đảng: ĐCS, cụ thể là Bộ chính trị (BCT) và Ban bí thư (BBT), trước sau vẫn chỉ huy toàn bộ và trực tiếp các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa- giáo dục, tôn giáo và xã hội.
  2. Công hữu toàn dân về đất đai (ĐCS là chủ nhân trong đất đai)
  3. Doanh nghiệp nhà nước làm chủ đạo
  4. Kinh tế tư nhân nội địa tuy được công nhận, nhưng chỉ ngồi rìa, đứng bên lề trước thế lực mạnh của Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) và sức ép của FDI (công ti nước ngoài).

Như thế cho thấy mô hình phát triển kinh tế của VN từ 1986 tới nay vẫn còn giữ căn bản mô hình kinh tế của chế độ toàn trị như ở Liên Xô cũ, với một số biến thể, mặc dầu chế độ toàn trị ở Liên Xô đã tan rã từ 1991. Trong đó ĐCSVN vẫn là người cầm trịch không chỉ trong chính trị, tư tưởng và văn hóa, mà cả trong kinh tế-xã hội. Mỗi ĐH vẫn đưa ra kế hoạch ngũ niên do ĐCS độc quyền từ các khâu hoạch định, đường lối tới các biện pháp…Nhưng dĩ nhiên trong giai đoạn và điều kiện Chủ nghĩa xã hội (CNXH) trên toàn thế giới đang tan rã ngay từ cái nôi, nên những người cầm đầu CSVN bắt buộc phải dùng những từ ngữ và ngôn ngữ mới, để tạo những hi vọng mới, để tỏ ra họ là những người thức thời và nhờ thế mới có thể biện minh cho sự tiếp tục cầm quyền độc tôn!

Mô hình phát triển kinh tế này chứa đựng nhiều mâu thuẫn nội tại và đối lập với nhau. Nó được thực hiện trong thời kì CNXH theo ý thức hệ Marx-Lenin đã bị thực tế phủ nhận, thế giới CS tan rã. ĐCSVN cũng rơi vào thế sợi chỉ treo ngàn cân. Suốt trên 30 năm đổi mới từ 1986, đặc biệt từ giữa thập niên 90 khi thiết lập quan hệ với Hoa Kỳ và thực hiện chính sách mở cửa với bên ngoài, mô hình phát triển kinh tế của chế độ toàn trị dựa trên một số cơ sở làm tiền đề đặt trọng tâm cho phát triển kinh tế. Đó là:

  • Nhân công rẻ
  • Khai thác nông sản
  • Khai thác khoáng sản
  • Ưu đãi cho tư bản nước ngoài vào đầu tư
  • Tranh thủ nguồn vốn ODA trong xây dựng hạ tầng
  • Đặt trọng tâm trong xuất cảng

Nhưng các cơ sở trên phải được đặt trong một khung kiên cố, nói thẳng ra là bị nhốt trong một cái lồng, đó là CNXH với tư tưởng Marx-Lenin làm chỉ đạo và trong cái lồng này, ĐCSVN chỉ huy độc quyền trực tiếp và toàn diện từ tổ chức, thực hiện, giám sát các hoạt động kinh tế-xã hội. ĐH 12 đã làm công việc tổng kết 30 năm thực hiện chính sách đổi mới (1986-2016) qua 5 đời TBT Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh và Nguyễn Phú Trọng.

Mặc dù những người đứng đầu luôn mở miệng khẳng định là, kết quả thực tiễn chứng minh cho lí thuyết và đường lối. Nhưng khi họ phải đối diện với những kết quả rất xấu thì lại không dám nhận đã chọn lí thuyết sai, ở đây là chủ nghĩa Marx-Lenin. Họ lờ đi hoặc nhận lỗi qua loa, nhưng đổ lỗi chính vì những lí do bên ngoài. Thái độ rất chủ quan, giáo điều, lừa dối và tô vẽ cho rằng, 30 năm đổi mới không chỉ tạo ra những thành tích tuyệt vời trong kinh tế-xã hội, mà cả trong lãnh vực chính trị cũng đã có nhiều cải cách theo hướng “lấy dân làm gốc” và dân chủ hơn ngàn lần các nước Dân chủ đa nguyên… Tiêu biểu nhất cho lập trường này là Báo cáo Chính trị và Kinh tế-Xã hội tại ĐH 12 của TBT Nguyễn Phú Trọng ngay vào ngày đầu của ĐH 12.[1] (Xem Chương tám, IV).

***

Trong dịp này một số chuyên viên trong nước từ gần với đảng hay đứng vị thế độc lập của những người người làm công tác khoa học, trong đó có cả một số chuyên viên VN ở nước ngoài, đã công bố các bài nghiên cứu hoặc trả lời phỏng vấn liên quan tới chủ đề kết quả 30 năm đổi mới.

Trước hết phải nói tới nhận định rất thắng thắn của cựu bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư  Bùi Quang Vinh ngay trước ĐH 12 khi ông còn là Bộ trưởng và Ủy viên Trung ương (UVTU), như đã trình bày ở Chương tám, IV:

“ 70 năm qua, cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động của bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể các cấp trong hệ thống chính trị gần như không thay đổi”. Và “Một hệ thống chính trị phù hợp với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây, đặc biệt là trong hoàn cảnh chiến tranh, nay đã không còn phù hợp với điều kiện nền kinh tế thị trường, thậm chí là rào cản, trở ngại cho sự phát triển”. [2]

Chia sẻ quan điểm này GS Vũ Dương Ninh, Đại học Quốc gia Hà nội (HN), cho biết, trước đó 5 năm Nghị quyết của ĐH 11 (1.11) -khi đó Nguyễn Phú Trọng được bầu làm TBT- đã lập lại mục tiêu là, đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nhưng ĐH 12 đã phải nhìn nhận rằng, mục tiêu này không thể đạt được.[3] Ngay cả nguyên Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội VN, GS TS Đỗ Hoài Nam, một nhà khoa bảng hàng đầu của chế độ toàn trị , từng là UVTU suốt ba nhiệm kì từ ĐH 8-10 và có chân trong Hội đồng Lí luận Trung ương (TU) -một cơ quan cố vấn về tư tưởng và chính trị cho TUĐ, BCT và BBT-, trong một bài phân tích rất dài 14 trang trên tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 1, 1.15 với tựa đề “Những đổi mới tư duy của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong 30 năm đổi mới”. Ông đã liệt kê các quyết định của đảng xuyên qua 6 Đại hội từ 1986 tới ĐH 11 (2011) với việc sử dụng “kinh tế tri thức” và đầu tư của nước ngoài nhằm công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế từ nông nghiệp, công nghiệp tới xuất nhập cảng. Ông ca tụng các quyết định này và coi đó là những biện pháp sáng suốt của ĐCS, nhằm đưa VN, từ một nước đi sau và công nghiệp hóa muộn, có thể đạt mục tiêu “rút ngắn quá trình công nghiệp hóa đất nước bằng sức mạnh của thời đại và sức mạnh nội sinh của đất nước”. Nhưng cuối cùng trong phần kết luận Đỗ Hoài Nam phải nhìn nhận kết quả thực tiễn sau 30 năm đổi mới là, “nhìn trên tổng thể, phần lớn nông dân và người dân đô thị đang trong tình trạng nghèo tương đối, trong đó không ít người đang thực sự nghèo theo nghĩa tuyệt đối”.

Ông nêu ra câu hỏi về nguyên nhân, tại sao không đạt mục tiêu, mặc dầu các quyết định đều được coi là sáng suốt? Trong đó Đỗ Hoài Nam đã cố tình dùng các thuật ngữ trừu tượng và trình bày ngoắt nghéo, như “nguyên nhân cơ bản là, nền tảng cho sự rút ngắn này chưa được tạo lập một cách đầy đủ và vững chắc. Đó là nền kinh tế thị trường đầy đủ và hiện đại (xét cả mặt kết cấu lẫn mặt thể chế của nền kinh tế này), cơ sở hạ tầng đồng bộ và hiện đại; là khoa học và công nghệ hiện đại, nguồn nhân lực chất lượng cao; là hệ thống công ti tư nhân dựa trên sở hữu cổ phần được quản trị hiện đại, đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước [và] quốc tế, tham gia sâu vào chuỗi giá trị và chuỗi phân phối toàn cầu và cuối cùng là vai trò vừa là bà đỡ, vừa là nhạc trưởng của Nhà nước bảo đảm co sự rút ngắn”. (tr.15)

Tuy cố tình trình bày vòng vo và tránh né không dám nêu đích danh thủ phạm đã gây ra thất bại, nhưng nhà khoa bảng XHCN hàng đầu Đỗ Hoài Nam đã gián tiếp nhìn nhận, đó là kế hoạch xây nhà trên cát; hay dùng hình tượng chuyện con nhái muốn to bằng con bò để diễn tả ý muốn công nghiệp hóa và hiện đại hóa VN thật nhanh như Nhật bản, Đại Hàn và các nước Tây phương, nhưng lại thiếu đủ mọi thứ và không có những điều kiện cần thiết; trong đó thiếu cả “ nhạc trưởng”, tức Nhà nước hiện đại trong thể chế DCĐN. Trong khi nhiều nước theo DCĐN cũng chỉ trong khoảng thời gian 30 năm đã chuyển thành công đất nước họ, từ lạc hậu chậm tiến sang công nghiệp hiện đại. Nhưng VN dưới chế độ toàn trị vẫn dẫm chân tại chỗ. Nghĩa là, chính thể chế độc tài toàn trị đã là nguyên nhân chính đưa đến thất bại trong việc canh tân đất nước và xây dựng hạnh phúc cho nhân dân trong suốt 30 năm!

Trong toàn bài, Đỗ Hoài Nam có dẫn chứng là, ngay từ ĐH 7 đã quyết định “cần đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để” (tr. 5); nghĩa là phải đối mới cả hệ thống chính trị. Nhưng khi kết luận tuy phải nhìn nhận các thất bại, nhà khoa bảng Đỗ Hoài Nam đã không giữ được tinh thần khoa học và thẳng thắn như cựu Bộ trưởng Bùi quang Vinh, nên không một lần nào dám nói thẳng là, trong suốt quá trình 30 năm, trước sau vẫn là chế độ độc tài toàn trị. Đó mới chính là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn tới thất bại!

Chế độ toàn trị đã chọn ý thức hệ sai lầm dẫn tới độc tài hà khắc, làm triệt tiêu sự phản biện rất cần thiết của một hệ thống xã hội dân sự độc lập. Vì thế toàn bộ hệ thống công quyền trở thành trì trệ và bất cập, chống lại sự canh tân và phát triển của đất nước. Đây là nhận định của PGS, TS Trần Đình Thiên nguyên là Viện trưởng Viện Kinh tế VN, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Kinh tế VN, khi nói về nguyên nhân thất bại trong kinh tế:

“ĐCS lãnh vai trò lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện”, mức độ chưa trưởng thành của Nhà nước pháp quyền, sự thiếu vắng các tổ chức dân sự đúng nghĩa, của các tổ chức phản biện xã hội độc lập, có ảnh hưởng mạnh mẽ, thậm chí là quyết định, đến kết quả hoạt động quản trị công”. [4] “Trong nhiều trường hợp, tình trạng không cụ thể hóa mục tiêu định hướng, né tránh thảo luận cấu trúc logic của khái niệm “Định hướng XHCN” (ĐHXHCN), lặng lẽ giả định nó, coi như một tiền đề định sẵn, đã có những ảnh hưởng to lớn”. [5]

Thực tế này cũng được GS Trần Văn Thọ (Đại học Waseda, Nhật bản) trình bày cặn kẽ hơn, khi ông so sánh sự phát triển kinh tế-xã hội của VN với một số nước trong khu vực thì rõ ràng khác biệt nhau cả một trời một vực. Theo tài liệu của Ủy ban LHQ về kinh tế và xã hội châu Á – Thái bình dương (ECAFE), năm 1954 thu nhập đầu người của miền Nam VN là 117 USD, xấp xỉ với Thái Lan (108) và cao hơn Indonesia (88) vào hai năm trước đó. Nhưng 60 năm sau, vào năm 2014 thu nhập đầu người của VN chỉ bằng một phần ba Thái Lan và một nửa Indonesia…Trong khi “Hàn quốc chỉ mất 16 năm (từ 1971-1987) để chuyển từ nước thu nhập trung bình thấp lên trung bình cao và chỉ mất thêm 10 năm nữa để tiến lên hàng các nước tiên tiến. Đài loan trở thành nền kinh tế tiên tiến vào năm 1995, chỉ tốn 12 năm kể từ giai đoạn thu nhập trung bình cao”. [6]

Sau hơn 40 năm hòa bình trong đó hơn 30 năm gọi là đổi mới, nhưng VN vẫn lẹt đẹt thuộc những nước có thu nhập trung bình thấp và đang có nguy cơ phải ngụp lặn lâu dài ở mức này. Ông Thọ còn nêu ra viễn tượng kinh tế VN vào năm 2020. Hiện nay theo phân loại của Ngân hàng thế giới, bình quân đầu người từ 1.000 đến 12.000 USD là nước có thu nhập trung bình, trên 12.000 USD là nước thu nhập cao. Do đó một nước được gọi là công nghiệp phải ở mức trên 12.000 USD. VN hiện nay mới gần 2.000 USD. Đến năm 2020 có lẽ cũng chỉ đạt được khoảng 3.000-3.500 USD, tức là thuộc các nước có mức trung bình thấp. [7]

  1. Nông nghiệp: Bỏ rơi nông dân và nông thôn!

        Chủ trương công nghiệp hóa nông nghiệp, nhưng sau 30 năm đổi mới vẫn là cảnh con trâu đi trước cái cày đi sau!

VN là một nước nông nghiệp, vào thập niên 80 của thế kỉ trước có tới 80% dân số sống và phụ thuộc vào nghề nông. Đồng bằng sông Hồng và nhất là Đồng bằng Cửu long là hai thúng gạo nuôi dân và xuất cảng để tạo cơ sở và ngân sách cho xây dựng công nghiệp, phát triển bền vững cho toàn quốc. Nếu hiểu thấu đáo thế mạnh này của VN và có được một tầm nhìn xa thì một nhà nước sáng suốt không chỉ tìm cách làm phục hồi nông nghiệp, mà còn phải canh tân, công nghiệp hóa mọi khâu trong nông nghiệp. Từ tạo kiến thức trồng trọt cho nông dân, đem điện nước, đường xá, trường học và y tế về thôn xã, trả lại quyền tư hữu ruộng đất cho nông dân, và có những chính sách khuyến khích nông dân tự nguyện hợp tác để sử dụng kĩ thuật canh tác mới nhằm gia tăng năng suất và tăng lợi tức cho nông dân, tức là gia tăng sức mua và đầu tư của 80% dân số. Ngoài ra nhà nước cần có chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp chế biến nông – lâm – thủy sản để làm tăng giá trị các mặt hàng này; khuyến khích và hỗ trợ nông dân tự thành lập các trung tâm hiện đại lưu trữ gạo, rau trái và các tổ chức của nông dân theo dõi thị trường nông nghiệp trên thế giới để tạo thương hiệu có uy tín cho các sản phẩm nông nghiệp của VN và có sức cạnh tranh mạnh trên thị trường quốc tế.

Các chính sách trên đây không phải là những điều mới lạ, trái lại đã được thực hiện thành công ở nhiều nước phương Tây dưới nhiều tên gọi nổi tiếng, như “Chương trình xanh” trong ngành nông nghiệp, như Hòa lan, Đức, Pháp, Hoa Kỳ và Gia nã đại. Đúng ra là một nước đi sau, nên VN cỏ thể học hỏi nhanh chóng và hiệu quả kinh nghiệm và kĩ thuật của các nước này.

Sau chiến thắng 1975 những người cầm đầu say mê với thành tích con đường XHCN đã dẫn tới chiến thắng vẻ vang trong chiến tranh thì tất yếu cũng sẽ dẫn tới thắng lợi thần kì trong kinh tế! Đây là tư tưởng rất lạc quan từ Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng tới hầu hết các ủy viên BCT khi ấy. Vì thế mô hình kinh tế theo XHCN đã được thi hành cấp tốc và triệt để trong nông nghiệp với các Hợp tác xã (HTX), trong thương nghiệp với xóa bỏ tư sản mại bản kinh tế tư nhân và thành lập các thương nghiệp quốc doanh, trong công nghiệp với hàng loạt doanh nghiệp quốc doanh. Nhưng sau đó không lâu, mô hình phát triển theo XHCN đã dẫn tới bế tắc toàn diện. Nông dân không chịu làm ăn, thương nghiệp nhà nước không có hàng để bán, các DNNN ngồi chơi. Dẫn tới nạn đói khủng khiếp vào giữa thập niên 80, khiến cho hàng triệu người rơi vào cảnh đói và khủng hoảng lương thực trầm trọng như thời 1945. Trong khi các cán bộ cao cấp được hưởng các chính sách ưu đãi từ nhà cửa, xe đưa đón tới chế độ ăn uống ngon và đầy đủ; còn người dân thì không có cả thịt, cá, vải, thuốc men và các nhu yếu phẩm hàng ngày.[8] Nhóm cầm đầu giáo điều mới thấy là không thể tiếp tục mô hình tập thể hóa nông nghiệp HTX theo kiểu Liên Xô và TQ được nữa, nếu không thì nông dân và thị dân sẽ nổi loạn.

Nhưng sau ĐH 6 (12.86) phải đợi thêm hơn một năm, sau những tranh cãi gay gắt giữa các phe trong BCT và TU, mới ra được Nghị quyết (NQ) 10 ngày 5.4.1988, được gọi là Khoán 10. Tuy vậy đảng xuyên qua nhà nước của đảng vẫn tiếp tục giữ độc quyền công hữu ruộng đất, nông dân vẫn phải thuê ruộng (xem Chương một, III và Chương hai, V). Tuy đây chỉ là chính sách đổi mới nửa vời, nhưng đã làm cho nông dân gắn bó siêng năng với đồng ruộng, thửa vườn, cái ao và gia súc. Nhờ thế sản lượng nông nghiệp đã gia tăng mạnh và liên tiếp trong nhiều năm. Khiến cho từ khủng hoảng lương thực với nạn đói trầm trọng, từ 1989 đã trở thành một nước xuất cảng gạo.

Trước khi có Khoán 10, sản suất lúa cả nước chỉ khoảng 13 triệu tấn, hàng năm phải nhập khẩu hàng triệu tấn.[9] Năm 2017 sản lượng lúa đã đạt khoảng 42,84 triệu tấn.[10] Trong những năm gần đây số gạo xuất khẩu đã lên tới gần 8 triệu tấn, đứng thứ hai trên thế giới về xuất cảng gạo.[11] Nhưng nay sau hơn 30 năm nông dân và nông nghiệp tại VN vẫn phải đối diện gay gắt trong nhiều vấn đề. Nhiều chuyên viên trong nước ta thán là, tại sao VN đang là nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới, nhưng đại đa số nông dân vẫn rất nghèo, ngay cả nông dân Đồng bằng Cửu long, vựa thóc của cả nước? Trong khi ấy ngay sau Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kì tháng 1.94 (Khóa 7), tại Hội nghị trung ương (HNTU) 7 (7.94) đã đưa ra nghị quyết với tham vọng “phát triển công nghiệp, thực hiện công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn gắn với đô thị hóa nông thôn”. [12]

Tại sao giá gạo của VN vẫn thấp hơn nhiều gạo Thái lan và cho tới nay sau mấy chục năm xuất khẩu, nhưng gạo của VN vẫn chưa có thương hiệu uy tín trên thị trường quốc tế, chỉ bán được cho một số nước với giá thấp? Sau hơn 30 năm thực hiện chính sách tam nông (nông nghiệp, nông dân, nông thôn) coi “nông nhiệp là mặt trận hàng đầu”, nhưng tại sao máy móc và kĩ thuật canh tác vẫn rất lạc hậu, tiếp tục lối làm ăn thô sơ con trâu đi trước cái cày đi sau? Tại ĐH 10 (2006) những người cầm đầu toàn trị thổi lên tiêu chí từ “ăn no” sang “ăn ngon”! UVTU Đỗ Hoài Nam khi ấy đã cho biết, ĐH 10 đã ra NQ khẳng định đưa “nền nông nghiệp VN phải hình thành được một số sản phẩm chủ lực, mũi nhọn có lợi thế phát triển, có phẩm chất tốt, chất lượng cao và qua chế biến sâu, đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới để có giá trị gia tăng cao”. Ông còn cho biết thêm, tại HNTU 7 Khóa 10 đã ra NQ về nông nghiệp, nông dân và nông thôn theo hướng này và lãnh đạo vẫn tuyên bố, nông nghiệp là mũi nhọn.[13]

Nhưng tại sao tới nay vẫn thường diễn ra “được mùa mất giá” cho nông dân? Tại sao sau hơn 30 năm vẫn không lập được các trung tâm lưu trữ gạo hiện đại và không thiết lập được công nghiệp chế biến nông sản; trong khi đó lại bỏ hàng ngàn tỉ đồng xây các cảng để chỉ nằm đắp chiếu, hay bỏ ra cả hàng trăm tỉ hoang phí để xây các tượng đài cho các nhà độc tài của Đảng? Sau 30 năm đổi mới, nhưng tại “Diễn đàn nông nghiệp” do CP tổ chức vào giữa tháng 10. 2016 lại vẫn lập lại, phải tạo một thương hiệu quốc tế tốt cho gạo xuất khẩu của VN! Nhưng nhiều chuyên gia đã chua chát nói thẳng: “Thương hiệu gạo, có đâu mà mất!” [14]

Một sản phẩm (công nghiệp hay nông nghiệp) phải có chất lượng tốt, được tín nhiệm của khách hàng, người tiêu dùng tín nhiệm và sẵn sàng trả giá cao. Họ sẽ tiếp tục tìm thương hiệu này. Thí dụ như trong sản phẩm xe hơi và điện tử, người tiêu dùng thường thích xe hơi Toyota, Mercedes và Samsung…. vì có phẩm chất tốt. Nhưng sau gần 30 năm xuất cảng gạo, gạo của VN vẫn không có thương hiệu có uy tín trên thị trường nông sản thế giới. Đầu năm 2016 nhiều chuyên viên và ngay cả các cán bộ phụ trách nông nghiệp cũng đã ta thán và nhìn nhận tình hình rất bất lợi này trong việc xuất cảng các nông sản của VN… Phó Cục trưởng Cục xuất nhập khẩu, bộ Công thương Trần Thanh Hải cho biết, năm 2015 gạo VN chiếm trên 50% tổng số gạo nhập khẩu của TQ, nhưng tại các siêu thị và cửa hàng lại không tìm ra gạo mang thương hiệu VN. Trong khi ấy, gạo Campuchia lại chễm chệ trên các cửa hàng. Chè, cà phê, hạt tiêu… là các nông sản xuất khẩu lớn của VN, nhưng vị thế cũng tương tự. Cựu Hiệu trưởng Trường Cán bộ quản lý nông nghiệp và phát triển nông thôn II (thành phố HCM) Vũ Trọng Khải cho biết, nguyên nhân đang gây bất lợi cho quyền lợi của nông dân, là vì các doanh nghiệp xuất khẩu gạo ở VN đều là DNNN, nên vẫn giữ tâm lí thờ ơ cha chung không ai khóc! [15]

Tại Hội nghị toàn quốc triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới 30.9.16 với sự hiện diện của tân TT Nguyễn Xuân Phúc, được biết sau 30 năm thực hiện chủ trương lấy nông nghiệp làm mũi nhọn để xây dựng “nông thôn mới” nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nông dân, nhưng tới tháng 9.16 mới chỉ có 2.045 xã (23%) được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới.[16] Liệu con số đưa ra có chính xác không, không ai biết. Nhưng sau 30 năm mới chỉ có gần ¼ xã ở nông thôn tên toàn quốc đạt tiêu chuẩn nông thông mới. Đây là nhìn nhận thất bại trong việc cải thiện đời sống mấy chục triệu nông dân!

Trong khi chính phủ Nguyễn Tấn Dũng bảo đảm để nông dân được hưởng lãi ít nhất là 30% so với giá thành, nhưng dịp này tại QH bộ trưởng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Cao đức Phát lại cho biết, “giá thành 1 kg lúa là 4.100đ/kg như vậy giá thu mua lúa phải đạt 5.400đ/kg thì người trồng lúa mới lãi 30%. Nhưng hiện nay giá lúa khô loại thường nông dân cũng chỉ bán được 4.500đ, lúa hạt dài khoảng 4.800đ”. Nghĩa là chỉ đạt được 10% lãi. Bà Phạm Chi Lan cho biết, từ 2007 khi VN gia nhập WTO thì đầu tư cho nông nghiệp đã giảm rất mạnh và liên tục, “trước khi VN gia nhập WTO thì tỷ trọng đầu tư toàn xã hội vào nông nghiệp nhất là đầu tư của Nhà nước cũng còn tương đối cao chiếm tới 13,8% trong tổng mức đầu tư, nhưng sau vài năm tham gia vào WTO thì mức đầu tư vào nông nghiệp giảm xuống chỉ còn 6,4% trong tổng mức đầu tư phát triển”. Đây rõ ràng là thái độ trọng công, khinh nông và bỏ nội, trọng ngoại của những người làm chính sách. Theo bà, chính sách bỏ rơi nông dân và nông nghiệp của chính quyền CSVN hoàn toàn trái ngược với các nước khác, “hầu hết các nước khi hội nhập họ đều lo bảo hộ nông sản, nhưng VN thì ngược lại buông nông sản, buông nông nghiệp và ngành này phải tự bơi tự bươn chải”. Trong khi ấy “ nguồn lực đầu tư dồn quá nhiều cho DNNN, quá nhiều cho các Tập đoàn Kinh tế để rồi họ gây biết bao vấn đề cho nền kinh tế hiện nay”. [17]

Thái độ khinh nông dẫn tới các chính chính sách bỏ rơi nông dân đã khiến cho tốc độ tăng trưởng trong nông nghiệp đã giảm liên tục từ giữa thập niên 90. Trong dịp tổng kết 30 năm đổi mới vào dịp ĐH 12 nhiều chuyên gia về nông nghiệp thảo luận trên các cơ quan truyền thông. Họ sử dụng ngay lí luận của chế độ toàn trị là, kết quả thực tiễn chứng minh cho lí thuyết đúng hay sai. Khi “Tổng kết thực tiễn” trong 30 năm đổi mới trong nông nghiệp họ đã nhận thấy rất rõ, tốc độ trăng trưởng trong nông nghiệp không tăng, trái lại đã giảm liên tục từ kế hoạch ngũ niên này sang kế hoạch ngũ niên khác.

Tốc độ tăng trưởng nông nghiêp từ 1996-2013[18]

Thời gianTốc dộ gia tăng

1996-20004,01%

2001-20053,83%

2006-20103,03%

2009-20132,9%

Theo Tổng Cục Thống kê, khu vực nông, lâm và thủy sản tăng 0,65%, là mức tăng thấp nhất so với cùng kỳ 6 năm.[19] Các con số trên giải thích tình trạng chung trong sản xuất nông nghiệp: Nông nghiệp đã bị bỏ rơi, nông dân không được giúp đỡ các mặt cần thiết, nên năng suất lao động trong nông nghiệp rất thấp và giảm liên tục. Trong bản Báo cáo 2016 của Ngân hàng Thế giới (WB) về phát triển nông nghiệp của VN đã xác nhận lối canh tác chậm tiến, lạc hậu thiếu cơ giới hóa nông nghiệp và lạm dụng thuốc trừ sâu, nông dân thất nghiệp gia tăng, chất lượng xấu.[20] WB còn cho biết, những năm gần đây mỗi năm nông nghiệp VN phải chịu thiệt hại khoảng 1 tỉ USD vì mất thị trường xuất khẩu do không tuân thủ các qui định vệ sinh an toàn thực phẩm.[21]

Cuối tháng 8.16 bộ Nông nghiệp & phát triển nông thôn (NN&PTTN) đã họp tổng kết 3 năm tái cơ cấu trong nông nghiệp (2013-15) có mặt Phó TT Trịnh Đình Dũng và bộ trưởng Nông nghiệp Nguyễn Xuân Cường. Các viên chức này xác nhận, không có chuyển biến thuận lợi, vì ruộng đất vẫn bị xé nhỏ cho nên không thể công nghiệp hóa nông nghiệp.[22] Ngân hàng Thế giới cho biết, đất nông nghiệp chia theo đầu người ở VN rất thấp, “chỉ đạt bình quân 0,07 hecta, thấp hơn nhiều so với tỉ lệ 0,27 hecta mỗi người tại Thái lan .[23] TS Lê Đăng Doanh nêu rõ một nguyên khác khiến các sản phẩm nông nghiệp có giá trị rất thấp và nông dân nghèo, vì nền nông nghiệp VN chưa phát triển được công nghiệp gia công chế biến là làm tăng thêm giá trị gia tăng. [24]

Chính vì thế đời sống của mấy chục triệu nông dân tiếp tục trong cảnh đói nghèo, ngay cả ở Đồng bằng Cửu long, vựa thóc cả nước. Họ dẫn chứng, một gia đình nông dân hai vợ chồng và hai con mức thu nhập từ 8 công ruộng ba vụ mỗi năm được tổng cộng 40 triệu đồng. Nếu chia theo đầu người thì mỗi người chỉ được 10 triệu đồng/năm, tức trung bình chỉ được 840.000đ/tháng, tương đương với 40 USD/tháng. Trong khi đó mức thu nhập đầu người bình quân năm 2013 ở VN là 1.960 USD, tức khoảng 150 USD/tháng.[25] Như thế mức chênh lệch giầu nghèo giữa thành thị và thôn quê rất lớn.

Nhìn tổng thể về kết quả 30 năm gọi là “đổi mới” xuyên qua 6 ĐH và bao nhiêu HNTU và các nghị quyết về công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, Đỗ Hoài Nam, một nhà khoa bảng hàng đầu XHCN đã từng đóng góp ý kiến cho BCT và BBT trong nhiều nhiệm kì đã phải nhìn nhận tình trạng dẫm chân tại chỗ:

“Sự phát triển của nông nghiệp chủ yếu vẫn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, thời tiết và phương thức canh tác truyền thống, dựa vào đất đai và lao động thủ công và vẫn nặng về sản xuất lúa gạo phẩm chất thấp, chưa chịu tác động mạnh mẽ của công nghiệp, công nghệ và dịch vụ, nhất là công nghệ cao. Lao động trong nông nghiệp vẫn còn gần 50% lao động toàn xã hội, trong đó trên 90% là chưa qua đào tạo và dân số sống ở nông thôn vẫn còn khoảng 70%”. [26]

Tại QH ngày 22.10.15 bộ trưởng Kế hoạch&đầu tư Bùi Quang Vinh cho biết: “Nhìn lại bao nhiêu năm, nông nghiệp bây giờ vẫn còn tình trạng con trâu đi trước cái cày theo sau. Ruộng của chúng ta chia manh mún, bé tí, từ máy bay nhìn xuống, ruộng, kể cả ở đồng bằng sông Cửu Long, chia nát bét, ô ruộng bé tí bằng căn nhà này thôi. Ngày xưa ruộng thẳng cánh cò bay thì bây giờ nó đã phân đất cho hộ gia đình tự cứu lấy mình trong giai đoạn trước, bây giờ nó đang cản trở lại nền sản xuất lớn…Một cân ngô và một cân đậu tương ở VN đắt gấp ba lần so với Mỹ sản xuất. Cánh đồng của họ thẳng cánh cò bay, một công lao động bằng máy móc bằng 1.000 người VN, nên giá thành ngô của họ chỉ bằng một phần ba giá thành ngô VN. Cho nên họ có sức cạnh tranh”.[27] Các điều kiện vô cùng bất lợi này đã dẫn tới năng suất lao động ở VN trong mọi lãnh vực, kể cả trong nông nghiệp rất thấp. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), năm 2013 năng suất lao động của VN thuộc nhóm thấp nhất châu Á-Thái bình dương; thấp hơn Singapore 15 lần, Nhật 11 lần, Nam hàn 10 lần; chỉ bằng 1/5 Mã lai, 2/5 Thái lan.[28]

Tại “Hội nghị trực tuyến toàn quốc tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về chiến lược tam nông” ngày 27.11.18 chính Nguyễn Xuân Phúc đã xác nhận kết quả trên 30 năm trong chính sách tam nông là thất bại trong mọi lãnh vực, thua cả Thái lan và Campuchia: “Việc áp dụng tiến bộ khoa học trong nông nghiệp còn yếu, giá thành sản phẩm cao, chủ yếu là xuất thô, chưa qua chế biến, chưa đột phá trong nâng cao giá trị gia tăng; cơ cấu sản xuất còn manh mún, tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn còn chậm, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo còn nhiều, việc xây dựng thương hiệu nông nghiệp còn yếu kém..”. [29] Mức đầu tư khoa học trong nông nghiệp ở VN chỉ bằng 1/10 Thái lan và 1/7 Phi luật tân. Nếu so với Nam Hàn thì con số này chỉ bằng 1/600.[30]

Mặc dầu vậy Nguyễn Xuân Phúc không dám nhìn thẳng sự thực về sự bỏ rơi nông dân và nông thôn trong suốt trên 30 năm “đổi mới” của những người cầm đầu chế độ toàn trị. Trong Hội nghị trên ông Phúc lại trút trách nhiệm là nông dân ỷ lại: “Chúng ta đang nói tập trung làm nông nghiệp, nông thôn mà nông dân chúng ta có tinh thần ỷ lại thì không bao giờ thành công!” [31]

Nguyên nhân và hiểm họa

Sau 30 năm đổi mới, nhưng tình hình nông nghiệp và đời sống mấy chục triệu nông dân vẫn ở tình trạng rất lạc hậu và đói nghèo. Nhiều chuyên viên, trong đó có cả những cán bộ cao cấp, đã dẫn chứng và cắt nghĩa, như trình bày ở trên, về các nguyên nhân dẫn tới tình hình rất bi đát hiện nay cho 70% dân số. Trong đó tổng hợp lại nổi bật hai nguyên nhân căn bản.

Nguyên nhân hàng đầu rất quan trọng khiến bao nhiều triệu nông dân triền miên rơi vào tình trạng “được mùa mất giá” và vẫn phải lao động theo cách con trâu đi trước cái cày đi sau, vì chính sách vô trách nhiệm của chế độ toàn trị, nhắm mắt rập khuôn theo kiểu DNNN trong nông nghiệp. Việc chế độ cho thành lập các Tổng công ti lương thực I và II và Hiệp hội Lương thực (VFA) chính là cách độc quyền trong nông, lâm và thủy sản. Các DNNN này gần như độc quyền trong việc định giá thóc gạo và thường cấu kết với các thương lái để ép giá nông dân phải bán nông sản theo giá bất lợi.[32] Chế độ toàn trị không tin vào nông dân và không sáng suốt nhận ra được tầm quan trọng của nông nghiệp VN trong việc phát triển đất nước, nên đã không tạo cho giới nông dân những điều kiện và cơ hội cần thiết để tự canh tân sản suất, tự tổ chức những cơ sở thiết yếu trong các khâu canh tác, chế biến và tìm thị trường để các nông sản VN có thương hiệu tốt, khả năng cạnh tranh cao, bán được giá trên thị trường quốc tế….

Các Tổng công ti lương thực nhà nước được độc quyền và được ưu đãi nên chỉ làm việc theo tinh thần công chức, sáng xách ô đi tối xách về, không tha thiết tới quyền lợi của mấy chục triệu nông dân…Không những thế còn thỏa hiệp với nhau và với các đại quan đỏ để tham nhũng và bóc lột nông dân! Đây là thái độ khinh thường nông dân và bỏ rơi nông thôn của nhóm cầm đầu toàn trị trong suốt mấy thập kỉ vừa qua! Chính vì thế cho tới nay mấy chục triệu nông dân vẫn bị nghèo đói và nông nghiệp không ngóc đầu lên được!

Một nguyên nhân quan trọng khác khiến nông nghiệp VN vẫn lạc hậu và nông dân vẫn phải chịu cảnh đói nghèo là do trước sau đảng vẫn ngang ngược coi đất đai thuộc công hữu, vẫn giáo điều nhắm mắt theo ý thức hệ Marx-Lenin. Chính từ khi Nguyễn Phú Trọng làm TBT đã cố tình ngăn cản và chống lại cả quyết định của ĐH 11 đòi sửa lại Luật Đất đai cho phù hợp với quyền lợi của nhân dân. Theo Tổng thanh tra CP thì có đến trên 70% các vụ khiếu kiện là về đất đai.[33] Ở nông thôn nông dân vẫn phải thuê ruộng đất của nhà nước, đại đa số ruộng đất bị chia cắt ra rất nhỏ và không có những biện pháp khuyến khích nông dân canh tác chung cùng có lợi. Nên không thể sử dụng các máy móc nông nghiệp hiện đại từ các khâu làm đất, cấy hạt giống, phân bón, trừ sâu tới gặt hái… Phần lớn các phương tiện canh tác cũ đã lạc hậu vẫn được sử dụng. Đây là lí do khiến năng suất nông nghiệp thấp và dẫn tới đời sống vẫn đói nghèo cùa bao nhiêu triệu nông dân chiếm tới trên 2/3 dân số VN. Mặc dù nông dân VN rất siêng năng và cần cù!

Tóm lại, cuộc sống đói nghèo của nông dân VN suốt gần 70 năm dưới chế độ toàn trị bắt nguồn từ một nguyên nhân căn bản là, thực hành chủ thuyết Marx-Lenin với chính sách coi ruộng đất là thuộc độc quyền của Đảng. Tức là trong thực tế ĐCSVN đã trở thành tên địa chủ độc nhất trên toàn quốc; nó tái lập biện pháp phát canh thu tô của địa chủ trước đây. Chỉ có điều khác là, trước đây địa chủ cho nông dân thuê ruộng đất, nhưng phải trả tiền thuê ruộng đất cho địa chủ. Nay thì ĐCS đóng vai trò này của địa chủ, nhưng với những chính sách tham lam và độc ác hơn, tuy rằng vẫn hô lớn chống địa chủ bóc lột!

***

Ngoài thái độ và chính sách khinh nông của nhà cầm quyền, cũng như sự thiếu năng lực của cán bộ, hiện nay nông nghiệp VN còn đứng trước nguy cơ của biến đổi khí hậu trên toàn cầu do những hậu quả của CO2, đặc biệt là Đồng bằng Cửu long, vựa lúa nuôi dân cả nước. “Bát cơm vàng” đang có nguy cơ biến mất. Khu vực này bao gồm 13 tỉnh, với 12,3 % diện tích và 20% dân số, đóng góp tới 27% GDP cả nước. Hai tỉnh Cà mâu và Kiên giang là khu đất thấp hơn cả mức nước biển. Trong mùa mưa nếu thủy triều cao khoảng một mét thì có nguy cơ đồng ruộng bị chìm trong nước mặn, không thể canh tác. Nạn sụt lún sẽ càng gia tăng. Trong khi ấy từ trước tới nay sông Cửu long là nguồn cung cấp không chỉ hải sản, mà còn đem phù sa làm phì nhiêu đồng ruộng. Nhưng hiện nay TQ đã xây nhiều đập thủy điện ở thượng nguồn sông Cửu long, khiến cho lưu lượng nước bị giảm.

Theo dự báo của Cơ quan Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) và nhiều chuyên viên quốc tế, với tình hình gia tăng nhiệt độ trên thế giới tiếp tục như hiện nay thì tới cuối thế kỉ này nhiệt độ ở Đồng bằng Cửu long có thể tăng thêm 1,3-2,8°C, mưa sẽ tăng 4-8%, nước biển dâng từ 66 cm tới 99cm. Nếu nước biển dâng cao thêm 1m có thể làm cho 39% diện tích Đồng bằng Cửu long bị ngập, 35% dân số bị ảnh hưởng. Đây là khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất do biến đổi khí hậu. Nếu tình hình này diễn ra sẽ làm 22 triệu người mất nhà cửa và thiệt hại lên tới 10% GDP.[34]

III. Đầu tư nước ngoài: Khinh trong trọng ngoài,

dẫn tới kinh tế lệ thuộc FDI và công nghiệp nội bị bỏ rơi

Sau khi HK và các nước Tây phương hủy bỏ chính sách cấm vận kinh tế và thương mại với VN từ đầu thập niên 90, chế độ toàn trị CSVN đứng trước hoàn cảnh rất ngặt nghèo. Khi ấy Liên Xô đã sụp đổ, tức là HN mất toàn bộ khu vực “thị trường truyền thống” suốt mấy chục năm từng là chủ lực giao thương và viện trợ cho VN. Trong khi ấy tái lập bang giao với TQ mới bắt đầu và chưa có gì vững chắc. Trong hoàn cảnh đó, muốn tái thiết đất nước chỉ còn cách mở cửa buôn bán với Tây phương, đặc biệt với cựu thù Mĩ. Đây là giai đoạn chủ trương làm bạn với tất cả! Hà nội đưa ra mục tiêu kinh tế đối ngoại là tìm cách thu hút mời các công ti nước ngoài đầu tư trực tiếp vào VN xây dựng các xí nghiệp để sản xuất các sản phẩm xuất khẩu (Foreign Direct Investment -FDI). Họ cho rằng, đây là chính sách khôn ngoan “đi tắt đón đầu”, như một đòn bẩy để đưa nền kinh tế vốn rất tụt hậu của VN có thể chuyển nhanh sang phát triển canh tân đất nước, nhờ vốn và kĩ thuật hiện đại của các công ti này.

Về lí thuyết, chủ trương này bao gồm một số mục tiêu chính:

  • Tạo công ăn việc làm và nâng cao trình độ chuyên môn cho công nhân VN
  • FDI hợp tác với các doanh nghiệp VN, chuyển giao kĩ thuật công nghiệp hiện đại và giúp công nghiệp VN phát triển kiến thức quản trị
  • Thu được các nguồn ngoại tệ mạnh để làm vốn cho phát triển kinh tế
  • Các sản phẩm của FDI xuất cảng sẽ mang lại số thuế lớn cho ngân sách quốc gia
  • Các FDI sẽ sử dụng các kĩ thuật hiện đại, nên tránh làm bãi rác công nghệ

Tuy Luật đầu tư cho nước ngoài đầu tiên ra đời từ 1988 (QH thông qua 29.12.1987)[35], nhưng phải đợi tới giữa thập niên 90 sau khi VN và HK bình thường hóa quan hệ ngoại giao thì các các công ti FDI mới dồn dập vào làm ăn ở VN.[36] Điều 27 Luật đầu tư cho doanh nghiệp nước ngoài năm 2005 qui định các lãnh vực được ưu đãi, trong đó Khoản 3 ghi rõ “Sử dụng công nghệ cao, kĩ thuật hiện đại; bảo vệ môi trường sinh thái.”. [37] Tuy nhiên phải đợi tới sau khi VN gia nhập WTO vào cuối năm 2006 thời Nguyễn Tấn Dũng làm Thủ tướng (TT) thì các công ti lớn quốc tế mới đổ hàng tỉ USD đầu tư vào VN. Chỉ riêng 9 tháng đầu 2008 vốn đăng kí đầu tư nước ngoài vào VN đã lên tới 57 tỉ USD. Trong đó có 8 dự án có vốn đăng kí trên 1 tỉ USD/dự án.[38] Tới cuối 2012 có tất cả 14.364 dự án đang hoạt động với tổng số vốn đăng kí lên tới 212,846 tỉ USD. Trong đó chủ yếu là các công ti FDI với 100% vốn nước ngoài chiếm tới 79,61% tổng số dự án và 66,51% tổng vốn đăng kí; số công ti FDI liên doanh với tư nhân VN và DNNN chỉ chiếm 17,86% tổng số dự án và 25,92% tổng vốn đăng kí.

Trong dịp tổng kết 30 năm chính sách đối với FDI (1988-2018) một số cơ quan và chuyên viên đã phân tích các hoạt động và kết quả của FDI đối với kinh tế VN. Thứ trưởng bộ Kế hoạch và Đầu tư Vũ Đại Thắng cho biết, VN “đã thu hút được trên 25.000 dự án FDI với tổng vốn đăng ký đạt 320 tỉ đô la Mỹ”.[39] Theo TS Vũ Thành Tự Anh, Đại học Fulbright VN, đầu tư trực tiếp nước ngoài trong ba thập niên qua “đang tạo ra khoảng 70% giá trị xuất khẩu, 50% giá trị sản xuất công nghiệp và 20% GDP của cả nước”.[40] Trong khi FDI chiếm trên 2/3 tổng xuất khẩu và ½ tổng giá trị sản xuất công nghiệp của VN thì “hệ số chuyển giao công nghệ” của các doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp nội lại “thấp nhất trong khu vực ASEAN, thua cả Lào và Campuchia”. Chính sự kiện này đã được Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) ông Vũ Tiến Lộc xác nhận trong cuộc Hội thảo ở HN ngày 30. 8.18. [41]

Nói một cách khác, vai trò của các doanh nghiệp FDI đang đóng vai trò then chốt có tính cách quyết định cho tương lai của kinh tế VN, nhưng hầu như không có chuyển giao công nghệ với các doanh nhiệp tư nhân VN. Nguy hiểm nữa là, rất nhiều xí nghiệp FDI đã sử dụng các máy móc cũ và có trình độ công nghiệp rất thấp, ngày càng đe dọa môi trường sinh thái của VN, điển hình như thảm họa cá chết hàng loạt phủ trắng ven biển các tỉnh miền Trung do đại công ti Formosa gây ra năm 2016. Điều này hoàn toàn trái ngược với các mục tiêu đã đưa ra của nhà cầm quyền toàn trị VN xuyên qua các Luật đầu tư cho các doanh nghiệp nước ngoài tại VN trong hơn 30 năm qua.

Cũng theo báo cáo vào đầu năm 2018 của VCCI, “mỗi năm có khoảng từ 40-50% doanh nghiệp FDI kê khai lỗ, trong đó, có rất nhiều doanh nghiệp lỗ liên tục trong nhiều năm, thậm chí có doanh nghiệp lỗ lũy kế đến mức âm vốn chủ sở hữu, nhưng vẫn tiếp tục hoạt động bình thường, kể cả việc mở rộng quy mô kinh doanh. Một số địa phương thu hút nhiều doanh nghiệp FDI như thành phố HCM, Bình Dương, tỉ lệ doanh nghiệp FDI kê khai lỗ lên đến 50-60%, trong đó có nhiều doanh nghiệp kê khai lỗ trong nhiều năm”.[42] Tình hình rất lạ lùng như thế phải hiểu theo nhiều mặt. Đó là: 1. Những đóng góp thuế thực sự của FDI vào ngân sách quốc gia ở mức rất thấp. 2. Mức chuyển giao kĩ thuật công nghệ cho các doanh nghiệp nội địa rất thấp. 3. Sử dụng các máy móc cũ nên đang tạo nguy hại về môi trường.

Mặc dầu tình hình phát triển của các công ti FDI đi ngược lại với các chủ chương và chính sách của chế độ toàn trị trong việc thu hút đầu tư của nước ngoài, vậy tại sao họ vẫn được mở rộng làm ăn ở VN? Những nghịch lí này của FDI đang diễn ra ở VN trong suốt mấy thập niên qua. Tại sao các nghịch lí ngày không được cải thiện, ngược lại còn đang mở rộng từ thời Nguyễn Tấn Dũng và đang gia tăng từ khi Nguyễn Xuân Phúc làm TT? Những người cầm đầu chế độ toàn trị có làm chủ động trong các chính sách đối với FDI, hay đã bị lệ thuộc và bị sai khiến bởi các nhóm lợi ích cấu kết với các công ti FDI từ ngay trong giai đoạn hoạch định chính sách?

Các công ti FDI tại VN phân loại theo hình thức đầu tư (2012)

TT Hình thức đầu tư Số dự án Tổng vốn đăng kí (triệu USD)  Tỉ trọng (%)Số dự án  Tổng vốnđăng kí
1 100% vốn nước ngoài 11.370 141.582,33 79,16      66,62
2 Liên doanh  2.566  55.162,65 17,86      25,92
3 Hợp đồng BOT, BT, BTO     14   5.857,32  0,10       2,75 
4 Hợp đồng hợp tác kinh doanh    218   5.469,09  1,52       2,57
5 Công ti cổ phần    195   4.677,21  1,36       2,20
6 Công ti mẹ con     1      98,01   0,01       0,05
Tổng số 14.364 212.846,61  100       100

Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài, 2013. Xuất xứ: NCKT 4.2013,tr. 47

Nhà nước CS ưu đãi tối đa cho các công ti FDI về nhiều mặt, như đất đai lập công xưởng, được ưu đãi thuế rất thấp các năm đầu, lương công nhân thấp; nhập khẩu máy móc, mua sắm trang thiết bị và hàng từ công ti mẹ hưởng chế độ giảm thuế đặc biệt, giành ưu đãi cho họ chuyển lợi nhuận về công ti mẹ. Ngoài ra để thu hút FDI, mỗi địa phương còn được quyền đưa ra các biện pháp ưu đãi cao hơn; ngoài việc miễn giảm tiền thuế đất, tiền sử dụng đất lên tới 50% theo NQ 62 của CP, còn gia hạn thêm thời gian miễn giảm thuế từ 3-6 năm.[43] Chế độ toàn trị cho lập nhiều Khu chế suất và Khu công nghiệp giành riêng cho các công ti FDI. Các công ti FDI tập trung hoạt động trong lãnh vực sản xuất hàng hóa xuất khẩu, như giầy dép, quần áo, linh kiện điện tử. Khi chương trình mở rộng các đô thị được ban hành, nhiều công ti FDI đã tìm cách hợp tác với các DNNN để lợi dụng chính sách ưu đãi của NHNN trong việc vay với lãi suất rất thấp những số tiền rất lớn lên tới 135.000 tỉ đồng (>8,4 tỉ USD) vào khu vực bất động sản. Như các dự án Nam Thăng long-Ciputra, Hồ Tràm của một công ti Canada (4,2 tỉ USD), Starbay của British VirginIslands (1,65 tỉ USD) và Khu công nghiệp Thủ thiêm của Singapor (1,2 tỉ USD) khi ấy. Họ còn lợi dụng sự dễ dãi và khuyến khích của chính quyền trung ương và các địa phương, nên nhiều năm -nhất là thời Nguyễn Tấn Dũng- đã ồ ạt lập 78 sân golf với tổng số vốn đăng kí là 13,3 tỉ USD và chiếm một diện tích 26.170 ha ở 39 thành phố/tỉnh. Ngoài ra cũng trong thời gian này còn có 66 dự án khác xây sân golf.

Chính TCCS đã đăng bài của hai chuyên gia kinh tế của Cơ quan Phát triển của LHQ ở VN tường thuật cách biến đất nông nghiệp thành các sân golf làm nơi giải trí của các nhà tư bản nước ngoài và các quan đỏ. Theo qui định của Nhà nước thì tiền bồi thường cho đất nông nghiệp rất thấp. Không những thế đất xây sân golf còn được coi là dùng vào thể thao, “nên được hưởng mức thuế đất ưu đãi”. Vì thế nhiều công ti FDI đã lợi dụng dùng một phần đất sân golf để xây “khách sạn, nhà hàng và giải trí”. Họ đầu cơ xây các sân golf, khách sạn và các khu giải trí với các ưu đãi cao nhất để hi vọng có thể thu hồi vốn và có lời nhanh. Trong việc xây dựng các khu vực bất động sản, nhiều công ti FDI đã dùng uy tín và mánh lới là công ti ngoại quốc, có quan hệ tốt với các quan đỏ có quyền lực, nên nhiều khi họ chỉ cần xây móng xong là đã rao bán. Người mua (thường là cán bộ có máu mặt) sẵn sàng bỏ ra số tiền lớn đặt cọc trước. Như vậy là các công ti FDI đã dùng tiền của người mua nhà để xây nhà, họ chỉ phải bỏ ra số vốn rất ít nhưng hưởng lợi nhuận rất cao. Có dư luận cho rằng, dự án Ciputra và Keangnam (Đại hàn) thuộc loại đầu cơ như vậy.[44] Đây chính là cách làm ăn móc ngoặc, làm giầu nhanh bất chính giữa các quan đỏ với nhiều công ti nước ngoài.

Một hiện tượng rất phổ biến là, nhiều doanh nghiệp FDI đã khai lỗ nhiều năm liên tiếp, trong khi đó họ vẫn gia tăng đầu tư tại VN. Như ở Khu chế suất tại Bình dương số doanh nghiệp FDI khai lỗ năm 2010 là 754/1490, chiếm tỉ trọng 50,6%; trong đó có tới 200 doanh nghiệp mức lỗ cao hơn cả vốn. Tại Sài gòn và Đồng nai số doanh nghiệp FDI khai lỗ cũng lên tới 60% và 52,2%. Tại Lâm đồng số doanh nghiệp FDI khai lỗ là 104/111. Mánh lới phổ thông thứ hai của các công ti FDI là khai giá các tài sản như máy móc, thiết bị, nguyên liệu, dịch vụ, phí bản quyền… cao hơn nhiều so với giá thực tế. Mặc dầu đa số máy móc chuyển sang VN đều thuộc loại trình độ kĩ thuật cũ và gây ô nhiễm cao. Đây là thuộc vào các vốn đầu tư, từ đó họ có lợi thế để tính thuế. Họ còn khai vay tiền các ngân hàng với lãi suất rất cao, hoặc các chi phí cho dịch vụ như quản lí, quảng cáo, tiếp thị, đào tạo, thuê chuyên gia. Đây là những chi phí đầu vào. Từ đó vào cuối mỗi năm họ có thể khai lỗ, hoặc lời rất ít để được miễn thuế hoặc chỉ đóng thuế rất ít. Năm 2009 có 760/1.358 (56%) công ti FDI khai lỗ. Các thủ đoạn này làm ngân sách nhà nước thất thu hàng năm rất lớn.[45]

Một hiện tượng phổ thông khác là, đại đa số các công ti nước ngoài hoạt động tại VN theo hình thức 100%, không thích liên kết với các doanh nghiệp VN vì nhiều lí do, từ bí mật nghề nghiệp, khác biệt ngôn ngữ tới sự phân hóa quá nhỏ của các doanh nghiệp tư VN. Đặc biệt nhất là, nhà cầm quyền CS rất cần ngoại tệ qua sự đầu tư của các công ti FDI nên không dám có những chính sách rõ ràng -như TQ và một số nước Á châu- để các công ti FDI phải tích cực hợp tác với doanh nghiệp tư nhân VN. Vì thế các doanh nhân, doanh nghiệp VN và công nhân mất các cơ hội tốt để học tập kĩ thuật, cách quản trị và điều hành các hãng xưởng theo trình độ mới.

Không chỉ chèn ép giới kinh doanh tư nhân VN, các công ti FDI còn tìm cách bóc lột hàng triệu công nhân bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, với sự làm ngơ hoặc tiếp tay nhà cầm quyền CS. Tính tới năm 2012 có 283 Khu công nghiệp trên 58 tỉnh/thành phố, chiếm diện tích 76.000 hecta. Trong đó miền Đông Nam Việt nhiều nhất với 88 khu công nghiệp ( 31,1%), Đồng bằng sông Hồng 24,7%, Đồng bằng Cửu long 17,7%, Miền Trung 15,5%. Chia theo tỉnh/thành phố thì Đồng nai có 30 Khu công nghiệp, Bình dương 25, Sài gòn 19, Hà nội 11…Riêng Đồng bằng Cửu long có 51 Khu công nghiệp và 200 cụm công nghiệp chiếm diện tích 25.000ha, nhưng mới sử dụng khoảng 20%. Nhiều Khu công nghiệp bị qui hoạch treo phí phạm đất canh tác.[46] Số lao động làm trong các Khu công nghiệp tăng rất nhanh. 1995 mới có 50.000 công nhân, năm 2000 đã tăng lên 201.000, năm 2007 lên tới 1,04 triệu và 1,765 triệu công nhân vào năm 2011. Bình quân số công nhân làm trong các khu công nghiệp gia tăng hàng năm từ 10-15%.

Trong khi số công nhân gia tăng rất nhanh thì Nhà nước CS không có chính sách để các doanh nghiệp FDI có chương trình xây dựng cư xá cho công nhân. 80% công nhân phải thuê phòng trọ ở bên ngoài. Nếu tính theo tỉ lệ và diện tích các phòng trọ thì thật khủng khiếp: Số công nhân phải sống trong phòng rộng dưới 3m² chiếm tới 19%, 3-5m² (21,4%), 5-7 m² (10,6%),8-10m² (22%), 11-20m² (22,4%); số công nhân có phòng trọ trên 20m² chỉ có 5,9%. Rất nhiều trường hợp 3 công nhân phải thuê 1 phòng 10-12m², giá thuê 250.000-300.000đ/tháng (2012). Không chỉ phải ở trong các phòng trọ chật chội, thiếu tiện nghi, thiếu vệ sinh như các chuồng gà; còn thiếu các nhà trẻ, trường học, trạm y tế, chợ, siêu thị, giải trí…Đấy là chưa kể chính sách “hộ khẩu” đã khiến cho con cái công nhân không được thu nhận vào các trường học. Điều này ảnh hưởng vô cùng bất lợi cho hàng trăm ngàn thiếu niên.[47]

Cuộc sống lam lũ của hàng triệu công nhân, đa số là phụ nữ và con thơ, trong các khu công nghiệp giành cho các công ti FDI là những hình ảnh sống động nhất và tồi tệ nhất như thời Cách mạng Công nghiêp hai thế kỉ trước, với cảnh bóc lột của thời kì tư bản rừng rú. Trong đó có sự cấu kết công khai giữa vua chúa cầm quyền và bọn tư bản bóc lột. Nhưng rất oái ăm và lạ lùng là, tình trạng vô nhân đạo này lại tái diễn vào đầu Thế kỉ 21 tại VN trong khuôn khổ chế độ XHCN; trong đó những người cầm đầu luôn luôn vỗ ngực, đó là chế độ bảo vệ người lao động, bảo vệ quyền làm người!

Không những thế nhiều công ti FDI vi phạm qui luật lao động, thậm chí vi phạm cả luật hình sự đối với công nhân VN. Như ngược đãi công nhân, làm tới 12 giờ/ngày, đánh đập công nhân. Nhiều công ti Nam hàn đã vi phạm. Các vụ đình công diễn ra khá phổ biến trong các công ti của Đài loan và Nam hàn. Năm 2010 xẩy ra 62 vụ đình công ở Sài gòn, trong đó 37 vụ trong các công ti FDI. Trong số này 21 vụ ở các công ti Nam hàn.[48] Số các công ti của Nam Hàn, Đài loan, Hồng kông và Nhật chiếm một tỉ lớn của FDI hoạt động ở VN. Điều này có thể hiểu, các nước này không chỉ là láng giềng mà còn có nền văn hoá tương đồng với VN, hiểu rõ tâm lí và tập quán của người Việt, đặc biệt một số các nước này không coi trọng nhân quyền và quyền lợi của công nhân ngay ở trong nước họ!

Một hình ảnh “thân dân” rất kịch cỡm đã được TT Nguyễn Xuân Phúc dàn cảnh trong chuyến thăm công nhân tại một công ti FDI ở Đồng nai vào cuối tháng 10.2017. Đây cũng là công ti mà hơn một năm trước, khi mới nhận chức TT ông Phúc đã thăm. Nay ông trở lại để xem có tiến bộ hay không. Tại đây TT đã hỏi công nhân về tình hình lao động và cuộc sống hàng ngày của họ. Khi tới bàn ăn của công nhân ông hỏi: “Bữa ăn từ 16.000-23.000 đồng có đảm bảo chất lượng không? Sau giờ làm việc, công nhân có thời gian để sinh hoạt văn hóa, thể thao hay không? Mức lương và cuộc sống có đảm bảo không?”[49] Tại sao Nguyễn Xuân Phúc không tổ chức một cuộc thăm bất ngờ ở một công ti FDI khác để biết các bữa ăn trưa thịt ôi canh ủng chỉ với giá hai ba ngàn đồng; hay đi thăm các phòng trọ như ổ chuồng gà giành cho công nhân?

Theo bộ Kế hoạch và đầu tư, tới cuối 2017 có 128 quốc gia và vùng lãnh thổ đã đầu tư vào Việt Nam. Lần đầu tiên Nam Hàn đang dẫn đầu với tổng vốn đăng ký 57,1 tỷ USD (chiếm gần 18,2%), thứ hai là Nhật bản với 46,3 tỷ USD, tiếp đến là Singapore và Đài loan.[50]

Tờ Quân đội Nhân dân (QĐND) cũng cho biết, hiện các công ti FDI đang sử dụng khoảng 30% lực lượng lao động công nghiệp”.[51] Nhưng mặt khác, khu vực FDI đang bộc lộ những mặt trái gay gắt; như gây ô nhiễm môi trường rất nghiêm trọng, nạn chuyển giá bất hợp pháp, sử dụng công nghệ lạc hậu. BCT đưa ra mục tiêu là, dùng FDI để lan tỏa công nghiệp hiện đại cho kinh tế tư nhân nội địa, nhưng thực tế đã không diễn ra như vậy. Theo điều tra của Phòng Thương mại và Công nghiệp VN (VCCI), các công ti FDI “chỉ mua khoảng 26,6% thiết bị, đầu vào từ DN Việt Nam, còn lại là nhập khẩu và nhập từ công ty mẹ. Điều này chứng tỏ, DN Việt Nam đang được hưởng lợi rất ít từ hiệu ứng lan tỏa do dòng vốn FDI mang lại qua quá trình chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và nâng cao năng suất”. Trong báo cáo “Việt Nam tăng cường năng lực cạnh tranh và liên kết của DN vừa và nhỏ (DNVVN)-Bài học kinh nghiệm trong nước và quốc tế” Nhóm nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới cũng xác nhận, “các DNVVN của Việt Nam chủ yếu là nhà cung cấp cấp ba (gián tiếp), được mô tả như là ngành sản xuất các nguyên liệu đầu vào, nguyên liệu đơn giản và ít giá trị gia tăng”.[52]

***

Nếu so sánh giữa chủ trương (lí thuyết) và kết quả thực tiễn trong việc thực hiện chính sách FDI gần ba thập kỉ qua của chế độ toàn trị CSVN thì càng thấy rõ sự khác biệt rất rõ rệt như trắng với đen giữa mục tiêu và kết quả:

– Chủ trương dùng FDI để thúc đẩy công nghiệp VN phát triển. Nhưng oái oăm đại đa số các FDI chỉ làm ăn riêng, cho nên đến nay nhiều doanh nghiệp tư VN đã không làm được cái đinh ốc!

– Chủ trương dùng FDI để VN có “công nghiệp xanh”. Nhưng nay nhiều FDI đang biến VN thành bãi rác thải công nghiệp độc hại, không những thế họ chỉ chuyển vào VN các máy móc có trình độ kĩ thuật rất thấp.

– Chủ trương bảo vệ quyền lợi lao động của công nhân trong các công ti FDI, nhưng thực tế hàng triệu công nhân VN đang bị bóc lột và bạc đãi!

Tự vỗ ngực là những người lãnh đạo CS giầu kinh nghiệm, biết rõ tâm đen của các giới tư bản, nhưng tại sao họ lại trải thảm đỏ mời gọi FDI, thế rồi bị sỏ mũi? Họ nghĩ rằng có thể tương kế tựu kế? Nhưng nếu xét qua nhiều giai đoạn tham gia của FDI ở VN thì cho thấy, họ bị chạy theo, rất bị động chứ không chủ động. Những sự cố về ô nhiễm môi trường đã xẩy ra và các hậu quả vô cùng tai hại của nó, cũng như lương bổng bị bóc lột và đời sống đói rách của hàng triệu công nhân cho thấy, khi lập kế hoạch mời FDI họ ở thế bị động, cứu đảng và cứu mình để nắm quyền nên phải nhắm mắt làm liều.

Lời xác nhận của Nguyễn Phú Trọng trong vụ Formosa: “Trước kia chúng ta kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu, nên bây giờ chúng ta phải trả giá”. (Xem Chương chín, V). Lời xác nhận trên của người cầm đầu chế độ toàn trị không chỉ giới hạn trong lãnh vực môi trường, mà có giá trị cả trong các lãnh vực khác, như chờ đợi FDI chuyển vào VN những công nghệ với kĩ thuật tiên tiến, hay bảo vệ quyền lợi lao động của công nhân.

Sự tăng trưởng về vốn đầu tư vào VN hay kim ngạch xuất khẩu gia tăng của FDI không đồng nghĩa với những lợi ích cho VN. Nhiều khi đi ngược lại các mục đích ban đầu của CSVN: Xuất khẩu gia tăng nhưng nhập khẩu cũng gia tăng; gia tăng số lượng công ti FDI nhưng lại giảm số công ti FDI hợp tác với doanh nghiệp tư VN và các thiết bị đưa vào VN có trình độ kĩ thuật thấp, đang biến VN thành nơi tiêu thụ các máy móc lỗi thời, nguy hiểm nữa là thành bãi rác đầy chất độc công nghiệp. Điều cực kỳ nguy hiểm nữa là, sự kiện ngày càng lớn mạnh của FDI dẫn tới hậu quả, ngày càng òi ọp của doanh nghiệp tư nhân VN và kinh tế VN càng lệ thuộc bên ngoài!

Cuối tháng 11.18 tại cuộc Hội thảo đánh giá hiệu quả chính sách thu hút và ưu đãi đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong các thập niên vừa qua do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) tổ chức, nhiều chuyên viên đã lên tiếng cảnh báo về những hệ lụy vô cùng bất lợi trong nhiều lãnh vực cả trước mắt và lâu dài của chủ trương “quá sính ngoại” của chế độ toàn trị đối với các công ti FDI. Chuyên viên ngân hàng Phạm Xuân Hòe nhận xét, “khối FDI được rất lớn, còn VN chỉ được mấy đồng lương còi cho người lao động. Trong khi ô nhiễm môi trường không biết phải chi bao nhiêu cho đủ và người công nhân cũng luôn phải đối mặt với rủi ro”. [53]

***

Trước đây cũng như hiện nay một số nước Âu châu cũng như Á châu lấy xuất cảng làm trọng tâm. Trong giai đoạn đầu mãi lực nội địa không cao, vốn ít; nên để tạo điều kiện phát triển nhanh hơn, các quốc gia này cần vốn của cả bên ngoài. Nhưng mục tiêu lâu dài vẫn phải lấy nội lực làm chính. Đây là những suy nghĩ sáng suốt và thực tế. Bởi vì hoạt động kinh tế liên quan trực tiếp tới đồng tiền bát gạo. Ta không thương ta thì chẳng ai đoái hoài. Tâm lí chung là không ai giúp một cách vô công, có đi có lại. Nhưng phải hiểu tâm lí và động cơ của các nhà tư bản. Đối với họ, lợi nhuận là tiêu chí giá trị cao nhất, nơi nào thu hoạch có lời cao, thuế thấp cùng các ưu đãi khác thì họ sẽ đổ xô tới; nếu không còn thì họ lại bỏ đi tìm nơi khác. Chính tâm lí này của các giới tư bản đã được cựu Phó TT Đức và cựu Chủ tịch Đảng Dân chủ Xã hội Đức F. Müntefering mô tả; ông đã ví giới này như các đàn cào cào, châu chấu, nơi nào có ăn thì cả đàn tới, khi hết rồi thì cả đàn lại bay đi nơi khác kiếm ăn![54]

Như trước đây ở Nhật, Đài loan và Đại hàn và hiện nay ở TQ, một mặt họ khuyến khích tư bản nước ngoài bỏ vốn vào đầu tư ở nước họ. Xuyên qua nguyên tắc hợp tác, các FDI được giành một số ưu đãi nhất định trong hoạt động kinh doanh, nhưng đồng thời phải thực hiện nghiêm túc các nghĩa vụ và các thỏa thuận với các quốc gia này. Trong đó ngoài nhiệm vụ đóng thuế sòng phẳng, còn phải chuyển giao công nghệ tân tiến và đào tạo chuyên môn cho người lao động bản xứ.

Cách vận hành của một nền kinh tế lấy xuất cảng làm trọng tâm có đặc điểm là, các công ti FDI dùng công nhân bản xứ với lương bổng thấp, nhờ đó giá thành các hàng hóa thấp, nên các sản phẩm này có thể bán chạy ở nhiều nước công nghiệp. Nhờ thế các công ti FDI hưởng lợi nhuận rất cao. Trong khi đó nhà nước sẽ thu ngoại tệ để tăng mức ngoại hối và thu được thuế từ các hàng xuất khẩu; nhờ đó ngân sách quốc gia được gia tăng để có thể đầu tư và canh tân đất nước tiến tới tự lập tự cường. Nhưng các mục tiêu và cách thực hiện đường lối kinh tế này chỉ thành công trong một số điều kiện nhất định, ắt có và đủ. Đó là phải có một hệ thống chính trị tốt, trong đó những người nắm vận mệnh đất nước phải có tinh thần trách nhiệm cao, có tầm nhìn sâu rộng; quốc hội, hệ thống tòa án phải có thực quyền; các công chức phải chí công vô tư; có hệ thống báo chí độc lập và các đoàn thể xã hội dân sự được tự do hoạt động. Mặt khác phải có các chính sách khuyến khích và bảo vệ các giới doanh gia và tư thương nội địa trong việc bỏ vốn và sáng kiến vào các hoạt động sản suất và kinh doanh để làm giầu cho chính mình và đất nước.

Nếu chỉ thích hoàng nhoáng bề ngoài, thích giả dối; gộp nhập trên 2/3 kim ngạch xuất khẩu hàng năm từ FDI vào GDP để trưng diện là lợi tức đầu người ở VN đang tăng nhanh. Nhưng đó chỉ là giả dối, vì phần lớn thu nhập của các công ti FDI lại được chuyển nhanh về công ti mẹ ở mẫu quốc. Cả phần thuế của FDI vào ngân sách quốc gia cũng rất thấp; vì họ được ưu đãi thuế, trốn thuế bằng cách khai lỗ, hay chỉ phải trả mức thuế rất thấp!

Cân nhắc giữa quyền lợi quốc gia và sự phân công quốc tế cùng có lợi cho các bên, thì nếu sự đầu tư của nước ngoài đem lại những lợi ích thiết thực cho việc phát triển nhanh và bền vững cho đất nước, sẽ là một việc rất đáng hoan nghênh. Không nên có thái độ bài ngoại quá khích, nhất là trong giai đoạn toàn cầu hóa. Bế quan tỏa cảng chỉ làm trì trệ đất nước thêm. Nhưng mục tiêu này chỉ có thể thành công, nếu có một chính quyền có tầm nhìn xa trông rộng, biết cân nhắc ưu và khuyết điểm của kế hoạch xây dựng đất nước; có chính sách mở cửa thích hợp, biết sử dụng vốn tư bản nước ngoài, công nghệ tân tiến nước ngoài và kiến thức quản trị và trình độ chuyên môn cao của họ. Đó là tạo những điều kiện ắt có và đủ cho việc canh tân VN. Nhưng suốt trên 30 năm qua các điều kiện trên đều không có!

  1. Tư doanh VN bị bạc đãi và bị chèn ép

Từ trước tới nay, đặc biệt dưới thời Nguyễn Tấn Dũng làm TT, các NQ của nhiều ĐH đảng và chính sách kinh tế của chính phủ đều nhấn mạnh phát triển nội lực. Nghĩa là về mặt lí thuyết, các doanh nghiệp VN (DNNN và tư nhân) phải là nồng cốt cho phát triển kinh tế. Các Luật về Doanh nghiệp tư nhân 2000 và 2005 qui định về hoạt động của kinh tế tư nhân trong nước. Nhưng trong thực tế thì lại hoàn toàn khác. Trong khi các công ti nước ngoài FDI ngày càng bung ra chiếm lãnh thị trường và các DNNN được giành ưu đãi trong tín dụng và đất đai, lại nắm độc quyền nhiều lãnh vực được coi là huyết mạch của nền kinh tế. Còn các doanh nghiệp tư nhân nội địa lại không ngóc đầu lên được, phải chịu đựng một cổ hai ba tròng, vừa bị các DNNN chèn ép, lại bị các công ti FDI cạnh tranh, đồng thời còn bị các quan đỏ móc túi và trấn áp.

Có nhiều con số khác nhau về doanh nghiệp tư nhân VN từ nhỏ, trung bình đến lớn (tính theo số công nhân và vốn đầu tư). Theo Cục Quản lí đăng kí kinh doanh của bộ Kế hoạch và đầu tư, tính tới Quí 1/2014 có tất cả 789.813 doanh nghiệp tư nhân VN đã đăng kí, trong đó 296.206 doanh nghiệp đã phải đóng cửa hoặc phá sản. Riêng từ khi VN gia nhập WTO (2007) số doanh nghiệp tư nhân gia tăng cao, mỗi năm có trên 50.000 doanh nghiệp được thành lập.[55] Nhưng đồng thời số doanh nghiệp ngưng hoạt động hoặc phá sản cũng rất cao. Theo báo cáo của Phòng Thương mại và Công nghiệp VN ngày 13.4.16, có đến 428.000 doanh nghiệp tư nhân VN phải ngừng hoạt động hoặc giải thể trong giai đoạn 2007-2015, tương đương với 45,5% tổng số doanh nghiệp được thành lập kể từ khi có Luật Doanh nghiệp năm 2000 đến nay. [56]

Xét về qui mô lao động thì các doanh nghiệp VN ngày càng có khuynh hướng nhỏ đi. Vào năm 2002 một doanh nghiệp có trung bình 74 lao động, đến 2007 chỉ còn 47 lao động, nhưng tới 2012 lại giảm chỉ còn khoảng 32 lao động. Vào năm 2012 số doanh nghiệp vừa là lớn chỉ chiếm khoảng 4,3%, doanh nghiệp nhỏ chiếm 29% và siêu nhỏ chiếm 66,8% (dưới 10 lao động). Năm 2002 số doanh nghiệp siêu nhỏ chiếm 53,1% đã tăng lên 66.8% vào năm 2012. Tình hình chung rất đặc biệt là, trong suốt 10 năm (2002-2011) rất ít doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ phát triển thành doanh nghiệp vừa hoặc lớn. Nhưng ngược lại, tỉ lệ các doanh nghiệp vừa lại biến thành nhỏ và siêu nhỏ lại gia tăng. Thành thử nhiều chuyên viên đã rất chua chát phải nêu câu hỏi, tại sao các doanh nghiệp tư nhân VN “không lớn lên được”? [57]

Cũng vào giai đoạn này đã có bài thơ rất chua chát và mỉa mai, vì sao đất nước không lớn lên được với tựa đề “Đất nước mình ngộ quá phải không anh?” của Thạc sĩ Trần Thị Lam, một nữ giáo viên trung học ở Hà Tĩnh, được phổ biến rất rộng rãi và được phổ nhạc. Bài thơ được phổ biến vào dịp sau biến cố thảm họa môi trường do Formosa ở Hà tĩnh gây ra, 4.2016.[58] (Xem phần sau).

Viện trưởng Viện Kinh tế VN Trần Đình Thiên nêu câu hỏi, tại sao Nhà nước vẫn nói là kinh tế chuyển dịch tốt, nhưng công nghiệp VN vẫn yếu? Ông dẫn chứng, công nghiệp chế biến, chế tạo là lãnh vực then chốt trong phát triển kinh tế, nhưng sau 30 năm chỉ tăng 1,6%.  Ông dẫn chứng nguyên nhân dẫn tới tụt hậu vì các chính sách sai lầm. Theo ông, “trong thời đại công nghệ cao mà lĩnh vực chế biến chế tạo chỉ tăng như vậy thử hình dung công nghiệp Việt Nam giậm chân tại chỗ hay thụt lùi ghê gớm so với thế giới? Ta thích công nghiệp khai khoáng, xây dựng, tập trung gia công còn lĩnh vực tạo năng lực cốt lõi là chế biến chế tạo lại rất yếu”. Ông trách là, Nhà nước CS đã quá chiều chuộng các công ti FDI, dẫn tới hậu quả là nay tùy thuộc quá nhiều vào họ.[59] Trong khi đó theo chuyên gia Phạm Chi Lan, chế độ toàn trị đã không tạo một sân chơi bình đẳng giữa các hoạt động kinh tế. Trong khi các Doanh nghiệp nhà nước, các công ti FDI và “doanh nghiệp tư nhân thân hữu” được biệt đãi (tiếp cận các nguồn lực, quyền kinh doanh, đầu tư công/mua sắm của chính phủ, bảo hộ để né cạnh tranh…) thì đại đa số doanh nghiệp vừa và nhỏ ở vị thế rất bất lợi, nên không lớn lên được và dễ bị đào thải. [60]

Tới 2014 cả nước có khoảng gần 3000 doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ và hoạt động rất yếu. Ngay bộ Công thương cũng cho biết, công nghiệp phụ trợ phải sử dụng tới 80% nguyên liệu nhập khẩu, lại chỉ tập trung vào các hoạt động đơn giản như đóng gói, bao bì. Các ngành công nghiệp phụ trợ như giầy dép, dệt may… phần lớn nằm trong tay các công ti FDI. Các công nhân VN chỉ làm công tác gia công; trong khi ấy phần chính nguyên liệu phải nhập cảng, nhất là từ TQ. [61] Trong khi nhóm cầm đầu toàn trị thề thốt là công nghiệp hóa hiện đại hóa nền kinh tế thì nhiều chuyên viên đã chỉ trích và cảnh báo nghiêm khắc là, “hiện nay VN đang trở thành quốc gia có nền công nghiệp gia công toàn diện”, tức là chỉ đi làm thuê và làm những công việc phụ thuộc cho các công ti FDI.[62] Ngoài các nguyên nhân không có sân chơi bình đẳng và bị chén ép, các doanh nghiệp tư nhân VN còn bị cán bộ nhũng nhiễu, hàng năm phải tiếp nhiều phái đoàn thanh tra, muốn được yên thì phải trao “phong bì”! Tiến sĩ Cao Sĩ Kiêm, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa, đã cho biết, theo số liệu từ một cơ quan nghiên cứu có tới 73% doanh nghiệp phải lót tay cho cán bộ. [63]

Ngay tại QH vào cuối năm 2015 (22.10.15) Bộ trưởng Kế hoạch và đầu tư Bùi Quanh Vinh vừa than thở vừa trách móc là: “Một đất nước muốn tự chủ kinh tế thì doanh nghiệp của nước ấy phải phát triển. Doanh nghiệp nội địa phát triển thì mới hỗ trợ cho khu vực FDI, và tiếp thu công nghệ của nước ngoài… Nhiều doanh nghiệp FDI, như Nhật Bản, muốn chuyển giao công nghệ, nhưng doanh nghiệp chúng ta không có nền tảng để nhận. Chúng ta kêu ca doanh nghiệp FDI không chuyển giao công nghệ là do có hai mảng. Thứ nhất họ không chuyển giao, và thứ hai, họ có chuyển giao thì chúng ta cũng không có đủ năng lực tiếp nhận”.[64]

Trong buổi tọa đàm với Hội Doanh nhân trẻ VN vào cuối năm 2018 TS Trần Đình Thiên, nay là thành viên Tổ tư vấn kinh tế của TT, đã phải chua chát nhận xét, sau trên 30 năm “đổi mới” nhưng doanh nghiệp tư nhân VN chỉ đóng góp 8% GDP; trong khi đó đóng góp của FDI lên tới 20% và DNNN khoảng 27-28%. Theo ông, ở trong một nước phát triển kinh tế thực sự với nội lực làm chủ yếu dựa trên kinh tế thị trường thì khu vực doanh nhân nội địa đóng góp đến 60-70%, nếu mạnh thì đến 80-90%. Nhưng ở VN sau trên “30 năm phát triển kinh tế thị trường rực rỡ mà chỉ có 8%”. Một trong những lí do chính là doanh nghiệp tư nhân VN đang bị bạc đãi và chèn ép. Ông dẫn chứng, trong khi các doanh nghiệp FDI chỉ phải chịu mức thuế trung bình là 11% thì các doanh nghiệp VN phải đóng thuế trung bình lên tới 29%, cao hơn gần 3 lần so với FDI![65]

Nói chung lại, trong suốt ba thập niên theo mô hình Kinh thế Thị trường định hướng XHCN sở dĩ các xí nghiệp tư nhân VN không thể vươn lên được vì nhiều nguyên nhân: Bị chế độ toàn trị bỏ rơi và khinh rẻ, bị các DNNN và FDI chèn ép; không được đối xử bình đẳng trong việc tiếp nhận các nguồn lực kinh tế từ vay tiền, lãi suất, thuế vụ tới đất đai. Ngoài ra còn phải thường xuyên bị cán bộ các cơ quan đảng và nhà nước nhũng nhiễu!

  1. Hai trường hợp điển hình về chính sách của Nhà nước CSVN với các công ti FDI

 Nguyễn Xuân Phúc ưu đãi Samsung

Từ tháng 2.17 Lee Jae-yong 49 tuổi, Phó chủ tịch công ti Samsung phải ngồi tù ở Nam Hàn, là người giầu thứ 3 của Nam Hàn với 6,6 tỉ Euro. Ông phải tù 5 năm vì các tội hối lộ, che dấu và khai man. Ông đã hối lộ một số tiền rất lớn cho cựu Tổng thống bà Park để mong sớm trở thành Chủ tịch Samsung. Nhiều cuộc biểu tình của hàng trăm ngàn người ở Nam Hàn phản đối quan hệ bất chính và tệ trạng tham nhũng- hối lộ giữa chính phủ và Samsung. Bà Park cũng bị cách chức Tổng thống. Cha ông là Lee Kun-hee (72t) năm 2009 cũng bị kết án 3 năm tù với các tội tương tự, nhưng không bị ngồi tù; từ 3 năm qua sau khi bị nhồi máu cơ tim trở thành hôn mê nhưng vẫn là Chủ tịch Samsung. Đầu tháng 2. 2018 Tòa án trả tự do cho ông với điều kiện. Tập đoàn Samsung chiếm tới 20% tổng sản lượng kinh tế của Nam Hàn, có 490.000 nhân viên. Trong quí 3/2017 đã đạt lợi nhuận 11,2 tỉ € (12,91 tỷ USD ), cao nhất từ trước tới nay. Dự đoán trong tương lai mức lợi nhuận còn cao hơn nữa.[66]

Trong cuộc gặp TT Nguyễn Xuân Phúc tại trụ sở chính phủ ngày 6.10.17 Tổng giám đốc Samsung Electronics Hàn quốc Shin Jong Kyun đã cho biết, sau 10 năm đầu tư vào VN đến nay tổng vốn đầu tư của Samsung đã lên tới 17 tỷ USD. Samsung dự kiến sẽ xuất khẩu hơn 50 tỷ USD trong năm 2017, chiếm trên 20% kim ngạch xuất khẩu của VN. Ông còn nhấn mạnh, các nhà máy đặt tại VN có quy mô lớn nhất, hiện đại nhất của Samsung.[67] Đây là cuộc gặp lần thứ hai của đại diện Samsung với Nguyễn Xuân Phúc trong năm nay và có lẽ lần này CP xác nhận giành ưu đãi sử dụng đất và thuế nhiều hơn nữa cho Samsung.

Cho tới trước khi cuộc gặp này Samsung đã nhận được nhiều ưu đãi đầu tư từ Chính phủ CS: “Hưởng thuế thu nhập doanh nghiệp 10% trong 30 năm, miễn 4 năm và giảm 50% trong 9 năm tiếp theo”. Ngoài ra, “các địa phương cũng đã giành cho Samsung các ưu đãi về tiền thuê đất, tiếp tục cho Samsung được giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm tiếp theo sau giai đoạn 9 năm đó”.[68] Các đại diện của Samsung vẫn chưa thỏa mãn với các ưu đãi này, nên họ đòi được đãi ngộ cao hơn sau việc gia tăng đầu tư. Trong cuộc gặp TT Nguyễn Xuân Phúc ngày 26.7.17 một đại diện Samsung ở Thái nguyên đã đề cao sự đầu tư của Samsung và cam kết “xuất khẩu hơn 50 tỷ USD trong năm nay”, tương đương với gần ¼ tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.[69]

Với mức kim ngạch xuất cảng gia tăng cao và nhanh như vậy, nên Nguyễn Xuân Phúc có thể dùng nó để phô trương thành tích tăng trưởng kinh tế của VN dưới quyền của ông! Vì thế ông đã hứa với đại diện Samsung là sẽ ra lệnh cho “Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ sớm cấp chứng nhận doanh nghiệp công nghệ cao cho Samsung VN vì đã đạt được các tiêu chí cần thiết”.[70] Sớm nhận được giấy chứng nhận “Doanh nghiệp công nghệ cao” là nỗ lực hàng đầu của Samsung từ lâu. Vì khi đó Samsung sẽ nhận được những ưu đãi cao nhất về đất đai và thuế.[71]

Trong kì họp cuối năm của QH đã có dư luận cho là, việc tăng trưởng quí 3/2017 tăng đột biến lên tới trên 7% là nhờ sự đóng góp quan trọng của hai đại công ti FDI Samsung và Formosa.[72] Có lẽ để giải quyết gánh nặng của nợ công ngày một chồng chất trong khi mức tăng trưởng kinh tế càng đi xuống, nên từ khi làm TT, Nguyễn Xuân Phúc còn dành ưu đãi đặc biệt cho các công ti FDI hơn cả người tiền nhiệm, đặc biệt cho Samsung. Cho nên Samsung đã đầu tư dồn dập vào VN để mở rộng các hoạt động kinh doanh trong năm 2016-2017. Chỉ trong nửa đầu năm 2017, các công ty Samsung đạt doanh thu 27,4 tỷ USD (622.000 tỷ đồng); lợi nhuận sau thuế đạt 3,1 tỷ USD (70.600 tỷ đồng).[73] Nếu tính toàn năm 2017 Samsung đã đạt được lợi nhuận ròng là 5,8 tỉ USD, trong khi ấy chỉ mới phải đóng thuế 186 triệu USD cho nửa năm 2017.

Trong cuộc gặp PTT Vương Đình Huệ ngày 17.11.17 ông Shim Wonhwan, Tổng giám đốc Tổ hợp Samsung VN, cho biết, hiện công ti đã có ba trung tâm sản suất tại VN ở Bắc ninh, Thái nguyên và Sài gòn, tổng số lao động đang làm việc trong các nhà máy của Samsung tại VN là 180.000 người (bao gồm cả 20.000 người làm bảo vệ và nhà ăn). Con số này không kể các nhân viên làm việc trong các đơn vị cung ứng của Samsung.[74] Trong đó số phụ nữ còn trẻ chiếm tới 75% .[75] Như vậy Samsung ở VN đứng thứ hai chỉ sau Samsung mẹ ở Nam Hàn, đồng thời là công ti FDI lớn nhất ở VN. Samsung tại VN tập trung sản xuất máy điện thoại cầm tay tối tân và các máy truyền hình có kĩ thuật cao nhất trên thế giới, xuất khẩu sang khoảng 120 nước.

Samsung hiểu được vai trò cực kỳ quan trọng của họ trong nền kinh tế VN, nên họ đang tìm mọi cách ép chính quyền CSVN phải gia tăng ưu đãi, đồng thời chèn ép công nhân VN. Điều này có thể thấy rõ trong cách đối xử với các đại diện của Samsung của các giới chức cao cấp VN. Vài năm trước các đại diện của Samsung thường gặp trực tiếp Bộ trưởng 4 T và được phổ biến rộng rãi trong các cơ quan báo đảng. Nhưng hiện nay cả TT lẫn Phó TT gặp trực tiếp các đại diện của Samsung. Điều này chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh đã tiên đoán trước đây vài năm, “Chính quyền có những ưu đãi để thu hút Samsung và Samsung có thể đòi các ưu đãi đặc biệt cao hơn mức bình thường vì họ biết vị thế của mình”. [76] Do được miễn và giảm thuế tối đa nên trong những năm qua, Samsung đã “tiết kiệm” được hàng tỷ USD tiền thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp. Với thuế suất rất thấp, VN thực sự đã trở thành “thiên đường thuế” của tập đoàn này. Đây cũng là lý do mà Samsung ngày càng rót nhiều tiền đầu tư cũng như chuyển nhiều hoạt động sản xuất vào VN. [77]

***

Trước những đòi hỏi của phía VN là Samsung nên để các doanh nghiệp VN tham gia, trong cuộc hội thảo “30 năm lan tỏa vốn FDI” 7.10.17 ông Bang Hyun Woo, Phó tổng giám đốc Samsung VN đã nói thẳng, “các sản phẩm của Samsung đang được xuất khẩu đi toàn cầu và những linh kiện mà chúng tôi sử dụng đòi hỏi phải rất tin tưởng, liên quan đến chất lượng vô cùng cao. Nói là doanh nghiệp VN ngay bây giờ có thể tham gia vào chuỗi cung ứng này vô cùng nan giải”. Có lần Samsung còn trách móc là, công nghiệp VN chậm tiến đến mức chưa làm được cả cái ốc! Nhà bình luận Ngô Nhân Dụng đã nhận xét:

“Câu chuyện cái đinh ốc bùng lên trong nước từ tháng Chín. Báo chí đăng tin công ty Samsung điện tử thú nhận cơ xưởng ráp máy điện thoại của họ ở Bắc ninh không tìm ra xí nghiệp nào của người VN có thể cung cấp những cây đinh xoắn trôn ốc, còn gọi là ốc vít.”. Nhưng rốt cuộc, có 67 doanh nghiệp cung cấp các linh kiện cho SEV; đại đa số là các doanh nghiệp của người Ðại hàn, Nhật bản, Singapore, Mã lai. Chỉ có bốn doanh nghiệp VN cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho SEV, mà việc chính của họ là làm bao bì, in ấnÔng Shim Won Hwan, tổng giám đốc Samsung ở VN mới, nói tại một hội thảo ở HN vào tháng Chín vừa qua rằng, “không doanh nghiệp VN nào ‘nắm bắt’ được cơ hội, họ chỉ cung ứng được những sản phẩm in ấn, bao bì!” Còn những thứ “cao cấp” như cái đinh ốc vít, người VN làm không được theo tiêu chuẩn của Samsung! Họ cũng không kiếm mua được những bộ phận “sạc” điện cho cell phone do người VN làm”. [78]

Tới giữa năm 2017 chính báo Infonet của bộ 4T cho biết, mới chỉ có 25 doanh nghiệp VN tham gia chuỗi cung ứng cấp 1 cho Samsung. [79] Nhưng khi giải trình trước Quốc hội tại phiên thảo luận về tình hình kinh tế-xã hội vào 1-11.17, bộ trưởng bộ Công Thương Trần Tuấn Anh đề cập đến vấn đề phát triển công nghiệp hỗ trợ lại cho biết, hiện có khoảng 30 doanh nghiệp cung cấp linh kiện điện tử trực tiếp cho Samsung tại VN và đều là các doanh nghiệp FDI, chứ chưa có bất kỳ doanh nghiệp nội địa nào.[80] Trong khi đó khi làm việc với đại diện Samsung ở Thái nguyên ngày 26.7.17 để xét việc giành ưu đãi thuế đặc biệt cho Samsung Nguyễn Xuân Phúc đã hết lời khen ngợi là, hiện đã có “215 nhà cung cấp là doanh nghiệp VN” và “tỉ lệ nội địa hóa của Samsung VN đạt 57%”.[81] Ông Phúc đưa ra con số cao gấp nhiều lần về việc các doanh nghiệp tư VN tham gia hệ thống xí nghiệp phụ trợ cho Samsung là để có cớ xếp Samsung vào Luật Công nghệ cao? Một điều rõ ràng nhất là, Samsung VN nhập khẩu từ Samsung mẹ ở Hàn quốc hầu như toàn bộ các máy móc và linh kiện điện tử. Đây cũng là lí do chính khiến mức nhập khẩu hàng hóa vào VN của Nam Hàn đã gia tăng rất mạnh trong vài năm gần đây.

Gần 200.000 công nhân VN, đại đa số là phụ nữ trẻ chỉ làm gia công, phải lao động rất vất vả dưới những điều kiện nghiêm ngặt, nhưng lương bổng lại rất thấp. Lê Đăng Doanh đã nhận xét, “năng suất lao động của công nhân VN làm đạt 80% năng suất lao động, trong khi tiền lương chỉ bằng khoảng 10%”. Phần lớn các phụ nữ này đã bỏ quê ra tỉnh để làm công nhân cho Samsung. Cuối tháng 11.17 Tổ chức phi chính phủ Thụy Điển IPEN -một tổ chức phi vụ lợi có uy tín quốc tế, chuyên về bảo vệ sức khỏe và môi trường- phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu giới, gia đình và môi trường trong phát triển ở HN (CGFED), đã công bố Bản báo cáo về điều kiện làm việc của nữ công nhân ở các nhà máy điện tử của Samsung tại VN. Theo báo cáo này, IPEN và CGFED đã phỏng vấn 45 nhân viên Samsung và đưa ra nhận xét:

“Tiếng ồn ở khu sản xuất cao hơn nhiều so với cho phép của VN, tất cả nhân viên được phỏng vấn đều cảm thấy mỏi mệt trầm trọng và chóng mặt, sẩy thai ở người lao động diễn ra thường xuyên..”. Công nhân phải đứng làm việc suốt 8-12 giờ, công nhân mang thai cũng phải lao động như vậy. Nhiều công nhân bị sổ mũi, rối loạn tiêu hóa, đau chân…Báo cáo còn cho biết, hàng ngày công nhân bị Samsung kiểm soát quá nghiêm ngặt, “thời gian nghỉ ngắn và nếu muốn đi vệ sinh thì lại phải được cho phép ra vào đặc biệt”. Báo cáo đưa ra yêu cầu, “phải điều tra bổ sung về việc rò rỉ hóa chất. Bởi người lao động đang làm việc trong môi trường mở tiếp xúc với nhiều loại hóa chất đa dạng nhưng lại không nhận thức được về những rủi ro hóa chất trong công đoạn lắp ráp”. [82]

Ngay hôm sau đại diện Samsung đã lên tiếng phủ nhận các lời cáo buộc trên. Samsung “công nhận có sử dụng hóa chất trong một số công đoạn, nhưng đều áp dụng các biện pháp để công nhân không bị phơi nhiễm nhờ thiết bị thoát khí, cùng việc đeo thiết bị bảo hộ”. [83] Thanh tra của bộ Lao động & thương binh, xã hội cho biết, vào tháng 7.17 đã thanh tra ở hai trung tâm của Samsung ở Bắc ninh và Thái nguyên và cho biết, phụ nữ mang thai từ tháng thứ 7 được nghỉ. Theo Bộ, các cáo buộc khác trong Bản báo cáo của IPEN là “chưa thuyết phục”. Nhưng Bộ xác nhận Samsung đã vi phạm pháp luật về qui chế lao động. “Samsung chia thời gian làm việc thành hai ca. Ca ngày 8-20h, ca đêm từ 20h đến 8h sáng hôm sau và đưa vào nội quy lao động, luân phiên làm việc 4 ngày liên tục sẽ được nghỉ 2 ngày”. Qui định này trái với Luật lao động 2012. Theo đó giờ làm việc không quá 8h/ngày và không quá 48h/tuần; giờ làm việc ban đêm từ 22h-6h sáng hôm sau; giờ làm thêm không quá 30h/tháng, 200h/năm. [84]

Nếu giữ thái độ khách quan và thận trọng thì những lời xác nhận trên của Thanh tra của bộ Lao động & thương binh, xã hội có lẽ mới chỉ là một phần rất nhỏ của sự thực. Vì trong quá khứ đã chứng minh nhiều lần, các cơ quan thanh tra của đảng cũng như chính phủ không thể tin cậy. Như trong các vụ PMU 18, Vinashin và Formosa các cơ quan thanh tra của nhiều cơ quan đã thanh tra, nhưng rốt cuộc đều có báo cáo tốt! Tuy nhiên những điều nêu trong Báo cáo này trái ngược với khen ngợi của Nguyễn Xuân Phúc vài tháng trước. Khi ông thăm công ti Samsung ở Thái nguyên đã nói là, “đời sống công nhân, người lao động ngày càng được nâng cao, trong đó công ty quan tâm đến khu ăn ở, giải trí, lao động nữ…”[85]

***

Không ai phủ nhận công ti Samsung là một trong những công ti điện tử hàng đầu trên thế giới hiện nay. Nó cũng là một trong vài công ti lớn nhất của Nam Hàn và đóng góp phần quan trọng cho sự phát triển và hưng thịnh kinh tế của nước này. Nhưng đó không phải là công lao riêng của Samsung mà còn là cả nửa triệu công nhân của công ti ở Nam Hàn và của nhân dân Nam Hàn nói chung. Trong đó không thể quên được những cuộc biểu tình của hàng trăm ngàn người phản đối chính sách bạc đãi công nhân và hối lộ của các Ban giám đốc công ti này.

Mặc dầu chế độ toàn trị ở VN giành rất nhiều đặc ân để Samsung chỉ trong vài năm trở thành nhà đầu tư FDI lớn nhất hiện nay ở VN kể cả về vốn và kim ngạch xuất khẩu. Nhưng Samsung có thực sự phục vụ phát triển kinh tế VN theo những mục tiêu đề ra của chế độ toàn trị trong việc thu hút FDI vào VN hay không? Đó là để các xí nghiệp VN cùng tham gia trong các khâu sản xuất để nâng cao trình độ kĩ thuật và quản trị, bảo vệ quyền lao động của hàng trăm ngàn công nhân và đóng góp vào sự phát triển kinh tế của VN.

Mặc dầu trong những năm gần đây Samsung ở VN đạt được lợi nhuận hàng năm nhiều tỉ Mĩ kim, phần chính là vì nhà cầm quyền ở trung ương và địa phương đã ưu đãi thuế rất cao từ xuất cảng tới nhập cảng các sản phẩm. Nhưng ngược lại số xí nghiệp tư nhân VN tham gia với Samsung có thể đếm trên đầu ngón tay. Gần 200.000 công nhân, phần lớn là phụ nữ trẻ, phải chịu những điều kiện lao động rất bất lợi, từ lương bổng tới các bảo hiểm xã hội. Nói chung là công ti tư nhân VN chỉ đứng bên lề và công nhân VN chỉ đóng vai làm gia công cho Samsung. Đây là chính sách đem con bỏ chợ của chế độ toàn trị. Nó thể hiện rõ ràng đây là chủ chương đầu cơ đầy rủi ro và rất phiêu lưu.

Những người đứng đầu Samsung nắm bắt được những nhược điểm của những người cầm đầu chế độ toàn trị CSVN là trình độ quản trị kinh tế rất yếu, nền kinh tế đang đứng trước vực thẳm, nhưng chỉ thích đề cao thành tích bề ngoài, cơ chế và cán bộ tham nhũng và bất lực. Vì thế chỉ trong ít năm Samsung đã trở thành trụ cột của kinh tế VN, hiện nay chiếm tới hơn ¼ tổng kim ngạch xuất khẩu của VN. Nhưng trong thực tế những thành công này chỉ đem lại lợi ích riêng rất lớn và rất nhanh cho Samsung. Do sự gia tăng xuất khẩu rất lớn của Samsung nên Nguyễn Xuân Phúc đã hô hoán là kinh tế VN đang phục hồi, đạt tăng trưởng cao nhất sau nhiều năm. Nhưng nếu tính toán nghiêm túc sẽ thấy Samsung không đóng góp quan trọng vào ngân sách quốc gia của VN. Vì Samsung được hưởng các ưu đãi thuế rất cao. Ngoài ra mức xuất khẩu gia tăng thì mức nhập khẩu của Samsung cũng gia tăng rất mạnh.

Tóm lại, mặc dầu những mục tiêu trong việc mời gọi Samsung đầu tư tại VN đã không đạt được, nhưng nhà cầm quyền CSVN vẫn liên tiếp giành từ ưu đãi này tới đặc quyền khác cho Samsung. Sự hoạt động càng bung ra của Samsung càng chứng tỏ có sự tiếp tay của những người có thế lực nhất trong chế độ. Chính các sự kiện này đã dẫn tới câu hỏi, tại sao trong giai đoạn Nguyễn Phú Trọng đang hô hoán đốt lò chống tham nhũng, nhưng một công ti nổi tiểng về hối lộ như Samsung -ngay cả ở chính quốc Nam Hàn- lại đang được nâng đỡ và chiều chuộng hết mức ở VN? Nguy hiểm cực kỳ khác nữa là, nền kinh tế VN đang ngày lệ thuộc nhiều mặt vào một công ti lớn nước ngoài. Điều này có thể dẫn tới những hậu quả rất nguy hại cho cả kinh tế lẫn chính trị VN! Chính sách đối với Samsung nói riêng và với các công ti FDI nói chung từ Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng tới Nguyễn Xuân Phúc không phải là mã tìm mã, nhưng đúng là ngưu tìm ngưu!

Nguyễn Phú Trọng ưu ái Formosa

Tại sao ông Trọng lại đủng đỉnh tới thăm Ban giám đốc Formosa,          

giữa lúc hàng triệu nhân dân là nạn nhân do thảm họa cá chết hoàng loạt?

Ngay từ đầu tháng 4.16 đại diện sở Nông nghiệp-phát triển nông thôn (NN-PTNT) Hà tĩnh cho biết, “cá nuôi ven biển và cá tự nhiên chết bất thường xuất hiện từ ngày 6.4 tại vùng ven biển xã Kỳ lợi và tại xã Kỳ hà, Kỳ ninh (thị xã Kỳ anh) vào ngày 7.4. Ngày 11.4, sau khi công ty Grobest tại xã Kỳ phương (thị xã Kỳ anh) cấp nước biển vào ao nuôi khoảng 6 giờ đồng hồ thì xảy ra hiện tượng tôm nuôi chết hàng loạt. Đến ngày 14.4, ngao nuôi tại 2 xã Kỳ hà và Kỳ ninh tiếp tục bị chết, gây thiệt hại khoảng 4,71 tỉ đồng”.[86] Khi ấy Phó phòng Kinh tế và đô thị thị xã Kỳ anh Nguyễn Thị Thủy cũng cho biết, “địa bàn xã Kỳ lợi xuất hiện cá chết đầu tiên nằm cách cảng Sơn dương của khu kinh tế Vũng áng khoảng 4 – 5 km, còn các xã Kỳ ninh, Kỳ hà cách Vũng áng khoảng 20 km về phía bắc thì tôm, cá chết sau đó một ngày”. [87]

Các địa danh này là khu vực nằm cạnh Khu công nghiệp Vũng áng khổng lồ của công ti Đài loan Formosa Hà tĩnh (FHS). Đến giữa tháng 4 các tin dồn dập cùng những hình ảnh nhiều loại cá lớn nhỏ chết hàng loạt rất khủng khiếp và kinh hoàng suốt mấy trăm cây số dọc duyên hải từ các tỉnh Hà tĩnh, Quảng bình, Quảng trị, Thừa thiên-Huế do chính các báo lề đảng như Tuổi trẻ, Thanh niên, Lao động, Dân trí, VTV, VNNet… phổ biến đã tràn ngập dư luận các tỉnh ven biển miền Trung làm nhân dân rất hoang mang lo lắng. Hàng chục ngàn ngư dân không dám ra biển đánh cá, người dân cả nước không dám ăn cá, dịch vụ du lịch các bãi biển miền Trung thu hút hàng triệu du khách VN và ngoại quốc lo lắng bị mất khách!

Mãi tới ngày 19.4 Tổng cục Thủy sản (Bộ Nông nghiệp – Phát triển nông thôn) mới đến Hà tĩnh kiểm tra về nguyên nhân cá chết và cho biết, “cá chết là do chất độc gây ra nhưng chưa xác định đó là chất gì”.[88] Điều này có nghĩa là phải khẩn trương nghiêm túc điều tra tiếp để tìm ra nguyên nhân gây ra nạn cá chết hàng loạt, tàn phá và hủy hoại môi trường thiên nhiên và de dọa cuộc sống của hàng triệu ngư dân và những người sinh sống bằng dịch vụ du lịch.

Giữa khi ấy báo chí đưa tin, “Tổng bí thư kiểm tra tiến độ dự án Formosa”.[89] Nhiều người nghĩ rằng, vì vừa được tái cử TBT nên Nguyễn Phú Trọng đã nhạy cảm trước nỗi lo sợ và sự bất bình của nhân dân về thăm Hà tĩnh và khu công nghiệp gang thép Formosa để thúc đẩy cuộc điều tra về vụ cá chết hàng loạt. Nhưng thật là thất vọng và sai lầm lớn, ngày 22. 4 Nguyễn Phú Trọng cầm đầu phái đoàn cao cấp của đảng và chính phủ gồm Nguyễn Văn Bình, UVBCT, Trưởng Ban Kinh tế TU; Nguyễn Văn Nên, Bí thư TUĐ, Chánh Văn phòng TU và lãnh đạo nhiều Ban, Bộ, ngành TU về thăm Hà tĩnh. Ông giành toàn thời gian tới thăm khu công nghiệp gang thép và cảng nước sâu Sơn dương Formosa Hà tĩnh. Dự án này rất khổng lồ với mức đầu tư giai đoạn 1 lên tới 10,5 tỉ USD.[90] Ban giám đốc của FHS đã hoan hỉ báo cáo cho Nguyễn Phú Trọng biết, nhà máy sản xuất thép, nhiệt điện, cầu cảng đã bắt đầu hoạt động!

Ban giám đốc FHS còn hãnh diện báo cáo với ông Trọng, từ tháng 12. 2015 FHS đã cho ra lò sản phẩm thép cuộn cán nóng đầu tiên và đến nay đã có hơn 7.000 tấn thép cuộn được xuất ra thị trường trong và ngoài nước. “Dự kiến, tháng 6. 2016 sẽ hoàn thành và đưa vào hoạt động lò cao số 1. Khi đi vào hoạt động, đây sẽ là nhà máy luyện gang thép lớn nhất Đông Nam Á tính đến thời điểm hiện nay”.[91] Nguyễn Phú Trọng và phái đoàn cao cấp rất chăm chú và ngưỡng mộ thành quả kinh doanh của FHS. Trong dịp này tuyệt đối từ Nguyễn Phú Trọng tới các nhân vật cao cấp trong phái đoàn không ai đả động một câu hỏi nào với Ban giám đốc Formosa đến thảm khốc cá chết hoàng loạt đang bùng nổ từ đầu tháng 4 khởi đầu từ cảng Sơn dương thuộc khu công nghiệp Vũng Áng của FHS khiến cho nhân dân cả nước đang lo lắng và bất bình “Cá chết trắng biển miền Trung” ![92] Ông Trọng và phái đoàn cũng không đến thăm các nạn nhân! Tại sao người cầm đầu chế độ CS vẫn vỗ ngực là bảo vệ quyền lợi người lao động, nhưng lại chẳng thèm ngó tới thảm trạng của ngư dân, trong khi ấy lại khen ngợi và vuốt ve tỉ phú Dollar nước ngoài? Chả lẽ người đứng đầu chế độ toàn trị lại không biết thảm trạng môi trường ngay chính nơi ông tới thăm đã diễn ra từ hơn ba tuần?

Chỉ một ngày sau Đinh Thế Huynh, Thường trực BBT và khi đó được coi là kế nghiệp ông Trọng, cũng có mặt tại Quảng trị, không xa Hà tĩnh. Ông đã chỉ họp với lãnh đạo Quảng trị về tình hình kinh tế, xã hội, quốc phòng-an ninh và xây dựng đảng; bàn cả việc tôn tạo, nâng cấp Khu tưởng niệm Lê Duẩn. Ông còn giành thời gian đi thăm Nghĩa trang Trường sơn. Nhưng người đứng thứ hai trong đảng cũng tuyệt nhiên không thèm đả động tới thảm trạng “Cá chết trắng biển miền Trung” và cũng chẳng thèm tới thăm hỏi dân chài, những nạn nhân ở Quảng trị sinh sống ra làm sao từ khi xẩy ra đại nạn cá chết hàng loạt![93]

Ngày 17.4 giữa lúc tiếng than và nỗi bất bình của nhân dân về “Cá chết trắng biển miền Trung”, tân TT Nguyễn Xuân Phúc đã giành chọn ngày thăm Quảng trị, nhưng cũng không có thì giờ đi thăm các nạn nhân ngư dân đau buồn, chỉ giành toàn thời gian thăm Nghĩa trang Trường sơn, Nhà lưu niệm Lê Duẩn và Thành cổ Quảng trị.[94] Việc cố tình chọn những địa chỉ trên tới thăm viếng đã cho thấy ông Phúc vẫn chỉ muốn khơi dậy hận thù giữa các tầng lớp nhân dân mặc dầu đã sau 41 năm “chiến thắng”, thay vì “hòa giải dân tộc” như những lời ngon ngọt trước đây. Ông Phúc cũng cố quên lời khuyên chân thành và thực tế của cố TT Võ Văn Kiệt là, kỉ niệm ngày “giải phóng”“có hàng triệu người vui, nhưng cũng có hàng triệu người buồn”!

