THƠ SONG NGỮ – THANH THANH -HOÀNG LONG HẢI

MotCoiXaNguoi.jpg

Một Cõi Xa Người

Em đi mang nỗi buồn thiên cổ

Ta đứng nơi này ngọn lửa than

Buồn trôi theo gió đi biền biệt

Lửa ngấm thời gian cũng lạnh tràn

Một thân nơi ấy, em nhìn lại

Tự thấy hồn em khóc biệt ly?

Hỡi ơi mây trắng trôi về núi

Còn lại trong ta chút ngậm ngùi

Ngàn năm với một ngàn năm nữa

Nát đá phai vàng cõi tử sinh

Nghe như nhân thế còn hơi thở

Ai vẫn trông ai mắt mỏi nhìn

Ở đây thăm thằm đời mưa gió

Gió gọi em về, ta đợi đây

Ngoảnh lại quê làng tre quạnh quẽ

Con sông thơ ấu nước vơi đầy

Nửa đêm chợt thức hồn phiêu lãng

Một nửa đời ta lỗi hẹn người

Vẫn cứ tiếc hoài sao lỗi hẹn

Đời như con nước chẳng buồn trôi

Mai mốt giong buồm ra biển rộng

Chân mây ai đứng gọi hồn ta

Có phải ngàn năm em đứng đó

Ôm nàng Tô Thị ngó trăng tà

Về đâu? Ta sẽ về đâu nhỉ

Có đứng cùng em bạc mái đầu

Bao lâu trời đất còn dâu bể

Vọng hồn cố quốc tiếng thương đau

Khóc chi? Ta vẫn còn khóc mãi

Dòng lệ tuôn ngoài chốn viễn khơi

Đời vẫn trôi xa ngàn dặm thẳm

Mượn “be” Phạm Thái để quên đời

Ta vẫn cố quên, mà quên được?

Làm “con ngựa đá lội qua sông”

Tiếc một đời trai sông đã cạn

Bao nhiêu xương máu đã khơi dòng

Ừ nhỉ! Ta mê đời vọng ngữ

Một cõi hư huyền tiếc mãi chi

Ta lại nhìn ta lòng chợt tỉnh

Trăm năm “thân thế lỡ qua thì”!

             HOÀNG LONG HẢI

            A World Away

You have left taking with you the eternal dole

And I remain here with the kiln of charcoal.

Sadness has gone with the wind to vanish forever;

Fire extinguished, time also grown cold however.

Alone in that domain you look back in frustration,

Feel for yourself your soul weeping separation?

Oh clouds, white clouds that drift to mounts ashen,

There still is in myself such a bit of compassion.

A thousand years and one more thousand a year

Rocks crumple, gold dissolves in this earthly sphere

But as long as there still is breath in this existence,

One is continuing to expect another at no distance.

Life here is rain and wind in a profound state;

That wind calls you back here where I am to wait.

Bach around is the native village bamboo desolate,

The childhood’s river water up and down at its fate.

Suddenly waking at midnight from a certain dream:

Half of my life I have broken my promise – I deem.

Always regretting that I failed by my word to abide,

So life is like the stagnant spring not to stir its tide.

I imagine someday I unfurl the sails to the sea wide,

Someone at the horizon calls my soul to her side.

Is that you stand there a thousand years through

Embracing in the moon the husband-waiting statue?

Where to go? Shall I go to what direction, gateway?

Shall I stand together with you until hair turns grey?

As long as vicissitudes still exist in this worldly life,

Tragic echoes of our old country’s soul will grow rife.

Weep? I will always cry out of my deep emotion,

The stream of tears will effuse in the distant ocean.

Life is still elapsing thousand miles far-off in brine;

Frustrated, to forget things one has recourse to wine.

I have tried to forget, but how could I forget?

Even stone war-horses did cross rivers to pay the debt.

So to regret such youth, watercourses have gone dry;

How much blood and bones did the influx come by!

Oh well! I have used to admire illusory, alluring lies:

Nothing too repent – of wild dreams under the guise.

Looking back to myself suddenly wakes up my mind:

My human condition in life has ruefully fallen behind.

Translation by THANH-THANH

Thanh-Thanh.com

LeXuanNhuan.com




THƠ SONG NGỮ- THANH THANH -Thái Quang Đáng.

Ngày Còn TrẺ                   

Vào thưở đó, tôi còn trẻ lắm                          

Trong tu viện khép kín bốn bề                       

Tôi thầm lặng, ngày đêm cầu nguyện            

Chúa trong tim, chỉ Chúa mà thôi                 

*
một trưa, lén dòm song cửa                           

Trên lầu cao, dưới đường, hàng me               

Trời ! Con gái ! Nón lá che tóc !                   

Khúc khích cười, chạy nhảy tung tăng          

*
Lượm me dốt, khum mông tròn lẳng             

Nghe xao xuyến mà thiệt không biết             

Vô thư viện, rình rình đọc sách:                    

Lời Chúa phán ” Trái Cấm Đó Con ”            

Con ăn vô là con sẽ chết                                

Suốt đời con chỉ khổ mà thôi                         

Vô nhà thờ, Tôi lần chục chuỗi                     

Cầu xin cho con giữ lòng trong                     

*
Nhưng khốn nỗi tôi càng cầu nguyện            

Hình ảnh đó chiếm ngự trong lòng                

Chúa không thấy mà thấy… con gái…???      

Xin lỗi Chúa! Con thèm…TRÁI CẤM…!!!   

                  Montreal , Oct. 29 , 2014             

                  Thadée Thái Quang Đáng

         THE GREEN DAYS

In those days, I was still small and slight,

Living in the cloister all doors shut tight,

Day and night quietly with prayers in concord,

I prayed to God, in my heart the only Lord.

*
That noon from high I stealthily determined

To peep through railings down at the tamarind:

My God! Girls! under palm leaf conical hats,

They giggled, bent down, swaying their plats.

*
They picked up the tamarind, showing their rump:

I unconsciously got upset  bottoms so plump!

I went into the library, sneakily read the books;

God said, “Son, they’re forbidden fruits, hooks!”

*
“In the day you eat from them you will die!”

“All your life you will be miserable thereby!”

Back in, I had my rosary to say and reduplicate

Praying to help me keep my soul immaculate.

*
But, alas, the more I prayed to be a man kind,

The more that image invaded, ravished my mind.

While I saw no God, I only saw girls, beauts.

Forgive me, God! I lusted after forbidden fruits!

                  Translation by THANH-THANH

www.Thanh-Thanh.com

www.ThanhThanh.us

www.LeXuanNhuan.com




Thơ Song Ngữ: Huỳnh Văn Hạng-THANH THANH

MOTHER’S HANDS

Oh my god mother’s hands

Hands bathing childhood

Breastfeeding hand

Hand in hand with the foolishness

Swinging hammock, hot afternoon

Late night blanket, hand to comfort dream

Holding the baby in the windy day

Hands gently fanning, voice lulling

Mother’s hand guides me step by step

The clumsy feet of the beginning

Mother’s hands lift her child into adulthood

Away from you for a few days, Mom is waiting.

How many times have I fallen, my mother’s age hurts?

Hard days with a young child

Mother only hands, but all

Love spreads forever…

Mom, under the shadow of your hands

My life is a dream.

HUYNH VAN HANG

*

MY MOM’S HANDS

Oh, my mother’s hands were so fairy:

They cool showered my childhood – how merry!

They held her breast to breastfeed me in purity.

Her hands lead me through my age of immaturity.

Her hands swung the hammock in hot afternoons,

And blanketed me in deep nights in dream tunes.

Her hands hug me on every windy day.

Her hands fanned me, she hummed in her way.

My mother’s hands lead me step by step,

My clumsy feet in the beginning like a prep.

My mother’s hands lifted me into adulthood.

A few days away from me, awaiting her standing.

How many times have I fallen, hurt her heart!

She spent hard days with her son at life’s start.

My mother has only two hands, but they are all.

My love for her spreads endlessly to enthrall.

Mom, with the rare care of your fairy hands,

My existence is nice dreams in Heaven’s plans.

Translation by THANH-THANH

lexuannhuan.tripod.com




(Hồi ký) NỮ-SĨ VI KHUÊ – ĐẠI-TÁ NGUYỄN HỮU DUỆ – LÊ XUÂN NHUẬN

NỮ-SĨ VI KHUÊ

TRỤ-SỞ Ðài Phát-Thanh Huế tọa-lạc ngay trên bờ Hữu-Ngạn của Sông Hương, cạnh mé Tây của đầu Cầu Trường-Tiền, đối-diện Đại-Khách-Sạn Morin bên kia Đường Lê-Lợi sát góc Đường Duy-Tân.

Thuở ấy, chưa có các Ðài cấp Tỉnh, Ðài Huế là Tiếng Nói chung của cả Miền Trung, nên máy phát rất mạnh, không thua Ðài Quốc-Gia và Ðài Pháp-Á (Radio France-Asie) của Pháp ở Sài-Gòn, nghe được cả ở Miền Bắc lẫn Miền Nam Việt-Nam.

Cả nước chưa có hệ-thống truyền-hình; cả Miền Trung chỉ có vài ba tờ nhật-báo ở Huế mà thời-sự thì dựa theo tin-tức đọc chậm của Ðài Sài-Gòn. Trong tình-hình đó, Ðài Huế là món ăn tinh-thần hằng ngày của đồng-bào Miền Trung, và của cả những người ở phiá ngoài Tỉnh Thanh-Hoá và ở phiá trong Tỉnh Bình-Thuận mà có gốc-gác hoặc liên-hệ đời sống ở Miền Trung.

Ngoài những tiếng hát của các nam+nữ ca-sĩ mà một số về sau vào Sài-Gòn thì trở thành danh-ca của toàn-dân, giọng bình và ngâm thơ của các thi+kịch-sĩ tên-tuổi một thời, tiếng hát của các danh-ca quốc-tế trong các chương-trình nhạc ngoại-quốc do thính-giả yêu-cầu, và giọng đọc xì-xồ của mấy người Pháp trong chương-trình vô-tuyến của Service d’Information, những ai đã từng nghe Ðài Huế cũng đều xác-nhận rằng người nữ-xướng-ngôn chính của Ðài này có một giọng đọc truyền-cảm vô-cùng. Giọng đọc của người con gái Huế ấy chẳng những dịu-dàng, ngọt-ngào, ấm-cúng, hấp-dẫn, mà còn trí-thức, vì không bao giờ vấp phạm lỗi-lầm khiến thính-giả khó chịu hoặc làm sai lạc ý-nghiã của câu văn.

Những người hiếu-kỳ đi ngang qua Ðài Huế thường để ý thấy có một thiếu-nữ be-bé xinh-xinh, cư-ngụ trong một căn phòng khiêm-tốn ở tầng trên của một buồng-kho bên hông trụ-sở Ðài. Một cầu thang nhiều bậc xi-măng từ mặt đất bắc lên cửa phòng làm cho căn phòng có vẻ cao hơn, khiến các thanh-niên ái-mộ đặt cho người-đẹp và căn phòng ấy cái mỹ-danh “nàng bồ-câu trên chuồng bồ-câu”.  

Ðó chính là cô xướng-ngôn nói trên.

Sau ngày hồi-cư vào đầu năm 1947, tôi thường đến Ðài Huế để góp phần vào các chương-trình kịch vô-tuyến hằng tuần, kể cả việc trình-bày một số kịch thơ dã-sử và xã-hội của tôi, trong đó nhạc-sĩ Trịnh Văn Ngân là một trong những cây ngâm tuyệt-vời.

Do đó, tôi quen biết “nàng bồ-câu trên chuồng bồ-câu”. Tên nàng là Trần Trinh Thuận, tức nữ-sĩ Vi Khuê, một biên-tập-viên chính-ngạch có giọng nói trời cho nên kiêm luôn phần-vụ xướng-ngôn.

Tuy Vi-Khuê làm việc ở một cơ-quan thông-tin tuyên-truyền đậm màu chính-trị, nhưng những bài thơ của nàng hồi đó chỉ là tâm-tình của bạn gái ở lứa tuổi hai mươi, dễ thương như “con nai vàng ngơ-ngác, đạp trên lá vàng khô”.

*

Tôi thì lăn xả vào giữa tình-hình rối-ren cuả Quê Hương.

Dù đã từng bị giặc Pháp tù đày, tôi vẫn giao-du tuy không đồng-ý với Hồng Quang, chủ-nhiệm báo “Ý Dân”, là người chỉ chọn vũ-lực để chống chủ-nghiã thực-dân; và vẫn cộng-tác tuy không thuận-tình với Phạm Bá Nguyên, chủ-nhiệm báo “Công Lý,” là kẻ nhận Ðệ-Tứ thay cho Ðệ-Tam. Tôi lui+tới với Duy Sinh nhưng chưa yên tâm vì huyền-thoại văn-hoá điệp-báo của Nguyễn Bách Khoa. Tôi rất đau lòng vì đồng-bào đói khổ, nhưng chỉ hiệu-chính giùm thi-pháp chứ không tán-thành nội-dung khích-động giai-cấp đấu-tranh trong thi-tập “Tiếng Nói của Dân Nghèo” cuả Vân Sơn PMT (Phan Mỹ Trúc). Tôi thân+thương Trụ Vũ và Quách Thoại nhưng không hợp tính với họ vì lối sống phóng-túng của hai nghệ-sĩ thân-nhân ấy của Vi Khuê. Tôi tiếp-xúc với tác-giả nhưng không khép mình trong triết-thuyết bi-quan trong “Con Thuyền Không Bến” cuả Nguyễn Vũ Ban. Tôi thả hồn lên cõi siêu-nhiên nhưng không bước vào nương nhờ Cửa Thiền trong “Không Bến Hạn” cuả Huyền Không.

Tôi ủng-hộ cả hai đường-lối phục-hồi độc-lập quốc-gia: công-nghiệp kháng-chiến vũ-trang chân-chính của người dân, và nỗ-lực ngoại-vận ôn-hoà của các chính-trị-gia không-cộng-sản trong lòng Thế-Giới Tự-Do.

Riêng ở phiá bên này lằn ranh, tôi nhận thấy Cựu-Hoàng Bảo Ðại thì quá yếu mềm mà Đế-Quốc Pháp thì còn luyến tiếc giấc mơ đô-hộ Việt Nam, nên viết cuốn truyện dã-sử “Trai Thời Loạn” để gửi gắm ý mình, và kết-quả là tôi bị cơ-quan An-Ninh Quốc-Gia bắt giam; sau nhờ có chính-khách Cao Văn Chiểu, Giám-Đốc Thông-Tin Lê Tảo, cùng nhiều nhân-sĩ khác, can-thiệp với Thủ-Hiến Phan Văn Giáo, tôi mới được thả ra.

Ðể tạo một thế đứng vững-vàng hơn, tôi thành-lập Thi+Văn Ðoàn “Xây-Dựng”, xuất-bản các tác-phẩm của mình và của các bạn từ Bắc chí Nam. Mới bắt đầu thì Nhất Hiên (Phan Nhật Hiến) bỏ theo Việt Minh, và nửa chừng thì Như Trị (Bùi Chánh Thời) cũng nhảy lên chiến-khu.

Tôi hướng về nền dân-chủ và lòng hào-hiệp cuả Hoa Kỳ như tia sáng ở cuối đường hầm.

*

Tháng 4 năm 1954, tôi vào phục-vụ tại Phòng 5 Bộ Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu với tư-cách văn-nghệ-sĩ & ký-giả bị/được động-viên chuyên-môn. Lê Ðình Thạch và Huy Vân thì kỳ-cựu, Tô Kiều Ngân gốc Nha Thông-Tin cũng đã thành quân-nhân. Tchya (Ðái Ðức Tuấn) và Nhất Lang thì được đồng-hoá sĩ-quan.

Ngoài việc viết bài cho báo “Tiếng Kèn”, cho các đơn-vị Võ-Trang Tuyên-Truyền ở tuyến đầu, và cho chính tôi đi vận-động trong dân-nhân, tôi còn là phóng-viên chiến-tranh và biên-tập-viên chính cuả Ðài “Tiếng Nói Quân Ðội” tại Miền Trung.

Do chương-trình phát-thanh này, mà tôi là giám-đốc, tôi mới đặt phòng-giấy ngay tại trụ-sở của Ðài Phát-Thanh Huế, và gặp mặt Vi Khuê thường-xuyên.

Thay chỗ nhạc-sĩ Anh Chương, tôi cử Lâm Tuyền làm Trưởng Ban Tân-Nhạc; nhưng rồi tôi làm lơ cho Lâm Tuyền đào-ngũ vì anh quá chán chuyện đời.

Tôi đưa Văn Giảng lên thay.

Hà Thanh mới bắt đầu vào nghề.

Những lần xe Jeep bị hư, tôi đạp xe-đạp qua chở Kim Tước từ cư-xá Nha Thông-Tin ở bên kia cầu Trường Tiền. Cặp Châu-Kỳ−Mộc-Lan của giới ca-nhạc, cũng như cặp Hoàng-Pha−Phương-Khanh của giới văn+thơ, cũng đã từng ở đây.

*

Rồi Thoả-Ước Geneva ra đời.

Trong hội-nghị quốc-tế ấy, có ba nhân-vật Việt-Nam đã được thế-giới chú ý hàng đầu: Cô Thiên-Hương, con gái của nhà văn Hồ Hữu Tường, là nữ ký-giả duy-nhất, nói được nhiều ngoại-ngữ và trẻ đẹp nhất trong giới truyền thông; Cụ Võ-Thành-Minh, một lão-thi-sĩ, từ Huế đến, đã bí-mật vượt hàng rào Cảnh-Sát Thụy-Sĩ vào cắm trại trên Bờ Hồ Leman trước hội-đường, tuyệt-thực thổi sáo nói lên nỗi lòng của người dân Việt-Nam mong-muốn Thống-Nhất và khao-khát Tự-Do; và Ông Nguyễn-Quốc-Ðịnh, Ngoại-Trưởng cầm đầu Phái-Ðoàn Quốc-Gia Việt-Nam của chính-phủ Bảo Ðại, đã từ-chức để khỏi ký tên vào văn-bản thừa-nhận việc đất nước bị qua-phân.

Thủ-Tướng Ngô Ðình Diệm cử Ông Trần-Văn-Ðỗ đến thay. Pháp và Việt-Minh thoả-thuận ngưng bắn, lấy vĩ-tuyến 17 ngang sông Bến Hai làm ranh-giới Bắc–Nam.

*

Ðại-Tá Trương Văn Xương, Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu, thuộc cánh Tổng-Tham-Mưu-Trưởng là Trung-Tướng Nguyễn Văn Hinh (con của cựu Thủ-Tướng Nguyễn Văn Tâm, thân-Pháp), mở một chiến-dịch đưa quân từ Huế vào tiếp-thu các Tỉnh phiá trong. Theo chương-trình chính-thức thì Thủ-Tướng Diệm sẽ từ Sài-Gòn ra chủ-toạ lễ thiết-lập Chính-Quyền Quốc-Gia tại vùng đất mới lấy lại này. Theo kế-hoạch riêng của cặp Hinh+Xương thì Diệm, trên đường đi từ Huế vào Quảng-Ngãi, sẽ bị lính và dân dàn chào bằng tiếng hô “Đả Đảo” cùng với trứng thối và cà chua. Câu hỏi nổi bật là “Mười vé phi-cơ cho gia-đình họ Ngô, hay là mạng sống cuả cả trăm ngàn binh sĩ Quốc-Gia?” Các bức tường vẽ khẩu-hiệu đã được xây lên; và biểu-ngữ, bích-chương, cùng truyền-đơn liên-hệ đã được chuẩn-bị sẵn dọc đường rồi.

Phòng 5 Quân-Khu đương-nhiên đảm-trách công-tác tác-động tinh-thần này.

Thành-Phố Huế ngẫu-nhiên được chia thành hai trận-tuyến. Bộ Tư-Lệnh Quân-Khu thì đóng trong Ðại-Nội, phiá Bắc của Sông Hương; nhà Ông Ngô-Ðình-Cẩn, trung-tâm quy-tụ cuả gia-đình họ Ngô, thì nằm trên Xóm Phú-Cam, phiá Nam của Sông Hương. Bộ-phận “Tiếng Nói Quân-Ðội” của tôi lại đặt trụ-sở tại Ðài Huế, trên bờ phiá Nam. Ðể biểu-dương lực-lượng, Quân-Khu phái đến hai chiếc xe-tăng, án-ngữ hai bên sân, trước Ðài Phát-Thanh. Các chương-trình vô-tuyến dân-chính chỉ có nội-dung lập-lờ, thông-tin hàng-hai.

Ở Quảng-Ngãi, cán-bộ Việt Minh gài lại xúi giục dân-chúng phản-kháng lực-lượng tiếp-thu, vì thấy vẫn có Cố-Vấn Pháp trong hàng-ngũ Quốc-Gia; súng nổ, người chết; Ủy-Hội Quốc-Tế Kiểm-Soát xen vào.

