Nhìn thơ Xuân Trên Mạng (Duy Văn)

NHÌN THƠ XUÂN TRÊN MẠNG

 

   Rà một vòng trên nét (net)

Thấy mọi người làm thơ

     Chúc nhau nhiều khía cạnh

Mình cũng hăm hở chờ

 

Có ai hoài thương xót

Tặng mình một bài thơ

    Chắc mình mừng vui lắm

Đọc mãi chẳng ơ hờ

 

Nhưng hai tuần trôi qua

Không ai gõ cửa nhà

E mail mình trống rỗng

Buồn quá sá quà sa

 

Mãi đến tuần thứ ba

Có một bài thơ lạ

Với ngôn ngữ văn hoa

Lời chúc xuân trìu mến

 

 

Nói rằng xuân Trâu đến

Mang viễn tưởng nhọc nhằn

Sự cày bừa vất vả

Đời cơ cực quanh năm

 

Nên chúc ông Duy Văn

Cuộc sống bớt lăng nhăng

Mùa Xuân này yên ấm

Như trâu ăn rồi nằm

 

Tác giả của bài thơ

Còn nhã ý mộng mơ

Muốn cùng Văn kết hợp

Cho thỏa nỗi mong chờ

 

Xin trả lời cùng ai?

Văn cũng muốn mê say

Trong “vũng đời” tình cảm

Nhưng vì sợ đêm dài

 

Nên Xuân Trâu năm nay

Thật tình Văn chưa nghĩ

Vì còn phải đi cày

Xin hẹn người tương lai.

 

Hà Đình Huy



Ngọc Huyền: Giải ba. Năm Truyện Ngắn trúng giải Văn Thơ Lạc Việt 2010

03-Văn

Bài văn Nón Quai Thao sau đây của tác giả Ngọc Huyền là bài được giải Ba về Văn trong Giải Văn Thơ Lạc Việt 2010. Được biết Giải Văn Thơ Lạc Việt khởi đầu từ năm 2008, đến nay đã được 3 năm. Cuộc thi hàng năm gồm có 3 giải chính thức và 2 giải khuyến khích cho mỗi bộ môn thơ và văn nhằm khuyến khích mọi người sang tác để phát huy văn hóa Việt Nam ở hải ngoại.

Chúng tôi xin giới thiệu cùng quý độc giả bốn phương.

VTLV

 

 Nón Quai Thao.

Ngày giỗ bố mẹ lần thứ mười nhưng cũng giống như lần đầu tiên, tôi dạy sớm lo lau chùi bàn thờ để trưng bày thức ăn chay cùng hoa quả. Cái gì ban đầu cũng tạo cảm giác thật phấn chấn như ngày đầu đến thăm nhà mới của bố mẹ mới dọn về. Tôi sắp trái cây ngũ quả lên bàn thờ, đâu phải chờ tết mới có ngũ quả mẹ nhỉ, lúc nào trong nhà của bố mẹ cũng có trái cây tươi, hoa lys thơm mới hái còn đọng sương, nhang có mùi trầm mà mẹ thường thích, ly nước trà xanh bố vẫn nhâm nhi; Vừa lau tôi vừa như đang hàn huyên với mẹ. Nhà mẹ có đủ rộng cho mẹ ở không? Có đủ chỗ cho mẹ ngồi đong đưa mỗi chiều ngắm hoa thơm sau vườn không? Có các bạn láng giềng tốt bụng cho mẹ nhờ vả khi gặp khó khăn không? Hay chỉ riêng 1 mình bố mẹ lẻ loi mới dọn tới? khu mẹ ở có gần nơi sầm uất như ý mẹ muốn khi còn sống không hả mẹ? Trên tường bên cạnh bàn thờ bố mẹ, tôi vẫn treo nón quai thao mà đã được sơn phết lại cho đẹp, dù sao đó cũng là kỷ niệm của mẹ con tôi!! …Tôi miên man nhớ…..

 

Hồi chúng tôi còn ở Việt Nam, mỗi lần đi chợ vào ngày thứ bảy, năm chị em gái chúng tôi đều được mẹ cho đi tháp tùng chợ vải Tạ Thu Thâu ở Saigon để chọn những mẫu vải mình thích mặc. Tôi là đứa con gái út, chưa đến 10 tuổi nên tất cả tùy ý mẹ và các chị. Nói là cho đi chọn vải nhưng thực ra mẹ muốn đưa chúng tôi đi chung cho gần gũi mẹ, nhân tiện mẹ dạy chúng tôi cách chọn vải, chọn màu cho hợp với từng lứa tuổi để lỡ sau này không còn mẹ nữa thì chúng tôi biết cách ăn mặc và có mắt mỹ thuật với người ta!! Mẹ không ngừng giải thích cho chúng tôi biết đời sống lao động khổ sở như thế nào để có được đồng tiền, miếng cơm manh áo nên phải biết quý trọng những gì mình đang có, không được phung phí, và bên cạnh đó phải biết chia xẻ cho những người không bằng mình. Chúng tôi quấn quít bao quanh mẹ, nghe mẹ giải thích như kể chuyện cổ tích, các chị tôi còn cho thêm ý kiến với mẹ, nhưng tôi còn quá nhỏ để đóng góp nên chỉ biết thu thập mà thôi, bất chợt có tiếng quen thuộc gọi to sau lưng:

          Huệ Dung! Bà đưa cả gia đình ngũ long công chúa ra mua hết vải của Tạ Thu Thâu đấy à! Vào đây, tôi để đặc biệt cho, muốn lấy khúc màu gì??

Mẹ quay lại chúng tôi, giới thiệu với bác chủ tiệm vải lớn nhất của con đường ấy:

          Các con! Đây là bác Thao, bác là bạn học thân của mẹ từ xưa ở Hà Nội đấy, các con chào bác đi, sau này các con có cần vải vóc thì đến đây mua, bác chỉ tường tận lắm!

