VĂN THƠ LẠC VIỆT – BUỔI RA MẮT SÁCH  “Đường Lên Núi Thánh” Của Nhà Văn Phạm Quang Trình.

==

 “Đường Lên Núi Thánh” Của Nhà Văn Phạm Quang Trình

Phương Hoa

San Jose 25/07/2026.  Giữa cái nắng oi ả và nồng gắt của ngày giữa hè, không gian tại Sullivan Center trong khuôn viên Nhà thờ Saint Julie Billiart dường như lắng đọng và dịu mát hơn, bởi sự hội tụ của tâm giao, tri thức, và tình tri âm.  Buổi ra mắt tác phẩm “Đường Lên Núi Thánh” của nhà văn tiền bối Phạm Quang Trình đã diễn ra trong một không khí vô cùng trang trọng, đầm ấm, và đong đầy tình nghĩa văn chương.

Vì con đường di chuyển từ vùng Bay Area gặp nhiều đoạn kẹt xe nghẽn lối, sửa đường, khiến nhóm Văn Thơ Lạc Việt chúng tôi đến nơi có chút trễ tràng, khi vừa xong các nghi thức chào cờ Việt Mỹ.  Nhưng bước chân vào hội trường, cái oi nồng bên ngoài dường như nhường chỗ hoàn toàn cho sự chan hòa và trân quý. Hội trường đông nghẹt quan khách.  Nhìn quanh tôi nhận ra nhiều khuôn mặt trí thức, học giả, đồng đạo, cùng đông đảo văn nghệ sĩ và bạn hữu xa gần của tiền bối tác giả, có lẽ đã hiện diện nơi đây từ sớm. Bất chấp khoảng cách và cái nắng hạ, sự đông đủ ấy chính là minh chứng rõ nét nhất cho tấm tình trân quý mà mọi người dành cho một cây bút kỳ cựu, từng đảm nhiệm vị trí Chủ tịch Văn Bút VNHN (2003–2007) và là tác giả của hàng chục tác phẩm lịch sử, tư tưởng giá trị.

Chương trình được điều hành và diễn tiến mạch lạc, dưới sự phụ trách của những nhân vật tiếng tăm, và giàu tâm huyết trong sinh hoạt văn hóa, tôn giáo tại Thung Lũng Hoa Vàng.  Nghi thức khai mạc do MC Đào Trung Chinh đảm trách, khi chúng tôi đến thì vừa kịp nghe GS Nguyễn Trung Hòa, Trưởng Ban Tổ Chức, Hội Trưởng Hội Ái Hữu Giáo Phận Thái Bình, lên phát biểu chào mừng bằng những lời chân thành, và thật sâu sắc. Tiếp đến, phần giới thiệu tác phẩm qua góc nhìn mẫn tiệp của nhà báo Nguyễn Văn Bình và lời phát biểu tâm tình của ông Nguyễn Phi Hùng (Trưởng Curia Nữ Vương Trời Đất) đã giúp quan khách thấu hiểu hơn về chặng đường hành trình đức tin, tinh thần “Học Đạo – Sùng Đạo – Hành Đạo” cùng thông điệp “Tập Tha Thứ – Học Yêu Thương” mà tác giả Phạm Quang Trình gửi gắm ở cái tuổi đã vượt khỏi “tri thiên mệnh”.

Một trong những khoảnh khắc xúc động nhất của buổi lễ chính là lúc tác giả tiền bối Phạm Quang Trình trải lòng về đứa con tinh thần của mình. Trong sự im lặng ngưỡng mộ, khán giả toàn hội trường chăm chú theo dõi từng lời tâm sự của tác giả. Những điều ông nói ra như chạm vào chiều sâu tâm thức của người nghe. Đó là lời giới thiệu cho cuốn sách, lời tạ ơn cuộc đời, tạ ơn Đức Tin Chúa đã ban cho người, và cũng là lời tri ân những ân tình mà gia đình, thân hữu, bạn bè đã đồng hành cùng ông qua suốt bao thăng trầm lịch sử.

Đặc biệt cảm động là, dù tác phẩm “Đường Lên Núi Thánh” được trân trọng trao tặng hoàn toàn miễn phí như một món quà tinh thần trao gửi cộng đồng, nhưng với lòng trân quý tri thức và tấm chân tình dành cho tác giả, tôi chứng kiến hầu hết quý khách tham dự đều tự nguyện yểm trợ, đóng góp những phần ủng hộ đầy ấm áp. Điều này là khuyến khích rất lớn, và cho thấy vị tác giả lão thành được sự yêu mến của hầu hết quan khách hôm nay.

Thành công và sự lan tỏa của buổi ra mắt sách còn có sự đóng góp không nhỏ của phần văn nghệ phụ diễn sâu lắng với những giai điệu Thánh Ca và Dân Ca tha thiết mượt mà qua sự trình bày của MC Khánh Thy, Tracy Trần, cùng các nghệ sĩ.  Khán giả thích thú lắng nghe, và rồi những tràng pháo tay vang dậy hội trường làm cho buổi lễ càng thêm hào hứng.

Trong khi thưởng thức phần văn nghệ, khán giả cũng đồng thời được Ban Tổ Chức mời thưởng thức các món ăn nhẹ thật… ấm bụng, và nhiều loại nước giải khác rất …mát lòng trong buổi trưa nắng gắt.

Đến tham dự và chia vui cùng nhà văn Phạm Quang Trình hôm nay, đại diện Thi Văn Đàn Văn Thơ Lạc Việt có sự hiện diện của Thầy Thái Phạm, Phương Hoa (người viết bài này), chị Mỹ Thanh (hiền nội của Cố Chủ tịch VTLV Chinh Nguyên), Minh Thúy, Tracy, nhạc sĩ Thiên Phương, chị Kim Hà… cùng những thi văn hữu khác có mặt trong biển người đông đúc, mà vì không gian quá chật nên chúng tôi chưa kịp đến tay bắt mặt mừng hết được.

Buổi ra mắt sách “Đường Lên Núi Thánh” của tác giả tiền bối Phạm Quang Trình chấm dứt trong niềm hân hoan và đầy lưu quyến, mọi người đứng dậy nhưng chưa nỡ rời đi.  Nhóm Văn Thơ Lạc Việt chúng tôi còn chạy theo…níu áo tiền bối cho đến khi ông ký hết những quyển sách của mọi người thì mới chịu ra xe đi về.  Cuốn sách “Đường Lên Núi Thánh” được trao tặng tận tay mỗi người hôm nay chứa đựng chiều sâu tri thức, lòng đạo hạnh, và những nét đẹp văn hóa, sự ứng xử đầy trân trọng giữa con người và đặc biệt là niềm tin Chúa, Đấng Toàn Năng của nhân loại. 

Tất cả được tác giả gửi trao đến những tâm hồn yêu văn hóa và văn học nghệ thuật ông cha nơi xứ người.

“Đường Lên Núi Thánh” Rạng Ngời

(Kính tặng nhà văn tiền bối Phạm Quang Trình)

San Jose rạng rỡ nắng hè

Trí thức hội tụ, bạn bè về đông

“Đường Lên Núi Thánh” mênh mông

Đức Tin sáng rọi, tấm lòng tri ân.

.

Bao năm mài miệt gieo vần

Chữ tâm vẹn giữ, tình gần gửi xa

Dù cho dời đổi phong ba

Tuổi cao tâm sáng, trải qua gập ghềnh.

.

Sẻ chia ghi chép tâm tình

Học Yêu – Tha Thứ, vinh danh Chúa Trời

Sách trao gửi tặng muôn người

Thâu về ấm áp nụ cười tri âm.

.

Chúc người thọ vượt trăm năm

Nguồn văn dào dạt, thân tâm an bình

Sống trong ơn Chúa quang vinh

Nghĩa tình văn hữu, tựa tình núi cao…

Xin trân trọng giới thiệu sách “Đường Lên Núi Thánh” đến với độc giả khắp nơi.

Liên lạc tác giả:  Phạm Quang Trình (xuannien@yahoo.com)

Phương Hoa – Thung Lũng Hoa Vàng – JULY 25, 2026

==

==

==

==

==

==




Minh Thúy: HAPPY 4TH OF JULY – Phương Hoa: LỄ ĐỘC LẬP – ALAMEDA – Hòn Đảo Nhỏ Mang Trái Tim Nước Mỹ.

==

HAPPY 4TH OF JULY

.

Lễ Độc Lập Hoa Kỳ

Diễn hành oai hùng đi

Trống kèn hòa nhịp điệu

Lá cờ vẫy uy nghi

.

Kỷ niệm ngày khai sinh

Hai trăm rưỡi năm nhìn

Thành lập trang lịch sử

Chặng đường dài hiển vinh

.

1776 tranh

Tuyên ngôn Độc Lập giành

Ra đời Hợp Chủng Quốc

Biểu tượng Tự Do thành

.

Từng giai đoạn khó khăn

13 thuộc địa hằng

Đấu tranh nền dân chủ

Gian khổ phải hiểu rằng

.

Cộng đồng người Việt Nam

Tri ân ý nghĩa hàm

Mỹ mở vòng tay đón

Khởi công bắt tay làm

.

Dự lễ mừng lắm thay

Cờ Mỹ, cờ vàng bay

Cùng đoàn kết dân tộc

4 tháng 7 vui ngày

.

Nơi nơi tiệc rộn ràng

Khui rượu hát hòa vang

Mừng Cờ Hoa vững chải

Thế hệ sau xếp hàng

.

Đêm nghe pháo đì đùng

Trên trời tỏa sáng khung

Xanh đỏ vàng rực rỡ

Niềm cảm xúc hoà chung

.

Minh Thúy Thành Nội

Tháng 7/4/2026

==

Lễ Độc lập _ Mừng Nước Mỹ 250 Năm

Năm nay nước Mỹ mừng 250 năm ngày Độc Lập, và cũng vừa mở hội World Cup 2026
ngay trên đất Mỹ.

Từ ngày 11 tháng 6 tới 19 tháng 7, cờ Mỹ treo khắp nơi, người ta hát quốc ca trước mỗi
trận. Gia đình nhà chồng tôi cũng rộn ràng hai thế hệ. Cô chú em ông xã, người mua vé xem tận
bên Seattle, người mua vé về Santa Clara. Các cháu cũng vậy. Vợ chồng tôi thuộc thế hệ lão niên,
chỉ có ông xã tôi ngày đêm dán mắt vào tivi theo dõi từng trận. Kể cũng tội cho ông, “rượu ngon
không có bạn hiền cùng uống”. Vì tôi chẳng biết gì về bóng đá, chỉ xem khi đội Mỹ ra sân, nghe
dân reo hò. Thấy lá Cờ Sao Sọc bay giữa sân Levi’s ở Santa Clara, sân Seattle, sân Los Angeles,
tự nhiên thấy vui, thấy ấm lòng. Đất nước đã cưu mang mình, nay đứng ra đón cả thế giới.

Qua lời kể của ông xã tôi: Đội Mỹ năm nay đá khá lắm. Mở màn gặp Paraguay ở Los
Angeles, thắng 4-1. Tội nghiệp đội bạn, tự đá vào lưới nhà một trái, còn lại thì cậu Folarin Balogun
ghi hai bàn, cuối trận cậu Gio Reyna sút thêm một trái cho đủ 4-1. Thắng trận đầu ngay trên sân
nhà, cả nước reo. Rồi gặp Úc ở Seattle, Mỹ lại thắng 2-0, giữ sạch lưới. Tới trận gặp Thổ Nhĩ Kỳ
ở Los Angeles thì Mỹ thua 3-2, nhưng đá cũng hay. Vô vòng 32 đội, Mỹ gặp Bosnia and
Herzegovina ngay sân Santa Clara gần nhà. Con cháu chở cha mẹ đi xem, đường kẹt xe, người
đông nghẹt. Mỹ thắng 2-0, Balogun mở tỉ số, rồi cậu Malik Tillman đá phạt đẹp lắm ấn định chiến
thắng. Nghe nói đây là lần đầu sau 24 năm Mỹ mới thắng được một trận loại trực tiếp ở World
Cup, từ hồi thắng Mexico năm 2002. Thắng xong Mỹ vào gặp Bỉ ở vòng 16 đội. Ngồi nhà coi TV,
thấy cầu thủ Mỹ đủ màu da, gốc gác tứ xứ, mà mặc chung một áo, hát chung một bài quốc ca.
Ngẫm cũng như mình hồi xưa, chân ướt chân ráo tới xứ này từ sau 1975.

Năm nay nước Mỹ mừng 250 năm ngày Độc Lập. Thời gian chỉ vừa trải qua ba hoặc
bốn thế hệ để người Mỹ lập nên một quốc giaa hùng mạnh nhất hành tinh.
Tôi còn nhớ một phần lịch sử được học hồi mới qua. Năm 1776, mười ba thuộc địa đồng
lòng đứng lên nói với nước Anh rằng: “Chúng tôi muốn tự do”. Rồi trải qua chiến tranh giành độc
lập, , rồi viết lên bản Tuyên Ngôn Độc lLập…rồi gian khổ trong nội chiến để bỏ đi chuyện buôn
người, chống phân biệt chủng tộc… rồi thịnh vượng. Tham gia vào hai trận Thế chiến để cứu cả
thế giới

Từng bước một, nước Mỹ đi lên từ tay trắng, từ những người di dân tứ xứ góp lại. Thành
ra hôm nay mới có một nước Mỹ bao dung, đón nhận kẻ tỵ nạn như chúng tôi. Là kẻ tỵ nạn, chân
ướt chân ráo tới xứ này từ những ngày sau 1975. Tay xách vài túi quần áo, tiếng Anh ú ớ, trong
tay không có mấy đồng. Vậy mà nước Mỹ mở vòng tay đón…

Nhìn ra khoảng sân sau, bụi hoa giấy đỏ thắm tươi dưới nắng hồng rực rỡ, cây phượng
vàng che mát khoảng sân, cành lá xanh mượt, những chùm phượng xum xuê nở rộ, ẻo lả đong đưa
trước làn gió nhẹ. Mùa hè truyền cảm giác mạnh mẽ, đầy sức sống. Mặc ông chồng đang xem bóng
đá, tôi ngắm khu vườn, thả dòng tư tưởng đi qua vùng ký ức.

Ngày đầu gia đình nhà chồng tôi qua trước, gồm 11 người con sống cùng cha mẹ trong
ngôi nhà 4 phòng ngủ, 2 phòng tắm. Chỉ có anh chị Cả ở riêng vì qua năm 75. Vợ chồng tôi và gia
đình chú em, 4 người, ở garage sửa lại thành 2 phòng. Cả gia đình chỉ có hai chiếc xe cũ mua lại
để dùng, số còn lại đi xe bus. Thời gian cứ thế trôi qua, cho đến bây giờ con cháu đỗ đạt thành
công. Tính đến nay đã có gần 20 căn nhà, có người hai cái, người ba cái. Xe gần 40 chiếc kể cả
con cháu dâu rể.

Xứ Mỹ đã cho chúng tôi cái nhà để ở, cho con cháu trường để học, cho mình công việc để
làm lại từ đầu. Từ một người mất hết, mình thành công dân, con cái nên người.

Nhớ mấy năm trước, chân còn khỏe, tôi cũng đi trong đoàn diễn hành ở thành phố Fremont.
Lúc đó tôi và ông xã là bạn một hội viên của ABC Club, một tổ chức có tính cách giáo dục, hướng
dẫn tuổi trẻ tập dạn dĩ, phải phát biểu ý kiến trước đám đông, tập nói ngắn gọn dễ hiểu để sau này
có thể trở thành người lãnh đạo, hay trong mọi lãnh vực khác. Chương trình này đã sinh hoạt gần
trăm năm trên nước Mỹ, tên là ABC Toastmasters. Gần 15 năm trở lại đây đã mở rộng trên thế
giới. ABC Toastmasters thường họp vào mỗi thứ bảy lúc 10 giờ sáng tại Unitek College, nằm trên
đường Auto Mall Parkway. Trong buổi họp, bất cứ ai cũng có thể lên thực tập, nói một đề tài nào
đó. Các diễn giả lắng nghe và nhận xét phong cách diễn đạt, rồi đúc kết những khiếm khuyết như
nói dài dòng, thế đứng chưa tự tin, giọng nói còn run. ABC Toastmasters đã tham gia diễn hành
vài năm qua và được xếp hạng nhì năm ngoái. Lúc đó chúng tôi mặc quần jean xanh, áo đỏ và đội
mũ trắng, cầm cờ nhỏ, đi giữa phố người ta vỗ tay vui lắm. Nay già rồi, chân chậm, bạn bè cùng
nhóm cũng có người đau yếu, có người bận việc gia đình, nên hết tập họp được nữa. Nghĩ cũng
buồn. Nhưng thôi, mỗi thời mỗi khác.