Ðảng Cần-Lao, qua nhạc-sĩ Ngọc Linh, móc nối tôi.

Tôi không theo đảng-phái nào hết, nhưng quyết-định ủng-hộ Thủ-Tướng Diệm, với chủ-trương “Ðả Thực, Bài Phong, Diệt Cộng”, để được sự giúp-đỡ cuả Hoa-Kỳ. Quốc-gia giàu mạnh nhất thế-giới này đã dìu-dắt Tây-Ðức, nâng-nhấc Nhật-Bản, và cứu-vớt Ðại-Hàn. Trung-Tá Nguyễn Văn Bông, Tư-Lệnh Mặt Trận Nam–Ngãi, đã phát-biểu với Trung-Tá Nguyễn Văn Tố, Phó Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu, trong khi ổng lái xe ra đón Tố vào:

– Mình cộng-tác với thằng giàu thì hẳn sướng hơn phục-vụ cho thằng nghèo!

Tôi thảo truyền-đơn, tài-liệu, viết bài tuyên-truyền cho chí-sĩ họ Ngô.

Bộ Tham-Mưu của Xương không tin-tưởng ở tôi. Họ lập hẳn một Ðài Phát-Thanh riêng, trong Thành-Nội― dân-chúng gọi là “Đài bí-mật”để tự mình phổ-biến lập-trường chống-Diệm và hô-hào dân-chúng nổi lên.

Không còn bị Cấp Trên ràng buộc, tôi công-khai dùng “Tiếng Nói Quân Ðội” để hậu-thuẫn cho Diệm và Hoa-Kỳ.

Hồi ấy, chỉ có một số trong giới Nho-học lớn-tuổi nghe danh Ông Ngô-Ðình-Khả, còn đa-số dân-chúng nói chung thì ít ai biết tên Ông Ngô-Ðình-Diệm, ngoại-trừ một nhóm trong giới Kitô-Giáo có đọc tờ báo “Tinh Thần” thời-gian gần đó.

Chương-trình phát-thanh của tôi có ảnh-hưởng rất lớn trong quần-chúng, vì làn sóng của Ðài Huế phát đi rất mạnh và xa, trong lúc “Ðài bí-mật” thì nhỏ và yếu, chỉ lẩn-quẩn vùng gần, lại khi-có khi-không.

Tôi đã lèo-lái để người dân xứ Huế, nghe Đài “của tôi” và trông thấy hai chiếc xe-tăng trấn đóng trước Ðài mà tưởng và tin là phe mạnh nhất trong Quân-Lực đã đứng hẳn qua phía Diệm, nên biệt-phái chiến-xa đến cho tôi để bảo-vệ Tiếng Nói của mình, chống lại phe yếu thế Hinh–Xương.

Toàn-quốc, nhất là Sài-Gòn, hướng về xứ Huế, gốc-gác của họ Ngô, lấy đó làm chỉ-dấu mà lên tinh-thần.

Từ đó, các phần-tử thân-Diệm mới dám đứng ra khỏi vòng giới-hạn của mình mà hoạt-động rộng-rãi trước mắt mọi người.

*

Trong những tháng ngày gay-cấn ấy, cứ mỗi lần từ các cuộc hành-quân hoặc từ các hoạt-vực bên ngoài trở về với phòng-giấy tại Ðài, tôi lại cảm thấy nhẹ-nhõm cả người, khi gặp mặt lại những nữ-nghệ-sĩ trẻ đẹp tươi vui, như bướm, như hoa, tô thắm cuộc đời. Trong vườn thanh+sắc ấy, Vi Khuê của giới thi+văn vẫn gần-gũi với tôi hơn các bạn bên giới cầm+ca. Nhưng “nàng bồ-câu” vẫn vô-tư-lự như mọi ngày, đâu biết đầu-óc tôi đã bỏng-rát những tính-toán mưu-mô, thân-xác tôi đã bầm-dập những gian-nan nguy-khốn, và chỉ trở về văn-phòng để thư-giãn cho những căng-thẳng thần-kinh.

*

Thủ-Tướng Ngô Đình Diệm thắng phe Hinh+Xương.

Hoa-Kỳ mở Phòng Thông-Tin tại Đại-Khách-Sạn Morin. Giám-Ðốc Thompson A. Grunwald là viên-chức dân-sự Mỹ đầu tiên đặt chân đến Miền Trung. Tôi tổ-chức dạy tiếng Anh trên Ðài, có Tôn Thất Ðát phụ-lực; tham-gia thường xuyên là Thompson, và bất-thường là bất-cứ người ngoại-quốc nào nói tiếng Anh mà tôi gặp được, bắt đầu từ Đại-Tá Richardson, Trưởng Phái-Ðoàn quân-sự Hoa-Kỳ T.R.I.M.

Lớp dạy tiếng Anh của tôi là lớp đầu tiên trong lịch-sử dạy tiếng Anh qua làn sóng truyền-thanh cho thính-giả Việt-Nam.

Radio Hue.jpg

Nguyễn Cửu Tú (Phó Giám-Đốc Đài), Thompson và Nhuận

Ðại-Tá Nguyễn Quang Hoành lên thay Trương Văn Xương, rồi vì bất-đồng chính-kiến nên lại nhường chỗ cho Thiếu-Tướng Lê Văn Nghiêm.

Ðại-Úy Ngô Văn Hùng thay thế nhạc-sĩ Ngọc Linh, làm Trưởng Phòng 5. Văn Giảng ra đi, tôi cử Lê Trọng Nguyễn lên thay. Nguyễn vừa dịch tài-liệu vừa sáng-tác nhạc; bên cạnh giai-phẩm “Nắng Chiều” là “Hoan-Hô Lê Thiếu-Tướng” theo lệnh của Hùng  (bắt chước “Hoan Hô Ngô Thủ-Tướng”). Ðể giúp Tôn Thất Ðậu chọn nhạc ngoại-quốc do thính-giả yêu-cầu, tôi liên-lạc với hàng chục Toà Ðại-Sứ ở Sài-Gòn, viết lời mở đầu về nền âm-nhạc của mỗi nước, và đặc-tính của mỗi bản nhạc, để giới-thiệu trước khi trình-bày. Giáo-Sư Lê Hữu Mục có đến chơi đàn; nữ-sĩ Như Thu đến góp bài; thi-sĩ Hồ Ðình Phương đến ngâm thơ. Trình-bày “Mục Thi-Ca” của tôi là Trần Anh Tuấn, Ðinh Lợi, Lan Hương, và Tâm Thanh (Tôn Nữ Kim Ninh).

*

Ở các Tỉnh Cao-Nguyên và miền núi Tỉnh Quảng-Ngãi, phong-trào đòi tự-trị của người Thượng nổi lên. 

Chính-Quyền Diệm gom các phần-tử chủ chốt “Thượng Tự-Trị” về tập-trung ở đầu Cầu Nam-Giao. Một Nha Chiến-Tranh Tâm-Lý được lập nên, đặt trụ-sở ở đầu Cầu Phú-Cam. Đại-Úy Hùng kiêm-nhiệm Nha này. Tôi cũng kiêm thêm một số phần-vụ ở cơ-quan này, nên dời bàn-giấy đến đây.

Bộ Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu dời tổng-hành-dinh qua Hữu-Ngạn sông Hương.

Nước Việt-Nam Cộng-Hoà, với sự hậu-thuẫn của Hiệp-Chủng Quốc Hoa-Kỳ,  được Thế-Giới Tự-Do nhìn-nhận.

*

Trong những năm trẻ-trung của Nền Ðệ-Nhất Cộng-Hòa ấy, Liên-Xô, Hoa-Cộng và Cộng-Sản Bắc-Việt, là những bên chủ-trương chia đôi đất nước Việt-Nam, chưa sẵn-sàng thực-hiện vũ-trang xâm-lược Miền Nam, mà Hoa-Kỳ thì viện-trợ tối-đa cả tinh-thần lẫn vật-chất cho con bài của mình và cái tiền-đồn mới lập này của họ ở Ðông Nam Á, nên tình-hình an-ninh khả-quan, chế-độ bắt đầu vững-vàng.

Thế là nhiều người liền tranh nhau mưu-quyền thủ-lợi riêng. Hầu hết chiến-công giữ nước, cũng như thành-tích dựng nước, được dùng để dâng lên Ngô Tổng-Thống, chỉ là những cử-chỉ qụy-lụy, những lời-lẽ tâng-bốc, những thái-độ tôn-thờ, dành cho toàn-thể gia-đình họ Ngô, được các tay chân thân-tín của Cụ xét thấy êm tai đẹp mắt nên tường-trình lên mà thôi.

Ông Ngô-Ðình-Khôi, bào-huynh của Diệm, từ-trần đâu cả chục năm trước kia, không ai biết đến; nay dời mộ-phần thì có cả tá cấp-cao chức-lớn gây lộn nhau để giành làm Trưởng Nam danh-dự hầu-cận bên quan-tài; nhiều năm về sau, hễ nhắc đến ông, nhiều kẻ còn khóc-lóc thảm-thương. Ông Ngô-Ðình-Luyện làm đại-sứ tận bên nước Anh, người dân không hề thấy mặt, thế mà khi nhắc đến ổng thì ai nấy đều vẽ-vời ra vô-vàn tài-cao đức-trọng, để ngợi-ca cho vừa lòng thế-gia. Huống chi các “Cố Vấn” hùng-cứ trong nước mà uy-quyền có khi lấn át cả ông anh. Dù không muốn nhập-cuộc, đa-số vẫn phải nhắc đi nhai lại, để được yên thân, những sáo-ngữ đã thành công-thức chót lưỡi đầu môi: “Nhờ ơn Ngô Tổng-Thống và các bào-huynh, bào-đệ cuả Người!” Thế là lắm kẻ được đặc-cách tiến-chức thăng-quan.

Trung-Tướng Thái Quang Hoàng thay thế Lê Văn Nghiêm.

Nhà văn Bùi Tuân trở thành Dân-Biểu, không còn viết thuê xã-luận cho Ðài của tôi, mà diện lễ-phục lái xe-hơi di diễu khắp phố-phường. Nhạc-sĩ Ngô Ganh không còn lập-dị, mặc bộ com-lê may bằng dạ chăn đi dưới nắng hè, bên trong là chiếc áo ngủ cổ kiềng mà mỗi lần đi đâu thì chỉ cần gài thêm vào đó một cái cổ áo trắng có đính sẵn ca-vát là khỏi phải tốn thêm nguyên cả chiếc áo sơ-mi; bây giờ ảnh làm Quản-Ðốc Ðài, kiêm Ðại-Diện Nhân-Dân Miền Trung, ngồi chung dãy ghế danh-dự với Ðại-Biểu Chính-Phủ, Tư-Lệnh Quân-Khu, v.v… trong những buổi lễ công-cộng trên khán-đài Phu Văn Lâu.

Trong lúc đó, tôi bị cơ quan An-Ninh Quân-Ðội thẩm-vấn tới, điều-tra lui. Họ vin vào cớ tôi đã là Trưởng Ðài Quân-Ðội từ khi còn Hinh+Xương.

Một hôm, Tổng-Thống Diệm ra Huế và ở lại đêm. Sáng sau, tôi nghe hàng-xóm kháo chuyện với nhau: “May mà bắt được, chứ không thì quân khủng-bố đã ám-hại Tổng Thống đêm qua rồi!” Ðến sở, tôi hỏi Đại-Úy Ngô Văn Hùng thực/hư thế nào; ổng liền gọi điện-thoại cho An-Ninh Quân-Đội, và cơ-quan này đến bắt tôi. Truy-cứu mới biết: chính-quyền sở-tại và thân-tộc có tổ-chức nhiều vòng đai an-ninh xung quanh nhà-thờ Phú Cam, nơi Diệm đến tiếp-xúc với giáo-dân; có một nhân-viên chìm, thuộc vòng-đai trong, vì đến trễ nên bị chận soát ở vòng-đai ngoài; thấy y có vũ-khí giấu trong người, đồng-bào tưởng lầm là Việt Minh. Chỉ có thế thôi, nhưng vì Diệm đã được thần-thánh-hoá, nên câu hỏi của tôi, dù là để phối-kiểm với mục-đích dùng Đài Quân-Đội mà trấn-an dư-luận đồng-bào, cũng đã bị xem là một sự xúc-phạm tày trời.

Ngày xưa, phần lớn văn-nghệ-sĩ đều phục-vụ trong ngành truyền-thông, nên tôi đã từng mong được chuyển nghề qua làm việc trong cơ-quan Thông Tin, để được quần-chúng độc-giả khán+thính-giả trọng-vọng hơn. Bây giờ đã ở trong ngành Tác Ðộng Tinh Thần, dù của Quân Lực nhưng cũng là thông-tin tuyên-truyền, tôi mới thấy mặt trái của tấm huy-chương.

Lần đó, nhà bác-học Bửu Hội, thân-thích của Cựu-Hoàng Bảo Đại, nhân dịp từ Pháp về thăm nhà, đến nói chuyện về y-học với đồng-bào Huế tại Rạp Chiếu Bóng Morin. Một số văn+thi-sĩ tùng-sự tại Nha Thông-Tin Trung-Phần đã nêu lên nhiều câu hỏi về thời-sự, mục-đích là để gài Hội phải phát-ngôn ủng-hộ Diệm, hoặc ngược lại thì có bằng-chứng để dễ ra tay. Mặc dù Hội đã nhấn mạnh rằng ông không về Việt Nam với mục-đích chính-trị, và xin miễn đề-cập đến các vấn-đề ngoài phạm-vi y-học, đồng-thời số đông trong cử-tọa cũng đã huýt gió phản-đối những câu hỏi lạc-đề, nhưng nhà văn Ðỗ Tấn vẫn trơ-tráo đứng dậy đặt thêm cho được vài câu hỏi nữa.

Bác-Sĩ Trần Văn Thọ, Tổng Giám-Ðốc Thông-Tin, mà còn tranh tài với Bác-Sĩ Trần Kim Tuyến, Giám-Ðốc Nha Nghiên-Cứu (tức cơ-quan Tình-Báo) thuộc Phủ Tổng-Thống; thảo nào mà nhà-văn này cũng không chịu lép vế các nhà-văn khác trong thành-tích bao vây những ai bị nghi là, bị cho là có thể đối-kháng chế-độ đương-quyền.

Một số nhà-thơ giành nhau chức-vụ lãnh-đạo ngành Thông-Tin, khởi đầu bằng địa-vị Chủ-Tịch Hội Văn-Nghệ-Sĩ & Ký-Giả Miền Trung.

Nhà-thơ Đỗ Tấn Xuân nhai lại cái bã Tố Hữu tán-tụng Staline, in hẳn cả một tập thơnhan đề “Mùa Hoa Sim Nở”trong đó có câu “Tiếng đầu lòng con gọi: Cụ Ngô!”

Họ sợ vướng tôi nên tìm cách loại tôi, lùng thu thi-tập “Ánh Trời Mai” của tôi, v.v…

Thế nhưng hầu hết các nam+nữ tân+cổ+nhạc thi+ca+kịch-sĩ cộng-tác với tôi thì chỉ thấy tôi là một nhà thơ trẻ trai, hiền-lành, hòa-đồng với họ trong từng bộ-môn, chứ không biết gì về những khó-khăn của tôi.

Họ cũng không quan-tâm gì đến mục-đích chính-trị của Ðài, mà lại đinh-ninh rằng trọng-tâm hoạt-động và lý-do cùng ý-nghĩa của sự hiện-diện của Ðài chỉ là phần diễn-ngâm ca-tấu giải-trí văn-nghệ mà họ cống-hiến cho số thính-giả gần xa ái-mộ họ mà thôi.

Vi Khuê thì trầm-lặng hơn họ và có một thế đứng riêng. Nàng không ca hát nhưng số khán+thính-giả địa-phương hằng ngày háo-hức đến xúm dán mũi vào cửa kính để xem tận mắt các nữ-danh-ca hát thật cũng như dượt bài, đều không bỏ lỡ cơ hội nhìn ngắm cô biên-tập-viên duyên-dáng của Ðài. Các người-đẹp trình-diễn thì chỉ xuất-hiện vào giờ có chương-trình liên-quan, còn Vi Khuê thì có mặt ở đó suốt ngày, để những lúc trở về Ðài tôi nhìn thấy nàng mà dịu-vợi ưu-tư…

*

Thế rồi tôi giã-từ quân-ngũ, rời khỏi Ðài, ra ngoài hoạt-động văn-nghệ nhiều hơn trong một môi-trường rộng-lớn và khoảng-khoát hơn.

Ngoài các nỗ-lực tích-cực trong Quân-Ðội và sau đó là trong ngành Cảnh-Sát Công-An, tôi còn hăng say dùng hoạt-động văn-nghệ riêng tư để góp phần xây-dựng và củng-cố chế-độ Ðệ-Nhất Cộng-Hoà, thí-dụ: viết báo, đi thuyết-trình trong Cảnh-Sát & Công-An và ngoài dân-chúng; sáng-tác và trình-diễn khắp nhiều Tỉnh vở kịch thơ “Gươm Chính-Nghiã” của tôi đề-cao Tổng-Thống Ngô Ðình Diệm, kêu gọi sĩ-phu khắp nơi, đặc-biệt từ Miền Bắc, về với Chính-Nghiã Miền Nam; sáng-tác và xuất-bản tập thơ “Tuần Trăng Mật” vinh-danh tình yêu vợ+chồng, phù-hợp với nguồn cảm-hứng từ Luật Gia-Ðình của Bà Ngô-Ðình Nhu…

Tôi giữ Mục “Vườn Thơ” trên tuần-báo “Rạng Ðông” của Lê Hữu Mục, họp làm đặc-san với Tôn Thất Dương Tiềm, xuất-bản thơ của các bạn gần xa và của chính mình, kết-thân với các nhóm như Hồ Mộng Thiệp, Thanh Phượng, Anh Ðộ, Tô Như, Quốc Dân… ở Ðà-Nẵng; đồng nhóm Xây-Dựng là Xuân Huyền, Tường Vi, Huyền Chi, Hoài Minh, Bàng Bá Lân, v.v… ở Sài-Gòn. Trong đó, tôi giữ mục “Hội Thơ” (do Hồ Đình Phương trung-gian) trên tuần-báo Văn-Nghệ Tiền-Phong của Hồ Anh, và có nhạc-sĩ Lê Mộng Bảo giúp phần ấn-loát phát-hành sách và đặc-san.

Tôi tái-tổ-chức họp bạn hằng tuần; ngày xưa thì có Nhân Hậu, Vĩnh Thao, Hạnh Lang, Trúc Lang, Võ Ngọc Trác, Xuân Dưỡng, Giang Tuyền, Kiêm Minh, Lê Mộng Hoà, Nhân Nam, v.v…; bây giờ thì có Hoàng Hương Trang, Tuyết Lộc, Kim Lan, Nguyên Xuân Tứ, Hữu Ðỗ, Khang Lang, Hoài Tâm, Hương Thu, Xuân Nghị, Thanh Thuyền, Thế Viên, v.v…; có lần có cả Trần Minh Phú từ Hàng Me đến, Diên Nghị từ đơn-vị về, Hồ Ðình Phương từ Long-An ra…

Ðại-Hội Văn-Hoá Toàn-Quốc dưới thời Ðệ-Nhất Cộng-Hoà (khai-mạc ngày 11 tháng 1 năm 1957) đã đem lại cho tôi một phần thưởng tinh-thần: “Xây-Dựng” cuả tôi được nhìn-nhận là một cành của Cây Ða Văn-Hiến Việt-Nam.

Trong thời-gian đó, Vi Khuê lên xe hoa. Và đôi uyên-ương đưa nhau lên xây tổ ấm trên đồi núi Ðà-Lạt sương mù, bỏ lại “chuồng bồ câu” trống lạnh như nỗi thiếu vắng trong lòng của những ai ai…

*

Sau khi bản-thân tôi gặp nhiều khó-khăn vì không chịu cải-đạo; sau khi người ta giết chết cả hai vợ+chồng thầu-khoán Nguyễn Văn Yến; sau khi người ta dùng ngay phòng họp là nơi tôi hướng-dẫn học-tập “Ðạo-Ðức của Ngô Tổng-Thống” cho các cấp chỉ-huy Cảnh-Sát Huế trong các buổi học-tập Chính-Trị và Công-Dân Giáo-Dục hằng tuần, để làm nơi tra khảo và giết chết thầu-khoán Nguyễn Ðắc Phương rồi ném xác xuống sân tri-hô là Phương nhảy lầu tự tử; sau khi nhận được vô-số bài-vở của anh+chị+em Cảnh-Sát Công-An gửi về tôi để xin đăng lên tờ nội-san “Phục Vụ” do tôi chủ-biên, nội-dung tố-cáo nhiều, quá nhiều, hành-động tham-lam, tàn-bạo, kể cả giết người, dựa quyền cuả ông Cố-Vấn Ngô Ðình Cẩn; v.v…

Do đó, tôi đã liều-lĩnh công-khai nêu lên một số khuyết-điểm của chế-độ họ Ngô, trong một buổi học-tập tại cơ-quan vào ngày Lễ Hai Bà Trưng (3-3-1960).