Trong lúc mọi người đang chọn vải thì tôi nghe tiếng cười khúc khích và tiếng huyên náo của mấy anh chị con bác phía sau nhà. Tò mò tôi lẻn ra, núp trong bức tường nhìn mấy anh chị, một nhóm đang đánh đũa, còn nhóm con trai thì chơi bắn súng nước, có vẻ vui nhộn lắm, tia nước bắn phụt cả vào mặt chỗ tôi đang lén nhìn, vội vàng tôi định lấy vạt áo lau mặt, thì 1 tiếng nói ồm ồm khan khan vang lên sau lưng:

          Lấy cái khăn này lau tạm đi! Xin lỗi nhe, không cố ý đâu!!…..Muốn chơi cùng không?

Tôi tần ngần còn lạ lẫm, rụt tay lại khi bị kéo ra khỏi chỗ núp. Người con trai thứ con bác Thao, Duy Tuệ, cao hơn tôi cả cái đầu, anh ốm nhom, cao ngồng, đang bước vào tuổi dậy thì, 14 tuổi, dúi cây súng nước vào tay tôi:

          Cứ bắn đi, vui lắm, mình cùng phe!! Bắn như vậy nè, để tay vào nút này bóp là nước xịt ra, bắn cho chúng nó càng ướt là mình thắng cuộc, biết không? ….núp vào đây với …anh!

Bỗng dưng tôi trở thành 1 đồng đảng bất đắc dĩ của anh, cũng theo anh lúp xúp núp vào trong bụi rậm, lúc anh bảo tôi bắn là tôi lấy hết sức bình sinh để bóp cò. Vui chơi làm tôi quên cả mẹ và các chị đang thử vải vóc bên trong nhà, tôi hả hê cười tít mắt với đám con trai nghịch ngợm vô tư của bác, cho đến khi bị gọi về thì quần áo tôi đã nhem nhuốc ướt từ trên đầu xuống chân, phải mượn 1 bộ đồ của con gái bác mặc tạm. Mẹ tôi phàn nàn với bác:

          Trong năm đứa con gái, chỉ có con bé Vĩnh An này là tinh nghịch như con trai mà thôi! Thật tôi xấu hổ quá, con gái mà cũng leo trèo, cũng bắn súng, cũng vật lộn ….chẳng có 1 chút nào thùy mị như các chị cả!!

          Không sao! Có đứa này đứa nọ thì mới vui nhà vui cửa chứ, đứa nào cũng hiền lành nhu mì hết thì trong nhà sẽ không có tiếng cười đâu. Mấy cái đứa con gái hay tinh nghịch…sau này lại được nhờ lắm!

 

Vài tuần sau, tôi theo mẹ đến bác Thao để trả lại bộ đồ đã mượn mặc hôm nọ. Gia đình bác như đang có chuyện gì rất quan trọng, cứ to nhỏ với mẹ, làm mẹ tôi cũng đâm ra lo lắng, suy nghĩ, tôi chỉ nghe được loáng thoáng:

          ….Không biết tôi có nên đóng cửa tiệm hay không?….bà cứ hỏi ý ông nhà xem sao….

Tôi lại men ra sau nhà định để gặp các anh chị con bác Thao. Sân sau im lặng trống vắng một cách kỳ lạ. Tôi nghe tiếng khá quen sau lưng, gọi:

          Ê! ….vào đây!

          …..Anh …gọi ….em??

          Ê…Ừ! Vào đây!

          ….Mẹ bảo là nếu con trai mà gọi con gái là « ê » là ….bất lịch sự lắm đó!

          Không biết tên ….thì gọi bằng gì??

          Sao không hỏi? ….bộ…không biết hỏi à!

          …ừm…vậy tên gì ??

          Vĩnh An!

          Vĩnh An! Vĩnh An!

          Sao ….gọi hoài thế? Có chuyện gì không?

          Tên đẹp quá! ….anh muốn cho Vĩnh An cái này….không biết Vĩnh An có thích không!

Anh nhảy lên cao, kiễng chân trên nóc tủ lấy xuống cho tôi cái nón quai thao, đủ màu sắc hồng lẫn với vàng, xanh rất đẹp. Tôi đang ngạc nhiên tại sao anh lại cho tôi món quà này thì anh giải thích:

          Đây là chiếc nón quai thao đem từ ngoài Bắc vô đấy! Quý lắm, mẹ giữ đã bao nhiêu năm nay rồi, nhưng bây giờ thì chắc ….không còn giữ được nữa đâu…chắc phải bỏ lại đấy!

          Tại sao? Tại sao phải bỏ lại? ….

          Tại vì….tại vì…không thể nói được đâu! Nếu …em thích hãy giữ nó, còn không thì tụi anh chắc phải bỏ đi …mà đây là kỷ niệm của bà ngoại cho mẹ…tính mạng còn không giữ được nữa, huống chi là vật kỷ niệm!

Lúc này tôi mới linh cảm những lời anh nói hình như quan trọng lắm, hình như là những lời nói cuối cùng tôi nghe được và cũng hình như tôi là người được giao cho phận sự giữ gìn kỷ vật của gia đình anh. Tôi còn quá nhỏ để hiểu sự việc vào lúc ấy, chỉ lờ mờ biết được vận nước đang trong cơn nguy biến; kỷ vật này tôi sẽ cố gắng gìn giữ cho anh, nhưng chẳng biết bao giờ nó mới được hoàn trả….Tôi ngây người nhìn anh, đôi mắt tròn to như đang muốn hỏi rất nhiều điều mà chẳng biết bắt đầu từ đâu. Anh chồm lên quàng tay ôm lấy cổ tôi:

          Em giữ sức khỏe…coi chừng cho mẹ…không biết đến bao giờ mình mới gặp lại!!