Vừa qua tôi nhận được email của ông hội trưởng Văn Thơ Lạc Việt, ông Lê Văn Hải, cũng
như tin nhắn của các em, bạn bè, về lời mời đúng ngày Lễ Độc Lập 4 tháng 7 năm 2026: Mời cộng
đồng tỵ nạn Việt Nam đến tham dự Lễ Thượng Kỳ đầu tháng và chương trình “Mừng 250 Năm
Quốc Khánh Hoa Kỳ”, được tổ chức tại Vườn Truyền Thống Việt, 1499 Roberts Avenue, San Jose,
CA 95122. Trước là lễ chào cờ, sau là chương trình văn nghệ, sinh hoạt cộng đồng, do Ủy Ban
Thúc Đẩy Xây Dựng Tượng Đài Chiến Sĩ Việt – Mỹ San Jose góp phần tổ chức. Lời mời chân tình
của ông Lê Văn Hải thật tha thiết:

“Năm 2026, Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ long trọng kỷ niệm 250 năm ngày khai sinh quốc
gia, 1776–2026, một cột mốc lịch sử vô cùng đặc biệt, hiếm có đối với bất cứ ai đang sinh sống
trên đất nước tự do này. Đây không chỉ là dịp để nhìn lại chặng đường hai thế kỷ rưỡi của một
quốc gia được xây dựng trên nền tảng Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền, mà còn là dịp để tri ân
những thế hệ đã góp phần tạo dựng nên một nước Mỹ hùng mạnh, thịnh vượng và là quê hương
thứ hai của hàng triệu người nhập cư, trong đó có cộng đồng người Việt tỵ nạn. Ngày 4 tháng 7,
Independence Day, bắt nguồn từ việc Tuyên ngôn Độc lập được chính thức thông qua ngày
4/7/1776, đánh dấu sự ra đời của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Từ đó đến nay, ngày lễ này luôn là
biểu tượng của khát vọng tự do và tinh thần đoàn kết dân tộc. Đối với cộng đồng người Việt San
Jose tỵ nạn cộng sản, Quốc Khánh Hoa Kỳ còn mang một ý nghĩa sâu sắc hơn: đó là ngày tri ânđất nước đã rộng mở vòng tay đón nhận chúng ta, cho chúng ta cơ hội làm lại cuộc đời trong tự
do, an toàn và nhân phẩm. Nên trân trọng kính mời Quý Đồng Hương tham dự buổi sinh hoạt ý
nghĩa nhất. Trong đời người, rất ít ai có cơ hội được chứng kiến lễ kỷ niệm 250 năm lập quốc của
Hoa Kỳ. Đây là một dấu mốc lịch sử đặc biệt, đáng nhớ và đầy ý nghĩa đối với mọi thế hệ. Kính
mời Quý Đồng Hương cùng gia đình dành chút thời gian đến tham dự, cùng nhau kéo lá đại kỳ
Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa tung bay trong gió, cùng cất cao tiếng hát, gặp gỡ thân hữu, chia
sẻ niềm vui và bày tỏ lòng tri ân đối với đất nước đã cưu mang cộng đồng người Việt suốt hơn nửa
thế kỷ qua. Sự hiện diện của Quý Vị sẽ góp phần làm cho ngày Mừng Lễ 250 Năm Quốc Khánh
Hoa Kỳ thêm trang trọng, đông vui và đầy ý nghĩa
.”

Ngày đó chúng tôi cũng thật bận rộn, nhưng qua lời nhắc nhở của ông Lê Văn Hải về “cái
ơn” to lớn của nước Mỹ, hai thân già bệnh hoạn này cũng sẽ ráng tới tham dự, tuy nhiên mất phần
xem diễn hành nơi vùng địa phương. Sau trưa sẽ lên nhà cháu gái ở Palo Alto, sum họp đại gia
đình ăn mừng Lễ Độc Lập.

Tuổi già sức yếu, chồng tôi đang ngồi hò hét một mình theo các cầu thủ, dù âm thanh không
còn mạnh mẽ như những năm trước. Có lần trong giấc ngủ ông đã nằm mơ và hét lên “sút, sút”,
rồi nhào đầu húc vào tường mạnh, ngày sau bầm sưng tím cả mắt và vùng thịt chung quanh. Còn
tôi thì đang ngắm vùng trời xanh, áng mây trắng nhẹ nhàng trôi. Những bông hoa làm dịu mắt, tôi
mơ màng ôn lại khoảng đời từ ngày bước chân lên đất Mỹ, mỉm cười thỏa mãn và tìm niềm vui gõ
chữ ghi lại cảm xúc.

Bây giờ cũng có những niềm vui khác. Và điều cố định là sự sum họp ăn mừng Lễ Độc
Lập của đại gia đình chồng, thay phiên nhau mỗi năm, lúc tổ chức nhà này, khi nhà kia. Con cháu
bên chồng đông lắm, đều ăn học thành tài, đi làm xa. Vậy mà tới lễ là các cháu thu xếp về hết. Cả
nhà sum họp, làm tiệc lớn ngoài sân sau. Người nướng thịt, người làm gỏi, con nít chạy chơi. Tối
đến cả nhà kéo nhau ra coi pháo bông. Đứa nào cũng mặc áo, đội mũ màu xanh, đỏ, trắng, màu cờ
Mỹ. Nhìn một nhà ba thế hệ, tóc bạc có, tóc xanh có, nói tiếng Anh tiếng Việt lộn xộn, lòng thương
lắm. Nhìn vậy là cảm nhận niềm hạnh phúc, nước Mỹ đã cho mình phước báu sum vầy. Ơn này
lớn quá. Nhớ lại những ngày còn ở quê hương, ăn bo bo, mặc áo cũ, rồi nhìn lại cuộc sống bây
giờ, nhìn con cháu nên người, tự nhiên nỗi cảm xúc dâng trào. Chúng tôi mang ơn đất nước này
đã cưu mang. Mang ơn lá cờ có năm mươi ngôi sao đã che cho đại gia đình hơn 50 người suốt mấy
chục năm qua.

Mừng nước Mỹ 250 tuổi, mình không có gì lớn lao để đền đáp. Chỉ có tấm lòng biết ơn.
Biết ơn vì được sống tự do, được thờ cúng tổ tiên, được nói tiếng mẹ đẻ trong nhà mình. Biết ơn
vì ngày lễ, con cháu còn biết mặc áo dài, còn biết cúi đầu trước bàn thờ. Chúng tôi là người Việt,
nhưng cũng là người Mỹ. Hai quê hương trong một trái tim. Ngày Độc Lập, người ta đốt pháo
bông ăn mừng. Đêm khuya tôi cũng thắp nén nhang. Vừa tạ ơn nước Mỹ đã đi 250 năm để có ngày
hôm nay cưu mang chúng tôi, vừa xin ông bà phù hộ cho con cháu đừng quên cội nguồn.

250 năm, nước Mỹ vẫn trẻ trung, đầy sức sống của thời đại mới.Chúng tôi, kẻ tỵ nạn năm
xưa, nay đã lên lão. Chỉ mong trước khi nhắm mắt, con cháu mình hiểu một điều: Tự do không phải tự nhiên mà có. Phải có người ngã xuống từ năm 1776, có người cưu mang mình sau năm
1975, có người biết nhớ ơn mà giữ gìn.

Cám ơn nước Mỹ đã cho chúng tôi một đời thứ hai .

Minh ThúyThành Nội
Lễ Độc Lập Hoa Kỳ/2026

==

==

==

==

Sáng ngày 4 tháng 7.

Alameda nơi tôi sống không phải là thành phố lớn. Chỉ là một hòn đảo nhỏ nằm an bình giữa vịnh San Francisco.  Thành phố được thành lập năm 1853, hiện có khoảng tám mươi ngàn cư dân. Thế nhưng, nơi đây lại sở hữu một niềm hảnh diện khôn cùng, vì thành phố mỗi năm đều có cuộc diễn hành ngày Quốc Khánh, Lễ Độc Lập 4th July, dài nhất nước Mỹ, kéo dài hơn 3,3 dặm (5,3 km), quy tụ hàng trăm đoàn diễn hành và mỗi năm thu hút khoảng 60.000 người tới từ khắp nơi.

Năm nay lại càng đặc biệt hơn, vì là kỷ niệm 250 năm ngày Độc Lập của đất nước Hoa Kỳ. Từ rất sớm, con đường Park Street, từ đoạn Lincoln Avenue vượt qua Central Avenue về hướng downtown đã rợp sắc Cờ Hoa. Ghế xếp phủ kín hai bên lề đường. Người già, trẻ nhỏ, cựu chiến binh, gia đình nhiều thế hệ… tất cả cùng những lá cờ Mỹ phất phơ truớc gió chờ đợi đoàn diễn hành với một bầu không khí vừa náo nức vừa thiêng liêng.

Điều bất ngờ là, trong khi Hoa Kỳ kỷ niệm 250 năm Tuyên Ngôn Độc Lập (1776–2026), thì Sở Cứu Hỏa Alameda cũng vừa tròn 150 năm phục vụ cộng đồng.  Thật là kỳ diệu và thú vị vô cùng, hai điểm lịch sử hòa làm một cùng tiếng nhạc quân hành, cùng rừng Cờ Hoa sắc xanh trắng đỏ, và cùng những tràng pháo tay không dứt của người dân đứng ngồi đông nghẹt hai bên vệ đường. 

Xe hoa nối tiếp xe hoa.  Những chiếc bánh kem khổng lồ chạy xoay vòng vòng ngộ nghĩnh giữa lòng phố thị; những chú ngựa oai phong gõ vó lộp cộp đều đều trên mặt đường; những chiếc xe cổ bóng loáng, những ban nhạc, những đoàn thiếu nhi, các hội đoàn thiện nguyện, cựu chiến binh, cảnh sát, cứu hỏa… tất cả hòa nhập dệt thành một bức tranh đường phố, di chuyển ngoằn ngoèo rất sinh động, và đầy màu sắc như để minh chứng về sự hùng mạnh của nước Mỹ ngày hôm nay.

Cầm lấy cây cờ Mỹ từ tay một người lính cứu hỏa trên chiếc xe hoa chồm ra đưa khi thấy tôi chạy lại gần để chụp hình, tôi hào hứng đưa lên vẫy lia lịa.  Nhìn xung quanh tôi, người dân cũng cùng nhau vẫy cờ Hoa Kỳ, cùng reo hò vang dội mỗi khi một đoàn diễn hành, một chiếc xe hoa chạy ngang qua.  Niềm vui và hạnh phúc hiện rõ trên khuôn mặt mỗi người.  Tại thành phố của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ này, không ai hỏi bạn đến từ đâu, cũng không ai phân biệt ngôn ngữ, chỉ có những bàn tay đủ màu da, trắng, đen, vàng, đỏ… cùng vẫy lá Cờ Hoa.  Và đó mới chính là nhân tố làm nên vẻ đẹp của nước Mỹ.

==

==

Ngày Độc Lập đã được viết trong bản Tuyên Ngôn năm 1776.  Nhưng ngày Lễ Độc Lập hiện giờ đang bừng sáng vì sự ngưỡng mộ của những đứa trẻ, trong ánh mắt của toàn dân, cùng tiếng vó ngựa vang lên giữa phố, và quan trọng hơn hết, là trong quyền tự do được đứng bên nhau để mừng ngày sinh nhật của Tổ Quốc có 50 Tiểu Bang này.

Giữa biển người hôm ấy, tôi chợt hiểu vì sao cuộc diễn hành của Alameda đã tồn tại non thế kỷ.  Bởi vì nó là một lễ hội đầy ắp những nụ cười, những tiếng vỗ tay, và niềm hảnh diện của những con người bình dị từ bài học lịch sử sống động nhất.

Đã nhiều thập niên sống trên đất Mỹ, tôi đã dự Lễ Độc Lập nhiều vô số kể. Nhưng ngày hôm nay, giữa bầu trời xanh thẳm của Alameda, nhìn hàng vạn người dân đủ mọi sắc tộc cùng vẫy cờ Hoa Kỳ, tôi chợt cảm nhận rất rõ một điều.  Sức mạnh của nước Mỹ nằm ở kinh tế, quân sự, nhưng quan trọng nhất là khả năng gắn kết những con người khác nhau bằng một lý tưởng chung. Đó là hai chữ Tự Do.

*

Và rồi đêm pháo hoa. Ban ngày là ngày hội của Cờ Hoa, của tiếng nhạc quân hành, và những đoàn diễn hành bất tận, rồi khi màn đêm buông xuống, Alameda lại khoác lên mình một vẻ đẹp hùng vĩ lung linh khác.

Sau 7 giờ tối, từ trong phố ra đến bến cảng Alameda, hàng ngàn người lặng lẽ đổ về phía biển gần mép nước. Người mang theo ghế xếp, người trải tấm chăn trên bờ cát, trẻ em ôm từng dây pháo bông chạy tung tăng, rồi dừng lại đốt lên cháy sáng rực cả một góc trời.  Những người già ngồi sát bên nhau, khoác áo len mắt hướng về phía mặt vịnh mênh mông, người trẻ thì ăn uống vui cười, mở nhạc om sòm vừa ôm nhau lắc lư thật nhộn nhịp.  Nhưng tất cả đều hướng mắt về phía cầu tàu bên biển Berkeley, chờ pháo bông nở rộ.

Xa xa là cây cầu Bay Bridge của San Fransisco sáng rực ánh đèn nối liền đôi bờ vịnh. Những chiếc phà lặng lẽ lướt xa xa, hình như trên đó mang theo nhiều du khách đang chờ chứng kiến giây phút lịch sử của nước Mỹ tròn 250 năm tuổi.

Rồi…Một tiếng nổ đầu tiên xé tan màn đêm, phụt lên trời sáng lóe. Tiếp theo là tiếng reo hò vang dậy.  Rồi từng chùm pháo hoa đỏ, trắng, xanh, ba màu của lá Cờ Hoa, đồng loạt bùng nở trên bầu trời, phản chiếu xuống mặt nước lung linh như hàng ngàn viên kim cương đang nhảy múa.  Cả vịnh biển như bừng tỉnh. Tiếng pháo dội vào không gian. Tiếng sóng vỗ dập dềnh vào bến làm vỡ vụn những ánh sao trên bầu trời vừa rơi xuống nước. Tiếng vỗ tay vang dội hòa cùng tiếng trẻ thơ reo cười rộn vang trên bến.

Lúc này mọi hoạt động ăn uống như dừng hẳn lại.  Mọi ánh mắt đều hướng sang phía Berkeley Marina, nơi những chùm pháo hoa liên tiếp bừng nở trên nền trời. Từ bên kia vịnh, từng đóa hoa lửa đủ màu phản chiếu xuống mặt nước lấp lánh, khiến cả không gian như chìm trong một biển ánh sáng. Tiếng reo hò, tiếng vỗ tay tiếp tục hòa cùng tiếng sóng vỗ bờ tạo nên một bản hợp xướng tuyệt đẹp của đêm Quốc Khánh. Dù pháo hoa được bắn từ phía Berkeley, nhưng niềm hân hoan thì lan tỏa khắp mặt biển, nối liền hai bờ bằng niềm vui chung dành cho nước Mỹ.

Tôi đứng giữa biển người đông nghẹt nơi bến cảng, lặng nhìn những đóa hoa lửa nở rồi tan trên nền trời đêm, lòng bâng khuâng suy nghĩ, thương cho những đất nước nào trên trái đất mà người dân chưa bao giờ có cơ hội hiểu hết ý nghĩa của hai chữ Tự Do.

Rời bờ biển Alameda khi trời đã về khuya, nghe như tiếng nhạc vẫn còn vang vọng đâu đây. Những chùm pháo hoa bên kia vịnh đã tắt, nhưng trong tôi vẫn còn rực sáng một niềm tin. Hai trăm năm mươi năm vốn chỉ là một dấu ấn của lịch sử. Điều còn lại mãi mãi là tinh thần của một dân tộc biết trân trọng tự do, biết gìn giữ độc lập, và biết truyền ngọn lửa ấy từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ Hoa Kỳ ra khắp năm châu.

Có lẽ vì vậy mà hàng năm trong ngày Lễ Độc Lập, người ta đến Alameda để xem cuộc diễn hành dài nhất nước, và để được sống lại một phần tâm hồn của nước Mỹ tự do.  Đã đi qua biết bao mùa Quốc khánh trên quê hương thứ hai này, nhưng mỗi lần lá cờ Hoa Kỳ tung bay trong nắng tháng Bảy, lòng tôi vẫn dâng lên một niềm xúc động vô biên.  Bất giác nghĩ rằng… Đêm đã qua, pháo hoa đã tắt, nhưng ánh sáng của ngày Độc Lập sẽ còn ở lại trong trái tim của hàng vạn con người đang có mặt nơi đây.

250 năm, một dân tộc, một lá cờ, và một nền Tự Do bất diệt.

Happy Birthday, America!

Phương Hoa – Lễ Độc Lập Hoa Kỳ

==



VTLV – TRANG ĐẶC BIỆT MỪNG LỄ ĐỘC LẬP HOA KỲ. Phương Hoa: 250 NĂM DỰNG NƯỚC HOA KỲ Và BẢN HÙNG CA HAI NỬA BÁN CẦU. THƠ CAO MỴ NHÂN – THƠ CẢM TÁC LÊ MỸ HOÀN – THƠ TRẦN VẤN LỆ.

==

==

Mai mới là Quốc Khánh, cả nước Mỹ nghỉ, mừng!  Hôm nay mới hừng Đông… người cắt cỏ đi làm sớm, mai nghỉ!

Mình dậy sớm thấy thế, lòng bỗng dưng nghẹn ngào(*).  Một chút gì nao nao:  nước mình không Quốc Khánh!

Bốn ngàn năm hiu quạnh!  Cờ Tàu treo mái Đình… thế mà cũng bốn “nghìn”.  Lịch Sử Việt lệch sử?

Đinh Bộ Lĩnh, “thằng nhỏ”, chính danh Đinh Tiên Hoàng, tính chỉ hơn ngàn năm sao bốn “nghìn” cho được? 

Mình “ăn cỗ đi trước còn lội nước đi sau!”. Chuyện thật như tào lao… hèn chi không ai học!

Người có học:  Trí Thức!  Trí Thức làm cái gì?  Hết bỏ đi theo Tây… tiếp bỏ đi theo Mỹ…

Ba Mươi Tháng Bốn hay nhỉ!  Trời chỉ có mưa sa!  Ông Trời phải khóc mà, dân ta thì bình thản! (**)

Đến hai chữ Kách Mạng”, xong nhiệm vụ là xong.  Năm mươi hai năm lung tung, trống thùng thùng cứ gióng…

Người cắt cỏ, lao động, sợ mai làm, làm phiền… nên sáng nay… còn đêm, đi làm điều lịch sự!

Ôi Nước Non Yêu Quý, cái tên nước Tàu ban, có gì mà vẻ vang… thua cả người cắt cỏ!