Trước nỗi bất bình và lo âu của nhân dân cả nước, vì đâu mà nạn cá chết diễn ra từ cảng Sơn dương của khu kinh tế Vũng áng thuộc Formosa suốt gần ba tuần mà vẫn không tìm ra được nguyên nhân; ngày 25.4 tờ Tuổi trẻ đã có cuộc phỏng vấn ông Chu Xuân Phàm, Trưởng văn phòng Formosa tại HN, về vụ cá chết hàng loạt bắt đầu từ bờ biển Khu công nghiệp Formosa. Ông Phàm đã trả lời thẳng băng:

“Trước khi xây dựng dự án này thì công ty phải xin phép Nhà nước VN. Nhiều khi được cái nọ mất cái kia, đây là tôi nói thật lòng. Hôm nay nhà nước mình muốn cho ngư dân đánh bắt ở đây hay là chọn cái nhà máy thép ở đây, đương nhiên Nhà nước phải có sự cân nhắc. Nếu xả thải thì đương nhiên sẽ thay đổi sinh học ở đây, ở vùng biển quanh đây. Nhưng bây giờ mà nói tôi không thể xây dựng nhà máy thép ở đây mà không ảnh hưởng đến con cá, con tôm. Đương nhiên mình cố gắng làm một nhà máy đạt được tiêu chuẩn quy định của nhà nước. Có khi được cái này thì phải mất cái kia chứ”. Rồi ông đưa ra kết luận rất tỉnh bơ và đầy thách thức, coi việc hàng triệu nhân dân miền Trung đang bị điêu đứng không đáng quan tâm bằng sự tồn tại của Formosa: “Muốn bắt cá, bắt tôm hay nhà máy, cứ chọn đi. Nếu chọn cả hai thì làm Thủ tướng cũng không giải quyết được…”[95]

Tại sao Trưởng văn phòng Formosa tại HN đã có những phát biểu rất phách lối, khiêu khích gây sốc như vậy khi trả lời phóng viên Tuổi trẻ vào sáng 25-4? Có phải chính thái độ rất thờ ơ của TT, vô cảm trước hàng trăm ngàn nạn nhân của tai nạn cá chết hàng loạt; đặc biệt là sự ưu ái tới thăm Ban giám đốc Fomosa ngày 22.4 của Nguyễn Phú Trọng, người cầm đầu chế độ toàn trị, làm họ tin rằng, họ có chỗ chống lưng rất vững chắc, không chỉ ở HN mà còn cả BK nên chẳng ai có thể làm gì Formosa được?

Từ sau trận đánh ngã “Đồng chí X” ông Trọng đang trở thành người hùng nên ai cũng sợ? Vì thế không thèm nhắc tới đại nạn “Cá chết trắng biển miền Trung”, lại đủng đỉnh tới thăm Ban giám đốc Formosa. Thử hỏi như thế thì bọn quan cấp dưới bố bảo không dám nêu đích danh Formosa ra tố. Chính vì thế, Vụ phó Vụ Nuôi trồng thủy sản, bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Phạm Khánh Ly cho biết, “đoàn công tác không vào kiểm tra tại khu công nghiệp Vũng áng được, vì đây là khu công nghiệp có yếu tố nước ngoài, đoàn không có thẩm quyền”.[96] Như vậy Ban giám đốc Formosa đã coi khu công nghiệp của mình giống như sứ quán của một nước bất khả xâm phạm.[97] Họ cho ai vào, làm gì, làm đến đâu trong các công xưởng của họ là quyền riêng của họ. Các cơ quan điều tra của VN nếu có vào cũng chỉ làm những gì họ cho phép mà thôi! Chính vì thế Formosa đã dám nói công khai, “không có bất cứ bằng chứng nào chứng tỏ sự liên can” của công ty trong vụ việc này, và giới chức VN đã “liên tục vào bên trong công xưởng tiến hành kiểm tra hệ thống xử lý nước thải, lấy mẫu nước thải” kể từ 22.4 tới nay, tức là sau chuyến thăm của Nguyễn Phú Trọng!

Chính vì vậy chỉ một ngày sau khi Nguyễn Phú Trọng thăm Formosa, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Vũ Văn Tám cũng nói giống như tin trên đây của Ban giám đốc Formosa. Ông cho biết về kết quả kiểm tra bước đầu, nguyên nhân do môi trường nước, qua phân tích mẫu những chỉ số thì không có gì bất thường trừ một số mẫu ở Huế mang tính cục bộ.[98] Tuyên bố này hoàn toàn ngược lại với nhận định của Sở Nông nghiệp-Phát triển nông thôn Hà tĩnh vào đầu tháng 4 cho biết, “hiện tượng cá nuôi ven biển và cá tự nhiên chết bất thường xuất hiện từ ngày 6.4 tại vùng ven biển xã Kỳ lợi và tại xã Kỳ hà, Kỳ ninh (thị xá Kỳ anh) vào ngày 7.4”. Và cũng trái với sự xác nhận của Phó phòng Kinh tế và đô thị (Kỳ anh) Nguyễn Thị Thủy “địa bàn xã Kỳ Lợi xuất hiện cá chết đầu tiên nằm cách cảng Sơn Dương của khu kinh tế Vũng Áng khoảng 4 – 5 km, còn các xã Kỳ ninh, Kỳ hà cách Vũng áng khoảng 20 km về phía bắc thì tôm, cá chết sau đó một ngày” -như nói ở trên!

Lí do quan trọng khác khiến đại diện Formosa tại HN dám phát biểu khiêu khích “gây sốc” ngày 25.4 là có lẽ họ tin rằng, có cả BK đứng đằng sau. Formosa Hà tĩnh tuy là công ti Đài loan, nhưng trong những năm gần đây tuyển chọn công nhân nước ngoài phần rất lớn là từ TQ. Ngoài ra vốn đầu tư của Formosa mẹ từ Đài loan đang giảm mạnh và nhường cho một số công ti từ TQ. Khi giàn khoan HD 981 xâm nhập trái phép thềm lục địa VN vào giữa 2014 đã xẩy ra va chạm lớn khiến hàng ngàn công nhân TQ đã phải bỏ về nước, nhưng sau đó Nguyễn Phú Trọng đã phải xin lỗi Tập Cận Bình và số công nhân này lại trở lại Formosa làm việc (xem Chương bẩy, IV). Về mặt an ninh quốc phòng, khu vực Vũng áng Hà tĩnh nằm đối diện không xa đảo Hải nam của TQ. Trong kế hoạch bành trướng công khai ngang ngược của BK trên biển Đông thì khu công nghiệp Vũng áng Formosa có thể trở thành tay trong cực kỳ quan trọng khi tình thế cho phép BK ra tay!

Sau phát ngôn gây chấn động, Chu Xuân Phàm đã bị Formosa sa thải để làm dịu dư luận. Nhưng nội dung lời phát biểu của cựu đại diện Formosa đã tự để lộ những hoạt động của công ti này không thèm đếm xỉa gì tới luật pháp VN, vì tin rằng đã có chân trong ủng hộ đang giữ những chức cao nhất. Dùng sức mạnh tiền bạc nhiều tỉ USD trong vài năm vừa qua Formosa có thái độ phách lối và cách hoạt động như kiểu quốc gia trong một quốc gia: “Nếu xả thải thì đương nhiên sẽ thay đổi sinh học ở đây, ở vùng biển quanh đây”, “có khi được cái này thì phải mất cái kia chứ”, “muốn bắt cá, bắt tôm hay nhà máy, cứ chọn đi!” Rõ ràng với tuyên bố trên Formosa đã gián tiếp thừa nhận, thời gian qua Formosa đã xả nước thải với những hóa chất có chất độc cực mạnh làm tàn phá môi sinh trên biển.

Theo tờ Tuổi trẻ thì Tổng cục môi trường xác nhận là, “Formosa có vi phạm khi thực hiện việc súc xả đường ống nhưng không thông báo cho địa phương”. Ngày 25.4 báo này còn liệt kê 45 loại hóa chất Formosa nhập cảng để súc rửa đường ống. Vẫn theo Tuổi trẻ, “GS,TS Lê Huy Bá (chuyên gia độc học môi trường) cho biết nhận định ban đầu của ông về danh sách các loại hóa chất được sử dụng tại Formosa gồm nhiều chất độc và cực độc. Trong đó có các chất chống gỉ, chất làm sạch bề mặt kim loại, chất tẩy”. “Theo quy định, khi súc xả đường ống, Formosa có trách nhiệm phải thông báo cho địa phương việc súc xả đường ống diễn ra từ thời điểm nào tới thời điểm nào, nhưng Formosa không thông báo, cũng không báo cáo các cơ quan ở địa phương về việc súc rửa đường ống”.[99] Tờ VNNet còn cho biết, “1 thợ lặn Formosa tử vong, 5 người nhập viện” khi lặn xuống biển nơi đường ống của Formosa dẫn ra.[100] Tập đoàn Formosa xuất thân từ Đài loan với vốn đầu tư nhiều tỉ USD cũng đã từng vi phạm pháp luật ở nhiều nơi trên thế giới. Ngay ở Đài loan Tập đoàn này cũng đã bị phạt vì gây thiệt hại môi trường. “Chẳng hạn hồi tháng 7.2010, Formosa bị cho là “gây ô nhiễm không khí vùng miền Trung Đài loan” sau một vụ cháy công nghiệp tại nhà máy ở Mai Liao của họ”.[101]

***

Trong khi nhiều cơ quan chính quyền địa phương ngay trong những ngày đầu đã đưa ra những nhận định khá rõ ràng về nguyên nhân đưa đến đại nạn làm cá chết hàng loạt, nhưng suốt trên ba tuần nhiều bộ trưởng, thứ trưởng không chỉ trốn tránh không thực hiện trách nhiệm điều tra nghiêm túc và minh bạch, lại còn tìm cách bao che cho Formosa, hoặc đưa ra những tin và lập luận rất mâu thuẫn nhau, thậm chí cực kỳ ngớ ngẩn. Ba tuần sau đến lượt cá biển ở khu Bình trị thiên-Huế bị chết, tờ Công an nhân dân ngày 26.4 đưa tít “Nước biển vùng cá chết được xác định nhiễm kim loại nặng”: “Chiều 26-4, Sở Tài nguyên&Môi trường tỉnh Thừa thiên- Huế đã có kết quả phân tích mẫu nước lấy tại khu vực đầm Lập an, cửa biển Lăng cô (thị trấn Lăng cô, huyện Phú lộc) vào thời điểm xuất hiện cá chết tràn lan…Riêng các thông số gồm tổng hàm lượng nitơ tính theo amoni (NH4+-N), hàm lượng kim loại nặng crôm (Cr) vượt giới hạn cho phép của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước biển cũng như quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặn. Theo đánh giá ban đầu của cơ quan chức năng tỉnh Thừa thiên- Huế, khả năng chất độc trong môi trường nước gây sự cố cá chết hàng loạt xuất hiện từ vùng biển phía Bắc của tỉnh”.[102]

Nhưng trong cuộc họp báo tối 27.4 thứ trưởng bộ Thiên nhiên và môi trường Võ Tuấn Nhân đã làm trên 200 nhà báo lề phải vừa thất vọng, vừa rất bất bình về thái độ vô trách nhiệm và lấp liếm. Sau cuộc họp kín nhiều tiếng đồng hồ của đại diện nhiều bộ và cơ quan do bộ trưởng Bộ Tài nguyên-môi trường Trần Hồng Hà chủ trì, khiến các nhà báo phải chờ đợi đến cả nửa ngày. Nhưng cuối cùng Trần Hồng Hà đã đẩy thứ trưởng Tài nguyên&Môi trường Võ Tuấn Nhân mở “Buổi họp báo chỉ diễn ra trong 6 phút”. Trong đó ông khẳng định “Formosa vô can”. [103] Sau khi đưa ra 2 giả thuyết về nguyên nhân làm cá biển chết hàng loạt (hóa chất độc và “hiện tượng thủy triều đỏ”), ông Nhân khẳng định: “Đến nay, qua kiểm tra và thu thập chứng cứ, chưa có bằng chứng để kết luận về mối quan hệ liên quan của Formosa và các nhà máy đến vấn đề cá chết hàng loạt. Qua số liệu quan trắc và đánh giá của cả các cơ quan nghiên cứu khoa học, cơ quan quản lý nhà nước có liên quan, môi trường nước biển chưa phát hiện các thông số môi trường vượt quy chuẩn quy định”.[104] Sau đó ông Nhân chuồn mất!

Trong cuộc gặp riêng Võ Tuấn Nhân, tờ Thanh niên đã tường thuật câu hỏi và trả lời của Thứ trưởng này bảo vệ cho Formosa thật là kì lạ:

“ Thưa ông, trong 2 nhóm nguyên nhân thì nhóm thứ nhất nói có thể do độc tố thải ra từ hoạt động của con người, vậy cụ thể độc tố là gì? Có độc tố nào trùng với hơn 40 loại hóa chất mà Formosa được phép nhập khẩu vào VN để súc rửa đường ống không ?

– Chúng tôi chưa phát hiện ra…- Tôi xin khẳng định, về mặt pháp luật, họ vẫn hoạt động đúng theo pháp luật nước ta. Về mặt xả ra môi trường, liên quan đến hiện tượng cá chết hàng loạt ở các tỉnh ven biển miền Trung, đến nay chưa đủ căn cứ để kết luận.

Ông có thể cho biết kết quả phân tích mẫu nước và mẫu cá của Bộ?

– Cái này nói ra phải có căn cứ giấy tờ cụ thể, rất dài, rất nhiều thông số”.[105]

Trong khi giữ thái độ câm và điếc không thông tin chính xác và nguội lạnh trước những bức xúc của nhân dân cả nước, nhưng Võ Tuấn Nhân lại rất thính tai và năng động trước câu hỏi của một nữ phóng viên về tin không tốt cho chế độ, về nguy cơ ngành du lịch có thể bị tê liệt và yêu cầu bà tắt máy ghi âm. Bà hỏi:

“Thưa ông, trong cái kiểm nghiệm gần đây nhất của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thừa thiên – Huế, chỗ có một loạt các bè cá chết, thì họ có nói trong nước kiểm nghiệm ra có kim loại nặng. Vấn đề ở đây là trong thời gian tới, chúng tôi muốn là mình có thể trong một thời gian ngắn, vì mùa du lịch sắp tới rồi, mà cá thì…”

“Nghe tới đây, ông Võ Tuấn Nhân liền khoát tay ra hiệu dừng lại và nói: “Tắt máy. Tắt máy nghe. Xin lỗi. Không, không, để anh nói riêng với em. Đừng hỏi câu đó. Hỏi câu đó tổn hại cho đất nước của mình. Nhá. Em hỏi câu đó làm tổn hại cho đất nước của mình”.[106]

Không chỉ trên 200 nhà báo lề phải hoàn toàn thất vọng về “cuộc họp báo 6 phút” của thứ trưởng Tài nguyên&Môi trường Võ Tuấn Nhân mà nhiều nhà khoa học cũng đã kịch liệt chỉ trích những lời tuyên bố rất lếu láo của ông. GS-TS Vũ Trọng Hồng, nguyên thứ trưởng Bộ Thủy lợi, nói thẳng: “bộ Tài nguyên-Môi trường là cơ quan chức năng được nhà nước giao nhiệm vụ, nhưng kết luận như vậy là không hợp logic diễn biến của vụ việc”.

Nhưng ngày hôm sau trong cuộc họp nội các giả thuyết “thủy triều đỏ” bị bác bỏ. Có lẽ trước sự bất bình ngày càng mãnh liệt của nhân dân về cuộc “Họp báo 6 phút” tối trước, nên TT Nguyễn Xuân Phúc đã vội vàng để bộ trưởng Tài nguyên&Môi trường Trần Hồng Hà phải bay ra Hà tĩnh ngày 28.4 thị sát viêc xả thải của Formosa để nhằm xoa dịu dư luận. Tại đây Trần Hồng Hà đã tuyên bố, “pháp luật VN không chấp nhận việc đặt ống ngầm xả thải”. Như thế ông đã phủ nhận lời của người dưới quyền ông là Thứ trưởng Võ Tuấn Nhân chỉ vài ngày trước. Ngoài ra ông Hà còn nhận khuyết điểm để cuộc điều tra chậm chạp…[107]

***

Tại sao mới chỉ vài năm trước Nguyễn Phú Trọng đã trách móc và rao giảng “đạo đức cách mạng” tại Hội nghị Cán bộ toàn quốc với sự tham dự của trên 1000 cán bộ cao cấp ngày 27.2.12: “ Bây giờ trong Đảng cũng có sự phân hóa giàu – nghèo, có những người giàu lên rất nhanh, cuộc sống cách xa người lao động; liệu rồi người giàu có nghĩ giống người nghèo không? “ và “ người sống trong lâu đài nghĩ khác người ở trong nhà tranh”., “mai kia Đảng này sẽ là đảng của ai?”[108]

 Nhưng chỉ trong vài năm ngồi trong lâu đài quyền lực và hưởng thịt, cá loại ngon, sạch không phải trả tiền, nên lòng Nguyễn Phú Trọng đã nguội lạnh, vô cảm trước ngư dân thất nghiệp chịu cảnh đói rách vì thảm họa cá biển và nhân dân nhiều nơi có thể bị ăn cá và mắm độc. Chẳng những thế ông vẫn đủng đỉnh tới thăm Ban giám đốc tỉ phú Dollar Formosa Hà tĩnh và khen ngợi cách làm ăn của họ, chẳng thèm đoái hoài tới tiếng than ngất trời của dân lành, mặc dầu gần một tháng vẫn không có cơ quan nào của đảng lẫn nhà nước tìm ra nguyên nhân cá chết hàng loạt!

Trong một xã hội pháp trị theo Dân chủ đa nguyên thì khi một cá nhân, tổ chức hay xí nghiệp đang bị điều tra, người có trách nhiệm trong nhà nước không được phép có những hành động gây cản trở hoặc can thiệp công cuộc điều tra. Trong vụ cá chết hàng loạt ở duyên hải nhiều tỉnh miền Trung từ đầu tháng 4 và tập đoàn Formosa đang trở thành đối tượng điều tra của các cơ quan có thẩm quyền. Nhưng người cầm đầu chế độ là TBT Nguyễn Phú Trọng đã cố tình lại thăm và gặp Ban giám đốc Formosa ngày 22.4 và còn khen ngợi thành quả kinh doanh của công ti Đài loan này. Như thế Nguyễn Phú Trọng đã lợi dụng uy quyền riêng để cản trở, làm đình hoãn cuộc điều tra và còn tạo cơ hội để Formosa xóa sạch các tang chứng !

Trong dịp này nhiều tổ chức, nhân sĩ và chuyên viên đã công khai lên tiếng:

“Đây là một tệ nạn chính trị hết sức kinh tởm. Vụ Formosa bộc lộ rõ ràng thói vô cảm và vô trách nhiệm của nhà cầm quyền CS đối với lợi ích quốc gia, cuộc sống dân lành. Nó cũng cho thấy sự bất lực và chậm chạp của cả một hệ thống quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương trước một quốc nạn có tầm mức to lớn chưa từng thấy. Sự chậm trễ ấy đã tạo điều kiện cho nghi can kịp xoá hết dấu tích tội lỗi. Nó cũng hé lộ nhiều thế lực bao bọc nghi can, che giấu sự thật, đánh lừa dư luận qua những phát ngôn đầy hàm ý hay cố mập mờ của một số quan chức cấp bộ lẫn tỉnh và nhất là qua hành vi ủy lạo tinh thần hà hơi tiếp sức của người đứng đầu đảng Cộng sản đối với tập đoàn Formosa đầy thành tích bất hảo”.[109]

Những ngày Chủ nhật trong tháng 5 nhân dân các giới -đi đầu là trí thức, thanh niên và đảng viên tiến bộ- đã xuống đường ở HN, Sài gòn và nhiều nơi khác đòi “Trả lại biển xanh cho chúng tôi, chúng tôi chọn tôm cá”. Mọi người đang đồng thanh đòi:

– Nhân dân muốn biết rõ nhanh và công khai thủ phạm đã gây ra thảm trạng cá chết hàng loạt. Phải chấm dứt ngay những nguyên nhân gây ra thảm họa môi trường!

– Bồi thường thiệt hại cho ngư dân và các cơ sở du lịch!

– Công khai các cơ quan và cá nhân nào đã cố tình làm chậm, làm sai, đánh lạc dư luận và phải chịu trách nhiệm trực tiếp trước nhân dân!

***

Sau thảm trạng môi trường 4 tỉnh miền Trung ba tháng, nhưng tại HNTU 3 vào đầu tháng 7.2016 trong suốt 5 ngày họp đã không có nói tới chủ đề cực kỳ nóng bỏng này. Mặc dầu đây là thảm họa môi trường lớn nhất ở VN, gây thiệt hại sức khỏe, tài sản và môi trường sống trực tiếp cho hàng triệu người dân bốn tỉnh Hà tĩnh, Quảng bình, Quảng trị và Thừa thiên-Huế; đồng thời còn tạo những nguy hại lâu dài về nhiều mặt cho nhân dân cả nước. HNTU này diễn ra sau khi Ban giám đốc Formosa công khai xin lỗi trong cuộc họp báo ngày 30.6. và nhận bồi thường 11.500 tỉ đồng, tương đương 500 triệu USD.[110] Nhưng ở đây Formosa không chỉ là thủ phạm duy nhất, vì nhiều cơ quan Đảng và Nhà nước đã cấp giấy phép đầu tư, hoạt động và kiểm soát công ti Formosa cũng đều là thủ phạm. Vì chính các cơ quan này đã lơ là và vô trách nhiệm trong các lãnh vực phụ trách, nên đã để cho Formosa làm ăn như một vua con trong vùng. Trong cuộc họp báo ngày 30.6 các Bộ trưởng đã cố tình tránh né không làm rõ cơ quan và người phải chịu trách nhiệm.[111]

Trong khi ấy các cuộc biểu tình của nhiều giới vào ba cuối tuần từ đầu tháng 5.16 với các khẩu hiệu “Cá cần nước sạch”, “Nước cần minh bạch” đã bị công an mật vụ chế độ toàn trị ngăn cấm, đàn áp và chụp mũ. Trong cuộc họp báo ngày 30.6 lần đầu tiên các quan chức hiện diện xác nhận, Formosa là thủ phạm gây ra thảm trạng môi trường ở miền Trung; nhưng cùng lúc họ lại vẫn kết án gay gắt những cuộc biểu tình của nhân dân đòi Formosa phải sớm công khai minh bạch về nguyên nhân dẫn tởi thảm trạng môi trường. Dịp này Trương Minh Tuấn, Bộ tưởng 4 T vẫn chụp mũ: “Tôi cũng nói thẳng rằng, có thế lực thù địch đã lợi dụng tình trạng cá chết này để công kích sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, thậm chí kích động để gây mất trật tự công cộng, gây bất an trong nhân dân”.[112]

Mãi hơn nửa năm sau thảm trạng môi trường 4 tỉnh miền Trung, ngày 17.10.16 trước các “đại biểu cử tri” tại Ba đình, Hoàn kiếm, tức những đảng viên ngoan ngoãn chỉ biết xu nịnh và bốc thơm, Nguyễn Phú Trọng đã không sợ bị chất vấn nên đã bộc lộ:

“Trước kia chúng ta kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu, nên bây giờ chúng ta phải trả giá”.[113]

Lời xác nhận trên của người cầm đầu chế độ toàn trị đã nhìn nhận cung cách suy nghĩ, quyết định và hành động công việc nước theo lối ăn xổi ở thì, bóc ngắn cắn dài, xuất phát từ bệnh kiêu ngạo quyền lực, không cần nghe ý kiến của các chuyên viên cũng như nhân dân. Lời xác nhận này có khác nào như người chủ nhà đã xây nhà mà không xây cầu tiêu, không lập hệ thống dẫn nước thải! Xây nhà máy sản xuất thép không tính tới chất thải độc hại! Xây hàng trăm đập thủy điện không tính tới việc đồng ruộng mất nước, nhân dân thiếu nước sinh hoạt, nhưng khi mưa lũ lại trở thành đại họa cho nhân dân! Bất kể tới lời can ngăn của cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhiều tướng lãnh và chuyên viên những người cầm đầu chế độ toàn trị đã cho BK xây các nhà máy khai thác Bauxit ở Tây nguyên từ năm 2009 bất kể tới hậu quả môi trường và an ninh quốc phòng! Nay tới Formosa!

Đây là sự thông minh hay chính là sự ngu dốt và thái độ kiêu ngạo quyền lực của Nguyễn Phú Trọng và các đại quan đỏ trong BCT? Chính Phạm Văn Đồng, TT đầu tiên và lâu đời nhất của chế độ toàn trị đã phải nhìn nhận là, sự ngu dốt và thái độ kiêu ngạo quyền lực của những người cầm đầu đã gây ra những hậu quả thảm khốc cho nhân dân trong giai đoạn đó.

Tình trạng này hiện nay còn tệ hại hơn, ngay Nguyễn Phú Trọng đã phải nhìn nhận! Ông Trọng còn nói “bây giờ chúng ta phải trả giá”. Nhưng “chúng ta” ở đây là ai? Có phải Nguyễn Phú Trọng và các đại quan trong BCT và TUĐ đang sống vương giả và ngồi trong những biệt thự an toàn ? Chính thái độ ăn xổi ở thì và bệnh kiêu ngạo quyền lực của họ đã dẫn tới công ti Formosa gây thảm họa môi trường cho bao nhiêu triệu nhân dân bốn tỉnh miền Trung từ đầu tháng 4. 2016 và đang phải hứng chịu cảnh thất nghiệp, bệnh tật và đói nghèo. Họ chia sẻ sự cơ hàn với nhân dân như thế nào?

Khi thảm họa môi trường do Formosa gây ra sau mấy tuần hàng triệu nhân dân điêu đứng lo âu, nhưng TT Nguyễn Xuân Phúc, Thường trực BBT Đinh Thế Huynh khi đi qua những vùng này vẫn ngoảnh mặt làm thinh; còn người cầm đầu chế độ toàn trị Nguyễn Phú Trọng lại đủng đỉnh tới thăm hỏi và khen ngợi Ban giám đốc Formosa và chẳng thèm màng tới nạn nhân của Formosa! Còn Chủ tịch nước Trần Đại Quang thì trước sau vẫn im thin thít. Trong buổi QH khai mạc Kì họp thứ 2 ngày 20.10.16 Ủy viên BCT, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) -cánh tay dài của ĐCS- Nguyễn Thiện Nhân cho biết, “đến nay vẫn chưa có cơ quan, tổ chức và cá nhân nào trong hệ thống quản lý Nhà nước có liên quan đứng ra nhận lỗi và chịu trách nhiệm”.[114] Mặc dầu Nguyễn Xuân Phúc vẫn lớn tiếng là “Chính phủ phục vụ”! Rõ ràng là thái độ cao ngạo quyền lực từ cấp lãnh đạo trở xuống!

Nếu tứ trụ Nguyễn Phú Trọng, Trần Đại Quang, Nguyễn Xuân Phúc và Nguyễn Thị Kim Ngân thực tình nghiêm túc với chính mình, khi đối chiếu với những tiêu chuẩn cao vòi vọi để chọn lựa cán bộ cao cấp mà chính họ đã đưa ra trong HNTU 11 (5.15) thì chính họ phải thấy hết sức rõ ràng là, họ đã hoàn toàn vô trách nhiệm trước thảm họa môi trường do Formosa gây ra!

“Kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu!” Lời nhìn nhận trên của TBT Nguyễn Phú Trọng có tầm quan trọng đặc biệt. Nó bạch hóa lối suy nghĩ cực kỳ thiển cận và phong thái hành động vô trách nhiệm của những người có quyền lực cao nhất trong chế độ toàn trị khi quyết định mời gọi các công ti nước ngoài đầu tư vào VN. Đây là những quyết định ở cấp cao nhất là BCT và BBT và được sự cố vấn của các Ban trong đảng và các Bộ trong CP. Các quyết định liên quan tới chương trình FDI nói chung, đặc biệt các công trình FDI có vốn đầu tư cao mang tầm vóc chiến lược, không chỉ có ý nghĩa thuần kinh tế, mà nó còn liên hệ trực tiếp tới nhiều lãnh vực chính trị, an ninh-quốc phòng, kĩ thuật, môi trường và sức khỏe của nhân dân.

Nhưng khi để Formosa đầu tư cả chục tỉ USD vào VN, Bộ chính trị đã quyết định theo tiêu chuẩn nào? Nguyễn Phú Trọng đã trả lời: “Kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu”. Như vậy là các tỉ Dollar đã làm họ chóa mắt, nên đã vội vàng nhắm mắt bỏ qua các yếu tố cực kỳ quan trọng khác là an ninh-quốc phòng, kĩ thuật, môi trường và sức khỏe của nhân dân. Như vậy khi quyết định mời Formosa vào đầu tư, những người có quyền lực trong BCT đã đặt sự tồn tại của chế độ và cái ghế của chính họ, ích kỉ cá nhân lên hàng đầu. Chỉ mong càng có nhiều Dollar vào càng nhanh càng tốt! Chương trình FDI là một chủ trương rất lớn được đề cao trong các ĐH đảng, nhưng trong thực hành thì BCT đã vô trách nhiệm cùng cực, hoàn toàn không có một kế hoạch đúng đắn và khoa học để tạo những lợi ích thực sự cho đất nước và tránh những hậu quả tai hại cho nhân dân. Chính điều này người cầm đầu chế độ toàn trị Nguyễn Phú Trọng đã công khai xác nhận như trên!

Nay trong khi hàng triệu người dân phải hứng chịu hậu quả do thảm họa môi trường, phải trả giá bằng thất nghiệp, bệnh tật mà nguyên do từ những quyết định sai lầm và thái độ cực kỳ vô trách nhiệm của BCT, đứng đầu là Nguyễn Phú Trọng. Nhưng khi nhân dân đòi những người có quyền lực đã tiếp tay gây ra thảm họa môi trường phải có những chính sách đền bù thích đáng và biện pháp nghiêm khắc với Formosa, thì bọn quan độc ác này đã không biết ăn năn, không chịu xin lỗi, lại còn cho báo chí và chính quyền địa phương chụp mũ xuyên tạc, cho công an ngăn cản và đe dọa “không bảo đảm an ninh cho người đi khiếu kiện”[115] Chẳng những thế Nguyễn Phú Trọng còn để công an giam giữ và tòa án nhân dân bỏ tù nhiều người đi biểu tình! Họ phục vụ đất nước, bảo vệ quyền lợi nhân dân, hay đã tự chuyển biến xấu chỉ lo phục vụ quyền lợi riêng cho chính mình, nên đã sẵn sàng bảo vệ các nhà đại tư bản nước ngoài? Nếu còn lương tâm có lẽ ông Trọng nên đọc bài thơ của cô giáo Trần Thi Lam ở Hà Tĩnh đã sáng tác vào dịp này: “Đất nước mình ngộ quá phải không anh?”

“Đất nước mình buồn quá phải không anh

 Biển bạc, rừng xanh, cánh đồng lúa biếc

 Rừng đã hết và biển thì đang chết

 Những con thuyền nằm nhớ sóng khơi xa..”.

http://nhathothaiha.net/wp-content/uploads/2016/04/dat-nuoc-minh-ngo-qua-phai-khong-anh-tin8-5.jpg

Chỉ trong 20 câu thơ không chỉ trách móc những người có trách nhiệm với đất nước đã làm cho nhân dân phải đói khổ, nhục nhằn, môi trường bị tàn phá, còn bị khinh rẻ và đàn áp. Bài thơ còn nhắc nhở mỗi cá nhân, trước những nguy vong của đất nước phải can đảm cùng nhau gánh vác trách nhiệm làm thay đổi tình hình. Bài thơ “Đất nước mình ngộ quá phải không anh?” là lời gọi rất chân thành và thúc giục mọi người, mọi giới hãy can đảm cùng nhau lên đường làm nhiệm vụ của người công dân VN là làm lại lịch sử, đưa dân tộc ta tới quang vinh trong Thế kỉ 21!

  1. Mô hình phát triển theo “Kinh tế Thị trường

             định hướng Xã hội chủ nghĩa”

Kết quả thực tiễn: Doanh nghiệp Nhà nước thua lỗ, lãng phí nguồn ODA,         bùng nổ nợ công, tham nhũng và lợi ích nhóm

Trong suốt thời kì từ 1986 tuy đề cao là “đổi mới” trong kinh tế, nhưng sợi chỉ đỏ trong các lãnh vực công nghiệp trước sau vẫn là DNNN. Trước đây thường được gọi là Quốc doanh. Nay vì tình thế bất đắc dĩ nên phải nhìn nhận sự hiện diện của các loại kinh tế tư nhân VN và FDI; tuy nhiên trước sau hệ thống DNNN được xếp vào thành phần tối ưu và giữ trọng trách “chủ đạo”, tức là làm nền tảng cho các hoạt động kinh tế. Chính sách này có thể ví như một con bạch tuộc. Trong thời hùng mạnh nó vươn các chân tới mọi hang cùng ngõ hẻm, nay yếu sức nên phải rút chân ra một số nơi, nhưng vẫn quyết bám chặt ở những địa bàn hiểm yếu. Cách thay đổi nhỏ giọt và trong điều kiện ngặt nghèo như thế thể hiện tư duy và tâm lí vẫn như cũ của một số người có quyền lực liên quan tới các hoạt động kinh tế. Ở đây là chủ nghĩa Marx đầy thành kiến đối với các sinh hoạt kinh tế của tư nhân, đặc biệt thành phần tư bản. Ở đây cũng là tuân thủ tư tưởng giành và giữ quyền lực độc quyền cho ĐCS của Lenin đã thực hiện ở Nga và Liên Xô cũ trước đây và được HCM vận dụng vô điều kiện trong việc cướp và giữ chính quyền độc quyền cho ĐCS từ 1945. Điều này phản ảnh tâm lí không tin dân và không dám nhìn nhận những thành công không thể chối cãi của nhiều quốc gia đã từ bỏ các DNNN và trao lại các hoạt động kinh tế cho nhân dân.

Căn cứ vào các Nghị quyết của các ĐH và các Luật về DNNN, hệ thống DNNN có nhiệm vụ vừa hướng dẫn vừa kiểm soát toàn bộ sinh hoạt kinh tế và trực tiếp dưới quyền lãnh đạo của ĐCS, trong thực tế là BCT và BBT. Các bộ và cơ quan của CP có nhiệm vụ thi hành các quyết định của BCT trong các DNNN. Nhờ vậy, hệ thống DNNN giữ vai trò như một bộ máy tuần hoàn trong cơ thể truyền dinh dưỡng, dưỡng khí và máu cho các bộ phận. Nó còn giữ nhiệm vụ cực kỳ quan trọng là định hướng và kiểm soát nền kinh tế trong cái khung của một chế độ toàn trị. Muốn như vậy thì hệ thống DNNN phải nắm các động mạch chính của nền kinh tế-tài chánh. Như hệ thống ngân hàng, các lãnh vực công nghiệp liên quan tới quốc phòng, an ninh như truyền thông (báo chí, điện thoại…), chế tạo vũ khí, khai thác quặng mỏ, dầu khí, xây dựng các hạ tầng cơ sở như đường xá, cầu cống, phi trường, hải cảng và các trung tâm điều phối nông, lâm, thủy sản…

Mục tiêu và quan điểm này đã được trình bày trong nhiều ĐH từ 1986. Nó thể hiện rõ hơn trong ĐH 8 (1996) khi họ đưa ra chủ trương đầy tham vọng là, công nghiệp hóa, hiện đại hóa với kinh tế tri thức để “đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp”. [116] Đặc biệt nó được định nghĩa và xác định lãnh vực hoạt động rất rõ ràng trong Báo cáo Chính trị tại ĐH 9 (2001):

“Kinh tế nhà nước phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Doanh nghiệp nhà nước giữ những vị trí then chốt; đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế – xã hội và chấp hành pháp luật”.[117]

Những người cầm đầu Đảng khi ấy đã đưa ra tham vọng rất cao là, KTNN không chỉ giữ “chủ đạo” trong việc tạo mặt vật chất làm phương tiện thiết yếu để bảo vệ chế độ; cả về mặt chất lượng và đạo đức nghề nghiệp, các DNNN còn là những đơn vị kinh tế có trình độ công nghệ kĩ thuật hàng đầu, năng suất lao động cao và tạo ra được những sản phẩm có chất lượng tốt. Không những thế, vẫn theo tham vọng của họ, sự hoạt động của các DNNN không chỉ đem lại sự phồn vinh cho xã hội mà còn làm gương mẫu trong việc “chấp hành pháp luật”! Họ đã vẽ ra một bức tranh tuyệt vời về Kinh tế Nhà nước (KTNN) xuyên qua các DNNN! Khi nuôi tham vọng cực kỳ cao này họ đã ngủ mơ, nhưng cũng có thể họ đã quá tự tin theo tâm lí kiêu ngạo CS, bất kể các qui luật khoa học và bất chấp cả những kinh nghiệm thất bại từ các mô hình Nhà nước làm kinh tế trong thời kì trước đây ở VN cũng như ở nhiều nước CS trước đây.

Để thực hiện giấc mộng kê vàng này, trong ĐH 9 họ quyết định thành lập các Tập đoàn kinh tế từ sự sát nhập các Tổng công ti và công ti DNNN:

“Trong 5 năm tới, cơ bản hoàn thành việc củng cố, sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động các doanh nghiệp nhà nước hiện có, đồng thời phát triển thêm doanh nghiệp mà Nhà nước đầu tư 100% vốn hoặc có cổ phần chi phối ở một số ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng. Xây dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế”. [118]

Mô hình Tập đoàn kinh tế bắt chước các Cheabol của Nam Hàn. Có lẽ ý tưởng này được thành hình sau các cuộc đi thăm Nam Hàn của nhiều chính trị gia cấp cao của đảng, đặc biệt là Đỗ Mười vào năm 1995. Sự phát triển nhanh chóng và cức mạnh của nhiều Cheabol Nam Hàn đã gây cho họ những ấn tượng mạnh. Vì thế họ cũng muốn thành lập một số Tập đoàn kinh tế như những “quả đấm thép” trong kinh tế. Chủ trương này dựa trên Luật DNNN năm 2003. [119] Theo Điều 9 của Luật này, việc thành lập các Tập đoàn và Tổng công ti cũng như bổ nhiệm các Ban quản trị các DNNN thuộc quyền TT và các Bộ. Như thế các cơ quan CP như một cơ quan tổng chỉ huy KTNN, đặt trực tiếp dưới quyền TT. Đấy là mặt tổ chức nhân sự.

Chế độ toàn trị còn giành những ưu đãi đặc biệt cho DNNN cả về vốn tư bản, đất đai và các tài nguyên. Các DNNN được sử dụng ngân sách quốc gia, được vay tiền của các ngân hàng với lãi suất rất thấp, có quyền phát hành (bán) trái phiếu ở trong và ngoài nước với sự bảo lãnh của Nhà nước, không phải trả tiền đất để xây các xí nghiệp, được hưởng ưu đãi quan thuế trong việc xuất nhập khẩu sản phẩm, chỉ phải đóng thuế mức rất thấp so với các doanh nghiệp tư. Quan trọng khác nữa, các DNNN được độc quyền sử dụng các nguồn vốn ODA, tổng số lên tới 78 tỉ USD trong gần ba thập niên qua.

Với việc hưởng các ưu đãi và độc quyền đó, có thể ví các DNNN như những đứa con cưng của một tỉ phú, vừa có tiền bạc lại đầy quyền lực, được nuông chiều đủ thứ, lại còn được bảo vệ không ai dám đụng chạm tới, kể cả pháp luật! Các cậu công tử này đâu cần phải học hành, đâu cần phải lao động, chỉ việc ngồi mát ăn bát vàng! Đây không phải là chuyện giả tưởng hay bức tranh siêu thực, nhưng lại là một sự thực 100% suốt mấy thập kỉ ở VN dưới chế độ toàn trị!

Độc quyền trong chính trị đã tác hại nguy hiểm như thế nào ở nhiều nước. Độc quyền cả chính trị lẫn kinh tế còn gây thiệt hại khủng kiếp hơn nữa cho người dân. Hình ảnh kinh tế kiệt quệ, nhân dân sống trong nghèo khổ, trong khi cán bộ trung và cao cấp hưởng giầu sang và tham nhũng ở cựu Liên Xô và Đông Âu cho tới cuối thập niên 80 không ai có thể quên được.

Tại VN sự độc quyền của các DNNN đã tiêu giệt yếu tố cạnh tranh, khiến toàn bộ kinh tế không thể vươn lên được. Vì cạnh tranh lành mạnh là yếu tố tối cần thiết để thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế tiến lên, đồng thời bảo vệ các quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng. Nhưng ở VN trong khi các doanh nghiệp tư bị chèn ép thì các DNNN ngồi chơi xơi nước, lãng phí tiền bạc, tài nguyên và thời gian! Vào cuối 2013 các tập đoàn và tổng công ti nhà nước chiếm thị phần áp đảo trong toàn bộ kinh tế. Như Tập đoàn Điện (bao gồm EVN và PVN) chiếm 80% thị phần, Tập đoàn Than và khoáng sản 98%, Tập đoàn Dầu khí 100%, Tập đoàn vận tải đường sắt (100%), Tổng công ti hàng không VN (61,4%), Tập đoàn viễn thông (gồm VNPT và Viettel) (81,5%).[120]

Số liệu tài chính tổng hợp của các Tập đoàn và Tổng công ti Nhà nước

(tỉ đồng)[121]

Năm 2006 2007 2010 2011 2013
Tổng tài sản có 751.698 767.151 1.799.317 2.093.907 2.639.916
Tổng tài sản nợ 751.698 767.151 1.799.317 2.093.907 2.639.916
Vốn chủ sở hữu 317.647 406.975   653.166   727.277 1.044.769
Các khoản phải trả 419.991  51.904 1.088.290 1.292.400 1.514.915
–                      Dài hạn 226.478 262.061   604.191
–                      Ngắn hạn 193.933 256.979   688.202
Doanh thu 504.253 625.027 1.488.273 1.577.311 1.709.134
Lợi nhuận trước thuế  56.083  67.404    16.291   135.111   181.530
Thua lỗ     1.116     5.823
Số doanh nghiệp (đơn vị)      95      95       85       91      108
Tỉ lệ nợ/vốn chủ sở hữu     1,4      1,3       1,7      1,8      1,45

Số liệu này không bao gồm Vinashine

Nguồn: Bộ Tài chính (dẫn tại Matheson, 2013, tr. 7; Thời báo VN, 2014)

Dưới những điều kiện của chế độ toàn trị, mọi quyết định từ chính trị, kinh tế, pháp luật tới văn hóa xã hội chỉ là quyết định của một số người có quyền lực trong BCT. Trên họ không còn ai hết, không có những cơ chế kiểm soát công khai và nghiêm túc, không có báo chí độc lập và hệ thống một xã hội dân sự độc lập. Nên những người này có thể ban bố các chính sách, đạo luật theo ý muốn của họ và khi cần thiết có thể giải thích tùy tiện, vo tròn, bóp méo và thậm chí làm vô hiệu hóa các luật pháp hay quyết định trước đây của chính họ, nếu thấy rằng nó bất lợi hay nguy hiểm cho địa vị và quyền lực của họ. Điều này càng dễ xẩy ra khi đụng chạm tới quyền-tiền, hai động lực có sức lôi cuốn rất mạnh thúc đẩy lòng tham của con người, nhất là những người có điều kiện biến quyền lực thành tiền bạc, hoặc dùng tiền bạc để mua quyền lực!

Cách tổ chức và điều hành của hệ thống DNNN, nhất là từ gần hai thập niên vừa qua với việc ra đời các tập đoàn và tổng công ti nhà nước, là những dẫn chứng cụ thể rõ rệt nhất về sự liên hết như hình với bóng của quyền lực và tiền bạc dưới chế độ toàn trị ở VN. Các giám đốc và hội đồng quản trị (hội đồng thành viên) của các tập đoàn và tổng công ti nhà nước do TT chỉ định. Các cơ quan này có quyền hành rất lớn trong mọi quyết định liên quan tới hoạt động của tập đoàn và tổng công ti. Từ việc chọn lựa nhân sự then chốt, đầu tư, vay tiền, gọi thầu tới việc liên kết kinh doanh với bên ngoài. Họ đều là những cán bộ có thế lực, nhưng hầu như không có kiến thức và kinh nghiệm quản trị các công ti lớn. Một khi quyền nhiều, nhưng trách nhiệm rất ít thì dễ sinh ra lạm dụng những gì có lợi cho bản thân, gia đình và vây cánh. Từ đó dẫn tới những lãng phí hàng trăm, hàng ngàn tỉ đồng, tự do xà xẻo các công trình. Muốn làm giầu bất chính nhanh và gọn gàng thì phải lập phe cánh che chở và bảo vệ lẫn nhau. Qua đó sẽ hình thành các nhóm lợi ích. Vì quyền lợi ích kỉ, các nhóm này sẽ lợi dụng quyền lực kết hợp với nhau ngay từ giai đoạn soạn thảo các kế hoạch có lợi cho phe cánh của mình.

Trong vụ PMU 18 thứ trưởng Giao thông vận tải Nguyễn Việt Tiến cùng cánh vế với bộ trưởng Giao thông vận tải Đào Đình Bình đã lôi kéo cả con rể TBT Nông Đức Mạnh vào làm. Nhờ vào uy quyền lớn nên họ đã được giao nhiều dự án xây dựng hạ tầng với số vốn cả hàng ngàn tỉ đồng từ nguồn ODA và lập ra các công ti con làm sân sau để thân nhân và vây cánh thao túng. Sự thỏa hiệp đen tối quyền lực và chia chác tiền bạc trong vụ Vinashin lại càng khủng khiếp hơn nữa. Nguyễn Tấn Dũng dùng uy quyền TT để giao cho người đồng hương Phạm Thanh Bình làm Giám đốc Vinashin, được Ngân hàng Nhà nước cung cấp vốn cả hàng trăm ngàn tỉ đồng, đẻ ra hàng trăm công ti con, đầu tư vào những công trình ngoài cả lãnh vực đóng tàu thủy, như mở cả ngân hàng và công ti du lịch…Sau nhiều năm làm ăn thua lỗ khổng lồ lên tới cả gần 100.000 tỉ đồng, nhưng Nguyễn Tấn Dũng vẫn bình chân như vại. Hai người có quyền lực nhất khi ấy là Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng đã ngấm ngầm thỏa hiệp với nhau hai ghế TBT và TT, như đã trình bày trong Chương sáu, XI.

PVN và vụ án Đinh La Thăng

Tập đoàn đầu khí VN (Petro VN, PVN) là một công ti Nhà nước lớn nhất. Năm 2015 đạt tổng doanh thu là 293.439 tỉ đồng, đóng góp vào NSNN là 93.000 tỉ đ. trong tổng số thu NSNN là 911.100 tỉ đ.; nghĩa là chiếm tới gần 12% tổng thu của NSNN.[122] Như vậy PVN đóng một vai trò rất quan trọng trong toàn bộ nền kinh tế VN. Năm 2017 PVN khai thác 15,52 triệu tấn dầu thô, 9,89 tỉ m³ khí; sản xuất 20,58 tỉ kWh điện, 1,65 triệu tấn phân đạm, 6, 24 triệu tấn xăng dầu. [123]

Theo Quyết định 924-QĐ-TTg ngày 18.6.2010 đây là Tập đoàn độc quyền trong khai thác, vận chuyển, chế biến, lưu trữ dầu hỏa và khí đốt; ngoài ra còn độc quyền các dịch vụ về dầu khí ở trong và ngoài nước. Quyết định trên còn giành cho PVN độc quyền kinh doanh, phân phối các sản phầm dầu khí và các nguyên liệu hóa chất dầu khí; xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị và sản phầm dầu khí; khảo sát, thiết kế, xây dựng, khai thác, sửa chữa các công trình, phương tiện phục vụ dầu khí dân dụng. Không những thế PVN còn có quyền đầu tư, sản xuất, chế biến, kinh doanh nhiên liệu sinh học, điện và phân bón; đầu tư khai thác than và khoáng sản tại nước ngoài. Đặc biệt nữa, PVN còn được hoạt động kinh doanh cả những lãnh vực ngoài dầu khí, như: đầu tư, kinh doanh bất động sản; kinh doanh khách sạn, du lịch; đầu tư, khai thác, kinh doanh các cảng, vận tải biển, sông và hàng không và đường bộ…[124]

Như thế cho thấy PVN không chỉ là một “vua” trong lãnh vực dầu khí mà còn bao thầu cả trong nhiều lãnh vực khác! Từ khi trở thành tập đoàn lớn nhất, PVN trong nhiều năm liên tiếp đã “sai phạm rất nghiêm trọng” trong việc sử dụng vốn, đầu tư hàng chục ngàn tỉ đồng vào nhiều lãnh vực nhưng không có hiệu quả, phải nằm đắp chiếu và thua lỗ. Nhất là dưới thời Đinh La Thăng làm Giám đốc và Bí thư đảng ủy Tập đoàn PVN (2005-2011) và các người kế vị những năm sau này. Như trong Thông báo của Ủy ban Kiểm tra TU ngày 27.4.17 do Trưởng ban và UVBCT Trần Quốc Vượng công bố.[125]

Khi đó là thời có nhiều quyền lực của các UVBCT, như TT Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng (CTQH và TBT), Nguyễn Sinh Hùng (Phó TT thứ nhất và CTQH, Trương Tấn Sang (Trưởng ban Kinh tế TU, Thường trực BBT và CTN), Tô Huy Rứa (Trưởng ban Tuyên giáo và Trưởng ban Tổ chức), Nguyễn Xuân Phúc (Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng CP, Phó TT)…Điều vô cùng ngạc nhiên là, mặc dầu đã xẩy ra nhiều sai phạm rất nghiêm trọng trong suốt nhiều năm, nhưng Đinh La Thăng vẫn trở thành ngôi sao sáng chính trị liên tiếp trên 10 năm: Là UVTU từ khóa 10 (2006), sau khi thôi Giám đốc PVN lại lên nắm chức bộ trưởng Giao thông vận tải (2011-16), UVBCT Khóa 12 và Bí thư Thành ủy thành phố HCM (tới tháng 5.17), đại biểu QH các khóa 11-14 (tới 5.17).

Vì vậy một số câu hỏi rất quan trọng được nêu ra trong các hoạt động sai phạm rất nghiêm trọng của PVN, từ thời Đinh La Thăng làm giám đốc và cả những người kế vị, nhưng tại sao vị thế chính trị của ông vẫn lên như diều trong thời gian rất dài đến cả chục năm liên tiếp? Vì nó hoàn toàn đi ngược lại những tiêu chí chọn lựa và giao phó công việc cho “những cán bộ cấp chiến lược” theo HNTU 11 Khóa 11 (5.15) dưới quyền Nguyễn Phú Trọng đã đề ra:

“Kiên quyết không để lọt vào BCHTU những người có một trong các khuyết điểm, như: Bản lĩnh chính trị không vững vàng, không kiên định đường lối, quan điểm của Đảng, có biểu hiện cơ hội chính trị, nói và làm trái Cương lĩnh, đường lối, nguyên tắc của Đảng; tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, vận động cá nhân, tư tưởng cục bộ, phe cánh, lợi ích nhóm… tham nhũng, tiêu cực lớn …không chấp hành sự điều động, phân công của tổ chức; kê khai tài sản không trung thực, có biểu hiện giầu nhanh, nhiều nhà, nhiều đất, nhiều tài sản khác mà không giải trình rõ được nguồn gốc” [126]

Ông Trọng đã từng nhấn mạnh, công tác cán bộ là then chốt của các then chốt. Chả lẽ suốt thời gian rất dài như vậy Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Sinh Hùng, Tô Huy Rứa và Nguyễn Xuân Phúc….ở những địa vị cao như vậy cả trong đảng lẫn chính phủ lại không biết rõ những sai phạm nghiêm trọng trong PVN và Đinh La Thăng?

Phải phân biệt ở đây một số trường hợp: Nếu họ không biết những gì đã xẩy ra tại PVN thì chứng tỏ họ không đủ khả năng đảm nhiệm các trọng trách. Nhưng nếu biết mà không dám nói, chứng tỏ họ làm bù nhìn. Không những thế, nếu biết những cán bộ cao cấp đã làm những “sai phạm rất nghiệm trọng” như Đinh La Thăng mà không dám cách chức lại còn cất nhắc, chứng tỏ họ càng vô trách nhiệm và chỉ lo củng cố quyền lực, chểnh mảng nhiệm vụ, không cương quyết bảo vệ tài sản của đất nước và quyền lợi của nhân dân!

Nắm các địa vị quan trọng trong đảng và chính phủ, họ phải chịu trách nhiệm chính trị, trách nhiệm về pháp luật và lương tâm đạo đức, vì đã để cho Đinh La Thăng và nhiều cán bộ cao cấp trong PVN hoạt động sai phạm nghiêm trọng liên tiếp trong nhiều năm. Do đó đúng ra Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng và các UVBCT đầy quyền lực nêu trên phải công khai nhận trách nhiệm chính trị trước nhân dân và phải xin từ chức. Không những thế, họ còn phải chịu trách nhiệm về mặt luật pháp đối với những thiệt hại cực lớn cho ngân sách quốc gia và các tài sản của nhà nước.

Họ chủ trương DNNN làm chủ đạo và giành nhiều ưa đãi, lại không có cơ chế luật pháp nghiêm minh, không có báo chí độc lập theo dõi, có khác nào như mời cán bộ tham nhũng thả cửa hôi của. Vì thế tập đoàn PVN là doanh nghiệp nhà nước lớn nhất đã có thể dễ dàng làm thất thoát hàng trăm ngàn tỉ đồng trong nhiều năm. Sự hoạt động của các tập đoàn, trong đó có PVN, thuộc quyền của BCT và CP, trong đó hai người đứng đầu là TBT Nguyễn Phú Trọng và TT Nguyễn Tấn Dũng phải là hai người chịu trách nhiệm cao nhất cả về mặt chính trị lẫn mặt pháp luật. Vì các nghị quyết của các HNTU và quyết định của CP đều qui định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của tập thể cũng như cá nhân phụ trách. Chính Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng đã nhiều lần tuyên bố, cơ quan nào để xẩy ra lãng phí và tham nhũng nghiêm trọng thì người đứng đầu cơ quan phải chịu trách nhiệm trước đảng và nhân dân!

Riêng trường hợp của Nguyễn Phú Trọng, một mặt ông trương cờ với những tiêu chí thật cao trong việc lựa chọn cán bộ cấp chiến lược vào cấp cao nhất. Như “Ủy viên BCT, BBT phải là những đồng chí thật tiêu biểu của Ban chấp hành trung ương (BCHTU) về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, ý chí chiến đấu, năng lực lãnh đạo quản lý” và không “tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, vận động cá nhân, tư tưởng cục bộ, phe cánh, lợi ích nhóm”.[127] Nhưng mặt khác, chính ông lại dùng các thủ đoạn để giành cho riêng mình được xếp vào “trường hợp đặc biệt”, đồng thời cô lập Nguyễn Tấn Dũng bằng cách mua chuộc những thân tín của ông Dũng, trong đó cho Đinh La Thăng vào BCT và Bí thư Thành ủy thành phố HCM.

Nhưng sau khi đã nắm vững ghế TBT thêm một nhiệm kì thì ông liền ra tay thanh toán những đối thủ để trừ hậu hoạ, thậm chí đưa cả đối thủ ra xét xử theo những bản án đã định sẵn. Thủ đoạn nham hiểm này không làm sạch bộ mặt của ông Trọng, mà chỉ bôi đen thêm. Một người nổi tiếng lợi dụng địa vị để tham nhũng quyền lực trong suốt hơn thập kỉ vừa qua thì không thể chống tham nhũng quyền lực và tiền bạc được. Tay đã nhúng chàm! Vì tham nhũng quyền lực và tham nhũng tiền bạc như bóng với hình, chúng nương tựa nhau, bảo vệ nhau. Đây mới là nguy cơ của mọi nguy cơ đưa chế độ toàn trị từng bước nhưng chắc chắn rơi sâu xuống vực thẳm! Quyền và tiền như đổ dầu vào lửa. Tới một thời điểm thích hợp không còn xa, những quan tham nhũng quyền lực và tham nhũng tiền bạc không thể chung sống và cũng không thể nhượng bộ nhau!

Tại HNTU 5 Khóa 12 (5-10.5.17) Đinh La Thăng đã bị cách chức UVBCT và Bí thư Thành ủy thành phố HCM. Trong diễn văn khai mạc Hội nghị Nguyễn Phú Trọng đã đưa ra câu hỏi về tình trạng ngày càng thua lỗ và tham nhũng trong các DNNN: “Vì sao những hạn chế, yếu kém nêu trên đã được chỉ ra từ lâu nhưng qua nhiều nhiệm kỳ đến nay tình hình vẫn chậm chuyển biến, thậm chí có mặt còn trầm trọng hơn?”

Là người cầm đầu BCT thì đúng ra, Nguyễn Phú Trọng phải là người tiêu biểu nhất “của BCHTU về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, ý chí chiến đấu, năng lực lãnh đạo quản lý”. Đây là những điều kiện chính ông đã đặt ra làm nguyên tắc chọn người vào BCT! Nhưng các DNNN đã được BCT dưới quyền của ông cho tung hoành hoạt động suốt bao nhiều năm qua, nay Nguyễn Phú Trọng lại làm bộ ngây thơ đặt câu hỏi, “vì sao” các DNNN đi đến nông nỗi như ngày hôm nay! Điều này chứng tỏ Nguyễn Phú Trọng đã đóng kịch giả bộ, làm như người mù lòa không nhìn thấy nguyên nhân; hoặc thừa nhận vai trò bất lực, chỉ ngồi làm bù nhìn như ông bình vôi, càng già, càng ngồi lâu, càng tồi!

Giả vờ quên thực tế, bỏ qua những chuyện tầy đình trước sau vẫn là thái độ và mánh lới cực kỳ lươn lẹo của người cầm đầu chế độ toàn trị. Chính khi BK gia tăng chính sách bành trướng và thôn tính ở biển Đông, Nguyễn Phú Trọng đã gạt phăng và nói tỉnh bơ tại QH, “tình hình biển Đông không có gì mới!”. Hay khi xẩy ra thảm trạng môi trường cá chết trắng trên bãi biển miền Trung do công ti Formosa gây ra thì Nguyễn Phú Trọng vẫn thản nhiên lại thăm Ban giám đốc công ti này và sau đó lại còn nói tỉnh bơ như một người bàng quang: “Trước kia chúng ta kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu!”

Đối với những người hiểu biết và có lương tri không ai có thể hiểu được những lời tuyên bố trên thật vô cùng lạ lùng như thế. “Bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, ý chí chiến đấu, năng lực lãnh đạo quản lý” của người cầm đầu chế độ toàn trị là như thế!!! Chính điều này Nguyễn Phú Trọng đã đưa ra làm tiêu chuẩn để chọn lựa và đánh giá các UVBCT !!!

***

Tổng kết lại, phân tích cặn kẽ và nghiêm túc về thái độ, hành động và tư duy diễn tiến từ ĐH 6 (1986) tới ĐH 12 (2016) của những người cầm đầu toàn trị từ Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông đức Mạnh đến Nguyễn Phú Trọng có thể tóm lược là: Tuy miệng luôn luôn phải nói “đổi mới”, nhưng trong thâm tâm vẫn tin tuyệt đối vào chủ nghĩa Marx-Leninn và đi theo con đường của Bác đã chọn. Theo họ, đó là “sáng suốt” và “uống nước nhớ nguồn”, không phản bội người khai sáng và những thế hệ đã hi sinh, như thế là vừa khôn ngoan, vừa giữ được đạo lí của người đi sau! Bất đắc dĩ phải thay đổi một vài điều ở lãnh vực này hay lãnh vực khác chỉ là vì tình thế theo tiêu chí “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”!

Trong đó trước sau họ vẫn không thèm đoái hoài tới nguyện vọng và khát vọng rất chính đáng và bức thiết của nhân dân là hòa giải dân tộc thực sự để Bắc-Nam cùng nhau phát triển nội lực, để xây dựng lại quê hương từ đống tro tàn do bạo lực, hận thù từ những cuộc chiến tranh tàn khốc và giai giẳng để lại, tiến lên thành một quốc gia giầu mạnh, nhân dân được hưởng hạnh phúc, sống có nhân phẩm và tự do dân chủ! Họ cũng không thèm đếm xỉa tới những thay đổi sâu sắc của thế giới sau khi Liên Xô sụp đổ, các nước CS Đông Âu tan dã và TQ trỗi dậy trở thành tân đế quốc đang đe dọa trực tiếp VN, các nước trong khu vực và thế giới!

Trên đây là nền tảng căn bản về thái độ, cách hành động và tư duy của những người cầm đầu chế độ toàn trị suốt trên 30 năm qua. Trong đó hai nhân vật có trách nhiệm cao nhất là Đỗ Mười và Nguyễn Phú Trọng, vì họ đã và đang nắm độc quyền lâu và tàn bạo nhất!

Họ không đủ trình độ kiến thức, sự sáng suốt cần thiết và thái độ chân thành đáng lẽ ra phải có, để nhận ra và hiểu rằng, mỗi thời đại phải có những cái nhìn mới, những bước đi thích hợp; nếu người đi trước làm sai thì thế hệ sau phải có trách nhiệm và can đảm thay đổi. Châm ngôn VN có câu “con hơn cha là nhà có phúc”! Cũng với tinh thần này, đáng lẽ ra họ phải dứt khóat chấm dứt sự dối trá, lừa đảo và từ bỏ những ý thức hệ đã bị thực tiễn chứng minh là sai lầm; đồng thời thực tâm chọn con đường mới để kiến thiết đất nước và gây dựng hạnh phúc cho nhân dân. Đấy mới chính là sáng suốt, biết đền bù tương xứng những sự hi sinh của bao nhiêu triệu người đã từng tin vào họ.

Nhưng vì quá giáo điều nên họ đã không nhận ra được sự tiến hóa rất chính đáng và tự nhiên của nhân loại. Khi xã hội bộ lạc-du mục không còn thích hợp thì chuyển sang chế độ định cư, lập làng xã, chọn cách tổ chức thích hợp để xây dựng xã hội mới. Khi chế độ phong kiến trở thành lạc hậu và tàn bạo, cản đường tiến hóa của nhân dân thì quyết giã từ nó; khi chế độ toàn trị theo Marx-Lenin đã bị thực tế phủ nhận thì nếu sáng suốt, họ phải quyết chuyển sang DCĐN, tôn trọng các giá trị con người, khuyến khích những sáng tạo và tham gia tích cực của mọi thành phần.

Vì bảo thủ mù quáng nên họ vẫn cố giữ thái độ và tư duy cũ đã lỗi thời và hoàn toàn sai lầm. Vì thế họ đã cấm đoán, đàn áp đảng viên và nhân dân nói khác, nghĩ khác và hành động khác. Họ sẵn sàng tiếp tục sử dụng cả dối trá, tàn bạo, thậm chí cả nhân danh người đã khuất để biện minh cho các hành động cực kỳ sai lầm và độc ác. Đến khi bị kẹt cứng (khi Liên Xô sụp đổ) họ lôi cả HCM làm lá chắn để bảo vệ quyền lực và tiền bạc cho cá nhân, gia đình và vây cánh!

Công thức để thực hiện “đổi mới” suốt trên 30 năm qua chỉ loay hoay trên thái độ và tư duy cũ. Đó là: Chủ nghĩa Marx-Lenin + Đi theo con đường của Bác đã chọn. Họ bắt mọi người phải tin theo và làm như họ. Thậm chí còn ra lệnh cho các nhà khoa bảng XHCN không được suy nghĩ khác và phải khẳng định rằng, chỉ có CNXH theo Marx-Lenin như Bác đã chọn là đúng muôn đời! Đỗ Mười đã ra lệnh như vậy. Cựu CTN Nguyễn Minh Triết từng hô “bỏ Điều 4 Hiến pháp là tự sát”. Nguyễn Phú Trọng đã ngạo mạn phán rằng, “đi lên CNXH là nguyện vọng của nhân dân” và mạt sát các trí thức và chuyên viên đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp là “suy thoái đạo đức”!

Chính vì vậy từ Đỗ Mười tới Nguyễn Phú Trọng, là hai người chính nắm quyền trên 30 năm qua, phải dựng lên bộ máy công an trị hà khắc và sử dụng trí trá, độc ác, giả nhân giả nghĩa để tham nhũng quyền lực và tiền bạc cho chính họ và phe nhóm!

Sử dụng những thủ đoạn và phương pháp gian trá, độc đoán để thực hành các ý thức hệ sai lầm và những hành động cực kỳ mù quáng và tàn bạo suốt trên 30 năm qua đã chứng minh rất rõ ràng: Họ đã tự đánh mất tư cách, cực kỳ vô trách nhiệm đối với đảng viên và nhân dân, kể cả với hàng triệu người đã hi sinh. Vì thế sự cầm quyền và tồn tại của họ và phe nhóm là hoàn toàn bất chính, phản lại nguyện vọng chính đáng của nhân dân và đi ngược với trào lưu của thời đại!

______________________________

Thân mời đọc tiếp Chương kết: Các nguyên nhân, người chịu trách nhiệm và hậu quả của “Đổi mới” lừa bịp.

Chương cuối: Phải dứt khoát đoạn tuyệt với chủ nghĩa Marx-Lenin, mọi người quyết phá rào cản độc tài, cùng nhau đứng lên nắm lấy cơ hội kiến tạo một Nước Việt Nam MớiNhững điều nên nhớ, nên tránh và nên làm!

Và Mục lục toàn bộ sách và lời Dẫn nhập.

Ngày 6.12.2019 Thủ tướng Đức bà Merkel đã tới viếng các nạn nhân tại Trại tập trung Auschwitz (Ba Lan). Nơi đây, trong Thế chiến thứ 2 dưới chế độ Quốc xã, Hitler tôn thờ chủ nghĩa quốc gia cực đoan, đã giết hại trên 1,1 triệu người. Tại đây bà Merkel đã đọc một diễn văn quan trọng. Trong đó, cũng như hai Thủ tướng Đức trước, bà đã đề cao lương tri và tinh thần trách nhiệm của người lãnh đạo một Nước Đức Mới. Đó là tôn trọng những giá trị dân chủ và pháp quyền, dám can đảm nhìn nhận thẳng thắn những tội ác của chế độ độc tài Hitler. Một số đoạn rất đáng chú ý (lược dịch):

“Hôm nay tại đây, đứng trước quí vị, nói với tư cách là Thủ tướng Đức, tôi thấy thật không dễ dàng. Tôi cảm thấy cực kỳ xẩu hổ trước những tội ác dã man, những gì đã diễn ra do người Đức đã hành động. Những tội ác này đã vượt qua tất cả những gì có thể hình dung được. Thật là khủng khiếp về những gì mà phụ nữ, đàn ông và trẻ em đã phải trải qua ở đây…Vì từ ngữ nào có thể diễn tả nổi sự đau buồn đến như thế, khiến bao nhiêu người đã bị hành hạ, đày ải và thủ tiêu?…Nhưng im lặng không được phép là câu trả lời duy nhất của chúng tôi. Nơi đây ràng buộc trách nhiệm chúng tôi, phải cảnh thức hồi tưởng. Chúng tôi phải nhớ lại những tội ác đã diễn ra ở đây và phải nói đúng tội danh của nó!…

Nhớ lại những tội ác, vạch rõ thủ phạm và trân trọng tưởng nhớ tới các nạn nhân. Đó là trách nhiệm không bao giờ chấm dứt. Trách nhiệm này không thể nào san sẻ được, nó liên hệ trực tiếp tới đất nước tôi. Ý thức trách nhiệm này là bổn phận của chúng tôi, nó là phần liên đới chặt chẽ tới hình ảnh của đất nước chúng tôi, đó là một thái độ tự nhiên của một xã hội có ý thức và tự do, cùng với dân chủ và tôn trọng pháp quyền”. (Bundeskanzleramt, 6.12.19)

Sau khi chế độ Hitler tan rã, nước Đức đã can đảm và kiên tâm đấu tranh trở thành một Nước Đức Mới – Trước hết là ở Tây Đức. Từ một đống tro tàn, hận thù với các lân bang, Tây Đức đã mau chóng chỉ sau khoảng hai thập niên, đối nội đã trở thành quốc gia tân tiến, tôn trọng các giá trị dân chủ, tự do, pháp trị của một xã hội Dân chủ đa nguyên (DCĐN). Đối ngoại Tây Đức đã xóa hận thù với các lân bang, là thành viên tích cực trong Liên minh Âu châu (EU). Biết chọn Hoa Kỳ làm đồng minh khiến Liên Xô (cũ) không dám đụng tới. Nhờ thế, cuối cùng Đông Đức đã thống nhất với Tây Đức không tốn một viên đạn từ trên 30 năm nay. Nay Nước Đức Mới là cường quốc kinh tế thứ ba, thứ tư trên thế giới, các công dân được quyền hành xử các quyền tự do căn bản và xã hội phồn vinh.

***

Còn VN từ sau Thế chiến Thứ hai thì như thế nào? Nhờ lòng yêu nước và sự đấu tranh của nhân dân nên chế độ thực dân đã chấm dứt. Nhưng thay vì để lương tri hướng dẫn thực hiện dân chủ và tôn trọng tự do thực sự cho mọi người, thì Hồ Chí Minh đã vội nuốt lời hứa. Sau khi nắm quyền ở miền Bắc ông đã dùng những thủ đoạn cực kỳ gian xảo để buộc chặt đất nước trong chủ nghĩa Marx-Lenin, coi là “đũa thần”; lấy bạo lực, đấu tranh giai cấp, đàn áp các người khác chính kiến là những tiêu chuẩn giá trị trong xã hội.

Vì thế đã diễn ra cuộc nội chiến dài tàn khốc và dã man chưa từng có trong lịch sử dân tộc, với sự tiếp tay từ bên ngoài. Bao nhiêu triệu người cùng là đồng bào máu mủ đã bị giết hại trên các chiến trường Nam-Bắc. Hàng trăm ngàn người bị bị đấu tố, nhục hình, bắt con cháu tố cáo cha mẹ, ông bà. Hàng triệu người bị giam cầm trong các trại tập trung, trại cải tạo, trở thành thuyền nhân phải bỏ thân quyến và quê hương ra đi! Cao điểm của chính sách tàn bạo chưa từng có trong lịch sử dân tộc là từ 1975, khi chế độ toàn trị toàn thắng ở miền Nam!

Những tội ác khủng khiếp như vậy đối với chính đồng bào ruột thịt của mình chẳng khác những tội ác tày trời của Hitler với người Do thái. Nhưng cho tới hôm nay chưa có một nhân vật nào đương quyền của CSVN dám can đảm công khai nhìn nhận và xin lỗi trước nhân dân. Trái lại, trước sau họ vẫn phản ứng theo quán tính, tiếp tục ngụp lặn trong độc tài, đàn áp và tham nhũng; vì thế đã bỏ lỡ nhiều cơ hội canh tân đất nước!

***

Đúng vào dịp này 33 năm trước, số phận chế độ toàn trị và cả những người cầm đầu nó đang rơi vào thế cực kỳ hiểm nguy, như sợi chỉ treo ngàn cân. Bên ngoài Bắc kinh tiếp tục dùng chiến tranh gây áp lực ở biên giới phía Bắc và tiếp tay Pol Pot để CSVN bị sa lầy. Không những thế, VN còn bị Hoa Kỳ (HK) và các nước Tây phương phong tỏa thương mại và tẩy chay ngoại giao. Nguy hiểm nữa là Liên Xô khi đó, mụ đỡ tinh thần và vật chất cho CSVN, cũng đang rơi vào tình trạng tổng khủng hoảng. Giữa khi ấy ở trong nước nạn đói khủng khiếp không kém thời 1945, tiền Đồng bị mất giá với nạn lạm phát phi mã 700-800%. Nhân dân bất mãn. Cán bộ, đảng viên mất niềm tin.

Vì thế đúng vào những ngày này 33 năm trước, tại Đại hội 6 (15-18.12.1986) Trường Chinh thề thốt “Lấy dân làm gốc”, Nguyễn Văn Linh long trọng tuyên bố “Đổi mới hay là chết”! Sau đó họ còn hồ hởi tuyên bố “Cởi trói” cho người cầm bút và tôn trọng quyền phản biện của các chuyên viên và trí thức. Từ Hội nghị Đại biểu toàn quốc 1.1994 Đỗ Mười đã hứa đưa VN tới năm 2020 trở thành một nước công nghiệp! Nay Nguyễn Phú Trọng cũng hô hoán như thế. Nhưng hơn ba thập niên sau, mặc dầu Liên Xô đã tan rã, chủ nghĩa Marx-Lenin đã bị vất vào sọt rác, nhưng dịp kỉ niệm 100 năm chế độ Xô-viết người cầm đầu chế độ Nguyễn Phú Trọng vẫn còn ngủ mơ, lảm nhảm nói sảng rằng: “Tinh thần Cách mạng Tháng 10 và những thành quả lịch sử cũng như những cống hiến to lớn của nhân dân các dân tộc trong Liên bang Xô-viết đối với loài người mãi mãi không bao giờ phai mờ, mãi mãi sẽ còn ghi đậm trong tâm trí của mọi người có lương tâm trên toàn thế giới”. (Diễn văn của Nguyễn Phú Trọng tại lễ Kỉ niệm 100 năm Cách mạng Tháng 10 Nga (1917-2017), Nhân dân 5.11.17)

Nay đất nước đang chuyển sang năm 2020. Nhưng sau 33 năm gọi là “Đổi mới” đó, VN đang đứng ở vị thế nào? Trí thức được mở miệng? Các quyền căn bản của nhân dân được tôn trọng? Việt Nam đã trở thành một nước công nghiệp tiên tiến, hay đang trở thành bãi rác chứa chất thải độc hại do các công ty nước ngoài và các doanh nghiệp nhà nước tự do thải ra? Các quan đỏ nắm quyền lực đang phục vụ nhân dân, hay chỉ lo tham nhũng đất đai và tiền bạc? Biển đảo và toàn vẹn lãnh thổ được bảo vệ, hay đang để người “Bạn” Tập Cận Bình của Nguyễn Phú Trọng cày nát biển Đông?

Giữa lúc triều đại Tập Cận Bình cổ súy chủ nghĩa tân đế quốc theo đuổi tham vọng “Thực hiện giấc mộng vĩ đại cùa Trung quốc”, khiến nước này đang như con hổ đói. Tại Hội nghị cấp cao kỷ niệm 70 năm thành lập NATO (3-4.12.2019) ở London, mặc dù còn có nhiều khác biệt, nhưng NATO đã chính thức coi chính sách tăng cường hải quân-không quân và uy hiếp biển Đông của Cộng sản Trung quốc (TQ) là một “thách đố” nghiêm trọng tới an ninh thế giới!

Nhưng mới đây Nguyễn Phú Trọng lại vẫn nhu nhược và ngờ nghệch cho công bố “Sách trắng Quốc phòng 2019” với chính sách 4 không: “Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nuớc này để chống nuớc kia; không cho nuớc ngoài đặt căn cứ quân sự, hoăc sử dụng länh thổ Vit Nam để chống lại nuớc khác; không sử dụng vũ lực hoc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan h quốc tế”. (tr. 25, QPVN 2019).

Tại Diễn đàn Hương sơn ở Bắc kinh (BK) lần thứ 9 ngày 21.10.19 trước sự hiện diện của bộ trưởng quốc phòng nhiều nước và các chuyên viên quốc tế, trong diễn văn khai mạc Bộ trưởng Quốc phòng Trung quốc Ngụy Phượng Hòa đã lập lại quan điểm của Tập Cận Bình: Biển Đông là “phần không thể tách rời của lãnh thổ Trung quốc”. Trong khi đó cũng tại Hội nghị này, Bộ trưởng Quốc phòng CSVN Ngô Xuân Lịch không dám phản bác thẳng thắn chính sách đế quốc của Ngụy Phương Hòa, nhưng lại ấp úng, chỉ lập lại chủ trương 4 không và kêu gào những điều hoàn toàn không có thực trong quan hệ giữa hai nước: “Trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và phát huy truyền thống đoàn kết, hữu nghị, những vấn đề còn tồn tại trong quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc cần được kiên trì xử lý theo tinh thần thỏa thuận cấp cao giữa lãnh đạo hai nước” (BBC,VOA, Reuters 22.10.19).

Chẳng những thế ngày 10.12.19 Đại sứ TQ Hùng Ba còn được mời tới Học viện Chính trị Quốc gia HCM “giảng bài cho lớp đào tạo cán bộ quy hoạch cấp chiến lược Việt Nam”. Trong đó ông đã lên tiếng như chỉ bảo cho 100 học viên là Ủy viên Trung ương tương lai sẽ nắm giữ các chức vụ then chốt tại Đại hội 13 vào đầu năm 2021: “Là nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo, hai nước Trung-Việt có con đường phát triển tương tự, tiền đồ và vận mệnh tương quan, việc tăng cường giao lưu kinh nghiệm quản lý Đảng và quản lý đất nước giữa hai Đảng trong tình hình mới có ý nghĩa chiến lược quan trọng!” (đài Bắc kinh 14.12.19)

Từ tháng 7.2019 bá quyền BK lại ngang ngược cho mấy chục tàu hải quân TQ cày nát biển Đông, thuộc khu vực lãnh hải của VN. Trong khi nhiều tổ chức xã hội dân sự, nhân sĩ, trí thức, thanh niên và cả đảng viên tiến bộ đòi phải đưa những đòi hỏi sai trái và ngang ngược của BK ra kiện tại Tòa án Quốc tế, thì Nguyễn Phú Trọng lại ra lệnh báo chí xuyên tạc và bôi nhọ, và để công an đe dọa khủng bố và bắt giam nhiều người dân chủ! Đồng thời không cho phép Quốc hội (QH) được công khai thảo luận về sự xâm lấn của BK! Vì thế trong khi đất nước đang phải đối diện đương đầu với chủ trương bành trướng xâm lược hiện nay của Tập Cận Bình thì việc thực hiện chính sách quốc phòng-ngoại giao 4 không này, rõ ràng không phải là “ngăn địch từ xa” mà chính là mời kẻ thù vào nhanh hơn, thả cửa cho con hổ đói Trung quốc lộng hành. Do đó chính sách quốc phòng-ngoại giao 4 không này sẽ dẫn tất yếu tới cái không thứ 5, đó là không bảo vệ được chủ quyền biển-đảo, tài nguyên và quốc phòng của VN!

Những người cầm đầu chế độ toàn trị cũng không dám nhìn thẳng vào thực trạng tang thương của đất nước và cơ cực của nhân dân, do chính những sai lầm và tàn bạo do họ gây ra. Nguyễn Phú Trọng đã từng mở miệng: “Dân chủ như thế là cùng”“Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”. Nhưng giữa khi ấy hình ảnh 39 thanh thiếu niên VN bị chết đông lạnh trong các container trên đường đi tìm cuộc sống mới đã làm thế giới bàng hoàng và đau buồn về một nước đang phải sống dưới chế độ đứng đầu về chà đạp nhân quyền, kìm kẹp báo chí!

Sau 33 năm đổi mới giả hiệu, chế độ toàn trị độc tài gian ác tưởng như vẫn vững chắc. Nhưng thực sự nó đang biến dạng từ chế độ độc tài của một đảng trở thành chế độ độc tài cá nhân với sự tiếp tay và thỏa hiệp giữa một số nhóm lợi ích với các đại gia đỏ đang thao túng chính trị, chiếm đất vàng, xây biệt điện và tham nhũng tiền bạc. Họ đang dùng quyền-tiền để buôn bán và tham nhũng, từ thượng tầng trong Bộ chính trị, Trung ương đảng, các Ban trong đảng, các Bộ trong chính phủ tới các thành ủy, tỉnh ủy trên toàn quốc. Sự tha hóa đạo đức cùng cực của tầng lớp cán bộ có quyền đã khiến số đảng viên bất mãn ngày càng gia tăng, khinh bỉ thành phần lãnh đạo. Vì thế Nguyễn Phú Trọng đã phải ra Quyết định số 102/QĐTW 15.11.17 cực kỳ phản động: “Đảng viên sẽ bị kỉ luật bằng hình thức khai trừ, nếu đòi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập”, “xã hội dân sự”, “đa nguyên, đa đảng”; bôi nhọ lãnh tụ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước”.

Hiện nay chính người cầm đầu chế độ Nguyễn Phú Trọng lại tiêu biểu nhất về tha hóa đạo đức trong thao túng quyền lực. Ông Trọng thề thốt “nhốt quyền lực”, “nêu gương”, “minh bạch” … nhưng các lần lấy phiếu tín nhiệm lại không dám công bố kết quả. Các lớp “đào tạo cán bộ cấp chiến lược” đã cài cắm gần 200 cán bộ sẽ được đưa vào Trung ương đảng Khóa 13 (đầu 2021) để nắm giữ các chức vụ chủ chốt trong Đảng và Chính phủ (CP), nhưng lại giấu nhẹm danh sách những người này, chỉ có Nguyễn Phú Trọng và những người trong phe nhóm biết! Từ nhiều năm nay do đầu óc cực kỳ bảo thủ và suy thoái đạo đức, nên ông Trọng đã tự xếp mình là “người đặc biệt” cực kỳ tham nhũng quyền lực. Vì thế mặc dầu từ gần một năm nay tuy bị bệnh nặng, không còn đủ sức khỏe để đảm đương việc nước, đang phải nhờ người dìu, sắp trở thành ngọa long hoàng đế đỏ, nhưng vẫn cố bám cả hai ghế Tổng bí thư (TBT) và Chủ tịch nước (CTN)!

***

Nói cho cùng, trong chính trị có nhiều loại người lãnh đạo, nhưng trong đó có hai loại người cầm quyền nổi bật nhất. Những người lãnh đạo biết dùng lương tri để hướng dẫn tri thức và hành động để xây dựng hạnh phúc cho nhân dân và đưa đất nước đi lên. Và những người cầm đầu chỉ lấy gian xảo và tàn ác làm kim chỉ nam cho các hành động của mình để xây dựng và bảo vệ quyền lực và tiền bạc bất chính!

Nước Đức đã đổi mới, đã thay đổi toàn diện và triệt để là do dứt khoát biết thay đổi chế độ chính trị. Từ chế độ Quốc xã độc tài, tôn thờ chủ nghĩa dân tộc cực đoan, nhưng từ sau Thế chiến Thứ hai đã dứt khoát chọn và thực hiện chế độ Dân chủ đa nguyên. Còn tại VN chế độ độc tài vẫn ngự trị và áp dụng chủ nghĩa sai lầm Marx-Lenin, nên trước sau không thể đổi mới được. Đây là một sự thực không ai có thể phủ nhận được. Từ Đại hội (ĐH) 6 (12.1986) tới nay 5 đời TBT Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh và Nguyễn Phú Trọng đã lừa đảo nhân dân và đảng viên, trương cờ “Đổi mới”, nhưng thực tình họ vẫn là những người độc tài, tôn thờ chủ nghĩa Marx-Lenin đã bị lịch sử vất vào sọt rác!

Đây là kết luận qua những dẫn chứng rất cụ thể và rõ ràng trong sách nghiên cứu “Việt Nam “Đổi mới”?! Hay: Treo đầu dê, bán thịt chó” !” trên 700 trang vừa phát hành ở Hoa Kỳ. Trong đó xuyên qua 11 chương, tác giả đã phân tích và dẫn chứng theo phương pháp khoa học, trình bày rõ ràng về các nguyên nhân và những công thức sai lầm đã khiến chủ trương gọi là “Đổi mới” đã đi đến thất bại; đồng thời nêu rõ những hậu quả vô cùng tai hại cho đất nước. Nhưng hiện nay sự tranh giành quyền lực và tiền bạc giữa các phe nhóm ngày càng tàn bạo và quỉ quyệt; vì thế theo qui luật “cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cửu” đang mở ra cơ hội tốt để thoát khỏi nạn độc tài, đưa đất nước thực sự thành một Nước Việt Nam Mới!

Tập sách trên 700 trang có thể vào địa chỉ Web

Để độc giả tiện theo dõi, toàn bộ ba chương cuối sẽ được phổ biến trong ba lần liên tiếp. Mở đầu loạt bài này, dưới đây là toàn bộ Chương 9:

Chương chínKết quả thực tiễn trên 30 năm “Đổi mới”

I. Mô hình “đổi mới trên 30 năm qua

Sau trên 30 năm “Đổi mới” từ 1986 trải qua 5 đời TBT Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh và Nguyễn Phú Trọng và xuyên qua 7 ĐH (từ ĐH 6 tới ĐH 12). Không biết bao nhiêu Nghị quyết đã được ban hành đề ra mục tiêu là, đưa VN tới năm 2020 trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nhưng trong cuộc họp nội các vào cuối năm 2014 sau gần 30 năm tiến hành “đổi mới”, Nguyễn Tấn Dũng lại than, “sao lại cứ phải đứng sau 6 nước ASEAN? Chúng ta có đuổi kịp được ASEAN-6 không? Không có lý do gì chúng ta không cải thiện được để bằng ASEAN-6”? [1] Trong thực tế nhiều mặt VN còn đi sau cả Campuchia và Lào.

Sau gần 30 năm đổi mới, lợi tức đầu người /năm của VN vào năm 2014 mới chỉ 2.052 USD, tức là VN mới chỉ bước vào những nước đang phát triển ở mức trung bình thấp. Trong khi đó Singapore lên tới 56.287 USD, Mã lai á là 10.830 USD, Thái lan là 5.561 USD và Nam dương là 3.515 USD. PGS, TS Phạm Quý Thọ thuộc Học viện Chính sách và phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhận xét, “chỉ tiêu này của nước ta tụt hậu so với Hàn quốc chừng 30 đến 35 năm, Malaysia khoảng 25 năm, Thái lan chừng 20 năm, Indonesia và Philippines chừng từ 5 đến 7 năm. Đến năm 2038 VN mới có thể bắt kịp năng suất lao động của Philippines và đến năm 2069 mới có thể bắt kịp Thái Lan”. [2]

Nếu xét về mặt diện tích và dân số thì VN không phải là nước nhỏ. Với dân số gần 94 triệu (2017) VN đứng thứ 13 trên thế giới[3]; với diện tích trên 331.114 km² VN đứng thứ 65. Nhưng về mặt kinh tế, xã hội (phát triển con người -HDI) hiện nay VN lại đứng thứ 116 trong tổng số gần 200 nước và ốc đảo trên giới.[4] Nhiều người cầm đầu chế độ toàn trị thường đổ lỗi cho rằng, VN là một nước nhược tiểu, đất hẹp, dân không đông và tài nguyên không nhiều. Đây là những khẳng định cực kỳ sai lầm để trốn tránh trách nhiệm. Một số các nước trong khu vực như Nam Hàn diện tích chỉ trên 99.000km², 50,6 triệu người, nhưng lợi tức đầu người 2015 trên 27.000 USD đang là nước giầu mạnh, công nghiệp cao. Nhật có dân số gần gấp rưỡi VN, diện tích xấp xỉ với VN, tài nguyên thiên nhiên không nhiều, nhưng từ lâu đã trở thành cường quốc kinh tế, lợi tức đầu người năm 2015 là gần 37.000 USD. Về dân số và diện tích giữa VN và Đức không chênh lệch bao nhiêu; nhưng Đức, cũng như Nhật, từ đống tro tàn sau Thế chiến thứ 2 đã nhanh chóng vượt lên thành cường quốc kinh tế đứng thứ ba, thứ bốn trên thế giới.

Những câu hỏi trung tâm rất nghiêm túc cần được đặt ra là, tại sao nhiều nước ngay trong khu vực khi bước vào thời kì phát triển kinh tế thì cũng ở trình độ ngang ngửa như VN, nhưng nay đã bỏ xa VN để trở thành các nước công nghiệp hàng đầu, lợi tức cao gấp mấy chục lần VN? Người dân không chỉ sống sung túc mà còn được tôn trọng nhân phẩm. Phải chăng các mô hình chính trị, kinh tế, giáo dục và văn hóa là những nền tảng căn bản cho sự tiến lên hưng thịnh, hạnh phúc và văn minh, hay sự tụt hậu, nghèo đói và tha hóa đạo đức của một xã hội? VN đang áp dụng mô hình chính trị-kinh tế nào, có những đặc điểm gì?

Trong suốt trên 30 năm cải cách kinh tế chưa bao giờ VN theo mô hình kinh tế thị trường hiện đại như ở các nước Tây phương. Mô hình phát triển của VN là “Kinh tế thị trường Định hướng XHCN”. Mô hình này có một số đặc tính căn bản khác biệt hoàn toàn với các nền Kinh tế thị trường hiện đại ở các nước Tây phương trong các lãnh vực then chốt:

  1. Chế độ độc đảng: ĐCS, cụ thể là Bộ chính trị (BCT) và Ban bí thư (BBT), trước sau vẫn chỉ huy toàn bộ và trực tiếp các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa- giáo dục, tôn giáo và xã hội.
  2. Công hữu toàn dân về đất đai (ĐCS là chủ nhân trong đất đai)
  3. Doanh nghiệp nhà nước làm chủ đạo
  4. Kinh tế tư nhân nội địa tuy được công nhận, nhưng chỉ ngồi rìa, đứng bên lề trước thế lực mạnh của Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) và sức ép của FDI (công ti nước ngoài).

Như thế cho thấy mô hình phát triển kinh tế của VN từ 1986 tới nay vẫn còn giữ căn bản mô hình kinh tế của chế độ toàn trị như ở Liên Xô cũ, với một số biến thể, mặc dầu chế độ toàn trị ở Liên Xô đã tan rã từ 1991. Trong đó ĐCSVN vẫn là người cầm trịch không chỉ trong chính trị, tư tưởng và văn hóa, mà cả trong kinh tế-xã hội. Mỗi ĐH vẫn đưa ra kế hoạch ngũ niên do ĐCS độc quyền từ các khâu hoạch định, đường lối tới các biện pháp…Nhưng dĩ nhiên trong giai đoạn và điều kiện Chủ nghĩa xã hội (CNXH) trên toàn thế giới đang tan rã ngay từ cái nôi, nên những người cầm đầu CSVN bắt buộc phải dùng những từ ngữ và ngôn ngữ mới, để tạo những hi vọng mới, để tỏ ra họ là những người thức thời và nhờ thế mới có thể biện minh cho sự tiếp tục cầm quyền độc tôn!

Mô hình phát triển kinh tế này chứa đựng nhiều mâu thuẫn nội tại và đối lập với nhau. Nó được thực hiện trong thời kì CNXH theo ý thức hệ Marx-Lenin đã bị thực tế phủ nhận, thế giới CS tan rã. ĐCSVN cũng rơi vào thế sợi chỉ treo ngàn cân. Suốt trên 30 năm đổi mới từ 1986, đặc biệt từ giữa thập niên 90 khi thiết lập quan hệ với Hoa Kỳ và thực hiện chính sách mở cửa với bên ngoài, mô hình phát triển kinh tế của chế độ toàn trị dựa trên một số cơ sở làm tiền đề đặt trọng tâm cho phát triển kinh tế. Đó là:

  • Nhân công rẻ
  • Khai thác nông sản
  • Khai thác khoáng sản
  • Ưu đãi cho tư bản nước ngoài vào đầu tư
  • Tranh thủ nguồn vốn ODA trong xây dựng hạ tầng
  • Đặt trọng tâm trong xuất cảng

Nhưng các cơ sở trên phải được đặt trong một khung kiên cố, nói thẳng ra là bị nhốt trong một cái lồng, đó là CNXH với tư tưởng Marx-Lenin làm chỉ đạo và trong cái lồng này, ĐCSVN chỉ huy độc quyền trực tiếp và toàn diện từ tổ chức, thực hiện, giám sát các hoạt động kinh tế-xã hội. ĐH 12 đã làm công việc tổng kết 30 năm thực hiện chính sách đổi mới (1986-2016) qua 5 đời TBT Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh và Nguyễn Phú Trọng.

Mặc dù những người đứng đầu luôn mở miệng khẳng định là, kết quả thực tiễn chứng minh cho lí thuyết và đường lối. Nhưng khi họ phải đối diện với những kết quả rất xấu thì lại không dám nhận đã chọn lí thuyết sai, ở đây là chủ nghĩa Marx-Lenin. Họ lờ đi hoặc nhận lỗi qua loa, nhưng đổ lỗi chính vì những lí do bên ngoài. Thái độ rất chủ quan, giáo điều, lừa dối và tô vẽ cho rằng, 30 năm đổi mới không chỉ tạo ra những thành tích tuyệt vời trong kinh tế-xã hội, mà cả trong lãnh vực chính trị cũng đã có nhiều cải cách theo hướng “lấy dân làm gốc” và dân chủ hơn ngàn lần các nước Dân chủ đa nguyên… Tiêu biểu nhất cho lập trường này là Báo cáo Chính trị và Kinh tế-Xã hội tại ĐH 12 của TBT Nguyễn Phú Trọng ngay vào ngày đầu của ĐH 12.[1] (Xem Chương tám, IV).

***

Trong dịp này một số chuyên viên trong nước từ gần với đảng hay đứng vị thế độc lập của những người người làm công tác khoa học, trong đó có cả một số chuyên viên VN ở nước ngoài, đã công bố các bài nghiên cứu hoặc trả lời phỏng vấn liên quan tới chủ đề kết quả 30 năm đổi mới.

Trước hết phải nói tới nhận định rất thắng thắn của cựu bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư  Bùi Quang Vinh ngay trước ĐH 12 khi ông còn là Bộ trưởng và Ủy viên Trung ương (UVTU), như đã trình bày ở Chương tám, IV:

“ 70 năm qua, cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động của bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể các cấp trong hệ thống chính trị gần như không thay đổi”. Và “Một hệ thống chính trị phù hợp với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây, đặc biệt là trong hoàn cảnh chiến tranh, nay đã không còn phù hợp với điều kiện nền kinh tế thị trường, thậm chí là rào cản, trở ngại cho sự phát triển”. [2]

Chia sẻ quan điểm này GS Vũ Dương Ninh, Đại học Quốc gia Hà nội (HN), cho biết, trước đó 5 năm Nghị quyết của ĐH 11 (1.11) -khi đó Nguyễn Phú Trọng được bầu làm TBT- đã lập lại mục tiêu là, đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nhưng ĐH 12 đã phải nhìn nhận rằng, mục tiêu này không thể đạt được.[3] Ngay cả nguyên Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội VN, GS TS Đỗ Hoài Nam, một nhà khoa bảng hàng đầu của chế độ toàn trị , từng là UVTU suốt ba nhiệm kì từ ĐH 8-10 và có chân trong Hội đồng Lí luận Trung ương (TU) -một cơ quan cố vấn về tư tưởng và chính trị cho TUĐ, BCT và BBT-, trong một bài phân tích rất dài 14 trang trên tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 1, 1.15 với tựa đề “Những đổi mới tư duy của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong 30 năm đổi mới”. Ông đã liệt kê các quyết định của đảng xuyên qua 6 Đại hội từ 1986 tới ĐH 11 (2011) với việc sử dụng “kinh tế tri thức” và đầu tư của nước ngoài nhằm công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế từ nông nghiệp, công nghiệp tới xuất nhập cảng. Ông ca tụng các quyết định này và coi đó là những biện pháp sáng suốt của ĐCS, nhằm đưa VN, từ một nước đi sau và công nghiệp hóa muộn, có thể đạt mục tiêu “rút ngắn quá trình công nghiệp hóa đất nước bằng sức mạnh của thời đại và sức mạnh nội sinh của đất nước”. Nhưng cuối cùng trong phần kết luận Đỗ Hoài Nam phải nhìn nhận kết quả thực tiễn sau 30 năm đổi mới là, “nhìn trên tổng thể, phần lớn nông dân và người dân đô thị đang trong tình trạng nghèo tương đối, trong đó không ít người đang thực sự nghèo theo nghĩa tuyệt đối”.

Ông nêu ra câu hỏi về nguyên nhân, tại sao không đạt mục tiêu, mặc dầu các quyết định đều được coi là sáng suốt? Trong đó Đỗ Hoài Nam đã cố tình dùng các thuật ngữ trừu tượng và trình bày ngoắt nghéo, như “nguyên nhân cơ bản là, nền tảng cho sự rút ngắn này chưa được tạo lập một cách đầy đủ và vững chắc. Đó là nền kinh tế thị trường đầy đủ và hiện đại (xét cả mặt kết cấu lẫn mặt thể chế của nền kinh tế này), cơ sở hạ tầng đồng bộ và hiện đại; là khoa học và công nghệ hiện đại, nguồn nhân lực chất lượng cao; là hệ thống công ti tư nhân dựa trên sở hữu cổ phần được quản trị hiện đại, đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước [và] quốc tế, tham gia sâu vào chuỗi giá trị và chuỗi phân phối toàn cầu và cuối cùng là vai trò vừa là bà đỡ, vừa là nhạc trưởng của Nhà nước bảo đảm co sự rút ngắn”. (tr.15)

Tuy cố tình trình bày vòng vo và tránh né không dám nêu đích danh thủ phạm đã gây ra thất bại, nhưng nhà khoa bảng XHCN hàng đầu Đỗ Hoài Nam đã gián tiếp nhìn nhận, đó là kế hoạch xây nhà trên cát; hay dùng hình tượng chuyện con nhái muốn to bằng con bò để diễn tả ý muốn công nghiệp hóa và hiện đại hóa VN thật nhanh như Nhật bản, Đại Hàn và các nước Tây phương, nhưng lại thiếu đủ mọi thứ và không có những điều kiện cần thiết; trong đó thiếu cả “ nhạc trưởng”, tức Nhà nước hiện đại trong thể chế DCĐN. Trong khi nhiều nước theo DCĐN cũng chỉ trong khoảng thời gian 30 năm đã chuyển thành công đất nước họ, từ lạc hậu chậm tiến sang công nghiệp hiện đại. Nhưng VN dưới chế độ toàn trị vẫn dẫm chân tại chỗ. Nghĩa là, chính thể chế độc tài toàn trị đã là nguyên nhân chính đưa đến thất bại trong việc canh tân đất nước và xây dựng hạnh phúc cho nhân dân trong suốt 30 năm!

Trong toàn bài, Đỗ Hoài Nam có dẫn chứng là, ngay từ ĐH 7 đã quyết định “cần đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để” (tr. 5); nghĩa là phải đối mới cả hệ thống chính trị. Nhưng khi kết luận tuy phải nhìn nhận các thất bại, nhà khoa bảng Đỗ Hoài Nam đã không giữ được tinh thần khoa học và thẳng thắn như cựu Bộ trưởng Bùi quang Vinh, nên không một lần nào dám nói thẳng là, trong suốt quá trình 30 năm, trước sau vẫn là chế độ độc tài toàn trị. Đó mới chính là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn tới thất bại!

Chế độ toàn trị đã chọn ý thức hệ sai lầm dẫn tới độc tài hà khắc, làm triệt tiêu sự phản biện rất cần thiết của một hệ thống xã hội dân sự độc lập. Vì thế toàn bộ hệ thống công quyền trở thành trì trệ và bất cập, chống lại sự canh tân và phát triển của đất nước. Đây là nhận định của PGS, TS Trần Đình Thiên nguyên là Viện trưởng Viện Kinh tế VN, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Kinh tế VN, khi nói về nguyên nhân thất bại trong kinh tế:

“ĐCS lãnh vai trò lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện”, mức độ chưa trưởng thành của Nhà nước pháp quyền, sự thiếu vắng các tổ chức dân sự đúng nghĩa, của các tổ chức phản biện xã hội độc lập, có ảnh hưởng mạnh mẽ, thậm chí là quyết định, đến kết quả hoạt động quản trị công”. [4] “Trong nhiều trường hợp, tình trạng không cụ thể hóa mục tiêu định hướng, né tránh thảo luận cấu trúc logic của khái niệm “Định hướng XHCN” (ĐHXHCN), lặng lẽ giả định nó, coi như một tiền đề định sẵn, đã có những ảnh hưởng to lớn”. [5]

Thực tế này cũng được GS Trần Văn Thọ (Đại học Waseda, Nhật bản) trình bày cặn kẽ hơn, khi ông so sánh sự phát triển kinh tế-xã hội của VN với một số nước trong khu vực thì rõ ràng khác biệt nhau cả một trời một vực. Theo tài liệu của Ủy ban LHQ về kinh tế và xã hội châu Á – Thái bình dương (ECAFE), năm 1954 thu nhập đầu người của miền Nam VN là 117 USD, xấp xỉ với Thái Lan (108) và cao hơn Indonesia (88) vào hai năm trước đó. Nhưng 60 năm sau, vào năm 2014 thu nhập đầu người của VN chỉ bằng một phần ba Thái Lan và một nửa Indonesia…Trong khi “Hàn quốc chỉ mất 16 năm (từ 1971-1987) để chuyển từ nước thu nhập trung bình thấp lên trung bình cao và chỉ mất thêm 10 năm nữa để tiến lên hàng các nước tiên tiến. Đài loan trở thành nền kinh tế tiên tiến vào năm 1995, chỉ tốn 12 năm kể từ giai đoạn thu nhập trung bình cao”. [6]

Sau hơn 40 năm hòa bình trong đó hơn 30 năm gọi là đổi mới, nhưng VN vẫn lẹt đẹt thuộc những nước có thu nhập trung bình thấp và đang có nguy cơ phải ngụp lặn lâu dài ở mức này. Ông Thọ còn nêu ra viễn tượng kinh tế VN vào năm 2020. Hiện nay theo phân loại của Ngân hàng thế giới, bình quân đầu người từ 1.000 đến 12.000 USD là nước có thu nhập trung bình, trên 12.000 USD là nước thu nhập cao. Do đó một nước được gọi là công nghiệp phải ở mức trên 12.000 USD. VN hiện nay mới gần 2.000 USD. Đến năm 2020 có lẽ cũng chỉ đạt được khoảng 3.000-3.500 USD, tức là thuộc các nước có mức trung bình thấp. [7]

  1. Nông nghiệp: Bỏ rơi nông dân và nông thôn!

        Chủ trương công nghiệp hóa nông nghiệp, nhưng sau 30 năm đổi mới vẫn là cảnh con trâu đi trước cái cày đi sau!

VN là một nước nông nghiệp, vào thập niên 80 của thế kỉ trước có tới 80% dân số sống và phụ thuộc vào nghề nông. Đồng bằng sông Hồng và nhất là Đồng bằng Cửu long là hai thúng gạo nuôi dân và xuất cảng để tạo cơ sở và ngân sách cho xây dựng công nghiệp, phát triển bền vững cho toàn quốc. Nếu hiểu thấu đáo thế mạnh này của VN và có được một tầm nhìn xa thì một nhà nước sáng suốt không chỉ tìm cách làm phục hồi nông nghiệp, mà còn phải canh tân, công nghiệp hóa mọi khâu trong nông nghiệp. Từ tạo kiến thức trồng trọt cho nông dân, đem điện nước, đường xá, trường học và y tế về thôn xã, trả lại quyền tư hữu ruộng đất cho nông dân, và có những chính sách khuyến khích nông dân tự nguyện hợp tác để sử dụng kĩ thuật canh tác mới nhằm gia tăng năng suất và tăng lợi tức cho nông dân, tức là gia tăng sức mua và đầu tư của 80% dân số. Ngoài ra nhà nước cần có chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp chế biến nông – lâm – thủy sản để làm tăng giá trị các mặt hàng này; khuyến khích và hỗ trợ nông dân tự thành lập các trung tâm hiện đại lưu trữ gạo, rau trái và các tổ chức của nông dân theo dõi thị trường nông nghiệp trên thế giới để tạo thương hiệu có uy tín cho các sản phẩm nông nghiệp của VN và có sức cạnh tranh mạnh trên thị trường quốc tế.

Các chính sách trên đây không phải là những điều mới lạ, trái lại đã được thực hiện thành công ở nhiều nước phương Tây dưới nhiều tên gọi nổi tiếng, như “Chương trình xanh” trong ngành nông nghiệp, như Hòa lan, Đức, Pháp, Hoa Kỳ và Gia nã đại. Đúng ra là một nước đi sau, nên VN cỏ thể học hỏi nhanh chóng và hiệu quả kinh nghiệm và kĩ thuật của các nước này.

Sau chiến thắng 1975 những người cầm đầu say mê với thành tích con đường XHCN đã dẫn tới chiến thắng vẻ vang trong chiến tranh thì tất yếu cũng sẽ dẫn tới thắng lợi thần kì trong kinh tế! Đây là tư tưởng rất lạc quan từ Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng tới hầu hết các ủy viên BCT khi ấy. Vì thế mô hình kinh tế theo XHCN đã được thi hành cấp tốc và triệt để trong nông nghiệp với các Hợp tác xã (HTX), trong thương nghiệp với xóa bỏ tư sản mại bản kinh tế tư nhân và thành lập các thương nghiệp quốc doanh, trong công nghiệp với hàng loạt doanh nghiệp quốc doanh. Nhưng sau đó không lâu, mô hình phát triển theo XHCN đã dẫn tới bế tắc toàn diện. Nông dân không chịu làm ăn, thương nghiệp nhà nước không có hàng để bán, các DNNN ngồi chơi. Dẫn tới nạn đói khủng khiếp vào giữa thập niên 80, khiến cho hàng triệu người rơi vào cảnh đói và khủng hoảng lương thực trầm trọng như thời 1945. Trong khi các cán bộ cao cấp được hưởng các chính sách ưu đãi từ nhà cửa, xe đưa đón tới chế độ ăn uống ngon và đầy đủ; còn người dân thì không có cả thịt, cá, vải, thuốc men và các nhu yếu phẩm hàng ngày.[8] Nhóm cầm đầu giáo điều mới thấy là không thể tiếp tục mô hình tập thể hóa nông nghiệp HTX theo kiểu Liên Xô và TQ được nữa, nếu không thì nông dân và thị dân sẽ nổi loạn.

Nhưng sau ĐH 6 (12.86) phải đợi thêm hơn một năm, sau những tranh cãi gay gắt giữa các phe trong BCT và TU, mới ra được Nghị quyết (NQ) 10 ngày 5.4.1988, được gọi là Khoán 10. Tuy vậy đảng xuyên qua nhà nước của đảng vẫn tiếp tục giữ độc quyền công hữu ruộng đất, nông dân vẫn phải thuê ruộng (xem Chương một, III và Chương hai, V). Tuy đây chỉ là chính sách đổi mới nửa vời, nhưng đã làm cho nông dân gắn bó siêng năng với đồng ruộng, thửa vườn, cái ao và gia súc. Nhờ thế sản lượng nông nghiệp đã gia tăng mạnh và liên tiếp trong nhiều năm. Khiến cho từ khủng hoảng lương thực với nạn đói trầm trọng, từ 1989 đã trở thành một nước xuất cảng gạo.

Trước khi có Khoán 10, sản suất lúa cả nước chỉ khoảng 13 triệu tấn, hàng năm phải nhập khẩu hàng triệu tấn.[9] Năm 2017 sản lượng lúa đã đạt khoảng 42,84 triệu tấn.[10] Trong những năm gần đây số gạo xuất khẩu đã lên tới gần 8 triệu tấn, đứng thứ hai trên thế giới về xuất cảng gạo.[11] Nhưng nay sau hơn 30 năm nông dân và nông nghiệp tại VN vẫn phải đối diện gay gắt trong nhiều vấn đề. Nhiều chuyên viên trong nước ta thán là, tại sao VN đang là nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới, nhưng đại đa số nông dân vẫn rất nghèo, ngay cả nông dân Đồng bằng Cửu long, vựa thóc của cả nước? Trong khi ấy ngay sau Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kì tháng 1.94 (Khóa 7), tại Hội nghị trung ương (HNTU) 7 (7.94) đã đưa ra nghị quyết với tham vọng “phát triển công nghiệp, thực hiện công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn gắn với đô thị hóa nông thôn”. [12]

Tại sao giá gạo của VN vẫn thấp hơn nhiều gạo Thái lan và cho tới nay sau mấy chục năm xuất khẩu, nhưng gạo của VN vẫn chưa có thương hiệu uy tín trên thị trường quốc tế, chỉ bán được cho một số nước với giá thấp? Sau hơn 30 năm thực hiện chính sách tam nông (nông nghiệp, nông dân, nông thôn) coi “nông nhiệp là mặt trận hàng đầu”, nhưng tại sao máy móc và kĩ thuật canh tác vẫn rất lạc hậu, tiếp tục lối làm ăn thô sơ con trâu đi trước cái cày đi sau? Tại ĐH 10 (2006) những người cầm đầu toàn trị thổi lên tiêu chí từ “ăn no” sang “ăn ngon”! UVTU Đỗ Hoài Nam khi ấy đã cho biết, ĐH 10 đã ra NQ khẳng định đưa “nền nông nghiệp VN phải hình thành được một số sản phẩm chủ lực, mũi nhọn có lợi thế phát triển, có phẩm chất tốt, chất lượng cao và qua chế biến sâu, đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới để có giá trị gia tăng cao”. Ông còn cho biết thêm, tại HNTU 7 Khóa 10 đã ra NQ về nông nghiệp, nông dân và nông thôn theo hướng này và lãnh đạo vẫn tuyên bố, nông nghiệp là mũi nhọn.[13]

Nhưng tại sao tới nay vẫn thường diễn ra “được mùa mất giá” cho nông dân? Tại sao sau hơn 30 năm vẫn không lập được các trung tâm lưu trữ gạo hiện đại và không thiết lập được công nghiệp chế biến nông sản; trong khi đó lại bỏ hàng ngàn tỉ đồng xây các cảng để chỉ nằm đắp chiếu, hay bỏ ra cả hàng trăm tỉ hoang phí để xây các tượng đài cho các nhà độc tài của Đảng? Sau 30 năm đổi mới, nhưng tại “Diễn đàn nông nghiệp” do CP tổ chức vào giữa tháng 10. 2016 lại vẫn lập lại, phải tạo một thương hiệu quốc tế tốt cho gạo xuất khẩu của VN! Nhưng nhiều chuyên gia đã chua chát nói thẳng: “Thương hiệu gạo, có đâu mà mất!” [14]

Một sản phẩm (công nghiệp hay nông nghiệp) phải có chất lượng tốt, được tín nhiệm của khách hàng, người tiêu dùng tín nhiệm và sẵn sàng trả giá cao. Họ sẽ tiếp tục tìm thương hiệu này. Thí dụ như trong sản phẩm xe hơi và điện tử, người tiêu dùng thường thích xe hơi Toyota, Mercedes và Samsung…. vì có phẩm chất tốt. Nhưng sau gần 30 năm xuất cảng gạo, gạo của VN vẫn không có thương hiệu có uy tín trên thị trường nông sản thế giới. Đầu năm 2016 nhiều chuyên viên và ngay cả các cán bộ phụ trách nông nghiệp cũng đã ta thán và nhìn nhận tình hình rất bất lợi này trong việc xuất cảng các nông sản của VN… Phó Cục trưởng Cục xuất nhập khẩu, bộ Công thương Trần Thanh Hải cho biết, năm 2015 gạo VN chiếm trên 50% tổng số gạo nhập khẩu của TQ, nhưng tại các siêu thị và cửa hàng lại không tìm ra gạo mang thương hiệu VN. Trong khi ấy, gạo Campuchia lại chễm chệ trên các cửa hàng. Chè, cà phê, hạt tiêu… là các nông sản xuất khẩu lớn của VN, nhưng vị thế cũng tương tự. Cựu Hiệu trưởng Trường Cán bộ quản lý nông nghiệp và phát triển nông thôn II (thành phố HCM) Vũ Trọng Khải cho biết, nguyên nhân đang gây bất lợi cho quyền lợi của nông dân, là vì các doanh nghiệp xuất khẩu gạo ở VN đều là DNNN, nên vẫn giữ tâm lí thờ ơ cha chung không ai khóc! [15]

Tại Hội nghị toàn quốc triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới 30.9.16 với sự hiện diện của tân TT Nguyễn Xuân Phúc, được biết sau 30 năm thực hiện chủ trương lấy nông nghiệp làm mũi nhọn để xây dựng “nông thôn mới” nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nông dân, nhưng tới tháng 9.16 mới chỉ có 2.045 xã (23%) được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới.[16] Liệu con số đưa ra có chính xác không, không ai biết. Nhưng sau 30 năm mới chỉ có gần ¼ xã ở nông thôn tên toàn quốc đạt tiêu chuẩn nông thông mới. Đây là nhìn nhận thất bại trong việc cải thiện đời sống mấy chục triệu nông dân!

