Thông Báo lễ phát giải thi văn thơ 2008 của Cơ Sơ VTLV (Chinh Nguyên)

 

 

Ban Giám Khảo

Thiệp Mời Lễ Phát Giải

Thông báo bằng e-mail

Thông Báo Kết quả

Thông báo phát giải

 slide Show Bài Ca Lạc Việt

Ghi chú: Xin tắt Audio thông báo trước khi click vào slide show Bài Ca Lạc Việt để coi hình và nhạc.

 

 

 

 

 

 

 

 




Giang Thiên Tường: Giải nhất. Năm truyện ngắn trúng giai Văn Thơ Lạc Việt 2010

01 văn

Bài văn Đứa Con Đầu Lòng sau đây của tác giả Giang Thiên Tường là bài được giải Nhất về Văn trong Giải Văn Thơ Lạc Việt 2010. Được biết Giải Văn Thơ Lạc Việt khởi đầu từ năm 2008, đến nay đã được 3 năm. Cuộc thi hàng năm gồm có 3 giải chính thức và 2 giải khuyến khích cho mỗi bộ môn thơ và văn nhằm khuyến khích mọi người sáng tác để phát huy văn hóa Việt Nam ở hải ngoại.

Chúng tôi xin giới thiệu cùng quý độc giả bốn phương.

VTLV

ĐỨA CON ĐẦU LÒNG

 

Tiến đứng dậy định đi tới đi lui trong phòng cho đỡ sốt ruột vì chờ đợi đã quá lâu, nhưng chợt thấy căn phòng chờ này quá chật mà người đợi khá đông nên đành ngồi trở xuống, tiếp tục xem báo. Phòng mạch của bác sĩ Nhân nằm tại một địa điểm có đông người Việt và hơn nữa bác sĩ cũng là người được tín nhiệm trong nghề nghiệp nên thân chủ rất đông. Bác sĩ lại không tiếp khách theo lối hẹn trước mà chỉ phục vụ theo thứ tự tới trước vào trước; hôm nay lại là ngày thứ hai, bao nhiêu bệnh nhân loại nhẹ như nhức đầu, cảm… đều có thể chờ để đổ dồn vào ngày đầu tuần này.

Ngồi đợi đã gần hai tiếng đồng hồ mà vẫn chưa tới phiên. Tiến bồn chồn đọc hết tờ tạp chí này đến tờ báo quảng cáo khác, nhưng những hàng chữ, những hình ảnh quảng cáo của các tờ báo chỉ nhảy múa vô nghĩa trước mắt, không giúp gì cho Tiến quên bớt lo âu. Tiến không phải là bệnh nhân, sức khỏe của Tiến rất tốt, cả mấy năm không cần bác sĩ. Tiến chỉ đang lo cho đứa con đầu lòng mình đang lên cơn bệnh nặng mà bác sĩ Nhân là niềm hy vọng cuối cùng.

Tiến nhìn qua phòng chờ đợi một lần nữa: còn gần cả chục người, biết tới bao giờ mới tới phiên mình đây? Thời gian tâm lý của đợi chờ còn như kéo dài hơn nữa. Thực sự Tiến chẳng có vợ con gì cả, "đứa con đầu lòng" chỉ là danh từ Tiến đặt cho tác phẩm đầu tay của mình, đúng ra là một tờ báo của trường mà lần đầu tiên Tiến tự đứng ra gánh trách nhiệm làm chủ bút. Loại báo free các trường không gây lợi lộc cho người làm, thế mà vẫn ra nhan nhản. Đó không phải vì ở Mỹ dư giấy mà chỉ vì anh em sinh viên yêu văn nghệ mà thôi. Có những bạn trẻ trước đây ở quê nhà không hề cầm bút viết văn hay biết chút ít gì về kỹ thuật làm báo, thế mà qua đây tự nhiên trở nên thi sĩ, văn sĩ và cả chủ bút nữa. Có thể bầu không khí tự do cởi mở ở đây đã khơi dậy cảm hứng và tiềm năng nghệ thuật nơi mọi người.

Tuy viết văn làm thơ ở đây thì dễ, chớ ra một tờ báo free thì không dễ chút nào, nhất là đối với sinh viên không có một đồng xu dính túi. Hôm qua, Tiến giao cho một số bạn đi quyên tiền, nhưng không biết họ ăn nói làm sao mà cả bọn thất thểu trở về với vài chục đồng. Lần này, Tiến nhất quyết đích thân chỉ huy đi quyên tiền cho bằng được, không thể chậm trễ nữa. Tờ báo này có chủ đề là "Mùa Thu", bài vở bắt đầu được thu thập từ đầu mùa cho tới nay mới tạm đủ thì cũng vừa vặn gần hết mùa thu rồi! Phải công nhận anh em làm văn nghệ lần này thật xuất sắc, không ai lạc đề cả, tất cả đều viết đúng chủ đề mùa thu: có những bài thơ như: "Đêm Thu", "Tiếng Thu", "Mưa Thu", những truyện ngắn "Rừng Thu", "Mùa Thu Trong Mơ". Nhưng nay đã tàn thu lá sắp hết bay rồi, nguy là ở chỗ đó! Nếu chậm trễ nữa, mùa đông tới thì bao nhiêu tác phẩm về thu phải dẹp qua bên, và điều đó có nghĩa là đứa con văn nghệ đầu lòng phải chết yểu!

Ý thức được tình hình khẩn trương, hôm nay Tiến lập tức huy động chủ lực để hành động. Hải "Phao Câu", trưởng ban báo chí, Loan "Tóc Ngắn", trưởng ban thể thao và Yến "Bồ Câu", trưởng ban xã hội. Lần đi quyên tiền này cũng không may mắn hơn hôm qua. Cả bọn đi hết cả ngày, vòng qua hết mấy tiệm Việt Nam mà chưa tới được một trăm, có những nơi tỏ ra rất lạnh lùng không ủng hộ, có nơi cho lẻ tẻ vài ba đồng mà đòi hỏi biên nhận đủ điều.

Nhóm thu tiền mệt mỏi và chán nản "lết" tới chợ Tân Tiến thì đã gần chiều và lại rước thêm một thất bại chua cay nữa. Đây là một trong những chợ lớn nhất của thành phố và có tiếng là cho tiền quảng cáo khá nhiều, thế mà hôm nay gặp ngày xui xẻo quá, họ trả lời dứt khoát không cần quảng cáo nữa! Yến "Bồ Câu" chán nản, mếu máo đòi về: "Mẹ không cho em đi đâu quá 5 giờ chiều!" Còn Loan cũng kiếm chuyện có hẹn đi làm răng. Hải "Phao Câu" đã chuồn mất tự hồi nào rồi.

Ông chủ bút Tiến hoàn toàn cô đơn, đau khổ và tuyệt vọng! Nhưng một tia sáng vụt lóe ra ở cuối đường hầm. Tiến bỗng chợt nhớ đến bác sĩ Nhân. Bác sĩ Nhân là người thường đứng đầu danh sách quý vị hảo tâm trong việc giúp đỡ các đoàn thể và báo chí. Phải, chỉ có bác sĩ Nhân là niềm hy vọng cuối cùng cho cơn bệnh ngặt nghèo của đứa con đầu lòng mình.

Tiến buông tờ báo đang đọc xuống, nhìn lại phòng chờ.

– Còn ba người.

– Còn hai người.

Rồi cuối cùng là đến lượt Tiến. Tim Tiến đập rộn rã giống như hồi còn đi học tiểu học, khi gần tới phiên mình lên trả bài, dù có thuộc bài đến đâu, tim Tiến cũng đập như muốn vỡ lòng ngực. Lần này cũng phải trả bài thật chớ không chơi đâu, đậu hay rớt là lúc này đây.

– Kính chào bác sĩ.

– Sao? Anh nghe sao đây? Bác sĩ hỏi với một giọng mệt mỏi sau một ngày làm việc vất vả với quá nhiều bệnh nhân.

Tiến cảm thấy mình ở tư thế khá bất lợi, nhưng cũng cố đọc bài "diễn văn" đã soạn sẵn:

– Dạ, tôi là đại diện của trường… chúng tôi chuẩn bị cho ra một tờ đặc san, trước tiên là để phát huy Việt ngữ và phổ biến văn nghệ, sau nữa là để thắt chặt tình đoàn kết trong cộng đồng người Việt Nam tại đây. Chúng tôi cần sự giúp đỡ của…

– Trời! Bác sĩ ngắt ngang, vậy anh không phải là bệnh nhân? Tại sao anh không cho tôi biết để tôi mời vào ngay?

– Dạ, tôi có nói với cô y tá, nhưng chắc cô ấy quên.

Tiến khấp khởi mừng thầm vì thái độ đầy khích lệ của bác sĩ. Thừa thắng, Tiến đưa bản thảo tờ báo ra khoe:

– Đây là tờ đặc san tương lai của chúng tôi, đã đánh máy xong chỉ chờ in, bài vỡ rất phong phú và xuất sắc. Chúng tôi có dành một số trang ở phần sau để quảng cáo. Nếu bác sĩ muốn thì…

– Tôi không cần quảng cáo! Bác sĩ ngắt lời một cách mau lẹ.

Tiến giật mình ân hận: vậy là mình vừa "tái phạm" một lỗi nặng nữa rồi! Các nhà buôn lớn, các bác sĩ đắt khách đều không cần quảng cáo. Họ từ chối cho tiền rất dễ dàng.

Tiến quyết định đổi chiến lược.

– Thưa bác sĩ, anh em chúng tôi rất yêu văn nghệ. Đây là một đặc san đầy nghệ thuật, vì chúng tôi tập trung tất cả các các cây bút xuất sắc của trường để viết về một chủ đề duy nhất là mùa thu.

Tiến lật qua từng tờ bản thảo của tờ báo cho bác sĩ xem, nhân tiện "quảng cáo" tiếp:

– Trong này có một bài viết rất đặc sắc là bài "Mùa Thu Trong Thơ" bao gồm những áng thơ tuyệt tác của các thi sĩ như Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận.