Biến-cố này đã gây chấn-động cả Miền Trung.

Kết-qủa là tôi bị quản-thúc điều-tra ba tháng, gây tranh-cãi giữa hai ông Cố-Vấn Cẩn và Nhu…

Rồi tôi bị đày lên Cao Nguyên “vùng nước độc và nguy-hiểm” với bụi đỏ mù trời.

Đời sống chính-trị tạo thi-hứng cho tôi sáng-tác và đăng báo rời-rạc các bài thơ mà sau Cách-Mạng 1-11-1963 mới được gom lại ấn-hành thành tập “Với Thượng-Ðế”, tập thơ thứ bảy cuả mình.

*

Qua đến Ðệ-Nhị Cộng-Hoà, tôi cũng lại gặp rắc-rối, vì tôi công-khai phản-đối những sai trái, nhất là chiều-hướng quân-phiệt trong chế-độ Nguyễn Văn Thiệu, bằng một  bức thư trần-tình gửi lên Cấp Trên**.

Sau cùng tôi được (hay bị?) đưa về lại Miền Trung để giải-quyết giùm (và tôi đã giải-quyết được) những khó-khăn nội-bộ tại vùng đất này mà trước đó Trung-Ương hầu như bó tay…

Giờ đây, tôi trở về Huế lại.

Ngồi trên ghế đá công-viên trước Ðài Phát-Thanh Huế, tôi nhắm mắt mường-tượng những gì đã xảy ra tại đây vào buổi tối 8-5-1963phản-ứng của giới Phật-Tử bị cấm treo cờ Phật-Giáo vào ngày lễ Phật, Phật-Giáo-Đồ tập-trung, chất nổ, người chết, sức mạnh quần-chúng…

Rồi lịch-sử đã sang trang…

Lắc đầu xua đi những ảnh-hình thế-sự, tôi thả hồn sống lại quãng đời thơ trẻ đã qua.

Những khuôn mặt cuả Huế một thời, mà tôi nhớ thêm: các nhà văn Bửu Kế, Phan Khoang…; các nhà thơ Phan Văn Dật, Nguyễn Anh, Tô Kiều Ngân…; nhà khảo-cứu Bửu Cầm; hoạ-sĩ Phi Hùng; nhà dựng kịch Lê Hữu Khải; các kịch-sĩ Vũ Ðức Duy, Vĩnh Phan, Minh Mão, Hà Nguyên Chi…; các nhạc-sĩ Nguyễn Hữu Ba, Lê Quang Nhạc, Ưng Lang, Hoàng Thi Thơ, Lê Tất Vịnh, Hoàng Nguyên…; các ca-sĩ Minh Trang, Thanh Nhạn, Tôn Thất Niệm, Ngọc Cẩm–Nguyễn Hữu Thiết, Bạch Yến, Thiện Nhân, Hương Việt, Diệu Hương…

Tôi không gặp lại Phương Như, Bằng Trình của Huế, Anh-Ðộ Ðỗ Cẩm Khê của Ðà-Nẵng, và mất liên-lạc với Huyền-Chi từ sau khi nàng lấy chồng. Trước đó, bóng người áo trắng Kiều-Ngọc đã vuột khỏi tầm tay tôi.

Nhưng tôi vẫn còn nhớ rõ buổi hoàng-hôn ấy tôi lái xe Lambretta-2-bánh chở Trần Dạ Từ từ khách-sạn Khê-Ký lên Bến-Ngự để anh gặp Nhã Ca, và buổi sáng chủ-nhật kia Hy Văn Mộng đến nhà tôi chơi bị cháu nhỏ tè ướt cả quần khi anh bế nó lên hôn.

Có những bạn thân không còn, hoặc còn nhưng phai thân…

Nhưng Vi-Khuê thì vẫn còn là một người bạn thân. Cuả vợ+chồng chúng tôi.

Trong cuốn lưu-bút “Kỷ-Niệm Vàng” mà tôi giữ kỹ, bây giờ vẫn còn tờ giấy bạc “anh gánh dưa” một đồng mới toanh mà Vi-Khuê đã ký tặng mừng tuổi tôi vào dịp Tết năm nào.

Hình-ảnh ấy càng đậm nét khi nàng đưa Vân-Anh, cả hai phất-phơ tà áo màu qua cánh đồng An-Cựu vàng rực mùa lúa gie, đến thăm tôi vào thuở ban đầu, để rồi sau đó thì nàng làm chứng-nhân cho cuộc lễ thành-hôn của tôi với người bạn thân ấy của nàng.

*

Giờ đây Thành-Phố Huế đã bị giáng bậc xuống làm
Thị-Xã, tước mấtngoại-trừ về phần văn-hóa và lịch-sử cái địa-vị thủ-phủ của Miền Trung; hoa-khôi Ðồng Khánh ngày càng hiếm-hoi; Ðài Huế xuống cấp làm Ðài Tỉnh nhỏ; các xướng-ngôn-viên và ca-sĩ chỉ gợi tiếc những giọng oanh vàng và hương sắc ngày xưa…

Ðệ-Nhất Cộng-Hoà thế kia, Ðệ-Nhị Cộng-Hoà thế này. Mỗi chế-độ có những vấn-đề khác nhau, nhưng đều giống nhau ở vận nước chông-chênh.

Liệu những biến-thiên của cuộc đời sẽ còn đem lại những đổi thay nào khác nữa cho Đồng-Bào, cho Quê-Hương?

Huế vẫn còn đây, Ðài Huế vẫn còn đây, và tôi trở về ngồi đây.

Nhưng tôi không còn tìm thấy lại được, sau mỗi chặng đườngcũng vẫn gian-nan một mình chống-chọi với ma-quỷ còn sót lại trong thời buổi mớisự thanh-thản, dù trong chốc-lát, cho tâm-hồn mình, như những ngày nào xa xôi…

LÊ XUÂN NHUẬN 

=====================

ĐẠI-TÁ NGUYỄN HỮU DUỆ

TÔI đã phát-biểu với Thiếu-Tướng Nguyễn Khắc Bình, Tư-Lệnh Cảnh-Lực Quốc-Gia, có cả Chuẩn-Tướng Huỳnh Thới Tây, Trưởng Ngành Đặc-Biệt Trung-Ương, cùng nghe, rằng nếu tôi còn đảm-trách an-ninh & phản-gián Vùng I ngày nào thì ngày đó tôi còn ngăn-chận được mọi cuộc biến-loạn, cho Vùng ấy, và, do đó, cho cả Miền Nam*.

Tôi nói như thế liền sau khi tôi đề-nghị bổ-nhiệm hai sĩ-quan tín-đồ Kitô-Giáo làm Tỉnh/Thị-Trưởng và Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực Tỉnh/Thị, là hai chức-vụ quan-trọng nhất trong chính-quyền tại Tỉnh Thừa-Thiên và Thị-Xã Huế. Như thế nghĩa là sau khi thay-đổi hai quan-chức ấy, mà nếu tình-hình ngoài đó vẫn còn bất-an, thì chính tôi mới là người có thể dẹp yên các mưu-đồ quấy rối nội-chính tại Huế và Thừa-Thiên.

Đề-nghị của tôi đã được Trung-Ương chuẩn-y ngay.

Thế rồi, mới dự lễ giao+nhận chức-vụ Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực Tỉnh/Thị giữa Thiếu-Tá Liên Thành và Trung-Tá Hoàng Thế Khanh ở Huế xong, tôi đã phải ra ngoài đó lại để chủ-toạ lễ giao+nhận chức-vụ Chánh Sở Đặc-Cảnh Tỉnh/Thị: Trương Công Đảm thay-thế Trương Công Ân.

*

Nhớ hôm Trung-Tá Hoàng Thế Khanh nhậm-chức, ngay sau buổi lễ tôi đã đi vào một số văn-phòng thuộc Bộ Chỉ-Huy Cảnh-Lực cũng như thuộc Sở Đặc-Cảnh Tỉnh/Thị sở-tại, để quan-sát và nghe-ngóng tình-hình chung. Ngoại-trừ số đông lâu nay vốn có thiện-cảm với tôi, có một số ít viên-chức sắc-phục cũng như dân-phục mà qua ánh mắt của họ nhìn nhau trước, trong và sau khi họ nói chuyện với tôi, tôi cảm thấy rõ-ràng rằng, dù Ngành Công-Lực ở cố-đô có do cá-nhân hay phe-nhóm nào đứng đầu đi nữa, thì bây giờ, đối với thiểu-số ấy, tôi vẫn chỉ là một người khách lạ, một người dưng, đáng nghi, đáng phòng.

Trước kia, Liên Thành tưởng tôi ăn-ý với Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực Vùng I, là Đại-Tá Nguyễn Xuân Lộc, vốn có khuynh-hướng Việt-Nam Quốc-Dân-Đảng, để chống phe-phái Đại-Việt Cách-Mạng-Đảng mà trong đó anh cùng Trương Công Ân là đảng-viên cấp cao.

Giờ đây, cánh ấy lại tưởng tôi thoả-hiệp với lớp mới là những phần-tử cực-đoan của dư-Đảng Cần-Lao để chống phá Phật-Giáo.

Trong lúc đó, chính Hoàng Thế Khanh cũng lo đề-phòng tôi, vì tôi nguyên là nhân-vật đầu tiên công-khai đơn-độc chống chế-độ độc-tài nhà Ngô, bị mật-vụ triều Ngô gán cho là thành-viên quá-khích của Đảng Đại-Việt để phát-vãng tôi ra khỏi Miền Trung vào năm 1960…

Tôi thì xưa nay vẫn là một người độc-lập. Tôi coi nhẹ các cấp lãnh-đạo nhất-thời; tôi chỉ chú-trọng quảng-đại quần-chúng miên-viễn ngoài đời và đa-số công-chức & quân-nhân trung-chính trong Chính-Quyền mà thôi.

Tôi tách mình riêng ra khỏi các bộ-phận đón-tiếp và tháp-tùng, để tiện tiếp-xúc với một số cá-nhân bộc-trực, trong số này có Đại-Uý Trần Vĩnh Thuận tức “Thuận Xù”*. (*Xem “Ông Đồn Lợi”). Anh có một bộ tóc bù-xù nên bạn-bè đặt cho anh cái tên như trên.

Thuận là một trong số các bạn thân của tôi ngày xưa, nhất là giai-đoạn liền trước biến-cố 1960, là năm chúng tôi xa nhau. Bây giờ anh là Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực một Quận ngoại-ô trong Tỉnh Thừa-Thiên. 

Được tôi kéo ra để chuyện-trò riêng với nhau, câu nói đầu tiên của anh là trách-móc tôi:

– Tôi tưởng anh đã quên hết dĩ-vãng và bạn-bè!

Tôi chưa kịp nói gì thì Thuận đã nói tiếp, như để tăng phần khuấy-động tình-cảm trong lòng tôi:

– Anh Đặng Hữu Lợi đã chết, anh Trần Văn Cư đã mất, anh Phan Văn Trực đã qua đời, anh Lê Tấn Lực đã đi xa, anh Nguyễn Mầm đã thành phế-nhân, anh Nguyễn Duy Hát đã ra khỏi Ngành…

Những việc ấy, và cả nhiều việc khác nữa, tôi đã biết từ bao lâu rồi; nhưng khi nghe “Thuận Xù” nhắc lại tự-nhiên lòng tôi bỗng nhói đau như mới lần đầu tiên nhận được tin buồn về những người thân thương.

Chưa hết, “Thuận Xù” còn oái-oăm thò tay vào trong cổ áo tôi, nắn tìm xem tôi có mang một sợi dây chuyền nào không. Khi không thấy gì, anh mới ôm chầm lấy tôi mà hôn.

Ngày xưa, khi Ông Ngô-Đình Diệm mới về nước chấp-chánh, tôi là người đã ủng-hộ ông tận-tình, đơn-độc, liều-lĩnh ly-khai khỏi BTL Đệ-Nhị Quân-Khu, tức chống lại nhóm Hinh+Xương, dùng phương-tiện của Quân-Đội Quốc-Gia lúc ấy đang chống Diệm để phát-triển ảnh-hưởng ban sơ đang còn mong-manh của họ Ngô, mở đường cho thế-lực nền Đệ-Nhất Cộng-Hoà sớm vững mạnh bắt đầu từ Miền Trung.

Do đó, sau khi chính-quyền Diệm đã ổn-định, giới-chức hữu-trách trong Quân-Đội đã đề-nghị Trung-Ương ban thưởng “Quân-Công Bội-Tinh” cho tôi. Các sĩ-quan lãnh-đạo Ngành Chiến-Tranh Tâm-Lý tại Đệ-Nhị Quân-Khu, lúc đó toàn là những phần-tử thân-tín của Cố-Vấn Ngô Đình Cẩn, đã tặng tôi một sợi dây chuyền có treo một thập-tự-giá bằng vàng để làm kỷ-niệm khi quân-nhiệm của tôi đã mãn hạn-kỳ.

Thủa ấy, có nhiều công-chức và quân-nhân bỏ đạo của mình để theo Đạo Kitô. Số người cả trong lẫn ngoài chính-quyền tuy không phải là con chiên của Chúa mà cũng đeo thập-tự-giá dưới cổ thì khá đông. Không rõ do ai kể lại mà Thuận biết tôi cũng có một cái, nên anh cứ dòm chừng tôi, xem tôi có đeo hay không.

Ngày nay, “Thuận Xù” cố ý nhắc tôi nhớ lại cái vật trang-sức ấy, cái ý-nghĩa tượng-trưng của một phản-ứng người, trước một bối-cảnh đời.

Chỉ vừa mới thay-đổi cấp lãnh-đạo chính-viện Tỉnh có mấy hôm, và đến hôm nay thì mới thay-đổi cấp chỉ-huy Ngành An-Ninh (chưa động đến Ngành Phản-Gián) sở-quan, mà màu-sắc tín-ngưỡng của cá-nhân họ đã tác-động sâu-đậm lên tâm-lý của số đông viên-chức địa-phương như thế này sao?

Tôi cũng đã có linh-tính và ước-tính là sẽ có một cái gì đó xảy ra, nhưng tôi đã cắt đứt chiều-hướng xung-khắc của nhóm Linh-Mục Nguyễn Kim Bính ở Phú Cam đối với Chính-Quyền Tỉnh/Thị dưới thời Đại-Tá Tôn Thất Khiên rồi. Thế mà đường-lối đối-nghịch của họ lại nhắm sâu vào cả các chính-đảng và tôn-giáo khác, nhất là Phật-Giáo, mà tổ-chức quần-chúng là “Lực-Lượng Hoà-Hợp Hoà-Giải Dân-Tộc” thì cũng đang cùng đương-đầu với Chính-Quyền Trung-Ương.

Trong trường-hợp Đại-Việt Cách-Mạng-Đảng bất-hòa với Việt-Nam Quốc-Dân-Đảng, chắc “Thuận Xù” không cần nhắc-nhở gì tôi. Chỉ có trường-hợp Kitô-Giáo chèn ép Phật-Giáo, mới khiến anh phải bày-tỏ thái-độ như thế với tôi.

Thế mới biết, làm một người trung-lập không phải là việc dễ. Hầu như mọi người, nhất là trong Chính-Quyền, trong các giáo-hội và trong các chính-đảng, đều đinh-ninh rằng, người nào cũng phải là đảng-viên của một đảng nào đó, tín-đồ của một đạo nào đó, hay ít nhất cũng là đồ-đệ của một nhân-vật nào đó. Điều tệ-hại nhất là khi người ấy không thuộc cùng một cánh với mình thì người ta coi người ấy như kẻ phản-động, như kẻ thù.

Đáng lẽ tôi nói cho “Thuận Xù” biết về lập-trường của tôi; nhưng tôi lại ngại là anh sẽ kể lại với người khác, và người khác ấy lại tưởng rằng tôi cốt thanh-minh để mong cầu một chút ân-huệ gì của họ chăng.

Năm 1954, nếu tôi vượt qua những thủ-tục thông-thường trong các cơ-quan quân-sự và hành-chánh, nhất là vượt qua lòng tự-trọng của chính mình, như lắm kẻ đã làm, đến kể công với Cố-Vấn Ngô Đình Cẩn, hoặc Cố-Vấn Ngô Đình Nhu, hoặc chính Thủ-Tướng Ngô Đình Diệm, thì chắc-chắn là tôi đã được ban cho nhiều đặc-quyền đặc-lợi rồi. Năm 1967, nếu tôi kể công với Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu rằng tôi đã bí-mật nhúng tay phá vỡ âm-mưu đảo-chính của Thiếu-Tướng Nguyễn Cao Kỳ để bảo-toàn kết-quả cuộc bầu-cử đem lại thắng-lợi cho ông ngồi vững trên ghế Nguyên-Thủ Quốc-Gia, thì cũng chắc-chắn là tôi đã được trọng-thưởng nhiều rồi.

Vì tự-trọng và tự-ái, tôi chấp-nhận im-lặng, chỉ mình tự biết lấy mình.

Và mình đã nghĩ đúng, nói phải, làm hay, là đủ rồi.

Tuy nhiên, về vấn-đề đối-nghịch giữa Kitô-Giáo với Phật-Giáo thì tôi phải nói, vì tôi là một chứng-nhân.

Xét chung thì chế-độ Ngô Đình Diệm đã tạo hoàn-cảnh cho một số tín-đồ Kitô-Giáo, và cả một số không phải là con chiên của Chúa, xúc-phạm đến các tôn-giáo khác, nhất là Phật-Giáo mà tổng-số tín-đồ lên đến trên chín mươi phần trăm dân-số, nên các lãnh-tụ Phật-Giáo phải đứng lên tranh-đấu đưa đến cuộc Cách-Mạng 1-11-1963.

Ngày xưa, dưới thời Pháp-thuộc, các quan cai-trị thực-dân Pháp và triều-đình Huế tay-sai đều nằm trong vòng ảnh-hưởng của các cha-cố thuộc Toà Thánh Vatican, nhưng việc lấn-át chỉ xảy ra trong một số lãnh-vực và nhắm vào một số đối-tượng nhất-định, chứ không chèn-ép tràn lan người dân nô-lệ Việt-Nam vốn đại-đa-số là đệ-tử Cửa Thiền.

Liền trước thời Diệm, khi đế-quốc Pháp trở lại với súng đạn viễn-chinh thì cụ Trần Văn Lý lên chấp-chánh ở Miền Trung. Dù là một nhân-sĩ Kitô-Giáo, được Pháp và giáo-hội hậu-thuẫn và nể-vì, nhưng cụ có ỷ vào chức quyền để rẻ-rúng người nào không cùng tín-ngưỡng với mình đâu.

Dù sao, nếu cho rằng mọi tín-đồ Đạo Kitô dưới thời Diệm đều muốn đè bẹp Đạo Phật thì cũng không hoàn-toàn đúng.

Năm 1960, tôi bị đày lên xứ Thượng và bị “mật theo-dõi hành-vi chính-trị”, nghĩa là tôi thuộc thành-phần “phản-loạn” (dưới chế-độ Diệm không có “đối-lập”). Trớ-trêu thay, tôi được Giám-Đốc Cảnh-Sát Công-An trên này cử làm Trưởng Ban Điều-Tra Đặc-Biệt của Nha, bất-chấp lệnh cấm của Tổng-Nha. Nhiệm-vụ và quyền-hạn của tôi là bắt giữ, thẩm-vấn và lập hồ-sơ truy-tố các vụ vi-phạm, cả hình-sự lẫn chính-trị, khắp các Tỉnh ở cựu-Hoàng-Triều Cương-Thổ này.

Tại thủ-phủ của Cao-Nguyên, tôi đã đối-diện với nhiều tín-đồ Kitô-Giáo, vừa là thanh-niên học-thức, vừa là chấp-sự thân-cận của các Cha Xứ ở các Địa-Điểm Dinh Điền và Khu Trù Mật nổi tiếng thịnh-vượng và an-ninh của đồng-bào Miền Bắc di-cư, như Châu Sơn, Kim Châu Phát, Khuê Ngọc Điền, v.v…

Về mặt chính-trị nội-bộ, các thành-viên Kitô-Giáo bị báo-cáo là có ngôn-ngữ và thái-độ chống-đối Chính-Quyền, mà tôi lần-lượt mời đến hỏi cung, đều mạnh-dạn vạch rõ sai-lầm của chế-độ Diệm trong vấn-đề tôn-giáo, và khẳng-định rằng họ phản-đối mọi âm-mưu và hành-động của những kẻ đàn-áp Phật-Giáo. Chính Linh-Mục Nguyễn Viết Khai, là cha đỡ-đầu của Diệm, mà cũng chống Diệm về vấn-đề này. Theo họ, Thánh-Kinh tức là Lời Chúa, có khuyến-khích con chiên mở rộng Hội Thánh, nhưng bằng rao-giảng chứ không phải bằng bạo-lực hay mồi-bả vật-chất của thế-gian.