Jean Paul Sartre nói “Đồ Chó!  Bám Đít Lũ Lưu Manh!”.  Nói xong bèn giật mình… đi cứu người Vượt Biển! (***)

Mở Google nó hiện “Thằng Lưu Manh” là ai? Ai?  Ai?  Ai?  Ai? Ai? Nam Mô A Di Đà Phật!

*

Mùa này Huế lất phất cơn mưa phùn vào Thu.  Hãy niệm Phật Nam Mô để cho lòng mình nhẹ…

Cơn mưa dù lớn, bé, nó vẫn là cơn mưa… Cơn mưa phùn phất phơ… áo dài ơi!  Yêu Quý!

Trần Trung Tá

(*)   Câu này của Thế Viên “Tóc ai vàng một nửa, ta nhìn xa chợt nhớ trăng  mùa Thu năm nao soi bóng người bên cửa, lòng bỗng dưng nghẹn ngào.  Vì sao ta thương nhớ?  Bởi vì quá nhớ thương!”.

(**). Thơ Trần Dần:  “Tôi đi không thấy phố thấy nhà chỉ thấy mưa sa…”.

(***) Jean Paul Sartre, triết gia người Pháp, ca tụng chủ nghĩa Marxism, theo Đảng Cộng Sản Pháp, tuyên bố:  “Ai không theo Cộng Sản là Đồ Con Chó”.  Năm 1975, Sartre đọc tin tức người Việt Nam vượt biển chết nhiều quá, xem thêm hình ảnh thảm thương, chịu không nổi, bèn tuyên bố bỏ Đảng Cộng Sản Pháp, chắt mót tiền riêng, mua tàu đi cứu vớt… Sartre nói “Ai còn theo Cộng Sản là Đồ Con Chó!”.  Chớp cơ hội, Võ Văn Ái và Nhất Hạnh dựng ra tổ chức cứu trợ đặt tên Cứu Người Việt Nam Vượt Biển”, tiền vào như nước, có chi một ít, còn lại thì “dùng vào việc cá nhân”… Hãy bấm Google thì thấy… Hãy đọc tờ báo Quê Mẹ của Võ Văn Ái thì thấy...

==

QUÊ HƯƠNG THỨ HAI – phamphanlang

Kính dâng quê hương thứ hai của hàng triệu người Việt tị nạn, với tất cả lòng biết ơn, nhân dịp Kỷ niệm 250 năm Lập quốc Hoa Kỳ (1776–2026).

      Lịch sử của mỗi dân tộc đều có những ngày không bao giờ phai nhạt.

      Đối với Hoa Kỳ, ngày 4 tháng 7 năm 1776 đánh dấu sự ra đời của một quốc gia được xây dựng trên lý tưởng tự do, dân chủ và quyền mưu cầu hạnh phúc.

      Đối với hàng triệu người Việt ly hương, biến cố năm 1975 đã mở ra một hành trình đầy nước mắt, nhưng cũng đưa chúng tôi đến với một bến bờ của hy vọng. Trên mảnh đất Hoa Kỳ, chúng tôi tìm lại phẩm giá của con người, tìm thấy cơ hội để học tập, làm việc, cống hiến và nuôi dưỡng những thế hệ tương lai trong tự do.

      Với riêng tôi, lòng biết ơn ấy còn mang một ý nghĩa sâu xa hơn. Từ một người tị nạn, tôi đã có vinh dự được phục vụ đất nước này trong quân phục của Quân đội Hoa Kỳ, xem sự cống hiến của mình như một cách đáp đền phần nào ân tình mà quê hương thứ hai đã dành cho gia đình tôi.

     Bài thơ “Quê Hương Thứ Hai” được viết không chỉ để chúc mừng một cột mốc lịch sử, mà còn để lưu giữ một lời tri ân.

     Tri ân một dân tộc đã chọn tự do làm nền tảng lập quốc.

     Tri ân một đất nước đã mở rộng vòng tay với những con người mất quê hương.

     Và tri ân quê hương thứ hai đã cho hàng triệu người Việt tị nạn cơ hội được sống, được làm người, được phụng sự và được mưu cầu hạnh phúc.

     Xin kính chúc Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ mãi mãi hùng cường; ngọn đuốc tự do luôn tỏa sáng để soi đường cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

      Xin kính chúc quýThầy Cô, quý anh chị và các bạn Happy July 4th!

QUÊ HƯƠNG THỨ HAI

(Mừng 250 năm Lập quốc Hoa Kỳ)

Hai trăm năm mươi năm

Sử vàng còn rực sáng

Cờ sao bay kiêu hãnh

Rạng rỡ khắp trời xanh

.

Đất nước của niềm tin

Của tự do, dân chủ

Mỗi con người bình đẳng

Được mưu cầu ấm no

.

Bao đoàn người lưu vong

Vượt biển tìm hy vọng

Giữa trùng khơi bão nổi

Vẫn nguyện giữ niềm tin

.

Hoa Kỳ mở vòng tay

Đón bao người tị nạn

Cho cuộc đời đứng dậy

Sau những tháng đau thương

.

Từ đổ nát chiến tranh

Đến ngày vui đoàn tụ

Con thơ vào trường học

Cha mẹ dựng tương lai

.

Gia đình tôi hôm nay

Mang hồng ân sâu nặng

Nhờ quê hương thứ hai

Được sống đời tự do

.

Được nói điều mình tin

Được thờ phượng tín ngưỡng

Được làm người đúng nghĩa

Không sợ hãi cường quyền

.

Hăm hai năm quân ngũ

Xin góp chút sức mình

Đền phần nào ân nghĩa

Đất nước đã cưu mang

.

Dẫu tóc nay pha sương

Lòng tri ân còn mãi

Nguyện cầu cho nước Mỹ

Mãi hùng cường, vinh quang

.

Xin cho ngọn đuốc thiêng

Tự do luôn tỏa sáng

Xin cho nền dân chủ

Bền vững với thời gian

.

Để mai này cháu con

Vẫn ngẩng đầu kiêu hãnh

Tự hào mình được sống

Trên đất nước anh hùng

.

Mừng hai trăm năm mươi,

Một chặng đường rực rỡ

Tri ân quê hương mới

Khắc mãi giữa tim này

.

Việt Nam còn trong tim

Hoa Kỳ trong máu chảy

Hai quê hương một tấm lòng

Chung niềm tin nhân ái

.

phamphanlang

Một người Việt tỵ nạn biết ơn nước Mỹ

July 4th, 2026

==

Lễ Độc Lập 250 Năm Dựng Nước Hoa Kỳ

Và Bản Hùng Ca Hai Nửa Bán Cầu: George Washington Và Vua Quang Trung Cùng “Vượt Sông” Xoay Chuyển Vận Mệnh Quốc Gia!

250 Năm rực lửa Tự Do.Tháng Bảy về mang theo cái nóng cháy da của mùa hè nước Mỹ, nhưng có một ngọn lửa còn cháy bỏng hơn thế, đang bùng lên mạnh mẽ trong hàng triệu trái tim khắp mọi miền 50 Tiểu Bang.  Đó là ngọn lửa của Ngày Lễ Độc Lập 4 Tháng 7.  Và năm nay, ngọn lửa ấy mang một tầm vóc lịch sử vô tiền khoáng hậu,“Lễ  Kỷ Niệm 250 Năm Lập Quốc Hoa Kỳ!

Một phần tư thiên niên kỷ đã trôi qua kể từ khi tiếng Chuông Tự Do vang lên tại Philadelphia, lay chuyển toàn cầu và khai sinh ra một quốc gia của những điều kỳ diệu. Hai trăm năm mươi năm, một hành trình hiển hách được dệt bằng máu, nước mắt, ý chí sắt đá, và khát vọng tự do cháy bỏng của bao thế hệ. Hôm nay, bầu trời nước Mỹ sẽ được thắp sáng bởi hàng triệu đóa hoa lửa rực rỡ, được đốt lên bởi tinh thần quả cảm kiêu hùng của một biểu tượng tự do trường tồn, từ sau những cuộc hành trình đầy kiêu hãnh của cha ông.

Nhìn lại lịch sử của quốc gia 250 tuổi Hoa Kỳ từ những nền móng đầu tiên. Năm 1776.  Tất cả bắt đầu từ 13 thuộc địa sơ khai, nơi những con người quả cảm không chịu cúi đầu trước ách thống trị của Vương Quốc Anh. Ngày 4 tháng 7 năm 1776, Bản Tuyên Ngôn Độc Lập bất hủ vang lên, chính thức khai sinh ra Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ dựa trên nền tảng thiêng liêng. Đó là Quyền sống, Quyền tự do, và Quyền mưu cầu hạnh phúc.  Nhưng ở Thế kỷ XVIII đó, con thuyền nước Mỹ vừa nhổ neo ra khơi đã phải vượt qua những thác ghềnh khốc liệt. May mắn thay, những bậc tiền khai lập quốc của Hoa Kỳ chính là những “kiến trúc sư” tài năng tột bực của tự do.  Cuộc Nội chiến 1861 – 1865 tuy đau thương nhưng đã xóa bỏ xiềng xích nô lệ, hàn gắn vết thương chia rẽ và khẳng định một khối thống nhất quốc gia vững bền.  Đi cùng với đó là cuộc mở rộng bờ cõi về miền Tây hoang dã, định hình nên một lãnh thổ bao la từ bờ Đại Tây Dương sang bờ Thái Bình Dương.

Hoa Kỳ đã vươn mình thành siêu cường thế giới từ Thế kỷ XX.  Bước qua hai cuộc Thế chiến khốc liệt, Hoa Kỳ trở nên thành trì bảo vệ nền dân chủ toàn cầu và đã bứt phá ngoạn mục về kinh tế, khoa học, và công nghệ. Từ bước chân đầu tiên của con người trên Mặt Trăng đến cuộc cách mạng kỹ thuật số (Digital), Mỹ khẳng định vị thế siêu cường không thể lay chuyển.  Đằng sau thiên anh hùng ca uy dũng đó là tầm vóc của trí tuệ kiệt xuất.  Những “khai quốc công thần” của nước Mỹ đã dám đặt cược cả mạng sống vào một ý tưởng điên rồ lúc bấy giờ.  Đó là, tạo nên một đất nước của người dân, do người dân, và vì người dân.

George Washington, vị “Cha già dân tộc” là Tổng tư lệnh quân đội toàn Lục địa, người đã  lãnh đạo trong hoàn cảnh ngặt nghèo nhất để giành lấy độc lập.  Ông là biểu tượng của sự hy sinh và lòng chính trực, người đầu tiên từ bỏ quyền lực để đặt nền móng cho nền dân chủ bền vững.

Nhưng lịch sử không phải là một con đường trải đầy hoa hồng. Để hiểu vì sao ngọn đuốc tự do

lại có thể rực cháy suốt 250 năm, chúng ta phải nhìn vào khúc quanh sinh tử khốc liệt nhất của nước Mỹ. Đó là đêm Giáng sinh năm 1776.  Lúc bấy giờ, cuộc Cách Mạng Mỹ đang đứng bên bờ vực phá sản.  Đội quân Lục Địa của Tướng George Washington rách rưới, đói khát, thiếu hụt từ manh áo đến đôi giày. Giữa cái lạnh thấu xương của mùa đông Valley Forge, máu từ những bàn chân trần của người lính Mỹ đã nhuộm đỏ cả tuyết trắng. Ai cũng nghĩ rằng quốc gia non trẻ này sẽ nhanh chóng bị chôn vùi.  Nhưng lịch sử luôn dành chỗ cho những kẻ quả cảm nhất. Vào đêm định mệnh ngày 25 tháng 12 năm 1776, khi đối phương đang say sưa tiệc tùng Giáng Sinh, Washington đã đưa ra một quyết định táo bạo bậc nhất lịch sử quân sự: Vượt sông Delaware.

Trên một dòng sông ngập ngụa những tảng băng trôi, gió tuyết gầm rú quật thẳng vào mặt. Trên những chiếc thuyền gỗ chông chênh, đoàn quân của Washington lầm lũi tiến vào màn đêm vì khát vọng tự do cháy bỏng trong lồng ngực. Cuộc tập kích bất ngờ vào thị trấn Trenton ngay sau đó đã thành công vang dội, thổi bùng lên ngọn lửa hy vọng đã nguội lạnh, chứng minh cho cả thế giới thấy sức mạnh của một dân tộc chiến đấu vì tự do! 

Đọc lại chiến công hiển hách này của nước Mỹ, tâm tư tôi bỗng dưng rúng động bàng hoàng.  Chợt nhiên tôi nhớ ra, trong lịch sử nước nhà của quê hương tôi cũng từng có một chiến thắng đầy cuồng phong và sấm sét như thế.  Và quả thật, khi lật lại những trang sử vàng của dân tộc Việt, tôi đã tìm ra, cách mà nước Mỹ non trẻ nửa vòng Trái Đất làm, cũng có một dân tộc kiên cường đã từng viết nên một phép màu y hệt. Một sự trùng hợp đến thần kỳ.  Hành động vượt sông băng của George Washington năm 1776 chính là “tấm gương phản chiếu” của cuộc vượt sông Đáy thần tốc do Hoàng Đế Quang Trung Nguyễn Huệ lãnh đạo năm 1789 tại nước Việt!

Cả hai vị thiên tài quân sự đã gặp nhau ở cùng một tư tưởng lớn. Đó là, Tốc độ, Bất ngờ, và Chọn thời điểm kẻ thù sơ hở nhất!  Ý tưởng và hoàn cảnh giống hệt, đêm vượt sông Delaware của Washington là một bức tranh sơn dầu lấp lánh đầy băng giá trong đêm Giáng Sinh, và đêm vượt sông Đáy của vua Quang Trung là một bức họa cuồng phong rực lửa. Đêm 30 Tết Kỷ Dậu, khi quân xâm lược Mãn Thanh dưới sự chỉ huy của Tôn Sĩ Nghị còn đang mải mê ca hát, tiệc tùng ăn Tết cổ truyền và đinh ninh rằng quân ta ra Giêng mới dám đánh, thì trên dòng sông Đáy (đồn Gián Khẩu), hàng vạn chiến binh Tây Sơn đã lặng lẽ vượt sông.

Im lìm không tiếng động, trong đêm đen không một ánh lửa, quân Tây Sơn thần tốc vây chặt và bắt gọn toàn bộ toán quân do thám tiền tiêu của địch, khiến hệ thống phòng thủ của quân Thanh hoàn toàn bị “mù mịt thông tin” ngay từ phát súng đầu tiên. Sự phong tỏa tình báo tài tình này đã mở đường cho cuộc hành quân chớp nhoáng vô tiền khoáng hậu để làm nên trận đại thắng Ngọc Hồi – Đống Đa kinh thiên động địa.  Đến Mùng 5 Tết, cả thành Thăng Long rung chuyển trong khói lửa ngút trời, Tôn Sĩ Nghị khiếp sợ đến vỡ mật, không kịp đóng yên ngựa, vứt bỏ ấn tín mà tháo chạy qua sông Hồng.  Thây giặc Tàu tầng tầng lớp lớp làm nghẽn cả dòng nước.

Tìm được những thông tin này, tôi xúc động gần như nghẹt thở.  Phải kiếm thêm bằng chứng thuyết phục hơn để tôi còn có thể “khoe” với những người bạn Mỹ của tôi trong Hội Cựu Chiến Binh Không Quân Hoa Kỳ  “Tan Son Nhut Association (TSNA)” mà mấy chục năm nay chúng tôi vẫn thường chia sẻ cho nhau những thông tin, bài viết tiếng Anh, về quê hương Việt Nam. Trận Đống Đa oai hùng ấy tôi vốn đã nghe kể và đã được học từ thuở ấu thơ, cũng từng đọc qua nhiều sử sách.  Để tìm kiếm những nguồn tài liệu độc lập, những bằng chứng đanh thép nhất bằng tiếng Anh, tôi đã trải qua nhiều giờ tìm kiếm và “mò” vào hệ thống lưu trữ cổ thư trực tuyến HOLLIS (Harvard Online Library Information System) của Đại học Harvard danh tiếng.

Thư Viện Harvard thông tin dày đặc như rừng rậm.  Cái khoảnh khắc copy cụm từ chữ Hán theo “anh Gút” bày,  “欽定安南紀事” (Khâm Định An Nam Kỷ Sự – cũng nhờ anh Gút dịch, xin nói rõ kẻo những nhà Hán Học uyên thâm lại mắng cho rằng tôi sao dám múa rìu qua mắt thợ.) và thảy vào tìm kiếm, thì nó hiện lên nguyên bản ngập tràn những dòng chữ Hán tượng hình từ thế kỷ XVIII, tim tôi bỗng đập liên hồi như một kẻ vừa tìm ra kho báu bị chôn giấu.  Tôi lập tức dùng công cụ Google dịch trên iPhone rọi vào, hồi hộp xem từng ký tự vuông vức, cổ kính ấy được chuyển sang tiếng Việt.  Và rồi, một cảm giác nổi da gà, dựng chân lông, vừa ngạc nhiên tột độ, lẫn thích thú vô bờ, choáng ngợp lấy tâm trí tôi!  Tôi ngồi sững sờ, xúc động đến phát khóc cho sự khám phá này.  Hiện ra trước mắt tôi là những dòng sớ tấu ngày xưa rõ mồn một như những hàng chữ Hán tôi thường thấy trong phim Tàu.  Dịch ra tiếng Việt là những lời thú nhận nghe như run rẩy, nghe như kinh hoàng của chính Sử Quan triều đình nhà Thanh ghi chép lại.  Vì là Chiếu Chỉ triều đình phong kiến nên sách cho đọc theo lối từ phải sang trái và từ trên xuống dưới.  Những Bản Văn này ghi đầy đủ các Sắc Dụ của Hoàng Đế Càn Long ban xuống cho Tôn Sĩ Nghị, Phúc Khang An, cùng các tấu sớ của các tướng lĩnh báo cáo tình hình chiến sự kinh hoàng khi bị quân Tây Sơn quét sạch.