Bác sĩ lơ đãng liếc qua các trang và bất ngờ hỏi:

– Xuân Diệu, Huy Cận là ai?

Tiến có hơi ngạc nhiên. Bác sĩ không biết chút gì về thi ca hay cố ý muốn đố mình chơi? Dầu sao, Tiến cũng trúng tủ đối với câu hỏi này nên trả lời thao thao bất tuyệt:

– Dạ đó là hai khuôn mặt lớn của thời thi ca tiền chiến lãng mạn, thời kỳ mà các tinh hoa nghệ thuật Việt Nam đồng rộ nở…

– Thôi được! Bác sĩ có vẻ không chú ý đến lời giải thích của Tiến và tươi cười nói:

– Tôi không cần quảng cáo cho lắm nhưng tôi sẽ ủng hộ các anh. Anh biết tại sao không?

– Dạ…

– Tôi thông cảm hoàn cảnh của các anh lắm, vì hồi trước tôi cũng gặp những khó khăn như vậy.

– Bác sĩ đã từng làm báo?

– Đúng!

Gương mặt bác sĩ mơ màng như trở về dĩ vãng:

– Lúc còn là sinh viên Y khoa tôi cũng như các anh rất say mê văn nghệ.

– Chắc bác sĩ viết nhiều lắm?

– Tôi viết và nhất là làm thơ. Lúc đó là: "Một thuở yêu em làm thơ" của tôi đó.

Tiến giữ yên lặng để bác sĩ tận hưởng dĩ vãng thơ mộng của ông.

– Anh cần bao nhiêu? Bác sĩ bắt đầu tỉnh giấc mơ và trở về thực tại.

– Dạ, đó là do lòng hảo tâm của người cho. Phí tổn tổng cộng của chúng tôi khoảng năm sáu trăm; đó là giá chót của ấn loát, thế mà chúng tôi chỉ mới được ủng hộ không đầy một trăm. Tiến kể lể với giọng điệu thật thểu não.

Bác sĩ móc ví, trang trọng đưa cho Tiến số tiền mặt ba trăm. Tiến choáng váng vì số tiền khá lớn và cử chỉ đầy nghĩa hiệp này. Như vậy đứa con văn nghệ đầu lòng của mình đã thoát nạn! Mình chỉ cần đi một vòng ngắn "bố" thêm vài ông chủ tiệm sửa xe nữa là đủ tiền in tờ báo rồi. Tiến run rẩy tiếp nhận số tiền của ân nhân và bày tỏ lòng biết ơn một cách kiểu cách:

– Dạ tôi xin thành thật cảm tạ bác sĩ đã cứu chữa cho đứa con đầu lòng của tôi thoát khỏi…

– Đứa nào? Bác sĩ ngắt lời, phải em bé bị nhiễm trùng đường tiểu tuần trước không?

Biết là mình đã tạo hiểu lầm cho bác sĩ, nhưng Tiến cảm thấy không thể đính chính được nữa, đành nói luôn:

– Dạ phải, cũng nhờ bác sĩ cho toa, cháu nó uống có vài viên trụ sinh là khỏi bệnh.

Bác sĩ bất ngờ nổi giận la ầm lên:

– Trời! Trụ sinh mà anh sử dụng bừa bải vậy à? Tôi đã dặn phải cho uống ngày bốn viên liên tục trong hai tuần mà. Uống vài viên trụ sinh rồi ngưng, vi trùng sẽ kháng thuốc, anh có hiểu không?

Nhờ biết qua chút đỉnh về cách sử dụng thuốc, Tiến chữa tội dễ dàng:

– Tôi cho cháu nó uống vài viên Tylenol là đỡ đau ngay, nhưng về trụ sinh thì tôi cho nó uống rất đúng liều lượng.

Gương mặt bác sĩ đầy lương tâm chức nghiệp dịu lại ngay. Bác sĩ đứng dậy, tươi cười từ giã:

– Thôi, tôi chúc anh được nhiều thành công trong tờ báo sắp tới.

Bác sĩ đưa Tiến ra khỏi cửa và nói thêm:

– Cho tôi gởi lời thăm các anh em sinh viên trong ban biên tập. Chúc các anh hăng hái sáng tác.

Tiến không quên cám ơn lần nữa vị bác sĩ có lương tâm và đầy nghệ sĩ tính nầy và trong lòng Tiến đang rạo rực một niềm vui và một niềm hãnh diện vô biên:

"Chắc chắn tuần sau này, đứa con đầu lòng của mình sẽ vượt được mọi khó khăn để ra mắt mọi người. Nó không tạo ra cho mình bất cứ lợi lộc hay tiền bạc, hoặc danh lợi nào cả, nhưng nó sẽ là phần thưởng sáng giá nhất của con người văn nghệ. Nó không dành riêng để tặng một cá nhân nào mà nó chỉ phục vụ cho tất cả mọi người biết thương yêu nó. Điều chắc chắn là đứa con tinh thần này không những biết ơn cha mẹ đã cưu mang nó mà còn đội ơn những vị đỡ đẻ là những nhà mạnh thường quân đầy hảo tâm và yêu nghệ thuật".

(Giang Thiên Tường là bút hiệu của Tô Vĩnh Phúc hiện cư ngụ tại Sacramento, California)




Đại Đế Quang Trung Trận Đánh Cuối Cùng Dứt Họa Bắc Thuộc của nhà văn Vũ Ngọc Đĩnh.

Chinh Nguyên thành thực cám ơn những quí vị mạnh thường quân có tên trong danh sách dưới đây, đã hổ trợ cho Chinh Nguyên có một số tài chánh để phát hành tác phẩm văn chương "Đại Đế Quang Trung Trận Đánh Cuối Cùng Dứt Họa Bắc Thuộc" của nhà văn Vũ Ngọc Đĩnh.
Chân thành cám ơn nhà Báo Lê Văn Hải đã đứng bao chót tất cả chi phí in ấn còn thiếu và sẽ tổ chức ra mắt tác phẩm.

Nếu quí vị trên net FB muốn mua sách cũng như ủng hộ nhà văn đối kháng Việt Nam Cộng Sản, xin giúp Văn Thơ lạc Việt phổ biến và mua sách. Tổng cộng tiền bán sách thu dược sẻ gởi về tặng tác gỉa.

Sách gía $20.00 Mỹ kim. Ngoài USA xin cộng thêm tiền gởi cước phí $5.00 Mỹ kim. 

Nếu quí vị mua sách xin liên lạc với :
Văn Thơ Lạc Việt 
(Chinh Nguyên)
(408) 279-2532
640 Rettus Ct. San Jose CA 95111
U.S.A.

Hoặc gởi check về :
Văn Thơ Lạc Việt 
640 Rettus Ct. San JOse CA 95111
U.S.A.

Danh sách hổ trợ in tác phẩm của 
Nhà Văn Vũ Ngọc Đĩnh.
“Đại Đế Quang Trung Trận Đánh Cuối Cùng Chấm Dứt Họa Bắc Thuộc”

Sô TT , Họ và tên Hổ trợ Ghi chú 

1/ Mr. Tony Đinh (21 Centery) $300.00 Chinh Nguyên đã nhận
2/ Mr. Phạm Đức Vượng $200.00 (Check đang tới từ BS Phạm Đức Vượng) 
3/ Mr. Chu Tấn $100.00 Chinh Nguyên đã nhận
4/ Mr. Thư Sinh $100.00 Chinh Nguyên đã nhận
5/ Mr. Thanh Thương Hoàng $100.00 Chinh Nguyên đã nhận .
6/ Mr. Đông Anh $100.00 Chinh Nguyên đã nhận
7/ Mr. Giao Chỉ $100.00 Chinh Nguyên đã nhận
8/ Mr. Nguyễn Phi $100.00 Chinh Nguyên đã nhận
09/ Mr. Chinh Nguyên $100.00 Chinh Nguyên đã nhận
10/ TS Nguyễn Hồng Dzũng $100.00 Chinh Nguyên đã nhận
11/ BS Hồng Hà $100.00 Chinh Nguyên đã nhận
12/ Mrs Nguyễn Thanh Xuân $100.00 Chinh Nguyên đã nhận
13/ GS Nguyễn Cao Can $100.00 Chinh Nguyên đã nhận
14/ Mr. Lê Đình Thọ $100.00 Chinh Nguyên đã nhận
15/ Mr. Đỗ Hữu Nhơn $100.00 Chinh Nguyên đã nhận
16/ Thằng Mõ Nhà báo Lê Văn Hải $xxx.00 Người quan trọng, bao chót.

