Vài Cảm Nghĩ Khi Đọc “Tuyển Tập KIỀU MỸ DUYÊN – HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG” – Phương Hoa

Thú thực, khi anh Chinh Nguyên Chủ Tịch Văn Thơ Lạc Việt, ngỏ ý nhờ Ban Biên Tập & In Ấn Văn Thơ Lạc Việt mà tôi cũng là một thành viên, giúp layout tuyển tập cho nữ ký giả Kiều Mỹ Duyên, tôi chỉ chăm chú làm việc theo những gì mà trưởng Ban Biên Tập & In Ấn Văn Thơ Lạc Việt Thái Phạm dặn tôi làm, theo cái kiểu “sai đâu đánh đó” vì tôi quá bận nên không chú ý nhiều đến nội dung những bài viết trong bản thảo. 

          Ban đầu, chị Kiều Mỹ Duyênchỉ gửi cho chúng tôi đâu chừng mười mấy bài viết, cũ có, mới có. Tôi được phân công phần giàn trang, làm xong thì thấy tổng cộng chưa tới hai trăm trang. Ôi sướng thật, khỏe thật, vì sách mỏng nên hoàn thành quá nhanh. Tôi mừng thầm. Nhưng tôi đã lầm. Số bài đó chỉ mới là một phần trong số các bài viết của nữ ký giả chiến trường Kiều Mỹ Duyên. Tôi còn đang loay hoay thay tới đổi lui cách trình bày, chỉnh sửa hình ảnh, thì chị Kiều Mỹ Duyên liên tục gửi bài đến, hầu như mỗi tuần một bài, rồi đến vài ngày một bài, có ngày chị gửi đến những hai bài! Vì nhận quá nhiều bài, nhiều hình ảnh, đến nỗi tôi quáng cả mắt, ù cả tai, gần như là bị “tẩu hỏa nhập ma.” Tôi bèn cầu cứu trưởng ban Thái Phạm, nhờ giúp “take over” cái tuyển tập dày cộm nầy. Nhờ vậy tôi mới có thời gian đọc kỹ lại các bài viết của chị Kiều Mỹ Duyên.  Càng đọc, tôi càng khâm phục chị. Tôi thật sự ngã nón trước sức viết “như vũ bão” của vị nữ ký giả kỳ cựu này. Cho tới khi sang sinh sống ở Mỹ, chị vẫn còn giữ được cái phong độ viết mạnh mẽ như khi làm phóng viên chiến trường thời Việt Nam Cộng Hòa mà tôi đã từng đọc và biết về chị.

          Có thể nói tác giả Kiều Mỹ Duyên là một người rất giàu tình cảm, luôn quan tâm đến người khác. Tuy bận rộn, nhưng chị đã bỏ ra nhiều thì giờ quý báu để đọc hết ba tập truyện tôi mới xuất bản năm vừa rồi, và còn cho tôi những lời ủng hộ thật chân tình. Những lời khen của bậc đàn chị đã giúp tôi lên tinh thần và cố gắng tiếp tục viết. Cho nên, khi chị tỏ ý muốn tôi viết cảm nghĩ về “Tuyển Tập KIỀU MỸ DUYÊN – HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG,” dù biết mình chỉ là hàng hậu bối, tôi cũng phải mạo muội ghi vài hàng mộc mạc theo cái cảm xúc “nghĩ sao viết vậy” tự đáy lòng mình, chứ không hề dám nghĩ là điểm sách hay phê bình cho chị. Tôi đã đọc hết hơn bốn trăm năm chục trang sách, và trong tôi có rất nhiều cảm xúc về tuyển tập mà tôi muốn ghi lại nơi đây.

          Còn nhớ có lần chị Kiều Mỹ Duyên đã nói với tôi, “Chị là nhà báo nên viết khô khan lắm, không ướt át đâu em ơi!”  Khi ấy tôi cũng đã tin như vậy. Thường thì độc giả dễ bị hấp dẫn hơn đối với những sách truyện dưới dạng tiểu thuyết trữ tình… lâm ly bi đát, và nhiều người cho là những câu chuyện viết theo kiểu thông tin báo chí thì quá khô khan. Ngày trước khi còn đi học, cô bạn Mỹ ngồi cùng lớp sáng tác (Creative Writing) với tôi đã than là “quá chán” khi viết chuyện thật (non-fiction) vì cô không thể sáng tạo, thêm thắt cho hấp dẫn hơn được. Nhưng, như đại văn hào Ernest Hemingway từng có một câu nói nổi tiếng dành cho giới viết văn, là hãy “Viết những gì bạn biết” (Write What You Know) sẽ giúp bạn thành công. Và nữ ký giả Kiều Mỹ Duyên đã làm được điều này. Tập sách của chị quá hấp dẫn, lôi cuốn, tất cả các bài viết đều là những câu chuyện thật chị biết, gặp, hay chứng kiến, được chị diễn tả rất sống động, mạch lạc, kèm theo nhiều hình ảnh thật và cảm động vô cùng.

          Nội dung Tuyển Tập HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG rất đa dạng, phong phú.  Ngoài việc những nhân vật có tiếng tăm viết giới thiệu tác giả Kiều Mỹ Duyên, như nhà văn Huy Phương, văn thi sĩ Chinh Nguyên, nhà báo Mặc Lâm, và nhà báo Nguyễn Lệ Uyên, tuyển tập thể hiện một sự bao gồm rộng lớn, sự quan tâm đối với xã hội về mọi mặt, mọi vấn đề, của đất nước Hoa Kỳ, và thế giới, những bài phỏng vấn nóng hôi hổi quý vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo, từ quý Hòa Thượng, Thượng Tọa, đến quý Đức Cha, Đức Hồng Y, … và kể cả nhiều vị Tổng Thống, Mỹ, Nga, … cộng thêm nhiều bài viết chia sẻ, những băn khoăn, trăn trở, buồn đau, của tác giả mỗi chuyến đi làm từ thiện, hay khi nghe tin người quen, bạn bè xa lìa cõi thế.

          Tôi thật thích thú lẫn ngưỡng mộ, khi đọc những bài nữ ký giả viết tường thuật về các chuyến đi phỏng vấn những nhân vật quan trọng. Hãy nghe chị kể lại, “Nhờ làm nghề truyền thông mà tôi được nhiều cơ hội gặp mọi người, từ anh lính đến Đại Tướng, từ người dân đến Tổng Thống, từ một người giáo dân đến Đức Cha chủ tịch Hội Đồng giám mục Hoa Kỳ, Đức Cha chủ tịch Hội Đồng giám mục Việt Nam….Tôi phỏng vấn nhiều nhân vật quan trọng trên thế giới và tôi được cử làm phóng sự, thuyết trình, gồm có: Tổng Thống Gerald Rudolph Ford, bộ trưởng Elizabeth Dole, Tổng Thống Nga Mikhail Sergeyevich Gorbachev. Tổng Thống Nga nói sở dĩ nước Nga có tự do, nhờ ông và Tổng Thống George W. Bush làm việc ròng rã suốt 10 năm…” (TT KMD, tr.84-85)

          Tôi tâm đắc nhất là cái câu chị Kiều Mỹ Duyênhỏi tống thống Nga Gorbachev, và câu trả lời của ông, “- Thưa Tổng Thống, bao giờ Việt Nam có Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền thật sự?” “Tổng Thống Nga trả lời: – Bao giờ Trung Quốc có Tự Do thì Việt Nam có tự do.” (TT KMD, tr.87). Đúng là tổng thống Nga Gorbachev đã “đi guốc” trong bụng chính phủ Việt Nam hiện tại. Biết đến bao giờ đất nước mình mới “thoát Trung” được như người dân hằng mong ước đây?

          Tôi cũng thích những bài phỏng vấn của nữ ký giả Kiều Mỹ Duyên; tôi cảm động khi đọc bài “Hội Nghị Copenhagen, Đan Mạch: Vì Nhân Quyền Việt Nam”; tôi xúc động khi đọc các bài tường thuật về những buổi đi làm từ thiện của tác giả, như, “Một Chuyến Đi Ngậm Ngùi”; và tôi rơi lệ vì những bài chị viết để tưởng niệm những người quá vãn có công lớn với cộng đồng, như  “Người Đã Đi Nhưng Người Vẫn Ở Bên Ta: Trung Tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn…”. Và còn nhiều, nhiều lắm, những bài viết xúc động khác.

          Vài bài viết ở cuối Tuyển Tập càng khiến cho người đọc cảm nhận được cái tâm lành, cái tư chất thiện lương của nữ ký giả Kiều Mỹ Duyên. Trong “Hãy Cho Nhau Tiếng Cười,” tác giả đã trải lòng mình cùng với vạn vật, với nhân sinh. Kính mời quý vị hãy cùng tôi đọc một đoạn sau đây để hiểu được tâm tư vị tác giả đầy lòng nhân ái, “Hãy cho nhau nụ cười, cho nhau tiếng cười…. Yêu người, yêu đời qua tiếng cười. Hãy yêu thương, lòng rộng mở, tiếng cười của mình sẽ hồn nhiên hơn, giòn giã hơn. Tôi yêu tiếng cười của trẻ thơ khắp nơi, nhất là các em trong viện mồ côi. Hãy ôm chặt các em trong tay với trái tim nồng nàn, chúng ta sẽ tìm thấy tình người trong vòng tay ấm áp của mình. Hãy nắm chặt tay người già trong viện dưỡng lão, chúng ta sẽ cảm nhận được người cần người dù trong chốc lát…” (TT KMD, tr. 434)

          Và cái thông điệp tác giả Kiều Mỹ Duyên chuyển tải đến độc giả trong bài viết cuối cùng, “Lạc Quan, Yêu Người, Yêu Đời Mà Sống” đã khiến cho lòng tôi thật thanh thản, nhẹ nhàng sau khi đọc những câu chuyện về sự mất mát, sự ra đi của những người tác giả thân quen. “Sống lạc quan, đời sống sẽ đẹp hơn. Hãy yêu thương, yêu người, yêu đời, yêu thiên nhiên, yêu tiếng chim hót líu lo trong vườn buối sáng, yêu những cành đào, cành mai rung rinh trong gió thì lòng mình sẽ thanh thản hơn, nhẹ nhàng hơn. Đâu phải giàu có mới hạnh phúc.” (TT KMD, tr. 459)

          Tóm lại, “Tuyển Tập KIỀU MỸ DUYÊN – HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG” của nữ ký giả Kiều Mỹ Duyên là một tác phẩm có thể gọi là “để đời” cho chính tác giả, và để “lưu cho hậu thế” đối với những thế hệ nối tiếp con cháu người Việt Nam chúng ta nơi hải ngoại. Không thể nào diễn tả hết ý nghĩa của tác phẩm độc đáo đầy giá trị này trong chỉ vài trang ngắn ngủi. Phải đọc hết, mới thấy hết, mới cảm hết.

          Xin kính trân trọng giới thiệu Tuyển Tập KIỀU MỸ DUYÊN đến với độc giả gần xa.

California, Tháng Tư, 2021

Phương Hoa




Văn: ĐẸP NHƯ SUỐI MƠ – Thơ Xướng Họa: XỎA TÓC GỌI THƠ – Cao Mỵ Nhân & Phương Hoa

ĐẸP NHƯ SUỐI MƠ

Có lẽ quý vị gốc Huế thuần thành chả bao giờ muốn rời cố đô đi mô hết. Bởi vì đất Thần Kinh có thung thổ đặc biệt, là đi xa hay ở gần, vẫn nhớ Huế mới lạ.

Như thế cũng có nghĩa là nếu đúng Huế chính tông, thì chẳng thể nào dứt bỏ một mảy may, một tích tắc chất Huế, nỗi Huế được.

Tôi hay kể chuyện Huế một cách …loanh quanh thôi. “Chớ răng tui có thể bước vô cái vòng Huế kiên cố, thâm cung đó được. Là ri, tui có sinh trưởng ở Huế mô, người ngoài đạo Huế mờ”.

Song tôi lại ở Huế tới mấy chục năm, quen thuộc cảnh vật, người ta, và những điều rị mọ suốt ngày, tôi cũng biến thành dân …lai Huế chút chút, chỉ dở một cái, là không bắt chước được giọng Huế.

Nên, cách nào tôi cũng là người xa lạ, có ưa thích Huế tới mấy, thiên hạ Huế cũng dửng dưng với tôi.

Nói thế chứ tôi “tiền hô hậu ủng” toàn bạn Huế đấy, quý vị khỏi cần thương hại tôi nha.

Trong khi tôi cứ mong nói được giọng Huế, thì bà mẹ chồng tôi lại nói toàn tiếng Bắc với tôi.

Có lẽ bà sợ tôi không hiểu bà nói chuyện gì, bà dùng ngôn ngữ bắc để khỏi phải nhắc lại việc bà vừa sai hay nhờ tôi làm, cho đúng và mau chóng.

Một hôm, mẹ chồng tôi dặn trước khi bà đi công việc gì đó, rằng tôi lấy gói bồ kết để trên nóc trạn, khui bếp tro ủ lửa suốt đêm ngày kia, thổi cho đỏ mấy miếng than, rồi nướng bồ kết.

Nướng bồ kết cháy vừa đủ thơm thôi, đập sơ cho rơi bụi than cháy ra. Xong bẻ những quả bồ kết đó vụn rồi bỏ chúng, những mảnh bồ kết mới nướng đó, vô một chậu nước lã, bưng chậu ra sân đang nắng phơi cho nóng lên, để gội đầu.

Tôi làm trong nháy mắt, là vì tôi đã thấy các bà, các cô thủa tôi còn bé, gội đầu bồ kết thế nào rồi.

Chậu nước bồ kết đó nóng vừa ấm tay, sủi bọt thơm dìu dịu, quý bà, quý cô muốn pha thêm nước nóng cũng được, rồi gội đầu bình thường, tóc chảy thật mướt xuống chậu hứng phía dưới, đẹp như …suối mơ.

Có khi khách gội còn vắt những nửa quả chanh bóp trên tóc, cho thơm thêm nữa.

…Mạ ơi, ông Chánh đòi hầu

    Mua chanh, bồ kết, gội đầu cho thơm…

             (ca dao )

Tôi không biết “ông Chánh” nào mà sướng thế chứ.

 Kêu người ta tới hầu chi chả biết. Và chắc ổng phải hào hoa, phong nhã lắm, mới được kẻ hầu ưng ý, đến nỗi phải mua chanh, bồ kết để gội đầu cho thiệt thơm tho, kẻo ông Chánh chê, mai mốt không chiếu cố nữa, thì lại tức.

Mấy lần nói chuyện xưa tích cũ, tôi định hỏi anh là thời anh ở Huế, anh có biết “ông Chánh” nớ không, thời đó thì anh còn nhỏ quá, mần răng biết được thế giới của ” ông Chánh ” trong ca dao Huế chớ.

Nhưng chưa hỏi, mình đã biết câu trả lời của anh rồi: “Thì tui là một… ông Chánh đây nì, hỏi chi xa rứa. Lâu ni, không thấy tui rất …ông Chánh, có điều ông chánh nì không cần đòi ai hầu, mà có người cứ tình nguyện tới đó tề”.

Ố ô, anh thì nguỵ rồi, rất tự tin, song tự trọng ghê hồn, lỡ ai vô phước nói hớ, hay tỏ vẻ không biết tới bản ngã đặc biệt của anh, là thôi, coi như đời sau cũng không gặp lại, chớ đừng nói kiếp ni nghe.

Hôm tê, mấy bà o ở Bên sông, phía Ngự Bình điện thoại viễn liên cho tôi, các o bảo: “Chớ răng mi, là tôi đó, chưa chịu về thăm tụi tau vậy ? Ít năm nữa cái lớp tau chết đi, không còn ai Huế thiệt nữa mô, không tin, mi về thử đi, toàn Huế…giả, ở mô chui ra lắm nợ…”

Tôi cũng đã nghe một phần như vậy lâu rồi.

Dẫu tôi không là con dân Huế, nhưng tôi cũng biết phân biệt Huế xưa đã dần dần đi khỏi thành phố cũ, nơi mà đàn bà con gái suốt ngày mượt áo dài, dù đi chân đất.

Mớ tóc thề thả ngang lưng dù gánh hàng quà rong trên đường mưa bụi bay.

Bỗng dưng tôi nhớ bài hát hồi mới có thành phần bên kia sông Bến Hải tràn vô, bài hát của một ” nữ cán bộ làm trưởng ban văn nghệ đài phát thanh thành Hồ ” bà ta viết nội dung là tất cả chỉ ở Huế, không nơi nào có được, đại khái thế.

Tới người cộng sản chủ trương san bằng giai cấp, mà cũng phải chào Huế mộng mơ, vẻ đẹp mà không đâu có được vậy.

Huế thật hay giả, vẫn hiển hiện sông Hương núi Ngự, có dập khuôn nhân dáng Huế, có tô vẽ dung nhan Huế, vẫn chỉ là Huế bên ngoài thôi.

Nói như anh nhận xét về thổ ngơi, thổ ngữ, thì giọng Huế rất khó đồng hoá, người giả bộ nói thế nào cũng lòi ra các lỗi vụng về, mà không phải họ không luyện kỹ hay tập chệu chạo dăm ba câu giả hò, giả hẹn cũng lộ liễu ngay.

Thế nhưng, có điều lạ là chính Huế, thì lại giả Hà Nội, Saigon in hệt.

Và để kết thúc bài này, tôi xin lỗi dẫn chứng chưa đúng, khiến anh sẽ cho điểm dưới trung bình, ấy là “ông Chảnh” chớ không phải ông chánh kiểu bắc kỳ quốc đâu.

Nói “ông chảnh” (dấu hỏi) phải hiểu chính là “ông chánh” (dấu sắc), ông chánh để ám chỉ những ngôi thứ nhất vừa thực tế, vừa mơ hồ.

Đồng thời ” ông chảnh “, cũng có nghĩa là ông ” chảnh ” với suy nghĩ ” bình dân học vụ ” của tôi, đừng giận nha quý ông …chánh thứ thiệt .

               Cao Mỵ Nhân




THƠ THƯ PHÁP Mừng Ngày Từ Phụ VTLV -Phương Hoa & Đỗ Dung

KÍNH TẶNG CHUNG TẤT CẢ QUÝ NGƯỜI CHA TRONG VĂN THƠ LẠC VIỆT

MỪNG NGÀY TỪ PHỤ

(Kính tặng hết các vị Từ Phụ nhà Văn Thơ Lạc Việt)

*

Công cha núi Thái, khó đo lường

Dạy dỗ nên người, nặng trĩu thương

Khổ nhọc chườm vai, đều vững chí

Gian nan đối mặt, vẫn kiên cường

Con Hồng, nghĩa nước khuyên ghi nhớ

Cháu Lạc, tình nhà dạy đảm đương

Ngày lễ Father’s Day kính chúc

TOÀN CẦU THÂN PHỤ ĐẸP NGÔI VƯƠNG

             Phương Hoa – FATHER’S DAY 2021

*****

DƯỚI ĐÂY LÀ ĐẶC BIỆT KÍNH TẶNG NHỮNG VỊ CHA TRONG BAN CỐ VẤN & ĐIỀU HÀNH VTLV VÀ VÀI VỊ ĐÀN ANH

Nguồn ảnh: Internet

Mừng Lễ Của Cha! Happy Father’s Day!

Ngày mai, Chủ Nhật, 20 tháng 6, là ngày Lễ Cha 2021. Lễ Mẹ tưng bừng bao nhiêu, thì Lễ Cha êm đềm bấy nhiêu. Lễ Mẹ thường các góc đường nào, cũng bày sạp bán bông. Lễ Cha, tìm cả thành phố, cũng không thấy một sạp!

Có vẻ bất công bằng chăng? Chẳng sao cả, vì những Người Cha vẫn muốn như thế. Họ là phần chìm của con tầu, để phần trên được nổi, du hành, tung tăng trên khắp đại dương. Họ là đất, là phân để cây trổ lên những bông hoa rực rỡ.

Chỉ khi nào cây hoa bị bứng ra khỏi chậu, khô héo, lúc đó mới nhận ra được sự quan trọng của Họ trong đời sống! Thường thì đã muộn!

Hãy trân quý báu món quà thương quý báu này, mà Thượng Đế ban cho mỗi con người.

Đừng để món quà vuột mất, chết rồi mới hối tiếc!

Hãy thương yêu người Cha của mình thường xuyên hơn, không thì ít ra cũng để ý Họ trong ngày Lễ này nhé. Họ xứng đáng được quan tâm đấy!

Mừng Ngày TGuwf Phụ!

Happy Father’s Day!




THƠ: Chào Mừng Ngày QL VNCH 19/6 Cao Mỵ Nhân + VĂN: Đám Mây Vàng – Cao Mỵ Nhân & Thơ Cảm Tác Phương Hoa + Chung Văn

ĐÁM MÂY VÀNG

Cao Mỵ Nhân

    Buổi sáng ở Denver Colorado, tôi theo gia đình chị Nhàn, nguyên chị là một nữ tiếp viên hàng không, của hãng Hàng Không Việt Nam ( Air Vietnam ) thời đệ nhị Cộng Hoà (Việt Nam Cộng Hoà ) lên ngọn núi danh tiếng sát ngay thành phố đá đó.

    Trên đỉnh ngọn núi này, có một “đại hí trường”  có thể chứa hàng chục ngàn tân khách.  Chung quanh đại sảnh trường đó, toàn là vách đá dựng cao ngất, nhưng lòng động lại mái trống, lộ thiên.

     Gia đình chị Nhàn đông đủ dâu rể cháu nội ngoại, tất cả đều tỏ ra thân quen với lâu đài hí trường khổng lồ đó .

     Nghe tiếng gió từ bốn phương đổ về, chị Nhàn nói với tôi một cách trân trọng lắm : “Mỵ ạ, nơi đây người ta còn gọi là Chiếc đàn  “Phong cầm gió” vĩ đại nữa đấy .