 

Sau ngày ấy, chúng tôi chẳng còn dịp nào gặp lại bác Thao và đám con của bác nữa. Thời gian trôi nhanh, đủ mọi biến cố xảy ra cho đất nước mà gia đình tôi không là ngoại lệ. Bố mẹ tôi bao nhiêu tiền của dành dụm bấy lâu phải đổ ra cho những lần vượt biên không thành công, tài chính ngày càng kiệt quệ, chị em chúng tôi không được ăn mặc đẹp lụa là như xưa nữa, tuy thế vẫn mang sắc diện đặc biệt của dân đô thị. Mỗi lần “đi” là chúng tôi bị mẹ bắt phải bôi lọ nghẹ cho đen xấu để đừng bị ai để ý! Thế nhưng khi mặc chiếc áo đen vào thì làn da trắng của chúng tôi cứ nổi bật trên vùng vải sậm màu ấy! Mẹ dặn dò tôi nhiều nhất vì mẹ bảo là các chị đã được mẹ dạy dỗ đủ rồi, chỉ có riêng tôi còn quá nhỏ vào lúc đó nên mẹ cảm thấy như thiếu thốn 1 cái gì đó nơi tôi. Tiền bạc đã cạn, 1 lần cuối đánh 1 ván bài cho cả cuộc đời lẫn số mạng của mỗi chúng tôi, vì nếu ở lại với đất nước Cộng Sản cũng sẽ chết dần mòn, còn nếu đi được thì cứu cả tương lai của cả gia đình! Lần đi cuối cùng này bố chia ra hai phe, bố đi với 4 chị tôi, còn mẹ đi với 1 mình tôi. Tôi năn nỉ mẹ cho tôi đem theo chiếc nón quai thao vì lời hứa năm nào với anh Tuệ! Mẹ đã không la tôi mà còn cho tôi thêm niềm tin:

          Con còn trẻ mà biết giữ lời hứa với bạn bè là điều rất quý!

Và chính nhờ chiếc nón quai thao ấy đã giúp tôi ra khỏi những lúc thập tử nhất sinh.

Khi lội từ tàu bé sang tàu lớn, tôi đã suýt uống 1 bụng nước xình, may quá, vì khi tôi té xuống thì trên tay còn cầm chiếc nón quai thao, nên nó đã đỡ lấy tôi! Thay vì phải té gục mặt vào nước sông đen ngòm! Mẹ đã dùng chiếc nón ấy làm thuyền đưa tôi từ chiếc tàu bé sang tàu lớn!

Lúc chiếc tàu của chúng tôi ra khỏi hải phận quốc tế, tôi thấy 1 loạt đạn ồ ạt nả không ngớt từ tàu của đối phương, tôi không hiểu là tàu của Mã Lai hay Việt Cộng; chưa kịp nhìn, tôi đã thấy mẹ tôi ngả cả thân người che khuất lên tôi, sợ tôi bị trúng đạn, vì tôi ngồi bên thành tàu. Tất cả mọi người đều như chết điếng sợ hãi vì dân thành phố chúng tôi vẫn chưa quen cảnh súng đạn như tên bay như vậy! Ai cũng nằm bẹp xuống lâm râm khấn vái đến tội nghiệp. Tôi vòng tay qua người mẹ, lấy chiếc nón to vành ấy che cho mẹ, mặc dù chỉ là đan bằng lá cọ, nhưng vào lúc ấy chiếc nón quai thao như 1 áo giáp bằng sắt cho mẹ con tôi nương náu!!

Chưa hết! những chuỗi ngày lênh đênh trên biển cả, nắng, mưa, tôi như có chiếc nón sẵn sàng bảo vệ, nó không còn giữ màu sắc tươi đẹp nữa, đã trở thành đen xì màu đất, nhưng cứng cáp và dũng cảm chiến đấu bên mẹ con tôi. Tôi cứ tưởng tượng như anh Tuệ là 1 ông tiên đã gặp tôi đúng lúc để cho tôi cái áo giáp này khi ra chiến trận. Không ai có thể tưởng tượng được, có 1 sự kỳ diệu nào đó trên con đường tìm tự do! Tôi lo cho mẹ khi thấy mẹ lớn tuổi, không quen cực nhọc, ói mửa, bệnh hoạn, đôi môi trắng nhợt thở thoi thóp, vì khát, đói, tôi muốn khóc khi nhìn mẹ, nhưng nước mắt không còn nữa để chảy, chỉ biết lấy vành nón che cho mẹ bớt nắng chói chan! Rồi nỗi cực nhọc nào tưởng như không lối thoát, cũng hết. Bến bờ mong muốn đã hiện ra. Chúng tôi lê lết lên bờ như những xác chết biết đi, tôi xin được tí sữa của những người đã đến định cư ở đảo Pilau Bidong trước tôi, đổ từng thìa cho mẹ. Đổ mãi, đổ mãi mà sao mẹ không nuốt vậy mẹ? sữa vẫn cứ tràn ra 2 mép!! Đôi mắt mẹ như căng ra trừng trừng nhìn tôi như muốn nói, muốn trăn trối, nhưng chẳng 1 hơi nào phát ra. Cuối cùng mẹ đã chịu thua số phận nghiệt ngã!! Tôi không còn hơi sức đâu để gào thét cho mẹ, hai tròng mắt tôi cũng không đủ một giọt nước để di động nhìn khắp thân thể mẹ đang từ từ co quắp, chỉ nhớ rằng tôi đã cùng mẹ gục xuống 1 lúc khi thìa sữa cuối cùng xùi ra khóe mép mẹ!!!

 

Mười năm nhanh như thoi đưa bên xứ người, tôi đã học lại, ra trường và đang đi làm cho 1 ngân hàng quốc gia lớn ở Gia Nã Đại, quá khứ đã làm tôi lớn khôn, trưởng thành trong cuộc sống. Bố tôi cùng 3 chị đã không chịu nổi sự đau thương, khắc nghiệt trên biển khi tàu gặp cướp, đã bỏ xác trên tàu, chỉ còn có mỗi 1 chị kế tôi còn sống sót, định cư bên Mỹ. Chị không quên được cảnh tượng đau lòng xảy ra trước mắt cho những người thân nên chị cứ hay buồn khóc, rồi lâu lâu lại cười vớ vẩn đến thương tâm! Chúng tôi cũng thường xuyên điện thoại nói chuyện với nhau, nhưng đầu óc chị không còn bình thường như xưa nữa. Nhiều lúc tôi cũng mong được như chị! Cuộc đời vô thường quá, quên hết cho nước mắt ngưng chảy, cho rũ sạch nỗi nhớ nhung ray rứt người thân!! Thế nhưng, tôi cứ phải làm bộ chai lỳ, cứ phải đương đầu với cuộc sống khó khăn, làm bộ như chẳng có chuyện gì quan trọng trên cuộc đời này cả! Nụ cười tươi vẫn can đảm giữ trên môi!