Tồng cộng Chinh Nguyên đã nhận : $1600.00 đô la

*************************************************************

NHỮNG TÁC PHẨM của
Nhà văn : VŨ NGỌC ĐĨNH

***

Đã xuất bản : (trước 1975)
1- Mười Hai Sứ Quân tiểu thuyết lịch sử
2- Máy cưa máy khoan truyện
3- Trên tháp chuông nhà thờ truyện
4- Một màn xiếc truyện
5- Bàn tay trên cỏ truyện
6- Tình trên non cao dịch “La Maison de Petrodava”của C.Virgil Georghiu
nhà xuất bản Âu Cơ-Saigon, ký tên Lê Vũ
7- Niki truyện con chó tác giả Roumanie không nhớ tên

Đã xuất bản (sau 1975) 
1- Mười Hai Sứ Quân * tiểu thuyết lịch sử,nxb Trẻ tp HCM-1999
2- Bắn Rụng Mặt Trời * tiểu thuyết lịch sử nhà Trần phá Nguyên Mông ,
nxb Trẻ tp HCM-2000
3- Hào Kiệt Lam Sơn (Lê Lợi đuổi Minh)tiểu thuyết lịch sử-1995
4- Ứng Vận Thần Vũ (Lê Đại Hành Hoàng đế phá Tống)tiểu thuyết lịch sử; nxb 
Văn Hóa Thông Tin tp. HCM-2005
5- Đôi Hài Tiên truyện thần tiên VN **
6- Chiếc Mõ Sừng Trâu truyện thần tiên VN
7- Ngọn Đèn Lưu Ly truyện thần tiên VN
8- Thủy Thủ Khăn Vàng truyện thần tiên VN
9- Cô Gái Tật Nguyền truyện thần tiên VN
10- Miếng Da Ếch truyện thần tiên VN
11- Chiếc Chiếu Thần truyện thần tiên VN
12- Hoa Trường Mộng truyện thần tiên VN
13- Ống Sáo Thần Kỳ truyện thần tiên VN ( 9 truyện thần tiên này xb năm 1993, nxb Văn Hóa tp.HCM
14- Tự Điển Anh-Việt Bộ Giáo Dục và Đào Tạo-Trung Tâm Ngôn Ngữ và Văn 
Huyết Hoa VN-nxb Thế Giới-1994
15- Tự Điển Pháp Việt nxb Thế Giới-1995 –Công ty Phát hành Sách FAHASA tp 
HCM
16- Tự Điển Thương Mại Anh-Pháp-Việt -2003 , Nhà Xuất Bản Thống Kê – 
Hội Ngôn Ngữ Học thành phố HCM
17- Musashi Giang Hồ Kiếm Khách tác giả Eiji Yoshikawa; tiểu thuyết kiếm đạo kiệt
xuất của Nhật Bản 2000 trang,dịch theo bản tiếng Pháp, nxbVăn Học tp.HCM
2008
* Hai bộ tiểu thuyết lịch sử (mỗi bộ 8 tập – 3000 trang) Mười Hai Sứ Quân, Bắn
Rụng Mặt Trời, đã được Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ ghi tên và bảo vệ tác 
quyền trên toàn thế giới cho tác giả ; 

** Bộ 9 truyện thần tiên (tổng cộng 2000 trang)

Các tác phẩm chưa xuất bản :
1- Ca Dao & Tục Ngữ Dẫn Giảng 6100 trang
2- Ca Dao thời Cộng sản 500 trang
3- Lý Thường Kiệt Phạt Tống-Phá Tống , tiểu thuyết lịch sử 1615 trang khổ lớn
4- Lịch sử & các thành cổ VN 
5- Bảo Toàn & Ngày gặp lại
6- Sao Mai Đã Mọc, Này Cai Ngục…
7- Buồn Cười Chả Được
8- Tiếng Hát Bên Trong Cửa tiểu thuyết
9- KÀMA SÙTRA bộ sách kinh điển của Ấn độ về đạo đức và thực hành tình dục
có từ trước công nguyên, viết lại bằng tiếng Phạn cổ thế kỷ thứ 4 sau công
nguyên, giáo sư học giả Alain Daniélou dịch trọn bộ sang tiếng Anh , bản duy 
nhất trên thế giới không cắt bỏ một dòng một chữ nào, nxb Park Street Press-
Rochester, Vermon USA, bản dịch tiếng Việt của VNĐ năm 1997.
10- Núi Hồn Tanios Le Rocher de Tanios, tác giả là nhà văn nhà báo người Liban,
từng chu du hơn 60 nước trong đó có cả VN thời chiến, tác phẩm viết bằng 
tiếng Pháp,là tiểu thuyết lịch sử vùng Trung đông, được giải Văn học Goncourt 
năm 1993, tác giả được ghi nhận là “nhà kể chuyện kiệt xuất”, VNĐ dịch xong 
năm 1999.
11- Những Âm Thanh Nhức Buốt Ngàn Đời
12- Sao Mai Đã Mọc, Này Cai Ngục…
13- Chửi
14- Đại Đế Quang Trung –(Quang Trung đả bại Đại Thanh Càn Long–Trận đánh cuối cùng kết thúc nghìn năm Bắc thuộc)
15- Ngô vương Quyền
16- Hai Bà 
Trung Nguyen
Ba cuốn cuối (14-15-16 đang tiếp tục viết (2013))

*****
Vũ Ngọc Đĩnh sinh năm 1933 tại Hà Nội
Di cư vào Nam : 1954
Dạy học, viết báo, biên tập viên trưởng Tin Tức Đài Phát Thanh Saigon, đài Phát thanh Voice of Freedom (Saigon).
Sau tháng Tư 1975 đi tù về tội “ hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân 80-88”, tiếp tục viết.

LỜI DẪN 
"Đại Đế Quang Trung Trận Đánh Cuối Cùng Dứt Họa
Bắc Thuộc" của nhà văn Vũ Ngọc Đĩnh.

Lịch sử nước Việt Nam ta, trải qua bốn ngàn năm, đến thời Hai Bà Trưng dựng cờ đuổi quân Nam Hán lấy lại nước (n?m 43 sau TL), cứu muôn dân, xuống đến hùng tài Ngô Quyền phá giặc Bắc chém đầu thái tử Hoằng Thao bên sông Bạch Đằng dựng nghiệp Ngô Triều, rồi Đinh Tiên Hoàng ?? kh?i nghi?p trị loạn, thống nhất giang sơn, tiếp nối là nhà Tiền Lê với Thiên tướng Lê Hoàn cũng mở nghiệp bằng lấy đầu nguyên soái binh Tống Hầu Nhân Bảo giữ vững giang sơn truyền sang đến Triều Lý, lại gặp phải Tống đế tham tàn quyết nối chí tổ tiên m? thu phục tộc Việt, cậy có danh tài An Thạch họ Vương giữ ngôi Tể tướng dựng đại mưu cướp Đại Việt để cứu loạn bên trong, sai lấy ba châu Ung, Khâm, Liêm ở cực nam Hoa lục làm cứ địa sửa soạn đại hùng binh quyết hoàn thành ước vọng của tổ tiên suốt ngàn năm trước, chẳng may lại gặp phải tướng nhà trời văn võ kiêm toàn Lý Thường Kiệt của nước Nam đề binh thủy bộ sang tận ba châu Ung Khâm Liêm trừng trị, rồi tiếp đến đại phá vẫn giặc Tống trên sông Như Nguyệt giữ giang sơn an bình thịnh trị gần hai trăm năm, cho đến khi giặc du mục hiếu chiến Mông Cổ vượt Trường Thành Vạn Lý lấy Bắc Kinh, diệt nhà Hán mở ra kỷ nguyên Nguyên Mông cực hùng mạnh đánh chiếm gần trọn thế giới, tới lúc ấy giặc Bắc mới lại dám dòm ngó nước Nam, ngông cuồng ba lần đề hung binh cuồng tướng dẫn đại quân xuống cướp Đại Việt, cả ba lần đều bị thiên tướng Trần Quốc Tuấn triệt diệt, Nguyên chúa khóc hận từ đây ngưng binh tan mộng bá chủ địa cầu rồi tan rã sự nghiệp Nguyên Mông, mãi đến khi Triệu Khuông Dận giành được ngôi thiên tử ở Trung nguyên lập ra nhà Minh, thì giặc Minh lại dại dột đề hùng binh xuống cướp Đại Việt, lần này giặc Bắc gặp phải hào kiệt Lê Lợi ở đất Lam Sơn hưng binh hơn 10 năm kháng chiến buộc nguyên soái Vương Thông nhà Minh phải quỳ xuống đi bằng đầu gối mở cửa thành ra cầu hàng, nghĩ rằng từ đây nước Nam được yên ổn, nào ngờ đến đời nhà Thanh c??p ngôi nhà Minh, đế hiệu Càn Long cậy võ nghiệp lẫy lừng, lại thêm bên trong nước Đại Việt nhà Hậu Lê tàn mạt không giữ được nước nội chiến kéo dài giữa các họ Lê Trịnh Mạc ở phía Bắc, hai Nguyễn ở phương Nam, bên ngoài thì Xiêm La xấn tới, toàn cõi giang sơn trăm họ lầm than chưa từng thấy, Thanh đế Càn Long thừa cơ hội ngàn năm nay mới có : Lê Chiêu Thống cầu cứu, bèn sai Tổng Đốc Lưỡng Quảng xuất đại hùng binh, kéo xuống Đại Việt

Tình thế cực kỳ hung hiểm, tai họa mất nước vào tay gi?c ngoài, giang sơn cùng trăm họ dòng Việt tan nát sắp lại trở thành dân mất nước phải chịu nội thuộc nhà Thanh là điều đã rõ rệt. Trong hoàn cảnh ngặt nghèo như vậy, nước Nam lần nào cũng lại có hùng tài xuất hiện làm nên đại kỳ công lưu danh muôn thuở. Đấy là vĩ nhân anh hùng Nguyễn Huệ, binh chỉ xuất chinh một trận mà đại phá thiên binh triều Thanh, tru diệt quân ngông cuồng, giữ vững giang sơn, từ đây chấm dứt vĩnh viễn họa giặc Bắc, đưa dân tộc vững vàng vào thời tự chủ mới.

Tuyệt vời của Tổ Tiên ta ngày ấy, là ở chỗ : chẳng phải Đại Đế Quang Trung cầm quân chiến với Tiến sĩ văn học Tổng Đốc Nguyên Soái Tôn Sĩ Nghị thần tử của Triều Đại Thanh, mà chính là cuộc đấu trí đấu võ khốc liệt giữa hùng tài Đại Thanh Hoàng Đế Càn Long chiến với anh hùng thánh võ Nguyễn Huệ ! Cuộc đấu có một không hai này trong lịch sử hai nước Việt Hoa chỉ diễn ra có một lần duy nhất, Bắc sử ghi trong Đại Thanh Thực Lục, Nam Sử gần như hoàn toàn chẳng ghi lại chút nào !