Lưới trời lồng lộng, sử giặc rành rành, những kẻ xâm lượt đã tình cờ để lại những bằng chứng nhục nhã cho thế giới đọc! Qua lăng kính dịch thuật từ những bản văn lưu giữ tại Harvard, sự thật ngày xưa đã hiện ra mồn một. Sử sách quân Thanh thừa nhận đã bị quân dân Việt đánh cho tan tác, chết sạch ở các đồn tiền tiêu ven sông Đáy, không một tên nào kịp chạy về báo tin, và đại quân Thanh ở Thăng Long vào thế bất lực hoàn toàn trước trận bão lửa của đoàn quân vua Quang Trung.

Ngồi trước màn hình máy tính, nhìn con dấu đỏ hoàng gia của Hoàng Đế Càn Long trên trang sách cổ của Harvard, thứ mà trước nay tôi chỉ thấy qua phim ảnh, lòng tôi dâng lên một niềm xúc động và tự hào dân tộc mãnh liệt. Thì ra, chân lý và niềm kiêu hãnh của người Việt chưa bao giờ phai nhạt, nó vẫn nằm trang trọng ở đó, giữa trung tâm tri thức của thế giới, chờ chúng ta mở ra xem! Quả là hồn thiêng sông núi nước Nam đã dành cho con cháu đời sau một bất ngờ quá lớn.

Năm tháng sẽ trôi qua, lớp bụi thời gian có thể làm mờ đi nhiều thứ, nhưng ký ức về những đêm vượt sông định mệnh của Tướng George Washington và Hoàng Đế Quang Trung sẽ mãi là những mốc son chói lọi trong lịch sử nhân loại.  Hai trăm năm mươi năm nước Mỹ kiêu hùng nhìn lại chặng đường lập quốc đầy huyền thoại, cũng là lúc chúng ta, những người con mang trong mình dòng máu Việt, nghiêng mình trân kính trước hào khí sấm sét của cha ông.

Cho nên, tự do không bao giờ là một món quà sẵn có. Dù ở bờ bên kia của đại dương hay trên mảnh đất hình chữ S thân thương, sự khát vọng về tự do và độc lập vẫn luôn luôn là một.

Khi tiếng pháo hoa rực rỡ thắp sáng bầu trời đêm Lễ Độc Lập 4 tháng 7 ở Hoa Kỳ năm nay, người Việt chúng ta hãy để những tâm hồn đồng điệu cùng hòa chung một nhịp đập. Hãy kiêu hãnh mang theo ngọn lửa rực cháy từ quá khứ để sưởi ấm cho hiện tại và soi đường cho tương lai.  Miễn là thế giới này còn những con người trân trọng giá trị của độc lập, thì bản hùng ca vượt sông của những thiên tài kiệt xuất ngày xưa ấy sẽ còn vang vọng mãi đến muôn đời sau…

      Phương Hoa

Nguồn tài liệu tham khảo:

*Trang web chính thức của Di tích Lịch sử Mount Vernon (George Washington’s Mount Vernon):⁠mountvernon.org⁠

*Viện Lưu Trữ Quốc Gia Hoa Kỳ (The U.S. National Archives): ⁠archives.gov⁠

*Sách “Việt Nam Sử Lược” – Tác giả Trần Trọng Kim (Bản in của Nhà xuất bản Tân Việt, Sài Gòn) Trong Chương XI (Nhà Tây Sơn), học giả Trần Trọng Kim mô tả rất kỹ trận đại phá quân Thanh, việc vua Quang Trung ước hẹn với quân sĩ ăn Tết trước, rồi đúng đêm giao thừa (30 Tết) hạ đồn Gián Khẩu (sông Đáy) khiến quân Thanh không kịp trở tay.

*Bộ sử liệu “Khâm Định An Nam Kỷ Sự” (欽定安南紀事), Quyển 1–30, bản in cổ thế kỷ XVIII, hiện đang được lưu trữ trang trọng tại Thư viện Yên Kinh Harvard (Harvard-Yenching Library) thuộc Đại học Harvard, Hoa Kỳ:  https://library.harvard.edu/ –  ⁠hollis.harvard.edu⁠ zh.wikisource.org 欽定安南紀事

==

Bài thơ được thực hiện theo bài nghiên cứu trận Đống Đa của vts Phương Hoa

==

Sự Kiện đang Nhớ cho một Đất Nước Vĩ Đại với 250 năm Lịch Sử

==

Có thật nhiều Sự Kiện đang Nhớ cho một Đất Nước Vĩ Đại với 250 năm Lịch Sử – Xin gởi đến quý anh chi một vài sự kiện – còn rất nhiều, như quý anhchi đã biết-

  Cảm ơn quý anhchi XIN CHÚC QUÊ HƯƠNG THỨ HAI ĐẦY LÒNG NHÂN ÁI NÀY SẼ LUÔN VỮNG MẠNH VÀ LUÔN VĨ ĐẠI NHƯ CHÚ CHIM ĐẠI BÀNG – chú chim đại diện cho ĐẤT NƯỚC CỜ HOA THÂN ÁI ==Chúc quý anhchi mùa Lễ Thật Vui bên gia đình

𝓽𝓷𝓵

 =============================================================

How Did the Bald Eagle Become America’s National Bird? (www.history.com)Long considered a symbol of strength, the predatory bird first appeared on the national seal in 1782.
The bald eagle’s role as a national symbol is linked to its 1782 landing on the Great Seal of the United States. Shortly after the Declaration of Independence was signed on July 4, 1776, the Continental Congress gave Benjamin Franklin, Thomas Jefferson and John Adams the job of designing an official seal for the new nation. However, the three Founding Fathers failed to come up with a design that won Congress’ approval, as did two later committees that were given the task.
In mid-June 1782, the work of all three committees was handed over to Charles Thomson, the secretary of Congress. Thomson chose what he thought were the best elements of the various designs and made the eagle—which had been introduced by artistically inclined Pennsylvania lawyer William Barton in a design submitted by the third committee—more prominent. (Since ancient times, the eagle has been considered a sign of strength; Roman legions used the animal as their standard, or symbol.)
========================

Đại bàng đầu trắng trở thành chú chim  quốc gia  của Mỹ như thế nào? (www.history.com)
Từ lâu được coi là biểu tượng của sức mạnh, loài chim săn mồi có đầu lông trắng này lần đầu tiên xuất hiện trên quốc huy vào năm 1782.
Vai trò của đại bàng đầu trắng như một biểu tượng quốc gia gắn liền với việc nó xuất hiện trên Quốc huy Hoa Kỳ năm 1782. Ngay sau khi Tuyên ngôn Độc lập được ký kết vào ngày 4 tháng 7 năm 1776, Quốc hội Lục địa đã giao cho Benjamin Franklin, Thomas Jefferson và John Adams nhiệm vụ thiết kế một con dấu chính thức cho quốc gia mới. Tuy nhiên, ba vị Cha lập quốc đã không thể đưa ra một thiết kế được Quốc hội chấp thuận, cũng như hai ủy ban sau đó được giao nhiệm vụ này.
Vào giữa tháng 6 năm 1782, công việc của cả ba ủy ban được giao cho Charles Thomson, thư ký Quốc hội. Thomson đã chọn những gì ông cho là những yếu tố tốt nhất trong các thiết kế khác nhau và làm cho hình ảnh đại bàng—vốn được luật sư William Barton người Pennsylvania, một người có năng khiếu nghệ thuật, giới thiệu trong một thiết kế do ủy ban thứ ba đệ trình—nổi bật hơn. (Từ thời cổ đại, đại bàng đã được coi là biểu tượng của sức mạnh; quân đoàn La Mã sử dụng loài vật này làm biểu tượng của họ.)

====================================================

nguồn:

Top 10 Most Important Dates in U.S. History (And Why They Still Matter) – Chronicles of HistoryTL sưu tầm và dịch

A/- 10 Cột mốc Quan trọng nhất trong Lịch sử Hoa Kỳ (và Lý do Chúng vẫn còn Ý nghĩa)

Lịch sử Hoa Kỳ chứa đựng vô số bước ngoặt — những ngày mà đất nước thay đổi vận mệnh mãi mãi. Một số ngày được kỷ niệm rộng rãi, số khác được nhớ đến với niềm đau thương, và một vài sự kiện vẫn khơi dậy những cuộc tranh luận ngay cả khi nhiều thế hệ đã trôi qua.

Nếu bạn từng thắc mắc đâu là những ngày quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, bài viết này sẽ điểm qua mười khoảnh khắc mang tính bước ngoặt và giải thích lý do tại sao chúng vẫn còn ý nghĩa trong thời đại ngày nay.

Từ nền độc lập và chiến tranh cho đến những thảm kịch và thành tựu công nghệ, đây chính là những cột mốc đã định hình nên câu chuyện về nước Mỹ.

Tại sao 10 Cột mốc này lại Quan trọng đối với Lịch sử Hoa Kỳ?

Những ngày quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ không chỉ đơn thuần là các mốc thời gian. Chúng đại diện cho những khoảnh khắc mà:

•   đất nước được thành lập hoặc được định hình lại

•   bản sắc dân tộc có sự thay đổi

•   các cuộc chiến tranh lớn làm thay đổi vai trò của nước Mỹ trên trường quốc tế

•   ký ức cộng đồng và văn hóa có sự chuyển biến sâu sắc

•   các thế hệ tương lai tiếp nhận những quyền tự do, nỗi sợ hãi và trách nhiệm mới

Danh sách này tập trung vào những cột mốc có tác động lâu dài đến Hoa Kỳ trên các phương diện chính trị, văn hóa, quân sự và xã hội.

–1.) Ngày 4 tháng 7 năm 1776 — Tuyên ngôn Độc lập

Tầm quan trọng: Ngày 4 tháng 7 năm 1776 là cột mốc mang tính biểu tượng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Ngày này đánh dấu việc thông qua Tuyên ngôn Độc lập, khi mười ba thuộc địa chính thức tuyên bố tách khỏi Vương quốc Anh.

Điều gì đã xảy ra vào ngày 4 tháng 7 năm 1776?

Quốc hội Lục địa đã thông qua nội dung cuối cùng của bản Tuyên ngôn, trong đó nêu rõ lý do các thuộc địa tách khỏi sự cai trị của Anh, đồng thời khẳng định tư tưởng rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng và sở hữu những quyền bất khả xâm phạm.

Tại sao ngày 4 tháng 7 vẫn quan trọng cho đến ngày nay?

•   Ngày này đánh dấu sự ra đời của Hoa Kỳ với tư cách là một quốc gia.

•   Ngày này xác lập các lý tưởng về tự do, quyền tự trị và các quyền tự nhiên.

•   Ngày này trở thành nền tảng cho các phong trào đấu tranh mở rộng quyền tự do trong tương lai.

==2.) Ngày 12 tháng 4 năm 1861 — Nội chiến Hoa Kỳ bùng nổ (Pháo đài Sumter)

Tầm quan trọng: Cuộc tấn công vào Pháo đài Sumter ở Nam Carolina đã đánh dấu sự khởi đầu của cuộc Nội chiến Hoa Kỳ, cuộc xung đột đẫm máu nhất trong lịch sử nước Mỹ.

Điều gì đã xảy ra vào ngày 12 tháng 4 năm 1861?

Các lực lượng thuộc Liên minh miền Nam (Confederacy) đã nổ súng vào Pháo đài Sumter, một pháo đài do phe Liên bang miền Bắc (Union) kiểm soát tại cảng Charleston. Cuộc pháo kích này đã châm ngòi cho một cuộc chiến tranh toàn diện giữa phe Liên bang và phe Liên minh miền Nam.

Tại sao ngày này đã thay đổi Hoa Kỳ?

•   Ngày này mở màn cho cuộc chiến quyết định sự tồn vong của phe Liên bang miền Bắc

•   Ngày này làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng quốc gia xoay quanh vấn đề nô lệ.

•   Ngày này tạo tiền đề cho công cuộc giải phóng nô lệ và những thay đổi mang tính hiến pháp.

Cuộc Nội chiến đã định hình lại quyền lực liên bang, quy chế công dân và tương lai của đất nước.

==3) Ngày 1 tháng 1 năm 1863 — Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ có hiệu lực

Tầm quan trọng: Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt lớn, không chỉ đối với cuộc Nội chiến mà còn đối với định hướng đạo đức của Hoa Kỳ.

Điều gì đã xảy ra vào ngày 1 tháng 1 năm 1863?

Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ của Tổng thống Abraham Lincoln chính thức có hiệu lực, tuyênbố trả tự do cho những người bị bắt làm nô lệ tại các vùng lãnh thổ do Liên minh miền Nam (Confederacy) kiểm soát.

Tại sao sự kiện này vẫn còn quan trọng?

•   Biến cuộc Nội chiến thành cuộc đấu tranh vì cả sự thống nhất quốc gia lẫn quyền tự do.

•   Làm giảm sự ủng hộ của châu Âu dành cho Liên minh miền Nam.

•   Mở đường cho Tu chính án thứ 13, văn bản bãi bỏ chế độ nô lệ.

Mặc dù không ngay lập tức giải phóng tất cả những người đang bị bắt làm nô lệ,

nhưng sự kiện đã thay đổi ý nghĩa và mục đích của cuộc chiến.

==4) Ngày 9 tháng 4 năm 1865 — Quân Liên minh miền Nam đầu hàng tại Appomattox

Tầm quan trọng: Việc Tướng Robert E. Lee đầu hàng Tướng Ulysses S. Grant tại Tòa án Appomattox (Appomattox Court House) đã thực sự chấm dứt cuộc Nội chiến.

Điều gì đã xảy ra vào ngày 9 tháng 4 năm 1865?

Tướng Lee đã cho đầu hàng Binh đoàn Bắc Virginia, đánh dấu sự sụp đổ trong khả năng kháng cự quân sự của Liên minh miền Nam.

Tại sao đây là một trong những ngày quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ?

•   Sự kiện này đã bảo toàn được Liên bang.

•    Đánh dấu sự khởi đầu của thời kỳ Tái thiết.

•   Mở ra một chương mới trong cuộc đấu tranh về vấn đề chủng tộc, quyền con người và sự hàn gắn dân tộc.

Ngày này vẫn đóng vai trò then chốt để hiểu rõ về cái giá phải trả cũng như di sản của cuộc Nội chiến.

==5) Ngày 15 tháng 4 năm 1865 — TT Abraham Lincolntạ thế

Tầm quan trọng: Tổng thống Abraham Lincoln qua đời vào sáng hôm sau khi bị John Wilkes Booth bắn, chỉ vài ngày sau chiến thắng của phe Liên bang (Union).

Chuyện gì đã xảy ra vào ngày 15 tháng 4 năm 1865?

Lincoln qua đời sau khi bị ám sát tại Nhà hát Ford ở Washington, D.C. Phó Tổng thống Andrew Johnson đã tuyên thệ nhậm chức Tổng thống.

Tại sao cái chết của Lincoln lại thay đổi lịch sử?

•   Đất nước mất đi một nhà lãnh đạo vào thời điểm then chốt của quá trình tái thống nhất.

•   Công cuộc Tái thiết (Reconstruction) diễn ra mà thiếu vắng sự lãnh đạo của Lincoln.

•   Lincoln trở thành biểu tượng trường tồn của sự đoàn kết, tinh thần hy sinh và lòng dũng cảm về mặt đạo đức.

Đối với nhiều nhà sử học, đây là một trong những ngày bi thương và có ảnh hưởng lớn nhất ttrong lịch sử nước Mỹ. Nếu bạn đang tìm kiếm một cuốn sách cực kỳ rất đáng đọc về cái chết của Abraham Lincoln, hãy thử đọc Killing Lincoln. Bạn sẽ khó lòng rời mắt khỏi cuốn sách này.

==6) Ngày 7 tháng 12 năm 1941 — Cuộc tấn công Trân Châu Cảng

Tầm quan trọng: Cuộc tấn công của Nhật Bản vào Trân Châu Cảng đã đẩy Hoa Kỳ vào cuộc

 Chiến tranh Thế Giới thứ Hai.

Chuyện gì đã xảy ra vào ngày 7 tháng 12 năm 1941?

Nhật Bản đã thực hiện một cuộc tấn công bất ngờ vào căn cứ hải quân Hoa Kỳ tại Trân Châu 

Cảng (Hawaii), khiến hơn 2.000 người Mỹ thiệt mạng, đồng thời làm hư hại hoặc phá hủy

nhiều tàu chiến và máy bay.

Tại sao Trân Châu Cảng vẫn là một cột mốc quan trọng đối với Hoa Kỳ?

•   Sự kiện này chấm dứt giai đoạn Hoa Kỳ đứng ngoài cuộc Đệ Nhị Thế Chiến.

•   Dẫn đến việc chính thức tuyên chiến.

•    Đánh dấu sự khởi đầu cho quá trình vươn lên của Hoa Kỳ thành một siêu cường toàn cầu.

Ngày 7 tháng 12 được ghi nhớ là “một ngày mang nỗi nhục nhã ê chề” (theo cách gọi của Tổng thống Roosevelt), và đây vẫn là một trong những ngày được biết đến nhiều nhất trong lịch sử quân sự Hoa Kỳ.

==7) Ngày 6 tháng 6 năm 1944 — Ngày D-Day (Cuộc đổ bộ lên Normandy)

Tầm quan trọng: D-Day là một trong những chiến dịch quân sự quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ và thế giới.

Điều gì đã xảy ra vào ngày 6 tháng 6 năm 1944?

Lực lượng Đồng minh, bao gồm hàng nghìn đơn vị quân đội Mỹ, đã đổ bộ lên các bãi biển tại Normandy (thuộc nước Pháp đang bị Đức Quốc xã chiếm đóng) trong cuộc đổ bộ từ biển vào đất liền lớn nhất lịch sử.