Trong khi chính phủ Nguyễn Tấn Dũng bảo đảm để nông dân được hưởng lãi ít nhất là 30% so với giá thành, nhưng dịp này tại QH bộ trưởng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Cao đức Phát lại cho biết, “giá thành 1 kg lúa là 4.100đ/kg như vậy giá thu mua lúa phải đạt 5.400đ/kg thì người trồng lúa mới lãi 30%. Nhưng hiện nay giá lúa khô loại thường nông dân cũng chỉ bán được 4.500đ, lúa hạt dài khoảng 4.800đ”. Nghĩa là chỉ đạt được 10% lãi. Bà Phạm Chi Lan cho biết, từ 2007 khi VN gia nhập WTO thì đầu tư cho nông nghiệp đã giảm rất mạnh và liên tục, “trước khi VN gia nhập WTO thì tỷ trọng đầu tư toàn xã hội vào nông nghiệp nhất là đầu tư của Nhà nước cũng còn tương đối cao chiếm tới 13,8% trong tổng mức đầu tư, nhưng sau vài năm tham gia vào WTO thì mức đầu tư vào nông nghiệp giảm xuống chỉ còn 6,4% trong tổng mức đầu tư phát triển”. Đây rõ ràng là thái độ trọng công, khinh nông và bỏ nội, trọng ngoại của những người làm chính sách. Theo bà, chính sách bỏ rơi nông dân và nông nghiệp của chính quyền CSVN hoàn toàn trái ngược với các nước khác, “hầu hết các nước khi hội nhập họ đều lo bảo hộ nông sản, nhưng VN thì ngược lại buông nông sản, buông nông nghiệp và ngành này phải tự bơi tự bươn chải”. Trong khi ấy “ nguồn lực đầu tư dồn quá nhiều cho DNNN, quá nhiều cho các Tập đoàn Kinh tế để rồi họ gây biết bao vấn đề cho nền kinh tế hiện nay”. [17]

Thái độ khinh nông dẫn tới các chính chính sách bỏ rơi nông dân đã khiến cho tốc độ tăng trưởng trong nông nghiệp đã giảm liên tục từ giữa thập niên 90. Trong dịp tổng kết 30 năm đổi mới vào dịp ĐH 12 nhiều chuyên gia về nông nghiệp thảo luận trên các cơ quan truyền thông. Họ sử dụng ngay lí luận của chế độ toàn trị là, kết quả thực tiễn chứng minh cho lí thuyết đúng hay sai. Khi “Tổng kết thực tiễn” trong 30 năm đổi mới trong nông nghiệp họ đã nhận thấy rất rõ, tốc độ trăng trưởng trong nông nghiệp không tăng, trái lại đã giảm liên tục từ kế hoạch ngũ niên này sang kế hoạch ngũ niên khác.

Tốc độ tăng trưởng nông nghiêp từ 1996-2013[18]

Thời gianTốc dộ gia tăng

1996-20004,01%

2001-20053,83%

2006-20103,03%

2009-20132,9%

Theo Tổng Cục Thống kê, khu vực nông, lâm và thủy sản tăng 0,65%, là mức tăng thấp nhất so với cùng kỳ 6 năm.[19] Các con số trên giải thích tình trạng chung trong sản xuất nông nghiệp: Nông nghiệp đã bị bỏ rơi, nông dân không được giúp đỡ các mặt cần thiết, nên năng suất lao động trong nông nghiệp rất thấp và giảm liên tục. Trong bản Báo cáo 2016 của Ngân hàng Thế giới (WB) về phát triển nông nghiệp của VN đã xác nhận lối canh tác chậm tiến, lạc hậu thiếu cơ giới hóa nông nghiệp và lạm dụng thuốc trừ sâu, nông dân thất nghiệp gia tăng, chất lượng xấu.[20] WB còn cho biết, những năm gần đây mỗi năm nông nghiệp VN phải chịu thiệt hại khoảng 1 tỉ USD vì mất thị trường xuất khẩu do không tuân thủ các qui định vệ sinh an toàn thực phẩm.[21]

Cuối tháng 8.16 bộ Nông nghiệp & phát triển nông thôn (NN&PTTN) đã họp tổng kết 3 năm tái cơ cấu trong nông nghiệp (2013-15) có mặt Phó TT Trịnh Đình Dũng và bộ trưởng Nông nghiệp Nguyễn Xuân Cường. Các viên chức này xác nhận, không có chuyển biến thuận lợi, vì ruộng đất vẫn bị xé nhỏ cho nên không thể công nghiệp hóa nông nghiệp.[22] Ngân hàng Thế giới cho biết, đất nông nghiệp chia theo đầu người ở VN rất thấp, “chỉ đạt bình quân 0,07 hecta, thấp hơn nhiều so với tỉ lệ 0,27 hecta mỗi người tại Thái lan .[23] TS Lê Đăng Doanh nêu rõ một nguyên khác khiến các sản phẩm nông nghiệp có giá trị rất thấp và nông dân nghèo, vì nền nông nghiệp VN chưa phát triển được công nghiệp gia công chế biến là làm tăng thêm giá trị gia tăng. [24]

Chính vì thế đời sống của mấy chục triệu nông dân tiếp tục trong cảnh đói nghèo, ngay cả ở Đồng bằng Cửu long, vựa thóc cả nước. Họ dẫn chứng, một gia đình nông dân hai vợ chồng và hai con mức thu nhập từ 8 công ruộng ba vụ mỗi năm được tổng cộng 40 triệu đồng. Nếu chia theo đầu người thì mỗi người chỉ được 10 triệu đồng/năm, tức trung bình chỉ được 840.000đ/tháng, tương đương với 40 USD/tháng. Trong khi đó mức thu nhập đầu người bình quân năm 2013 ở VN là 1.960 USD, tức khoảng 150 USD/tháng.[25] Như thế mức chênh lệch giầu nghèo giữa thành thị và thôn quê rất lớn.

Nhìn tổng thể về kết quả 30 năm gọi là “đổi mới” xuyên qua 6 ĐH và bao nhiêu HNTU và các nghị quyết về công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, Đỗ Hoài Nam, một nhà khoa bảng hàng đầu XHCN đã từng đóng góp ý kiến cho BCT và BBT trong nhiều nhiệm kì đã phải nhìn nhận tình trạng dẫm chân tại chỗ:

“Sự phát triển của nông nghiệp chủ yếu vẫn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, thời tiết và phương thức canh tác truyền thống, dựa vào đất đai và lao động thủ công và vẫn nặng về sản xuất lúa gạo phẩm chất thấp, chưa chịu tác động mạnh mẽ của công nghiệp, công nghệ và dịch vụ, nhất là công nghệ cao. Lao động trong nông nghiệp vẫn còn gần 50% lao động toàn xã hội, trong đó trên 90% là chưa qua đào tạo và dân số sống ở nông thôn vẫn còn khoảng 70%”. [26]

Tại QH ngày 22.10.15 bộ trưởng Kế hoạch&đầu tư Bùi Quang Vinh cho biết: “Nhìn lại bao nhiêu năm, nông nghiệp bây giờ vẫn còn tình trạng con trâu đi trước cái cày theo sau. Ruộng của chúng ta chia manh mún, bé tí, từ máy bay nhìn xuống, ruộng, kể cả ở đồng bằng sông Cửu Long, chia nát bét, ô ruộng bé tí bằng căn nhà này thôi. Ngày xưa ruộng thẳng cánh cò bay thì bây giờ nó đã phân đất cho hộ gia đình tự cứu lấy mình trong giai đoạn trước, bây giờ nó đang cản trở lại nền sản xuất lớn…Một cân ngô và một cân đậu tương ở VN đắt gấp ba lần so với Mỹ sản xuất. Cánh đồng của họ thẳng cánh cò bay, một công lao động bằng máy móc bằng 1.000 người VN, nên giá thành ngô của họ chỉ bằng một phần ba giá thành ngô VN. Cho nên họ có sức cạnh tranh”.[27] Các điều kiện vô cùng bất lợi này đã dẫn tới năng suất lao động ở VN trong mọi lãnh vực, kể cả trong nông nghiệp rất thấp. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), năm 2013 năng suất lao động của VN thuộc nhóm thấp nhất châu Á-Thái bình dương; thấp hơn Singapore 15 lần, Nhật 11 lần, Nam hàn 10 lần; chỉ bằng 1/5 Mã lai, 2/5 Thái lan.[28]

Tại “Hội nghị trực tuyến toàn quốc tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về chiến lược tam nông” ngày 27.11.18 chính Nguyễn Xuân Phúc đã xác nhận kết quả trên 30 năm trong chính sách tam nông là thất bại trong mọi lãnh vực, thua cả Thái lan và Campuchia: “Việc áp dụng tiến bộ khoa học trong nông nghiệp còn yếu, giá thành sản phẩm cao, chủ yếu là xuất thô, chưa qua chế biến, chưa đột phá trong nâng cao giá trị gia tăng; cơ cấu sản xuất còn manh mún, tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn còn chậm, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo còn nhiều, việc xây dựng thương hiệu nông nghiệp còn yếu kém..”. [29] Mức đầu tư khoa học trong nông nghiệp ở VN chỉ bằng 1/10 Thái lan và 1/7 Phi luật tân. Nếu so với Nam Hàn thì con số này chỉ bằng 1/600.[30]

Mặc dầu vậy Nguyễn Xuân Phúc không dám nhìn thẳng sự thực về sự bỏ rơi nông dân và nông thôn trong suốt trên 30 năm “đổi mới” của những người cầm đầu chế độ toàn trị. Trong Hội nghị trên ông Phúc lại trút trách nhiệm là nông dân ỷ lại: “Chúng ta đang nói tập trung làm nông nghiệp, nông thôn mà nông dân chúng ta có tinh thần ỷ lại thì không bao giờ thành công!” [31]

Nguyên nhân và hiểm họa

Sau 30 năm đổi mới, nhưng tình hình nông nghiệp và đời sống mấy chục triệu nông dân vẫn ở tình trạng rất lạc hậu và đói nghèo. Nhiều chuyên viên, trong đó có cả những cán bộ cao cấp, đã dẫn chứng và cắt nghĩa, như trình bày ở trên, về các nguyên nhân dẫn tới tình hình rất bi đát hiện nay cho 70% dân số. Trong đó tổng hợp lại nổi bật hai nguyên nhân căn bản.

Nguyên nhân hàng đầu rất quan trọng khiến bao nhiều triệu nông dân triền miên rơi vào tình trạng “được mùa mất giá” và vẫn phải lao động theo cách con trâu đi trước cái cày đi sau, vì chính sách vô trách nhiệm của chế độ toàn trị, nhắm mắt rập khuôn theo kiểu DNNN trong nông nghiệp. Việc chế độ cho thành lập các Tổng công ti lương thực I và II và Hiệp hội Lương thực (VFA) chính là cách độc quyền trong nông, lâm và thủy sản. Các DNNN này gần như độc quyền trong việc định giá thóc gạo và thường cấu kết với các thương lái để ép giá nông dân phải bán nông sản theo giá bất lợi.[32] Chế độ toàn trị không tin vào nông dân và không sáng suốt nhận ra được tầm quan trọng của nông nghiệp VN trong việc phát triển đất nước, nên đã không tạo cho giới nông dân những điều kiện và cơ hội cần thiết để tự canh tân sản suất, tự tổ chức những cơ sở thiết yếu trong các khâu canh tác, chế biến và tìm thị trường để các nông sản VN có thương hiệu tốt, khả năng cạnh tranh cao, bán được giá trên thị trường quốc tế….

Các Tổng công ti lương thực nhà nước được độc quyền và được ưu đãi nên chỉ làm việc theo tinh thần công chức, sáng xách ô đi tối xách về, không tha thiết tới quyền lợi của mấy chục triệu nông dân…Không những thế còn thỏa hiệp với nhau và với các đại quan đỏ để tham nhũng và bóc lột nông dân! Đây là thái độ khinh thường nông dân và bỏ rơi nông thôn của nhóm cầm đầu toàn trị trong suốt mấy thập kỉ vừa qua! Chính vì thế cho tới nay mấy chục triệu nông dân vẫn bị nghèo đói và nông nghiệp không ngóc đầu lên được!

Một nguyên nhân quan trọng khác khiến nông nghiệp VN vẫn lạc hậu và nông dân vẫn phải chịu cảnh đói nghèo là do trước sau đảng vẫn ngang ngược coi đất đai thuộc công hữu, vẫn giáo điều nhắm mắt theo ý thức hệ Marx-Lenin. Chính từ khi Nguyễn Phú Trọng làm TBT đã cố tình ngăn cản và chống lại cả quyết định của ĐH 11 đòi sửa lại Luật Đất đai cho phù hợp với quyền lợi của nhân dân. Theo Tổng thanh tra CP thì có đến trên 70% các vụ khiếu kiện là về đất đai.[33] Ở nông thôn nông dân vẫn phải thuê ruộng đất của nhà nước, đại đa số ruộng đất bị chia cắt ra rất nhỏ và không có những biện pháp khuyến khích nông dân canh tác chung cùng có lợi. Nên không thể sử dụng các máy móc nông nghiệp hiện đại từ các khâu làm đất, cấy hạt giống, phân bón, trừ sâu tới gặt hái… Phần lớn các phương tiện canh tác cũ đã lạc hậu vẫn được sử dụng. Đây là lí do khiến năng suất nông nghiệp thấp và dẫn tới đời sống vẫn đói nghèo cùa bao nhiêu triệu nông dân chiếm tới trên 2/3 dân số VN. Mặc dù nông dân VN rất siêng năng và cần cù!

Tóm lại, cuộc sống đói nghèo của nông dân VN suốt gần 70 năm dưới chế độ toàn trị bắt nguồn từ một nguyên nhân căn bản là, thực hành chủ thuyết Marx-Lenin với chính sách coi ruộng đất là thuộc độc quyền của Đảng. Tức là trong thực tế ĐCSVN đã trở thành tên địa chủ độc nhất trên toàn quốc; nó tái lập biện pháp phát canh thu tô của địa chủ trước đây. Chỉ có điều khác là, trước đây địa chủ cho nông dân thuê ruộng đất, nhưng phải trả tiền thuê ruộng đất cho địa chủ. Nay thì ĐCS đóng vai trò này của địa chủ, nhưng với những chính sách tham lam và độc ác hơn, tuy rằng vẫn hô lớn chống địa chủ bóc lột!

***

Ngoài thái độ và chính sách khinh nông của nhà cầm quyền, cũng như sự thiếu năng lực của cán bộ, hiện nay nông nghiệp VN còn đứng trước nguy cơ của biến đổi khí hậu trên toàn cầu do những hậu quả của CO2, đặc biệt là Đồng bằng Cửu long, vựa lúa nuôi dân cả nước. “Bát cơm vàng” đang có nguy cơ biến mất. Khu vực này bao gồm 13 tỉnh, với 12,3 % diện tích và 20% dân số, đóng góp tới 27% GDP cả nước. Hai tỉnh Cà mâu và Kiên giang là khu đất thấp hơn cả mức nước biển. Trong mùa mưa nếu thủy triều cao khoảng một mét thì có nguy cơ đồng ruộng bị chìm trong nước mặn, không thể canh tác. Nạn sụt lún sẽ càng gia tăng. Trong khi ấy từ trước tới nay sông Cửu long là nguồn cung cấp không chỉ hải sản, mà còn đem phù sa làm phì nhiêu đồng ruộng. Nhưng hiện nay TQ đã xây nhiều đập thủy điện ở thượng nguồn sông Cửu long, khiến cho lưu lượng nước bị giảm.

Theo dự báo của Cơ quan Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) và nhiều chuyên viên quốc tế, với tình hình gia tăng nhiệt độ trên thế giới tiếp tục như hiện nay thì tới cuối thế kỉ này nhiệt độ ở Đồng bằng Cửu long có thể tăng thêm 1,3-2,8°C, mưa sẽ tăng 4-8%, nước biển dâng từ 66 cm tới 99cm. Nếu nước biển dâng cao thêm 1m có thể làm cho 39% diện tích Đồng bằng Cửu long bị ngập, 35% dân số bị ảnh hưởng. Đây là khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất do biến đổi khí hậu. Nếu tình hình này diễn ra sẽ làm 22 triệu người mất nhà cửa và thiệt hại lên tới 10% GDP.[34]

III. Đầu tư nước ngoài: Khinh trong trọng ngoài,

dẫn tới kinh tế lệ thuộc FDI và công nghiệp nội bị bỏ rơi

Sau khi HK và các nước Tây phương hủy bỏ chính sách cấm vận kinh tế và thương mại với VN từ đầu thập niên 90, chế độ toàn trị CSVN đứng trước hoàn cảnh rất ngặt nghèo. Khi ấy Liên Xô đã sụp đổ, tức là HN mất toàn bộ khu vực “thị trường truyền thống” suốt mấy chục năm từng là chủ lực giao thương và viện trợ cho VN. Trong khi ấy tái lập bang giao với TQ mới bắt đầu và chưa có gì vững chắc. Trong hoàn cảnh đó, muốn tái thiết đất nước chỉ còn cách mở cửa buôn bán với Tây phương, đặc biệt với cựu thù Mĩ. Đây là giai đoạn chủ trương làm bạn với tất cả! Hà nội đưa ra mục tiêu kinh tế đối ngoại là tìm cách thu hút mời các công ti nước ngoài đầu tư trực tiếp vào VN xây dựng các xí nghiệp để sản xuất các sản phẩm xuất khẩu (Foreign Direct Investment -FDI). Họ cho rằng, đây là chính sách khôn ngoan “đi tắt đón đầu”, như một đòn bẩy để đưa nền kinh tế vốn rất tụt hậu của VN có thể chuyển nhanh sang phát triển canh tân đất nước, nhờ vốn và kĩ thuật hiện đại của các công ti này.

Về lí thuyết, chủ trương này bao gồm một số mục tiêu chính:

  • Tạo công ăn việc làm và nâng cao trình độ chuyên môn cho công nhân VN
  • FDI hợp tác với các doanh nghiệp VN, chuyển giao kĩ thuật công nghiệp hiện đại và giúp công nghiệp VN phát triển kiến thức quản trị
  • Thu được các nguồn ngoại tệ mạnh để làm vốn cho phát triển kinh tế
  • Các sản phẩm của FDI xuất cảng sẽ mang lại số thuế lớn cho ngân sách quốc gia
  • Các FDI sẽ sử dụng các kĩ thuật hiện đại, nên tránh làm bãi rác công nghệ

Tuy Luật đầu tư cho nước ngoài đầu tiên ra đời từ 1988 (QH thông qua 29.12.1987)[35], nhưng phải đợi tới giữa thập niên 90 sau khi VN và HK bình thường hóa quan hệ ngoại giao thì các các công ti FDI mới dồn dập vào làm ăn ở VN.[36] Điều 27 Luật đầu tư cho doanh nghiệp nước ngoài năm 2005 qui định các lãnh vực được ưu đãi, trong đó Khoản 3 ghi rõ “Sử dụng công nghệ cao, kĩ thuật hiện đại; bảo vệ môi trường sinh thái.”. [37] Tuy nhiên phải đợi tới sau khi VN gia nhập WTO vào cuối năm 2006 thời Nguyễn Tấn Dũng làm Thủ tướng (TT) thì các công ti lớn quốc tế mới đổ hàng tỉ USD đầu tư vào VN. Chỉ riêng 9 tháng đầu 2008 vốn đăng kí đầu tư nước ngoài vào VN đã lên tới 57 tỉ USD. Trong đó có 8 dự án có vốn đăng kí trên 1 tỉ USD/dự án.[38] Tới cuối 2012 có tất cả 14.364 dự án đang hoạt động với tổng số vốn đăng kí lên tới 212,846 tỉ USD. Trong đó chủ yếu là các công ti FDI với 100% vốn nước ngoài chiếm tới 79,61% tổng số dự án và 66,51% tổng vốn đăng kí; số công ti FDI liên doanh với tư nhân VN và DNNN chỉ chiếm 17,86% tổng số dự án và 25,92% tổng vốn đăng kí.

Trong dịp tổng kết 30 năm chính sách đối với FDI (1988-2018) một số cơ quan và chuyên viên đã phân tích các hoạt động và kết quả của FDI đối với kinh tế VN. Thứ trưởng bộ Kế hoạch và Đầu tư Vũ Đại Thắng cho biết, VN “đã thu hút được trên 25.000 dự án FDI với tổng vốn đăng ký đạt 320 tỉ đô la Mỹ”.[39] Theo TS Vũ Thành Tự Anh, Đại học Fulbright VN, đầu tư trực tiếp nước ngoài trong ba thập niên qua “đang tạo ra khoảng 70% giá trị xuất khẩu, 50% giá trị sản xuất công nghiệp và 20% GDP của cả nước”.[40] Trong khi FDI chiếm trên 2/3 tổng xuất khẩu và ½ tổng giá trị sản xuất công nghiệp của VN thì “hệ số chuyển giao công nghệ” của các doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp nội lại “thấp nhất trong khu vực ASEAN, thua cả Lào và Campuchia”. Chính sự kiện này đã được Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) ông Vũ Tiến Lộc xác nhận trong cuộc Hội thảo ở HN ngày 30. 8.18. [41]

Nói một cách khác, vai trò của các doanh nghiệp FDI đang đóng vai trò then chốt có tính cách quyết định cho tương lai của kinh tế VN, nhưng hầu như không có chuyển giao công nghệ với các doanh nhiệp tư nhân VN. Nguy hiểm nữa là, rất nhiều xí nghiệp FDI đã sử dụng các máy móc cũ và có trình độ công nghiệp rất thấp, ngày càng đe dọa môi trường sinh thái của VN, điển hình như thảm họa cá chết hàng loạt phủ trắng ven biển các tỉnh miền Trung do đại công ti Formosa gây ra năm 2016. Điều này hoàn toàn trái ngược với các mục tiêu đã đưa ra của nhà cầm quyền toàn trị VN xuyên qua các Luật đầu tư cho các doanh nghiệp nước ngoài tại VN trong hơn 30 năm qua.

Cũng theo báo cáo vào đầu năm 2018 của VCCI, “mỗi năm có khoảng từ 40-50% doanh nghiệp FDI kê khai lỗ, trong đó, có rất nhiều doanh nghiệp lỗ liên tục trong nhiều năm, thậm chí có doanh nghiệp lỗ lũy kế đến mức âm vốn chủ sở hữu, nhưng vẫn tiếp tục hoạt động bình thường, kể cả việc mở rộng quy mô kinh doanh. Một số địa phương thu hút nhiều doanh nghiệp FDI như thành phố HCM, Bình Dương, tỉ lệ doanh nghiệp FDI kê khai lỗ lên đến 50-60%, trong đó có nhiều doanh nghiệp kê khai lỗ trong nhiều năm”.[42] Tình hình rất lạ lùng như thế phải hiểu theo nhiều mặt. Đó là: 1. Những đóng góp thuế thực sự của FDI vào ngân sách quốc gia ở mức rất thấp. 2. Mức chuyển giao kĩ thuật công nghệ cho các doanh nghiệp nội địa rất thấp. 3. Sử dụng các máy móc cũ nên đang tạo nguy hại về môi trường.

Mặc dầu tình hình phát triển của các công ti FDI đi ngược lại với các chủ chương và chính sách của chế độ toàn trị trong việc thu hút đầu tư của nước ngoài, vậy tại sao họ vẫn được mở rộng làm ăn ở VN? Những nghịch lí này của FDI đang diễn ra ở VN trong suốt mấy thập niên qua. Tại sao các nghịch lí ngày không được cải thiện, ngược lại còn đang mở rộng từ thời Nguyễn Tấn Dũng và đang gia tăng từ khi Nguyễn Xuân Phúc làm TT? Những người cầm đầu chế độ toàn trị có làm chủ động trong các chính sách đối với FDI, hay đã bị lệ thuộc và bị sai khiến bởi các nhóm lợi ích cấu kết với các công ti FDI từ ngay trong giai đoạn hoạch định chính sách?

Các công ti FDI tại VN phân loại theo hình thức đầu tư (2012)

TT Hình thức đầu tư Số dự án Tổng vốn đăng kí (triệu USD)  Tỉ trọng (%)Số dự án  Tổng vốnđăng kí
1 100% vốn nước ngoài 11.370 141.582,33 79,16      66,62
2 Liên doanh  2.566  55.162,65 17,86      25,92
3 Hợp đồng BOT, BT, BTO     14   5.857,32  0,10       2,75 
4 Hợp đồng hợp tác kinh doanh    218   5.469,09  1,52       2,57
5 Công ti cổ phần    195   4.677,21  1,36       2,20
6 Công ti mẹ con     1      98,01   0,01       0,05
Tổng số 14.364 212.846,61  100       100

Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài, 2013. Xuất xứ: NCKT 4.2013,tr. 47

Nhà nước CS ưu đãi tối đa cho các công ti FDI về nhiều mặt, như đất đai lập công xưởng, được ưu đãi thuế rất thấp các năm đầu, lương công nhân thấp; nhập khẩu máy móc, mua sắm trang thiết bị và hàng từ công ti mẹ hưởng chế độ giảm thuế đặc biệt, giành ưu đãi cho họ chuyển lợi nhuận về công ti mẹ. Ngoài ra để thu hút FDI, mỗi địa phương còn được quyền đưa ra các biện pháp ưu đãi cao hơn; ngoài việc miễn giảm tiền thuế đất, tiền sử dụng đất lên tới 50% theo NQ 62 của CP, còn gia hạn thêm thời gian miễn giảm thuế từ 3-6 năm.[43] Chế độ toàn trị cho lập nhiều Khu chế suất và Khu công nghiệp giành riêng cho các công ti FDI. Các công ti FDI tập trung hoạt động trong lãnh vực sản xuất hàng hóa xuất khẩu, như giầy dép, quần áo, linh kiện điện tử. Khi chương trình mở rộng các đô thị được ban hành, nhiều công ti FDI đã tìm cách hợp tác với các DNNN để lợi dụng chính sách ưu đãi của NHNN trong việc vay với lãi suất rất thấp những số tiền rất lớn lên tới 135.000 tỉ đồng (>8,4 tỉ USD) vào khu vực bất động sản. Như các dự án Nam Thăng long-Ciputra, Hồ Tràm của một công ti Canada (4,2 tỉ USD), Starbay của British VirginIslands (1,65 tỉ USD) và Khu công nghiệp Thủ thiêm của Singapor (1,2 tỉ USD) khi ấy. Họ còn lợi dụng sự dễ dãi và khuyến khích của chính quyền trung ương và các địa phương, nên nhiều năm -nhất là thời Nguyễn Tấn Dũng- đã ồ ạt lập 78 sân golf với tổng số vốn đăng kí là 13,3 tỉ USD và chiếm một diện tích 26.170 ha ở 39 thành phố/tỉnh. Ngoài ra cũng trong thời gian này còn có 66 dự án khác xây sân golf.

Chính TCCS đã đăng bài của hai chuyên gia kinh tế của Cơ quan Phát triển của LHQ ở VN tường thuật cách biến đất nông nghiệp thành các sân golf làm nơi giải trí của các nhà tư bản nước ngoài và các quan đỏ. Theo qui định của Nhà nước thì tiền bồi thường cho đất nông nghiệp rất thấp. Không những thế đất xây sân golf còn được coi là dùng vào thể thao, “nên được hưởng mức thuế đất ưu đãi”. Vì thế nhiều công ti FDI đã lợi dụng dùng một phần đất sân golf để xây “khách sạn, nhà hàng và giải trí”. Họ đầu cơ xây các sân golf, khách sạn và các khu giải trí với các ưu đãi cao nhất để hi vọng có thể thu hồi vốn và có lời nhanh. Trong việc xây dựng các khu vực bất động sản, nhiều công ti FDI đã dùng uy tín và mánh lới là công ti ngoại quốc, có quan hệ tốt với các quan đỏ có quyền lực, nên nhiều khi họ chỉ cần xây móng xong là đã rao bán. Người mua (thường là cán bộ có máu mặt) sẵn sàng bỏ ra số tiền lớn đặt cọc trước. Như vậy là các công ti FDI đã dùng tiền của người mua nhà để xây nhà, họ chỉ phải bỏ ra số vốn rất ít nhưng hưởng lợi nhuận rất cao. Có dư luận cho rằng, dự án Ciputra và Keangnam (Đại hàn) thuộc loại đầu cơ như vậy.[44] Đây chính là cách làm ăn móc ngoặc, làm giầu nhanh bất chính giữa các quan đỏ với nhiều công ti nước ngoài.

Một hiện tượng rất phổ biến là, nhiều doanh nghiệp FDI đã khai lỗ nhiều năm liên tiếp, trong khi đó họ vẫn gia tăng đầu tư tại VN. Như ở Khu chế suất tại Bình dương số doanh nghiệp FDI khai lỗ năm 2010 là 754/1490, chiếm tỉ trọng 50,6%; trong đó có tới 200 doanh nghiệp mức lỗ cao hơn cả vốn. Tại Sài gòn và Đồng nai số doanh nghiệp FDI khai lỗ cũng lên tới 60% và 52,2%. Tại Lâm đồng số doanh nghiệp FDI khai lỗ là 104/111. Mánh lới phổ thông thứ hai của các công ti FDI là khai giá các tài sản như máy móc, thiết bị, nguyên liệu, dịch vụ, phí bản quyền… cao hơn nhiều so với giá thực tế. Mặc dầu đa số máy móc chuyển sang VN đều thuộc loại trình độ kĩ thuật cũ và gây ô nhiễm cao. Đây là thuộc vào các vốn đầu tư, từ đó họ có lợi thế để tính thuế. Họ còn khai vay tiền các ngân hàng với lãi suất rất cao, hoặc các chi phí cho dịch vụ như quản lí, quảng cáo, tiếp thị, đào tạo, thuê chuyên gia. Đây là những chi phí đầu vào. Từ đó vào cuối mỗi năm họ có thể khai lỗ, hoặc lời rất ít để được miễn thuế hoặc chỉ đóng thuế rất ít. Năm 2009 có 760/1.358 (56%) công ti FDI khai lỗ. Các thủ đoạn này làm ngân sách nhà nước thất thu hàng năm rất lớn.[45]

Một hiện tượng phổ thông khác là, đại đa số các công ti nước ngoài hoạt động tại VN theo hình thức 100%, không thích liên kết với các doanh nghiệp VN vì nhiều lí do, từ bí mật nghề nghiệp, khác biệt ngôn ngữ tới sự phân hóa quá nhỏ của các doanh nghiệp tư VN. Đặc biệt nhất là, nhà cầm quyền CS rất cần ngoại tệ qua sự đầu tư của các công ti FDI nên không dám có những chính sách rõ ràng -như TQ và một số nước Á châu- để các công ti FDI phải tích cực hợp tác với doanh nghiệp tư nhân VN. Vì thế các doanh nhân, doanh nghiệp VN và công nhân mất các cơ hội tốt để học tập kĩ thuật, cách quản trị và điều hành các hãng xưởng theo trình độ mới.

Không chỉ chèn ép giới kinh doanh tư nhân VN, các công ti FDI còn tìm cách bóc lột hàng triệu công nhân bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, với sự làm ngơ hoặc tiếp tay nhà cầm quyền CS. Tính tới năm 2012 có 283 Khu công nghiệp trên 58 tỉnh/thành phố, chiếm diện tích 76.000 hecta. Trong đó miền Đông Nam Việt nhiều nhất với 88 khu công nghiệp ( 31,1%), Đồng bằng sông Hồng 24,7%, Đồng bằng Cửu long 17,7%, Miền Trung 15,5%. Chia theo tỉnh/thành phố thì Đồng nai có 30 Khu công nghiệp, Bình dương 25, Sài gòn 19, Hà nội 11…Riêng Đồng bằng Cửu long có 51 Khu công nghiệp và 200 cụm công nghiệp chiếm diện tích 25.000ha, nhưng mới sử dụng khoảng 20%. Nhiều Khu công nghiệp bị qui hoạch treo phí phạm đất canh tác.[46] Số lao động làm trong các Khu công nghiệp tăng rất nhanh. 1995 mới có 50.000 công nhân, năm 2000 đã tăng lên 201.000, năm 2007 lên tới 1,04 triệu và 1,765 triệu công nhân vào năm 2011. Bình quân số công nhân làm trong các khu công nghiệp gia tăng hàng năm từ 10-15%.

Trong khi số công nhân gia tăng rất nhanh thì Nhà nước CS không có chính sách để các doanh nghiệp FDI có chương trình xây dựng cư xá cho công nhân. 80% công nhân phải thuê phòng trọ ở bên ngoài. Nếu tính theo tỉ lệ và diện tích các phòng trọ thì thật khủng khiếp: Số công nhân phải sống trong phòng rộng dưới 3m² chiếm tới 19%, 3-5m² (21,4%), 5-7 m² (10,6%),8-10m² (22%), 11-20m² (22,4%); số công nhân có phòng trọ trên 20m² chỉ có 5,9%. Rất nhiều trường hợp 3 công nhân phải thuê 1 phòng 10-12m², giá thuê 250.000-300.000đ/tháng (2012). Không chỉ phải ở trong các phòng trọ chật chội, thiếu tiện nghi, thiếu vệ sinh như các chuồng gà; còn thiếu các nhà trẻ, trường học, trạm y tế, chợ, siêu thị, giải trí…Đấy là chưa kể chính sách “hộ khẩu” đã khiến cho con cái công nhân không được thu nhận vào các trường học. Điều này ảnh hưởng vô cùng bất lợi cho hàng trăm ngàn thiếu niên.[47]

Cuộc sống lam lũ của hàng triệu công nhân, đa số là phụ nữ và con thơ, trong các khu công nghiệp giành cho các công ti FDI là những hình ảnh sống động nhất và tồi tệ nhất như thời Cách mạng Công nghiêp hai thế kỉ trước, với cảnh bóc lột của thời kì tư bản rừng rú. Trong đó có sự cấu kết công khai giữa vua chúa cầm quyền và bọn tư bản bóc lột. Nhưng rất oái ăm và lạ lùng là, tình trạng vô nhân đạo này lại tái diễn vào đầu Thế kỉ 21 tại VN trong khuôn khổ chế độ XHCN; trong đó những người cầm đầu luôn luôn vỗ ngực, đó là chế độ bảo vệ người lao động, bảo vệ quyền làm người!

Không những thế nhiều công ti FDI vi phạm qui luật lao động, thậm chí vi phạm cả luật hình sự đối với công nhân VN. Như ngược đãi công nhân, làm tới 12 giờ/ngày, đánh đập công nhân. Nhiều công ti Nam hàn đã vi phạm. Các vụ đình công diễn ra khá phổ biến trong các công ti của Đài loan và Nam hàn. Năm 2010 xẩy ra 62 vụ đình công ở Sài gòn, trong đó 37 vụ trong các công ti FDI. Trong số này 21 vụ ở các công ti Nam hàn.[48] Số các công ti của Nam Hàn, Đài loan, Hồng kông và Nhật chiếm một tỉ lớn của FDI hoạt động ở VN. Điều này có thể hiểu, các nước này không chỉ là láng giềng mà còn có nền văn hoá tương đồng với VN, hiểu rõ tâm lí và tập quán của người Việt, đặc biệt một số các nước này không coi trọng nhân quyền và quyền lợi của công nhân ngay ở trong nước họ!

Một hình ảnh “thân dân” rất kịch cỡm đã được TT Nguyễn Xuân Phúc dàn cảnh trong chuyến thăm công nhân tại một công ti FDI ở Đồng nai vào cuối tháng 10.2017. Đây cũng là công ti mà hơn một năm trước, khi mới nhận chức TT ông Phúc đã thăm. Nay ông trở lại để xem có tiến bộ hay không. Tại đây TT đã hỏi công nhân về tình hình lao động và cuộc sống hàng ngày của họ. Khi tới bàn ăn của công nhân ông hỏi: “Bữa ăn từ 16.000-23.000 đồng có đảm bảo chất lượng không? Sau giờ làm việc, công nhân có thời gian để sinh hoạt văn hóa, thể thao hay không? Mức lương và cuộc sống có đảm bảo không?”[49] Tại sao Nguyễn Xuân Phúc không tổ chức một cuộc thăm bất ngờ ở một công ti FDI khác để biết các bữa ăn trưa thịt ôi canh ủng chỉ với giá hai ba ngàn đồng; hay đi thăm các phòng trọ như ổ chuồng gà giành cho công nhân?

Theo bộ Kế hoạch và đầu tư, tới cuối 2017 có 128 quốc gia và vùng lãnh thổ đã đầu tư vào Việt Nam. Lần đầu tiên Nam Hàn đang dẫn đầu với tổng vốn đăng ký 57,1 tỷ USD (chiếm gần 18,2%), thứ hai là Nhật bản với 46,3 tỷ USD, tiếp đến là Singapore và Đài loan.[50]

Tờ Quân đội Nhân dân (QĐND) cũng cho biết, hiện các công ti FDI đang sử dụng khoảng 30% lực lượng lao động công nghiệp”.[51] Nhưng mặt khác, khu vực FDI đang bộc lộ những mặt trái gay gắt; như gây ô nhiễm môi trường rất nghiêm trọng, nạn chuyển giá bất hợp pháp, sử dụng công nghệ lạc hậu. BCT đưa ra mục tiêu là, dùng FDI để lan tỏa công nghiệp hiện đại cho kinh tế tư nhân nội địa, nhưng thực tế đã không diễn ra như vậy. Theo điều tra của Phòng Thương mại và Công nghiệp VN (VCCI), các công ti FDI “chỉ mua khoảng 26,6% thiết bị, đầu vào từ DN Việt Nam, còn lại là nhập khẩu và nhập từ công ty mẹ. Điều này chứng tỏ, DN Việt Nam đang được hưởng lợi rất ít từ hiệu ứng lan tỏa do dòng vốn FDI mang lại qua quá trình chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và nâng cao năng suất”. Trong báo cáo “Việt Nam tăng cường năng lực cạnh tranh và liên kết của DN vừa và nhỏ (DNVVN)-Bài học kinh nghiệm trong nước và quốc tế” Nhóm nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới cũng xác nhận, “các DNVVN của Việt Nam chủ yếu là nhà cung cấp cấp ba (gián tiếp), được mô tả như là ngành sản xuất các nguyên liệu đầu vào, nguyên liệu đơn giản và ít giá trị gia tăng”.[52]

***

Nếu so sánh giữa chủ trương (lí thuyết) và kết quả thực tiễn trong việc thực hiện chính sách FDI gần ba thập kỉ qua của chế độ toàn trị CSVN thì càng thấy rõ sự khác biệt rất rõ rệt như trắng với đen giữa mục tiêu và kết quả:

– Chủ trương dùng FDI để thúc đẩy công nghiệp VN phát triển. Nhưng oái oăm đại đa số các FDI chỉ làm ăn riêng, cho nên đến nay nhiều doanh nghiệp tư VN đã không làm được cái đinh ốc!

– Chủ trương dùng FDI để VN có “công nghiệp xanh”. Nhưng nay nhiều FDI đang biến VN thành bãi rác thải công nghiệp độc hại, không những thế họ chỉ chuyển vào VN các máy móc có trình độ kĩ thuật rất thấp.

– Chủ trương bảo vệ quyền lợi lao động của công nhân trong các công ti FDI, nhưng thực tế hàng triệu công nhân VN đang bị bóc lột và bạc đãi!

Tự vỗ ngực là những người lãnh đạo CS giầu kinh nghiệm, biết rõ tâm đen của các giới tư bản, nhưng tại sao họ lại trải thảm đỏ mời gọi FDI, thế rồi bị sỏ mũi? Họ nghĩ rằng có thể tương kế tựu kế? Nhưng nếu xét qua nhiều giai đoạn tham gia của FDI ở VN thì cho thấy, họ bị chạy theo, rất bị động chứ không chủ động. Những sự cố về ô nhiễm môi trường đã xẩy ra và các hậu quả vô cùng tai hại của nó, cũng như lương bổng bị bóc lột và đời sống đói rách của hàng triệu công nhân cho thấy, khi lập kế hoạch mời FDI họ ở thế bị động, cứu đảng và cứu mình để nắm quyền nên phải nhắm mắt làm liều.

Lời xác nhận của Nguyễn Phú Trọng trong vụ Formosa: “Trước kia chúng ta kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu, nên bây giờ chúng ta phải trả giá”. (Xem Chương chín, V). Lời xác nhận trên của người cầm đầu chế độ toàn trị không chỉ giới hạn trong lãnh vực môi trường, mà có giá trị cả trong các lãnh vực khác, như chờ đợi FDI chuyển vào VN những công nghệ với kĩ thuật tiên tiến, hay bảo vệ quyền lợi lao động của công nhân.

Sự tăng trưởng về vốn đầu tư vào VN hay kim ngạch xuất khẩu gia tăng của FDI không đồng nghĩa với những lợi ích cho VN. Nhiều khi đi ngược lại các mục đích ban đầu của CSVN: Xuất khẩu gia tăng nhưng nhập khẩu cũng gia tăng; gia tăng số lượng công ti FDI nhưng lại giảm số công ti FDI hợp tác với doanh nghiệp tư VN và các thiết bị đưa vào VN có trình độ kĩ thuật thấp, đang biến VN thành nơi tiêu thụ các máy móc lỗi thời, nguy hiểm nữa là thành bãi rác đầy chất độc công nghiệp. Điều cực kỳ nguy hiểm nữa là, sự kiện ngày càng lớn mạnh của FDI dẫn tới hậu quả, ngày càng òi ọp của doanh nghiệp tư nhân VN và kinh tế VN càng lệ thuộc bên ngoài!

Cuối tháng 11.18 tại cuộc Hội thảo đánh giá hiệu quả chính sách thu hút và ưu đãi đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong các thập niên vừa qua do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) tổ chức, nhiều chuyên viên đã lên tiếng cảnh báo về những hệ lụy vô cùng bất lợi trong nhiều lãnh vực cả trước mắt và lâu dài của chủ trương “quá sính ngoại” của chế độ toàn trị đối với các công ti FDI. Chuyên viên ngân hàng Phạm Xuân Hòe nhận xét, “khối FDI được rất lớn, còn VN chỉ được mấy đồng lương còi cho người lao động. Trong khi ô nhiễm môi trường không biết phải chi bao nhiêu cho đủ và người công nhân cũng luôn phải đối mặt với rủi ro”. [53]

***

Trước đây cũng như hiện nay một số nước Âu châu cũng như Á châu lấy xuất cảng làm trọng tâm. Trong giai đoạn đầu mãi lực nội địa không cao, vốn ít; nên để tạo điều kiện phát triển nhanh hơn, các quốc gia này cần vốn của cả bên ngoài. Nhưng mục tiêu lâu dài vẫn phải lấy nội lực làm chính. Đây là những suy nghĩ sáng suốt và thực tế. Bởi vì hoạt động kinh tế liên quan trực tiếp tới đồng tiền bát gạo. Ta không thương ta thì chẳng ai đoái hoài. Tâm lí chung là không ai giúp một cách vô công, có đi có lại. Nhưng phải hiểu tâm lí và động cơ của các nhà tư bản. Đối với họ, lợi nhuận là tiêu chí giá trị cao nhất, nơi nào thu hoạch có lời cao, thuế thấp cùng các ưu đãi khác thì họ sẽ đổ xô tới; nếu không còn thì họ lại bỏ đi tìm nơi khác. Chính tâm lí này của các giới tư bản đã được cựu Phó TT Đức và cựu Chủ tịch Đảng Dân chủ Xã hội Đức F. Müntefering mô tả; ông đã ví giới này như các đàn cào cào, châu chấu, nơi nào có ăn thì cả đàn tới, khi hết rồi thì cả đàn lại bay đi nơi khác kiếm ăn![54]

Như trước đây ở Nhật, Đài loan và Đại hàn và hiện nay ở TQ, một mặt họ khuyến khích tư bản nước ngoài bỏ vốn vào đầu tư ở nước họ. Xuyên qua nguyên tắc hợp tác, các FDI được giành một số ưu đãi nhất định trong hoạt động kinh doanh, nhưng đồng thời phải thực hiện nghiêm túc các nghĩa vụ và các thỏa thuận với các quốc gia này. Trong đó ngoài nhiệm vụ đóng thuế sòng phẳng, còn phải chuyển giao công nghệ tân tiến và đào tạo chuyên môn cho người lao động bản xứ.

Cách vận hành của một nền kinh tế lấy xuất cảng làm trọng tâm có đặc điểm là, các công ti FDI dùng công nhân bản xứ với lương bổng thấp, nhờ đó giá thành các hàng hóa thấp, nên các sản phẩm này có thể bán chạy ở nhiều nước công nghiệp. Nhờ thế các công ti FDI hưởng lợi nhuận rất cao. Trong khi đó nhà nước sẽ thu ngoại tệ để tăng mức ngoại hối và thu được thuế từ các hàng xuất khẩu; nhờ đó ngân sách quốc gia được gia tăng để có thể đầu tư và canh tân đất nước tiến tới tự lập tự cường. Nhưng các mục tiêu và cách thực hiện đường lối kinh tế này chỉ thành công trong một số điều kiện nhất định, ắt có và đủ. Đó là phải có một hệ thống chính trị tốt, trong đó những người nắm vận mệnh đất nước phải có tinh thần trách nhiệm cao, có tầm nhìn sâu rộng; quốc hội, hệ thống tòa án phải có thực quyền; các công chức phải chí công vô tư; có hệ thống báo chí độc lập và các đoàn thể xã hội dân sự được tự do hoạt động. Mặt khác phải có các chính sách khuyến khích và bảo vệ các giới doanh gia và tư thương nội địa trong việc bỏ vốn và sáng kiến vào các hoạt động sản suất và kinh doanh để làm giầu cho chính mình và đất nước.

Nếu chỉ thích hoàng nhoáng bề ngoài, thích giả dối; gộp nhập trên 2/3 kim ngạch xuất khẩu hàng năm từ FDI vào GDP để trưng diện là lợi tức đầu người ở VN đang tăng nhanh. Nhưng đó chỉ là giả dối, vì phần lớn thu nhập của các công ti FDI lại được chuyển nhanh về công ti mẹ ở mẫu quốc. Cả phần thuế của FDI vào ngân sách quốc gia cũng rất thấp; vì họ được ưu đãi thuế, trốn thuế bằng cách khai lỗ, hay chỉ phải trả mức thuế rất thấp!

Cân nhắc giữa quyền lợi quốc gia và sự phân công quốc tế cùng có lợi cho các bên, thì nếu sự đầu tư của nước ngoài đem lại những lợi ích thiết thực cho việc phát triển nhanh và bền vững cho đất nước, sẽ là một việc rất đáng hoan nghênh. Không nên có thái độ bài ngoại quá khích, nhất là trong giai đoạn toàn cầu hóa. Bế quan tỏa cảng chỉ làm trì trệ đất nước thêm. Nhưng mục tiêu này chỉ có thể thành công, nếu có một chính quyền có tầm nhìn xa trông rộng, biết cân nhắc ưu và khuyết điểm của kế hoạch xây dựng đất nước; có chính sách mở cửa thích hợp, biết sử dụng vốn tư bản nước ngoài, công nghệ tân tiến nước ngoài và kiến thức quản trị và trình độ chuyên môn cao của họ. Đó là tạo những điều kiện ắt có và đủ cho việc canh tân VN. Nhưng suốt trên 30 năm qua các điều kiện trên đều không có!

  1. Tư doanh VN bị bạc đãi và bị chèn ép

Từ trước tới nay, đặc biệt dưới thời Nguyễn Tấn Dũng làm TT, các NQ của nhiều ĐH đảng và chính sách kinh tế của chính phủ đều nhấn mạnh phát triển nội lực. Nghĩa là về mặt lí thuyết, các doanh nghiệp VN (DNNN và tư nhân) phải là nồng cốt cho phát triển kinh tế. Các Luật về Doanh nghiệp tư nhân 2000 và 2005 qui định về hoạt động của kinh tế tư nhân trong nước. Nhưng trong thực tế thì lại hoàn toàn khác. Trong khi các công ti nước ngoài FDI ngày càng bung ra chiếm lãnh thị trường và các DNNN được giành ưu đãi trong tín dụng và đất đai, lại nắm độc quyền nhiều lãnh vực được coi là huyết mạch của nền kinh tế. Còn các doanh nghiệp tư nhân nội địa lại không ngóc đầu lên được, phải chịu đựng một cổ hai ba tròng, vừa bị các DNNN chèn ép, lại bị các công ti FDI cạnh tranh, đồng thời còn bị các quan đỏ móc túi và trấn áp.

Có nhiều con số khác nhau về doanh nghiệp tư nhân VN từ nhỏ, trung bình đến lớn (tính theo số công nhân và vốn đầu tư). Theo Cục Quản lí đăng kí kinh doanh của bộ Kế hoạch và đầu tư, tính tới Quí 1/2014 có tất cả 789.813 doanh nghiệp tư nhân VN đã đăng kí, trong đó 296.206 doanh nghiệp đã phải đóng cửa hoặc phá sản. Riêng từ khi VN gia nhập WTO (2007) số doanh nghiệp tư nhân gia tăng cao, mỗi năm có trên 50.000 doanh nghiệp được thành lập.[55] Nhưng đồng thời số doanh nghiệp ngưng hoạt động hoặc phá sản cũng rất cao. Theo báo cáo của Phòng Thương mại và Công nghiệp VN ngày 13.4.16, có đến 428.000 doanh nghiệp tư nhân VN phải ngừng hoạt động hoặc giải thể trong giai đoạn 2007-2015, tương đương với 45,5% tổng số doanh nghiệp được thành lập kể từ khi có Luật Doanh nghiệp năm 2000 đến nay. [56]

Xét về qui mô lao động thì các doanh nghiệp VN ngày càng có khuynh hướng nhỏ đi. Vào năm 2002 một doanh nghiệp có trung bình 74 lao động, đến 2007 chỉ còn 47 lao động, nhưng tới 2012 lại giảm chỉ còn khoảng 32 lao động. Vào năm 2012 số doanh nghiệp vừa là lớn chỉ chiếm khoảng 4,3%, doanh nghiệp nhỏ chiếm 29% và siêu nhỏ chiếm 66,8% (dưới 10 lao động). Năm 2002 số doanh nghiệp siêu nhỏ chiếm 53,1% đã tăng lên 66.8% vào năm 2012. Tình hình chung rất đặc biệt là, trong suốt 10 năm (2002-2011) rất ít doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ phát triển thành doanh nghiệp vừa hoặc lớn. Nhưng ngược lại, tỉ lệ các doanh nghiệp vừa lại biến thành nhỏ và siêu nhỏ lại gia tăng. Thành thử nhiều chuyên viên đã rất chua chát phải nêu câu hỏi, tại sao các doanh nghiệp tư nhân VN “không lớn lên được”? [57]

Cũng vào giai đoạn này đã có bài thơ rất chua chát và mỉa mai, vì sao đất nước không lớn lên được với tựa đề “Đất nước mình ngộ quá phải không anh?” của Thạc sĩ Trần Thị Lam, một nữ giáo viên trung học ở Hà Tĩnh, được phổ biến rất rộng rãi và được phổ nhạc. Bài thơ được phổ biến vào dịp sau biến cố thảm họa môi trường do Formosa ở Hà tĩnh gây ra, 4.2016.[58] (Xem phần sau).

Viện trưởng Viện Kinh tế VN Trần Đình Thiên nêu câu hỏi, tại sao Nhà nước vẫn nói là kinh tế chuyển dịch tốt, nhưng công nghiệp VN vẫn yếu? Ông dẫn chứng, công nghiệp chế biến, chế tạo là lãnh vực then chốt trong phát triển kinh tế, nhưng sau 30 năm chỉ tăng 1,6%.  Ông dẫn chứng nguyên nhân dẫn tới tụt hậu vì các chính sách sai lầm. Theo ông, “trong thời đại công nghệ cao mà lĩnh vực chế biến chế tạo chỉ tăng như vậy thử hình dung công nghiệp Việt Nam giậm chân tại chỗ hay thụt lùi ghê gớm so với thế giới? Ta thích công nghiệp khai khoáng, xây dựng, tập trung gia công còn lĩnh vực tạo năng lực cốt lõi là chế biến chế tạo lại rất yếu”. Ông trách là, Nhà nước CS đã quá chiều chuộng các công ti FDI, dẫn tới hậu quả là nay tùy thuộc quá nhiều vào họ.[59] Trong khi đó theo chuyên gia Phạm Chi Lan, chế độ toàn trị đã không tạo một sân chơi bình đẳng giữa các hoạt động kinh tế. Trong khi các Doanh nghiệp nhà nước, các công ti FDI và “doanh nghiệp tư nhân thân hữu” được biệt đãi (tiếp cận các nguồn lực, quyền kinh doanh, đầu tư công/mua sắm của chính phủ, bảo hộ để né cạnh tranh…) thì đại đa số doanh nghiệp vừa và nhỏ ở vị thế rất bất lợi, nên không lớn lên được và dễ bị đào thải. [60]

Tới 2014 cả nước có khoảng gần 3000 doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ và hoạt động rất yếu. Ngay bộ Công thương cũng cho biết, công nghiệp phụ trợ phải sử dụng tới 80% nguyên liệu nhập khẩu, lại chỉ tập trung vào các hoạt động đơn giản như đóng gói, bao bì. Các ngành công nghiệp phụ trợ như giầy dép, dệt may… phần lớn nằm trong tay các công ti FDI. Các công nhân VN chỉ làm công tác gia công; trong khi ấy phần chính nguyên liệu phải nhập cảng, nhất là từ TQ. [61] Trong khi nhóm cầm đầu toàn trị thề thốt là công nghiệp hóa hiện đại hóa nền kinh tế thì nhiều chuyên viên đã chỉ trích và cảnh báo nghiêm khắc là, “hiện nay VN đang trở thành quốc gia có nền công nghiệp gia công toàn diện”, tức là chỉ đi làm thuê và làm những công việc phụ thuộc cho các công ti FDI.[62] Ngoài các nguyên nhân không có sân chơi bình đẳng và bị chén ép, các doanh nghiệp tư nhân VN còn bị cán bộ nhũng nhiễu, hàng năm phải tiếp nhiều phái đoàn thanh tra, muốn được yên thì phải trao “phong bì”! Tiến sĩ Cao Sĩ Kiêm, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa, đã cho biết, theo số liệu từ một cơ quan nghiên cứu có tới 73% doanh nghiệp phải lót tay cho cán bộ. [63]

Ngay tại QH vào cuối năm 2015 (22.10.15) Bộ trưởng Kế hoạch và đầu tư Bùi Quanh Vinh vừa than thở vừa trách móc là: “Một đất nước muốn tự chủ kinh tế thì doanh nghiệp của nước ấy phải phát triển. Doanh nghiệp nội địa phát triển thì mới hỗ trợ cho khu vực FDI, và tiếp thu công nghệ của nước ngoài… Nhiều doanh nghiệp FDI, như Nhật Bản, muốn chuyển giao công nghệ, nhưng doanh nghiệp chúng ta không có nền tảng để nhận. Chúng ta kêu ca doanh nghiệp FDI không chuyển giao công nghệ là do có hai mảng. Thứ nhất họ không chuyển giao, và thứ hai, họ có chuyển giao thì chúng ta cũng không có đủ năng lực tiếp nhận”.[64]

Trong buổi tọa đàm với Hội Doanh nhân trẻ VN vào cuối năm 2018 TS Trần Đình Thiên, nay là thành viên Tổ tư vấn kinh tế của TT, đã phải chua chát nhận xét, sau trên 30 năm “đổi mới” nhưng doanh nghiệp tư nhân VN chỉ đóng góp 8% GDP; trong khi đó đóng góp của FDI lên tới 20% và DNNN khoảng 27-28%. Theo ông, ở trong một nước phát triển kinh tế thực sự với nội lực làm chủ yếu dựa trên kinh tế thị trường thì khu vực doanh nhân nội địa đóng góp đến 60-70%, nếu mạnh thì đến 80-90%. Nhưng ở VN sau trên “30 năm phát triển kinh tế thị trường rực rỡ mà chỉ có 8%”. Một trong những lí do chính là doanh nghiệp tư nhân VN đang bị bạc đãi và chèn ép. Ông dẫn chứng, trong khi các doanh nghiệp FDI chỉ phải chịu mức thuế trung bình là 11% thì các doanh nghiệp VN phải đóng thuế trung bình lên tới 29%, cao hơn gần 3 lần so với FDI![65]

Nói chung lại, trong suốt ba thập niên theo mô hình Kinh thế Thị trường định hướng XHCN sở dĩ các xí nghiệp tư nhân VN không thể vươn lên được vì nhiều nguyên nhân: Bị chế độ toàn trị bỏ rơi và khinh rẻ, bị các DNNN và FDI chèn ép; không được đối xử bình đẳng trong việc tiếp nhận các nguồn lực kinh tế từ vay tiền, lãi suất, thuế vụ tới đất đai. Ngoài ra còn phải thường xuyên bị cán bộ các cơ quan đảng và nhà nước nhũng nhiễu!

  1. Hai trường hợp điển hình về chính sách

của Nhà nước CSVN với các công ti FDI

          Nguyễn Xuân Phúc ưu đãi Samsung

Từ tháng 2.17 Lee Jae-yong 49 tuổi, Phó chủ tịch công ti Samsung phải ngồi tù ở Nam Hàn, là người giầu thứ 3 của Nam Hàn với 6,6 tỉ Euro. Ông phải tù 5 năm vì các tội hối lộ, che dấu và khai man. Ông đã hối lộ một số tiền rất lớn cho cựu Tổng thống bà Park để mong sớm trở thành Chủ tịch Samsung. Nhiều cuộc biểu tình của hàng trăm ngàn người ở Nam Hàn phản đối quan hệ bất chính và tệ trạng tham nhũng- hối lộ giữa chính phủ và Samsung. Bà Park cũng bị cách chức Tổng thống. Cha ông là Lee Kun-hee (72t) năm 2009 cũng bị kết án 3 năm tù với các tội tương tự, nhưng không bị ngồi tù; từ 3 năm qua sau khi bị nhồi máu cơ tim trở thành hôn mê nhưng vẫn là Chủ tịch Samsung. Đầu tháng 2. 2018 Tòa án trả tự do cho ông với điều kiện. Tập đoàn Samsung chiếm tới 20% tổng sản lượng kinh tế của Nam Hàn, có 490.000 nhân viên. Trong quí 3/2017 đã đạt lợi nhuận 11,2 tỉ € (12,91 tỷ USD ), cao nhất từ trước tới nay. Dự đoán trong tương lai mức lợi nhuận còn cao hơn nữa.[66]

Trong cuộc gặp TT Nguyễn Xuân Phúc tại trụ sở chính phủ ngày 6.10.17 Tổng giám đốc Samsung Electronics Hàn quốc Shin Jong Kyun đã cho biết, sau 10 năm đầu tư vào VN đến nay tổng vốn đầu tư của Samsung đã lên tới 17 tỷ USD. Samsung dự kiến sẽ xuất khẩu hơn 50 tỷ USD trong năm 2017, chiếm trên 20% kim ngạch xuất khẩu của VN. Ông còn nhấn mạnh, các nhà máy đặt tại VN có quy mô lớn nhất, hiện đại nhất của Samsung.[67] Đây là cuộc gặp lần thứ hai của đại diện Samsung với Nguyễn Xuân Phúc trong năm nay và có lẽ lần này CP xác nhận giành ưu đãi sử dụng đất và thuế nhiều hơn nữa cho Samsung.

Cho tới trước khi cuộc gặp này Samsung đã nhận được nhiều ưu đãi đầu tư từ Chính phủ CS: “Hưởng thuế thu nhập doanh nghiệp 10% trong 30 năm, miễn 4 năm và giảm 50% trong 9 năm tiếp theo”. Ngoài ra, “các địa phương cũng đã giành cho Samsung các ưu đãi về tiền thuê đất, tiếp tục cho Samsung được giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm tiếp theo sau giai đoạn 9 năm đó”.[68] Các đại diện của Samsung vẫn chưa thỏa mãn với các ưu đãi này, nên họ đòi được đãi ngộ cao hơn sau việc gia tăng đầu tư. Trong cuộc gặp TT Nguyễn Xuân Phúc ngày 26.7.17 một đại diện Samsung ở Thái nguyên đã đề cao sự đầu tư của Samsung và cam kết “xuất khẩu hơn 50 tỷ USD trong năm nay”, tương đương với gần ¼ tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.[69]

Với mức kim ngạch xuất cảng gia tăng cao và nhanh như vậy, nên Nguyễn Xuân Phúc có thể dùng nó để phô trương thành tích tăng trưởng kinh tế của VN dưới quyền của ông! Vì thế ông đã hứa với đại diện Samsung là sẽ ra lệnh cho “Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ sớm cấp chứng nhận doanh nghiệp công nghệ cao cho Samsung VN vì đã đạt được các tiêu chí cần thiết”.[70] Sớm nhận được giấy chứng nhận “Doanh nghiệp công nghệ cao” là nỗ lực hàng đầu của Samsung từ lâu. Vì khi đó Samsung sẽ nhận được những ưu đãi cao nhất về đất đai và thuế.[71]

Trong kì họp cuối năm của QH đã có dư luận cho là, việc tăng trưởng quí 3/2017 tăng đột biến lên tới trên 7% là nhờ sự đóng góp quan trọng của hai đại công ti FDI Samsung và Formosa.[72] Có lẽ để giải quyết gánh nặng của nợ công ngày một chồng chất trong khi mức tăng trưởng kinh tế càng đi xuống, nên từ khi làm TT, Nguyễn Xuân Phúc còn dành ưu đãi đặc biệt cho các công ti FDI hơn cả người tiền nhiệm, đặc biệt cho Samsung. Cho nên Samsung đã đầu tư dồn dập vào VN để mở rộng các hoạt động kinh doanh trong năm 2016-2017. Chỉ trong nửa đầu năm 2017, các công ty Samsung đạt doanh thu 27,4 tỷ USD (622.000 tỷ đồng); lợi nhuận sau thuế đạt 3,1 tỷ USD (70.600 tỷ đồng).[73] Nếu tính toàn năm 2017 Samsung đã đạt được lợi nhuận ròng là 5,8 tỉ USD, trong khi ấy chỉ mới phải đóng thuế 186 triệu USD cho nửa năm 2017.

Trong cuộc gặp PTT Vương Đình Huệ ngày 17.11.17 ông Shim Wonhwan, Tổng giám đốc Tổ hợp Samsung VN, cho biết, hiện công ti đã có ba trung tâm sản suất tại VN ở Bắc ninh, Thái nguyên và Sài gòn, tổng số lao động đang làm việc trong các nhà máy của Samsung tại VN là 180.000 người (bao gồm cả 20.000 người làm bảo vệ và nhà ăn). Con số này không kể các nhân viên làm việc trong các đơn vị cung ứng của Samsung.[74] Trong đó số phụ nữ còn trẻ chiếm tới 75% .[75] Như vậy Samsung ở VN đứng thứ hai chỉ sau Samsung mẹ ở Nam Hàn, đồng thời là công ti FDI lớn nhất ở VN. Samsung tại VN tập trung sản xuất máy điện thoại cầm tay tối tân và các máy truyền hình có kĩ thuật cao nhất trên thế giới, xuất khẩu sang khoảng 120 nước.

Samsung hiểu được vai trò cực kỳ quan trọng của họ trong nền kinh tế VN, nên họ đang tìm mọi cách ép chính quyền CSVN phải gia tăng ưu đãi, đồng thời chèn ép công nhân VN. Điều này có thể thấy rõ trong cách đối xử với các đại diện của Samsung của các giới chức cao cấp VN. Vài năm trước các đại diện của Samsung thường gặp trực tiếp Bộ trưởng 4 T và được phổ biến rộng rãi trong các cơ quan báo đảng. Nhưng hiện nay cả TT lẫn Phó TT gặp trực tiếp các đại diện của Samsung. Điều này chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh đã tiên đoán trước đây vài năm, “Chính quyền có những ưu đãi để thu hút Samsung và Samsung có thể đòi các ưu đãi đặc biệt cao hơn mức bình thường vì họ biết vị thế của mình”. [76] Do được miễn và giảm thuế tối đa nên trong những năm qua, Samsung đã “tiết kiệm” được hàng tỷ USD tiền thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp. Với thuế suất rất thấp, VN thực sự đã trở thành “thiên đường thuế” của tập đoàn này. Đây cũng là lý do mà Samsung ngày càng rót nhiều tiền đầu tư cũng như chuyển nhiều hoạt động sản xuất vào VN. [77]

***

Trước những đòi hỏi của phía VN là Samsung nên để các doanh nghiệp VN tham gia, trong cuộc hội thảo “30 năm lan tỏa vốn FDI” 7.10.17 ông Bang Hyun Woo, Phó tổng giám đốc Samsung VN đã nói thẳng, “các sản phẩm của Samsung đang được xuất khẩu đi toàn cầu và những linh kiện mà chúng tôi sử dụng đòi hỏi phải rất tin tưởng, liên quan đến chất lượng vô cùng cao. Nói là doanh nghiệp VN ngay bây giờ có thể tham gia vào chuỗi cung ứng này vô cùng nan giải”. Có lần Samsung còn trách móc là, công nghiệp VN chậm tiến đến mức chưa làm được cả cái ốc! Nhà bình luận Ngô Nhân Dụng đã nhận xét:

“Câu chuyện cái đinh ốc bùng lên trong nước từ tháng Chín. Báo chí đăng tin công ty Samsung điện tử thú nhận cơ xưởng ráp máy điện thoại của họ ở Bắc ninh không tìm ra xí nghiệp nào của người VN có thể cung cấp những cây đinh xoắn trôn ốc, còn gọi là ốc vít.”. Nhưng rốt cuộc, có 67 doanh nghiệp cung cấp các linh kiện cho SEV; đại đa số là các doanh nghiệp của người Ðại hàn, Nhật bản, Singapore, Mã lai. Chỉ có bốn doanh nghiệp VN cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho SEV, mà việc chính của họ là làm bao bì, in ấnÔng Shim Won Hwan, tổng giám đốc Samsung ở VN mới, nói tại một hội thảo ở HN vào tháng Chín vừa qua rằng, “không doanh nghiệp VN nào ‘nắm bắt’ được cơ hội, họ chỉ cung ứng được những sản phẩm in ấn, bao bì!” Còn những thứ “cao cấp” như cái đinh ốc vít, người VN làm không được theo tiêu chuẩn của Samsung! Họ cũng không kiếm mua được những bộ phận “sạc” điện cho cell phone do người VN làm”. [78]

Tới giữa năm 2017 chính báo Infonet của bộ 4T cho biết, mới chỉ có 25 doanh nghiệp VN tham gia chuỗi cung ứng cấp 1 cho Samsung. [79] Nhưng khi giải trình trước Quốc hội tại phiên thảo luận về tình hình kinh tế-xã hội vào 1-11.17, bộ trưởng bộ Công Thương Trần Tuấn Anh đề cập đến vấn đề phát triển công nghiệp hỗ trợ lại cho biết, hiện có khoảng 30 doanh nghiệp cung cấp linh kiện điện tử trực tiếp cho Samsung tại VN và đều là các doanh nghiệp FDI, chứ chưa có bất kỳ doanh nghiệp nội địa nào.[80] Trong khi đó khi làm việc với đại diện Samsung ở Thái nguyên ngày 26.7.17 để xét việc giành ưu đãi thuế đặc biệt cho Samsung Nguyễn Xuân Phúc đã hết lời khen ngợi là, hiện đã có “215 nhà cung cấp là doanh nghiệp VN” và “tỉ lệ nội địa hóa của Samsung VN đạt 57%”.[81] Ông Phúc đưa ra con số cao gấp nhiều lần về việc các doanh nghiệp tư VN tham gia hệ thống xí nghiệp phụ trợ cho Samsung là để có cớ xếp Samsung vào Luật Công nghệ cao? Một điều rõ ràng nhất là, Samsung VN nhập khẩu từ Samsung mẹ ở Hàn quốc hầu như toàn bộ các máy móc và linh kiện điện tử. Đây cũng là lí do chính khiến mức nhập khẩu hàng hóa vào VN của Nam Hàn đã gia tăng rất mạnh trong vài năm gần đây.

Gần 200.000 công nhân VN, đại đa số là phụ nữ trẻ chỉ làm gia công, phải lao động rất vất vả dưới những điều kiện nghiêm ngặt, nhưng lương bổng lại rất thấp. Lê Đăng Doanh đã nhận xét, “năng suất lao động của công nhân VN làm đạt 80% năng suất lao động, trong khi tiền lương chỉ bằng khoảng 10%”. Phần lớn các phụ nữ này đã bỏ quê ra tỉnh để làm công nhân cho Samsung. Cuối tháng 11.17 Tổ chức phi chính phủ Thụy Điển IPEN -một tổ chức phi vụ lợi có uy tín quốc tế, chuyên về bảo vệ sức khỏe và môi trường- phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu giới, gia đình và môi trường trong phát triển ở HN (CGFED), đã công bố Bản báo cáo về điều kiện làm việc của nữ công nhân ở các nhà máy điện tử của Samsung tại VN. Theo báo cáo này, IPEN và CGFED đã phỏng vấn 45 nhân viên Samsung và đưa ra nhận xét:

“Tiếng ồn ở khu sản xuất cao hơn nhiều so với cho phép của VN, tất cả nhân viên được phỏng vấn đều cảm thấy mỏi mệt trầm trọng và chóng mặt, sẩy thai ở người lao động diễn ra thường xuyên..”. Công nhân phải đứng làm việc suốt 8-12 giờ, công nhân mang thai cũng phải lao động như vậy. Nhiều công nhân bị sổ mũi, rối loạn tiêu hóa, đau chân…Báo cáo còn cho biết, hàng ngày công nhân bị Samsung kiểm soát quá nghiêm ngặt, “thời gian nghỉ ngắn và nếu muốn đi vệ sinh thì lại phải được cho phép ra vào đặc biệt”. Báo cáo đưa ra yêu cầu, “phải điều tra bổ sung về việc rò rỉ hóa chất. Bởi người lao động đang làm việc trong môi trường mở tiếp xúc với nhiều loại hóa chất đa dạng nhưng lại không nhận thức được về những rủi ro hóa chất trong công đoạn lắp ráp”. [82]

Ngay hôm sau đại diện Samsung đã lên tiếng phủ nhận các lời cáo buộc trên. Samsung “công nhận có sử dụng hóa chất trong một số công đoạn, nhưng đều áp dụng các biện pháp để công nhân không bị phơi nhiễm nhờ thiết bị thoát khí, cùng việc đeo thiết bị bảo hộ”. [83] Thanh tra của bộ Lao động & thương binh, xã hội cho biết, vào tháng 7.17 đã thanh tra ở hai trung tâm của Samsung ở Bắc ninh và Thái nguyên và cho biết, phụ nữ mang thai từ tháng thứ 7 được nghỉ. Theo Bộ, các cáo buộc khác trong Bản báo cáo của IPEN là “chưa thuyết phục”. Nhưng Bộ xác nhận Samsung đã vi phạm pháp luật về qui chế lao động. “Samsung chia thời gian làm việc thành hai ca. Ca ngày 8-20h, ca đêm từ 20h đến 8h sáng hôm sau và đưa vào nội quy lao động, luân phiên làm việc 4 ngày liên tục sẽ được nghỉ 2 ngày”. Qui định này trái với Luật lao động 2012. Theo đó giờ làm việc không quá 8h/ngày và không quá 48h/tuần; giờ làm việc ban đêm từ 22h-6h sáng hôm sau; giờ làm thêm không quá 30h/tháng, 200h/năm. [84]

Nếu giữ thái độ khách quan và thận trọng thì những lời xác nhận trên của Thanh tra của bộ Lao động & thương binh, xã hội có lẽ mới chỉ là một phần rất nhỏ của sự thực. Vì trong quá khứ đã chứng minh nhiều lần, các cơ quan thanh tra của đảng cũng như chính phủ không thể tin cậy. Như trong các vụ PMU 18, Vinashin và Formosa các cơ quan thanh tra của nhiều cơ quan đã thanh tra, nhưng rốt cuộc đều có báo cáo tốt! Tuy nhiên những điều nêu trong Báo cáo này trái ngược với khen ngợi của Nguyễn Xuân Phúc vài tháng trước. Khi ông thăm công ti Samsung ở Thái nguyên đã nói là, “đời sống công nhân, người lao động ngày càng được nâng cao, trong đó công ty quan tâm đến khu ăn ở, giải trí, lao động nữ…”[85]

***

Không ai phủ nhận công ti Samsung là một trong những công ti điện tử hàng đầu trên thế giới hiện nay. Nó cũng là một trong vài công ti lớn nhất của Nam Hàn và đóng góp phần quan trọng cho sự phát triển và hưng thịnh kinh tế của nước này. Nhưng đó không phải là công lao riêng của Samsung mà còn là cả nửa triệu công nhân của công ti ở Nam Hàn và của nhân dân Nam Hàn nói chung. Trong đó không thể quên được những cuộc biểu tình của hàng trăm ngàn người phản đối chính sách bạc đãi công nhân và hối lộ của các Ban giám đốc công ti này.

Mặc dầu chế độ toàn trị ở VN giành rất nhiều đặc ân để Samsung chỉ trong vài năm trở thành nhà đầu tư FDI lớn nhất hiện nay ở VN kể cả về vốn và kim ngạch xuất khẩu. Nhưng Samsung có thực sự phục vụ phát triển kinh tế VN theo những mục tiêu đề ra của chế độ toàn trị trong việc thu hút FDI vào VN hay không? Đó là để các xí nghiệp VN cùng tham gia trong các khâu sản xuất để nâng cao trình độ kĩ thuật và quản trị, bảo vệ quyền lao động của hàng trăm ngàn công nhân và đóng góp vào sự phát triển kinh tế của VN.

Mặc dầu trong những năm gần đây Samsung ở VN đạt được lợi nhuận hàng năm nhiều tỉ Mĩ kim, phần chính là vì nhà cầm quyền ở trung ương và địa phương đã ưu đãi thuế rất cao từ xuất cảng tới nhập cảng các sản phẩm. Nhưng ngược lại số xí nghiệp tư nhân VN tham gia với Samsung có thể đếm trên đầu ngón tay. Gần 200.000 công nhân, phần lớn là phụ nữ trẻ, phải chịu những điều kiện lao động rất bất lợi, từ lương bổng tới các bảo hiểm xã hội. Nói chung là công ti tư nhân VN chỉ đứng bên lề và công nhân VN chỉ đóng vai làm gia công cho Samsung. Đây là chính sách đem con bỏ chợ của chế độ toàn trị. Nó thể hiện rõ ràng đây là chủ chương đầu cơ đầy rủi ro và rất phiêu lưu.

Những người đứng đầu Samsung nắm bắt được những nhược điểm của những người cầm đầu chế độ toàn trị CSVN là trình độ quản trị kinh tế rất yếu, nền kinh tế đang đứng trước vực thẳm, nhưng chỉ thích đề cao thành tích bề ngoài, cơ chế và cán bộ tham nhũng và bất lực. Vì thế chỉ trong ít năm Samsung đã trở thành trụ cột của kinh tế VN, hiện nay chiếm tới hơn ¼ tổng kim ngạch xuất khẩu của VN. Nhưng trong thực tế những thành công này chỉ đem lại lợi ích riêng rất lớn và rất nhanh cho Samsung. Do sự gia tăng xuất khẩu rất lớn của Samsung nên Nguyễn Xuân Phúc đã hô hoán là kinh tế VN đang phục hồi, đạt tăng trưởng cao nhất sau nhiều năm. Nhưng nếu tính toán nghiêm túc sẽ thấy Samsung không đóng góp quan trọng vào ngân sách quốc gia của VN. Vì Samsung được hưởng các ưu đãi thuế rất cao. Ngoài ra mức xuất khẩu gia tăng thì mức nhập khẩu của Samsung cũng gia tăng rất mạnh.

Tóm lại, mặc dầu những mục tiêu trong việc mời gọi Samsung đầu tư tại VN đã không đạt được, nhưng nhà cầm quyền CSVN vẫn liên tiếp giành từ ưu đãi này tới đặc quyền khác cho Samsung. Sự hoạt động càng bung ra của Samsung càng chứng tỏ có sự tiếp tay của những người có thế lực nhất trong chế độ. Chính các sự kiện này đã dẫn tới câu hỏi, tại sao trong giai đoạn Nguyễn Phú Trọng đang hô hoán đốt lò chống tham nhũng, nhưng một công ti nổi tiểng về hối lộ như Samsung -ngay cả ở chính quốc Nam Hàn- lại đang được nâng đỡ và chiều chuộng hết mức ở VN? Nguy hiểm cực kỳ khác nữa là, nền kinh tế VN đang ngày lệ thuộc nhiều mặt vào một công ti lớn nước ngoài. Điều này có thể dẫn tới những hậu quả rất nguy hại cho cả kinh tế lẫn chính trị VN! Chính sách đối với Samsung nói riêng và với các công ti FDI nói chung từ Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng tới Nguyễn Xuân Phúc không phải là mã tìm mã, nhưng đúng là ngưu tìm ngưu!

Nguyễn Phú Trọng ưu ái Formosa

Tại sao ông Trọng lại đủng đỉnh tới thăm Ban giám đốc Formosa,          

giữa lúc hàng triệu nhân dân là nạn nhân do thảm họa cá chết hoàng loạt?

Ngay từ đầu tháng 4.16 đại diện sở Nông nghiệp-phát triển nông thôn (NN-PTNT) Hà tĩnh cho biết, “cá nuôi ven biển và cá tự nhiên chết bất thường xuất hiện từ ngày 6.4 tại vùng ven biển xã Kỳ lợi và tại xã Kỳ hà, Kỳ ninh (thị xã Kỳ anh) vào ngày 7.4. Ngày 11.4, sau khi công ty Grobest tại xã Kỳ phương (thị xã Kỳ anh) cấp nước biển vào ao nuôi khoảng 6 giờ đồng hồ thì xảy ra hiện tượng tôm nuôi chết hàng loạt. Đến ngày 14.4, ngao nuôi tại 2 xã Kỳ hà và Kỳ ninh tiếp tục bị chết, gây thiệt hại khoảng 4,71 tỉ đồng”.[86] Khi ấy Phó phòng Kinh tế và đô thị thị xã Kỳ anh Nguyễn Thị Thủy cũng cho biết, “địa bàn xã Kỳ lợi xuất hiện cá chết đầu tiên nằm cách cảng Sơn dương của khu kinh tế Vũng áng khoảng 4 – 5 km, còn các xã Kỳ ninh, Kỳ hà cách Vũng áng khoảng 20 km về phía bắc thì tôm, cá chết sau đó một ngày”. [87]

Các địa danh này là khu vực nằm cạnh Khu công nghiệp Vũng áng khổng lồ của công ti Đài loan Formosa Hà tĩnh (FHS). Đến giữa tháng 4 các tin dồn dập cùng những hình ảnh nhiều loại cá lớn nhỏ chết hàng loạt rất khủng khiếp và kinh hoàng suốt mấy trăm cây số dọc duyên hải từ các tỉnh Hà tĩnh, Quảng bình, Quảng trị, Thừa thiên-Huế do chính các báo lề đảng như Tuổi trẻ, Thanh niên, Lao động, Dân trí, VTV, VNNet… phổ biến đã tràn ngập dư luận các tỉnh ven biển miền Trung làm nhân dân rất hoang mang lo lắng. Hàng chục ngàn ngư dân không dám ra biển đánh cá, người dân cả nước không dám ăn cá, dịch vụ du lịch các bãi biển miền Trung thu hút hàng triệu du khách VN và ngoại quốc lo lắng bị mất khách!

Mãi tới ngày 19.4 Tổng cục Thủy sản (Bộ Nông nghiệp – Phát triển nông thôn) mới đến Hà tĩnh kiểm tra về nguyên nhân cá chết và cho biết, “cá chết là do chất độc gây ra nhưng chưa xác định đó là chất gì”.[88] Điều này có nghĩa là phải khẩn trương nghiêm túc điều tra tiếp để tìm ra nguyên nhân gây ra nạn cá chết hàng loạt, tàn phá và hủy hoại môi trường thiên nhiên và de dọa cuộc sống của hàng triệu ngư dân và những người sinh sống bằng dịch vụ du lịch.

Giữa khi ấy báo chí đưa tin, “Tổng bí thư kiểm tra tiến độ dự án Formosa”.[89] Nhiều người nghĩ rằng, vì vừa được tái cử TBT nên Nguyễn Phú Trọng đã nhạy cảm trước nỗi lo sợ và sự bất bình của nhân dân về thăm Hà tĩnh và khu công nghiệp gang thép Formosa để thúc đẩy cuộc điều tra về vụ cá chết hàng loạt. Nhưng thật là thất vọng và sai lầm lớn, ngày 22. 4 Nguyễn Phú Trọng cầm đầu phái đoàn cao cấp của đảng và chính phủ gồm Nguyễn Văn Bình, UVBCT, Trưởng Ban Kinh tế TU; Nguyễn Văn Nên, Bí thư TUĐ, Chánh Văn phòng TU và lãnh đạo nhiều Ban, Bộ, ngành TU về thăm Hà tĩnh. Ông giành toàn thời gian tới thăm khu công nghiệp gang thép và cảng nước sâu Sơn dương Formosa Hà tĩnh. Dự án này rất khổng lồ với mức đầu tư giai đoạn 1 lên tới 10,5 tỉ USD.[90] Ban giám đốc của FHS đã hoan hỉ báo cáo cho Nguyễn Phú Trọng biết, nhà máy sản xuất thép, nhiệt điện, cầu cảng đã bắt đầu hoạt động!

Ban giám đốc FHS còn hãnh diện báo cáo với ông Trọng, từ tháng 12. 2015 FHS đã cho ra lò sản phẩm thép cuộn cán nóng đầu tiên và đến nay đã có hơn 7.000 tấn thép cuộn được xuất ra thị trường trong và ngoài nước. “Dự kiến, tháng 6. 2016 sẽ hoàn thành và đưa vào hoạt động lò cao số 1. Khi đi vào hoạt động, đây sẽ là nhà máy luyện gang thép lớn nhất Đông Nam Á tính đến thời điểm hiện nay”.[91] Nguyễn Phú Trọng và phái đoàn cao cấp rất chăm chú và ngưỡng mộ thành quả kinh doanh của FHS. Trong dịp này tuyệt đối từ Nguyễn Phú Trọng tới các nhân vật cao cấp trong phái đoàn không ai đả động một câu hỏi nào với Ban giám đốc Formosa đến thảm khốc cá chết hoàng loạt đang bùng nổ từ đầu tháng 4 khởi đầu từ cảng Sơn dương thuộc khu công nghiệp Vũng Áng của FHS khiến cho nhân dân cả nước đang lo lắng và bất bình “Cá chết trắng biển miền Trung” ![92] Ông Trọng và phái đoàn cũng không đến thăm các nạn nhân! Tại sao người cầm đầu chế độ CS vẫn vỗ ngực là bảo vệ quyền lợi người lao động, nhưng lại chẳng thèm ngó tới thảm trạng của ngư dân, trong khi ấy lại khen ngợi và vuốt ve tỉ phú Dollar nước ngoài? Chả lẽ người đứng đầu chế độ toàn trị lại không biết thảm trạng môi trường ngay chính nơi ông tới thăm đã diễn ra từ hơn ba tuần?

Chỉ một ngày sau Đinh Thế Huynh, Thường trực BBT và khi đó được coi là kế nghiệp ông Trọng, cũng có mặt tại Quảng trị, không xa Hà tĩnh. Ông đã chỉ họp với lãnh đạo Quảng trị về tình hình kinh tế, xã hội, quốc phòng-an ninh và xây dựng đảng; bàn cả việc tôn tạo, nâng cấp Khu tưởng niệm Lê Duẩn. Ông còn giành thời gian đi thăm Nghĩa trang Trường sơn. Nhưng người đứng thứ hai trong đảng cũng tuyệt nhiên không thèm đả động tới thảm trạng “Cá chết trắng biển miền Trung” và cũng chẳng thèm tới thăm hỏi dân chài, những nạn nhân ở Quảng trị sinh sống ra làm sao từ khi xẩy ra đại nạn cá chết hàng loạt![93]

Ngày 17.4 giữa lúc tiếng than và nỗi bất bình của nhân dân về “Cá chết trắng biển miền Trung”, tân TT Nguyễn Xuân Phúc đã giành chọn ngày thăm Quảng trị, nhưng cũng không có thì giờ đi thăm các nạn nhân ngư dân đau buồn, chỉ giành toàn thời gian thăm Nghĩa trang Trường sơn, Nhà lưu niệm Lê Duẩn và Thành cổ Quảng trị.[94] Việc cố tình chọn những địa chỉ trên tới thăm viếng đã cho thấy ông Phúc vẫn chỉ muốn khơi dậy hận thù giữa các tầng lớp nhân dân mặc dầu đã sau 41 năm “chiến thắng”, thay vì “hòa giải dân tộc” như những lời ngon ngọt trước đây. Ông Phúc cũng cố quên lời khuyên chân thành và thực tế của cố TT Võ Văn Kiệt là, kỉ niệm ngày “giải phóng”“có hàng triệu người vui, nhưng cũng có hàng triệu người buồn”!

Trước nỗi bất bình và lo âu của nhân dân cả nước, vì đâu mà nạn cá chết diễn ra từ cảng Sơn dương của khu kinh tế Vũng áng thuộc Formosa suốt gần ba tuần mà vẫn không tìm ra được nguyên nhân; ngày 25.4 tờ Tuổi trẻ đã có cuộc phỏng vấn ông Chu Xuân Phàm, Trưởng văn phòng Formosa tại HN, về vụ cá chết hàng loạt bắt đầu từ bờ biển Khu công nghiệp Formosa. Ông Phàm đã trả lời thẳng băng:

“Trước khi xây dựng dự án này thì công ty phải xin phép Nhà nước VN. Nhiều khi được cái nọ mất cái kia, đây là tôi nói thật lòng. Hôm nay nhà nước mình muốn cho ngư dân đánh bắt ở đây hay là chọn cái nhà máy thép ở đây, đương nhiên Nhà nước phải có sự cân nhắc. Nếu xả thải thì đương nhiên sẽ thay đổi sinh học ở đây, ở vùng biển quanh đây. Nhưng bây giờ mà nói tôi không thể xây dựng nhà máy thép ở đây mà không ảnh hưởng đến con cá, con tôm. Đương nhiên mình cố gắng làm một nhà máy đạt được tiêu chuẩn quy định của nhà nước. Có khi được cái này thì phải mất cái kia chứ”. Rồi ông đưa ra kết luận rất tỉnh bơ và đầy thách thức, coi việc hàng triệu nhân dân miền Trung đang bị điêu đứng không đáng quan tâm bằng sự tồn tại của Formosa: “Muốn bắt cá, bắt tôm hay nhà máy, cứ chọn đi. Nếu chọn cả hai thì làm Thủ tướng cũng không giải quyết được…”[95]

Tại sao Trưởng văn phòng Formosa tại HN đã có những phát biểu rất phách lối, khiêu khích gây sốc như vậy khi trả lời phóng viên Tuổi trẻ vào sáng 25-4? Có phải chính thái độ rất thờ ơ của TT, vô cảm trước hàng trăm ngàn nạn nhân của tai nạn cá chết hàng loạt; đặc biệt là sự ưu ái tới thăm Ban giám đốc Fomosa ngày 22.4 của Nguyễn Phú Trọng, người cầm đầu chế độ toàn trị, làm họ tin rằng, họ có chỗ chống lưng rất vững chắc, không chỉ ở HN mà còn cả BK nên chẳng ai có thể làm gì Formosa được?

Từ sau trận đánh ngã “Đồng chí X” ông Trọng đang trở thành người hùng nên ai cũng sợ? Vì thế không thèm nhắc tới đại nạn “Cá chết trắng biển miền Trung”, lại đủng đỉnh tới thăm Ban giám đốc Formosa. Thử hỏi như thế thì bọn quan cấp dưới bố bảo không dám nêu đích danh Formosa ra tố. Chính vì thế, Vụ phó Vụ Nuôi trồng thủy sản, bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Phạm Khánh Ly cho biết, “đoàn công tác không vào kiểm tra tại khu công nghiệp Vũng áng được, vì đây là khu công nghiệp có yếu tố nước ngoài, đoàn không có thẩm quyền”.[96] Như vậy Ban giám đốc Formosa đã coi khu công nghiệp của mình giống như sứ quán của một nước bất khả xâm phạm.[97] Họ cho ai vào, làm gì, làm đến đâu trong các công xưởng của họ là quyền riêng của họ. Các cơ quan điều tra của VN nếu có vào cũng chỉ làm những gì họ cho phép mà thôi! Chính vì thế Formosa đã dám nói công khai, “không có bất cứ bằng chứng nào chứng tỏ sự liên can” của công ty trong vụ việc này, và giới chức VN đã “liên tục vào bên trong công xưởng tiến hành kiểm tra hệ thống xử lý nước thải, lấy mẫu nước thải” kể từ 22.4 tới nay, tức là sau chuyến thăm của Nguyễn Phú Trọng!

Chính vì vậy chỉ một ngày sau khi Nguyễn Phú Trọng thăm Formosa, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Vũ Văn Tám cũng nói giống như tin trên đây của Ban giám đốc Formosa. Ông cho biết về kết quả kiểm tra bước đầu, nguyên nhân do môi trường nước, qua phân tích mẫu những chỉ số thì không có gì bất thường trừ một số mẫu ở Huế mang tính cục bộ.[98] Tuyên bố này hoàn toàn ngược lại với nhận định của Sở Nông nghiệp-Phát triển nông thôn Hà tĩnh vào đầu tháng 4 cho biết, “hiện tượng cá nuôi ven biển và cá tự nhiên chết bất thường xuất hiện từ ngày 6.4 tại vùng ven biển xã Kỳ lợi và tại xã Kỳ hà, Kỳ ninh (thị xá Kỳ anh) vào ngày 7.4”. Và cũng trái với sự xác nhận của Phó phòng Kinh tế và đô thị (Kỳ anh) Nguyễn Thị Thủy “địa bàn xã Kỳ Lợi xuất hiện cá chết đầu tiên nằm cách cảng Sơn Dương của khu kinh tế Vũng Áng khoảng 4 – 5 km, còn các xã Kỳ ninh, Kỳ hà cách Vũng áng khoảng 20 km về phía bắc thì tôm, cá chết sau đó một ngày” -như nói ở trên!

Lí do quan trọng khác khiến đại diện Formosa tại HN dám phát biểu khiêu khích “gây sốc” ngày 25.4 là có lẽ họ tin rằng, có cả BK đứng đằng sau. Formosa Hà tĩnh tuy là công ti Đài loan, nhưng trong những năm gần đây tuyển chọn công nhân nước ngoài phần rất lớn là từ TQ. Ngoài ra vốn đầu tư của Formosa mẹ từ Đài loan đang giảm mạnh và nhường cho một số công ti từ TQ. Khi giàn khoan HD 981 xâm nhập trái phép thềm lục địa VN vào giữa 2014 đã xẩy ra va chạm lớn khiến hàng ngàn công nhân TQ đã phải bỏ về nước, nhưng sau đó Nguyễn Phú Trọng đã phải xin lỗi Tập Cận Bình và số công nhân này lại trở lại Formosa làm việc (xem Chương bẩy, IV). Về mặt an ninh quốc phòng, khu vực Vũng áng Hà tĩnh nằm đối diện không xa đảo Hải nam của TQ. Trong kế hoạch bành trướng công khai ngang ngược của BK trên biển Đông thì khu công nghiệp Vũng áng Formosa có thể trở thành tay trong cực kỳ quan trọng khi tình thế cho phép BK ra tay!

Sau phát ngôn gây chấn động, Chu Xuân Phàm đã bị Formosa sa thải để làm dịu dư luận. Nhưng nội dung lời phát biểu của cựu đại diện Formosa đã tự để lộ những hoạt động của công ti này không thèm đếm xỉa gì tới luật pháp VN, vì tin rằng đã có chân trong ủng hộ đang giữ những chức cao nhất. Dùng sức mạnh tiền bạc nhiều tỉ USD trong vài năm vừa qua Formosa có thái độ phách lối và cách hoạt động như kiểu quốc gia trong một quốc gia: “Nếu xả thải thì đương nhiên sẽ thay đổi sinh học ở đây, ở vùng biển quanh đây”, “có khi được cái này thì phải mất cái kia chứ”, “muốn bắt cá, bắt tôm hay nhà máy, cứ chọn đi!” Rõ ràng với tuyên bố trên Formosa đã gián tiếp thừa nhận, thời gian qua Formosa đã xả nước thải với những hóa chất có chất độc cực mạnh làm tàn phá môi sinh trên biển.

Theo tờ Tuổi trẻ thì Tổng cục môi trường xác nhận là, “Formosa có vi phạm khi thực hiện việc súc xả đường ống nhưng không thông báo cho địa phương”. Ngày 25.4 báo này còn liệt kê 45 loại hóa chất Formosa nhập cảng để súc rửa đường ống. Vẫn theo Tuổi trẻ, “GS,TS Lê Huy Bá (chuyên gia độc học môi trường) cho biết nhận định ban đầu của ông về danh sách các loại hóa chất được sử dụng tại Formosa gồm nhiều chất độc và cực độc. Trong đó có các chất chống gỉ, chất làm sạch bề mặt kim loại, chất tẩy”. “Theo quy định, khi súc xả đường ống, Formosa có trách nhiệm phải thông báo cho địa phương việc súc xả đường ống diễn ra từ thời điểm nào tới thời điểm nào, nhưng Formosa không thông báo, cũng không báo cáo các cơ quan ở địa phương về việc súc rửa đường ống”.[99] Tờ VNNet còn cho biết, “1 thợ lặn Formosa tử vong, 5 người nhập viện” khi lặn xuống biển nơi đường ống của Formosa dẫn ra.[100] Tập đoàn Formosa xuất thân từ Đài loan với vốn đầu tư nhiều tỉ USD cũng đã từng vi phạm pháp luật ở nhiều nơi trên thế giới. Ngay ở Đài loan Tập đoàn này cũng đã bị phạt vì gây thiệt hại môi trường. “Chẳng hạn hồi tháng 7.2010, Formosa bị cho là “gây ô nhiễm không khí vùng miền Trung Đài loan” sau một vụ cháy công nghiệp tại nhà máy ở Mai Liao của họ”.[101]

***

Trong khi nhiều cơ quan chính quyền địa phương ngay trong những ngày đầu đã đưa ra những nhận định khá rõ ràng về nguyên nhân đưa đến đại nạn làm cá chết hàng loạt, nhưng suốt trên ba tuần nhiều bộ trưởng, thứ trưởng không chỉ trốn tránh không thực hiện trách nhiệm điều tra nghiêm túc và minh bạch, lại còn tìm cách bao che cho Formosa, hoặc đưa ra những tin và lập luận rất mâu thuẫn nhau, thậm chí cực kỳ ngớ ngẩn. Ba tuần sau đến lượt cá biển ở khu Bình trị thiên-Huế bị chết, tờ Công an nhân dân ngày 26.4 đưa tít “Nước biển vùng cá chết được xác định nhiễm kim loại nặng”: “Chiều 26-4, Sở Tài nguyên&Môi trường tỉnh Thừa thiên- Huế đã có kết quả phân tích mẫu nước lấy tại khu vực đầm Lập an, cửa biển Lăng cô (thị trấn Lăng cô, huyện Phú lộc) vào thời điểm xuất hiện cá chết tràn lan…Riêng các thông số gồm tổng hàm lượng nitơ tính theo amoni (NH4+-N), hàm lượng kim loại nặng crôm (Cr) vượt giới hạn cho phép của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước biển cũng như quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặn. Theo đánh giá ban đầu của cơ quan chức năng tỉnh Thừa thiên- Huế, khả năng chất độc trong môi trường nước gây sự cố cá chết hàng loạt xuất hiện từ vùng biển phía Bắc của tỉnh”.[102]

Nhưng trong cuộc họp báo tối 27.4 thứ trưởng bộ Thiên nhiên và môi trường Võ Tuấn Nhân đã làm trên 200 nhà báo lề phải vừa thất vọng, vừa rất bất bình về thái độ vô trách nhiệm và lấp liếm. Sau cuộc họp kín nhiều tiếng đồng hồ của đại diện nhiều bộ và cơ quan do bộ trưởng Bộ Tài nguyên-môi trường Trần Hồng Hà chủ trì, khiến các nhà báo phải chờ đợi đến cả nửa ngày. Nhưng cuối cùng Trần Hồng Hà đã đẩy thứ trưởng Tài nguyên&Môi trường Võ Tuấn Nhân mở “Buổi họp báo chỉ diễn ra trong 6 phút”. Trong đó ông khẳng định “Formosa vô can”. [103] Sau khi đưa ra 2 giả thuyết về nguyên nhân làm cá biển chết hàng loạt (hóa chất độc và “hiện tượng thủy triều đỏ”), ông Nhân khẳng định: “Đến nay, qua kiểm tra và thu thập chứng cứ, chưa có bằng chứng để kết luận về mối quan hệ liên quan của Formosa và các nhà máy đến vấn đề cá chết hàng loạt. Qua số liệu quan trắc và đánh giá của cả các cơ quan nghiên cứu khoa học, cơ quan quản lý nhà nước có liên quan, môi trường nước biển chưa phát hiện các thông số môi trường vượt quy chuẩn quy định”.[104] Sau đó ông Nhân chuồn mất!

Trong cuộc gặp riêng Võ Tuấn Nhân, tờ Thanh niên đã tường thuật câu hỏi và trả lời của Thứ trưởng này bảo vệ cho Formosa thật là kì lạ:

“ Thưa ông, trong 2 nhóm nguyên nhân thì nhóm thứ nhất nói có thể do độc tố thải ra từ hoạt động của con người, vậy cụ thể độc tố là gì? Có độc tố nào trùng với hơn 40 loại hóa chất mà Formosa được phép nhập khẩu vào VN để súc rửa đường ống không ?

– Chúng tôi chưa phát hiện ra…- Tôi xin khẳng định, về mặt pháp luật, họ vẫn hoạt động đúng theo pháp luật nước ta. Về mặt xả ra môi trường, liên quan đến hiện tượng cá chết hàng loạt ở các tỉnh ven biển miền Trung, đến nay chưa đủ căn cứ để kết luận.

Ông có thể cho biết kết quả phân tích mẫu nước và mẫu cá của Bộ?

– Cái này nói ra phải có căn cứ giấy tờ cụ thể, rất dài, rất nhiều thông số”.[105]

Trong khi giữ thái độ câm và điếc không thông tin chính xác và nguội lạnh trước những bức xúc của nhân dân cả nước, nhưng Võ Tuấn Nhân lại rất thính tai và năng động trước câu hỏi của một nữ phóng viên về tin không tốt cho chế độ, về nguy cơ ngành du lịch có thể bị tê liệt và yêu cầu bà tắt máy ghi âm. Bà hỏi:

“Thưa ông, trong cái kiểm nghiệm gần đây nhất của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thừa thiên – Huế, chỗ có một loạt các bè cá chết, thì họ có nói trong nước kiểm nghiệm ra có kim loại nặng. Vấn đề ở đây là trong thời gian tới, chúng tôi muốn là mình có thể trong một thời gian ngắn, vì mùa du lịch sắp tới rồi, mà cá thì…”

“Nghe tới đây, ông Võ Tuấn Nhân liền khoát tay ra hiệu dừng lại và nói: “Tắt máy. Tắt máy nghe. Xin lỗi. Không, không, để anh nói riêng với em. Đừng hỏi câu đó. Hỏi câu đó tổn hại cho đất nước của mình. Nhá. Em hỏi câu đó làm tổn hại cho đất nước của mình”.[106]

Không chỉ trên 200 nhà báo lề phải hoàn toàn thất vọng về “cuộc họp báo 6 phút” của thứ trưởng Tài nguyên&Môi trường Võ Tuấn Nhân mà nhiều nhà khoa học cũng đã kịch liệt chỉ trích những lời tuyên bố rất lếu láo của ông. GS-TS Vũ Trọng Hồng, nguyên thứ trưởng Bộ Thủy lợi, nói thẳng: “bộ Tài nguyên-Môi trường là cơ quan chức năng được nhà nước giao nhiệm vụ, nhưng kết luận như vậy là không hợp logic diễn biến của vụ việc”.

Nhưng ngày hôm sau trong cuộc họp nội các giả thuyết “thủy triều đỏ” bị bác bỏ. Có lẽ trước sự bất bình ngày càng mãnh liệt của nhân dân về cuộc “Họp báo 6 phút” tối trước, nên TT Nguyễn Xuân Phúc đã vội vàng để bộ trưởng Tài nguyên&Môi trường Trần Hồng Hà phải bay ra Hà tĩnh ngày 28.4 thị sát viêc xả thải của Formosa để nhằm xoa dịu dư luận. Tại đây Trần Hồng Hà đã tuyên bố, “pháp luật VN không chấp nhận việc đặt ống ngầm xả thải”. Như thế ông đã phủ nhận lời của người dưới quyền ông là Thứ trưởng Võ Tuấn Nhân chỉ vài ngày trước. Ngoài ra ông Hà còn nhận khuyết điểm để cuộc điều tra chậm chạp…[107]

***

Tại sao mới chỉ vài năm trước Nguyễn Phú Trọng đã trách móc và rao giảng “đạo đức cách mạng” tại Hội nghị Cán bộ toàn quốc với sự tham dự của trên 1000 cán bộ cao cấp ngày 27.2.12: “ Bây giờ trong Đảng cũng có sự phân hóa giàu – nghèo, có những người giàu lên rất nhanh, cuộc sống cách xa người lao động; liệu rồi người giàu có nghĩ giống người nghèo không? “ và “ người sống trong lâu đài nghĩ khác người ở trong nhà tranh”., “mai kia Đảng này sẽ là đảng của ai?”[108]

 Nhưng chỉ trong vài năm ngồi trong lâu đài quyền lực và hưởng thịt, cá loại ngon, sạch không phải trả tiền, nên lòng Nguyễn Phú Trọng đã nguội lạnh, vô cảm trước ngư dân thất nghiệp chịu cảnh đói rách vì thảm họa cá biển và nhân dân nhiều nơi có thể bị ăn cá và mắm độc. Chẳng những thế ông vẫn đủng đỉnh tới thăm Ban giám đốc tỉ phú Dollar Formosa Hà tĩnh và khen ngợi cách làm ăn của họ, chẳng thèm đoái hoài tới tiếng than ngất trời của dân lành, mặc dầu gần một tháng vẫn không có cơ quan nào của đảng lẫn nhà nước tìm ra nguyên nhân cá chết hàng loạt!

Trong một xã hội pháp trị theo Dân chủ đa nguyên thì khi một cá nhân, tổ chức hay xí nghiệp đang bị điều tra, người có trách nhiệm trong nhà nước không được phép có những hành động gây cản trở hoặc can thiệp công cuộc điều tra. Trong vụ cá chết hàng loạt ở duyên hải nhiều tỉnh miền Trung từ đầu tháng 4 và tập đoàn Formosa đang trở thành đối tượng điều tra của các cơ quan có thẩm quyền. Nhưng người cầm đầu chế độ là TBT Nguyễn Phú Trọng đã cố tình lại thăm và gặp Ban giám đốc Formosa ngày 22.4 và còn khen ngợi thành quả kinh doanh của công ti Đài loan này. Như thế Nguyễn Phú Trọng đã lợi dụng uy quyền riêng để cản trở, làm đình hoãn cuộc điều tra và còn tạo cơ hội để Formosa xóa sạch các tang chứng !

Trong dịp này nhiều tổ chức, nhân sĩ và chuyên viên đã công khai lên tiếng:

“Đây là một tệ nạn chính trị hết sức kinh tởm. Vụ Formosa bộc lộ rõ ràng thói vô cảm và vô trách nhiệm của nhà cầm quyền CS đối với lợi ích quốc gia, cuộc sống dân lành. Nó cũng cho thấy sự bất lực và chậm chạp của cả một hệ thống quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương trước một quốc nạn có tầm mức to lớn chưa từng thấy. Sự chậm trễ ấy đã tạo điều kiện cho nghi can kịp xoá hết dấu tích tội lỗi. Nó cũng hé lộ nhiều thế lực bao bọc nghi can, che giấu sự thật, đánh lừa dư luận qua những phát ngôn đầy hàm ý hay cố mập mờ của một số quan chức cấp bộ lẫn tỉnh và nhất là qua hành vi ủy lạo tinh thần hà hơi tiếp sức của người đứng đầu đảng Cộng sản đối với tập đoàn Formosa đầy thành tích bất hảo”.[109]

Những ngày Chủ nhật trong tháng 5 nhân dân các giới -đi đầu là trí thức, thanh niên và đảng viên tiến bộ- đã xuống đường ở HN, Sài gòn và nhiều nơi khác đòi “Trả lại biển xanh cho chúng tôi, chúng tôi chọn tôm cá”. Mọi người đang đồng thanh đòi:

– Nhân dân muốn biết rõ nhanh và công khai thủ phạm đã gây ra thảm trạng cá chết hàng loạt. Phải chấm dứt ngay những nguyên nhân gây ra thảm họa môi trường!

– Bồi thường thiệt hại cho ngư dân và các cơ sở du lịch!

– Công khai các cơ quan và cá nhân nào đã cố tình làm chậm, làm sai, đánh lạc dư luận và phải chịu trách nhiệm trực tiếp trước nhân dân!