Vì sao ? Hậu sinh không được biết ! Hậu sinh chỉ làm công việc âm thầm đi theo hai hùng tài, một già một trẻ, một Nam một Bắc, quan sát trí tuệ của hai bên, một Nam một Bắc, một già một trẻ, và ghi lại thành truyện Sử .

Hùng liệt cứu nước đại thành, nhưng trời chẳng chiều lòng chủng tộc Việt ! Đại hùng tài Thánh Võ Quang Trung yểu mệnh, giấc mộng lớn đề binh lên tận Bắc Kinh trừng phạt, đòi lại đất cũ lưỡng Quảng, tuyệt diệt vĩnh viễn họa Bắc xâm thế là thành mây khói, để lại tiếc thương không cùng cho Dân Tộc và Lịch Sử Việt Nam !

Để ghi lại sự nghiệp của tổ tiên qua Trận Đánh Cuối Cùng Chấm Dứt Họa Bắc Thuộc, chúng tôi lần theo đường đi cùng hành động của Đấng Nhân Thần Quang Trung Nguyễn Huệ, quan chiêm kỳ sử đại công của Ngài để cùng với dân tộc hôm nay vững niềm tin : giang sơn ta định phận từ sao Xích Quỷ sáng chói nhất trong chòm sao Nam trong Nhị Thập Bát Tú (1), cho nên loạn rồi lại trị, dân tộc ta cùng trời đất chung giòng nguyên khí, chắc chắn sẽ trường tồn cùng trời đất trong cuộc sống con người nhân bản đích thực, tổ quốc ta phải xứng đáng giữa hào quang của một thời đã từng diệt Nguyên Mông cứu cả nhân loại.

Với niềm tin ấy, toàn thể con dân tộc Việt dù ở phương trời nào, trong hoàn cảnh nào, cũng đều nên nghiệm Sử để xác quyết : quá khứ của tổ tiên ta đầy vất vả nhọc nhằn dựng nước rồi giữ nước, trong : diệt nội phản bán nước, ngoài : tận diệt ngoại xâm, vững non sông, bền dân tộc, đời nào cũng có Đấng Nhân Thần xuất hiện để lập thêm trang Quốc Sử Huy Hoàng.

_______________________________________
(1) Nhị thập bát tú : hai mươi tám chòm sao trên trời . Thiên văn cổ của ta (Tầu) chia bầu trời làm 4 phương, mỗi phương có một chòm sao gồm 7 nhóøm được kể như sau : Đông có nhóm Thanh Long (rồng xanh), 7 sao tạo thành là 1- Giác (Giốc) cá sấu, 2- Khương hay Cương (rồng), 3- Chi hay Đê (con cu li), 4- Phòng (thỏ), 5- Tâm (cáo), 6- Vĩ (cọp), 7- Cơ (con báo) ; Tây có nhóm Bạch Hổ (cọp trắng), 7 sao tạo thành là 1- Khuê (con sói), 2- Lâu (con chó), 3- Vị (chim trĩ), 4- Mão (con gà), 5- Tất (con quạ), 6- Chuỷ (con khỉ), 7- Sâm (con vượn) ; Nam có nhóm Chu Tước (chim sẻ đỏ), 7 sao tạo thành là 1-Tỉnh (con cầy), 2- Quỷ (con dê), 3- Liễu (con hoẵng), 4- Tinh (con ngựa), 5- Trương (con nai), 6- Dực (con rắn), 7- Chẩn (con giun đất) ;Bắc có nhóm sao Huyền Vũ (rùa và rắn đen), 7 sao tạo thành nhóm là 1- Đẩu (con cua), 2- Ngưu (con trâu), 3- Nữ (con dơi), 4- Hư (con chuột), 5- Nguy (con chim én), 6- Thất (con heo), 7- Bích (con nhím)
Hoàn cảnh, tình thế đất nước trong ngoài ở vào thời Đại Đế Quang Trung ba trăm năm về trước, có lúc nào lại là hoàn cảnh, tình thế đất nước ta vào một thời Lịch Sử nào không ? Có quan điểm : Lịch Sử không bao giờ lặp lại, cũng lại có quan điểm : Lịch Sử luôn luôn lặp lại. Có hay không lặp lại của Lịch Sử, thì với những hành động tráng liệt trùm trời đất của Tổ Tiên, cho phép con cháu các Ngài tin chắc rằng : Hồn thiêng của Tổ Tiên cùng với Chính khí của Trời Đất nghìn vạn năm vẫn bàng bạc khắp núi sông nước Việt,những lời răn dạy ở thời xưa nghiệm ở thời nay phải trải qua diễn trình trọn vẹn của Lịch Sử, chỉ khi dân tộc đã nhận chân được Sự Thật tuyệt đối, lúc ấy Hùng liệt mới xuất hiện, đúng như sự xuất hiện của Đại Đế Quang Trung bên thành Thăng Long xưa, khiến giặc nước trong ngoài chỉ một trận đánh năm ngày là dẹp xong, quét sạch nạn nước .

Con dân hậu duệ của Đại Đế kính cẩn ghi lại ở đây và đợi chờ tuyệt đại kỳ công của Ngài nhất định sẽ lại xuất hiện.

Tác giả Vũ Ngọc Đĩnh
2-9-2012
17-7-nhâm thìn

 




Tôi thấy, tôi hiểu Việt Nam ngày nay (Kiến Nâu)


Tôi thấy, tôi hiểu Việt Nam ngày nay

Kiến Nâu (HĐH)
TÔI THẤY:

Tôi thấy bộ mặt Sàigòn
Hiện nay đổi mới, nhưng còn chưa cao!
Nhìn những khách sạn năm sao
Nhà hàng “ vĩ đại” người vào người ra
Trung tâm “ thư giãn” mọc ra
Sang trọng tầm cỡ như là ở Anh
Vũ trường tráng lệ đua tranh

Giành giưt khách nhảy tung hoành hằng đêm
Nhiều trường tư thục mang tên
Danh nhân Anh – Mỹ lềnh khênh trên đường
Chương trình học cũng lạ thường
Tiền học phí đóng thảm thương dân thành
Mỗi tháng ngàn đô đành rành
Giai cấp nào đủ sở hành cho con?

TÔI HIỂU:

Tôi hiểu rằng các nơi nầy
Là nơi giải trí của bầy đảng viên
Ăn chơi phung phí xài tiền
Cùng con cái họ liên miên đêm ngày
Đến đây tìm gái , đánh bài ,

Rượu Tây “ Thư giãn” mỗi giờ vài chai
XO, rượu ngoại lai rai chuyện thường
Tiền tiêu đâu phải là lương
Tiền do tham nhũng mọi đường kiếm vô
Một đêm xài bứt ngàn đô
Đúng là quan chức “ cáo Hồ” thời nay
Vương tôn công tử (đỏ) cao tay
Còn chơi thuốc lắc tìm say cõi tình

TÔI THẤY:

Tôi thấy Sài – gòn người xe
Phố xá dầy đặc như khoe sự giàu
Nhiều cao ốc đẹp tường rào
Vật liệu nhập cảng đủ màu đỏ xanh
Bên cạnh nhà xí hội tanh
Cùng hố rác rưởi bu quanh nhặng ruồi
Ngày đêm bay hơi bốc mùi
Đem nhiều dịch bệnh điềm xui dân lành
Hàng triệu tiếng động cơ hành
Ngày đêm phun khói xả nhanh lên trời
Khói xe làm nghẹt phổi thôi
Hàng năm cả triệu người nhồi máu tim
Hệ thống cống rãnh giữ nguyên
Mỗi khi mưa đến triền miên nước đầy
Ngập lụt đến nửa ngọn cây
Người dân nhoi nhúc như bầy kiến hôi
Tiền ngoại viện trợ thừa vôi
Nhưng lại không thấy đắp bồi rãnh mương

TÔI HIỂU:

Tiền mất vì phải vào rương
Cán bộ cất kỷ vô phương đụng vào
Nhũng lạm làm cán bộ giàu
Xe hơi hàng ngoại đổ vào đầy kho
Hàng lậu Trung cộng tự do
Tràn ngập đất nước khổ cho dân mình
Chính quyền Việt cộng làm thinh
Không dám phản kháng lại đồng tình thêm
Thuốc lá ,bia lậu đi đêm
Cán bộ biên giới yếu mềm vì đô (1)
Trước kia “kháng chiến” tam vô (2)
Bây giờ “ độc lập” đi vồ của dân

Tôi hiểu Sài gòn chết dần
Bởi mốt nhậu – hút bình dân thượng thời
Giai cấp thống trị ăn chơi
Đảng viên, cán bộ nơi nơi đầy đàng
Già nhậu ,trẻ nhậu bò càng
Hút thì khỏi nói, toàn hàng Tây Âu
Ngày trước “ cán ngố” vùng sâu
Răng đen mã tấu một gầu thuốc rê
Bập phà cảm thấy đê mê
Nay là “ cán nhớn” lại chê thuốc lào
Craven- ba số lúc nào
Ở trong túi áo dạt dào hương thơm
Đi xe loáng bóng nguyên trơn
Mái tóc bạc thếch da mờn mốc meo
Lộ nguyên chân tướng dốt nghèo
Nhà quê lên tỉnh eo xèo năm xưa

TÔI THẤY:

Tôi thấy hiện tượng tiếm công
Lộng hành ngang ngược dân phòng công an
Hối lộ tệ nạn lệ làng
Bất thành văn kiện, nhưng càng viên niên
Chiếm đọat một nửa công viên
Làm nơi bán phở, đổi tiền đô la
Chưa thỏa mãn lại xây nhà
Đây ông “cán bự” phải là thường dân
Công an cũng chiếm lấy lần
Lề đường trước mặt nhà dân phố nghèo
Xây ki ốt bán thịt heo
Bia rượu nhậu nhẹt, tiền cheo hốt vào
Chẳng xem luật pháp ra sao
Công an nhỏ lớn làm giàu bất lương
Đó là do đảng chủ trương
Còn ai mà dám xuống đường kêu oan