     Tôi chỉ biết ngưỡng mộ và thán phục thiên nhiên, Đấng Tạo Hoá đã cho nhân thế này bao nhiêu là công trình tuyệt tác.

     Đang lúc mọi người trầm trồ khen ngợi vũ đình trường gió mưa sương gió thiên nhiên, tự đến, tự đi tới cái động to lớn mịt mù đó, thì nóc động hửng lên một khung nắng rỡ ràng…

      Một đám mây mầu vàng mỡ gà lững thững bay qua, tưởng như tà áo của thiếu nữ nào rơi trên mái động …

      Chị Nhàn và tôi đều sững sờ thốt :

     ” Mây vàng Hà Nội ” .

      Tại sao mây Hà Nội mầu vàng ?

       Ôi phải rất nhiều lời , hay rất nhiều thì giờ mới giải thích được điều thơ mộng đó, chỉ biết rằng nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh ngày xưa, đã mang mây vàng từ trung nguyên về Hà Nội.

       Và gần nhất với tôi thủa là thiếu nữ ở Saigon, đã có một nhà thơ tài tử, Nhị Thu viết cuốn thơ  “Mây Hà Nội” , năm 1961, cùng lượt với cuốn “Thơ Mỵ 1961” của tôi.

      Tất nhiên tôi chỉ nêu ra hình ảnh mây vàng Hà Nội dĩ vãng, nghĩa là trước 20 – 7 – 1954, hay trước khi chúng tôi di cư vào Nam thời sông Bến Hải  chia đôi đất nước.

   Đám mây vàng lặng lẽ rời khỏi nóc vũ đình trường đá đó, nắng còn ở lại cửa động lộ thiên một thoáng, cả chị Nhàn và tôi đều như có chút buồn phảng phất .

   Tôi hỏi chị một cách nhớ nhung rằng:

  “Chị ơi, ngày di cư, em ở tuổi vài năm “teen” đầu, chị gần gấp đôi tuổi em, thủa đó, chị có may áo dài lụa mầu vàng mơ, và nhất là, chị có may áo “vest” mầu mơ chín ở phố Nhà Thờ Hà Nội không ?”

   Chị Nhàn cười xa vắng :

  “Thế Mỵ cũng biết tiệm chuyên may áo vest ở phố Hàm Long đó à?”

 Bỗng lòng tôi chùng xuống chi lạ, ba tôi có lần đã cho mấy chị em tôi từ Hải Phòng về Hà Nội để may cho mỗi đứa một áo vest mầu vàng mơ tuỳ theo sở thích, hoặc mơ non, mơ chín, mơ sậm, mơ lạt v.v…

  Và chính buổi đi may áo dài, áo vest ở hiệu may danh tiếng phố Hàm Long xa xưa ấy, mà tôi nhớ mãi mầu mây thu Hà Nội. Ôi, có thể nói, ngoài mây thu vàng ở cái nơi tôi chỉ thấy đẹp thủa ấu thơ và thiếu niên ra, tôi không còn thấy thêm cái chất Hà Thành thanh lịch trong văn chương tiền chiến nữa.

    Thế nhưng hôm nay, tôi muốn nhắc tới một mầu mây Hà Nội rất kinh điển, chính mầu mây vàng lợt thôi, nhẹ nhàng , thơ mộng mà những người đã một thời say đắm nó, mây Hà Nội, như nhà thơ Nhị Thu, hay sau này, khi tôi lớn lên, trưởng thành rồi già đi như bây giờ, sắc mây vàng mỡ gà, vừa rực rỡ, vừa hoang mê, vừa thần thoại, chỉ còn trong cổ tích mất mát thôi.

    Ngay tức khắc tôi nhớ tới quý vị sĩ quan Quân Lực VNCH danh tiếng thơ ca lẫy lừng trong Cục Tâm Lý Chiến, mà không thể nào không nhắc tới mây vàng cố đô Thăng Long, là các vị người Bắc di cư năm 1954.

     Để rồi tôi ngồi một mình xót xa, bây giờ “điểm danh lại” thì số quý vị đó đã không còn trên trái đất: Thi sĩ đại tá Cao Tiêu, Thi sĩ, Hoạ sĩ Tạ Tỵ, Nhà văn Trung tá Hà Thượng Nhân, Nhà văn Trung tá Phan Lạc Phúc, Nhà văn Thiếu tá Đặng Trần Huân, Nhà văn Thiếu tá Phạm Huấn, Thi sĩ Đại uý Du Tử Lê, Thi sĩ Trung uý Thanh Tâm Tuyền.

   Thưa, rất nhiều văn nghệ sĩ quân đội nhưng ở các đơn vị khác, chẳng hạn Nhà văn Trung tá Duy Lam ở QĐI/ QKI.

    Hay, Thi sĩ Thiếu tá Tô Thuỳ Yên Trưởng phòng Văn Nghệ Cục Tâm Lý Chiến VNCH, nhưng, không gốc Hà Nội.

     Tôi chỉ đan cử hôm nay về quý vị Sĩ quan QLVNCH gốc Bắc di cư đã mãn phần, và ít nhiều một thời gắn bó tới mầu mây vàng Hà Nội thôi.

  Bởi vì quý vị nêu trên đã mang theo sắc mây vàng quá khứ ra đi. Và, thực sự tôi muốn hoài niệm hình ảnh Thi Sĩ đại tá Cao Tiêu cùng phu nhân đã thưởng lãm mầu mây vàng Hà Nội ở Hồ Gươm, trước khi Thi Sĩ Cao Tiêu tức cựu Đại tá Hoàng Ngọc Tiếu nhập ngũ.

    Một bức ảnh đen trắng xưa thôi, trên một ghế đá ở bờ hồ Gươm Hà Nội, Thi sĩ và phu nhân ngồi ngắm mây thu lượn quanh thành phố được tiếng là thanh lịch từ các thế kỷ trước.

   Buổi tôi hướng dẫn các động tác tập thể dục Dưỡng Sinh cho quý cụ cao niên, bịnh hoạn ở Câu Lạc Bộ Dưỡng Sinh Saigon, sau khi tôi ra tù cải tạo.

   Tôi tiếp chuyện một vị rất trưởng thượng quen quen.

    Cụ cho tôi coi một bao hình nhỏ, cụ đưa tôi bức hình vừa nêu, cụ hỏi:

“Cô có biết Đại tá Hoàng Ngọc Tiếu không, Thi sĩ đấy …”

   Tôi thưa với cụ là Thi sĩ Đại tá Cao Tiêu.

    Cụ gật đầu : “Ông ấy là em ruột tôi”.

    Tôi a  lên mừng rỡ, cụ tiếp “Tôi là Hoàng Mai Đạt”.

    Cụ Hoàng Mai Đạt nghệ sĩ hơn Đại tá Cao Tiêu, cụ vẫn vui vẻ thơ ca ở Câu lạc bộ Dưỡng Sinh trước khi qua Hoa Kỳ sau đó ít lâu.

    Lại một câu  chuyện về mây thu Hà Nội, cụ Hoàng Mai Đạt kể: “Tôi biết cô không có ở Hà Nội nhiều như chúng tôi, cái thế hệ mà thanh niên của thành phố có nhiều hồ, nhiều hơi thu lành lạnh, những đám mây vàng nhẹ như mối tơ vương sắc vàng rơi lững lờ trên thành phố thơ mộng từ ngõ hẻm ra đại lộ.

   Tôi lắc đầu, “Cháu không phải người Hà Nội của các cụ nhìn đâu cũng thấy chút gì vừa thân mật vừa kín đáo. Cháu lớn lên ở Saigon. Khung trời rộng quá, hầu hết mây trắng 4 mùa, nếu mây xám là sắp mưa…đơn giản, mau chóng như những cơn mưa rào, thật nhanh và chưa kịp lạnh cụ ạ.

     Thế rồi thì mỗi người mỗi chạy theo cái dòng chảy không riêng lẻ, nên chẳng thấy cô đơn lắm.

    Tôi qua Hoa Kỳ giống như quý vị tị nạn, lại càng chẳng bao giờ nhớ cái mùa thu mây vàng như trong văn chương thơ nhạc tiền chiến, hay trước ngày đất nước qua phân.

   Tôi cũng không về Bắc sau khi mọi người bảo là “thống nhất”. Tôi không nhớ nhung gì hết phần đất bên kia sông Bến Hải, dù tôi rất nhiều lần đứng bên cầu Hiền Lương do công tác xã hội tôi phục vụ trong Quân Lực VNCH, suốt cả chiều dài lãnh thổ từ Bến Hải tới Sa Huỳnh, cận nam Quảng Ngãi.

   Cũng có lúc tôi buồn nhìn mây bay, nghe gió thổi ở miền địa đầu giới tuyến, nhưng quả thực, không thấy lại mây mầu vàng mỡ gà mà thuở thiếu niên ba tôi cho về Hà Nội, để may áo vest phố Hàm Long chỉ còn trong ký ức.

   Và hôm theo gia đình chị Nhàn lên núi nghe gió hú trong đại hí trường, có một làn mây vàng ấm áp nhưng mong manh bay ngang đỉnh động đá khối khổng lồ, lộ thiên năm 1996.

Mầu mây vàng bất ngờ, khiến tôi nhắc đến hằng loạt tên tuổi những nhà thơ văn xuất thân ở Hà Thành thanh lịch, đã một thời hội tụ ở khuôn viên Cục Tâm Lý Chiến VNCH, rồi lưu vong, thả mây thu Hà Nội đi bát ngát, mênh mông…

Quý vị ấy không ai gặp ai nữa, kể cả những đám mây vàng tan loãng, hay đổi mầu trong không gian vô cùng mịt mù ngoài vũ trụ càn khôn…

    Hawthorne  10 – 6 – 2021

           CAO MỴ NHÂN

ĐÁM MÂY VÀNG

(Cảm tác từ bài viết “Đám Mây Vàng” của nữ sĩ Cao Mỵ Nhân)

Tha hương hạnh ngộ đám mây vàng

Mây-của-Hà-Thành, tâm dội vang

Ngắm núi bâng khuâng đôi mắt lạc

Nhìn trời xao xuyến mảnh hồn hoang

“Phong cầm gió” quyện âm lung luyến

“Đại hí trường” vương nắng loáng loang

Cảnh sắc thiên nhiên ôi tuyệt diệu

Bút nâng ghi lại phút huy hoàng

Phương Hoa – JUN 10th 2021

**

NHỮNG ĐÁM MÂY
(Cảm tác sau khi đọc “Đám Mây Vàng của CAO MỴ NHÂN)

Mây Hà- Nội, mây Sài- gòn, hoa cúc
Rồi thăm mây tận đỉnh Co-lo-ra-do
Nhịp gió reo nơi Đại hý trường Denver
Thành cây đàn “đại phong cầm” cao ngất

*
Tôi cũng có đám mây vàng trong mắt
Khi heo may xào xạc đón thu về
Phố Hàng Đào, em áo dài vàng huê
Gã lãng tử tưởng mây vàng trước gió

*
Nước Hồ Gươm xanh rêu màu Tháp cũ
Ngõ Gia Ngư họp chợ Lụa Hà Đông
Để em đi mặc tấm áo phiêu bồng
Cho nhà thơ tưởng đến màu hoa cúc

*
Người nhạc sĩ thấy thu vàng nước Úc
Còn nhà thơ cảm giác mái Denver
Một màu vàng rực rỡ rất là thơ
Hôm nay chợt nảy sinh trong tâm thức

Chung Văn – 10/06/202




CHÀO MỪNG GS TS MAI THANH TRUYẾT Gia Nhập VTLV – CT Lê Văn Hải & Thơ Chúc Mừng – Phương Hoa

Tin thật là vui cho VTLV! Cây bút này “nặng ký” lắm, khó có ai trong lãnh vực biên khảo hơn Giáo Sư Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết cả!!!

Lê Văn Hải

Chúc mừng Văn Thơ Lạc Việt càng ngày càng lớn mạnh!

CHÀO MỪNG

GS TS MAI THANH TRUYẾT

LẠC VIỆT Văn Đàn rộn sắc hoa

Mừng MAI THANH TRUYẾT đã vào nhà

Giáo Sư bể học khôn người sánh

Tiến Sĩ rừng tài khó kẻ qua

Nghiên cứu môi trường, danh thế giới

Bảo toàn nguồn nước, tiếng Cờ Hoa

Ầm ầm bút lướt như dông bão

Năm bữa ba ngày tác phẩm ra

Phương Hoa – JUN 9th 2021

Lê Văn Hải

Nhân đây, xin được giới thiệu chút tiểu sử và một bài tiêu biểu trên trang nhà của Hội Ái Hữu Petrus Trương Vĩnh Ký:

Đôi Nét Về Giáo Sư Tiến Sỹ MAI THANH TRUYẾT

Cựu học sinh Petrus Trương Vĩnh Ký niên khóa 1953-60

Tiến sĩ Hóa Học Đại học Besancon, Pháp.

Assistant phụ trách Thí nghiệm Hóa Vô cơ, Trường Institut de Chimie, Besancon, Pháp.

Chức vụ ở Việt Nam trước năm 1975:

  • Giảng sư (Associate-Professor), Trưởng ban Hóa học, Đại học Sư phạm Sài Gòn, Việt Nam.
  • Giám đốc Học vụ, Viện Đại học Cao Đài, Tây Ninh, Việt Nam.

Chức vụ ở Hoa Kỳ:

  • Nghiên cứu cho Chương trình thuộc Viện Y tế Quốc gia (NIH) của Đại Học Y Khoa Minnesota.
  • Giảng dạy Hóa học Đại cương tại King College, Fresno, CA.
  • Giám đốcPhòng thí nghiệm và Giám đốc Xử lý Phế thải, Chemical Waste Management, Kettleman City, CA.

Hiện tại:

  • Giám đốc nhà máy xử lý nước thải (Leachate Treatment Plant), BKK Corporation, West Covina, CA.
  • Giám đốc Kiểm soát An toàn và Phẩm Chất (QA/QC), Weck Laboratories Inc., Industry City, CA.
  • Giám đốc Kỹ thuật, EnvironmenD Consultant Services, LA.

Công tác Hội đoàn: – Chủ tịch Hội Đồng Quản Trị Hội Khoa học & Kỹ thuật Vịệt Nam tại Hoa kỳ (VASTS).

Hội Ái Hữu Petrus Trương Vĩnh Ký Úc Châu xin chân thành cám ơn anh Mai Thanh Truyết đã cho phép chúng tôi trích đăng các bài viết của anh.

Làm Thế Nào Hạn Chế Sự Hâm Nóng Toàn Cầu?

Mai Thanh Truyết

Ngày nay, có thể nói rằng hầu hết mọi người trong chúng ta đều đồng ý hiện tượng hâm nóng toàn cầu là một thách thức lớn cho toàn thế giới. Chúng ta đang sống trong một tình trạng bất ổn chung và sự phát triển bến vững (sustainable) gần như không có căn bản vững chắc dù các quốc gia đang phát triển hay đã phát triển viện dẫn bất cứ lý do nào để biện minh cho hành động phát triển không bền vững của mình.

Trước thực tế kể trên con người phải làm gì?

Trước hết, lượng năng lượng cần thiết cho nhu cầu hàng ngày cho nhân loaị là xăng dầu và nước. Xăng dầu dùng cho việc di chuyển trên thế giới không ngừng tăng lên đều đặn đồng biến với thời gian và giá cả cũng tăng vọt cũng như chưa có dấu hiện nào báo trước là giá xăng sẽ được bảo hoà ở một thời điểm nào đó. Và nước dùng cho sinh hoạt trong cuộc sống có khuynh hướng ngày càng cạn kiệt, cũng như hiện tại vẫn chưa có phương cách giải quyết thoả đáng. Do đó, danh từ bền vững (sustainability) hiện tại khó có chỗ đứng dưới mắt nhân loại và những nhà khoa học trên thế giới.

Làm sao có thể phát triển bền vững được khi giá xăng cao, nước sinh hoạt giảm và cũng tăng giá đồng biến theo thời gian, kéo theo tất cả vật giá của mọi nhu cầu hàng ngày của con người. Từ đó, ảnh hưởng lên sự phát triển xã hội, và sự hâm nóng toàn cầu ngày càng tăng trưởng nhanh hơn, với lượng khí phát thải vào không khí như CO2 đã vượt mức 400 mg/lít không khí vào ngày 4/3/2013, sớm hơn dự trù theo mô hình toán của các nhà khoa học hơn một năm. Thế giới hiện nay không còn thích ứng với điều kiện bền vững nữa như yêu cầu của Liên Hiệp Quốc nêu ra trong Nghị trình-21 là phát triển xã hội, tăng cường phúc lợi cho nhân loại, và bảo vệ hài hoà môi trường sống.

Sự bền vững của xã hội loài người

Nhiều hội đoàn chuyên môn về khoa học, công nghệ từ các NGO thiện chí đến những hiệp hội khoa học của các chính phủ đều đánh giá vấn đề bền vững trong phát triển là một vấn đề cấp bách trong hiện tại. Tại Hoa Kỳ, Hội Hoá Học (ACS) với châm ngôn:”Science & Technology for Sustainable Well-being” (tạm dịch Khoa học và Công nghệ cho Nhận thức bền vững), cũng như Hội Nghiên cứu cho sự Tiến bộ Khoa học Hoa Kỳ (American Association for the Advancement Science (AAAS)) đã lần lượt tổ chức hàng năm nhằm mưu tìm một giải pháp thích ứng cho việc xử dụng hai loaị năng lượng căn bản nầy.

Mục tiêu của các buổi họp là thêm một lần nữa, hai cơ quan khoa học lớn nhất nước Mỹ hy vọng khơi động ý thức nhân loại và nhấn mạnh ý nghĩa thực sự của danh từ bền vững (sustainability). Theo định nghĩa, sự bền vững là sự tập trung khả năng để đạt được một đời sống an toàn và khoẻ mạnh cho tất cả nhân loại ngày hôm nay mà không ảnh hưởng hay di hại đến các thế hệ về sau. Định nghĩa trên bao gồm tất cả mọi khía cạnh của đời sống như chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường, văn hoá v.v… và đíều nầy đòi hỏi các quốc gia đã phát triển chẳng những phải duy trì và không ngừng cải thiện tiêu chuẩn của đời sống hiện tại cho người dân trong nước sở tại, mà còn phải có bổn phận giúp đở những quốc gia kém phát triển cần phải tăng cường phúc lợi thêm cho con dân của họ.

Theo hướng suy nghĩ trong một quyển sách viết vào năm 2005 của Jared Diamond, giáo sư UCLA dưới tựa đề: “Sự sụp đổ: Xã hội chọn lựa để thành công hay thất bại như thế nào?” (Collapse: How societies choose to Fail or Succeed?), và quyển thứ hai đã được giải Pulitzer “Súng đạn, Mầm bịnh, Sắt thép: Thành phẩm sau cùng của Xã hội loài người” (Gun, Germs, & Steel: The fates of Human Societies), GS Diamond đã khảo sát tại sao và làm thế nào mà những quốc gia Tây phương ở Bắc bán cầu có khả năng phát triển công nghệ và thống trị hầu hết thế giới.

Trong quyển sách đầu, ông cũng đã phân tích tại sao một số quốc gia đã phát triển mạnh nhưng lại sụp đổ sau đó, và từ đó có những bài học rút ra từ hiện tượng nầy. Ông cũng đã lý giải sự sụp đổ của nền văn minh cổ như thành phố Mayan ở Trung Mỹ, sự hũy diệt của xã hội Viking ở Greenland v.v…

Và để kết luận, GS Diamond đưa ra 5 yếu tố căn bản đóng góp vào sự sụp đổ của một số xã hội văn minh thời cổ đại. Đó là:

*1-Sự tàn phá môi trường.

*2-Sự thay đổi khí hậu thiên nhiên.

*3-Sự tàn ác của xã hội lân bang.

*4-Sự hỗ trợ thương mãi từ các xã hội khác.

*5-Và sau cùng sự thích ứng hay không thích ứng của xã hội trước những vấn nạn xã hội cùng sự gia tăng dân số và nhu cầu tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên quá độ.

Từ đó, ông đưa ra nhận định là các quốc gia xưa bị sụp đổ vì những yếu tố trên, và ngày hôm nay, các quốc gia đã phát triển cũng sẽ đối mặt với những thách thức tương tự. Ngoài ra, cũng còn thêm một yếu tố thứ sáu mới nữa do loài người ngày hôm nay tạo dựng ra; đó là sự phá hủy đa dạng sinh học (biodiversity) của thiên nhiên.

Nếu tiến trình “phá hoại” của nhân loại tiếp tục, nếu con người không còn khả năng giải quyết những vấn nạn căn bản trên, thế giới chắc chắn sẽ bị hủy diệt toàn diện, chứ không phải từng vùng hay từng địa phương nữa.

Vai trò của nhà hóa học

Qua một số nhận định nêu trên, câu hỏi được đặt ra là sự bền vững được các nhà hoá học nhìn dưới nhản quan nào?

Hiện tại, đã có hàng trăm cuộc nghiên cứu để sống còn và nhiều tài liệu giáo dục về hiện tượng bền vững nầy cũng như những đề nghị để bảo toàn sự bền vững toàn cầu của những nhà hoá học trên thế giới. Mục tiêu sau cùng không những là truy tìm công nghệ mới và sạch mà cũng phải cải thiện những công nghệ hiện tại cho được đắc dụng hơn và giảm thiểu sự phát thải ô nhiễm ra môi trường trong sản xuất hay dịch vụ.

Từ đó, vai trò của nhà hoá học sạch và xanh rất cần thiết trong lúc nầy và Viện Hoá học Xanh (Green Chemistry Institute) thuộc American Chemistry Society của Hoa Kỳ đã bắt đầu làm cầu nối trong học đường, kỹ nghệ, và chính quyền để cùng nhau giải quyết vấn nạn toàn cầu.