***

Sau thảm trạng môi trường 4 tỉnh miền Trung ba tháng, nhưng tại HNTU 3 vào đầu tháng 7.2016 trong suốt 5 ngày họp đã không có nói tới chủ đề cực kỳ nóng bỏng này. Mặc dầu đây là thảm họa môi trường lớn nhất ở VN, gây thiệt hại sức khỏe, tài sản và môi trường sống trực tiếp cho hàng triệu người dân bốn tỉnh Hà tĩnh, Quảng bình, Quảng trị và Thừa thiên-Huế; đồng thời còn tạo những nguy hại lâu dài về nhiều mặt cho nhân dân cả nước. HNTU này diễn ra sau khi Ban giám đốc Formosa công khai xin lỗi trong cuộc họp báo ngày 30.6. và nhận bồi thường 11.500 tỉ đồng, tương đương 500 triệu USD.[110] Nhưng ở đây Formosa không chỉ là thủ phạm duy nhất, vì nhiều cơ quan Đảng và Nhà nước đã cấp giấy phép đầu tư, hoạt động và kiểm soát công ti Formosa cũng đều là thủ phạm. Vì chính các cơ quan này đã lơ là và vô trách nhiệm trong các lãnh vực phụ trách, nên đã để cho Formosa làm ăn như một vua con trong vùng. Trong cuộc họp báo ngày 30.6 các Bộ trưởng đã cố tình tránh né không làm rõ cơ quan và người phải chịu trách nhiệm.[111]

Trong khi ấy các cuộc biểu tình của nhiều giới vào ba cuối tuần từ đầu tháng 5.16 với các khẩu hiệu “Cá cần nước sạch”, “Nước cần minh bạch” đã bị công an mật vụ chế độ toàn trị ngăn cấm, đàn áp và chụp mũ. Trong cuộc họp báo ngày 30.6 lần đầu tiên các quan chức hiện diện xác nhận, Formosa là thủ phạm gây ra thảm trạng môi trường ở miền Trung; nhưng cùng lúc họ lại vẫn kết án gay gắt những cuộc biểu tình của nhân dân đòi Formosa phải sớm công khai minh bạch về nguyên nhân dẫn tởi thảm trạng môi trường. Dịp này Trương Minh Tuấn, Bộ tưởng 4 T vẫn chụp mũ: “Tôi cũng nói thẳng rằng, có thế lực thù địch đã lợi dụng tình trạng cá chết này để công kích sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, thậm chí kích động để gây mất trật tự công cộng, gây bất an trong nhân dân”.[112]

Mãi hơn nửa năm sau thảm trạng môi trường 4 tỉnh miền Trung, ngày 17.10.16 trước các “đại biểu cử tri” tại Ba đình, Hoàn kiếm, tức những đảng viên ngoan ngoãn chỉ biết xu nịnh và bốc thơm, Nguyễn Phú Trọng đã không sợ bị chất vấn nên đã bộc lộ:

“Trước kia chúng ta kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu, nên bây giờ chúng ta phải trả giá”.[113]

Lời xác nhận trên của người cầm đầu chế độ toàn trị đã nhìn nhận cung cách suy nghĩ, quyết định và hành động công việc nước theo lối ăn xổi ở thì, bóc ngắn cắn dài, xuất phát từ bệnh kiêu ngạo quyền lực, không cần nghe ý kiến của các chuyên viên cũng như nhân dân. Lời xác nhận này có khác nào như người chủ nhà đã xây nhà mà không xây cầu tiêu, không lập hệ thống dẫn nước thải! Xây nhà máy sản xuất thép không tính tới chất thải độc hại! Xây hàng trăm đập thủy điện không tính tới việc đồng ruộng mất nước, nhân dân thiếu nước sinh hoạt, nhưng khi mưa lũ lại trở thành đại họa cho nhân dân! Bất kể tới lời can ngăn của cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhiều tướng lãnh và chuyên viên những người cầm đầu chế độ toàn trị đã cho BK xây các nhà máy khai thác Bauxit ở Tây nguyên từ năm 2009 bất kể tới hậu quả môi trường và an ninh quốc phòng! Nay tới Formosa!

Đây là sự thông minh hay chính là sự ngu dốt và thái độ kiêu ngạo quyền lực của Nguyễn Phú Trọng và các đại quan đỏ trong BCT? Chính Phạm Văn Đồng, TT đầu tiên và lâu đời nhất của chế độ toàn trị đã phải nhìn nhận là, sự ngu dốt và thái độ kiêu ngạo quyền lực của những người cầm đầu đã gây ra những hậu quả thảm khốc cho nhân dân trong giai đoạn đó.

Tình trạng này hiện nay còn tệ hại hơn, ngay Nguyễn Phú Trọng đã phải nhìn nhận! Ông Trọng còn nói “bây giờ chúng ta phải trả giá”. Nhưng “chúng ta” ở đây là ai? Có phải Nguyễn Phú Trọng và các đại quan trong BCT và TUĐ đang sống vương giả và ngồi trong những biệt thự an toàn ? Chính thái độ ăn xổi ở thì và bệnh kiêu ngạo quyền lực của họ đã dẫn tới công ti Formosa gây thảm họa môi trường cho bao nhiêu triệu nhân dân bốn tỉnh miền Trung từ đầu tháng 4. 2016 và đang phải hứng chịu cảnh thất nghiệp, bệnh tật và đói nghèo. Họ chia sẻ sự cơ hàn với nhân dân như thế nào?

Khi thảm họa môi trường do Formosa gây ra sau mấy tuần hàng triệu nhân dân điêu đứng lo âu, nhưng TT Nguyễn Xuân Phúc, Thường trực BBT Đinh Thế Huynh khi đi qua những vùng này vẫn ngoảnh mặt làm thinh; còn người cầm đầu chế độ toàn trị Nguyễn Phú Trọng lại đủng đỉnh tới thăm hỏi và khen ngợi Ban giám đốc Formosa và chẳng thèm màng tới nạn nhân của Formosa! Còn Chủ tịch nước Trần Đại Quang thì trước sau vẫn im thin thít. Trong buổi QH khai mạc Kì họp thứ 2 ngày 20.10.16 Ủy viên BCT, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) -cánh tay dài của ĐCS- Nguyễn Thiện Nhân cho biết, “đến nay vẫn chưa có cơ quan, tổ chức và cá nhân nào trong hệ thống quản lý Nhà nước có liên quan đứng ra nhận lỗi và chịu trách nhiệm”.[114] Mặc dầu Nguyễn Xuân Phúc vẫn lớn tiếng là “Chính phủ phục vụ”! Rõ ràng là thái độ cao ngạo quyền lực từ cấp lãnh đạo trở xuống!

Nếu tứ trụ Nguyễn Phú Trọng, Trần Đại Quang, Nguyễn Xuân Phúc và Nguyễn Thị Kim Ngân thực tình nghiêm túc với chính mình, khi đối chiếu với những tiêu chuẩn cao vòi vọi để chọn lựa cán bộ cao cấp mà chính họ đã đưa ra trong HNTU 11 (5.15) thì chính họ phải thấy hết sức rõ ràng là, họ đã hoàn toàn vô trách nhiệm trước thảm họa môi trường do Formosa gây ra!

“Kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu!” Lời nhìn nhận trên của TBT Nguyễn Phú Trọng có tầm quan trọng đặc biệt. Nó bạch hóa lối suy nghĩ cực kỳ thiển cận và phong thái hành động vô trách nhiệm của những người có quyền lực cao nhất trong chế độ toàn trị khi quyết định mời gọi các công ti nước ngoài đầu tư vào VN. Đây là những quyết định ở cấp cao nhất là BCT và BBT và được sự cố vấn của các Ban trong đảng và các Bộ trong CP. Các quyết định liên quan tới chương trình FDI nói chung, đặc biệt các công trình FDI có vốn đầu tư cao mang tầm vóc chiến lược, không chỉ có ý nghĩa thuần kinh tế, mà nó còn liên hệ trực tiếp tới nhiều lãnh vực chính trị, an ninh-quốc phòng, kĩ thuật, môi trường và sức khỏe của nhân dân.

Nhưng khi để Formosa đầu tư cả chục tỉ USD vào VN, Bộ chính trị đã quyết định theo tiêu chuẩn nào? Nguyễn Phú Trọng đã trả lời: “Kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu”. Như vậy là các tỉ Dollar đã làm họ chóa mắt, nên đã vội vàng nhắm mắt bỏ qua các yếu tố cực kỳ quan trọng khác là an ninh-quốc phòng, kĩ thuật, môi trường và sức khỏe của nhân dân. Như vậy khi quyết định mời Formosa vào đầu tư, những người có quyền lực trong BCT đã đặt sự tồn tại của chế độ và cái ghế của chính họ, ích kỉ cá nhân lên hàng đầu. Chỉ mong càng có nhiều Dollar vào càng nhanh càng tốt! Chương trình FDI là một chủ trương rất lớn được đề cao trong các ĐH đảng, nhưng trong thực hành thì BCT đã vô trách nhiệm cùng cực, hoàn toàn không có một kế hoạch đúng đắn và khoa học để tạo những lợi ích thực sự cho đất nước và tránh những hậu quả tai hại cho nhân dân. Chính điều này người cầm đầu chế độ toàn trị Nguyễn Phú Trọng đã công khai xác nhận như trên!

Nay trong khi hàng triệu người dân phải hứng chịu hậu quả do thảm họa môi trường, phải trả giá bằng thất nghiệp, bệnh tật mà nguyên do từ những quyết định sai lầm và thái độ cực kỳ vô trách nhiệm của BCT, đứng đầu là Nguyễn Phú Trọng. Nhưng khi nhân dân đòi những người có quyền lực đã tiếp tay gây ra thảm họa môi trường phải có những chính sách đền bù thích đáng và biện pháp nghiêm khắc với Formosa, thì bọn quan độc ác này đã không biết ăn năn, không chịu xin lỗi, lại còn cho báo chí và chính quyền địa phương chụp mũ xuyên tạc, cho công an ngăn cản và đe dọa “không bảo đảm an ninh cho người đi khiếu kiện”[115] Chẳng những thế Nguyễn Phú Trọng còn để công an giam giữ và tòa án nhân dân bỏ tù nhiều người đi biểu tình! Họ phục vụ đất nước, bảo vệ quyền lợi nhân dân, hay đã tự chuyển biến xấu chỉ lo phục vụ quyền lợi riêng cho chính mình, nên đã sẵn sàng bảo vệ các nhà đại tư bản nước ngoài? Nếu còn lương tâm có lẽ ông Trọng nên đọc bài thơ của cô giáo Trần Thi Lam ở Hà Tĩnh đã sáng tác vào dịp này: “Đất nước mình ngộ quá phải không anh?”

“Đất nước mình buồn quá phải không anh

 Biển bạc, rừng xanh, cánh đồng lúa biếc

 Rừng đã hết và biển thì đang chết

 Những con thuyền nằm nhớ sóng khơi xa..”.

http://nhathothaiha.net/wp-content/uploads/2016/04/dat-nuoc-minh-ngo-qua-phai-khong-anh-tin8-5.jpg

Chỉ trong 20 câu thơ không chỉ trách móc những người có trách nhiệm với đất nước đã làm cho nhân dân phải đói khổ, nhục nhằn, môi trường bị tàn phá, còn bị khinh rẻ và đàn áp. Bài thơ còn nhắc nhở mỗi cá nhân, trước những nguy vong của đất nước phải can đảm cùng nhau gánh vác trách nhiệm làm thay đổi tình hình. Bài thơ “Đất nước mình ngộ quá phải không anh?” là lời gọi rất chân thành và thúc giục mọi người, mọi giới hãy can đảm cùng nhau lên đường làm nhiệm vụ của người công dân VN là làm lại lịch sử, đưa dân tộc ta tới quang vinh trong Thế kỉ 21!

  1. Mô hình phát triển theo “Kinh tế Thị trường

             định hướng Xã hội chủ nghĩa”

Kết quả thực tiễn: Doanh nghiệp Nhà nước thua lỗ, lãng phí nguồn ODA,         bùng nổ nợ công, tham nhũng và lợi ích nhóm

Trong suốt thời kì từ 1986 tuy đề cao là “đổi mới” trong kinh tế, nhưng sợi chỉ đỏ trong các lãnh vực công nghiệp trước sau vẫn là DNNN. Trước đây thường được gọi là Quốc doanh. Nay vì tình thế bất đắc dĩ nên phải nhìn nhận sự hiện diện của các loại kinh tế tư nhân VN và FDI; tuy nhiên trước sau hệ thống DNNN được xếp vào thành phần tối ưu và giữ trọng trách “chủ đạo”, tức là làm nền tảng cho các hoạt động kinh tế. Chính sách này có thể ví như một con bạch tuộc. Trong thời hùng mạnh nó vươn các chân tới mọi hang cùng ngõ hẻm, nay yếu sức nên phải rút chân ra một số nơi, nhưng vẫn quyết bám chặt ở những địa bàn hiểm yếu. Cách thay đổi nhỏ giọt và trong điều kiện ngặt nghèo như thế thể hiện tư duy và tâm lí vẫn như cũ của một số người có quyền lực liên quan tới các hoạt động kinh tế. Ở đây là chủ nghĩa Marx đầy thành kiến đối với các sinh hoạt kinh tế của tư nhân, đặc biệt thành phần tư bản. Ở đây cũng là tuân thủ tư tưởng giành và giữ quyền lực độc quyền cho ĐCS của Lenin đã thực hiện ở Nga và Liên Xô cũ trước đây và được HCM vận dụng vô điều kiện trong việc cướp và giữ chính quyền độc quyền cho ĐCS từ 1945. Điều này phản ảnh tâm lí không tin dân và không dám nhìn nhận những thành công không thể chối cãi của nhiều quốc gia đã từ bỏ các DNNN và trao lại các hoạt động kinh tế cho nhân dân.

Căn cứ vào các Nghị quyết của các ĐH và các Luật về DNNN, hệ thống DNNN có nhiệm vụ vừa hướng dẫn vừa kiểm soát toàn bộ sinh hoạt kinh tế và trực tiếp dưới quyền lãnh đạo của ĐCS, trong thực tế là BCT và BBT. Các bộ và cơ quan của CP có nhiệm vụ thi hành các quyết định của BCT trong các DNNN. Nhờ vậy, hệ thống DNNN giữ vai trò như một bộ máy tuần hoàn trong cơ thể truyền dinh dưỡng, dưỡng khí và máu cho các bộ phận. Nó còn giữ nhiệm vụ cực kỳ quan trọng là định hướng và kiểm soát nền kinh tế trong cái khung của một chế độ toàn trị. Muốn như vậy thì hệ thống DNNN phải nắm các động mạch chính của nền kinh tế-tài chánh. Như hệ thống ngân hàng, các lãnh vực công nghiệp liên quan tới quốc phòng, an ninh như truyền thông (báo chí, điện thoại…), chế tạo vũ khí, khai thác quặng mỏ, dầu khí, xây dựng các hạ tầng cơ sở như đường xá, cầu cống, phi trường, hải cảng và các trung tâm điều phối nông, lâm, thủy sản…

Mục tiêu và quan điểm này đã được trình bày trong nhiều ĐH từ 1986. Nó thể hiện rõ hơn trong ĐH 8 (1996) khi họ đưa ra chủ trương đầy tham vọng là, công nghiệp hóa, hiện đại hóa với kinh tế tri thức để “đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp”. [116] Đặc biệt nó được định nghĩa và xác định lãnh vực hoạt động rất rõ ràng trong Báo cáo Chính trị tại ĐH 9 (2001):

“Kinh tế nhà nước phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Doanh nghiệp nhà nước giữ những vị trí then chốt; đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế – xã hội và chấp hành pháp luật”.[117]

Những người cầm đầu Đảng khi ấy đã đưa ra tham vọng rất cao là, KTNN không chỉ giữ “chủ đạo” trong việc tạo mặt vật chất làm phương tiện thiết yếu để bảo vệ chế độ; cả về mặt chất lượng và đạo đức nghề nghiệp, các DNNN còn là những đơn vị kinh tế có trình độ công nghệ kĩ thuật hàng đầu, năng suất lao động cao và tạo ra được những sản phẩm có chất lượng tốt. Không những thế, vẫn theo tham vọng của họ, sự hoạt động của các DNNN không chỉ đem lại sự phồn vinh cho xã hội mà còn làm gương mẫu trong việc “chấp hành pháp luật”! Họ đã vẽ ra một bức tranh tuyệt vời về Kinh tế Nhà nước (KTNN) xuyên qua các DNNN! Khi nuôi tham vọng cực kỳ cao này họ đã ngủ mơ, nhưng cũng có thể họ đã quá tự tin theo tâm lí kiêu ngạo CS, bất kể các qui luật khoa học và bất chấp cả những kinh nghiệm thất bại từ các mô hình Nhà nước làm kinh tế trong thời kì trước đây ở VN cũng như ở nhiều nước CS trước đây.

Để thực hiện giấc mộng kê vàng này, trong ĐH 9 họ quyết định thành lập các Tập đoàn kinh tế từ sự sát nhập các Tổng công ti và công ti DNNN:

“Trong 5 năm tới, cơ bản hoàn thành việc củng cố, sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động các doanh nghiệp nhà nước hiện có, đồng thời phát triển thêm doanh nghiệp mà Nhà nước đầu tư 100% vốn hoặc có cổ phần chi phối ở một số ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng. Xây dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế”. [118]

Mô hình Tập đoàn kinh tế bắt chước các Cheabol của Nam Hàn. Có lẽ ý tưởng này được thành hình sau các cuộc đi thăm Nam Hàn của nhiều chính trị gia cấp cao của đảng, đặc biệt là Đỗ Mười vào năm 1995. Sự phát triển nhanh chóng và cức mạnh của nhiều Cheabol Nam Hàn đã gây cho họ những ấn tượng mạnh. Vì thế họ cũng muốn thành lập một số Tập đoàn kinh tế như những “quả đấm thép” trong kinh tế. Chủ trương này dựa trên Luật DNNN năm 2003. [119] Theo Điều 9 của Luật này, việc thành lập các Tập đoàn và Tổng công ti cũng như bổ nhiệm các Ban quản trị các DNNN thuộc quyền TT và các Bộ. Như thế các cơ quan CP như một cơ quan tổng chỉ huy KTNN, đặt trực tiếp dưới quyền TT. Đấy là mặt tổ chức nhân sự.

Chế độ toàn trị còn giành những ưu đãi đặc biệt cho DNNN cả về vốn tư bản, đất đai và các tài nguyên. Các DNNN được sử dụng ngân sách quốc gia, được vay tiền của các ngân hàng với lãi suất rất thấp, có quyền phát hành (bán) trái phiếu ở trong và ngoài nước với sự bảo lãnh của Nhà nước, không phải trả tiền đất để xây các xí nghiệp, được hưởng ưu đãi quan thuế trong việc xuất nhập khẩu sản phẩm, chỉ phải đóng thuế mức rất thấp so với các doanh nghiệp tư. Quan trọng khác nữa, các DNNN được độc quyền sử dụng các nguồn vốn ODA, tổng số lên tới 78 tỉ USD trong gần ba thập niên qua.

Với việc hưởng các ưu đãi và độc quyền đó, có thể ví các DNNN như những đứa con cưng của một tỉ phú, vừa có tiền bạc lại đầy quyền lực, được nuông chiều đủ thứ, lại còn được bảo vệ không ai dám đụng chạm tới, kể cả pháp luật! Các cậu công tử này đâu cần phải học hành, đâu cần phải lao động, chỉ việc ngồi mát ăn bát vàng! Đây không phải là chuyện giả tưởng hay bức tranh siêu thực, nhưng lại là một sự thực 100% suốt mấy thập kỉ ở VN dưới chế độ toàn trị!

Độc quyền trong chính trị đã tác hại nguy hiểm như thế nào ở nhiều nước. Độc quyền cả chính trị lẫn kinh tế còn gây thiệt hại khủng kiếp hơn nữa cho người dân. Hình ảnh kinh tế kiệt quệ, nhân dân sống trong nghèo khổ, trong khi cán bộ trung và cao cấp hưởng giầu sang và tham nhũng ở cựu Liên Xô và Đông Âu cho tới cuối thập niên 80 không ai có thể quên được.

Tại VN sự độc quyền của các DNNN đã tiêu giệt yếu tố cạnh tranh, khiến toàn bộ kinh tế không thể vươn lên được. Vì cạnh tranh lành mạnh là yếu tố tối cần thiết để thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế tiến lên, đồng thời bảo vệ các quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng. Nhưng ở VN trong khi các doanh nghiệp tư bị chèn ép thì các DNNN ngồi chơi xơi nước, lãng phí tiền bạc, tài nguyên và thời gian! Vào cuối 2013 các tập đoàn và tổng công ti nhà nước chiếm thị phần áp đảo trong toàn bộ kinh tế. Như Tập đoàn Điện (bao gồm EVN và PVN) chiếm 80% thị phần, Tập đoàn Than và khoáng sản 98%, Tập đoàn Dầu khí 100%, Tập đoàn vận tải đường sắt (100%), Tổng công ti hàng không VN (61,4%), Tập đoàn viễn thông (gồm VNPT và Viettel) (81,5%).[120]

Số liệu tài chính tổng hợp của các Tập đoàn và Tổng công ti Nhà nước

(tỉ đồng)[121]

Năm 2006 2007 2010 2011 2013
Tổng tài sản có 751.698 767.151 1.799.317 2.093.907 2.639.916
Tổng tài sản nợ 751.698 767.151 1.799.317 2.093.907 2.639.916
Vốn chủ sở hữu 317.647 406.975   653.166   727.277 1.044.769
Các khoản phải trả 419.991  51.904 1.088.290 1.292.400 1.514.915
–                      Dài hạn 226.478 262.061   604.191
–                      Ngắn hạn 193.933 256.979   688.202
Doanh thu 504.253 625.027 1.488.273 1.577.311 1.709.134
Lợi nhuận trước thuế  56.083  67.404    16.291   135.111   181.530
Thua lỗ     1.116     5.823
Số doanh nghiệp (đơn vị)      95      95       85       91      108
Tỉ lệ nợ/vốn chủ sở hữu     1,4      1,3       1,7      1,8      1,45

Số liệu này không bao gồm Vinashine

Nguồn: Bộ Tài chính (dẫn tại Matheson, 2013, tr. 7; Thời báo VN, 2014)

Dưới những điều kiện của chế độ toàn trị, mọi quyết định từ chính trị, kinh tế, pháp luật tới văn hóa xã hội chỉ là quyết định của một số người có quyền lực trong BCT. Trên họ không còn ai hết, không có những cơ chế kiểm soát công khai và nghiêm túc, không có báo chí độc lập và hệ thống một xã hội dân sự độc lập. Nên những người này có thể ban bố các chính sách, đạo luật theo ý muốn của họ và khi cần thiết có thể giải thích tùy tiện, vo tròn, bóp méo và thậm chí làm vô hiệu hóa các luật pháp hay quyết định trước đây của chính họ, nếu thấy rằng nó bất lợi hay nguy hiểm cho địa vị và quyền lực của họ. Điều này càng dễ xẩy ra khi đụng chạm tới quyền-tiền, hai động lực có sức lôi cuốn rất mạnh thúc đẩy lòng tham của con người, nhất là những người có điều kiện biến quyền lực thành tiền bạc, hoặc dùng tiền bạc để mua quyền lực!

Cách tổ chức và điều hành của hệ thống DNNN, nhất là từ gần hai thập niên vừa qua với việc ra đời các tập đoàn và tổng công ti nhà nước, là những dẫn chứng cụ thể rõ rệt nhất về sự liên hết như hình với bóng của quyền lực và tiền bạc dưới chế độ toàn trị ở VN. Các giám đốc và hội đồng quản trị (hội đồng thành viên) của các tập đoàn và tổng công ti nhà nước do TT chỉ định. Các cơ quan này có quyền hành rất lớn trong mọi quyết định liên quan tới hoạt động của tập đoàn và tổng công ti. Từ việc chọn lựa nhân sự then chốt, đầu tư, vay tiền, gọi thầu tới việc liên kết kinh doanh với bên ngoài. Họ đều là những cán bộ có thế lực, nhưng hầu như không có kiến thức và kinh nghiệm quản trị các công ti lớn. Một khi quyền nhiều, nhưng trách nhiệm rất ít thì dễ sinh ra lạm dụng những gì có lợi cho bản thân, gia đình và vây cánh. Từ đó dẫn tới những lãng phí hàng trăm, hàng ngàn tỉ đồng, tự do xà xẻo các công trình. Muốn làm giầu bất chính nhanh và gọn gàng thì phải lập phe cánh che chở và bảo vệ lẫn nhau. Qua đó sẽ hình thành các nhóm lợi ích. Vì quyền lợi ích kỉ, các nhóm này sẽ lợi dụng quyền lực kết hợp với nhau ngay từ giai đoạn soạn thảo các kế hoạch có lợi cho phe cánh của mình.

Trong vụ PMU 18 thứ trưởng Giao thông vận tải Nguyễn Việt Tiến cùng cánh vế với bộ trưởng Giao thông vận tải Đào Đình Bình đã lôi kéo cả con rể TBT Nông Đức Mạnh vào làm. Nhờ vào uy quyền lớn nên họ đã được giao nhiều dự án xây dựng hạ tầng với số vốn cả hàng ngàn tỉ đồng từ nguồn ODA và lập ra các công ti con làm sân sau để thân nhân và vây cánh thao túng. Sự thỏa hiệp đen tối quyền lực và chia chác tiền bạc trong vụ Vinashin lại càng khủng khiếp hơn nữa. Nguyễn Tấn Dũng dùng uy quyền TT để giao cho người đồng hương Phạm Thanh Bình làm Giám đốc Vinashin, được Ngân hàng Nhà nước cung cấp vốn cả hàng trăm ngàn tỉ đồng, đẻ ra hàng trăm công ti con, đầu tư vào những công trình ngoài cả lãnh vực đóng tàu thủy, như mở cả ngân hàng và công ti du lịch…Sau nhiều năm làm ăn thua lỗ khổng lồ lên tới cả gần 100.000 tỉ đồng, nhưng Nguyễn Tấn Dũng vẫn bình chân như vại. Hai người có quyền lực nhất khi ấy là Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng đã ngấm ngầm thỏa hiệp với nhau hai ghế TBT và TT, như đã trình bày trong Chương sáu, XI.

PVN và vụ án Đinh La Thăng

Tập đoàn đầu khí VN (Petro VN, PVN) là một công ti Nhà nước lớn nhất. Năm 2015 đạt tổng doanh thu là 293.439 tỉ đồng, đóng góp vào NSNN là 93.000 tỉ đ. trong tổng số thu NSNN là 911.100 tỉ đ.; nghĩa là chiếm tới gần 12% tổng thu của NSNN.[122] Như vậy PVN đóng một vai trò rất quan trọng trong toàn bộ nền kinh tế VN. Năm 2017 PVN khai thác 15,52 triệu tấn dầu thô, 9,89 tỉ m³ khí; sản xuất 20,58 tỉ kWh điện, 1,65 triệu tấn phân đạm, 6, 24 triệu tấn xăng dầu. [123]

Theo Quyết định 924-QĐ-TTg ngày 18.6.2010 đây là Tập đoàn độc quyền trong khai thác, vận chuyển, chế biến, lưu trữ dầu hỏa và khí đốt; ngoài ra còn độc quyền các dịch vụ về dầu khí ở trong và ngoài nước. Quyết định trên còn giành cho PVN độc quyền kinh doanh, phân phối các sản phầm dầu khí và các nguyên liệu hóa chất dầu khí; xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị và sản phầm dầu khí; khảo sát, thiết kế, xây dựng, khai thác, sửa chữa các công trình, phương tiện phục vụ dầu khí dân dụng. Không những thế PVN còn có quyền đầu tư, sản xuất, chế biến, kinh doanh nhiên liệu sinh học, điện và phân bón; đầu tư khai thác than và khoáng sản tại nước ngoài. Đặc biệt nữa, PVN còn được hoạt động kinh doanh cả những lãnh vực ngoài dầu khí, như: đầu tư, kinh doanh bất động sản; kinh doanh khách sạn, du lịch; đầu tư, khai thác, kinh doanh các cảng, vận tải biển, sông và hàng không và đường bộ…[124]

Như thế cho thấy PVN không chỉ là một “vua” trong lãnh vực dầu khí mà còn bao thầu cả trong nhiều lãnh vực khác! Từ khi trở thành tập đoàn lớn nhất, PVN trong nhiều năm liên tiếp đã “sai phạm rất nghiêm trọng” trong việc sử dụng vốn, đầu tư hàng chục ngàn tỉ đồng vào nhiều lãnh vực nhưng không có hiệu quả, phải nằm đắp chiếu và thua lỗ. Nhất là dưới thời Đinh La Thăng làm Giám đốc và Bí thư đảng ủy Tập đoàn PVN (2005-2011) và các người kế vị những năm sau này. Như trong Thông báo của Ủy ban Kiểm tra TU ngày 27.4.17 do Trưởng ban và UVBCT Trần Quốc Vượng công bố.[125]

Khi đó là thời có nhiều quyền lực của các UVBCT, như TT Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng (CTQH và TBT), Nguyễn Sinh Hùng (Phó TT thứ nhất và CTQH, Trương Tấn Sang (Trưởng ban Kinh tế TU, Thường trực BBT và CTN), Tô Huy Rứa (Trưởng ban Tuyên giáo và Trưởng ban Tổ chức), Nguyễn Xuân Phúc (Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng CP, Phó TT)…Điều vô cùng ngạc nhiên là, mặc dầu đã xẩy ra nhiều sai phạm rất nghiêm trọng trong suốt nhiều năm, nhưng Đinh La Thăng vẫn trở thành ngôi sao sáng chính trị liên tiếp trên 10 năm: Là UVTU từ khóa 10 (2006), sau khi thôi Giám đốc PVN lại lên nắm chức bộ trưởng Giao thông vận tải (2011-16), UVBCT Khóa 12 và Bí thư Thành ủy thành phố HCM (tới tháng 5.17), đại biểu QH các khóa 11-14 (tới 5.17).

Vì vậy một số câu hỏi rất quan trọng được nêu ra trong các hoạt động sai phạm rất nghiêm trọng của PVN, từ thời Đinh La Thăng làm giám đốc và cả những người kế vị, nhưng tại sao vị thế chính trị của ông vẫn lên như diều trong thời gian rất dài đến cả chục năm liên tiếp? Vì nó hoàn toàn đi ngược lại những tiêu chí chọn lựa và giao phó công việc cho “những cán bộ cấp chiến lược” theo HNTU 11 Khóa 11 (5.15) dưới quyền Nguyễn Phú Trọng đã đề ra:

“Kiên quyết không để lọt vào BCHTU những người có một trong các khuyết điểm, như: Bản lĩnh chính trị không vững vàng, không kiên định đường lối, quan điểm của Đảng, có biểu hiện cơ hội chính trị, nói và làm trái Cương lĩnh, đường lối, nguyên tắc của Đảng; tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, vận động cá nhân, tư tưởng cục bộ, phe cánh, lợi ích nhóm… tham nhũng, tiêu cực lớn …không chấp hành sự điều động, phân công của tổ chức; kê khai tài sản không trung thực, có biểu hiện giầu nhanh, nhiều nhà, nhiều đất, nhiều tài sản khác mà không giải trình rõ được nguồn gốc” [126]

Ông Trọng đã từng nhấn mạnh, công tác cán bộ là then chốt của các then chốt. Chả lẽ suốt thời gian rất dài như vậy Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Sinh Hùng, Tô Huy Rứa và Nguyễn Xuân Phúc….ở những địa vị cao như vậy cả trong đảng lẫn chính phủ lại không biết rõ những sai phạm nghiêm trọng trong PVN và Đinh La Thăng?

Phải phân biệt ở đây một số trường hợp: Nếu họ không biết những gì đã xẩy ra tại PVN thì chứng tỏ họ không đủ khả năng đảm nhiệm các trọng trách. Nhưng nếu biết mà không dám nói, chứng tỏ họ làm bù nhìn. Không những thế, nếu biết những cán bộ cao cấp đã làm những “sai phạm rất nghiệm trọng” như Đinh La Thăng mà không dám cách chức lại còn cất nhắc, chứng tỏ họ càng vô trách nhiệm và chỉ lo củng cố quyền lực, chểnh mảng nhiệm vụ, không cương quyết bảo vệ tài sản của đất nước và quyền lợi của nhân dân!

Nắm các địa vị quan trọng trong đảng và chính phủ, họ phải chịu trách nhiệm chính trị, trách nhiệm về pháp luật và lương tâm đạo đức, vì đã để cho Đinh La Thăng và nhiều cán bộ cao cấp trong PVN hoạt động sai phạm nghiêm trọng liên tiếp trong nhiều năm. Do đó đúng ra Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng và các UVBCT đầy quyền lực nêu trên phải công khai nhận trách nhiệm chính trị trước nhân dân và phải xin từ chức. Không những thế, họ còn phải chịu trách nhiệm về mặt luật pháp đối với những thiệt hại cực lớn cho ngân sách quốc gia và các tài sản của nhà nước.

Họ chủ trương DNNN làm chủ đạo và giành nhiều ưa đãi, lại không có cơ chế luật pháp nghiêm minh, không có báo chí độc lập theo dõi, có khác nào như mời cán bộ tham nhũng thả cửa hôi của. Vì thế tập đoàn PVN là doanh nghiệp nhà nước lớn nhất đã có thể dễ dàng làm thất thoát hàng trăm ngàn tỉ đồng trong nhiều năm. Sự hoạt động của các tập đoàn, trong đó có PVN, thuộc quyền của BCT và CP, trong đó hai người đứng đầu là TBT Nguyễn Phú Trọng và TT Nguyễn Tấn Dũng phải là hai người chịu trách nhiệm cao nhất cả về mặt chính trị lẫn mặt pháp luật. Vì các nghị quyết của các HNTU và quyết định của CP đều qui định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của tập thể cũng như cá nhân phụ trách. Chính Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng đã nhiều lần tuyên bố, cơ quan nào để xẩy ra lãng phí và tham nhũng nghiêm trọng thì người đứng đầu cơ quan phải chịu trách nhiệm trước đảng và nhân dân!

Riêng trường hợp của Nguyễn Phú Trọng, một mặt ông trương cờ với những tiêu chí thật cao trong việc lựa chọn cán bộ cấp chiến lược vào cấp cao nhất. Như “Ủy viên BCT, BBT phải là những đồng chí thật tiêu biểu của Ban chấp hành trung ương (BCHTU) về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, ý chí chiến đấu, năng lực lãnh đạo quản lý” và không “tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, vận động cá nhân, tư tưởng cục bộ, phe cánh, lợi ích nhóm”.[127] Nhưng mặt khác, chính ông lại dùng các thủ đoạn để giành cho riêng mình được xếp vào “trường hợp đặc biệt”, đồng thời cô lập Nguyễn Tấn Dũng bằng cách mua chuộc những thân tín của ông Dũng, trong đó cho Đinh La Thăng vào BCT và Bí thư Thành ủy thành phố HCM.

Nhưng sau khi đã nắm vững ghế TBT thêm một nhiệm kì thì ông liền ra tay thanh toán những đối thủ để trừ hậu hoạ, thậm chí đưa cả đối thủ ra xét xử theo những bản án đã định sẵn. Thủ đoạn nham hiểm này không làm sạch bộ mặt của ông Trọng, mà chỉ bôi đen thêm. Một người nổi tiếng lợi dụng địa vị để tham nhũng quyền lực trong suốt hơn thập kỉ vừa qua thì không thể chống tham nhũng quyền lực và tiền bạc được. Tay đã nhúng chàm! Vì tham nhũng quyền lực và tham nhũng tiền bạc như bóng với hình, chúng nương tựa nhau, bảo vệ nhau. Đây mới là nguy cơ của mọi nguy cơ đưa chế độ toàn trị từng bước nhưng chắc chắn rơi sâu xuống vực thẳm! Quyền và tiền như đổ dầu vào lửa. Tới một thời điểm thích hợp không còn xa, những quan tham nhũng quyền lực và tham nhũng tiền bạc không thể chung sống và cũng không thể nhượng bộ nhau!

Tại HNTU 5 Khóa 12 (5-10.5.17) Đinh La Thăng đã bị cách chức UVBCT và Bí thư Thành ủy thành phố HCM. Trong diễn văn khai mạc Hội nghị Nguyễn Phú Trọng đã đưa ra câu hỏi về tình trạng ngày càng thua lỗ và tham nhũng trong các DNNN: “Vì sao những hạn chế, yếu kém nêu trên đã được chỉ ra từ lâu nhưng qua nhiều nhiệm kỳ đến nay tình hình vẫn chậm chuyển biến, thậm chí có mặt còn trầm trọng hơn?”

Là người cầm đầu BCT thì đúng ra, Nguyễn Phú Trọng phải là người tiêu biểu nhất “của BCHTU về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, ý chí chiến đấu, năng lực lãnh đạo quản lý”. Đây là những điều kiện chính ông đã đặt ra làm nguyên tắc chọn người vào BCT! Nhưng các DNNN đã được BCT dưới quyền của ông cho tung hoành hoạt động suốt bao nhiều năm qua, nay Nguyễn Phú Trọng lại làm bộ ngây thơ đặt câu hỏi, “vì sao” các DNNN đi đến nông nỗi như ngày hôm nay! Điều này chứng tỏ Nguyễn Phú Trọng đã đóng kịch giả bộ, làm như người mù lòa không nhìn thấy nguyên nhân; hoặc thừa nhận vai trò bất lực, chỉ ngồi làm bù nhìn như ông bình vôi, càng già, càng ngồi lâu, càng tồi!

Giả vờ quên thực tế, bỏ qua những chuyện tầy đình trước sau vẫn là thái độ và mánh lới cực kỳ lươn lẹo của người cầm đầu chế độ toàn trị. Chính khi BK gia tăng chính sách bành trướng và thôn tính ở biển Đông, Nguyễn Phú Trọng đã gạt phăng và nói tỉnh bơ tại QH, “tình hình biển Đông không có gì mới!”. Hay khi xẩy ra thảm trạng môi trường cá chết trắng trên bãi biển miền Trung do công ti Formosa gây ra thì Nguyễn Phú Trọng vẫn thản nhiên lại thăm Ban giám đốc công ti này và sau đó lại còn nói tỉnh bơ như một người bàng quang: “Trước kia chúng ta kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu!”

Đối với những người hiểu biết và có lương tri không ai có thể hiểu được những lời tuyên bố trên thật vô cùng lạ lùng như thế. “Bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, ý chí chiến đấu, năng lực lãnh đạo quản lý” của người cầm đầu chế độ toàn trị là như thế!!! Chính điều này Nguyễn Phú Trọng đã đưa ra làm tiêu chuẩn để chọn lựa và đánh giá các UVBCT !!!

***

Tổng kết lại, phân tích cặn kẽ và nghiêm túc về thái độ, hành động và tư duy diễn tiến từ ĐH 6 (1986) tới ĐH 12 (2016) của những người cầm đầu toàn trị từ Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông đức Mạnh đến Nguyễn Phú Trọng có thể tóm lược là: Tuy miệng luôn luôn phải nói “đổi mới”, nhưng trong thâm tâm vẫn tin tuyệt đối vào chủ nghĩa Marx-Leninn và đi theo con đường của Bác đã chọn. Theo họ, đó là “sáng suốt” và “uống nước nhớ nguồn”, không phản bội người khai sáng và những thế hệ đã hi sinh, như thế là vừa khôn ngoan, vừa giữ được đạo lí của người đi sau! Bất đắc dĩ phải thay đổi một vài điều ở lãnh vực này hay lãnh vực khác chỉ là vì tình thế theo tiêu chí “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”!

Trong đó trước sau họ vẫn không thèm đoái hoài tới nguyện vọng và khát vọng rất chính đáng và bức thiết của nhân dân là hòa giải dân tộc thực sự để Bắc-Nam cùng nhau phát triển nội lực, để xây dựng lại quê hương từ đống tro tàn do bạo lực, hận thù từ những cuộc chiến tranh tàn khốc và giai giẳng để lại, tiến lên thành một quốc gia giầu mạnh, nhân dân được hưởng hạnh phúc, sống có nhân phẩm và tự do dân chủ! Họ cũng không thèm đếm xỉa tới những thay đổi sâu sắc của thế giới sau khi Liên Xô sụp đổ, các nước CS Đông Âu tan dã và TQ trỗi dậy trở thành tân đế quốc đang đe dọa trực tiếp VN, các nước trong khu vực và thế giới!

Trên đây là nền tảng căn bản về thái độ, cách hành động và tư duy của những người cầm đầu chế độ toàn trị suốt trên 30 năm qua. Trong đó hai nhân vật có trách nhiệm cao nhất là Đỗ Mười và Nguyễn Phú Trọng, vì họ đã và đang nắm độc quyền lâu và tàn bạo nhất!

Họ không đủ trình độ kiến thức, sự sáng suốt cần thiết và thái độ chân thành đáng lẽ ra phải có, để nhận ra và hiểu rằng, mỗi thời đại phải có những cái nhìn mới, những bước đi thích hợp; nếu người đi trước làm sai thì thế hệ sau phải có trách nhiệm và can đảm thay đổi. Châm ngôn VN có câu “con hơn cha là nhà có phúc”! Cũng với tinh thần này, đáng lẽ ra họ phải dứt khóat chấm dứt sự dối trá, lừa đảo và từ bỏ những ý thức hệ đã bị thực tiễn chứng minh là sai lầm; đồng thời thực tâm chọn con đường mới để kiến thiết đất nước và gây dựng hạnh phúc cho nhân dân. Đấy mới chính là sáng suốt, biết đền bù tương xứng những sự hi sinh của bao nhiêu triệu người đã từng tin vào họ.

Nhưng vì quá giáo điều nên họ đã không nhận ra được sự tiến hóa rất chính đáng và tự nhiên của nhân loại. Khi xã hội bộ lạc-du mục không còn thích hợp thì chuyển sang chế độ định cư, lập làng xã, chọn cách tổ chức thích hợp để xây dựng xã hội mới. Khi chế độ phong kiến trở thành lạc hậu và tàn bạo, cản đường tiến hóa của nhân dân thì quyết giã từ nó; khi chế độ toàn trị theo Marx-Lenin đã bị thực tế phủ nhận thì nếu sáng suốt, họ phải quyết chuyển sang DCĐN, tôn trọng các giá trị con người, khuyến khích những sáng tạo và tham gia tích cực của mọi thành phần.

Vì bảo thủ mù quáng nên họ vẫn cố giữ thái độ và tư duy cũ đã lỗi thời và hoàn toàn sai lầm. Vì thế họ đã cấm đoán, đàn áp đảng viên và nhân dân nói khác, nghĩ khác và hành động khác. Họ sẵn sàng tiếp tục sử dụng cả dối trá, tàn bạo, thậm chí cả nhân danh người đã khuất để biện minh cho các hành động cực kỳ sai lầm và độc ác. Đến khi bị kẹt cứng (khi Liên Xô sụp đổ) họ lôi cả HCM làm lá chắn để bảo vệ quyền lực và tiền bạc cho cá nhân, gia đình và vây cánh!

Công thức để thực hiện “đổi mới” suốt trên 30 năm qua chỉ loay hoay trên thái độ và tư duy cũ. Đó là: Chủ nghĩa Marx-Lenin + Đi theo con đường của Bác đã chọn. Họ bắt mọi người phải tin theo và làm như họ. Thậm chí còn ra lệnh cho các nhà khoa bảng XHCN không được suy nghĩ khác và phải khẳng định rằng, chỉ có CNXH theo Marx-Lenin như Bác đã chọn là đúng muôn đời! Đỗ Mười đã ra lệnh như vậy. Cựu CTN Nguyễn Minh Triết từng hô “bỏ Điều 4 Hiến pháp là tự sát”. Nguyễn Phú Trọng đã ngạo mạn phán rằng, “đi lên CNXH là nguyện vọng của nhân dân” và mạt sát các trí thức và chuyên viên đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp là “suy thoái đạo đức”!

Chính vì vậy từ Đỗ Mười tới Nguyễn Phú Trọng, là hai người chính nắm quyền trên 30 năm qua, phải dựng lên bộ máy công an trị hà khắc và sử dụng trí trá, độc ác, giả nhân giả nghĩa để tham nhũng quyền lực và tiền bạc cho chính họ và phe nhóm!

Sử dụng những thủ đoạn và phương pháp gian trá, độc đoán để thực hành các ý thức hệ sai lầm và những hành động cực kỳ mù quáng và tàn bạo suốt trên 30 năm qua đã chứng minh rất rõ ràng: Họ đã tự đánh mất tư cách, cực kỳ vô trách nhiệm đối với đảng viên và nhân dân, kể cả với hàng triệu người đã hi sinh. Vì thế sự cầm quyền và tồn tại của họ và phe nhóm là hoàn toàn bất chính, phản lại nguyện vọng chính đáng của nhân dân và đi ngược với trào lưu của thời đại!

______________________________

Thân mời đọc tiếp Chương kết: Các nguyên nhân, người chịu trách nhiệm và hậu quả của “Đổi mới” lừa bịp.

Chương cuối: Phải dứt khoát đoạn tuyệt với chủ nghĩa Marx-Lenin, mọi người quyết phá rào cản độc tài, cùng nhau đứng lên nắm lấy cơ hội kiến tạo một Nước Việt Nam MớiNhững điều nên nhớ, nên tránh và nên làm!

Và Mục lục toàn bộ sách và lời Dẫn nhập.

_______

[1] . CP 31.12.14

[2] . BBC 20.4.16; theo con số khác thì lợi tức đầu người của VN năm 2014 là 1890 USD, der neue Fischer Weltalmanach 2016, tr. 502

[3] . Đời sống&pháp luật, 31.1.18

[4] . Fischer Weltalmanach 2017, tr. 531

[5] . CS 21.1.16

[6] . http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/bai-phat-bieu-tam-huyet-thang-than-cua-bo-truong-bui-quang- vinh-286196.html -có cả video,VNNet 23.1.16; BBC 22.1.16

[7] . GS. Vũ Dương Ninh, Đại học Quốc gia HN, VN sau 30 năm đổi mới, thành tựu và triển vọng, sách lưu hành nội bộ.

[8] . Trần Đình Thiên, quản trị công trong quá trình chuyển đổi và tái cơ cấu kinh tế ở VN: một cái

  nhìn tổng quan, Nghiên cứu kinh tế (NCKT) 1.2014, tr.21, 17-22

[5] . Sách đã dẫn (Sđd), tr. 20

[6] . GS Trần Văn Thọ, Cú sốc thời gian và kinh tế VN, Thời báo kinh tế Sàigòn (TBKTSG),Xuân 7.2.16

[7] . GS Trần Văn Thọ, Góp ý Đại hội Đảng 12:Đánh giá thành quả phát triển của VN từ sau Đổi

    mới, Vietnamnet (VNN)16.11.15

[8] . Âu Dương Thệ, die politische Entwicklung…., sđd, tr. 82 t.th.

[9] . Âu Dương Thệ, sđd

[10] . Tổng cục Thống kê, Tình hình kinh tế – xã hội năm 2017; 

https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=621&ItemID=18668

[11] . Lê Cao Đoàn, cấu trúc và tái cấu trúc nền kinh tế trong quá trình phát triển của VN, NCKT,

   10.2013, tr.18

[12] . Đỗ Hoài Nam, sđd, tr.7

[13] . Nh.t., tr.10-11

[14] . „Diễn đàn Nông nghiệp“, CP 16.10.16

[15] .„Gạo Việt thua Lào, Campuchia, chỉ xuất đi… TQ“, Infonet 28.3.16

[16] . CS 30.9.16

[17] . 50 triệu nông dân điêu đứng, Nam Nguyên, RFA 17.6.13,

http://www.dcvapt.net/thoisu/baithoisu2013/nongdan.htm

[18] . http://vtv.vn/chuong-trinh-dac-sac/30-nam-doi-moi-nong-nghiep-va-phat-trien-nong-thon-20150910110734265.htm

[19] . Infonet 30.9.16

[20] . Infonet 27.9, 30.9.16

[21] . NCKT 11.15, tr.52.

[22] . Infonet 28.6.16

[23] . Thể chế cản trở sự phát triển của thị trường đất nông nghiệp Việt Nam, RFA 20.11.18

[24] . Nông dân sau 40 năm thống nhất đất nước, Nam Nguyên RFA 27.1.15

[25] . 50 triệu nông dân điêu đứng, Nam Nguyên RFA,17.6.15

[26] . Đỗ Hoài Nam, sđd, tr.15

[27] . TBKTSG 22.10.15

[28] . Phạm Bích Ngọc, Thương mại VN-TQ: những rủi ro phát triển, NCKT 10.14, tr. 74 ,

www.baomoi.com/Tan-tao-ma-nang-suat-van-thap/45/14822298.epi , 16.9.14

[29] . Công an nhân dân (CAND) 27.11.18; VNEc 27.11

[30] . TBKTSG 16.11.18

[31] . Nông nghiệp VN, 27.11.18

[32] . RFA 17.6.13; TS Đào Thế Anh, chuỗi giá trị lúa gạo Đồng bằng sông Cửu long:Chính sách nông

    nghiệp và thương mại thiếu hiệu quả, NCKT 8.15, tr.24-36

[33] . Tô Văn Trường ,Bauxite Viet Nam 17.03.15

[34] . VNN 1.11.15; ‘Bát cơm vàng’ của Việt Nam đang biến mất, 

http://dcpt.org/thoisu/baithoisu2015/vnv511.htm

[35] . https://luatvietnam.vn/dau-tu/luat-4-lct-hdnn8-quoc-hoi-1588-d1.html

[36] . Hoàng Quế, Dân chủ & Phát triển (DCPT) 27,12.03, tr. 27

[37] . TS Nguyễn Chiến Thắng, ThS Bùi Thị Hồng Ngọc, Thu hút FDI Hàn quốc vào VN: thực trạng và

   định hướng”, NCKT 3.14, tr59-67, 64

[38] . Tạp chí CS, “Dầu tư trực tiếp nước ngoài vào lãnh vực xây dựng và bất động sản – thực trạng và

   những vấn đề đặt ra, Nguyễn Thanh Nga & A-lếc-xơ Ua-ren, 11.2008, 60-66,tr. 60

[39] . SGTB 21.7.2018

[40] . SGTB 15.7.18 (https://www.thesaigontimes.vn/275054/nghich-ly-fdi.html).

[41] . VOV 30.8.18

[42] . FDI: Lỗ âm vốn chủ sở hữu nhưng vẫn hoạt động bình thường, SGTB 24.7.18

[43] . NCKT 3.14, tr. 65

[44] . TCCS 11.2008, sđd, tr. 64; NCKT 3.14, tr.65

[45] . TS Nguyễn Thị Kim Anh, chuyển giá và chống chuyển giá của các công ti xuyên quốc gia tại VN,

   NCKT 4.13, tr. 47-53; TS Nguyễn Thị Lan, thực trạng chuyển giá của các công ti đa quốc gia  

   hoạt động trên lãnh thổ VN, NCKT 6.14, tr. 56-62

[46] . PGS TS Kê Khương Ninh, thực trạng nông hộ ở Đồng bằng song Cửu long sau 7 năm thực hiện

   chính sách tam nông, NCKT 11.14, tr.63

[47] . Bùi Văn Dũng, nhà ở cho người lao động tại các khu công nghiệp VN, NCKT 1.14, tr.61-68.

[48] . NCKT 3.14, tr. 66

[49] . Zing VN 28.10.17

[50] . Vũ Dung, FDI và “bài toán” chuyển giao công nghệ, QĐND 23.11.17; VNEconomy đưa ra con

   số rất khác biệt, VNE 26.11.18

[51] . Sđd; QĐND 23.11.17

[52] . Sđd

[53] . VNE 30.11.18

[54] . Trả lời phỏng vấn của báo Bild Chủ nhật ngày 17.4.05

[55] . Lương Minh Huân, Đặng Thị phương Hoa, tại sao doanh nghiệp VN không lớn lên được?, NCKT

   12.14, tr. 28-37, 28

[56] . TBKTSG 13.4.16

[57] . Doanh nghiệp tính gia đình, NCKT 12.14, tr. 29-37

[58] . https://www.youtube.com/watch?v=KksGK-JrN_k

[59] . VOV 21.4.16.

[60] . VNEconomy 7.12.17

[61] . Nguyễn Văn Nam, Đỗ Thị Thanh Loan, phát triển ngành công nghiệp phụ trợ trong chiến lược

   Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở VN, NCKT 11.14, tr. 31-38

[62] . TS Vũ Hùng Cường, Bùi Trinh, doanh nghiệp ngoài nhà nước: vai trò và thực trạng, NCKT

    10.14, 38

[63] . VNE 21.04.15

[64] . CP 22.10.15

[65] . VNECo. 22.12.18

[66] . Süddeusche Zeitung 27.11.17; Der Spiegel 5.2.18

[67] . CP 6.10.17

[68] . http://soha.vn/samsung-se-duoc-uu-dai-nhieu-hon-ve-thue-tai-viet-nam- 20170728134704975rf20171127222649593.htm, Soha 28.7.17

[69] . CP 26.7.17

[70] . VTV 26.7.17

[71] . Soha 28.7.17

[72] . VNEconomy 2.11.17

[73] . http://soha.vn/lai-ca-chuc-nghin-ty-moi-thang-ma-khong-phai-ban-tam-nhieu-ve-thue-loi-nhuan-cua-to-hop-samsung-viet-nam-tiep-tuc-tang-truong-phi-ma-20170912104537955rf20171127222649593.htm, Soha12.9.17; Nguyễn Quang Duy, Tại sao cứ nói „Samsung 100% nước ngoài“?, BBC 31.12.18

[74] . https://dantri.com.vn/kinh-doanh/ket-noi-cac-doanh-nghiep-viet-nhin-tu-chuyen-samsung-20171116235752017.htm

[75] . Lê Đăng Doanh, BBC 19.3.15

[76] . Nh.t.

[77] . http://soha.vn/lai-ca-chuc-nghin-ty-moi-thang-ma-khong-phai-ban-tam-nhieu-ve-thue-loi-nhuan-cua-to-hop-samsung-viet-nam-tiep-tuc-tang-truong-phi-ma-20170912104537955rf20171127222649593.htm,

Soha12.9.17

[78] . Ngô Nhân Dụng, Bao giờ dân ta làm được cái đinh ốc? Người Việt 6. 1.15

[79] . Infonet 7.10.17

[80] . TBKTSG 1.11.17

[81] . CP 26.7.17

[82] . Soha 23.11.17, Diễn đàn doanh nghiệp 26.11.17

[83] . VNEconomy 23.11.17

[84] . VNEconomy 27.11.17

[85] . CP 26.7.17

[86] . TN 21.4; BBC 23.4.16

[87] . TN 21.4.16

[88] . Nh.t

[89] . VNN 22.4.16

[90] . CP, VNN 22.4.16

[91] . VNN 22.4.16

[92] . BBC 23.4; VOA 24.4;VNN 22.4, facebook Lang Anh 23.4.16

[93] . VOV 23.4.16

[94] . CP 17.4.16

[95] . Tuổi trẻ (TT) 25.4.16

[96] . VOA 24.4.16

[97] . Dân trí 24.4.16

[98] . VNN 23.4.16

[99] . „Formosa nhập nhiều hóa chất cực độc“ TT 25.4.16

[100] . VNN 25.4.16

[101] . BBC 26.4.16

[102] . CAND 26.4.16

[103] . CAND 27.4, LĐ 27.4.16

[104] . Thanh niên (TN) 28.4.16

[105] . TN ,nh.t

[106] . VOA 28.4.16

[107] . Lao động 28.4.16

[108] . CS 27.2.12

[109] . Tuyên bố của các tổ chức xã hội dân sự độc lập về thảm họa quốc gia tại các tỉnh miền Trung,

    29.4.16

[110] . Video họp báo ngày 30.6: http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/20160630/truyen-hinh-truc-tiep-cong-bo-thu-pham-lam-ca-chet-hang-loat/1127773.html ; VNN 30.6.16

[111] . VNN 30.6.16

[112] . Trương Minh Tuấn, Bộ trưởng 4 T, Infonet 1.7.16

[113] . Lao động (LĐ), 17.10.16

[114] . CAND 20.10.16

[115] . Người Việt 18.10.16; Linh mục Anton Đặng Hữu Nam trả lời phỏng vấn của nhà báo Trần

    Quang Thành, DQVN 19.10.16

[116] . Báo cáo chính trị ĐH 8:  http://www.lichsuvietnam.vn/home.php?option=com_content&task=view&id=1164&Itemid=5

[117] . Báo cáo chính trị ĐH 9  http://www.vietnam.gov.vn/portal/page/portal/chinhphu/NuocCHXHCNVietNam/ThongTinTongHop/noidungvankiendaihoidang?categoryId=10000714&articleId=10038377

[118] . Nh.t.

[119] . https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Doanh-nghiep/Luat-doanh-nghiep-nha-nuoc-2003-14-2003-QH11-51698.aspx

[120] . PGS,TS Nguyễn Chí Hải, ThS Nguyễn Thanh Trọng, kiểm soát độc quyền đối với doanh nghiệp

    nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở VN, NCKT 6.15, 3-11, 5.

[121] . Nh.t., tr. 6

[122] . http://www.pvn.vn/DataStore/Report/2016/bctc-pvn-2015.pdf

http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/noidungsolieungansachnhanuoc?categoryId=100003090&articleId=10056813

[123]http://www.pvn.vn/pages/Default.aspx

[124].http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=1&mode=detail&document_id=95211

[125] . Infonet 27.4.17

Để độc giả tiện theo dõi, toàn bộ ba chương cuối sẽ được phổ biến trong ba lần liên tiếp. Mở đầu loạt bài này, dưới đây là toàn bộ Chương 9:

Chương chínKết quả thực tiễn trên 30 năm “Đổi mới”

I. Mô hình “đổi mới trên 30 năm qua

Sau trên 30 năm “Đổi mới” từ 1986 trải qua 5 đời TBT Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh và Nguyễn Phú Trọng và xuyên qua 7 ĐH (từ ĐH 6 tới ĐH 12). Không biết bao nhiêu Nghị quyết đã được ban hành đề ra mục tiêu là, đưa VN tới năm 2020 trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nhưng trong cuộc họp nội các vào cuối năm 2014 sau gần 30 năm tiến hành “đổi mới”, Nguyễn Tấn Dũng lại than, “sao lại cứ phải đứng sau 6 nước ASEAN? Chúng ta có đuổi kịp được ASEAN-6 không? Không có lý do gì chúng ta không cải thiện được để bằng ASEAN-6”? [1] Trong thực tế nhiều mặt VN còn đi sau cả Campuchia và Lào.

Sau gần 30 năm đổi mới, lợi tức đầu người /năm của VN vào năm 2014 mới chỉ 2.052 USD, tức là VN mới chỉ bước vào những nước đang phát triển ở mức trung bình thấp. Trong khi đó Singapore lên tới 56.287 USD, Mã lai á là 10.830 USD, Thái lan là 5.561 USD và Nam dương là 3.515 USD. PGS, TS Phạm Quý Thọ thuộc Học viện Chính sách và phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhận xét, “chỉ tiêu này của nước ta tụt hậu so với Hàn quốc chừng 30 đến 35 năm, Malaysia khoảng 25 năm, Thái lan chừng 20 năm, Indonesia và Philippines chừng từ 5 đến 7 năm. Đến năm 2038 VN mới có thể bắt kịp năng suất lao động của Philippines và đến năm 2069 mới có thể bắt kịp Thái Lan”. [2]

Nếu xét về mặt diện tích và dân số thì VN không phải là nước nhỏ. Với dân số gần 94 triệu (2017) VN đứng thứ 13 trên thế giới[3]; với diện tích trên 331.114 km² VN đứng thứ 65. Nhưng về mặt kinh tế, xã hội (phát triển con người -HDI) hiện nay VN lại đứng thứ 116 trong tổng số gần 200 nước và ốc đảo trên giới.[4] Nhiều người cầm đầu chế độ toàn trị thường đổ lỗi cho rằng, VN là một nước nhược tiểu, đất hẹp, dân không đông và tài nguyên không nhiều. Đây là những khẳng định cực kỳ sai lầm để trốn tránh trách nhiệm. Một số các nước trong khu vực như Nam Hàn diện tích chỉ trên 99.000km², 50,6 triệu người, nhưng lợi tức đầu người 2015 trên 27.000 USD đang là nước giầu mạnh, công nghiệp cao. Nhật có dân số gần gấp rưỡi VN, diện tích xấp xỉ với VN, tài nguyên thiên nhiên không nhiều, nhưng từ lâu đã trở thành cường quốc kinh tế, lợi tức đầu người năm 2015 là gần 37.000 USD. Về dân số và diện tích giữa VN và Đức không chênh lệch bao nhiêu; nhưng Đức, cũng như Nhật, từ đống tro tàn sau Thế chiến thứ 2 đã nhanh chóng vượt lên thành cường quốc kinh tế đứng thứ ba, thứ bốn trên thế giới.

Những câu hỏi trung tâm rất nghiêm túc cần được đặt ra là, tại sao nhiều nước ngay trong khu vực khi bước vào thời kì phát triển kinh tế thì cũng ở trình độ ngang ngửa như VN, nhưng nay đã bỏ xa VN để trở thành các nước công nghiệp hàng đầu, lợi tức cao gấp mấy chục lần VN? Người dân không chỉ sống sung túc mà còn được tôn trọng nhân phẩm. Phải chăng các mô hình chính trị, kinh tế, giáo dục và văn hóa là những nền tảng căn bản cho sự tiến lên hưng thịnh, hạnh phúc và văn minh, hay sự tụt hậu, nghèo đói và tha hóa đạo đức của một xã hội? VN đang áp dụng mô hình chính trị-kinh tế nào, có những đặc điểm gì?

Trong suốt trên 30 năm cải cách kinh tế chưa bao giờ VN theo mô hình kinh tế thị trường hiện đại như ở các nước Tây phương. Mô hình phát triển của VN là “Kinh tế thị trường Định hướng XHCN”. Mô hình này có một số đặc tính căn bản khác biệt hoàn toàn với các nền Kinh tế thị trường hiện đại ở các nước Tây phương trong các lãnh vực then chốt:

  1. Chế độ độc đảng: ĐCS, cụ thể là Bộ chính trị (BCT) và Ban bí thư (BBT), trước sau vẫn chỉ huy toàn bộ và trực tiếp các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa- giáo dục, tôn giáo và xã hội.
  2. Công hữu toàn dân về đất đai (ĐCS là chủ nhân trong đất đai)
  3. Doanh nghiệp nhà nước làm chủ đạo
  4. Kinh tế tư nhân nội địa tuy được công nhận, nhưng chỉ ngồi rìa, đứng bên lề trước thế lực mạnh của Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) và sức ép của FDI (công ti nước ngoài).

Như thế cho thấy mô hình phát triển kinh tế của VN từ 1986 tới nay vẫn còn giữ căn bản mô hình kinh tế của chế độ toàn trị như ở Liên Xô cũ, với một số biến thể, mặc dầu chế độ toàn trị ở Liên Xô đã tan rã từ 1991. Trong đó ĐCSVN vẫn là người cầm trịch không chỉ trong chính trị, tư tưởng và văn hóa, mà cả trong kinh tế-xã hội. Mỗi ĐH vẫn đưa ra kế hoạch ngũ niên do ĐCS độc quyền từ các khâu hoạch định, đường lối tới các biện pháp…Nhưng dĩ nhiên trong giai đoạn và điều kiện Chủ nghĩa xã hội (CNXH) trên toàn thế giới đang tan rã ngay từ cái nôi, nên những người cầm đầu CSVN bắt buộc phải dùng những từ ngữ và ngôn ngữ mới, để tạo những hi vọng mới, để tỏ ra họ là những người thức thời và nhờ thế mới có thể biện minh cho sự tiếp tục cầm quyền độc tôn!

Mô hình phát triển kinh tế này chứa đựng nhiều mâu thuẫn nội tại và đối lập với nhau. Nó được thực hiện trong thời kì CNXH theo ý thức hệ Marx-Lenin đã bị thực tế phủ nhận, thế giới CS tan rã. ĐCSVN cũng rơi vào thế sợi chỉ treo ngàn cân. Suốt trên 30 năm đổi mới từ 1986, đặc biệt từ giữa thập niên 90 khi thiết lập quan hệ với Hoa Kỳ và thực hiện chính sách mở cửa với bên ngoài, mô hình phát triển kinh tế của chế độ toàn trị dựa trên một số cơ sở làm tiền đề đặt trọng tâm cho phát triển kinh tế. Đó là:

  • Nhân công rẻ
  • Khai thác nông sản
  • Khai thác khoáng sản
  • Ưu đãi cho tư bản nước ngoài vào đầu tư
  • Tranh thủ nguồn vốn ODA trong xây dựng hạ tầng
  • Đặt trọng tâm trong xuất cảng

Nhưng các cơ sở trên phải được đặt trong một khung kiên cố, nói thẳng ra là bị nhốt trong một cái lồng, đó là CNXH với tư tưởng Marx-Lenin làm chỉ đạo và trong cái lồng này, ĐCSVN chỉ huy độc quyền trực tiếp và toàn diện từ tổ chức, thực hiện, giám sát các hoạt động kinh tế-xã hội. ĐH 12 đã làm công việc tổng kết 30 năm thực hiện chính sách đổi mới (1986-2016) qua 5 đời TBT Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh và Nguyễn Phú Trọng.

Mặc dù những người đứng đầu luôn mở miệng khẳng định là, kết quả thực tiễn chứng minh cho lí thuyết và đường lối. Nhưng khi họ phải đối diện với những kết quả rất xấu thì lại không dám nhận đã chọn lí thuyết sai, ở đây là chủ nghĩa Marx-Lenin. Họ lờ đi hoặc nhận lỗi qua loa, nhưng đổ lỗi chính vì những lí do bên ngoài. Thái độ rất chủ quan, giáo điều, lừa dối và tô vẽ cho rằng, 30 năm đổi mới không chỉ tạo ra những thành tích tuyệt vời trong kinh tế-xã hội, mà cả trong lãnh vực chính trị cũng đã có nhiều cải cách theo hướng “lấy dân làm gốc” và dân chủ hơn ngàn lần các nước Dân chủ đa nguyên… Tiêu biểu nhất cho lập trường này là Báo cáo Chính trị và Kinh tế-Xã hội tại ĐH 12 của TBT Nguyễn Phú Trọng ngay vào ngày đầu của ĐH 12.[1] (Xem Chương tám, IV).

***

Trong dịp này một số chuyên viên trong nước từ gần với đảng hay đứng vị thế độc lập của những người người làm công tác khoa học, trong đó có cả một số chuyên viên VN ở nước ngoài, đã công bố các bài nghiên cứu hoặc trả lời phỏng vấn liên quan tới chủ đề kết quả 30 năm đổi mới.

Trước hết phải nói tới nhận định rất thắng thắn của cựu bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư  Bùi Quang Vinh ngay trước ĐH 12 khi ông còn là Bộ trưởng và Ủy viên Trung ương (UVTU), như đã trình bày ở Chương tám, IV:

“ 70 năm qua, cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động của bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể các cấp trong hệ thống chính trị gần như không thay đổi”. Và “Một hệ thống chính trị phù hợp với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây, đặc biệt là trong hoàn cảnh chiến tranh, nay đã không còn phù hợp với điều kiện nền kinh tế thị trường, thậm chí là rào cản, trở ngại cho sự phát triển”. [2]

Chia sẻ quan điểm này GS Vũ Dương Ninh, Đại học Quốc gia Hà nội (HN), cho biết, trước đó 5 năm Nghị quyết của ĐH 11 (1.11) -khi đó Nguyễn Phú Trọng được bầu làm TBT- đã lập lại mục tiêu là, đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nhưng ĐH 12 đã phải nhìn nhận rằng, mục tiêu này không thể đạt được.[3] Ngay cả nguyên Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội VN, GS TS Đỗ Hoài Nam, một nhà khoa bảng hàng đầu của chế độ toàn trị , từng là UVTU suốt ba nhiệm kì từ ĐH 8-10 và có chân trong Hội đồng Lí luận Trung ương (TU) -một cơ quan cố vấn về tư tưởng và chính trị cho TUĐ, BCT và BBT-, trong một bài phân tích rất dài 14 trang trên tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 1, 1.15 với tựa đề “Những đổi mới tư duy của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong 30 năm đổi mới”. Ông đã liệt kê các quyết định của đảng xuyên qua 6 Đại hội từ 1986 tới ĐH 11 (2011) với việc sử dụng “kinh tế tri thức” và đầu tư của nước ngoài nhằm công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế từ nông nghiệp, công nghiệp tới xuất nhập cảng. Ông ca tụng các quyết định này và coi đó là những biện pháp sáng suốt của ĐCS, nhằm đưa VN, từ một nước đi sau và công nghiệp hóa muộn, có thể đạt mục tiêu “rút ngắn quá trình công nghiệp hóa đất nước bằng sức mạnh của thời đại và sức mạnh nội sinh của đất nước”. Nhưng cuối cùng trong phần kết luận Đỗ Hoài Nam phải nhìn nhận kết quả thực tiễn sau 30 năm đổi mới là, “nhìn trên tổng thể, phần lớn nông dân và người dân đô thị đang trong tình trạng nghèo tương đối, trong đó không ít người đang thực sự nghèo theo nghĩa tuyệt đối”.

Ông nêu ra câu hỏi về nguyên nhân, tại sao không đạt mục tiêu, mặc dầu các quyết định đều được coi là sáng suốt? Trong đó Đỗ Hoài Nam đã cố tình dùng các thuật ngữ trừu tượng và trình bày ngoắt nghéo, như “nguyên nhân cơ bản là, nền tảng cho sự rút ngắn này chưa được tạo lập một cách đầy đủ và vững chắc. Đó là nền kinh tế thị trường đầy đủ và hiện đại (xét cả mặt kết cấu lẫn mặt thể chế của nền kinh tế này), cơ sở hạ tầng đồng bộ và hiện đại; là khoa học và công nghệ hiện đại, nguồn nhân lực chất lượng cao; là hệ thống công ti tư nhân dựa trên sở hữu cổ phần được quản trị hiện đại, đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước [và] quốc tế, tham gia sâu vào chuỗi giá trị và chuỗi phân phối toàn cầu và cuối cùng là vai trò vừa là bà đỡ, vừa là nhạc trưởng của Nhà nước bảo đảm co sự rút ngắn”. (tr.15)

Tuy cố tình trình bày vòng vo và tránh né không dám nêu đích danh thủ phạm đã gây ra thất bại, nhưng nhà khoa bảng XHCN hàng đầu Đỗ Hoài Nam đã gián tiếp nhìn nhận, đó là kế hoạch xây nhà trên cát; hay dùng hình tượng chuyện con nhái muốn to bằng con bò để diễn tả ý muốn công nghiệp hóa và hiện đại hóa VN thật nhanh như Nhật bản, Đại Hàn và các nước Tây phương, nhưng lại thiếu đủ mọi thứ và không có những điều kiện cần thiết; trong đó thiếu cả “ nhạc trưởng”, tức Nhà nước hiện đại trong thể chế DCĐN. Trong khi nhiều nước theo DCĐN cũng chỉ trong khoảng thời gian 30 năm đã chuyển thành công đất nước họ, từ lạc hậu chậm tiến sang công nghiệp hiện đại. Nhưng VN dưới chế độ toàn trị vẫn dẫm chân tại chỗ. Nghĩa là, chính thể chế độc tài toàn trị đã là nguyên nhân chính đưa đến thất bại trong việc canh tân đất nước và xây dựng hạnh phúc cho nhân dân trong suốt 30 năm!

Trong toàn bài, Đỗ Hoài Nam có dẫn chứng là, ngay từ ĐH 7 đã quyết định “cần đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để” (tr. 5); nghĩa là phải đối mới cả hệ thống chính trị. Nhưng khi kết luận tuy phải nhìn nhận các thất bại, nhà khoa bảng Đỗ Hoài Nam đã không giữ được tinh thần khoa học và thẳng thắn như cựu Bộ trưởng Bùi quang Vinh, nên không một lần nào dám nói thẳng là, trong suốt quá trình 30 năm, trước sau vẫn là chế độ độc tài toàn trị. Đó mới chính là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn tới thất bại!

Chế độ toàn trị đã chọn ý thức hệ sai lầm dẫn tới độc tài hà khắc, làm triệt tiêu sự phản biện rất cần thiết của một hệ thống xã hội dân sự độc lập. Vì thế toàn bộ hệ thống công quyền trở thành trì trệ và bất cập, chống lại sự canh tân và phát triển của đất nước. Đây là nhận định của PGS, TS Trần Đình Thiên nguyên là Viện trưởng Viện Kinh tế VN, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Kinh tế VN, khi nói về nguyên nhân thất bại trong kinh tế:

“ĐCS lãnh vai trò lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện”, mức độ chưa trưởng thành của Nhà nước pháp quyền, sự thiếu vắng các tổ chức dân sự đúng nghĩa, của các tổ chức phản biện xã hội độc lập, có ảnh hưởng mạnh mẽ, thậm chí là quyết định, đến kết quả hoạt động quản trị công”. [4] “Trong nhiều trường hợp, tình trạng không cụ thể hóa mục tiêu định hướng, né tránh thảo luận cấu trúc logic của khái niệm “Định hướng XHCN” (ĐHXHCN), lặng lẽ giả định nó, coi như một tiền đề định sẵn, đã có những ảnh hưởng to lớn”. [5]

Thực tế này cũng được GS Trần Văn Thọ (Đại học Waseda, Nhật bản) trình bày cặn kẽ hơn, khi ông so sánh sự phát triển kinh tế-xã hội của VN với một số nước trong khu vực thì rõ ràng khác biệt nhau cả một trời một vực. Theo tài liệu của Ủy ban LHQ về kinh tế và xã hội châu Á – Thái bình dương (ECAFE), năm 1954 thu nhập đầu người của miền Nam VN là 117 USD, xấp xỉ với Thái Lan (108) và cao hơn Indonesia (88) vào hai năm trước đó. Nhưng 60 năm sau, vào năm 2014 thu nhập đầu người của VN chỉ bằng một phần ba Thái Lan và một nửa Indonesia…Trong khi “Hàn quốc chỉ mất 16 năm (từ 1971-1987) để chuyển từ nước thu nhập trung bình thấp lên trung bình cao và chỉ mất thêm 10 năm nữa để tiến lên hàng các nước tiên tiến. Đài loan trở thành nền kinh tế tiên tiến vào năm 1995, chỉ tốn 12 năm kể từ giai đoạn thu nhập trung bình cao”. [6]

Sau hơn 40 năm hòa bình trong đó hơn 30 năm gọi là đổi mới, nhưng VN vẫn lẹt đẹt thuộc những nước có thu nhập trung bình thấp và đang có nguy cơ phải ngụp lặn lâu dài ở mức này. Ông Thọ còn nêu ra viễn tượng kinh tế VN vào năm 2020. Hiện nay theo phân loại của Ngân hàng thế giới, bình quân đầu người từ 1.000 đến 12.000 USD là nước có thu nhập trung bình, trên 12.000 USD là nước thu nhập cao. Do đó một nước được gọi là công nghiệp phải ở mức trên 12.000 USD. VN hiện nay mới gần 2.000 USD. Đến năm 2020 có lẽ cũng chỉ đạt được khoảng 3.000-3.500 USD, tức là thuộc các nước có mức trung bình thấp. [7]

  1. Nông nghiệp: Bỏ rơi nông dân và nông thôn!

        Chủ trương công nghiệp hóa nông nghiệp, nhưng sau 30 năm đổi mới vẫn là cảnh con trâu đi trước cái cày đi sau!

VN là một nước nông nghiệp, vào thập niên 80 của thế kỉ trước có tới 80% dân số sống và phụ thuộc vào nghề nông. Đồng bằng sông Hồng và nhất là Đồng bằng Cửu long là hai thúng gạo nuôi dân và xuất cảng để tạo cơ sở và ngân sách cho xây dựng công nghiệp, phát triển bền vững cho toàn quốc. Nếu hiểu thấu đáo thế mạnh này của VN và có được một tầm nhìn xa thì một nhà nước sáng suốt không chỉ tìm cách làm phục hồi nông nghiệp, mà còn phải canh tân, công nghiệp hóa mọi khâu trong nông nghiệp. Từ tạo kiến thức trồng trọt cho nông dân, đem điện nước, đường xá, trường học và y tế về thôn xã, trả lại quyền tư hữu ruộng đất cho nông dân, và có những chính sách khuyến khích nông dân tự nguyện hợp tác để sử dụng kĩ thuật canh tác mới nhằm gia tăng năng suất và tăng lợi tức cho nông dân, tức là gia tăng sức mua và đầu tư của 80% dân số. Ngoài ra nhà nước cần có chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp chế biến nông – lâm – thủy sản để làm tăng giá trị các mặt hàng này; khuyến khích và hỗ trợ nông dân tự thành lập các trung tâm hiện đại lưu trữ gạo, rau trái và các tổ chức của nông dân theo dõi thị trường nông nghiệp trên thế giới để tạo thương hiệu có uy tín cho các sản phẩm nông nghiệp của VN và có sức cạnh tranh mạnh trên thị trường quốc tế.

Các chính sách trên đây không phải là những điều mới lạ, trái lại đã được thực hiện thành công ở nhiều nước phương Tây dưới nhiều tên gọi nổi tiếng, như “Chương trình xanh” trong ngành nông nghiệp, như Hòa lan, Đức, Pháp, Hoa Kỳ và Gia nã đại. Đúng ra là một nước đi sau, nên VN cỏ thể học hỏi nhanh chóng và hiệu quả kinh nghiệm và kĩ thuật của các nước này.

Sau chiến thắng 1975 những người cầm đầu say mê với thành tích con đường XHCN đã dẫn tới chiến thắng vẻ vang trong chiến tranh thì tất yếu cũng sẽ dẫn tới thắng lợi thần kì trong kinh tế! Đây là tư tưởng rất lạc quan từ Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng tới hầu hết các ủy viên BCT khi ấy. Vì thế mô hình kinh tế theo XHCN đã được thi hành cấp tốc và triệt để trong nông nghiệp với các Hợp tác xã (HTX), trong thương nghiệp với xóa bỏ tư sản mại bản kinh tế tư nhân và thành lập các thương nghiệp quốc doanh, trong công nghiệp với hàng loạt doanh nghiệp quốc doanh. Nhưng sau đó không lâu, mô hình phát triển theo XHCN đã dẫn tới bế tắc toàn diện. Nông dân không chịu làm ăn, thương nghiệp nhà nước không có hàng để bán, các DNNN ngồi chơi. Dẫn tới nạn đói khủng khiếp vào giữa thập niên 80, khiến cho hàng triệu người rơi vào cảnh đói và khủng hoảng lương thực trầm trọng như thời 1945. Trong khi các cán bộ cao cấp được hưởng các chính sách ưu đãi từ nhà cửa, xe đưa đón tới chế độ ăn uống ngon và đầy đủ; còn người dân thì không có cả thịt, cá, vải, thuốc men và các nhu yếu phẩm hàng ngày.[8] Nhóm cầm đầu giáo điều mới thấy là không thể tiếp tục mô hình tập thể hóa nông nghiệp HTX theo kiểu Liên Xô và TQ được nữa, nếu không thì nông dân và thị dân sẽ nổi loạn.

Nhưng sau ĐH 6 (12.86) phải đợi thêm hơn một năm, sau những tranh cãi gay gắt giữa các phe trong BCT và TU, mới ra được Nghị quyết (NQ) 10 ngày 5.4.1988, được gọi là Khoán 10. Tuy vậy đảng xuyên qua nhà nước của đảng vẫn tiếp tục giữ độc quyền công hữu ruộng đất, nông dân vẫn phải thuê ruộng (xem Chương một, III và Chương hai, V). Tuy đây chỉ là chính sách đổi mới nửa vời, nhưng đã làm cho nông dân gắn bó siêng năng với đồng ruộng, thửa vườn, cái ao và gia súc. Nhờ thế sản lượng nông nghiệp đã gia tăng mạnh và liên tiếp trong nhiều năm. Khiến cho từ khủng hoảng lương thực với nạn đói trầm trọng, từ 1989 đã trở thành một nước xuất cảng gạo.

Trước khi có Khoán 10, sản suất lúa cả nước chỉ khoảng 13 triệu tấn, hàng năm phải nhập khẩu hàng triệu tấn.[9] Năm 2017 sản lượng lúa đã đạt khoảng 42,84 triệu tấn.[10] Trong những năm gần đây số gạo xuất khẩu đã lên tới gần 8 triệu tấn, đứng thứ hai trên thế giới về xuất cảng gạo.[11] Nhưng nay sau hơn 30 năm nông dân và nông nghiệp tại VN vẫn phải đối diện gay gắt trong nhiều vấn đề. Nhiều chuyên viên trong nước ta thán là, tại sao VN đang là nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới, nhưng đại đa số nông dân vẫn rất nghèo, ngay cả nông dân Đồng bằng Cửu long, vựa thóc của cả nước? Trong khi ấy ngay sau Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kì tháng 1.94 (Khóa 7), tại Hội nghị trung ương (HNTU) 7 (7.94) đã đưa ra nghị quyết với tham vọng “phát triển công nghiệp, thực hiện công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn gắn với đô thị hóa nông thôn”. [12]

Tại sao giá gạo của VN vẫn thấp hơn nhiều gạo Thái lan và cho tới nay sau mấy chục năm xuất khẩu, nhưng gạo của VN vẫn chưa có thương hiệu uy tín trên thị trường quốc tế, chỉ bán được cho một số nước với giá thấp? Sau hơn 30 năm thực hiện chính sách tam nông (nông nghiệp, nông dân, nông thôn) coi “nông nhiệp là mặt trận hàng đầu”, nhưng tại sao máy móc và kĩ thuật canh tác vẫn rất lạc hậu, tiếp tục lối làm ăn thô sơ con trâu đi trước cái cày đi sau? Tại ĐH 10 (2006) những người cầm đầu toàn trị thổi lên tiêu chí từ “ăn no” sang “ăn ngon”! UVTU Đỗ Hoài Nam khi ấy đã cho biết, ĐH 10 đã ra NQ khẳng định đưa “nền nông nghiệp VN phải hình thành được một số sản phẩm chủ lực, mũi nhọn có lợi thế phát triển, có phẩm chất tốt, chất lượng cao và qua chế biến sâu, đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới để có giá trị gia tăng cao”. Ông còn cho biết thêm, tại HNTU 7 Khóa 10 đã ra NQ về nông nghiệp, nông dân và nông thôn theo hướng này và lãnh đạo vẫn tuyên bố, nông nghiệp là mũi nhọn.[13]

Nhưng tại sao tới nay vẫn thường diễn ra “được mùa mất giá” cho nông dân? Tại sao sau hơn 30 năm vẫn không lập được các trung tâm lưu trữ gạo hiện đại và không thiết lập được công nghiệp chế biến nông sản; trong khi đó lại bỏ hàng ngàn tỉ đồng xây các cảng để chỉ nằm đắp chiếu, hay bỏ ra cả hàng trăm tỉ hoang phí để xây các tượng đài cho các nhà độc tài của Đảng? Sau 30 năm đổi mới, nhưng tại “Diễn đàn nông nghiệp” do CP tổ chức vào giữa tháng 10. 2016 lại vẫn lập lại, phải tạo một thương hiệu quốc tế tốt cho gạo xuất khẩu của VN! Nhưng nhiều chuyên gia đã chua chát nói thẳng: “Thương hiệu gạo, có đâu mà mất!” [14]

Một sản phẩm (công nghiệp hay nông nghiệp) phải có chất lượng tốt, được tín nhiệm của khách hàng, người tiêu dùng tín nhiệm và sẵn sàng trả giá cao. Họ sẽ tiếp tục tìm thương hiệu này. Thí dụ như trong sản phẩm xe hơi và điện tử, người tiêu dùng thường thích xe hơi Toyota, Mercedes và Samsung…. vì có phẩm chất tốt. Nhưng sau gần 30 năm xuất cảng gạo, gạo của VN vẫn không có thương hiệu có uy tín trên thị trường nông sản thế giới. Đầu năm 2016 nhiều chuyên viên và ngay cả các cán bộ phụ trách nông nghiệp cũng đã ta thán và nhìn nhận tình hình rất bất lợi này trong việc xuất cảng các nông sản của VN… Phó Cục trưởng Cục xuất nhập khẩu, bộ Công thương Trần Thanh Hải cho biết, năm 2015 gạo VN chiếm trên 50% tổng số gạo nhập khẩu của TQ, nhưng tại các siêu thị và cửa hàng lại không tìm ra gạo mang thương hiệu VN. Trong khi ấy, gạo Campuchia lại chễm chệ trên các cửa hàng. Chè, cà phê, hạt tiêu… là các nông sản xuất khẩu lớn của VN, nhưng vị thế cũng tương tự. Cựu Hiệu trưởng Trường Cán bộ quản lý nông nghiệp và phát triển nông thôn II (thành phố HCM) Vũ Trọng Khải cho biết, nguyên nhân đang gây bất lợi cho quyền lợi của nông dân, là vì các doanh nghiệp xuất khẩu gạo ở VN đều là DNNN, nên vẫn giữ tâm lí thờ ơ cha chung không ai khóc! [15]

Tại Hội nghị toàn quốc triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới 30.9.16 với sự hiện diện của tân TT Nguyễn Xuân Phúc, được biết sau 30 năm thực hiện chủ trương lấy nông nghiệp làm mũi nhọn để xây dựng “nông thôn mới” nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nông dân, nhưng tới tháng 9.16 mới chỉ có 2.045 xã (23%) được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới.[16] Liệu con số đưa ra có chính xác không, không ai biết. Nhưng sau 30 năm mới chỉ có gần ¼ xã ở nông thôn tên toàn quốc đạt tiêu chuẩn nông thông mới. Đây là nhìn nhận thất bại trong việc cải thiện đời sống mấy chục triệu nông dân!

Trong khi chính phủ Nguyễn Tấn Dũng bảo đảm để nông dân được hưởng lãi ít nhất là 30% so với giá thành, nhưng dịp này tại QH bộ trưởng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Cao đức Phát lại cho biết, “giá thành 1 kg lúa là 4.100đ/kg như vậy giá thu mua lúa phải đạt 5.400đ/kg thì người trồng lúa mới lãi 30%. Nhưng hiện nay giá lúa khô loại thường nông dân cũng chỉ bán được 4.500đ, lúa hạt dài khoảng 4.800đ”. Nghĩa là chỉ đạt được 10% lãi. Bà Phạm Chi Lan cho biết, từ 2007 khi VN gia nhập WTO thì đầu tư cho nông nghiệp đã giảm rất mạnh và liên tục, “trước khi VN gia nhập WTO thì tỷ trọng đầu tư toàn xã hội vào nông nghiệp nhất là đầu tư của Nhà nước cũng còn tương đối cao chiếm tới 13,8% trong tổng mức đầu tư, nhưng sau vài năm tham gia vào WTO thì mức đầu tư vào nông nghiệp giảm xuống chỉ còn 6,4% trong tổng mức đầu tư phát triển”. Đây rõ ràng là thái độ trọng công, khinh nông và bỏ nội, trọng ngoại của những người làm chính sách. Theo bà, chính sách bỏ rơi nông dân và nông nghiệp của chính quyền CSVN hoàn toàn trái ngược với các nước khác, “hầu hết các nước khi hội nhập họ đều lo bảo hộ nông sản, nhưng VN thì ngược lại buông nông sản, buông nông nghiệp và ngành này phải tự bơi tự bươn chải”. Trong khi ấy “ nguồn lực đầu tư dồn quá nhiều cho DNNN, quá nhiều cho các Tập đoàn Kinh tế để rồi họ gây biết bao vấn đề cho nền kinh tế hiện nay”. [17]

Thái độ khinh nông dẫn tới các chính chính sách bỏ rơi nông dân đã khiến cho tốc độ tăng trưởng trong nông nghiệp đã giảm liên tục từ giữa thập niên 90. Trong dịp tổng kết 30 năm đổi mới vào dịp ĐH 12 nhiều chuyên gia về nông nghiệp thảo luận trên các cơ quan truyền thông. Họ sử dụng ngay lí luận của chế độ toàn trị là, kết quả thực tiễn chứng minh cho lí thuyết đúng hay sai. Khi “Tổng kết thực tiễn” trong 30 năm đổi mới trong nông nghiệp họ đã nhận thấy rất rõ, tốc độ trăng trưởng trong nông nghiệp không tăng, trái lại đã giảm liên tục từ kế hoạch ngũ niên này sang kế hoạch ngũ niên khác.

Tốc độ tăng trưởng nông nghiêp từ 1996-2013[18]

Thời gianTốc dộ gia tăng

1996-20004,01%

2001-20053,83%

2006-20103,03%

2009-20132,9%

Theo Tổng Cục Thống kê, khu vực nông, lâm và thủy sản tăng 0,65%, là mức tăng thấp nhất so với cùng kỳ 6 năm.[19] Các con số trên giải thích tình trạng chung trong sản xuất nông nghiệp: Nông nghiệp đã bị bỏ rơi, nông dân không được giúp đỡ các mặt cần thiết, nên năng suất lao động trong nông nghiệp rất thấp và giảm liên tục. Trong bản Báo cáo 2016 của Ngân hàng Thế giới (WB) về phát triển nông nghiệp của VN đã xác nhận lối canh tác chậm tiến, lạc hậu thiếu cơ giới hóa nông nghiệp và lạm dụng thuốc trừ sâu, nông dân thất nghiệp gia tăng, chất lượng xấu.[20] WB còn cho biết, những năm gần đây mỗi năm nông nghiệp VN phải chịu thiệt hại khoảng 1 tỉ USD vì mất thị trường xuất khẩu do không tuân thủ các qui định vệ sinh an toàn thực phẩm.[21]

Cuối tháng 8.16 bộ Nông nghiệp & phát triển nông thôn (NN&PTTN) đã họp tổng kết 3 năm tái cơ cấu trong nông nghiệp (2013-15) có mặt Phó TT Trịnh Đình Dũng và bộ trưởng Nông nghiệp Nguyễn Xuân Cường. Các viên chức này xác nhận, không có chuyển biến thuận lợi, vì ruộng đất vẫn bị xé nhỏ cho nên không thể công nghiệp hóa nông nghiệp.[22] Ngân hàng Thế giới cho biết, đất nông nghiệp chia theo đầu người ở VN rất thấp, “chỉ đạt bình quân 0,07 hecta, thấp hơn nhiều so với tỉ lệ 0,27 hecta mỗi người tại Thái lan .[23] TS Lê Đăng Doanh nêu rõ một nguyên khác khiến các sản phẩm nông nghiệp có giá trị rất thấp và nông dân nghèo, vì nền nông nghiệp VN chưa phát triển được công nghiệp gia công chế biến là làm tăng thêm giá trị gia tăng. [24]

Chính vì thế đời sống của mấy chục triệu nông dân tiếp tục trong cảnh đói nghèo, ngay cả ở Đồng bằng Cửu long, vựa thóc cả nước. Họ dẫn chứng, một gia đình nông dân hai vợ chồng và hai con mức thu nhập từ 8 công ruộng ba vụ mỗi năm được tổng cộng 40 triệu đồng. Nếu chia theo đầu người thì mỗi người chỉ được 10 triệu đồng/năm, tức trung bình chỉ được 840.000đ/tháng, tương đương với 40 USD/tháng. Trong khi đó mức thu nhập đầu người bình quân năm 2013 ở VN là 1.960 USD, tức khoảng 150 USD/tháng.[25] Như thế mức chênh lệch giầu nghèo giữa thành thị và thôn quê rất lớn.

Nhìn tổng thể về kết quả 30 năm gọi là “đổi mới” xuyên qua 6 ĐH và bao nhiêu HNTU và các nghị quyết về công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, Đỗ Hoài Nam, một nhà khoa bảng hàng đầu XHCN đã từng đóng góp ý kiến cho BCT và BBT trong nhiều nhiệm kì đã phải nhìn nhận tình trạng dẫm chân tại chỗ:

“Sự phát triển của nông nghiệp chủ yếu vẫn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, thời tiết và phương thức canh tác truyền thống, dựa vào đất đai và lao động thủ công và vẫn nặng về sản xuất lúa gạo phẩm chất thấp, chưa chịu tác động mạnh mẽ của công nghiệp, công nghệ và dịch vụ, nhất là công nghệ cao. Lao động trong nông nghiệp vẫn còn gần 50% lao động toàn xã hội, trong đó trên 90% là chưa qua đào tạo và dân số sống ở nông thôn vẫn còn khoảng 70%”. [26]

Tại QH ngày 22.10.15 bộ trưởng Kế hoạch&đầu tư Bùi Quang Vinh cho biết: “Nhìn lại bao nhiêu năm, nông nghiệp bây giờ vẫn còn tình trạng con trâu đi trước cái cày theo sau. Ruộng của chúng ta chia manh mún, bé tí, từ máy bay nhìn xuống, ruộng, kể cả ở đồng bằng sông Cửu Long, chia nát bét, ô ruộng bé tí bằng căn nhà này thôi. Ngày xưa ruộng thẳng cánh cò bay thì bây giờ nó đã phân đất cho hộ gia đình tự cứu lấy mình trong giai đoạn trước, bây giờ nó đang cản trở lại nền sản xuất lớn…Một cân ngô và một cân đậu tương ở VN đắt gấp ba lần so với Mỹ sản xuất. Cánh đồng của họ thẳng cánh cò bay, một công lao động bằng máy móc bằng 1.000 người VN, nên giá thành ngô của họ chỉ bằng một phần ba giá thành ngô VN. Cho nên họ có sức cạnh tranh”.[27] Các điều kiện vô cùng bất lợi này đã dẫn tới năng suất lao động ở VN trong mọi lãnh vực, kể cả trong nông nghiệp rất thấp. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), năm 2013 năng suất lao động của VN thuộc nhóm thấp nhất châu Á-Thái bình dương; thấp hơn Singapore 15 lần, Nhật 11 lần, Nam hàn 10 lần; chỉ bằng 1/5 Mã lai, 2/5 Thái lan.[28]

Tại “Hội nghị trực tuyến toàn quốc tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về chiến lược tam nông” ngày 27.11.18 chính Nguyễn Xuân Phúc đã xác nhận kết quả trên 30 năm trong chính sách tam nông là thất bại trong mọi lãnh vực, thua cả Thái lan và Campuchia: “Việc áp dụng tiến bộ khoa học trong nông nghiệp còn yếu, giá thành sản phẩm cao, chủ yếu là xuất thô, chưa qua chế biến, chưa đột phá trong nâng cao giá trị gia tăng; cơ cấu sản xuất còn manh mún, tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn còn chậm, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo còn nhiều, việc xây dựng thương hiệu nông nghiệp còn yếu kém..”. [29] Mức đầu tư khoa học trong nông nghiệp ở VN chỉ bằng 1/10 Thái lan và 1/7 Phi luật tân. Nếu so với Nam Hàn thì con số này chỉ bằng 1/600.[30]

Mặc dầu vậy Nguyễn Xuân Phúc không dám nhìn thẳng sự thực về sự bỏ rơi nông dân và nông thôn trong suốt trên 30 năm “đổi mới” của những người cầm đầu chế độ toàn trị. Trong Hội nghị trên ông Phúc lại trút trách nhiệm là nông dân ỷ lại: “Chúng ta đang nói tập trung làm nông nghiệp, nông thôn mà nông dân chúng ta có tinh thần ỷ lại thì không bao giờ thành công!” [31]

Nguyên nhân và hiểm họa

Sau 30 năm đổi mới, nhưng tình hình nông nghiệp và đời sống mấy chục triệu nông dân vẫn ở tình trạng rất lạc hậu và đói nghèo. Nhiều chuyên viên, trong đó có cả những cán bộ cao cấp, đã dẫn chứng và cắt nghĩa, như trình bày ở trên, về các nguyên nhân dẫn tới tình hình rất bi đát hiện nay cho 70% dân số. Trong đó tổng hợp lại nổi bật hai nguyên nhân căn bản.

Nguyên nhân hàng đầu rất quan trọng khiến bao nhiều triệu nông dân triền miên rơi vào tình trạng “được mùa mất giá” và vẫn phải lao động theo cách con trâu đi trước cái cày đi sau, vì chính sách vô trách nhiệm của chế độ toàn trị, nhắm mắt rập khuôn theo kiểu DNNN trong nông nghiệp. Việc chế độ cho thành lập các Tổng công ti lương thực I và II và Hiệp hội Lương thực (VFA) chính là cách độc quyền trong nông, lâm và thủy sản. Các DNNN này gần như độc quyền trong việc định giá thóc gạo và thường cấu kết với các thương lái để ép giá nông dân phải bán nông sản theo giá bất lợi.[32] Chế độ toàn trị không tin vào nông dân và không sáng suốt nhận ra được tầm quan trọng của nông nghiệp VN trong việc phát triển đất nước, nên đã không tạo cho giới nông dân những điều kiện và cơ hội cần thiết để tự canh tân sản suất, tự tổ chức những cơ sở thiết yếu trong các khâu canh tác, chế biến và tìm thị trường để các nông sản VN có thương hiệu tốt, khả năng cạnh tranh cao, bán được giá trên thị trường quốc tế….

Các Tổng công ti lương thực nhà nước được độc quyền và được ưu đãi nên chỉ làm việc theo tinh thần công chức, sáng xách ô đi tối xách về, không tha thiết tới quyền lợi của mấy chục triệu nông dân…Không những thế còn thỏa hiệp với nhau và với các đại quan đỏ để tham nhũng và bóc lột nông dân! Đây là thái độ khinh thường nông dân và bỏ rơi nông thôn của nhóm cầm đầu toàn trị trong suốt mấy thập kỉ vừa qua! Chính vì thế cho tới nay mấy chục triệu nông dân vẫn bị nghèo đói và nông nghiệp không ngóc đầu lên được!

Một nguyên nhân quan trọng khác khiến nông nghiệp VN vẫn lạc hậu và nông dân vẫn phải chịu cảnh đói nghèo là do trước sau đảng vẫn ngang ngược coi đất đai thuộc công hữu, vẫn giáo điều nhắm mắt theo ý thức hệ Marx-Lenin. Chính từ khi Nguyễn Phú Trọng làm TBT đã cố tình ngăn cản và chống lại cả quyết định của ĐH 11 đòi sửa lại Luật Đất đai cho phù hợp với quyền lợi của nhân dân. Theo Tổng thanh tra CP thì có đến trên 70% các vụ khiếu kiện là về đất đai.[33] Ở nông thôn nông dân vẫn phải thuê ruộng đất của nhà nước, đại đa số ruộng đất bị chia cắt ra rất nhỏ và không có những biện pháp khuyến khích nông dân canh tác chung cùng có lợi. Nên không thể sử dụng các máy móc nông nghiệp hiện đại từ các khâu làm đất, cấy hạt giống, phân bón, trừ sâu tới gặt hái… Phần lớn các phương tiện canh tác cũ đã lạc hậu vẫn được sử dụng. Đây là lí do khiến năng suất nông nghiệp thấp và dẫn tới đời sống vẫn đói nghèo cùa bao nhiêu triệu nông dân chiếm tới trên 2/3 dân số VN. Mặc dù nông dân VN rất siêng năng và cần cù!

Tóm lại, cuộc sống đói nghèo của nông dân VN suốt gần 70 năm dưới chế độ toàn trị bắt nguồn từ một nguyên nhân căn bản là, thực hành chủ thuyết Marx-Lenin với chính sách coi ruộng đất là thuộc độc quyền của Đảng. Tức là trong thực tế ĐCSVN đã trở thành tên địa chủ độc nhất trên toàn quốc; nó tái lập biện pháp phát canh thu tô của địa chủ trước đây. Chỉ có điều khác là, trước đây địa chủ cho nông dân thuê ruộng đất, nhưng phải trả tiền thuê ruộng đất cho địa chủ. Nay thì ĐCS đóng vai trò này của địa chủ, nhưng với những chính sách tham lam và độc ác hơn, tuy rằng vẫn hô lớn chống địa chủ bóc lột!

***

Ngoài thái độ và chính sách khinh nông của nhà cầm quyền, cũng như sự thiếu năng lực của cán bộ, hiện nay nông nghiệp VN còn đứng trước nguy cơ của biến đổi khí hậu trên toàn cầu do những hậu quả của CO2, đặc biệt là Đồng bằng Cửu long, vựa lúa nuôi dân cả nước. “Bát cơm vàng” đang có nguy cơ biến mất. Khu vực này bao gồm 13 tỉnh, với 12,3 % diện tích và 20% dân số, đóng góp tới 27% GDP cả nước. Hai tỉnh Cà mâu và Kiên giang là khu đất thấp hơn cả mức nước biển. Trong mùa mưa nếu thủy triều cao khoảng một mét thì có nguy cơ đồng ruộng bị chìm trong nước mặn, không thể canh tác. Nạn sụt lún sẽ càng gia tăng. Trong khi ấy từ trước tới nay sông Cửu long là nguồn cung cấp không chỉ hải sản, mà còn đem phù sa làm phì nhiêu đồng ruộng. Nhưng hiện nay TQ đã xây nhiều đập thủy điện ở thượng nguồn sông Cửu long, khiến cho lưu lượng nước bị giảm.

Theo dự báo của Cơ quan Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) và nhiều chuyên viên quốc tế, với tình hình gia tăng nhiệt độ trên thế giới tiếp tục như hiện nay thì tới cuối thế kỉ này nhiệt độ ở Đồng bằng Cửu long có thể tăng thêm 1,3-2,8°C, mưa sẽ tăng 4-8%, nước biển dâng từ 66 cm tới 99cm. Nếu nước biển dâng cao thêm 1m có thể làm cho 39% diện tích Đồng bằng Cửu long bị ngập, 35% dân số bị ảnh hưởng. Đây là khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất do biến đổi khí hậu. Nếu tình hình này diễn ra sẽ làm 22 triệu người mất nhà cửa và thiệt hại lên tới 10% GDP.[34]

III. Đầu tư nước ngoài: Khinh trong trọng ngoài,

dẫn tới kinh tế lệ thuộc FDI và công nghiệp nội bị bỏ rơi

Sau khi HK và các nước Tây phương hủy bỏ chính sách cấm vận kinh tế và thương mại với VN từ đầu thập niên 90, chế độ toàn trị CSVN đứng trước hoàn cảnh rất ngặt nghèo. Khi ấy Liên Xô đã sụp đổ, tức là HN mất toàn bộ khu vực “thị trường truyền thống” suốt mấy chục năm từng là chủ lực giao thương và viện trợ cho VN. Trong khi ấy tái lập bang giao với TQ mới bắt đầu và chưa có gì vững chắc. Trong hoàn cảnh đó, muốn tái thiết đất nước chỉ còn cách mở cửa buôn bán với Tây phương, đặc biệt với cựu thù Mĩ. Đây là giai đoạn chủ trương làm bạn với tất cả! Hà nội đưa ra mục tiêu kinh tế đối ngoại là tìm cách thu hút mời các công ti nước ngoài đầu tư trực tiếp vào VN xây dựng các xí nghiệp để sản xuất các sản phẩm xuất khẩu (Foreign Direct Investment -FDI). Họ cho rằng, đây là chính sách khôn ngoan “đi tắt đón đầu”, như một đòn bẩy để đưa nền kinh tế vốn rất tụt hậu của VN có thể chuyển nhanh sang phát triển canh tân đất nước, nhờ vốn và kĩ thuật hiện đại của các công ti này.

Về lí thuyết, chủ trương này bao gồm một số mục tiêu chính:

  • Tạo công ăn việc làm và nâng cao trình độ chuyên môn cho công nhân VN
  • FDI hợp tác với các doanh nghiệp VN, chuyển giao kĩ thuật công nghiệp hiện đại và giúp công nghiệp VN phát triển kiến thức quản trị
  • Thu được các nguồn ngoại tệ mạnh để làm vốn cho phát triển kinh tế
  • Các sản phẩm của FDI xuất cảng sẽ mang lại số thuế lớn cho ngân sách quốc gia
  • Các FDI sẽ sử dụng các kĩ thuật hiện đại, nên tránh làm bãi rác công nghệ

Tuy Luật đầu tư cho nước ngoài đầu tiên ra đời từ 1988 (QH thông qua 29.12.1987)[35], nhưng phải đợi tới giữa thập niên 90 sau khi VN và HK bình thường hóa quan hệ ngoại giao thì các các công ti FDI mới dồn dập vào làm ăn ở VN.[36] Điều 27 Luật đầu tư cho doanh nghiệp nước ngoài năm 2005 qui định các lãnh vực được ưu đãi, trong đó Khoản 3 ghi rõ “Sử dụng công nghệ cao, kĩ thuật hiện đại; bảo vệ môi trường sinh thái.”. [37] Tuy nhiên phải đợi tới sau khi VN gia nhập WTO vào cuối năm 2006 thời Nguyễn Tấn Dũng làm Thủ tướng (TT) thì các công ti lớn quốc tế mới đổ hàng tỉ USD đầu tư vào VN. Chỉ riêng 9 tháng đầu 2008 vốn đăng kí đầu tư nước ngoài vào VN đã lên tới 57 tỉ USD. Trong đó có 8 dự án có vốn đăng kí trên 1 tỉ USD/dự án.[38] Tới cuối 2012 có tất cả 14.364 dự án đang hoạt động với tổng số vốn đăng kí lên tới 212,846 tỉ USD. Trong đó chủ yếu là các công ti FDI với 100% vốn nước ngoài chiếm tới 79,61% tổng số dự án và 66,51% tổng vốn đăng kí; số công ti FDI liên doanh với tư nhân VN và DNNN chỉ chiếm 17,86% tổng số dự án và 25,92% tổng vốn đăng kí.

Trong dịp tổng kết 30 năm chính sách đối với FDI (1988-2018) một số cơ quan và chuyên viên đã phân tích các hoạt động và kết quả của FDI đối với kinh tế VN. Thứ trưởng bộ Kế hoạch và Đầu tư Vũ Đại Thắng cho biết, VN “đã thu hút được trên 25.000 dự án FDI với tổng vốn đăng ký đạt 320 tỉ đô la Mỹ”.[39] Theo TS Vũ Thành Tự Anh, Đại học Fulbright VN, đầu tư trực tiếp nước ngoài trong ba thập niên qua “đang tạo ra khoảng 70% giá trị xuất khẩu, 50% giá trị sản xuất công nghiệp và 20% GDP của cả nước”.[40] Trong khi FDI chiếm trên 2/3 tổng xuất khẩu và ½ tổng giá trị sản xuất công nghiệp của VN thì “hệ số chuyển giao công nghệ” của các doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp nội lại “thấp nhất trong khu vực ASEAN, thua cả Lào và Campuchia”. Chính sự kiện này đã được Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) ông Vũ Tiến Lộc xác nhận trong cuộc Hội thảo ở HN ngày 30. 8.18. [41]

Nói một cách khác, vai trò của các doanh nghiệp FDI đang đóng vai trò then chốt có tính cách quyết định cho tương lai của kinh tế VN, nhưng hầu như không có chuyển giao công nghệ với các doanh nhiệp tư nhân VN. Nguy hiểm nữa là, rất nhiều xí nghiệp FDI đã sử dụng các máy móc cũ và có trình độ công nghiệp rất thấp, ngày càng đe dọa môi trường sinh thái của VN, điển hình như thảm họa cá chết hàng loạt phủ trắng ven biển các tỉnh miền Trung do đại công ti Formosa gây ra năm 2016. Điều này hoàn toàn trái ngược với các mục tiêu đã đưa ra của nhà cầm quyền toàn trị VN xuyên qua các Luật đầu tư cho các doanh nghiệp nước ngoài tại VN trong hơn 30 năm qua.

Cũng theo báo cáo vào đầu năm 2018 của VCCI, “mỗi năm có khoảng từ 40-50% doanh nghiệp FDI kê khai lỗ, trong đó, có rất nhiều doanh nghiệp lỗ liên tục trong nhiều năm, thậm chí có doanh nghiệp lỗ lũy kế đến mức âm vốn chủ sở hữu, nhưng vẫn tiếp tục hoạt động bình thường, kể cả việc mở rộng quy mô kinh doanh. Một số địa phương thu hút nhiều doanh nghiệp FDI như thành phố HCM, Bình Dương, tỉ lệ doanh nghiệp FDI kê khai lỗ lên đến 50-60%, trong đó có nhiều doanh nghiệp kê khai lỗ trong nhiều năm”.[42] Tình hình rất lạ lùng như thế phải hiểu theo nhiều mặt. Đó là: 1. Những đóng góp thuế thực sự của FDI vào ngân sách quốc gia ở mức rất thấp. 2. Mức chuyển giao kĩ thuật công nghệ cho các doanh nghiệp nội địa rất thấp. 3. Sử dụng các máy móc cũ nên đang tạo nguy hại về môi trường.

Mặc dầu tình hình phát triển của các công ti FDI đi ngược lại với các chủ chương và chính sách của chế độ toàn trị trong việc thu hút đầu tư của nước ngoài, vậy tại sao họ vẫn được mở rộng làm ăn ở VN? Những nghịch lí này của FDI đang diễn ra ở VN trong suốt mấy thập niên qua. Tại sao các nghịch lí ngày không được cải thiện, ngược lại còn đang mở rộng từ thời Nguyễn Tấn Dũng và đang gia tăng từ khi Nguyễn Xuân Phúc làm TT? Những người cầm đầu chế độ toàn trị có làm chủ động trong các chính sách đối với FDI, hay đã bị lệ thuộc và bị sai khiến bởi các nhóm lợi ích cấu kết với các công ti FDI từ ngay trong giai đoạn hoạch định chính sách?