TÔI THẤY:

Tôi thấy nỗi khổ dân làng
Không nhà không cửa lang thang ngoài đường
Trẻ con không được đến trường
Bà già ông cụ rách bương áo quần
Chân tay lở loét phù sưng
Lê trên ván gỗ cầm chừng xin ăn
Nhiều người bươi rác khó khăn
Cả ngày mới kiếm được dăm thỏi đồng
Và vài bịt giấy nylon
Đem về đi bán tiền nong độ ngày
Rất nhiều bé gái đắng cay
Hì hụt lao động cả ngày lẫn đêm
Nhiều em bán máu kiếm thêm
Nhưng cũng chẳng có đủ tiền nuôi thân
Khi bệnh duy nhất chỉ cần
Vài ba viên thuốc, cũng không tọai nguyền
Vào nhà thương chẳng có tiền
Bác sĩ, y tá đuổi liền không cho
Ra trước bệnh viện nằm co
Rồi chết không biết khổ cho phận người

TÔI HIỂU:

Con cháu cán bộ giởn vui
Quần áo phê phủ vú nuôi đàng hoàng
“Cóc” mà muốn học làm sang
Mang danh “ công tử” nghênh ngang phá làng
Nhờ vựa vào ánh hào quang
Cha, ông đảng cộng lộng tàng che thân
Ngày xưa là lũ bần nhân
Ngày nay được dịp vét dần tóm thâu
Châm ngôn “ vơ vét” làm đầu
Miễn sao đầy túi ấm gầu hầu bao
Mặc kệ ai chết ra sao?

TÔI THẤY:

Tôi thấy được nơi thôn quê
Sau ngày Việt cộng đi về mươi năm
Người dân sống dưới trăng rằm
Điện đèn không có tối tăm mây mù
Đường sá ổ gà lu bù
Cầu tre lắc lẽo lật vù người qua
Đời sống dân thực kém xa
Các nước châu Á như là Thái Lan
Cán bộ xã ấp nghinh ngang
Bọn họ là một ông hoàng ngày xưa
Gái tơ bắt ép chẳng chừa
Vợ ba vợ bốn con thừa con rơi
Dân làng nghe tới rụng rời
Miền Tây có gả cán Tơi Cái Bè
Tên này mối lái buôn ghe
Buôn luôn phụ nữ đóng bè sang Miên
Làm gái nhà thổ trường niên
Có em mười tuổi thân duyên chưa đầy
Còn nạn tìm chồng bên Tây
Đài Loan ,Trung Quốc họ bày nhiều chiêu
Khổ cho gái việt đủ điều
Phơi hết “ đồ quý” để chiều người xem
Và rồi để được làm quen
Một tên già chát , tật nguyền đời chê
Vì tiền thân phải ủ ê
Chồng Hàn, vợ Việt thảm thê cuộc đời

Tội này không phải do Trời
Mà cũng không phải do người dân Nam
Tội này của bọn ác gian
Đảng Cộng sản Việt làm tan nước nhà
Thuần phong mỹ tục bể ra
Cái thứ “ khỉ đột “ chun ra từ rừng.

KIẾN NÂU ( HĐH)




Huỳnh Tâm Hoài: Giải nhì. Năm Truyện Ngắn trúng giải Văn Thơ Lạc Việt 2010

02 Văn

 

Bài văn Gã Bất Cần sau đây của tác giả Huỳnh Tâm Hoài là bài được giải Nhì về văn trong Giải Văn Thơ Lạc Việt 2010. Được biết Giải Văn Thơ Lạc Việt khởi đầu từ năm 2008, đến nay đã được 3 năm. Cuộc thi hàng năm gồm có 3 giải chính thức và 2 giải khuyến khích cho mỗi bộ môn thơ và văn nhằm khuyến khích mọi người sang tác để phát huy văn hóa Việt Nam ở hải ngoại.

Chúng tôi xin giới thiệu cùng quý độc giả bốn phương.

VTLV 

                                            

 

Gà BẤT CẦN

                                                 

          Trước khi làm bản tự khai, tên quản giáo ngồi một chân để thổng, một chân chỏi trên mặt ghế. Hắn ngồi bật ngửa hút thưốc.Vài đám du kích mặt non choẹt mang vũ khí đủ loại đứng vòng ngoài phòng họp của trường trung học. Hắn từ từ đứng lên nói: Tất cả hồ sơ các anh chúng tôi đã nắm. Tội các anh theo Mỹ Ngụy đánh phá cách mạng là tội chết, nhưng nhờ lượng khoan hồng của nhà nước cách mạng các anh được tha và cho tập trung về đây để học tập chánh sách của nhà nước một thời gian ngắn rồi cho về với gia đình, làm công dân tốt của một nước Việt Nam dưới sự lảnh đạo của nhà nước xã hội chủ nghĩa và đảng Việt Nam quang vinh…..Hắn nói tràng giang đại hải như con vẹt, cuối cùng hắn gằn giọng: Các anh phải thật thà khai báo, các không qua mặt được chúng tôi, nhớ đó… Mọi người được cấp hai mảnh giấy trắng làm tờ khai lý lịch.

         Trong bản tự khai gã ghi sơ sài tên họ cấp bực, công vụ và địa chỉ tận miền Trung. Tư Cần trong ban quản giáo trại tù đọc tờ khai của gã và bắt gã làm lại có hơn ba lần, lần nào gã cũng khai y như củ. Tư Cần gọi gã lên la lối:

             – Anh chưa thành khẩn khai báo. Các anh khác khai đầy đủ còn riêng anh cứ còn dấu diếm. Tội không khai báo thành khẩn là tôi nặng anh biết không? gã thản nhiên trả lời:

              – Thưa anh, tôi đã khai đủ.

              – Anh không có thân nhân họ hàng?

              – Dạ đúng.

              – Ai sinh anh ra anh, anh không biết nữa hả!

              – Tôi không biết, hồi nhỏ tôi sống trong cô nhi viện nên không biết cha mẹ là ai. Tư Cần ngó anh luờm lườm và hỏi gằn:

              – Còn hoạt động đánh phá cách mạng anh ghi có bao nhiêu, đâu đủ!

      Gã nhỏ nhẹ:

              – Dạ đủ lắm rồi cán bộ. Cán bộ không tin cứ coi lại hồ sơ mà cán bộ có….

            Tư Cần bực tức, nhưng không biết phải làm gì với gã. Tư Cần đưa gã miếng giấy trắng khác và nói: Anh về khai lại cho đủ hơn, chưa thành khẩn…anh hiểu chưa???.Gã mang giấy về và vẫn khai y như củ. Tư Cần ra lệnh nhốt gã vào phòng tối hai tuần. Hôm tên du kích mở cửa phòng giam đặc biệt, tống anh về lại phòng, người anh xanh xao và hôi thúi. Mọi người dìu anh về chỗ nằm. Anh em trong phòng bịt mũi vì chịu không nổi mùi hôi thúi bốc ra từ cơ thể của anh. Suốt hai tuần ở trong phòng tối gã ăn, ỉa tại chổ. Với mỗi ngày một lon nước trong phòng tối om làm gì để có cái sạch sẽ. Hồi ở ngoài phòng anh cũng là chúa nhát tắm gội rồi. Thế là vài ba anh đề nghị góp nước và lót miếng nylon ra giữa phòng, mời kéo gã ngồi vào để lau chùi, kỳ cọ cho gã hết mùi hôi. Gần ba tháng trong phòng giam ai ai cũng có người thân gởi đồ ăn vào bằng cách nầy hay cách khác, riêng gã thì không thấy ai gởi. Anh em hỏi gã thì gã cười mĩm nói: Tôi con bà phước làm gì có ai gởi. Gã ít khi quan đến sinh hoạt trong phòng, ai kêu làm gì thì làm không thì nằm phì phà hút thuốc một mình, không tâm sự với ai, ai hỏi gã điều gì thì gã nói cái kiểu trớt quớt không đâu vào đâu. Ngày tháng bị giam tù không biết rồi sẽ ra sao? Mọi người buồn bã ra mặt, riêng gã thì không ai đoán được gã có buồn hay không. Gã sống lè phè với cơm phát, nước đong. Anh em thấy vậy nên chia sẻ với gã khi có đồ ăn gởi vào. Gã không bao giờ từ chối món gì cả. Ai cho cái gì thì ăn cái đó, ăn không hết thì dồn hết vào lon Guigoz để dành ăn từ từ. Anh em thương gã vì biết gã chẵng có ai thăm nuôi, nhưng tin vào lời khai của gã thì chắc không ai tin, hoặc có tin cũng ở một giới hạng nào đó. Riêng về ban quản giáo thì thôi hạch hỏi gã từ khi gã từ hầm tối ra. Chắc họ có điều tra, nhưng không moi được gì thêm. Hồ sơ quân bạ ở tỉnh Chương Thiện bị đốt hết. Họ cứ dằn mặt: Các anh phải khai thật thà, hồ sơ của các anh chúng tôi nắm hết cả, đừng hòng khai gian! Thế nhưng cho đến khi chuyển trại lên Cần Thơ, mặc dù cũng qua nhiều lần làm lại tờ tự khai, gã cũng chỉ viết có bấy nhiêu mà chẵng thấy họ hạch hỏi gì  thêm.