Biên-Tập-Viên Nguyễn Hữu Liêm và Thẩm-Sát-Viên Nguyễn Giang, ngồi cùng phòng với tôi, vừa làm việc vừa liếc nhìn tôi mà cười. Mà buồn cười thật, chính tôi cũng tự cười mình: một viên-chức an-ninh bị chế-độ trừng-phạt vì chống-đối chế-độ mà lại nhân-danh chế-độ đứng ra bắt lỗi những phần-tử cũng chống-đối chế-độ như mình!

Không lâu trước ngày tôi bắt đầu điều-tra các đối-tượng này, ở Ban Mê Thuột đã xảy ra một cái chết gây sôi-nổi dư-luận gần xa. Nguyên dưới quyền của Biên-Tập-Viên Liêm có một Đội Biệt-Kích Công-An, chuyên đi lùng diệt Việt-Cộng tại khắp các tỉnh Cao-Nguyên. Một hôm, có một đội-viên tên Nguyễn Văn Nam, cùng với đồng-đội mới đi công-tác về, bị mót đại-tiện nên vừa từ trên xe nhảy xuống là đã vội-vàng chạy tuốt vào trong nhà tiêu. Vì gấp-rút và không có gì khác hơn nên anh đã dùng một mảnh giấy báo mà lau hậu-môn. Ngẫu-nhiên có một đội-viên khác, cũng vào cầu-tiêu, trông thấy mảnh giấy báo của Nam có in ảnh của Tổng-Thống Ngô Đình Diệm, nên lưu-ý anh về việc này. Người bị bắt gặp quả-tang “phạm-thượng” đã rút súng tự bắn vào đầu chết ngay tại chỗAnh sợ bị đưa ra “phê-bình” trong các buổi “Học-Tập Chính-Trị và Công-Dân Giáo-Dục”, và sau đó là những hậu-quả khôn lường.

Một số trong các tín-đồ Kitô-Giáo nói trên, trong lúc khai-cung, đã đề-cập với tôi về vụ đó, và một người đã chất-vấn tôi:

– Dưới thời Nho-Giáo cực-thịnh, mọi người đều phải tôn-trọng ngay cả bất-cứ một mảnh giấy nào trên đó có Chữ Nho, vì Chữ Nho là biểu-tượng của Đạo Nho, của Đức Khổng-Tử. Tuy thế, nếu có kẻ dùng sách giấy có Chữ Nho, hình-ảnh Đức Khổng-Tử, mà lau hậu-môn, thì kẻ ấy chỉ bị quở mắng, hoặc bị đánh đòn, một lần rồi thôi, chứ có ai vì cái lỗi ấy mà bị hành-hạ tàn-nhẫn đến độ thà tự-tử chết còn hơn để bị bắt giam? Qua cái chết của anh ấy, cũng là đồng-nghiệp Công-An với các anh, các anh nghĩ sao về chế-độ này?

Các anh Liêm và Giang đã đồng-ý với tôi, dẹp bỏ biên-bản chấp-cung, để cho các phần-tử “Công-Giáo công-chính” ấy tự tay viết các lời khai theo ý họ, xong để họ ra về tự-do, rồi đệ-trình hồ-sơ lên Cấp Trên “để tuỳ-nghi thẩm-định” với cái đề-nghị đã trở thành công-thức là “tiếp-tục mật theo-dõi hành-vi chính-trị” của các đương-nhân.

Tôi nhấn mạnh với “Thuận Xù” điều đó, và nhắc thêm về biến-cố 1960: cùng bị đày ra khỏi Huế và các tỉnh thành lớn, lên miền lam-sơn chướng-khí một lần với tôi, còn có các anh Trần Văn Liệu và Trần Tòng; họ cũng là tín-đồ Kitô-Giáo, cũng là dân Phú-Cam, trung-tâm ảnh-hưởng của gia-đình họ Ngô. Trước đó, nhân-sĩ Trần Điền mà tôi quen thân hồi ông còn làm Giám-Đốc Nha Thông-Tin và hầu hết đồng-bào gần xa đều biết tiếng, là thủ-lãnh Hướng-Đạo Việt-Nam, là một nhà trí-thức Kitô-Giáo lừng danh, mà cũng chống-đối Diệm và bị Diệm kết án tử-hình…

Thế thì đâu có phải là đồng-bào Kitô-Giáo nào cũng dễ-dàng đồng-minh với Quỷ Satan?

Thế mà hiện nay vẫn còn có một số thuộc cả hai bên chưa chịu làm lành với nhau.

Ở Bộ Tư-Lệnh Cảnh-Sát Quốc-Gia, người ta kháo chuyện với nhau về một chuyến đi thanh-tra Thừa-Thiên/Huế vừa rồi của Trung-Tá Trần Văn Hương.

Các cấp chỉ-huy ở đây bố-trí cho Hương ngủ ở khách-sạn, ăn ở nhà-hàng, và chi-tiêu linh-tinh gì đó. Khi anh về Trung-Ương rồi, Bộ Chỉ-Huy Cảnh-Lực ngoài này, dưới thời Thiếu-Tá Liên Thành, liền gửi một xấp hoá-đơn vào Bộ Tư-Lệnh Cảnh-Lực Quốc-Gia, nơi đã phái Hương đi công-tác, để xin thanh-toán tiền phòng, tiền ăn, v.v… cho Hương!

Ngoài việc Hương bị xem như đã có đòi-hỏi địa-phương cung-phụng này kia, các viên-chức khác từ đó về sau đều ngán Miền Trung, nếu phải ra Huế là lo giữ mình đủ điều.

Nguyên-do là Hương nguyên là Cảnh-Sát-Trưởng ở Huế, dưới thời Đệ-Nhất Cộng-Hoà, và là tín-đồ Đạo Kitô.

Vấn-đề tôi đặt ra với anh+em, không phải chỉ là cá-nhân Trần Văn Hương thật ra là một người tương-đối không quá xấu, không đáng để bị chơi khăm cách đó, nhưng mà là đối với bất-cứ ai, dù trong quá-khứ đã làm việc gì không hay, mà sau đó tình-trạng đã được giải-quyết rồi, và trong hiện-tại họ là người mới, không phạm lỗi gì, thì mình không nên tiếp-tục oán thù vì chuyện đã qua.

Chúng ta ai nấy đều có rất nhiều bạn thân, kể cả thân-nhân, không cùng tôn-giáo với mình. Đừng để sự khác-biệt tín-ngưỡng xen vào làm sứt-mẻ mối gắn-bó trong đời sống giữa những con người với nhau.

*

Trong nội-bộ Sở Đặc-Cảnh Tỉnh Thừa-Thiên, có hai Phòng quan-trọng, là Nghiên+Kế và Tác-Vụ; mà hai Chủ-Sự Phòng thì không hợp nhau vì tín-ngưỡng khác nhau.

Trước kia, tôi được cho biết là Trung-Uý Dương Đại Chung báo-cáo tình-hình chính-trị quốc-nội cho Linh-Mục Nguyễn Kim Bính, ngay cả trước khi lập công-điện hay công-văn trình lên Cấp Trên. Đây là một vấn-đề phức-tạp và tế-nhị vô cùng. Đúng ra, trên nguyên-tắc thì công-chức và quân-nhân không được tham-gia hoạt-động cho một đảng-phái chính-trị nào; nhưng trên thực-tế thì, dưới thời Đệ-Nhất Cộng-Hoà, Đảng Cần-Lao Nhân-Vị đã rập khuôn đảng cộng-sản mà đặt nền-móng bên trong các cơ-quan chính-quyền và đơn-vị quân-lực; và, dưới thời Đệ-Nhị Cộng-Hoà, Đảng Dân-Chủ tuy ra đời sau nhưng cũng đã lan tràn bên trong các công-sở và quân-doanh; cho nên không ai nhớ đến cái nguyên-tắc ấy nữa. Trong lúc đó, không có văn-bản nào cấm các tín-đồ tiết-lộ việc công và việc quân cho các vị “lãnh-đạo tinh-thần”. Có thể là người ta tin rằng việc ấy sẽ không xảy ra; hoặc có thể là người ta cố ý tránh né vì sợ làm mếch lòng các giáo-phái; mà cũng có thể là người ta mặc-nhiên chấp-nhận và cho phép việc làm này? Và, lẽ tất-nhiên, một khi các chính-trị-gia đã có tai+mắt trong các công-đường và binh-trại rồi, thì các tu-sĩ cũng chẳng chịu thua-kém gì ai. Cho nên tôi không trách phạt gì Chung, vì thật ra có một số viên-chức thuộc các giáo-hội khác, các chính-đảng khác, ở khắp nơi, sau này cũng có bắt chước hành-động như Chung, mặc dù không nhất-loạt và tích-cực bằng. Bù lại, lần nào ra Huế tôi cũng tiếp-xúc với anh, để xoá cho anh cái mặc-cảm bị lạc-lõng vì khác phe, và để tận-dụng trong anh cái tinh-thần phục-vụ vốn tiềm-tàng của mỗi người.

Tôi đã lập lại cái thế thăng-bằng trong quan-hệ đối-nhân, và thấy được kết-quả tốt. Ít nhất thì anh cũng đã góp phần gỡ bí chung, khi Chuẩn-Tướng Huỳnh Thới Tây trực-tiếp gọi máy hỏi tôi về cuộc mít-tinh đang diễn ra. Buổi sáng củ-mật ấy, Linh-Mục Nguyễn Kim Bính triệu-tập giáo-dân trước sân và xung quanh nhà thờ Phú-Cam, chuẩn-bị khí-thế cho một cuộc xuống-đường mới, dự-trù hùng-hậu và quyết-liệt hơn lần rồi.

Tôi đã ra Huế, có mặt tại chỗ, nhưng phải nhờ đến Chung, là người trong cuộc, mới biết đủ những gì khuất kín bên trong giáo-đường, vì các nhân-viên khác tín-ngưỡng khó lòng mà len-lỏi vào được trong cái tập-thể chọn-lọc và có cảnh-giác cao ấy, để chụp ảnh, ghi-âm, nhận-diện thành-phần cực-đoan, thu-thập hành-tung những kẻ khả-nghi, và định-vị cái đài vô-tuyến phát-thanh mà nhà thờ này được phép sử-dụng từ thời Đệ-Nhất Cộng-Hoàngày xưa là để giúp các tín-đồ già-yếu bệnh-tật, không đến giáo-đường nổi, cũng có thể ở nhà mà nghe giáo-lễ do đồng-đạo cử-hành; ngày nay là để phổ-biến đến khắp ngõ hẻm hang cùng những lời hô-hào chính-trị phát-động các cuộc mít-tinh, xuống đường chống chính-quyền.

Ngày nay, có Đại-Tá Nguyễn Hữu Duệ và Trung-Tá Hoàng Thế Khanh, Chung và các bạn của anh đương-nhiên thoả-thích hơn.

Ngược lại, Trung-Uý Dương Văn Sỏ, Trưởng Phòng Tác-Vụ, trước các cấp chỉ-huy đều mới, thì không khỏi giao-động tinh-thần, vì không ai đoán được chữ ngờ.

Thượng-Sĩ Lê Văn Y, một Trưởng Lưới Tình-Báo xuất-sắc của Đặc-Cảnh Quận Ba, Đà-Nẵng, mà vì Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực địa-phương không ưa nên đã phải đổi vùng. Thiếu-Uý Nguyễn Ba, một điệp-trưởng hữu-công của Tỉnh Thừa-Thiên, lại là người của Đảng Đại-Việt lúc đương-quyền, mà vì không được lòng các cấp chỉ-huy cùng Đảng nên cũng đã bị đẩy đi xa. Thiếu-Uý Trương Quang Thanh năng-động của Tỉnh Quảng-Nghĩa, phải sống xa quê vì tuy là đảng-viên Việt-Nam Quốc-Dân-Đảng mà không cùng hệ-phái với các cấp chỉ-huy.

Huống gì gốc-gác của Trung-Uý Sỏ thì rõ-ràng xa-cách với thế-lực cầm quyền hiện giờ.

Do đó, tôi phải duy-trì chỗ đứng của Sỏ, vì đó vừa là tai+mắt vừa là tay+chân của Ngành, không thể để lọt vào người khác phe, khi mà vấn-đề phe-phái đã được chính Trung-Tá Hoàng Thế Khanh không ngần-ngại công-khai nêu lên với Đại-Tá Nguyễn Xuân Lộc và tôi.

Một mặt, tôi giao-tiếp với Sỏ nhiều hơn, để tỏ là đã có tôi đích-thân chăm-sóc khả-năng phục-vụ của anh; mặt khác, tôi đề-cao hai viên-chức khác, chủ ý là nếu phải thay-thế Sỏ thì hẳn là Khanh sẽ phải chấp-nhận một trong hai người này mà thôi. Tôi làm như thế là để vẫn giữ cái thế thăng-bằng trong nội-bộ cơ-quan; nếu không thì một mình Chánh Sở Đặc-Cảnh Trương Công Đảm bị kẹt ở giữa khó lòng mà hoàn-thành trách-vụ của mình.

*

Cũng như ở các Tỉnh khác, ngoài các viên-chức Đặc-Cảnh địa-phương, tôi đã có một số bạn-bè thân-tín, thuộc nhiều giới, ở Thị-Xã Huế và Tỉnh Thừa-Thiên.

Dù không phải là kẻ đa-nghi, song kinh-nghiệm bản-thân không cho phép tôi làm kẻ dễ tin. Thỉnh-thoảng tôi vẫn phải xét lại một vài vấn-đề, dù là bề ngoài không có gì bất-thường.

Tôi tin vào các cộng-sự-viên của mình; nhưng nếu chính các đương-nhân thật tình không nắm vững tình-hình hoặc bị đánh lừa, thì lẽ nào tôi chịu để cho mình cũng cùng bị thiếu-sót hay sai-lầm sao? Nhiều khi gặp phải những bài toán khó giải, tôi đã nhờ vào linh-tính, trực-giác hay “giác-quan thứ sáu”, nhất là thái-độ vô-tư của mình. Nhưng xác-thực nhất bao giờ cũng là tin-tức, tài-liệu, và sự hiểu-biết của các thân-tình-viên nói trên; nhờ họ, tôi đã nhiều lần biết được, và cả biết trước, những mưu-đồ ám-muội của một số nhân-vật này, phe-phái kia…

*

Sau cuộc họp báo của Ngành Đặc-Cảnh chúng tôi tố-cáo Tổng-Hội Sinh-Viên Huế và cả “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng”, qua Linh-Mục Nguyễn Kim Bính tại Phú-Cam, đều đã bị Việt-Cộng xâm-nhập và lợi-dụng, thì tình-hình nội-an ở Huế, và cả toàn-quốc, đã lắng dịu đi rất nhiều.

Sinh-viên ở Huế trở lại sinh-hoạt bình-thường, chăm lo trau dồi kiến-thức văn-hóa, không còn bung xung hò hét ồn-ào như thời-gian qua.

Sinh-viên ở Sài-Gòn, mà cái Tổng-Hội trong đó vốn cũng đã bị Cảnh-Lực Quốc-Gia tố-cáo là bị cộng-sản giật dây, nay thêm sáng mắtchỉ trừ số ít phần-tử cơ-sở Việt-Cộng và thân-Cộng mà thôi.

Về phần “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng”, thì Linh-Mục Nguyễn Kim Bính, Cha Xứ Phú-Cam, đã bị khựng lại, nên ngưng xuống đường; và Linh-Mục Trần Hữu Thanh trong Nam thì cũng, do đó, ngưng các mưu-tính biểu-tình.

Như thế là chúng tôi đã thành-công trong việc ngăn-chận và dập tắt các nỗ-lực xúi-giục toàn-quốc đồng-loạt tuần-hành, gây xáo-trộn trật-tự công-cộng, làm mất an-ninh chung trong mọi giới dân-nhân, tạo hoàn-cảnh và cơ-hội cho kẻ địch lèo-lái mà biến thành xung-đột đẫm máu, kể cả cơ nguy bị đối-phương xâm-chiếm từng cơ-quan, đơn-vị, hay khu-vực ly-khai hay tự-trị ngay trong nội-địa lãnh-thổ Quốc-Gia, mà ảnh-hưởng dây chuyền có thể là mất hẳn cả Miền Nam.

(Tuy nhiên, về mặt tinh-thần, “Phong Trào Chống Tham Nhũng” vẫn còn cố-thủ, tiếp-tục và gia-tăng các nỗ-lực sách-động cũ, trong các nhà thờ, trong các họ đạo, và cả trong giới giáo-dân quân-nhân, thậm chí kêu gọi làm binh-biến, dùng bạo-lực lật đổ Tổng-Thống Thiệutức là tuy không mở cổng cho địch vào đồn, mà lại mở lòng, mở ý, sẵn-sàng đón mời “đồng-minh”, vì cùng là kẻ thù của tổng-thống Việt-Nam Cộng-Hòa!)

Mục-đích của nhóm tu-sĩ Kitô-Giáo quá-khích không phải chỉ là lật đổ Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu, mà là tái-lập một chế-độ kiểu Ngô Đình Diệm, nghĩa là dù cho sẽ không có một Tổng-Thống tín-đồ Đạo Chúa với một mạng lưới khủng-bố kiểu Đảng Cần-Laovì vào thời đó không có một nhân-vật nào có thể có đủ điều-kiện là một ứng-viên kiểu đó vào chức-vụ đóthì họ cũng sẽ tìm đủ mọi cách đưa vào Chính-Quyền những nhân-vật và những chính-sách hoàn-toàn do họ giật dây, mục-đích là đàn-áp các giáo-hội khác, để phát-triển Đạo Kitô.

Bây giờ, kế-hoạch thứ nhấttoàn-quốc xuống đường xáo trộn an-ninh, tạo sức ép lớn cả trong lẫn ngoài đủ để lật Thiệuvì tôi mà đã bất-thành, thì họ xoay qua kế-hoạch thứ hai.

Tôi đã cài-cấy tay-trong trong mọi tổ-chức, dù là chính-trị, kinh-tế, văn-hóa, xã-hội, kể cả tín-ngưỡng. Đặc-biệt trong vấn-đề này tôi càng theo sát ý-đồ và đường-lối của các mục-tiêu, bắt đầu từ Huế, từ xóm Phú-Cam mà ra.

Kế-hoạch thứ hai của họ là triệt-hạ dần các phần-tử nguyên là thành-viên hoặc có cảm-tình, hoặc bị nghi là liên-hệ gần+xa với phe “Phật-Tử Tranh-Đấu” vốn đã góp phần lật đổ Nền Đệ-Nhất Cộng-Hòa. Đối-tượng của họ nằm ở mọi nơi, dân cũng như quân, ở cả ba ngành lập-pháp, hành-pháp và tư-pháp trong Chính-Quyền Đệ-Nhị Cộng-Hòa.

Và họ bắt đầu ra tay.

Một hôm, không lâu trước ngày Thừa-Thiên triệt-thoái rồi Vùng I lui quân, một số đơn-vị Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa đi hành-quân trong hoạt-vực của Chi-Khu Phong-Điền, thuộc Tỉnh/Tiểu-Khu Thừa-Thiên, đã phá vỡ được một căn-cứ của Việt-Cộng, và tịch-thu được của chúng nhiều chiến-lợi-phẩm, trong đó có một số tài-liệu quan-trọng, kể cả một Nghị-Quyết của Đảng-Ủy Liên-Khu IV về Tỉnh Thừa-Thiên/Thị-Xã Huế. Nghị-Quyết này đề-cập đến tình-hình các mặt của Việt-Nam Cộng-Hòa tại Tỉnh liên-quan, nhiệm-vụ của chúng, và kế-hoạch cho một cuộc tấn-công mới, nhằm chiếm-giữ thành-phố Huế lâu dài hơn, rút kinh-nghiệm từ cuộc tổng-công-kích vào mùa xuân năm 1968Tết Mậu-Thân.

Nguồn (tài-liệu VC): https://thuathienhue.gov.vn/vi-vn/Thong-tin-du-dia-chi/tid/Tu-nam-1945-den-nam-1975/newsid/271876D3-36BE-4461-B109-206D14ED1596/cid/FFD5F879-74BC-4D55-AEB6-E0C0332427ACTrong đó có đoạn:{Ngày 10-2-1975: Quân ủy Trung ương xác định kế hoạch năm 1975 cho Trị – Thiên và nhấn mạnh phải “tích cực sáng tạo thời cơ và sẵn sàng chớp thời cơ tiến lên giành thắng lợi lớn, kể cả giải phóng Huế”}. 

Như đã nói trên, nhiều tu-sĩ Kitô-Giáo đã tổ-chức cho tín-đồ mà là nhân-viên an-ninh & tình-báo của các cơ-quan & đơn-vị khắp nơi báo-cáo tình-hình, tin-tức mới nhất cho các linh-mục, ngay cả trước khi thực-hiện công-điện công-văn trình lên Cấp Trên của mình. Kết-quả hành-quân lần này cũng không ra ngoài lệ thường.