Các công ti FDI tại VN phân loại theo hình thức đầu tư (2012)

TT Hình thức đầu tư Số dự án Tổng vốn đăng kí (triệu USD)  Tỉ trọng (%)Số dự án  Tổng vốnđăng kí
1 100% vốn nước ngoài 11.370 141.582,33 79,16      66,62
2 Liên doanh  2.566  55.162,65 17,86      25,92
3 Hợp đồng BOT, BT, BTO     14   5.857,32  0,10       2,75 
4 Hợp đồng hợp tác kinh doanh    218   5.469,09  1,52       2,57
5 Công ti cổ phần    195   4.677,21  1,36       2,20
6 Công ti mẹ con     1      98,01   0,01       0,05
Tổng số 14.364 212.846,61  100       100

Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài, 2013. Xuất xứ: NCKT 4.2013,tr. 47

Nhà nước CS ưu đãi tối đa cho các công ti FDI về nhiều mặt, như đất đai lập công xưởng, được ưu đãi thuế rất thấp các năm đầu, lương công nhân thấp; nhập khẩu máy móc, mua sắm trang thiết bị và hàng từ công ti mẹ hưởng chế độ giảm thuế đặc biệt, giành ưu đãi cho họ chuyển lợi nhuận về công ti mẹ. Ngoài ra để thu hút FDI, mỗi địa phương còn được quyền đưa ra các biện pháp ưu đãi cao hơn; ngoài việc miễn giảm tiền thuế đất, tiền sử dụng đất lên tới 50% theo NQ 62 của CP, còn gia hạn thêm thời gian miễn giảm thuế từ 3-6 năm.[43] Chế độ toàn trị cho lập nhiều Khu chế suất và Khu công nghiệp giành riêng cho các công ti FDI. Các công ti FDI tập trung hoạt động trong lãnh vực sản xuất hàng hóa xuất khẩu, như giầy dép, quần áo, linh kiện điện tử. Khi chương trình mở rộng các đô thị được ban hành, nhiều công ti FDI đã tìm cách hợp tác với các DNNN để lợi dụng chính sách ưu đãi của NHNN trong việc vay với lãi suất rất thấp những số tiền rất lớn lên tới 135.000 tỉ đồng (>8,4 tỉ USD) vào khu vực bất động sản. Như các dự án Nam Thăng long-Ciputra, Hồ Tràm của một công ti Canada (4,2 tỉ USD), Starbay của British VirginIslands (1,65 tỉ USD) và Khu công nghiệp Thủ thiêm của Singapor (1,2 tỉ USD) khi ấy. Họ còn lợi dụng sự dễ dãi và khuyến khích của chính quyền trung ương và các địa phương, nên nhiều năm -nhất là thời Nguyễn Tấn Dũng- đã ồ ạt lập 78 sân golf với tổng số vốn đăng kí là 13,3 tỉ USD và chiếm một diện tích 26.170 ha ở 39 thành phố/tỉnh. Ngoài ra cũng trong thời gian này còn có 66 dự án khác xây sân golf.

Chính TCCS đã đăng bài của hai chuyên gia kinh tế của Cơ quan Phát triển của LHQ ở VN tường thuật cách biến đất nông nghiệp thành các sân golf làm nơi giải trí của các nhà tư bản nước ngoài và các quan đỏ. Theo qui định của Nhà nước thì tiền bồi thường cho đất nông nghiệp rất thấp. Không những thế đất xây sân golf còn được coi là dùng vào thể thao, “nên được hưởng mức thuế đất ưu đãi”. Vì thế nhiều công ti FDI đã lợi dụng dùng một phần đất sân golf để xây “khách sạn, nhà hàng và giải trí”. Họ đầu cơ xây các sân golf, khách sạn và các khu giải trí với các ưu đãi cao nhất để hi vọng có thể thu hồi vốn và có lời nhanh. Trong việc xây dựng các khu vực bất động sản, nhiều công ti FDI đã dùng uy tín và mánh lới là công ti ngoại quốc, có quan hệ tốt với các quan đỏ có quyền lực, nên nhiều khi họ chỉ cần xây móng xong là đã rao bán. Người mua (thường là cán bộ có máu mặt) sẵn sàng bỏ ra số tiền lớn đặt cọc trước. Như vậy là các công ti FDI đã dùng tiền của người mua nhà để xây nhà, họ chỉ phải bỏ ra số vốn rất ít nhưng hưởng lợi nhuận rất cao. Có dư luận cho rằng, dự án Ciputra và Keangnam (Đại hàn) thuộc loại đầu cơ như vậy.[44] Đây chính là cách làm ăn móc ngoặc, làm giầu nhanh bất chính giữa các quan đỏ với nhiều công ti nước ngoài.

Một hiện tượng rất phổ biến là, nhiều doanh nghiệp FDI đã khai lỗ nhiều năm liên tiếp, trong khi đó họ vẫn gia tăng đầu tư tại VN. Như ở Khu chế suất tại Bình dương số doanh nghiệp FDI khai lỗ năm 2010 là 754/1490, chiếm tỉ trọng 50,6%; trong đó có tới 200 doanh nghiệp mức lỗ cao hơn cả vốn. Tại Sài gòn và Đồng nai số doanh nghiệp FDI khai lỗ cũng lên tới 60% và 52,2%. Tại Lâm đồng số doanh nghiệp FDI khai lỗ là 104/111. Mánh lới phổ thông thứ hai của các công ti FDI là khai giá các tài sản như máy móc, thiết bị, nguyên liệu, dịch vụ, phí bản quyền… cao hơn nhiều so với giá thực tế. Mặc dầu đa số máy móc chuyển sang VN đều thuộc loại trình độ kĩ thuật cũ và gây ô nhiễm cao. Đây là thuộc vào các vốn đầu tư, từ đó họ có lợi thế để tính thuế. Họ còn khai vay tiền các ngân hàng với lãi suất rất cao, hoặc các chi phí cho dịch vụ như quản lí, quảng cáo, tiếp thị, đào tạo, thuê chuyên gia. Đây là những chi phí đầu vào. Từ đó vào cuối mỗi năm họ có thể khai lỗ, hoặc lời rất ít để được miễn thuế hoặc chỉ đóng thuế rất ít. Năm 2009 có 760/1.358 (56%) công ti FDI khai lỗ. Các thủ đoạn này làm ngân sách nhà nước thất thu hàng năm rất lớn.[45]

Một hiện tượng phổ thông khác là, đại đa số các công ti nước ngoài hoạt động tại VN theo hình thức 100%, không thích liên kết với các doanh nghiệp VN vì nhiều lí do, từ bí mật nghề nghiệp, khác biệt ngôn ngữ tới sự phân hóa quá nhỏ của các doanh nghiệp tư VN. Đặc biệt nhất là, nhà cầm quyền CS rất cần ngoại tệ qua sự đầu tư của các công ti FDI nên không dám có những chính sách rõ ràng -như TQ và một số nước Á châu- để các công ti FDI phải tích cực hợp tác với doanh nghiệp tư nhân VN. Vì thế các doanh nhân, doanh nghiệp VN và công nhân mất các cơ hội tốt để học tập kĩ thuật, cách quản trị và điều hành các hãng xưởng theo trình độ mới.

Không chỉ chèn ép giới kinh doanh tư nhân VN, các công ti FDI còn tìm cách bóc lột hàng triệu công nhân bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, với sự làm ngơ hoặc tiếp tay nhà cầm quyền CS. Tính tới năm 2012 có 283 Khu công nghiệp trên 58 tỉnh/thành phố, chiếm diện tích 76.000 hecta. Trong đó miền Đông Nam Việt nhiều nhất với 88 khu công nghiệp ( 31,1%), Đồng bằng sông Hồng 24,7%, Đồng bằng Cửu long 17,7%, Miền Trung 15,5%. Chia theo tỉnh/thành phố thì Đồng nai có 30 Khu công nghiệp, Bình dương 25, Sài gòn 19, Hà nội 11…Riêng Đồng bằng Cửu long có 51 Khu công nghiệp và 200 cụm công nghiệp chiếm diện tích 25.000ha, nhưng mới sử dụng khoảng 20%. Nhiều Khu công nghiệp bị qui hoạch treo phí phạm đất canh tác.[46] Số lao động làm trong các Khu công nghiệp tăng rất nhanh. 1995 mới có 50.000 công nhân, năm 2000 đã tăng lên 201.000, năm 2007 lên tới 1,04 triệu và 1,765 triệu công nhân vào năm 2011. Bình quân số công nhân làm trong các khu công nghiệp gia tăng hàng năm từ 10-15%.

Trong khi số công nhân gia tăng rất nhanh thì Nhà nước CS không có chính sách để các doanh nghiệp FDI có chương trình xây dựng cư xá cho công nhân. 80% công nhân phải thuê phòng trọ ở bên ngoài. Nếu tính theo tỉ lệ và diện tích các phòng trọ thì thật khủng khiếp: Số công nhân phải sống trong phòng rộng dưới 3m² chiếm tới 19%, 3-5m² (21,4%), 5-7 m² (10,6%),8-10m² (22%), 11-20m² (22,4%); số công nhân có phòng trọ trên 20m² chỉ có 5,9%. Rất nhiều trường hợp 3 công nhân phải thuê 1 phòng 10-12m², giá thuê 250.000-300.000đ/tháng (2012). Không chỉ phải ở trong các phòng trọ chật chội, thiếu tiện nghi, thiếu vệ sinh như các chuồng gà; còn thiếu các nhà trẻ, trường học, trạm y tế, chợ, siêu thị, giải trí…Đấy là chưa kể chính sách “hộ khẩu” đã khiến cho con cái công nhân không được thu nhận vào các trường học. Điều này ảnh hưởng vô cùng bất lợi cho hàng trăm ngàn thiếu niên.[47]

Cuộc sống lam lũ của hàng triệu công nhân, đa số là phụ nữ và con thơ, trong các khu công nghiệp giành cho các công ti FDI là những hình ảnh sống động nhất và tồi tệ nhất như thời Cách mạng Công nghiêp hai thế kỉ trước, với cảnh bóc lột của thời kì tư bản rừng rú. Trong đó có sự cấu kết công khai giữa vua chúa cầm quyền và bọn tư bản bóc lột. Nhưng rất oái ăm và lạ lùng là, tình trạng vô nhân đạo này lại tái diễn vào đầu Thế kỉ 21 tại VN trong khuôn khổ chế độ XHCN; trong đó những người cầm đầu luôn luôn vỗ ngực, đó là chế độ bảo vệ người lao động, bảo vệ quyền làm người!

Không những thế nhiều công ti FDI vi phạm qui luật lao động, thậm chí vi phạm cả luật hình sự đối với công nhân VN. Như ngược đãi công nhân, làm tới 12 giờ/ngày, đánh đập công nhân. Nhiều công ti Nam hàn đã vi phạm. Các vụ đình công diễn ra khá phổ biến trong các công ti của Đài loan và Nam hàn. Năm 2010 xẩy ra 62 vụ đình công ở Sài gòn, trong đó 37 vụ trong các công ti FDI. Trong số này 21 vụ ở các công ti Nam hàn.[48] Số các công ti của Nam Hàn, Đài loan, Hồng kông và Nhật chiếm một tỉ lớn của FDI hoạt động ở VN. Điều này có thể hiểu, các nước này không chỉ là láng giềng mà còn có nền văn hoá tương đồng với VN, hiểu rõ tâm lí và tập quán của người Việt, đặc biệt một số các nước này không coi trọng nhân quyền và quyền lợi của công nhân ngay ở trong nước họ!

Một hình ảnh “thân dân” rất kịch cỡm đã được TT Nguyễn Xuân Phúc dàn cảnh trong chuyến thăm công nhân tại một công ti FDI ở Đồng nai vào cuối tháng 10.2017. Đây cũng là công ti mà hơn một năm trước, khi mới nhận chức TT ông Phúc đã thăm. Nay ông trở lại để xem có tiến bộ hay không. Tại đây TT đã hỏi công nhân về tình hình lao động và cuộc sống hàng ngày của họ. Khi tới bàn ăn của công nhân ông hỏi: “Bữa ăn từ 16.000-23.000 đồng có đảm bảo chất lượng không? Sau giờ làm việc, công nhân có thời gian để sinh hoạt văn hóa, thể thao hay không? Mức lương và cuộc sống có đảm bảo không?”[49] Tại sao Nguyễn Xuân Phúc không tổ chức một cuộc thăm bất ngờ ở một công ti FDI khác để biết các bữa ăn trưa thịt ôi canh ủng chỉ với giá hai ba ngàn đồng; hay đi thăm các phòng trọ như ổ chuồng gà giành cho công nhân?

Theo bộ Kế hoạch và đầu tư, tới cuối 2017 có 128 quốc gia và vùng lãnh thổ đã đầu tư vào Việt Nam. Lần đầu tiên Nam Hàn đang dẫn đầu với tổng vốn đăng ký 57,1 tỷ USD (chiếm gần 18,2%), thứ hai là Nhật bản với 46,3 tỷ USD, tiếp đến là Singapore và Đài loan.[50]

Tờ Quân đội Nhân dân (QĐND) cũng cho biết, hiện các công ti FDI đang sử dụng khoảng 30% lực lượng lao động công nghiệp”.[51] Nhưng mặt khác, khu vực FDI đang bộc lộ những mặt trái gay gắt; như gây ô nhiễm môi trường rất nghiêm trọng, nạn chuyển giá bất hợp pháp, sử dụng công nghệ lạc hậu. BCT đưa ra mục tiêu là, dùng FDI để lan tỏa công nghiệp hiện đại cho kinh tế tư nhân nội địa, nhưng thực tế đã không diễn ra như vậy. Theo điều tra của Phòng Thương mại và Công nghiệp VN (VCCI), các công ti FDI “chỉ mua khoảng 26,6% thiết bị, đầu vào từ DN Việt Nam, còn lại là nhập khẩu và nhập từ công ty mẹ. Điều này chứng tỏ, DN Việt Nam đang được hưởng lợi rất ít từ hiệu ứng lan tỏa do dòng vốn FDI mang lại qua quá trình chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và nâng cao năng suất”. Trong báo cáo “Việt Nam tăng cường năng lực cạnh tranh và liên kết của DN vừa và nhỏ (DNVVN)-Bài học kinh nghiệm trong nước và quốc tế” Nhóm nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới cũng xác nhận, “các DNVVN của Việt Nam chủ yếu là nhà cung cấp cấp ba (gián tiếp), được mô tả như là ngành sản xuất các nguyên liệu đầu vào, nguyên liệu đơn giản và ít giá trị gia tăng”.[52]

***

Nếu so sánh giữa chủ trương (lí thuyết) và kết quả thực tiễn trong việc thực hiện chính sách FDI gần ba thập kỉ qua của chế độ toàn trị CSVN thì càng thấy rõ sự khác biệt rất rõ rệt như trắng với đen giữa mục tiêu và kết quả:

– Chủ trương dùng FDI để thúc đẩy công nghiệp VN phát triển. Nhưng oái oăm đại đa số các FDI chỉ làm ăn riêng, cho nên đến nay nhiều doanh nghiệp tư VN đã không làm được cái đinh ốc!

– Chủ trương dùng FDI để VN có “công nghiệp xanh”. Nhưng nay nhiều FDI đang biến VN thành bãi rác thải công nghiệp độc hại, không những thế họ chỉ chuyển vào VN các máy móc có trình độ kĩ thuật rất thấp.

– Chủ trương bảo vệ quyền lợi lao động của công nhân trong các công ti FDI, nhưng thực tế hàng triệu công nhân VN đang bị bóc lột và bạc đãi!

Tự vỗ ngực là những người lãnh đạo CS giầu kinh nghiệm, biết rõ tâm đen của các giới tư bản, nhưng tại sao họ lại trải thảm đỏ mời gọi FDI, thế rồi bị sỏ mũi? Họ nghĩ rằng có thể tương kế tựu kế? Nhưng nếu xét qua nhiều giai đoạn tham gia của FDI ở VN thì cho thấy, họ bị chạy theo, rất bị động chứ không chủ động. Những sự cố về ô nhiễm môi trường đã xẩy ra và các hậu quả vô cùng tai hại của nó, cũng như lương bổng bị bóc lột và đời sống đói rách của hàng triệu công nhân cho thấy, khi lập kế hoạch mời FDI họ ở thế bị động, cứu đảng và cứu mình để nắm quyền nên phải nhắm mắt làm liều.

Lời xác nhận của Nguyễn Phú Trọng trong vụ Formosa: “Trước kia chúng ta kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu, nên bây giờ chúng ta phải trả giá”. (Xem Chương chín, V). Lời xác nhận trên của người cầm đầu chế độ toàn trị không chỉ giới hạn trong lãnh vực môi trường, mà có giá trị cả trong các lãnh vực khác, như chờ đợi FDI chuyển vào VN những công nghệ với kĩ thuật tiên tiến, hay bảo vệ quyền lợi lao động của công nhân.

Sự tăng trưởng về vốn đầu tư vào VN hay kim ngạch xuất khẩu gia tăng của FDI không đồng nghĩa với những lợi ích cho VN. Nhiều khi đi ngược lại các mục đích ban đầu của CSVN: Xuất khẩu gia tăng nhưng nhập khẩu cũng gia tăng; gia tăng số lượng công ti FDI nhưng lại giảm số công ti FDI hợp tác với doanh nghiệp tư VN và các thiết bị đưa vào VN có trình độ kĩ thuật thấp, đang biến VN thành nơi tiêu thụ các máy móc lỗi thời, nguy hiểm nữa là thành bãi rác đầy chất độc công nghiệp. Điều cực kỳ nguy hiểm nữa là, sự kiện ngày càng lớn mạnh của FDI dẫn tới hậu quả, ngày càng òi ọp của doanh nghiệp tư nhân VN và kinh tế VN càng lệ thuộc bên ngoài!

Cuối tháng 11.18 tại cuộc Hội thảo đánh giá hiệu quả chính sách thu hút và ưu đãi đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong các thập niên vừa qua do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) tổ chức, nhiều chuyên viên đã lên tiếng cảnh báo về những hệ lụy vô cùng bất lợi trong nhiều lãnh vực cả trước mắt và lâu dài của chủ trương “quá sính ngoại” của chế độ toàn trị đối với các công ti FDI. Chuyên viên ngân hàng Phạm Xuân Hòe nhận xét, “khối FDI được rất lớn, còn VN chỉ được mấy đồng lương còi cho người lao động. Trong khi ô nhiễm môi trường không biết phải chi bao nhiêu cho đủ và người công nhân cũng luôn phải đối mặt với rủi ro”. [53]

***

Trước đây cũng như hiện nay một số nước Âu châu cũng như Á châu lấy xuất cảng làm trọng tâm. Trong giai đoạn đầu mãi lực nội địa không cao, vốn ít; nên để tạo điều kiện phát triển nhanh hơn, các quốc gia này cần vốn của cả bên ngoài. Nhưng mục tiêu lâu dài vẫn phải lấy nội lực làm chính. Đây là những suy nghĩ sáng suốt và thực tế. Bởi vì hoạt động kinh tế liên quan trực tiếp tới đồng tiền bát gạo. Ta không thương ta thì chẳng ai đoái hoài. Tâm lí chung là không ai giúp một cách vô công, có đi có lại. Nhưng phải hiểu tâm lí và động cơ của các nhà tư bản. Đối với họ, lợi nhuận là tiêu chí giá trị cao nhất, nơi nào thu hoạch có lời cao, thuế thấp cùng các ưu đãi khác thì họ sẽ đổ xô tới; nếu không còn thì họ lại bỏ đi tìm nơi khác. Chính tâm lí này của các giới tư bản đã được cựu Phó TT Đức và cựu Chủ tịch Đảng Dân chủ Xã hội Đức F. Müntefering mô tả; ông đã ví giới này như các đàn cào cào, châu chấu, nơi nào có ăn thì cả đàn tới, khi hết rồi thì cả đàn lại bay đi nơi khác kiếm ăn![54]

Như trước đây ở Nhật, Đài loan và Đại hàn và hiện nay ở TQ, một mặt họ khuyến khích tư bản nước ngoài bỏ vốn vào đầu tư ở nước họ. Xuyên qua nguyên tắc hợp tác, các FDI được giành một số ưu đãi nhất định trong hoạt động kinh doanh, nhưng đồng thời phải thực hiện nghiêm túc các nghĩa vụ và các thỏa thuận với các quốc gia này. Trong đó ngoài nhiệm vụ đóng thuế sòng phẳng, còn phải chuyển giao công nghệ tân tiến và đào tạo chuyên môn cho người lao động bản xứ.

Cách vận hành của một nền kinh tế lấy xuất cảng làm trọng tâm có đặc điểm là, các công ti FDI dùng công nhân bản xứ với lương bổng thấp, nhờ đó giá thành các hàng hóa thấp, nên các sản phẩm này có thể bán chạy ở nhiều nước công nghiệp. Nhờ thế các công ti FDI hưởng lợi nhuận rất cao. Trong khi đó nhà nước sẽ thu ngoại tệ để tăng mức ngoại hối và thu được thuế từ các hàng xuất khẩu; nhờ đó ngân sách quốc gia được gia tăng để có thể đầu tư và canh tân đất nước tiến tới tự lập tự cường. Nhưng các mục tiêu và cách thực hiện đường lối kinh tế này chỉ thành công trong một số điều kiện nhất định, ắt có và đủ. Đó là phải có một hệ thống chính trị tốt, trong đó những người nắm vận mệnh đất nước phải có tinh thần trách nhiệm cao, có tầm nhìn sâu rộng; quốc hội, hệ thống tòa án phải có thực quyền; các công chức phải chí công vô tư; có hệ thống báo chí độc lập và các đoàn thể xã hội dân sự được tự do hoạt động. Mặt khác phải có các chính sách khuyến khích và bảo vệ các giới doanh gia và tư thương nội địa trong việc bỏ vốn và sáng kiến vào các hoạt động sản suất và kinh doanh để làm giầu cho chính mình và đất nước.

Nếu chỉ thích hoàng nhoáng bề ngoài, thích giả dối; gộp nhập trên 2/3 kim ngạch xuất khẩu hàng năm từ FDI vào GDP để trưng diện là lợi tức đầu người ở VN đang tăng nhanh. Nhưng đó chỉ là giả dối, vì phần lớn thu nhập của các công ti FDI lại được chuyển nhanh về công ti mẹ ở mẫu quốc. Cả phần thuế của FDI vào ngân sách quốc gia cũng rất thấp; vì họ được ưu đãi thuế, trốn thuế bằng cách khai lỗ, hay chỉ phải trả mức thuế rất thấp!

Cân nhắc giữa quyền lợi quốc gia và sự phân công quốc tế cùng có lợi cho các bên, thì nếu sự đầu tư của nước ngoài đem lại những lợi ích thiết thực cho việc phát triển nhanh và bền vững cho đất nước, sẽ là một việc rất đáng hoan nghênh. Không nên có thái độ bài ngoại quá khích, nhất là trong giai đoạn toàn cầu hóa. Bế quan tỏa cảng chỉ làm trì trệ đất nước thêm. Nhưng mục tiêu này chỉ có thể thành công, nếu có một chính quyền có tầm nhìn xa trông rộng, biết cân nhắc ưu và khuyết điểm của kế hoạch xây dựng đất nước; có chính sách mở cửa thích hợp, biết sử dụng vốn tư bản nước ngoài, công nghệ tân tiến nước ngoài và kiến thức quản trị và trình độ chuyên môn cao của họ. Đó là tạo những điều kiện ắt có và đủ cho việc canh tân VN. Nhưng suốt trên 30 năm qua các điều kiện trên đều không có!

  1. Tư doanh VN bị bạc đãi và bị chèn ép

Từ trước tới nay, đặc biệt dưới thời Nguyễn Tấn Dũng làm TT, các NQ của nhiều ĐH đảng và chính sách kinh tế của chính phủ đều nhấn mạnh phát triển nội lực. Nghĩa là về mặt lí thuyết, các doanh nghiệp VN (DNNN và tư nhân) phải là nồng cốt cho phát triển kinh tế. Các Luật về Doanh nghiệp tư nhân 2000 và 2005 qui định về hoạt động của kinh tế tư nhân trong nước. Nhưng trong thực tế thì lại hoàn toàn khác. Trong khi các công ti nước ngoài FDI ngày càng bung ra chiếm lãnh thị trường và các DNNN được giành ưu đãi trong tín dụng và đất đai, lại nắm độc quyền nhiều lãnh vực được coi là huyết mạch của nền kinh tế. Còn các doanh nghiệp tư nhân nội địa lại không ngóc đầu lên được, phải chịu đựng một cổ hai ba tròng, vừa bị các DNNN chèn ép, lại bị các công ti FDI cạnh tranh, đồng thời còn bị các quan đỏ móc túi và trấn áp.

Có nhiều con số khác nhau về doanh nghiệp tư nhân VN từ nhỏ, trung bình đến lớn (tính theo số công nhân và vốn đầu tư). Theo Cục Quản lí đăng kí kinh doanh của bộ Kế hoạch và đầu tư, tính tới Quí 1/2014 có tất cả 789.813 doanh nghiệp tư nhân VN đã đăng kí, trong đó 296.206 doanh nghiệp đã phải đóng cửa hoặc phá sản. Riêng từ khi VN gia nhập WTO (2007) số doanh nghiệp tư nhân gia tăng cao, mỗi năm có trên 50.000 doanh nghiệp được thành lập.[55] Nhưng đồng thời số doanh nghiệp ngưng hoạt động hoặc phá sản cũng rất cao. Theo báo cáo của Phòng Thương mại và Công nghiệp VN ngày 13.4.16, có đến 428.000 doanh nghiệp tư nhân VN phải ngừng hoạt động hoặc giải thể trong giai đoạn 2007-2015, tương đương với 45,5% tổng số doanh nghiệp được thành lập kể từ khi có Luật Doanh nghiệp năm 2000 đến nay. [56]

Xét về qui mô lao động thì các doanh nghiệp VN ngày càng có khuynh hướng nhỏ đi. Vào năm 2002 một doanh nghiệp có trung bình 74 lao động, đến 2007 chỉ còn 47 lao động, nhưng tới 2012 lại giảm chỉ còn khoảng 32 lao động. Vào năm 2012 số doanh nghiệp vừa là lớn chỉ chiếm khoảng 4,3%, doanh nghiệp nhỏ chiếm 29% và siêu nhỏ chiếm 66,8% (dưới 10 lao động). Năm 2002 số doanh nghiệp siêu nhỏ chiếm 53,1% đã tăng lên 66.8% vào năm 2012. Tình hình chung rất đặc biệt là, trong suốt 10 năm (2002-2011) rất ít doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ phát triển thành doanh nghiệp vừa hoặc lớn. Nhưng ngược lại, tỉ lệ các doanh nghiệp vừa lại biến thành nhỏ và siêu nhỏ lại gia tăng. Thành thử nhiều chuyên viên đã rất chua chát phải nêu câu hỏi, tại sao các doanh nghiệp tư nhân VN “không lớn lên được”? [57]

Cũng vào giai đoạn này đã có bài thơ rất chua chát và mỉa mai, vì sao đất nước không lớn lên được với tựa đề “Đất nước mình ngộ quá phải không anh?” của Thạc sĩ Trần Thị Lam, một nữ giáo viên trung học ở Hà Tĩnh, được phổ biến rất rộng rãi và được phổ nhạc. Bài thơ được phổ biến vào dịp sau biến cố thảm họa môi trường do Formosa ở Hà tĩnh gây ra, 4.2016.[58] (Xem phần sau).

Viện trưởng Viện Kinh tế VN Trần Đình Thiên nêu câu hỏi, tại sao Nhà nước vẫn nói là kinh tế chuyển dịch tốt, nhưng công nghiệp VN vẫn yếu? Ông dẫn chứng, công nghiệp chế biến, chế tạo là lãnh vực then chốt trong phát triển kinh tế, nhưng sau 30 năm chỉ tăng 1,6%.  Ông dẫn chứng nguyên nhân dẫn tới tụt hậu vì các chính sách sai lầm. Theo ông, “trong thời đại công nghệ cao mà lĩnh vực chế biến chế tạo chỉ tăng như vậy thử hình dung công nghiệp Việt Nam giậm chân tại chỗ hay thụt lùi ghê gớm so với thế giới? Ta thích công nghiệp khai khoáng, xây dựng, tập trung gia công còn lĩnh vực tạo năng lực cốt lõi là chế biến chế tạo lại rất yếu”. Ông trách là, Nhà nước CS đã quá chiều chuộng các công ti FDI, dẫn tới hậu quả là nay tùy thuộc quá nhiều vào họ.[59] Trong khi đó theo chuyên gia Phạm Chi Lan, chế độ toàn trị đã không tạo một sân chơi bình đẳng giữa các hoạt động kinh tế. Trong khi các Doanh nghiệp nhà nước, các công ti FDI và “doanh nghiệp tư nhân thân hữu” được biệt đãi (tiếp cận các nguồn lực, quyền kinh doanh, đầu tư công/mua sắm của chính phủ, bảo hộ để né cạnh tranh…) thì đại đa số doanh nghiệp vừa và nhỏ ở vị thế rất bất lợi, nên không lớn lên được và dễ bị đào thải. [60]

Tới 2014 cả nước có khoảng gần 3000 doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ và hoạt động rất yếu. Ngay bộ Công thương cũng cho biết, công nghiệp phụ trợ phải sử dụng tới 80% nguyên liệu nhập khẩu, lại chỉ tập trung vào các hoạt động đơn giản như đóng gói, bao bì. Các ngành công nghiệp phụ trợ như giầy dép, dệt may… phần lớn nằm trong tay các công ti FDI. Các công nhân VN chỉ làm công tác gia công; trong khi ấy phần chính nguyên liệu phải nhập cảng, nhất là từ TQ. [61] Trong khi nhóm cầm đầu toàn trị thề thốt là công nghiệp hóa hiện đại hóa nền kinh tế thì nhiều chuyên viên đã chỉ trích và cảnh báo nghiêm khắc là, “hiện nay VN đang trở thành quốc gia có nền công nghiệp gia công toàn diện”, tức là chỉ đi làm thuê và làm những công việc phụ thuộc cho các công ti FDI.[62] Ngoài các nguyên nhân không có sân chơi bình đẳng và bị chén ép, các doanh nghiệp tư nhân VN còn bị cán bộ nhũng nhiễu, hàng năm phải tiếp nhiều phái đoàn thanh tra, muốn được yên thì phải trao “phong bì”! Tiến sĩ Cao Sĩ Kiêm, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa, đã cho biết, theo số liệu từ một cơ quan nghiên cứu có tới 73% doanh nghiệp phải lót tay cho cán bộ. [63]

Ngay tại QH vào cuối năm 2015 (22.10.15) Bộ trưởng Kế hoạch và đầu tư Bùi Quanh Vinh vừa than thở vừa trách móc là: “Một đất nước muốn tự chủ kinh tế thì doanh nghiệp của nước ấy phải phát triển. Doanh nghiệp nội địa phát triển thì mới hỗ trợ cho khu vực FDI, và tiếp thu công nghệ của nước ngoài… Nhiều doanh nghiệp FDI, như Nhật Bản, muốn chuyển giao công nghệ, nhưng doanh nghiệp chúng ta không có nền tảng để nhận. Chúng ta kêu ca doanh nghiệp FDI không chuyển giao công nghệ là do có hai mảng. Thứ nhất họ không chuyển giao, và thứ hai, họ có chuyển giao thì chúng ta cũng không có đủ năng lực tiếp nhận”.[64]

Trong buổi tọa đàm với Hội Doanh nhân trẻ VN vào cuối năm 2018 TS Trần Đình Thiên, nay là thành viên Tổ tư vấn kinh tế của TT, đã phải chua chát nhận xét, sau trên 30 năm “đổi mới” nhưng doanh nghiệp tư nhân VN chỉ đóng góp 8% GDP; trong khi đó đóng góp của FDI lên tới 20% và DNNN khoảng 27-28%. Theo ông, ở trong một nước phát triển kinh tế thực sự với nội lực làm chủ yếu dựa trên kinh tế thị trường thì khu vực doanh nhân nội địa đóng góp đến 60-70%, nếu mạnh thì đến 80-90%. Nhưng ở VN sau trên “30 năm phát triển kinh tế thị trường rực rỡ mà chỉ có 8%”. Một trong những lí do chính là doanh nghiệp tư nhân VN đang bị bạc đãi và chèn ép. Ông dẫn chứng, trong khi các doanh nghiệp FDI chỉ phải chịu mức thuế trung bình là 11% thì các doanh nghiệp VN phải đóng thuế trung bình lên tới 29%, cao hơn gần 3 lần so với FDI![65]

Nói chung lại, trong suốt ba thập niên theo mô hình Kinh thế Thị trường định hướng XHCN sở dĩ các xí nghiệp tư nhân VN không thể vươn lên được vì nhiều nguyên nhân: Bị chế độ toàn trị bỏ rơi và khinh rẻ, bị các DNNN và FDI chèn ép; không được đối xử bình đẳng trong việc tiếp nhận các nguồn lực kinh tế từ vay tiền, lãi suất, thuế vụ tới đất đai. Ngoài ra còn phải thường xuyên bị cán bộ các cơ quan đảng và nhà nước nhũng nhiễu!

  1. Hai trường hợp điển hình về chính sách

của Nhà nước CSVN với các công ti FDI

          Nguyễn Xuân Phúc ưu đãi Samsung

Từ tháng 2.17 Lee Jae-yong 49 tuổi, Phó chủ tịch công ti Samsung phải ngồi tù ở Nam Hàn, là người giầu thứ 3 của Nam Hàn với 6,6 tỉ Euro. Ông phải tù 5 năm vì các tội hối lộ, che dấu và khai man. Ông đã hối lộ một số tiền rất lớn cho cựu Tổng thống bà Park để mong sớm trở thành Chủ tịch Samsung. Nhiều cuộc biểu tình của hàng trăm ngàn người ở Nam Hàn phản đối quan hệ bất chính và tệ trạng tham nhũng- hối lộ giữa chính phủ và Samsung. Bà Park cũng bị cách chức Tổng thống. Cha ông là Lee Kun-hee (72t) năm 2009 cũng bị kết án 3 năm tù với các tội tương tự, nhưng không bị ngồi tù; từ 3 năm qua sau khi bị nhồi máu cơ tim trở thành hôn mê nhưng vẫn là Chủ tịch Samsung. Đầu tháng 2. 2018 Tòa án trả tự do cho ông với điều kiện. Tập đoàn Samsung chiếm tới 20% tổng sản lượng kinh tế của Nam Hàn, có 490.000 nhân viên. Trong quí 3/2017 đã đạt lợi nhuận 11,2 tỉ € (12,91 tỷ USD ), cao nhất từ trước tới nay. Dự đoán trong tương lai mức lợi nhuận còn cao hơn nữa.[66]

Trong cuộc gặp TT Nguyễn Xuân Phúc tại trụ sở chính phủ ngày 6.10.17 Tổng giám đốc Samsung Electronics Hàn quốc Shin Jong Kyun đã cho biết, sau 10 năm đầu tư vào VN đến nay tổng vốn đầu tư của Samsung đã lên tới 17 tỷ USD. Samsung dự kiến sẽ xuất khẩu hơn 50 tỷ USD trong năm 2017, chiếm trên 20% kim ngạch xuất khẩu của VN. Ông còn nhấn mạnh, các nhà máy đặt tại VN có quy mô lớn nhất, hiện đại nhất của Samsung.[67] Đây là cuộc gặp lần thứ hai của đại diện Samsung với Nguyễn Xuân Phúc trong năm nay và có lẽ lần này CP xác nhận giành ưu đãi sử dụng đất và thuế nhiều hơn nữa cho Samsung.

Cho tới trước khi cuộc gặp này Samsung đã nhận được nhiều ưu đãi đầu tư từ Chính phủ CS: “Hưởng thuế thu nhập doanh nghiệp 10% trong 30 năm, miễn 4 năm và giảm 50% trong 9 năm tiếp theo”. Ngoài ra, “các địa phương cũng đã giành cho Samsung các ưu đãi về tiền thuê đất, tiếp tục cho Samsung được giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm tiếp theo sau giai đoạn 9 năm đó”.[68] Các đại diện của Samsung vẫn chưa thỏa mãn với các ưu đãi này, nên họ đòi được đãi ngộ cao hơn sau việc gia tăng đầu tư. Trong cuộc gặp TT Nguyễn Xuân Phúc ngày 26.7.17 một đại diện Samsung ở Thái nguyên đã đề cao sự đầu tư của Samsung và cam kết “xuất khẩu hơn 50 tỷ USD trong năm nay”, tương đương với gần ¼ tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.[69]

Với mức kim ngạch xuất cảng gia tăng cao và nhanh như vậy, nên Nguyễn Xuân Phúc có thể dùng nó để phô trương thành tích tăng trưởng kinh tế của VN dưới quyền của ông! Vì thế ông đã hứa với đại diện Samsung là sẽ ra lệnh cho “Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ sớm cấp chứng nhận doanh nghiệp công nghệ cao cho Samsung VN vì đã đạt được các tiêu chí cần thiết”.[70] Sớm nhận được giấy chứng nhận “Doanh nghiệp công nghệ cao” là nỗ lực hàng đầu của Samsung từ lâu. Vì khi đó Samsung sẽ nhận được những ưu đãi cao nhất về đất đai và thuế.[71]

Trong kì họp cuối năm của QH đã có dư luận cho là, việc tăng trưởng quí 3/2017 tăng đột biến lên tới trên 7% là nhờ sự đóng góp quan trọng của hai đại công ti FDI Samsung và Formosa.[72] Có lẽ để giải quyết gánh nặng của nợ công ngày một chồng chất trong khi mức tăng trưởng kinh tế càng đi xuống, nên từ khi làm TT, Nguyễn Xuân Phúc còn dành ưu đãi đặc biệt cho các công ti FDI hơn cả người tiền nhiệm, đặc biệt cho Samsung. Cho nên Samsung đã đầu tư dồn dập vào VN để mở rộng các hoạt động kinh doanh trong năm 2016-2017. Chỉ trong nửa đầu năm 2017, các công ty Samsung đạt doanh thu 27,4 tỷ USD (622.000 tỷ đồng); lợi nhuận sau thuế đạt 3,1 tỷ USD (70.600 tỷ đồng).[73] Nếu tính toàn năm 2017 Samsung đã đạt được lợi nhuận ròng là 5,8 tỉ USD, trong khi ấy chỉ mới phải đóng thuế 186 triệu USD cho nửa năm 2017.

Trong cuộc gặp PTT Vương Đình Huệ ngày 17.11.17 ông Shim Wonhwan, Tổng giám đốc Tổ hợp Samsung VN, cho biết, hiện công ti đã có ba trung tâm sản suất tại VN ở Bắc ninh, Thái nguyên và Sài gòn, tổng số lao động đang làm việc trong các nhà máy của Samsung tại VN là 180.000 người (bao gồm cả 20.000 người làm bảo vệ và nhà ăn). Con số này không kể các nhân viên làm việc trong các đơn vị cung ứng của Samsung.[74] Trong đó số phụ nữ còn trẻ chiếm tới 75% .[75] Như vậy Samsung ở VN đứng thứ hai chỉ sau Samsung mẹ ở Nam Hàn, đồng thời là công ti FDI lớn nhất ở VN. Samsung tại VN tập trung sản xuất máy điện thoại cầm tay tối tân và các máy truyền hình có kĩ thuật cao nhất trên thế giới, xuất khẩu sang khoảng 120 nước.

Samsung hiểu được vai trò cực kỳ quan trọng của họ trong nền kinh tế VN, nên họ đang tìm mọi cách ép chính quyền CSVN phải gia tăng ưu đãi, đồng thời chèn ép công nhân VN. Điều này có thể thấy rõ trong cách đối xử với các đại diện của Samsung của các giới chức cao cấp VN. Vài năm trước các đại diện của Samsung thường gặp trực tiếp Bộ trưởng 4 T và được phổ biến rộng rãi trong các cơ quan báo đảng. Nhưng hiện nay cả TT lẫn Phó TT gặp trực tiếp các đại diện của Samsung. Điều này chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh đã tiên đoán trước đây vài năm, “Chính quyền có những ưu đãi để thu hút Samsung và Samsung có thể đòi các ưu đãi đặc biệt cao hơn mức bình thường vì họ biết vị thế của mình”. [76] Do được miễn và giảm thuế tối đa nên trong những năm qua, Samsung đã “tiết kiệm” được hàng tỷ USD tiền thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp. Với thuế suất rất thấp, VN thực sự đã trở thành “thiên đường thuế” của tập đoàn này. Đây cũng là lý do mà Samsung ngày càng rót nhiều tiền đầu tư cũng như chuyển nhiều hoạt động sản xuất vào VN. [77]

***

Trước những đòi hỏi của phía VN là Samsung nên để các doanh nghiệp VN tham gia, trong cuộc hội thảo “30 năm lan tỏa vốn FDI” 7.10.17 ông Bang Hyun Woo, Phó tổng giám đốc Samsung VN đã nói thẳng, “các sản phẩm của Samsung đang được xuất khẩu đi toàn cầu và những linh kiện mà chúng tôi sử dụng đòi hỏi phải rất tin tưởng, liên quan đến chất lượng vô cùng cao. Nói là doanh nghiệp VN ngay bây giờ có thể tham gia vào chuỗi cung ứng này vô cùng nan giải”. Có lần Samsung còn trách móc là, công nghiệp VN chậm tiến đến mức chưa làm được cả cái ốc! Nhà bình luận Ngô Nhân Dụng đã nhận xét:

“Câu chuyện cái đinh ốc bùng lên trong nước từ tháng Chín. Báo chí đăng tin công ty Samsung điện tử thú nhận cơ xưởng ráp máy điện thoại của họ ở Bắc ninh không tìm ra xí nghiệp nào của người VN có thể cung cấp những cây đinh xoắn trôn ốc, còn gọi là ốc vít.”. Nhưng rốt cuộc, có 67 doanh nghiệp cung cấp các linh kiện cho SEV; đại đa số là các doanh nghiệp của người Ðại hàn, Nhật bản, Singapore, Mã lai. Chỉ có bốn doanh nghiệp VN cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho SEV, mà việc chính của họ là làm bao bì, in ấnÔng Shim Won Hwan, tổng giám đốc Samsung ở VN mới, nói tại một hội thảo ở HN vào tháng Chín vừa qua rằng, “không doanh nghiệp VN nào ‘nắm bắt’ được cơ hội, họ chỉ cung ứng được những sản phẩm in ấn, bao bì!” Còn những thứ “cao cấp” như cái đinh ốc vít, người VN làm không được theo tiêu chuẩn của Samsung! Họ cũng không kiếm mua được những bộ phận “sạc” điện cho cell phone do người VN làm”. [78]

Tới giữa năm 2017 chính báo Infonet của bộ 4T cho biết, mới chỉ có 25 doanh nghiệp VN tham gia chuỗi cung ứng cấp 1 cho Samsung. [79] Nhưng khi giải trình trước Quốc hội tại phiên thảo luận về tình hình kinh tế-xã hội vào 1-11.17, bộ trưởng bộ Công Thương Trần Tuấn Anh đề cập đến vấn đề phát triển công nghiệp hỗ trợ lại cho biết, hiện có khoảng 30 doanh nghiệp cung cấp linh kiện điện tử trực tiếp cho Samsung tại VN và đều là các doanh nghiệp FDI, chứ chưa có bất kỳ doanh nghiệp nội địa nào.[80] Trong khi đó khi làm việc với đại diện Samsung ở Thái nguyên ngày 26.7.17 để xét việc giành ưu đãi thuế đặc biệt cho Samsung Nguyễn Xuân Phúc đã hết lời khen ngợi là, hiện đã có “215 nhà cung cấp là doanh nghiệp VN” và “tỉ lệ nội địa hóa của Samsung VN đạt 57%”.[81] Ông Phúc đưa ra con số cao gấp nhiều lần về việc các doanh nghiệp tư VN tham gia hệ thống xí nghiệp phụ trợ cho Samsung là để có cớ xếp Samsung vào Luật Công nghệ cao? Một điều rõ ràng nhất là, Samsung VN nhập khẩu từ Samsung mẹ ở Hàn quốc hầu như toàn bộ các máy móc và linh kiện điện tử. Đây cũng là lí do chính khiến mức nhập khẩu hàng hóa vào VN của Nam Hàn đã gia tăng rất mạnh trong vài năm gần đây.

Gần 200.000 công nhân VN, đại đa số là phụ nữ trẻ chỉ làm gia công, phải lao động rất vất vả dưới những điều kiện nghiêm ngặt, nhưng lương bổng lại rất thấp. Lê Đăng Doanh đã nhận xét, “năng suất lao động của công nhân VN làm đạt 80% năng suất lao động, trong khi tiền lương chỉ bằng khoảng 10%”. Phần lớn các phụ nữ này đã bỏ quê ra tỉnh để làm công nhân cho Samsung. Cuối tháng 11.17 Tổ chức phi chính phủ Thụy Điển IPEN -một tổ chức phi vụ lợi có uy tín quốc tế, chuyên về bảo vệ sức khỏe và môi trường- phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu giới, gia đình và môi trường trong phát triển ở HN (CGFED), đã công bố Bản báo cáo về điều kiện làm việc của nữ công nhân ở các nhà máy điện tử của Samsung tại VN. Theo báo cáo này, IPEN và CGFED đã phỏng vấn 45 nhân viên Samsung và đưa ra nhận xét:

“Tiếng ồn ở khu sản xuất cao hơn nhiều so với cho phép của VN, tất cả nhân viên được phỏng vấn đều cảm thấy mỏi mệt trầm trọng và chóng mặt, sẩy thai ở người lao động diễn ra thường xuyên..”. Công nhân phải đứng làm việc suốt 8-12 giờ, công nhân mang thai cũng phải lao động như vậy. Nhiều công nhân bị sổ mũi, rối loạn tiêu hóa, đau chân…Báo cáo còn cho biết, hàng ngày công nhân bị Samsung kiểm soát quá nghiêm ngặt, “thời gian nghỉ ngắn và nếu muốn đi vệ sinh thì lại phải được cho phép ra vào đặc biệt”. Báo cáo đưa ra yêu cầu, “phải điều tra bổ sung về việc rò rỉ hóa chất. Bởi người lao động đang làm việc trong môi trường mở tiếp xúc với nhiều loại hóa chất đa dạng nhưng lại không nhận thức được về những rủi ro hóa chất trong công đoạn lắp ráp”. [82]

Ngay hôm sau đại diện Samsung đã lên tiếng phủ nhận các lời cáo buộc trên. Samsung “công nhận có sử dụng hóa chất trong một số công đoạn, nhưng đều áp dụng các biện pháp để công nhân không bị phơi nhiễm nhờ thiết bị thoát khí, cùng việc đeo thiết bị bảo hộ”. [83] Thanh tra của bộ Lao động & thương binh, xã hội cho biết, vào tháng 7.17 đã thanh tra ở hai trung tâm của Samsung ở Bắc ninh và Thái nguyên và cho biết, phụ nữ mang thai từ tháng thứ 7 được nghỉ. Theo Bộ, các cáo buộc khác trong Bản báo cáo của IPEN là “chưa thuyết phục”. Nhưng Bộ xác nhận Samsung đã vi phạm pháp luật về qui chế lao động. “Samsung chia thời gian làm việc thành hai ca. Ca ngày 8-20h, ca đêm từ 20h đến 8h sáng hôm sau và đưa vào nội quy lao động, luân phiên làm việc 4 ngày liên tục sẽ được nghỉ 2 ngày”. Qui định này trái với Luật lao động 2012. Theo đó giờ làm việc không quá 8h/ngày và không quá 48h/tuần; giờ làm việc ban đêm từ 22h-6h sáng hôm sau; giờ làm thêm không quá 30h/tháng, 200h/năm. [84]

Nếu giữ thái độ khách quan và thận trọng thì những lời xác nhận trên của Thanh tra của bộ Lao động & thương binh, xã hội có lẽ mới chỉ là một phần rất nhỏ của sự thực. Vì trong quá khứ đã chứng minh nhiều lần, các cơ quan thanh tra của đảng cũng như chính phủ không thể tin cậy. Như trong các vụ PMU 18, Vinashin và Formosa các cơ quan thanh tra của nhiều cơ quan đã thanh tra, nhưng rốt cuộc đều có báo cáo tốt! Tuy nhiên những điều nêu trong Báo cáo này trái ngược với khen ngợi của Nguyễn Xuân Phúc vài tháng trước. Khi ông thăm công ti Samsung ở Thái nguyên đã nói là, “đời sống công nhân, người lao động ngày càng được nâng cao, trong đó công ty quan tâm đến khu ăn ở, giải trí, lao động nữ…”[85]

***

Không ai phủ nhận công ti Samsung là một trong những công ti điện tử hàng đầu trên thế giới hiện nay. Nó cũng là một trong vài công ti lớn nhất của Nam Hàn và đóng góp phần quan trọng cho sự phát triển và hưng thịnh kinh tế của nước này. Nhưng đó không phải là công lao riêng của Samsung mà còn là cả nửa triệu công nhân của công ti ở Nam Hàn và của nhân dân Nam Hàn nói chung. Trong đó không thể quên được những cuộc biểu tình của hàng trăm ngàn người phản đối chính sách bạc đãi công nhân và hối lộ của các Ban giám đốc công ti này.

Mặc dầu chế độ toàn trị ở VN giành rất nhiều đặc ân để Samsung chỉ trong vài năm trở thành nhà đầu tư FDI lớn nhất hiện nay ở VN kể cả về vốn và kim ngạch xuất khẩu. Nhưng Samsung có thực sự phục vụ phát triển kinh tế VN theo những mục tiêu đề ra của chế độ toàn trị trong việc thu hút FDI vào VN hay không? Đó là để các xí nghiệp VN cùng tham gia trong các khâu sản xuất để nâng cao trình độ kĩ thuật và quản trị, bảo vệ quyền lao động của hàng trăm ngàn công nhân và đóng góp vào sự phát triển kinh tế của VN.

Mặc dầu trong những năm gần đây Samsung ở VN đạt được lợi nhuận hàng năm nhiều tỉ Mĩ kim, phần chính là vì nhà cầm quyền ở trung ương và địa phương đã ưu đãi thuế rất cao từ xuất cảng tới nhập cảng các sản phẩm. Nhưng ngược lại số xí nghiệp tư nhân VN tham gia với Samsung có thể đếm trên đầu ngón tay. Gần 200.000 công nhân, phần lớn là phụ nữ trẻ, phải chịu những điều kiện lao động rất bất lợi, từ lương bổng tới các bảo hiểm xã hội. Nói chung là công ti tư nhân VN chỉ đứng bên lề và công nhân VN chỉ đóng vai làm gia công cho Samsung. Đây là chính sách đem con bỏ chợ của chế độ toàn trị. Nó thể hiện rõ ràng đây là chủ chương đầu cơ đầy rủi ro và rất phiêu lưu.

Những người đứng đầu Samsung nắm bắt được những nhược điểm của những người cầm đầu chế độ toàn trị CSVN là trình độ quản trị kinh tế rất yếu, nền kinh tế đang đứng trước vực thẳm, nhưng chỉ thích đề cao thành tích bề ngoài, cơ chế và cán bộ tham nhũng và bất lực. Vì thế chỉ trong ít năm Samsung đã trở thành trụ cột của kinh tế VN, hiện nay chiếm tới hơn ¼ tổng kim ngạch xuất khẩu của VN. Nhưng trong thực tế những thành công này chỉ đem lại lợi ích riêng rất lớn và rất nhanh cho Samsung. Do sự gia tăng xuất khẩu rất lớn của Samsung nên Nguyễn Xuân Phúc đã hô hoán là kinh tế VN đang phục hồi, đạt tăng trưởng cao nhất sau nhiều năm. Nhưng nếu tính toán nghiêm túc sẽ thấy Samsung không đóng góp quan trọng vào ngân sách quốc gia của VN. Vì Samsung được hưởng các ưu đãi thuế rất cao. Ngoài ra mức xuất khẩu gia tăng thì mức nhập khẩu của Samsung cũng gia tăng rất mạnh.

Tóm lại, mặc dầu những mục tiêu trong việc mời gọi Samsung đầu tư tại VN đã không đạt được, nhưng nhà cầm quyền CSVN vẫn liên tiếp giành từ ưu đãi này tới đặc quyền khác cho Samsung. Sự hoạt động càng bung ra của Samsung càng chứng tỏ có sự tiếp tay của những người có thế lực nhất trong chế độ. Chính các sự kiện này đã dẫn tới câu hỏi, tại sao trong giai đoạn Nguyễn Phú Trọng đang hô hoán đốt lò chống tham nhũng, nhưng một công ti nổi tiểng về hối lộ như Samsung -ngay cả ở chính quốc Nam Hàn- lại đang được nâng đỡ và chiều chuộng hết mức ở VN? Nguy hiểm cực kỳ khác nữa là, nền kinh tế VN đang ngày lệ thuộc nhiều mặt vào một công ti lớn nước ngoài. Điều này có thể dẫn tới những hậu quả rất nguy hại cho cả kinh tế lẫn chính trị VN! Chính sách đối với Samsung nói riêng và với các công ti FDI nói chung từ Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng tới Nguyễn Xuân Phúc không phải là mã tìm mã, nhưng đúng là ngưu tìm ngưu!

Nguyễn Phú Trọng ưu ái Formosa

Tại sao ông Trọng lại đủng đỉnh tới thăm Ban giám đốc Formosa,          

giữa lúc hàng triệu nhân dân là nạn nhân do thảm họa cá chết hoàng loạt?

Ngay từ đầu tháng 4.16 đại diện sở Nông nghiệp-phát triển nông thôn (NN-PTNT) Hà tĩnh cho biết, “cá nuôi ven biển và cá tự nhiên chết bất thường xuất hiện từ ngày 6.4 tại vùng ven biển xã Kỳ lợi và tại xã Kỳ hà, Kỳ ninh (thị xã Kỳ anh) vào ngày 7.4. Ngày 11.4, sau khi công ty Grobest tại xã Kỳ phương (thị xã Kỳ anh) cấp nước biển vào ao nuôi khoảng 6 giờ đồng hồ thì xảy ra hiện tượng tôm nuôi chết hàng loạt. Đến ngày 14.4, ngao nuôi tại 2 xã Kỳ hà và Kỳ ninh tiếp tục bị chết, gây thiệt hại khoảng 4,71 tỉ đồng”.[86] Khi ấy Phó phòng Kinh tế và đô thị thị xã Kỳ anh Nguyễn Thị Thủy cũng cho biết, “địa bàn xã Kỳ lợi xuất hiện cá chết đầu tiên nằm cách cảng Sơn dương của khu kinh tế Vũng áng khoảng 4 – 5 km, còn các xã Kỳ ninh, Kỳ hà cách Vũng áng khoảng 20 km về phía bắc thì tôm, cá chết sau đó một ngày”. [87]

Các địa danh này là khu vực nằm cạnh Khu công nghiệp Vũng áng khổng lồ của công ti Đài loan Formosa Hà tĩnh (FHS). Đến giữa tháng 4 các tin dồn dập cùng những hình ảnh nhiều loại cá lớn nhỏ chết hàng loạt rất khủng khiếp và kinh hoàng suốt mấy trăm cây số dọc duyên hải từ các tỉnh Hà tĩnh, Quảng bình, Quảng trị, Thừa thiên-Huế do chính các báo lề đảng như Tuổi trẻ, Thanh niên, Lao động, Dân trí, VTV, VNNet… phổ biến đã tràn ngập dư luận các tỉnh ven biển miền Trung làm nhân dân rất hoang mang lo lắng. Hàng chục ngàn ngư dân không dám ra biển đánh cá, người dân cả nước không dám ăn cá, dịch vụ du lịch các bãi biển miền Trung thu hút hàng triệu du khách VN và ngoại quốc lo lắng bị mất khách!

Mãi tới ngày 19.4 Tổng cục Thủy sản (Bộ Nông nghiệp – Phát triển nông thôn) mới đến Hà tĩnh kiểm tra về nguyên nhân cá chết và cho biết, “cá chết là do chất độc gây ra nhưng chưa xác định đó là chất gì”.[88] Điều này có nghĩa là phải khẩn trương nghiêm túc điều tra tiếp để tìm ra nguyên nhân gây ra nạn cá chết hàng loạt, tàn phá và hủy hoại môi trường thiên nhiên và de dọa cuộc sống của hàng triệu ngư dân và những người sinh sống bằng dịch vụ du lịch.

Giữa khi ấy báo chí đưa tin, “Tổng bí thư kiểm tra tiến độ dự án Formosa”.[89] Nhiều người nghĩ rằng, vì vừa được tái cử TBT nên Nguyễn Phú Trọng đã nhạy cảm trước nỗi lo sợ và sự bất bình của nhân dân về thăm Hà tĩnh và khu công nghiệp gang thép Formosa để thúc đẩy cuộc điều tra về vụ cá chết hàng loạt. Nhưng thật là thất vọng và sai lầm lớn, ngày 22. 4 Nguyễn Phú Trọng cầm đầu phái đoàn cao cấp của đảng và chính phủ gồm Nguyễn Văn Bình, UVBCT, Trưởng Ban Kinh tế TU; Nguyễn Văn Nên, Bí thư TUĐ, Chánh Văn phòng TU và lãnh đạo nhiều Ban, Bộ, ngành TU về thăm Hà tĩnh. Ông giành toàn thời gian tới thăm khu công nghiệp gang thép và cảng nước sâu Sơn dương Formosa Hà tĩnh. Dự án này rất khổng lồ với mức đầu tư giai đoạn 1 lên tới 10,5 tỉ USD.[90] Ban giám đốc của FHS đã hoan hỉ báo cáo cho Nguyễn Phú Trọng biết, nhà máy sản xuất thép, nhiệt điện, cầu cảng đã bắt đầu hoạt động!

Ban giám đốc FHS còn hãnh diện báo cáo với ông Trọng, từ tháng 12. 2015 FHS đã cho ra lò sản phẩm thép cuộn cán nóng đầu tiên và đến nay đã có hơn 7.000 tấn thép cuộn được xuất ra thị trường trong và ngoài nước. “Dự kiến, tháng 6. 2016 sẽ hoàn thành và đưa vào hoạt động lò cao số 1. Khi đi vào hoạt động, đây sẽ là nhà máy luyện gang thép lớn nhất Đông Nam Á tính đến thời điểm hiện nay”.[91] Nguyễn Phú Trọng và phái đoàn cao cấp rất chăm chú và ngưỡng mộ thành quả kinh doanh của FHS. Trong dịp này tuyệt đối từ Nguyễn Phú Trọng tới các nhân vật cao cấp trong phái đoàn không ai đả động một câu hỏi nào với Ban giám đốc Formosa đến thảm khốc cá chết hoàng loạt đang bùng nổ từ đầu tháng 4 khởi đầu từ cảng Sơn dương thuộc khu công nghiệp Vũng Áng của FHS khiến cho nhân dân cả nước đang lo lắng và bất bình “Cá chết trắng biển miền Trung” ![92] Ông Trọng và phái đoàn cũng không đến thăm các nạn nhân! Tại sao người cầm đầu chế độ CS vẫn vỗ ngực là bảo vệ quyền lợi người lao động, nhưng lại chẳng thèm ngó tới thảm trạng của ngư dân, trong khi ấy lại khen ngợi và vuốt ve tỉ phú Dollar nước ngoài? Chả lẽ người đứng đầu chế độ toàn trị lại không biết thảm trạng môi trường ngay chính nơi ông tới thăm đã diễn ra từ hơn ba tuần?

Chỉ một ngày sau Đinh Thế Huynh, Thường trực BBT và khi đó được coi là kế nghiệp ông Trọng, cũng có mặt tại Quảng trị, không xa Hà tĩnh. Ông đã chỉ họp với lãnh đạo Quảng trị về tình hình kinh tế, xã hội, quốc phòng-an ninh và xây dựng đảng; bàn cả việc tôn tạo, nâng cấp Khu tưởng niệm Lê Duẩn. Ông còn giành thời gian đi thăm Nghĩa trang Trường sơn. Nhưng người đứng thứ hai trong đảng cũng tuyệt nhiên không thèm đả động tới thảm trạng “Cá chết trắng biển miền Trung” và cũng chẳng thèm tới thăm hỏi dân chài, những nạn nhân ở Quảng trị sinh sống ra làm sao từ khi xẩy ra đại nạn cá chết hàng loạt![93]

Ngày 17.4 giữa lúc tiếng than và nỗi bất bình của nhân dân về “Cá chết trắng biển miền Trung”, tân TT Nguyễn Xuân Phúc đã giành chọn ngày thăm Quảng trị, nhưng cũng không có thì giờ đi thăm các nạn nhân ngư dân đau buồn, chỉ giành toàn thời gian thăm Nghĩa trang Trường sơn, Nhà lưu niệm Lê Duẩn và Thành cổ Quảng trị.[94] Việc cố tình chọn những địa chỉ trên tới thăm viếng đã cho thấy ông Phúc vẫn chỉ muốn khơi dậy hận thù giữa các tầng lớp nhân dân mặc dầu đã sau 41 năm “chiến thắng”, thay vì “hòa giải dân tộc” như những lời ngon ngọt trước đây. Ông Phúc cũng cố quên lời khuyên chân thành và thực tế của cố TT Võ Văn Kiệt là, kỉ niệm ngày “giải phóng”“có hàng triệu người vui, nhưng cũng có hàng triệu người buồn”!

Trước nỗi bất bình và lo âu của nhân dân cả nước, vì đâu mà nạn cá chết diễn ra từ cảng Sơn dương của khu kinh tế Vũng áng thuộc Formosa suốt gần ba tuần mà vẫn không tìm ra được nguyên nhân; ngày 25.4 tờ Tuổi trẻ đã có cuộc phỏng vấn ông Chu Xuân Phàm, Trưởng văn phòng Formosa tại HN, về vụ cá chết hàng loạt bắt đầu từ bờ biển Khu công nghiệp Formosa. Ông Phàm đã trả lời thẳng băng:

“Trước khi xây dựng dự án này thì công ty phải xin phép Nhà nước VN. Nhiều khi được cái nọ mất cái kia, đây là tôi nói thật lòng. Hôm nay nhà nước mình muốn cho ngư dân đánh bắt ở đây hay là chọn cái nhà máy thép ở đây, đương nhiên Nhà nước phải có sự cân nhắc. Nếu xả thải thì đương nhiên sẽ thay đổi sinh học ở đây, ở vùng biển quanh đây. Nhưng bây giờ mà nói tôi không thể xây dựng nhà máy thép ở đây mà không ảnh hưởng đến con cá, con tôm. Đương nhiên mình cố gắng làm một nhà máy đạt được tiêu chuẩn quy định của nhà nước. Có khi được cái này thì phải mất cái kia chứ”. Rồi ông đưa ra kết luận rất tỉnh bơ và đầy thách thức, coi việc hàng triệu nhân dân miền Trung đang bị điêu đứng không đáng quan tâm bằng sự tồn tại của Formosa: “Muốn bắt cá, bắt tôm hay nhà máy, cứ chọn đi. Nếu chọn cả hai thì làm Thủ tướng cũng không giải quyết được…”[95]

Tại sao Trưởng văn phòng Formosa tại HN đã có những phát biểu rất phách lối, khiêu khích gây sốc như vậy khi trả lời phóng viên Tuổi trẻ vào sáng 25-4? Có phải chính thái độ rất thờ ơ của TT, vô cảm trước hàng trăm ngàn nạn nhân của tai nạn cá chết hàng loạt; đặc biệt là sự ưu ái tới thăm Ban giám đốc Fomosa ngày 22.4 của Nguyễn Phú Trọng, người cầm đầu chế độ toàn trị, làm họ tin rằng, họ có chỗ chống lưng rất vững chắc, không chỉ ở HN mà còn cả BK nên chẳng ai có thể làm gì Formosa được?

Từ sau trận đánh ngã “Đồng chí X” ông Trọng đang trở thành người hùng nên ai cũng sợ? Vì thế không thèm nhắc tới đại nạn “Cá chết trắng biển miền Trung”, lại đủng đỉnh tới thăm Ban giám đốc Formosa. Thử hỏi như thế thì bọn quan cấp dưới bố bảo không dám nêu đích danh Formosa ra tố. Chính vì thế, Vụ phó Vụ Nuôi trồng thủy sản, bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Phạm Khánh Ly cho biết, “đoàn công tác không vào kiểm tra tại khu công nghiệp Vũng áng được, vì đây là khu công nghiệp có yếu tố nước ngoài, đoàn không có thẩm quyền”.[96] Như vậy Ban giám đốc Formosa đã coi khu công nghiệp của mình giống như sứ quán của một nước bất khả xâm phạm.[97] Họ cho ai vào, làm gì, làm đến đâu trong các công xưởng của họ là quyền riêng của họ. Các cơ quan điều tra của VN nếu có vào cũng chỉ làm những gì họ cho phép mà thôi! Chính vì thế Formosa đã dám nói công khai, “không có bất cứ bằng chứng nào chứng tỏ sự liên can” của công ty trong vụ việc này, và giới chức VN đã “liên tục vào bên trong công xưởng tiến hành kiểm tra hệ thống xử lý nước thải, lấy mẫu nước thải” kể từ 22.4 tới nay, tức là sau chuyến thăm của Nguyễn Phú Trọng!

Chính vì vậy chỉ một ngày sau khi Nguyễn Phú Trọng thăm Formosa, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Vũ Văn Tám cũng nói giống như tin trên đây của Ban giám đốc Formosa. Ông cho biết về kết quả kiểm tra bước đầu, nguyên nhân do môi trường nước, qua phân tích mẫu những chỉ số thì không có gì bất thường trừ một số mẫu ở Huế mang tính cục bộ.[98] Tuyên bố này hoàn toàn ngược lại với nhận định của Sở Nông nghiệp-Phát triển nông thôn Hà tĩnh vào đầu tháng 4 cho biết, “hiện tượng cá nuôi ven biển và cá tự nhiên chết bất thường xuất hiện từ ngày 6.4 tại vùng ven biển xã Kỳ lợi và tại xã Kỳ hà, Kỳ ninh (thị xá Kỳ anh) vào ngày 7.4”. Và cũng trái với sự xác nhận của Phó phòng Kinh tế và đô thị (Kỳ anh) Nguyễn Thị Thủy “địa bàn xã Kỳ Lợi xuất hiện cá chết đầu tiên nằm cách cảng Sơn Dương của khu kinh tế Vũng Áng khoảng 4 – 5 km, còn các xã Kỳ ninh, Kỳ hà cách Vũng áng khoảng 20 km về phía bắc thì tôm, cá chết sau đó một ngày” -như nói ở trên!

Lí do quan trọng khác khiến đại diện Formosa tại HN dám phát biểu khiêu khích “gây sốc” ngày 25.4 là có lẽ họ tin rằng, có cả BK đứng đằng sau. Formosa Hà tĩnh tuy là công ti Đài loan, nhưng trong những năm gần đây tuyển chọn công nhân nước ngoài phần rất lớn là từ TQ. Ngoài ra vốn đầu tư của Formosa mẹ từ Đài loan đang giảm mạnh và nhường cho một số công ti từ TQ. Khi giàn khoan HD 981 xâm nhập trái phép thềm lục địa VN vào giữa 2014 đã xẩy ra va chạm lớn khiến hàng ngàn công nhân TQ đã phải bỏ về nước, nhưng sau đó Nguyễn Phú Trọng đã phải xin lỗi Tập Cận Bình và số công nhân này lại trở lại Formosa làm việc (xem Chương bẩy, IV). Về mặt an ninh quốc phòng, khu vực Vũng áng Hà tĩnh nằm đối diện không xa đảo Hải nam của TQ. Trong kế hoạch bành trướng công khai ngang ngược của BK trên biển Đông thì khu công nghiệp Vũng áng Formosa có thể trở thành tay trong cực kỳ quan trọng khi tình thế cho phép BK ra tay!

Sau phát ngôn gây chấn động, Chu Xuân Phàm đã bị Formosa sa thải để làm dịu dư luận. Nhưng nội dung lời phát biểu của cựu đại diện Formosa đã tự để lộ những hoạt động của công ti này không thèm đếm xỉa gì tới luật pháp VN, vì tin rằng đã có chân trong ủng hộ đang giữ những chức cao nhất. Dùng sức mạnh tiền bạc nhiều tỉ USD trong vài năm vừa qua Formosa có thái độ phách lối và cách hoạt động như kiểu quốc gia trong một quốc gia: “Nếu xả thải thì đương nhiên sẽ thay đổi sinh học ở đây, ở vùng biển quanh đây”, “có khi được cái này thì phải mất cái kia chứ”, “muốn bắt cá, bắt tôm hay nhà máy, cứ chọn đi!” Rõ ràng với tuyên bố trên Formosa đã gián tiếp thừa nhận, thời gian qua Formosa đã xả nước thải với những hóa chất có chất độc cực mạnh làm tàn phá môi sinh trên biển.

Theo tờ Tuổi trẻ thì Tổng cục môi trường xác nhận là, “Formosa có vi phạm khi thực hiện việc súc xả đường ống nhưng không thông báo cho địa phương”. Ngày 25.4 báo này còn liệt kê 45 loại hóa chất Formosa nhập cảng để súc rửa đường ống. Vẫn theo Tuổi trẻ, “GS,TS Lê Huy Bá (chuyên gia độc học môi trường) cho biết nhận định ban đầu của ông về danh sách các loại hóa chất được sử dụng tại Formosa gồm nhiều chất độc và cực độc. Trong đó có các chất chống gỉ, chất làm sạch bề mặt kim loại, chất tẩy”. “Theo quy định, khi súc xả đường ống, Formosa có trách nhiệm phải thông báo cho địa phương việc súc xả đường ống diễn ra từ thời điểm nào tới thời điểm nào, nhưng Formosa không thông báo, cũng không báo cáo các cơ quan ở địa phương về việc súc rửa đường ống”.[99] Tờ VNNet còn cho biết, “1 thợ lặn Formosa tử vong, 5 người nhập viện” khi lặn xuống biển nơi đường ống của Formosa dẫn ra.[100] Tập đoàn Formosa xuất thân từ Đài loan với vốn đầu tư nhiều tỉ USD cũng đã từng vi phạm pháp luật ở nhiều nơi trên thế giới. Ngay ở Đài loan Tập đoàn này cũng đã bị phạt vì gây thiệt hại môi trường. “Chẳng hạn hồi tháng 7.2010, Formosa bị cho là “gây ô nhiễm không khí vùng miền Trung Đài loan” sau một vụ cháy công nghiệp tại nhà máy ở Mai Liao của họ”.[101]

***

Trong khi nhiều cơ quan chính quyền địa phương ngay trong những ngày đầu đã đưa ra những nhận định khá rõ ràng về nguyên nhân đưa đến đại nạn làm cá chết hàng loạt, nhưng suốt trên ba tuần nhiều bộ trưởng, thứ trưởng không chỉ trốn tránh không thực hiện trách nhiệm điều tra nghiêm túc và minh bạch, lại còn tìm cách bao che cho Formosa, hoặc đưa ra những tin và lập luận rất mâu thuẫn nhau, thậm chí cực kỳ ngớ ngẩn. Ba tuần sau đến lượt cá biển ở khu Bình trị thiên-Huế bị chết, tờ Công an nhân dân ngày 26.4 đưa tít “Nước biển vùng cá chết được xác định nhiễm kim loại nặng”: “Chiều 26-4, Sở Tài nguyên&Môi trường tỉnh Thừa thiên- Huế đã có kết quả phân tích mẫu nước lấy tại khu vực đầm Lập an, cửa biển Lăng cô (thị trấn Lăng cô, huyện Phú lộc) vào thời điểm xuất hiện cá chết tràn lan…Riêng các thông số gồm tổng hàm lượng nitơ tính theo amoni (NH4+-N), hàm lượng kim loại nặng crôm (Cr) vượt giới hạn cho phép của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước biển cũng như quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặn. Theo đánh giá ban đầu của cơ quan chức năng tỉnh Thừa thiên- Huế, khả năng chất độc trong môi trường nước gây sự cố cá chết hàng loạt xuất hiện từ vùng biển phía Bắc của tỉnh”.[102]

Nhưng trong cuộc họp báo tối 27.4 thứ trưởng bộ Thiên nhiên và môi trường Võ Tuấn Nhân đã làm trên 200 nhà báo lề phải vừa thất vọng, vừa rất bất bình về thái độ vô trách nhiệm và lấp liếm. Sau cuộc họp kín nhiều tiếng đồng hồ của đại diện nhiều bộ và cơ quan do bộ trưởng Bộ Tài nguyên-môi trường Trần Hồng Hà chủ trì, khiến các nhà báo phải chờ đợi đến cả nửa ngày. Nhưng cuối cùng Trần Hồng Hà đã đẩy thứ trưởng Tài nguyên&Môi trường Võ Tuấn Nhân mở “Buổi họp báo chỉ diễn ra trong 6 phút”. Trong đó ông khẳng định “Formosa vô can”. [103] Sau khi đưa ra 2 giả thuyết về nguyên nhân làm cá biển chết hàng loạt (hóa chất độc và “hiện tượng thủy triều đỏ”), ông Nhân khẳng định: “Đến nay, qua kiểm tra và thu thập chứng cứ, chưa có bằng chứng để kết luận về mối quan hệ liên quan của Formosa và các nhà máy đến vấn đề cá chết hàng loạt. Qua số liệu quan trắc và đánh giá của cả các cơ quan nghiên cứu khoa học, cơ quan quản lý nhà nước có liên quan, môi trường nước biển chưa phát hiện các thông số môi trường vượt quy chuẩn quy định”.[104] Sau đó ông Nhân chuồn mất!

Trong cuộc gặp riêng Võ Tuấn Nhân, tờ Thanh niên đã tường thuật câu hỏi và trả lời của Thứ trưởng này bảo vệ cho Formosa thật là kì lạ:

“ Thưa ông, trong 2 nhóm nguyên nhân thì nhóm thứ nhất nói có thể do độc tố thải ra từ hoạt động của con người, vậy cụ thể độc tố là gì? Có độc tố nào trùng với hơn 40 loại hóa chất mà Formosa được phép nhập khẩu vào VN để súc rửa đường ống không ?

– Chúng tôi chưa phát hiện ra…- Tôi xin khẳng định, về mặt pháp luật, họ vẫn hoạt động đúng theo pháp luật nước ta. Về mặt xả ra môi trường, liên quan đến hiện tượng cá chết hàng loạt ở các tỉnh ven biển miền Trung, đến nay chưa đủ căn cứ để kết luận.

Ông có thể cho biết kết quả phân tích mẫu nước và mẫu cá của Bộ?

– Cái này nói ra phải có căn cứ giấy tờ cụ thể, rất dài, rất nhiều thông số”.[105]

Trong khi giữ thái độ câm và điếc không thông tin chính xác và nguội lạnh trước những bức xúc của nhân dân cả nước, nhưng Võ Tuấn Nhân lại rất thính tai và năng động trước câu hỏi của một nữ phóng viên về tin không tốt cho chế độ, về nguy cơ ngành du lịch có thể bị tê liệt và yêu cầu bà tắt máy ghi âm. Bà hỏi:

“Thưa ông, trong cái kiểm nghiệm gần đây nhất của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thừa thiên – Huế, chỗ có một loạt các bè cá chết, thì họ có nói trong nước kiểm nghiệm ra có kim loại nặng. Vấn đề ở đây là trong thời gian tới, chúng tôi muốn là mình có thể trong một thời gian ngắn, vì mùa du lịch sắp tới rồi, mà cá thì…”

“Nghe tới đây, ông Võ Tuấn Nhân liền khoát tay ra hiệu dừng lại và nói: “Tắt máy. Tắt máy nghe. Xin lỗi. Không, không, để anh nói riêng với em. Đừng hỏi câu đó. Hỏi câu đó tổn hại cho đất nước của mình. Nhá. Em hỏi câu đó làm tổn hại cho đất nước của mình”.[106]

Không chỉ trên 200 nhà báo lề phải hoàn toàn thất vọng về “cuộc họp báo 6 phút” của thứ trưởng Tài nguyên&Môi trường Võ Tuấn Nhân mà nhiều nhà khoa học cũng đã kịch liệt chỉ trích những lời tuyên bố rất lếu láo của ông. GS-TS Vũ Trọng Hồng, nguyên thứ trưởng Bộ Thủy lợi, nói thẳng: “bộ Tài nguyên-Môi trường là cơ quan chức năng được nhà nước giao nhiệm vụ, nhưng kết luận như vậy là không hợp logic diễn biến của vụ việc”.

Nhưng ngày hôm sau trong cuộc họp nội các giả thuyết “thủy triều đỏ” bị bác bỏ. Có lẽ trước sự bất bình ngày càng mãnh liệt của nhân dân về cuộc “Họp báo 6 phút” tối trước, nên TT Nguyễn Xuân Phúc đã vội vàng để bộ trưởng Tài nguyên&Môi trường Trần Hồng Hà phải bay ra Hà tĩnh ngày 28.4 thị sát viêc xả thải của Formosa để nhằm xoa dịu dư luận. Tại đây Trần Hồng Hà đã tuyên bố, “pháp luật VN không chấp nhận việc đặt ống ngầm xả thải”. Như thế ông đã phủ nhận lời của người dưới quyền ông là Thứ trưởng Võ Tuấn Nhân chỉ vài ngày trước. Ngoài ra ông Hà còn nhận khuyết điểm để cuộc điều tra chậm chạp…[107]

***

Tại sao mới chỉ vài năm trước Nguyễn Phú Trọng đã trách móc và rao giảng “đạo đức cách mạng” tại Hội nghị Cán bộ toàn quốc với sự tham dự của trên 1000 cán bộ cao cấp ngày 27.2.12: “ Bây giờ trong Đảng cũng có sự phân hóa giàu – nghèo, có những người giàu lên rất nhanh, cuộc sống cách xa người lao động; liệu rồi người giàu có nghĩ giống người nghèo không? “ và “ người sống trong lâu đài nghĩ khác người ở trong nhà tranh”., “mai kia Đảng này sẽ là đảng của ai?”[108]

 Nhưng chỉ trong vài năm ngồi trong lâu đài quyền lực và hưởng thịt, cá loại ngon, sạch không phải trả tiền, nên lòng Nguyễn Phú Trọng đã nguội lạnh, vô cảm trước ngư dân thất nghiệp chịu cảnh đói rách vì thảm họa cá biển và nhân dân nhiều nơi có thể bị ăn cá và mắm độc. Chẳng những thế ông vẫn đủng đỉnh tới thăm Ban giám đốc tỉ phú Dollar Formosa Hà tĩnh và khen ngợi cách làm ăn của họ, chẳng thèm đoái hoài tới tiếng than ngất trời của dân lành, mặc dầu gần một tháng vẫn không có cơ quan nào của đảng lẫn nhà nước tìm ra nguyên nhân cá chết hàng loạt!

Trong một xã hội pháp trị theo Dân chủ đa nguyên thì khi một cá nhân, tổ chức hay xí nghiệp đang bị điều tra, người có trách nhiệm trong nhà nước không được phép có những hành động gây cản trở hoặc can thiệp công cuộc điều tra. Trong vụ cá chết hàng loạt ở duyên hải nhiều tỉnh miền Trung từ đầu tháng 4 và tập đoàn Formosa đang trở thành đối tượng điều tra của các cơ quan có thẩm quyền. Nhưng người cầm đầu chế độ là TBT Nguyễn Phú Trọng đã cố tình lại thăm và gặp Ban giám đốc Formosa ngày 22.4 và còn khen ngợi thành quả kinh doanh của công ti Đài loan này. Như thế Nguyễn Phú Trọng đã lợi dụng uy quyền riêng để cản trở, làm đình hoãn cuộc điều tra và còn tạo cơ hội để Formosa xóa sạch các tang chứng !

Trong dịp này nhiều tổ chức, nhân sĩ và chuyên viên đã công khai lên tiếng:

“Đây là một tệ nạn chính trị hết sức kinh tởm. Vụ Formosa bộc lộ rõ ràng thói vô cảm và vô trách nhiệm của nhà cầm quyền CS đối với lợi ích quốc gia, cuộc sống dân lành. Nó cũng cho thấy sự bất lực và chậm chạp của cả một hệ thống quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương trước một quốc nạn có tầm mức to lớn chưa từng thấy. Sự chậm trễ ấy đã tạo điều kiện cho nghi can kịp xoá hết dấu tích tội lỗi. Nó cũng hé lộ nhiều thế lực bao bọc nghi can, che giấu sự thật, đánh lừa dư luận qua những phát ngôn đầy hàm ý hay cố mập mờ của một số quan chức cấp bộ lẫn tỉnh và nhất là qua hành vi ủy lạo tinh thần hà hơi tiếp sức của người đứng đầu đảng Cộng sản đối với tập đoàn Formosa đầy thành tích bất hảo”.[109]

Những ngày Chủ nhật trong tháng 5 nhân dân các giới -đi đầu là trí thức, thanh niên và đảng viên tiến bộ- đã xuống đường ở HN, Sài gòn và nhiều nơi khác đòi “Trả lại biển xanh cho chúng tôi, chúng tôi chọn tôm cá”. Mọi người đang đồng thanh đòi:

– Nhân dân muốn biết rõ nhanh và công khai thủ phạm đã gây ra thảm trạng cá chết hàng loạt. Phải chấm dứt ngay những nguyên nhân gây ra thảm họa môi trường!

– Bồi thường thiệt hại cho ngư dân và các cơ sở du lịch!

– Công khai các cơ quan và cá nhân nào đã cố tình làm chậm, làm sai, đánh lạc dư luận và phải chịu trách nhiệm trực tiếp trước nhân dân!

***

Sau thảm trạng môi trường 4 tỉnh miền Trung ba tháng, nhưng tại HNTU 3 vào đầu tháng 7.2016 trong suốt 5 ngày họp đã không có nói tới chủ đề cực kỳ nóng bỏng này. Mặc dầu đây là thảm họa môi trường lớn nhất ở VN, gây thiệt hại sức khỏe, tài sản và môi trường sống trực tiếp cho hàng triệu người dân bốn tỉnh Hà tĩnh, Quảng bình, Quảng trị và Thừa thiên-Huế; đồng thời còn tạo những nguy hại lâu dài về nhiều mặt cho nhân dân cả nước. HNTU này diễn ra sau khi Ban giám đốc Formosa công khai xin lỗi trong cuộc họp báo ngày 30.6. và nhận bồi thường 11.500 tỉ đồng, tương đương 500 triệu USD.[110] Nhưng ở đây Formosa không chỉ là thủ phạm duy nhất, vì nhiều cơ quan Đảng và Nhà nước đã cấp giấy phép đầu tư, hoạt động và kiểm soát công ti Formosa cũng đều là thủ phạm. Vì chính các cơ quan này đã lơ là và vô trách nhiệm trong các lãnh vực phụ trách, nên đã để cho Formosa làm ăn như một vua con trong vùng. Trong cuộc họp báo ngày 30.6 các Bộ trưởng đã cố tình tránh né không làm rõ cơ quan và người phải chịu trách nhiệm.[111]

Trong khi ấy các cuộc biểu tình của nhiều giới vào ba cuối tuần từ đầu tháng 5.16 với các khẩu hiệu “Cá cần nước sạch”, “Nước cần minh bạch” đã bị công an mật vụ chế độ toàn trị ngăn cấm, đàn áp và chụp mũ. Trong cuộc họp báo ngày 30.6 lần đầu tiên các quan chức hiện diện xác nhận, Formosa là thủ phạm gây ra thảm trạng môi trường ở miền Trung; nhưng cùng lúc họ lại vẫn kết án gay gắt những cuộc biểu tình của nhân dân đòi Formosa phải sớm công khai minh bạch về nguyên nhân dẫn tởi thảm trạng môi trường. Dịp này Trương Minh Tuấn, Bộ tưởng 4 T vẫn chụp mũ: “Tôi cũng nói thẳng rằng, có thế lực thù địch đã lợi dụng tình trạng cá chết này để công kích sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, thậm chí kích động để gây mất trật tự công cộng, gây bất an trong nhân dân”.[112]

Mãi hơn nửa năm sau thảm trạng môi trường 4 tỉnh miền Trung, ngày 17.10.16 trước các “đại biểu cử tri” tại Ba đình, Hoàn kiếm, tức những đảng viên ngoan ngoãn chỉ biết xu nịnh và bốc thơm, Nguyễn Phú Trọng đã không sợ bị chất vấn nên đã bộc lộ:

“Trước kia chúng ta kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu, nên bây giờ chúng ta phải trả giá”.[113]

Lời xác nhận trên của người cầm đầu chế độ toàn trị đã nhìn nhận cung cách suy nghĩ, quyết định và hành động công việc nước theo lối ăn xổi ở thì, bóc ngắn cắn dài, xuất phát từ bệnh kiêu ngạo quyền lực, không cần nghe ý kiến của các chuyên viên cũng như nhân dân. Lời xác nhận này có khác nào như người chủ nhà đã xây nhà mà không xây cầu tiêu, không lập hệ thống dẫn nước thải! Xây nhà máy sản xuất thép không tính tới chất thải độc hại! Xây hàng trăm đập thủy điện không tính tới việc đồng ruộng mất nước, nhân dân thiếu nước sinh hoạt, nhưng khi mưa lũ lại trở thành đại họa cho nhân dân! Bất kể tới lời can ngăn của cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhiều tướng lãnh và chuyên viên những người cầm đầu chế độ toàn trị đã cho BK xây các nhà máy khai thác Bauxit ở Tây nguyên từ năm 2009 bất kể tới hậu quả môi trường và an ninh quốc phòng! Nay tới Formosa!

Đây là sự thông minh hay chính là sự ngu dốt và thái độ kiêu ngạo quyền lực của Nguyễn Phú Trọng và các đại quan đỏ trong BCT? Chính Phạm Văn Đồng, TT đầu tiên và lâu đời nhất của chế độ toàn trị đã phải nhìn nhận là, sự ngu dốt và thái độ kiêu ngạo quyền lực của những người cầm đầu đã gây ra những hậu quả thảm khốc cho nhân dân trong giai đoạn đó.

Tình trạng này hiện nay còn tệ hại hơn, ngay Nguyễn Phú Trọng đã phải nhìn nhận! Ông Trọng còn nói “bây giờ chúng ta phải trả giá”. Nhưng “chúng ta” ở đây là ai? Có phải Nguyễn Phú Trọng và các đại quan trong BCT và TUĐ đang sống vương giả và ngồi trong những biệt thự an toàn ? Chính thái độ ăn xổi ở thì và bệnh kiêu ngạo quyền lực của họ đã dẫn tới công ti Formosa gây thảm họa môi trường cho bao nhiêu triệu nhân dân bốn tỉnh miền Trung từ đầu tháng 4. 2016 và đang phải hứng chịu cảnh thất nghiệp, bệnh tật và đói nghèo. Họ chia sẻ sự cơ hàn với nhân dân như thế nào?

Khi thảm họa môi trường do Formosa gây ra sau mấy tuần hàng triệu nhân dân điêu đứng lo âu, nhưng TT Nguyễn Xuân Phúc, Thường trực BBT Đinh Thế Huynh khi đi qua những vùng này vẫn ngoảnh mặt làm thinh; còn người cầm đầu chế độ toàn trị Nguyễn Phú Trọng lại đủng đỉnh tới thăm hỏi và khen ngợi Ban giám đốc Formosa và chẳng thèm màng tới nạn nhân của Formosa! Còn Chủ tịch nước Trần Đại Quang thì trước sau vẫn im thin thít. Trong buổi QH khai mạc Kì họp thứ 2 ngày 20.10.16 Ủy viên BCT, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) -cánh tay dài của ĐCS- Nguyễn Thiện Nhân cho biết, “đến nay vẫn chưa có cơ quan, tổ chức và cá nhân nào trong hệ thống quản lý Nhà nước có liên quan đứng ra nhận lỗi và chịu trách nhiệm”.[114] Mặc dầu Nguyễn Xuân Phúc vẫn lớn tiếng là “Chính phủ phục vụ”! Rõ ràng là thái độ cao ngạo quyền lực từ cấp lãnh đạo trở xuống!

Nếu tứ trụ Nguyễn Phú Trọng, Trần Đại Quang, Nguyễn Xuân Phúc và Nguyễn Thị Kim Ngân thực tình nghiêm túc với chính mình, khi đối chiếu với những tiêu chuẩn cao vòi vọi để chọn lựa cán bộ cao cấp mà chính họ đã đưa ra trong HNTU 11 (5.15) thì chính họ phải thấy hết sức rõ ràng là, họ đã hoàn toàn vô trách nhiệm trước thảm họa môi trường do Formosa gây ra!

“Kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu!” Lời nhìn nhận trên của TBT Nguyễn Phú Trọng có tầm quan trọng đặc biệt. Nó bạch hóa lối suy nghĩ cực kỳ thiển cận và phong thái hành động vô trách nhiệm của những người có quyền lực cao nhất trong chế độ toàn trị khi quyết định mời gọi các công ti nước ngoài đầu tư vào VN. Đây là những quyết định ở cấp cao nhất là BCT và BBT và được sự cố vấn của các Ban trong đảng và các Bộ trong CP. Các quyết định liên quan tới chương trình FDI nói chung, đặc biệt các công trình FDI có vốn đầu tư cao mang tầm vóc chiến lược, không chỉ có ý nghĩa thuần kinh tế, mà nó còn liên hệ trực tiếp tới nhiều lãnh vực chính trị, an ninh-quốc phòng, kĩ thuật, môi trường và sức khỏe của nhân dân.

Nhưng khi để Formosa đầu tư cả chục tỉ USD vào VN, Bộ chính trị đã quyết định theo tiêu chuẩn nào? Nguyễn Phú Trọng đã trả lời: “Kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu”. Như vậy là các tỉ Dollar đã làm họ chóa mắt, nên đã vội vàng nhắm mắt bỏ qua các yếu tố cực kỳ quan trọng khác là an ninh-quốc phòng, kĩ thuật, môi trường và sức khỏe của nhân dân. Như vậy khi quyết định mời Formosa vào đầu tư, những người có quyền lực trong BCT đã đặt sự tồn tại của chế độ và cái ghế của chính họ, ích kỉ cá nhân lên hàng đầu. Chỉ mong càng có nhiều Dollar vào càng nhanh càng tốt! Chương trình FDI là một chủ trương rất lớn được đề cao trong các ĐH đảng, nhưng trong thực hành thì BCT đã vô trách nhiệm cùng cực, hoàn toàn không có một kế hoạch đúng đắn và khoa học để tạo những lợi ích thực sự cho đất nước và tránh những hậu quả tai hại cho nhân dân. Chính điều này người cầm đầu chế độ toàn trị Nguyễn Phú Trọng đã công khai xác nhận như trên!

Nay trong khi hàng triệu người dân phải hứng chịu hậu quả do thảm họa môi trường, phải trả giá bằng thất nghiệp, bệnh tật mà nguyên do từ những quyết định sai lầm và thái độ cực kỳ vô trách nhiệm của BCT, đứng đầu là Nguyễn Phú Trọng. Nhưng khi nhân dân đòi những người có quyền lực đã tiếp tay gây ra thảm họa môi trường phải có những chính sách đền bù thích đáng và biện pháp nghiêm khắc với Formosa, thì bọn quan độc ác này đã không biết ăn năn, không chịu xin lỗi, lại còn cho báo chí và chính quyền địa phương chụp mũ xuyên tạc, cho công an ngăn cản và đe dọa “không bảo đảm an ninh cho người đi khiếu kiện”[115] Chẳng những thế Nguyễn Phú Trọng còn để công an giam giữ và tòa án nhân dân bỏ tù nhiều người đi biểu tình! Họ phục vụ đất nước, bảo vệ quyền lợi nhân dân, hay đã tự chuyển biến xấu chỉ lo phục vụ quyền lợi riêng cho chính mình, nên đã sẵn sàng bảo vệ các nhà đại tư bản nước ngoài? Nếu còn lương tâm có lẽ ông Trọng nên đọc bài thơ của cô giáo Trần Thi Lam ở Hà Tĩnh đã sáng tác vào dịp này: “Đất nước mình ngộ quá phải không anh?”

“Đất nước mình buồn quá phải không anh

 Biển bạc, rừng xanh, cánh đồng lúa biếc

 Rừng đã hết và biển thì đang chết

 Những con thuyền nằm nhớ sóng khơi xa..”.

http://nhathothaiha.net/wp-content/uploads/2016/04/dat-nuoc-minh-ngo-qua-phai-khong-anh-tin8-5.jpg

Chỉ trong 20 câu thơ không chỉ trách móc những người có trách nhiệm với đất nước đã làm cho nhân dân phải đói khổ, nhục nhằn, môi trường bị tàn phá, còn bị khinh rẻ và đàn áp. Bài thơ còn nhắc nhở mỗi cá nhân, trước những nguy vong của đất nước phải can đảm cùng nhau gánh vác trách nhiệm làm thay đổi tình hình. Bài thơ “Đất nước mình ngộ quá phải không anh?” là lời gọi rất chân thành và thúc giục mọi người, mọi giới hãy can đảm cùng nhau lên đường làm nhiệm vụ của người công dân VN là làm lại lịch sử, đưa dân tộc ta tới quang vinh trong Thế kỉ 21!

  1. Mô hình phát triển theo “Kinh tế Thị trường

             định hướng Xã hội chủ nghĩa”

Kết quả thực tiễn: Doanh nghiệp Nhà nước thua lỗ, lãng phí nguồn ODA,         bùng nổ nợ công, tham nhũng và lợi ích nhóm

Trong suốt thời kì từ 1986 tuy đề cao là “đổi mới” trong kinh tế, nhưng sợi chỉ đỏ trong các lãnh vực công nghiệp trước sau vẫn là DNNN. Trước đây thường được gọi là Quốc doanh. Nay vì tình thế bất đắc dĩ nên phải nhìn nhận sự hiện diện của các loại kinh tế tư nhân VN và FDI; tuy nhiên trước sau hệ thống DNNN được xếp vào thành phần tối ưu và giữ trọng trách “chủ đạo”, tức là làm nền tảng cho các hoạt động kinh tế. Chính sách này có thể ví như một con bạch tuộc. Trong thời hùng mạnh nó vươn các chân tới mọi hang cùng ngõ hẻm, nay yếu sức nên phải rút chân ra một số nơi, nhưng vẫn quyết bám chặt ở những địa bàn hiểm yếu. Cách thay đổi nhỏ giọt và trong điều kiện ngặt nghèo như thế thể hiện tư duy và tâm lí vẫn như cũ của một số người có quyền lực liên quan tới các hoạt động kinh tế. Ở đây là chủ nghĩa Marx đầy thành kiến đối với các sinh hoạt kinh tế của tư nhân, đặc biệt thành phần tư bản. Ở đây cũng là tuân thủ tư tưởng giành và giữ quyền lực độc quyền cho ĐCS của Lenin đã thực hiện ở Nga và Liên Xô cũ trước đây và được HCM vận dụng vô điều kiện trong việc cướp và giữ chính quyền độc quyền cho ĐCS từ 1945. Điều này phản ảnh tâm lí không tin dân và không dám nhìn nhận những thành công không thể chối cãi của nhiều quốc gia đã từ bỏ các DNNN và trao lại các hoạt động kinh tế cho nhân dân.

Căn cứ vào các Nghị quyết của các ĐH và các Luật về DNNN, hệ thống DNNN có nhiệm vụ vừa hướng dẫn vừa kiểm soát toàn bộ sinh hoạt kinh tế và trực tiếp dưới quyền lãnh đạo của ĐCS, trong thực tế là BCT và BBT. Các bộ và cơ quan của CP có nhiệm vụ thi hành các quyết định của BCT trong các DNNN. Nhờ vậy, hệ thống DNNN giữ vai trò như một bộ máy tuần hoàn trong cơ thể truyền dinh dưỡng, dưỡng khí và máu cho các bộ phận. Nó còn giữ nhiệm vụ cực kỳ quan trọng là định hướng và kiểm soát nền kinh tế trong cái khung của một chế độ toàn trị. Muốn như vậy thì hệ thống DNNN phải nắm các động mạch chính của nền kinh tế-tài chánh. Như hệ thống ngân hàng, các lãnh vực công nghiệp liên quan tới quốc phòng, an ninh như truyền thông (báo chí, điện thoại…), chế tạo vũ khí, khai thác quặng mỏ, dầu khí, xây dựng các hạ tầng cơ sở như đường xá, cầu cống, phi trường, hải cảng và các trung tâm điều phối nông, lâm, thủy sản…

Mục tiêu và quan điểm này đã được trình bày trong nhiều ĐH từ 1986. Nó thể hiện rõ hơn trong ĐH 8 (1996) khi họ đưa ra chủ trương đầy tham vọng là, công nghiệp hóa, hiện đại hóa với kinh tế tri thức để “đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp”. [116] Đặc biệt nó được định nghĩa và xác định lãnh vực hoạt động rất rõ ràng trong Báo cáo Chính trị tại ĐH 9 (2001):

“Kinh tế nhà nước phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Doanh nghiệp nhà nước giữ những vị trí then chốt; đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế – xã hội và chấp hành pháp luật”.[117]

Những người cầm đầu Đảng khi ấy đã đưa ra tham vọng rất cao là, KTNN không chỉ giữ “chủ đạo” trong việc tạo mặt vật chất làm phương tiện thiết yếu để bảo vệ chế độ; cả về mặt chất lượng và đạo đức nghề nghiệp, các DNNN còn là những đơn vị kinh tế có trình độ công nghệ kĩ thuật hàng đầu, năng suất lao động cao và tạo ra được những sản phẩm có chất lượng tốt. Không những thế, vẫn theo tham vọng của họ, sự hoạt động của các DNNN không chỉ đem lại sự phồn vinh cho xã hội mà còn làm gương mẫu trong việc “chấp hành pháp luật”! Họ đã vẽ ra một bức tranh tuyệt vời về Kinh tế Nhà nước (KTNN) xuyên qua các DNNN! Khi nuôi tham vọng cực kỳ cao này họ đã ngủ mơ, nhưng cũng có thể họ đã quá tự tin theo tâm lí kiêu ngạo CS, bất kể các qui luật khoa học và bất chấp cả những kinh nghiệm thất bại từ các mô hình Nhà nước làm kinh tế trong thời kì trước đây ở VN cũng như ở nhiều nước CS trước đây.

Để thực hiện giấc mộng kê vàng này, trong ĐH 9 họ quyết định thành lập các Tập đoàn kinh tế từ sự sát nhập các Tổng công ti và công ti DNNN:

“Trong 5 năm tới, cơ bản hoàn thành việc củng cố, sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động các doanh nghiệp nhà nước hiện có, đồng thời phát triển thêm doanh nghiệp mà Nhà nước đầu tư 100% vốn hoặc có cổ phần chi phối ở một số ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng. Xây dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế”. [118]

Mô hình Tập đoàn kinh tế bắt chước các Cheabol của Nam Hàn. Có lẽ ý tưởng này được thành hình sau các cuộc đi thăm Nam Hàn của nhiều chính trị gia cấp cao của đảng, đặc biệt là Đỗ Mười vào năm 1995. Sự phát triển nhanh chóng và cức mạnh của nhiều Cheabol Nam Hàn đã gây cho họ những ấn tượng mạnh. Vì thế họ cũng muốn thành lập một số Tập đoàn kinh tế như những “quả đấm thép” trong kinh tế. Chủ trương này dựa trên Luật DNNN năm 2003. [119] Theo Điều 9 của Luật này, việc thành lập các Tập đoàn và Tổng công ti cũng như bổ nhiệm các Ban quản trị các DNNN thuộc quyền TT và các Bộ. Như thế các cơ quan CP như một cơ quan tổng chỉ huy KTNN, đặt trực tiếp dưới quyền TT. Đấy là mặt tổ chức nhân sự.

Chế độ toàn trị còn giành những ưu đãi đặc biệt cho DNNN cả về vốn tư bản, đất đai và các tài nguyên. Các DNNN được sử dụng ngân sách quốc gia, được vay tiền của các ngân hàng với lãi suất rất thấp, có quyền phát hành (bán) trái phiếu ở trong và ngoài nước với sự bảo lãnh của Nhà nước, không phải trả tiền đất để xây các xí nghiệp, được hưởng ưu đãi quan thuế trong việc xuất nhập khẩu sản phẩm, chỉ phải đóng thuế mức rất thấp so với các doanh nghiệp tư. Quan trọng khác nữa, các DNNN được độc quyền sử dụng các nguồn vốn ODA, tổng số lên tới 78 tỉ USD trong gần ba thập niên qua.

Với việc hưởng các ưu đãi và độc quyền đó, có thể ví các DNNN như những đứa con cưng của một tỉ phú, vừa có tiền bạc lại đầy quyền lực, được nuông chiều đủ thứ, lại còn được bảo vệ không ai dám đụng chạm tới, kể cả pháp luật! Các cậu công tử này đâu cần phải học hành, đâu cần phải lao động, chỉ việc ngồi mát ăn bát vàng! Đây không phải là chuyện giả tưởng hay bức tranh siêu thực, nhưng lại là một sự thực 100% suốt mấy thập kỉ ở VN dưới chế độ toàn trị!

Độc quyền trong chính trị đã tác hại nguy hiểm như thế nào ở nhiều nước. Độc quyền cả chính trị lẫn kinh tế còn gây thiệt hại khủng kiếp hơn nữa cho người dân. Hình ảnh kinh tế kiệt quệ, nhân dân sống trong nghèo khổ, trong khi cán bộ trung và cao cấp hưởng giầu sang và tham nhũng ở cựu Liên Xô và Đông Âu cho tới cuối thập niên 80 không ai có thể quên được.

Tại VN sự độc quyền của các DNNN đã tiêu giệt yếu tố cạnh tranh, khiến toàn bộ kinh tế không thể vươn lên được. Vì cạnh tranh lành mạnh là yếu tố tối cần thiết để thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế tiến lên, đồng thời bảo vệ các quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng. Nhưng ở VN trong khi các doanh nghiệp tư bị chèn ép thì các DNNN ngồi chơi xơi nước, lãng phí tiền bạc, tài nguyên và thời gian! Vào cuối 2013 các tập đoàn và tổng công ti nhà nước chiếm thị phần áp đảo trong toàn bộ kinh tế. Như Tập đoàn Điện (bao gồm EVN và PVN) chiếm 80% thị phần, Tập đoàn Than và khoáng sản 98%, Tập đoàn Dầu khí 100%, Tập đoàn vận tải đường sắt (100%), Tổng công ti hàng không VN (61,4%), Tập đoàn viễn thông (gồm VNPT và Viettel) (81,5%).[120]

Số liệu tài chính tổng hợp của các Tập đoàn và Tổng công ti Nhà nước

(tỉ đồng)[121]

Năm 2006 2007 2010 2011 2013
Tổng tài sản có 751.698 767.151 1.799.317 2.093.907 2.639.916
Tổng tài sản nợ 751.698 767.151 1.799.317 2.093.907 2.639.916
Vốn chủ sở hữu 317.647 406.975   653.166   727.277 1.044.769
Các khoản phải trả 419.991  51.904 1.088.290 1.292.400 1.514.915
–                      Dài hạn 226.478 262.061   604.191
–                      Ngắn hạn 193.933 256.979   688.202
Doanh thu 504.253 625.027 1.488.273 1.577.311 1.709.134
Lợi nhuận trước thuế  56.083  67.404    16.291   135.111   181.530
Thua lỗ     1.116     5.823
Số doanh nghiệp (đơn vị)      95      95       85       91      108
Tỉ lệ nợ/vốn chủ sở hữu     1,4      1,3       1,7      1,8      1,45

Số liệu này không bao gồm Vinashine

Nguồn: Bộ Tài chính (dẫn tại Matheson, 2013, tr. 7; Thời báo VN, 2014)

Dưới những điều kiện của chế độ toàn trị, mọi quyết định từ chính trị, kinh tế, pháp luật tới văn hóa xã hội chỉ là quyết định của một số người có quyền lực trong BCT. Trên họ không còn ai hết, không có những cơ chế kiểm soát công khai và nghiêm túc, không có báo chí độc lập và hệ thống một xã hội dân sự độc lập. Nên những người này có thể ban bố các chính sách, đạo luật theo ý muốn của họ và khi cần thiết có thể giải thích tùy tiện, vo tròn, bóp méo và thậm chí làm vô hiệu hóa các luật pháp hay quyết định trước đây của chính họ, nếu thấy rằng nó bất lợi hay nguy hiểm cho địa vị và quyền lực của họ. Điều này càng dễ xẩy ra khi đụng chạm tới quyền-tiền, hai động lực có sức lôi cuốn rất mạnh thúc đẩy lòng tham của con người, nhất là những người có điều kiện biến quyền lực thành tiền bạc, hoặc dùng tiền bạc để mua quyền lực!

Cách tổ chức và điều hành của hệ thống DNNN, nhất là từ gần hai thập niên vừa qua với việc ra đời các tập đoàn và tổng công ti nhà nước, là những dẫn chứng cụ thể rõ rệt nhất về sự liên hết như hình với bóng của quyền lực và tiền bạc dưới chế độ toàn trị ở VN. Các giám đốc và hội đồng quản trị (hội đồng thành viên) của các tập đoàn và tổng công ti nhà nước do TT chỉ định. Các cơ quan này có quyền hành rất lớn trong mọi quyết định liên quan tới hoạt động của tập đoàn và tổng công ti. Từ việc chọn lựa nhân sự then chốt, đầu tư, vay tiền, gọi thầu tới việc liên kết kinh doanh với bên ngoài. Họ đều là những cán bộ có thế lực, nhưng hầu như không có kiến thức và kinh nghiệm quản trị các công ti lớn. Một khi quyền nhiều, nhưng trách nhiệm rất ít thì dễ sinh ra lạm dụng những gì có lợi cho bản thân, gia đình và vây cánh. Từ đó dẫn tới những lãng phí hàng trăm, hàng ngàn tỉ đồng, tự do xà xẻo các công trình. Muốn làm giầu bất chính nhanh và gọn gàng thì phải lập phe cánh che chở và bảo vệ lẫn nhau. Qua đó sẽ hình thành các nhóm lợi ích. Vì quyền lợi ích kỉ, các nhóm này sẽ lợi dụng quyền lực kết hợp với nhau ngay từ giai đoạn soạn thảo các kế hoạch có lợi cho phe cánh của mình.

Trong vụ PMU 18 thứ trưởng Giao thông vận tải Nguyễn Việt Tiến cùng cánh vế với bộ trưởng Giao thông vận tải Đào Đình Bình đã lôi kéo cả con rể TBT Nông Đức Mạnh vào làm. Nhờ vào uy quyền lớn nên họ đã được giao nhiều dự án xây dựng hạ tầng với số vốn cả hàng ngàn tỉ đồng từ nguồn ODA và lập ra các công ti con làm sân sau để thân nhân và vây cánh thao túng. Sự thỏa hiệp đen tối quyền lực và chia chác tiền bạc trong vụ Vinashin lại càng khủng khiếp hơn nữa. Nguyễn Tấn Dũng dùng uy quyền TT để giao cho người đồng hương Phạm Thanh Bình làm Giám đốc Vinashin, được Ngân hàng Nhà nước cung cấp vốn cả hàng trăm ngàn tỉ đồng, đẻ ra hàng trăm công ti con, đầu tư vào những công trình ngoài cả lãnh vực đóng tàu thủy, như mở cả ngân hàng và công ti du lịch…Sau nhiều năm làm ăn thua lỗ khổng lồ lên tới cả gần 100.000 tỉ đồng, nhưng Nguyễn Tấn Dũng vẫn bình chân như vại. Hai người có quyền lực nhất khi ấy là Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng đã ngấm ngầm thỏa hiệp với nhau hai ghế TBT và TT, như đã trình bày trong Chương sáu, XI.

PVN và vụ án Đinh La Thăng

Tập đoàn đầu khí VN (Petro VN, PVN) là một công ti Nhà nước lớn nhất. Năm 2015 đạt tổng doanh thu là 293.439 tỉ đồng, đóng góp vào NSNN là 93.000 tỉ đ. trong tổng số thu NSNN là 911.100 tỉ đ.; nghĩa là chiếm tới gần 12% tổng thu của NSNN.[122] Như vậy PVN đóng một vai trò rất quan trọng trong toàn bộ nền kinh tế VN. Năm 2017 PVN khai thác 15,52 triệu tấn dầu thô, 9,89 tỉ m³ khí; sản xuất 20,58 tỉ kWh điện, 1,65 triệu tấn phân đạm, 6, 24 triệu tấn xăng dầu. [123]

Theo Quyết định 924-QĐ-TTg ngày 18.6.2010 đây là Tập đoàn độc quyền trong khai thác, vận chuyển, chế biến, lưu trữ dầu hỏa và khí đốt; ngoài ra còn độc quyền các dịch vụ về dầu khí ở trong và ngoài nước. Quyết định trên còn giành cho PVN độc quyền kinh doanh, phân phối các sản phầm dầu khí và các nguyên liệu hóa chất dầu khí; xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị và sản phầm dầu khí; khảo sát, thiết kế, xây dựng, khai thác, sửa chữa các công trình, phương tiện phục vụ dầu khí dân dụng. Không những thế PVN còn có quyền đầu tư, sản xuất, chế biến, kinh doanh nhiên liệu sinh học, điện và phân bón; đầu tư khai thác than và khoáng sản tại nước ngoài. Đặc biệt nữa, PVN còn được hoạt động kinh doanh cả những lãnh vực ngoài dầu khí, như: đầu tư, kinh doanh bất động sản; kinh doanh khách sạn, du lịch; đầu tư, khai thác, kinh doanh các cảng, vận tải biển, sông và hàng không và đường bộ…[124]

Như thế cho thấy PVN không chỉ là một “vua” trong lãnh vực dầu khí mà còn bao thầu cả trong nhiều lãnh vực khác! Từ khi trở thành tập đoàn lớn nhất, PVN trong nhiều năm liên tiếp đã “sai phạm rất nghiêm trọng” trong việc sử dụng vốn, đầu tư hàng chục ngàn tỉ đồng vào nhiều lãnh vực nhưng không có hiệu quả, phải nằm đắp chiếu và thua lỗ. Nhất là dưới thời Đinh La Thăng làm Giám đốc và Bí thư đảng ủy Tập đoàn PVN (2005-2011) và các người kế vị những năm sau này. Như trong Thông báo của Ủy ban Kiểm tra TU ngày 27.4.17 do Trưởng ban và UVBCT Trần Quốc Vượng công bố.[125]

Khi đó là thời có nhiều quyền lực của các UVBCT, như TT Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng (CTQH và TBT), Nguyễn Sinh Hùng (Phó TT thứ nhất và CTQH, Trương Tấn Sang (Trưởng ban Kinh tế TU, Thường trực BBT và CTN), Tô Huy Rứa (Trưởng ban Tuyên giáo và Trưởng ban Tổ chức), Nguyễn Xuân Phúc (Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng CP, Phó TT)…Điều vô cùng ngạc nhiên là, mặc dầu đã xẩy ra nhiều sai phạm rất nghiêm trọng trong suốt nhiều năm, nhưng Đinh La Thăng vẫn trở thành ngôi sao sáng chính trị liên tiếp trên 10 năm: Là UVTU từ khóa 10 (2006), sau khi thôi Giám đốc PVN lại lên nắm chức bộ trưởng Giao thông vận tải (2011-16), UVBCT Khóa 12 và Bí thư Thành ủy thành phố HCM (tới tháng 5.17), đại biểu QH các khóa 11-14 (tới 5.17).