             Cũng như còn ở trại giam tỉnh, ở đây gã cũng lè phè, lếch thết. Mọi người được vợ con tiếp tế thăm nuôi, còn gã thì vẫn mồ côi như củ. Gã tự đi “Cải hoạt” với cái bẩy chuột tự sáng chế. Đó là chiếc cần bằng tre với sợi dây nhợ. Gã đánh bắt chuột cống trong trại, vì là chuột chui nhủi trong các hang dơ dái nên lông lá bị rụng, da trầy trụi lỡ lói. Khi bắt được con nào gã cắt đầu, lột da, bỏ bộ ruột, đem nướng hoặc kho mặn. Anh em thấy gã ăn mà thương hại và thường có ý ngăn cản vì sợ gã bị bệnh. Mọi người chia phần ăn cho gã và khuyên gã nên ngưng ăn chuột, nhưng gã vẫn tiếp tục bẩy chuột. Nhiều đêm cái bẩy sập đưa cần không? Gã tức lắm và cho là có người nào đó ăn chận, bắt lén. Để phát giác khi bẩy sập. Gã cột thêm mấy miếng nhôm để khi bẩy được chuột, chuột giẩy dụa sẽ kêu leng keng. Có hôm vừa mỗ bụng chuột xong, gã cười khà khà: Ê bắt được chuột có chửa, ăn chuột hà nàm bổ lắm. Gã lôi ra từng con chuột con trong bọc bỏ vào miệng ăn ngon lành, mấy anh bạn trong phòng bụm miệng, nôn ói. Chẵng ai cản được gã nên cứ để gã tùy tiện. Anh em đồn đại: Tay nầy đúng là một tên khật khùng…! Cán bộ trại gọi gã lên hỏi:

–      Chúng tôi lo cho các anh thức ăn đầy đủ, sao anh lại ăn chuột dơ bẩn như thế?

Gã cười cười trả lời:

–          Thưa cán bộ thêm thịt…

–          Thế chúng tôi cung cấp không có thịt cho anh à?

–          Dạ không có.

–          Cá nục…rau cãi, nước mắm đấy.

–          Dạ thịt cá đâu phải thịt heo.

–          Anh còn muốn ăn thịt heo… tư sản nhỉ?

–          Dạ ăn để sống mà cán bộ.

–          Thế chúng tôi có để cho các anh chết à….?

    Gã cúi đầu ngưng nói. Tên cán bộ tức khí:

–          Thôi anh về đi…cấm không cho anh bắt chuột. Gã làm thinh quay đầu đi

ra khỏi phòng.

 

     Gã cùng đoàn quân xuôi Nam vào tuốt tận vùng sâu rừng U Minh, nơi mật khu củ của mặt trận trá hình “Mặt trận giải phóng miền Nam” dựng trại, phát hoang làm ruộng. Gã lè phè như bè trôi sông. Hồi mới tới U Minh mỗi tốp 10 người ngủ trong lều nilon, có đêm gió tốc mạnh mọi người thức dậy lo tu sửa căng lều lại. Gã vẩn nằm yên ngủ ngáy kho kho. Anh em cằn nhằn quá. Gã phân trần:

           –    Ngủ quên mà, sao không kêu tui.

      Ít lâu sau gã xin được một miếng nilon nhỏ che đủ một bên gần kế lều chung, để khi mưa gió khỏi lo anh em cầu nhầu. Có hôm mọi người thấy gã ngủ với nửa người ướt nhem vì miếng vải che bị tróc một phần. Mặc kệ! Gã ngủ với cơn ngáy đều đều!!!

        Trong lao động hằng ngày hể gã đi chung với nhóm nào là các bạn trong nhóm nhăn mặt cười. Thế nào cũng phải gánh thêm để cho xong việc. Gã làm từ từ, đôi lúc nửa chừng than mệt, lên bờ ngồi vấn thuốc rê hút thở phì phèo. Anh em biết gã như vậy nên riết rồi cũng để mặc gã làm gì thì làm. Ai phàn nàn, nặng nhẹ, gã cười trừ: Làm gì mà dữ vậy ông? Gã luôn từ tốn, hề hà không giận ai cho dù có bị nặng nhẹ, nên chẵng ai ghét gã được…?

        Công việc đi vào rừng sâu chặt cây và bè về để dựng trại thì được phân theo đầu người. Mỗi người mang về ba cây đước hoặc cây vẹt. Mỗi nhóm 10 người của ai nấy lo. Cây đốn xong dùng giây chạy cột lại và thả xuống lạch nước kéo về. Anh em đốn cây theo tiêu chuẩn, cây to, dài suông thỏng, còn gã thì chả cần miển có ba cây là được. Gã thả rề rề dưới nước và luôn luôn là người về rất trể. Có hôm anh em trong nhóm phải quay lại kéo phụ với gã về chổ tập trung. Có một lần vì không bó chặt, lúc kéo về bó cây bị sút ra, gã rị mọ cột lại, nhưng vì nước lớn cây trôi theo dòng chảy. Gã giử cây nầy thì cây khác bị trôi đi, phần vì không biết lội nên cứ loay quay mãi mà không gom được cây để cột lại. Một chị bơi chiếc ghe tam bản ghé lại và giúp gã thu gom. Chi kêu gã lên xuồng ngồi, be bó cây vào xuồng, chèo về hướng trại. Bàn tay gã bị xướt, máu chảy ướt đẫm, gã xé một bên áo cột rịt vết thương. Khi xuồng vào đến khúc kinh nhỏ gần khu vực trại. Chị bơi tấp xuồng vào bờ ra hiệu cho gã xuống xuồng. Chị nói: Em giúp anh tới đây thôi, em không được phép vào khu vực trại. Chị bảo: chờ em một chú, em đem đồ ra băng bó vết thương cho anh. Chị chống sào giử xuồng, lên bờ đi vào cái chòi lá mang ra một nhúm gòn, chai thuốc sát trùng và miếng băng vãi. Chị kêu gã đưa bàn tay bị thương ra. Chị dùng bông gòn thấm thuốc sát trùng chổ bị trầy, bôi vào một chút thuốc đỏ và băng bó vết thương cho gã. Chị làm công việc rất thuần thạo. Gã đoán chắc bà nầy làm y tá. Gã muốn hỏi nhưng thôi. Gã lại lí nhí nói cám ơn và lội xuống nước kéo bè gổ về điễm tập trung. Hôm nay gã là người về sớm hơn mấy người bạn, ai cũng hỏi: Sao hôm nay tài quá vậy? Gã cười mĩm không trả lời.

       Thời gian cứ trôi qua với những ngày những tháng tù đày nơi rừng U Minh. Lao động cực nhọc với mưa nắng, muỗi, vắt, tuy nhiên ăn uống ở đây được tạm đủ nhờ rau hoang và bầy cá bạc ngàn đổ ra từ phía rừng sâu khi mùa mưa tràn đồng lênh láng. Hồi mới xuống đây vào đầu tháng tư, cơn mưa mới rỉ rả. Bây giờ cơn mưa đã tạnh, các láng trại được thành hình, mùa lúa gặt đã xong. Nông trường 30 tháng tư được thành lập.Tin tức chuyển trại đi nơi khác được anh em rỉ tay nhau…đi đâu…về đâu…??? Lại có tin đồn lần nầy trại sẽ thả một số người…Ai đây…???.Mọi đồn đại rồi cũng đi qua. Một hôm gã được gọi lên C với vài anh bạn khác. C trưởng cho hay toán nầy được cho về đoàn tụ với gia đình. Anh em trong nhóm ai cũng vui mừng, còn gã thì tỉnh bơ và nói với C trưởng:

–          Cho tôi ở lại được không cán bộ…?

–          Không được, có lệnh là phải rời trại.

       Gã làm thinh với mặt buồn buồn lầm lủi về láng. Anh em trong nhóm ngạc nhiên hỏi:

–          Ai cũng muốn về…còn mầy…điên hả!!! Gã cười méo mó và im lặng vấn

thuốc hút…Đó là cuối năm 1980.

         Ngày được thả về, tất cả nhóm hơn 12 người lên phòng họp của trại để làm lễ và lãnh giấy lệnh rời trại. Tất cả mọi người ai cũng được thông báo cho thân nhân vợ con vào ký giấy bảo lãnh nhận chồng về. Chỉ trừ anh chẵng có ai. Ban chỉ huy trại hỏi anh, anh nói: Xin cho tôi ở lại nông trường, tôi không còn ai là thân nhân. Cuối cùng ban chỉ huy trại cấp cho gã một công rừng ngoài nông trường gần phía trạm xá. Khi được cán bộ trại chỉ cho gã miếng đất được cấp, gã nhìn cái chòi lá mà trước đây chị y tá băng vết thương ở tay, chỉ cách độ một vuông đất. Chuyện gã xin ở lại lan truyền khắp nông trường. Mọi người cho gã là thằng khật khùng mới chọn ở lại cái nơi cùn khốn nầy. Nhưng người vui nhất khi nghe tin gã ở lại là Lượm.

          Buổi sáng Lượm đứng trước cửa trạm xá nhìn mấy chiếc võ lãi chở mấy gia đình được cho về chạy ngang trước con rạch. Nàng nghĩ nếu gã mà có trong chuyến về nầy thì chắc nàng buồn lắm. Một cãm giác nôn nao truyền khắp cơ thể khiến Lượm mơ màng một đều gì đó không rỏ…. Lượm nghĩ trong những ngày sắp tới nàng sẽ còn được gặp gã. 