Tầm quan trọng của D-Day đối với lịch sử Hoa Kỳ

•   Sự kiện này mở ra một mặt trận lớn ở phía Tây để chống lại Đức Quốc xã.

•    Đẩy nhanh quá trình giải phóng châu Âu.

•   Trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm, sự hy sinh và tinh thần hợp tác của phe Đồng minh.

D-Day là một trong những cột mốc quan trọng nhất trong lịch sử quân đội Hoa Kỳ.

==8) Ngày 20 tháng 7 năm 1969 — Sự kiện tàu Apollo 11 đổ bộ lên Mặt Trăng

Ý nghĩa: Việc đổ bộ lên Mặt Trăng là minh chứng cho thành tựu công nghệ của Hoa Kỳ, cuộc cạnh tranh trong Chiến tranh Lạnh, và là một bước tiến khổng lồ trong lịch sử nhân loại.

Chuyện gì đã xảy ra vào ngày 20 tháng 7 năm 1969?

Các phi hành gia của tàu Apollo 11 là Neil Armstrong và Buzz Aldrin đã đổ bộ xuống Mặt Trăng, và Armstrong trở thành người đầu tiên đặt chân lên bề mặt của nó.

Tại sao ngày này lại quan trọng về mặt lịch sử?

•   Sự kiện này thể hiện sự đổi mới khoa học và tham vọng quốc gia của Hoa Kỳ.

•   Tượng trưng cho sự cạnh tranh và vị thế có uy tín trong kỷ nguyên Chiến tranh Lạnh.

•   Truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ trong các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và thám hiểm.

Ngày 20 tháng 7 là một trong những ngày đáng nhớ nhất và vinh quang trong lịch sử chinh phục không gian của Hoa Kỳ.

Giờ thì có một câu hỏi dành cho bạn — Liệu việc đổ bộ lên Mặt Trăng là thật hay giả? 

Có những lập luận cực kỳ thuyết phục cho rằng sự kiện này có thể đã được dàn dựng suốt bấy 

lâu nay. Bản thân tôi vẫn tin vào “Giấc mơ Mỹ” và tinh thần chiến thắng của đất nước, 

nên tôi chọn tin rằng sự kiện đó thực sự đã diễn ra. Đó là lòng yêu nước trong tôi lên tiếng. 

Tuy nhiên, cũng có những bằng chứng rất mạnh mẽ cho thấy điều ngược lại.

==9) Ngày 22 tháng 11 năm 1963 — Vụ ám sát Tổng thống John F. Kennedy

Tầm quan trọng: Vụ ám sát Tổng thống Kennedy đã gây ra cú sốc lớn cho cả quốc gia và trở thành bước ngoặt trong văn hóa chính trị Mỹ.

Chuyện gì đã xảy ra vào ngày 22 tháng 11 năm 1963?

Tổng thống John F. Kennedy bị ám sát tại Dallas, Texas, khi đang ngồi trong đoàn xe diễu hành.

 Phó Tổng thống Lyndon B. Johnson đã tuyên thệ nhậm chức ngay trong ngày hôm đó.

Lý do ngày 22 tháng 11 vẫn là một cột mốc quan trọng trong lịch sử nước Mỹ


• Sự kiện này đã gây chấn động cả nước Mỹ và thế giới.
• Làm gia tăng sự ngờ vực trong công chúng cũng như những đồn đoán về các thuyết âm mưu.
• 
Đã thay đổi diện mạo chính trị và bầu không khí văn hóa của thập niên 1960.


Đối với nhiều người Mỹ, đi
ều nây đã trở thành khoảnh khắc đáng nhớ gắn liền với câu hỏi: 

“Bạn đang ở đâu vào lúc đó?“

==10) Ngày 11 tháng 9 năm 2001 — Các cuộc tấn công khủng bố 11/9

Tầm quan trọng: Ngày 11 tháng 9 năm 2001 là một trong những cột mốc có ảnh hưởng lớn

 nhất trong lịch sử hiện đại của Hoa Kỳ.

Chuyện gì đã xảy ra vào ngày 11 tháng 9 năm 2001?

Những kẻ khủng bố đã cố gắng cướp bốn chiếc máy bay thương mại  và buộc hai chiếc đâm vào tòa tháp Trung tâm Thương mại Thế giới ở Thành phố New York, một chiếc đâm vào Lầu Năm Góc, và chiếc còn lại rơi xuống Pennsylvania sau khi các hành khách chống trả.

Tại sao sự kiện 11/9 đã thay đổi Hoa Kỳ

•   Sự kiện này làm thay đổi chính sách đối ngoại và an ninh quốc gia của Hoa Kỳ.

•   Dẫn đến các cuộc chiến tranh tại Afghanistan và Iraq.

•   Làm thay đổi hoạt động đi lại bằng đường hàng không, công tác giám sát an ninh và đời sống xã hội.

•   Trở thành ký ức mang tính Khoảnh khắc quyết định, định hình đối với cả một thế hệ.

Ngày 11 tháng 9 vẫn là một trong những ngày được tìm kiếm và ghi nhớ nhiều nhất trong

 lịch sử đương đại của Hoa Kỳ.

==================================

B/— Những  mốc thời gian đáng chú ý khác trong lịch sử Hoa Kỳ

Tùy thuộc vào tiêu chí đánh giá, những mốc thời gian sau đây cũng hoàn toàn có thể nằm

 trong danh sách  sự kiện quan trọng nhất:

•   Ngày 17 tháng 9 năm 1787 — Ký kết Hiến pháp Hoa Kỳ

•   Ngày 15 tháng 12 năm 1791 — Phê chuẩn Tuyên ngôn Nhân quyền (Bill of Rights)

•   Giai đoạn 1803–1804 — Thời kỳ mở rộng lãnh thổ thông qua Thương vụ Louisiana

•   Ngày 01 tháng 1 năm 1863 — Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ (đã được đưa vào danh sách chính)

•   Ngày 18 tháng 8 năm 1920 — Phê chuẩn Tu chính án thứ 19 (quyền bầu cử của phụ nữ)

•   Ngày 6 và 9 tháng 8 năm 1945 — Các vụ ném bom nguyên tử (bước ngoặt lớn trong thời chiến của Hoa Kỳ)

•   Ngày 28 tháng 8 năm 1963 — Cuộc Tuần hành vì Việc làm và Tự do tại Washington

•   Ngày 2 tháng 7 năm 1964 — Ký kết Đạo luật Quyền Dân sự

Đây là một lý do khiến lịch sử Hoa Kỳ luôn đầy sức hút: có rất nhiều mốc thời gian mang ý nghĩa quan trọng lâu dài.

Cách nhìn nhận về những mốc thời gian “quan trọng nhất” trong lịch sử Hoa Kỳ

Không có một danh sách hoàn hảo duy nhất nào cả. Một số người ưu tiên các sự kiện như:

•   Các văn bản nền tảng quốc gia

•   Các cuộc chiến tranh và trận đánh

•   Các cột mốc về quyền dân sự

•   Các vụ ám sát Tổng thống

•   Các thành tựu khoa học

•   Những khoảnh khắc bi kịch quốc gia

Một cách tiếp cận thuyết phục hơn là:

“Những mốc thời gian quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ là những ngày mà bản sắc định hướng hoặc vận mệnh của nước Mỹ đã thay đổi theo hướng lâu dài.”

Điều này bao gồm cả những thắng lợi, bước đột phá, thất bại và tổn thất.

Lời kết: Tại sao những mốc thời gian này trong lịch sử Hoa Kỳ vẫn quan trọng?

Việc tìm hiểu các mốc thời gian quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ không chỉ đơn thuần là ghi nhớ các mốc sự kiện. Điều này giúp chúng ta hiểu rõ:

•   quốc gia này đã được xây dựng như thế nào

•   đã trải qua những thử thách gì

•   những lý tưởng mà họ đề cao

•   những thành tựu đã đạt được

•   những điểm còn hạn chế

•   và hình mẫu quốc gia mà người dân vẫn đang nỗ lực hướng tới

Nếu bạn đang tìm hiểu lịch sử Hoa Kỳ qua lăng kính “nhìn lại sự kiện trong ngày“, 

thì  Những mốc thời gian này đóng vai trò là những điểm tựa quan trọng —

 và mỗi mốc thời gian đều mở ra cánh cửa dẫn đến những câu chuyện sâu sắc hơn.

&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&

nguồn:

Top 10 Most Important Dates in U.S. History (And Why They Still Matter) – Chronicles of History

Thái Lan sưu tầm và dịch 

==

==

                         Thơ Trần Quốc Bảo

Bỏ Quê hương đến xứ này

Chúng tôi được sống những ngày tự do

Hôm nay là: JULY 4th

Nguyện cầu Thượng Đế ban cho Hoa Kỳ

.

Phú cường một cõi biên thùy

Tự Do đuốc sáng, phát huy toàn cầu!

Văn minh Mỹ Quốc hàng đầu

Uy quyền vũ lực, không đâu sánh bì!

.

Chúng tôi, vận Nước suy vi

Giang sơn bị Cộng trị vì bấy nay!

Như đàn Chim Việt lạc bày,

Tới đây, xin nhận nơi này Quê Hương!

.

Tuy rằng gốc gác tha phương,

Nhưng trong một Nước, yêu thương nhau cùng!

Mừng “Ngày Độc Lập” vui chung!

Tự Do ngọn đuốc sáng trưng toàn cầu !!!

         Trần Quốc Bảo

                Richmond, Virginia

           Địa chỉ điện thư của tác giả:

       quocbao_30@yahoo.com

==

Thiên Anh Hùng Ca Ở Hai Nửa Bán Cầu!
(Bài Hát Nói cảm ơn và đáp lễ Dịch Giả Thái Nữ Lan và Văn Thi Sĩ Phương Hoa đã chuyển đến bài viết đặc sắc của Phương Hoa viết nhân Ngày Lễ Độc Lập Independence Day của Hoa Kỳ 04/07/2026.)
*

Washington và Quang Trung Nguyễn Huệ! Chưa hề gặp mặt!
Nhưng luôn “gặp nhau” trong tâm tưởng, gan mật của loài người!
Ở Bắc Bán Cầu, Hoa Thịnh Đốn dẫn quân vượt sông Delaware nắm ngay cơ hội “Vàng Mười”.

*

Tại Nam Bán Cầu, Quang Trung dẫn quân qua sông Đáy vào thời điểm “chỉ có một”
*
Thịnh Đốn! Hành toàn đà quá tốt!
Quang Trung! Quyết đoán đã thành công!
Những gì cùng cực thì “hay giống nhau”! Dù xa tắp biển, núi, sông!
Hai trận đại thắng đã “tình cờ” ghi tên hai con sông huyền thoại!
*
Cảm ơn “Siêu Bút Ký” của “Nữ Hoàng Bút Ký” Phương Hoa chuyển lại!
Tưởng niệm những con người tài năng, đức độ, công lao vĩ đại muôn đời!
Tấm gương! Bài học! Tuyệt vời!

*
Đức Hùng
Sydney, Úc Châu, 04/07/2026
Kỷ Niệm Lễ Independence Day của Hoa Kỳ

==

==




VTLV CHÚC MỪNG Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt / Vietnamese Heritage Museum – Tổ Chức Thành Công Kỷ Niệm 10 Năm Thành Lập.

Mừng HERITAGE đã thành công

Chẵn thập niên qua dốc hết lòng

Lưu giữ thông tin hồn tỵ nạn

Bảo tồn lịch sử gốc cha ông

“TÀU HY VỌNG” bỏ rơi đàn áp

“THUYỀN TỰ DO” xa biệt nhốt còng

Trân trọng vinh danh vì Tổ Quốc

BẢO TÀNG DI SẢN giúp non sông…

Phương Hoa – VTLV – JUN, 25, 2026

==

==

“Thứ Bảy, ngày 20 tháng Sáu, 2026 tại Lavender’s Hall, 14190 Beach Blvd, Westminster, CA 92683, Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt / Vietnamese Heritage Museum (VHM) đã tổ chức một dạ tiệc long trọng kỷ niệm 10 năm thành lập. Buổi dạ tiệc đã đánh dấu cột mốc 10 năm hoạt động của viện bảo tàng và 51 năm sau biến cố 1975 (1975-2026).

Khánh Lan kính mời:”

VIỆN BẢO TÀNG DI SẢN NGƯỜI VIỆT (VIETNAMESE HERITAGE MUSEUM) KỶ NIỆM 10 NĂM THÀNH LẬP (2016-2026)




VTLV – TRANG ĐẶC BIỆT Chào Mừng Thi Sĩ TRẦN VẤN LỆ.

==

Lời Ban Biên Tập: VTLV có hỏi xin thi nhân cho vài dòng tiểu sử và chân dung, để giới thiệu lên trang nhà. Nhưng chưa nhận được, và tác giả cũng đã gửi tặng VTLV thêm mấy bài thơ hay tuyệt vời. Cho nên, VTLV “không thể chờ”, mà phải đi… lượm vòng vòng “trên mây” kiếm được tấm hình này, và xin tóm tắt mấy lời giới thiệu vui vui như sau, khi nào thi nhân gửi hình khác và bản tiệu sử đầy đủ BBT sẽ thay lại. Mong nhà thơ đừng có …rầy tội nghiệp:

Tóm tắt tiểu sử:

Nhà thơ Trần Vấn Lệ/Sinh quán tại Phan Thiết

Cựu Giáo sư, Sĩ Quan VNCH/Sang Hoa Kỳ diện HO

Sống tại Thành phố Thiên Thần/Tiểu bang có loài hoa Anh Túc là Chủ Tể

Sáng tác: không tính xuể/Bút hiệu: đếm không cùng…(Trần Vấn Lệ – Trần Trung Tá – Trần Tú Uyên…) 

==

==

* 

LẠC VIỆT thi đàn lại nở hoa

VĂN THƠ trải thảm rước vào nhà

TRẦN TRUNG TÁ chữ cài châu báu 

TRẦN VẤN LỆ câu cẩn ngọc ngà

Lời chảy xôn xao chim ríu rít

Ý tràn dào dạt gió ngân nga 

Mừng nay vườn nội thêm tùng bách 

Chung sức bảo tồn tiếng nước ta. 

 Phương Hoa – VTLV

JUN, 23, 2026

==


        GỞI THI NHÂN TRẦN VẤN LỆ
– NGUYỄN HUY KHÔI

                 (Tân hội viên VTLV)

Thêm BÔNG, vườn rộ thắm mầu HOA,

Bằng hữu mừng huynh nhập Hội Nhà!

Góp sức điểm tô hồn bút ngọc,

Đồng tâm khai sáng mạch thơ ngà!

Trà châm Hương Nghĩa ,…vui hoan hỷ,

Tửu chuốc Men Tình,…thú ngất nga!

Chuốt ý, trau vần gìn bản sắc…

Bảo tồn văn hóa Việt Nam ta!

                      Nguyễn Huy Khôi

                             24-6-2026

==

 CHÀO MỪNG THI SĨ TRẦN VẤN LỆ – NHẬP HỘI TRI ÂM VĂN THƠ LẠC VIỆT  

    Họa vần Thơ PHƯƠNG HOA MỪNG ĐÓN TÂN HỘI VIÊN TRẦN VẤN LỆ THI SĨ  

       (Sau 30 năm tái ngộ  –  CMN)

  Ba mươi năm Lệ thấm khai hoa

  Châu ngọc xa xưa sáng mái nhà 

  Bến cạn Tầm Dương tô ánh tuyết

  Cầu sương Thệ Thuỷ  điểm vầng nga

  Trở về LẠC VIỆT vui men cúc

  Hòa hợp VĂN THƠ thấu bút ngà

  Mời khách ung dung bàn xướng hoạ

  Cùng bao tri kỷ biển trời ta … 

    Hawthorne  23 – 6 – 2026

             CAO MỴ NHÂN 

==

==

CHÀO MỪNG THI SĨ TRẦN VẤN LỆ – BÀI HỌA QUANG HÀ

LẠC VIỆT vui mừng trải chiếu hoa

Mời TRẦN THI SĨ đến chung nhà

Hồn văn Phan Thiết ngời sao biển

Lực bút Thiên Thần* rạng bóng nga

Mặc khách hân hoan chào Thước ngọc**

Tao nhân vinh dự đón Thơ ngà

Chung tay góp ý đồng tâm nguyện

Gìn giữ chân truyền chữ Việt ta.

         Quang Hà, 24/6/2026

*Thiên Thần: Los Angeles: tên thành phố thi sĩ TVL cư trú

** Trước 1975, Ông Trần Vấn Lệ là Giáo Sư.

==

==

GỞI NHỊ VỊ QUANG HÀ – VẤN LỆ – BÀI HỌA NGUYỄN HUY KHÔI

                (Hội viên VTLV)

Chúc mừng nhị vị góp TINH HOA,

Đồng khí tương giao hiệp một nhà,

VẤN LỆ – thôi xao sành bút diệu,

QUANG HÀ – trau chuốt nuột thi ngà!

Văn Nhân  xứng bậc – nâng tầm vóc,

Lạc Việt lưu danh – mãi tiến xa!…

Cổ xúy muôn NGƯỜI gìn CỘI RỄ

TAO ĐÀN tỏa rạng sáng GƯƠNG NGA!

                           Nguyễn Huy Khôi

                                  26-6-2026

==

DÁM ĐÂU – QUANG HÀ

Xôn xao thuyền đỗ “BẾN HOÀNG HOA”

Chẳng quản đường gần với dặm xa

Tiền bối công lao gầy nhóm hội

Vãn sinh tâm nguyện giữ ngôi nhà

VĂN THƠ bút vẽ chân trời sáng

LẠC VIỆT lòng soi bóng nguyệt nga

Tiểu đệ ví là bông cỏ dại

Thì đâu dám nhận tước “thi ngà”!