Vì vậy một số câu hỏi rất quan trọng được nêu ra trong các hoạt động sai phạm rất nghiêm trọng của PVN, từ thời Đinh La Thăng làm giám đốc và cả những người kế vị, nhưng tại sao vị thế chính trị của ông vẫn lên như diều trong thời gian rất dài đến cả chục năm liên tiếp? Vì nó hoàn toàn đi ngược lại những tiêu chí chọn lựa và giao phó công việc cho “những cán bộ cấp chiến lược” theo HNTU 11 Khóa 11 (5.15) dưới quyền Nguyễn Phú Trọng đã đề ra:

“Kiên quyết không để lọt vào BCHTU những người có một trong các khuyết điểm, như: Bản lĩnh chính trị không vững vàng, không kiên định đường lối, quan điểm của Đảng, có biểu hiện cơ hội chính trị, nói và làm trái Cương lĩnh, đường lối, nguyên tắc của Đảng; tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, vận động cá nhân, tư tưởng cục bộ, phe cánh, lợi ích nhóm… tham nhũng, tiêu cực lớn …không chấp hành sự điều động, phân công của tổ chức; kê khai tài sản không trung thực, có biểu hiện giầu nhanh, nhiều nhà, nhiều đất, nhiều tài sản khác mà không giải trình rõ được nguồn gốc” [126]

Ông Trọng đã từng nhấn mạnh, công tác cán bộ là then chốt của các then chốt. Chả lẽ suốt thời gian rất dài như vậy Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Sinh Hùng, Tô Huy Rứa và Nguyễn Xuân Phúc….ở những địa vị cao như vậy cả trong đảng lẫn chính phủ lại không biết rõ những sai phạm nghiêm trọng trong PVN và Đinh La Thăng?

Phải phân biệt ở đây một số trường hợp: Nếu họ không biết những gì đã xẩy ra tại PVN thì chứng tỏ họ không đủ khả năng đảm nhiệm các trọng trách. Nhưng nếu biết mà không dám nói, chứng tỏ họ làm bù nhìn. Không những thế, nếu biết những cán bộ cao cấp đã làm những “sai phạm rất nghiệm trọng” như Đinh La Thăng mà không dám cách chức lại còn cất nhắc, chứng tỏ họ càng vô trách nhiệm và chỉ lo củng cố quyền lực, chểnh mảng nhiệm vụ, không cương quyết bảo vệ tài sản của đất nước và quyền lợi của nhân dân!

Nắm các địa vị quan trọng trong đảng và chính phủ, họ phải chịu trách nhiệm chính trị, trách nhiệm về pháp luật và lương tâm đạo đức, vì đã để cho Đinh La Thăng và nhiều cán bộ cao cấp trong PVN hoạt động sai phạm nghiêm trọng liên tiếp trong nhiều năm. Do đó đúng ra Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng và các UVBCT đầy quyền lực nêu trên phải công khai nhận trách nhiệm chính trị trước nhân dân và phải xin từ chức. Không những thế, họ còn phải chịu trách nhiệm về mặt luật pháp đối với những thiệt hại cực lớn cho ngân sách quốc gia và các tài sản của nhà nước.

Họ chủ trương DNNN làm chủ đạo và giành nhiều ưa đãi, lại không có cơ chế luật pháp nghiêm minh, không có báo chí độc lập theo dõi, có khác nào như mời cán bộ tham nhũng thả cửa hôi của. Vì thế tập đoàn PVN là doanh nghiệp nhà nước lớn nhất đã có thể dễ dàng làm thất thoát hàng trăm ngàn tỉ đồng trong nhiều năm. Sự hoạt động của các tập đoàn, trong đó có PVN, thuộc quyền của BCT và CP, trong đó hai người đứng đầu là TBT Nguyễn Phú Trọng và TT Nguyễn Tấn Dũng phải là hai người chịu trách nhiệm cao nhất cả về mặt chính trị lẫn mặt pháp luật. Vì các nghị quyết của các HNTU và quyết định của CP đều qui định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của tập thể cũng như cá nhân phụ trách. Chính Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng đã nhiều lần tuyên bố, cơ quan nào để xẩy ra lãng phí và tham nhũng nghiêm trọng thì người đứng đầu cơ quan phải chịu trách nhiệm trước đảng và nhân dân!

Riêng trường hợp của Nguyễn Phú Trọng, một mặt ông trương cờ với những tiêu chí thật cao trong việc lựa chọn cán bộ cấp chiến lược vào cấp cao nhất. Như “Ủy viên BCT, BBT phải là những đồng chí thật tiêu biểu của Ban chấp hành trung ương (BCHTU) về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, ý chí chiến đấu, năng lực lãnh đạo quản lý” và không “tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, vận động cá nhân, tư tưởng cục bộ, phe cánh, lợi ích nhóm”.[127] Nhưng mặt khác, chính ông lại dùng các thủ đoạn để giành cho riêng mình được xếp vào “trường hợp đặc biệt”, đồng thời cô lập Nguyễn Tấn Dũng bằng cách mua chuộc những thân tín của ông Dũng, trong đó cho Đinh La Thăng vào BCT và Bí thư Thành ủy thành phố HCM.

Nhưng sau khi đã nắm vững ghế TBT thêm một nhiệm kì thì ông liền ra tay thanh toán những đối thủ để trừ hậu hoạ, thậm chí đưa cả đối thủ ra xét xử theo những bản án đã định sẵn. Thủ đoạn nham hiểm này không làm sạch bộ mặt của ông Trọng, mà chỉ bôi đen thêm. Một người nổi tiếng lợi dụng địa vị để tham nhũng quyền lực trong suốt hơn thập kỉ vừa qua thì không thể chống tham nhũng quyền lực và tiền bạc được. Tay đã nhúng chàm! Vì tham nhũng quyền lực và tham nhũng tiền bạc như bóng với hình, chúng nương tựa nhau, bảo vệ nhau. Đây mới là nguy cơ của mọi nguy cơ đưa chế độ toàn trị từng bước nhưng chắc chắn rơi sâu xuống vực thẳm! Quyền và tiền như đổ dầu vào lửa. Tới một thời điểm thích hợp không còn xa, những quan tham nhũng quyền lực và tham nhũng tiền bạc không thể chung sống và cũng không thể nhượng bộ nhau!

Tại HNTU 5 Khóa 12 (5-10.5.17) Đinh La Thăng đã bị cách chức UVBCT và Bí thư Thành ủy thành phố HCM. Trong diễn văn khai mạc Hội nghị Nguyễn Phú Trọng đã đưa ra câu hỏi về tình trạng ngày càng thua lỗ và tham nhũng trong các DNNN: “Vì sao những hạn chế, yếu kém nêu trên đã được chỉ ra từ lâu nhưng qua nhiều nhiệm kỳ đến nay tình hình vẫn chậm chuyển biến, thậm chí có mặt còn trầm trọng hơn?”

Là người cầm đầu BCT thì đúng ra, Nguyễn Phú Trọng phải là người tiêu biểu nhất “của BCHTU về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, ý chí chiến đấu, năng lực lãnh đạo quản lý”. Đây là những điều kiện chính ông đã đặt ra làm nguyên tắc chọn người vào BCT! Nhưng các DNNN đã được BCT dưới quyền của ông cho tung hoành hoạt động suốt bao nhiều năm qua, nay Nguyễn Phú Trọng lại làm bộ ngây thơ đặt câu hỏi, “vì sao” các DNNN đi đến nông nỗi như ngày hôm nay! Điều này chứng tỏ Nguyễn Phú Trọng đã đóng kịch giả bộ, làm như người mù lòa không nhìn thấy nguyên nhân; hoặc thừa nhận vai trò bất lực, chỉ ngồi làm bù nhìn như ông bình vôi, càng già, càng ngồi lâu, càng tồi!

Giả vờ quên thực tế, bỏ qua những chuyện tầy đình trước sau vẫn là thái độ và mánh lới cực kỳ lươn lẹo của người cầm đầu chế độ toàn trị. Chính khi BK gia tăng chính sách bành trướng và thôn tính ở biển Đông, Nguyễn Phú Trọng đã gạt phăng và nói tỉnh bơ tại QH, “tình hình biển Đông không có gì mới!”. Hay khi xẩy ra thảm trạng môi trường cá chết trắng trên bãi biển miền Trung do công ti Formosa gây ra thì Nguyễn Phú Trọng vẫn thản nhiên lại thăm Ban giám đốc công ti này và sau đó lại còn nói tỉnh bơ như một người bàng quang: “Trước kia chúng ta kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu!”

Đối với những người hiểu biết và có lương tri không ai có thể hiểu được những lời tuyên bố trên thật vô cùng lạ lùng như thế. “Bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, ý chí chiến đấu, năng lực lãnh đạo quản lý” của người cầm đầu chế độ toàn trị là như thế!!! Chính điều này Nguyễn Phú Trọng đã đưa ra làm tiêu chuẩn để chọn lựa và đánh giá các UVBCT !!!

***

Tổng kết lại, phân tích cặn kẽ và nghiêm túc về thái độ, hành động và tư duy diễn tiến từ ĐH 6 (1986) tới ĐH 12 (2016) của những người cầm đầu toàn trị từ Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông đức Mạnh đến Nguyễn Phú Trọng có thể tóm lược là: Tuy miệng luôn luôn phải nói “đổi mới”, nhưng trong thâm tâm vẫn tin tuyệt đối vào chủ nghĩa Marx-Leninn và đi theo con đường của Bác đã chọn. Theo họ, đó là “sáng suốt” và “uống nước nhớ nguồn”, không phản bội người khai sáng và những thế hệ đã hi sinh, như thế là vừa khôn ngoan, vừa giữ được đạo lí của người đi sau! Bất đắc dĩ phải thay đổi một vài điều ở lãnh vực này hay lãnh vực khác chỉ là vì tình thế theo tiêu chí “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”!

Trong đó trước sau họ vẫn không thèm đoái hoài tới nguyện vọng và khát vọng rất chính đáng và bức thiết của nhân dân là hòa giải dân tộc thực sự để Bắc-Nam cùng nhau phát triển nội lực, để xây dựng lại quê hương từ đống tro tàn do bạo lực, hận thù từ những cuộc chiến tranh tàn khốc và giai giẳng để lại, tiến lên thành một quốc gia giầu mạnh, nhân dân được hưởng hạnh phúc, sống có nhân phẩm và tự do dân chủ! Họ cũng không thèm đếm xỉa tới những thay đổi sâu sắc của thế giới sau khi Liên Xô sụp đổ, các nước CS Đông Âu tan dã và TQ trỗi dậy trở thành tân đế quốc đang đe dọa trực tiếp VN, các nước trong khu vực và thế giới!

Trên đây là nền tảng căn bản về thái độ, cách hành động và tư duy của những người cầm đầu chế độ toàn trị suốt trên 30 năm qua. Trong đó hai nhân vật có trách nhiệm cao nhất là Đỗ Mười và Nguyễn Phú Trọng, vì họ đã và đang nắm độc quyền lâu và tàn bạo nhất!

Họ không đủ trình độ kiến thức, sự sáng suốt cần thiết và thái độ chân thành đáng lẽ ra phải có, để nhận ra và hiểu rằng, mỗi thời đại phải có những cái nhìn mới, những bước đi thích hợp; nếu người đi trước làm sai thì thế hệ sau phải có trách nhiệm và can đảm thay đổi. Châm ngôn VN có câu “con hơn cha là nhà có phúc”! Cũng với tinh thần này, đáng lẽ ra họ phải dứt khóat chấm dứt sự dối trá, lừa đảo và từ bỏ những ý thức hệ đã bị thực tiễn chứng minh là sai lầm; đồng thời thực tâm chọn con đường mới để kiến thiết đất nước và gây dựng hạnh phúc cho nhân dân. Đấy mới chính là sáng suốt, biết đền bù tương xứng những sự hi sinh của bao nhiêu triệu người đã từng tin vào họ.

Nhưng vì quá giáo điều nên họ đã không nhận ra được sự tiến hóa rất chính đáng và tự nhiên của nhân loại. Khi xã hội bộ lạc-du mục không còn thích hợp thì chuyển sang chế độ định cư, lập làng xã, chọn cách tổ chức thích hợp để xây dựng xã hội mới. Khi chế độ phong kiến trở thành lạc hậu và tàn bạo, cản đường tiến hóa của nhân dân thì quyết giã từ nó; khi chế độ toàn trị theo Marx-Lenin đã bị thực tế phủ nhận thì nếu sáng suốt, họ phải quyết chuyển sang DCĐN, tôn trọng các giá trị con người, khuyến khích những sáng tạo và tham gia tích cực của mọi thành phần.

Vì bảo thủ mù quáng nên họ vẫn cố giữ thái độ và tư duy cũ đã lỗi thời và hoàn toàn sai lầm. Vì thế họ đã cấm đoán, đàn áp đảng viên và nhân dân nói khác, nghĩ khác và hành động khác. Họ sẵn sàng tiếp tục sử dụng cả dối trá, tàn bạo, thậm chí cả nhân danh người đã khuất để biện minh cho các hành động cực kỳ sai lầm và độc ác. Đến khi bị kẹt cứng (khi Liên Xô sụp đổ) họ lôi cả HCM làm lá chắn để bảo vệ quyền lực và tiền bạc cho cá nhân, gia đình và vây cánh!

Công thức để thực hiện “đổi mới” suốt trên 30 năm qua chỉ loay hoay trên thái độ và tư duy cũ. Đó là: Chủ nghĩa Marx-Lenin + Đi theo con đường của Bác đã chọn. Họ bắt mọi người phải tin theo và làm như họ. Thậm chí còn ra lệnh cho các nhà khoa bảng XHCN không được suy nghĩ khác và phải khẳng định rằng, chỉ có CNXH theo Marx-Lenin như Bác đã chọn là đúng muôn đời! Đỗ Mười đã ra lệnh như vậy. Cựu CTN Nguyễn Minh Triết từng hô “bỏ Điều 4 Hiến pháp là tự sát”. Nguyễn Phú Trọng đã ngạo mạn phán rằng, “đi lên CNXH là nguyện vọng của nhân dân” và mạt sát các trí thức và chuyên viên đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp là “suy thoái đạo đức”!

Chính vì vậy từ Đỗ Mười tới Nguyễn Phú Trọng, là hai người chính nắm quyền trên 30 năm qua, phải dựng lên bộ máy công an trị hà khắc và sử dụng trí trá, độc ác, giả nhân giả nghĩa để tham nhũng quyền lực và tiền bạc cho chính họ và phe nhóm!

Sử dụng những thủ đoạn và phương pháp gian trá, độc đoán để thực hành các ý thức hệ sai lầm và những hành động cực kỳ mù quáng và tàn bạo suốt trên 30 năm qua đã chứng minh rất rõ ràng: Họ đã tự đánh mất tư cách, cực kỳ vô trách nhiệm đối với đảng viên và nhân dân, kể cả với hàng triệu người đã hi sinh. Vì thế sự cầm quyền và tồn tại của họ và phe nhóm là hoàn toàn bất chính, phản lại nguyện vọng chính đáng của nhân dân và đi ngược với trào lưu của thời đại!

______________________________

Thân mời đọc tiếp Chương kết: Các nguyên nhân, người chịu trách nhiệm và hậu quả của “Đổi mới” lừa bịp.

Chương cuối: Phải dứt khoát đoạn tuyệt với chủ nghĩa Marx-Lenin, mọi người quyết phá rào cản độc tài, cùng nhau đứng lên nắm lấy cơ hội kiến tạo một Nước Việt Nam MớiNhững điều nên nhớ, nên tránh và nên làm!

Và Mục lục toàn bộ sách và lời Dẫn nhập.

_______

[1] . CP 31.12.14

[2] . BBC 20.4.16; theo con số khác thì lợi tức đầu người của VN năm 2014 là 1890 USD, der neue Fischer Weltalmanach 2016, tr. 502

[3] . Đời sống&pháp luật, 31.1.18

[4] . Fischer Weltalmanach 2017, tr. 531

[5] . CS 21.1.16

[6] . http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/bai-phat-bieu-tam-huyet-thang-than-cua-bo-truong-bui-quang- vinh-286196.html -có cả video,VNNet 23.1.16; BBC 22.1.16

[7] . GS. Vũ Dương Ninh, Đại học Quốc gia HN, VN sau 30 năm đổi mới, thành tựu và triển vọng, sách lưu hành nội bộ.

[8] . Trần Đình Thiên, quản trị công trong quá trình chuyển đổi và tái cơ cấu kinh tế ở VN: một cái

  nhìn tổng quan, Nghiên cứu kinh tế (NCKT) 1.2014, tr.21, 17-22

[5] . Sách đã dẫn (Sđd), tr. 20

[6] . GS Trần Văn Thọ, Cú sốc thời gian và kinh tế VN, Thời báo kinh tế Sàigòn (TBKTSG),Xuân 7.2.16

[7] . GS Trần Văn Thọ, Góp ý Đại hội Đảng 12:Đánh giá thành quả phát triển của VN từ sau Đổi

    mới, Vietnamnet (VNN)16.11.15

[8] . Âu Dương Thệ, die politische Entwicklung…., sđd, tr. 82 t.th.

[9] . Âu Dương Thệ, sđd

[10] . Tổng cục Thống kê, Tình hình kinh tế – xã hội năm 2017; 

https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=621&ItemID=18668

[11] . Lê Cao Đoàn, cấu trúc và tái cấu trúc nền kinh tế trong quá trình phát triển của VN, NCKT,

   10.2013, tr.18

[12] . Đỗ Hoài Nam, sđd, tr.7

[13] . Nh.t., tr.10-11

[14] . „Diễn đàn Nông nghiệp“, CP 16.10.16

[15] .„Gạo Việt thua Lào, Campuchia, chỉ xuất đi… TQ“, Infonet 28.3.16

[16] . CS 30.9.16

[17] . 50 triệu nông dân điêu đứng, Nam Nguyên, RFA 17.6.13,

http://www.dcvapt.net/thoisu/baithoisu2013/nongdan.htm

[18] . http://vtv.vn/chuong-trinh-dac-sac/30-nam-doi-moi-nong-nghiep-va-phat-trien-nong-thon-20150910110734265.htm

[19] . Infonet 30.9.16

[20] . Infonet 27.9, 30.9.16

[21] . NCKT 11.15, tr.52.

[22] . Infonet 28.6.16

[23] . Thể chế cản trở sự phát triển của thị trường đất nông nghiệp Việt Nam, RFA 20.11.18

[24] . Nông dân sau 40 năm thống nhất đất nước, Nam Nguyên RFA 27.1.15

[25] . 50 triệu nông dân điêu đứng, Nam Nguyên RFA,17.6.15

[26] . Đỗ Hoài Nam, sđd, tr.15

[27] . TBKTSG 22.10.15

[28] . Phạm Bích Ngọc, Thương mại VN-TQ: những rủi ro phát triển, NCKT 10.14, tr. 74 ,

www.baomoi.com/Tan-tao-ma-nang-suat-van-thap/45/14822298.epi , 16.9.14

[29] . Công an nhân dân (CAND) 27.11.18; VNEc 27.11

[30] . TBKTSG 16.11.18

[31] . Nông nghiệp VN, 27.11.18

[32] . RFA 17.6.13; TS Đào Thế Anh, chuỗi giá trị lúa gạo Đồng bằng sông Cửu long:Chính sách nông

    nghiệp và thương mại thiếu hiệu quả, NCKT 8.15, tr.24-36

[33] . Tô Văn Trường ,Bauxite Viet Nam 17.03.15

[34] . VNN 1.11.15; ‘Bát cơm vàng’ của Việt Nam đang biến mất, 

http://dcpt.org/thoisu/baithoisu2015/vnv511.htm

[35] . https://luatvietnam.vn/dau-tu/luat-4-lct-hdnn8-quoc-hoi-1588-d1.html

[36] . Hoàng Quế, Dân chủ & Phát triển (DCPT) 27,12.03, tr. 27

[37] . TS Nguyễn Chiến Thắng, ThS Bùi Thị Hồng Ngọc, Thu hút FDI Hàn quốc vào VN: thực trạng và

   định hướng”, NCKT 3.14, tr59-67, 64

[38] . Tạp chí CS, “Dầu tư trực tiếp nước ngoài vào lãnh vực xây dựng và bất động sản – thực trạng và

   những vấn đề đặt ra, Nguyễn Thanh Nga & A-lếc-xơ Ua-ren, 11.2008, 60-66,tr. 60

[39] . SGTB 21.7.2018

[40] . SGTB 15.7.18 (https://www.thesaigontimes.vn/275054/nghich-ly-fdi.html).

[41] . VOV 30.8.18

[42] . FDI: Lỗ âm vốn chủ sở hữu nhưng vẫn hoạt động bình thường, SGTB 24.7.18

[43] . NCKT 3.14, tr. 65

[44] . TCCS 11.2008, sđd, tr. 64; NCKT 3.14, tr.65

[45] . TS Nguyễn Thị Kim Anh, chuyển giá và chống chuyển giá của các công ti xuyên quốc gia tại VN,

   NCKT 4.13, tr. 47-53; TS Nguyễn Thị Lan, thực trạng chuyển giá của các công ti đa quốc gia  

   hoạt động trên lãnh thổ VN, NCKT 6.14, tr. 56-62

[46] . PGS TS Kê Khương Ninh, thực trạng nông hộ ở Đồng bằng song Cửu long sau 7 năm thực hiện

   chính sách tam nông, NCKT 11.14, tr.63

[47] . Bùi Văn Dũng, nhà ở cho người lao động tại các khu công nghiệp VN, NCKT 1.14, tr.61-68.

[48] . NCKT 3.14, tr. 66

[49] . Zing VN 28.10.17

[50] . Vũ Dung, FDI và “bài toán” chuyển giao công nghệ, QĐND 23.11.17; VNEconomy đưa ra con

   số rất khác biệt, VNE 26.11.18

[51] . Sđd; QĐND 23.11.17

[52] . Sđd

[53] . VNE 30.11.18

[54] . Trả lời phỏng vấn của báo Bild Chủ nhật ngày 17.4.05

[55] . Lương Minh Huân, Đặng Thị phương Hoa, tại sao doanh nghiệp VN không lớn lên được?, NCKT

   12.14, tr. 28-37, 28

[56] . TBKTSG 13.4.16

[57] . Doanh nghiệp tính gia đình, NCKT 12.14, tr. 29-37

[58] . https://www.youtube.com/watch?v=KksGK-JrN_k

[59] . VOV 21.4.16.

[60] . VNEconomy 7.12.17

[61] . Nguyễn Văn Nam, Đỗ Thị Thanh Loan, phát triển ngành công nghiệp phụ trợ trong chiến lược

   Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở VN, NCKT 11.14, tr. 31-38

[62] . TS Vũ Hùng Cường, Bùi Trinh, doanh nghiệp ngoài nhà nước: vai trò và thực trạng, NCKT

    10.14, 38

[63] . VNE 21.04.15

[64] . CP 22.10.15

[65] . VNECo. 22.12.18

[66] . Süddeusche Zeitung 27.11.17; Der Spiegel 5.2.18

[67] . CP 6.10.17

[68] . http://soha.vn/samsung-se-duoc-uu-dai-nhieu-hon-ve-thue-tai-viet-nam- 20170728134704975rf20171127222649593.htm, Soha 28.7.17

[69] . CP 26.7.17

[70] . VTV 26.7.17

[71] . Soha 28.7.17

[72] . VNEconomy 2.11.17

[73] . http://soha.vn/lai-ca-chuc-nghin-ty-moi-thang-ma-khong-phai-ban-tam-nhieu-ve-thue-loi-nhuan-cua-to-hop-samsung-viet-nam-tiep-tuc-tang-truong-phi-ma-20170912104537955rf20171127222649593.htm, Soha12.9.17; Nguyễn Quang Duy, Tại sao cứ nói „Samsung 100% nước ngoài“?, BBC 31.12.18

[74] . https://dantri.com.vn/kinh-doanh/ket-noi-cac-doanh-nghiep-viet-nhin-tu-chuyen-samsung-20171116235752017.htm

[75] . Lê Đăng Doanh, BBC 19.3.15

[76] . Nh.t.

[77] . http://soha.vn/lai-ca-chuc-nghin-ty-moi-thang-ma-khong-phai-ban-tam-nhieu-ve-thue-loi-nhuan-cua-to-hop-samsung-viet-nam-tiep-tuc-tang-truong-phi-ma-20170912104537955rf20171127222649593.htm,

Soha12.9.17

[78] . Ngô Nhân Dụng, Bao giờ dân ta làm được cái đinh ốc? Người Việt 6. 1.15

[79] . Infonet 7.10.17

[80] . TBKTSG 1.11.17

[81] . CP 26.7.17

[82] . Soha 23.11.17, Diễn đàn doanh nghiệp 26.11.17

[83] . VNEconomy 23.11.17

[84] . VNEconomy 27.11.17

[85] . CP 26.7.17

[86] . TN 21.4; BBC 23.4.16

[87] . TN 21.4.16

[88] . Nh.t

[89] . VNN 22.4.16

[90] . CP, VNN 22.4.16

[91] . VNN 22.4.16

[92] . BBC 23.4; VOA 24.4;VNN 22.4, facebook Lang Anh 23.4.16

[93] . VOV 23.4.16

[94] . CP 17.4.16

[95] . Tuổi trẻ (TT) 25.4.16

[96] . VOA 24.4.16

[97] . Dân trí 24.4.16

[98] . VNN 23.4.16

[99] . „Formosa nhập nhiều hóa chất cực độc“ TT 25.4.16

[100] . VNN 25.4.16

[101] . BBC 26.4.16

[102] . CAND 26.4.16

[103] . CAND 27.4, LĐ 27.4.16

[104] . Thanh niên (TN) 28.4.16

[105] . TN ,nh.t

[106] . VOA 28.4.16

[107] . Lao động 28.4.16

[108] . CS 27.2.12

[109] . Tuyên bố của các tổ chức xã hội dân sự độc lập về thảm họa quốc gia tại các tỉnh miền Trung,

    29.4.16

[110] . Video họp báo ngày 30.6: http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/20160630/truyen-hinh-truc-tiep-cong-bo-thu-pham-lam-ca-chet-hang-loat/1127773.html ; VNN 30.6.16

[111] . VNN 30.6.16

[112] . Trương Minh Tuấn, Bộ trưởng 4 T, Infonet 1.7.16

[113] . Lao động (LĐ), 17.10.16

[114] . CAND 20.10.16

[115] . Người Việt 18.10.16; Linh mục Anton Đặng Hữu Nam trả lời phỏng vấn của nhà báo Trần

    Quang Thành, DQVN 19.10.16

[116] . Báo cáo chính trị ĐH 8:  http://www.lichsuvietnam.vn/home.php?option=com_content&task=view&id=1164&Itemid=5

[117] . Báo cáo chính trị ĐH 9  http://www.vietnam.gov.vn/portal/page/portal/chinhphu/NuocCHXHCNVietNam/ThongTinTongHop/noidungvankiendaihoidang?categoryId=10000714&articleId=10038377

[118] . Nh.t.

[119] . https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Doanh-nghiep/Luat-doanh-nghiep-nha-nuoc-2003-14-2003-QH11-51698.aspx

[120] . PGS,TS Nguyễn Chí Hải, ThS Nguyễn Thanh Trọng, kiểm soát độc quyền đối với doanh nghiệp

    nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở VN, NCKT 6.15, 3-11, 5.

[121] . Nh.t., tr. 6

[122] . http://www.pvn.vn/DataStore/Report/2016/bctc-pvn-2015.pdf

http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/noidungsolieungansachnhanuoc?categoryId=100003090&articleId=10056813

[123]http://www.pvn.vn/pages/Default.aspx

[124].http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=1&mode=detail&document_id=95211

[125] . Infonet 27.4.17

[126] . HNTU 11, CP 7.5.1

[126] . HNTU 11, CP 7.5.1




30 tấm ảnh màu đẹp nhất của đường phố Saigon thập niên 1960

30 tấm ảnh màu đẹp nhất của đường phố Saigon thập niên 1960 

Bộ ảnh màu chọn lọc với những hình ảnh đẹp nhất của Sài Gòn trong thập niên 1960, đã cách đây trên dưới nửa thế kỷ. Dưới mỗi hình đều có chú thích địa điểm và thời điểm chụp ảnh.

Sài Gòn thời điểm này đang trải qua nhiều khó khăn, chịu áp lực nặng nề của cuộc chiến. Các vùng ven vẫn rất phức tạp và nghèo nàn. Tuy nhiên các vùng trung tâm của thành đô vẫn rất náo nhiệt, phồn hoa, xứng danh tên gọi “Hòn ngọc viễn đông”.

Đây là tuyển chọn hình ảnh phần 12, độc giả có thể xem lại 11 phần khác trong link ở cuối bài viết này.

Bến Bạch Bằng năm 1965 với các tàu chiến trên bến sông.

Bệnh viện Grall trên đường Gia Long năm 1965, nay là Lý Tự Trọng. Bệnh viện này ngày nay là BV Nhi Đồng 2.

Vào mùa mưa năm 1964, sét đánh gãy mất 1 tháp chuông. Hình này là năm 1965, khi đang sửa lại tháp.

Ngã 6 Phù Đổng năm 1965-1966 khi chưa có tượng Phù Đổng Thiên Vương.

Nhà thờ Thánh Jeanne d’Arc trên đường Hùng Vương năm 1966

Tòa Đô Chánh 1966

Đường Võ Tánh năm 1966, nay là đường Nguyễn Trãi

Đôi tình nhân trên đường Hồng Thập Tự năm 1967 (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai). Bên tay phải là Cercle Sportif, sau 75 là Cung văn hóa Lao Động số 55 NTMK.

Dinh Gia Long trên đường Gia Long năm 1967, nay là Bảo Tàng Thành Phố trên đường Lý Tự Trọng.

Tượng đài “Tổ quốc – Không gian” phía trước Tòa Đô chánh, khách sạn REX. Năm 1967, trong đợt xây dựng các tượng đài biểu trưng của các binh chủng, Không quân đã cho dựng nên một tác phẩm điêu khắc kỷ hà để nói lên tinh thần bảo vệ vùng trời và Tổ quốc.

Biển quảng cáo trước ga xe lửa cũ, gần chợ Bến Thành năm 1967

Công trường Lam Sơn năm 1967 trước Hạ Nghị Viện.

Hình ảnh rất phong độ của thanh niên Sài Gòn. Hình chụp ở đoạn giao lộ Lê Lợi – Nguyễn Huệ năm 1967.

Tòa Đô Chánh 1967

Tòa Đô Chánh 1967

Đại lộ Nguyễn Huệ năm 1967

Bến Bạch Đằng 1967

Góc chụp từ đường Tự Do ra hướng sông Sài Gòn năm 1967. Chóp nhọn là của tòa nhà Saigon Palace ở góc Tự Do – Ngô Đức Kế.

Đại lộ Nguyễn Huệ năm 1967

Sài Gòn 1967

Saigon by night. Đại lộ Nguyễn Huệ về đêm

Thương xá TAX

Tòa Đô Chánh năm 1968. Nhà bên phải có một ống rất to. Đó là ống thông rác của các tầng. Cư dân sẽ bỏ rác từ trên để rác đi thẳng xuống thùng rác lớn hứng bên dưới.

Đại lộ Lê Lợi đông đúc xe cộ năm 1968

Góc Lê Lợi – Công Lý. Bên phải là cư xá Tam Đa năm 1968

Trên đường Hai Bà Trưng năm 1969, sau lưng Hạ Nghị Viện. Nhà mái ngói bên phải là xưởng sản xuất a’ phiện.

Đại lộ Thống Nhất năm 1969, đường đến Dinh Độc Lập.

Đường Tổng Đốc Phương năm 1969, nay là đường Châu Văn Liêm

Tòa Đô Chánh 1969, bồn phun nước vòng xoay Bồn Kèn

Đại lộ Nguyễn Huệ, nhìn ra bến Bạch Đằng.




Bộ ảnh Việt Nam xưa cách đây 100 năm

Bộ ảnh Việt Nam xưa cách đây 100 năm

Những bức ảnh hiếm còn sót lại dưới đây sẽ giúp chúng ta hình dung được khung cảnh Việt Nam trong quá khứ. Mời các bạn cùng xem.

▼ Một chợ bán lợn ở Bắc Kỳ, ảnh chụp đầu thế kỷ 20.

19 bức ảnh về cuộc sống Việt Nam cách đây 100 năm - ảnh 1

▼ Tứ đại mỹ nhân Hà thành, ảnh chụp năm 1930.

19 bức ảnh về cuộc sống Việt Nam cách đây 100 năm - ảnh 2

▼ 2 cậu bé ở Bắc Kỳ được giao nhiệm vụ đạp guồng bơm nước vào ruộng, ảnh chụp đầu thế kỷ 20.

19 bức ảnh về cuộc sống Việt Nam cách đây 100 năm - ảnh 3

▼ Sông Tam Bạc, Hải Phòng, ảnh chụp khoảng năm 1910.

19 bức ảnh về cuộc sống Việt Nam cách đây 100 năm - ảnh 4

▼ Cảng Hải Phòng nhìn từ trên cao, ảnh chụp 1931.

19 bức ảnh về cuộc sống Việt Nam cách đây 100 năm - ảnh 5

▼ Những em bé đang bắt cá ở bãi đá, Đồ Sơn, Hải Phòng, ảnh chụp đầu thế kỷ 20.

19 bức ảnh về cuộc sống Việt Nam cách đây 100 năm - ảnh 6

▼ Người Việt bản địa Nam Kỳ chăm sóc cá sấu trong vườn thú ở Mỹ Tho, ảnh chụp năm 1912.

19 bức ảnh về cuộc sống Việt Nam cách đây 100 năm - ảnh 7

▼ Người Hoa đang nhổ lông vịt ở chợ lớn Nam Kỳ, ảnh chụp khoảng 1920.

19 bức ảnh về cuộc sống Việt Nam cách đây 100 năm - ảnh 8

▼ Một cụ bà bán hàng rong ở Nam Kỳ, ảnh chụp đầu thế kỷ 20.

19 bức ảnh về cuộc sống Việt Nam cách đây 100 năm - ảnh 9

▼ Người nông dân ở Tây Ninh, Nam Kỳ, ảnh chụp đầu thế kỷ 20.

19 bức ảnh về cuộc sống Việt Nam cách đây 100 năm - ảnh 10

▼ Đầu kéo chạy hơi nước vận chuyển mía ở Tây Ninh, Nam Kỳ, ảnh chụp năm 1915.

19 bức ảnh về cuộc sống Việt Nam cách đây 100 năm - ảnh 11

▼ Một con đường làng ở Thủ Đức, Nam Kỳ, ảnh chụp năm 1909.

19 bức ảnh về cuộc sống Việt Nam cách đây 100 năm - ảnh 12

▼ Những phụ nữ đang quay tơ dệt vải ở Ba Tri, Bến Tre, Nam Kỳ, ảnh chụp khoảng 1900-1920.

19 bức ảnh về cuộc sống Việt Nam cách đây 100 năm - ảnh 13

▼  Một tiệm giặt khô ở Lái Thiêu, Nam Kỳ, ảnh chụp đầu thế kỷ 20.

19 bức ảnh về cuộc sống Việt Nam cách đây 100 năm - ảnh 14

▼ Săn cọp.

19 bức ảnh về cuộc sống Việt Nam cách đây 100 năm - ảnh 15

▼ Một người đánh xe ngựa mặc áo tơi ở Sài Gòn, ảnh chụp năm 1930.

19 bức ảnh về cuộc sống Việt Nam cách đây 100 năm - ảnh 16

▼ Những em bé ở Sài Gòn, ảnh chụp đầu thế kỷ 20.

19 bức ảnh về cuộc sống Việt Nam cách đây 100 năm - ảnh 17

▼ Hồ Con Rùa – chụp từ tháp chuông nhà thờ Đức Bà đầu thế kỷ 20.

19 bức ảnh về cuộc sống Việt Nam cách đây 100 năm - ảnh 18

▼ Trẻ em hái lá dâu tằm ở Ba Tri, Bến Tre, ảnh chụp khoảng 1900-1920.

19 bức ảnh về cuộc sống Việt Nam cách đây 100 năm - ảnh 19

Nguồn: Dkn.tv




Alexandre de Rhodes và sự tưởng tượng của nền sử học CSVN

Alexandre de Rhodes và sự tưởng tượng về lịch sử cận đại của nền sử học CSVN

Khôi Nguyễn

Gần đây, thành phố Đà Nẵng muốn lấy tên
Alexandre de Rhodes để đặt tên đường phố. Một số trí thức, trong đó có
nhiều người giảng dạy lịch sử trong môi trường đại học, viết thư phản
đối, cho rằng Alexandre de Rhodes là một nhà truyền giáo mang tư tưởng
thực dân, là kẻ có tội với Việt Nam. Lá thư của họ khiến cho thành phố
Đà Nẵng rút lại ý định. 

Từ điển Annamiticum Lusitanum et Latinum của Alexandre de Rhodes xuất bản năm 1651. Nguồn: https://vietnamesetypography.com/

Tuy vậy, những người phản đối ấy hoàn toàn dựa theo những niềm tin có
tính tưởng tượng về Alexandre de Rhodes nói riêng và hình ảnh “Tây
phương” nói chung, được kiến tạo từ trước 1975 ở miền Bắc. 

Bài viết này nhắc lại một cách ngắn gọn những tưởng tượng về lịch sử
ấy để gợi mở cho chúng ta suy nghĩ về sử học, giáo dục và chính trị
đương đại. 

Tưởng tượng về Alexandre de Rhodes

Năm 1971, Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam, trong quyển “Lịch sử Việt
Nam”, tập 1, trang 304, trích dẫn lời Alexandre de Rhodes thể hiện một
âm mưu có tính thực dân của mình: 

“Đây là một vị trí cần được
chiếm lấy và chiếm được vị trí này thì thương gia Âu châu sẽ tìm được
một nguồn lợi nhuận và tài nguyên phong phú”

“Lịch sử Việt Nam”, tập 1, trang 304

Alexandre de Rhodes. Nguồn: YouTube

Uỷ ban này chú thích rằng câu trích này được trích từ sách “Divers voyages et missions en Chine et autres royaumes de l’Orient” (Những
cuộc hành trình và truyền giáo ở Trung Quốc và các vương quốc khác ở
phương Đông) của Alexandre de Rhodes, Paris, 1653, tr. 109-110. 

Tuy vậy, người ta không thể tìm thấy câu nói ấy trong tài liệu nói trên. 

Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam là một định chế nghiên cứu cấp quốc
gia. Vị thế của nó bảo đảm cho uy tín học thuật của nó. Thành ra từ đó,
người ta cứ trích dẫn và lan truyền niềm tin lệch lạc như vậy
về Alexandre de Rhodes mà không cần kiểm tra lại. Từ lâu, những nhà
nghiên cứu như Vương Đình Chữ (1996), Nguyễn Đình Đầu (2006) đã chỉ ra
lỗi trích dẫn này của Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam. Nhưng niềm tin ấy
vẫn chưa mất. Lá thư phản đối đặt tên đường của nhóm “trí thức” nói
trên là một ví dụ. 

Cũng trong sách này, Alexandre de Rhodes nói đến việc xin nước Pháp
cung cấp nhiều “soldats” để “chinh phục toàn cõi phương Đông, đem về quy
phục Chúa Jesus”. Cao Huy Thuần coi từ “soldats” là “binh lính” quân
sự, từ đó kết tội Alexandre de Rhodes mở đường cho thực dân xâm lược
Việt Nam, dù nhà truyền giáo ấy chết trước cuộc xâm lược ấy đến hai trăm
năm, còn Nguyễn Đắc Khắc Xuyên (1) coi
“soldats” không phải là “binh lính” theo nghĩa đen mà chỉ “chiến binh
Phúc âm”, tức giáo sỹ truyền đạo. Số người hiểu theo cách hiểu của Cao
Huy Thuần đông hơn hẳn cách hiểu của Nguyễn Đắc Khắc Xuyên, các
cuộc tranh luận, đúng hơn là cãi vã, về nghĩa của từ “soldats” hầu như
không đặt từ này trong toàn bộ văn bản của “Hành trình và truyền giáo”
để xem tinh thần thực sự của khái niệm cũng như của sách này là gì, có
liên quan đến việc đánh chiếm thuộc địa hay không.  

Trí tưởng tượng nói trên về Alexandre de Rhodes sở dĩ khó có thể nhạt
phai vì nó nằm trong một tưởng tượng khác, lớn hơn, về lịch sử cận đại.
Tưởng tượng về lịch sử cận đại này cũng do Uỷ Ban khoa học xã hội Việt
Nam, từ tiền thân của nó là Ban nghiên cứu Văn Sử Địa, xây dựng nên từ
giữa thập niên 1950, sau khi Đảng Lao động Việt Nam (tức Đảng Cộng sản
Việt Nam) lấy được miền Bắc. 

Tưởng tượng về thế kỷ 19

Tôi có làm những cuộc “phỏng vấn” nhỏ, dành cho những bậc thức giả,
bao gồm cả những người nghiên cứu và giảng dạy lịch sử, một câu hỏi duy
nhất: Trước thế kỷ 20, cuộc xâm lược cuối cùng của Trung Quốc đối
với Việt Nam là cuộc xâm lược nào? Trong sự kiện ấy, ai là tổng chỉ huy
của quân đội Trung Quốc? Ai là người đánh bại đội quân xâm lược đó
?

Hầu hết người được hỏi đều trả lời: Đó là cuộc xâm lược của Mãn Thanh
thời Hoàng đế Càn Long vào năm 1789, chỉ huy đội quân xâm lược là Tôn
Sỹ Nghị, người đánh bại đội quân xâm lược đó là Hoàng đế Quang Trung. 

Chỉ có một học giả duy nhất trả lời đúng: Cuộc xâm lược cuối cùng
là vào thế kỷ 19, thời Từ Hy thái hậu của Mãn Thanh, chỉ huy đội quân
xâm lược là Phùng Tử Tài, còn người đánh bại cuộc xâm lược đó của Trung
Quốc là… thực dân Pháp.
 

Tại sao hầu hết những người am tường sách vở ở Việt Nam mà tôi có dịp
được hỏi lại hoàn toàn không nhớ gì về cuộc xâm lược trong thế kỷ 19
này của Trung Quốc? Vì nó hoàn toàn bị xoá khỏi lịch sử. Nó không được
dạy trong chương trình sử ở cả bậc đại học lẫn trung học. 

Câu chuyện bị lãng quên: Nước Đại Nam trước hai “gọng kìm lịch sử” Pháp – Mãn Thanh

Cuối thế kỷ 19, Việt Nam đối diện với hai siêu cường, Pháp và Mãn
Thanh, một bên đến từ phương Tây, mang theo nền văn minh của chủ nghĩa
tư bản, một bên là thiên triều ngàn năm vẫn đang chìm đắm trong ảo giác
mình là trung tâm của thế giới. 

Ngay sau khi Pháp lấy Nam Kỳ, Mãn Thanh cũng lập kế hoạch đánh chiếm
miền Bắc. Mãn Thanh quyết tâm đánh chiếm Bắc Kỳ vì Việt Nam đã suy yếu,
nhằm bảo vệ mô hình thiên triều – chư hầu ngàn năm, còn Pháp quyết lấy
nốt phần còn lại. Hai bên tất yếu bước vào một cuộc đụng đầu lịch sử,
dần dần đi đến chỗ đánh nhau ác liệt ngay trên lãnh thổ Việt Nam, qua
một loạt trận đánh như Sơn Tây, Bắc Ninh, Hưng Hóa, Tuyên Quang năm
1883. 

Mãn Thanh đã quyết tâm đến mức dốc tổng lực đánh bại Pháp trên đất
liền, chiếm toàn bộ vùng trung du phía Bắc, áp sát khu vực đồng bằng
sông Hồng. Thủ tướng Pháp phải từ chức. Nhưng quân Pháp lật ngược thế cờ
bằng cách mở ra chiến trường trên biển, đánh chiếm đảo Đài Loan và huỷ
diệt Bắc Dương hạm đội của Mãn Thanh ở Phúc Châu. 

Pháp – Thanh ký Hiệp ước Thiên Tân 1885. Nguồn: Laurence Oliphant (1860). Narrative of the Earl of Elgin’s Mission to China and Japan in the Years 1857, ’58, ’59. p. 279.

Mãn Thanh ban đầu thấy chỉ khả thi khi đặt mục tiêu giữ lại vùng Bắc
Kỳ, nhưng khi phải ký vào Hiệp ước Thiên Tân 1885, Mãn Thanh buộc chấp
nhận mất toàn bộ chư hầu Việt Nam. 

Hiệp ước Thiên Tân 1885 giữa Pháp và Mãn Thanh đã tạo ra một bước ngoặt lịch sử cho cả Mãn Thanh và Việt Nam.

Nếu như việc phải nhượng địa Hong Kong cho nước Anh chỉ khiến Mãn
Thanh thức tỉnh về khả năng kỹ thuật của phương Tây nhưng vẫn giữ vững
niềm tin vào hệ thống thiên triều – chư hầu, thì đến khi mất chư hầu
Việt Nam vào tay Pháp, ý thức hệ và cấu trúc thiên triều – chư hầu của
họ bị đánh tận gốc rễ. Việc Mãn Thanh không thể giữ Việt Nam trong cấu
trúc thiên triều – chư hầu đã khiến Nhật Bản, lúc này đã trở thành một
cường quốc, quyết định giành lấy một chư hầu khác của Mãn Thanh là Triều
Tiên. Mãn Thanh tiếp tục mất Triều Tiên trong cuộc chiến Nhật Thanh 10
năm sau đó. 

Từ đó, việc cấu trúc và ý thức hệ thiên triều – chư hầu bị sụp đổ
toàn diện trong thế kỷ 19 trở thành một trong những nội dung chủ yếu của
ý niệm “thế kỷ ô nhục” trong chủ nghĩa dân tộc Trung Hoa hiện đại.  

Còn ở Việt Nam, do cuộc chiến Pháp – Thanh ảnh hưởng quá lớn đến số
phận Việt Nam, nên dù xoá cuộc chiến này khỏi Sách giáo khoa sử cho học
sinh phổ thông, ngày nay, các sử gia ở Hà Nội vẫn phải dạy học sinh về
một số điều liên quan đến cuộc chiến ấy: đội quân Cờ Đen của tướng Mãn
Thanh là Lưu Vĩnh Phúc và Hiệp ước Thiên Tân 1885. 

Đó là sự kiện không thể không dạy. Quân đội Lưu Vĩnh Phúc của Mãn
Thanh đã lập hai chiến công là giết hai chỉ huy của Pháp trong hai trận ở
Cầu Giấy, còn Hiệp ước Pháp – Thanh 1885 thì mở ra trang sử mới của
Việt Nam. Nhưng, nói về Lưu Vĩnh Phúc và Hiệp ước Pháp – Thanh mà lại
không nói gì về cuộc chiến tranh quyết định quyền kiểm soát Việt Nam của
hai nước Pháp – Thanh này, các sử gia của chúng ta đã cho học sinh phổ
thông học một bức tranh lịch sử cận đại theo kiểu… Pháp xâm lược Việt
Nam, rồi đột nhiên Mãn Thanh xuất hiện ký một hiệp ước quyết định số
phận chúng ta. 

Lưu Vĩnh Phúc vốn là quân Thái Bình Thiên Quốc, bị triều đình Mãn
Thanh đánh bại, chạy sang Việt Nam làm thổ phỉ, gây ra vô số tội ác cho
dân chúng. Triều đình Huế không thể đánh dẹp, phải nhờ Mãn Thanh đánh
giúp. Khi triều đình Mãn Thanh cử quân đội vào Việt Nam để đụng đầu với
Pháp, quân đội triều đình Mãn Thanh đã thâu nạp luôn đội quân thổ phỉ
Lưu Vĩnh Phúc, ban cho phẩm hàm triều đình, thay vì tiêu diệt nó. 

Sách giáo khoa sử lớp 7 hiện nay ở Việt Nam dùng khái niệm “quân ta”
để gọi Lưu Vĩnh Phúc. Lối giáo dục này bắt đầu từ hơn 70 năm trước, khi
sử gia Trần Văn Giàu và Trần Huy Liệu ở Hà Nội bắt đầu xây dựng bức
tranh “lịch sử cận đại”. Lưu Vĩnh Phúc có tờ Hịch kêu gọi binh lính của
mình đánh Pháp, trong đó, đoạn đầu tiên, ông nói rõ mục đích của cuộc
chiến: Việt Nam là chư hầu của Mãn Thanh, nay Pháp sang chiếm mất chư
hầu của ta, ta và Pháp là kẻ thù không đội trời chung.

Sử gia Trần Văn Giàu làm gì khi trích dẫn bài Hịch này vào bộ sử “Bắc
kỳ kháng Pháp”? Ông cắt bỏ đoạn mở đầu thể hiện rõ ý thức hệ và mục
đích chiến tranh của họ Lưu. Nhờ thế, sử gia họ Trần dễ dàng gắn huân
chương “tình hữu nghị chiến đấu của hai dân tộc Việt Trung” cho Lưu Vĩnh
Phúc. 

Lịch sử của sự phân đôi phải / trái

Xoá bỏ cuộc xâm lược của Mãn Thanh và cuộc chiến Pháp Thanh vào thế
kỷ 19, các sử gia miền Bắc xây dựng thế kỷ 19 theo mô hình phân đôi: một
bên là thực dân Pháp xâm lược, nhà Nguyễn hèn nhát hàng giặc, một bên
là “dân tộc” anh hùng kháng chiến chống ngoại xâm. Trên cái nền bức
tranh phân đôi con người làm hai tuyến, bên trái là “xâm lược phương
Tây” và bên phải là “nhân dân anh hùng”, người ta lần lượt điêu khắc các
nhân vật lịch sử sao cho ăn khớp với bức tranh ấy: Alexandre de Rhodes
dĩ nhiên thuộc bên trái bức tranh, phong trào văn thân (vốn không có ý
niệm về lòng ái quốc mà chỉ chống người theo đạo Thiên chúa giáo để bảo
vệ hệ thống phong kiến nơi họ có thể tìm thấy vị trí xã hội của mình)
được xếp vào bên phải.  

Vẽ bức tranh thế kỷ 19 theo cách ấy, các sử gia của Viện Sử học ở Hà
Nội từ thập niên 1950 dễ dàng tiếp tục vẽ bức tranh của giai đoạn tiếp
theo như cách chúng ta thấy trong các giáo trình “Lịch sử Đảng Cộng sản
Việt Nam” ngày nay: “nhân dân” tuy anh hùng nhưng không có đường lối đấu
tranh đúng đắn, liên tục thất bại cho đến khi Đảng Cộng sản ra đời,
mang về Việt Nam vũ khí tối tân là con đường cách mạng vô sản. Đảng Cộng
sản Việt Nam là nhân vật trung tâm của bức tranh. Lịch sử quốc gia thế
kỷ 20 được đồng nhất với lịch sử Đảng. 

Cách học ấy bắt đầu từ giữa thập niên 1950, đến nay đã kéo dài khoảng 4 thế hệ. 

Phục hồi ký ức?

Trần Trọng Kim, người cha của sử học hiện đại Việt Nam, 1883-1953

Cuộc chiến Pháp – Thanh và sự thất bại của Việt Nam khi bị kẹt giữa
hai siêu cường ấy đã được sử gia hiện đại đầu tiên của Việt Nam, Trần
Trọng Kim, phân tích kỹ lưỡng trong “Việt Nam sử lược”, bộ sách giáo
khoa lịch sử đầu tiên của nước Việt Nam, xuất bản vào 1919-1920. Cuốn
sách đã bị cấm ở miền Bắc sau 1954 và toàn quốc sau 1975. Nếu chấp nhận
phục hồi ký ức về cuộc xâm lược của Mãn Thanh và cuộc chiến Pháp Thanh
thế kỷ 19, chúng ta sẽ phải chấp nhận bức tranh thế kỷ ấy như người cha
của nền sử học Việt Nam đã khắc họa một cách khách quan: Đó là thế kỷ mà
Việt Nam bị mắc kẹt vào hai gọng kìm Pháp – Thanh, bị giằng xé giữa hai
mô hình “chư hầu của thiên triều phương Bắc” và “thuộc địa của thực dân
phương Tây”, bị buộc phải lựa chọn giữa hai con đường “Tây phương hoá”
hay “tiếp tục nằm trong vòng ảnh hưởng của vùng văn hoá chữ Hán”. 

Điều đó có nghĩa là bức tranh lịch sử từ đầu thế kỷ 20 cũng cần được
vẽ lại toàn bộ. Trong bức tranh này, vị trí của các lực lựợng chính trị,
các phong trào xã hội, các vấn đề thuộc phạm vi tinh thần như lịch sử
tư tưởng, văn hoá, văn học nghệ thuật… cũng sẽ được tái định vị một cách
căn bản.

Năm 1987, sử gia Nhật Bản  Tsuboi Yoshiharu xuất bản “Nước Đại Nam
đối diện với Pháp và Trung Hoa”, phân tích thế kỷ 19, trọng tâm là thời
Tự Đức, như là thời đại Việt Nam mắc kẹt giữa hai siêu cường. Cuốn sách
được các học giả Nguyễn Đình Đầu, Bùi Trân Phượng Tăng Văn Hỷ, Vũ Văn
Kính dịch ra tiếng Việt và Trần Văn Giàu là người viết lời giới thiệu.
Trần Văn Giàu đã đánh giá cách tiếp cận của Tsuboi là “mới mẻ” mà “quên”
mất rằng, cách hiểu ấy về thế kỷ 19 đã ra đời ngay từ đầu thế kỷ 20,
trước sử gia Nhật Bản ấy đến bảy thập niên, trong “Việt Nam sử lược”,
cuốn sách mà chính các sử gia kiêm chính trị gia ở Hà Nội đã cấm đoán từ
thập niên 1950 để độc quyền một cách kể chuyện lịch sử duy nhất. 

Nhận thức về lịch sử (trả lời câu hỏi “chúng ta đến đây từ đâu và như
thế nào?”) và lựa chọn chính trị (trả lời câu hỏi “chúng ta làm gì bây
giờ?”) chỉ là hai mặt của một tờ giấy. Hiểu theo cách đó, như ta thấy
qua câu chuyện phản đối đặt tên đường cho Alexandre de Rhodes nói
trên, những lựa chọn của người Việt Nam hôm nay vẫn chìm đắm trong một
màn sương mù của tư duy được đình hình từ giữa thế kỷ trước bởi Ban
nghiên cứu Văn Sử Địa.

Lãng quên bài học thất bại khi đối diện yêu cầu lịch sử phải lựa chọn
giữa Pháp – Thanh với tư cách là hai mô hình, hai thế giới, Việt Nam
ngày nay tiếp tục đối diện câu hỏi ấy một lần nữa.  

Đại học Oregon

(1) Nguyễn Khắc Xuyên tên thật của Hồng Nhuệ người dịch cuốn Divers voyages et missions du P. Alexandre de Rhodes en la Chine,& autres Royaumes de l’Orient, Uỷ ban Đoàn kết Công giáo Tp Hồ Chí Minh xuất bản, 1994.


Nguồn:

Alexandre de Rhodes và sự tưởng tượng về lịch sử cận đại của nền sử học Việt Nam. BY KHOIN ·

THÁNG 11/27, 2019. DCVOnline phụ chú và minh họa bổ túc.




Người đặt tên cho đường phố Sài Gòn trước 1975 và ý nghĩa của các tên đường

Người đặt tên cho đường phố Sài Gòn trước 1975 và ý nghĩa của các tên đường

Từ lâu, tôi đã có dịp bày tỏ lòng ngưỡng mộ và khâm phục về việc đặt tên cho các đường phố tại Sài Gòn vào năm 1956. Vì đây là một công việc quá xuất sắc và quá hoàn thiện, nên tôi vẫn đinh ninh rằng đó phải là một công trình do sự đóng góp công sức và trí tuệ của rất nhiều người, của một ủy ban gồm nhiều học giả, nhiều sử gia, nhiều nhà văn, nhà báo…

Nhưng thật là bất ngờ, bất ngờ đến kinh ngạc, khi qua tài liệu đính kèm của tác giả Nguyễn Văn Luân, chúng ta được biết kiệt tác của lịch sử này đã được hoàn thành bởi… một người. Người đó là ông Ngô Văn Phát, Trưởng Phòng Họa Đồ thuộc Tòa Đô Chánh Sài Gòn.

Nhà văn Thuần Phong Ngô Văn Phát và việc đặt tên đường phố Sài Gòn

Trong những năm làm việc tại Tòa Đô Chánh Sài Gòn, tôi có dịp góp phần trông coi việc xây dựng và tu bổ đường xá, lúc thì tại Khu Kiều Lộ Sài Gòn Tây (Chợ Lớn) gồm 6 quận 5, 6, 7, 8, 10 và 11, lúc thì tại Khu Kiều Lộ Sài Gòn Đông (Sài Gòn) gồm 5 quận 1, 2, 3, 4 và 9. Hàng ngày họp với các ông cai lục lộ phụ trách từng khu vực, nghe báo cáo đường thì ngập nước sau cơn mưa, đường thì có ổ gà, nhựa đường tróc hết trơ lớp đá xanh đá đỏ nền đường, đường thì dân xây cất trên lộ giới tràn ra lề đường, nên tôi gần như thuộc lòng tên hơn 300 con đường.

Qua bao nhiêu năm lịch sử của thành phố, hầu hết đều có tên Tây như:

  • Boulevard Charner
  • Boulevard Galliéni
  • Boulevard Kitchener
  • Boulevard Norodom

Sau hiệp định Genève tháng 7 năm 1954 chính quyền Pháp bàn giao cho Chính Phủ Bảo Đại, với Thủ Tướng Ngô Đình Diệm.

Để đánh dấu việc giành độc lập từ tay người Pháp, Toà Đô Chánh Sài Gòn được lệnh gấp rút thay thế toàn bộ tên đường từ tên Pháp qua tên Việt trong khoảng thời gian ngắn nhất. Trong lịch sử của các thành phố có bao nhiêu lần đổi tên hàng loạt toàn bộ các con đường như thế này? Có lẽ vô cùng hiếm hoi.

Đại lộ Trần Hưng Đạo

Việc đối chiếu tên các danh nhân trong lịch sử 4000 năm để đặt tên đường sao cho hợp lý không phải dễ. Chỉ nghĩ đơn thuần, khi dùng tên Vua “Trần Nhân Tôn” và Tướng “Trần Hưng Đạo”, người làm dưới trướng của Vua, để đặt tên cho 2 con đường thì đường nào to và quan trọng hơn? Câu hỏi nhỏ như vậy còn thấy không đơn giản, huống chi cân nhắc cho ngần ấy con đường trong một thời gian gấp rút thật không dễ.

Lúc bấy giờ công việc này được giao cho Ty Kỹ Thuật mà Phòng Hoạ Đồ là phần hành trực tiếp. May mắn thay cho thành phố có được nhà văn Ngô Văn Phát, bút hiệu Thuần Phong, có bằng Cán Sự Điền Điạ lúc ấy đang giữ chức Trưởng Phòng Hoạ Đồ.

Thuần Phong Ngô Văn Phát

Năm 1956, sau hơn ba tháng nghiên cứu, ông đã đệ trình lên Hội Đồng Đô Thành, và toàn bộ danh sách tên đường ấy đã được chấp thuận. Khi tôi vô làm năm 1965 và hàng ngày lái xe đi công trường, đụng chạm với các con đường mới, cảm nhận được sự uyên bác về lịch sử của ông. Nhìn những tên đường trên họa đồ, khu nào thuộc trung tâm thành phố, khu nào thuộc ngoại ô, đường nào tên gì và vị trí gắn bó với nhau, càng suy nghĩ càng hiểu được cái dụng ý sâu xa của tác giả.

Các đường được đặt tên với sự suy nghĩ rất lớp lang mạch lạc với sự cân nhắc đánh giá bao gồm cả công trạng từng anh hùng một lại phù hợp với địa thế, và các dinh thự đã có sẵn từ trước. Tác giả đã cố gắng đem cái nhìn vừa tổng quát lại vừa chi tiết, những khía cạnh vừa tình vừa lý, đôi khi chen lẫn tính hài hước, vào việc đặt tên hiếm có này. Tôi xin kể ra đây vài thí dụ, theo sự suy đoán riêng của mình, bởi vì ông có nói ra đâu, nhưng tôi thấy rõ ràng là ông có ý ấy:

  • Đầu tiên là những con đường mang những lý tưởng cao đẹp mà toàn dân hằng ao ước: Tự Do, Công Lý, Dân Chủ, Cộng Hoà, Thống Nhất. Những con đường hoặc công trường này đã nằm ở những vị trí thích hợp nhất.
  • Đường đi ngang qua Bộ Y Tế thì có tên nào xứng hơn là Hồng Thập Tự.
Trụ sở Bộ Y Tế ở góc Hồng Thập Tự – Lê Văn Duyệt (Nay là Nguyễn Thị Minh Khai – CMT8)
  • Đường de Lattre de Tassigny chạy từ phi trường Tân Sơn Nhất đến bến Chương Dương đã được đổi tên là Công Lý, phải chăng vì đi ngang qua Pháp Đình Sài Gòn. Con đường dài và đẹp rất xứng đáng. Ba đường Tự Do, Công Lý và Thống Nhất giao kết với nhau nằm sát bên nhau bên cạnh dinh Độc Lập.
Tòa Án trên đường Công Lý
  • Đại Lộ Nguyễn Huệ nằm giữa trung tâm Sài Gòn nối từ Toà Đô Chánh đến bến Bạch Đằng rất xứng đáng cho vị anh hùng đã dùng chiến thuật thần tốc phá tan hơn 20 vạn quân Thanh. Đại Lộ này cũng ngắn tương xứng với cuộc đời ngắn ngủi của ngài.
oàn cảnh đại lộ Nguyễn Huệ năm 1969
  • Những danh nhân có liên hệ với nhau thường được xếp gần nhau như Đại Lộ Nguyễn Thái Học với đường Cô Giang và đường Cô Bắc, cả ba là lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Yên Bái. Hoặc đường Phan Thanh Giản với đường Phan Liêm và đường Phan Ngữ, Phan Liêm và Phan Ngữ là con, đã tiếp tục sự nghiệp chống Pháp sau khi Phan Thanh Giản tuẫn tiết.
  • Những đại lộ dài nhất được đặt tên cho các anh hùng Trần Hưng Đạo, Trần Quốc Toản, Lê Lợi và Hai Bà Trưng. Mỗi đường rộng và dài tương xứng với công dựng nước giữ nước của các ngài.
  • Đường mang tên Lê Lai, người chịu chê’t thay cho Lê Lợi thì nhỏ và ngắn hơn nằm cận kề với đại lộ Lê Lợi.
  • Đường Khổng Tử và Trang Tử trong Chợ Lớn với đa số cư dân là người Hoa.
  • Bờ sông Sài Gòn được chia ra ba đoạn, đặt cho các tên Bến Bạch Đằng, Bến Chương Dương, và Bến Hàm Tử, ghi nhớ những trận thuỷ chiến lẫy lừng trong lịch sử chống quân Mông Cổ, chống Nhà Nguyên của Hưng Đạo Đại Vương vào thế kỷ 13.
  • Cụ Nguyễn Du, phải tìm đường nào đặt tên cho xứng? Tôi thấy con đường vừa dài vừa có nhiều biệt thự đẹp, với hai hàng cây rợp bóng quanh năm, lại đi ngang qua công viên đẹp nhất Sài Gòn, vườn Bờ Rô, và đi ngang qua Dinh Độc Lập, thì quá xứng đáng. Không có đường nào thích hợp hơn. Tuyệt! Vườn Bờ Rô cũng được đổi tên thành Vườn Tao Đàn làm cho đường Nguyễn Du càng thêm cao sang.
  • Vua Lê Thánh Tôn, người lập ra Tao Đàn Nhị Thập Bát Tú, cũng cho mang tên một con đường ở địa thế rất quan trọng, đi ngang qua một công viên góc đường Tự Do, và đi trước mặt Toà Đô Chánh.
  • Trường nữ Trung Học Gia Long lớn nhất Sài Gòn thì, (trớ trêu thay?), lại mang tên ông vua sáng lập nhà Nguyễn. Trường nữ mà lại mang tên nam giới! Có lẽ nhà văn Thuần Phong muốn làm một chút gì cho trường nữ Trung Học công lập lớn nhất thủ đô có thêm nữ tính, nên đã đặt tên hai đường song song nhau cặp kè hai bên trường bằng tên của hai nữ sĩ: Bà Huyện Thanh Quan và Đoàn Thị Điểm. Chùa Xá Lợi nằm trên đường Bà Huyện Thanh Quan thấy cũng nhẹ nhàng.
  • Thẳng góc với hai đường Bà Huyện Thanh Quan và Đoàn Thị Điểm là đường Hồ Xuân Hương. Ba nữ sĩ nằm bên cạnh nhau, thật là có lý, nhưng có lý hơn nữa có lẽ là đường Hồ Xuân Hương đi ngang qua bệnh viện Da Liễu. Tác giả những câu thơ “Vành ra ba góc da còn thiếu, Khép lại hai bên thịt vẫn thừa” mà cho mang tên đường có bệnh viện Da Liễu có lẽ cũng xứng hợp.
    Ông Nhà Văn – Trưởng Phòng Họa Đồ quả là sâu sắc.

Rất tiếc là lúc vào làm việc thì Thuần Phong Ngô Văn Phát đã về hưu nên tôi không được hân hạnh gặp mặt. Mãi sau này mới có dịp đọc tiểu sử của ông, mới hết thắc mắc làm sao chỉ là một công chức giống như tôi mà ông đã làm được việc quá xuất sắc và hi hữu này.

Cũng chuyện đặt tên đường

Vua Lê Thánh Tôn đã mở mang bờ cõi nước ta từ Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định. Rồi sau đó, chúa Nguyễn Hoàng và con cháu đã vượt đèo Cù Mông, đánh chiếm Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, vĩnh viễn xóa sổ nước Chiêm Thành khỏi bản đồ thế giới. Rồi còn tiếp tục mang về cho dân tộc cả một đồng bằng Nam Phần mênh mông bao la, từ Đồng Nai đến Cà Mau, Rạch Giá, Hà Tiên, Phú Quốc…

Cũng phải kể luôn cả “Hoàng Triều Cương Thổ” (vùng đất mà thực dân Pháp dành riêng cho các vua nhà Nguyễn) là vùng Cao nguyên Trung phần trù phú màu mỡ hiện nay. Dĩ nhiên công cuộc mở mang bờ cõi này cũng bao gồm cả các quần đảo Hoàng Sa và Truờng Sa nữa.

Nghĩa là hơn một nửa diện tích đất liền của Việt Nam hiện nay là do dòng họ của Chúa Nguyễn Hoàng đã mang về cho dân tộc Việt Nam!

Riêng Chúa Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần, là người đã có công rất lớn trong công cuộc Nam Tiến của dân tộc Việt Nam. Đặc biệt là Chúa Hiền Vương đã đóng góp rất nhiều công sức trong việc bình định và chinh phục vùng đất Gia Định ngày xưa. Gia định ngày xưa bao gồm Biên Hòa, Long Khánh, Bà Rịa, Vũng Tàu, Tây Ninh, Phước Long, Bình Long, Long An, Mỹ Tho, Gia Định, Sài Gòn… bây giờ. Cho nên chính quyền năm 1956 đã lấy tên của ông để đặt cho một trong hai con đường chính từ hướng Bắc dẫn vào trung tâm Thành Phố Sài Gòn. (Sau năm 1975, tên đường Hiền Vương bị thay bằng tên của Võ Thị Sáu – Đường Nguyễn Hoàng bị đổi thành Trần Phú…).

Nhắc thêm về giấc mộng… Tây Tiến chưa thành. Hai vị trung thần nhà Nguyễn là Lê Văn Duyệt và Trương Minh Giảng đã mở mang bờ cõi nước ta tới tận biên giới… Thái Lan bây giờ, đã thiết lập thêm một Trấn mới là Trấn Tây Thành, (hai Trấn kia là Trấn Bắc Thành và Trấn Gia Định Thành). Phải chăng chính vì vậy mà ngay từ khi vừa giành được chủ quyền từ tay thực dân Pháp, hai con đường lớn từ trung tâm Sài Gòn hướng về Bà Quẹo để sang thẳng đất Miên qua ngả Gò Dầu, đã được mang tên hai vị Anh Hùng Tây Tiến nổi danh này. Đó là đường Trương Minh Giảng và đường Lê Văn Duyệt. Phải chăng đó cũng như là một nhắc nhở cho các thế hệ mai sau về một sứ mạng chưa thành, một “Mission unaccomplished”…

Tiểu sử nhà văn Ngô Văn Phát:

Nhà văn, nhà họa đồ Ngô Văn Phát, bút hiệu Thuần Phong, Tố Phang, Đồ Mơ, sinh ngày 16-10-1910 tại huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.

Thuở nhỏ ông học ở Bạc Liêu, Sài Gòn, đậu bằng Thành Chung rồi nhập ngạch họa đồ ngành công chánh. Ông ham thích văn chương từ ngày còn ngồi trên ghế nhà trường, từng có thơ đăng trên Phụ Nữ Tân Văn, họa mười hai bài Thập Thủ Liên Hoàn của Thương Tân Thị… Có lúc ông dạy Việt Văn tại trường Pétrus ký Sài Gòn.

Năm 1957 ông có bài đăng trên bộ Tự điển Encyclopedia – Britannica ở Luân Đôn (Anh Quốc). Đó là chuyên đề Khảo cứu về thành phố Sài Gòn.

Năm 1964 chuyên đề Ca dao giảng luận in trên tạp chí Trường Viễn đông Bác cổ ở Paris (sau in thành sách ở Sài Gòn). Cùng năm này Trường Cao học Sorbonne (Paris), ông cũng có chuyên đề Nguyễn Du et la métrique populaire (Nguyễn Du với thể dân ca) trong bộ sách nhan đề: Mélanges sur Nguyen Du (Tạp luận về Nguyễn Du).

Những năm 70 ông được mời giảng môn Văn học dân gian tại Đại học Văn khoa, Sư phạm Huế và Cần Thơ.

Ông mất trong năm 1983 tại Sài Gòn.

Nguồn: Vũ Linh Châu và Nguyễn Văn Luân (Trithucvn.net và tongphuochiep.com)

Theo Internet




2050: MIỀN NAM VN CHÌM DƯỚI NƯỚC BIỂN

2050: MIỀN NAM VN CHÌM DƯỚI NƯỚC BIỂN

Miền Nam Việt Nam có thể chìm dưới mặt biển trong 30 năm tới, hậu quả của thay đổi khí hậu. Gần một phần tư dân số VN hiện đang sống trong những vùng sẽ bị chìm ngập, theo một nghiên cứu vừa được công bố tại Hoa Kỳ

Theo New York Times, ngày 29/10, những cuộc nghiên cứu mới nhất của Climate Central, một tổ chức khoa học tại New Jersey, số nạn nhân của hiện tượng nước biển dâng cao sẽ gấp 3 con số dự đoán trước đây, đe doạ xoá bỏ nhiều thành phố lớn miền duyên hải trên thế giới, trong đó có các tỉnh miền Nam Việt Nam

Các tác giả bản bản nghiên cứu, công bố thứ Ba vừa qua, cho biết đã áp dụng một phương pháp mới, chính xác hơn, để tính độ cao của đất và nước biển, căn cứ theo các dữ kiện do vệ tịnh cung cấp, để kết luận là những dự đoán trước đây quá lạc quan.

Phương pháp nói trên cho thấy khoảng 150 triệu hiện đang sống trên các vùng sẽ chìm dưới nước trước 2050

SÀI GÒN CHÌM DƯỚI NƯỚC
Theo Climate Central, ‘’ miền Nam Việt Nam có thể hầu như biến mất ‘’. Bản đồ bên trái dưới đây cho thấy những vùng ven biển sẽ bị ngập nước trước 2050, theo dự đoán trước đây. Bản đồ bên phải : hầu hết miền Nam sẽ bị chìm ngập, theo Climate Central.

Vẫn theo tổ chức trên, một phần của Sài Gòn, trung tâm kinh tế VN, sẽ chìm dưới nước. Hiện nay, trên 20 triệu người Việt đang sống trong những vùng sẽ bị chìm ngập. Những dự đoán này chưa tính những dữ kiện khác, như sự tăng trưởng dân số hay nạn lở đất ven biển trong 30 năm tới
Tại Thái Lan, trên 10% dân số sống trên những vùng bị đe doạ, theo Loretta Hieber Girardet, cư dân Bangkok, phụ trách kế hoạch giảm thiểu hậu quả của thảm hoạ thiên nhiên tại Liên Hiệp Quốc.

VIỄN ẢNH KHỦNG KHIẾP
Hiện tượng thay đổi khí hậu sẽ đe doạ các thành phố trên nhiều phương diện, theo Loretta Hieber Girardet. Ngoài nạn bị trực tiếp đe doạ, các thành phố sẽ phải tiếp nhận các nông hay ngư dân nghèo, di cư tới kiếm việc làm. ‘’Đó là một viễn ảnh khủng khiếp ‘’, theo bà Hieber Girardet

Tại Thượng Hải, một trong những trung tâm kinh tế quan trọng nhất Á Châu, nước biển sẽ cuốn trôi trung tâm thành phố và những vùng phụ cận.
Trên khắp thế giới, nhiều thành phố lớn, kể cả các di tích văn hoá, lịch sử sẽ chìm dưới nước Climate Central kết luận : mặc dù viễn ảnh đáng sợ, những vùng trên không nhất thiết bị khai tử, nếu có những biện pháp thích ứng
Benjamin Strauss, tổng giám đốc Climate Central nói: hiện nay, 110 triệu người đã và đang sống dưới mực nước biển, nhờ các hệ thống đê điều, các đập nước. Để tránh tai hoạ, các thành phố sẽ phải đầu tư rất nhiều trong kế hoạch phòng ngừa, và phải khởi công sớm, trước khi quá trễ

Dina Ionesco, thuộc tổ chức điều hợp di dân quốc tế, nói các quốc gia phải nghĩ tới, ngay từ bây giờ, kế hoạch di dân nội địa, đưa dân tới những vùng an toàn hơn. Bà cho hay đã báo động nhiều lần sẽ có những cuộc di dân lớn chưa từng thấy trong lịch sử.

Theo tướng Castellaw, thuộc tổ chức Center for Climate, tai hoạ dân mất đất sống vì thay đổi khí hậu, sẽ đe doạ sự ổn định xã hội, chính trị trên thế giới. Ông nói : đó không phải chỉ là một vấn đề môi sinh, đó còn là một vấn đề nhân đạo, an ninh và quân sự

VN ĐÃ LÀM GÌ ĐỂ ĐƯƠNG ĐẦU VỚI TAI HOẠ ?
Đọc báo cáo Climate Central và bài báo trên New York Times, người ta không khỏi đặt câu hỏi : Việt Nam đã có kế hoạch gì để đương đầu với đại hoạ trong những năm tới, ngoài những sáng kiến kiểu mỗi nhà trang bị một cái chum hứng nước, hay cõng nước lên núi chữa lửa, hay vơ vét thật nhanh để mua nhà ở ngoại quốc ?

Những nước láng giềng đã ráo riết chuẩn bị.
Lấy thí dụ Indonésie. Chính phủ Indonésie coi viễn ảnh thủ đô Jakarta chìm dưới nước biển trước 2050 là một thực tế không thể nhắm mắt làm ngơ. Họ đã quyết định …rời thủ đô Jakarta về phía đông Bornéo, ngày nay là một khu rừng hoang.

Những ai đã có dịp ghé Jakarta khó tưởng tượng người ta có thể bỏ một thành phố sầm uất, với 10 triệu dân, để xây một thủ đô mới. Và đó không phải là một dự án trên giấy tờ. Dự án, với ngân khoản khởi đầu khổng lồ 40 tỉ dollars, sẽ bất đầu thực hiện trong vài tháng tới, từ đầu năm 2020 !
Viện Nam sẽ làm gì, hay đúng hơn, không làm gì, không phải là chuyện riêng của một tập đoàn cầm quyền, của một đảng.
Đó là chuyện chung của toàn dân, vì liên hệ tới mạng sống của 20 triệu người, một phần tư dân số. Mỗi người phải lên tiếng, phải có thái độ, đòi hỏi. Không thể thờ ơ với mạng sống của chính mình, của con cháu mình.

Theo Internet

Rising sea levels on track to destroy the homes of 300 million people by 2050

https://www.cbsnews.com/news/rising-sea-levels-on-track-to-destroy-homes-of-300-million-people-by-2050/

tuthuc-paris-blog.com )




CHA RỒNG MẸ TIÊN dạy con cái LẠC VIỆT hát ca kiểu 6 – 8 lục bát từ thời nào?

http://vantholacviet.com/wp-content/uploads/2018-CHA-RONG-ME-TIEN-DAY-CON-hat-THO-luc-bat-rev2.pdf

CHA RỒNG MẸ TIÊN
dạy con cái LẠC VIỆT
hát ca kiểu 6 – 8 lục bát
từ thời nào?

Kính Nhớ Ngày Giỗ Tổ Lạc Việt
LsNguyenCongBinh@gmail.com




Vấn đề biên giới VN dưới thời quân chủ

Từ Chính Sách Hòa Thân của Các Vua Nhà Lý đến Hoàng Triều Cương Thổ Thời Quốc Trưởng Bảo Đại:

 

image020

Phạm Cao Dương

 

Nam quốc sơn hà Nam Đế cư

 

Thơ cổ đời Lý, thời Lý Thường Kiệt chống quân Nhà Tống (1076)

 

            Sau khi tác phẩm Bảo Đại – Trần Trọng Kim và Đế Quốc Việt Nam được xuất bản vào đầu năm 2017, nhiều độc giả đã liên lạc với tác giả bầy tỏ sự thắc mắc về danh xưng “Đế Quốc Việt Nam”, danh xưng đã được Vua Bảo Đại và Chính Phủ Trần Trọng Kim lựa chọn làm quốc hiệu chính thức của nước Việt Nam đầu tiên độc lập sau 80 năm dài thuộc Pháp.  Đây là một thắc mắc không phải là không có lý do vì hai chữ “đế quốc” trong ngôn ngữ Việt Nam hiện tại thường được hiểu theo nghĩa xấu của nó và được dùng cho các đại cường quốc thuộc địa thời Thế Kỷ 19 và 20, còn Việt Nam thì chỉ là một nước nhỏ còn đang phải tự mình tranh đấu giành độc lập và tiến bộ cho chính mình mà chưa xong, nói chi đến chuyện làm đế quốc.  Tự nhận như vậy là không biết phận mình, là lộng ngôn.  Đế quốc theo các vị này hiểu là đồng nghĩa với bạo lực, với nước lớn bắt ép nước nhỏ, là xâm lăng, đô hộ, là chiếm đóng nhằm khai thác tài nguyên thiên nhiên, nhân lực và thị trường để làm giàu cho mình.  Nói tới đế quốc là người ta nghĩ tới Trung Hoa dưới các Triều Đại Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh…và luôn cả hiện tại ở Đông Á, Đế Quốc La Mã thời xưa ở Âu Châu, rồi Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha thời Cận Đại, sau đó là Đế Quốc Anh, Đế Quốc Pháp, rồi Đế Quốc Nhật, sau chót, đúng hay không đúng, Đế Quốc Mỹ…mà người ta phải chống lại như chống tội ác. Thực sự danh xưng đế quốc trong quốc hiệu Đế Quốc Việt Nam hoàn toàn không mang ý nghĩa này mà chỉ là “nước có hoàng đế” theo nghĩa đầu tiên Đào Duy Anh ghi trong Hán Việt Từ Điển của ông, là nơi Hoàng Đế nước Nam cư ngụ, nơi Nam Đế cư, theo bài thơ cổ tương truyền là của Lý Thường Kiệt dẫn trên. Vua Bảo Đại vì mang danh vị là hoàng đế nên nước của ông gọi là đế quốc.  Jules Silvestre qua tác phẩm về lịch sử Việt Nam xuất bản ở Paris năm 1889 đã lấy nhan đề là L’Empire d’Annam et le Peuple Annamite, kế đến Charles Gosselin với tác phẩm L’Empire d’Annam, xuấn bản năm 1904, rồi Yoshiharu Tsuboi với tác phẩm L’Empire Vietnamien Face à la Chine et la France, 1847-1885 [i], xuất bản năm 1987.   Đơn giản chỉ có thế.  Đế Quốc Việt Nam chỉ có nghĩa là núi sông, là đất nước Vua Việt Nam (và các thần dân của ông) ở, là “sơn hà Nam Đế cư” theo như sách Trời đã định rõ ràng, thời xưa, là “Tiệt nhiên định phận tại Thiên Thư” và là “có sách Trời định phận”[ii] thời Bảo Đại-Trần Trọng Kim, để phân biệt với nước Tầu ở phương Bắc. Thế thôi.

 

Hiểu như trên tuy nhiên chỉ là đơn giản theo nghĩa của từ điển.  Muốn có một nhận định đầy đủ hơn người ta phải trở về với lịch sử Việt Nam ngay từ những buổi đầu với Lý Bôn, người được biết nhiều hơn qua đế hiệu Tiền Lý Nam Đế, Thế Kỷ Thứ 6, liên tục đến thời Hoàng Đế rồi sau này là Quốc Trưởng Bảo Đại với chính sách Hoàng Triều Cương Thổ của ông với tất cả những vấn đề phức tạp cho một bài viết. Ở đây tác giả chỉ ghi lại hai điểm cơ bản, rõ hơn hai vấn đề chính yếu, liên hệ đến quốc hiệu này mà thôi.  Đó là vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc dưới thời các triều đại quân chủ Việt Nam và vấn đề an ninh lãnh thổ và khai thác các miền đất mới trên Cao Nguyên Miền Nam hay Cao Nguyên Miền Trung hay Tây Nguyên ở thời hiện đại.

 

I. Biên Giới Việt-Trung qua Các Triều Đại Quân Chủ Việt Nam và Chính Sách của Các Hoàng Đế Việt Nam Đối Với Các Sắc Dân Miền Núi

 

 “Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại nên vứt bỏ?

 

Ngươi phải kiên quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần.                                                                  

 

Nếu họ không nghe, còn có thể sai sứ sang phương bắc                                                                  

 

trình bày cho rõ điều ngay, lẽ gian. Nếu ngươi dám đem                                                                

 

một thước, một tấc đất của Thái Tổ làm mồi cho giặc thì tội                                                          

 

phải tru di”.

 

Vua Lê Thánh Tông

 

dụ Thái Bảo Kiến Dương Bá Lê Cảnh Huy (1473) [iii]

 

            Do thực tại địa lý, do hoàn cảnh nhân văn và lịch sử và do những quan niệm về chính trị, vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc là một vấn đề vô cùng  phức tạp và tế nhị.  Vấn đề này đã được đặt ra ngay từ những ngày đầu của lịch sử dân tộc Việt Nam và tồn tại cho đến tận ngày nay.  Trong phần này người viết trình bày một cách tổng quát vấn đề biên giới Việt – Trung qua các triều đại quân chủ trong lịch sử Việt Nam, với nội dung gồm có ba phần: phần thứ nhất nói về tính cách phức tạp của biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc phần thứ hai nói về chủ trương và sách lược bảo vệ lãnh thổ của các triều đại Việt Nam ở miền biên giới này và phần thứ ba dành cho một số những cuộc tranh chấp điển hình.

 

1. Tính cách phức tạp của vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc

 

            Khi tìm hiểu vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, đặc tính đầu tiên người ta phải ghi nhận là đây là miền cư trú của các sắc dân được coi là thiểu số, khác vời các miền đồng bằng là nơi cư trú của người Việt hay người Kinh.  Ở đây các sắc dân này đã không sống lẫn lộn với nhau mà riêng biệt, mỗi sắc dân một khu riêng thành từng khu vực dưới sự lãnh đạo của các thổ tù trưởng riêng của họ.  Đặc tính thứ hai là cho đến thời kỳ Pháp thuộc, giữa Việt Nam và Trung Quốc không có đường biên giới rõ ràng như người ta quan niệm ngày nay mà chỉ có những vùng biên giới mà thôi.   Đặc tính này bắt nguồn không những từ thực tại địa lý ở nơi tiếp giáp giữa hai quốc gia mà còn do những yếu tố nhân văn, lịch sử và quan niệm về chính trị của các triều đại trị vì nữa.  Có nhiều lý do ta có thể kể sau đây:

 

Trước hết là về địa lý:  Giữa hai nước Việt Nam và Trung Hoa không có núi cao hay sông lớn có thể dùng làm ranh giới thiên nhiên.  Những sông hay những núi được viện dẫn như những đường phân thủy chỉ là những đồi hay sông nhỏ, có khi chỉ được biết tới một cách mơ hồ và đã trở thành đầu mối của những tranh chấp.  Điển hình là sự lẫn lộn hay cố tình lẫn lộn giữa sông Đổ Chú và một sông nhỏ khác ở thượng nguồn của sông Chảy trong vụ tranh chấp về biên giới giữa hai châu Vị Xuyên và Thủy Vĩ thuộc trấn Tuyên Quang của Việt Nam và phủ Khai Hóa thuộc tỉnh Vân Nam của Trung Hoa vào năm 1728.  Cũng vậy, với các núi Xưởng Chì hay Diên Xưởng, núi Tụ Long mà người viết dám chắc là các giáo sư sử địa hiếm người biết đến ngay cả nghe đến các địa danh này.  Các rặng núi lớn có hình cánh cung ở phía đông của sông Hồng thay vì nằm ngang theo hướng tây – đông để làm ranh giới giữa hai nước lại xòe ra theo hình nan quạt và mở rộng về phía bắc khiến cho sự xâm nhập từ phương bắc xuống trở thành dễ dàng.  Nhiều sông của Trung Quốc lại có nguồn từ trên đất Việt Nam hay ngược lại.  Tính cách núi liền núi, sông liền sông của địa lý chính trị ở biên giới Hoa Việt này không những đã làm cho việc ngăn chặn các cuộc xâm lăng qui mô của người Tàu từ phương bắc xuống trở thành vô cùng khó khăn cho người Việt, mà còn làm cho ranh giới giữa hai nước không bao giờ ổn định.

 

Về phương diện nhân văn, miền biên giới Việt – Trung không phải là nơi cư trú của người Việt hay người Tàu mà là của nhiều sắc dân thiểu số của các miền núi như Tày, Nùng, Thổ, Mán… – Những dân này đã ở cả hai phía, ranh giới cư trú thường không rõ ràng.  Nhiều nhóm đã từ Trung Quốc di cư xuống Việt Nam qua nhiều giai đoan lịch sử khác nhau.  Những con số được ghi trong tác phẩm Địa Dư Các Tỉnh Bắc Kỳ của các soạn giả Đỗ Đình Nghiêm, Ngô Vi Liễn và Phạm Văn Thư, xuất bản năm 1930 ở Hà Nội, dưới thời Pháp thuộc, có thể cho ta một khái niệm về tính cách thiểu số của người Việt cư ngụ ở miền này so với các dân quen gọi là thiều số. Trước hết là ở tỉnh Lạng Sơn. Trong số 85.300 cư dân của tỉnh này, người Kinh hay người Việt chỉ có 3.120 người tức 3.7%, trong khi con số người Thổ là 38.900 người hay 46%, người Nùng là 37.500 người hay 44%, và người Hoa là 3.800 hay 4%.[iv]  Ở Cao Bằng, trên tổng số dân là 87.000 người, số người Kinh chỉ có 1.200 người hay 1,4%, còn người Thổ là 39.930 người hay 46%, người Nùng 38.750 người hay 44.5%, còn lại là người Tàu.  Còn ở Hà Giang thì trong tổng số dân là 69.600 người, người Kinh chỉ có 1.000 người, tức 1,4%, so với 20.600 người Thổ hay 29.6%, còn lại là người Lô Lô, 30%, người Mán, 14%…  Các miền giáp ranh giữa các tỉnh này và các tỉnh miền Nam Trung Quốc do đó đã trở thành những vùng biên giới giữa hai nước.  Sự tùy thuộc vào nước này hay nước kia một phần nằm trong tay các thổ tù trưởng tức các lãnh tụ của các dân địa phương và sự trung thành của họ từ đó tùy theo chính sách của chính quyền trung ương đối với họ.

 

Về quan niệm chính trị của các triều đình liên hệ, vì là những miền đất ở xa kinh đô của cả hai nước Hoa, Việt, các vùng biên giới này được coi như những miền đất “cơ mi” hay “ky mi” là những miền đất làm phên giậu cho triều đình trung ương.-   Đây là  một hình thức cai trị lỏng lẻo nhằm liên kết những miền đất xa xôi thay vì cai trị trực tiếp trong chế độ hành chánh thời cổ, ít nhất từ thời nhà Đường của Trung Quốc mà Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca đã tả rõ trong câu “Cơ mi các bộ man hoang ở ngoài.” Các thổ tù trưởng do đó được cha truyền con nối cai trị lãnh thổ riêng của mình với điều kiện tuân phục triều đình trung ương, một điều kiện tượng trưng cho quyền lực tối cao của quốc gia của người Việt hay các Hoàng Đế Nước Nam.  Vượt lên trên các địa phương, quan hệ giữa các triều đình Trung Quốc và các triều đình Việt Nam cũng mang phần nào tính cách phong kiến của Á Đông theo đó Việt Nam chỉ là một chư hầu của Trung Quốc, lãnh thổ Việt Nam cũng là lãnh thổ Trung Quốc.  Điều này thường được thể hiện qua lời nói hay các thơ văn của các sứ giả Trung Quốc khi được các vua Việt Nam hỏi thăm về sức khỏe sau những cuộc hành trình tới kinh đô Việt Nam.  Việt Nam thường được người Tàu gọi là Giao Chỉ, hiểu ngầm là Giao Chỉ Quận, là một quận của nước Tàu qua tước phong các vua Tàu phong cho các vua Việt Nam là Giao Chỉ Quận Vương kể từ thời Vương Liễn nhà Đinh, kèm theo với danh vị Tiết Độ Sứ là một chức quan của người Tàu, kể cả sau khi tước vị An Nam quốc vương đã được phong cho vua Lý vào năm 1174 và Việt Nam chính thức trở thành An Nam Quốc và kéo dài rất lâu về sau này.  Thái độ phong kiến luôn luôn coi Việt Nam là Giao Chỉ quận này đã giúp cho các hoàng đế Trung Quốc giữ được thể diện mỗi khi phải nhượng bộ và trao trả lại những đất mà họ đã chiếm của Việt Nam, vì theo họ, trong thiên hạ đất nào chẳng là đất của thiên tử, dân nào chẳng là dân của thiên tử.  Rõ rệt nhất và gần với ta nhất là trong sắc văn của vua nhà Thanh viết vào năm Ung Chính thứ sáu, năm Bảo Thái thời Vua Dụ Tông nhà Lê (1728), gửi cho vua Việt Nam về việc trả lại vùng mỏ đồng Tụ Long cho Việt Nam, đoạn chính có viết: “Mới đây Ngạc Nhĩ Thái (Tổng Đốc Vân Nam và Quý Châu thời đó) đem bản tâu của quốc vương (vua Việt Nam thời đó) tiến trình, lời lẽ ý tứ trong bản tâu tỏ lòng cung kính, trẫm (vua Thanh) rất vui lòng khen ngợi.  Vả lại, 40 dặm ấy nếu thuộc vào Vân Nam thì là nội địa của trẫm, nếu thuộc vào An Nam thì vẫn là ngoại vi của trẫm, không có chút gì phân biệt cả. Vậy chuẩn cho đem đất ấy ban thưởng cho quốc vương (vua Việt Nam) được đời đời giữ lấy.” [v]  Nói cách khác sự phân chia biên giới giữa hai nước Hoa, Việt mang nặng tính cách lịch sử và quan niệm chính trị cổ thời. Đó là những giới hạn có tính cách hành chánh nhiều hơn là phân ranh quốc tế.

 

2. Chủ trương và sách lược bảo vệ lãnh thổ ở các miền biên giới của các triều đại quân chủ Việt Nam

 

Chủ trương này được xác định rất rõ ngay từ thời nhà Lý qua bài thơ Nam Quốc Sơn Hà được truyền tụng là của Lý Thường Kiệt và được khẳng định bởi các triều đại kế tiếp sau này.–  Trong bài Nam Quốc Sơn Hà tác giả đã khẳng định sự cương quyết của triều đình nhà Lý là sẽ không dung tha bất cứ kẻ nào dám xâm phạm vào lãnh thổ nước mình. Nhưng đó là một thứ tuyên ngôn nói với người ngoài, với kẻ địch, một kẻ địch lớn hơn và mạnh hơn gấp bội nước Việt Nam thời đó.  Lê Thánh Tông, bốn thế kỷ sau, năm Hồng Đức thứ tư (1473), khi dụ Thái Bảo Kiến Dương Bá Lê Cảnh Huy đã nghiêm khắc khẳng định: “Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại nên vứt bỏ? Ngươi phải kiên quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần.  Nếu họ không nghe, còn có thể sai sứ sang phương bắc trình bày cho rõ điều ngay, lẽ gian.   Nếu ngươi dám đem một thước, một tấc đất của Thái Tổ làm mồi cho giặc thì tội phải tru di.” [vi]” Lời dụ này vừa là một nghiêm lệnh, vừa là một sách lược điều đình.  Đó là không được nhượng bộ dù là nhượng một thước núi, một tấc sông, vì đó là của cha ông để lại, phải cương quyết tranh biện bảo vệ đến cùng không cho kẻ địch lấn dần ngay tự bước đầu ở mức độ địa phương.  Nếu kẻ địch không nghe thì triều đình sẽ sai sứ sang biện bạch phải trái theo phương thức ngoại giao.  Còn kẻ nào dám đem dù là một tấc đất dâng cho giặc thì không phải chỉ là bị tử hình mà thôi, mà còn bị tru di nghĩa là giết ba họ nữa.  Đây là hình phạt nặng nhất của thời quân chủ, một tội dành cho những kẻ khi quân, phản quốc.

 

Thực thi chủ trương và đường lối kể trên, các nhà cầm quyền quân chủ Việt Nam đã phải đương đầu vừa với các thổ châu mục của mình, vừa với các quan lại địa phương Trung Quốc ở miền giáp ranh với những địa điểm tranh chấp và với triều đình Trung Quốc.

 

            Đối với các thổ mục địa phương, các chính sách được dùng là vừa uyển chuyển, vừa khoan dung, phủ dụ, vừa kết thân, vừa cứng dắn, nghiêm khắc trừng phạt với mục tiêu trước sau không đổi là giữ vững biên cương.  Đối với các quan lại và triều đình Trung Quốc thì nhún nhường, khéo léo, lựa những danh sĩ thông minh, lanh lẹ, có tài biện luận, đồng thời kiên trì tranh đấu, không bỏ cuộc, cố gắng duy trì sự tranh chấp, không nhượng bộ để thiệt thòi cho nước mình hầu có thể đặt vấn đề lại sau này.

 

Để bảo đảm sự trung thành của các thổ mục địa phương, ngoài chính sách cai trị lỏng lẻo, để cho các châu mục cha truyền, con nối như các họ Hoàng, họ Vi, họ Nùng, họ Chu, họ Giáp, họ Thân, họ Hà, họ Đèo… tự trị trong các lãnh thổ của họ, các vua nhà Lý còn dùng hôn nhân để ràng buộc họ chặt chẽ hơn với triều đình trung ương, không phân biệt kinh thượng.  Việc các vua nhà Lý gả các công chúa cho các châu mục miền núi đã được ghi nhận trong chính sử Việt Nam khá nhiều như  năm 1029 Lý Thái Tông gả Công Chúa Bình Dương cho châu mục Lạng châu là Thân Thiện Thái, năm 1082, dưới thời Lý Nhân Tông, Công Chúa Khâm Thánh được gả cho châu mục Vị Long là Hà Di Khánh, năm 1142, dưới thời Lý Anh Tông,  Công Chúa Thiều Dung  được gả cho Dương Tự Minh là thủ lãnh châu Phú Lương, năm 1167, cũng dưới triều Lý Anh Tông, Công Chúa Thiên Cực được gả cho châu mục  Lạng Châu là Hoài Trung Hầu… Trước đó Tống Sử hay một sách khác thời nhà Tống cũng chép là tổ tiên của họ Thân, trước mang họ Giáp, là Giáp Thừa Quí lấy con gái của Lý Công Uẩn, tức Lý Thái Tổ, con Thừa Quí là Thiệu Thái, lại lấy con gái của Đức Chính, tức Lý Thái Tông, rồi con Thiệu Thái là Cảnh Long, lại lấy con Nhật Tôn, tức Lý Thánh Tông…  Ngược lại, Lý Thái Tông lại chọn con gái Đào Đại Di ở châu Chân Đăng đưa về làm hoàng phi.

 

Đối với những lãnh tụ đã làm phản như trường hợp cha con Nùng Tồn Phúc, Nùng Trí Cao, các vua Nhà Lý cũng tỏ ra rất khoan dung.  Mở đầu, năm 1038, khi Nùng Tồn Phúc xưng đế chống lại triều đình, Lý Thái Tông thân chinh đi đánh bắt được Tồn Phúc đem về kinh xử trảm, con là Trí Cao và vợ là A Nùng chạy thoát được và trở về lập ra nước Đại Lịch, tiếp tục chống lại vào năm 1041.  Lý Thái Tông lại thân chinh đi đánh, bắt được Trí Cao nhưng thương tình cha và anh đã bị giết nên không những tha cho về lại còn sai sứ đến tận nơi phong hàm thái bảo.  Sau đó mẹ con Trí Cao lại xưng đế, làm phản, chống lại cả hai triều Tống và Việt nhưng cuối cùng bị đánh thua phải bỏ chạy sang nước Đại Lý rồi chết ở đó.  Hai lần làm đại nghịch nhưng các triều đình Việt Nam đương thời và sau này vẫn tỏ ra rất khoan nhượng với họ Nùng và những người liên hệ, bằng cớ là ở Cao Bằng các vua Việt Nam vẫn để cho người địa phương lập đền thờ cả hai mẹ con Nùng Trí Cao.  Hai đền này nằm trên hai ngọn núi trong số bốn ngọn bao bọc chung quanh tỉnh Cao Bằng là núi Kỳ Cầm ở phía bắc (đền thờ Nùng Trí Cao), và núi Kim Phả ở phía đông (đền thờ A Nùng, gọi là đền Bà Hoàng), cho đến năm 1930 hãy còn. Chính sách được gọi là hòa thân này cộng thêm với vị trí gần gũi với kinh đô Thăng Long của người Việt hơn là kinh đô của người Tàu và chắc chắn các đường tiếp tế các sản phẩm của miền đồng bằng và miền biển, nhất là muối từ châu thổ Sông Hồng chắc chắn đã là những tác tố vô cùng trọng yếu của sự trung thành của các châu mục với các triều đình Việt Nam hơn là với triều đình Trung Quốc.

 

Trong cách tranh biện để bảo vệ lãnh thổ quốc gia, người ta thấy công tác đã được thực hiện ở hai cấp địa phương và trung ương.  Ở địa phương các thổ mục đóng vai trò chính yếu. Vì là người địa phương, những người này nắm vững tình hình từ địa lý thiên nhiên qua từng con sông, từng ngọn suối, từng trái đồi, từng cột mốc… đến tình hình dân cư với những ruộng nương, nhà cửa, đền thờ của họ, biết rành rẽ hơn những quan lại được cử từ miền xuôi lên.  Không những thế, vì được tự trị, những lãnh thổ được trao cho họ đã được họ coi là phải cẩn trọng giữ gìn.  Chỉ đến khi cần phải tranh luận phải trái giữa hai triều đình trung ương, vai trò của các nhà trí thức, các sứ thần do triều đình trung ương chỉ định mới được đặt ra.

 

3. Một số những cuộc tranh chấp điển hình

 

Với chủ trương bảo vệ “từng thước núi, từng tấc sông”, các triều đại quân chủ Việt Nam một mặt đã cương quyết đấu tranh để bảo vệ những phần đất đã có, mặt khác đã kiên trì đòi lại những lãnh thổ đã bị Trung Quốc cưỡng chiếm, ngoại trừ hai trường hợp nhượng đất quá nhiều dưới thời Hồ Quí Ly hay dâng đất dưới thời Mạc Đăng Dung.   Cả hai trường hợp này, đặc biệt là trường hợp Mạc Đăng Dung, những người chủ trương đã bị hậu thế lên án nặng nề. Cả hai triều đại này đều bị gọi là ngụy, không phải chỉ vì có nguồn gốc là do sự thoán nghịch mà ra mà còn là vì những hành động bị coi như là phản quốc nữa.   Sử gia Trần Trọng Kim trong Việt Nam Sử Lược, đã viết về Mạc Đăng Dung như sau:

 

            “Mạc Đăng Dung đã làm tôi nhà Lê mà lại giết vua để cướp lấy ngôi, ấy là một người nghịch thần; đã làm chủ một nước mà không giữ lấy bờ cõi, lại đem cắt đất mà dâng cho người, ấy là một người phản quốc. Làm ông vua mà không giữ được cái danh giá cho trọn vẹn, đến nỗi phải cởi trần ra trói mình lại, đi đến quì lạy ở trước cửa một người tướng của quân nghịch để cầu lấy cái phú quí cho một thân mình và một nhà mình, ấy là một người không biết liêm sỉ…. Cho nên dẫu có lấy được giang sơn nhà Lê, dẫu có mượn được thế nhà Minh bênh vực mặc lòng, một cái cơ nghiệp dựng bởi sự gian ác hèn hạ như thế thì không bao giờ bền chặt được. Cũng vì cớ ấy cho nên con cháu họ Lê lại trung hưng lên được.”[vii]”

 

            Trên bình diện tích cực, trong phần cuối của phần này, ta nhìn lại ba trường hợp điển hình trong đó các vua quan Việt Nam nói riêng, và người Việt Nam nói chung, đã tỏ ra hết sức kiên nhẫn và cương quyết trong công cuộc bảo vệ biên cương của nước mình.  Đó là là các cuộc đấu tranh để đòi lại châu Quảng Nguyên, các châu Vật Dương, Vật Ác thời nhà Lý và vùng mỏ đồng Tụ Long trong những giai đoạn sau này.

 

Quảng Nguyên là tên cũ của một châu thuộc tỉnh Cao Bằng, từ thời nhà Lê được đổi thành Quảng Uyên.  Dưới nhà Lý, để trả đũa việc Lý Thường Kiệt và Tôn Đản sang đánh các châu Khâm, châu Liêm và châu Ung thuộc các tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây của Trung Quốc vào năm 1075, năm 1076 nhà Tống sai Quách Quì sang đánh Đại Việt.  Bị quân Đại Việt chống trả kịch liệt lại không hợp thủy thổ, quân Tống bị thiệt hại nặng nề phải rút lui, nhưng vẫn giữ các châu Quảng Nguyên, Tư Lang, Tô, Mậu và huyện Quang Lang. Trong số các châu huyện này Quang Lang và Quảng Nguyên là quan trọng hơn cả vì Quang Lang, sau này được nhà Lê đổi là Ôn Châu là cổ họng của châu Ung, còn Quảng Nguyên là nơi có nhiều mỏ vàng và mỏ bạc. Để thu hồi lại hai châu này, nhà Lý đã dùng cả quân sự lẫn ngoại giao.  Huyện Quan Lang đã được Lý Thường Kiệt chiếm lại không lâu sau đó, có lẽ cùng lúc với các châu Tô Mậu và Môn.   Riêng châu Quảng Nguyên, việc đòi lại phức tạp hơn vì khả năng sản xuất vàng bạc của địa phương này.  Ở đây đường lối ngoại giao đã được sử dụng.  Hai lần nhà Lý đã sai sứ bộ sang thương nghị.  Lần thứ nhất không thành công vì các quan địa phương nhà Tống viện cớ lời biểu của vua Lý có dùng chữ húy của triều Tống nên không nhận.  Lần thứ hai, sứ bộ do Đào Tông Nguyên cầm đầu, đem theo năm con voi làm đồ cống với lời yêu cầu nhà Tống trả lại các đất quân Tống đã chiếm.  Nhà Tống ưng thuận với điều kiện nhà Lý trả lại tất cả những dân các châu Khiêm, Liêm và Ung đã bị quân của Lý Thường Kiệt và Tôn Đản bắt về Đại Việt trước đó.  Nhà Lý ưng thuận và Quảng Nguyên đã trở về với Đại Việt.  Sự hoàn trả Quảng Nguyên cho Đại Việt đã làm cho nhiều người bên nhà Tống bất mãn. Hai câu thơ châm biếm: “Nhân tham Giao Chỉ tượng, khước thất Quảng Nguyên kim” có nghĩa là vì tham voi Giao Chỉ nên mất vàng Quảng Nguyên mà các tác giả Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca dịch sang thơ là “Tham voi Giao Chỉ, mất vàng Quảng Nguyên” đã được họ làm để kể lại trường hợp này.  Thắng lợi này xảy ra vào năm 1079 dưới thời Lý Nhân Tông.

 

Thành công trong việc đòi lại châu Quảng Nguyên và một số đất khác ít năm sau, Việt nam đã không thành công trong việc đòi lại các động Vật Dương, Vật Ác từ trước đã bị các thổ mục họ Nùng dâng cho nhà Tống, mặc dầu sứ bộ nhà Lý do Lê Văn Thịnh, vị thủ khoa của khoa thi đầu tiên của người Việt cầm đầu đã tranh luận gay gắt.  Phản bác lại chủ trương của các quan nhà Tống cho rằng các đất này là của Tống vì do các thổ mục địa phương dâng cho nhà Tống vì họ qui phục nhà Tống, Lê văn Thịnh lý luận rằng “Đất thì có chủ; bọn thuộc lại giữ đất đem dâng nộp và trốn đi, thì đất ấy thành vật ăn trộm của chủ. Coi giữ đất cho chủ lại tự ý lấy trộm tất không tha thứ được, mà ăn hối lộ và tàng trữ của ăn trộm pháp luật cũng không dung. Huống chi, bọn chúng lại có thể làm nhơ bẩn cả sổ sách của quí vị hay sao?”

 

Không những quyết tâm bảo vệ lập trường, các vua quan Đại Việt còn tỏ ra rất kiên trì.       Các cuộc thương nghị đã diễn ra cả thảy sáu lần những đều bị nhà Tống khước từ, cuối cùng đã bị bỏ dở.

 

Thắng lợi trong việc đòi lại được mỏ đồng Tụ Long xảy ra vào năm 1728, năm Bảo Thái thứ 9, thời Vua Trần Dụ Tông.  Thắng lợi này có thể coi là điển hình nhất trong nỗ lực bảo vệ lãnh thổ của các triều đại quân chủ Việt Nam.

 

Để kết luận ta có thể nói là trong suốt mười thế kỷ tồn tại, các triều đại gọi là quân chủ Việt Nam đã luôn luôn quan tâm đến sứ mạng vô cùng thiêng liêng của họ là bảo vệ lãnh thổ và chủ quyền lãnh thổ của dân tộc.  Đây là một việc làm vô cùng khó khăn, trường kỳ và tế nhị, đôi khi nguy hiểm, trong đó từ vua quan, nho sĩ trí thức, hoàng phi, công chúa… đến các dân thiểu số ở các vùng biên giới xa xăm đều đã cùng nhau đóng góp những phần không nhỏ cho nỗ lực chung.  Điều đáng chú ý ở đây là trong chính sách hoà thân của các triều đình thời đó, các vua đã hy sinh luôn cả hạnh phúc cá nhân và gia đình của chính mình, đem các công chúa gả cho các thổ tù trưởng ở những vùng biên cương hẻo lánh, xa xôi vào lúc giao thông liên lạc còn vô cùng khó khăn, hiểm trở.  Nỗi nhớ thương, đau đớn, xót xa khó có thể tưởng tượng là lớn lao và sâu xa đến chừng nào.  Nói như vậy nhưng ta cũng không nên quên tình cảm và sự can đảm của các thổ tù trưởng miền biên giới dành cho Triều Đình Việt Nam.  Giữa triều đình Trung Quốc, mạnh hơn, các thổ tù trưởng này đã lựa chọn triều đình Việt Nam và từ đó họ đã gặp phải không ít khó khăn.   Cuối cùng là các nhà trí thức. Vai trò của những nho sĩ được trao cho trách nhiệm đi sứ để biện minh cho chủ quyền của nước mình cũng không phải là một việc làm đơn giản, dễ dàng, không vất vả và không nguy hiểm.  Lời dặn dò gần như là cảnh cáo của Lê Thánh Tông dành cho Thái Bảo Kiến Dương Bá Lê Cảnh Huy năm Hồng Đức thứ tư (1473) được dẫn trên đây, đã nói lên điều đó.  Nhưng cuối cùng thì, ngoại trừ một vài trường hợp hiếm hoi, họ đã thành công trong sứ mạng thiêng liêng, cao cả của mình khiến người sau khi đọc đến những đoạn này không chỉ kính phục mà thôi mà còn ngậm ngùi, thương xót nữa.