Nơi tôi làm việc, chẳng có ai là người da vàng cả, khi tôi bước vào làm thì đã được nhiều đồng nghiệp người Tây chú ý giúp đỡ, trong số ấy có Charles, người dân gốc Anh nhưng sinh đẻ ở Québec, anh và tôi tuy không đồng ngôn ngữ nhưng chúng tôi hiểu nhau lắm, cùng chung sở thích, anh nghe tôi tâm sự tuổi thơ và đất nước kém phần may mắn của tôi thì anh càng thấu hiểu và thương tôi hơn nữa, anh muốn san xẻ bù đắp những đau thương ấy trong tôi. Những buổi chiều sau khi xong công việc sở, tôi và anh cùng nắm tay đi dạo trên những đồi núi hay vòng quanh bờ hồ, tôi tha hồ kể cho anh nghe quê hương tôi đẹp như thế nào, những con rạch vòng quanh chảy trong những khe núi thật tuyệt diệu, những cây bông dại vô tên nhưng đượm đầy hương thơm, anh nói rằng rất thích nghe giọng nói như chim hót của tôi, vì trong tiếng nói của tôi như có mang điệu nhạc. Anh ôm khuôn mặt tôi, nhìn sâu vào trong đôi mắt tôi bảo rằng sao đôi mắt của tôi nâu trong thế, không 1 vẩn đục, không 1 vân màu khác; còn tôi thì lại thích màu mắt xanh ve của anh, như màu của bầu trời tự do, hy vọng. Chúng tôi cứ nói, cứ kể, cứ thêu dệt đủ mọi điều đẹp nhất về đất nước tôi, làm anh rất mong được về thăm quê hương tôi vào 1 ngày gần đây, mong nhìn được ngôi nhà tôi đã sinh ra và lớn lên…Tôi cứ ngỡ rằng đây chính là mối tình muôn đời của tôi, nó sẽ là duy nhất và mãi mãi. Nhưng nhiều lúc tôi có cảm giác như giữa chúng tôi không hoàn toàn hòa nhập, anh quá phóng khóang, còn tôi hơi khép kín; những tràng cười của anh thoải mái bao nhiêu thì của tôi như có chứa đựng những tâm sự bên trong. Anh yêu tôi nên cố gắng khắc phục những điều ấy, anh đi học thêm tiếng Việt, những câu nói bập bẹ của anh làm tôi cảm động và thấy gần anh hơn nữa….Cho đến 1 ngày tôi đi thăm chị tôi bên Mỹ, và trên đường về lại Montreal…

 

Thấp thỏm đứng xếp hàng vào máy bay, chiếc balô nhỏ đong đưa trên đôi vai, mái tóc vừa chấm cổ làm tôi ngứa ngáy quay qua quay lại; bất chợt ở 1 góc phòng ngay hàng ghế đầu, một khuôn mặt nhỏ khá quen thuộc hiện ra, cậu bé khoảng 5, 6 tuổi thôi, nụ cười của nó làm tôi liên tưởng đến 1 người, 1 người của quá khứ, xa lắm, lâu lắc lâu lơ rồi thì phải! Ai nhỉ! Làm tôi phải lục lọi ký ức. Vì sau cái biến cố cả bố mẹ cùng mất, hình như tất cả trong tôi như bị xoá hết đi những gì của trước đó, vì tôi đã quá sức chịu đựng, đau đớn ngoài sức tưởng tượng của 1 cô bé 18 tuổi. Cho nên bây giờ muốn nhớ lại, phải cố gắng hồi tưởng. Cậu bé này là ai?? Ánh mắt của nó cũng tinh anh như 1 người tôi đã gặp! Bên cạnh đó không xa, 1 người đàn ông trẻ đứng dựa bờ tường đang nói điện thoại di động, tôi nhìn sững ông ta. Phải rồi! Hình như là… chính là Duy Tuệ! Tôi vội vàng tiến đến, với nụ cười tươi trên môi:

          Anh Duy Tuệ! Có nhớ ai đây không?

Sau 1 lúc suy nghĩ, chắc cũng như tôi, phải lục lọi trong bộ nhớ ghê lắm, anh mới thốt lên, vui mừng, ôm hai vai tôi:

          Nhớ ra rồi, có phải ….có phải cô «Ê» đó không??

Chúng tôi phá lên cười thật vui, anh ngắm tôi, hỏi không ngừng:

          Vĩnh An! Lúc này lớn lên….đẹp gái quá, nếu đi ngoài đường mà gặp thì chắc anh không nhận ra đâu! Lúc này em làm gì? Gia đình ra sao? Hai bác thế nào? Em ở đâu?…

          …Còn anh ra sao? Cháu bé thật giống anh như đúc, nhờ nó mà em mới nhận ra anh đấy, anh được mấy cháu rồi? Hay đây là cháu đầu lòng?

          …sai rồi! …đây là con bà chị của anh, anh dắt nó qua Mỹ chơi …cháu giống chú là…chuyện thường!! Anh …chưa lập gia đình…Còn em…đi đâu đây??…thật lâu quá…

Chúng tôi vui mừng tranh giành nhau kể chuyện, thì ra anh cũng ở Montreal như tôi, nhưng chúng tôi mỗi người ở 1 đầu của thành phố nên chẳng bao giờ gặp được nhau! Anh cũng thành công lắm trong việc tạo dựng tương lai xứ người. Bố anh cũng như số phận của bao gia đình không chịu đựng nổi cơn đói khát, bệnh hoạn trên tàu nên cũng đã mất, anh còn lại mẹ và các anh chị khác cũng đang định cư tại Mỹ và đã lập gia đình. Anh tiếc nuối:

          Nếu như bây giờ còn ở đất nước mình thì đâu có những mất mát lớn lao như thế này! Gia đình em đã chẳng còn ai, ngoài người chị bị bệnh thần kinh, kết quả của cuộc vượt biên; bên anh thì cũng bị mất bố! Mình trả giá quá đắt để có được sự tự do này! Có đáng không??…Bây giờ tìm lại em, anh nghĩ hình như mình đã trả hết cái vận xui của mười mấy năm rồi đó…Mình may mắn …có duyên gặp lại nhau ….