                                Quang Hà kính họa

                                      27/6/2026

==

==

*

  VỀ BẾN CẠN .       CAO MỴ NHÂN

Nét hoa vừa thấy đã tan theo

Sóng nước mênh mông giạt cánh bèo

Đành vớt thời gian tìm bóng bạn

Để buông vận hạn kiếm hình neo

Tầm Dương thủa ấy ai tri kỷ

Lạc Việt thời nay khách cột kèo

Nhật Nguyệt lênh đênh chờ tái ngộ

Thuyền về bến cạn nỗi sầu treo … 

*

Bến cạn chiều sương khói mịt mù

Nhớ về nhân dáng khách chinh phu

Đã không tồn tại cùng  xuân tận 

Sao chẳng hẹn hò với mộng du 

Đất trích một lần đi cách biệt

Tầm Dương mấy thủa loãng oan thù

Lữ hành  trên chính quê hương cũ

Cố lý mơ hồ bóng chiến khu …

Hawthorne.   23 – 6 – 2026

          CAO MỴ NHÂN 

 

==

==

Thơ Trần Vấn Lệ

.

Rồi… lại tới Ngày Lễ:  Đón mừng Ngày Nhớ Cha!

Trước… ngày này, hôm qua / là Ngày Mừng Nhớ Mẹ!

.

Mẹ luôn luôn là thế:  ưu tiên mọi tấm lòng!

Mẹ là biển là sông / rộng vô bờ vô bến…

.

Mẹ với Cha có hẹn / để cháu con nhớ về…

cái chỗ gọi là Quê – Tình Yêu Không Đong Đếm!…

.

Có người về Điểm Hẹn bây giờ là khói nhang…

nhưng những cánh tay choàng ôm đất trời ấm áp!

.

Có người về chậm chạp… vì gió táp mưa sa!

Chuyện của Đất Nước TA / hai Thế Kỷ Nước Mắt!

.

Tôi… thành thật thú thật:  Tôi-trường-hợp-thứ-hai

… là đường xa mây bay… là dặm dài vô định!

.

Thương quá chớ, thời Lính:  Mẹ Cha hằng mong con!

Thương là Thương, rất thương… những đứa con bất hiếu!

*

Em của tôi làm điệu:  Hai mắt đang ướt kìa!

“Em nhớ Ba, không chia – Một Cái Hôn Giùm Với…”

.

Ôi người yêu tôi nói nghe buồn như trong mơ!

Và đây là… Bài Thơ:  Happy Father’s Day em, đó!

.

Có người yêu bỗng nhỏ như giọt lệ lăn lăn…

Có người yêu như trăng… Vầng Trăng Tôi Gọi Nguyệt!

.

Em là lòng tha thiết tôi gửi về Cố Hương

Lòng đứa con tha phương bốn phương đường thiên lý!

.

Việt Nam nhìn từ Mỹ xa vời nhang khói bay!

Happy Father’s Day!  Happy Father’s Day!

Trần Vấn Lệ

==

HOA BÌNH MINH MẤY NỤ

Hôm nay mặt trời thức sớm hơn tôi, mất rồi!  Tôi chói mắt quá thôi!  Tôi ghét mặt trời nhé!

Tôi mở cửa nhè nhẹ, nắng ào ào đi vô…Nắng cho tôi chùm hoa để xuống thềm thơm ngát…

Nắng vung tay nhẹ tát mặt tôi làm ngẩn ngơ!  Hôm nay tôi không ngờ cái giờ mặt trời thức!

Thường thì mặt trời mọc khi còn sương kia mà!  Chắc vì sương không sa tối hôm qua Đoan Ngọ?

Đèn đường còn sáng đỏ!  Bốn giờ hơn!  Ngỡ ngàng.  Ánh điện vẫn vàng vàng ít nhiều có phai lợt…

Ý thơ buồn bay trớt, tôi chặn gió cầm hôn!

*

Ô là tôi dễ thương, tôi cầm được ngọn gió… Tôi nhìn ra thảm cỏ, cỏ có nắng xanh hơn…

… nhưng bướm thì chưa vờn và chim thì bay hết!  Vườn tôi xanh xao thiệt chớ không phải xanh tươi!

Ngày Của Cha vui vui, tôi chợt nghĩ như vậy!  Không biết ai có thấy… đời là giấc chiêm bao?

Lát nữa tôi làm sao?  Pha cà phê ngồi uống?  Một mình tôi thức muộn nhìn mùa Hè đang qua…

Hương cà phê, hương hoa… tôi nhớ tà áo lụa nhẹ nhàng phơ phất gió…

Sẽ đi tìm đứa nhỏ hỏi này em thơ ơi “Em có thích đi chơi nhìn theo màu áo chị?”.

Tôi thèm nghe lí nhí tiếng của thời gian qua… Tôi thèm đi ngắm hoa – Hoa bình minh mấy nụ…

Trần Vấn Lệ

==

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

52 năm…tôi nhìn thấy / Đất Nước thay đổi nhiều.  Mà ngộ! Không nghe ai nói Yêu / Đất Nước mình, sao vậy?

Nhiều vườn cau vàng cháy / những buồng cau, Ngoại ơi!  Ngoại tôi mất thật rồi.  Mẹ Cha tôi cũng mất!

Nam Mô A Di Đà Phật!  Tôi chào một nhà Sư.  Ông ngước mặt cười cười:  “Lâu quá gặp thí chủ!”.

Thăm vườn Chùa thấy rõ:  Vườn Chùa rất sum suê.  Chôm chôm trái xanh lè… “tháng nữa là chín rực!”

Nhà Sư tôi thân nhất / những năm tháng cùng tù.  Sau thời gian… Thiên Thu, anh ấy đi tu Phật.

Tôi thì đi phơ phất, đời nắng táp mưa sa.  52 năm qua, về, chi cũng thay đổi!

Nhìn vườn cau nhớ Ngoại / nắng xiên khoai hồi nào…nhớ Mẹ nâng giỏ cau ngó Ngoại lóng lánh lệ!

Mắt nhà Sư chừ thế, long lanh màu hoàng hôn…

*

52 năm tôi còn / thấy mắt ai cũng đẹp!  Tôi ráng sống phải phép: Nhìn Thôi Nói Thế Thôi!

52 năm nước trôi… trôi bớt vườn cau Ngoại!  Nhà nhà đều lợp mới / ngói mua ở Vĩnh Long!

Sư dẫn tôi ra đồng / nhìn… núi rừng trọc lóc.  Tôi vuốt đầu chải tóc, tôi muốn bớt cho Sư…

Sư nói:  “Tất cả như, Như Như thưa thí chủ!  Bây giờ ai cũng đủ, bây giờ ai cũng no!”.

Ôi lời Sư thơm tho.  Tôi nhìn chi thêm nữa?

Quê Hương mình được rứa, tôi về Huế đi tu… 52 năm quá lâu, gì mà không đổi khác?

Bài thơ này nhàn nhạt, tình quê không đậm đà?  Tôi về không đi xa / khỏi cổng Chùa, mai mốt…

Trần Vấn Lệ

=

CÂU CHUYỆN CỦA BA NGƯỜI

TRONG CỘNG ĐỒNG BA TRIỆU NGƯỜI

*

Em yêu quý!  Trời không mưa thì nắng.

Nắng ban ngày và mưa hay về đêm…

Mùa Hè năm nay Cali đất không mềm

Sáu tháng rồi không có mưa trút xuống…

.

Ngày như đêm ai cũng than là nóng

Người homeless cười khúc khích với lon bia

Xứ tự do nó chọn sống bên lề

Bạn hỏi sao?  Nó nói Nhà Thờ khoá cửa…

.

“Tôi không phải là con của Chúa

Tôi là con của thiên hạ mọi người.

Tôi đã quân nhân, tôi được giải ngũ rồi

Tôi không nợ không nần không người yêu chì chiết…

.

Bạn bè ư?  Thật tình tôi không biết

Bạn là ai?  Thú thiệt có như không

Bao nhiêu năm, một-hai-ba-bốn đi cùng

Đi tới chỗ… Tan Hàng và Cố Gắng! (*)

.

Đi tới chỗ, biết đâu nằm Mả Lạng

ngó lên trời chịu đưng nắng và mưa…

Tôi làm thơ tôi làm thơ tôi làm thơ

Tôi in sách bán có tiền… tôi sống!

.

Người ta nói Sống Để Mà Hy Vọng,

Đời Thiên Thu bao cái Bóng Thời Gian?

Bao nhiêu bình minh, bao nhiêu chiều tàn

Hai chữ Đá Vàng chấm mực đen và viết!

.

Tên nước tôi nguyên nó là Nam Việt (**)

Lệnh của Tàu thành ra Nước Việt Nam

Tôi nhắc bao lần, tôi nói như van,

Không ai nghe tôi để đi làm Kách Mệnh!

.

Thôi thì thôi đời của tôi tôi tính:

Sống lề đường Thác được đốt ra tro!

Sông mồ hôi, biển nước mắt, không bờ

Hai chữ Đá Vàng là Giấc Mơ Bèo Bọt…”

.

Em ơi em cho anh hôn mái tóc

Tóc mai dài hay ngắn cũng… Tình Yêu!

Trần Vấn Lệ

(*) Khẩu lệnh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà hô sau xong một cuộc tập họp.  Anh em vui mà cứ hỏi nhau Cố Gắng là sao?  Là… thấy sao trên cờ… trưa ngày 30-4-1975.

(**) Nguyễn Ánh thống nhất sơn hà năm 1802, lên ngôi lấy niên hiệu Gia Long, đặt tên nước Nam Việt, cho sứ sang Tàu xin cầu phong làm An Nam Quốc Vương.

Ba năm sau (1802, 1803 và 1804), Tàu trả lời:

1, Nhất trí Gia Long làm An Nam Quốc Vương.

2, Tên nước là Việt Nam, chữ Việt phải viết với bộ Tẩu cấm dùng chữ Việt viết với bộ Mễ.  Gia Long nhận lệnh, trối lại cho con tính toán giùm.  Vua Minh Mạng lên kế nghiệp Gia Long năm 1820, đặt lại tên nước là Đại Nam.

Ngày 2-9-1945, cướp chính quyền thành công, Hồ Chí Minh Chúa Đảng Cộng Sản Đông Dương, làm Chủ Tịch nước thống nhất Bắc Trung Nam, tên nước là Việt Nam.  Từ đó trở đi không có câu giải nghĩa.

Nhưng có hai sự kiện:

1, Dân Bắc Việt ùn ùn chạy trốn về phía Nam, 1954, cả triệu người, không nghe nói có ai chết dọc đường.

2, Cả triệu người ùn ùn cũng chạy về phía Nam hướng Malaysia, Singapore, Brunei, Indonesia, New Zealand, Australia, chết chìm ghe vô số kể, sống thì trôi giạt tới bờ và được thế giới cứu vớt toả đi khắp mọi nơi ở châu Âu, châu Mỹ, châu Úc…để sinh cơ lập nghiệp.  Hiện có con số chính thức là 6 triệu bốn trăm ngàn người, tính luôn non 1 triệu người xuất khẩu lao động đi làm mướn hay được cho đi học nước ngoài mà từ tục tỉu là Du Học Sinh!

Bạn mình ơi, đọc Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim nha!  Đọc Lịch Sử Còn Đó của Nguyễn Văn Lục nha!  Nha! Nha!

==

Ở TRÊN TRỜI PHÍA BẮC

NẮNG VÀNG THU SẮP THU

Sáu tháng!  Trời không mưa

Sáu tháng!  Trời chỉ nắng

Trái khổ qua cứ đắng

mười hai tháng một năm!

.

Tôi không nghe ai than

về trời mưa trời nắng.

Bầu trời mây vẫn trắng

đời sống thì trong veo…

.

Thơ… chỉ một Huyền Kiêu

bốn mùa nhớ Chị Đẹp

em thơ đôi mắt biếc

theo dõi bước chị mình…

.

Chị kìa… trên đồng xanh

Chị kìa… trong ngày nắng

chị choàng cái khăn thắm

hái hoa trắng cầm tay…

.

Bốn mùa bốn đổi thay

Chị Đẹp đời chỉ một

Huyền Kiêu châm điếu thuốc

thả buồn lên ngọn cây…

.

Trên ngọn cây có mây

có một ngày sắp hết

sáu tháng tôi ngộ thiệt

nửa năm còn… rồi sao?

.

Chị Đẹp tôi chiêm bao

ở trên trời… phía Bắc

tháng Bảy mưa phơn phớt

nắng vàng Thu… sắp Thu…

Trần Vấn Lệ

==

==

Vườn Văn Thơ Lạc Việt /Hương tình cờ bay xa

Chạm nhằm đóa kỳ hoa/Nụ thần ươm nở nhuỵ

.

Gió mơn lòng tri kỷ/Vườn níu giữ hồn thơ

Nguyệt soi ánh sương mờ/Cung đàn thêm réo rắc

.

Cùng thi nhân thắt chặt/Đan sợi nắng bình minh

Ánh hồng tỏa lung linh/Rỡ ràng vui bút mực

.

Dẫu đời là mộng, thực/Dù dặm dài viễn phương

Cố hương hay tha hương/Lòng này chung một lối…

Phương Hoa – JUN 22, 2026

==

==

KHÓI THUỐC VÀNG TAY – QUANG HÀ

Tôi đọc bài thơ Trần Vấn Lệ*

Nhắc đến mùi thơm khói Capstan

“Chiếc áo phong sương tình anh nặng”

Nhớ đến nao lòng thuở tóc xanh

.

Nhớ quán cà phê ngày xuống núi

Áo trận còn đeo lớp bụi đường

Nửa tháng mà sao nghe rỗng túi

Hề chi, ký sổ để chờ lương

.

Uống ngụm cà phê, nhả khói thơm

Thấy đời vẫn đẹp còn lên hương

Ngày mai mặc kệ, dù sao nữa…

Vẫn thả hồn theo những nụ hường

.

Ngày đi qua Cầu Dài Xuân Lâm

Dòng sông nao nao buồn thăng trầm

Tôi về như kẻ từng xa lạ

Đồng đội về đâu, ôi biệt tăm!

.

Khói thuốc xanh dòng thơ Quang Dũng

Đôi mắt Sơn Tây buồn tây phương

Khói thuốc vàng tay anh lính trận  

Trên đồi biên giới, trấn quê hương.

Quang Hà, Aug. 2020

*“Một Trăm Bài Tứ Tuyệt Treo Vách Ngắm Chơi “

                                                   (Thơ Trần Vấn Lệ)

==

==

*Một tiếng thơ lâu năm, một tấm lòng rất trẻ, vừa ghé bến VTLV…

=

==

–Trong sinh hoạt văn chương, có những niềm vui đến bất ngờ như một cơn gió mát đầu hè, như một cánh thư ghé đúng lúc, khi…mở hộp thơ! làm cả “chiếc thuyền thơ” bỗng rộn ràng hẳn lên. Văn Thơ Lạc Việt hôm nay rất hân hạnh và vui mừng được chào đón thi sĩ Trần Vấn Lệ – một tên tuổi quen thuộc khắp nơi với nhiều người yêu thơ Việt, một “cổ thụ thi ca” mà giọng thơ vẫn xanh non, tình thơ vẫn tha thiết, và hồn thơ thì dường như… chưa chịu già theo năm tháng!

Nói vui một chút, VTLV vốn vẫn tự hào là nơi “ai yêu chữ nghĩa thì ghé, ai thương thơ thì ở lại”…đừng dzề! nhưng lần này niềm vui có phần… lớn hơn thường lệ: một thi sĩ “tiếng tăm lừng lẫy” đã tự tìm đến trang nhà VTLV, gửi thơ, rồi nhận lời tham gia gần như ngay lập tức. Thế là anh chị em trong nhà vừa mừng…như trúng số! vừa khoái chí, lại vừa thấy trang nhà mình như có thêm một bóng mát rất đẹp của thi ca và tình người. Giới thiệu thi sĩ này, 100 trang giấy…vẫn chưa đủ! nên chỉ xin phép ngắn gọn:

Thi sĩ Trần Vấn Lệ, sinh ngày 31 tháng 5 năm 1942 tại Xuân Phong, Phan Thiết, trưởng thành ở Đà Lạt, từng là giáo chức, rồi nhập ngũ năm 1966, là cựu sĩ quan VNCH, và đã trải qua những năm tháng tù đày từ 1975 đến 1981. Ông sang Hoa Kỳ theo diện H.O cuối năm 1989, hiện cư ngụ tại miền Nam California. Một đời người đi qua chiến tranh, lao tù, ly hương, nhưng thật quý thay, nhưng vẫn giữ được một tâm hồn nhẹ, một giọng thơ nồng, và một trái tim biết rung động trước quê hương, tình yêu, bạn bè, kỷ niệm, cùng những điều bình dị nhất của kiếp người.

Chỉ nhìn qua danh mục tác phẩm của ông cũng đủ thấy sức viết đáng nể và một đời gắn bó bền bỉ với thi ca:

Cám Ơn Em Tình Yêu, Ăn Của Rừng Rưng Rưng Nước Mắt, Vời Vợi, Viết Những Dòng Này, Từ Khi Em Là Nguyệt, Thơ và Cuộc Đời, Nắng Hoàng Hôn Còn Sót Mấy Câu Thơ, Tóc Gió Bay… cùng rất nhiều tập thơ đã được giới thiệu trên các trang văn học. Chỉ riêng tên sách thôi cũng đã nghe ra một cõi thơ rất riêng: có nắng, có gió, có hoàng hôn, có nhớ thương, có quê nhà, có bóng dáng người xưa và có cả những rung động không chịu tắt của một trái tim làm thơ.

Điều đáng quý ở thơ Trần Vấn Lệ là cái giọng rất riêng: vừa hồn nhiên, vừa từng trải; vừa tình tứ, vừa man mác; có lúc như trò chuyện, có lúc như thủ thỉ với chính mình; có nỗi buồn, nhưng không bi lụy; có hoài niệm, nhưng không nặng nề. Thơ ông nhiều khi tưởng như đang kể chuyện rất tự nhiên, vậy mà đọc kỹ lại thấy phía sau là cả một trời ký ức, một quãng đời, một tấm lòng.