 

II. Từ Vị Trí Chiến Lược của Các Cao Nguyên Miền Nam đến Danh Xưng Hoàng Triều Cương Thổ Thời Cựu Hoàng Bảo Đại (1949-1955)

 

            Thời năm 1945, qua quốc hiệu Đế Quốc Việt Nam, lãnh thổ và chính sách chỉ được dùng chứ chưa được định rõ. Phải đợi đến thời Hậu Đế Quốc Việt Nam, đúng hơn thời Quốc Gia Việt Nam với Cựu Hoàng Bảo Đại làm Quốc trưởng và với sự thành lập Hoàng Triều Cương Thố, vấn đề mới thật sự trở nên rõ ràng.

 

Hoàng Triều Cương Thổ là một địa danh mới, tiếng Pháp là Domaine de la Couronne, đơn giản được hiểu là miền đất biên cương của triều đại đang trị vì hay xa hơn về lịch sử là miền đất bao gồm các châu gọi là cơ mi, là phên giậu của triều đình.  Hiểu theo nghĩa hẹp, địa danh này chỉ các Cao Nguyên Miền Nam trải rộng từ phía tây của tỉnh Quảng Bình cho đến thượng nguồn của Sông Đồng Nai, còn hiểu theo nghĩa rộng thì bao gồm luôn cả các khu vực cư trú của các dân thiểu số thượng du miền Bắc, Thái, Thổ, Nùng, Mán, Mèo, Lô Lô, Mường… Tất cả đều trực thuộc Quốc Trưởng chứ không thuộc hệ thống hành chánh miền suôi.  Đây là vùng đất còn hoàng vu, là nơi cư trú của các sắc dân thiểu số, chưa mấy tiến bộ mà người Việt cho đến tận sau này vẫn gọi là Mọi.  Đây cũng là một miền đất mới rất phong phú về đất đai, giàu về tài nguyên thiên nhiên và là vùng đất cao, có vị thế chiến lược, được ví như mái nhà của cả ba xứ Đông Dương với vùng ba biên giới của ba nước Việt, Mên, Lào, là nơi con Đường Mòn Hồ Chí Minh đã đi xuyên qua và các thế lực quốc tế luôn tìm cách xâm nhập trong suốt cuộc chiến 30 năm của Thế Kỷ 20. Đ1ung hay không đúng, ai làm chủ được vùng này là làm chủ được cả ba xứ Đông Pháp là nhận định của nhiều người.  Đây là vùng đất mới, chưa được người Việt chú ý tới và lên khai thác, nhưng lại được Vua Bảo Đại quan tâm đặc biệt và yêu thích, một phần có thể là do ông được Khâm Sứ Charles, người đã dỡ đầu ông trong suốt thời gian ông du học bên Pháp và vì là nơi ông thường đến để săn bắn và ẩn mình, tránh sự dòm ngó, nghi ngờ của người Pháp sau khi ông bị thất bại trong nỗ lực cải tổ thời đầu thập niên 1930.  Hai thành phố quen thuộc của thời này, sau trở thành những nơi nghỉ mát nổi tiếng của Miền Nam là Đà Lạt và Ban Mê Thuột.  Riêng Đà Lạt một thời đã trở nên nơi cư trú thường trực và làm việc của Cựu Hoàng thay cho Huế không còn là kinh đô nữa.  Nên biết là sự thành lập Hoàng Triều Cương Thố trên lý thuyết phần nào là dựa trên Hiệp Định Élysée, ngày 8 tháng 3 năm 1949 vì theo khoản I về “Vấn Đề Thống Nhứt Việt Nam” của hiệp định này, nguyên văn như sau:

 

“Đối với các dân-tộc không thuộc về giống người Việt-Nam, mà khu vực cư trú lịch-sử vẫn ở trên lãnh-thổ Việt-Nam và theo truyền-thống vẫn      quy thuận Hoàng-Triều, thì Hoàng-Đế Việt-Nam sẽ ban bố những quy-chế riêng biệt cho đại biểu các dân-tộc đó.  Các quy-chế nầy sẽ ấn định với sự    thỏa-thuận của Chánh-phủ Pháp, vì Chánh-phủ Pháp có bổn-phân riêng biệt đối với các dân-tộc thiểu-số.  Những quy-chế ấy đồng thời phải đảm bảo  quyền-lợi tối-cao của nước Việt-Nam, và sự tiến hoá của các dân-tộc trong sự tôn trọng tục lệ cổ-truyền của họ” [viii]

 

Nên để ý là trái với cái nhìn của nhiều người, vấn đề được đặt ra, theo đúng nguyên văn trong bản hiệp định, rõ ràng không phải là quyền lợi, là tài nguyên thiên nhiên và các quyền lợi về kinh tế vật chất, chính trị hay quân sự của người Pháp, mà là con người, là “các dân tộc không thuộc giống người Việt-Nam” và “sự tiến hóa của các dân-tộc trong sự tôn trọng tục lệ cổ-truyền của họ”, coi như “bổn phận riêng biệt đối với các dân-tộc thiểu số” của nước Pháp, một vấn đề mang bản chất nhân bản phù hợp với truyền thống giữ tinh thần hòa hiếu với các dân tộc thiểu số từ nhiều thế kỷ của các vua chúa Việt Nam và hợp với ý muốn của Cựu Hoàng Bảo Đại, người thường ưa thích lui tới và cư ngụ ở hai thành phố Đà lạt và Ban Mê Thuột trong những năm cuối của thời làm Hoàng Đế và sau này, và có nhiều cảm tình với các sắc dân Thượng như đã nói ở trên.

 

Cho tới khi Việt Nam bị chia đôi, Hoàng Triều Cương Thổ bao gồm hai phần.  Phần thứ nhất là các khu tự trị Mường (ở Hoà Bình), Thái (ở Phong Thổ, Lai Châu, Sơn La), Mèo (ở Lào Kay, Hà Giang), Thổ (ở Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn), Nùng ở Hải Ninh, Móng Cái.  Phần thứ hai gồm 5 tỉnh Đồng Nai Thượng, Lang Biang, Pleiku, Darlac, Kontum.  Tất cả được thành lập dựa theo Dụ Số 6, ngày 15 tháng 4 năm 1950 và Quy Chế 16 ngày 21 tháng 5 năm 1951 của Quốc trưởng Bảo Đại với 9 nguyên tắc căn bản dựa trên quyền lợi tối cao của nước Việt Nam và sự tiến hóa chung của các dân tộc thiểu số trong sự tôn trọng các tục lệ cổ truyền của các dân tộc này.  9 nguyên tắc này là:

 

1.  Quyền lợi tối cao của Quốc Gia Việt Nam được bảo đảm cùng với quyền lợi của các sắc tộc thiểu số.

 

2.  Cao nguyên thuộc Quốc trưởng.

 

3.  Người Thượng cần tham gia vào việc phát triển cao nguyên.

 

4.  Tôn trọng hệ thống bộ lạc và và chức sắc kế truyền của người Thượng.

 

5.  Thành lập Hội Đồng Kinh Tế.

 

6.  Thành lập Toàn Án Phong Tục Thượng.

 

7.  Bảo đảm quyền sở hữu đất đai của người Thươọng.

 

8.  Phát triển cơ cấu dịch vụ xã hội ở Cao Nguyên như y tế, giáo dục.

 

9.  Thành lập đơn vị quân sự riêng biệt cho người Thượng với ưu tiên phục vụ ở cao nguyên.

 

Những nguyên tắc phải nói là tiến bộ cho một chính sách đối với các sắc dân Thượng mà là chung cho tất cả các dân thiểu số trong một quốc gia đa chủng như ở Việt Nam.  Tiếc thay nó đã bị bãi bỏ bởi Thủ Tướng, sau này là Tổng Thống Ngô Đình Diệm, trong các năm 1955 và 1958 với chính sách Việt hóa nhằm thống nhất lãnh thổ và hành chánh, khai thác và phát triển miền cao nguyên, đã đưa tới những bất mãn và chống lại trong các sắc dân miền Thượng với sự hỗ trợ của người Chàm và nhiều thế lực quốc tế với những mục tiêu và âm mưu khác nhau mà các dân Thượng chỉ là nạn nhân.  Cụ thể là các Mặt Trận Giải Phóng Dân Tộc Thượng (Front de Liberation des Montagnards – FLM), Phong Trào BAJARAKA (tên viết tắt của tên của 4 sắc tộc lớn là Bahnar, Jarai, Rhadé và Kaho), cuộc nổi loạn của 5 trại Lực Lượng Đặc Biệt và Mặt Trận Thống Nhất Đấu Tranh của Các Dân Tộc Bị Áp Bức FULRO (Front Unifié de Lutte des Races Opprimées) thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa ở miền Nam.  Sau năm 1975, trái với mọi hứa hẹn trong thời chiến, tình trạng của các dân Thượng ở Các Cao Nguyên Miền Nam cũng không khá hơn, nếu không nói là càng ngày càng tệ đến độ nhiều người Thượng phải bỏ hẳn rừng núi thân yêu của họ, chạy sang Miên và được Hoa Kỳ thu nhận, trong Phong Trào Di Cư Vĩ Đại của người Việt cuối Thế Kỷ 20. [ix]

 

Để kết luận, ta có thể nói việc lựa chọn quốc hiệu cho quốc gia là một việc làm trọng đại, không thể chỉ do một cá nhân thực hiện một cách vội vã, nông nổi một cách vô ý thức nhằm thỏa mãn tự ái dân tộc mà là một sự lựa chọn chính trị ở tầm mức quốc gia, quốc tế, bao trùm mọi sinh hoạt từ lịch sử đến văn minh, văn hóa, xã hội, chủng tộc… có tính cách chiến lược lâu dài.  Sự lựa chọn phải được thực hiện có suy tư, có ý thức, có cân nhắc bởi nhiều người với kinh nghiệm của nhiều thế hệ.  Riêng ở Việt Nam, vấn đề các sắc dân thiểu số ở các vùng biên giới là một vấn đề vô cùng quan trọng ít ai để ý tới.  Hoàng Đế Bảo Đại và Thủ Tướng Trần Trọng Kim với những căn bản học vấn, hiểu biết và kinh nghiệm mà hai ông có được chắc chắn đã phải khổ công suy nghĩ nhiều trước khi khi lựa chọn danh xưng Đế Quốc Việt Nam làm quốc hiệu cho nước mình, vì ngoài danh xưng “đế quốc” người ta còn có danh xưng “vương quốc”, tiếng Pháp là royaume, tiếng Anh là kingdom mà nhiều nước đã dùng và dùng cho đến tận ngày nay.  Chưa hết, thay vì Việt Nam người ta còn có Đại Nam, Đại Việt, Đại Việt Nam, An Nam vân vân… Nên để ý tên Việt Nam đã có từ thời Gia Long là tên của nước Nam thống nhất trải dài từ Ải Nam Quan cho đến mỏm Cà Mau và cũng là quốc hiệu được nhiều người đương thời dùng trong đó có cả Trần Trọng Kim qua nhan đề của cuốn sử của ông. Việc dùng danh xưng Việt Nam làm quốc hiệu của hai ông chắc chắn phải nhằm biểu lộ chủ trương thống nhất đất nước, thâu hồi các miền đất đã mất trong đó có xứ Nam Kỳ và các thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng.  Điều hai ông đã làm và đã thành công. Có điều vấn đề các Cao Nguyên Miền Nam lại được đặt ra sau đó với những mưu toan của các thế lực quốc tế phức tạp và hiểm độc hơn và một sự “xẻ dọc Trường Sơn” nhằm tách rời vùng này ra khỏi lãnh thổ Việt Nam bằng cách này hay bằng cách khác là một nguy cơ chiến lược lâu dài người ta cần phải để ý, giống như sự bành trướng của Trung Hoa ngoài Biển Đông mà việc khai thác các quặng bauxite là một thí dụ điển hình./

 

Phạm Cao Dương

 

Những ngày cuối năm 2015,

 

sửa lại và bổ khuyết đầu Thu 2017

 

Trích từ (Trước Khi Bão Lụt Tràn Tới Bảo Đại – Trần Trọng Kim và ĐẾ QUỐC VIỆT NAM)

 

Amazon tái bản và phát hành.

 

Chú Thích

 

[1]    L’Harmattan xuất bản và được Nguyễn Đình Đầu dịch sang tiếng Việt, Trần Văn Giàu giới thiệu, Ban Khoa Học Xã Hội Thành Phố Hồ Chí Minh xuất bản, 1990.  Qua bản dịch này danh xưng “l’Empire Vietnamien” được dịch là “Nước Việt Nam”.

 

[1]    Lời trong bài Đăng Đàn Cung, quốc ca chính thức cũng được lựa chọn trong thời này.

 

[1]   Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Tập II, Hoàng Văn Lâu dịch và chú thích.  Hà Nội: Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã hội, 1993, tr. 462.

 

[1]   Đỗ Đình Nghiêm, Ngô Vi Liễn và Phạm Văn Thư, Địa Dư Các Tỉnh Bắc Kỳ. Hà Nội, Lê Văn Tân, 1930, in lần thứ tư, tr 61.

 

[1]   Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, tập hai.  Hà Nội: Trung Tâm Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Quốc Gia, Viện Sử Học, Nhà Xuất Bản Giáo Dục 1998, tr. 468-469.

 

[1]   Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Tập II, Hoàng Văn Lâu dịch và chú thích.  Hà Nội: Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã hội, 1993, tr. 462.

 

[1]  Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, quyển II.   Saigon: Bộ Giáo Dục, Trung Tâm Học Liệu, 1971, tr.17.

 

 

 

[1]  “Công-Điệp của Tổng-Thống Cộng-Hòa Pháp-Quốc gởi Cựu Hoàng-Đế Việt-Nam”, trong Kỷ Niệm Thống Nhứt Việt Nam. Saigon, Tháng 6, 1949, tr. 22.-  “Échange de Lettres du  Mars 1949, Le Président de la République, Président de l’Union Francaise, à S.M. Bao Dai, trong Georges Taboulet, La Geste Francaise en Indochine. Paris: Adrien-Maisonneuve, 1956, tr. 920.

 

[1]  Riêng về hoạt động của Đảng Cộng Sản, tác giả Phan An, trong bài viết nhan đề “Cộng Đồng Người Việt ở Tây Nguyên” đăng trong Tạp Chí Xưa & Nay, sồ 457, tháng 3 năm 2015, trang 6, cho biết:

 

“Từ sau năm 1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, một số cán bộ của Đảng được phân công lên hoạt động tuyên truyền cách mạng cho các cộng đồng Việt và các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Những làng Việt ở Tây Nguyên đã sớm trở nên cơ sở cách mạng, nơi nuôi dưỡng, tá túc của các cán bộ Đảng trên vùng đất Tây Nguyên.  Làng Lạc Giao, và một số làng Việt của phu đồn điền cao su ở Bình Phước, là những làng có cơ sở cách mạng và các hoạt động cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam từ trước năm 1945.”

 

 

 

Ngoài các tài liệu dẫn trên, để hiểu rõ thêm về các sắc dân miền Thượng Cao Nguyên Miền Nam, nhất là về văn hóa và cuộc sống của họ, quý vị độc giả có thể tìm đọc thêm các tác phẩm sau đây:

 

Les Frontières du Vietnam, Histoire des Frontières de la Péninsule Indochinoise, Ouvrage publié avec le Concours du Centre National de la Recherche Scientifique. Travaux du Centre d’Histoire et Civilisations de la Péninsule Indochinois publié sous la direction de P.B. Lafont. Paris, L’Harmattan, 1989 với nhiều tác giả:  Pierre-Bernard  Lafont, Nguyễn Thế Anh, Philippe Langlet, Quách Thanh Tâm, Charles Fourniau, Po   Dharma…

 

Condominas, Georges, Nous Avons Mangé la Forêt de la Pierre-Gémie Gôo.  Paris, Mercure de France, 1957.

 

Hiskey, Gerald C. Window on the War, An Anthropologist in the Vietnam Conflict. Lombock, Texas Texas Tech University Press, 2002.

 

Po Dharma, Từ Mặt Trận FLM đến Phong Trào Fulro, Cuộc Đấu Tranh của Dân Tộc Thiểu Số Miền Nam Đông Dương (1955-1975).  Paris-San Jose, International Office of Champa (IOC), 2007

 

Viện Dân Tộc Học, Sổ Tay về Các Dân Tộc ở Việt Nam. Hà Nội, Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, 1983.

Cuối cùng là những bài viết của Tiến Sĩ Nguyễn Văn Huy từ Đại Học Paris VII được phổ biến trên nhiều trang mạng điện tử.  Riêng tác giả của bài viết này, Phạm cao Dương, cũng có hai bài viết ngắn, nhan đề “Les Proto Indochinois” in trong Introduction à la Connaissance de la Péninsule Indochinoise, Travaux du Centre d’Histoire et   Civilisations de la Péninsule Indochinoise.  Paris, 1983, tr. 141-145 và bài “Notes sur la   Pénétration des Vietnamiens en Pays Mois au Début de la Période Coloniale d’après Quelques Rapports des Inspecteurs des Affaires Indigènes” in trong Asie du Sud-Est           Continentale, Actes du XXXIX Congrès International des Orientalistes, Section Organisée par Pierre-Bernard Lafont. Vol.2.  Paris: L’Asiathèque, 1976.  Bài này nói về sự xâm nhập của người Việt vào cac xứ Thượng vào buổi đầu của Thời Thuộc Địa, vào lúc người Thượng còn xuất hiện ngay cả ở Thủ Dầu Một chứ chưa đến nỗi bị co cụm  trong xứ của họ như sau này.




Thành Gia Định còn lại dấu tích gì giữa Sài Gòn?

TTO
Hai tòa nhà hai bên đường Lê Duẩn – Đinh Tiên Hoàng của thành Ông Dèm do Pháp xây dựng cách đây hơn 140 năm trên khu vực cổng thành gia Định xưa – Ảnh: M.C

 

Tất cả các sử liệu đều ghi: 8-3-1859, 19 ngày sau ngày thành Gia Định thất thủ, theo lệnh tướng De Genouilly, 32 ổ thuốc nổ đã phá tung nhiều đoạn tường thành Gia Định. Dinh thự kho tàng lẫn thóc lúa trong thành đều bị đốt phá.

Địa chí Sài Gòn viết: “Kho thóc thành Gia Định cháy mãi hai năm mà khói còn nghi ngút”.

Từ ngày bi thương đó, thành Gia Định không còn gì?

Vẫn còn đến mấy chục năm sau

Tại sao quân Pháp phải phá thành? Rất đơn giản, dù chiếm được thành nhưng quân Pháp không thể ở yên trong ngôi thành nhỏ mà họ đánh chiếm nhanh chóng này khi liên tục bị những đội dân quân “ứng nghĩa” đe dọa đột kích bất kỳ lúc nào; cũng như hàng vạn quân nhà Nguyễn đang từ Huế vô, từ miền Tây lên tái chiếm thành.

Tuy nhiên, hàng chục năm sau đó, khu vực này vẫn là bãi chiến trường tan hoang và hình dáng ngôi thành Gia Định vẫn còn khá rõ các đoạn tường thành trong các bản đồ thành phố Sài Gòn của Pháp như bản đồ 1867, 1870.

Thậm chí trong bản đồ Sài Gòn – Chợ Lớn 1883, 24 năm sau ngày thành Gia Định thất thủ  (1859), hình dáng ngôi thành ấy vẫn còn nguyên vẹn.

Nhưng đã lác đác có những chấm vuông đen (ký hiệu những tòa nhà lớn của bản đồ) xuất hiện trong thành.

Bản đồ Sài Gòn 1867 cho thấy thành Gia Định vẫn còn xuất hiện với đầy đủ đường nét chính tường thành cũng như hình dáng các pháo đài bốn góc thành (nhưng có lẽ các pháo đài này bị phá hủy phần tháp canh phía trên). Và không hề có một công trình nào được xây dựng ở đây – Ảnh tư liệu
So sánh với hình dáng hình dáng thành Gia Định (góc phải ảnh phía trên) do Trần Văn Học vẽ năm 1815. Nguyễn Đình đầu chú giải – Ảnh tư liệu
Bản đồ do người Pháp vẽ 1883, hình dáng thành Gia Định vẫn còn (màu hồng trong hình) – Ảnh tư liệu

 

Những bản đồ sau nữa tuy hình dáng ngôi thành Gia Định vẫn còn nhưng khu vực này đã xuất hiện rõ hình ảnh một tòa thành khác của quân Pháp.

Những tòa nhà mới đã được xây dựng bên trong khuôn viên thành Gia Định, hình thành một ngôi thành khác (góc phải trên cao của hình vẽ) – Tranh vẽ 3D của của Đại úy hải quân Pháp Favre – Tranh tư liệu

 

Đây là bức vẽ công phu của Đại úy hải quân Pháp Fauvre dựa trên bản đồ 2D trước đó nhưng ông đã mất rất nhiều thời gian đi khắp thành phố Sài Gòn lúc ấy, đến từng ngôi nhà, dinh thự để vẽ bức vẽ Sài Gòn 3D đầu tiên (và có lẽ duy nhất về Sài Gòn cho đến nay) rất chính xác, với mô tả các tòa nhà, dinh thự lớn của Sài Gòn lúc ấy.

Tất cả các tài liệu đều nói tranh này vẽ năm 1881. Tuy nhiên căn cứ vào hình vẽ, có lẽ tác giả đã vẽ sau năm 1895 vì trong hình vẽ, hai tháp chuông nhà thờ Đức Bà (làm thêm năm 1895) đã có (liệu bức vẽ 1881 nhưng vẽ bổ sung sau không?).

Quan trọng hơn, ít nhất đến thời điểm đó, tường thành Gia Định vẫn hiện ra lồ lộ và bao phủ các ngôi nhà bên trong do Pháp mới xây dựng.

Thành Ông Dèm giờ vẫn còn đó giữa Sài Gòn

Thật ra, từ nền thành Gia Định xưa, năm 1870 bản thiết kế một ngôi thành mới của hai kiến trúc sư người Pháp là Varaigne và  A. Dupommier đã được vẽ và thi công, 11 năm sau khi các khối kiến trúc lớn của thành Gia Định bị nổ tung.

Vật liệu xây thành lấy từ gạch, sắt của thành Gia Định vẫn còn ngổn ngang nơi đây

Bản vẽ này cho thấy thành mới chiếm diện tích chỉ bằng gần một nửa thành cũ, chu vi chỉ khoảng 1.400m; hiện nằm khớp trong bốn con đường: Lê Duẩn, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Thị Minh Khai và Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Tuy nhiên, hàng loạt các các cuộc tập kích của người dân Gia Định liên tục diễn ra, thậm chí sát vách thành Gia Định từ dân đất Hộ (Đa Kao) cách đó hơn cây số khiến việc xây thành mới kéo dài đến ba năm, năm 1873 mới xong; đặt tên Martin des Pallières là tên một tướng Pháp, Charles Gabriel Félicité Martin des Pallières (1823 – 1876).

Thành mới này gồm ba khối kiến trúc chính: hai khối nhà dài một trệt một lầu hai bên cổng và một khối nhà một trệt hai lầu xây cao hẳn trên nền đất (kiểu thành và mẫu nhà với hệ thống lam quả trám phía trước chống nóng này được một số kiến trúc Sài Gòn sau đó, như Bệnh viện Quân đội Pháp gần đó – nay là Bệnh viện Nhi đồng 2 – làm theo).

Tuy nhiên, phía ngoài tòa thành mới này vẫn còn hệ thống lũy đất quanh thành nên trong các bản đồ, hình vẽ trước 1900 hầu như đa số còn vẽ nguyên hình dáng thành Gia Định xưa (từ 1900, hệ thống lũy đất này mới bị san bằng nên các bản đồ sau đó không còn thấy hình dáng  thành Gia Định xưa nữa.

Cổng thành Ông Dèm lúc mới xây dựng xong trên đường Lê Duẩn hiện nay. Trước cổng thành vẫn còn mênh mông cỏ (ảnh chụp từ góc ngã tư Lê Duẩn – Tôn Đức Thắng hiện nay) – Ảnh tư liệu

 

Hai tường thành Ông Dèm trên đường Lê Duẩn, hai bên đường Đinh Tiên Hoàng hiện nay – Ảnh: M.C

 

Cổng thành Ông Dèm nhìn thẳng từ ngã tư Lê Duẩn – Tôn Đức Thắng hiện nay. Từ cổng nhìn vô, chúng ta có thể thấy khu nhà lính Pháp phía sau – Ảnh tư liệu

 

Hai tường thành Ông Dèm trên đường Lê Duẩn, hai bên đường Đinh Tiên Hoàng hiện nay – Ảnh: M.C

 

Khu nhà lính Pháp ở ngay sau cổng. Khu nhà này nếu còn nằm gần và nằm gần ngã tư Nguyễn Thị Minh Khai – Đinh Tiên Hoàng hiện nay, chưa sang khu vực sân Hoa Lư hiện nay  – Ảnh tư liệu

 

Thành Martin des Pallières là nơi đóng quân đầu tiên của Trung đoàn dã chiến Nam Kỳ (Régiment de marche de Cochinchine) thành lập năm 1869 trước đó.

Năm 1890, trước hàng loạt cuộc khởi nghĩa diễn ra khắp nơi của dân Việt, trung đoàn này phát triển thành ba trung đoàn số 8, 10 và 11.

Riêng Trung đoàn 11  (11ème régiment d’infanterie de marine – 11ème RIM) đóng ở thành Martin des Pallières.

Năm 1900, trung đoàn này đổi tên là Trung đoàn bộ binh thuộc địa 11 (11ème régiment d’infanterie coloniale – 11ème RIC). Người dân Sài Gòn lúc đó và đến 1955 vẫn gọi đó là Thành Ông Dèm (phiên âm từ chữ số 11 – onzième).

Bao nhiêu thăng trầm lịch sử tiếp tục diễn ra ở thành Gia Định xưa

Thật trớ trêu khi khu thành người Pháp chiếm được của người Việt 1859, 86 năm sau lại thành nơi quân Nhật giam giữ lính Pháp, người Pháp ở Sài Gòn sau cuộc đảo chính 9-3-1945.

(Xin nói thêm, Trung đoàn bộ binh thuộc địa 11 là đơn vị chủ lực của quân đội Pháp ở Nam Kỳ, đã từng được đặt tên cho một con đường khu trung tâm Sài Gòn thời thuộc Pháp – nay là đường Trần Phú. Đây cũng là lực lượng được quân Anh vô Sài Gòn giải giới quân Nhật đã thả, trang bị vũ khí để cùng quân Anh nổ súng chiếm lại Sài Gòn trong ngày Nam bộ kháng chiến 23-9-1945).

Năm 1954, quân đội Pháp rút, bàn giao thành Ông Dèm cho chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Ngay sau đó vài tháng, đây lại là khu vực giao tranh giữa quân đội Sài Gòn lực lượng Bình Xuyên chống chính phủ khi quân Bình Xuyên nổ súng tấn công thành.

1955, khi nắm quyền Tổng thống VNCH, Ngô Đình Diệm đổi tên thành Ông Dèm ra thành Cộng Hòa và trở thành nơi đóng quân của Tiểu đoàn Phòng vệ Phủ Tổng thống, rồi nhanh chóng nâng lên thành Liên đoàn, Lữ đoàn Phòng vệ Phủ Tổng thống với trang bị vũ khí, khí tài (pháo, xe tăng, xe thiết giáp, súng phòng không) cực mạnh, tương đương một sư đoàn.

Chính lực lượng này ngày 11-11-1960 đã kháng cự quyết liệt quân đảo chính, bảo vệ được Phủ Tổng thống dù trước đó, quân đảo chính đã chiếm Bưu điện SG, Bộ Tổng tham mưu, Căn cứ không quân Tân Sơn Nhứt, Tổng nha Cảnh sát và Nha Cảnh sát đô thành, Bộ Tư lệnh Thủ đô…

Trong cuộc đảo chính ngày 1-11-1963, dù Trung tá Nguyễn Ngọc Khôi, chỉ huy trưởng Lữ đoàn Liên binh Phòng vệ Tổng thống Phủ bị bắt nhưng quân đảo chính dù tấn công dữ dội vẫn không chiếm được thành. Mãi rạng sáng ngày 2-11-1963, lực lượng này mới buông súng theo lệnh tổng thống Ngô Đình Diệm khi ông bị bắt.

Thành Cộng Hòa trong tay lực lượng đảo chính sau trong cuộc đảo chính lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm ngày 1-11-1963 – Ảnh tư liệu
Tòa nhà hai bên thành Cộng Hòa đầy vết đạn bắn trong cuộc đảo chính ngày 1-11-1963 – Ảnh tư liệu

 

Đây là thời điểm quyết định số phận thành Ông Dèm – thành Cộng Hòa.

Sau đảo chính, Liên binh Phòng vệ Phủ Tổng thống bị quân đảo chính giải thể.

Một tháng rưỡi sau, 14-12-1963, Hội đồng Quân nhân Cách mạng (VNCH) giao khu thành Cộng Hòa cho Bộ Quốc gia Giáo dục VNCH để lập khu Đại học với ĐH Văn khoa, ĐH Nông lâm súc, ĐH Dược.

Tòa nhà lính ở phía sau bị phá, thành Cộng Hòa bị cắt làm hai, thông đường Đinh Tiên Hoàng với đường Cường Để (nay là Tôn Đức Thắng).

Năm 1966, khu vực nhà ăn cuối thành Cộng Hòa trở thành Đài truyền hình VNCH kênh 9 và Đài truyền hình ARFVN kênh 11 (nay là khu vực Đài truyền hình TP.HCM).

Và thành Ông Dèm – thành Cộng Hòa xưa nay còn lại hai tòa nhà hai bên đường Đinh Tiên Hoàng (Q.1, TP.HCM), ngay trên trục đường trung tâm TP.HCM Lê Duẩn. Đến nay đã 143 năm (1873-2016).

https://tuoitre.vn/thanh-gia-dinh-bi-san-bang-con-lai-dau-tich-gi-giua-sai-gon-1053328.htm

 




Lần theo dấu chân Nguyễn Tuân và “Phở” ở Helsinki

VÕ XUÂN QUẾ

 

Phần Lan và ẩm thực Phần Lan qua ngòi bút Nguyễn Tuân

Mười năm trước, khi tìm tư liệu viết sách “Phần Lan-Ngôi sao phương bắc”[1], tôi bất ngờ đọc được những câu văn rất hay về Phần Lan của nhà văn Nguyễn Tuân:“Xứ Phần Lan rừng thông trùng trùng xanh ngắt, nước hồ biếc biếc, phụ nữ da trắng một màu tượng tuyết, gái trai quần áo len ngũ sắc người nào cũng như nai nịt sắp biểu diễn điền kinh. Mình thành ra lạc lõng vào một thế giới vật chất nó sạch sẽ quá, sạch đến cái mức tạo cho tôi một thứ nghi ngờ nơi đây là một ấn tượng giả tạo.”Càng bất ngờ hơn khi được biết đó là đoạn mở đầu trong tùy bút “Phở” nổi tiếngđược cố nhà văn tài hoa viết khi “đi họp Hội nghị Hòa bình thế giới”ở Helsinkinăm 1955. Nguyễn Tuân kể với nhà văn Phan Hồng Giang rằng: “Ở xa quê hương nhớ cái gì? … Nhớ cái mùi vị không nơi nào trên trái đất này có – mùi vị phở – rồi viết ra”[2]. Nhưng, hai năm sau“Phở”mới được đăng trong 2 số đầu tiên trên Tạp chí “Văn” của Hội nhà văn Việt Nam, số 1 và số 2 ra ngày 10.5 và 17.5.1957, tức chỉ một tháng sau ngày Hội ra đời[3].

Chuyến đi của Nguyễn Tuân tới Phần Lan diễn ra cách đây đã hơn 62 năm, song ai đã từng một lần đến đất nước này khi đọc đoạn văn trên đều dễ dàng nhận thấy nhà văn Nguyễn Tuân đã miêu tả rất đúng cảnh sắc và con người Phần Lan, cụ thểlà Helsinki vào mùa hè. Bởi chỉ có vào mùa hè rừng thông mới “xanh ngắt” và nước hồ mới “biếc biếc một màu”, còn vào mùa đông thiên nhiên Phần Lan chỉ có màu trắng toát của tuyết hoặc màu xám xỉn, tối mờvớicây cối trụi lá vào những ngày không có tuyết và thiếu vắng ánh sáng mặt trời.Song sự sạch sẽ và ngăn nắp của phố phường nơi đây thì vẫn như xưa, thậm chí còn sạch hơnvào thời Nguyễn Tuân đến.

 

Chưa dám chắc Nguyễn Tuân là người Việt Nam đầu tiên đặt chân đến Phần Lan, song tôi tin rằng ông là nhà văn Việt Nam đầu tiên có mặt ở xứ sở Ông Già Tuyết vào những ngày đêm trắng và viết về Helsinki cũng như ẩm thực của nước này.

Này, các cậu có thấy món ăn ở Phần lan có nhiều cái rất kỳ quặc không. Thịt bò rán, lại phiết mứt công-phi chua ngọt sắt lên trên. Cam chanh lại ăn kèm với cá gỏi. Cơm lại ướp vào tủ nước đá, mình thấy đĩa cơm có khói, lúc ăn buốt đến chân răng. Nghệ thuật ẩm thực tôi gọi tên là lối nấu nướng của trường phái lập thể. Cho nên tôi càng thấy cần phải trở về với món quà cổ điển rất tính chất dân tộc của ta, tức là phở.” Thật ra, món “thịt bò rán” mà nhà văn được thưởng thức ở đây là thịt tuần lộc được ăn với mứt làm từ quả việt quất[4] – món đặc sản nổi tiếng nhất của Phần Lan mà thường chỉ có khách quý mới được chiêu đãi.Chỉ vì nó không hợp với khẩu vị của Nguyễn Tuân cũng như nhiều người trong đoàn nên các vị thấy lạ và không ngon.

 

Công bằng mà nói, do điều kiện thiên nhiên và khí hậu nên ẩm thực của Phần Lan không đa dạng và nổi tiếng như nhiều dân tộc khác. Chẳng thế mà nửa thế kỷ sau Nguyễn Tuân, hai nguyên thủ châu Âu còn có những nhận xét nặng lời hơn về ẩm thực Phần Lan khiến dư luậnnước này cũng như truyền thông thế giới xôn xao. Trong buổi tiệc khánh thành Cơ quan An toàn Lương thực của EU ở Parma (Italia) năm 2005, thủ tướng Silvio Berlusconi đã nói không úp mở: Không thể nào so sánh  thịt nướng từ Parma với thịt tuần lộc hun khói”. Trước đó, vào năm 2001, vị thủ tướng này còn phát biểumột cách hài hước rằng: “Người Phần Lan thậm chí không biết prosciutto (thịt nướng thái mỏng) là gì”. Còn Tổng thống Pháp, Jacques Chirac thì lại bị “vạ miệng”với nhận xét: “Sau Phần Lan, Anh là nước có món ăn dở nhất”. Giới truyền thông cho rằng chính vì câu nói đó của ông Jacques Chirac mà Pháp đã mất phiếu ủng hộ của Phần Lan nên quyền tổ chức Thế vận hội Olympic 2012 thuộc về người Anh, mặc dù Pháp được coi là nước có nhiều ưu thế hơn trong cuộc đua.

Mặc dù đoạn mở đầu viết về Phần Lan trong “Phở” như đã dẫn ở trên chỉ là màn dạo đầu, là cái cớ để nhà văn phóng bút phiếm đàm và ngợi ca món ăn “quốc hồn quốc túy” của Việt Nam mà ông yêu thích, song nó đã khiến nhiều người Việt ngưỡng mộ và yêu thích Nguyễn Tuân nghiện lây món phở, đến với Helsinki và lần theo “dấu vết” của nhà văn.

Trong một bài bút ký, Nguyễn Lê Hồng Hưng đã viết: “Hồi nhỏ tôi đọc tùy bút của nhà văn Nguyễn Tuân, ông viết về phở rất tuyệt và tôi biết ăn phở từ sau khi đọc xong tùy bút của ông. Tuy nhiên tôi thích thú cảnh ông tả về Hen-xanh-ky, tức là Helsinki, thủ đô nước Phần Lan.” …“Vì kính trọng nhà văn tiền bối, một con người tài hoa, đã bôn ba vượt đại dương hàng tháng trời nơi các nước xa xôi, tham dự Hội nghị Hoà bình thế giới để giới thiệu văn hoá nước nhà tới miền Bắc cực này. Mỗi khi lên phố Helsinki tôi hay để ý tìm lại dấu vết của người xưa. Trước tiên tôi tìm trong bản đồ thành phố những hồ nước có vần O hoặc Ö nhưng hổng thấy và không đọc ra hồ nước nào có âm Ô-ta-ni-ê-mi[5]. Khắp Phần Lan có hàng ngàn hồ nước, xung quanh Helsinki ít ra cũng có vài ba chục hồ (Nguyễn Lê Hồng Hưng – Thủ Đô Helsinki)[6]. Một du khách khác đến với Helsinki đã viết: “Đối với tôi, Helsinki còn gắn liền với tên tuổi một người Việt khác chỉ qua một bài tùy bút về phở viết tại đây trong những ngày tác giả héo hắc nhớ món ăn quốc hồn quốc túy của dân tộc: Nguyễn Tuân[7].”

  Hội nghị Hòa bình Thế giới và việc lưu trữ ở Phần Lan

Tròn 60 năm Tùy bút “Phở” đến với bạn đọc và 30 năm ngày mất của Nguyễn Tuân, tôi đọc lại “Phở” ở Helsinki và quyết định lần theo dấu vết của nhà văn và đoàn đại biểu Việt Nam năm nào ở nơi này.

Có lẽ không quá lời khi nói rằng: nếu không có “Phở” thì ngày nay rất nhiều người cũng như tôi không biết gì về Hội nghị Hòa bình Thế giới 1955(HNHB) mà Việt Nam cũng có đoàn đại biểu trong đó có nhà văn Nguyễn Tuân cũng như một số người nổi tiếng khác tham dự. Ngược lại nếu không tham dự Hội nghị hòa bình thế giới và nếu món ăn Phần Lan ngon, hợp khẩu vị với Nguyễn Tuân thì chưa chắc chúng ta đã có tùy bút “Phở” nổi tiếng như đã thấy. Không biết Ủy ban Hòa bình thế giới của Việt Nam và các cá nhân trong đoànhiện còn lưu giữ những tư liệu về sự kiện ấy không, song thử lần tìm qua Google và hỏi những người quen Phần Lan hoạt động trong phong trào hòa bình ở Helsinki, tôi không thu đượcthông tin hữu ích gì về hội nghị đó. Cuối cùng tôi gửi câu hỏi tới địa chỉ hỏi đáp thông tin của Thư viện Helsinki (http://www.kysy.fi/kysy), nơi tôi từng hỏi nhiều thông tin cho cuốn sách Phần Lan-Ngôi sao phương bắckhi không tìm được trên mạng và từ thư viện.

Thật không ngờ sau haituần gửi câu hỏi đi, tôi nhận được thư trả lời, giới thiệu tôi liên lạc vớiLưu trữ nhân dân Phần Lan.Tôi liền gửi email tới cơ quan này và chỉ một ngày sau tôi nhận được email trả lời của một thủ thư từ Lưu trữ nhân dân Phần Lan. Thưcho biết cơ quan này có lưu giữ nhiều tư liệu các loại về HNHB. Trong email, người viết còn hướng dẫn tôi một cách tỉ mỉ cáchtìm tư liệu vềHNHB trên trang mạng của Lưu trữ nhân dân cùng vớiđịa chỉ và thời gian làm việc của cơ quan này để tôi có thể đến tra cứu trực tiếp nếu muốn.

Lưu trữ nhân dân là nơi lưu giữ những tư liệu cũ nhất của các tổ chức, nghiệp đoàn lao động ở Phần Lan từ năm 1890 đến nay. Cơ quan có 3300m giá tư liệu, 14 000 đầu sách, 10 000 băng, 1 100000 tấm ảnh, 7000 áp phích và 570 tác phẩm nghệ thuật. Trong email vị thủ thư cho biết, trong số hơn 1 triệu tấm ảnh ở đây có hàng trăm ảnh chụp ở HNHB (106 ảnh đã được scan và đưa lên mạng). Anh ta dặn vì tư liệu tôi cần tìm không có sẵn ở phòng đọc mà được giữ ở kho xa nên nếu muốn đến tra cứu và đọc trực tiếptôi phải hẹn trước để họ kịp chuyển từ kho về.

Thế là trong thời gianchờ đến Lưu trữ nhân dântra cứu, tôi đọc lại “Phở” và hồi hộp hy vọng sẽ được mục kích những tư liệu, hình ảnh về hoạt động của đoàn đại biểu Việt Nam tại HNHB, như Nguyễn Tuânđãviết (nhất là tư liệu liên quan đến nhà văn).

Đúng hẹn, tôi đến phòng đọc của Lưu trữ nhân dân.Vị thủ thư chỉ cho tôi những tư liệu cần tìm đang xếp trên giá, một vài tập được để lên bàn cùng với một đôi găng tay trắng bằng vải mỏng.Nhìn đôi găng tay vải tôi chợt nghĩ, so với Lưu trữ Vatican mà tôi từng có dịp đến sưu tầm tư liệu về chữ Quốc ngữ cách đây hơn 15 năm, việc tìm tư liệu ở đây dễ dàng và đơn giản hơn, song phải dùng găng tay mới được tiếp xúc với tư liệu thì lại nghiêm cẩn hơn[8]. Tất cả tư liệu liên quan đến HNHB, từ giấy mời, thẻ vào hội nghị, thư chúc mừng, biên bản hội nghị, thông cáo báo chí, danh sách thành viên các đoàn đại biểu, chỗ ở các đoàn, các cuộc gặp của các đoàn bên lề hội nghị, danh sách những người tham gia phục vụ hội nghị (phiên dịch, tiếp tân) với số ngày làm việc tới chi phí các khoản trong thời gian hội nghị cùng với những tấm ảnh kèm theo các ghi chú rõ ràng lưu giữ trong 5 tập được gói buộcchu đáo.

Phải mất gần trọn một ngày tôi mới lần giở hết được 5 tập và đọc lướt qua tất cả để tìm những thông tin liên quan, cần thiết trong đó. Tuy văn bản, tư liệu ghi chép cũng như hình ảnh liên quan đến đoàn đại biểu Việt Nam không nhiều như tôi mong đợi, song những gì tìm được cũng góp phần làm sáng tỏ hơn một số điều mà nhà văn Nguyễn Tuân đã viết trong “Phở” và giúp tôi biết thêm về HNHB cũng như hoạt động của đoàn Việt Nam tại hộinghị này.

Về thời gian, các tư liệu hội nghị cho biết:HNHB diễn ra trong thời gian từ 22-29/6/1955 (tức bảy ngày). Còn trong “Phở”,Nguyễn Tuân không nói đoàn đại biểu Việt Nam đến Helsinki và rời đi khi nào mà chỉ viết: “Chúng tôi ở đây mười ngày mỗi ngày họp trả tiền ăn mỗi người là sáu đồng đô la, nó là cái tiêu chuẩn đã khá cao của đoàn đại biểu ta đi hoạt động quốc tế.” Thật thú vị là trong tư liệu lưu giữ có một mẩu giấy bằng nửa tờ A4 (xem ảnh), trên đó có ghi rõ(bằng chữ in và đánh máy): chuyến tàu hỏa đưa đoàn đại biểu Việt Nam cùng với đoàn Liên Xô và Trung Quốc, gồm 106 người đến ga Helsinki lúc 23 giờ 30 phút (được sửa lại bằng mực xanh viết tay với 20 phút) ngày 19.6. Và trong một tư liệu khác lại có ghi: “Ngày 30.6 đoàn Việt Nam rời Helsinki”. Thông tin trên hai tư liệu này kết hợp với thời gian diễn ra hội nghị đã cho biết đoàn Việt Nam ở Helsinki từ ngày 19.6-29.6.1955, tức đúng “mười ngày” như Nguyễn Tuân viết trong “Phở”.

Như vậy cùng với việc xác định được thời gian của đoàn Việt Nam ở Helsinki, chúng ta còn khẳng định được đoàn Việt Nam đến Helsinki bằng tàu hỏa. Có lẽ vì Nguyễn Tuân viết: “Từ hôm xách va ly ra tàu qua nước này nước khác, thế là mấy tháng rồi; ở nhà đã hoàn thành tiếp quản Hải phòng rồi, đất đai miền Bắc giải phóng toàn bộ rồi…” mà nhiều người nghĩ rằng Nguyễn Tuân và đoàn đại biểu Việt Nam đã đến Helsinki bằng tàu biển:“đã bôn ba vượt đại dương hàng tháng trời”như tác giả tôi đã dẫn trên đây. Nguyễn Tuân cũng không cho biết đoàn Việt Nam xuất phát từ Hà Nội ngày nào nên chúng ta không biết được đoàn đã đi từ Hà Nội đến Helsinki mất bao lâu? Nhưng trong phần chú thích dưới một bức ảnh chụp đoàn Việt Nam, in trong bản tin số 3, ngày 23.6 bằng tiếng Pháp của hộinghị có viết: “Đoàn đại biểu Việt Nam gồm 20 thành viên chính thức và 5 quan sát viên đến Helsinki sau chuyến đi 12 ngày, chuyến đi đã đưa họ từ Bắc Kinh đến thủ đô Phần Lan”[9]. Như vậy là cùng với mẩu giấy đã dẫn ở trên, tư liệu này đã giúp khẳng định đoàn Việt Nam đến Helsinki bằng tàu hỏa.

Hội nghị được tổ chức ở Tòa nhà Hội chợ Helsinki (Messuhalli, nay là chợ trong nhà) với sự tham gia của 1841 đại biểu từ 68 nước trên khắp các châu lục. Danh sách đại biểu chính thức của hội nghị được xếp theo lĩnh vực hoạt động. Đoàn Việt Nam gồm 12 đại biểu do bác sĩ Lê Đình Thám,Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội làm trưởng đoàn và 4 quan sát viên. Trong số thành viên chính thức của đoàn Việt Nam có một số nhân vật đáng chú ý như: Dương Đức Hiền, Tổng thư ký Đảng Dân chủ, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Nguyễn Xuân Thủy (Xuân Thủy), Tổng Thư ký Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Lê Văn Thiêm, Trưởng khoa khoa học, Đại học Hà Nội và Nguyễn Tuân, Tổng thư ký Hội Văn học và Nghệ thuật Việt Nam[10]. Nguyễn Tuânlà 1 trong 62 nhà văn của tất cả các đoàn tham gia hội nghị, trong đócó một số nhà văn quen biết với độc giả Việt Nam như: Alexander Fadeev và Constantin Fedin (Liên Xô), Nazim Hikmet (Thổ Nhĩ Kỳ). Ngoài ra, rải rác trong một số tư liệu khác, tôi còn đọcđược một số tên người Việt Nam như: Nguyen Xuan Tu, Tran Van Chuong, Pham Khac Quang, Phan Van Chuong, Nguyen Thi Vinh, song không có chức vụ ghi kèm giống như trong danh sách các thành viên chính thức có trong bản tin số 2 của Hội nghị.

Trong thời gian hội nghị, các đoàn đại biểu đã tham dự ngày lễ hội Hạ chí (Juhannus) ở Helsinki và Espoo. Một tư liệu cho biết chiều tối ngày 26/6 đoàn Việt Nam cùng với đoàn Trung Quốc, một số đại biểu đoàn Ấn Độ và một số đại biểu đoàn Pháp đã đến đón đêm hội hạ chí ở Otaniemi.Chắc tham gia sự kiện này nên nhà văn Nguyễn Tuân đã viết: “Quanh hồ khu Ô-ta-ni-ê-mi, chúng tôi ngồi dưới rừng thông xanh phân tích với nhau xem tại sao lòng dạ mấy người đang thấy nhớ thương một cái gì xa xôi lắm… Có người bèn chỉ tay thẳng xuống nền cỏ bờ hồ Phần Lan, buông thõng một câu: “Bây giờ có ngay một gánh phở đỗ bên bờ hồ này, thì tớ đả luôn sáu bát!”.

Tôi cũng được ngắm nhìn một số tấm ảnh đen trắng chụp cảnh mọi người đang ăn uống, tuy đã hơn 60 năm, song chất lượng vẫn còn tốt, đủ để nhận rõ những gì mà Nguyễn Tuân miêu tả là không quá lời: “Mỗi ngày ăn ba bữa, khẩu phần thừa thãi bổ béo; nghi thức lúc ăn thật là trang trọng: đồ sứ, pha lê, khăn bàn trắng muốt, quanh bàn ăn chốc chốc lại cử nhạc, những chị đưa món ăn trông đẹp như rượu rót trong các truyện thần thoại phương Bắc này. Tôi hào hứng làm việc liền liền ở Hội nghị Hòa bình thế giới, cơ thể nhịp đều, tâm trí có nhiều sáng kiến.”

Trong danh sách 146 chủ tịch, điều khiển các phiên họp của Hội nghị, có ba người Việt Nam là Lê Đình Thám,Phan Van Chuong (Phan văn Chương) và Pham Khac Quang (Phạm Khắc Quảng). Trong số hàng trăm tấm ảnh được lưu giữ, có một số ảnh chụp đoàn Việt Nam, người xuất hiện nhiều nhất đoàn là Lê Đình Thám, trong đó có ảnh ông đang đọc tham luận tại hội nghị. Bản tin số 3 (bằng tiếng Pháp) của hội nghị có in bài phát biểu của ông Lê Đình Thám và lời chào mừng của Ủy ban bảo vệ Hòa bình Thế giới của Việt Nam gửi hội nghị. Một số tư liệu khác cho biết trong thời gian hội nghị, đoàn Việt Nam có các cuộc gặp với đoàn Algeri(ngày 23.6). Bản tin ngày 28.6 đưa tin các đoàn Việt Nam, Kampuchia và Pháp có cuộc gặp gỡ và cuối buổi gặp hai đoàn Việt Nam và Kampuchia đã tặng quà lưu niệm cho đoàn Pháp.

Một tư liệu của hội nghị còn cho biết trong hội trường người ta dựng một cây thông thẳng tắp cao hàng chục mét được đưa từ rừng ở một làng cách Helsinki gần 100km về để biểu thị lòng hiếu khách của nước chủ nhà. Sau khi hội nghị kết thúc, cây thông này sẽ được cắt ra từng mẩu nhỏ và tặng cho các đoàn làm kỉ niệm. Không biết đoàn Việt Nam có nhận và mang về vật lưu niệm đó không?

Thay cho lời kết

Không ngờ nhờ công tác lưu trữ được coi trọng và bảo quản chu đáo, cộng với sự phục vụ hết tận tình của thủ thư thuộc cơ quan Lưu trữ nhân dân Phần Lan mà tôi đã tìm được một số thông tin, tư liệu về Nguyễn Tuân và đoàn đại biểu Việt Nam tham gia hội nghị hòa bình thế giới ở Helsinki cách đây hơn nửa thế kỷ. Tiếc rằng những tư liệu này không thấy được nói đến trong tiểu sử của một số người nổi tiếng, từng là thành viên tham dự hội nghị đó, chẳng hạn như: Dương Đức Hiền, Xuân Thủy, Lê Văn Thiêm, nhất là trưởng đoàn Lê Đình Thám. Tôi thầm nghĩ nếu như Nguyễn Tuân không phải là một thành viên trong đoàn đại biểu Việt Nam đến Helsinki tham dự Hội nghị và ẩm thực Phần Lan hợp với khẩu vị Nguyễn Tuân cũng như các đại biểu khác của đoàn chắc hẳn chúng ta không được thưởng thức một bài tùy bút nổi tiếng như “Phở”.

Từ việc tìm tư liệu cho bài viết này tôi chợt nhớ cách đây không lâu khi bản dịch Truyện Kiều bằng tiếng Nga được xuất bản, một đồng nghiệp viết rằng: cho đến nay Truyện Kiều đã được dịch ra hàng chục thứ tiếng nước ngoài. Tôi có hỏi người đồng nghiệp có biết “hàng chục” thứ tiếng đó là những tiếng nào không? Vị đồng nghiệp trả lời: chỉ nghe mọi người nói/viết thế.Hình như chúng ta chưa có dữ liệu đầy đủ về các tác phẩm văn học Việt Nam được dịch ra tiếng nước ngoài? Trong khi từ ngân hàng dữ liệu của Trung tâm trao đổi văn học Phần Lan (FILI) người ta có thể tìm được tất cả các tác phẩm văn học Phần Lan được dịch ra tiếng nước ngoài từ năm 1839 đến nay.

Helsinki 5-11.2017

___________

  1. Chú thích: Các ảnh trong bài sưu tầm từ Lưu trữ nhân dân Phần Lan ở Helsinki (Kansanarkisto – http://www.kansanarkisto.fi).
  2. Phụ Lục

Danh sách một số đại biểu chính thức trong đoàn đại biểu Việt Nam (trích lục từ Bản tinHội nghị) lưu giữ tại Lưu trữ nhân dân.

Political Figures (Các nhà chính trị)

  1.   Duong Duc Hien (Democratic Republic of VN), General Secretary of the Democratic Party; Member of the Permanent Committee of the National Assembly.
  2.   Ho Thi Giang (Democratic Republic of VN), Member of the Popular Regional Assembly of Thai Meo.
  3.   Le Đinh Tham (Democratic Republic of VN), Member of the Permanent Committee of the National Assembly
  4.   Le Huy Van (Democratic Republic of VN) Member of the National Assembly
  5.   Lo Van Hac (Democratic Republic of VN), Vice-President of the Administrative Committee of the autonomous region of Thai Meo
  6.   Nguyen Xuan Thuy (Democratic Republic of VN), General Secretary of the United National Front; Deputy to the National Assembly

Bussinessman (Doanh nhân)

  1.   Nguyen Van Tinh (VN), Industrialist and Merchant at Hai Phong
  2.   Vu The Nhai dit Nam Tjai (VN) Hanoi Industrialist

Trade Union (Nghiệp đoàn)

  1.   Nguyen Van Hao (democratic Republic of VN) Member of the Excutive Committee of the General Confederation of Workers.

Scientists (Các nhà khoa học)

  1.  Le Van Thiem (Democratic Republic of VN), Dean of the Faculty of Science of Hanoi University.

Men of Letters (Nhà văn)

  1.  Nguyen Tuan (Democratic Republic of VN), Writer, General Secretary of the Association of Writers and Artists.

Lawyers (Luật sư)

  1.  Bui thi Cam (VN) Doctor of Law, lawyer at Saigon.

 

[1]Võ Xuân Quế, Phần Lan-Ngôi sao phương bắc, Nhà xuất bản Thế Giới và VIVAFIN, xuất bản lần thứ nhất 2007, tái bản 2008, 2010, xuất bản lần thứ hai 2017.

[2]http://www.honvietquochoc.com.vn/bai-viet/1028-vai-ky-niem-nho-voi-nha-van-nguyen-tuan.aspx

[3]Xem: http://lainguyenan.free.fr/BienNien/index.html

[4]Việt quất đen (mustikka),  hoặc việt quất đỏ (puolukka).

[5]Ô-ta-ni-ê-mi (Otamiemi-tiếng Phần Lan) là một khu vực ven biển (không phải hồ như Nguyễn Tuân tưởng) thuộc Espoo, giáp Helsinki, nơi phái đoàn Việt Nam và Ấn Độ được đưa đến dự đêm Hạ chí.

[6]http://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=22068.

[7]http://hakylam.com/?p=203

[8]Vào Lưu trữ Vatican tìm tư liệu chỉ được phép mang theo giấy trắng và bút chì.

[9]Con số này dựa theo thông báo trước thời gian hội nghị, trong đó 75 quốc gia cho biết sẽ gửi đoàn đến tham dự (đoàn Việt Nam đăng ký 20 đại biểu chính thức, 5 quan sát viên. Song theo danh sách đai biểu ghi trong bản tin số 2, ngày 22.6, đoàn Việt Nam chỉ có 12 đại biểu chính thức). Còn theo tuyên bố của Ban thư ký Hội nghị ngày 29.6, có 68 quốc gia tham dự với 1841 đại biểu.

[10]Xin cảm ơn nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân và Nguyễn Đức Mậu đã giúp chúng tôi xác minh được trường hợp ông Lê Đình Thám và chức vụ của nhà văn Nguyễn Tuân.

 

http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/lan-theo-dau-chan-nguyen-tuan-va-pho-o-helsinki

 




Hịch tướng sĩ thế kỷ 21

Ta cùng các ngươi
Sinh ra phải thời bao cấp
Lớn lên gặp buổi thị trường.
Trông thấy:
Mỹ phóng Con thoi lên vũ trụ chín tầng
Nga lặn tàu ngầm xuống đại dương nghìn thước
Nhật đưa rô bốt na nô vào thám hiểm lòng người
Scôtlen dùng công nghệ gen chế ra cừu nhân tạo.
Thật khác nào:
Đem cổ tích mà biến thành hiện thực
Dùng đầu óc con người mà thay đổi thiên nhiên!
Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa
Chỉ giận chưa thể đuổi kịp nước Nga, vượt qua nước Mỹ, mà vẫn chỉ hơn Lào, hao hao Băng la đét.
Dẫu cho trăm thân này phơi trên sao Hỏa, nghìn xác này bọc trong tàu ngầm nguyên tử, ta cũng cam lòng.
Các ngươi ở cùng ta,
Học vị đã cao, học hàm không thấp
Ăn thì chọn cá nước, chim trời
Mặc thì lựa May Mười, Việt Tiến
Chức nhỏ thì ta… quy hoạch
Lương ít thì có lộc nhiều.
Đi bộ A tít, Cam ry
Hàng không Elai, Xi pic.
Vào hội thảo thì cùng nhau tranh luận
Lúc tiệc tùng thì cùng nhau “dô dô”.
Lại còn đãi sỹ chiêu hiền
Giáo sư, tiến sỹ, thạc sỹ, cử nhân, ai cũng có phần, không nhiều thì ít.
Lại còn chính sách khuyến khoa
Doanh nghiệp, giáo viên, trí thức, nông dân nhận cúp, nhận bằng còn thêm tiền thưởng.
Thật là so với:
Thời Tam quốc bên Tàu, Lưu Bị đãi Khổng Minh,
Buổi hiện đại bên Nga, Pu tin dùng Mét vê đép,
Ta nào có kém gì?
Thế mà, nay các ngươi:
Nhìn khoa học chậm tiến mà không biết lo
Thấy công nghệ thụt lùi mà không biết thẹn
Giáo sư ư? Biết “Thần đèn” chuyển nhà mà chẳng chạnh lòng
Tiến sỹ a? Nghe “Hai lúa” chế tạo máy bay sao không tự ái?
Có người lấy nhậu nhẹt làm vui
Có kẻ lấy bạc cờ làm thích
Ham mát xa giống nghiện “u ét đê”
Ghét ngoại ngữ như chán phòng thí nghiệm
Chỉ lo kiếm dự án để mánh mánh mung mung
Không thích chọn đề tài mà nghiên nghiên cứu cứu
Ra nước ngoài toàn muốn đi chơi
Vào hội thảo chỉ lo ngủ gật
Bệnh háo danh lây tựa vi rút com pu tơ
Dịch thành tích nhiễm như cúm gà H5N1
Mua bằng giả để tiến sỹ, tiến sy
Đạo văn người mà giáo sư, giáo sãi.
Thử hỏi học hành như rứa, bằng cấp như rứa, thì mần răng hiểu được chuyện na niếc na nô?
Lại còn nhân cách đến vậy, đạo đức đến vậy, thì có ham gì bút bút nghiên nghiên.
Cho nên:
“Tạp chí hay” mà bán chẳng ai mua
“Công nghệ tốt” mà không người áp dụng.
Đề tài đóng gáy cứng, chữ vàng, mọt kêu trong tủ sắt
Mô hình xây tường gạch, biển xanh, chó ị giữa đồng hoang.
Hội nhập chi, mà ngoại ngữ khi điếc, khi câm?
Toàn cầu chi, mà kiến thức khi mờ, khi tỏ?
Hiện đại hóa ư? vẫn bám đít con trâu
Công nghiệp hóa ư? toàn bán thô khoáng sản
Biển bạc ở đâu, để Vi na shin nổi nổi chìm chìm?
Rừng vàng ở đâu, khi bô xít đen đen đỏ đỏ?
Thật là:
“Dân gần trăm triệu ai người lớn
Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con”!
Nay nước ta:
Đổi mới đã lâu, hội nhập đã sâu
Nội lực cũng nhiều, đầu tư cũng mạnh
Khu vực có hòa bình, nước ta càng ổn định
Nhân tâm giàu nhiệt huyết, pháp luật rộng hành lang
Thách thức không ít, nhưng cơ hội là vàng!
Chỉ e:
Bệnh háo danh không mua nổi trí khôn
Dịch thành tích chẳng làm nên thương hiệu.
Giỏi mánh mung không lừa nổi đối tác nước ngoài
Tài cờ bạc không địch nổi hắc cơ quốc tế.
Cặp chân dài mà nghiêng ngả giáo sư
Phong bì mỏng cũng đảo điên tiến sỹ.
Hỡi ôi,
Biển bạc rừng vàng, mà nghìn năm vẫn mang ách đói nghèo
Tài giỏi thông minh, mà vạn kiếp chưa thoát vòng lạc hậu.
Nay ta bảo thật các ngươi:
Nên lấy việc đặt mồi lửa dưới ngòi pháo làm nguy;
Nên lấy điều để nghìn cân treo sợi tóc làm sợ
Phải xem đói nghèo là nỗi nhục quốc gia
Phải lấy lạc hậu là nỗi đau thời đại
Mà lo học tập chuyên môn
Mà lo luyện rèn nhân cách
Xê mi na khách đến như mưa
Vào thư viện người đông như hội
Già mẫu mực phanh thây Gan ruột, Tôn Thất Tùng chắc cả trung đoàn
Trẻ xông pha mổ thịt Bổ đề, Ngô Bảo Châu cũng dăm đại đội
Được thế thì:
Kiếm giải “Phiu” cũng chẳng khó gì
Đoạt Nô ben không là chuyện lạ
Không chỉ các ngươi mở mặt mở mày, lên Lơ xút, xuống Rôn roi
Mà dân ta cũng hưng sản, hưng tâm, vào Vi la, ra Rì sọt.
Chẳng những tông miếu ta được hương khói nghìn thu
Mà tổ tiên các ngươi cũng được bốn mùa thờ cúng,
Chẳng những thân ta kiếp này thỏa chí,
Mà đến các ngươi, trăm đời sau còn để tiếng thơm.
Chẳng những tên tuổi ta không hề mai một,
Mà thương hiệu các ngươi cũng sử sách lưu truyền.
Trí tuệ Việt Nam thành danh, thành tiếng
Đất nước Việt Nam hóa hổ, hóa rồng
Lúc bấy giờ các ngươi không muốn nhận huân chương, phỏng có được không?
Nay ta chọn lọc tinh hoa bốn biển năm châu hợp thành một tuyển, gọi là Chiến lược
Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này theo lời ta dạy bảo thì suốt đời là nhà khoa học chính danh.
Nhược bằng không tu thân tích trí, trái lời ta khuyên răn thì muôn kiếp là phường phàm phu tục tử.
Vì:
Lạc hậu, đói nghèo với ta là kẻ thù không đội trời chung
Mà các ngươi cứ điềm nhiên không muốn trừ hung, không lo rửa nhục
Chẳng khác nào quay mũi giáo mà đầu hàng, giơ tay không mà thua giặc.
Nếu vậy rồi đây khi nước Việt hóa hổ, hóa rồng, ta cùng các ngươi há còn mặt mũi nào đứng trong trời đất này nữa?
Cho nên mới thảo hịch này
Xa gần nghiên cứu
Trên dưới đều theo!




Con gái Hà Nội ở đâu?

Mẹ tôi nể phục mấy cô gái Hà Nội lắm. Dưới con mắt của người nhà quê ra Hà Nội làm việc vặt, bà thấy các thiếu nữ nơi đây ứng xử khôn khéo, nói năng lễ độ, và khuôn phép lắm. Đó là chưa kể thêu thùa may vá, nữ công gia chánh,… Nói chung là đảm. Mỗi khi thấy mấy cô Sài Gòn tân thời quá, tự nhiên quá, bà lại chép miệng, con gái Hà Nội đâu có thế. Bà nói riết, nói riết…, khiến tôi ngờ…bà muốn thằng con của bà nên đi tìm một thiếu nữ Hà Nội.

 

Nhưng thế giới của tôi lại khác. Tôi sinh ra ở Sài Gòn, lớn lên ở Sài Gòn, bạn bè Sài gòn, trong đầu tôi, nếu có, cũng chỉ là con gái Sài Gòn cho hợp… thủy thổ.

 

 

Tôi đã nhìn thiếu nữ Hà Nội qua lăng kính của những

tiểu thuyết trong Tự Lực Văn Đoàn mà tôi được học thời trung học.

 

 

Mà con gái Bắc (di cư 54) hồi đó gớm lắm, vờn qua vờn lại, làm duyên, đá lông nheo, õng ẽo  làm điêu đứng con trai Nam Kỳ đến là khổ. Một thanh niên xứ Biên Hòa đã phải cay đắng thế này:

“ Em nhớ giữ tính tình con gái Bắc

Nhớ điêu ngoa nhưng giả bộ ngoan hiền,

Nhớ khiêm nhường nhưng thâm ý khoe khoang,

Nhớ duyên dáng ngây thơ mà xảo quyệt…”

Tôi không có ý kiến gì về bài thơ trên, mà cũng chẳng dại gì có ý kiến. Mấy bà mấy cô Bắc Kỳ đọc bài thơ trên có nổi cơn tam bành rủa xả, thì chắc cũng chỉ mình rủa mình nghe thôi, chứ tác giả, nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên chết rồi, chết trong một chiếc xe hơi cũ kỹ ở sân chùa bên California.

Dù sao cũng nên đọc tiếp thêm vài câu nữa mới thấy “cảm thương” cho tác giả:

“…Ta vẫn nhớ dặn dò lòng tha thiết,

Nên vội vàng tin tưởng chuyện vu vơ

Nên yêu đương bằng gương mặt khờ khờ

Nên hùng hổ để đợi giờ thua thiệt…”

Những ngày sau 75, trên tivi Sài Gòn là những đoàn quân “chiến sĩ gái”, bước theo nhịp quân hành, chiếu cận cảnh với đôi mắt rực lửa căm hờn, giọng nói lanh lảnh. Cảm giác đầu tiên của tôi với các cô gái Bắc Kỳ (thứ thiệt) là…ớn lạnh. Tôi cười, “Đấy con gái Hà Nội của mẹ đấy…”. Bà cụ lại thở dài, chép miệng… “Hồi trước đâu có thế…”.

Dĩ nhiên, mẹ tôi không thể phát hiện cái trò đánh lận rẻ tiền của thằng con, tỉnh bơ xem tất cả các cô Bắc Kỳ đều là các cô Hà Nội.

Thực ra trong đầu tôi cũng có một chút gì đó mơ hồ về con gái Hà Nội. Biết tả thế nào nhỉ! Có thể là hình ảnh dịu dàng đằm thắm của cô Liên trong Gánh Hàng Hoa, hay thiếu nữ tân thời một cách bảo thủ, không sao thoát ra khỏi vòng lễ giáo của cô Loan trong Đoạn Tuyệt. Tôi cảm được nỗi cô đơn của Loan khi thả bộ trên bờ đê Yên Phụ,… Đại loại là tôi đã nhìn thiếu nữ Hà Nội qua lăng kính của những tiểu thuyết trong Tự Lực Văn Đoàn mà tôi được học thời trung học.

Cũng chẳng dừng ở đấy đâu. Khi đọc “Tuấn, chàng trai nước Việt”, một thứ tiểu thuyết hồi ký của Nguyễn Vỹ, tôi biết thêm rằng, các cô nữ sinh Hà Nội cũng lãng mạn ra rít. Họ kín đáo lập ra hội “Ái Tino”. Tino Rossi là ca sĩ người Pháp lừng danh thưở đó, và là thần tượng của vô số thiếu nữ, chẳng riêng gì thiếu nữ Hà thành. Cái “hội” kín đáo, chỉ lèo tèo dăm ba cô thế thôi, nhanh chóng tan hàng, và rồi mạnh ai người nấy tam tòng tứ đức, xuất giá tòng phu, công dung ngôn hạnh… Cái “lãng mạn tân thời” chỉ là đóm lửa, và họ nhanh chóng quay lại với sự thanh lịch, nề nếp theo giáo dục của gia đình.

Năm 1980, lần đầu tiên tôi ra Hà Nội công tác. Anh bạn đồng nghiệp trạc tuổi, tốt nghiệp từ Đông Đức, chở tôi trên chiếc Simson lòng vòng Hà Nội. Nơi đầu tiên tôi muốn ghé thăm là phố Khâm Thiên. Anh bạn tròn xoe mắt, “Làm gì còn hố bom mà ghé thăm”. Tôi chợt hiểu vì sao anh bạn ngạc nhiên, nhưng không thể giải thích. Môi trường giáo dục trong Nam ngoài Bắc khác nhau.

Cái máu phóng đãng đã dẫn tôi đến phố Khâm Thiên, chứ không phải bom rơi đạn lạc ở đó. Đến, dù chỉ để nhìn vài căn nhà xiêu vẹo, cũng thỏa đôi chút tò mò về một thời vang bóng. Phong lưu tài tử giai nhân, đúng, nhưng không phải cách phong lưu của Vân Hạc trong Lều Chõng của Ngô Tất Tố. Anh chàng Vân Hạc khi chờ kết quả thi, ra vào chốn ả đào để vui say bè bạn, để trấn an nhau, để bốc nhau, để chờ ngày bảng vàng ghi tên.

Tôi nhớ đến kiểu cách phong lưu của Cao Bá Quát, một tay chơi thứ thiệt, khi làm sơ khảo trường thi, tiếc bài thi hay mà phạm húy, đã dùng muội đèn để sửa. Việc lộ, bị kết án giảo giam hậu, ông phải đi dương trình hiệu lực, nghĩa là đi làm phục dịch cho phái đoàn đi công tác nước ngoài. Con người tài hoa này, mang theo nỗi cô đơn đến phố ả đào giải sầu bên chén rượu, làm vài bài hát nói, đào nương hát, mình gõ nhịp…

“Giai nhân nan tái đắc

Trót yêu hoa nên dan díu với tình

Mái tây hiên nguyệt gác chênh chênh

Rầu rĩ lắm xuân về oanh nhớ…”

Cũng lần đầu ở Hà Nội, buổi chiều chập choạng tối, lang thang ở phố Huế, tôi thấy một bà đi xe đạp ngược chiều, bị cảnh sát ngoắc lại. Bà năn nỉ thông cảm? Không. Bà phân bua? Không. Bà cãi tay đôi với cảnh sát rằng, nhất định mình đúng. Lương và nhu yếu phẩm phân phối còn không đủ sống, đâu dễ gì chịu nộp phạt. Đôi co với nhau mà cả hai vẫn một mực xưng hô…đồng chí. Tôi phì cười. Hà Nội có những điều không nằm trong trí tưởng tượng của một người Sài Gòn, lần đầu ra Hà Nội như tôi.

Bây giờ, Hà Nội khác xa rồi. Hà Nội nhiều nhà cao tầng, cầu vượt. Hà Nội nhiều xe hơi hơn, Hà Nội giàu hơn. Hà Nội không còn những cảnh cãi tay đôi với cảnh sát buồn cười như thế nữa.  Hà Nội văn minh hơn, nhưng có thể họ phải “cãi tay đôi” với chính mình, khi mà còn những cảnh thanh niên thiếu nữ “ à la mode” hái hoa, giẵm hoa bẻ cành để chụp ảnh, hay gào thét tung hô thần tượng minh tinh Hàn Quốc. Đó là chưa kể bún mắng cháo chửi, rải rác vẫn còn đâu đó. Thương hiệu chăng? Tôi chịu! Ăn ngon mà nghe chửi, thôi thà ăn độn dễ nuốt hơn.

Tôi có bà bạn già (hơn tôi) là dân Hà Nội mấy đời. Cha bà là một trong số rất ít người xong bậc đại học thời Tây. Sau 54, nhà đông con, xoay sở không nổi, ông bố định cho 2 đứa con lớn tạm nghỉ học, đi làm rồi học bổ túc sau. Nhưng bà mẹ thì không, nhất quyết không. Bà đến gặp ông bà bác sĩ nhà bên mượn…tiền để các con tiếp tục ăn học. Họ cùng ở trong thành như bà, không vướng bận con cái, còn chút của ăn của để, đồng ý cho vay tín chấp, một thứ tín chấp tình người, thời nay khó tìm. Tôi hiểu ra, dân trí thức Hà Nội xưa có kiểu chơi “chẳng giống ai” (lúc này). Họ kín đáo giúp đỡ nhau trong những tình huống khắc nghiệt. Trong họ dường như  chất “nhân” và lòng tự trọng được rèn luyện qua giáo dục, giấy rách phải giữ lấy lề. Mực đen và bão tố không thể vấy bẩn hay phá sập.  Những năm sau 75, trong Sàigòn tôi cũng thấy vài trường hợp như thế.

Bà bạn (già) này, về chuyên môn, thì kiến thức mênh mông chứ chẳng vừa. Ăn nói nhẹ nhàng, nhưng quyết liệt khi cần. Vậy mà cư xử thì cứ dạ dạ,..cám ơn. Bà nói chuyện với tôi cũng thế, cũng dạ dạ,..cám ơn.  Tôi cười, sao chị khách sáo thế. “Không phải đâu, tôi được giáo dục trong nhà từ nhỏ như thế. Các anh chị em tôi cũng đều như vậy chứ chẳng riêng tôi. Hồi đi học, chỉ vì dạ dạ…cám ơn mà chúng tôi bị phê bình là tiểu tư sản. Ông bà cụ dạy con nghiêm khắc lắm. Tôi là con gái, đi học về là phải tập tành bếp núc, ăn trái chuối là phải bẻ đôi. Ở trường là chuyện khác, còn về nhà là đâu ra đó, vào khuôn phép.”. Tôi cũng nhận ra sự  “khách sáo chân thành” của bà, chứ không phải khách sáo đãi bôi.

Dạo sau này, vì công việc tôi thường ra Hà Nội. Đi ăn hàng với bè bạn ở đó thì không sao, nhưng hễ đi một mình là bị chặt (giá), dù chỉ là chai nước tinh khiết, 10.000 đồng ở quán ven đường phố cổ. Bị chặt riết thành quen. Tôi nhủ thầm, lần nào ra Hà Nội mà không bị chặt coi như trúng số.

Dù tôi cũng có vài người bạn thân ở Hà Nội, nhưng giữa tôi và Hà Nội, dường như vẫn còn khoảng cách nào đó. Tôi đến Hà Nội như một kẻ xa lạ, đến như đi nước ngoài không cần visa.

Sài Gòn dễ hội nhập. Cứ ở Sài Gòn là thành người Sài Gòn. Chưa thấy mình là người Sài Gòn, ở lâu thêm chút nữa cũng biến thành người Sài Gòn. Sài Gòn đồng hóa con người nhanh lắm.

Nhưng Hà Nội có lẽ khác, người ta đồng hóa Hà Nội như vũ bão, đồng hóa cạnh tranh từ nhiều nguồn khác nhau để tạo ra một văn hóa Hà thành hiện đại khó mô tả. Còn người Hà Nội (thứ thiệt) đành phải co cụm, khép kín, và giáo dục con cái theo cách riêng của họ để bảo tồn…di sản. Giáo dục từ gia đình mới tạo ra gốc rễ, chứ  không phải là quy tắc ứng xử, hay giàu sang, quyền thế.

Hà Nội nhiều hồ. Hà Nội đẹp vì hồ vào những buổi sáng thật sớm, khi trời còn nhá nhem. Sáng lên, Hà Nội biến mất. Con gái Hà Nội (xưa) chắc cũng thế. Cuộc đời dâu bể đã làm họ biến mất, nhưng thực ra cũng chỉ lẩn quất, âm thầm đâu đó thôi.

Năm ngoái, đi ngang qua ngõ nhỏ trong khu phố cổ, tôi ghé tiệm tạp hóa mua chai nước lạnh. Bà bán hàng dễ cũng gần 70, đưa chai nước: “Thưa, của ông đây, giá 5.000. Cám ơn ông…”. Tai tôi lùng bùng. Trong tiềm thức có cái gì nghe quen quen, đọc đâu đó rồi. Đã dợm chân đi, nhưng cũng quay lại: “Thưa bà, bà là người Hà Nội?”. “Vâng ạ, nhà tôi ở  ngõ này đã ba đời rồi, từ thời ông nội tôi ra làm quan ở đây”.

Mẹ tôi nói đúng về con gái Hà Nội. Họ hiếm hoi, ẩn mình như giọt nước đọng ở mặt dưới của lá cây sau cơn mưa. Có duyên mới gặp, phải tìm mới thấy.

Vũ Thế Thành




Một người Sài Gòn đã thiết kế Sài Gòn từ thành Gia Định

Có thể khẳng định các trục đường khu trung tâm Sài Gòn trước và sau khi Pháp chiếm Gia Định 1859  cũng như hiện nay hầu hết theo hướng các cạnh thành Gia Định. Thiết kế, quy hoạch này của một người Sài Gòn từ năm 1790: Trần Văn Học.
Đường Bangkok (Mạc Đĩnh Chi hiện nay) chụp từ đại lộ Norodom (đường Lê Duẩn hiện nay) cuối thế kỷ 19 được xây dựng từ bức tường thành Gia Định bị Pháp đánh chiếm 1859. Dãy nhà  ngói, nhà lá bên trái ảnh hiện là khuôn viên trụ sở Tòa lãnh sự Hoa Kỳ ở TP.HCM – Ảnh tư liệu

 

Thậm chí, nhiều con đường lớn của đô thị Sài Gòn xưa, khu trung tâm TP.HCM hiện nay đã có trước khi Pháp vô 69 năm.

Đường phố trung tâm Sài Gòn do công trình sư Trần Văn Học thiết kế

Trần Văn Học là một võ tướng có công rất lớn với chúa Nguyễn Ánh từ khi bôn tẩu đến lúc lên ngôi Gia Long; từng đưa mẹ Nguyễn Ánh cùng gia quyến chạy sang Cao Miên khi Tây Sơn truy đuổi; đưa hoàng tử Cảnh đi cầu viện nước ngoài… nhưng cuộc sống lại khá bình lặng, đến mức cả sử sách, tư liệu lịch sử không rõ ông sinh ra và mất năm nào.

Chỉ chắc chắn một điều, Trần Văn Học là người huyện Bình Dương, Gia Định, cụ thể là dân khu vực ngã năm Bình Hòa (Q. Bình Thạnh, TP.HCM) hiện nay và khi mất, chôn ở nơi đây.

Trong quá trình bôn tẩu, ông từng đến Xiêm (Thái Lan), Ấn Độ, Pháp, Bồ Đào Nha, Philippines, Malaysia…  và là người Việt đầu tiên vẽ bản đồ Sài Gòn – Gia Định xưa theo phương pháp phương Tây.

Là võ tướng nhưng ông không chỉ biết chữ Nho mà còn còn giỏi quốc ngữ và tiếng Latin nên luôn là trợ tá đắc lực của Nguyễn Phúc Ánh trong thông ngôn, dịch sách, nhất là các sách kỹ thuật phương Tây và kiêm cả việc chế tạo hỏa xa (một thứ chiến cụ), địa lôi và các loại binh khí.

Năm 1790, Nguyễn Phúc Ánh cho xây thành Gia Định (thành Bát Quái) từ thiết kế của hai sĩ quan công binh Pháp Olivier de Puymanel, Le Brunt và giao Trần Văn Học “phác họa đường sá và phân khu phố phường” đường trong thành năm 1790 (để dễ phân biệt, xin lấy tên thành Phiên An – thành Quy để phân biệt với thành Gia Định xây năm 1836 – thành Phụng).

Chúa Nguyễn Ánh còn giao ông chịu trách nhiệm quy hoạch phố thị nằm ngoài thành lũy.

Bản đồ Gia Định – Sài Gòn – Bến Nghé do Trần Văn Học vẽ 1815. Khu vực trong và ngoài thành Bát Quái (Phiên An –  trung tâm tâm đô thị Sài Gòn) là những con đường ngang dọc vuông vức mà hiện chúng ta đang đi. Từ hai thành Phiên An, Gia Định, các trục lộ chính tỏa bốn hướng giờ vẫn còn: Hai Bà Trưng (giữa thành, qua Phú Nhuận, xuống Gò Vấp và quay lại thành), đường Nguyễn Trãi (đi Chợ Lớn), đường Nguyễn Thị Minh Khai (bên trái thành đi miền Tây, phải thành đi miền Đông, ra xa lộ Hà Nội, QL1), Cách Mạng Tháng 8 (đi Campuchia),  Nguyễn Tất Thành (đi Q.7, Nhà Bè, Cần Giờ).

Khi Pháp chiếm xong Gia Định, các trục đường do ông vẽ ngay lập tức trở thành trục lộ chính của đô thị Sài Gòn.

Tranh vẽ 3D của của đại úy hải quân Pháp Favre năm 1881 (có thể năm 1895 vì đã có tháp chuông Nhà thờ Đức Bà) cho thấy các các đường phố Sài Gòn hoàn toàn song song, vuông vức với quy hoạch đường phố trong và ngoài thành Gia Định trước khi Pháp vô. Thậm chí những con đường mới cũng mở theo quy cách khoảng cách giữa các con đường bằng nửa một cạnh thành (khoảng 200-250m) – Tranh tư liệu

Chẳng hạn con đường từ giữa cổng thành Gia Định đi thẳng ra sông Sài Gòn đặt tên là đường Citadelle (đường Thành – nay là đường Tôn Đức Thắng).

Các con đường xung quanh thành cũng trở thành đường (xin ghi tên hiện nay để bạn đọc không rối) Nguyễn Bỉnh Khiêm, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Duẩn.

Đại lộ Norodom (đường Lê Duẩn hiện nay) nhìn từ Dinh toàn quyền (khu vực hội trường Thống Nhất hiện nay) thời thuộc Pháp. Đây vốn là con đường chạy trước thành Gia Định trước khi bị Pháp chiếm 1859 – Ảnh tư liệu
Đến nay đoạn đường chạy ngang cổng chính thành Gia Định là đường Lê Duẩn vẫn là một trong những con đường đẹp nhất Sài Gòn – Ảnh: M.C.
Đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa hiện nay (đoạn chạy qua hội trường Thống Nhất, tức dinh Độc Lập trước 1975) vốn là một cạnh thành Phiên An 1790 – Ảnh: M.C.

Hoặc đường  Đồng Khởi (thời Pháp là đường Catinat) có từ trước khi Pháp đánh chiếm Sài Gòn và nay vẫn là một trong những con đường “vàng” của TP.HCM, vốn là con đường chúa Nguyễn từ thành ra bờ sông Sài Gòn nghỉ mát và tắm (có tên xưa là Bến Ngự).

Khu trung tâm Sài Gòn, ít nhất 26 con đường của nhà thiết kế Trần Văn Học sau khi Pháp vô đã mang số thứ tự 1-26 (đến 1-2-1865, đề đốc De La Grandière đặt tên đường và đường số 16 tên Catinat).

Khu trung tâm Sài Gòn thời thuộc Pháp: đường chạy dọc bên trái ảnh là đường Hai Bà Trưng hiện nay; đường bên phải là đường Phạm Ngọc Thạch (dưới), Đồng Khởi (trên); đường ngang giữa ảnh là đường Lê Duẩn… đều nằm trong tổng thể ngang – đông nam, dọc – tây bắc của thành Gia Định. Nhà thờ Đức Bà nằm trong khuôn viên xưởng chế tạo (súng đạn – xưởng thợ) – Ảnh tư liệu

Quy hoạch Sài Gòn từ thành Gia Định 1790 giờ vẫn đang xài

Các trục đường do ông thiết kế năm 1790 (vẽ năm 1815) hiện nay vẫn còn là những trục lộ chính của một TP.HCM hiện đại, hướng ra miền Trung, về miền Tây, đi Campuchia và xuống khu vực Nhà Bè, Cần Giờ.

Vị trí thành Phiên An (thành Quy) và thành Gia Định (thành Phụng) xưa và nay - Đồ họa; T.Thiên
Vị trí thành Phiên An (màu đỏ – thành Quy – Gia Định phế thành) và thành Gia Định (màu xanh – thành Phụng) trong đường phố khu trung tâm TP.HCM hiện nay – Đồ họa: T.Thiên
Vị trí thành Phiên An (thành Quy) và thành Gia Định (thành Phụng) trên bản đồ hiện nay (2016) - Đồ họa; T.Thiên
Các trục đường, cạnh thành Phiên An (thành Quy) và thành Gia Định (thành Phụng) hoàn toàn khớp với các đường phố trung tâm TP.HCM trên bản đồ hiện nay (2016) – Đồ họa: T.Thiên

Phố xá, khu nhà ở, khu buôn bán sắp đặt linh hoạt theo hệ thống sông nước vùng Sài Gòn xưa thể hiện rất rõ sự sáng tạo của một nhà quy hoạch tầm cỡ.

Và những hình dáng của Sài Gòn xưa ấy giờ vẫn đang là khung sườn chạy tốt của khu trung tâm TP.HCM hiện nay.

Đường Nguyễn Thị Minh Khai đi về hướng Chợ Lớn, miền Tây (phía trước), ngược lại về miền Đông (sau) vốn là trục lộ chính giữa thành Gia Định (thành Phụng) – Ảnh: M.C.

Đường Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện vẫn là một trong những con đường đẹp nhất Sài Gòn, vốn là con đường chạy dọc cạnh thành Gia Định (thành Phụng) hướng đông bắc, hướng ra cổng sau thủy xưởng (đóng tàu) của nhà Nguyễn (nay là xưởng Ba Son – cuối đường trong hình) – Ảnh: M.C.

 

1792, Trần Văn Học vẽ họa đồ thành Mỹ Tho và đường phố quanh thành. Không dừng lại ở đó, năm 1821, vua Minh Mạng sai ông vẽ bản đồ núi sông, đường sá các trấn của tỉnh Gia Định, đến Tây Ninh (tỉnh Gia Định thời Gia Long bao gồm cả tỉnh Bình Dương, Tây Ninh hiện nay), biên giới với Chân Lạp (Campuchia) với lời dụ kèm theo 100 quan tiền thưởng trước: “Ngươi không còn sống bao lâu, há chẳng nghĩ đến việc lưu danh hậu thế?”.

Nhưng chỉ ít lâu sau ông mất. Dự tính của vua Minh Mạng không thành.

Dịp 300 năm Sài Gòn – TP.HCM 1998, Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật TP.HCM tổ chức hội thảo “Vai trò khoa học và kỹ thuật của Trần Văn Học trong lịch sử 300 năm thành phố”.

“Ông được đánh giá là người rất có tài vẽ địa đồ, họa đồ kỹ thuật. Đem so sánh bản đồ Sài Gòn 1799 của Dayot với bản đồ Gia Định 1815 của Trần Văn Học thì về kỹ thuật đồ bản như trắc địa hay tỉ lệ, bản đồ của ông Học chính xác hơn nhiều…” (Địa chí Văn hóa TP.HCM)

Danh sách các di tích tại Cochinchin (Nam Kỳ) thời Pháp do Học viện Viễn Đông – Pháp (École Francaise d’ Extrême – Orient) được toàn quyền Đông Dương phê chuẩn ngày 19-5-1925, mộ Trần Văn Học ở xã Bình Hòa, tỉnh Gia Định xếp thứ 9.

Sự nhầm lẫn hơn nửa thế kỷ

Tuy nhiên, lúc ấy và cả ở miền Nam trước 1975 đều “đổi” ông từ họ Trần thành họ Nguyễn. Thậm chí trước 1975, đường Nơ Trang Long mang tên đường Nguyễn Văn Học, BV Nhân dân Gia Định mang tên BV Nguyễn Văn Học.

Theo tờ trình của ông H. Mauger, quản thủ Viện Bảo tàng Sài Gòn và kỷ yếu của Học viện Viễn Đông của Pháp, Vương Hồng Sển viết: “Trước kia Pháp gọi là “tombeu du Maréchal Nguyễn Văn Học”. Nay truy ra không có công thần nào triều Nguyễn có tên họ như vậy. Có chăng là ông Trần Văn Học, tác giả bức địa đồ tỉnh Gia Định họa năm 1815?” (Sài Gòn năm xưa).

Nhà nghiên cứu Nghiêm Thẩm giải thích “sở dĩ H. Mauger ghi Trần Văn Học họ Nguyễn, vì ông nghe những người ở xung quanh ngôi mộ cổ nói vậy. Nhưng tra kỹ trong Đại Nam chính biên liệt truyện, chỉ thấy có giám thành Trần Văn Học, và không thấy chép việc ông Học được phép vua cho mang họ Nguyễn (quốc tính) bao giờ”.

Nghiêm Thẩm nhận định: “Chắc vì ông Học không có con hay thân nhân và cũng vì các người ở gần khu mộ nhớ lộn họ của ông nên ông H. Mauger mới ghi sai. (Công trình sư Trần Văn Học – Tạp chí Văn hóa – SG, 1962).

Một người Sài Gòn khác cũng từng quy hoạch Sài Gòn trước Trần Văn Học

Đó là Nguyễn Cửu Đàm (?-1777), người Gia Định, một danh tướng – nhà doanh điền thời chúa Nguyễn; được lịch sử ghi nhận là nhà quy hoạch Sài Gòn đầu tiên khi khép kín thành phố bằng ba mặt sông rạch (rạch Thị Nghè – bắc, sông Sài Gòn – đông, rạch Bến Nghé – nam) và một mặt thành lũy (lũy Bán Bích – bắc), tạo thể thống nhất về địa lý – kinh tế – xã hội – quốc phòng.

Theo Địa chí Văn hóa TP.HCM, “Sài Gòn đã là thành phố từ khi Nguyễn Cửu Đàm xây Lũy Bán Bích năm 1772″ vì khi ấy phố xá, thương cảng đã được bảo vệ bởi một vách thành dài 15 dặm”.

Cũng năm 1772, kênh Ruột Ngựa do ông sai đào. Địa chí văn hóa TP.HCM dẫn Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức: “Nguyên xưa từ Rạch Cát ra phía Bắc đến Lò Gốm thì có một đường nước đọng móng trâu, ghe thuyền đi lại không được… Nguyễn Cửu Đàm có đào con kênh thẳng như ruột ngựa nên mới đặt tên ấy. Kênh này sau đó đã giúp cho thuyền bè qua lại giữa Sài Gòn với miền Tây thêm thuận lợi”.

 

https://tuoitre.vn/mot-nguoi-sai-gon-da-thiet-ke-sai-gon-tu-thanh-gia-dinh-1055221.htm




Việt Nam qua các kỳ APEC

Thụy My

media
Chủ tịch Việt Nam Trần Đại Quang phát biểu trong diễn đàn doanh nghiệp APEC 2017 tại Đà Nẵng ngày 08/11/2017.REUTERS
 

Cách đây 11 năm Việt nam đã là nước chủ nhà của Thượng đỉnh APEC. Từ đó đến nay kinh tế Việt Nam đã có nhiều biến chuyển. Nhân hội nghị APEC chính thúc khai mạc tại Đà Nẵng vào ngày 10/11 tới đây. RFI xin giới thiệu bài viết của tác giả Edmund Sim trên tạp chí The Diplomat nhìn lại những thay đổi về kinh tế của Việt Nam giữa hai lần  đăng cai sự kiên quốc tế lớn này.

Hội nghị thượng đỉnh APEC quay lại với Việt Nam năm nay, sau 11 năm vắng bóng. Mặc dù Việt Nam vẫn tiếp tục tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng kể từ thượng đỉnh APEC năm 2006 tại Hà Nội, môi trường khu vực và toàn cầu đã thay đổi hẳn. APEC 2017 tại Đà Nẵng mang lại cho các nhà lãnh đạo Việt Nam cơ hội để đối mặt với các đổi thay này.

APEC 2006 : Bắt đầu cuộc đua với thế giới

Chiến tranh kết thúc năm 1975, hai miền Nam Bắc Việt Nam thống nhất, khởi đầu cho một quá trình tái thiết lâu dài. Bị phương Tây cô lập, mâu thuẫn với đa số láng giềng, quan hệ kinh tế đối ngoại của Hà Nội lệ thuộc vào người bạn lớn Liên Xô. Sau khi Liên Xô sụp đổ năm 1991, Việt Nam buộc phải tự do hóa thương mại, tập trung cho phát triển kinh tế. Điều này có nghĩa là phải có quan hệ tốt đẹp với các láng giềng Đông Nam Á lẫn phương Tây.

Thế nên Việt Nam tham gia Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) vào năm 1995. Hà Nội được hưởng lợi nhờ đầu tư và thương mại với ASEAN tăng lên thông qua hiệp định AFTA (Tự do mậu dịch ASEAN), và các FTA (Hiệp định tự do mậu dịch) giữa ASEAN với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Úc và New Zealand.

Cấm vận kết thúc vào năm 1994, và Việt Nam bình thường hóa quan hệ thương mại với Hoa Kỳ năm 2000. Yếu tố quyết định cho sự phát triển kinh tế Việt Nam là việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào đầu năm 2007.

Thượng đỉnh APEC 2006 tại Hà Nội là dịp Việt Nam ra mắt, khởi đầu cho quá trình hội nhập với thế giới. Việc cải thiện quan hệ đã giúp tăng cường thương mại, đầu tư nước ngoài và tăng trưởng kinh tế.

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), tổng sản phẩm nội địa (GDB) của Việt Nam đã tăng gấp đôi, từ 25 tỉ đô la năm 1996 lên 66 tỉ đô la năm 2006. Thu nhập quốc dân (GNI) trên đầu người từ 310 đô la năm 1996 lên 760 đô la năm 2006. Tuy nhiên đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vẫn dừng lại ở mức 2,4 tỉ đô la một năm trong thời kỳ này.

APEC 2017 : Hội nhập hơn bao giờ hết

Kể từ APEC 2006, Việt Nam tiếp tục công cuộc hội nhập kinh tế với các nước láng giềng và các đối tác thương mại ở xa hơn. Việt Nam và các thành viên ASEAN khác đã mở rộng phạm vi của AFTA thành Cộng đồng kinh tế ASEAN, bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ và đầu tư.

ASEAN bắt đầu thương lượng để tăng cường FTA với sáu nước đối tác lâu nay về Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP). Riêng Việt Nam còn ký hiệp định FTA song phương với Liên Hiệp Châu Âu (EU), Nhật Bản, Chilê, Liên minh Kinh tế Á-Âu (giữa Nga với bốn nước Liên Xô cũ là Belarus, Kazakhstan, Armenia và Kyrgyzstan).

Sau đó Việt Nam ký Hiệp định Đối tác Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) quy mô và khởi đầu thương lượng FTA (thông qua ASEAN) với Hồng Kông, Hiệp hội Mậu dịch Tự do Châu Âu (gồm bốn nước Thụy Sĩ, Na Uy, Lichtenstein và Iceland), Liên Hiệp Châu Âu (EU).

Kết quả của việc gia tăng hội nhập kinh tế là Việt Nam đã đa dạng hóa được thị trường xuất khẩu. Theo thống kê Liên Hiệp Quốc, thặng dư xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2015 là 162 tỉ đô la. Hai mươi năm sau khi dỡ bỏ cấm vận, nay Hoa Kỳ là thị trường lớn nhất của Hà Nội. EU là thị trường lớn thứ hai, tiếp đến là ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản.

Kinh tế tăng trưởng cùng với hội nhập. Theo số liệu của WB, năm 2016, GDB Việt Nam đạt 203 tỉ đô la, gấp ba lần so với 2006. Riêng FDI tăng gấp bốn, lên 11,8 tỉ đô la vào năm 2015, cho thấy các nhà đầu tư ngoại quốc đang chú ý đến Việt Nam.

APEC 2017 : Cơn lốc chống toàn cầu hóa

Trong nhiều tình huống khác nhau, APEC 2017 có thể là một cơ hội khác để chứng tỏ Việt Nam tiếp tục phát triển thông qua toàn cầu hóa. Những sự kiện gần đây ở Hoa Kỳ và Anh quốc cho thấy xu hướng chống lại toàn cầu hóa, có thể ảnh hưởng đến nỗ lực hội nhập của Việt Nam.

Từ khi Việt Nam trở thành thành viên WTO, tổ chức đa phương này đã không thành công trong việc xây dựng những hiệp định quan trọng có lợi cho Hà Nội. Chỉ có một thỏa thuận tạo điều kiện cho thương mại, chẳng đem lại lợi lộc gì mấy. Hơn nữa khi gia nhập, Việt Nam đã chấp nhận việc bị coi như một nền kinh tế phi thị trường (Nonmarket Economy – NME), khiến các đối tác thương mại có quyền áp đặt thuế chống phá giá.

Hà Nội nghĩ rằng sẽ thoát được tình trạng này vào năm 2019, theo thỏa thuận lúc gia nhập WTO. Tuy nhiên ngay cả Trung Quốc, gia nhập với các điều kiện tương tự, cũng vẫn tiếp tục bị coi là NME, cho thấy một tương lai không mấy sáng sủa cho Việt Nam. Đối với Hà Nội, lợi ích khi là thành viên WTO chỉ giới hạn ở việc giải quyết tranh chấp, khác xa so với những hy vọng ban đầu.

Cộng đồng kinh tế ASEAN cũng có những vấn đề. Các sản phẩm của ASEAN trên nguyên tắc được miễn thuế, tuy nhiên các nhà xuất khẩu khó thể chứng minh xuất xứ và các trở ngại khác như tiêu chuẩn công nghiệp hoặc giấy phép nhập khẩu vẫn tồn tại.

Tự do di chuyển chỉ giới hạn cho giới chuyên môn và cán bộ lãnh đạo, dịch vụ thương mại vẫn phải đối mặt với quyền sở hữu và các hạn chế đầu tư. Nhiều lãnh vực kỹ nghệ vẫn đóng cửa với đầu tư trong nội bộ ASEAN. Như vậy cộng đồng này chủ yếu vẫn là một dự án thay vì một thị trường chung thực sự.

Thử thách FTA lớn nhất của Việt Nam là TPP. Hiệp định này giúp hàng Việt Nam được hưởng thuế suất ưu đãi khi xuất vào thị trường Mỹ, thị trường lớn nhất của nước này. Đổi lại, Hà Nội chấp nhận nhượng bộ về các quyền của người lao động và một số vấn đề nhạy cảm khác.

Đáng tiếc là cả hai ứng cử viên tổng thống Mỹ chủ chốt năm 2016 đều phản đối TPP. Khi ông Donald Trump lên nắm quyền đã rút Hoa Kỳ khỏi hiệp định này. Việt Nam nay chẳng còn tha thiết lắm với một TPP không có Mỹ, vì đã có FTA với hầu hết các đối tác khác trong TPP. Những nước khác như Canada, Mêhicô thì cũng không phải là những thị trường rộng lớn, hấp dẫn. Hơn nữa, dù sớm khởi động thương thảo FTA trong khu vực, Washington vẫn chưa đưa ra sáng kiến kinh tế nào để thay thế.

Một FTA quy mô khác là RCEP được Bắc Kinh giới thiệu nhằm thay chân TPP, tuy nhiên RCEP không thiết lập cùng một mức độ cam kết. Thương lượng về RCEP nhiều lần bị sa lầy, vì mặc dù tất cả các bên của RCEP đều có FTA với ASEAN, các nước này lại không ký FTA với nhau, như trường hợp của Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Ấn Độ.

Thương lượng về hiệp định tự do mậu dịch giữa Việt Nam và EU đã kết thúc thành công, nhưng tiến trình phê chuẩn còn dài, còn phải chờ đợi từng nước thành viên thông qua. Quá trình này có vẻ gian nan, như mới đây FTA giữa Canada và EU đã gặp trở ngại vì một chính quyền vùng ở Bỉ. Cuối cùng, việc Anh ra khỏi EU khiến một số điều khoản phải được xem xét lại, và Việt Nam sẽ phải thương lượng một FTA riêng với Anh quốc.

APEC 2017 : Bão chống toàn cầu hóa ập vào tận nhà

Áp lực chống toàn cầu hóa lên Việt Nam không chỉ cảm nhận ở thị trường nước ngoài, mà còn ngay trong nội địa. Trong lịch sử, quan hệ kinh tế đối ngoại của Việt Nam thường bị người láng giềng khổng lồ phương bắc là Trung Quốc thống trị. Quan hệ Việt-Trung thường xuyên hết nóng rồi lại lạnh, và bây giờ cũng chẳng khác.

Tất nhiên sự hiếu chiến của Bắc Kinh trên Biển Đông đang chế ngự quan hệ Việt-Trung hiện nay. Người Việt hết sức nhạy cảm về sự bành trướng của Trung Quốc trên vùng biển này. Khi Bắc Kinh đưa một giàn khoan đến vùng biển Hoàng Sa nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam năm 2014, những vụ bạo động chống Trung Quốc đã nổ ra tại Việt Nam.

Quan hệ Việt-Trung còn bị ảnh hưởng bởi các vấn đề thương mại và đầu tư. Cũng như hầu hết các nước, Trung Quốc là nguồn cung cấp hàng nhiều nhất cho Việt Nam ; xuất siêu đến 33 tỉ đô la, theo thống kê của Liên Hiệp Quốc.

Thị trường nội địa khổng lồ của Hoa lục và các công ty quốc doanh to lớn của Trung Quốc là các lợi thế cạnh tranh chính so với Việt Nam, vốn có thị trường nhỏ hơn và một nền kinh tế lệ thuộc nhiều hơn vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Tác động của Trung Quốc lên nền kinh tế Việt Nam còn nhiều. Tác giả Edmund Sim cho biết hồi đầu năm đã tổ chức một buổi hội thảo ở Hà Nội, dành cho các nông dân và nhà sản xuất nông sản phẩm Việt Nam, do cơ quan phát triển Đức German GiZ tài trợ. Mục đích là mở rộng cơ hội thương mại và đầu tư trong FTA giữa ASEAN và Trung Quốc (ACFTA).

Nhiều công ty Việt Nam than phiền về các hàng rào phi thuế quan của Bắc Kinh như các tiêu chuẩn về thực phẩm, nông sản, cũng như việc kiểm tra tùy tiện. Họ cũng phản ứng trước tình trạng các nhà nhập khẩu Trung Quốc, với nguồn tín dụng rẻ và dồi dào, đã mua bao trọn mùa màng với giá rẻ, trước khi thu hoạch và vận chuyển đến Trung Quốc. Hậu quả là những lợi ích của tự do mậu dịch theo ACFTA hoàn toàn rơi vào túi của họ, chứ không phải các nhà nông Việt Nam.

Các nhà lãnh đạo Việt Nam ý thức sâu sắc về tình cảm này, và theo tác giả bài viết, thì đúng là phải như thế. Dư luận quần chúng là quan trọng tại Việt Nam, cho dù không giống như ở phương Tây. Mạng xã hội ở Việt Nam tương đối ít bị kiểm soát. Hơn nữa, khác với Trung Quốc, ít có nhiều thủ tục quan liêu giữa chính quyền địa phương và trung ương, nhờ đó các vấn đề địa phương nhanh chóng mang tầm quốc gia. Bên cạnh đó, đảng Cộng Sản Việt Nam thường có những cuộc bầu cử và chọn lựa trong nội bộ, nên dư luận trong đảng cũng quan trọng.

APEC 202X : Vạch ra một đường hướng mới ?

Các áp lực từ bên ngoài và bên trong, do các điều kiện toàn cầu thay đổi, đã đặt các nhà lãnh đạo Việt Nam vào một tình huống phức tạp hơn. Ngược với 11 năm đã qua kể từ APEC 2006, một sự hội nhập phi tập trung không phải là giải pháp cho mọi nhu cầu phát triển kinh tế còn lại của Việt Nam.

Nền kinh tế ngày càng lệ thuộc nặng nề vào Trung Quốc tạo ra thêm những cái giá phải trả về xã hội, kinh tế và an ninh khiến Việt Nam luôn phải dè chừng người láng giềng khổng lồ. Lấy lại cân bằng thông qua sự hỗ trợ và liên kết với các nhân tố quốc tế khác như Hoa Kỳ và Châu Âu thì lại phức tạp, và ngay cả quan hệ giữa Việt Nam với các láng giềng ASEAN cũng không hoàn toàn xuôi chèo mát mái.

Việc Việt Nam tổ chức thượng đỉnh APEC 2017 tại Đà Nẵng mang lại hơi hướm lịch sử đầy ý nghĩa. Trong cuộc chiến tranh vừa qua, Đà Nẵng và miền trung Việt Nam đóng vai trò tiền phương. Các phi cơ Mỹ cất cánh từ căn cứ không quân rộng lớn ở Đà Nẵng, thường xuyên oanh kích các đường tiếp tế từ Bắc vào Nam.

Mặc dù các vấn đề của năm 2017 không trầm trọng như năm 1967, kinh tế rất quan trọng cho sự ổn định lâu dài và thịnh vượng của Việt Nam. Các nhà lãnh đạo đất nước này sẽ phải bơi giữa dòng nước yên tĩnh của thịnh vượng và bãi cát hoang vu của sự cọ xát về an ninh xã hội.

Một lúc nào đó trong thập niên tới, Việt Nam sẽ lại là nước chủ nhà của thượng đỉnh APEC. Liệu APEC 202X sẽ lễ hội của thành công kinh tế Việt Nam, hay là tang lễ của những cơ hội mất đi, điều đó còn tùy thuộc vào sự lựa chọn của các nhà lãnh đạo Việt Nam và các đối tác của họ trong vài năm tới. Dù sao đi nữa, Việt Nam cũng phải chấn chỉnh khi bước vào một cuộc đua mới.

(Tổng hợp từ The Diplomat)

*********

Nguồn:

http://vi.rfi.fr/viet-nam/20171108-viet-nam-qua-cac-mua-apec




Tôi tìm lại Tự Lực Văn đoàn

 

Tiến Sĩ MARTINA THUCNHI NGUYỄN

Phong Hóa bị đóng cửa sau bốn năm vì quá táo bạo

Một bộ sưu tập số hóa đầy đủ nhất từ trước tới nay của báo Phong Hóa và báo Ngày Nay của nhóm Tự Lực văn đoàn đã được công bố cuối tuần qua, nhằm ngày 22/9, đúng ngày cách đây 80 năm nhóm nhà văn và nhà báo đề cao tự do cá nhân ra đời.

Có thể được xem là nhóm trí thức quan trọng nhất trong thập niên 1930 ở Bắc Kỳ, Tự Lực văn đoàn nổi tiếng với việc xuất bản tờ báo châm biếm đầu tiên ở Việt Nam, hiện đại hóa văn học Việt Nam và theo đuổi những cải cách mà trong đó bác bỏ sự phù hợp của Khổng giáo.

Họ là những người đi tiên phong trong thế thệ trí thức trẻ của Việt Nam – những người được đào tạo bằng tiếng Pháp và tiếng Việt đương thời và xa lạ với quan điểm của các văn sỹ Khổng giáo đi trước họ.

Bom trong làng báo

Khi dạy môn khoa học ở Trường Thăng Long, ông Nguyễn Tường Tam đã thất bại khi đề nghị chính phủ thực dân cho phép ra mắt một ấn phẩm bằng chữ quốc ngữ mà ông định đặt tên là Tiếng Cười.

Hiệu trưởng Trường Thăng Long, Phạm Hữu Ninh, khi đó đã bắt đầu ra báo Phong Hóa và tờ này đang có nguy cơ đóng cửa sau 13 số.

Nắm cơ hội tới tay, ông Tam đề nghị tiếp quản tờ báo.

Nguyễn Tường Tam lấy bút danh Nhất Linh và trở thành Tổng biên tập báo Bấm Phong Hóa bắt đầu từ số 14, ra ngày 8/9/1932.

Chỉ trong thời gian ngắn, ông đã biến Phong Hóa từ một tờ báo lay lắt thành báo châm biếm đầu tiên ở Việt Nam.

Cùng sát cánh với Nguyễn Tường Tam có Trần Khánh Giư (Khái Hưng), Nguyễn Tường Long (Hoàng Đạo), Nguyễn Tường Vinh (Thạch Lam), Hồ Trọng Hiếu (Tú Mỡ), Nguyễn Thứ Lễ (Thế Lữ), Ngô Xuân Diệu (Xuân Diệu).