Tôi muốn chảy nước mắt khi nghe anh nói, muốn cám ơn ông Trời đã cho tôi gặp lại anh. Tôi cứ tưởng làm người Việt Nam là bất hạnh nhất, bị trả nợ của bao kiếp trước! Anh nắm chặt lấy hai bàn tay tôi, xoay nhẹ trong lòng tay anh:

          Em! Bỗng nhiên xuất hiện trước mặt anh như 1 giọt mưa sa! Giống như một trận tuyết đổ bất ngờ giữa buổi trưa hè, thật không sao tuởng tượng được…anh sẽ không để em biến mất đi đâu nữa cả…

Anh đưa tôi về nhà, muốn viếng bàn thờ bố mẹ tôi. Anh chăm chỉ đốt nén hương, lầm bầm khấn vái. Tôi đứng bên cạnh lạy trả lễ anh, đây là lần đầu tiên từ ngày tôi rời đất nước, có người thân viếng bàn thờ bố mẹ tôi. Anh nhìn thấy trên bờ tường có treo chiếc nón quai thao, anh reo lên:

          Vĩnh An! Em còn giữ chiếc nón này à? Em làm sao giữ được nó? Gia đình anh tưởng rằng đã phải bỏ lại rồi đó chứ! Anh giao cho em, nhưng vẫn không mong là em đem được qua đây…chắc em phải khổ cực lắm hả??

Tôi kể cho anh nghe những mẩu chuyện có liên quan đến chiếc nón trong chuyến vượt biển:

          …chiếc nón ấy không phiền gì cả mà còn giúp mẹ con em qua những cơn khó nhọc…mẹ không qua được cơn đau bệnh, đó cũng là số mệnh không tránh khỏi…có phải vì em còn giữ chiếc nón này nên mới gặp lại anh hôm nay, sau gần 20 năm??

          Cám ơn em nhiều lắm, Vĩnh An! …chưa 1 người con gái nào mà anh giữ lại trong ký ức như thế! Cho dù trải qua bao nhiêu gian khổ, trắc trở, hình ảnh em bé nhỏ với chiếc nón xa dần hôm cuối cùng gặp ở nhà anh, không làm sao anh quên được, nó như 1 hành trang, 1 sức mạnh cho anh sống, đi làm và vươn lên đến hôm nay, thật kỳ diệu!!

Anh trân trọng đặt lên trán, lên mắt tôi những nụ hôn dài nhung nhớ đầy yêu thương của bao năm xa cách.

Tôi như người vừa tỉnh mộng, như người vừa ra khỏi cơn mộng du của 10 năm sống trên đất người: đây mới thật là tình yêu của tôi, mới thật là chỗ nghỉ ngơi của tôi cho suốt cuộc đời, Duy Tuệ! Anh mới chính là biểu tượng của quê hương, đất nước, tiếng nói và cùng dòng máu đỏ da vàng chảy suốt trong huyết quản của tôi….

Ngọc Huyền

ự trù 




Sinh Hoạt Văn Thơ Lạc Việt : Sự khác biệt ngôn ngữ giữa Nam Và Nữ

SINH HOẠT VĂN THƠ LẠC VIỆT.

Vào hồi 1.30PM chiều Chủ nhật 6/22/2004, tại Thư Viện Tully, 880 đường Tully Rd thành phố San José, bắc California, CA 95111, Cơ sở Thơ Văn Lạc Việt đã tổ chức một sinh hoạt Văn hoá, Văn học dành cho Giáo sư Nhà Văn Diệu Tần, thuyết trình với đề tài "Sự khác biệt Ngôn ngữ giữa Nam và Nữ", với sự tham dự của một số anh em văn nghệ sĩ cùng thân hữu.

Buổi thuyết trình với đề tài thuộc ngôn ngữ học có phần khô khan, nhưng rất hữu ích với nhiều thắc mắc của tham dự viên cũng đã được diễn giả trả lời thoả đáng. Một vài màn văn nghệ "bỏ túi" cũng góp phần tạo không khí ấm cúng và vui vẻ với vài ca sĩ địa phương.

Mời quí vị chia xẻ vài hình ảnh,

Thêm phần Youtube :

http://youtu.be/cFD5plzLgMA

http://youtu.be/ctT9UgLgtK8

http://youtu.be/8T87_zdT_ko

http://youtu.be/Vg9A4tqgmT8


mpd
Chúc những ngày an vui

———————————————————————————————————–

Trân trọng kính mời quí vị tham dự buổi thuyết trình về :
Sự Khác Biệt Ngôn Ngữ Giữa Nam Và Nữ 
của nhà văn/Biên Khảo/Ngôc Ngữ Diệu Tần.

Được tổ chức :
Chiểu Chúa nhật, Ngày 22 tháng 6 năm 2014
Thời gian từ : !:00PM tới 5:00PM chiều.
Tại địa điểm : Thư Viện Tully
880 Tully Street, San Jose CA 9511

Diễn gỉa : Nhà Văn Diệu Tần.

Sự hiện diện của quí vị là vinh dự lớn lao cho bạn tổ chức, và thể hiện sự đòan kết tranh đấu cho tự do và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam.

Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt 
TM Ban Tổ Chức.
Chinh Nguyen

 




Tiễn Biệt Phan Tình

Tiễn Biệt Phan Tình
 
Mới 7 giờ sáng ngày 18 tháng 11 năm 2008 điện thoại đã reo vang. Chắc có chuyện gì bất thường. Nhấc máy lên. Bên kia đầu giây nức nở nghẹn ngào qua tiếng khóc, Tâm Thơ báo tin Phan Tình đã ra đi.
Một buổi trưa mùa thu lành lạnh tại Valance, Pháp Quốc, Phan Tình đã bỏ gia đình bè bạn về bên kia thế giới sau khi chống chọi với bệnh tật một cách kiên cường.
Bất cứ lúc nào và bất cứ trong lãnh vực nào, Phan Tình cũng chiến đấu hết mình. Anh thực hiện trang Web ngày đêm cùng với Hoàng Mị để đưa Việt Kiều Ai Lao lên bốn phương trời. Anh làm thơ cũng phải là những vần thơ hoàn mỹ, chau chuốt. Anh đã nghiên cứu về thơ Ðường xưa và nay để tìm cho mình một hướng đi đặc biệt. Anh cho biết đã học được rất nhiều từ bài viết về Thơ Ðường của Quách Tấn. Năm 2005 anh sinh hoạt với Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt, đem tâm tình vào thơ để tâm sự cùng anh em. Năm sau anh vui mừng vì có cháu đích tôn. Sinh hoạt văn hóa và gia đình rất thăng hoa hạnh phúc.
Thứ Sáu này, 21 tháng 11 năm 2008 lễ hỏa táng để tro bụi trở về cát bụi. Tro của anh lại theo những vần thơ, nốt nhạc bay đi bốn phương trời cho đời thêm đẹp, đất thêm tươi, cho văn chương thêm sinh sôi nảy nở.
Tại Pháp Phan Tình đã bỏ công, bỏ của làm thiện nguyện cho tôn giáo. Không những cho tôn giáo mình theo là Thiên Chúa Giáo mà anh còn đem hết sức bình sinh làm công quả cho chùa. Chùa chưa xong thì Phan Tình cảm thấy chưa yên.
Phan Tình là người ngoan đạo. Ði nhà thờ, xem lễ thường xuyên và hoạt động văn hóa trong giáo xứ, giúp nhà chúa dạy dỗ các em nhỏ, phụ các cha truyền bá đức tin.
Vài năm sau này, bạo bệnh đã làm suy yếu thể xác, trì trệ tinh thần nhưng anh vẫn sinh hoạt với anh em. Thơ của anh, tâm tình của anh vẫn đều đều gửi đến diễn đàn. Trên trang Web ít khi nào vắng bóng. Trang Việt Kiều Ai Lao cả ngàn lời cầu nguyện, chúc anh mau lấy lại sức khỏe bình thường. Trang Văn Tuyển, Quán Thơ trải rộng những vần thơ thương yêu trìu mến như níu lấy hình ảnh của người bạn văn chương. Cơ sở Văn Thơ Lạc Việt mất đi một hội viên năng nổ, mất đi một người bạn chân thành. Tâm Thơ đã khóc bạn, Huệ Thu đã khóc thơ. Mọi nơi mọi chốn đều thương tiếc Phan Tinh. Anh từ giã cõi đời còn rất trẻ. Ở tuổi 60 vẫn còn cả một không gian và thời gian lồng lộng. Tài năng vẫn còn đang vươn mình trong chiều hướng bay cao. Mộng ước làm đẹp cuộc đời vẫn đang trên đà nảy nở. Chí tuy còn mong tiến bước, nhưng sức không kham nổi đoạn đường. Hôm nay anh suôi tay về nới vĩnh cửu, Những vần thơ, những ý tưởng của anh sẽ bay cao, bay cao mãi để trên đỉnh bình yên nắng rọi vần thơ, gió đưa hạnh phúc vào cuộc sống đời đời.
Vĩnh biệt anh, Phan Tình…
 
Văn Thơ Lạc Việt



Lễ Phát Giải Văn Thơ Lạc Việt 2008 (Chủ tịch CS/VTLV: Đông Anh)

Lễ Phát Giải Văn Thơ Lạc Việt 2008
  (VTLV)-San Jose- Ngày Chủ Nhật 1 tháng 2 năm 2009 tại Hội Trường Đời Mới gần 200 quan khách, phần đông là những người hoạt động văn học tại San Jose đến tham dự buổi lễ phát giải cho cuộc thi văn thơ 2008 do cơ sở Văn Thơ Lạc Việt tổ chức. Được biết có gần 100 bài dự thi của 60 tác giả. Về thơ 62 bài. Về văn 36 bài. Từ đó để lọc ra 10 giải, mỗi bộ môn 5 giải. Ngoài Nhất Nhì và Ba còn hai giải khuyến khích. Toàn thể quý vị trong Ban Giám Khảo đã rất hãnh diện về cách chọn lựa và cho rằng những vị trúng giải rất xứng đáng.

 
Sau đây là danh tánh của quý vị đã trúng giải :
1- Thơ:
* Giải Nhất với bài Ngậm Ngùi của H. SƠN
* Giải Nhì với bài Chiều Nghiêng của Hà Zdi
 * Giải Ba với bài Con Đường Tự Do của Vân Bích Loan
* Giải Khuyến Khích với bài Buồn Trong Hy Vọng của Từ Thanh Hà
* Giải Khuyến Khích với bài Lẽ Nào của Song Hạnh
 