        Cuộc đời nàng rất hẫm hiu đau buồn, từ nhỏ tới giờ có khi nào nàng được cái cãm giác như bây giờ đâu. Mới 10 tuổi nàng đã mồ côi mồ cút vì ba má chết trong trận chiến Mậu Thân. Mười lăm tuổi đã vào đội giao liên. Nàng được nhào nặn hận thù Mỹ, Ngụy, học tập chiến đấu hy sinh theo các gương anh hùng mà nàng chỉ nghe thôi chớ chưa thấy tận mặt. Từ ngày vào đội giao liên tới giờ cứ luồn lách, chốn trui chốn nhủi khi lính đi càn. Nàng chỉ nghe báo cáo thành tích diệt địch, nhưng chưa bao giờ tham gia trận đánh nào.Trình độ thì chỉ nhá nhem đủ để có thể đọc được các chỉ thị công tác. Một hôm trên đường đi công tác với một anh bạn. Lính càn nhiều quá, hai đứa chém vè ở một cái hầm chìm dưới đám dứa gai. Cái hầm chật nứt hai đứa phải áp sát nhau suốt buổi. Hơi nóng hai cơ thể cứ như rang rang truyền vào nhau. Có lúc hình như thằng bạn để tay vào ngực áo đang bật khuy gần hết. Lượm vờ như không biết nhưng thấy rộn rả một thứ gì đó rất mơ hồ, cổ họng nàng như khô, nước miếng chực chờ chảy ra. Nàng nuốt một cái ực vào. Thằng bạn thấy nàng để yên nên làm tới. Nó đưa tay luồng xuống thấp và thấp hơn. Không biết tại sao nàng vẩn để yên cho nó làm gì thì làm. Buổi tối hôm đó khi vừa ra khỏi miệng hầm thì nó đè bật Lượm ra trên miệng hầm…Nàng nằm im, một lúc Lượm nghe gió thỗi lạnh khắp người, nàng ôm riết nó sát hơn…nàng tê dại và cãm thấy đau nhói như có một cây gai nhọn vừa đâm vào phía dưới…Tối hôm đó du kích xã phải đốt rọi đi tìm. Hai đứa rón rén về chòi canh. Mỗi đứa nằm một gốc ngủ say.

      Vài tháng sau, cũng trong chuyến công tác giao liên. Khi lính bố ráp. Lượm nhanh chân trốn được dưới hầm trú, nhưng thằng bạn bị bắn phơi thân ngoài đám dứa gai. Thấy cái xác bị bắn lòi ruột Lượm trừng trừng nhìn nó rồi bật khóc. Những ngày tháng sau đó Lượm ăn nằm hết với chủ tịch xả, tới xả đội trưởng. Hình như họ biết Lượm ăn nằm với thằng bạn du kích hôm đó. Họ tạo điều kiện đề gần nàng. Hình như nàng cũng hực nóng khi nghĩ tới chuyện làm tình. Nàng sẳn sàng nằm ra khi có cơ hội. Thật ra mấy anh ở trên cứ tạo cơ hội để được ngủ với Lượm. Các anh nói: Ủng hộ sinh lý cho các anh cũng là một công tác. Lượm tin như vậy, cho nên chuyện ăn nằm với mọi người là chuyện giống như thi hành nhiệm vụ. Sự ăn nằm quen dần cho đến nổi Lượm không biết cái thai chình ình càng nở to ra của nàng tác giả là ai. Lượm có bầu thì bị lôi ra xử lý. Chính anh Tư Hồng chủ tịch xã đã ngủ với Lượm không biết bao lần. Anh gay gắt phê phán trước buổi họp kiễm điễm nàng: Đồng chí đã làm mất tư cách một cán bộ cách mạng. Anh nhấn mạnh: Phụ nử cách mạng luôn trong sạch để làm gương cho chị em trong đoàn ngủ, chưa có gia đình mà để có bầu là vi phạm điều lệ… Vợ của Tư Hồng là chủ tịch hội phụ nử cách mạng, sau khi kiễm điễm gay gắt chuyện nàng có bầu và cuối cùng chị đề nghị thuyên chuyển Lượm sang cơ quan y tế khi sinh nở xong. Sau nầy Lượm biết được là bà vợ của Tư Hồng nghe phong phanh chuyện anh có ăn nằm với Lượm nên nhân cơ hội nầy đẩy Lượm đi xa. Còn Tư Hồng thì thở ra nhẹ nhõm.

          Lượm bị sẩy thai trong một chuyến đi công tác.  Nàng được nằm tại bệnh xá huyện và chuyển đi học y tá vài tháng thì ngày ba mươi tháng tư đến.

          Chuyện gần đàn ông của Lượm như một đòi hỏi của cơ thể chứ không có một chút tình cãm gì ở trong đó. Ăn nằm xong thì nàng lồm cồm ngồi dậy mặc quần áo và mạnh ai nấy đi. Cho tới khi gặp được gã. Một người tù cãi tạo lầm lì, hiền hậu, ăn nói từ tốn. Khi gặp nàng gã dững dưng chẵng nhìn nàng như mấy lão ở trong nầy, khiến nàng cứ muốn lấn tới với gã trong nỗi xuyến xao kỳ lạ. Lượm thường đứng nhìn gã kéo gổ dưới lạch nước trước trạm xá với cái vẻ cô độc kham khổ thấy mà thương. Nàng tìm hiểu và biết gã chẵng có ai thăm nuôi. Nàng đoán chắc gã chưa vợ con nên đâm lòng yêu thầm.

          Khi cái chòi lá của gã khởi công thì mọi người trong trại phụ dựng nhà cho gã, chỉ trong hai ngày là xong. Miếng đất được nông trường cấp cho gã một công gần khu trạm xá cho nên Lượm có nhiều cơ hội đến giúp gã nhiều việc. Ngày tháng trôi qua, khi thì nàng mang cho gã một vài món ăn, vá cho gã manh áo rách…nhưng chưa bao giờ nàng nói được cái đều nàng nghĩ trong đầu. Lượm nói thầm: Đàn ông gì mà kỳ lạ…mình muốn ảnh mà ảnh …cứ lơ lơ chẵng để ý gì hết ráo…

          Một buổi tối, Lượm nhìn qua kẽ hở của chòi tắm, thấy phía nhà gã chưa thắp đèn. Nàng quơ bộ quần áo mặc vào và thắc mắc: Cái anh nầy đi đâu, tối mò mà chưa zdìa để nhà tối om. Trạm xá cách nhà gã một vuông ruộng nhỏ cho nên nàng hay châm chú theo dõi sinh hoạt đi đứng của gã hằng ngày. Có hôm thấy gã ở trần trùn trụt phơi cái lưng vạm vở với màu da trắng muốt. Nàng thấy nôn nao một ham muốn dâng tràn, toàn thân nàng nóng rang. Luợm ước gì được nằm sát với gã. Khi ấy nàng nhắm mắt mơ màng nghĩ đến một một dòng ái ân tràn ngập trong đầu… Lượm quyết định sang nhà gã xem gã có ở nhà không? Trời mới nhá nhem tối nhưng Lượm cũng cầm theo cây đèn pin. Bước ra khỏi trạm xá, cơn gió chiều hôm thổi lùa, nàng nghe lành lạnh ở vùng ngực. Lượm chợt nhớ ra mình quên mặc áo lót. Nàng đưa đôi tay bắt chéo trước ngực khi đứng trước cửa nhà gã. Nhà tróng trơn không có cửa trước. Nàng nhìn suốt vào nhưng chẵng thấy ai bên trong. Lượm đi vòng ra phía sau, thì bất chợt nhìn thấy gả vừa mới ở dưới mương nước bước lên.Toàn thân trần truồng. Một bóng trắng chập chờn trước mắt. Nàng vội trở ra phía trước gọi: Anh ơi có nhà không, sao nhà tối om zdậy? Gã nghe nàng gọi thì vội đi ngay vào nhà lấy bộ đồ bà ba đen mặc vào và nói vói ra: Có tôi…chờ chút nha ?  vừa nói gã vừa mò tìm cái ống quẹt mồi cây đèn. Căn nhà sáng lên. Lượm đứng ngay khung cửa. Ánh sáng làm lộ thân hình người con gái với bộ đồ bông hường nhô cao đôi vòng ngực. Gã tằn hắn:

                 –   Có gì hong cô Lượm.

                 –   Thấy nhà tối em tưởng anh không có nhà nên đi qua coi thử anh zdìa chưa?

                 –   Tôi tắm ở dưới mương nước phía sau nhà.

          Nàng vờ như không biết gì và nói: zdậy mà em tưởng anh đi đâu? Nàng bước hẳn vào bên trong. Nhà tróng trơn chưa có bàn ghế gì ráo. Gã nói: Cô ngồi lên gường đở. Lượm ngồi lên mép gường nhìn quanh quất căn nhà rồi nói: Mai em đi chợ mua đồ cho trạm, chắc em mua cho anh một ít đồ xài, anh cần món gì cho em biết. Gã đứng xớ rớ một gốc nhà nói: Chưa biết cần gì nửa cô ơi?. Lượm dượm người đứng lên bước vài bước, rồi nhìn trước, ngó sau xem có gì mua được cho gã đây? Nàng chột dạ nói trong lòng: Nhà thiếu đàn bà có khác và cãm thương cho gả một cách chân thành. Lượm hỏi:

                 –    Anh ở như vầy…hỏng ai lo cho anh hết.

                 –    Tui quen rồi cô.

                 –    Em muốn lo cho anh…lo hoài hoài được hôn? 

         Gã xua tay:

                 –    Không được đâu. Cô là cán bộ, tôi là tên tù mới được thả ra…nếu người ta biết cô lui tới như thế nầy có hại cho tui. Tui cám ơn sự lo lắng và sự giúp đở của của cô.

         Lượm trân trân nhìn gã và nói:

                  –   Anh…! em thương anh mà. Không ai có quyền cản ngăn em hết á! Em là một người con gái…không là cán bộ gì ráo, em chán cái luận điệu của mấy ông trong bưng nầy lắm rồi. Thời gian qua nhìn các anh sinh hoạt mọi người ở vùng nầy đều biết các anh là ai…là những người tử tế chứ không như những điều bôi xấu mà em và các người ở đây nghe về các anh… Dường như có một cơn sục sôi bùng cháy trong lòng. Lượm bước tới ôm chầm lấy gã và nói: Em thương anh!. Mùi thơm bồ kết từ mái tóc mới gội của nàng cộng lại với sự cọ sát vòng ngực nóng ran làm gã boàng hoàng lo sợ hơn là cãm xúc… gã vội tỉnh trí đưa hai tay lên hai vai nàng đẩy nhẹ ra và nói: Không được đâu…cô về đi…! Không được đâu….! Bỏ Lượm đứng khóc trong nhà, gã chạy ra phía sau … Cánh đồng mênh mông loáng nước trước mặt gã đã tối sầm. Gã khom lưng vóc một bụm nước úp vào mặt.