Một thí dụ điển hình là TS John Warner, nhà hoá học xanh ở Đại học Massachusetts, Lowel, Giám đốc Trung tâm Hoá học Xanh, đã hướng dẫn một phái đoàn hoá học xanh đi khảo sát phát triển bền vững ở Nam Phi. Ông và phái đoàn cùng thảo luận với các nhà hoá học Phi về sự bền vững toàn cầu. Đối với những nhà hoá học Phi, nhiệm vụ của họ tương đối dễ dàng và giản dị trong việc phát triển ngành hoá học dựa theo tài nguyên của bản địa và áp dụng kỷ thuật tiên tiến từ các quốc gia đã phát triển. Nhưng vai trò của nhà hoá học xanh là làm thế nào để mang vào hội nghị khái niệm về bền vững hướng đến tương lai đến cộng đồng Phi châu mà chính họ không hề đề cập đến.

Cụ thể hơn hết là phái đoàn Warner đã thăm viếng đại nông trường Maine trồng khoai tây, nơi chỉ sản xuất khoai tây để làm khoai chiên lát mõng hay nấu ăn. Trong khi đó, ông cố gắng thuyết phục các khoa học gia Phi châu phải thay đổi não trạng là biển đổi những sản phẩm từ khoai thành những sản phẩm cao cấp hơn, có hiệu quả kinh tế cao hơn. Đó là thiết lập những nhà máy biến chế bột khoai thành polylactic acid, thành bio-polymer để làm những sản phẩm bao bọc thực phẩm hay quần áo. Điều nầy giải quyết được một số nhu cầu của địa phương và cũng là một giải pháp đóng góp vào sự cải thiện môi trường bền vững trong phát triển.

Do đó, có rất nhiều chiều hướng con người có thể làm để đạt được sự phát triển bền vững trong đó những nhà hoá học xanh và sạch là một thành phần đóng góp không nhỏ trong việc bảo vệ môi trường trong tương lai.

Vai trò của chúng ta

Theo thống kê Hoa Kỳ vào năm 2010, lượng khí carbonic (CO2) phát thải vào không khí do nhiều nguồn khác nhau và có tỷ lệ như sau: việc chuyên chở chiếm 41%, điện năng 22%, công kỹ nghệ không dùng khí đốt 15%, khí đốt thiên nhiên 14%, và kỹ nghệ dầu hoả 8%.

Phương án California: Tại California, mức phát thải CO2 tính trên đầu người là 11 tấn/năm vào năm 2006 và toàn Cali, tổng lượng khí phát thải lên đến hơn 500 triệu tấn/năm. Do đó, tính đến năm 2020, Cali phải giảm 174 triệu tấn. Các biện pháp dự trù cho mức giảm thiểu nầy đứng về phía chính quyền là:

  • Xe sạch: Bắt đầu từ năm 2009, tiểu bang cần phải đạt được 33% xe sạch so với 28% năm 2006;
  • Bảo quản và tăng cường rừng để có khả năng hấp thụ 20% khí CO2 phát thải vào không khí;
  • Năng lượng: Bảo quản và hạn chế năng lượng sử dụng trong các cơ xưởng để giảm bớt 30 triệu tấn khí CO2 hàng năm.

Đối với mức gia tăng dân số hiện tại, cần tăng cường hệ thống chuyển vận công cộng để giảm việc xử dụng phương tiện di chuyển cá nhân.

Về năng lượng tái tạo: Cố gắng đạt 20% năng lượng tái tạo cho điện năng, giảm 10% lượng CO2 phát thải;

Về nhà máy phát điện: Dùng công nghệ khí than (carbon gasefication) làm giảm thiểu tối đa việc phát thải CO2, giảm được 10%.

Có thể giảm được 4% lượng CO2 phát thải trong việc thu hồi khí methan từ các bãi rác để biến thành điện năng và giảm thiểu được các khí phát tán trong kỹ nghệ dầu khí hiện tại.

Đứng về phía cá nhân, chúng ta cần có vài hành động tích cực ngõ hầu đóng góp vào việc cải thiện sự hâm nóng toàn cầu. Câu nói bất hủ của Edmund Burke, một triết gia người Anh vào cuối thế kỷ 18:”Không một ai làm một lỗi lầm lớn hơn việc anh ta không làm gì hết mặc dù anh ta có thể làm một chút gì đó!” (Nobody made a greater mistake than he could only do a little!). Do đó, mỗi người trong chúng ta cần phải ghi nhận rằng nguồn năng lượng trên thế giới lớn nhứt chính là nguồn bảo toàn năng lượng. Chúng ta cần phải chuẩn bị tư tưởng trong việc cải thiện, tái sử dụng, và bảo quản năng lượng để hướng đến việc dùng chúng một các bền vững và làm cho môi trường được trong sạch.

Một vài thí dụ cụ thể sau đây đóng góp vào việc bảo vệ môi trường cũng như hạn chế sự hâm nóng toàn cầu mà mỗi người trong chúng ta có thể làm được:

  • Sửa chữa giày dép, quần áo để dùng lại, giảm được mức sử dụng năng lượng dùng trong việc sản xuất sản phẩm mới;
  • Điều chỉnh nhiệt độ nóng/lạnh thấp/cao hơn tiêu chuẩn 50F có thể hạn chế được 5% năng lượng tiêu dùng trong việc xử dụng nước nóng và máy lạnh hay máy sưởi ấm;
  • Máy giặt: 90% năng lượng xài trong nhà là do nguồn nước nóng dùng cho máy giặt. Nên thay thế bằng nước ấm. Phơi quần áo ngoài sân; kiểm soát và bảo quản thường xuyên và có định kỳ máy nước nóng có thể giảm được 20% năng lượng dùng trong nhà;
  • Bánh xe của bạn cần được bơm cao hơn áp suất trung bình cho phép có thể giảm được 5% lượng xăng tiêu dùng. Bảo trì xe thường xuyên cũng giảm được một lượng xăng tương tự;
  • Tránh dùng máy lạnh càng nhiều càng tốt. Uỷ ban Năng lượng California (CEC) khuyến cáo nên thay mái nhà màu xậm bằng màu sáng hơn sẽ hạn chế được mức năng lượng tiêu dùng trong nhà;
  • Tránh việc đổ hoá chất dùng trong nhà vào đường thoát nước cũng như hạn chế tối đa việc dùng hoá chất trong sinh hoạt gia đình và ngoài sân cỏ;
  • Dùng kiếng cửa sổ có màu và sử dụng hệ thống skylights trên mái nhà để tiết kiệm năng lượng;
  • Nên tắm bằng búp sen thay vì ngâm mình trong bồn tắm. Nên nhớ một bồn nước tắm tương đương với 4 lần tắm bằng búp sen;
  • Kiểm soát nước rò rỉ từ các vòi nước trong nhà. Một giọt nước rỉ liên tục trong một năm tương đương với lượng nước sinh hoạt một ngày cho 200 người;
  • Trong sinh hoạt gia đình, tránh việc dung các sản phẩm chứa dung môi (solvent) để tránh ô nhiễm không khí, cố gắng dùng bao bì bằng giấy, cartông, hay plastic bằng thực vật thay vì bằng hoá chất như PE, PCE, PVC v.v..;
  • Sử dụng thực phẩm, rau trái đúng mùa để không khuyến khích việc trồng trọt trái mùa, phải tốn thêm nhiều năng lượng.

Tóm lại, vấn đề đặt ra nơi đây là mỗi người trong chúng ta hãy tự vấn lấy chính mình. Một khi ý thức được rõ ràng sự hiện hữu của con người cũng như trách nhiệm trước toàn cầu và tương lai, chúng ta sẽ tự hạn chế mọi sinh hoạt có thể được xem là làm tăng thêm nguy cơ hâm nóng toàn cầu; từ đó chúng ta sẽ biết phải làm gì. Làm để cho sự tồn vong của nhân loại và nhất là đừng để các thế hệ về sau nhận lấy nhiều hệ lụy xấu của con người ngày hôm nay.

Nên nhớ, chúng ta đang ở trên Quả Địa cầu nầy là do sự vay mượn của Thiên Nhiên, và chúng ta cần phải trả lại sự Nguyên Thủy của Thiên Nhiên cho các thế hệ tương lai.

Làm được như thế, chúng ta mới xứng đáng là con người của sự toàn cầu hoá.

Mai Thanh Truyết




TRÁI MỒNG TƠI – THƠ Xướng Họa CAO MỴ NHÂN + PHƯƠNG HOA + MINH THÚY & Loài Hoa Mắc Cỡ – LÊ TUẤN

TRÁI MỒNG TƠI

Cao Mỵ Nhân

*

Quán đẫm sương thu buồn rỉ rả

Mồng tơi ai nhuộm má môi em

Chiều hoang sắc tím trên tầng lá

Không lỗi lầm sao vẫn lấm lem

*

Anh hỏi thơ xưa anh viết tặng

Giấy vàng mực tím có còn nguyên

Em cười: lời đã dần xa vắng

Nên chữ hình như cũng nhạt thêm

*

Tơ trắng thu vương càng chất ngất

Mùa mưa vãn hạ, chớm heo may

Lá rơi theo gió bay đi mất

Ngõ vắng, hồn thơ bỗng đắm say

*

Nhấm thử mồng tơi, e hoá dại

Tay anh hoen tím cả trang thơ

Thương em ưa chuốc sầu quan tái

Ngay lúc đường quen vẫn đợi chờ …

CAO MỴ NHÂN (HNPD)

MoMonMongMonMoM

TÍM MỰC MỒNG TƠI

(Kính họa)

*

Ngày xưa bờ giậu xanh rôm rả

Tím ngát chùm chùm ửng má em

Bướm chập chờn đùa vờn nhánh lạ

Nhập nhoè hạt chín mực màu lem

*

Lá tre bút viết lời trao tặng

Tím cả tình yêu nét tím nguyên

Môi mắt ngọt ngào tim rộn lắng

Nụ cười hạnh phúc má hồng thêm

*

Chữ màu tim tím hồn ngây ngất

Xuân đến hạ về lẫn chớm may

Vết mực xưa nhoà buồn chứa chất

Đêm tàn loang loáng giấc mơ say

*

Tình mực mồng tơi thời tuổi dại

Tím còn in đậm sẫm lời thơ

Muốn tìm kỷ niệm nhưng lòng ngại

Biết nửa hồn kia có mãi chờ?

Phương Hoa – MAY 28th 2021

***

GIẬU MỒNG TƠI

*

Nhớ chuyện ngày xưa lòng rộn rả

Vui buồn một thủa sống trong em

Mồng tơi giậu sát tường xanh thắm

Vặt trái đùa chơi mực tím lem

*

Tập vẽ bôi màu trang giấy tặng

Trao người bức ảnh cảnh đào nguyên

Là khơi ý tưởng thời mơ mộng

Có lúc run làm xáo trộn thêm

*

Kỷ niệm êm đềm tim cảm ngất

Sương tàn khoát nhẹ bóng trăng lay

Mồng tơi vẫn mãi khơi nguồn cảm

Góc bể chân trời gối mộng say

*

Khó ngỡ hành trang thời trẻ dại

Tâm hồn vướng víu thả dòng thơ

Soi vùng ký ức câu vần quyện

Chén nguyệt từng đêm rũ rượi chờ

             Minh Thuý (Thành Nội)

                 Tháng 5/30/2021




Văn Thơ Lạc Việt MỪNG LỄ CHIẾN SĨ TRẬN VONG: Lê Văn Hải, Lê Tuấn, Phương Hoa, Minh Thúy, Hoàng Mai Nhất

DƯỚI ĐÂY LÀ hai bài thơ phỏng dịch của Phương Hoa, một bài dịch thể thơ Lục Bát và bài kia thể thơ bảy chữ, từ bài thơ tiếng Anh của thi sĩ John Mccrae: “In Flanders Fields,” bài thơ nổi tiếng được viết trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất bởi Trung tá John McCrae, một bác sĩ người Canada, thường được đọc trong ngày lễ Memorial Day.




LỜI CHIA BUỒN & THƠ XƯỚNG HỌA Tiển Biệt Nhà Thơ Đại Lãn Nguyễn Thượng Dực -Thơ Lê Tuấn, Phương Hoa, Hạnh Thảo, Thư Khanh & Dương Huệ Anh

NHỮNG LỜI PHÂN ƯU TỪ VĂN THƠ LẠC VIỆT:

Lê Tuấn:

Tôi mới vừa nhận được tin buồn từ hội (CVA61). Về sự ra đi của Đại Lãn Nguyễn Thượng Dực. Người anh và cũng là người bạn tù với tôi tại trại tù số 6 Nghệ Tĩnh. Trong tác phẩm Hổi Ký Đội Đập Đá, tôi có viết về Nguyễn Thượng Dực người bạn tù, sống chung một đội tù với tôi tại trại tù số 6 Huyện Thanh Chương Tỉnh Nghệ Tĩnh miền bắc. Quý vị nào biết tin thêm về chương trình tang lễ xin thông báo.

Xin thành kính phân ưu cùng tang quyến.

Cầu xin linh hồn nhà thơ Đại Lãn Nguyễn Thượng Dực

Sớm siêu thoát. An nghỉ trên cõi Niết Bàn.

Thành Kính Phân ưu

Gia đình Lê Tuấn

*

Hội Ái Hữu CHS. CVA. Bắc California:

T H À N H   K Í N H   P H Â N   Ư U

Vô cùng thương tiếc khi nhận được tin

Đồng môn (CVA61).

Ông NGUYỄN – THƯỢNG – DỰC   

Pháp danh: Chơn Minh Đạo.

Đã tạ thế ngày  22 tháng 05 năm 2021

Hưởng thọ 79 tuổi.

Toàn thể cựu-học-sinh C.V.A. Bắc California

xin THÀNH KÍNH PHÂN ƯU cùng gia đình

và tang – quyến.

Nguyện cầu hương – linh đồng môn Nguyễn Thượng Dực sớm siêu sanh tịnh- độ về cõi Niết – Bàn.

HỘI ÁI HỮU CHS. CVA. BẮC CALIFORNIA

**

Nguyễn Hồng Dũng:

Hôm nay là Rằm tháng Tư Tân Sửu, Lễ Phật Đản, Phật Lịch 2645. Kính chúc quý văn thi hữu VTLV luôn thân tâm an lạc.

Về sự ra đi của nhà thơ Đại Lãn Nguyễn thượng Dực là một mất mát lớn trong văn đoàn chúng ta, khi nào tang lễ thực hiện xin vị nào biết rõ nên báo trước để chúng ta kính viếng, bây giờ xin cầu nguyện cho Hương Linh Đạo Hữu Chơn Minh Đạo tiêu diêu nơi miền Lạc Cảnh.

Thành kính chia buồn cùng tang quyến và những thân hữu rất thân với người quá cố.

Kính

g/đ Nguyễn Hồng Dũng

*

Lê Văn Hải:

Kính Anh Tuấn,

Chia buồn cùng Anh, vừa mất một người Bạn, nhất là trong những thời gian nghiệt ngã, đau thương trong tù.

Văn Thơ Lạc Việt cũng mất một Thi sĩ thành viên, rất hiền hòa dễ mến, chan hòa tình nghĩa vui buồn với Anh Em.

Khi bình thơ, nhìn ra nhiều khía cạnh, rất độc đáo.

Xin Thi Sĩ Nguyễn Thượng Đực, nhận cái chào vĩnh biệt của Anh Chị Em Văn Thơ Lạc Việt chúng tôi.

Ngàn năm xa cách…bóng trăng trôi!

Văn Hải

*

Minh Thúy:

Mọi người lần lượt ra đi . Kính nguyện cầu hương linh đạo hữu Chơn Minh Đạo sớm được siêu sanh tịnh độ.

Minh Thúy

*

Lê Anh Thượng:

Thật buồn khi hay tin anh Nguyễn Thượng Dực (Cả Dực, người bạn tù vai anh của bọn mình). Trong tù, tôi, Cả Dực và Dương Văn Chương kết nghĩa anh em sinh hoạt chung một tổ; sau dó anh xuống Đội Nhà Bếp và theo biên chế định kỳ của bọn chúng nên tôi với anh Lê Tuấn và Bùi Xuân Đang (hiện ở Pháp) kết thành một tổ sống chết với nhau.

Nay được tin buồn này, không biết nói gì hơn chỉ còn biết gởi lời chia buồn đến gia đình anh và nguyện cầu hương linh anh sớm về cỏi Niết Bàn.

Tôi cũng đã gọi phone thông báo đến các bạn tù Đội Đập Đá Trại 6 Nghệ Tỉnh như các anh: Nguyễn Thanh Vân, Nguyễn Đức Lợi, Sữ Hồng Xuân, Tín, Đằng (Xã Trưởng miền Tây) ở Westminter biết tin buồn này, để cùng cầu nguyện và chia xẻ nỗi đau mất mát này với gia đình anh. 

Thành kính Phân Ưu

Gia Đình Lê Anh Thượng (Hoàng Mai Nhất)




Lời Chúc Mừng Đại Lễ Phật Đản 2021- LÊ VĂN HẢI & Thơ Phương Hoa – Hoàng Mai Nhất




THƠ Xướng Họa: HẸN EM – CHỜ ĐẾN RƯỢU KHÔ- Mạc Phương Đình & Phương Hoa + Ca Khúc DÁNG HOA thơ Mạc Phương Đình – Nhạc LÝ KIẾN TRUNG – Ca sĩ Ngọc Mỹ




THƠ Thăm Bệnh Thành Viên VTLV- Dương Huệ Anh & Phương Hoa




THƠ XƯỚNG HỌA “Buổi Chiều Vàng” – LÊ TUẤN, Minh Thúy, Phương Hoa




Thơ MỪNG CHIỀU HỘI NGỘ – Phương Hoa + Bài Họa Minh Thúy & Thơ CHÚC MỪNG – Thư Khanh & Bài viết + YouTube Mạc Phương Đình




Thơ NGÀY HỘI NGỘ, Thơ CHÚC MỪNG của nhà thơ THƯ KHANH, & Tường Thuật của nhà thơ, nhà báo MẠC PHƯƠNG ĐÌNH




Thơ Xướng Họa: THIỀN VÀ MÙA XUÂN – Lê Tuấn, Minh Thúy, & Phương Hoa




Thành Kính Phân Ưu: BÉ KÝ, NỮ HỌA SĨ TIÊU BIỂU, NỔI DANH NHẤT VIỆT NAM VỪA TỪ TRẦN!

THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

**

VĂN THƠ đưa tiển một nhân tài

LẠC VIỆT chia buồn, thương tiếc thay

BÉ KÝ một đời danh sáng mãi

Cọ Tiên trọn kiếp tiếng lưu hoài

Phối màu nét trải tranh rồng lượn

Tốc họa bút vờn ảnh phụng bay

Đã hết nợ trần rời thế tục

Chúc người an lạc chốn Thiên Thai

Văn Thơ Lạc Việt

Phương Hoa – May 13th 2021

Bé Ký Khi còn trẻ

Nữ họa sĩ Bé Ký, một tên tuổi gắn liền với nền hội họa của người Việt Nam, được giới hội họa ngoại quốc biết đến nhất, vừa qua đời, vào chiều hôm qua, Thứ Tư, 12 Tháng Năm, tại tư gia ở Westminster, hưởng thọ 83 tuổi.

Tin này được Ông Cung, con trai của họa sĩ Bé Ký xác nhận và thông báo cho các bạn hữu.

Ông Cung kể: “Mẹ mất vào khoảng 2 giờ đến 6 giờ chiều. Tôi về nhà thì thấy bà mất trong lúc ngủ và đang nắm tay ba. Mẹ tôi không chỉ là một người mẹ bình thường, và còn là một họa sĩ rất thành công mà nhiều người đã biết.”

Nữ Họa sĩ Bé Ký, tên thật là Nguyễn Thị Bé, sinh năm 1938 ở Hải Dương, Bắc Việt. Bà mồ côi cha mẹ từ lúc 8 tuổi. Thiếu tình thương, vì vậy, điều đó ảnh hưởng nhiều tác phẩm của bà, đã tạo ra những bức tranh với nội dung tràn đầy tình mẫu tử.

Sau khi di cư, bà sống với cha mẹ nuôi, khi vào miền Nam. Sau đó, tìm lại được cha mẹ ruột sau năm 1975, nhưng tất cả đã qua đời.

Về hội họa, bà tự học vẽ từ nhỏ và được các họa sĩ như Trần Đắc, Trần Văn Thọ và Văn Đen chỉ dẫn.

Bà là nữ họa sĩ có nhiều cuộc triển lãm nhất, chính vì thế mà hội họa thế giới biết về bà nhiều nhất. Từ năm 1957 đến 1975, bà có đến 16 cuộc triển lãm ở Sài Gòn, có tranh bán nhiều nhất! có giá nhất!

Sau khi đến Hoa Kỳ vào năm 1989, bà cùng chồng là họa sĩ Hồ Thành Đức và gia đình sống ở thành phố Westminster, California. Các tác phẩm của bà cũng được trưng bày tại nhiều cuộc triển lãm tại rất nhiều tiểu bang, và còn được trưng bày tại nhiều Học Viện nổi tiếng của Hoa Kỳ.

Sự ra đi của nữ họa sĩ Bé Ký là một mất mát lớn đối với nền hội họa của người Việt Nam, vì bà có rất nhiều tác phẩm cống hiến độc đáo trong lãnh vực này.

Họa sĩ Bé Ký là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên theo con đường hội họa, với nét tốc họa theo đường lối mới, rất đặc biệt. Nét vẽ của bà khó ai có, khó ai bắt chước được. Bà tự học vẽ từ nhỏ, và bắt đầu vẽ tranh từ lúc còn rất trẻ.