Cho nên người ta đọc thấy đoạn kết của bản Nghị-Quyết Việt-Cộng ghi rõ: sau khi chiếm được Thành-Phố Huế, dứt điểm Tỉnh Thừa-Thiên, chúng sẽ dựng lên một chính-quyền mới, gồm toàn những “đồng-chí nằm vùng công-khai hợp-pháp” của chúng, đó là sáu Nghị-Viên đương-kim của guồng máy dân-cử sở-tại của Việt-Nam Cộng-Hòa, mà đứng đầu danh-sách là Ông Nguyễn-Khoa-Phẩm, Chủ-Tịch Hội-Đồng Tỉnh Thừa-Thiên, và Ông Nguyễn-Khắc-Thiệu, Chủ-Tịch Hội-Đồng Thị-Xã Huế, v.v…

Bộ Chỉ-Huy Tiểu-Khu Thừa-Thiên đã làm báo-cáo kèm với bản chụp sao các trang tài-liệu đánh máy của Đảng-Ủy Việt-Cộng nói trên, trình lên Bộ Tư-Lệnh Quân-Đoàn I và Quân-Khu I, Bộ Tổng-Tham-Mưu, v.v…

Chánh Sở Đặc-Cảnh Thừa-Thiên/Huế trình lên tôi, tôi trình lên Trưởng Ngành Đặc-Cảnh Trung-Ương, rồi Tư-Lệnh Cảnh-Lực Quốc-Gia (kiêm Đặc-Ủy-Trưởng Trung-Ương Tình-Báo) trình lên Tổng-Thống.

Kết-quả trông thấy trước mắt là các ông Nguyễn Khoa Phẩm, Nguyễn Khắc Thiệu, cùng bốn nhân-vật dân-cử nói trên, sẽ bị giải-nhiệm tức-thời.

Giải-nhiệm các Nghị-Viên Hội-Đồng Tỉnh+Thị-Xã không phải là một việc khó.

Trước đây, có một số Nghị-Viên Hội-Đồng Tỉnh Quảng-Nghĩa đã hành-sử tư-cách dân-cử của mình, xin Bộ Chỉ-Huy Tiểu-Khu sở-tại cấp phương-tiện phi-cơ trực-thăng cho họ chở thực-phẩm, thuốc-men, và nông-cụ lâm-cụ lên các Quận miền núi để cấp-phát cho đồng-bào vùng đó đang gặp khó-khăn. Đa-số các vật-phẩm ấy đã lọt vào tay những kẻ buôn lậu và tiếp-tế cho Việt-Cộng, thay vì đến tay người dân khó-nghèo. Thiếu-tá Đặc-Cảnh Hồ Anh Triết đã điều-tra ra sự thật, và kết-quả là Trung-Ương đã giải-nhiệm các Nghị-Viên liên-can.

Nhưng trong trường-hợp trên, các Nghị-Viên ấy chỉ phạm tội buôn lậu, chỉ bị biện-pháp hành-chánh hoặc bị phạt tiền. Đằng này, theo tài-liệu kể trên, thì nhóm Nguyễn Khoa Phẩm rõ-ràng là tay-sai của Việt-Cộng nằm vùng, lâu nay đã hoạt-động cho địch đắc-lực đến độ được chúng tín-nhiệm chọn cử cầm đầu bộ máy chính-quyền mà chúng sẽ dựng lên nay mai. Với bằng-chứng đó, các đương-nhân sẽ không những chỉ bị giải-nhiệm, mà chắc-chắn là sẽ còn bị câu-lưu truy-tố về tội phá rối trị-an, ở tù, và có vết-tích xấu về mặt chính-trị trong hồ-sơ lý-lịch cá-nhân, mất hết mọi cơ-hội để ra tham-gia chính-sự dù ở bên dân-cử hay bên công-quyền.

*

Ngay sau khi tài-liệu Việt-Cộng nói trên được Tiểu-Khu và chính-quyền Tỉnh Thừa-Thiên và Thị-Xã Huế làm bản sao gửi đi các nơi, tôi được nguồn tin tín-cẩn báo riêng cho biết: đoạn kết trong bản Nghị-Quyết Việt-Cộng ấy là do một nhóm dư-đảng Cần-Lao quá-khích thông-đồng với nhau mà ngụy-tạo thêm.

Ông Nguyễn Khoa Phẩm, ông Nguyễn Khắc Thiệu, và tất cả các Nghị-Viên có tên trong đoạn kết của bản Nghị-Quyết Việt-Cộng ấy, đều là tín-đồ Phật-Giáo, có quan-hệ chặt-chẽ với Giáo-Hội Phật-Giáo Việt-Nam Thống-Nhất; họ đồng-thời cũng là đảng-viên quan-trọng của Đại-Việt Cách-Mạng-Đảng.

Đạo Phật và Đảng Đại-Việt, cùng các giáo-phái và chính-đảng khác, đã bị chế-độ Ngô Đình Diệm đàn-áp, và đã góp phần tích-cực vào việc lật đổ chế-độ ấy.

Hiện nay, Đại-Việt và Phật-Giáo đang ngăn-chận dư-đảng Cần-Lao, là một nhóm tín-đồ Kitô-Giáo và giáo-phái khác mà quyền-lợi vật-chất hoặc tinh-thần đã quá gắn-bó với chế-độ Diệm, không để cho họ tái-lập quyền sinh-sát để trả thù cho gia-đình họ Ngô.

Từ nhiều năm qua, hầu như mọi quyền hành-pháp và lập-quy tại Tỉnh Thừa-Thiên/Thị-Xã Huế đều nằm trong tay Đảng Đại-Việt, và hầu như lần bầu-cử nào các liên-danh Phật-Giáo cũng thắng phiếu vào Hội-Đồng Tỉnh và Thị-Xã địa-phương.

Bây giờ thì nhóm cựu Cần-Lao ấy, cái thiểu-số tác-yêu tác-quái đã là tác-nhân tác-hại cho chính cố Tổng-Thống Ngô Đình Diệm và các anh+em của ông phải mất mạng, và cho Đảng ấy phải tự xóa tên của mình, nhóm ấy đã lại nắm được vị-thế cầm đầu cả quyền hành-pháp lẫn ngành công-lực của toàn Tỉnh & Thị rồi.

Theo kế-hoạch thứ hai của các Linh-Mục Trần Hữu Thanh và Nguyễn Kim Bính, họ muốn gấp-rút thanh-toán các phần-tử đối-nghịch hiện còn cầm đầu cơ-quan dân-cử của Tỉnh+Thị nầy.

*

Đồng-thời với tin-tức mật riêng của tôi, đích-thân Chánh Sở Đặc-Cảnh Tỉnh Thừa-Thiên/Thị-Xã Huế, Trương Công Đảm, trình-bày với tôi là thuộc-viên của anh bị giao-phó công-tác thực-hiện việc giả-mạo đoạn văn vu-khống các Nghị-Viên kia.

Anh là bạn thân của Trung-Tá Hoàng Thế Khanh, hiện là cấp chỉ-huy tại chỗ của anh; nhưng việc này là “một tệ-nạn rất nguy-hiểm, vì nó là mầm-mống gây thù-nghịch ngay trong hàng-ngũ của những người đang đứng chung cùng một chiến-tuyến”. Do đó, vì “trung-thực”, vì “chính-tâm”, anh đã chọn đặt chính-nghĩa lên trên tình-cảm hay quyền-lợi cá-nhân, nên anh liền báo-cáo Sự Thật lên tôi.

Tài-liệu ngụy-tạo của Nguyễn Hữu Duệ thì chỉ đi theo hệ-thống báo-cáo tình-hình, chứ không thông-qua kỹ-thuật kiểm-tra; vả lại vấn-đề Việt-Cộng chủ-trương tái-diễn biến-cố Tết Mậu-Thân ở Huế là điều hầu như mọi người đinh-ninh là chuyện đương-nhiên; nghĩa là các cấp nhận được báo-cáo đều đã tin chắc nội-dung là đúng 100%.

Tôi liền lấy bản chụp sao của Nghị-Quyết ấy ra xem lại, chú ý nhìn kỹ thì thấy, dù bằng mắt thường, quả thật đoạn cuối đã được đánh máy bằng một máy đánh chữ khác, khác hẳn với các trang trước và với đoạn trước cùng trang.

Tôi lặng người đi một lát, rồi nhắm mắt lại ôn lại lời dạy của Đức Phật Thích-Ca: “Oán-cừu nên cởi, không nên buộc!” Năm trăm năm sau, Đức Giê-Su cũng rao-giảng như trên: “Hãy hết sức mình sống hòa-thuận với mọi người… Đừng tự mình trả thù ai… Đừng để điều ác thắng mình, nhưng hãy lấy điều thiện mà thắng điều ác!” (Romans 12:18,21). Tôi lại lật lui, đọc thêm trong sách Proverbs 10:12: “Tính ghen-ghét phát-sinh tranh-chấp; chỉ có lòng thương yêu mới lấp hết tội-khiên”. Trước hết, và trên tất cả là “Mười Điều Răn” đã có từ xưa, trong sách Exodus 20:16: “Các con không được làm chứng gian để hại người xung quanh!”…

Kể từ biến-cố 1-11-1963, đã mười hai năm trôi qua, Đệ-Nhất Cộng-Hòa không còn, mà một nhóm nhỏ phần-tử thân-Diệm còn rơi-rớt lại vẫn còn hiểm-độc như thế. Họ mới gặp dịp chó-ngáp-phải-ruồi ngóc đầu lên được một chút mà đã gian-manh bày mưu thâm, tính kế hiểm vu-oan giá-họa để hãm-hại người khác tín-ngưỡng ngay, huống gì khi cái chế-độ độc-tài độc-tôn bạo-ác ấy đang còn phủ trùm lên khắp quê-hương, mà họ lại nắm chính-quyền trong tay, thì họ đã tác-yêu tác-quái đến mức nào.

Nếu vụ ngụy-tạo tài-liệu Việt-Cộng ở Huế mà đạt kết-quả do họ mong muốn, rồi các nơi khác cũng sẽ noi theogiống như kế-hoạch biểu-tình, Huế mà làm xong là các nơi khác cũng sẽ làm theokhông cần Tỉnh-Trưởng, Tư-Lệnh Hành-Quân; chỉ cần bất-cứ một cá-nhân nào có thể báo-cáo tin-tức, chuyển trình tài-liệu, là đã có thể thêm-thắt theo ý của nhóm chủ-trương: hậu-quả sẽ như thế nào trên khắp vùng đất gọi là Miền Nam Tự-Do?

Tôi không là người của bất-cứ một chính-đảng hay giáo-hội nào; mà Trương Công Đảm thì cũng không nặng tình đậm nghĩa với ai đến độ mù-quáng lý-trí và thui-chột lương-tâm mà bao che cho lũ gian-manh. Huống gì anh đã thấy rõ là chúng sẽ còn lợi-dụng anh thêm trong nhiều âm-mưu tiếp theo.

Trong vụ giả-mạo tài-liệu này, điều bí-mật đã được báo-cáo lên tôi cũng rất có thể sẽ được tiết-lộ cho người khác biết, và hậu-quả tất-nhiên sẽ là một phản-ứng mạnh của giới Phật-Tử, với mối liên-kết có sẵn với nhiều tổ-chức khác, thí-dụ Việt-Nam Quốc-Dân-Đảng và Đại-Việt Cách-Mạng-Đảng, mà ngoài Lực-Lượng Hòa-Hợp Hòa-Giải Dân-Tộc ra thì riêng Đại-Việt cũng đã là một chính-đảng có khối lượng đảng-viên đông nhất và mạnh nhất trên toàn cõi Việt-Nam Cộng-Hòa.

Việc làm bất-lương của vài ba con chiên ghẻ, làm chứng dối như thế, rất có thể sẽ châm ngòi cho một cuộc nội-chiến khốc-liệt giữa hai giới Phật-Tử và cựu Cần-Lao cực-đoan, sớm đẩy Việt-Nam Quốc-Gia đến bờ vực thẳm tương-tàn.

*

Hôm qua, tài-liệu bắt được của Việt-Cộng mà Sở Đặc-Cảnh Tỉnh Thừa-Thiên/Thị-Xã Huế trình lên thì tôi đã giao cho Sở Nghiên+Kế Khu I làm Phiếu Chuyển đệ-trình lên Bộ Tư-Lệnh CSQG/Ngành Đặc-Biệt Trung-Ương theo lệ thường rồi.

Nhưng hôm nay, về vấn-đề ngụy-tạo đoạn kết, có tầm quan-trọng lớn-lao đối với tình-hình an-ninh và nội-chính của Quốc-Gia, thì tôi đã tức-tốc vào báo-cáo riêng với Đại-Tá Nguyễn Xuân Lộc, Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực Vùng I, và tự tay đánh máy một Phiếu Trình mật, gửi riêng cho Chuẩn-Tướng Huỳnh Thới Tây, Trưởng Ngành Đặc-Cảnh Trung-Ương, bản sao gửi Thiếu-Tướng Nguyễn Khắc Bình, Tư-Lệnh Cảnh-Lực Quốc-Gia, và cử đại-diện thân-tín mang thẳng đến văn-phòng của hai vị ấy ở Sài-Gòn.

Tôi cũng báo-cáo thẳng lên Trung-Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư-Lệnh QĐI&QKI, tức Đại-Biểu Chính-Phủ tại Vùng I, theo đúng tinh-thần của Sắc-Lệnh của Chính-Phủ đã quy-định cho trách-vụ của tôi.

Tất-nhiên tôi đã nêu tên nguồn tin và giải-thích rõ trường-hợp nhận tin, đặc-biệt là Trương Công Đảm, để giúp Cấp Trên kiểm-chứng dễ-dàng. Ngoài ra, tôi còn tuyệt-đối giữ kín vụ này tại địa-phương mình, để tránh náo-loạn trong khi chờ-đợi quyết-định của Trung-Ương.

Nguồn tin của tôi nói rõ rằng chính Đại-Tá Nguyễn Hũu Duệ, Tỉnh Trưởng Tỉnh Thừa-Thiên & Thị-Trưởng Thị-Xã Huế, là nhân-vật chủ-chốt trong việc thi-hành thủ-đoạn này, việc mà, nếu ông mà từ-chốinhân-danh dân Chúa, làm theo lời Chúa hơn là lời Chathì hẳn chưa biết chờ đến bao giờ Linh-Mục Nguyễn Kim Bính mới kiếm ra cho được một con chiên ngoan đạo kiểu đó theo ý của mình.

Đại-tá Duệ mà lên làm Tỉnh-Trưởng ngoài đó là do đề-nghị đặc-biệt có tính-toán của tôi, chứ không phải là do “tài” hay “đức” gì của ổng.

Nhưng ổng đã để lộ ra “tài đức” thật-sự của ổng.

Ổng đã nuôi lòng trả thù từ ngót mười hai năm nay, đúng theo lời trối của cố Tổng-Thống Ngô Đình Diệm (“Tôi chết thì trả thù cho tôi!), lạm-dụng Trung-Tá Hoàng Thế Khanhtôi nghĩ là Khanh ở thế bị-động, vì Khanh bản-chất chính-trựchiện là Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực Tỉnh/Thị ở dưới quyền mình, hành-động theo kế-hoạch của nhóm “lãnh-đạo tinh-thần” cực-đoan của mìnhđứng đầu Miền Trung là Linh-Mục Nguyễn Kim Bính, Cha Xứ Phú-Camtrong chương-trình chung là bứng-tỉa các nhân-sự mà họ cho là kẻ thù của phe Kitô-Giáo quá-khích và cựu-Cần-Lao ác-ôn, mà bước khởi đầu là ngụy-tạo đoạn kết vu-oan giá-họa tha-nhân trong bản Nghị-Quyết của Việt-Cộng nói trên.

Phóng-ảnh đoạn trích thư của Ô. Trương Công Đảm,

cựu Chánh Sở Đặc-Cảnh Tỉnh Thừa-Thiên & Thị-Xã Huế:

image.png

 Trương Công Đảm hiện ở Thành-Phố Denver, Colorado, USA.

*

        Sau Quốc-Biến 30-4-1975, ra Hải-Ngoại, cựu Đại-Tá Nguyễn Hữu Duệ xuất-bản cuốn hồi-kí “Nhớ Lại Những Ngày Ở Cạnh Tổng-Thống Ngô Đình Diệm”, được mời đi nhiều nơi thuyết-trình về “ước mơ chưa đạt” của dòng họ Ngô Đình.

        Tôi gửi thư trực-tiếp hỏi vài điều để thấy trình-độ và khả-năng của đương-nhân “trả thù cho lãnh-tụ anh-minh”.

Phóng-ảnh thủ-bút của cựu Đại-Tá Nguyễn Hữu Duệ:

image.png

“Tôi đổi ra Huế năm 1973* làm Tỉnh Trưởng Thừa Thiên và Thị Trưởng Huế – Tôi không nhớ rõ ngày tháng chỉ nhớ là thời gian rất ngắn khi rút lui khỏi Huế*.

Ngoài ra tôi chưa hề phục vụ ở Huế bao giờ.

Xin kính chúc ông và gia quyến an khang.

Kính thư,

(Chữ ký)

Xin cáo lỗi vì già nên tay run khi viết thư.”

——-

*Làm Tỉnh/Thị-Trưởng Thừa-Thiên/Huế “năm 1973” rồi “rút lui khỏi Huế” vào tháng 3-1975 mà bảo [1973-75] là “thời-gian rất ngắn”!

Viết thư là có thì-giờ tra-cứu, chứ không phải là trả lời tức-thì trên máy điện-thoại, mà còn nhớ sai ngày làm Tỉnh-Trưởng (thực-sự là nhậm-chức vào tháng 11 năm 1974), thì làm sao mà viết nổi sách hồi-ký lịch-sử (cuốn “Nhớ lại những ngày ở cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm”)?




SINH-VIÊN HOÀNG KIM KHÁNH

            Hoàng Kim Khánh là sinh-viên trường đại-học Luật-Khoa thuộc Viện Đại-Học Huế.  Anh-ta là phần-tử có lý-lịch tốt: không có quyến-thuộc là cộng-sản mà chỉ có thân-nhân tham-gia chính-quyền Quốc-Gia; bản-thân anh-ta cũng chưa hề làm gì về phương-diện chính-trị cũng như hình-sự đáng để cơ-quan an-ninh lưu-tâm.  Thế mà bây giờ anh-ta bị Ngành Đặc-Cảnh điều-tra.

            Trong thực-tế, không có vấn-đề Chính-Quyền dò xét hành-tung của sinh-viên, ngoại-trừ trường-hợp cá-nhân nào có hành-vi bất-hợp-pháp, tỷ như trộm cướp, buôn bán cần-sa ma-túy, trốn quân-nhiệm, v.v…  và, lẽ tất-nhiên, dính-líu tới tổ-chức hay hoạt-động của giặc thù.  Khánh thuộc loại sau cùng.

            Thành-phố Huế, cố-đô của Việt-Nam, và thủ-phủ của Miền Trung, sau bao nhiêu biến-cố và biến-thiên, vẫn còn sôi-sục những chống-đối, tranh-chấp, vì bất-mãn, tị-hiềm; và cộng-sản bao giờ cũng là kẻ thừa nước đục thả câu.

            Tổng-Hội Sinh-Viên Huế liên-tiếp qua chục năm nay làm cái công việc gọi là “tranh-đấu chống chính-quyền”, trong một hoàn-cảnh thuận-lợi vô cùng.  Chính-quyền gọi họ là tương-lai của dân-tộc, là rường-cột của quốc-gia.  Họ là những người tự-hào có học, ít nhất thì cũng cao hơn trung-học; nếu vào quân-ngũ thì cầm chắc cấp-bậc sĩ-quan trong tay; và khi học xong thì họ sẽ là trí-thức, một giới được mọi người kính-trọng nể-vì.  Họ được gia-đình nuôi ăn, có người được hưởng học-bổng, để tiếp-tục học-hành.  Và họ sử-dụng trường-ốc cùng các tiện-nghi có sẵn trong trụ-sở Viện Đại-Học của chính-quyền để chống lại chính-quyền.

            Viện Đại-Học Huế, hay nói đúng hơn là Tổng-Hội Sinh-Viên Huế, một tổ-chức mà chính-quyền cần có nhưng không kiểm-soát được, đã đào-tạo ra một số “lãnh-tụ sinh-viên tranh-đấu” được một số đông sinh-viên bầu vào các Ban Đại-Diện của tập-thể mình, và được hầu hết báo-chí, phương-tiện truyền-thông nằm trong tay tư-nhân hậu-thuẫn hết mình.