 

           Vào một buổi trưa ngày..  tháng …năm  1984 một chiếc võ lãi chở một thiếu phụ sang trọng và hai người con tấp vô trạm xá. Người tài công bước lên hỏi Lượm nhà của anh T…. ở đâu? Lượm nhìn xuống chiếc võ lãi, lòng tự hỏi: Ai zdậy kìa???

            Khi chiếc võ lãi tấp vô nhà của gã. Lượm ra đứng ngoài sân bệnh xá nhìn sang đấy, thấy gả chạy ra ôm chầm lấy người thiếu phụ, còn hai đứa nhỏ thì kêu ba ơi ba…! Gã quay sang ôm hai đứa nhỏ hôn lấy hôn để… Tất cả gia đình gã di tản sang sống ở Mỷ. Sau khi liên lạc được với những người bạn còn ở Sài Gòn có chồng bị tù ở vùng U Minh. Vợ gã biết gã còn ở Năm Căn. Chị xuống Cà Mau dò la tin tức và biết gã đang ở nông trường Thống Nhất. Hôm nay chị mướn chiếc võ lãi vào rước gã về.  Lượm đứng như trời trồng và ôm mặt khóc: Trời ơi! vợ con của ảnh!!!!!

            Chiều đó chiếc võ lãi quay mủi chạy ra khỏi nông trường, đi ngang trạm xá. Gã nhìn vào một lúc rồi vội quay mặt về phía vợ nói: Anh có nhiều kỷ niệm với cái trạm xá nầy. Người thiếu phụ nói: Vậy hả…? Chiếc võ lãi chạy khuất ra vàm kinh lớn. Tiếng bành bạch của chiếc  máy đuôi tôm dội trong Lượm nỗi đau xót tận cùng buồn bã.  Anh đi thật rồi! Em mất anh thật rồi…!Nàng đứng khóc một mình trong buổi chiều U Minh lặng lẻ.

 

            Bẵng đi một thời gian rất lâu. Lúc nầy Lượm làm y tá cho một bệnh xá ở huyện…Một hôm nàng nhận được một món quà từ bưu điện. Đó là một sợi dây chuyền bằng vàng với hai trái tim kề nhau, kèm thêm có bức thư của gã bất cần năm nào gởi từ Mỹ về.

 

                                                    Cali..ngày… tháng….năm……

 

               Lượm thương mến,

        Tôi hiểu rỏ tấm lòng của em dành cho tôi và luôn ghi nhớ những sự giúp đở của em trong những ngày tháng ở rừng. Chiếc võ lãi chở vợ con của tôi vào ngày hôm đó cũng là một bất ngờ cho tôi. Trong cơn biến động trước ngày 30 tháng tư năm 1975. Gia đình tôi  lo di tản trước đó vài ngày.Vợ tôi từ Sài Gòn xuống Chương Thiện ngày 28 tháng tư để đón tôi về cùng di tản ra hạm đội Mỹ, nhưng không gặp được tôi. Mọi người trong gia đình tôi đã ra đi trong lúc chúng tôi được lệnh tử thủ của Đại tá Hồ Ngọc Cẩn. Chúng tôi đã anh dũng chiến đấu đến viên đạn cuối cùng…và rồi những gì em biết sau đó. Chúng tôi đành thua trận. Người anh đầu đàn của chúng tôi hiên ngang gục chết trước pháp trường. Tôi mất liên lạc với gia đình và không biết họ về đâu trong cơn biến động đau đớn đó. Tôi đành chịu số phận chung cuộc của những người bại trận. Chúng tôi hèn nhát hơn vị Đại tá của chúng tôi! Chúng tôi buông súng, nạp mình cho kẻ chiến thắng là phía của em. Tôi phó đời trong bất cần số phận…và cuối cùng tôi gặp lại vợ con trong bất ngờ như chiêm bao. Tôi cám ơn ơn trên đã cho tôi hồi sinh được cuộc sống và xin cám ơn em đã tân tụy giúp tôi trong cơn khốn cùng đã qua. Tôi nhận biết rằng: Từ trong trái tim yêu thương chân thành thì không có lòng thù hận. Xin gởi em món quà từ đất Mỹ. Mong em vui lòng nhận cho, trong đó có tấm lòng của tôi.

                                                               

                                                                          Thương mến,

                                                                            Lê văn T…

         Riêng Lượm từ hôm nhận được quà và thư của gã nàng khóc thật nhiều. Sau đó nàng rời bỏ bệnh xá. Người ta không biết nàng đi đâu…?

 

Huỳnh Tâm Hoài


Bút hiệu: Huỳnh Tâm Hoài tên thật là Huỳnh văn Luận
Sinh năm 1943 tại Làng Long Hiệp, tỉnh Trà Vinh
Là hội viên của nhóm Chim Việt văn đoàn trước năm 1975.
Hiện sinh sống tại
Sacramento Tiểu bang California                                                                                                 

 




Nhà Văn Hà Mai Việt ra mắt tác phẩm tại hội trường Franklin Mc-Kenley District


Ha Mai Viet Talkshow


 

 

 

Vào hồi 2PM trưa nay, Thứ bảy 5/31/2014 tại Hôi trường Học khu Franklin McKenley thành phố San Jose, bắc California, buổi ra mắt sách của Nhà văn Cựu Đại Tá QLVNCH Hà Mai Việt, từ Nam Cali đến, đã được khai mạc dưới sự bảo trợ của Cơ Sở Thi Văn Lạc Việt, với sự tham dự của khoảng trên một trăm quan khách và thân hữu.

Sau đây là một vài hình ảnh chúng tôi ghi nhận được, kính mời Quí vị và các bạn cùng chia xẻ chút niềm vui với tác giả giới thiệu tác phẩm "Việt Nam,Cội nguồn Cuộc chiến",

Thân ái,

Ý Nghĩ về tác phẩm "Việt Nam Cội Nguồn Cuộc Chiến" của nhà văn Quân Đội cựu Đại Tá Thiết Giáp Hà Mai Việt vừa ra mắt chiều ngày 31 tháng 5 năm 2014.

Kính thưa quí vị. Việt Nam thực ra luôn luôn vẫn là cội nguồn cuộc chiến, vì đất nước chúng ta có một bờ biển quá dài là cửa ngõ đi vào vùng Đông Dương và là nút chặn nhà anh láng giềng Hán tộc xâm lược, cho nên từ thời lập quốc tới nay Việt Nam vẫn là cái ngòi nổ của cội nguồn cuộc chiến.
Tuy nhiên, cái bệnh lớn nhất của người VN là mạnh ai người nấy thích làm lãnh đạo, tự tạo quá nhiều phe nhóm, đấu tranh rời rạc không có sự liên kết và liên tục, chẳng khác nào như từng chiếc đũa, CS hoặc đồng minh muốn bẻ lúc nào cũng được. Cũng có vị muốn là thái thượng hoàng trong cuộc đấu tranh quốc cộng tại hải ngoại. và chúng ta bị lạm phát lãnh đạo do đó Việt Nam vẫn luôn là cội nguồn của cuộc chiến ngay tại hải ngoại. 
Quí vị hãy nhìn vào cuộc bầu cử tại San Jose của chúng ta mấy ngày nay sẽ hiểu tôi muốn nói gì… Chúng ta chưa đoàn kết để giữ một lá phiếu quan trọng có khả năng làm chính phủ bản xứ phải kiêng nể và giúp chúng ta thắng kẻ địch, mặc dù chúng ta chắc chắn hiểu rằng chúng ta có một sức mạnh mềm vô song đối với nội thù tại quốc nội đó là kinh tế và chính trị dựa vào khả năng cá tính ưu việt học hỏi, nhưng Người Việt Hải Ngoại đã gián tiếp trao cho Cộng Sản sức mạnh mền này với mỗi năm 10 tỷ đô để Cộng Sản vừa được ăn, vừa được chê chúng ta là "NGỤY" chống cộng theo kiểu dưa món. Vẫn áo gấm về làng nổ sảng như vài vị thích ăn cỏ non thì khó có thể có ngày khải hoàn vinh dự như chúng ta mong muốn.
Kính thưa quí vị, gần 40 năm xa sứ chúng ta đã học hỏi được gì hầu chiến thắng VN cộng sản ? Tôi xin quí vị hãy bỏ đi dị biệt và đoàn kết hậu thuẫn cho quốc nội bằng truyền thông báo chí, biểu tình đông đảo để đánh động lương tâm người bản sứ hầu trong quốc nội có tin tưởng hậu thuẫn, hy vọng đấu tranh. Nếu người Việt trong và ngoài nước làm được một hội diên hồng của thế kỷ 21, Việt Nam sẽ sớm thoát khỏi ách thống trị Cộng Sản và chống được ngoại xâm.
Việt Nam cội nguồn cuộc chiến sẽ không còn nếu chúng ta thành lập được một nước Việt Nam trong một nước tự do mà chúng ta đang sống nhờ để dùng sức mạnh mềm hầu có thể xoay chuyển cội nguồn của cuộc chiến đang sảy ra cho dân tộc ta.
Thưa quí vị, Cộng Sản và đồng minh đều sợ người Việt Hải ngoại đoàn kết và hiểu biết được sức mạnh mềm kinh tế và chính trị bằng lá phiếu, để dùng lá phiếu như một vũ khí đấu tranh được hổ trợ bằng kinh tế, chính trị. 
Một câu hỏi tôi muốn đặt ra với quí vị: Trong tình thế hiện tại trên biển đông, người Việt hải ngoại nên làm gì để cứu nước và giữ nước ?
Xin kính chào quí vị. Kính chúc quí vị luôn tâm an bình để trọn người ứng cử xứng đáng, bầu họ đúng vào vị trí chúng ta mong muốn hầu có Việt Nam cội nguồn của hoà bình hạnh phúc..

Chinh Nguyên