Những tác phẩm của họa sĩ Bé Ký rất phóng khoáng, đầy tinh thần, tình tự đáng yêu của dân tộc, thể hiện được nhiều mặt sinh hoạt của xã hội.

Tranh của bà có đề tài rất gần gũi với đời sống, lúc thì

 vẽ người bán hàng ngoài đường, thợ hớt tóc, lấy ráy tai, đá gà, đi chợ…nên ai cũng thích. Từ lúc trẻ, bà đã được báo chí Pháp, Âu Châu ca ngợi rất nhiều.

Sự ra đi của bà là mất mát lớn nền hội họa Việt Nam, nhất là đối với phái nữ, vì bà là đại diện tài năng vẽ cho họ trong nhiều năm, trong lãnh vực hội họa thế giới. Cho đến bây giờ vẫn chưa thấy họa sĩ nữ nào thay thế vị trí này được cả.

Văn Thơ Lạc Việt xin gởi lời chia buồn đến Họa sĩ Hồ Thành Đức và Tang Gia. Quý vị vừa mất một người thân, Việt Nam trong lãnh vực hội họa, mất một Họa sĩ tài năng hiến có.

Focus on six candles in foreground.

(Lê Văn Hải Theo NV)




VIPASSANA: Môn Thiền Cho Mọi Tôn Giáo – “MÙA XUÂN NỞ HOA TRONG TÔI” – Tác giả Phương Hoa. (Update thêm “Tranh Thiền Ngôn” của chủ tịch VTLV Lê Văn Hải & Cảm Nhận Và Chia Sẻ Ý Nghĩa Về Thiền Của nhà thơ Lê Tuấn)

Tranh và “Thiền Ngôn” (trên) của Chủ Tịch VTLV Lê Văn Hải

Bạn có từng than vãn, “Đời là bể khổ?”

Bạn có bao giờ đi tìm kiếm sự bình yên cho tâm hồn?

Bạn đang bị căng thẳng vì cuộc sống tất bật, vì gia đình, hay vì tình yêu?

Bạn muốn thoát khỏi khổ đau và tìm hạnh phúc thực sự cho đời mình?

Mời bạn theo dõi bài ký sự dưới đây. Tác giả nhờ có duyên may tìm được giải pháp cho sự an định thân tâm, để có thể gạt bỏ những “hỉ nộ ái ố” của đời thường, và biến mình trở thành một người hoàn toàn mới. Xin chia sẻ lại những kinh nghiệm và thành quả này như là món quà Xuân tặng quý bạn đọc trong Năm Mới Kỷ Hợi, để bạn “nhâm nhi” cùng bánh mứt trong ba ngày Tết, và biết đâu từ đó bạn có thể tìm được hướng đi mới, tìm được niềm an lạc và hạnh phúc thật sự cho đời mình.

****

“Người tràn đầy năng lượng. Đầu óc thanh thản. Tâm bừng sáng. Bước chân lâng lâng. Tinh thần vững như… bàn thạch.”

Đó là những gì bản thân tôi cảm thấy, khi đứng dậy từ thiền đường sau buổi tịnh tọa cuối cùng của khóa thiền 10 ngày Vipassana, tại trung tâm Dhamma Delaware. Nhìn quanh, các bạn thiền sinh khác cũng lục tục đứng lên, người cầm gối chêm, kẻ ôm bồ đoàn, người gấp khăn choàng, mặt mũi ai nấy đều đầy vẻ hân hoan, nhìn tươi roi rói.

Để có được cái kết quả như vừa nói, chúng tôi đã chăm chú tôi luyện suốt cả 10 ngày. Nói thật quý vị nghe, với cái lưng bao năm bị “xi cà que”, trước kia tôi ngồi chừng hơn nửa tiếng đồng hồ đã là khó chịu. Vậy mà suốt khóa học, tôi vào thiền đường ngồi cả chục giờ mỗi ngày, dù chỉ bắt buộc có ba giờ ngồi thiền chung cả lớp, và một giờ pháp thoại vào buổi tối. Những giờ khác ai muốn ngồi trong thiền đường hay tịnh tọa tại phòng mình cũng không sao. Tuy nhiên, thiền đường lúc nào cũng kín chỗ vì ít người muốn ngồi một mình.

Về phòng cất dụng cụ xong tôi đi qua nhà ăn. Trong suốt khóa tu, chúng tôi được dạy mọi vật đều vô thường, sinh diệt, sinh diệt… Cho nên, có niềm vui không bám víu, có nỗi buồn không chán ghét để làm khổ tâm mình, vì tất cả sinh ra rồi cũng sẽ diệt đi. Vậy mà lúc này đây trong tôi vẫn dâng lên đầy ắp niềm vui không thể kềm nén. Thôi thì tôi tự cho tôi… phá giới một lúc, khi về nhà sẽ tiếp tục thực hiện theo lời thầy. Hôm nay là ngày kết thúc “Sự Im Lặng Thánh Thiện”. Tôi sắp được mở miệng nói chuyện cùng các bạn thiền sinh, và nhất là tìm xem ông xã tôi có khỏe hay không. Mấy bữa trời mưa, trong thiền đường có tiếng nhiều người ho và sịt mũi bên phía thiền sinh nam, mà lọ thuốc Tylenol chuẩn bị sẵn lại nằm trong hành lý của tôi, nên dù cố gắng tập trung, mỗi lần nghe tiếng ho ai đó có âm vang giông giống ông ấy thì tôi lại bị phân tâm hết một chốc. Nhưng tôi không biết làm cách nào đưa lọ thuốc cho “chàng” phòng khi cần đến. Mười ngày qua, mọi người “im hơi lặng tiếng”, nam nữ cách biệt, tịnh thân, tịnh khẩu, tịnh ý, thiền sinh được yêu cầu không tiếp xúc hay nói chuyện với bất cứ ai, kể cả ra dấu, nhìn, nhắn tin, hoặc ghi chép, dù chồng vợ hay người nhà hay bạn thiền cùng phòng. Tất cả thiết bị điện tử, cell phone, máy tính, iPad, bút mực, sách vở đều phải giao nộp cho trung tâm cất giữ, để thiền sinh không bị phân tâm trong suốt thời gian hành thiền.

Cho đến giờ, tôi vẫn như chưa tin được cái nhân duyên đã đưa chúng tôi đến với pháp môn Vipassana quý báu này. Số là mấy năm gần đây sức khỏe nhà tôi không ổn. Cái chứng Vertigo đã làm cho ông khốn đốn, lâu lâu đầu óc quay mòng mòng rồi ngã cái đùng bất tỉnh nhân sự khiến tôi bao phen mất vía. Bác sĩ Kaiser nói đó là chứng bệnh già, khi nó đến với ta thì phải “sống chung hòa bình” suốt đời với nó, vì không có thuốc gì chữa khỏi chứng bệnh này. Cho nên ông ấy bắt đầu nghiên cứu về thiền định để giúp tịnh tâm, an ổn thần kinh, và giữ gìn thân tâm an lạc. Tôi “nối gót theo chàng” cùng nhau tìm hiểu, vì tôi cũng muốn học thiền để giữ gìn sức khỏe, cho đầu óc minh mẫn và tinh thần nhẹ bớt những sầu muộn lo âu. Chúng tôi đã nghe rất nhiều về thiền Vipassana. Nhưng càng tìm hiểu lại càng như bị “tẩu hỏa nhập ma” vì có quá nhiều nơi nhiều chỗ dạy thiền Vipassana nên chẳng biết làm sao mà chọn.

May mắn đến, tôi tìm ra trang web của trung tâm Vipassana Meditation. Pháp môn này do thiền sư S. N. Goenka giảng dạy. Người là đệ tử truyền thừa của đại thiền sư Sayagyi U Ba Khin người Miến Điện. Theo lịch sử từ trung tâm, Vipassana là môn thiền cổ xưa nhất ở Ấn độ mà Đức Gotama (Phật Thích Ca) tìm thấy lại từ hơn 2500 năm về trước và gom góp những tinh túy mà ngài đã thực hành giảng dạy cho chúng sinh trong 45 năm. Thời kỳ Đức Phật còn tại thế, thiền Vipassana đã cứu rỗi biết bao người đủ mọi thành phần xã hội Ấn Độ thoát khỏi khổ đau.

Điều gây ấn tượng tốt cho ông xã tôi chọn môn thiền này, là Vipassana của thiền sư Goenka không bắt buộc thiền sinh phải lệ thuộc vào một tôn giáo hay tông phái nào. Trong gần năm chục năm, thiền sư Goenka đã truyền bá Vipassana ra gần cả trăm quốc gia trên thế giới, Trung Hoa, Nga, Hoa Kỳ, Cuba, Tây Bá Lợi Á, Úc Châu, Việt Nam, Thụy Sĩ, và hàng chục trung tâm ở Bắc Mỹ. Ngài đã được mời phát biểu tại những diễn đàn nổi tiếng, như Hội Nghị Thượng Đỉnh Thiên Niên Kỷ Thế Giới tại Liên Hiệp Quốc, Hội Nghị Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Switzerland…Và mặc dù thiền sư viên tịch cách đây 5 năm, hiện Hoa Kỳ và các nước thiền Vipassana vẫn phát triển mạnh với nhiều trung tâm đang được dự tính xây thêm vì số người chờ ngày càng đông. Còn nữa, trọn khóa học thiền sinh phải trường trai (ăn chay suốt những ngày ở đây – ngày thường ở nhà tùy ý), tuân theo năm giới cấm: không sát sanh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ, và chất gây say nghiện, là những giới cấm giữ gìn đạo đức. Đặc biệt với pháp môn này, thiền sư Goenka chỉ giảng dạy duy nhất một điều, là giúp thiền sinh tự mình thanh lọc thân tâm để thoát khỏi khổ đau, để được hạnh phúc mãi mãi. Chắc chắn đây phải là một phương pháp thiền rất tốt. Nhà tôi nói.

Phần tôi thì sở thích có hơi…ngộ nghĩnh. Điều thú vị nhất, hấp dẫn tôi nhất, lại là cái ý tưởng độc đáo “Sự Im Lặng Thánh Thiện” trong suốt khóa thiền. Chưa chi tôi đã cảm thấy hồi hộp. Chẳng biết cảm giác mình sẽ như thế nào khi 10 ngày không mở miệng nói chuyện, không điện thoại, vi tính, hay ghi chép, là những việc tôi làm hằng ngày. Sở thích viết lách đã khiến tôi từ bé vốn rất e thẹn và sợ đám đông, khi lớn lên trở nên một người dạn dĩ lúc nói trước công chúng, và luôn trò chuyện xã giao với người chung quanh để tìm đề tài cho các bài viết của mình. Giờ đây phải “án binh” khép miệng đến những 10 ngày. Tôi có làm được không đây?

Điều nổi trội nữa làm chúng tôi thích, là số người đến với Vipassana gồm đủ các tôn giáo, nhiều vị tăng, ni cô, linh mục, ma-sơ, cư sĩ, đã thực tập Vipassana thành công. Có một câu trong bài giảng tại Thụy Sĩ năm 1980 của thiền sư S. N. Goenka tìm thấy trên internet làm chúng tôi xúc động, “Bệnh là bệnh chung, do đó thuốc chữa phải là thuốc chữa chung. Ví dụ, khi chúng ta nóng giận, sự nóng giận này không phải là sự nóng giận của người theo Thiên Chúa Giáo hoặc Hồi Giáo, sự nóng giận của người Trung Hoa hoặc người Mỹ. Tương tự, sự thương yêu và lòng từ bi không dành riêng cho bất cứ một sắc dân hoặc một nhóm người nào.”

Nhà tôi quyết định xong, tôi vô trang web ghi danh. Các trung tâm thiền dạy bởi ngài Goenka ở Hoa Kỳ hằng tháng đều mở mấy khóa Anh Ngữ 10 ngày cho người lớn, trẻ em, và sinh viên học sinh, có cả Vipassana tại những trung tâm cải huấn cho các tù nhân nữa. Về tiếng Việt thì hiện tại có 6 trung tâm Vipassana, mỗi năm mở ít nhất một khóa thiền song ngữ Anh Việt ở Toronto, Canada, Delaware, Georgia, Texas, Bắc và Nam California. Delaware và Toronto cũng có các khóa học với thông dịch viên tiếng Việt. Chúng tôi tiếc hùi hụi, vì người ta đã biết pháp môn này từ mấy chục năm nay, mà mình đến giờ mới biết. Cả Hoa Kỳ khi ấy chỉ có trung tâm Dhamma Delaware là còn chỗ trống cho khóa Anh Việt. Gì chứ học thiền thì phải nghe bằng chính ngôn ngữ của mình mới thấu hiểu hết những tinh túy của pháp môn. Ghi danh xong tôi book vé máy bay rồi hồi hộp chờ ngày lên đường.

Trung tâm Vipassana còn chu đáo lo cả việc giúp đưa đón thiền sinh. Ai ở xa đi máy bay, tàu lửa, Greyhound, sẽ được những thiện nguyện viên đến đón ở phi trường và các trạm. Những người ở lân cận có thể được sắp xếp đi chung xe. Tôi vô mục “đi chung xe” và nhờ đón chúng tôi ở phi trường. Vì ở xa, tôi xin đến sớm một ngày cho khỏi bị trễ giờ khai giảng khoá học vào 5g chiều hôm sau và được trung tâm đồng ý.

Khi người phục vụ đến phi trường Philadelphia đón vợ chồng tôi, trên xe đã có sẵn hai vị sư cô, một đến từ California, và một từ Washington. Anh thiện nguyện viên rất nhiệt tình và thân thiện, đã giới thiệu và giải thích cho chúng tôi những danh lam thắng cảnh, các di tích lịch sử của Philadelphia và Delaware cùng những nơi thuộc về lịch sử Độc Lập của Hoa Kỳ mỗi khi xe chạy ngang qua. Thật là được một dịp cho chúng tôi “mở mắt”.

Xe dừng trước cổng thiền viện. Tấm bảng nhỏ ghi “Dhamma Delaware Center” được dựng khiêm nhường bên cạnh khóm hoa vạn thọ, nhưng nhìn vào bên trong thì sâu hun hút, ngút ngàn với nhiều cây xanh cao tốt giống như một khu rừng thiên nhiên. Mọi người xuống xe. Tôi hít thở một hơi thật sâu để rũ bớt bụi đường. Người tài xế bước lại mở cổng. Đột nhiên tôi cảm giác như có một nguồn năng lượng đặc biệt rung động từ bên trong tỏa nhẹ ra làm cho tâm trạng thật là dễ chịu, thật ấm áp. Và tôi quên hết bao mệt nhọc của chuyến bay dài.

Không chỉ mình tôi, sư cô QD cũng có vẻ xúc động khi bước vào cổng nhìn thấy quang cảnh thoáng mát, trang nghiêm, và yên tĩnh của trung tâm thiền.

– Chỉ bước đến đây, đã cảm thấy bầu không khí đầy vẻ thiêng liêng rồi! Cô buột miệng.

Chúng tôi được chiêu đãi một bữa tối thịnh soạn với món phở chay độc đáo. Ăn xong chúng tôi đi nhận phòng ở tạm một đêm rồi mai mới chính thức được sắp xếp. Sự yên tĩnh và khung cảnh trang nghiêm có chút hoang dã núi rừng với tiếng côn trùng rỉ rả xen lẫn tiếng gió vi vu từ rừng cây xung quanh đã giúp tôi có một giấc ngủ thật đầy, thật ngon không mộng mị, dù thường ngày tôi hơi khó ngủ và giờ giấc giữa Cali, miền Đông khác nhau đến 3 giờ.

Tôi thức giấc giữa tiếng ríu rít của chim chóc bên ngoài cửa sổ. Nằm sấp người lại một cách lười biếng, tôi vẹt rèm nhìn ra. Nắng đã lên, rừng cây xanh lay động dịu dàng vì những cơn gió nhẹ thổi qua mơn man cành lá. Trên thảm cỏ xanh tươi xen lẫn vài cây rau mã đề hoang dại, vài chú sóc xinh xắn vểnh cong cái đuôi như một vòng cung bông lau chúi mũi xuống đất dùng hai chân trước miệt mài đào bới. Khi vớ được chiếc nấm dại hay thứ gì đó, sóc ta ôm chặt lấy rồi đứng dựng lên cho vào mồm gặm lia gặm lịa. Trông thật là dễ thương, nhàn nhã và an bình. Đây quả đúng là chốn để tịnh tâm.

Vì đến sớm, ba người chúng tôi rảnh nguyên một ngày. Vì chưa khai giảng, chưa vô khuôn khổ, chúng tôi rủ nhau đi bộ ra cổng, vòng quanh khu vực trung tâm, trước thể dục sau “thăm dân cho biết sự tình”. Buổi sớm mai không khí thật mát mẻ trong lành. Ba người vừa chậm rãi đếm bước vừa hít thở theo kiểu thiền hành. Từng dạy học cho đám nhóc tì Mỹ và dạy thể dục cho những vị cao niên ở trung tâm dưỡng lão, nên tôi có thói quen thường bước đi lắc lư theo kiểu thể dục nhịp điệu mỗi lần đi bộ thư giãn. Bây giờ đang đi cùng hai sư cô nên dù có “ngứa ngáy tay chân” muốn đánh nhịp hay bước nhanh tôi cũng phải kiềm nén lại, vì không dám tỏ ra mình… vô phép.

Nhưng có lẽ do sự từ tốn khoan thai của chúng tôi chẳng “dọa” được lũ côn trùng, nên đã xảy ra một chuyện tệ hại vô cùng. Đang đi, sư cô QD bỗng dưng la “oái” một tiếng rồi cúi xuống ôm lấy cổ chân, mặt cô tái lại với vẻ đau đớn tột cùng. Một vết đỏ nổi lên, máu tươi tươm ra từ vết cắn. Tôi thấy sư cô dù đau đến nhăn cả mặt mày cũng không hề oán thán, mà chỉ tỏ vẻ chấp nhận.

– Vậy là phải trả “cái món nợ” nào ở chốn này đây! Sư cô ôn tồn nói.

Từ chuyện cỏn con này mà tôi cảm nhận được từ tâm của bậc tu hành. Nếu là tôi, đau đến cỡ đó chắc tôi phải rủa thầm cái con bọ chết tiệt nào nỡ đang tâm chào đón tôi buổi sáng bằng một phát độc ác như thế. Tưởng là chuyện nhỏ, nhưng vết cắn đã sưng lên lan đỏ khắp cổ chân và đau đớn khiến sư cô phải đi cà nhắc hết một hồi.

Buổi chiều, các thiền sinh lần lượt đến. Trung tâm như sôi động, rộn ràng hẳn lên. Mọi người làm việc tất bật, nhưng nét mặt ai nấy đều hiện rõ nét thân thiện vui tươi. Thấy một bà cụ kéo cái vali bự bước vào, tôi đến chào. Trông cụ mệt mỏi, nhưng tinh thần lại rất vững vàng, nhìn uy nghi và đầy thần lực. Cụ ở xa, đi từ sáng sớm vì phải chuyển đổi bốn năm trạm xe, tàu điện, xe buýt, greyhound và còn đi bộ nhiều đoạn. Tôi tròn mắt thán phục khi biết đây là lần thứ năm cụ tham dự khóa 10 ngày của thầy Goenka. Cụ nói trước kia cụ rất khó tính, từng bị mổ đầu gối lắp vào thanh sắt, đau đớn khó chịu nên thường căng thẳng. Và thiền Vipassana giúp cụ tĩnh tâm, cảm thấy an lạc nên cụ liên tục tham gia. Khi vào khóa học, dù có những giờ được phép thiền tọa tại phòng khỏi vô thiền đường, vậy mà cụ vẫn luôn có mặt, chăm chú ngồi yên trên ghế. Cụ là người làm cho tôi phải nhìn vào mỗi lần có ý định bỏ cuộc.

Thủ tục ghi danh khá đơn giản. Khóa thiền cung cấp hoàn toàn miễn phí, từ nơi ăn chốn ở, đến tọa cụ bồ đoàn, cả ghế và nệm tựa lưng cho những người bị đau lưng, đau chân không thể ngồi xếp bằng. Các thiền sư phụ tá, ban điều hành và người phục vụ đều làm việc vô vụ lợi. Thiền sinh mới vô không phải đóng bất cứ món tiền nào. Sau khóa học, nếu cảm thấy hưởng được lợi lạc thì tự nguyện hiến tặng để cho người kế tiếp cùng được hưởng như mình, còn nếu không có khả năng đóng góp cũng chẳng sao.

Bắt đầu là một cuộc tiền hội nghị để ban quản trị dặn dò điều lệ và giới thiệu hai vị thiền sư phụ tá với mọi người. Thầy TĐ và cô LĐ là vợ chồng, họ đến từ Nam California, sẽ phụ tá hướng dẫn cho khóa thiền Anh Việt này. Đến tối mọi người mới được đặt chân vô thiền đường nhận vị trí có tên mình và bắt đầu khóa tu. “Noble Silence” cũng có hiệu lực từ giây phút này.

Ngày thứ nhất, ba tiếng chuông báo thức vang lên lúc 4 giờ sáng. Mọi người trờ dậy làm vệ sinh cá nhân xong là đúng 4 giờ 30, chuông báo hiệu tập trung vào thiền đường. Hai vị thiền sư phụ tá ngồi bên trên, cùng mọi người lặng im theo dõi và làm theo băng đĩa hướng dẫn của cố thiền sư Goenka. Lúc sanh tiền, thiền sư đã sắp xếp cách dạy này cho tất cả mọi trung tâm thiền trên thế giới để được thống nhất. Các thiền sư phụ tá có mặt ở đó, khi nào cần giải đáp thắc mắc cho thiền sinh về những khó khăn khi ngồi thiền, về những cảm giác mới khám phá và về kỹ thuật ngồi tịnh tọa. Tuyệt đối họ không hề giảng dạy hay thêm bớt một lời nào ngoài những bài giảng của ngài Goenka. Ngày đầu tiên cho đến ngày thứ ba, mọi người tập thở, hay là “thiền Anappana”. Chú tâm quan sát hơi thở vào ra nơi hai lỗ mũi, thở và nhận biết hơi thở đang vào ra. Đây là cách tập trung tư tưởng giúp thiền sinh phát triển khả năng chú ý.