Và nếu phải nói ngắn gọn về thơ Trần Vấn Lệ, có lẽ xin mượn một ý thế này: thơ ông là thơ của người đã đi qua nhiều dâu bể nhưng vẫn giữ được cái nhìn dịu dàng với đời; là thơ của một người từng nếm nhiều mất mát mà vẫn tin vào vẻ đẹp của tình yêu, tình quê, tình người và chữ nghĩa. Ở tuổi mười tám, xin lỗi lộn, tám mươi, vẫn làm thơ tình, thơ quê hương, thơ nhớ bạn, nhớ em, nhớ Đà Lạt, Phan Thiết, Dran, Ngoạn Mục… như thế, ấy cũng là một cách chiến thắng thời gian rất đẹp.

Văn Thơ Lạc Việt rất trân trọng tấm lòng chân tình của thi sĩ Trần Vấn Lệ khi ngỏ ý muốn “đi cùng các bạn!”, yêu đời sống tập thể, yêu sinh hoạt văn thơ, và xem đây như một bóng mát để cùng nương tựa trong tuổi đời chín chắn mà hồn thơ còn trẻ. Đó là lời tâm sự mộc mạc nhưng đẹp vô cùng. Với anh chị em VTLV, được đón một nhà thơ đến không chỉ là thêm một tác giả, mà còn là thêm một người anh lớn, một người bạn văn, một tiếng nói, một kỷ niệm, một vốn quý cho ngôi nhà chung.

Xin được thay mặt anh chị em Văn Thơ Lạc Việt, hân hoan và nồng nhiệt chào mừng thi sĩ Trần Vấn Lệ đến với gia đình VTLV. Kính chúc thi sĩ luôn dồi dào sức khỏe, tinh thần an vui, ngày ngày còn hứng khởi với “em” thơ, với bạn văn, với con cháu, với những buổi sáng có nắng, những chiều có gió, và những đêm còn muốn ngồi lại với một câu thơ chưa viết hết.

Xin chúc cho cuộc hội ngộ này, sẽ là một duyên lành đẹp của văn chương: để VTLV có thêm một bóng mát và để bóng mát ấy còn tiếp tục cho ra hoa, ra lá, ra thơ… thật lâu!…dài lâu!

Văn Thơ Lạc Việt hân hạnh chào mừng.

Lê Văn Hải

(Hội Trưởng VTLV)




VTLV – PHƯƠNG HOA: BÀI VIẾT THẮNG GIẢI THƯỞNG VĂN CHƯƠNG VBVNHN 2026

Vai Trò Và Sứ Mệnh Của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại

Phương Hoa

“The pen is mightier than the sword.”

(Ngòi bút còn uy quyền hơn cả gươm giáo)

— Edward Bulwer-Lytton (1839)

Câu danh ngôn bất hủ của Edward Bulwer-Lytton, và nhìn lại lịch sử của nhân loại toàn cầu, đã chứng minh một chân lý vô song. Những đế chế hùng mạnh nhất lịch sử thế giới như Đế quốc Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn lãnh đạo, chinh phục từ Á sang Âu, hay Đế quốc La Mã do Hoàng đế Augustus Julius Caesar chỉ huy, hùng mạnh vô địch làm ảnh hưởng cả châu Âu suốt 2.000 năm, rồi cũng lụi tàn. Nhưng những tác phẩm văn học được viết bằng máu và tâm huyết thì trường tồn vĩnh cửu. Gươm giáo chỉ có thể khuất phục thân xác trong nhất thời, ngòi bút lại có khả năng thu phục nhân tâm và dựng xây nên một quốc gia trong tâm tưởng, một “bờ cõi” thiêng liêng mà không bạo lực nào có thể chạm tới.

Chuyện người Do Thái dùng ngòi bút và ngôn ngữ để hồi sinh một quốc gia sau 2.000 năm phiêu bạt, cũng minh chứng cho điều này.  Đối với người Việt ly hương, chúng ta có may mắn và hy vọng lớn lao hơn người Do Thái. Chúng ta vẫn còn một “bóng hình quê mẹ” để hoài vọng và đấu tranh giành lại tự do. Niềm may mắn ấy được nhân lên gấp bội khi rời bỏ quê hương trước làn sóng xâm chiếm của cộng sản Bắc Việt, chúng ta đã “mang theo” Trung tâm Văn Bút Việt Nam, một tổ chức văn chương vốn đã được Văn Bút Quốc Tế công nhận thời Việt Nam Cộng Hòa.  Giờ đây, giữa diễn đàn thế giới, Trung Tâm Văn Bút Việt Nam vẫn tồn tại dưới danh xưng Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại (Văn Bút VNHN), cùng với 4 Trung tâm Văn Bút Vùng tại Hoa Kỳ: Văn Bút Đông Bắc Hoa Kỳ, Văn Bút Nam Hoa Kỳ, Văn Bút Đông Nam Hoa Kỳ, và Văn Bút Tây Nam Hoa Kỳ, tiếp tục gánh vác sứ mệnh dùng ngòi bút đòi công lý cho người dân nước nhà, nơi không có tự do đúng nghĩa.  

Vậy, trong kỷ nguyên đầy những biến động toàn cầu hiện nay, vai trò của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại thực sự là gì? Chúng ta phải hành động ra sao, sử dụng ngòi bút thế nào, để cứu lấy quốc hồn của dân tộc, khi quê hương đang nằm dưới sự lãnh đạo của một chế độ độc tài?  Xin mời chiêm nghiệm những nghiên cứu từ 4 chủ đề sau đây để hiểu rằng, “Tiếng Việt còn, Quốc gia Việt Nam còn”, và khi ngòi bút của tự do còn chấp cánh, sẽ có ngày toàn dân tìm lại tự do, dân chủ, và hạnh phúc.  

Giữ Gìn, Phát Triển Tiếng Việt và Văn Hóa Việt.

Trên hết, sự tồn vong của một dân tộc bắt đầu từ việc bảo tồn ngôn ngữ và di sản văn hóa của chính họ.  Xây dựng “Lãnh thổ tâm tưởng” trên trang giấy là việc tối cần. Thể chế chính trị Việt Nam Cộng Hòa đã không còn, và lãnh thổ địa lý đã bị chiếm đóng, chúng ta không để cho thực thể quốc gia bị biến mất hoàn toàn, mà phải chuyển vào “không gian văn hóa”, bởi vì văn hóa chính là biên giới cuối cùng của đất nước.  Để hiểu được “sứ mệnh sống còn” của ngôn ngữ trong việc hưng vong của quốc gia, chúng ta cần xem lại những trang sử vàng của nhân loại để

học hỏi từ kinh nghiệm phi thường của người xưa.  

Nhìn ra thế giới.  Không một minh chứng nào độc đáo hơn câu chuyện phục quốc hy hữu của dân tộc Israel.  Suốt 20 thế kỷ phiêu bạt, người Do Thái bị trục xuất khỏi quê hương, ly tán khắp bốn phương, từ Âu sang Á. Họ không có chính phủ, không có quân đội, và bản đồ thế giới suốt 2.000 năm ấy hoàn toàn không có tên nước Israel! Thế nhưng, họ có một thứ vũ khí tối thượng, là Kinh Thánh và tiếng Hebrew (tiếng Do Thái cổ).  Trong suốt hai thiên niên kỷ, tiếng Hebrew đã trở thành một “ngôn ngữ chết” theo đúng nghĩa học thuật.  Nó chỉ tồn tại trên các bổn kinh, trong các nghi lễ tôn giáo, chứ hoàn toàn không có ai sử dụng trong đời sống hằng ngày. Người Do Thái ở Đức nói tiếng Đức, ở Nga nói tiếng Nga. Nhưng bước ngoặt kỳ diệu đã đến vào cuối thế kỷ XIX, nhờ Eliezer Ben-Yehuda, một người Do Thái.  Ông nhận ra chân lý quý giá là trở về lập quốc, người Do Thái phải có một ngôn ngữ chung. Ben-Yehuda đã bắt tay vào một công trình không tưởng, soạn thảo cuốn Từ điển tiếng Hebrew hiện đại.  Kết quả, khi hàng triệu người Do Thái khắp nơi trên thế giới đổ về sa mạc Palestine để dựng nước vào năm 1948, dù không chung một dòng văn hóa bản địa, nhưng họ đã được gắn kết làm một nhờ cái ngôn ngữ vừa được đánh thức sau giấc ngủ 2.000 năm. Cuốn từ điển của Ben-Yehuda chính là mảnh “lãnh thổ” đầu tiên, là nền móng vững chắc nhất để xây dựng một quốc gia Israel hùng mạnh ngày nay.

Đọc lại sử nhà. Nếu kỳ tích Do Thái là bài học về sự kiên trì giữ gìn ngôn ngữ nơi viễn xứ, thì lịch sử Việt Nam là một thiên anh hùng ca về sức mạnh của lời thơ trong việc giữ nước. Trải qua 1.000 năm Bắc thuộc, các triều đại phương Bắc đã dùng mọi thủ đoạn đồng hóa tàn khốc nhất, hòng biến người Giao Chỉ thành thần dân của Thiên triều, xóa sổ tiếng Việt và phong tục Việt. Nhưng họ đã thất bại. Tiếng Việt vẫn âm thầm chảy trong ca dao, tục ngữ, trong lời ru của mẹ, để rồi bùng lên thành sức mạnh dời non lấp bể.

Và nếu như ở thế kỷ XV, nghĩa quân Lam Sơn đã dùng mỡ heo viết chữ lên lá cây để kiến gặm thành dòng chữ thiên định “Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần” nhằm thu phục lòng dân, thì trước đó bốn thế kỷ, Thái úy Lý Thường Kiệt đã đánh đòn tâm lý chiến bằng âm thanh còn “kinh điển” hơn thế.  Đó chính là sự kiện năm 1077. Khi hàng vạn quân Tống do Quách Quỳ chỉ huy lăm le cướp lấy bờ cõi, vận mệnh của nền độc lập non trẻ đang ngàn cân treo sợi tóc, Thái úy Lý Thường Kiệt đã dùng “mưu văn học” thay cho gươm đao. Giữa đêm đen tịch mịch, trong ngôi đền thờ hai vị thần Trương Hống và Trương Hát bên dòng sông Như Nguyệt, một giọng ngâm thơ kỳ bí vang lên như sấm, làm rúng động cả đất trời và run sợ lòng quân giặc:

“Nam quốc sơn hà Nam Đế cư,

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.”

Bài “Thần thơ” ấy chính là Bản Tuyên Ngôn Độc lập đầu tiên của dân tộc Việt. Lý Thường Kiệt đã vô cùng tài tình khi dùng chính chữ nghĩa, thứ “vũ khí tư tưởng” tối cao, để khẳng định chủ quyền. Ông không nói đất này thuộc về người Nam, mà ông khẳng định chủ quyền ấy đã được “định phận tại thiên thư” (sách trời đã ghi rõ). Sức mạnh của bài thơ có giá trị tương đương với mười vạn hùng binh. Nó bẻ gãy sức chiến đấu của quân Tống, làm suy sụp tinh thần kẻ thù trước khi tiếng trống trận thực sự vang lên. Lý Thường Kiệt đã thành công vang dội.  Ông là một vị tướng tài cầm quân giỏi, lại còn biết dùng cái tinh túy của ngôn ngữ và thơ ca để “hù dọa” quân giặc và khơi dậy ý chí của toàn dân tộc.  Đây là minh chứng hùng hồn nhất cho sự thành công của ngòi bút.

Cho nên, bước đi mang tính “chiến lược” của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại chính là biến ngôn ngữ thành một “chiến lũy kiên cố” để bảo tồn quốc hồn dân tộc nơi xứ người. Nhìn lại hành trình 51 năm viễn xứ, Văn Bút VNHN đã có những hoạt động đáng trân trọng, như cổ xúy các văn thi sĩ sáng tác theo dòng chảy “bốn mùa tám tiết” hàng năm, trợ giúp cho việc xuất bản, giới thiệu, ra mắt tác phẩm… Tuy nhiên, nếu nhìn thẳng vào thực tế, những sinh hoạt này vẫn mang tính chất “tức cảnh sanh tình”, nương theo cảm xúc và cảm hứng nhất thời của mỗi cá nhân, chưa thực sự kết tinh thành một tiếng gọi đồng lòng, chưa nêu cao nhất quán tinh thần yêu nước thương nòi, và lan truyền ý thức hệ phản kháng đúng mức. Để thực hiện sứ mệnh này, văn thi sĩ và giới trí thức Việt Nam hải ngoại không thể dừng lại ở việc ngắm hoa, vịnh nguyệt, ngâm thơ, phê bình sách… mà phải phát triển những phương pháp hành động cụ thể, quyết liệt và mang tính “cách mạng” hơn.

Hiện tại, dưới sự kiểm duyệt gắt gao và độc quyền của chính quyền trong nước, một giai đoạn văn học miền Nam tự do nhân bản đang bị xóa bỏ, hoặc bóp méo một cách tàn nhẫn. Trong bối cảnh ấy, trách nhiệm tối thượng của Văn Bút VNHN là tiến hành một cuộc “di tản văn hóa” quy mô lớn. Chúng ta phải chạy đua với thời gian để sưu tầm, thu thập, phục chế, và điện tử hóa các bản in nguyên bản của những tác phẩm văn hóa giá trị trước 1975. Bảo toàn nguyên vẹn di sản của cha ông chống lại sự bào mòn của thời gian và ý đồ xóa bỏ ký ức lịch sử của nhà cầm quyền mới, chính là nuôi dưỡng dòng máu chữ nghĩa thuần khiết của dân tộc vậy! 

Một trong những thủ đoạn tinh vi và tàn bạo nhất của chế độ độc tài xưa nay, là bẻ cong ngòi bút, viết lại lịch sử theo ý đồ chính trị của kẻ cầm quyền. Văn Bút VNHN, với đặc quyền tối thượng được sống trong không khí của tự do ngôn luận, phải gánh vác sứ mệnh làm “nhân chứng sống” trước tòa án lịch sử.  Sức mạnh phản kháng của văn học hải ngoại không dựa vào súng đạn hay bạo lực, mà nhắm vào sự thật của các thể loại Hồi ký và Văn học Thực chứng. Khuyến khích mọi người ghi lại chương sử đẫm máu và nước mắt của dân tộc.  Từ những cái chết hào hùng của 5 Vị Tướng Việt Nam Cộng Hòa trong ngày mất nước, những câu chuyện xé lòng về lao tù cải tạo, hành trình khủng khiếp trên biển Đông của thuyền nhân, và nỗi đau ly hương của người Việt. Mỗi trang hồi ký là một “cú đòn trực diện” vào bức tường mưu toan “hóa thạch lịch sử” của chính quyền quốc nội.

Một quốc gia bị “giam cầm” chỉ có thể được giải thoát khi tư tưởng của người dân được giải phóng khỏi sự mê lầm và sợ hãi. Văn Bút VNHN phải đóng vai trò là một “trạm phát sóng tư tưởng” đưa ánh sáng tri thức của nhân loại xuyên qua bức màn sắt kiểm duyệt dày đặc trong nước để đến được với người dân.  Để làm được điều đó, không phải chỉ sáng tác là đủ.  Chúng ta cần phát triển chiến lược dịch thuật và phổ biến tinh hoa hơn.  Dịch các tác phẩm kinh điển về triết học phương Tây, các tiểu luận về nhân quyền, dân chủ, và tự do tư tưởng sang tiếng Việt.  Sau đó, tận dụng triệt để sức mạnh vũ bão của internet, mạng xã hội, và các kênh truyền thông hiện đại để chuyển những giá trị này cùng với những tác phẩm yêu nước về quốc nội.  Khi tư tưởng độc lập và tinh thần phản kháng của người dân trong nước được đánh thức qua những áng văn chương khai phóng quốc gia, nền tảng của thể chế độc tài độc đảng sẽ tự động lung lay từ gốc rễ.

Mở Rộng Hoạt Động. Mời Gọi, và Kết Nạp Thêm Nhiều Trung Tâm Văn Bút Vùng Tại Hoa Kỳ và Thế Giới.

Nếu xem ngôn ngữ là chiến lũy bảo vệ quốc hồn dân tộc, các Văn Bút Vùng chính là những “pháo đài tiền trạm” giữ vai trò bảo vệ và lan tỏa sức mạnh của chiến lũy ấy. Một cơ thể muốn cường tráng thì các mạch máu phải lưu thông đến từng ngón tay, ngón chân.  Cho nên một tổ chức văn học đã lên tầm quốc tế như Văn Bút VNHN muốn tạo nên đại cuộc thì không thể chỉ gói gọn trong vài trung tâm đơn lẻ.

Nhìn lại lịch sử thế giới về phần này, chúng ta học được bài học vô giá từ Văn Bút Ba Lan thời kỳ Chiến Tranh Lạnh. Khi đất nước họ bị đặt dưới gọng kìm kiểm duyệt của bức màn sắt Liên Sô, các nhà văn Ba Lan lưu vong đã không đứng yên. Họ thiết lập các nhánh Văn Bút Vùng tại Paris, London, và New York. Chính mạng lưới liên hoàn này đã giúp họ xuất bản tạp chí Kultura, một biểu tượng văn học phản kháng bền bỉ, liên tục chuyền tư tưởng tự do về lại quê nhà, cuối cùng đã góp phần làm sụp đổ cả hệ thống độc tài.

Đối chiếu với thực tế, nước Mỹ có đến 50 tiểu bang, châu Âu có hàng chục quốc gia, và người Việt tị nạn đã có mặt khắp năm châu bốn biển. Con số 4 Trung tâm Văn Bút Vùng hiện tại của chúng ta quả thực quá khiêm tốn, như cánh én cô độc giữa bầu trời giông bão! Vì vậy, việc cần thiết của Văn Bút VNHN là mở rộng vòng tay, tha thiết gọi mời, và thuyết phục cộng đồng hải ngoại thành lập thêm nhiều chi nhánh Văn Bút mới.