            Lâu nay họ chỉ hội họp, hội-thảo, lập kiến-nghị, đưa yêu-sách, chống đối điều này, đòi-hỏi điều kia; cao lắm là treo biểu-ngữ, dán bích-chương trước cổng trường và trên đường phố, chiếm-cứ giảng-đường làm nơi cố-thủ, họp báo, tuyệt-thực, tố-cáo tham-nhũng, phản đối bắt-bớ, tẩy-chay Chương-Trình Huấn-Luyện Quân-Sự Học-Đường, kêu gọi thả tù chính-trị, hô-hào chấm dứt chiến-tranh, v.v…  Sau Hiệp-Định Paris, một số “lãnh-tụ sinh-viên Huế” tương-đối có tên-tuổi đã rời môi-trường đại-học, vì lý-do này hay lý-do kia; số còn lại tuy vẫn có thể nuôi-dưỡng phong-trào, nhưng dân-chúng và ngay cả đa-số sinh-viên bạn cũng đã ý-thức được vấn-đề bị cộng-sản lồng người vào, giật dây, hoặc lợi-dụng, nhất là sau vụ Huỳnh Tấn Mẫm của Tổng-Hội Sinh-Viên Saigon bị Đặc-Cảnh trưng-dẫn bằng-chứng tố-cáo y là cơ-sở hoạt-động cho Việt-Cộng, nên các “lãnh-tụ” tay sai của địch tự cảm thấy bị hạn-chế cả trong phạm-vi địa-bàn sách-động lẫn trong nội-dung các đề-tài nêu lên.  Họ bèn tìm cách để thoát ra khỏi ngõ bí; và khi có một sáng-kiến tuy bên trong ấn-giấu âm-mưu xảo-quyệt nhưng bên ngoài lộ vẻ chính-đáng vô-tư thì hầu như số đông liền chấp-nhận dễ-dàng.

            Chỉ là một sự trùng-hợp ngẫu-nhiên, song “vụ sinh-viên Hoàng Kim Khánh” xảy ra vào thời-gian tôi mới đến Vùng I, từ cuối 1973, đã có ý-nghĩa như là một thách-đố đối với riêng tôi.

            Một chiến-dịch rỉ tai đã được tung ra rằng tập-thể sinh-viên nên chọn bầu một cá-nhân không có thân-nhân dù gần dù xa là người ở phía cộng-sản, làm người đại-diện cho mình, để phía Quốc-Gia không có lý-do mà nghi-ngờ là dễ bị cộng-sản móc-nối hoặc thiên về bên kia.  Khánh được nhiều sinh-viên đã có thành-tích “tranh-đấu” của Khoa mình cũng như các Khoa khác nhiệt-liệt ủng-hộ.  Do đó, khi Khánh được giới-thiệu ứng-cử vào vai trò Chủ-Tịch Ban Đại-Diện trường Luật thì anh-ta chiếm được đa-số tuyệt-đối phiếu của Khoa mình.  Liên-tiếp nhiều lần hội-họp trong nội-bộ Khoa cũng như trong hội-đồng Tổng-Hội, Khánh phát-biểu mạnh-dạn, được các sinh-viên có tiếng-nói ảnh-hưởng gợi ý là anh-ta xứng-đáng được đắc-cử, trong nhiệm-kỳ sắp tới, vào cương-vị Chủ-Tịch Tổng-Hội bao trùm mọi Khoa.

            Đùng một cái, Khánh mất tích.  Cứ theo những quyết-nghị, kiến-nghị, kháng-thư, biểu-ngữ, bích-chương, truyền-đơn, bài đăng báo, lời tuyên-bố, v.v… của Tổng-Hội Sinh-Viên Huế, liên-tiếp họp bất-thường nhiều ngày, nhiều đêm, thì chắc-chắn là anh-ta đã bị cơ-quan an-ninh tình-báo của Việt-Nam Cộng-Hòa bắt cóc.  Vì thế, chủ-đề tranh-đấu là yêu-cầu Chính-Quyền trả tự-do ngay cho Hoàng Kim Khánh, và trong thời-gian chờ-đợi thì đổ cho Chính-Quyền chịu trách-nhiệm hoàn-toàn về tính-mệnh của sinh-viên này.

            Tôi đã huy-động mọi nỗ-lực của Ngành Đặc-Cảnh toàn Vùng I, cũng như phối-hợp với tất cả các cơ-quan & đơn-vị an-ninh tình-báo bạn tại địa-phương, và báo-cáo lên Trung-Ương đồng-thời thông-báo các Vùng khác, để cùng lùng tìm tung-tích của Khánh.  Suốt một tuần-lễ, tình-hình căng-thẳng tột cùng.  Một bên thì phe sinh-viên gia-tăng cường-độ chống-đối Chính-Quyền; hơn nữa, trong mấy ngày sau thì lại có một giáo-gia trung-học “mất tích”, khiến một số đông giáo-gia và nam+nữ học-sinh trung-học tại Huế cũng cùng đứng lên sát cánh với sinh-viên Huế trong cuộc tranh-đấu có mục-tiêu gần-gũi và cụ-thể này.  Một bên thì Chính-Quyền, mà đại-diện là các cơ-quan & đơn-vị an-ninh tình-báo Quốc-Gia, nhất là Ngành Đặc-Cảnh, bị dư-luận nghi-ngờ mà không làm sao thanh-minh được, vì công-chúng dễ-dàng tin theo tin đồn.

            Thật-sự thì không có ai bắt Khánh.  Nhưng tôi chỉ biết xác-nhận với Cấp Trên như thế trong nội-bộ mà thôi; chứ Chính-Quyền, từ Phủ Tổng-Thống, Phủ Thủ-Tướng, Bộ Nội-Vụ, Bộ Thông-Tin, xuống đến các “cơ-quan chính-quyền Tỉnh” – một danh-xưng con đẻ của cái gọi là “Cuộc Cách-Mạng Hành-Chánh của Việt-Nam Cộng-Hòa” – nhất là Tỉnh Thừa-Thiên trong đó có Thị-Xã Huế, thì không có nơi nào lên tiếng phủ-nhận lời rêu-rao của sinh-viên; hoặc giả đã có thông-cáo nhưng không thấy báo nào đăng, vì báo-chí hầu hết đứng về phía đối-lập với Chính-Quyền.

            Một tuần-lễ sau, cuộc “tranh-đấu” ấy của Sinh-Viên Huế đã đạt đến kết-quả cao-độ của nó.  Cũng vào một buổi sáng chủ-nhật, trong lúc sinh-viên các Khoa đang họp bàn sôi-nổi thì Hoàng Kim Khánh chạy xộc vào hội-đường, với bộ mặt hốc-hác, đầu tóc bù-xù, áo quần nhăn-nheo; bề ngoài cho thấy rõ-ràng là anh-ta vừa mới thoát ra từ một chốn giam-cầm khắt-khe.

            Sau mấy phút reo mừng ôm hôn náo-nhiệt, Khánh được mời ngay lên máy vi-âm tường-thuật những gì đã xảy ra cho anh-ta trong những ngày qua.

            Theo lời Khánh thì, vào sáng chủ-nhật tuần trước, Khánh rời nhà ở trong Thành-Nội để đi qua Viện Đại-Học Văn-Khoa dự họp như lệ thường lâu nay; lúc chưa ra đến Cửa Đông-Ba thì anh-ta bị hai người đàn-ông mặc dân-phục chận lại, chĩa súng lục vào người, bảo leo lên một chiếc xe Jeep sơn màu trắng-xám đậu sẵn bên đường.  Anh-ta bị chở đến Trung-Tâm Thẩm-Vấn thuộc Sở Đặc-Cảnh Tỉnh Thừa-Thiên, dọa-nạt, đánh-đập, liên-tiếp hai ngày hai đêm.  Sau đó, anh-ta được giao cho hai người đàn-ông, cùng mặc dân-phục, chở bằng xe Jeep sơn màu trắng-vôi đến trụ-sở của Đội Quân-Báo Đặc-Biệt ở đường Trưng-Trắc, Huế; tại đây anh-ta cũng bị hăm-he, hành-hạ, một ngày một đêm.  Tiếp theo, anh-ta được giao cho một người đàn-ông, cũng mặc dân-phục; người này còng tay, bịt mắt, nhét khăn vào miệng anh-ta, chở bằng xe-hơi dân-sự từ Huế vào Đà-Nẵng, vào khoảng hai ba giờ sáng, nhốt ở trụ-sở của Đội Khảo-Cứu Địa-Lý thuộc Phủ Đặc-Ủy Tình-Báo Trung-Ương, trên đường Trần Cao Vân; ở đây anh-ta cũng bị khủng-bố, ngược-đãi.  Kế đến, anh-ta bị đưa đến giam ở một ngôi nhà bí-mật trên đường Lý Thường Kiệt, thuộc Sở Tác-Vụ của Ngành Đặc-Cảnh Vùng I (của tôi), hai ngày sau cùng; cơ-quan này cũng hù-nạt, trấn-áp anh-ta, cuối cùng đã dùng xe Jeep sơn màu trắng-xám chở anh-ta từ Đà-Nẵng ra Huế lại, thả anh-ta xuống ở đường Triệu-Ẩu sáng nay.  Anh-ta liền chạy thẳng đến với Tổng-Hội Sinh-Viên, đúng lúc Ban Đại-Diện các Khoa đang hội-họp tại hội-đường này của Trường Đại-Học Văn-Khoa.

            Cũng theo lời của Hoàng Kim Khánh thì mục-đích của việc Chính-Quyền bắt cóc anh-ta như thế là để trực-tiếp cảnh-cáo anh-ta đừng tham-gia hoạt-động với các phần-tử “tranh-đấu” đang cầm đầu Tổng-Hội Sinh-Viên Huế.  Vì anh-ta là con+cháu của một số viên-chức khả-tín trong hàng-ngũ Quốc-Gia, tiếng nói của anh-ta sẽ có sức mạnh lớn hơn so với các “lãnh-tụ” sinh-viên đương-thời mà hoạt-động có hại cho an-ninh trật-tự chung.  Mục-đích cũng là gián-tiếp báo trước cho các phần-tử “tranh-đấu” khác biết là họ cũng có thể bị bắt cóc, thậm-chí thủ-tiêu, bất-cứ lúc nào.  Khánh kể lại là anh-ta đã xác-nhận với các giới-chức hữu-quyền rằng anh-ta chỉ đứng trên căn-bản của các nguyên-tắc tự-do, dân-chủ và nhân-quyền, cũng như Hiệp-Định Paris, để tranh-đấu, chứ không thiên về cộng-sản; và vì các cơ-quan an-ninh & tình-báo liên-hệ không thuyết-phục được anh-ta, mà cũng không tìm thấy bằng-chứng hoặc yếu-tố nào để buộc tội anh-ta, nên đành phải thả anh-ta ra mà thôi.

            Sự tái-xuất-hiện cùng với câu chuyện kể lại của Khánh như trên, là một bình xăng ném vào đống lửa củi khô đã cháy sẵn.  Tổng-Hội Sinh-Viên Huế, với sự hậu-thuẫn của Tổng-Hội Sinh-Viên Sài-Gòn và báo-chí trong nước, đã xuống đường, tuyệt-thực, gửi tối-hậu-thư đòi Chính-Quyền Việt-Nam Cộng-Hòa phải công-khai nhận lỗi, chịu bồi-thường thiệt-hại cho Khánh, và cam-kết từ nay chấm dứt mọi việc làm ám-muội tương-tự vụ này.

            Tôi thật rối trí trước tình-hình gay-cấn tột cùng.  Tôi đã phối-kiểm với các cơ-quan & đơn-vị bạn, đồng-thời soát-xét các bộ-phận hành-sự thuộc quyền mình, thì, lạ-lùng thay, từ màu sơn của các cảnh-xa, quân-xa mang bảng số ẩn-tế dân-sự, các địa-chỉ tọa-lạc của các Trung-Tâm, Đội, Nhà An-Toàn, cho đến hình-dáng, phục-sức, của một số viên-chức và sĩ-quan thuộc cả bốn tổ-chức – Đặc-Cảnh, Tình-Báo Trung-Ương, Quân-Báo, và Quân-An  ở cả hai Thành-Phố, Huế và Đà-Nẵng, mà Hoàng Kim Khành mô-tả lại, đều đúng với sự thật được che-giấu ngoài đời.  Riêng việc bắt Khánh thì cả bốn ngành kể trên đều khẳng-định là không hề xảy ra.  Tuy nhiên, Chính-Quyền thì đã bị tai-tiếng rõ-ràng.  Biến-cố này ảnh-hưởng mạnh đến tinh-thần phục-vụ hăng say của Ngành Đặc-Cảnh, trong bối-cảnh Việt-Cộng đánh ngoài phá trong, hằng chục đoàn-thể dân-chúng lớn+nhỏ – từ các chính-hội, giáo-hội, hữu-hội, đến các Lực-Lượng, Mặt-Trận, Phong-Trào, Liên-Hiệp, Liên-Minh – đều dồn-dập nổi lên đả-kích Chính-Quyền, cùng với một số nhân-vật dân-cử như Thượng-Nghị-Sĩ, Dân-Biểu, hội-viên Hội-Đồng Tỉnh, Thành-Phố, cũng đối-lập kịch-liệt với Chính-Quyền, tạo nên một bầu không-khí sôi-sục, ngột-ngạt vô cùng.

            Tôi họp bàn riêng với Thiếu-Tá Trương Công Ân, Chánh Sở Đặc-Cảnh Tỉnh Thừa-Thiên, để tìm cách đối-phó, cứu-vãn tình-hình.  Chúng tôi nhận định: câu chuyện “Hoàng Kim Khánh bị bắt cóc” là một câu chuyện hư-cấu ấu-trĩ, bởi lẽ chưa bao giờ có sự hợp-tác chặt-chẽ của bốn ngành hoạt-động nói trên, nhất là trong một âm-mưu bất-chính mà chỉ nhắm vào một cá-nhân chưa hề là đối-tượng chú ý đáng kể của riêng một ngành nào; hơn nữa, nếu muốn bắt cóc thật-sự thì chắc-chắn là không có ai khờ-khạo để lộ gốc-gác, hành-tung của mình cho đối-phương nhận biết dễ-dàng như trên.  Nói chung, dư-luận đã bị đầu-độc, công-chúng không cần phán-đoán vô-tư, và Chính-Quyền đã bị chơi khăm một vố khá đau, trong đó Ngành Đặc-Cảnh bị thua oan-uổng một nước cờ gian.  Do đó, Ngành Đặc-Cảnh phải chứng-minh, để tự biện-minh cho mình.

            Tôi tính chỉ cần làm thế nào để Hoàng Kim Khánh nói cho chúng tôi biết sự thật về câu chuyện bịa-đặt kể trên, thì chúng tôi mới hành-động đúng cách được.  Nhưng, chúng tôi không tiện bắt Khánh, mà cũng không tiện mời anh-ta đến công-đường, vì bây giờ thì không riêng gì giới sinh-viên mà có thể nói là mọi người xung quanh đều canh chừng giùm cho anh-ta, hễ nghe tin Đặc-Cảnh hỏi-han gì anh-ta là họ phản-ứng rùm-beng liền, chỉ có hại thêm cho chúng tôi mà thôi.  

    Và tôi đã chọn một phương-thức bắt-đắc-dĩ: dùng gậy ông đập lưng ông.  Tôi thảo-luận kỹ-càng với Ân, để Ân trình-bày lại với Liên Thành (thiếu-tá, Chỉ-Huy-Trưởng CSQG Thừa-Thiên & Huế, và được Thành đồng-thuận) theo nguyên-tắc, rồi giao-phó và cho phép Ân đích-thân thi-hành kế-hoạch, một kế-hoạch mà nếu thất-bại thì cả hai chúng tôi sẽ thân-bại danh-liệt tức-thời: bắt cóc Khánh, bắt cóc thật-sự.

            Vì Tổ-Quốc, vì Danh-Dự, vì Trách-Nhiệm, Sở Đặc-Cảnh Tỉnh Thừa-Thiên đã hoàn-tất tốt đẹp cái công-tác không-tiền khoáng-hậu nói trên.  Vào một đêm khuya kia, nhân lúc Khánh một mình ra vườn, do chúng tôi tạo động-cơ thúc-đẩy, trong lúc người nhà và hàng xóm đều đang ngủ say, chúng tôi đã chớp-nhoáng tê-liệt-hóa anh-ta và lặng-lẽ chở anh-ta về một căn phòng đặc-biệt, có bố-trí kín máy quay phim, máy ghi-âm, kính-một-chiều để bên trong anh-ta tưởng là gương soi mặt nhưng bên ngoài một số viên-chức có uy-tín được mời đến quan-sát thì thấy rõ, để phòng nếu cần thì sẽ làm chứng về sau.  Khánh được cho xem những tài-liệu của Việt-Cộng, về tổ-chức và hoạt-động của Mũi Trí-Vận, Thành-Đoàn Thanh-Niên Sinh-Viên Học-Sinh, hồ-sơ các vụ Huỳnh Tấn Mẫm cùng Lê Văn Nuôi trong Nam và Hoàng Phủ Ngọc Tường cùng Nguyễn Đắc Xuân ở Huế, v.v… cùng những tin-tức về kế-hoạch giật dây phong-trào tranh-đấu của Sinh-Viên Huế, và viễn-ảnh một cuộc tổng-nổi-dậy theo kiểu tổng-tấn-công ở Huế vào dịp Tết Mậu-Thân trong đó Việt-Cộng tàn-sát tập-thể nhiều nghìn người.  Trong cuộc đấu trí, câu hỏi được đặt ra là trong trường-hợp đó liệu thân-nhân của Khánh có thoát khỏi bàn tay phi-nhân của cộng-sản hay không; và, là một thanh-niên có học-thức, Khánh nghĩ thế nào về chính-sách giết người tay không dã-man như thế.

            Kết-hợp tác-động tâm-lý chính-trị với kỹ-thuật moi tin, Đặc-Cảnh đã đạt được kết-quả là Khánh thú-nhận đã bị sinh-viên Trần Văn Hội của Trường Đại-Học Y-Khoa tổ-chức, huấn-luyện, đạo-diễn, cốt để đưa Khánh lên làm Chủ-Tịch Tổng-Hội Sinh-Viên toàn Viện Đại-Học Huế.

            Trong tuần-lễ vắng mặt, Khánh chỉ nằm lì trong buồng ngủ của Hội, được y bày-vẽ mọi lời ngụy-tạo để vu-cáo các cơ-quan an-ninh tình-báo Quốc-Gia.  Khánh biết rõ Hội là cơ-sở nằm vùng của Việt-Cộng; có lần có một cán-bộ đến tiếp-xúc với Hội và thò đầu vào cửa buồng ngủ vừa quan-sát vừa cười chào như để khuyến-khích Khánh tiếp-tục làm con cừu ngoan.

            Rốt cục, Khánh đã vui lòng ký tên vào tờ cam-kết cộng-tác với Ngành Đặc-Cảnh, chụp ảnh chung với sĩ-quan Biệt-Tác để lưu hồ-sơ, và được chỉ-dẫn về lề-lối thu-thập, báo-cáo tin-tức, cùng ngụy-thức, ám-hiệu tiếp-xúc với Trưởng Lưới của mình, v.v…  Tất cả chỉ diễn ra trong vòng ba tiếng đồng-hồ.  Khoảng bốn giờ sáng là anh-ta đã được đưa trở lại tiếp-tục nằm ngủ ở nhà rồi.

            Từ đó, Sở Đặc-Cảnh Tỉnh Thừa-Thiên có thêm hai Mũi Biệt-Tác biệt-lập: một điệp-vụ của Hoàng Kim Khánh, và một thám-vụ nhắm vào Trần Văn Hội.  Trước kia, Hội chỉ là một trong số những sinh-viên mà Đặc-Cảnh biết là thân-Cộng, nhưng chưa nắm được bằng-chứng về việc y tiếp-xúc, nhận lệnh của đối-phương.  Nay thì Đặc-Cảnh đã nhờ Khánh mà giám-sát, theo-dõi sít-sao, và đã khám-phá ra được đường dây bí-mật của bọn y.

            Có Hoàng Kim Khánh, tôi đã có thể rút về những nhân-viên lâu nay đội lốt sinh-viên, tiết-kiệm được một phần nhân-lực, thì-giờ và tiền-bạc vì tung lưới rộng hơn phạm-vi thật-sự cần.  Bây giờ thì Khánh đã được toàn-thể sinh-viên tín-nhiệm, vì vụ “bị bắt-cóc ma” là một hào-quang sáng chói bao quanh anh-ta trước mắt và trong trí mọi phần-tử quá-khích đương-thời.  Nhưng vụ “bị bắt-cóc thật” là một khởi-điểm để anh-ta tìm hiểu và báo-cáo cho Đặc-Cảnh mọi ý-đồ, hoạt-động, và đối-tượng liên-quan trong đường dây do Trần Văn Hội cầm đầu.