Về tư thế ngồi, thiền sinh không cần phải ngồi theo một kiểu nào nhất định, kiểu nào cũng được, miễn cảm thấy dễ chịu, bán già, kiết già, kiểu Miến Điện chân trước chân sau, quỳ gối kiểu Nhật, hoặc ngồi trên ghế. Điều này quá là dễ dàng cho mọi người. Nhưng vì cái lưng tôi đau nên thử kiểu nào tôi cũng bị hành hạ. Cuối cùng tôi giữ kiểu kiết già mà tôi đã tập qua khi ở nhà, vì nó vững vàng hơn, giúp cái lưng tôi cân bằng hơn. Dù sau mỗi giờ thiền đều có nghỉ giải lao, chân và đùi tôi vẫn đau điếng, đôi khi tê cứng phải đổi chân liên tục. Tôi tưởng mình là “đệ nhất nhúc nhích” trong thiền đường, nhưng không, dù mắt nhắm tôi vẫn nghe rõ mồn một những tiếng sột soạt xung quanh. Đến tối, ngài Goenka có một giờ pháp thoại tuyệt vời giảng giải tỉ mỉ về ý nghĩa và lợi ích của việc quan sát hơi thở. Vì hơi thở liên hệ mật thiết với trạng thái tâm của ta, cho nên bất cứ lúc nào phiền não khởi sinh trong tâm thì hơi thở ta sẽ đổi khác, nhanh hơn và nặng nề hơn. Rồi khi sự phiền não qua đi, hơi thở sẽ ổn định trở lại. Vì vậy quan sát hơi thở ta “có thể khám phá thực tại không chỉ ở thân thể mà còn ở tâm thức nữa và làm cho nó trở nên thanh tịnh”. Nghe rất hay, nhưng sao tôi vẫn chưa thông suốt được.

Ngày thứ hai cũng còn quan sát hơi thở, nhưng chú ý của chúng tôi được hướng vào việc cảm nhận sự vào ra và nhiệt độ của hơi thở, hơi lạnh khi nó đi vào, hơi ấm khi nó đi ra. Vì sự nhức mỏi “lấn sân” cho nên dù cố gắng hết cỡ, phải “năm thì mười họa” tôi mới cảm nhận được chút xíu âm ấm ngay cửa mũi khi hơi thở đi ra.

Ngày thứ ba là tìm kiếm và tập trung vào bất kỳ cảm giác nào, như rung động, nóng, lạnh, có thể cảm nhận ở vùng tam giác bên dưới lỗ mũi, để chuẩn bị cho ngày thứ tư là bắt đầu áp dụng thiền Vipassana, là phép quan sát toàn thân. Tôi ngồi quan sát hơi thở vào ra mà lòng băn khoăn vì không tìm thấy một chút “cảm giác” gì như lời thầy nói. Đau mỏi bức rức, tôi cứ ngọ ngoạy như con giun. Khi nào ngồi yên được một chút thì cái tâm tôi nó lại đi lang thang, chạy hết chỗ này sang chỗ khác, những chuyện quá khứ từ đời nảo đời nao ào ạt hiện về. Quá căng thẳng, tôi bị no hơi ngang. Bụng căng tròn như quả bóng, cổ tôi rướn lên ngáp ngáp giống kẻ sắp lên đồng dù cố kiềm nén. Tôi bắt đầu tính đến chuyện rủ ông xã bỏ về. Lại nghĩ, chẳng lẽ từ Cali bay qua đến nửa vòng… nước Mỹ mà giờ đành phải bỏ cuộc hay sao.

Sau khi ăn trưa, tôi cùng vài người ra khoảng sân trống thật rộng từ thiền đường đến nhà ăn, khu vực dành cho nữ giới thiền hành giải lao. Đang từ từ đếm bước, dù bị cấm nói chuyện và đừng nhìn ngó đến ai, mắt tôi vẫn vô tình lướt qua phía nhà ăn. Một cô tình nguyện viên người Mỹ từ bếp bước ra. Ngực đeo tạp dề, tóc búi cao, tay cô cầm tấm thảm nhỏ loại chùi chân đập mạnh vào thành rào rồi gác lên phơi. Xong cô chụp lấy cây chổi và quét lia lịa. Mắt tôi lại lang thang qua building số 1. Xuyên qua cửa kính tôi thấy cô thiền sinh cũ người Việt đang lau sàn nhà. Bỗng đâu ba tiếng chuông vang lên báo hiệu giờ thiền kế tiếp. Mọi người đang đi bộ đồng loạt dừng lại quay vào.

Tôi chợt xúc động, trái tim như mềm đi khi nhìn thấy cô gái Mỹ lúc nãy từ nhà bếp cũng khăn áo đề huề tất tả bước thoăn thoắt qua thiền đường cùng chúng tôi, kể cả cô phục vụ vừa mới lau sàn nhà bên building #1 cũng vội bước vào. Tôi xúc động vì tôi đã nhận ra “Tâm Từ” của những thiền sinh cũ này. Họ cũng đến dự khóa thiền như chúng tôi, còn bỏ công sức ra để phục vụ thiện nguyện. Nhờ những tấm lòng như họ mà cả trung tâm, từ thiền đường, đến phòng ốc, thậm chí nhà vệ sinh, nhà bếp trong ngoài đâu đâu cũng đều sạch bóng. Nhờ những tấm lòng ấy, mà các thiền sinh mới như tôi có được những chỗ ngủ tốt, những bữa ăn ngon, và an tâm chuyên chú hành thiền. Sau bữa ăn trước khi tiếp tục đi tọa thiền, họ lại bận tíu tít, dọn dẹp lau chùi để những

 thiền sinh mới chúng tôi có thì giờ nhẩn nha, tà tà đi bộ.

Dù đã “phạm lỗi” nhìn ngó lung tung làm cho tâm mình dao động, tôi chấp nhận, vì tôi đã biết mình phải làm gì. Tôi tự hứa với lòng sẽ cố gắng ngồi thiền chăm chỉ hơn, chú tâm hơn, vì sự thành công của tôi sẽ đáp lại tấm thịnh tình và tâm từ của những thiền sinh cũ này.

Sáng ngày thứ tư một chị bạn cùng phòng bỏ chạy vì lý do sức khỏe, nhưng tôi đã có quyết tâm nên nhất định phải theo tới cùng. Buổi chiều hôm nay rất quan trọng, thiền Vipassana, hay là phép quan sát toàn thân bắt đầu. Chúng tôi được dạy quan sát từ đầu tới chân rồi từ chân lên tới đỉnh đầu. “Quan sát sự việc như nó là” và giữ sự bình tâm không phản ứng, thiền sư dạy thế. Kỹ thuật này thật khó giải thích, phải vào thực hành mới cảm nhận được hết cái tinh túy của pháp môn. Ngày đầu tiên tôi rất khó tập trung, vì sự đau đã lấn át tịnh tâm. Nhưng tối đó bài pháp thoại của thiền sư đã cho tôi sức mạnh. Phải cố gắng ghi nhận bất kỳ cảm giác nào có được, dù thô hay tế, dễ chịu hay khó chịu, và nhìn chúng với sự bình tâm, với sự hiểu biết rằng tất cả chúng đều vô thường, sinh rồi diệt. Từ đó về sau, ngày này qua ngày khác tôi chăm chú thực hành theo lời thầy và dần dần lấy được sự tĩnh tâm khi quán sát khắp châu thân. Tuyệt vời thay, khi tôi cố gắng giữ được tâm bình thản, chấp nhận chứ không thèm bực mình hay tỏ ý khó chịu với các cảm giác nhức nhối, các cơn đau cuối cùng rồi cũng tan đi. Quả đúng là chúng tự sinh tự diệt! Đến ngày thứ tám, thì điều kỳ diệu đã xảy ra. Tôi vượt qua thông suốt một giờ thiền, ngồi kiểu kiết già không hề đổi chân hay nhúc nhích. Đó là điều “không tưởng” cho cái lưng của tôi trước khi tôi đến với Vipassana.

Và tôi đã làm được cho tới ngày cuối khóa! Như có phép mầu, chỉ sau 10 ngày tĩnh tâm thiền tọa kiết già các cơn đau lưng của tôi biến mất không còn chút tăm hơi. Tôi thấy rõ hiệu quả của phép quán sát toàn thân Vipassana. Nhờ nghe lời giảng kết hợp thực tập chăm chú, tôi đã lãnh hội những lời dạy của thiền sư về kỹ thuật này. Theo ngài, pháp môn Vipassana thuộc về tâm lý học cơ bản – tâm ảnh hưởng đến thân và thân ảnh hưởng đến tâm – cho nên kỹ thuật quan sát toàn thân rất có hiệu quả và cuối cùng sự an lạc sẽ xuất hiện. Nhận biết rõ điều này thì bất cứ cảm giác nào, thí dụ quá vui khi thành công, được nổi tiếng, hay phát tài, hoặc quá thất vọng vì mất mát, vì không đạt được ước mơ, thì tâm ta cũng sẽ không bị dao động vì ta đã biết về tính sinh diệt vô thường của chúng. Như vậy là tìm thấy an lạc.

Bên cạnh sự giảng dạy rõ ràng tỉ mỉ của thiền sư Goenka, mỗi cuối buổi tọa thiền, thầy cô thiền sư phụ tá gọi một số thiền sinh lên phỏng vấn, hỏi han về những gì chúng tôi cảm nhận được, và chỉ vẽ thêm làm sao cho đúng, sau đó cùng ngồi thiền chung dăm phút với thầy cô. Điều này giúp ích rất nhiều, chúng tôi tự tin hơn và thực hành hiệu quả hơn.

Ngày cuối ngài Goenka dạy chúng tôi phải duy trì sự tỉnh giác tự nhiên của tâm thức để xem những tham ái, sân hận, vô minh và dao động có mặt hiện tại trên thân ta hay không. Thầy nói những phiền não ngủ ngầm sâu kín, bị chôn lấp trong vô thức lâu nay bây giờ bắt đầu xuất hiện lên bề mặt tâm thức. Đó là sự phát triển tốt, vì nếu những phiền não đó không hiện ra trên bề mặt, thì không thể nào diệt được. “Khi chúng nó khởi lên, ta quán sát chúng một cách bình thản, và chúng nó sẽ tuần tự tiêu đi theo thứ lớp. Đó là ta đã đạt được tới sự giải thoát.” Trong giờ thiền sau cùng, thầy dặn dò nhiều điều hữu ích, khuyến khích chúng tôi tiếp tục hành thiền khi về nhà. Những lời kinh tiếng Pali thiền Tâm Từ “Metta” là tâm thương yêu, tha thứ, và chia sẻ tình thương với tất cả chúng sinh, được thầy đọc lên, và lời chúc lành cầu mong cho mọi chúng sinh được bình an, rồi những câu chúc phúc cho mọi người, “Hãy hạnh phúc! Hãy hạnh phúc!” của thầy như mãi vọng theo khi chúng tôi bước ra khỏi thiền đường…

Qua đến nhà ăn thì gặp ông xã tôi đứng bên ngoài. Đó là lần đầu tiên sau 10 ngày “cấm cửa” chúng tôi mới thấy mặt nhau. Nhà tôi giới thiệu tôi với người bạn Mỹ cùng phòng đang đứng bên cạnh. Ông ấy chào tôi rất thân thiện nên tôi “tiện tay” hỏi chuyện ông vài câu. Đây là khóa thiền Vipassana đầu tiên mà ông đến học nhưng rất thích. Là người có đạo Tin Lành, là giáo sư đại học, ông từng dạy English và Music và còn là thầy dạy Yoga nữa. Khi được hỏi điều gì từ khóa thiền này làm ông thích thú nhất, ông giáo sư sôi nổi nói:

– Everything! Tất cả! Nhưng tôi thích sự thông thái của thiền sư Goenka, và đặc biệt cái pháp quan sát toàn thân ông dạy cũng quá tuyệt vời! Thật là thú vị khi ngồi quan sát chính bản thân mình, nhìn từng cảm giác đến rồi đi, những điều vô thường sinh diệt này trước đây tôi chưa bao giờ nghe biết đến. Quá hay!

– Vậy thì ông sẽ giới thiệu thiền Vipassana với những người khác chứ? Tôi hỏi vui.

– “Absolutely!” Tất nhiên rồi! Ông nói với nụ cười rạng rỡ.

Tôi cũng nói chuyện với hai người đứng cạnh giáo sư. Một người theo “Maronite Antiochian” là đạo Công Giáo Liban, một trong những Giáo hội Công giáo lớn nhất ở Liban và khắp vùng Trung Đông, và người kia cũng vui vẻ kể, anh có đạo Hindu tức Ấn Độ Giáo. Hai người đều nói thiền Vipassana mang lại cho họ nhiều điều tốt, nhất là cách để giữ tâm yên tĩnh và mở lòng vị tha đối với mọi người xung quanh. Quả là thiền Vipassana đã đến với tất cả các tôn giáo.

Tôi chào vị giáo sư, và theo thói quen tôi đưa tay ra định bắt tay từ giã ông. Tôi nghĩ hôm nay đã “xả trại” không còn lệnh cấm nói chuyện thì một cái bắt tay từ giã với người Mỹ là chuyện bình thường. Không ngờ vị giáo sư này “thuộc bài” còn kỹ hơn tôi. Thay vì đưa tay ra, ông vội chắp hai tay lại và xá nhẹ một cái theo kiểu chào của các nhà tu. Tôi “quê một cục” vội chắp tay đáp lễ, trong lòng cảm thấy rất mắc cỡ. Sau về nhà đọc kỹ những thông tin thầy phụ tá cho, tôi mới biết luật cấm đụng chạm thân thể giữa các thiền sinh dù khác phái hay cùng phái được áp dụng mọi lúc mọi nơi trong toàn khu vực trung tâm thiền.

Chuyện này làm tôi nhớ lại, và hiểu ra, luật lệ khóa thiền và mọi điều cấm kỵ có lý do của nó mà khi “đụng chuyện” tôi mới thấy cảm phục thiền sư Goenka khi thầy đưa ra những điều lệ này. Đặc biệt lệnh cấm thiền sinh không được đụng chạm thân thể nhau. Lần kia vì thấy mỗi khi ra nghỉ giải lao tôi đấm chân liên tục, có cô gái người Việt tốt bụng bước lại bảo để cô ấy chỉ cho cách tập sẽ hết đau nhanh. Tôi chưa kịp phản ứng, cô bé nhanh nhẹn đẩy tôi vào sát tường, chụp lấy hai tay tôi đưa lên cao miệng kêu tôi nhón gót. Ngay lập tức, cô phục vụ chạy lại ngăn cản. Vì điều này mà tôi bị cô thiền sư phụ tá gọi lên gặp riêng. Tôi hớn hở bước vô phòng mang theo những câu thắc mắc vì ngỡ cô muốn giúp. Nào ngờ sau khi giải đáp cho tôi xong, cô nhắc nhở nhẹ nhàng về việc “đụng chạm thân thể” với thiền sinh khác. Thì ra việc phạm cấm kỵ của tôi đã được báo cho cô. Nhưng tôi không phiền vì biết lỗi của mình.

Cô LĐ nói, sự đụng chạm thân thể ngoài việc khiến cho thiền sinh phân tán tư tưởng, ở đây mỗi ngày ngồi tĩnh toạ ai cũng cố quán thân tâm để đẩy ra ngoài cho sạch những uế trược, những bất tịnh chất chứa lâu đời đang dần trồi lên từ trong tiềm thức. Sự đụng chạm này có khi còn truyền cho nhau những điện năng, từ trường xấu của đối phương, nếu có, và mình sẽ rất khó mà định tâm. Nghe vậy tôi… sáng mắt ra, nhớ lại chuyện tôi và các bạn cùng phòng gặp phải, và đã “trả giá” cách đó mấy hôm. Sau khi xin lỗi cô giáo, tôi “tự thú trước bình minh”:

– Thưa cô, cô nói đúng quá! Giờ em mới nhớ lại cái hôm chị cùng phòng cảm thấy mệt không thể tiếp tục cho hết khoá thiền. Sau khi lên gặp cô về phòng chị ấy “phá giới” nói lời từ giã mọi người. Chị khóc và nói nghe cô phân tích thật cảm động muốn ở lại, nhưng sức khỏe tệ quá. Thế là mấy chị em cùng phòng thương quá xúm nhau khuyên chị ở lại, và ôm từ giã mỗi người một cái. Tôi “khai” luôn:

– Tối đó cả phòng không ai ngủ được hết cô ơi, người này nằm nghe người kia trằn trọc trở mình, vì bọn em đã bị những lời trao đổi, sự đụng chạm đó ám ảnh.

Cô tròn mắt nhìn tôi:

– Cả phòng nói chuyện? Và còn ôm nhau nữa?

– Dạ chỉ ba người thưa cô! Tôi đáp trong ân hận. – Người trẻ nhất phòng là thiền sinh cũ. Cô ấy giữ giới kỹ càng, từ đầu đến cuối im thin thít, nên tối đó cổ ngủ im re.

Thực ra đâu phải chỉ có cánh nữ chúng tôi là dễ dàng phạm cái giới “cấm nói chuyện”.

Ông xã tôi khi đọc tới đoạn này đã ngồi cười một mình. Gạn tra mãi chàng mới… bật mí, kể lại chuyện phá giới của cánh… liền ông. Người bạn cùng phòng với ông ấy bị chứng thoái vị đĩa đệm phải ngồi thiền trên ghế. Đến ngày thứ ba không cảm nhận được gì, phần bị cái xương sống nó hành, nên anh muốn bỏ chạy cho rồi. Nhưng hết ngày thứ tư đột nhiên anh ấy “nhập định” được, quán sát toàn thân thông suốt. Mừng quá tối đó về phòng anh chàng muốn khoe thành quả cho bạn. Sợ phạm luật không dám nói to nên ghé miệng vào tai bạn thì thầm, mắt thì nhìn láo liên nhìn ra cửa sợ bị những người phục vụ bắt gặp. Ông xã tôi bụng cũng muốn nghe xem bạn nói gì mà tâm lại “sợ tội” nên nào dám hỏi, chỉ kê lỗ tai lại gần ông bạn hơn. Khổ nỗi hai “anh cụ” đều vượt quá xa “cổ lai hy”, mắt đã mờ tai lại… lờ đờ hơn. Cho nên “ông nghỉnh rình ông ngảng” người vểnh tai kẻ nghểnh cổ, mà anh xã nhà tôi chỉ nghe hơi thở xì xào và thấy cái miệng nhóp nhép lập bập của ông bạn chứ chẳng hiểu được gì. Chợt nghe có tiếng người đi qua, hai chàng … hết hồn ai vọt về giường nấy mà trong lòng ấm ức “kẻ muốn nói còn chưa nói được, người muốn nghe cũng chửa nghe xong!” Về nhà đến nay anh bạn tọa thiền cũng rất thành công, rất thông suốt, và hai anh bạn già thường liên lạc nói chuyện với nhau về thiền.

Tôi “vái chào” ông giáo sư rồi bước vào bên trong nhà ăn. Xin nói sơ một chút về thức ăn của nhà bếp. Chắc những người không biết ăn chay sẽ e ngại vì học ở đây phải ăn chay suốt 10 ngày. Và chỉ có hai bữa chính sáng, trưa, buổi chiều ăn nhẹ trái cây, uống sữa, hoặc sữa đậu nành, sữa gạo. Nhưng tôi bảo đảm, khi về nhà các bạn sẽ nhớ những bữa ăn chay phong phú và đầy bổ dưỡng ở đây không thua gì các món mặn, còn “healthy” hơn là khác. Chu đáo nhất, ngày nào cũng có món súp mận khô ngừa táo bón, giúp thiền sinh khỏi bị… bí vì ngồi lâu. Thực đơn thay đổi mỗi ngày và rất đa dạng để mọi người tự chọn. Các món Á Châu như canh rong biển đậu hũ, canh táo tàu phổ tai, cháo nấm đậu hũ, đậu nành hột đút lò, đậu hũ đút lò, xào thập cẩm, và nhiều món Tây phương, salad trộn các loại hạt, pho mát, bơ thực vật, bánh mì gạo lức, sữa tươi, sữa đậu nành… hầu hết là thực phẩm hữu cơ “organic.” Gia vị phụ mật ong, dầu olive, bột nghệ, bột flaxseed, và các loại trà, cà phê, nhiều loại không có “cà phê in”, và những loại dành cho người kiêng béo, mặn, ngọt.