Với Nhất Linh và nhóm cộng sự, Phong Hóa rũ bỏ văn phong của những số trước và ngay lập tức xác lập hình dáng, giọng điệu, tư tưởng và nội dung của riêng mình.

Trước hết, Phong Hóa trông khác với những số báo đã ra: kiểu thiết kế mới bao gồm hình tiêu đề, biếm họa, giải đố ô chữ, quảng cáo, minh họa nằm trong bài viết và phông chữ độc đáo.

Thứ hai nữa, tờ báo có văn phong khác lạ. Ngòi bút hài hước và châm biếm của Phong Hóa không tha ai cả.

Phong Hóa chọc quê tất cả mọi người, từ các trí thức đi trước như Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh và Tản Đà tới những nét trong xã hội Việt Nam mà báo thấy là lạc hậu và cổ lỗ.

Độc giả vui mừng với giọng văn mới mẻ và thiết kế hấp dẫn của báo. Chỉ trong vài tháng, số người đọc tăng gấp ba. Một năm sau, lượng lưu hành vượt quá 8.500 một tuần và Phong Hóa trở thành một trong những báo được lưu hành rộng rãi nhất Bắc Kỳ.

Sau sự thành công của Phong Hóa, Tự Lực văn đoàn cho ra mắt một tờ báo mới mang tên Ngày Nay vào tháng Một năm 1935.

Báo này là một trong những diễn đàn sớm nhất của nhiếp ảnh ở Việt Nam nhưng dự án tỏ ra quá tân tiến vào thời điểm đó khi mà in ảnh khá tốn kém.

Ngày Nay đã đóng cửa sau 13 số.

Khi Phong Hóa bị kiểm duyệt và đóng cửa vào năm 1936, Tự Lực văn đoàn vực dậy Ngày Nay và biến báo này thành tổ chức vận động cải cách chính trị và xã hội.

Tờ báo cũng đánh dấu sự thay đổi của nhóm từ chế nhạo xã hội để mong mang lại cải cách sang mạnh mẽ đòi cải cách.

Lý Toét là nhân vật trào lộng của báo Phong Hóa để đả phá hủ tục

Điều quan trọng nhất là Tự Lực văn đoàn dùng các tờ báo của nhóm để thúc đẩy chương trình cải cách toàn diện và động chạm tới nhiều tầng lớp trong xã hội Việt Nam.

Họ nhìn tới các xã hội phương Tây để tìm mô hình và vay mượn một cách có lựa chọn và có chủ định từ văn hóa phương Tây để đưa ra viễn kiến về một xã hội Việt Nam mà một ngày kia sẽ được các nền văn minh hiện đại xem là ngang hàng.

Chương trình cải cách bao gồm nhiều vấn đề trong đó có quan hệ giữa thành thị và nông thôn, nghệ thuật, trang phục quốc gia, chính trị quốc tế và quốc nội, vấn đề liên quan tới phụ nữ, xuất bản, thời trang và kiến trúc.

Chặng đường tìm kiếm

Với tư cách là một trong những thành viên chủ chốt của nhóm sưu tầm, bản thân tôi thu thập các số báo của Tự Lực văn đoàn trong khoảng thời gian từ năm 2005 tới 2007.

Lần đầu tiên tôi biết tới các tác phẩm của nhóm là khi đang theo học cao học tại Khoa Lịch sử, Đại học California ở Berkeley, nơi tôi được sự hướng dẫn của Giáo sư Peter Zinoman.

Tôi không thấy thỏa mãn với các bài viết học thuật về nhóm này của cả các học giả phương Tây và Việt Nam và quyết tâm thu thập tất cả những gì họ viết và đọc cho bằng hết để có kết luận của riêng tôi.

Tôi nhận được học bổng Fulbright-Hays để tiến hành nghiên cứu luận án tiến sỹ và bắt đầu cuộc tìm hiểu.

Tôi tới tám thư viện và kho lưu trữ tại Hoa Kỳ, Pháp và Việt Nam để có một bộ sưu tập tương đối đầy đủ các tờ báo của nhóm. Tôi bỏ ra một năm ở Hà Nội để nghiên cứu bộ sưu tập các báo thời thực dân của Thư viện Quốc gia, ngày nào cũng chụp ảnh các tờ báo đã ố vàng và sờn rách cho tới giờ đóng cửa.

Quá trình nghiên cứu cũng có lúc khiến tôi thất vọng. Qua mạng lưới những người sưu tầm sách báo, tôi được biết một nhà sách ở thành phố Hồ Chí Minh đang bán 200 số báo Phong Hóa và Ngày Nay được bảo quản tốt.

Cơ hội được đọc các số báo bằng bản in thay vì ở dạng phim hay số hóa khiến tôi không cưỡng lại được và ngay lập tức vào thành phố Hồ Chí Minh, đi taxi thẳng từ sân bay tới nhà sách.

Khi tới nơi tôi được biết các số báo đã được bán cho con của Thế Lữ. Tôi không biết rằng tôi vẫn còn duyên với những số báo này.

Vào thời điểm kết thúc tìm kiếm, tôi đã chụp ảnh được hơn 190 số báo Phong Hóa và 224 số báo Ngày Nay.

Tài năng Nhất Linh: Tranh ‘Cảnh chợ Đông Dương’ của ông

Ngoài ra tôi cũng thu thập được 2.500 bài báo về Tự Lực văn đoàn từ 60 ấn phẩm thời thực dân.

Tôi cũng có được rất nhiều sách do nhà xuất bản Đời Nay của nhóm phát hành trong đó có các truyện ngắn và tuyển tập thơ, các ấn bản đầu tiên và tái bản của các tiểu thuyết, truyền đơn và một số lượng lớn loạt truyện cho thiếu nhi mang tên Sách Hồng.

Cơ duyên

Khi đang viết luận án hồi năm 2008, tôi gặp ông Nguyễn Trọng Hiền, con của nhà thiết kế thời trang Nguyễn Cát Tường, người đưa ra hình mẫu chiếc áo dài tân thời. Tôi cho ông xem bài viết chưa công bố về công trình của cha ông và ông cho tôi xem tài liệu từ kho lưu trữ riêng của gia đình.

Và để trả ơn cũng như để đáp lại sự hào hiệp và tình bạn của ông, tôi đã cho ông xem toàn bộ bộ sưu tập Phong Hóa và Ngày Nay của tôi.

Ông Hiền liên hệ với bà Phạm Thảo Nguyên, con dâu của Thế Lữ, người sở hữu những số báo Phong HóaNgày Nay mà tôi đã vào tận thành phố Hồ Chí Minh để tìm mua.

Bộ sưu tập của tôi đã gần trọn vẹn nhưng một số báo bị mất trang hoặc không đọc rõ.

Ông Hiền đã mất công xem từng số một, bổ sung các trang bị mất, sửa những trang không rõ. Bà Thảo giới thiệu rộng rãi bộ sưu tập và liên hệ với các trường đại học và các tổ chức để đưa các số báo lên mạng.

Hiện bộ sưu tập được cung cấp miễn phí tới độc giả tại trang web của Đại học Hoa SenĐại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.

Bộ sưu tập này là kết quả của sự hợp tác giữa người Việt hải ngoại ở Hoa Kỳ và Pháp với các học giả và nhà nghiên cứu Việt Nam và một thế hệ mới các học giả người Mỹ gốc Việt.

Chúng tôi hy vọng bộ sưu tập sẽ khuyến khích các nghiên cứu mới về Tự Lực văn đoàn và đóng góp của họ không những chỉ cho văn hóa và văn học mà còn đặc biệt là trong xã hội và chính trị.

Martina Thucnhi Nguyen sinh trưởng tại Texas, Hoa Kỳ và có thời gian về Việt Nam nghiên cứu. Cô nhận bằng Tiến sỹ Lịch sử từ Đại học California-Berkeley và đang chỉnh sửa luận văn “Nhóm Tự Lực Văn Đoàn: Chủ nghĩa Hiện đại Thực dân ở Việt Nam 1932-1941” để xuất bản.

Bài đăng từ bản tiếng Anh tác giả gửi cho BBC Tiếng Việt.

 

*********

Nguồn:

http://www.hocxa.com/VanHoc/TapChi/TLVD_ToiTimLaiTuLucVanDoan_MartinaNguyen.php




Người Pháp biến Sài Gòn thành “Hòn ngọc Viễn Đông” ra sao?

TTO

Người Pháp sau khi chiếm 6 tỉnh Nam kỳ 1862, đào ngay con kênh rất dài, rất rộng phía bắc Sài Gòn, suýt soát  lũy Bán Bích 1772. Nhưng họ đã bỏ dở con kênh dài nhất nhưng cũng “bí ẩn” nhất Sài Gòn.

Đó là con kinh do người Pháp đào năm 1862 (có tư liệu cho là đào năm 1875) từ dự án “TP Sài Gòn 500 ngàn dân” 1861 của Trung tá công binh Coffyn.

Trên bản đồ hiện nay, con kinh này bắt đầu từ đường Trần Quang Khải (Q.1, TP.HCM) thẳng qua giữa rạch Thị Nghè, cắt ngang đầu rạch Thị Nghè, qua đường Cách Mạng Tháng Tám (Q.3), vòng ra sau lưng sân Phú Thọ (Q.11), đâm xuống và nối với kênh Lò Gốm, chạy sát sau lưng đồn Cây Mai (góc Hồng Bàng – Nguyễn Thị Nhỏ hiện nay).

40.000 dân Sài Gòn và 5 tỉnh Nam kỳ còn lại được huy động đào kinh này, một số lượng người rất lớn so với dân số Nam kỳ lúc đó cho thấy người Pháp đã kỳ vọng ra sao với nó.

 

Xem trọn bài




Tháng 11/1963: Dòng họ Ngô Đình và Kennedy

 

Bùi Văn Phú – DCV

02/11/2017

Ông Diệm bị giết trên xe thiết giáp ngày 2/11/1963

Đúng 54 năm trước, vào ngày 1/11, Tổng thống đầu tiên của nền Cộng hòa Việt Nam là Ngô Đình Diệm đã bị một nhóm tướng lãnh, dưới sự lãnh đạo của Trung tướng Dương Văn Minh, đảo chánh.

 

Sáng ngày hôm sau, ông Diệm và cố vấn Ngô Đình Nhu, cũng là bào đệ, đã bị bắn và đâm chết khi hai ông đang ở trong một xe thiết giáp của quân đội.

Khi đảo chánh thành công, báo chí lúc bấy giờ dưới sự kiểm soát của Hội đồng Quân nhân Cách mạng, đã đưa tin anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm tự tử.

Sự thực là hai ông bị giết sau khi đã đầu hàng và đang được áp tải đưa về Bộ Tổng tham mưu là bản doanh của phe đảo chánh.

Tổng thống John F. Kennedy trước khi bị ám sát chết ở Dallas, Texas ngày 22/11/1963

 

Theo sử gia Richard Reeves viết trong cuốn President Kennedy, xuất bản năm 1993, tân đại sứ Hoa Kỳ là Henry Cabot Lodge biết về âm mưu giết ông Diệm và ông Nhu của phe đảo chánh và phía Mỹ đã chần chừ không muốn cho hai ông đi ra nước ngoài, vì khi được yêu cầu một tướng Mỹ nói phải mất 24 tiếng đồng hồ mới có máy bay, trong khi căn cứ không quân của Hoa Kỳ ở Philippines chỉ cách Sài Gòn chừng 3 giờ bay.

Washington có muốn giết ông Diệm và Nhu hay không và ai đã trực tiếp ra lệnh giết anh em dòng họ Ngô Đình?

 

Đại úy Nguyễn Văn Nhung, cận vệ riêng của Tướng Dương Văn Minh, là kẻ chủ mưu hay chỉ là kẻ thừa hành nhận lệnh từ cấp trên và cấp trên đó là Tướng Mai Hữu Xuân, người được Tướng Minh điều động đi đón hai ông từ nhà thờ Cha Tam, hay Đại úy Nhung trực tiếp nhận lệnh giết từ Tướng Minh?

 

Hai tháng sau khi đảo chánh thành công, Tướng Minh bị Tướng Nguyễn Khánh chỉnh lý, tức là bị đảo chánh, thì Đại úy Nhung cũng chết trong trại nhảy dù Hoàng Hoa Thám là nơi ông đang bị giam và thẩm vấn về vai trò liên quan đến cái chết của ông Diệm và Nhu. Cái chết của Đại úy Nhung nhiều người cho là bị thủ tiêu hơn là tự ý treo cổ tự tử.

Mấy tháng sau khi ông Diệm và Nhu bị giết, một người trong dòng họ Ngô Đình còn ở lại Việt Nam là Ngô Đình Cẩn, từng giữ vai trò cố vấn chỉ đạo miền Trung cho chính phủ Diệm, cũng đã bị hành quyết.

 

Sau khi đảo chính, ông Cẩn vào tòa lãnh sự Mỹ ở Huế để xin tị nạn trước sự căm hận nổi lên của dân chúng.

Ông yêu cầu được đưa ra nước ngoài, nhưng khi được đưa từ Huế vào Sài Gòn ông bị Sứ quán Mỹ giao lại cho phe đảo chánh.

Đầu năm 1964 ông bị đem ra toà và bị án tử hình. Ông bị xử bắn trong nhà giam Chí Hòa ngày 9 tháng 5-1964.

 

Năm 2000, tại một hội nghị về Việt Nam ở Đại học Texas Tech, Lubbock, khi gặp Đại tướng Nguyễn Khánh tôi có hỏi ông về bản án dành cho Ngô Đình Cẩn.

Ông cho biết lúc đó tuy ông là lãnh đạo và muốn giảm án cho ông Cẩn, nhưng quyền ân xá nằm trong tay Tướng Dương Văn Minh, vì ông là quốc trưởng. Tướng Minh đã không ân xá cho ông Cẩn.

 

Về cái chết của anh em ông Diệm, theo cựu Đại tá Dương Hiếu Nghĩa viết trong loạt bài đăng trên báo Người Việt ở Nam California, từ ngày 30/3/1996, thì Đại úy Nhung trực tiếp nhận mật lệnh giết hai ông từ riêng Tướng Dương Văn Minh. Ông Nghĩa lúc đảo chánh là thiếu tá và có đi theo đoàn xe đón anh em ông Diệm, Nhu ở nhà thờ cha Tam.

 

Đầu năm 1996, khi tham dự một hội nghị về chiến tranh Việt Nam, giai đoạn 1954-65, tổ chức tại bảo tàng của Sư đoàn 1 (The Big Red One) ở ngoại ô Chicago, trong bữa ăn sáng đầu tiên, gặp cựu giám đốc CIA William Colby tôi có hỏi ông ai đã ra lệnh giết anh em ông Diệm, ông nói đó là lệnh của Tướng Dương Văn (Big) Minh.

Colby là người ủng hộ ông Diệm trong thời gian ông làm trưởng cơ quan CIA tại Sài Gòn cho đến năm 1962.

 

Trong bài diễn thuyết tại hội nghị, ông Colby nhận định là ông Diệm không phải là người của Mỹ đưa về Việt Nam, mà thực sự là do ý muốn của người Pháp và ông Diệm đã không coi Hoa Kỳ là đồng minh thực sự muốn giúp Nam Việt Nam.

Theo ông Colby, việc không tham gia tổ chức tổng tuyển cử năm 1956 là quyết định của riêng ông Diệm chứ người Mỹ không có ảnh hưởng hay thúc ép gì

Tướng Minh tự quyết định hay nhận lệnh từ phía Mỹ để giết anh em ông Diệm thì đến nay chưa có tài liệu hay bằng chứng xác minh.

 

Các tài liệu đã được công bố cho thấy Tổng thống Kennedy đồng ý với kế hoạch đảo chánh, qua Công điện 243 gửi cho Đại sứ Henry Cabot Lodge ngày 24/8/1963, là quyết định của những nhà ngoại giao Mỹ gồm George Ball, W. Averell Harriman, Roger Hilsman và Michael V. Forrestal, phụ tá của Tổng thống Kennedy với nội dung đồng ý loại bỏ ông Nhu khỏi chính trường và nếu ông Diệm ngoan cố thì Hoa Kỳ cũng không thể bảo đảm an toàn cho bản thân ông.

Liên quan đến cuộc đảo chánh, từ nhiều thập niên qua đã có bằng chứng là Lucien Conein, nhân viên CIA làm con thoi giữa phe đảo chánh và Đại sứ Lodge, đã đưa cho các tướng đảo chánh nhiều triệu tiền Việt sau khi đảo chánh thành công.

 

Tổng thống Diệm có người anh là Giám mục Ngô Đình Thục, có em dâu là bà Ngô Đình Nhu. Nếu họ đã không rời Việt Nam trước đảo chánh, chắc cũng không thoát khỏi cái chết, vì chỉ trong vòng vài tháng ba người anh em dòng họ Ngô Đình đã bị giết chết.

Tại Hoa Kỳ, sau khi Tổng thống Kennedy bị ám sát năm 1963, đến năm 1968 thì người em là Thượng Nghị sĩ Robert Kennedy cũng bị ám sát chết khi đang vận động tranh cử tổng thống ở Los Angeles, California.

 

Cái chết của Tổng thống Kennedy đến nay vẫn còn nhiều bí ẩn. Nhiều giả thuyết đã được đưa ra, từ âm mưu của Cuba, của Liên Xô, của các nhóm mafia, của tình báo CIA hay của giới lãnh đạo quân sự Mỹ muốn leo thang chiến tranh tại Việt Nam nên đã giết Kennedy.

Lee Harvey Osward, tay súng bắn chết Tổng thống Kennedy, đã hành động đơn phương hay có bàn tay nào đứng sau? Tại sao Jack Ruby, chủ một hộp đêm lại giết Osward ngay tại sở cảnh sát, trước ống kính truyền hình?

 

Tuần qua, nhiều hồ sơ liên quan đến cái chết của John F. Kennedy đã được giải mật, tuy nhiên cũng không có thêm bằng chứng mới để xác minh rõ hơn nguyên do đưa đến vụ ám sát.

Cho đến nay vẫn còn nhiều câu hỏi về việc ai đã thực sự ra lệnh giết Tổng thống Diệm, cũng như vẫn còn nhiều bí ẩn đằng sau vụ ám sát Tổng thống John F. Kennedy ở Dallas trưa ngày 22/11/1963, chỉ 3 tuần sau khi ông Diệm bị giết.

 

Cách đây hơn một thập niên, trong một dịp thăm Bảo tàng Tổng thống Lyndon B. Johnson ở Austin, Texas tôi thấy có một tấm hình rất lớn với ông Diệm và ông Nhu nằm chết trong vũng máu trên sàn xe thiết giáp và cạnh đó có hình Tổng thống Diệm tiếp Phó Tổng thống Johnson trong một lần ông đến thăm Sài Gòn.

 

Theo các tài liệu mới được giải mật, với cái chết của John F. Kennedy chỉ ba tuần sau khi Ngô Đình Diệm bị giết, Tổng thống Lyndon B. Johnson, người kế vị lãnh đạo Hoa Kỳ, coi đó là quả báo.

Có tin vào quả báo hay không thì những cái chết của anh em dòng họ Ngô Đình và dòng họ Kennedy đã đẩy Hoa Kỳ và Việt Nam vào một nghiệp chướng của lịch sử.

 

© 2017 Buivanphu




Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm

Thụy Khuê

Nhân Văn Giai Phẩm là phong trào đòi hỏi tự do dân chủ của văn nghệ sĩ và trí thức miền Bắc, có tầm vóc lớn lao, khởi xướng đầu năm 1955 và bị chính thức dập tắt vào tháng 6 năm 1958.

Từ 1959 cho đến nay, hai nguồn tư liệu tương đối đầy đủ về phong trào Nhân Văn Giai Phẩm (NVGP) vẫn chỉ là: Cuốn Trăm hoa đua nở trên đất Bắc(THĐNTĐB) của Hoàng Văn Chí, do Mặt Trận Tự Do Văn Hoá, in ở Sài Gòn năm 1959 và cuốn Bọn Nhân Văn Giai Phẩm trước toà án dư luận (BNVGPTTADL) của Nxb Sự Thật, in ở Hà Nội, cùng năm 1959.

 

Từ thập niên 90 trở đi, ở ngoài nước, có thêm một số tư liệu mới, rải rác dưới dạng tự thuật, bút ký… của những nhà văn đã tham gia phong trào Nhân Văn Giai Phẩm như Phùng Quán, Phùng Cung, Hữu Loan, Hoàng Cầm… và hồi ký Trần Dần (Văn Nghệ, Californie, 2001). Những tư liệu này góp phần làm sáng tỏ thêm về Nhân Văn Giai Phẩm, giúp các nhà nghiên cứu sau này có thể xây dựng lại bối cảnh toàn diện của phong trào tranh đấu cho tự do sáng tác độc đáo trong lịch sử văn học Việt Nam thế kỷ XX.

 

Ngày 13/4/1999, trong dịp nhà thơ Lê Đạt sang Pháp lần thứ nhì, chúng tôi đã đề nghị ghi âm ông, mong ông soi rõ những chỗ chưa được các tài liệu trước nói đến, hoặc nói sai. Buổi nói chuyện -được thu thanh với chủ đích giữ lại làm tài liệu văn học sử- vừa mang tính cách cá nhân, vừa có tính cách hệ thống về phong trào Nhân Văn Giai Phẩm. Chúng tôi đã đồng ý với nhà thơ là sẽ chỉ công bố tài liệu sau khi ông qua đời, bởi lúc đó ông cho biết, ông không có ý định viết hồi ký.

 

Đầu năm 2004, nhân dịp kỷ niệm 50 năm trận Điện Biên Phủ 1954-2004, chúng tôi dự định làm một chương trình đặc biệt kỷ niệm 50 năm phong trào Nhân Văn Giai Phẩm (nếu coi 1954 như thời điểm manh nha sự gặp gỡ giữa các văn nghệ sĩ chủ trương phong trào), vì vậy đã cố gắng liên lạc với nhà thơ Lê Đạt qua điện thoại viễn liên Paris-Hà Nội, nhưng không thể thực hiện một cuộc phỏng vấn mới, bởi chỉ qua vài lời đối thoại là đường dây bị nhiễu ngay. Sau nhiều tháng phân vân, cuối cùng, với sự đồng ý của nhà thơ Lê Đạt, chúng tôi quyết định phát thanh trên RFI, toàn bộ buổi nói chuyện thu thanh ngày 13/4/1999 tại Paris, do đó mà tập tài liệu văn học sử này đến với người nghe và người đọc sớm hơn dự tính.

 

Đây là lần đầu tiên, một tư liệu trực tiếp qua lời thuật của một thành viên cột trụ trong Nhân Văn Giai Phẩm được công bố. Bên cạnh nhân chứng của Lê Đạt, còn có nhân chứng của hai nhân vật chủ chốt khác trong phong trào, đó là buổi phỏng vấn ngắn nhà chính trị và văn hoá Nguyễn Hữu Đang, ghi âm qua điện thoại viễn liên Paris-Hà Nội tháng 8/1995, nhân dịp chúng tôi hỏi ông về việc ông tổ chức ngày lễ Độc Lập 2/9/1945. Đây là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng có thể ghi âm được ông Nguyễn Hữu Đang. Tất cả những cố gắng về sau đều vô hiệu: bởi chỉ nói vài câu là đường dây điện thoại bị nhiễu ngay. Những buổi nói chuyện với nhà thơ Hoàng Cầm được ghi âm tản mạn trong khoảng thời gian từ 1995 đến 2000, và truyền thanh trên RFI, trong những dịp khác nhau. Các bạn sẽ lưu ý thấy sự trả lời của Nguyễn Hữu Đang, Hoàng Cầm qua điện thoại viễn liên Paris-Hà Nội, không đạt mức độ tự do triệt để như trường hợp trò truyện trực tiếp với Lê Đạt ở Paris. Nhưng tựu trung cả ba chứng nhân cùng đồng quy ở điểm nói thẳng, nói thật cho nên có những câu hỏi cùng đặt ra cho Hoàng Cầm và Lê Đạt ở những thời điểm và hoàn cảnh khác nhau nhưng những câu trả lời gần như tương tự. Phần phát biểu của nhà thơ Lê Đạt, cho đến nay, là chứng từ quan trọng và đầy đủ nhất về lịch sử Nhân Văn Giai Phẩm.

 

*  *  *

Hoàng Văn Chí, tức Mạc Định, soạn giả Trăm hoa đua nở trên đất Bắc (Mặt Trận Tự Do Văn Hoá xuất bản tại Sài Gòn) cho biết: “Ở Hà Nội ra đi đầu năm 1955, tôi đã hẹn với các bạn ở lại là hễ có dịp sẽ nói lên tiếng nói của họ”, “Tôi làm việc một mình”, “Tôi liên lạc được với một ủy viên trong Ủy ban kiểm soát đình chiến. Họ đi Hà Nội như đi chợ. Mỗi tuần họ cắp về Sài Gòn cho tôi tất cả báo chí xuất bản ở Hà Nội”, ” Tôi làm việc trong hai năm 56-58″. “Bộ Thông tin và nói chung, chính quyền Sài Gòn không hề giúp. Lý Trung Dung đến chào Bộ Thông tin, yêu cầu mua cho một số, nhưng chẳng mua một cuốn nào”. “Mặt Trận Bảo Vệ Tự Do Văn Hoá ở Việt Nam là một chi nhánh của một tổ chức quốc tế, tên là Congress for Cultural Freedom, trụ sở trung ương ở 104 boulevard Haussmann, Paris. Bác sĩ Lý Trung Dung làm chủ tịch. Tội nghiệp, chỉ vì làm chủ tịch Mặt Trận Bảo Vệ Tự Do Văn Hoá mà phải đi cải tạo đến nay (1986) chưa được thả”. “Trước khi đưa in, Lý Trung Dung nghe nói có người gần ông Diệm ngờ rằng tôi soạn cuốn Trăm hoa đua nở là có ý xúi dục trí thức miền Nam bắt chước trí thức miền Bắc nổi lên chống lại chế độ. Vì vậy nên Lý Trung Dung bàn với tôi nên để bút hiệu Mạc Định là soạn giả. Chỉ ký tên Hoàng Văn Chí vào bài Tựa” (Phỏng vấn cụ Hoàng Văn Chí, Từ Nguyên thực hiện, bán nguyệt san Tự Do số 50, ngày 16/11/1986, phát hành tại Bỉ).

 

Hoàng Văn Chí đã nói rõ lý do và điều kiện ra đời của tập THĐNTĐB. Nhưng tại sao Hoàng Văn Chí lại đặc biệt lưu ý đến phong trào Nhân Văn Giai Phẩm? Ai là những người “ở lại” mà Hoàng Văn Chí đã hứa sẽ nói lên tiếng nói của họ? Nếu tìm sâu hơn về liên hệ gia đình giữa Hoàng Văn Chí và Phan Khôi, có thể chúng ta thấy câu trả lời: Sở Cuồng Lê Dư có ba người con gái -và vì bà Lê Dư là em ruột Phan Khôi– cho nên ba cô này là cháu ruột Phan Khôi. Cô đầu gả cho Vũ Ngọc Phan, cô thứ nhì lấy Hoàng Văn Chí và cô út là vợ Tướng Nguyễn Sơn. Riêng nữ sĩ Hằng Phương, vợ nhà phê bình Vũ Ngọc Phan, đã viết bài đả kích thậm tệ Nhân Văn Giai Phẩm. Và rất có thể, người em ruột Hằng Phương, tức bà Hoàng Văn Chí, là một trong những động cơ thúc đẩy Hoàng Văn Chí thu thập tài liệu và viết về Nhân Văn Giai Phẩm.

 

Tác phẩm của Hoàng văn Chí, cho đến nay vẫn là tác phẩm hoàn chỉnh nhất về phong trào. Phần lớn những tác nhân chính đều có mặt, với một tiểu sử khá chính xác và những bài viết tiêu biểu của họ trong thời kỳ Nhân Văn Giai Phẩm. Nhược điểm duy nhất: vì không phải là người trong cuộc, và ông đã rời miền Bắc từ đầu năm 1955, khi phong trào mới manh nha, cho nên có những điểm sai mà ngày nay qua chứng nhân của những người trong cuộc, chúng ta có thể đính chính lại được.

 

Tập tài liệu tựa đề Bọn Nhân Văn Giai Phẩm trước toà án dư luận do Nxb Sự Thật (nay là Nxb Chính Trị Quốc Gia), in tháng 6, năm 1959, tại Hà Nội, là cuốn sách tập hợp những bài viết hoặc diễn văn tố cáo, lên án, buộc tội Nhân Văn Giai Phẩm. Cuốn sách có một chương nhỏ, in lại “những lời thú tội” của các thành viên Nhân Văn Giai Phẩm, còn toàn thể dành cho phía công tố “phát hiện tội”, với những lời lẽ vô cùng khiếm nhã, khó thể mường tượng được, từ miệng, hoặc từ ngòi bút của giới được gọi là “trí thức văn nghệ sĩ” đối với các đồng nghiệp và bạn hữu của mình đã tham gia Nhân Văn Giai Phẩm. Nó ghi lại một thời kỳ mà nhân cách con người đã đạt tới đáy sâu của sự tha hoá.

 

Tập tư liệu dày 370 trang này còn hữu ích về mặt lịch sử và văn học sử, nó mở ra nhiều khía cạnh của vấn đề NVGP: về tầm vóc của phong trào, về không khí đàn áp thời đó, về mức độ khốc liệt của lớp đấu tranh Thái Hà mà sau này, nhà thơ Lê Đạt sẽ mô tả một cách tường tận.

 

Những bài luận tội có tính cách hạ nhục NVGP của 83 văn nghệ sĩ, và các đoàn thể, báo chí, nhân dân cũng như các vị trong ban chấp hành trung ương Đảng, với những tên tuổi như: Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Phạm Huy Thông, Trần Hữu Tước, Đặng Thai Mai, Nguyễn Huy Tưởng, Hồng Cương, Nguyễn Văn Bổng, Hoài Thanh, Hoàng Trung Thông, Hồ Đắc Di, Vũ Đức Phúc, Quang Đạm, Bàng Sĩ Nguyên, Ngụy Như Kontum, Hằng Phương, Lương Xuân Nhị v.v… phản ảnh rất rõ nhân cách của người tố. Ví dụ cách viết của Nguyễn Huy Tưởng, Đặng Thai Mai, không giống cách viết của Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Phạm Huy Thông… Cho nên, có thể nói, chính với những “văn bản tố”, các tác giả đã để lại nhân cách trí thức của mình trong ký ức dân tộc. Sau cùng nhờ cách sắp xếp thứ tự “những tên đầu sỏ” trong cuốn sách mà chúng ta biết được thứ tự “tội” nặng, “tội” nhẹ, cùng hoạt động của mỗi người.

*  *  *

Hành trình Nhân Văn Giai Phẩm

Với những tư liệu và nhân chứng hiện hành, ngày nay chúng ta có thể tóm tắt lịch trình hoạt động của phong trào NVGP như sau:

Tháng 3/1955, trong quân đội, nổi lên một phong trào tranh đấu do Trần Dần, Tử Phác chủ trương (với sự cộng tác của Lê Đạt, Hoàng Cầm và các văn nghệ sĩ khác…): Một mặt, lên tiếng phê bình tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu. Một mặt, đưa ra đề nghị cải cách chính sách văn nghệ trong quân đội, chủ yếu đòi trả quyền lãnh đạo văn nghệ về tay văn nghệ sĩ.

 

Tố Hữu viết:

“Cuộc tấn công vào chế độ ta và Đảng ta đã bắt đầu trên mặt trận văn nghệ từ đầu năm 1955, ngay khi hoà bình vừa lập lại.

Trong khi bọn gián điệp còn giấu mặt chờ đợi thời cơ, và bọn tờ-rốt-kít Trương Tửu, Trần Đức Thảo tích cực chuẩn bị lực lượng ở trường Đại học, thì bọn Nguyễn Hữu Đang, Lê Đạt, hai tên phản Đảng ẩn nấp trong báo Văn Nghệ của Hội Văn Nghệ cùng bọn Trần Dần, Tử Phác cũng là những tên phản Đảng trong phòng Văn nghệ quân đội, đã kết thành một bè phái chống Đảng trong Văn nghệ.

Như lời thú nhận của Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, cuộc phê bình tập thơ Việt Bắc là do cái bè phái ấy sắp đặt, để đánh vào sự lãnh đạo và đường lối văn nghệ của Đảng, đường lối phục vụ chính trị cách mạng, phục vụ công nông binh, và để đề xướng cái “điệu tâm hồn” ruỗng nát của chủ nghĩa cá nhân tư sản, mở cửa cho lối sống tự do sa đọa.

 

Đương nhiên cái “điệu tâm hồn” ấy của Lê Đạt xướng lên không thể nào hoà được với cái điệu lớn của cách mạng, và cũng rất tự nhiên nó chỉ hoà được với “tiếng sáo tiền kiếp” lóc gân của tên mật thám Trần Duy.

Cũng lúc ấy, bọn Trần Dần , Tử Phác -những đứa con hư hỏng của Hà nội cũ- nay lại trở về với “cảnh cũ người xưa” bỗng cảm thấy đời sống trong quân đội “nghẹt thở”, chỉ vì thiếu cái tự do trở lại đời sống trụy lạc cũ. Đối với chúng, đời sống trong quân đội cách mạng chỉ còn là “những sợi dây xích trói buộc phải phá mà ra”. Được tiêm thêm ít nhiều chất phản động của Hồ Phong, Trần Dần gióng lên “tiếng trống tương lai” chửi cán bộ chính trị là “người bệnh”, “người ròi”, “người ụ”. Cùng Tử Phác, khiêu khích những anh em khác, hắn tổ chức một cuộc đấu tranh “buộc lãnh đạo thực hiện mọi yêu cầu” của họ.

 

Họ đòi thực hiện những gì? “Trả quyền lãnh đạo văn nghệ về tay văn nghệ sĩ. Thủ tiêu chế độ chính trị viên trong các đoàn văn công quân đội. Thủ tiêu mọi chế độ quân sự hiện hành trong văn nghệ quân đội. Thành lập trong quân đội một chi Hội văn nghệ trực thuộc Hội văn nghệ, không qua Cục Tuyên Huấn và Tổng Cục Chính Trị”. Tóm lại là thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng và kỷ luật của quân đội đối với họ” (Tố Hữu, Nhìn lại 3 năm phá hoại của nhóm “Nhân Văn-Giai Phẩm”, BNVGPTTADL, trang 22-24). Vì vụ việc này, Trần Dần bị giam trong trại từ 13/6 đến 14/9 để kiểm thảo. Trong thời gian bị giam, Trần Dần viết trường ca Nhất định thắng mà Hoàng Cầm và Lê Đạt đều có bản thảo.

 

Cùng thời điểm đó, báo Nói Thật của Hoàng Công Khanh trích đăng bài Sự chia tay giữa văn nghệ và chính trị của Lỗ Tấn.

 

Nhưng phải đến tháng 2 năm 1956, phong trào mới chính thức công khai, với sự xuất hiện của Giai phẩm mùa xuân, do Hoàng Cầm và Lê Đạt chủ trương, đăng các tác phẩm của Trần Dần, Văn Cao, Sĩ Ngọc, Tử Phác, Phùng Quán, Nguyễn Sáng, Tô Vũ… Giai phẩm mùa xuân, ngoài bài Nhất định thắng của Trần Dần xem như cái sườn chính, còn có bài thơ Ông bình vôi của Lê Đạt, và Cái chổi quét rác rưởi của Phùng Quán. Lúc đó, Trần Dần và Tử Phác, đang tham gia cải cách ruộng đất tại Yên Viên, Bắc Ninh, và theo Hoàng Cầm thì Trần Dần không hề biết việc đăng bài thơ Nhất định thắng. Bài thơ của Trần Dần đã gây tai họa cho nhà thơ và tờ giai phẩm. Báo vừa phát hành, Lê Đạt bị gọi ngay lên Tuyên huấn để kiểm thảo. Giai phẩm mùa xuân bị tịch thu. Trần Dần và Tử Phác bị bắt. Trần Dần cứa cổ tự vận nhưng không chết[1].

 

Hồng Cương viết: “Nhân cơ hội đó, tất cả các lực lượng đối lập với chủ nghĩa xã hội đều ngóc đầu dậy chống lại sự lãnh đạo của Đảng và chính phủ. Bọn phản động trong Công Giáo hành động phá rối trật tự ở Nghệ An, Nam Định v.v…” (sđd, trang 17).

 

Tuy vậy, nhà cầm quyền miền Bắc vẫn chưa có thái độ dứt khoát với những người làm Giai phẩm mùa xuân.

Ngày 26/5/1956, Mao Trạch Đông phát động phong trào “Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng“. Ngày 28/6/1956, Ba Lan nổi dậy. Theo chính sách của Tàu, Đảng Lao động (tiền thân của đảng Cộng sản) cũng nới rộng chính sách văn hóa chính trị: Tháng 8/1956, Hội Văn Nghệ đứng ra tổ chức lớp 18 ngày, học tập dân chủ trong văn nghệ, học tập chống tệ sùng bái cá nhân (Staline) của Liên Xô. Trong lớp học này, sự phê phán chính sách văn nghệ của nhà nước khá mạnh mẽ, đặc biệt Nguyễn Hữu Đang đứng ra đọc bài tham luận “nảy lửa” chỉ trích đường lối văn nghệ của Đảng.

 

Ngày 29/8/1956, Giai Phẩm Mùa Thu (tập I) ra đời, có bài Phê bình lãnh đạo văn nghệ của Phan Khôi, bài Bệnh sùng bái cá nhân trong lãnh đạo văn nghệ của Trương Tửu…

Ngày 15/9/1956, bán nguyệt san Nhân Văn số 1, do Hoàng Cầm, Lê Đạt, Nguyễn Hữu Đang, Trần Duy, chủ trương, với Phan Khôi chủ nhiệm và Trần Duy thư ký toà soạn, ra đời với những bài chủ chốt: Con người Trần Dần của Hoàng Cầm, bài thơ Nhân câu chuyện mấy người tự tử của Lê Đạt, và bức tranh Nguyễn Sáng vẽ Trần Dần với vết sẹo trên cổ…

30/9/1956 Nhân Văn số 2.

8/10/1956 tái bản Giai Phẩm Mùa Xuân.

15/10/1956 Nhân Văn số 3, đăng bài Nỗ lực phát triển dân chủ của Trần Đức Thảo…

 

Cuối tháng 10/1956, Giai phẩm mùa thu (tập II) ra đời, có những bài Những người khổng lồ của Trần Duy, Chống tham ô lãng phí của Phùng Quán, Cũng những thằng nịnh hót của Hữu Loan…

Đồng thời ở đại học, các giáo sư Trương Tửu, Trần Đức Thảo… huy động sinh viên cho ra tờ Đất Mới số 1, với Phùng Quán, Bùi Quang Đoài… Đất Mới ra được một số thì bị đình bản.

 

Hồng Cương viết: “Sự chống đối của chúng không còn tính chất văn nghệ nữa mà đã trở thành một cuộc chống đối vế chính trị công khai. Nhóm Giai Phẩm chống Đảng về văn nghệ đã biến thành nhóm phá hoại chính trị trắng trợn “Nhân Văn-Giai Phẩm”. (…) Từ Nhân Văn số 4 trở đi (…) thì chúng đã chuyển hẳn sang chống đối về chính trị, kích động quần chúng biểu tình chống lại Đảng và chính phủ ta nhân lúc Quốc Hội ta đang họp.” (sđd, trang 18-19).

 

05/11/1956 Nhân Văn số 4, đăng bài Thành thật đấu tranh cho tự do dân chủ của Trần Duy, Con ngựa già của chúa Trịnh của Phùng Cung…

10/11/1956 Hungary nổi dậy.

20/11/1956 Nhân Văn số 5, đăng bài Bài học về Ba-lan và Hun-ga-ri của Lê Đạt, ký tên Người Quan Sát, bên cạnh bài xã luận Hiến pháp Việt nam 1946 và Hiến pháp Trung hoa của Nguyễn Hữu Đang. Thi sĩ máy của Như Mai…

Tháng 11/1956 Giai phẩm mùa thu tập III đăng các bài Văn nghệ và chính trị của Trương Tửu, Muốn phát triển học thuật của Đào Duy Anh…

Tháng 12/1956 Giai phẩm mùa đông, đăng bài Nội dung xã hội và hình thức tự docủa Trần Đức Thảo; đăng tiếp Văn nghệ và chính trị của Trương Tửu…

09/12/1956, Hồ Chí Minh ký sắc lệnh bãi bỏ quyền tự do báo chí.

15/12/1956, Lệnh đóng cửa Nhân Văn, số 6 đang in, bị chận lại.

Từ 20 đến 28/2/1957, Đại hội văn nghệ lần thứ hai họp tại Hà Nội với gần 500 đại biểu, Trường Chinh kêu gọi đấu tranh “đập nát” phong trào NVGP.

 

Tuy vậy, Đảng Lao Động vẫn giữ thái độ tương đối hòa hoãn với văn nghệ sĩ, bởi vì bên Trung quốc vẫn còn đang tiếp tục phong trào “Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng”, cho nên đến đầu tháng 4/1957 Hội Nhà Văn chính thức được thành lập (trước đây là Hội Văn Nghệ), Tô Hoài làm Tổng thư ký, kiêm giám đốc nhà xuất bản Hội Nhà Văn và một số thành viên cũ của Nhân Văn như Hoàng Cầm, Hoàng Tích Linh vẫn được bầu vào ban chấp hành. Ngày 10/5/1957, hội cho ra tuần báo Văn, với Nguyễn Công Hoan (chủ bút), Nguyễn Tuân (phó chủ bút), Nguyên Hồng (tổng thư ký). Ban đầu báo Văn cũng đi theo đường lối chính thống. Nhưng khi trên báo Học Tập (của đảng) Thế Toàn lên tiếng chê báo Văn “nghèo nàn”, “xa rời thực tế cách mạng”, Nguyên Hồng trả lời trên báo Văn số 15 (16/8/1957), phê bình Thế Toàn là “quan liêu”, “trịch thượng”, Văn dần dần thay đổi thái độ, chẳng bao lâu một số cây bút cũ trong NVGP lại thấy xuất hiện trên báo Văn. Văn số 21(27/9/1957) đăng bài thơ Lời mẹ dặn của Phùng Quán, số 24(18/10/57), đăng kịch thơ Tiếng hát của Hoàng Cầm, số 28 (15/11/1957), đăng bài Hãy đi mãi của Trần Dần. Số 30 (29/11/1957) in hý hoạ của Trần Duy chế giễu chế độ văn nghệ của Đảng.

 

Cuối năm 1957, Mao Trạch Đông hạ lệnh đánh phái hữu. Theo Hoàng Cầm: Huy Cận và một người nữa được cử đi học tập ở Trung Quốc trở về: Đảng liền thay đổi đường lối, chủ trương đàn áp mạnh hơn. Tờ Văn ngừng ở số 36(10/1/1958), có đăng bài Ông Năm Chuột của Phan Khôi.

 

Để “trừ khử nọc độc Nhân Văn”, Đảng tổ chức hai lớp học tập đấu tranh chống “bọn NVGP” ở Thái Hà Ấp, mà tài liệu chính thức gọi là hai cuộc “hội nghị”:

“Đầu năm 1958, có hai cuộc hội nghị của anh chị em công tác văn nghệ, nghiên cứu nghị quyết của Bộ Chính Trị Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam, kết hợp với hai bản Tuyên Ngôn và Tuyên Bố của hội nghị các Đảng Cộng Sản và các Đảng Công Nhân họp ở Mạc Tư Khoa cuối năm 1957. Hội nghị đầu, tháng 2 năm 1958, gồm 172 người dự. Hội nghị sau, tháng 3 năm 1958, gồm 304 người dự.

Qua hai cuộc hội nghị ấy, tất cả những “nhân vật” bỉ ổi đã được phát hiện (…) Cái ổ chuột “Nhân Văn- Giai Phẩm” bị vạch trần trước ánh sáng của dư luận.

 

Qua sự phát hiện của hai cuộc hội nghị nói trên, chúng ta được biết nhóm phá hoại “Nhân Văn Giai Phẩm” bao gồm những tên đầu sỏ, những “cây bút” đã viết “hoặc nhiều hoặc ít” cho “Nhân Văn Giai Phẩm” như:

Thụy An, Nguyễn Hữu Đang, Trần Thiếu Bảo, Trương Tửu, Trần Đức Thảo, Phan Khôi, Trần Duy, Trần Dần, Lê Đạt, Tử Phác, Đặng Đình Hưng, Hoàng Cầm, Sĩ Ngọc, Chu Ngọc, Văn Cao, Nguyễn Văn Tý, Phùng Quán, Hoàng Tích Linh, Trần Công, Trần Thịnh, Phan Vũ, Hoàng Huê, Huy Phương, Vĩnh Mai, Như Mai tức Châm Văn Biếm, Hữu Thung, Nguyễn Khắc Dực, Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Yến, Thanh Bình, Yến Lan, Nguyễn Thành Long, Trần Lê Văn, Lê Đại Thanh v.v…

 

Nhưng đó không phải là tất cả (còn những tên chưa ra mặt). Và cũng không phải tất cả những “cây bút” trên đây đều có những hành động phá hoại giống nhau, hoặc phá hoại với những mức độ giống nhau. Có bọn đầu sỏ, có bọn phụ hoạ…” (sđd, trang 309-310).

Những tên tuổi trên đây có lẽ đã không xếp đặt một cách tình cờ mà theo một trật tự “tội” nặng, nhẹ, đã được thẩm định từ trước.

Theo Lê Đạt, thực chất hội nghị đầu là dành cho 172 đảng viên, đi để học tập cách “phát hiện” và tố giác, để chuẩn bị cho hội nghị sau (gồm 304 người, cả đảng viên lẫn quần chúng và những người ngoài đảng tham gia NVGP), dốc toàn lực đấu tranh chống NVGP.

 

“Trận chiến đấu chống bọn phá hoại NVGP” đã kết thúc bằng hội nghị của ban chấp hành hội Liên Hiệp Văn Học Nghệ Thuật Việt Nam, họp lần thứ ba tại Hà Nội ngày 4/6/1958 với bài báo cáo tổng kết của Tố Hữu, và Nghị quyết của của ban chấp hành hội Liên Hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam lên án “bọn” NVGP. Ngày 5/6/1958, tại Hà Nội, hơn 800 văn nghệ sĩ thảo bàn nghị quyết gọi là “Nghị quyết của 800 văn nghệ sĩ” phụ hoạ với nghị quyết của Hội Liên Hiệp. Sau đó trong tuần lễ từ 21/6 đến 3/7/1958, các ban chấp hành Hội Nhạc Sĩ, Hội Mỹ Thuật, Hội Nhà Văn, lần lượt thi hành các biện pháp kỷ luật đối với các thành viên của Hội đã tham gia NVGP:

Hội Nhà Văn khai trừ Hoàng Cầm, Hoàng Tích Linh ra khỏi ban chấp hành.

Hội Mỹ Thuật, cảnh cáo Sĩ Ngọc, “chấp nhận cho Sĩ Ngọc và Nguyễn Sáng rút khỏi ban chấp hành”.

Hội Nhạc Sĩ “chấp nhận cho Văn Cao, Nguyễn Văn Tý rút khỏi ban chấp hành”.

 

Cả ba hội quyết định:

– Khai trừ Phan Khôi, Trương Tửu, Thụy An ra khỏi Hội Nhà Văn, Trần Duy ra khỏi Hội Mỹ Thuật.

– Khai trừ trong thời hạn một năm Hoàng Cầm và Phùng Quán ra khỏi hội nhà văn. Khai trừ ba năm Trần Dần, Lê Đạt ra khỏi Hội Nhà văn, ba năm Tử Phác và Đặng Đình Hưng ra khỏi Hội Nhạc sĩ. Và cảnh cáo một số hội viên khác đã tích cực hoạt động trong nhóm NVGP.

 

Đó mới chỉ là biện pháp kỷ luật của các hội văn nghệ đối với các thành viên của hội. Ngoài ra, người ta cũng chỉ biết sơ lược một số dữ kiện khác, như Thụy An, Nguyễn Hữu Đang, Trần Duy, Phùng Cung (bị bắt tháng 5/61)… bị kết án từ 12 đến 15 năm tù. Các giáo sư đại học như Trương Tửu, Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, Đào Duy Anh… bị cách chức và bị quản thúc. Còn những biện pháp trừng phạt đối với toàn bộ văn nghệ sĩ, trí thức, sinh viên và quần chúng đã ít nhiều tham gia, đã đọc, đã mua báo, hoặc đã ủng hộ phong trào NVGP, thì hiện nay chưa có một ước lượng nào gần với sự thật.

 

Mục đích hoạt động của phong trào

Theo lời buộc tội của Tố Hữu, công tác được “phân phối” như sau:

– Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm hoạt động ở Hội Nhà Văn.

– Trần Duy, Sĩ Ngọc, Nguyễn Sáng ở Hội Mỹ Thuật.

– Chu Ngọc, Hoàng Tích Linh ở Hội Nghệ Sĩ Sân Khấu

– Tử Phác, Văn Cao, Nguyễn Văn Tý, Đặng Đình Hưng ở hội Âm Nhạc.

Tố Hữu cho rằng: Phan Khôi, Trương Tửu, Trần Đức Thảo, là những “nhà tư tưởng của phong trào”. Thụy An, Nguyễn Hữu Đang liên lạc, huy động và khuyến khích anh em. Trần Thiếu Bảo (chủ nhà in Minh Đức) in các Giai phẩm, giúp đỡ tiền bạc và phương tiện để phát hành báo Nhân Văn. Nhà in Minh Đức còn là trụ sở của các cuộc họp báo Nhân Văn và Đất Mới.

 

Theo lời buộc tội của Nguyễn Đình Thi, thì chủ trương của NVGP dựa trên 6 điểm:

  1. Cho chủ nghĩa Cộng Sản là không nhân văn, là chà đạp con người. Coi những người cộng sản là chà đạp con người. Coi những người cộng sản là những người khổng lồ không tim (Trần Duy). Văn học xã hội chủ nghĩa là công thức, giả tạo, đẻ ra những thi sĩ máy (Như Mai). Đòi quyền tự do cá nhân, tự do sống đời sống tình cảm riêng tư cuả mỗi con người: “Đem bục công an máy móc đặt giữa tim người. Bắt tình cảm ngược xuôi theo luật đi đường nhà nước” (Lê Đạt).

 

  1. Phản đối chuyên chính, đòi dân chủ, tự do trên mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá. Đả kích mậu dịch, quản lý hộ khẩu, các bộ máy nhà nước. Đòi tự do đối lập.

 

  1. Chống sùng bái cá nhân. Cho sự lãnh đạo của Đảng là Đảng trị, là độc đoán, mâu thuẫn với quyền lợi căn bản của con người. Bài Ông bình vôi của Lê Đạt có những câu:

“Những kiếp người sống lâu trăm tuổi

Y như một cái bình vôi

Càng sống càng tồi

Càng sống càng bé lại.”

 

  1. Đề cao chủ nghĩa quốc gia, tư sản, đả kích Liên xô, cho sự giáo dục con người ở Liên xô là rập khuôn, văn học nghệ thuật Liên xô là công thức.

 

  1. Chống chính sách cải cách ruộng đất.

(Xin mở ngoặc: Ngày 30/10/1956, trước Mặt Trận Tổ Quốc Hà Nội, luật sư Nguyễn Mạnh Tường đọc bài diễn văn quan trọng tựa đề “Qua những sai lầm trong cải cách ruộng đất, xây dựng quan điểm lãnh đạo”, nội dung phân tích những sai lầm của chế độ, đi từ sai lầm cải cách ruộng đất ở thôn quê, sang sai lầm trong chế độ mậu dịch ở thị thành, đến chính sách kinh tế mang tính cách bóc lột. Ông truy nguyên nguồn gốc những sai lầm và trình bày những nguyên tắc mới để sửa sang lại guồng máy luật pháp, chính trị, văn học, kinh tế).

  1. Về văn nghệ, chủ trương phát triển “Trăm hoa đua nở trăm nhà đua tiếng”. Chối bỏ sự lãnh đạo của Đảng, nêu cao khẩu hiệu “Trả lại văn nghệ cho văn nghệ sĩ”.

 

(6 điểm kê khai theo bài tố cáo của Nguyễn Đình Thi, sđd, trang 114).

Những nguy cơ xụp đổ chế độ cũng được bàn đến, Hồng Cương viết:

 

“Hạ được tập thơ Việt Bắc và hạ được Tố Hữu xuống là hạ được cả giá trị văn nghệ kháng chiến xuống và hạ được sự lãnh đạo văn nghệ của Đảng và Chính phủ xuống. (…) Chúng vu khống chế độ ta là cộng sản thời trung cổ (communisme du moyen âge), là cộng sản phong kiến (communisme féodal), chế độ ta là cộng sản suy đồi (dégénérescence du communisme), chúng xuyên tạc và nguyền rủa chỉnh huấn của ta là đồi trụy tinh thần (avilissement de l’esprit), là nô dịch hoá tư tưởng (esclavage de la pensée). Chúng chế giễu chính sách đãi ngộ của ta là “bổng lộc” vua ban, huân chương của ta là “mề đay” của đế quốc. Không khác gì Phan Khôi đã ví chế độ ta với một triều đại phong kiến nào đó.” (Hồng Cương, sđd, trang 128, 129).

 

Chính Hữu trong bài tố cáo Lê Đạt, nói đến cái họa Nhân Văn số 5: “… Lê Đạt đã viết “Bài học về Ba-lan và Hung-ga -ri” trong Nhân Văn số 5, ký tên “Người quan sát” đăng ngay bên cạnh bài xã luận kích động quần chúng của Nguyễn Hữu Đang “Hiến Pháp Việt Nam 1946 và Hiến pháp Trung Hoa”, trong đó có những đoạn nói đến quyền công dân được tổ chức biểu tình tuần hành thị uy. Bài của Lê Đạt đưa ra những nhận định nguy hiểm cho tình hình nước ta lúc đó: “… Nhưng tốc độ và mức độ sửa chữa không kịp với đòi hỏi của tình thế và yêu cầu của quần chúng nên càng thúc đẩy sự công phẫn và phong trào đấu tranh tự phát của quần chúng…” Hai bài báo đó là những lời kêu gọi làm loạn. Đạt và nhóm Nhân Văn đã hỗn xược buộc Đảng và chính quyền ta phải chọn lấy một trong hai con đường: hoặc “lập tức” mở rộng tự do dân chủ, để cho chúng và bọn thù địch khác phá hoại, và cải thiện “ngay” sinh hoạt cho nhân dân, nếu không quần chúng sẽ biểu tình.” (Chính Hữu, sđd, trang 130, 131).

*  *  *

Những người xây dựng nên phong trào

Nhiều người đã khuất, thế hệ trẻ ngày nay ít ai biết rõ về con người, về những hoạt động của họ. Những nhà văn mà Hoàng Văn Chí ghi lại tiểu sử và tác phẩm trong cuốn THĐNTĐB, được nhiều người biết đến hơn. Qua những bài buộc tội trong tập tài liệu BNVGPTTADL, chúng ta cũng có thể biết thêm được về tư tưởng và hành động của mỗi cá nhân và “tội trạng” nặng nhẹ của mỗi người.

Thụy An là người phụ nữ duy nhất -ở trong hay ở ngoài phong trào- bị kết án là “gián điệp”. Bà là một trường hợp đặc biệt, theo Lê Đạt và Nguyễn Hữu Đang, bà không ở trong NVGP, vậy mà tên bà được nêu lên hàng đầu trong “hàng ngũ phản động” với nhãn hiệu “Con phù thuỷ xảo quyệt” và những lời lẽ độc địa nhất dành cho bà: “Như vắt ngửi thấy máu, Thụy An như rắn bò tới các câu lạc bộ Hội Nhà văn phun nọc độc mạt sát chế độ ta bần cùng hoá nhân dân” (Bàng Sĩ Nguyên, sđd, trang 120).

Vụ án Thụy An có phải là một vụ án chính trị? Hay là một sự quy kết oan uổng? Lê Đạt sẽ soi tỏ một số nghi vấn chung quanh sự kiện này.

 

Trước hết Thụy An là ai? Thụy An hay Thụy An Hoàng Dân tên thật là Lưu Thị Yến. Cho đến nay chúng ta chỉ biết sơ về bà qua những gì Vũ Ngọc Phan đề cập đến trong Nhà văn hiện đại : Là một nhà thơ, nhưng bà là người đi tiên phong trong địa hạt tiểu thuyết với cuốn Một linh hồn (1943). Nhà phê bình họ Vũ nhận định: “Một linh hồn cũng đáng kể là cuốn tiểu thuyết xuất sắc nhất của phụ nữ Việt Nam từ trước đến nay, tác giả đã giàu tưởng tượng, truyện lại xây dựng một cách vững vàng, chắc chắn”. Bà đã từng làm chủ nhiệm những tờ Đàn Bà Mới (Sài Gòn), Phụ Nữ Tân Văn (Sài Gòn), và Đàn Bà (Hà Nội). Là phóng viên chiến tranh, bà đã tham dự nhiều cuộc nhảy dù ra mặt trận để cung cấp tài liệu cho báo chí. Bà đã từng giữ chức giám đốc Việt Tấn Xã.

 

Mới đây chúng tôi liên lạc với nhà văn kiêm nhà báo Bùi Thụy Băng, con trai thứ nhì của Thụy An, hiện làm chủ nhiệm kiêm chủ bút nguyệt san Atlanta Việt báo, ông vừa hoàn tất tập tài liệu “Thụy An, 1945, 1954, 1975”. Tập tài liệu đồ sộ này sẽ được đăng dần trên Atlanta Việt báo và trên mạng Intrenet. Qua Bùi Thụy Băng, chúng tôi được biết thêm những chi tiết sau đây: Lưu Thị Yến sinh năm 1916 tại Hà Nội, là con ông bà Lưu Tiến Ích và Phùng Thị Tôn, quê gốc làng Hoà Xá, quận Vân Đình, tỉnh Hà Đông. Thủa nhỏ học trường Hàng Cót, Hà Nội. Năm 1929, 13 tuổi, Yến đã được đăng thơ trên tờ Nam Phong. 16 tuổi được giải thưởng văn chương của Triều đình Huế. Vào khoảng 1930-32, cô Yến được cha mẹ cho học tư thêm với một ông thầy người Quảng Bình. (Trong điện thư ngày 15/9/2004, ông Bùi Thụy Băng cho biết: “Người thày giáo đề cập ở đây là Tướng Võ nguyên Giáp. Năm 1930, ông ngoại của tôi đã mướn người thầy giáo sử địa Võ Nguyên Giáp về nhà kèm má tôi học. Năm 1933, má tôi theo thầy vô Nam – có thể để đi sang Trung hoa. Nhưng má tôi lại gặp ba tôi ở Sài Gòn và hai người lấy nhau”). Và trong bài tiểu sử Thụy An, Bùi Thụy Băng viết:

 

“Ông thầy giáo trẻ ấy đã bị trò Yến cùng các bạn trêu chọc là “Anh đồ Nghệ”. Hơn thế, Yến còn làm thơ nhạo báng dí dỏm:

…Khéo ghét anh đồ xứ Nghệ

Hơn mình mấy tí tuổi đầu (trích “Sao lại mùa thu ” của Thụy An) (…)

Hơn thế nữa, chính người thầy giáo trẻ ấy lại là một chiến sĩ hoạt động trong bóng tối. Chúng ta hãy lắng nghe lời thơ giới thiệu của Thụy An về người anh hùng đó:

 

… Hung hãn vọng vào tiếng bể

Hờn căm rít ngọn gió Lào

Anh mang trùng dương giận dữ

Anh mang hoang dại khô khan.

và như:

Mắt anh hừng trí bốn phương

Tay run nắm hồn dân tộc

Tóc xòa vương hận núi sông

Môi bậm tay tai nghe rên xiết

Áo cơm dọa dưới cùm gông!…

Thật sự, Thụy An đã hấp thụ tư tưởng cách mạng qua Thầy đồ Nghệ

… Rồi anh bắt đầu dẫn dắt

Dạy em khui lửa bất bình

Oán hận réo sôi lòng đất

Công lý tù đầy uất uất

Miếng cơm nghẹn họng nhân sinh… (Sao lại mùa thu)”.

(Trích tiểu sử Thụy An, do Thụy Băng viết).

 

Người chồng của Thụy An là giáo sư Bùi Nhung, em ruột ông Bùi Kỷ và bà Trần Trọng Kim. Bùi Nhung có bút hiệu là Băng Dương. Thụy An sinh được 6 người con: An Dương (1934), Thụy Băng (1937), Thư Linh (38), Dương Chi (39), Ngọc Trinh (43) và Châu Công (45). Ông Bùi Nhung hai lần làm giám đốc đài phát thanh Hà Nội từ 48-49, và 51-52; rồi giám đốc đài phát thanh Hải Phòng năm 1954. Thụy An – Băng Dương sống ly thân từ 1949, nhưng không ly dị vì cả hai đều theo đạo công giáo. Người ta cũng nói đến quan hệ giữa bà và ông Đỗ Đình Đạo, một nhân vật quan trọng của Việt Nam Quốc Dân Đảng cùng cái chết có nhiều nghi vấn của ông Đỗ Đình Đạo.

 

Trong thời kỳ NVGP, Phan Khôi nhận Thụy An là con nuôi. Theo cả hai bên nhân chứng, buộc tội cũng như bênh vực, thì bà thường xuyên ra vào các hội văn nghệ, bà đã có ảnh hưởng không nhỏ đối với một số văn nghệ sĩ tham gia NVGP. Bà liên lạc, nâng đỡ tinh thần, tích cực giúp đỡ anh em Nhân Văn, đặc biệt gia đình Lê Đạt. Theo Lê Đạt và Nguyễn Hữu Đang thì Thụy An không viết gì cho báo Nhân Văn. Nhưng có thể Thụy An viết cho báo khác, vì Vũ Đức Phúc trong bài tố cáo, có nói đến “những nhân vật như một anh nghiện hút, ăn cắp (trong “Ông Năm Chuột” của Phan Khôi), một con đĩ, một tên ăn cướp (trong “Bích-xu-ra” của Thụy An), một tên việt gian cao cấp, một tên sĩ quan trong quân đội địch trung thành với đế quốc (trong “Trường hợp tòng quân của thiếu uý Lâm” cũng của Thụy An), lại trở thành những người đáng thương, đáng yêu, những người yêu nước đáng học tập” (BNVGPTTADL, trang 118).

 

Trả lời câu hỏi: Thụy An bị bắt ở đâu? Bùi Thụy Băng, trong cuộc nói chuyện điện thoại với chúng tôi, ngày 16/12/2004, cho biết: “Tôi nghe nói bà cụ tôi bị bắt ở Hoà Xá. Nhưng theo lời ông cụ tôi thì bị bắt ở Phủ Lý. Tại sao lại như vậy? Bởi vì khi thấy lâm nguy, biết mình bị theo dõi, Thụy An thường di chuyển giữa Hà Nam-Phủ Lý (quê chồng) và Hoà Xá-Vân Đình (quê mình) để trốn tránh”.

 

Thụy An bị giam tại Hoả Lò Hà Nội từ tháng 3/1957 đến đầu năm 1960, bà bị đưa ra tòa, rồi sau đó bị  chuyển đi trại giam khác. Vào Hoả Lò chưa được 3 tháng bà đã tự chọc mù một mắt. Con người đã viết những câu thơ “Tay run nắm hồn dân tộc, tóc xòa vương hận núi sông” lại một lần nữa ký tên dưới hành động của mình: lần này dưới những chữ đòi tự do, dân chủ cho dân tộc vừa lấy lại được quyền tự chủ.

 

Việc bà chọc mắt, được nhiều người thân xác nhận, trong đó có Lê Đạt. Bùi Thụy Băng cho biết: “Trong số những bài viết về bà cụ tôi, có bài của Trần Minh, tựa đề “Nhân văn giai phẩm, một tư trào, một tội ác” đăng trong Giai phẩm (Việt Báo) xuân Tân Tỵ 2001, là chính xác nhất. Với những chi tiết mà chính tôi trước đây cũng không biết: Vào Hoả Lò chưa được 3 tháng thì bà cụ tôi chọc mắt. Lý do là bởi phải ra toà án nhân dân, đứng trước lá cờ đỏ sao vàng, người ta bắt bà cụ tôi phải cúi xuống, nhưng bà cụ không cúi. Vào nhà giam, không có bút viết, thì bà cụ tôi lấy cái đinh guốc, viết lên tường lời phản kháng chọc mù mắt để không phải nhìn thấy chế độ này nữa. Sau này có một người cũng bị giam tại căn phòng đó, đọc được và ghi lại, một vài nhà văn có chép lại câu này trên sách báo”.

 

Ngày 21/1/1960 bà bị đưa ra toà cùng với Nguyễn Hữu Đang và bị kết án 15 năm tù. Tháng 10/1974 Thụy An được thả theo  diện “Đại xá chính trị phạm trong hiệp định Paris”, cùng diện với Nguyễn Hữu Đang. Được trả về quản thúc ở nguyên quán làng Hoà Xá, trên xe tù bước xuống, Thụy An bị ném đá. Năm 1976, nhờ em trai, là Lưu Duy Trác xin cho vào Nam đoàn tụ với gia đình, bà được vào sống với mẹ tại Gia Định.

 

Về biệt hiệu Thụy An Hoàng Dân, Bùi Thụy Băng giải thích: Phan Khôi và Thụy An là hai người bạn vong niên từ lâu, Thụy An kém Phan Khôi khoảng gần 30 tuổi. Biệt hiệu Chương Dân của Phan Khôi và Hoàng Dân của Thụy An, là cùng để tưởng niệm đến một người anh hùng, có tên là Chương Hoàng Dân hay Hoàng Chương Dân.

 

Trong “sổ đoạn trường”, Nguyễn Hữu Đang, đứng thứ nhì sau Thụy An. Ông sinh ở Thái Bình, sớm tham gia các phong trào ái quốc. Trước 1942, ông hoạt động trong phong trào Truyền Bá Quốc Ngữ. Năm 1942, khi ảnh hưởng Việt Minh lên cao, ông tham gia Văn Hóa Cứu Quốc. Từ 1954, Nguyễn Hữu Đang liên lạc mật thiết với Trần Thiếu Bảo (sau này là chủ Nxb Minh Đức). Trong thời kỳ toàn quốc kháng chiến, ông đứng ra tổ chức Thanh Niên Xung Phong và sau đó làm Thanh tra Bình dân học vụ. Năm 1947, Nguyễn Hữu Đang chính thức vào Đảng. Nhưng vài năm sau, ông bắt đầu chán nản, tự ý bỏ cơ quan. Năm 1951, ông ly khai Đảng, và từ đó, khi ở Cầu Bố, khi ở Hậu Hiền, ông lên tiếng đả kích đảng, chống đối cách mạng. Vai trò của Nguyễn Hữu Đang trong tờ Nhân Văn sẽ được xác nhận rõ ràng qua lời tường thuật của Lê Đạt. Theo lời buộc tội của Mạnh Phú Tư thì “Nguyễn Hữu Đang là linh hồn của tờ Nhân Văn, Đang tìm kiếm, kiếm giấy, thu xếp việc ấn loát và viết bài, nhưng lại ký tên người khác, che lấp những nguồn tài chính, những người cung cấp phương tiện bằng hình thức nêu danh những người góp tiền in báo có một nhân lên gấp mười”. (Mạnh Phú Tư, sđd, trang 50). Lê Đạt sẽ trở lại những thông tin này, với cái nhìn của người trong cuộc. Trong bản tự kiểm thảo, Trần Dần cũng đã xác định: “Nếu không có Đang, không ai có thể tập hợp anh em được. Sẽ không có tham luận với những đề nghị: gặp Trung ương, ra báo… mà cũng sẽ không có tờ Nhân Văn”.

 

Theo Lê Đạt, Nguyễn Hữu Đang bị bắt trong lúc đang xẩy ra lớp đấu tranh Thái Hà, trên đường tìm cách vào Nam.

Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt, ba nhà thơ cùng nhạc sĩ Tử Phác, là những người dấy lên phong trào. Tuy vậy Hoàng Cầm dường như vẫn được nhà cầm quyền xử nương nhẹ hơn; vì Hoàng Cầm nổi tiếng từ trước kháng chiến? vì Hoàng cầm là tác giả những bài thơ hào hùng trong kháng chiến? hay vì Hoàng Cầm có thái độ cam chịu hơn? Do đó Trần Dần, Lê Đạt trở thành hai khuôn mặt nhà thơ “phản động nhất nước”.

 

Hoàng Cầm sinh năm 1921 tại làng Lạc Thổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Hải Dương. Trước kháng chiến ông đã nổi tiếng với ba vở kịch thơ Viễn khách, Kiều LoanLên đường. Trong kháng chiến, thơ Hoàng Cầm càng nổi bật với các bài Đêm liên hoan, Tâm sự đêm giao thừa, và trường ca Bên kia sông Đuống. Thời kỳ NVGP, Hoàng Cầm là người đầu tiên xin ra khỏi quân đội, cùng với Lê Đạt xây dựng nên các tờ Giai Phẩm và Nhân Văn. Hoàng Cầm giữ vai trò liên lạc và cổ động các văn nghệ sĩ, thúc giục Văn Cao làm thơ cho Giai Phẩm, ông đem bài thơ Nhất định thắng của Trần Dần ra in v.v… Những sáng tác của ông trong thời kỳ này không nhiều, được ghi lại có bài thơ “Em bé lên 6 tuổi” viết về hoàn cảnh đau thương của một em bé con địa chủ, bố bị đấu tố, mẹ bỏ đi Nam:

“Chị Đội bỗng lùi lại

nhìn đứa bé mồ côi,

cố tìm vết thù địch,

chỉ thấy một con người”.

 

Và vở kịch thơ Tiếng hát, mượn hình ảnh tiếng hát để nói về nghệ thuật và tự do, để xác định “không thể cưỡng bức được nghệ thuật”. Bài viết có tính cách tiêu biểu của Hoàng Cầm trong giai đoạn này là bài Con người Trần Dần, in trong Nhân Văn số 1, biện hộ cho Trần Dần. Nhưng tác phẩm chủ yếu của ông là Về Kinh Bắc, viết sau Nhân Văn, trong thời gian 57-58, phản ảnh ý chí quật cường của nhà thơ trước cơn bão tố dập vùi.

 

Trần Dần là một trường hợp đặc biệt bất phục tòng và đã chịu sự trù dập nặng nề. Hăng say tham gia kháng chiến, thời kỳ Điện Biên Phủ, ông viết Người người lớp lớp. Yêu người con gái ở phố Sinh Từ, gia đình đã di cư vào Nam, bất chấp sự ngăn cấm của đảng, Trần Dần vẫn kết hôn với người yêu. Những câu thơ “Tôi bước đi không thấy phố, không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa, trên màu cờ đỏ” đã trở thành biểu tượng của một thời.

 

Bị bắt. Cứa cổ. Trần Dần biểu dương bi kịch NVGP. Mấy tháng sau, Đảng phát động “Trăm hoa đua nở”: trên Giai phẩm mùa thu tập I, Phan Khôi viết bài Phê bình lãnh đạo Văn nghệ, bênh vực Trần Dần, và bài Ông bình vôi bênh vực Lê Đạt. Trên Nhân Văn số 1, Hoàng Cầm viết bài Con người Trần Dần, và Nguyễn Sáng vẽ chân dung Trần Dần với vết sẹo trên cổ. Đảng phải xét lại trường hợp Trần Dần: Trần Dần được thả và ngày 2/10/56 Hội Văn Nghệ phải viết bài tự kiểm thảo đăng trên các báo. Đến cuối năm 1957, báo Văn in bài Hãy đi mãi của Trần Dần, tính cách tranh đấu vẫn còn quyết liệt:

“Tôi có thể mặc thây ngàn tiếng chửi tục tằn

Trừ tiếng chửi sống không sáng tạo”.

 

Trong bài tự kiểm thảo, Trần Dần viết: “Những sáng tác của tôi đều là cái loại đả kích vào các chính sách của Đảng cả. Nếu đọc cả một đống như thế, người ta sẽ cảm thấy sự lãnh đạo của Đảng là một sự ngột ngạt không thể nào sống nổi”. “Người sáng tác phải có quyền và có gan như người viết sử thời xưa, vua chém đi 6 người, đến người thứ 7 vẫn chép sử đúng như sự thật, vua đành chịu vậy”, (trích Những lời “thú tội” của Trần Dần, sđd, trang 312).

 

Lê Đạt là người duy nhất, từ trong nội bộ của đảng đứng lên đòi hỏi tự do dân chủ. Là một cán bộ hoạt động ở ngành Tuyên huấn, Lê Đạt được xếp vào loại “đầu sỏ”, “nguy hiểm” như Nguyễn Hữu Đang.

 

Theo lời tố của Xuân Diệu: “Đã rõ rệt như ban ngày, tập Giai phẩm mùa xuân 1956 phất lá cờ đầu tiên chống Đảng, chống chế độ, và Lê Đạt là nhà lý luận trong đó. Lê Đạt mở đầu Giai phẩm với cái tuyên ngôn: “Trích thơ gửi người yêu” (…) và bài thơ tuyên ngôn thứ hai “Mới” đăng trong Giai phẩm (…) Lê Đạt đưa ra cái tà thuyết rạch đôi các sự vật làm hai: hễ cái gì mới là cách mạng, hễ cái gì cũ là đeo kính vào viện hàn lâm, là mệt mỏi, lối mòn, vết già nua, lề đường han rỉ..(…) Lê Đạt là một người chủ chốt của báo Nhân Văn, tham mưu cho cả tờ báo, tự tay sửa chữa nhiều bài đả kích chế độ ta rất cay độc (…) Đứng lên lập nhóm Giai phẩm mùa xuân. Cùng với Nguyễn Hữu Đang làm bộ óc của báo Nhân Văn, đứng làm “nhà lý luận” của bọn chống Chế độ (…) Sau khi báo Nhân Văn bị cấm, Lê Đạt liên lạc cấu kết với Thụy An, Lê Đạt đóng vai trò quan trọng trong việc lũng đoạn Hội Nhà Văn, Lê Đạt tích cực dùng ngòi bút viết lối văn hai mặt; Lê Đạt luôn luôn giữ một cương vị đứng chủ trường phái; mãi đến trong lớp học văn nghệ lần thứ hai (tháng 3 và 4/1958) vẫn còn tìm cách quay quắt. Cho nên, xét Lê Đạt, ta phải nhìn thấy cho hết, rằng Lê Đạt chống đối ta, phá hoại ta từ trong bản chất giai cấp thù địch” (trích bài Những biến hoá của chủ nghĩa cá nhân trong thơ Lê Đạt, trong tập Dao có mài mới sắc của Xuân Diệu, 1963, các trang 86, 87, 89 và 95).

 

Chính Lê Đạt cũng xác nhận vai trò của mình trong bài tự kiểm thảo: “Tôi tham gia Nhân Văn với ý thức là người lãnh đạo lý luận của tờ báo vì tôi cho tôi vững vàng hơn Nguyễn Hữu Đang. Ban biên tập lúc đó gồm có 4 người: Nguyễn Hữu Đang, Trần Duy, Hoàng Cầm và tôi. Để tấn công quan điểm vô sản chuyên chính của Đảng, tôi vận động Thanh Châu viết bài Mậu Dịch, tôi góp ý, vẽ tranh một người đẽo chân cho vừa giày mậu dịch. (…) Nhân Văn bị đóng cửa nhưng tư tưởng Nhân Văn, tư tưởng chống đối vẫn chưa hết. Sau một thời gian các báo ngớt đánh, tình hình trở lại bình thường, chúng tôi lại vẫn gặp nhau đả kích Đảng, cho là độc đoán”. (trích Những lời “tự thú” của Lê Đạt, sđd, trang 318, 319).

 

Thơ Lê Đạt trong thời kỳ NVGP, có những câu đã in sâu vào ký ức dân tộc:

Đem bục công an đặt giữa trái tim người

Bắt tình cảm ngược xuôi theo luật đi đường nhà nước

Có những lời lẽ tiên tri:

Lịch sử muôn đời duyệt lại

Không ai lừa được cuộc đời

 

Trần Thiếu Bảo, chủ trương Nxb Minh Đức, trách nhiệm ấn loát và phát hành những tờ Nhân Văn, Giai Phẩm, Đất Mới, quê quán ở Thái Bình. Ông mở hiệu sách Minh Đức (sau trở thành nhà xuất bản) ở Thái Bình, đến 1954, rời về phố Phan Bội Châu, Hà Nội. Trần Thiếu Bảo không theo cách mạng ngay từ đầu và có tiếng là Mạnh Thường Quân đối với văn nghệ sĩ. Cùng với Nguyễn Hữu Đang, Trương Tửu, tổ chức lễ kỷ niệm Vũ Trọng Phụng (thời ấy, Vũ Trọng Phụng còn bị liệt vào thành phần phản động). Theo lời buộc tội, Nxb Minh Đức đã “lợi dụng chuyện khai thác vốn cổ” để tái bản những sách “có hại” của Tự Lực Văn Đoàn như Tiêu sơn tráng sĩ v.v… Nxb Minh Đức cũng là trụ sở các cuộc họp báo Nhân Văn.

 

Trương Tửu-Nguyễn Bách Khoa, là nhà phê bình, nhà văn, giáo sư đại học và lý thuyết gia. Ông bước vào làng văn với loạt bài phê bình những tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn trên báo Loa, Hà Nội, năm 1935. Là nhà phê bình đầu tiên sử dụng phương pháp phê bình Mác xít một cách có hệ thống và có tính sáng tạo, đặc biệt trong những tác phẩm như: Nguyễn Du và truyện Kiều (Hàn Thuyên, 1942), Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ (Hàn Thuyên 1944), Kinh thi Việt Nam, (Hàn Thuyên 1950)… Ông còn là tác giả những tập tiểu thuyết tranh đấu và xã hội. Khi Mặt trận Dân Chủ của Việt Minh bắt đầu hoạt động, Trương Tửu viết bài đả kích Mặt Trận Dân Chủ trên các báo Quốc Gia và Thời Thế. Trương Tửu tuyên bố: “Văn nghệ không làm chính trị để giữ sự độc lập của trí thức”. Cùng với Nguyễn Đức Quỳnh, ông thành lập nhóm Hàn Thuyên theo khuynh hướng Cộng Sản Đệ Tứ, in sách của Lương Đức Thiệp, Thái Văn Tam, Nguyễn Tế Mỹ, Nguyễn Hải Âu, Hồ Hữu Tường và Nguyễn Bách Khoa (tức Trương Tửu). Năm 1945 , Hồ Hữu Tường ra Bắc gặp Trương Tửu, thành lập Ủy Ban Văn Hoá Bắc Bộ. Ngày 10/9/1945, Trương Tửu cho xuất bản cuốn Tương lai văn nghệ Việt Nam, trong đó ông đã nhắc đến “cái hôm nay đen tối và chật hẹp”, và mượn lời André Gide, khuyên các văn nghệ sĩ, hãy “reo rắc vào tâm trí mọi người chất men bất phục tòng và phản kháng”. Tuy vậy khi toàn quốc kháng chiến, ông cũng theo cách mạng trong 9 năm. Sau 54, ông dạy học.

 

Trong thời kỳ NVGP, Trương Tửu viết hai bài quan trọng “Bệnh sùng bái cá nhân trong giới lãnh đạo văn nghệ” và bài “Văn nghệ và chính trị“. Hoài Thanh tố cáo: “Trong ba tập Giai phẩm liên tiếp nó đả kích thậm tệ vào toàn bộ cán bộ Đảng phụ trách công tác văn nghệ, phủ nhận tính chất mác xít, tính chất vô sản của Đảng. Vẫn một lối huênh hoang và bịp bợm cũ, nó làm như chỉ có nó mới là triệt để cách mạng. Một mặt nó bóp méo, bịa đặt sự việc để vu khống… Một mặt khác nó xuyên tạc lời nói của các lãnh tụ. Nó trích dẫn lời Mác đả kích chính quyền phản động cũ để gián tiếp đả kích chính quyền ta”. (Hoài Thanh, Thực chất của tư tưởng Trương Tửu, BNVGPTTADL, trang 66).

 

Nguyễn Vĩnh tố cáo: “Trong bài “Bệnh sùng bái cá nhân trong giời lãnh đạo văn nghệ” (Giai phẩm mùa thu, tập I), Trương Tửu giả vờ công nhận “Đảng lãnh đạo văn nghệ là một tất yếu lịch sử” để rồi đòi trả lại “quyền điều khiển chuyên môn cho những người chuyên môn”. Trong bài “Văn nghệ và chính trị “, Trương Tửu tiến lên một bước, xuyên tạc bài “Tổ chức Đảng và văn học có đảng tính” của Lê nin (…) Làm như vậy, Trương Tửu có thâm ý tách rời văn nghệ ra khỏi chính trị, xúi dục văn nghệ sĩ thoát ly đường lối văn nghệ của Đảng, thoát ly sự lãnh đạo của Đảng” (Nguyễn Vĩnh, sđd, trang 115, 116).

 

Bàng Sĩ Nguyên phát hiện: “Tửu đã nói gì khi giảng dạy? Tửu đã vu khống Đảng là hiện tượng tha hoá. Trường đại học có Đảng trị. Có Đảng cụ thể và Đảng trừu tượng, cụ thể bao giờ cũng có sai lầm, vậy mỗi giai đoạn cần có một Đảng mới”. (…) Con người mới là con người ở nông thôn chống thu mua, ở thành thị chống mậu dịch, trí thức chống chính sách báo chí. Tửu gây ý thức thoát ly sự lãnh đạo của Đảng. Cụ thể là tấn công vào cán bộ lãnh đạo của Đảng trong đại học. Tửu đề cao quá đáng Vũ Trọng Phụng (…) để nói rằng “không có Đảng lãnh đạo nhà văn vẫn viết được những tác phẩm có giá trị và văn nghệ sĩ còn sáng suốt hơn Đảng, cố vấn cho Đảng, phát hiện vấn đề cho Đảng biết.” (Bàng Sĩ Nguyên, sđd, trang 119-120).

 

Trần Đức Thảo, triết gia, giáo sư đại học. Đỗ vào trường Normale Supérieure rue d’Ulm ở Pháp năm 1936, thủ khoa ban văn chương. Đậu thạc sĩ (agrégé) triết học. Thời kỳ ở Pháp, ông cộng tác với J.P. Sartre, tham gia nhóm Les Temps Modernes. Sau này ông kiện Sartre về một cuốn sách viết chung mà Sartre không muốn xuất bản. Những năm 44-45, ông hoạt động cho Hội Việt kiều. Phạm Huy Thông, giáo sư thạc sĩ, bạn học cùng thời với Trần Đức Thảo ở Pháp, được cử viết bài đánh Trần Đức Thảo. Phạm Huy Thông cho biết: Khi phái đoàn Việt Minh Đồng Chí Hội sang Pháp năm 1946, Trần Đức Thảo đả kích phái đoàn, cho chính sách ngoại giao của Việt Minh là đầu hàng và phản bội, và đảng Cộng Sản Pháp có đầu óc đế quốc thực dân. Trần Đức Thảo chống lại hiệp định sơ bộ 6/3/1946. Năm 1949, tại Đại Hội Hoà Bình Thế Giới ở Paris, Trần Đức Thảo lên tiếng cảnh cáo đại biểu Liên Xô và đại biểu Pháp là phản bội các dân tộc thuộc địa.

 

Phạm Huy Thông viết: “Ngay từ năm 1945, Thảo công kích những người đem tư tưởng Mác xít truyền bá cho kiều bào, công nhân, cho rằng công nhân không có văn hoá, không tiếp thu được, hay tiếp thu “máy móc” thì “nguy hiểm” (!). Còn đối với đảng Cộng Sản Pháp, thì Thảo có một lập luận phản động rằng: đảng Pháp, tuy có uy tín đấy, nhưng trình độ lý luận Mác xít khó lòng cao, vì hầu hết những cương vị cao trong đảng đều do công nhân nắm (!)” (Phạm Huy Thông, sđd, trang 69). Năm 1951, Trần Đức Thảo trở về nước, làm giáo sư đại học. Năm 1956, ông tham gia phong trào NVGP. Phạm Huy Thông viết về người bạn cũ của mình: “Thật ra “thành tích” học thuật cũng như “thành tích” chính trị của Thảo ở Pháp trước đây, nhìn lại toàn là những “thành tích” bất hảo (…). Trong thư gửi hội nghị học tập của trường đại học, Hoàng Cầm có viết: “Tôi nhớ rất rõ: trước Nhân Văn số 4, trong một buổi họp ở nhà Trần Duy, 55 đường Trần Quốc Toản, lần đầu tiên Trần Đức Thảo đến họp. Vấn đề hôm ấy do Trần Duy nêu ra là: Ta nên chuẩn bị cái hướng số 4 như thế nào? Một số như Trần Dần và tôi phát biểu là: “Thêm một bài về tự do dân chủ thôi!” Trần Đức Thảo nói: “Tôi thấy cần phải bớt vấn đề văn nghệ đi, nếu cần thì rút bớt cả sáng tác, để bàn nhiều về chính trị, vì tình hình trong nước và thế giới có nhiều tài liệu khác nữa”.

 

Ta thấy đường lối chính trị của nhóm Nhân Văn là do Trần Đức Thảo trực tiếp và chủ yếu vạch ra. (Về vai trò của Trần Đức Thảo trong tờ Nhân Văn, Lê Đạt sẽ xác định lại.)

 

Mượn cớ “phát huy tự do dân chủ” Thảo đã bày vẽ cho chân tay của mình trong sinh viên đả kích sự lãnh đạo của Đảng ở nhà trường (…), giáo sư Nguyễn Lân, phụ trách môn giáo dục học, trường đại học sư phạm đã phát biểu: “Tôi còn rùng mình khi nghĩ đến hoạt động của bọn Trần Đức Thảo. Nếu bọn chúng thực hiện được ý muốn thì không những giáo sư đảng viên, mà đầu của những người lương thiện trung thành với chế độ như tôi cũng đều treo lên ngọn cây.” (Phạm Huy Thông, sđd, trang 74 và 134).

 

Sau khi Nhân Văn bị cấm, Trần Đức Thảo vẫn tiếp tục hoạt động, che chở và giúp đỡ các sinh viên. Ông mở diễn đàn tự do ở đại học để truyền bá tinh thần tự do dân chủ. Hai bài viết quan trọng của ông trong thời kỳ NVGP là bài Nội dung xã hội và hình thức tự do đăng trong Giai phẩm mùa đông tập I, lên án những sai lầm trong cải cách ruộng đất và bài Nỗ lực phát triển tự do dân chủ đăng trên Nhân Văn số 3, tháng 10/1956, được coi như bản đề cương tranh đấu cho tự do dân chủ của nhóm NVGP.

 

Trần Đức Thảo viết:

 

“Cái tự do mà họ tức là những người lao động trí thức và chân tay muốn phát triển là tự do của toàn dân phê bình lãnh đạo. Cái tự do đó là quyền của người công dân đã được hoàn toàn công nhận và bảo đảm trong chế độ ta. Tự do không phải là cái gì có thể ban ơn. Người trí thức hoạt động văn hóa cần tự do như khí trời để thở, có tự do thì mới đẩy mạnh được sáng tác văn nghệ, nghiên cứu khoa học, cải tiến kỹ thuật. Phát triển tự do là nhu cầu thiết thân, đồng thời là nhiệm vụ số một của người trí thức cũng như của toàn dân. Hình thức tự do là tự do cá nhân, cá nhân phục tòng tập thể nhưng tập thể cũng phải có cá nhân xây dựng. Xét đến tình hình thế giới mới đây, lý tưởng tự do cá nhân lại là lý tưởng của những ngày tiến tới, lý tưởng của chủ nghĩa Cộng Sản bây giờ, đã bắt đầu trở thành một thực tế lịch sử ở Liên Xô”, ký tên Trần Đức Thảo.

 

Học giả Đào Duy Anh đóng góp tiếng nói của mình trong Giai phẩm mùa thu tập III, với bài Muốn phát triển học thuật, nội dung phân tích những sai lầm trong nguyên tắc dùng chính trị để lãnh đạo học thuật. Ông viết: “Sự xâm phạm của những cán bộ chính trị vào địa hạt chuyên môn, cố nhiên là rất trở ngại cho công tác chuyên môn, nhất là công tác nghiên cứu khoa học. Cái điều kiện không thể thiếu được để cho học thuật phát triển là tự do tư tưởng, tự do thảo luận. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh hai hình thức hạn chế tự do tư tưởng tác hại nặng nhất đối với học thuật là bệnh giáo điều và biến chứng của nó là bệnh sùng bái cá nhân. Ở nước ta thì các bệnh giáo điều và sùng bái cá nhân lại còn trầm trọng hơn khiến người ta, vô luận bàn về vấn đề gì, cũng đều phải bắt đầu dẫn những đề án của Marx, Engel và Lénine, hoặc những ý kiến của Staline hay các lãnh tụ khác. Bệnh giáo điều và bệnh sùng bái cá nhân lại dẫn thẳng đến cái tệ tư tưởng độc tôn, hễ thấy ai có ý kiến gì vượt ra ngoài những công thức cũ, những khuôn khổ sẵn thì người ta chụp ngay cho những cái mũ dễ sợ như danh hiệu “cải biến chủ nghiã” chẳng hạn, để bịt mồm, bịt miệng người khác.

 

Tư tưởng không tự do thì không thể tự do thảo luận được. Mặc dầu không ai cấm tranh luận, các nhà lãnh đạo vẫn thường nói nên mở rộng tranh luận, nhưng trong thực tế thì sự tranh luận đã bị thủ tiêu từ gốc rồi. Nghiên cứu hay nghị luận một vấn đề gì, người người chỉ nơm nớp lo sợ, không khéo thì trật ra ngoài đường lối tư tưởng chính thống độc tôn. Đối với những người ấy công tác học thuật trở thành trò xiếc leo dây.Con đường học thuật phải là con đường cái thênh thang cho mọi người tự do đi lại chứ không phải là sợi dây căng cho mọi người làm xiếc. Phải trừ bỏ những bệnh giáo điều và sùng bái cá nhân để trả lại tự do cho học thuật”.

Phan Khôi, chủ nhiệm báo Nhân Văn. Nhà văn và nhà cách mạng lão thành Phan Khôi như một vị tiền bối đứng ra che chở cho các anh em văn nghệ trẻ. Cùng thời với Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh… Phan Khôi sinh năm 1887 tại làng Bảo An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, là con trai Tri phủ Phan Trân, và là cháu ngoại Tổng đốc Hoàng Diệu. Năm 1907, Phan Khôi ra Hà Nội tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, ít lâu sau, phong trào bị đàn áp, ông trở lại Quảng Nam, hoạt động trong phong trào Văn Thân cùng với Huỳnh Thúc Kháng. Bị Pháp bắt, Phan Khôi học tiếng Pháp trong tù. Ra tù, ông bắt đầu cuộc đời viết văn làm báo.

 

Trong nửa thế kỷ, từ Nam ra Bắc, ngòi bút sắc bén của Phan Khôi tung hoành trên các báo: Nam Phong, Lục Tỉnh Tân Văn, Đông Pháp Thời Báo, Thần Chung, Phụ Nữ Tân Văn, Trung Lập, Thực Nghiệp Dân Báo, Hữu Thanh, Phụ Nữ Thời Đàm, Tràng An, Sông Hương… Từ 1920 đến 1925, ông dịch Kinh Thánh cho Hội Tin Lành. Tác phẩm đầu tiên của Phan Khôi là tập Nam Âm Thi Thoại, ký bút hiệu Chương Dân, in năm 1920 ở Hà Nội (năm 1936, tái bản tại Huế, đổi tên là Chương Dân Thi Thoại). Bài thơ Tình già của Phan Khôi đăng lần đầu tiên trên báo Phụ Nữ Tân Văn, tháng 3/1932, được coi như bài thơ mở đường cho phong trào thơ mới.

Bởi địa vị văn học, địa vị cách mạng và thái độ đối lập của Phan Khôi, cho nên ông có một vị trí riêng và đồng thời ông cũng đã phải chịu những sự phỉ báng nặng nề thô bỉ.

 

Về hoạt động chính trị, Phan Khôi luôn luôn là một khuôn mặt đối lập với Việt Minh. Tháng 6/1946, phái đoàn Trung ương của Việt Minh về Quảng Nam, mở cuộc mít tinh để giải thích Hiệp định sơ bộ 6/3/1946, Phan Khôi lên diễn đàn, công kích hiệp định sơ bộ. Tham gia Việt Nam Quốc Dân Đảng, Phan Khôi được bầu làm chủ nhiệm chi bộ Nam Ngãi. Nguyễn Công Hoan viết: “Đêm 12/7, trong khi hắn (chỉ Phan Khôi) đương họp bàn với bọn đầu sỏ Quốc Dân Đảng ở 80 đường Quan Thánh, thì xẩy ra việc Công an ta đến khám toà báo Việt Nam của đảng ấy tại trụ sở ấy. Bọn phản động ở trong nhà nổ súng ra để chống cự. Tức thì Công an buộc lòng phải bắt bớ người. Trong số những người bị bắt có Phan Khôi.

 

Song, Phan Khôi lại một lần nữa được Chính phủ tha cho về để suy nghĩ tội lỗi mà hối cải.” (Nguyễn Công Hoan, Hành động và tư tưởng phản động của Phan Khôi cho đến thời kỳ toàn quốc kháng chiến, báo Văn Nghệ số đặc biệt thứ hai chống NVGP, số 12, tháng 5/1958, trang 14).

 

Về thái độ của Phan Khôi đối với Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Công Hoan viết:”Cách mạng tháng Tám cải tử hoàn sinh cho hai mươi nhăm triệu nhân dân Việt Nam, trong đó có Phan Khôi. Nhưng cái tên già này rất vô ơn với Cách mạng tháng Tám.

 

Cho đến năm hoà bình, 1954, chưa bao giờ hắn viết, hoặc nói mà dùng danh từ “Cách mạng tháng Tám”. Chính hắn đã khoe điều ấy bằng cả sự hằn học với người tâm phúc của hắn. Hắn nói rằng trước kia hắn dùng ba tiếng “cướp chính quyền”, mà cũng ngượng mồm. Hắn nói rằng lúc đó, Pháp đổ rồi, Nhật hàng rồi, chính phủ Trần Trọng Kim tê liệt rồi, chính quyền bỏ rơi, thì ta “lượm” được, chứ “cướp” ở tay ai?” (bài đã dẫn, Văn Nghệ, trang 12)

 

Về thái độ của Phan Khôi đối với Hồ Chí Minh, Nguyễn Công Hoan viết: “Hôm họp Hội nghị văn hoá, Hồ chủ tịch có đến. Khi nói về tiểu thuyết, Người có một nhận xét để khuyên nhủ anh em cầm bút là “tiểu thuyết của ta có vạch được tội ác của chế độ phong kiến và đế quốc, nhưng chưa đề ra phương pháp cải tạo. Như vậy là kém phần xây dựng”. Trong khi mọi người rất phục Hồ chủ tịch sáng suốt cả về lĩnh vực văn nghệ, thì tên Quốc Dân Đảng già, vốn bản chất là đối kháng, dè bỉu Hồ chủ tịch, cho là Người chỉ giỏi chính trị, chứ không biết về văn nghệ. Hắn bàn tán với bạn hữu rằng Hồ chủ tịch nói sai. “Văn nghệ chỉ có nhiệm vụ trình bày, còn xây dựng là nhiệm vụ của chính trị, của nhà cầm quyền” (bài đã dẫn, Văn nghệ, trang 15).

 

Phan Khôi không tự ý đi theo kháng chiến mà “bị mời” đi kháng chiến, Đào Vũ viết: “Kháng chiến bùng nổ. Phan Khôi đi theo kháng chiến. Nói cho đúng hơn, chúng ta đưa Phan Khôi đi theo kháng chiến từ đầu chí cuối”, “tôi biết rằng cơ quan đối với y bao giờ cũng dành những ưu tiên lớn”, theo Nguyễn Công Hoan,“Phan Khôi đi với kháng chiến, không lúc nào hắn không ngớt chửi bới kháng chiến”, Đào Vũ viết: “Phan Khôi bấy nay không ưa gì Đảng của chúng ta. Vốn là hay xỏ xiên vặt, y gọi Đảng ta là “cái Đảng” thế này thế khác. Có người vặn lại: sao lại gọi là “cái Đảng”, tiếng “cái” ấy có cần thiết gì đâu? Phan Khôi sẽ thủng thỉnh trả lời: tiếng “cái” ấy cũng như “le, la, les” của tiếng Pháp mà thôi.” (Đào Vũ, Tính cách vô lại và bộ mặt chính trị nhơ nhớp của Phan Khôi ngày nay, Văn Nghệ số 12, tháng 5/1958).

 

Là nhà Hán học, nhưng lý luận khúc triết và đanh thép theo phương pháp luận phương Tây, những bài bút chiến của Phan Khôi với Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh… đã gây không khí sôi nổi trên văn đàn những năm 30. Tài năng, nhân cách và kiến thức đã đưa Phan Khôi lên địa vị “Ngự sử văn đàn” của thời ấy.

 

Khi toàn quốc kháng chiến. Miễn cưỡng lên Việt Bắc, Phan Khôi dịch sách chữ Hán, chữ Pháp, sang tiếng Việt.

Thời kỳ NVGP, Phan Khôi đứng ra nhận chức Chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ Nhân Văn để bao che cho các cây bút trẻ. Trong bài Phê bình lãnh đạo Văn Nghệ, với tác phong Ngự sử văn đàn, Phan Khôi nghiêm khắc lên án chế độ quản lý tư tưởng: Ông chỉ trích Trường Chinh ăn nói bừa bãi, chất vấn gắt gao Tố Hữu, Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi, những người chủ chốt trong việc kết tội Trần Dần. Sau khi tách bạch hai giai cấp: Lãnh đạo văn nghệ và Quần chúng văn nghệ, Phan Khôi phê bình triệt để ba vấn đề thực tiễn:

 

1 -Vấn đề tự do của văn nghệ sĩ: Sau khi đưa ra những dẫn chứng cụ thể về việc lãnh đạo nghiệt ngã bắt bẻ người viết phải theo đúng đường lối, Phan Khôi hỏi lãnh đạo: chính trị muốn đạt đến cái mục đích của nó thì cứ dùng khẩu hiệu, biểu ngữ, thông tri, chỉ thị không được hay sao mà phải cần dùng đến văn nghệ sĩ, rồi ông cánh cáo: “Lãnh đạo đã xâm phạm mỗi ngày một hơn vào quyền riêng nghệ thuật của văn nghệ sĩ.”

 

Những lời khẳng khái nổi tiếng của Phan Khôi: “Nhược bằng bắt hết mọi người viết, phải viết theo lối với mình thì rồi đến một ngày kia, hàng trăm thứ hoa cúc đều phải nở ra cúc vạn thọ hết”. Hoặc phê Đảng: “Đảng giáo dục Xuân Diệu làm cách mạng chứ có giáo dục Xuân Diệu làm thơ đâu!”

 

2 -Về vụ Giai phẩm mùa xuân, Phan Khôi chất vấn ban chủ toạ hội Văn nghệ:“Hỏi độc tội một Trần Dần thôi là cái ngón chính tri tài tình lắm đấy, để cô lập Trần Dần và phân hóa những người trong Giai Phẩm, cái ngón ấy đã thành công”.

“Tôi còn nhớ có vị bắt lỗi trong bài thơ Trần Dần có chữ Người viết hoa, lấy lẽ rằng chữ Người viết hoa chỉ để xưng Hồ chủ tịch, thế mà Trần Dần lại viết hoa chữ Người không phải để xưng Hồ chủ tịch. Tôi ngồi nghe mà tưởng như ở trong chiêm bao, chiêm bao thấy mình đứng ở một sân rồng nọ, ông Lê mỗ tố cáo ông Nguyễn mỗ trước ngai vàng: “Trong phép viết chỉ có chữ nào thuộc về Hoàng thượng mới phải đai, thế mà tên Nguyễn mỗ viết thư cho bạn dám xài những chữ không phải thuộc về Hoàng thượng. Nhân may cho tôi, tôi tỉnh ngay ra là mình đang ngồi ở trong phòng họp hội Văn nghệ”.

 

3 -Về vụ giải thưởng văn học năm 54-55, ba tác phẩm Mưa sao của Xuân Diệu, Truyện anh Lục của Nguyễn Huy Tưởng và Nam Bộ mến yêu của Hoài Thanh đều chiếm giải. Phan Khôi phê bình: “Cả ba ông Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tưởng, Hoài Thanh đều có tác phẩm dự thi mà đều ở trong ban trung khảo. Nếu ở trong ban trung khảo mà thôi còn khá, thử điều tra lại hồ sơ, thì ba ông còn ở ban sơ khảo nữa, sao lại có thể như thế? Trường thi phong kiến xưa, tuy có ám muội gì bên trong, chứ bên ngoài họ vẫn sạch tiếng. Một người nào có con em đi thi thì người ấy có được cắt cử cũng phải hồi tỵ, không được chấm trường. Bây giờ đến cả chính mình đi thi mà cũng không hồi tỵ, một lẽ là ở thời đại Hồ Chí Minh, con người đã đổi mới, đã liêm chính cả rồi, một lẽ trắng trợn vì thấy mọi cái miệng đã bị vú lấp.”

 

Phan Khôi viết truyện Ông bình vôi, ngẫu hứng từ bài thơ Ông bình vôi của Lê Đạt, chủ đích bênh vực Lê Đạt, đồng thời nhạo báng lãnh tụ, gọi lãnh tụ là Ông Cọp, Ông Trưởng, Ông Đầu Rau, Ông Tre, Ông Bình Vôi… như những bài vị mà người dân thường phải để chân dung trong nhà. Trong bài Ông Năm Chuột, Phan Khôi đòi hỏi phải trả văn nghệ lại cho văn nghệ, chuyên môn cho chuyên môn qua lời người thợ bạc: “người ta cái gì biết ít thì nên nghe chứ không nên nói, tôi không nói chuyện văn chương chữ nghĩa với ông, cũng như ông không dạy nghề làm thợ bạc cho tôi.”

 

Theo bài viết của Đoàn Giỏi đăng trên báo Văn Nghệ số ra ngày 15/8/1958 thì tháng 12 năm 1957, Phan Khôi còn đưa đến nhà xuất bản Hội Nhà Văn một tập bản thảo dầy, tên là Nắng chiều gồm nhiều bài bút ký, tạp văn, viết từ đầu kháng chiến Việt Bắc đến năm 1957. Đoàn Giỏi trích một số đoạn để đả kích, nhờ vậy mà độc giả biết được đại cương nội dung những tác phẩm đó. Theo Đoàn Giỏi, ngay trong hai bài đầu, tựa đề Cầm vịtTiếng chim, Phan Khôi đã khẳng định “Xã hội không có đấu tranh giai cấp, của ai người nấy ăn. Vấn đề đấu tranh giai cấp chỉ là kiểu rình phần ăn của kẻ khác”. Về bài viết Cây cộng sản, Đoàn Giỏi tự hỏi: Tại sao Phan Khôi lại đem cây cứt lợn, cũng gọi là cây chó đẻ, và cây bọ xít, toàn là những tên không nhã tý nào hét, để gọi nó là Cây cộng sản và cỏ cụ Hồ? Đến bài giới thiệu Nguyễn Trường Tộ, Phan Khôi viết: “Vua thì như thế, còn đám quan liêu từ triều đình đến các tỉnh phần nhiều là hủ nho, đám sĩ phu ở dân gian càng đông hơn, cũng đều hủ nho. Dưới vua, hai hạng người này nắm quyền lợi một nước trong tay họ, họ cấu kết với nhau để giữ lấy quyền lợi thì còn ai mà làm gì được”. Đoàn Giỏi bị kiểm thảo về tội vờ đả kích Phan Khôi để công bố những nét đại cương của một tác phẩm bị cấm. Bản thảo tập Nắng chiều hiện nay còn hay mất? Đó là một nghi vấn văn học chưa được soi tỏ.

Paris 12/2004

————-

[1] Một nhà phê bình (xin giấu tên), cho biết: Trần Dần bị mật giam ở một nơi gần Hà Nội. Vì sợ bị thủ tiêu, cho nên ông đã phải dùng dao cạo cứa cổ, với chủ ý làm ầm lên. Chính tướng Nguyễn Chí Thanh đã ra lệnh “cứu” Trần Dần.

 

Nghe thêm: (nếu không nghe được, vui lòng áp dụng cách nêu tại ĐÂY)

10-09-1995: Nguyễn Hữu Đang nói về Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm

24-03-2004 Lê Đạt – Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm (phần 1): Bước đường manh nha

01-05-2004 Lê Đạt – Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm (phần 2): Vai trò của Thụy An, Nguyễn Hữu Đang và Phan Khôi

08-05-2004 Lê Đạt – Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm (phần 3): Nội dung tờ Nhân Văn và sự đình bản

15-05-2004 Lê Đạt – Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm (phần 4): Lớp đấu tranh Thái Hà và Quyết định kỷ luật

22-05-2004 Lê Đạt – Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm (phần 5): Kỷ luật 3 năm kéo dài 40 năm

29-05-2004 Lê Đạt – Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm (phần 6): Hoàng Cầm, Nguyễn Tuân, Nguyễn Bính, Trần Đức Thảo và Đào Duy Anh

05-06-2004 Lê Đạt – Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm (phần 7): Sự tìm tòi một con đường mới cho thơ ca Lê Đạt

14-01-1996 Hoàng Cầm: Thơ Hiện đại và sinh hoạt sáng tác của các nhà thơ trong phong trào Nhân Văn Giai Phẩm

21-02-1998 Hoàng Cầm: 30 năm hành trình vào sa mạc sau thời kỳ Nhân Văn Giai Phẩm

28-02-1998 Hoàng Cầm: Hoàn cảnh sinh sống sau thời kỳ Nhân Văn Giai Phẩm và tình trạng xuất bản sau khi phục hồi

20-12-2003 Hoàng Cầm nói chuyện về hành trình sáng tác từ thời thơ ấu đến bài thơ Đêm liên hoan

27-12-2003 Hoàng Cầm nói chuyện về hoàn cảnh sáng tác hai bài thơ Tâm sự đêm giao thừa và Bên kia sông Đuống

03-01-2004 Hoàng Cầm nói chuyện về thời kỳ làm báo Giai Phẩm và Nhân Văn

10-01-2004 Hoàng Cầm: Từ Nhân Văn đến đổi mới

26/06/2008 Nói chuyện với họa sĩ Trần Duy, thư ký tòa soạn báo Nhân Văn, lên tiếng sau 50 năm im lặng (phần 1)

12/07/2008 Nói chuyện với họa sĩ Trần Duy, thư ký tòa soạn báo Nhân Văn (phần 2)

19/07/2008 Nói chuyện với họa sĩ Trần Duy, thư ký tòa soạn báo Nhân Văn (phần 3)

26/07/2008 Nói chuyện với họa sĩ Trần Duy, thư ký tòa soạn báo Nhân Văn (phần 4)

 

Nguồn: Thuykhue.free.fr




Phù Nam: Huyền thoại và những vấn đề lịch sử

Tác giả: Vũ Đức Liêm

Bất cứ quốc gia dân tộc hiện đại nào cũng tìm kiếm cho mình một nền văn hóa, văn minh, hay một vương quốc khởi đầu qua việc kết nối với một thực thể mờ ảo trong quá khứ. Đó là nơi huyền thoại dựng nước bắt đầu, và cũng là nơi chứng kiến sự va chạm giữa các diễn ngôn lịch sử. Phù Nam là một câu chuyện như thế ở Đông Nam Á.

Trong số các nền văn hóa kim khí quan trọng trên lãnh thổ Việt Nam, từ đó phát triển các xã hội phức tạp và hình thành nhà nước: Đông Sơn/ Cổ Loa, Sa Huỳnh/Champa, Óc Eo/ Phù Nam, thì Phù Nam ít được chú ý hơn cả. Bao trùm lên nó là huyền thoại về vương quốc được hình thành đầu tiên ở Đông Nam Á, với cảng thị sầm uất như Óc Eo, trung tâm tôn giáo, chính trị như Angkor Borei. Dù chỉ tồn tại khoảng từ thế kỷ I đến thế kỷ VII CN, vương quốc này không chỉ là trung tâm của kết nối giao thương giữa các cộng đồng khu vực với Ấn Độ, Trung Hoa mà còn đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong diễn ngôn chính trị-lịch sử ở thời kỳ hiện đại bởi vì dựa vào những cứ liệu lịch sử không rõ ràng của giai đoạn này mà chủ nghĩa dân tộc Campuchia tìm cách khẳng định sự hiện diện của dân tộc Khmer hàng nghìn năm trước ở vùng hạ lưu Mekong.

Bài viết này lập luận rằng Phù Nam không thể là sản phẩm chiếm hữu, độc quyền của một quốc gia dân tộc nào cả. Thực tế, nó là một thực thể lịch sử đứng giữa các đường biên hiện đại ở hạ lưu Mekong mà một phần di sản của nó đã trở thành bộ phận không tách rời của nước Việt Nam. Thực tế lịch sử đó cần phải được tôn trọng. Lịch sử của Phù Nam cũng chính là một phần của lịch sử Việt Nam.

Xem trọn bài