            Cao hơn Hội, trước đó Đặc-Cảnh đã bí-mật phăng dò ra một số cán-bộ Việt-Cộng nằm vùng cũng như từ mật-khu về liên-lạc với cơ-sở nội-thành.  Tổng-Hội Sinh-Viên Huế có làm gì đi nữa thì cũng chỉ thừa-hành chỉ-thị của Việt-Cộng, mà kế-hoạch của địch sử-dụng tập-thể sinh-viên như thế nào thì Đặc-Cảnh đã biết trước và liệu trước, chỉ cho phép chúng đạt được kết-quả ở một giới-hạn nào đó mà thôi, để nuôi-dưỡng tổ-chức và hoạt-động của địch, hầu kết-quả công-tác của Đặc-Cảnh đạt được phải to lớn gấp nhiều lần hơn.

            Khi cần phá vỡ, bao giờ một điệp-vụ của Đặc-Cảnh cũng phải vô-hiệu-hóa cho được ít nhất là trọn một cơ-quan hay đơn-vị đầu-não của địch ở cấp cao hơn các nội-tuyến-viên trong đường dây liên-quan…

                                                       LÊ XUÂN NHUẬN

                                                                                     Biến-Loạn Miền Trung




VỀ VÙNG CHIẾN-TUYẾN

        Tôi bước vào phòng giấy của Chuẩn-Tướng* Huỳnh Thới Tây, Trưởng Ngành Đặc-Biệt Trung-Ương, với phong-thái điềm-nhiên nhưng tâm-trạng bồn-chồn.

*Chuẩn-tướng: tướng một sao.

        Tôi đang làm việc ở Ngành Đặc-Biệt Vùng II, mà trụ-sở đóng tại Thành-Phố Nha-Trang, thì nhận được một cú điện-thoại từ Văn-Phòng Trưởng Ngành, bảo tôi về gặp Chuẩn-Tướng Tây ngay.

        Trong phạm-vi công-tác chuyên-môn, Trưởng Ngành Đặc-Biệt Trung-Ương trực-tiếp tiếp-xúc với tôi là một chuyện thường; nhưng, trong lĩnh-vực quản-trị nhân-viên, việc Trưởng Ngành gọi tôi, lúc ấy là một Phó Giám-Đốc cấp Vùng, mà ở Trung-Ương thì không qua Nha Tiếp-Trợ, và ở địa-phương thì không qua Trưởng Cơ-Quan, là một chuyện bất-thường.  Dạo đó, nội-bộ Cảnh-Sát Quốc-Gia đang bị xáo-trộn vì nhiều đợt liên-tiếp thay bậc đổi ngôi, nên chuyện xuống chó hay lên voi, dù không xảy đến cho mình, cũng khiến mọi người bàn-tán xôn-xao.  Từ lúc tôi nhận được lệnh ấy cho đến trước khi tôi bước vào phòng làm việc của Tướng Tây, nhiều người đã phỏng-đoán với tôi về mục-đích của cuộc gặp-gỡ này; tuy tất cả đều trấn-an tôi rằng đây là một việc vui, nhưng hầu hết đều không dám chắc rằng đây không phải là một điều xui.

        Tôi đã thầm tự kiểm-điểm sinh-hoạt của mình trong thời-gian qua, xem thử có gì sai trái, hầu chuẩn-bị tinh-thần mà đón nhận, nếu có, mọi sự chẳng lành.

Chính-Sách Quân-Cách-Hóa*

        Năm 1971, Lực-Lượng Cảnh-Sát Quốc-Gia của Việt-Nam Cộng-Hòa lại được cải-tổ; lần này rõ-ràng là để chuẩn-bị cho tình-hình hậu-chiến Việt-Nam.

*Không phải quân-sự-hóa hay quân-nhân-hóa.

        Thêm nhiều sĩ-quan Quân-Lực được biệt-phái qua nắm giữ các chức-vụ chỉ-huy quan-trọng trong Ngành Áp-Pháp.  Trừ một thiểu-số có khả-năng, còn thì đa-số đã không thạo việc mà không chịu học lại còn lợi-dụng cương-vị mới — có quyền-hành trực-tiếp đối với dân-nhân — để làm lợi riêng cho bản-thân, do đó, làm hại chung cho hoạt-động của cơ-quan trọng-yếu này của Chính-Quyền.  Tôi thấy trước hậu-quả bất-lợi cho chế-độ nói chung, nhất là qua chính-sách quân-cách-hóa guồng máy này, nên đã gửi lên Trưởng Ngành Đặc-Biệt Trung-Ương, hồi đó là Trung-Tá Nguyễn Mâu, một bức thư điều-trần quan-điểm của mình.

        Sự-việc xảy ra thì Trung-Ương cử trung-tá quân-nhân Nguyễn Văn Long đến Vùng II giữ chức-vụ Giám-Đốc Ngành Đặc-Biệt thay-thế tôi, và giáng-chức tôi từ Trưởng xuống Phó. .

        Trung-Tá Nguyễn Mâu phải phái Đại-Tá Đặng Văn Minh, Phó Trưởng Ngành Đặc-Biệt Trung-Ương, ra Vùng II triệu-tập một cuộc họp nội-bộ các cấp chỉ-huy, để xoa dịu tình-hình.

        Sau ngày Hiệp-Định Paris 27-1-1973 được ký-kết và có hiệu-lực, chiến-tranh Việt-Nam chấm dứt, đáng lẽ Lực-Lượng Cảnh-Sát Quốc-Gia phải là công-cụ đắc-lực cho chính-quyền và dân-chúng Miền Nam trong công-cuộc đấu-tranh chính-trị trực-diện với cộng-sản ở thời bình, thì Hành-Pháp Trung-Ương, trong tay các cấp nhà-binh, đã chỉ xây-đắp Cảnh-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa thành một “con cọp… lười”.

        Tính đến nay, số lượng quân-nhân biệt-phái từ đại-tá xuống đến binh-nhì đã tràn ngập từ Trung-Ương xuống đến Xã Phường, nâng tổng-số nhân-số Cảnh-Lực Quốc-Gia từ mấy chục ngàn người lên đến khoảng mười tám vạn người.  Thời-gian sau cùng, Thiếu-Tướng* Nguyễn Khắc Bình, Đặc-Ủy-Trưởng Tình-Báo Trung-Ương, đã qua kiêm-nhiệm Tư-Lệnh Cảnh-Lực Quốc-Gia, đem theo thêm nhiều sĩ-quan cao-cấp Quân-Lực thay-thế hầu hết các viên-chức Cảnh-Sát cao-cấp chuyên-ngành.

*Thiếu-tướng: tướng hai sao.

        Giai-đoạn đầu của chiến-lược Việt-Nam-Hóa đã qua một cách giả-tạo, và giai-đoạn nhì đã đến trong tình-thế bấp-bênh.

        Mỗi ngành nghề đều có những đặc-tính và quy-luật hoạt-động riêng của mình.  Nhưng Cảnh-Lực mà tổ-chức sao y theo Quân-Lực thì dư phòng-giấy, thừa cạo-giấy, và thiếu việc-làm; và điều-hành rập khuôn theo Quân-Lực thì mất thì-giờ, tốn nhân-lực, và phí hiệu-năng.  Các bộ-phận phụ-dịch thì lấn át chính-nghiệp.  Guồng máy Áp-Pháp đã không bắt nguồn mà cũng không bám rễ trong dân-nhân.

        Tội tự thấy mình có nhận-thức đúng, như đã từng có nhận-thức đúng về các biến-cố lịch-sử trước đây; và tôi đã biểu-lộ bằng cả lời nói lẫn việc làm công-khai, trong khuôn-khổ trách-nhiệm và quyền-hạn có sẵn, cái nhận-thức “cấp-tiến” và “quá-khích” ấy của mình.

        Hồ-sơ nội-vụ còn nằm ít nhất là trong văn-phòng của Ngành Đặc-Biệt Trung-Ương.  Có thể là tôi sắp bị trừng-trị vì sự chống-đối kể trên?

Kế-Hoạch “Cảnh-Sát-Hóa”

        Có một điều lạ, là hầu như ít ai biết đến cái-gọi-là “Kế-Hoạch Cảnh-Sát-Hóa”, vốn là một món quà hậu-Việt-Nam-Hóa mà người Mỹ thân tặng cho Việt-Nam Cộng-Hòa để làm “quốc-sách” sau-chiến-tranh.

        Các nhà lãnh-đạo Miền Nam chỉ miễn-cưỡng cho thi-hành Kế-Hoạch ấy một cách qua-loa, tại một số Tỉnh, trong một thời-gian ngắn, rồi dẹp bỏ luôn.

        Tôi đã tự mình kiếm được bản chính của Kế-Hoạch ấy bằng chữ Anh, đọc kỹ để có ý-niệm chính-xác về ý-nghĩa và mục-đích chiến-lược của nó, hầu có căn-bản lý-thuyết mà đối-chiếu với thực-tế thực-hành.

        Tôi là người duy-nhất đã đến các Tỉnh như Ninh-Thuận, Bình-Thuận, v.v… thuộc Vùng II, quan-sát và nghiên-cứu tại chỗ việc thi-hành Kế-Hoạch Cảnh-Sát-Hóa tại Vùng này, sau khi Kế-Hoạch ấy đã được thử-nghiệm có kết-quả tốt tại Tỉnh Gò-Công thuộc Vùng IV, và một số Tỉnh khác của Miền Nam.

        Tại Trung-Ương, không có một bộ-phận đầu-não xứng-đáng, để đảm-trách nó.

        Kế-Hoạch “Phụng-Hoàng”, vốn là một giai-đoạn của Kế-Hoạch “Cảnh-Sát-Hóa”, không được hiểu đúng, nên các Trung-Tâm Thường-Trực, những khi không có người Mỹ nhúng tay vào, chỉ là những văn-phòng ngoại-vi, tập-trung tin-tức tình-báo đã nguội, và báo-cáo kết-quả hành-quân đã lạnh.

        Những vấn-đề chiến-thuật nhất-thời, như: Trại Giam, mà dư-luận trong nước cũng như ngoài nước chỉ-trích nặng-nề, vì chứa quá nhiều người và thiếu tiện-nghi; Ủy-Hội Quốc-Tế Kiểm-Soát Và Giám-Sát Ngưng Bắn (ICCS), mà trong đó có hai thành-viên cộng-sản Đông-Âu là Hung-Gia-Lợi và Ba-Lan; các Ban Liên-Hợp Quân-Sự 4-Bên và 2-Bên, mà trong đó có các thành-viên cộng-sản Việt-Nam (Cộng-Sản Bắc-Việt Xâm-Lược và Cộng-Phỉ Miền Nam); v.v… đều thuộc phạm-vi chính-trị và phản-gián, thì bị tách rời ra khỏi Ngành Đặc-Biệt là trung-tâm chuyên-môn về các lĩnh-vực này.

        Hơn nữa, các bộ-phận chủ-trì biệt-lập kia ở trung-ương thì không có cấp dưới trực-hệ để chấp-hành chỉ-thị của mình tại các địa-phương.

        Tôi không chịu nổi cảnh bế-tắc ấy trong công-vụ — sứ-mệnh đa-diện của Lực-Lượng Cảnh-Sát Quốc-Gia đối với Quốc-Dân, chứ không phải chức-năng phiến-diện của các cá-nhân nắm giữ chức-vụ chỉ-huy trên mặt giấy-tờ.  Ngành Đặc-Biệt Trung-Ương thì không biết hết các nhiệm-vụ mà cấp dưới đảm-trách ở các địa-phương; Bộ Chỉ-Huy Cảnh-Lực Vùng thì hễ thấy gì có dính-dáng đến cộng-sản và chính-trị là giao khoán ngay cho Ngành Đặc-Biệt tự lo.

        Vì thế nên tôi quyết-định làm liều.

        Tôi đã tự ý tổ-chức các đại-hội, tại các Tỉnh lớn và Thành-Phố quan-trọng, như: Bình-Định, Phú-Yên, Khánh-Hòa/Nha-Trang, Cam-Ranh, Ninh-Thuận, Bình-Thuận, Kontum, Pleiku, Darlac, Tuyên-Đức/Đà-Lạt; mời tất cả các cố-vấn Hoa-Kỳ thuộc 4 địa-hạt là Phụng-Hoàng (Phoenix), Cảnh-Sát Sắc-Phục (PSD tức Public Safety Division=An-Ninh Công-Cộng), Tình-Báo (PSB tức Police Special Branch=Ngành Đặc-Biệt, và PRU tức Province Reconnaissance Unit=Thám-Sát Tỉnh), và Cảnh-Sát Dã-Chiến (NPFF tức National Police Field Force), cùng dự với tất cả các đại-diện của các cơ-quan quân-sự và các Bộ khác, các cấp chỉ-huy Cảnh-Sát, từ cấp Vùng xuống đến cấp Quận khắp Vùng II; để tôi thuyết-trình quan-điểm của mình về các vấn-đề sau-chiến-tranh.

        Tôi cũng tự-nguyện đảm-trách một số giờ giảng-dạy tại Trung-Tâm Huấn-Luyện Phụng-Hoàng Quân-Khu II, dành cho các sĩ-quan Quân-Lực (Phòng 2, An-Ninh Quân-Đội, Chiến-Tranh Chính-Trị…), viên-chức các Bộ khác (Thông-Tin, Chiêu-Hồi, Dân-Ý-Vụ, Xây-Dựng Nông-Thôn…), và các cấp cảnh-nhân (Đặc-Cảnh, Cảnh-Sát Sắc-Phục, Cảnh-Sát Dã-Chiến, Thám-Sát Tỉnh…), cũng với các đề-tài nói trên.

        Ngoài ra, tôi còn nắm lấy nhiều cơ-hội khác để phổ-biến nhận-thức của mình, thí-dụ: tại Trung-Tâm Tu-Huấn Tình-Báo Sơ-Cấp Vùng II trực-thuộc quyền tôi; tại Trung-Tâm Huấn-Luyện Cảnh-Sát Căn-Bản Vùng II; tại các Khóa Đào-Tạo Trưởng Cuộc CSQG cấp Xã/Phường, dành cho từng đợt sĩ-quan Quân-Lực biệt-phái qua; v.v… là những nơi mà chương-trình giảng-huấn có dành cho tôi nhiều giờ.

        Trước năm 1972 thì tôi tham-gia công-tác Phụng-Hoàng với tư-cách Ủy-Viên; từ năm 1972, Giám-Đốc Ngành Đặc-Biệt cấp Vùng không còn là Ủy-Viên Ủy-Ban Phụng-Hoàng cấp Quân-Khu nữa; nhưng vì tôi muốn lợi-dụng tổ-chức này để làm lợi cho công-cuộc chống-Cộng về sau, nên tôi dựa vào uy-tín cá-nhân của mình để vẫn tiếp-tục giảng-dạy tại Trung-Tâm Huấn-Luyện của Ủy-Ban Phụng-Hoàng Quân-Khu II, với tư-cách “chuyên-viên” là một tư-cách do tôi tự-phong và được mọi người hữu-quan cả Việt lẫn Mỹ mặc-nhiên nhìn-nhận.

        Tôi lại biên-soạn và ấn-hành nhiều bài tham-luận, xung quanh chủ-đề đã được nêu ra, gửi khắp các cấp, các nơi trên toàn-quốc, cả Việt-Nam lẫn Hoa-Kỳ.  Việc này xảy ra sau khi đã có chỉ-thị của Bộ Tư-Lệnh Cảnh-Lực Quốc-Gia dưới thời Thiếu-Tướng Nguyễn Khắc Bình cấm-chỉ mọi hình-thức báo-chí, tạp-chí, đặc-san, nội-san, báo tường, thư tin, v.v…, ngoại-trừ tờ báo “Bạn Dân” của Trung-Ương.

        Nói chung thì tôi đã kiên-trì nuôi-dưỡng, quảng-bá và thực-thi ý-niệm của mình, rằng tất cả các Chương-Trình, Kế-Hoạch riêng-lẻ, tuy có tính-cách chiến-thuật giai-đoạn nhưng đều tương-quan với nhau và có mục-đích chiến-lược trường-kỳ, nhằm chuẩn-bị đối-phó với tình-hình sau-chiến-tranh.  Kết-luận của tôi là phải kiện-toàn Lực-Lượng Cảnh-Sát Quốc-Gia, nhất là Ngành Đặc-Biệt, để có đủ sức đảm-nhận vai trò lĩnh-đạo và tiền-phong trong trách-vụ ổn-định tình-hình an-ninh đối-nội và đối ngoại của Quốc-Dân, đúng với tinh-thần và đường-hướng của Kế-Hoạch Cảnh-Sát-Hóa — là một “quốc-sách” đã bị giết non.

        Nhưng, Chính-Quyền Trung-Ương thì quyết bảo-thủ tình-trạng hiện-thời.

        Có thể nói là tôi sắp bị trừng-phạt vì những ý-kiến phát-biểu ra ngoài chính-sách của Trung-Ương?

Cộng-Sản Trên Đường Phố VNCH

        Theo Hiệp-Định Paris thì lĩnh-thổ Việt-Nam Cộng-Hòa được chia ra thành nhiều Khu-Vực, mỗi Khu-Vực có một Tiểu-Ban Quốc-Tế Kiểm-Soát Và Giám-Sát Ngưng Bắn; dưới mỗi Tiểu-Ban có một số Tổ, mỗi Tổ phụ-trách một số Tỉnh.

        Các Ban Liên-Hợp Quân-Sự 4-Bên và 2-Bên cũng được tổ-chức tương-tự.

        Trụ-sở Khu-Vực II đóng tại Pleiku.  Tôi đã đến phi-trường Cù-Hanh ở đây, để chứng-kiến lúc phái-đoàn Cộng-Sản Bắc-Việt bước ra từ một chiếc phi-cơ C-130 do phi-công Không-Quân VNCH và Hoa-Kỳ lái, từ Tân Sơn Nhất lên.

        Tôi đã nhìn thấy những bộ mặt khắc-khổ quắt-queo, những bộ quân-phục nhăn nhúm lụng-thụng, những bàn tay luớ-quớ sờ-soạng không biết mở cửa xe-hơi cách nào, và những cái ngoẹo đầu nheo mắt của chính các “đồng-chí” cộng-sản Đông-Âu ngỡ-ngàng nhìn ngó dáng-dấp thô-lậu và điệu-bộ quê-kệch của các sĩ-quan cao-cấp bộ-đội Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-Hòa.  Nhưng điều quan-trọng nhất là tôi đã ghi nhận được đầy-đủ các đặc-điểm nhận-diện của mỗi phái-đoàn trong bốn nước tham-gia Ủy-Hội Quốc-Tế, và của cộng-sản Bắc-Việt (Việt-Cộng không đến), nhất là màu cờ, kiểu-cách đồng-phục, quân-hàm, phù-hiệu của họ, là những điều mà đáng lẽ mỗi cảnh-nhân đã được Trung-Ương phổ-biến và phải thuộc lòng.

        Một thời-gian sau, Chuẩn-Tường Huỳnh Thới Tây gọi điện-thoại ra tôi, cấm toàn-thể nhân-viên CSQG/CSĐB không được tiếp-xúc với cộng-sản Hung-Gia-Lợi và Ba-Lan cũng như CSBV và VC.  Tôi nhận lệnh xong, hỏi lại Tướng Tây: Nếu họ ra phố, hỏi Cảnh-Sát về đường đi chẳng hạn, thì Cảnh-Sát có được phép trả lời, tức là nói chuyện với họ, hay không?  Chuẩn-Tướng Tây đáp rằng ông chỉ nhận được lệnh của Thiếu-Tướng Bình như thế mà thôi.

        Sau ngày Hiệp-Định Paris ra đời hơn nửa năm, có một phái-đoàn của Bộ Tư-Lệnh Cảnh-Lực Quốc-Gia đến Bộ Chỉ-Huy Cảnh-Lực Vùng II để giải-thích về văn-kiện nói trên.

        Sau khi đại-diện Trung-Ương nói xong, tôi nhắc lại với các Chỉ-Huy-Trưởng và phái-đoàn đại-diện Cảnh-Lực của 13 Tỉnh và Thành khắp Vùng II, những điều tôi đã thông-tri cho Ngành Đặc-Biệt nhưng có một số bộ-phận Sắc-Phục chưa rành, về kiểu-thức và màu-sắc quân-phục, cấp-hiệu, đặc-điểm của các phần-tử cộng-sản khác nhau.  Tôi cũng nêu lên giả-dụ, nếu cộng-sản hỏi những chuyện thông-thường, thì nhân-viên Cảnh-Sát phải lịch-sự trả lời, như Cảnh-Sát Paris trong thời-gian có Hội-Nghị Quốc-Tế về chiến-tranh Việt-Nam.  Phái-đoàn các địa-phương mừng-rỡ tập-trung sự chú-ý về tôi, vì những tin-tức cụ-thể như thế đã đáp-ứng nhu-cầu tìm hiểu thực-tế trước mắt của mọi người.  Nhưng, có một viên-chức sở-tại là Đại-Úy Nguyễn Khắc Nghị, đã phát-biểu: “Phái-đoàn Trung-Ương không đề-cập gì đến vấn-đề đó; không ai được phép nói rộng ra ngoài giới-hạn nội-dung đã được thuyết-trình!”

        Chắc-chắn chuyện đó không bị bỏ sót trong bản tường-trình về chuyến đi công-tác này của phái-đoàn.