* Giải Nhất với bài Ngậm Ngùi của H. SƠN H. Sơn tên thật là Dương Thuận hiện định cư tại Conecticut. Ông gửi bài bằng thư bưu điện. Chữ viết rất đẹp. Khi bài của ông được chấm nhất thì cơ sở Văn Thơ Lạc Việt phải đánh máy lại và gửi đi để lên Net. Được biết hồi xưa ông có làm việc tại Bộ Thông Tin của VNCH, và là người rất thân thiết với ông Tổng trưởng. Hôm nay ông không qua San Jose để lãnh giải được.
* Giải Nhì với bài Chiều Nghiêng của Hà Dzi Hà Dzi là bút hiệu dự thi của nhà thơ Xuân Bích, Ôâng sinh tại Ninh Bình. Nói đến Xuân Bích thì đa số trong chúng ta đều biết. Là giáo sư trước khi bị động viên. Là Sĩ quan sau khi tốt nghiệp Thủ Đức. Là tù nhân sau khi mất nước. Là kẻ lưu vong khi ở tù ra. Trước đây ông đã định cư tại San Jose, sau đó di chuyển đi Oklahoma và hiện nay ông vẫn tiếp tục dạy học tại University of Central Oklahoma. Nhà thơ Xuân Bích đã xuất bản nhiều tập thơ. Ngày 29 tháng 1 vừa qua, nhà thơ Hà Dzi đã vượt ngàn dặm đường, qua ba bốn chuyến bay để đến San Jose lúc nửa đêm, và hiện diện tại hội trường này hôm nay.
* Giải Ba với bài Con Đường Tự Do của Vân Bích Loan Vân Bích Loan tên thật làTrần Thị Ninh, hiện ở San Diego.   Vì không đến lãnh giải được, nên Vân Bích Loan viết cho Văn Thơ Lạc Việt như sau: Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Điều Hành cơ sở Văn Thơ Lạc Việt đã mở cuộc thi thơ văn, để từ đó chúng tôi- những người Việt tha hương- có cơ hội góp phần duy trì và phát huy văn hóa VN nơi xứ người. Và tôi cũng cảm ơn Ban Giám Khảo, đã chọn tôi vào danh sách những người trúng giải- một điều mà tôi cảm thấy may mắn và được khích lệ mạnh mẽ để tiếp tục dấn thân trên con đường mà tôi đã chọn. Tôi rất thấm thía ý nghĩa: Tiếng Việt còn, nước Việt còn nên tôi đã tình nguyện dạy Việt ngữ tại trung tâm Việt Ngữ Wesley bấy nay với tấm lòng thiết tha mong mỏi thế hệ trẻ VN nơi xứ người không quên cội nguồn. Ở bên này, San Diego- San Jose thật xa xôi đối với một người không biết lái xe như tôi. Hơn nữa, tôi phải đảm trách lớp Việt ngữ vào cuối tuần nên không thể đến cùng quý vị và các bạn trong ngày lễ phát giải thưởng. Dám xin Ban Giám Khảo gửi giải về trung tâm Việt Ngữ Wesley, gọi là món quà tôi tặng cho trung tâm nói riêng và cho trẻ em VN tại đây nói chung. Kính chúc quý vị giám khảo và cơ sở Văn Thơ Lạc Việt một năm mới đầy thành công mỹ mãn.
* Giải Khuyến Khích với bài Buồn Trong Hy Vọng của Từ Thanh Hà Tên thật: Nguyễn Huy Chàng Sinh tại Thanh Oai, Tỉnh Hà Đông Nhập ngũ khoá 8/68 Trừ Bị, Phục vụ tại Tiểu Đoàn 10 và 50 CTCT Học tập cải tạo 4 năm 2 tháng Từ Nam ra Bắc rồi lại từ Bắc vào Nam 1982 vượt biển , tới Ku Ku Indonesia. Galang 1,Galang 2 , tới Mỹ ngày 13-12-82, thường trú tại Texas từ đó tới nay. Ông đã từng cộng tác với các báo Việt ngữ trong vùng, Thơ của ông cũng có trong các tuyện tập của Lạc Việt, Thi Văn Đoàn Bốn Phương. * Giải Khuyến Khích 2 với bài Lẽ Nào của Song Hạnh Song Hạnh hiện ở Lebanon, PA. Ông cũng không về tham dự được
 2- Văn:
* Giải Nhất với bài Thị Trấn Chula Vista của Nguyễn Trung Tây
* Giải Nhì với bài Kẻ Mạnh Kẻ Yếu của Trần Bình Minh
* Giải Ba với bài Hồn Ma Đòi Áo Quan của Lưu Thái Dzo
* Giải Khuyến Khích 1 với bài Nụ Hôn Đầu của Hoa Biển Phạm Hữu Huê
* Giải Khuyến Khích 2 với bài Ảnh Hưởng Nghề Nghiệp của Phạm Thị Thu Hiền
* Giải Nhất với bài Thị Trấn Chula Vista của Nguyễn Trung Tây Nguyễn Trung Tây sinh năm 1961 tại Sài Gòn, lớn lên tại San Jose, California. Hồi xưa làm thuyền nhân tại đảo Pulau Bidong. Hiện đang làm Giáo sư Kinh Thánh tại Đại Học Thần Học Yarra Theological Union, Melbourne, Úc Châu. Ông đã cộng tác với Làng Văn, Hợp Lưu, các trang lưới Da Màu, Dũng Lạc. Có một số truyện ngắn xuất hiện trên Văn và Văn Học. Truyện ngắn đã xuất bản: Quán Rượu Nửa Đêm (Tuyển tập truyện ngắn do Đại Chủng Viện Ngôi Lời xuất bản, 2004), Ốc Mượn Hồn (Tuyển tập truyện ngắn do Dân Chúa Úc Châu xuất bản, 2007). Nguyễn Trung Tây yêu mến triết học tử tế và kính trọng người tử tế. Và thế là dư thừa để sống hạnh phúc. Ông Nguyễn Trung Tây đã nói như thế và hôm nay cố gắng vượt dặm ngàn về đây mong được gặp gỡ mọi người, nơi trước kia đã từng sinh sống và để lãnh giải Nhất về Văn.
* Giải Nhì với bài Kẻ Mạnh Kẻ Yếu của Trần Bình Minh Trần Bình Minh không đến lãnh giải được nên gửi cho Ban Tổ Chức thư như sau: Tôi là Trần Bình Minh, sinh năm 1962, sống trong thời đảng trị đã lâu nên tuy có muôn mối hận thù với Đảng song vì sợ bị trù dập, tương lai con cái bị ảnh hưởng nên luôn nén lòng vì nhát sợ. Qua việc bí mật tiếp xúc với các nhà dân chủ trong nước, đặc biệt là tấm gương anh hùng của anh thư Lê thị Công Nhân tôi thấy xấu hổ cho cái trí làm trai của mình liền mạnh dạn gửi bài đến ban tổ chức cuộc thi. Kính mong Ban tổ chức dồi dào sức khoẻ, thu được nhiều thắng lợi trong cuộc thi lần này. Tương lai sáng lạn cho dân tộc Việt đang gần kề, có công rất lớn của những người đứng ra tập hợp bài vở, tổ chức các cuộc thi như thế này. Hà Nội – Nơi núi hồn lắng sông ngàn năm, song lại trở thành nơi tù đọng 78 năm qua vì bao nhiêu tội lỗi của Đảng để lại trên mảnh đất này.
* Giải Ba bài Hồn Ma Đòi Áo Quan của Lưu Thái Dzo Tên Thật  Hoàng Huy Năng Sinh Quảng Bình, Cựu Học Sinh Trường Thiên Hữu Huế. Theo học Khóa 5 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Mười ba năm làm cải tạo viên. Hiện định cư tại Texas. Với bút hiệu đặc biệt, nếu chúng ta đọc ngược lại thành Do Thái Lưu, có một ý nghĩa rằng người Do Thái bị lưu đày. Ông nói rằng tên đó luôn nhắc nhớ ông về nguồn cội của mình và mong một ngày quang phục quê hương. Ông đã ấn hành 4 tập thơ và một truyện ngắn. Tập thơ nhan đề Mong Manh xuất bản năm 2006 viết chung với nhà thơ Xuân Bích. Ông cùng nhà thơ Hà Dzi lấy San Jose này làm nơi hội ngộ để gặp gỡ lại bạn bè sau thời gian dài xa cách, và sau đó lại rủ nhau suôi Nam bằng xe đò Hoàng, trên đường xa ngàn dặm để tìm đề tài cho những sáng tác mới.
 