Tôi chợt nhớ lời thiền sư Goenka, hiến tặng vật chất cho các trung tâm thiền Vipassana rất quan trọng, vì sẽ giúp cho những người đến sau có cơ hội hành thiền, nhưng đem phổ biến rộng rãi pháp môn này càng quan trọng hơn. Tôi liền qua gặp cô thiền sư phụ tá LĐ, xin phép cô cho tôi hỏi thêm một ít thông tin để khi về nhà tôi viết bài tường thuật về khóa thiền, hầu chia sẻ cho cộng đồng Việt về môn thiền Vipassana quý giá này. Tôi biết người Việt mình phần đông theo đạo Phật, có lẽ chưa có nhiều người hiểu rõ về môn thiền Vipassana, họ sợ sẽ phải cải đạo khi đến với pháp môn, nên chưa có đông người Việt tham gia như người Mỹ hoặc các sắc dân khác. Cô cũng đồng ý với tôi nên vui vẻ cho tôi cái hẹn gặp cả thầy cô. Sau khi trò chuyện, hai vị đã cho tôi nhiều thông tin quý giá và tài liệu về Vipassana. Cô LĐ kể lại, thấy được lợi ích của thiền Vipassana, và pháp môn này được hoằng khai ra thế giới, thầy cô mong muốn làm chút gì để có thể truyền bá cho đồng bào bên quê nhà. Nhờ nhân duyên dẫn dắt, năm 2006 hai người và bạn đồng hành của họ đã đưa được mấy chục người Việt qua một thiền đường Cam Bốt học thiền Vipassana rồi đưa trở về, dẫn đến nhiều người biết, và mở rộng pháp môn này ở quê nhà như hiện giờ. Cô nói đó là những kỷ niệm khó quên về con đường hành thiền Vipassana của thầy cô. Thầy TĐ cho chúng tôi biết, hiện nay tại Việt Nam có một trung tâm Vipassana rất quy mô dạy thiền theo truyền thống ngài Goenka, hoạt động dưới sự bảo trợ của tổ chức thế giới UNESCO ở Củ Chi, miền Nam, và một trung tâm nữa cũng do UNESCO bảo trợ vừa bắt đầu hoạt động năm nay 2018 tại Sóc Sơn, Hà Nội.

Khi được hỏi thầy cô có điều gì muốn nhắn nhủ hay chia sẻ với đồng hương Việt mình về thiền Vipassana không, thì cô LĐ cười hiền hòa nói:

– Pháp môn thiền Vipassana có quá nhiều lợi ích, tôi mong là ngày càng được cộng đồng mình biết đến rộng rãi hơn và tham gia nhiều như người Mỹ và các sắc dân khác trên thế giới, để đem lại niềm vui, hạnh phúc, và an lạc cho bản thân và gia đình mọi người…

Sau đó thiền sinh tập trung lại để nghe tuyên bố mãn khóa. Ông trưởng ban điều hành trung tâm phát biểu chúc mừng khóa thiền thành công. Tiếp đến ông Việt Nam quản lý khóa thiền ghi danh sách những thiền sinh tự nguyện làm công tác dọn dẹp, làm vệ sinh, cũng như sắp xếp các thứ để chuẩn bị cho khoá thiền kế tiếp. Mọi người, kể cả các sư cô đều vui vẻ xung phong nhận lãnh công việc dọn dẹp trong buổi cuối cùng. Đến mục đi nhờ xe, người ta hỏi và ghi danh những ai cần đi nhờ xe về nhà, ra phi trường, trạm xe buýt. Và những ai có thể đưa giùm người. Thật cảm động, cuộc trao đổi “kẻ ban người nhận” diễn ra rất rộn rã bằng thứ tình cảm giúp đỡ thật lòng. Nếu ai có thời gian là tình nguyện giúp ngay, dù tiện đường hay không.

Chúng tôi may mắn làm quen vợ chồng anh thiền sinh cũ H. & G. cùng anh P. bạn của họ. Họ sẽ cùng lái xe về nhà anh ấy ở tận Canada. Khi nghe nói chúng tôi book vé máy bay dư một tuần sau khoá thiền để đi thăm tượng Nữ Thần Tự Do ở New York, dù không phải tiện đường cho lắm hai anh này cũng tình nguyện sẽ chở giùm.

Ngày thứ 11, chúng tôi giã từ thiền viện Delaware với một tâm trạng luyến lưu khó tả. Nhớ cảnh thanh bình yên tĩnh, nhớ mấy người bạn thiền dễ thương vừa quen. Nhớ cô bạn HL tâm từ đi tọa thiền mà khệ nệ khênh mấy chục chai nước lọc. Không biết là trung tâm có máy lọc nước, cô mua nhiều “để chia sẻ cho những thiền sinh ở xa không mang theo được.” Và ngày nào cô cũng thảy trên bàn cho mỗi người một chai. Trên xe của anh bạn, mọi người chuyện trò rôm rả về thiền Vipassana. Anh P. người Canada cũng là một thiền sinh Vipassana kỳ cựu. Người điềm đạm, trình độ hiểu biết về thiền Vipassana rất sâu. Anh cho biết ý nguyện của anh là cố gắng tu tập nhiều thêm nữa để tiến xa hơn với pháp môn này. Còn chuyện của anh H. người Nam Cali thì vô cùng hấp dẫn. Có lần một người từ Anh Quốc bay qua Canada để tham dự khóa thiền Vipassana đã book lộn vé máy bay đến Mỹ. Anh H. đã “ra tay nghĩa hiệp” chở dùm cô ấy đi hơn một nghìn dặm đường để đến trung tâm mà cô đã ghi danh. Mấy ngày đầu, cô người Anh chịu cực không nổi nhiều lần định bỏ về, nhưng vì nghĩ đến tấm lòng của người thiền sinh cũ vượt bao nhiêu dặm đường đưa cô đến đó nên cô ráng ở lại. Và cô đã hoàn thành viên mãn khóa thiền. Tâm từ của anh H. đã lan tỏa, cảm hóa được người thiền sinh mới. Anh còn kể chúng tôi nghe chuyện một ca sĩ – nhạc sĩ người Mỹ anh biết, nhờ ngồi thiền Vipassana mà có thể sáng tác những tuyệt phẩm âm nhạc “Platinum”. Anh chàng này sau đó hiến tặng một số lớn hiện kim để xây dựng trung tâm thiền Vipassana. Và chuyện một thiền sinh nữ người Việt hành thiền Vipassana mà tự chữa lành căn bệnh ung thư lá lách hiểm nghèo, căn bệnh nan y đã lấy đi mạng sống của Steve Jobs. Tôi nghe hấp dẫn quá, nên nói đùa kêu anh khi nào gặp chàng ca nhạc sĩ đó thì nhớ giới thiệu để tôi phỏng vấn và viết một bài. Đến New York, mấy người bạn mới đã tìm đường đến khách sạn, mang giúp hành lý lên tận phòng cho chúng tôi và rồi cùng đi dạo Time Square một lúc mới từ giã chạy qua Canada. Tình cảm thiền sinh Vipassana đối với nhau quả thật đậm đà, đúng với câu bốn bể đều là anh em.

Về nhà tôi đọc kỹ những tài liệu thầy TĐ thiền sư phụ tá đã cho. Có nhiều câu chuyện thú vị và cảm động về việc ngài Goenka đưa thiền Vipassana vô trong tù, xin tóm tắt lại vài điều chia sẻ với các bạn. Thầy Goenka đã từng dạy thiền, cảm hóa hàng nghìn tù nhân Ấn Độ, hầu hết đều là tù trọng án. Khi cai ngục đưa các tù nhân ra học thiền, họ bị xiềng xích tay chân. Thiền sư Goenka buộc nhà tù phải mở hết xiềng. Quản trị nhà tù không chịu, sợ tù nhân nổi loạn giết người bỏ trốn, và vì an toàn cho thiền sư, họ buộc ngài phải trú ngụ bên ngoài, mỗi ngày vào tù giảng dạy. Thiền sư nhất định không chịu, đòi phải mở hết xiềng và cùng ở cùng ăn với tù nhân. Ban quản trị nói luật nhà tù là chỗ chỉ dành cho tù nhân. Tôi muốn khóc khi đọc câu đáp lại của ngài Goenka, “Vậy thì các anh hãy kết án tôi đi! Tôi nhất định phải ở trong tù cùng với các tù nhân để dạy thiền cho họ.” Cuối cùng ban giám đốc nhà tù phải nhượng bộ, làm ra một dự luật cho phép thiền sư sống trong tù và cởi xiềng xích cho các trọng phạm để họ ngồi thiền.

Sau khi học xong khóa thiền 10 ngày với thầy Goenka các tù nhân đã giác ngộ, khóc lóc xin nạn nhân tha thứ, và vui vẻ chấp nhận đền tội chứ không còn muốn chống án. Thông tin còn cho thấy nhà tù đầu tiên tại Mỹ đưa Vipassana vào dạy cho phạm nhân từ 1977 đến 2002, và mở lại vào năm 2006 là Trung Tâm Cải Huấn Bắc Mỹ (NRF-King County North Rehabilitation Facility) ở Seattle, Washington. Nhờ kết quả rất tốt của những khóa thiền 10 ngày tại đây mà năm 2002, Viện Y Tế Quốc Gia Hoa Kỳ đã cấp cho đại học Washington kinh phí ba năm để nghiên cứu về lợi ích của thiền Vipassana đối với tù nhân. Cũng đã có vài khóa thiền Vipassana được tổ chức tại nhà tù San Francisco, California.

Đọc xong tôi tìm lên trang web của Trung Tâm Cải Huấn Bắc Mỹ (King County North Rehabilitation Facility) thì quả đúng là như vậy. Trên mạng tôi còn đọc được chuyện thiền Vipassana trong tù đã hấp dẫn nữ đạo diễn Jenny Phillips. Và bà cũng đã tham dự một khóa thiền Vipassana 10 ngày. Bộ phim “Dhamma Brothers” của bà nói về những tội nhân đang thọ trọng án tại trại Cải Huấn Donaldson, Alabama đã được cảm hóa sau khi tham dự khóa thiền 10 ngày Vipassana của ngài Goenka. Phim được quay năm 1999 đã được 2 giải thưởng, từ Woods Hole Film Festival 2007, và từ NCCD (National Council on Crime and Delinquency) 2007.

Theo tài liệu từ Trung Tâm Nghiên Cứu Thiền Vipassana Ấn Độ, các nhà lãnh đạo Giáo Hội Công Giáo La Mã nhận thấy thiền Vipassana không mang tính chất tông phái và tốt cho tất cả mọi người, nên cho phép giáo dân tham gia. Mẹ Bề Trên Mary và Cha Lawrence là vài người trong những nhà lãnh đạo Công Giáo đầu tiên học Vipassana. Trung tâm nghiên cứu Thiền Vipassana Ấn Độ ghi nhận, có hơn 6.000 linh mục và bà Sơ, Mẹ Bề Trên tham dự thiền Vipassana, trong đó có một Sơ đã là Thiền sư. Và một trung tâm dành riêng cho các vị này được mở gần Munbai, Ấn Độ. Tôi cũng đọc được bài viết của Đức Cha Lawrence trong tài liệu. Ngài công nhận kỹ thuật thiền Vipassana bao gồm đạo đức, là những điều tương ứng với Mười Điều Răn Công giáo, và mục đích của thiền Vipassana chẳng phải để biến thế giới thành Phật tử, mà là biến đổi con người trở nên tốt đẹp hơn, dù người ấy theo hay không theo tín ngưỡng nào.

Còn Mary, Mẹ Bề Trên của một trường dạy nữ tu ở Dalhousie cũng chia sẻ, thiềnVipassana giúp người ta kiểm soát được tư tưởng, các loại tình cảm đố kỵ, chán ghét, đau khổ, ham muốn, và thay thế chúng bằng tình cảm thương yêu và từ bi. “Khóa thiền này không dựa trên một giáo điều nào, nó là một thứ kỹ thuật, mà nếu hiểu rõ, và thực hành hằng ngày khoảng hai tiếng đồng hồ, sẽ giúp chúng ta phát triển mọi tiềm năng, giúp chúng ta trở thành một người Công giáo tốt hơn, một người Hindu, một người Hồi giáo, hay một Phật tử tốt hơn.” Mẹ Bề Trên đã viết thế.

Tôi không phải là người Công Giáo, nhưng nhận xét và chia sẻ kinh nghiệm chân tình của các vị chân tu này làm cho tôi rất tâm đắc, tự hứa với lòng phải cố gắng hơn nữa, tập trung vào việc hành thiền, và sắp tới sẽ tiếp tục tham gia các khóa thiền Vipassana. Xin kính lời cám ơn thầy cô thiền sư phụ tá TĐ & LĐ đã chia sẻ những thông tin quý giá.

Từ việc quan sát hơi thở và tự quán sát toàn thân theo kỹ thuật thiền Vipassana, chúng tôi, mới tham gia chỉ một khóa đầu tiên, không dám nói là đã “đạt thành chánh quả” như các bậc chân tu, nhưng có thể khẳng định rằng, trong cuộc sống hằng ngày chúng tôi đã tìm thấy được cách sống cho an nhiên tự tại. Vipassana như có phép mầu, đã chuyển đổi được tâm tính con người, một điều mà ông bà mình vẫn thường nói, “Non sông dễ đổi, bản tính khó dời”. Nhờ luôn luôn chú ý đến hơi thở, tôi nhận ra ngay những điều bất tịnh vừa chớm nẩy trong tâm để dừng lại kịp lúc, và nhờ phép quan sát toàn thân, tôi hiểu được sự vô thường của vạn vật, biết chấp nhận sự sinh ra và diệt đi và quên khổ đau. Trước kia vì vô minh để tâm vọng động, tôi đã tự làm khổ mình không ít. Mỗi lần có tin buồn, dì cậu hay bà con, những người tôi yêu quý bên nhà qua đời, hay sự thất bại khi đứa con làm thủ tục bán “short-sale” ngôi nhà đẹp, tôi đau khổ đến mất ăn mất ngủ. Và lúc có chuyện vui, như những lần đoạt giải cao viết văn chẳng hạn, tôi quá vui mừng trước sự chúc tụng của bạn bè, lên khán đài phát biểu, được TV phỏng vấn, chụp hình cùng các vị dân cử… Những ánh hào quang đó cũng làm tôi mất ngủ quên ăn. Giờ tôi hiểu ra, những thứ buồn vui hay danh vọng ấy chẳng qua cũng là phù du, đến rồi đi, buồn quá hay mừng lắm chỉ làm cho tâm mình thêm khổ não. Phải chi tôi biết Vipassana sớm thì đã đón nhận chúng với cái tâm bình thản, có lẽ giờ này tôi cũng giảm được vài nếp nhăn trên trán, hoặc chí ít, cũng không để cho mấy sợi “tóc muối” có cơ hội đứng ngang hàng chen lẫn cùng đám “tóc tiêu” như bây giờ.

Ngày trước, có khi những chuyện “nhỏ như cọng cỏ” là giận hờn vu vơ với cái “người dưng khác họ” cũng làm cho tôi đau khổ vô biên. Bây giờ mỗi lần ông ấy có chuyện không vừa ý nổi giận cau mày, thay vì “làm mình làm mẩy” tôi chỉ nói nhẹ nhàng, “Lấy sự nhăn nhó khó chịu ấy về đi, không ai nhận đâu!” Thế là sắc mặt chàng tươi trở lại. Dù bây giờ đã là “bà già trầu” nhưng thỉnh thoảng tôi lại quên mất, cứ ngỡ mình vẫn còn là “em bé ngày xưa ấy” của chàng nên giở trò mè nheo, hờn dỗi, khiến bực mình. Nếu trước kia, là người ít nói nhưng tính nóng còn hơn “Trương Phi” ông ấy sẽ nổi doá cự lại làm mọi chuyện lớn thêm, còn bây giờ chàng chỉ nói, “Tâm bất tịnh rồi, quán thân đi!” Vậy là cùng nhau cười xoà hết chuyện. Chúng tôi thường đùa tụi mình giờ là “Tình 3B”, “Bạn đời, Bạn già, và Bạn thiền.” Ngày ngày ăn chay, ngồi tịnh tọa chung, tháng tháng cùng đi ngồi thiền nhóm, và thỉnh thoảng dắt nhau đi phục vụ Dhamma (giáo pháp – tiếng Pali) cho các khóa thiền Vipassana trong vùng. Bấy nhiêu đó là đủ vui cho cái tuổi về chiều, “cố gắng sống thảnh thơi để chờ thời đi…dzìa trển!” Nhà tôi nói như vậy.

Thú thật, chàng xã của tôi “thấm nhuần” Vipassana còn kỹ hơn tôi, ngồi thiền giỏi hơn tôi, tịnh tâm dễ hơn tôi, và thay vì “cà kê dê ngỗng” như tôi, ông ấy tóm gọn sự lợi ích, hiệu quả, và chân lý của pháp môn Vipassana chỉ trong một bài thơ Đường Luật mà rất là đầy đủ:

“Hữu duyên hạnh ngộ PASSANA (Vipassana)

Giáo pháp lọc tâm diệt ý tà.

Tham, dục, ngày ngày thôi bám víu,

Sân, si, chốc chốc cũng lìa xa.

Mắt tai mũi lưỡi cần an tịnh,

Trí tuệ lòng từ sẽ hiện ra.

Trì giới quán thân từng khoảnh khắc,

Sống đời hạnh phúc với DHAMMA (giáo pháp).”

Tân Khoa

Chúng tôi đã kết nối được với một nhóm ngồi thiền Vipassana (Vipassana Group Sitting) gần vùng cư ngụ và đến ngồi thiền chung mỗi tháng vài lần. Lần đầu đến dự, tôi ngạc nhiên và khâm phục những thiền sinh Mỹ này. Hầu hết là người trí thức trẻ, còn đi làm, vậy mà cùng nhau họp lại, và tự đóng góp tài chính thuê một gian phòng trong trung tâm dạy Yoga, chuẩn bị đầy đủ bàn ghế bồ đoàn toạ cụ cho việc ngồi thiền. Mỗi ngày đều có tổ chức suất ngồi thiền một giờ sáng sớm và một giờ vào buổi tối, để những ai trên đường đi làm và đi làm về ghé qua cùng ngồi chung. Và mỗi tháng có hai khoá tọa thiền nguyên một ngày cuối tuần, có cả thiền sư phụ tá giám sát và hướng dẫn. Dù chỉ là khóa thiền một ngày, mọi thứ được sắp xếp y hệt như khi học ở trung tâm. Cũng ngồi theo băng đĩa giảng dạy của thiền sư Goenka, ăn chay nguyên ngày, giữ sự im lặng thánh thiện, và giờ giấc cũng giống nhau. Đi ngồi thiền nhóm cùng với các thiền sinh Mỹ tôi mới khám phá ra hệ thống Vipassana của thiền sư Goenka là hệ thống hoạt động toàn cầu. Đã là thiền sinh cũ của thầy Goenka thì tên tuổi chúng tôi được lưu lại vĩnh viễn trên hệ thống. Nếu tôi có dịp đến bất cứ nước nào trên thế giới mà có ý định tìm một khóa thiền Vipassana tu tập, thì cũng sẽ được hưởng tất cả mọi quyền lợi “thiền sinh cũ Vipassana” của truyền thống Goenka, các thiền sinh bạn ở đó sẽ giúp đỡ, đưa đón và lo nơi ăn chốn ở đàng hoàng. Thầy Goenka nói ngồi thiền chung với nhóm nhiều người sẽ rất có lợi vì được sự trợ lực từ những người xung quanh. Tôi thấy đúng lắm, ngồi chung với nhóm tôi cảm nhận được điện lực từ trường và tâm từ của mọi người lan tỏa.

Vừa rồi tôi cũng đã đi phục vụ khoá thiền một ngày “Children And Teenager Course” tại chỗ ngồi thiền nhóm này. Khóa thiền mở dành cho các cháu độ tuổi 8 đến 15. Dù đây chỉ là một cái “Hall” do nhóm thiền sinh Mỹ tự nguyện tổ chức, vẫn phải trực thuộc vào hệ thống và dưới sự quản lý nghiêm nhặt của trung tâm chính Vipassana California với một ban điều hành rất là bài bản. Khi vợ chồng tôi ghi danh đi phục vụ cho khoá thiền này, chúng tôi phải vào trang web trung tâm điền đơn xin phục vụ cung cấp đầy đủ thông tin cá nhân, và phải điền đơn để họ làm “Background Check” lý lịch “trong trắng” thì mới được nhận. Khóa thiền cũng có hai thiền sư phụ tá đến trợ giảng, một nam giúp cho boys và một nữ giúp cho girls. Cũng phải giữ “Sự Im lặng Thánh Thiện”, phục vụ ăn trưa miễn phí cho các cháu, và nhiều “trò chơi thông minh” được các thiện nguyện viên chúng tôi hướng dẫn trong những giờ giải lao. Mọi người cùng nhau thực hiện thành công khóa thiền một ngày. Các em khi mới vào còn quậy, nhảy nhót lung tung, nói lý lẽ với người lớn, nhưng đến cuối khóa chúng trở nên ngoan ngoãn dễ thương vô cùng. Cô thầy thiền sư phụ tá “khảo bài” về những gì các cháu đã học được trong ngày hôm ấy, và các cháu hào hứng sôi nổi đưa tay lên giành nhau trả lời đúng chính xác những gì các cháu vừa được dạy.

Sinh hoạt với các thiền sinh Mỹ và thiền sinh các nước khác, tôi biết được cái tâm của họ lớn vô cùng. Hỏi chuyện thì nhiều người nói “không thể đếm” được bao nhiêu khóa thiền họ đã học. Đối với những người đã tìm thấy và gặt hái được chân lý của Vipassana cho tâm hồn và cuộc đời họ, thì việc hiến tặng tiền bạc những vật ngoại thân để xây dựng thiền đường chỉ là “chuyện nhỏ”. Như vừa rồi Vipassana hệ thống Goenka Bắc Cali đã mua một trang trại 54 mẫu Anh gần thung lũng điện tử San Jose, giá 2 triệu 1 Mỹ Kim. Chương trình sắp tới, bước một, thiền viện thứ tư của Cali sẽ được xây dựng với kinh phí khoảng 8 triệu để có đủ chỗ ở và thiền cho 80 thiền sinh. Bước hai sẽ mở ra cho đủ thâu nhận 150 người. Thật là một con số đáng kinh ngạc, những chương trình quy mô như thế mà toàn bộ đều đến từ sự cúng dường, có thể thấy lòng từ tâm của thiền sinh Vipassana to lớn cỡ nào. Họ đã gặt hái kết quả từ thiền Vipassna, nên hiến tặng của cải, vật chất, và công sức không mong cầu báo đáp, chỉ để giúp cơ hội cho nhiều người khác được học về pháp môn Vipassana.