Phải xây dựng thêm “Pháo đài tư tưởng” tại những nơi người Việt quy tụ đông đảo, quen thuộc với văn hóa Việt.  Tại sao những vùng như Seattle (Washington State), San Jose (California), Atlanta (Georgia)…là những “cái nôi văn hóa Việt” hay các quốc gia như Úc, Anh, Pháp, Đức, Canada, lại không có những Trung Tâm Văn Bút Vùng?  Mỗi chi nhánh được khai sinh tại các địa phương sẽ là một mái nhà chung để quy tụ các văn thi sĩ và các bậc thức giả, họ là những người hiểu rõ nhất “hơi thở và tâm tư” của cộng đồng. Chúng ta cần tạo “bệ phóng” cho các tài năng trẻ.  Giới trẻ Việt Nam ở hải ngoại thường bị rào cản ngôn ngữ làm mai một đi tình yêu nguồn cội.  Các Văn Bút Vùng nên tổ chức những lớp Việt ngữ, giảng thơ, giải thưởng văn chương, sinh hoạt cùng thanh thiếu niên tại địa phương.  Người Do Thái lưu vong nhờ các trung tâm văn hóa vùng đã giữ cho thế hệ thứ ba, thứ tư dù sinh ra ở Mỹ hay Âu châu vẫn có thể đọc, viết và tự hào về ngôn ngữ của họ. Các Văn Bút Vùng Việt Nam chúng ta cũng nên học hỏi họ để gánh vác sứ mệnh thiêng liêng đó. Nếu hợp lực, chúng ta sẽ dễ dàng bẻ gãy những mũi tên đánh phá.  Khi phân tán, chúng ta dễ bị bẻ gãy như từng chiếc đũa đơn lẻ.  Sự đánh phá có ý đồ chia rẽ sẽ bị vô hiệu hóa khi đối mặt với một mạng lưới Văn Bút đoàn kết. Khi một chi nhánh bị công kích, hàng chục chi nhánh khác trên khắp thế giới sẽ đồng loạt lên tiếng bảo vệ. Sự liên hoàn này tạo nên một áp lực dư luận vững chắc, khiến những kẻ có tâm địa phá hoại phải tự chùn bước.

Chúng ta cố gắng “góp gió thành bão”, gom những đốm lửa đơn lẻ thành một thái dương rực rỡ ấm áp.  Khi mạng lưới Văn Bút phủ rộng khắp năm châu, tiếng nói đại diện giới văn học Việt Nam trên diễn đàn Văn Bút Quốc Tế sẽ không còn là tiếng kêu đơn lẻ.  Đó sẽ là tiếng gầm vang dội của một mãnh hổ giữa rừng già, đủ sức lay động lương tri nhân loại và tiếp nội lực cho cuộc đấu tranh giành lại quyền tự do ngôn luận cho đồng bào quốc nội.

Khai Thác Sức Mạnh Trực Tuyến. Điện Tử Hóa Tư Liệu, Mở Thư Viện Online, Thành Lập Ban Dịch Thuật Đa Ngôn Ngữ Để Thu Hút Thế Hệ Trẻ.

Việc lập thêm các Văn Bút Vùng là để “tụ nhân”, thì việc mở thư viện trực tuyến (Online Library) và lập Ban Dịch Thuật chính là để “tụ khí”. Trong kỷ nguyên công nghệ cao toàn cầu, chúng ta không nên để văn chương nằm trên những kệ sách bám bụi hay trong những hiệu sách cũ ở các khu phố người Việt.  Nó phải được điện tử hóa và lưu trữ trên thư viện trực tuyến, và phải được dịch thuật để trở thành “tài sản chung” của nhân loại.

Lịch sử thời xưa cho thấy, khi bạo quyền muốn xóa sổ một nền văn hóa, việc đầu tiên là đốt sách và triệt hạ tri thức. Nhưng lịch sử cũng chứng minh, công nghệ thời nay đã bẻ gãy âm mưu đó. “Ngôi đền văn hóa trực tuyến” không thể bị tro tàn. Hãy nhìn vào dự án “khủng” của Thư Viện Vatican (Vatican Apostolic Library).  Họ đã thực hiện điện tử hóa nhiều chục ngàn bản thảo cổ quý hiếm để đưa lên không gian mạng, giúp người dân khắp thế giới tiếp cận miễn phí.

Văn Bút VNHN cũng cần phải xây dựng một “Ngôi đền văn hóa online”. Một thư viện trực tuyến lưu trữ toàn bộ các tác phẩm văn học giá trị miền Nam, sẽ là một pháo đài bất khả xâm phạm. Lửa của bạo quyền có thể đốt cháy hàng triệu cuốn sách, như những ngày sau tháng Tư 1975, nhưng tuyệt đối không thể chạm tới “đám mây dữ liệu” (cloud database) trên không gian mạng!  Thư viện trực tuyến chính là chiếc chìa khóa giúp cho bất cứ người Việt nào, dù ở quốc nội hay hải ngoại, chỉ cần một cú chạm màn hình là có thể tìm sự thật lịch sử và cội nguồn văn học nước nhà.

Chúng ta cũng cần một Ban Dịch Thuật đa ngôn ngữ cho thư viện này. Đó là chiếc chìa khóa vạn năng mở cánh cửa mời thế giới vào nhà.  Xưa nay chúng ta thường hãnh diện về văn chương Việt, và đau buồn về những biến cố bất hạnh của người Việt tị nạn, nhưng thế giới không hề hay biết vì rào cản ngôn ngữ.  Trong hai thập niên qua, thế giới ngưỡng mộ sự thành công của văn học Nam Hàn. Viện Dịch Thuật Văn học Đại Hàn (LTI Korea) đã tài trợ để dịch hàng ngàn tác phẩm sang tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức. Kết quả là những tác phẩm như The Vegetarian (Người Ăn Chay) của Han Kang đã xuất sắc đoạt giải Booker Quốc tế, đưa văn hóa Hàn Quốc vươn lên tột đỉnh vinh quang.

Cho nên, người Việt hải ngoại không thể chỉ viết cho đồng hương đọc.  Chúng ta cần dịch hết sách vở văn chương Việt sang tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha… Khi thế giới đọc và hiểu được nỗi đau, tinh thần quật cường của dân tộc Việt, Văn Bút Quốc Tế và các tổ chức nhân

 quyền toàn cầu sẽ tự động đứng về phía chúng ta.

Ai sẽ vận hành thư viện trực tuyến và thực hiện các bản dịch thuật đó?  Chính là thế hệ trẻ Việt Nam hải ngoại. Giới trẻ ngày nay là những “công dân toàn cầu” (digital natives), họ cực kỳ giỏi về công nghệ thông tin, đồ họa, AI, và sở hữu ngôn ngữ thứ hai (tiếng Anh, tiếng Pháp).

Văn Bút VNHN nên chủ động hợp cùng phụ huynh tạo ra các dự án hấp dẫn để thu hút giới trẻ.  Thay vì ép các em đọc những cuốn sách dày cộm, hãy mời các em tham gia thiết kế giao diện “Thư viện điện tử”, làm những video ngắn giới thiệu sách trên YouTube, TikTok, Telegram với ứng dụng công nghệ hiện đại. Hãy biến việc dịch thuật các tác phẩm của cha ông thành một niềm tự hào, một dự án “tìm lại cội nguồn” đầy kiêu hãnh của giới trẻ. Khi chúng ta khơi dậy ngọn lửa đam mê trong lòng thế hệ tiếp nối, và trao quyền cho họ viết tiếp lịch sử, Văn Bút VNHN sẽ không bao giờ sợ bị “già hóa hay mai một”, ngược lại, sẽ luôn tràn đầy sức sống trẻ trung, nhờ ngọn bút công nghệ làm nên lịch sử trong thời đại mới!

Vươn Ra Thế Giới Bằng Cách Kết Nối, Cùng Sinh Hoạt, và Khẳng Định Vị Thế Tại Văn Bút Quốc Tế (PEN International).

Phần cuối cùng này chính là bước chân “dấn thân ra biển lớn”. Văn Bút VNHN và giới cầm bút đừng để sự tồn tại của mình như một ốc đảo cô độc.  Sự hòa mình, kết nối chặt chẽ hơn nữa với Văn Bút Quốc Tế là quyền lợi tối ưu, là bước ngoại giao văn chương tối thượng, để mượn sức của công lý toàn cầu bẻ gãy gọng kìm độc tài.

Đọc lịch sử, chúng ta thấy rõ sức mạnh của Văn Bút Quốc Tế khi có sự đồng lòng của các trung tâm thành viên.  Có rất nhiều thông tin về chiến dịch “chấn động thế giới” năm 1960 của PEN International dành cho nhà văn Arthur Koestler khi ông bị kết án tử hình trong cuộc Nội chiến Tây Ban Nha.  Và làn sóng đấu tranh quyết liệt cho văn hào Salman Rushdie, khi hàng trăm Trung Tâm Văn Bút trên toàn cầu đồng loạt cất lên tiếng nói, họ đã tạo ra áp lực chính trị khổng lồ, buộc bạo quyền độc tài phải chùn bước, trả lại tự do cho những người cầm bút.

Sự kết nối đó không phải “câu chuyện viển vông”.  Nó vẫn đang diễn ra sống động trong hiện tại. Những email Văn Bút Quốc Tế gửi Văn Bút VNHN chia sẻ nhiều thông tin quan trọng và chiến lược cho mỗi hành trình của họ là minh chứng đắt giá.  Cuộc họp Zoom đặc biệt lúc 6AM, 28 Tháng 5, 2026 do Ủy Ban Dịch Thuật và Quyền Ngôn Ngữ (Translation and Linguistic Rights Committee) PEN International, Văn Bút VNHN đã trực tiếp mang tiếng nói vào diễn đàn.  Người viết chỉ là một cây bút hậu bối so với các “cây đa cây đề” trong Văn Bút Đông Bắc HK do nhà văn Hồng Thủy điều hành, nhưng vì tò mò đã ghi danh tham dự cùng Chủ tịch Cung Lan, và thật xúc động khi nghe ba người điều hành phòng Zoom là Urtzi, Sabrina, Abel trình bày những dự án sắp tới. Nhà văn Alena Laptenok – (PEN Belarus) chia sẻ, “Để chống lại việc tiếng bản địa bị đẩy ra bên lề, Văn Bút Belarus đã lập ban dịch thuật trực tuyến, tập hợp các chuyên gia, dịch những tác phẩm văn học kinh điển thế giới từ các thứ tiếng khác sang tiếng Belarus, để truyền bá đến giới trẻ.”  Đó là những điều Văn Bút VNHN cần làm.

Nhịp cầu kết nối của Văn Bút VNHN với Văn Bút Quốc Tế cũng đã tạo được những thành quả

lâu nay, nhưng chưa đủ sức mạnh để cứu giúp được những ngòi bút cô thế.  Để tiếng nói ngày càng mạnh mẽ, Văn Bút VNHN nên khuyến khích giới trẻ tham gia, và chủ động ứng cử vào các vị trí Ủy Ban của Văn Bút Quốc Tế. Giới trẻ viễn xứ, với lợi thế tuyệt đối về ngôn ngữ bản địa và sự am tường công nghệ kết nối toàn cầu, là những “đại sứ ngoại giao” văn hóa hoàn hảo. Sự hiện diện của các em ở các vị trí cấp cao của quốc tế sẽ là câu trả lời đanh thép nhất, cho thấy sức sống mạnh mẽ của Văn Bút VNHN.

Từ những tấm gương lịch sử và các phương án hữu ích đã phân tích trên đây, chúng ta thấy văn chương không đơn thuần là thú vui để “chơi cùng chữ nghĩa”.  Mà cao quý hơn, văn chương là một “thực thể sống động” mang hơi thở của quốc gia.  Trải qua hơn nửa thế kỷ ly hương,Văn Bút VNHN đã từng chao nghiêng theo vận nước.  Con thuyền văn chương ấy đã nếm đủ mùi vị đắng cay của nhân tình thế thái. Có những khúc quanh lịch sử, lòng người ly tán, nội bộ nảy sinh những cảnh “Gà nhà bôi mặt đá nhau!”.  Nhưng, nhờ anh linh tiên tổ và hồn thiêng sông núi hộ trì, đến giờ phút này, Văn Bút VNHN vẫn tồn tại và đồng hành cùng Văn Bút Quốc Tế cất lên tiếng nói bênh vực cho những ngòi bút bị đè ép, mất tự do nơi thế giới xa xôi và ngay tại quê nhà. Văn Bút VNHN cần là một “ngọn hải đăng” không bao giờ tắt. Khi các nhà văn trong nước gặp khó khăn, thì những người ở hải ngoại có quyền tự do sử dụng để viết thay cho những người không được nói.

Trộm nghĩ, cộng đồng Việt cần nhận biết và trân quý công lao cùng sự hy sinh thầm lặng của những người “đứng mũi chịu sào”. Tuy thành quả của Văn Bút VNHN chưa đáp ứng đủ đối với sự cần của đất nước, nhưng ít ra họ đã cố gắng làm việc hoàn toàn bất vụ lợi, vắt cạn tâm lực chỉ để giữ cho ngọn lửa Văn Bút VNHN không bị lụi tàn. Thay vì chỉ trích, tại sao chúng ta không cùng tham gia xây dựng?

Nhân đây, người viết xin gửi đôi lời tâm huyết đến những ai đang dùng ngòi bút để gieo rắc mầm mống chia rẽ. Văn chương vốn dĩ sinh ra để tạo những nhịp cầu tri âm, không phải để dựng lên sự chia rẽ thù hằn. Thay vì biến chữ nghĩa thành vũ khí sát thương nhau, tại sao không dùng nó để tạo mối chân tình giữa những người con xa xứ? Cuộc đời của người cầm bút dù có ngắn ngủi, nhưng tấm lòng gửi lại cho văn nghiệp sẽ còn vang vọng đến thiên thu! Xin hãy buông bỏ những tị hiềm cá nhân, để cùng hướng về đại cuộc! Hãy trả lại sự thanh cao cho giấy mực, cùng nhau vun quén để mảnh vườn ngôn ngữ Việt thêm xanh tươi.  Khi bão táp qua đi, thời gian lắng xuống, thứ duy nhất giúp chúng ta nhận ra nhau chính là dòng máu Việt đỏ thắm và tiếng nói Việt thanh cao của dòng giống họ Hồng Bàng! Sự đánh phá, vô hình trung đang làm giảm đi giá trị, và làm suy yếu tiếng nói đại diện của giới văn học Việt Nam trên diễn đàn Văn Bút Quốc Tế. Hành động ấy sẽ làm suy yếu đi tinh thần giúp đỡ những nạn nhân đang quằn quại dưới ách bạo quyền.  Quan trọng hơn hết, xin hãy giữ gìn mảnh đất văn chương thuần khiết để thế hệ tiếp nối nhìn vào bằng sự tôn kính những người đi trước, và vững vàng cất bước theo sau, tiếp tục dùng ngọn bút kiên cường viết nên những trang sử mới.

Cuối cùng, xin trân trọng gửi đến các bậc thức giả của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại cùng những văn thi sĩ đồng hành trong và ngoài nước.  Xin đừng để những cơn gió ngược làm chùn bước chân thiên lý! Những việc quý vị đang tận hiến, từ việc bảo tồn Việt ngữ, đến việc nâng đỡ những tiếng nói bị đàn áp, kết nối sự nghiệp của các ngòi bút kiên cường vào sức mạnh vô biên của Văn Bút Quốc Tế, chính là sự tiếp nối hào hùng, bất khuất của cha ông.

Những viên đá ném xuống mặt hồ chỉ có thể tạo ra những gợn sóng lăn tăn nhất thời, tuyệt đối không bao giờ làm vẩn đục được dòng hải lưu sâu thẳm của nghĩa đồng bào và tình yêu văn hóa Việt vốn đã kết tinh thành “kim cương” tự ngàn xưa! Văn chương chân chính sẽ luôn có sức mạnh tự bảo vệ mình, và những người phụng sự nó bằng trái tim chân thành chắc chắn sẽ được lịch sử ngàn đời trân trọng ghi nhận.

   Phương Hoa –Văn Bút Vùng Đông Bắc HK.      

**

Nguồn tài liệu tham khảo:

*Về trận tuyến sông Như Nguyệt của Lý Thường Kiệt:

 Hoàng Xuân Hãn (1949). Lý Thường Kiệt: Lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý. Nhà xuất bản Sông Nhị (Bản in lưu hành tại Miền Nam trước 1975).

*Về mưu kế viết chữ lên lá của Nguyễn Trãi:

 Trần Trọng Kim (1971). Việt Nam Sử Lược (Quyển I, Chương XIV: Nhà Hậu Lê). Trung tâm Học liệu xuất bản, Bộ Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa.

*Văn Bút Quốc Tế (PEN International):

https://www.pen-international.org/what-we-do

*Sự kiện giải cứu nhà văn Arthur Koestler (Năm 1937):

*Văn học Hàn Quốc qua Dịch thuật Tác phẩm “The Vegetarian”:

https://thebookerprizes.com/the-booker-library/books/the-vegetarian

*Tạp chí Kultura của Ba Lan:

https://eurasia.omeka.fas.harvard.edu/exhibits/show/distant-kultura

*Trang Điện Tử Tư Liệu Toàn Cầu Của Tòa Thánh Vatican (DigiVatLib) – Digital Vatican Library – DigiVatLib:

 (https://digi.vatlib.it/)

*Sự Trỗi Dậy Của Quốc Gia Do Thái Từ Đống Tro Tàn – History of Israel and Establishment – Britannica:

(https://www.britannica.com/place/Israel/Establishment-of-the-state)