* Giải Khuyến Khích 1 bài Nụ Hôn Đầu của Hoa Biển Phạm Hữu Huê Văn Thơ Lạc Việt đã cố gắng tìm cách liên lạc với nhà văn Hoa Biển, nhưng không được vì địa chỉ trong computer bị virus, xóa sạch, địa chỉ ngoài không có, nên hôm nay đành gửi lời nhắn này theo gió ngàn phương may ra tìm được tác giả của Nụ Hôn Đầu. Hy vọng Nụ Hôn Đâu không phải là Nụ Hôn Cuối. * Gi?i Khuy?n Khích 2 bài ?nh H??ng Ngh? Nghi?p c?a Ph?m Th? Thu Hi?n Phạm thị Thu Hiền người Hà Nội. Chúng tôi nhận được bài này trên E-Mail gửi đến xin dự thi. Sau khi download lấy bài thì computer cũng hoàn toàn không mở lại được. Khi mở ra được thì toàn bộ địa chỉ Mail bị mất hết. Cho nên chúng tôi cũng không liên lạc được. Xin quý vi nào biết đến Phạm Thị Thu Hiền đang ở Hanoi và cũng có viết những bài đấu tranh trên net thì làm ơn nhắn giùm để chúng tôi có dịp trao giải đến bà.
 
Giải Văn Thơ Lạc Việt 2008 đã vượt khỏi địa phương San Jose, lan ra toàn nước Mỹ và phóng tới toàn cầu. Nhờ có mạng lưới mà các bài thi được gửi tới không sợ bị kiểm duyệt. Tác phẩm được chuyển đến Ban Tổ Chức dễ dàng, nhanh chóng. Cuộc thi cũng quy tụ được rất nhiều người đã thành danh nên rất hào hứng và giá trị. Trong tương lai tuyển tập các bài dự thi có thể sẽ được ấn hành để ghi dấu những bài thơ và văn hay. Nhà thơ Đông Anh cho biết Ban Tổ Chức đã gửi thư thông báo theo bưu điện và E-Mail đến mọi người dự thi như sau:
 
Thông Báo Bằng E-Mail Trân trọng thông báo đến Quý vị tham dự cuộc Thi Truyện Ngắn và Thơ được rõ: Giải Thi Truyện Ngắn và Thơ do Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt với tên là Giải Văn Thơ Lạc Việt 2008 tổ chức đã có kết quả. Xin gửi Quý vị Bản Thông Báo kết quả đính kèm. Vì số người dự thi đông mà số giải bị hạn chế nên phần nhiều trong quý vị đã không đoạt giải. Chúng tôi rất lấy làm tiếc. Năm tới nếu tình hình cho phép chúng ta lại có cuộc thi mới, chúng tôi tin rằng sẽ hào hứng hơn, hoàn mỹ hơn. Ngoài E-Mail này chúng tôi sẽ gửi thư bằng bưu điện đến địa chỉ của quý vị đã cho. Sau nửa năm làm việc, đọc bài của quý vị, xếp hạng, xếp loại theo
yêu cầu của Ban Giám Khảo, chúng tôi thật sự cảm phục sức sáng tác của quý vị, và hy vọng rằng tình nghĩa văn chương sẽ bắt đẩu nảy nở. Địa chỉ liên lạc:
Webside Address:       
www.vantholacviet.com                         
www.vantholacviet.com
E-Mail Address:     
cosovantholacviet@yahoo.com     
donganhndt@yahoo.com
 
Trong phần cảm tưởng sau khi lãnh giải, nhà thơ Hà Dzi đã cho biết Thơ là một thú đam mê, đam mê từ lời, từ ý, thơ là một cấu trúc cuốn hút tâm hồn người yêu thơ. Ông phải nghỉ dạy học một kỳ để về đây lãnh giải một ngày, nhưng đó thật sự là nguồn vui.
Nhà văn Nguyễn Trung Tây nói về cảm tưởng của mình đã cuốn hút người nghe qua câu truyện tử tế. Ông nhớ về lúc vượt biên thất bại phải đi ăn xin giữa chợ để cảm nhận được những tấm lòng tử te.á Đó là nguồn cảm hứng cho bài văn dự thi Thị Trấn Chula Vista đoạt giải nhất. Sau này mọi người mới được biết ông là một linh mục đang dạy thần học tại một trường đại học Công Giáo tại thủ đô Úc Đại Lợi.
CSVT Lạc Việt 



Lê Văn Hải : Văn Thơ Lạc Việt họp tại nhà hàng Mỹ Tho March 4, 2011

Cám ơn quí anh chị trong Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt và thân hữu đã tham dự đông đủ buổi họp đầu xuân tại nhà hàng Mỹ Tho March 4, 2011 thật vui vẻ và hào hứng.

Lế Văn Hải.