Cho đến giờ, những lời giảng quý giá của thiền sư Goenka như luôn vang vọng trong tôi. Ngài nói luật tự nhiên và thiên nhiên rất công bằng. Tâm ta sẽ nhận được sự tưởng thưởng hay trừng phạt là tuỳ vào cách suy nghĩ và hành xử của chính ta. Nếu tâm chúng ta thanh tịnh, ban phát hoà ái và tình thương cho mọi người, mọi loài, thì sẽ hưởng được sự an nhiên tự tại và hạnh phúc viên mãn. Nếu tâm ta bất thiện, mang sự thù hằn, ghét bỏ, mê đắm tham lam, thèm muốn những thứ không phải của mình, hay hại người, thì sẽ bị luật tự nhiên trừng phạt, mà là trừng phạt ngay lập tức. Cho dù chỉ là sự bất thiện trong ý nghĩ, thì sự trừng phạt sẽ làm cho tâm ta vật vã, suy nghĩ bất an, còn nếu như đã gây ra những điều ác, xấu cho người, thì tâm ta sẽ bị dằn vặt, cắn rứt cho đến cuối đời, tận giờ phút lâm chung thì mọi điều bất thiện đó sẽ hiện lên không thiếu một mảy may. Thầy nói người hành thiền Vipassana phải luôn luôn sống trong trí tuệ, nhìn và quan sát thân tâm, ý thức rõ từng lời nói và việc làm để biết dừng lại kịp lúc, xóa bỏ nó đi và trong tâm không còn sự thèm muốn hay thù ghét nữa, chắc chắn ta sẽ được giải thoát khỏi những ràng buộc đau khổ để sống đời hạnh phúc thật sự.

Tóm lại, Vipassana là con đường dẫn đến giải thoát khổ não đời người, nó giúp diệt trừ thèm muốn, giận ghét, và vô minh, là những căn nguyên gây khổ đau cho nhân loại. Bạn đã đọc đến đây, kể như bạn cũng có duyên lành. Biết đâu cơ duyên dẫn dắt, đem được kỹ thuật thiền nguyên thủy Vipassana của bậc giác ngộ gần hai nghìn sáu trăm năm trước hòa quyện vào đời sống tất bật hằng ngày của bạn để giúp bạn có một cuộc sống thanh thản yêu đời và an lạc hơn.

Nguyện cho bài viết này mang lại chút ít lợi lạc cho ai đó. Nguyện cho tất cả chúng sinh trên thế giới này đều được an lành và hạnh phúc trong Năm Mới Kỷ Hợi và mãi mãi…

Viết với tâm từ.

Phương Hoa – Xuân Kỷ Hợi 2019

(Khóa thiền ngày 19 tháng 9 năm 2018 tại Dhamma Delaware )

*Nếu muốn tìm hiểu thêm về Vipassana, bạn có thể vào đây:

https://www.dhamma.org/en-US/index – Tiếng Anh

http://www.vn.dhamma.org/ – Tiếng Việt

*Những câu hỏi và trả lời thú vị nếu bạn muốn biết về Vipassana trong tù ở Mỹ:

https://www.prison.dhamma.org/prisonqa.htm

Cảm Nhận Và Chia Sẻ Thêm Ý Nghĩa Về Thiền Của Nhà Thơ Lễ Tuấn:

Cám ơn bài viết của nữ sĩ Phương Hoa.

Bài viết rất hay. Giới thiệu về Phương Pháp Thiền  (Thiền Vipassana là gì?) Nói đúng hơn đây là phương pháp Thiền minh sát trí tuệ.  phương pháp Thiền Quán, không phải Thiền Định.  Thiền Vipassana thuộc loại thiền quán, chú trọng đến tương quan mật thiết giữa tâm và thân từ đó loại bỏ được những suy nghĩ, hành động tiêu cực và để đạt được sự an nhàn, vui vẻ, nguồn năng lượng tích cực. Bởi Vipassana có nghĩa là “thấy mọi sự vật như bản chất thật của chúng ngay trong lúc quan sát”, nó là một tiến trình logic của việc thanh lọc tâm tưởng bằng cách tự quán chiếu bản thân mình. Đây là một phương pháp Thiền rất tuyệt vời (rất hay). 

Tuy nhiên theo tôi nhận xét. Muốn xoá bỏ một (tâm thức u tối) hay phiền não, nhất định người thiền định, phải dùng đến một năng lượng để triệt tiêu. (chữ năng lượng ở đây có nghĩa “năng lượng từ bản thân” phải dùng đến một kỹ năng quan sát trí tuệ rồi triệt tiêu nó). Tôi thường suy nghĩ:Nếu ta nhìn thấy bất cứ khoảng đen tối nào trong tâm hồn, thì hãy mở tung cánh cửa đó ra, để cho ánh sáng của Chân Thiện Mỹ tràn vào. Việc mở tung cánh cửa, của một ngăn tối trong tư tưởng, nếu bất cứ ai đạt đến cảnh giới cao siêu, thì đều làm được và làm một cách rất tự nhiên (không cần năng lượng).

Bản thân tôi cũng tìm hiểu về nhiều triết lý về Thiền, và cuối cùng tôi tự tìm ra một chân lý. Đó là triết lý “Chủng Thể Nẩy Sinh” sự nẩy sinh trong mọi vấn đề thì đó là nhân tố thứ 3. Anh A gặp Anh B, hai người nói chuyện, qua câu chuyện, sẽ nẩy sinh một yếu tố thứ 3, yếu tố thứ 3 hoàn toàn phụ thuộc vào tính chất câu chuyện, nếu câu chuyện hoà thuận, thì chủng thể thứ 3 sẽ là nguồn năng lượng (Tình thương sự đồng cảm). Nếu câu chuyện dẫn đến bất đồng, đi đến to tiếng, thi chủ thể thứ 3 sẽ là sự giận giữ (lòng thù hận, ganh ghét).Nếu trong lúc ngồi thiền mà tâm bị động, để cho dòng suy tư bị nhiễu loạn thì ngay lập tức (Chủng thể thứ 3) xuất hiện và thôi thúc, ngôi thứ ba sẽ thôi thúc, hãy làm đi hay hãy bỏ cuộc.  Giải thích một chút về (Chủng Thể Thứ 3) Dòng suy tư xuất phát từ tâm hồn (đây là chủng thể thứ 1) đưa suy nghĩ đến một vấn đề (Thánh thiện hay đen tối) đây là (Chủng Thể Thứ 2) và sự xuất hiện của tư tưởng dẫn đến hành động, đây là (Chủng Thể Thứ 3). Đây chỉ là một ví dụ rất nhỏ, nếu bàn thêm thi bao la vô cùng.

Bài viết về Thiền Vipassana của Phương Hoa, đã gợi nhớ trong tôi nhiều tư tưởng, nhiều triết lý đã đọc qua. Cám ơn bài viết rất hay của Nữ Sĩ Phương Hoa. Chúc thật vui và bình an, như trọng tâm của Thiền Vipassana

Trân Trọng

Lê Tuấn




CHÙM THƠ NGÀY TỪ MẪU – Phương Hoa




CHÚC MỪNG & GIỚI THIỆU THI PHẨM Của Nhà Thơ Lê Tuấn

Chuyện lạ! Đàn ông mà lại sinh con!…(tinh thần!)

Tin rất vui! Xin gởi lời khen tặng. Nhân tiện, Anh Tuấn cho Hải “order” 5 cuốn, giữ lại cho mình và tặng bạn bè.

Cám ơn Anh.

Lê Văn Hải

CHÚC MỪNG NHÀ THƠ LÊ TUẤN

(Kính giới thiệu cùng thành viên và thân hữu VTLV)

Thay mặt Ban Biên Tập VTLV

Phương Hoa – MAY 6th 2021




Khánh Thúc Hà (KHANH HA)

Ngôi Sao Việt Tỏa Sáng Trên Vòm Trời Văn Học Hoa Kỳ

Phương Hoa

C & R Press today announced the winners of its 2020 Poetry, Fiction, and Nonfiction. In the fiction category, the winner is Khanh Ha’s story collection “A Mother’s Tale and Other Stories.”

Slated for publication in the  Fall 2021, it is praised by the publisher:

“This was a decided favorite among readers and the unanimous choice. We could go on but A Mother’s Tale is poignant, illustrates a tremendous understanding of voice, and, while casting a sharp eye on the tragedy of war, is hauntingly beautiful in many ways.”

https://www.theusreview.com/reviews-1/A-Mothers-Tale-and-Other-Stories-by-Khanh-Ha.html#.YJIl5rVKiM9

(Bài đã đăng trên Việt Báo: https://vietbao.com/p301420a305547/khanh-thuc-ha-khanh-ha-ngoi-sao-viet-toa-sang-tren-vom-troi-van-hoc-hoa-ky )

Nhà văn Khanh Ha (Hà Thúc Khánh)

Vừa qua, Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ (VNHNVĐB HK) mà tôi tham gia, nhận được một tin vui thật lớn, làm rộn ràng cả diễn đàn Văn Bút.  Đó là tin văn sĩ gốc Việt Hà Thúc Khánh (Khánh Hà), phu quân của thành viên Văn Bút văn thi sĩ Nguyễn Phương Thúy, đã đoạt cùng lúc hai giải thưởng văn học giá trị của Hoa Kỳ chỉ cách nhau có một tháng.  Giải truyện ngắn “2020 WILLIAM FAULKNER Literary Competition” hồi tháng 9, và đến nay, gần cuối tháng 10, anh lại đoạt tiếp giải “THE 2020 ORISON ANTHOLOGY Award in Fiction” trong cùng một tác phẩm, “THE WOMAN-CHILD.”

Ngoài việc cùng chung sinh hoạt trong Văn Bút VNHNVĐB HK, tôi còn là thành viên nhóm Cô Gái Việt (CGV) cũng ở Hoa Kỳ, một diễn đàn quy tụ toàn nữ văn, thi, nhạc sĩ Việt, do Phương Thúy điều hành. Cô cũng là chủ nhiệm kiêm chủ bút Tuyển Tập Cô Gái Việt, phát hành mỗi năm một lần, gồm những bài viết của thành viên CGV trên nước Mỹ và thế giới, với mục đích góp phần bảo tồn Việt Ngữ và giữ gìn văn hóa Việt Nam nơi hải ngoại, v.v.  Nhờ vậy, tôi mới có dịp may được quen biết nhà văn Khánh Hà (Nv KH). Xin kính chia sẻ cùng quý độc giả cuộc trao đổi đầy thú vị dưới đây giữa người viết và Nv KH:

Thưa anh Khánh Hà,

Trước hết, Phương Hoa xin trân trọng chúc mừng anh đã đoạt được hai giải thưởng văn học giá trị vừa rồi, và cám ơn anh dành cho P. Hoa cuộc đổi trao, chia sẻ thật đặc biệt, thật vinh dự này.  Là một người viết văn tiếng Việt, và chỉ mới bắt đầu tập tò viết chút ít tiếng Anh gần đây, nên P. Hoa vô cùng khâm phục sự thành công tuyệt vời mà anh giành được khi hội nhập vô dòng chính của văn học Hoa Kỳ. P. Hoa xin phép được hỏi anh đôi điều, mong anh vui lòng chia sẻ để độc giả Việt Báo và bà con đồng hương Việt khắp nơi cùng chia vui với anh.

Nv KH: Xin cám ơn chị P. Hoa đã có nhã ý giới thiệu tôi, một Vietnamese American writer, cho độc giả Việt Báo. Rất hân hạnh được tiếp chuyện với chị hôm nay.

P.Hoa: Dạ cám ơn anh. Thưa anh, xin anh cho biết thêm chi tiết về hai giải thưởng truyện ngắn của WILLIAM FAULKNER Literary Competition” và “ORISON ANTHOLOGY Award in Fiction” đã trao cho tác phẩm “THE WOMAN-CHILD” cùng giá trị văn học của chúng, và lý do tại sao anh dự thi hai giải thưởng ở hai nơi lại cùng một tác phẩm? Và nếu tiện, xin anh tóm tắt đôi điều về tác phẩm “THE WOMAN-CHILD” đã đoạt giải?

Nv KH: Thưa chị, giải William Faulkner Literary Competition trao giải nhưng không xuất bản truyện đoạt giải; còn giải Orison Anthology Award in Fiction sau khi trao giải sẽ xuất bản truyện—lịch trình là mùa thu năm 2021. Tóm lại, không có sự mâu thuẫn hay bất đồng giữa hai giải về sự đệ trình của mỗi truyện tranh giải. Truyện “The Woman-Child” được tóm lược như sau:

Set in Vietnam 20 years after the end of the war in a coastal  habitat being ruined  by modern  aquaculture industry, “The  Woman-Child” tells a story of a tender relationship between Vietnam-born Minh who as a Vietnamese expatriate living in the United States visits the country as a graduate student, and a young local girl who lives  on the  seaside with its  ever-present ocean and its ecological beauty, set against a backdrop of the Vietnam’s environmental degradation caused by shrimp aquaculture, when half a million hectares of coastal mangrove forests had been razed to become prawn farms to feed the American market.

(P.Hoa xin tạm dịch: Truyện lấy bối cảnh ở Việt Nam, 20 năm sau chiến tranh, trong một môi trường sống ven biển đang bị hủy hoại bởi kỹ nghệ thủy sản tân tiến. “The Woman-Child” kể câu chuyện về mối quan hệ mong manh giữa nhân vật tên Minh, một Việt kiều Mỹ, sau khi tốt nghiệp trở về thăm quê hương, và một cô gái trẻ địa phương sống ven biển với đại dương mênh mông cùng vẻ đẹp sinh thái thiên nhiên tự thuở nào của nó, giờ đây phải đối diện với sự suy thoái môi trường tại Việt Nam do kỹ thuật nuôi tôm, khi nửa triệu mẫu rừng cây đuốc ở ven biển đã bị san bằng để làm khu nuôi tôm cung cấp cho thị trường Mỹ.)

P.Hoa: Tuyệt vời. Thưa anh, ngoài hai giải thưởng này ra, theo chỗ P. Hoa được biết, anh đã từng nhận “không biết cơ man nào” (cười) thành tích. Ví dụ như, 7 lần anh được đề cử vào giải “Pushcart Prize,” một giải thưởng văn học được vinh danh nhiều nhất nước Mỹ kể từ năm 1976, là hội văn học mà hầu hết các nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học, viết tiểu luận nổi tiếng ở Hoa Kỳ tham gia từ 1976 cho đến nay. Rồi thì tác phẩm của anh cũng từng vào chung kết giải thưởng “The Mary McCarthy,” “Many Voices Project,” “Prairie Schooner Book Prize,” “The William Faulkner-Wisdom Creative Writing Award,” là những giải thưởng nổi tiếng, và giải “The Sand Hills” dành cho sách hư cấu hay nhất, tiếp đến là giải “Robert Watson” của Greensboro Review về tiểu thuyết hay, và còn nữa…

Ôi, đúng là đếm muốn… hụt hơi luôn rồi (cười). Nhờ anh điều chỉnh lại cho đúng, bổ sung thêm những giải thưởng P. Hoa nêu còn thiếu trong danh sách này? Vì P. Hoa biết còn nhiều giải thưởng khác chưa được cập nhật. Đặc biệt, xin anh cho biết, giải thưởng anh nhận đầu tiên là giải thưởng gì? Nhận được năm nào? Và tác phẩm đó tên là gì?

Nv KH: Cám ơn chị đã quá khen, và cũng xin cám ơn chị đã liệt kê đầy đủ. Sự thật là tất cả các giải thưởng đều nặng phần chủ quan, từ giải thưởng nhỏ đến giải thưởng lớn. Nếu có tâm đầu ý hợp với ban giám khảo—on the same vibrations—thì tỷ lệ thắng sẽ cao hơn, với điều kiện tiên quyết là sáng tác phải có giá trị. Tin vui thường đến rất bất ngờ vì có lẽ những gì mình mong muốn thường không bao giờ đến. Giải thưởng văn chương đầu tiên tôi nhận được là Robert Watson Prize, năm 2013 (see link in blue). Truyện ngắn nhan đề Heartbreak Grass (see link in blue).

P.Hoa: “Nếu có tâm đầu ý hợp với ban giám khảo” Nghe “ngồ ngộ” nhưng có lý lắm! (smile). Thưa anh, trong tất cả những giải thưởng của anh, giải thưởng nào mà anh tâm đắc nhất? Giá trị cao nhất? Có kỷ niệm nào đặc biệt đáng nhớ, vui buồn, trong những lần anh được giải, hoặc nhận giải, hoặc khi viết về tác phẩm?

Nv KH: Hai truyện ngắn tâm đắc nhất của tôi là “Heartbreak Grass” và “The Woman-Child.” Trong mỗi truyện người đọc có thể cảm nhận được sự linh động chân thành của những nhân vật và qua bối cảnh của truyện. Thưa chị, viết truyện đã khó thì đoạt một giải văn chương càng khó hơn. Cá vượt vũ môn trong thực tế chỉ là một ảo tượng cho biết bao nhiêu nhà văn. Nhưng tôi rất vui mỗi khi nhận được tin thắng giải mà nói theo tiếng Anh là “a pure joy.”

P.HoaDạ anh. P. Hoa đã từng may mắn đọc qua truyện ngắn “Heartbreak Grass” của anh, nói về người thương phế binh Cộng sản được gọi là “Uncle Chung,” trở về sau trận chiến với hai mắt bị mù và tứ chi đều mất hết, rất sống động và cảm động… nên anh “đánh bại” hết các tác giả khác cũng đúng thôi. Và thưa anh, P. Hoa cũng được biết, truyện “Mrs. Rossi’s Dream” của anh mới xuất bản năm 2019 cũng đã nhận quá nhiều kết quả đẹp. Anh được “Foreword Reviews INDIES” trao cho huy chương Bạc về “Historical Adult Fiction” là tiểu thuyết lịch sử dành cho người lớn, và huy chương Đồng về “War & Military Adult Fiction” tiểu thuyết chiến tranh & quân đội dành cho người lớn, và “Booklist” đã vinh danh là sách mới hay nhất. Anh có thể cho biết chút ít về quyển sách này, anh lấy ý tưởng từ câu chuyện thật hay hư cấu? Và phải mất thời gian bao lâu thì anh hoàn tất quyển sách này?

Nv KH: Tiểu thuyết của tôi thường thành hình bắt đầu từ một hình ảnh. Hình ảnh nguyên thủy chuyển biến thành quyển sách “Mrs. Rossi’s Dream” đến từ một documentary film. Ở đó một bà đồng bóng dẫn một phụ nữ Mỹ đến một nấm mồ nơi thi thể con bà đã được an táng cách đó 20 năm. Lúc bấy giờ tôi đã sống ở đất Mỹ rất lâu và hình ảnh đó vẫn sống trong tôi qua nhiều năm nữa cho đến một hôm tôi cảm nhận được sự thôi thúc phải viết về hình ảnh đó. Trong suốt thời gian viết tôi ngỡ như mình là một đứa bé đang học những điều lạ lùng ở trái đất này, một môi trường đầy đam mê và quyến rũ, đầy những con người đủ chủng tộc, đầy bí ẩn, đầy tham lam, gian ác và hung dữ, nhưng ngược lại cũng đầy tình thương và tha thứ. Một buổi sáng sau hai năm viết liên tục, tôi bước ra ngoài và đứng nhìn cây Hương Đào đang trổ bông rực một góc nhà. Và ve sầu bắt đầu kêu.

P.HoaWow! Thiệt là phải… nín thở khi nghe anh kể (cười), vì có thể thấy sự quyết tâm, cũng như trí tưởng tượng quá phong phú của anh đã thuyết phục được độc giả Mỹ, một điều không phải dễ cho tất cả các nhà văn viết tiếng Anh, nhất là khi tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai. Và, P. Hoa được biết anh tốt nghiệp ban Văn Chương/Báo Chí ở đại học Ohio, xin cho hỏi, anh có xử dụng bằng cấp này cho việc làm nào khác hay là anh chỉ chuyên viết văn? Về viết văn, cho tới hiện tại anh đã xuất bản được bao nhiêu tác phẩm? Truyện ngắn? Truyện dài?

Nv KH: Tôi không có cơ hội để áp dụng học thức của mình về ngành báo chí; nhưng cách viết của báo thật sự giúp tôi khi viết văn—hành văn của báo chí là ngắn, gọn, gãy, đủ—nói khác hơn là cách diễn đạt phải ngắn gọn và rõ ràng. Đọc Ernest Hemingway có lẽ quí độc giả sẽ thấy tính chất đó. Tác phẩm đầu tiên của tôi là “Flesh,” kế đến là “The Demon Who Peddled Longing,” và tác phẩm gần đây nhất là “Mrs. Rossi’s Dream.” Riêng về truyện ngắn thì tôi có trên 30 truyện đã xuất bản qua nhiều tạp chí văn chương Mỹ–phần lớn là những tạp chí của những chương trình Master of Fine Arts (MFA) do những sinh viên cao học quản lý và điều hành từ các trường đại học khác nhau.

P.Hoa: Dạ, cám ơn anh. Xin cho hỏi, anh có nhà văn thần tượng nào cho phong cách viết của anh không? Và anh có thể cho biết anh có những gửi gắm gì, nhắn gửi gì cho độc giả trong những câu chuyện về chiến tranh như “Mrs. Rossi’s Dream” chẳng hạn?

Nv KH: Thần tượng về văn chương thì tôi không có; tuy nhiên tôi thích đọc Ernest Hemingway, William Faulkner, Cormac McCarthy, Robert Penn Warren. Tác phẩm “Mrs. Rossi’s Dream” hoàn toàn đứng riêng về phương diện chiến tranh. Nó chỉ mô tả sự tàn bạo vô nhân của chiến tranh và sự mất mát của chúng ta trong tình nhân loại. Là một nhà văn tôi chỉ viết khách quan nên không bao giờ có tham vọng biểu dương một chủ đề hay gởi đời một bài thuyết pháp.

P.Hoa: Dạ anh. Nhưng dù anh có khiêm nhường mà nói thế, độc giả vẫn có thể nhận ra những “sự tàn bạo vô nhân của chiến tranh” anh mô tả trong truyện, là những nhắn gửi, những lời kêu gọi thống thiết lương tâm loài người về đạo đức, về lòng nhân, và về tình người với nhau. Cho P. Hoa hỏi tiếp, truyện đầu tay bằng tiếng Anh anh viết là khi nào, và đó là chuyện gì? Điều gì đã giúp anh “đánh đâu thắng đó” khi gửi bài dự thi? Anh đã luôn “đoán trước” được chủ ý và yêu cầu của ban giám khảo?

Nv KH: Thưa chị, truyện đầu tay Anh ngữ của tôi được viết lúc tôi là một senior ở trường đại học Ohio University, Athens, trong khi theo học một khóa Creative Writing. Giáo sư của tôi lúc bấy giờ là nhà văn nổi tiếng Daniel Keyes, tác giả của tác phẩm “Flowers for Algernon.” Cuối khóa ông chọn truyện ngắn của tôi và xin phép tôi cho ông gửi đăng trên tờ tạp chí Ohio Review. Nhan đề truyện ngắn là “A Woman from Saigon.” Tôi quên gần hết câu chuyện vì cũng hơn 30 năm rồi. Về việc gửi bài dự thi và “đoán được” chủ ý lẫn yêu cầu của ban giám khảo thì tôi xin lập lại một sự thật, một chân lý cho tất cả tác phẩm dự thi: Tất cả kết quả đều dựa trên sở thích cá nhân; cho nên nếu hợp tính, hợp thẩm mỹ với nhau thì tác phẩm đó sẽ thắng.

P.Hoa: Thưa anh, P. Hoa đã được đọc nhiều truyện ngắn tiếng Việt anh viết cho tờ Tuổi Hoa trước năm 1975. Khi đó anh còn trong tuổi học trò, mà những truyện ngắn anh viết như “Săn Người,” “Hoa Đầu Mùa,” hay “Tổ Ấm,” trên Tuổi Hoa, ngòi bút của anh khi ấy đã rất chững chạc, sắc sảo, rất hay, và đầy vẻ huyền bí không thua gì những nhà văn nổi tiếng. Một tương lai sáng lạn về văn học Việt Nam như thế, tại sao về sau ra nước ngoài anh không tiếp tục viết tiếng Việt nữa, mà chỉ chuyên viết sách tiếng Anh? Còn nữa, anh có dự định dịch sang Việt ngữ những tác phẩm của anh để bà con mình những người không biết nhiều tiếng Anh có thể đọc?

Nv KH: Thưa chị, thưở còn viết cho Tuổi Hoa tôi đang ở tuổi 13-15 và chỉ biết viết vì đam mê. Bao nhiêu năm, sau khi đã trưởng thành tôi không còn sự ngây thơ đó nữa, vì sự tự hào, dù đó là một hảo huyền, đã thúc đẩy tôi sáng tác qua Anh ngữ để đạt một số độc giả rộng lớn hơn. Việc chuyển dịch những gì đã viết từ Anh ngữ sang Việt văn đòi hỏi rất nhiều thì giờ và một tinh thần tận tụy mà tôi không làm được vì đã để hết tâm viết truyện bằng Anh ngữ. Ngoài ra, nếu muốn dịch hay thì nên để một dịch giả khác mình làm chuyện đó. Rất ít có tác giả nào tự dịch những gì mình viết.

P.Hoa: Dạ anh nói đúng lắm. Còn điều này, P. Hoa từng đọc một bài viết dễ thương từ phu nhân Phương Thúy của anh, tựa đề là “Giận”:

(http://nguyenpthuy.jigsy.com/files/documents/0a73d5cd-ab52-4c15-991e-b054ec2934ec.pdf)  

Trong đó có đề cập đến một bài tình thơ bằng tiếng Anh, “Gasoline Rainbow” rất ngọt ngào, rất lãng mạn, anh viết cho nàng khi hai người mới yêu nhau.  Xem ra hồn thơ Anh ngữ của anh cũng khá là… lai láng (cười). Như vậy, ngoài viết sách, anh có làm thơ tiếng Anh không?

Nv KH: Thưa chị có; nhưng đó cũng như so sánh một chef với một sous-chef. Tình yêu có thể gợi cảm hứng diễn đạt qua vần thơ để bắt giữ những sắc màu lãng mạn lúc đó, và tôi đã làm thơ khi tôi biết yêu. Nhưng cuối cùng tôi vẫn là một nhà văn.

P.Hoa: Anh đối đáp duyên dáng lắm (cười). Là một nhà văn gốc Việt rất thành công trong dòng chính văn học Mỹ quốc, anh thuộc vào hàng “tiền bối” của những cây viết mới bắt đầu, anh có lời khuyên gì, nhắn nhủ gì, bí quyết gì, để dẫn đến sự thành công vượt bực đó mà anh có thể chia sẻ cho những “hậu bối” trên con đường viết lách bằng Anh ngữ, và cả những cơ hội có thể thắng giải văn chương như anh?

Nv KH: Viết văn cũng như tập nấu ăn, thưa chị. Nếu có người chỉ dạy đó chỉ là mắm muối thêm vào thôi. Sự trưởng thành của một nhà văn đến từ chính mình, có nghĩa là viết và viết. Và đọc. Đọc nhiều để bồi bổ kiến thức cho kỹ thuật viết, và viết nhiều để tôi luyện kỹ thuật hầu tìm được tiếng nói của riêng mình. Một nhà văn không có tiếng nói đặc thù cũng giống như “generic drug” so sánh với “brand-name drug.” Nếu đây có thể xem là một lời khuyên thì xin chị chấp nhận.

P.Hoa: Dạ anh, tất nhiên đó là những lời khuyên vô giá! Câu hỏi chót là về sự nghiệp văn chương của anh: Mục tiêu sắp tới của anh là gì? Anh có dự định tranh đoạt những giải thưởng văn học nào trong tương lai? Và hiện anh có đang chuẩn bị in sách mới?

Nv KH: Tôi luôn bận với sáng tác. Lúc đang viết một tiểu thuyết thì tôi đã có một hình ảnh của sáng tác khác sau đó. Tiểu thuyết tôi vừa viết xong đã có một số truyện ngắn trích ra từ đó, đã và sẽ đăng trên một số tạp chí văn chương của Mỹ–Waccamaw Journal, Solstice Literary Magazine, Evening Street Press. Hiện tôi sắp kết thúc phần tham khảo cho sáng tác mới và sẽ bắt đầu viết vào năm tới.

P.Hoa: Hết sảy! Chúc mừng anh! Thật là ngưỡng mộ sức viết ngút ngàn như gió cuốn, như mây bay, như nước chảy của anh, những đức tính và sự quyết tâm ấy không phải nhà văn nào cũng làm được. Và, nếu không có gì bất tiện, anh có thể cho biết anh đến Mỹ năm nào và thuộc diện gì?

Nv KH: Thưa chị tôi du học ở Ohio University, Athens, vào thập niên 70, trước khi chúng ta mất nước vào tay Cộng sản.

P.Hoa: Dạ cám ơn anh. Để kết thúc cuộc trao đổi này, P. Hoa xin chân thành cám ơn anh Khánh Hà rất nhiều, đã bỏ thì giờ quý báu để chia sẻ nhiều điều thú vị và bổ ích cho những cây viết tiếng Anh “mầm non” gốc Việt (như P. Hoa) trong cuộc trò chuyện này. Kính chúc anh cùng gia đình vui khỏe, hạnh phúc, và riêng anh, chúc anh luôn tiến mãi trong sự nghiệp văn chương trên quê hương thứ hai này.

Nv KH: Xin thành thật cám ơn chị. Chúc chị và gia quyến được bình an trong thời COVID-19 này.

P.HoaDạ cám ơn và kính chào anh.

Xin giới thiệu sách mới sắp xuất bản của Khánh Hà:

https://www.crpress.org/shop/a-mothers-tale-other-stories/

Quý độc giả nếu muốn đọc các truyện ngắn Việt ngữ của nhà văn Khánh Hà đăng trên báo Tuổi Hoa trước 1975 xin mời vô những đường link sau đây. (copy link bỏ lên Google để mở)

*Truyện Ngắn: “Săn Người”  trang 79, — TUỔI HOA số 85 & 86 — Xuân Mậu Thân 1968: https://drive.google.com/file/d/0B9E44PtYv9V-bG0wN09Sb29aOEU/view

*“Hoa Đầu Mùa” — TUỔI HOA số 76, 1967:

https://drive.google.com/file/d/0B9E44PtYv9V-SUExWFFMSlJRckU/view

*“Tổ Ấm” — TUỔi HOA số 52, 1966 (serialized Part 1):

https://drive.google.com/file/d/0B9E44PtYv9V-RnRQeFdDQVdybGs/view

*“Tổ Ấm”– TUỔi HOA số 53, 1966  (serialized Part 2):

https://drive.google.com/file/d/0B9E44PtYv9V-REl5Z0RDbGZLRmM/view

*“Tổ Ấm” — TUỔi HOA số 54, 1966 (serialized Part 3):

https://drive.google.com/file/d/0B9E44PtYv9V-aGZ2bjhVS0tzZDQ/view

*“Tổ Ấm” — TUỔi HOA số 55, 1966 (serialized Part 4):

https://drive.google.com/file/d/0B9E44PtYv9V-cFc3UEEzWGxEU0E/view

*“Tổ Ấm” — TUỔi HOA số 56, 1966 (serialized Part 5):

https://drive.google.com/file/d/0B9E44PtYv9V-VjJfczJhQVZwUDQ/view

*“Tổ Ấm” — TUỔi HOA số 57, 1966 (serialized Part 6):

https://drive.google.com/file/d/0B9E44PtYv9V-aDFheFlsc2RhSHc/view

Phương Hoa

Sách mới nhà văn Khánh Hà sắp xuất bản, mà đã được giải nhất.




CHÀO MỪNG Nữ Sĩ Phan Hà

CHÀO MỪNG Nữ Sĩ Phan Hà

“Tôi Yêu Tiếng Nước Tôi!”

Văn Thơ Lạc Việt,

Nơi quy tụ những Trái Tim nhiệt huyết nhất, chỉ với mục đích Bảo Tồn và Phát Huy Tiếng Mẹ.

Một trong những Nhóm đông nhất, hoạt động lâu đời nhất, hữu hiệu nhất và yêu thương, giúp đỡ nhau nhất!

“Nào về đây ta hợp đoàn cùng nhau!” Một cánh én không tạo ra mùa xuân, nhưng khi Đàn Én xuất hiện, là dấu báo hiệu…Chúa Xuân về!

Lê Văn Hải – Chủ Tịch VTLV

***

CHÀO MỪNG NỮ SĨ PHAN HÀ

*

WELCOME người mới kính đôi hàng

CHÀO ĐÓN thành viên đã…nhập làng

NỮ SĨ lời hay, tay ngọc nhả

PHAN HÀ ý đẹp, bút hương loang

VĂN THƠ thi phú rồi rôm rả 

LẠC VIỆT xướng hòa sẽ rộn vang

Sinh hoạt cùng nhau chờ diện kiến

Niềm vui rạng rỡ xứ Hoa Vàng

Phương Hoa – APR 30th 2021

**

CHÀO MỪNG

Chào đón cô bạn Phan Hà 

Bước vào nhập hội một nhà kính tương 

VĂN THƠ LẠC VIỆT thân thương 

Phú bày thi trải đầy vườn kỳ hoa 

Dòng văn ý nghĩa mượt mà 

Giữ gìn tiếng Việt nước ta lưu đời 

Chúc mừng nữ sĩ đôi lời   

Chung lòng hợp thuận tiếng cười rộn vang

     Minh Thuý (Thành Nội) – Tháng5/1/2021




Chùm Thơ GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG

CHÙM THƠ NGÀY GIỖ QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG

*

1.NỖI LÒNG NGÀY GIỖ QUỐC TỔ

Tháng Ba Âm lịch, phận ly hương

Nhìn lại quê cha nhớ lạ thường

Bút nghẹn tim sầu ngày Quốc Tổ

Đôi dòng mừng kính lễ Hùng Vương

*

Từ buổi điêu tàn mãi đến nay

Lịch rơi đà bốn mấy năm dài

Lòng luôn đau đáu thương nhà cũ

Nhớ cảnh làng xưa nhớ quắt quay

*

Thuở ấy đình làng, trống Tháng Ba

Mồng Mười giỗ Tổ rộn gần xa

Áo quần nô nức theo chân mẹ

Guốc gỗ ôm nghiêng mũ điệu đà

*

Theo sau đám rước kiệu lên đàng

Nhịp trống thùng thùng tim rộn vang

Cờ ngũ sắc ngời trong gió sớm

Rước linh từ miếu nhập đình làng

*

Sắc Thần Vua tứ, tự nghìn xưa

Bô lão hương thân cung kính đưa

Thượng kiệu cúi đầu nghiêm cẩn cẩn

Rước về đình nội, đúng giờ trưa

*

Hương án khói ngời, trống giục ngân

Heo gà rau trái bày đầy sân

Các bà các chị lo xào nấu

Cờ xí xung quanh gió phật phẩn

*

Tiếng xướng đình trên vọng ngút vang

Sớ dâng Chức Sắc, Việc, nghiêm trang

Tiếng hô: “Giai quị,” rồi văn tế…

Ca ngợi Hùng Vương đức ngập tràn

*

Trống xổ lễ thành, tiếp lịnh ban

Hạ màn, thực phẩm dọn ba gian

Chiếu trên, chiếu dưới, ngồi la liệt…

Nong lớn, dành riêng bọn trẻ ngoan

*

Tiệc tàn, mâm cỗ dư ê hề

Chia miếng thịt làng, người hả hê

Câu nói, “Thịt làng, sàng thịt chợ”

Cười vui, tay xách nách mang về

*

Ngày ấy, nơi nơi hưởng thái bình

Vì đâu đất nước phải điêu linh?

Triệu người lưu lạc, xa lìa xứ

Giờ giỗ Hùng Vương, khóc một mình….

Phương Hoa – Tháng Ba Mồng Mười, Tân Sửu, 2021

***

2. NGÀY GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG

(Nhị khúc liên hoàn)

*

Xuân nồng tươi thắm rực màu hoa

Thời tiết dịu dàng đẹp Tháng Ba

Giỗ Tổ Hùng Vương ngày tụ hội

Mồng Mười Âm Lịch buổi giao thoa

Truyền nhân đất Việt năm châu hợp

Con cháu nhà Nam bốn biển hòa     

Vọng bái Đền Hùng hương một nén

Khẩn xin Quốc Tổ hộ quê nhà

*

Quê nhà xa cách mấy mươi năm

Buồn đọng đầy tim nghẹn khóc thầm

Biệt xứ hồn đau, đau chẳng dứt

Ly hương mắt lệ, lệ khôn cầm

Nhớ cha chất ngất, nào quay lại

Yêu mẹ trùng trùng, khó viếng thăm

Cầu nguyện anh linh dòng Việt Tộc

Vua Hùng Quốc Tổ giúp nhà Nam

Phương Hoa – Tháng Ba Âm Lịch – Tân Sửu 2021

***

3.Tháng Ba Ngày Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương

      Con Hồng Cháu Lạc Rộn Rã Vui Mừng

     (Dĩ đề vi thủ)

*

THÁNG BA Âm Lịch đúng Mồng Mười

NGÀY GIỖ hoa đào nở thắm tươi

QUỐC TỔ Thánh ơn, ơn dựng nước

HÙNG VƯƠNG Thần đức, đức răn đời

CON HỒNG muôn thuở luôn ghi huấn

CHÁU LẠC nghìn năm mãi nhớ lời

RỘN RÃ trống cờ tung kiệu rước

VUI MỪNG lễ tiệc khắp nơi nơi…

Phương Hoa – Mồng Mười Tháng Ba – Tân Sửu

***

4.GIỖ QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG

      (Thủ vỹ ngâm – Thuận nghịch độc)

Thuận độc:

Hồng Lạc xứ tiên cõi đẹp xinh

Đất trời xuân tỏa sáng lung linh

Công ghi Quốc Tổ dày tài sức

Đức trải Hùng Vương đậm nghĩa tình

Bông trái phụng đơm đồng kỉnh bái

Cỗ bàn dâng hiến hiệp cung nghinh

Mong cầu Việt Tộc bình an hưởng

Hồng Lạc xứ tiên cõi đẹp xinh

*

 Nghịch Độc:

Xinh đẹp cõi tiên xứ Lạc Hồng

Hưởng an bình Tộc Việt cầu mong

Nghinh cung hiệp hiến dâng bàn cỗ

Bái kỉnh đồng đơm phụng trái bông

Tình nghĩa đậm vua Hùng trải đức

Sức tài dày Tổ Quốc ghi công

Linh lung sáng tỏa xuân trời đất

Xinh đẹp cõi tiên xứ Lạc Hồng

Phương Hoa – Tháng Ba Tân Sửu – 2021

***

6.THÁNG BA XUÂN

     (Điệp tự)

Tháng Ba Âm Lịch, tháng Ba mừng

Giỗ Tổ Hùng Vương, giỗ Tổ Ân

Mười tám đời Vua, mười tám Đế

Bốn nghìn năm sử, bốn nghìn Xuân

Văn Lang nối gót, Văn Lang tiến

Việt Tộc theo đà, Việt Tộc nâng

Danh tiếng nhà Nam, danh tiếng rạng

Kính tiền Quốc Tổ, kính tiền nhân

 Phương Hoa – Tháng Ba Tân Sửu

***

6.LỊCH SỬ NƯỚC VĂN LANG

(Phóng tác theo: “Truyền Thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ”

Nguồn: https://vietnamesetypography.com/samples/lac-long-quan-au-co/)

*

Đất Lĩnh Nam có chàng Lộc Tục

Kinh Dương Vương thuần thục phép thần

Tài cao sức lạ giống Rồng

Lướt băng mặt nước chẳng cần thuyền ghe

*

Động Đình hồ Xuân hè dạo mát

Gặp Tiên nương đài các khôn lường

Nàng là công chúa Long Vương

Ngọc danh Long Nữ đẹp dường gấm hoa

*

Duyên tần tấn giao hoà giai ngẫu

Kết phụ thê đan dấu sắc cầm

Sinh trai Sùng Lãm anh hùng

Đức tài toàn vẹn vượt tầm phụ thân

*

Người nghĩa khí lòng nhân bát ngát

Nối nghiệp cha hiệu Lạc Long Quân

Cũng đạp nước, cũng phân thân

Tay nâng đá tảng nghìn cân như đùa

*

Đất Lĩnh Nam nhân mùa tiết đẹp

Lạc Long Quân thu hẹp đường dài

Ngao du sơn thủy hôm mai

Biển Đông Nam vượt gặp loài Ngư tinh

*

Chém ba khúc đầu, mình, đuôi, rã

“Cầu Đầu Sơn,” đầu hoá núi này

“Cầu Đầu Thuỷ,” mình ở đây

“Bạch Long Vỹ” đảo, đuôi nay vẫn còn

*

Đến Long Biên – Tản Viên, chồn cáo

Sống nghìn năm đại náo xóm làng

Gái lành hãm hại giết oan

Người dân bỏ đất lang thang chạy dài

*

Lạc Long Quân trổ tài oanh liệt

Chồn chín đuôi đánh diệt tinh hồ

Nước sông Cái lấp hang mồ

“Đầm Xác Cáo” chính Tây Hồ ngày nay

*

Đất Phong Châu dạn dày thân Chúa

Dạy người dân trồng lúa, thổi cơm

Nhà sàn cất ở sớm hôm

Học điều lễ nghĩa cha con, vợ chồng

*

Sau Đế Lai từ đông Bắc tới

Công Chúa yêu tên gọi Âu Cơ

Tuyệt trần nhan sắc ươm thơ

Lạc Long Quân gặp ngẩn ngơ lòng vàng

*

Âu Cơ cũng bàng hoàng lưu luyến

Bậc hùng anh uy tướng bất phàm

Tơ hồng phận đẹp duyên cam

Theo về cung điện kết làm phu thê

*

Nồng hương lửa trọn bề ân ái

Tình đơm bông kết trái rỡ ràng

Âu Cơ sinh bọc nhung vàng

Nở ra trăm trứng huy hoàng trăm con

*

Lớn như thổi, lại toàn nam tử

Giống Tiên Rồng lịch sử phát nguyên

Tổ tiên “Bách Việt” lưu truyền

Long Quân con cháu cội nguồn từ đây

*

Đất Phong Châu trao tay trưởng tử

Hiệu Hùng Vương nước chữ “Văn Lang”

Rồng, Tiên chia biệt đôi đàng

Năm mươi xuống biển, lên ngàn năm mươi

*

Quốc Tổ Hùng là người dựng nước

Mở lòng từ từng bước an dân

Lạc hầu, lạc tướng, võ, văn

Đặt ra luật lệ quân thần nghiêm trang

*

Người Bách Việt sống tràn hạnh phước

Mười tám đời nối bước: Hùng Vương

Văn Lang dân tộc quật cường

Học tiền nhân quyết chống phường ngoại xâm  

*

Việt Nam Bốn Nghìn Năm Văn Hiến

Trải qua nhiều chinh chiến bể dâu

Dẹp Phiên, đánh Pháp, đuổi Tàu

Hùng Vương hậu duệ dám đâu lơ là

*

Nguồn sử Việt nước nhà oanh liệt

Giống Rồng Tiên hào kiệt khắp nơi

Tháng Ba Âm lịch Mồng Mười

Hùng Vương Quốc Tổ người người nhớ ơn….

Phương Hoa – Mồng Mười tháng Ba – Ngày Giỗ Quốc Tổ – Tân Sửu 2021