        Có thể là tôi sắp bị trừng-phạt về việc ấy, vì đã vượt quyền Cấp Trên?

Một Vở Kịch-Thơ Bị Cấm Xuất-Bản

        Suốt mười năm nay, tôi đam-mê công-vụ đến nỗi không còn đầu-óc và thì-giờ để sáng-tác và liên-lạc với các bạn văn thơ.

        Nghĩ rằng mình cần trở lại với giới tao-nhân, tôi bèn chuẩn-bị ấn-hành một số tác-phẩm, hoặc đã đăng báo, hoặc còn là bản thảo; và tôi bắt đầu với vở kịch-thơ xã-hội “Lão Ăn Mày”.  Kịch viết đã lâu, đã được công-diễn tại sân-khấu “Hội Quảng-Tri” ở Huế, trước năm 1960 là năm tôi bị lưu-đày từ cố-đô lên Cao-Nguyên.  Để kỷ-niệm thời-gian sinh-sống và sinh-hoạt văn-nghệ sôi-động ở thủ-phủ của Miền Trung, tôi đã kèm theo phần chính cuốn sách, gửi Bộ Thông-Tin để xin kiểm-duyệt, một phần phụ-lục trong đó có một bức thư của tôi gửi các bạn thân ở Sài-Gòn như nhạc-sĩ Lê Mộng Bảo, thi-sĩ Xuân-Huyền, nữ-sĩ Huyền-Chi, v.v…, tường-thuật vụ trình-diễn vở kịch thơ “Hồ Quý Ly” của tôi tại Huế vào cuối thập-niên 1940.

            Thuở đó, Hội-Đồng Kiểm-Duyệt Trung-Việt là một cơ-quan biệt-lập, do cụ Hồ Đắc Định, một nhân-vật trí-thức thức-thời, làm Chủ-Tịch, và nghệ-sĩ Vũ Đức Duy, một kịch-tác-gia kiêm đạo-diễn kiêm diễn-viên tài-danh, làm Tổng-Thư-Ký.  Hai vị chủ-chốt này đã ký cấp giấy phép cho tôi công-diễn và xuất-bản vở kịch kia.  Thế nhưng ngay đêm đầu tiên, đang diễn dở chừng thì viên Tỉnh-Trưởng địa-phương, là người được mời đến xem trong hàng quan-khách danh-dự, đã ra lệnh ngưng diễn và cấm tiếp-tục, viện lý-do rằng vở kịch ấy đề-cao nhân-vật lịch-sử Hồ Quý Ly đề-kháng Trung-Hoa xâm-lăng, gợi lên liên-tưởng đến Hồ Chí Minh cũng đang chống Pháp ngoại-xâm (quân-đội viễn-chinh Pháp đã đổ bộ lên các Thành Thị lớn từ đầu năm 1947).  Hội-Đồng Kiểm-Duyệt, cũng cùng có mặt tại chỗ, liền bác-bỏ quyết-định của Tỉnh-Trưởng, cho rằng đây là một vấn-đề văn-nghệ thuộc quyền-hạn của Hội-Đồng.  Các Giám-Đốc Thông-Tin, Công-An, v.v… đều là nhân-vật Quốc-Gia, chống-Cộng nhưng cũng chống Pháp – chống Pháp bằng chính-trị và ngoại-giao – nên tán-thành quyết-định của Hội-Đồng Kiểm-Duyệt.  Rốt cuộc vở kịch của tôi đã tạo nên dư-luận sôi-nổi và đã được trình-diễn liên-tiếp nhiều lần…

        Chắc Bộ Thông-Tin, vào năm 1973, hốt-hoảng liên-kết vở kịch “Lão Ăn Mày” ngày nay với vở kịch “Hồ Quý Ly” ngày xưa, nên đã đóng vào tập bản thảo của tôi 3 chữ “CẤM XUẤT BẢN” to-tướng.

        Tôi đã có nhiều kinh-nghiệm bản-thân về sự phối-hợp giữa Ngành Thông-Tin với Ngành Công-An.  Có thể là tôi sắp bị trừng-phạt vì có tác-phẩm như trên?

Nỗ-Lực Cuối-Cùng Của Giới Cao-Cấp Cảnh-Sát Nguyên-Ngành

            Ngoài Chuẩn-Tướng Bùi Văn Nhu, được giữ lại với danh-nghĩa Phó Tư-Lệnh Cảnh-Lực Quốc-Gia, các cấp chỉ-huy cao-cấp chính gốc Cảnh-Sát đều bị cất chức, hoặc chuyển qua Bộ Nội-Vụ, hoặc giao cho những phần-vụ thặng thừa.

        Trước khi bị tước hết quyền-hành và đẩy ra xa, số nhân-vật ấy đã làm một việc, xem như nỗ-lực cuối-cùng của tập-đoàn lĩnh-đạo cũ, là đề-nghị Tư-Lệnh sử-dụng tôi vào một trách-vụ xứng-đáng hơn.  Những tên-tuổi vang-bóng một thời như Bùi Văn Nhu, Trần Vĩnh Đắt, Đàm Trung Mộc, Lê Khắc Duyệt, Lê Sơn Thanh, Bảo Trọng, Nguyễn Bính, Nguyễn Phúc, Cao Xuân Hồng, v.v…  Họ muốn thấy tôi qua làm ít nhất cũng là Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực một Tỉnh quan-trọng, một chức-vụ mà tôi đã từng đảm-trách và hoàn-thành xuất-chúng từ mười năm xưa.

        Hôm Chuẩn-Tướng Tây ra Nha-Trang, Đại-Tá Cao Xuân Hồng, lúc ấy là Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực Vùng II, cũng đã gợi ý với ông là nên dùng tôi để thay-thế Nguyễn Văn Long (quân-lai).

        Tôi mà được giới-thiệu nồng-nhiệt như thế thì có khác gì hơn là bị vạch mặt chỉ tên rằng tôi là một con gà-nòi của phe kia!  Hơn nữa, tôi đã nghe kể về tính tự-ái của Tướng Tây.  Một hôm, Thiếu-Tá Nguyễn Văn Độ, Chánh Sở Đặc-Biệt Tỉnh Khánh-Hòa, bị Trưởng Ngành Đặc-Biệt Trung-Ương gọi về, vì đã tuân theo một lệnh nào đó của Tỉnh-Trưởng Tỉnh địa-phương.  Tướng Tây hỏi: Giữa Trưởng Tỉnh và tôi, anh chọn ai?  Độ đáp: Tôi chọn Thiếu-Tướng.  Hỏi: Vì sao?  Đáp: Vì nếu Trưởng Tỉnh nơi này mà không bằng-lòng về tôi thì tôi còn có thể đến với Trưởng Tỉnh nơi khác; nhưng nếu Thiếu-Tướng mà không vừa-ý về tôi thì tôi không còn đất sống!  Thế là Độ được cho về, bình-an.

        Bây giờ thì đến phiên tôi.  Có thể là tôi bị xem như đã chạy-chọt với giới ngoài Ngành, trong lúc Ngành Đặc-Biệt có tư-cách chuyên-môn, biệt-lập, tự-quản về mặt nhân-viên.  Tôi sắp bị khiển-trách về vấn-đề này?…

*

        Tôi nghĩ đến những hình-phạt; có thể là khiển-trách ghi hồ-sơ, cất chức, đình thăng-thưởng, thuyên-chuyển, sa-thải, và cao hơn hết là… bỏ tù.  Nhưng, tôi thì đã nhiều lần nếm đủ các loại hình-phạt kể trên.

        Điều duy-nhất khiến tôi lo-ngại chính là đổi vùng.  Mỗi lần thay đổi chỗ ở là một lần cuộc sống đảo-điên: lương tiền ít-oi, vật-giá leo thang; Cảnh-Sát không có cư-xá, Tư-Lệnh Cảnh-Lực cấp Vùng mà còn phải ở nhà thuê…

*

*    *

        Gặp tôi, Chuẩn-Tướng Huỳnh Thới Tây chỉ nói một câu ngắn gọn:

        — Tôi cho anh về Miền Trung, làm Trưởng Cơ-Quan cấp Vùng.  Anh có 3 ngày để trả lời tôi.

        Nhìn nét mặt ông, tôi biết là tôi không thể trình-bày ý-kiến ngay lúc đó, dù chỉ là một phản-ứng tức-thời.

        Tôi đứng dậy chào, đón nhận bàn tay xiết chặt của viên chỉ-huy cao nhất trong Ngành.

        Tôi còn gì nữa mà “về Miền Trung”?  Miền Trung đối với tôi trước hết là xứ Huế thân-yêu, nơi đã để lại trong tôi biết bao kỷ-niệm vui buồn của một thời trai-trẻ khôn quên.  Tôi đã nhẫn-nại kêu xin nhiều năm mong được trở về ngoài đó, nhưng nguyện-vọng đã không thành.  Ước-muốn chôn vùi từ mười ba năm về trước, trải qua bao nhiêu tang-thương, đến giai-đoạn này mới được ngó-ngàng.  Bây giờ thì ông+bà ngoại tôi, là những người đã nuôi-nấng tôi từ nhỏ, đã mất từ lâu; mẹ tôi đã từ-trần; dì tôi đã ra đi; thân-nhân không còn; bạn-bè kẻ chết, kẻ tha-phương; cảnh-vật đổi khác; tôi có trở về thì cũng chỉ làm một khách viễn-phương.  Hơn nữa, tôi cần tiếp-tục ở lại Nha-Trang để giữ cho gia-đình khỏi bị đổ vỡ vì một rạn-nứt đã thành-hình…

        Sáng sớm hôm sau, tôi vào gặp Chuẩn-Tướng Tây.

        Ông lắng nghe tôi, nhưng không chấp-nhận những gì tôi nói.  Viên Trưởng Ngành Đặc-Biệt Trung-Ương ôn-tồn bảo tôi:

        — Chúng tôi muốn dùng người đúng với kiến-thức, kinh-nghiệm, thiện-chí và tác-phong của mỗi người.  Toàn-quốc chỉ có bốn Vùng; Vùng I là Vùng quan-trọng đặc-biệt.  Hiện nay thì tôi không thiếu sĩ-quan, kể cả một số cao-cấp hơn anh.  Nhưng tôi chọn anh…

        Tôi cảm-động vì lời nói ấy.  Đó là sự thật.

            Nhưng tôi thấy rõ, Vùng I là “Vùng Chiến-Tuyến”.  Ngay tại Đà-Nẵng, thủ-phủ mới của Miền Trung, đặc-công cộng-sản vẫn có thể bất-thần ra tay bất-cứ lúc nào.  Đại-Tá Nguyễn Văn Thiện, Thị-Trưởng mà cũng bị mất tích; Trung-Tá Nguyễn Đức Am, Chỉ-Huy Cảnh-Lực Thị-Xã mà cũng bị hạ-sát; Đại-Úy Lê Diệp, Trưởng Phòng Đặc-Nhiệm của Ngành Đặc-Biệt toàn Vùng I mà cũng bị gài mìn tử-thương.

            Chuẩn-tướng Tây trấn-an tôi:

        —  Ngoài đó đã có Trung-Tướng* Ngô Quang Trưởng, Tư-Lệnh Quân-Đoàn I và Quân-Khu I.  Cộng-sản không phải là vấn-đề đáng lo!

*Trung-tướng: tướng ba sao.

        Tôi đâu có lo về vấn-đề cộng-sản.  Cả ở núi, rừng, cũng như ở Xã, Thôn, tôi đã chạm trán, chạm súng với chúng nhiều lần.  Tôi lo là lo về nội-tình Quốc-Gia với nhau.  Thấy tôi vẫn chưa dứt-khoát nhận lời, Tướng Tây thuyết thêm:

        — Các anh phải nhận lấy trách-nhiệm của mình.  Chúng tôi chỉ qua đây một thời-gian ngắn, để giúp các anh củng-cố, phát-triển; rồi một ngày kia chúng tôi sẽ trở về lại với đời quân-nhân…

        Thế là rõ-ràng.  Chuẩn-Tướng Tây nhắc đến thái-độ chống-đối của tôi, vừa để chứng-tỏ là mình không kỳ-thị gì, vừa để ngụ-ý là mình chưa hẳn đã bỏ qua.  Tuy thế, ông không dồn tôi vào chân tường.  Ông đứng dậy, đưa tay ra bắt tay tôi, nói giọng trách-móc một cách thân-tình:

        — Tôi cho anh ba ngày cơ mà!  Anh đã hội-ý với các Giám-Đốc ở Bộ Tư-Lệnh chưa?  Anh đã dò-hỏi tình-hình ở Vùng I chưa?  Anh cần những phương-tiện gì thì gặp Trung-Tá Huỳnh Kiêm Thanh…

        Tôi không dò hỏi gì nhiều.  Tôi chỉ loanh-quanh tìm gặp vài ba nhân-vật cố-tri am-thạo tình-hình là đủ.

        Trung-Tá Ưng Du, một sĩ-quan lão-thành xuất-thân từ thời Quân-Đội Quốc-Gia chưa ra đời, bảo tôi: “Anh được cất nhắc lên chức-vụ cao là một dịp may.”  Trung-Tá cảnh-nhân Nguyễn Văn Thuận, người từng chứng-kiến nhiều lần đổi nhóm thay phe tại Bộ Tư-Lệnh Cảnh-Sát Quốc-Gia, khuyên tôi: “Anh nên nhận lời, vì Tư-Lệnh có thể đưa anh đi một Tỉnh xa, cũng phải dời đổi chỗ ở, và cương-vị lại có thể thấp hơn, mà còn khiến ông phật lòng.”

        Đại-tá Lê Tấn Phước, một người bà-con của tôi, hỏi tôi: “Anh muốn ở yên chỗ cũ, vậy anh có sẵn một triệu đồng không?”

        Vài ba bạn khác nửa thật, nửa đùa: “Coi chừng cái tính liêm-khiết của anh.  Phải khéo-léo với bọn tham-nhũng: theo chúng thì chúng sẽ che-chở anh, vì sợ rút dây động rừng; chống chúng thì chúng có cả tập-đoàn để tiêu-diệt anh…”

        Ngay chiều hôm ấy, tôi vào gặp lại viên Tư-Lệnh của tôi.  Tôi định chỉ nói ngắn gọn, nhưng mới mở lời “Thưa Thiếu-Tướng…” thì Tướng Tây đã cười, hỏi chận: “Chịu đi rồi hả?”

        Bây giờ thì Tướng Tây vui-vẻ nhưng nghiêm-nghị vào đề:

        — Miền Trung xưa nay thì anh đã biết rành rồi.  Phong-trào “Phật-Giáo Tranh-Đấu” khởi đầu từ Miền Trung; quân-đội nổi dậy, chính-quyền địa-phương ly-khai chính-quyền trung-ương, chỉ xảy ra ở Miền Trung; các giáo-phái đụng-độ nhau cũng chỉ có ở Miền Trung.  Bây giờ thì tình-hình rối-reng hơn: đảng-phái lung-tung, nội-bộ chính-quyền chia-rẽ.  Mỗi ngày Trung-Ương nhận được không biết bao nhiêu đơn-từ tố-cáo lẫn nhau; thậm-chí báo-cáo của các cơ-quan đã trái-ngược nhau, mà mỗi cơ-quan có khi lại tự mâu-thuẫn với chính mình.  Người dân ngoài đó hầu như ăn rồi chỉ biết có việc thưa-kiện, khiếu-nại lẫn nhau.  Nhiệm-vụ của anh là phải ổn-định tình-hình chính-trị nội-bộ, từ trong Cảnh-Sát Quốc-Gia mà ra, đến các cơ-quan chính-quyền, đoàn-thể dân-nhân.  Ngoài đó có yên thì trong này mới rảnh tay…

        Chuẩn-Tướng Tây đổi giọng, nói về tình-trạng cá-nhân của tôi:

        — Cấp-số ở chức-vụ ấy là đại-tá.  Trung-Ương sẽ yểm-trợ mọi mặt cho anh.  Về nhà-cửa thì tôi sẽ giúp anh mỗi tháng hai chục ngàn đồng.  Nếu gia-đình còn ở Nha-Trang, tôi sẽ cho anh vào thăm mỗi tháng một lần.  Bao giờ thì anh sẵn-sàng?

        — Ngày mai tôi ra Nha-Trang; ngày kia tôi ra Đà-Nẵng, nhận việc ngay trong ngày.

        — Tốt!  Ngày kia là ngày 26-9-1973.  Chúc anh thành-công!

        Tôi chưa ra khỏi phòng thì đã nghe Trưởng Ngành Đặc-Biệt Trung-Ương bấm máy nội-đàm bảo Trung-Tá Huỳnh Kiêm Thanh, Giám-Đốc Nha Tiếp-Trợ, làm lệnh cho tôi về “Vùng Chiến-Tuyến”, tức Quân-Khu I, tên mới của Miền Trung.

LÊ XUÂN NHUẬN 




LÊ XUÂN NHUẬN: (Hồi kí Mùa Tháng 6) TH.TG. NGUYỄN KHẮC BÌNH VS  – BIẾN-LOẠN MIỀN TRUNG

(Hồi kí Mùa Tháng 6) TH.TG. NG.KHẮC BÌNH VS 

BIẾN-LOẠN MIỀN TRUNGTHIẾU-TƯỚNG NGUYỄN KHẮC BÌNH

Lê Xuân Nhuận và cựu Thiếu-Tướng Nguyễn Khắc Bình

         VÀO một ngày không lâu sau Lễ Quốc-Khánh 1-11-1974, tôi lại nhận được lệnh khẩn vào gặp Đại-Tá (về sau là Chuẩn-Tướng) Huỳnh Thới Tây, Phụ-Tá Tư-Lệnh CSQG đặc-trách Ngành Ðặc-Biệt Trung-Ương, mà không được biết lý-do hay mục-đích gì, cũng y như lần gọi tôi vào trình-diện, cuối tháng 9 năm 1973, để đưa tôi về Miền Trung. 

        Tôi vừa bước vào văn-phòng là Đại-Tá Tây dẫn tôi đi ngay với ông, lên xe, qua bên tòa lầu của Chuẩn-Tướng (về sau là Thiếu-Tướng) Nguyễn Khắc Bình, Tư-Lệnh Cảnh-Sát Quốc-Gia. 

        Lên tầng trên rồi, ông mới nói nhỏ với tôi:

        −  Chuẩn-Tướng Tư-Lệnh muốn gặp riêng anh. 

*

        Lúc đó, ngồi tại phòng-chờ ngay trước phòng-giấy của Tư-Lệnh CSQG đã có ba viên đại-tá đang bàn-cãi gì đó với nhau.

        Đó là các Đại-Tá (về sau là Chuẩn-Tướng) Nguyễn Văn Giàu, Phụ-Tá An-Ninh của Tư-Lệnh, và Trương Bảy, Phụ Tá Điều-Hành của Tư-Lệnh; cùng Đại-Tá Phạm Kim Quy, Trưởng Khối Tư-Pháp.

        Đại-Tá Giàu nổi tiếng trong giới viên-chức dân-sự tại Bộ Tư-Lệnh CSQG là một sĩ-quan quân-sự rất “dữ”.  Nhưng tôi thấy ông là một vị tướng… không quân.  Ông đảm-trách Kế-Hoạch  “Cảnh-Sát-Hóa”, an-ninh tổng-quát, các việc bắt giam và các loại trại giam của CSQG trên toàn-quốc, v.v… song chỉ ngồi ở Trung-Ương, chứ không có một hệ-thống tổ-chức nào đi xuống địa-phương, nên không có phần-vụ hay nhân-viên nào đặc-trách để chấp-hành mệnh-lệnh của ông từ cấp Vùng trở xuống cấp Tỉnh+Thị, nói chi đến cấp Xã+Phường.  Chỉ có riêng tôi ở Vùng II trước kia, và ở Vùng I hiện nay, là tự-nguyện thực-hiện (bên ngoài nhiệm-vụ Cảnh-Sát Đặc-Biệt của tôi) và làm trung-gian xuống các cấp dưới để thực-thi các chỉ-thị của ông.  Trực-diện thì tôi đã có gặp ông trước rồi.  Hồi mới từ Phủ Đặc-Ủy Trung-Ương Tình-Báo qua Cảnh-Sát Quốc-Gia, ra công-tác ở Vùng II, từ trên phi-cơ bước xuống sân-bay là ông liền bị xâm-xoàng; tôi, là người ra đón ông − hầu như lần nào có việc gì liên-quan đến Quân-Lực hay quân-nhân là cấp chỉ-huy CSQG tại Vùng II đều cử tôi đại-diện đi dự họp, tiếp-xúc, v.v… − tôi đã giúp đưa ông vào một phòng-ngủ trong khách-sạn Nha-Trang để ông nằm tạm nghỉ-ngơi.

        Đại-Tá Tây giới-thiệu tôi với họ:

        − Đây là Thiếu-Tá Lê Xuân Nhuận, Phụ-Tá Đặc-Biệt Khu I.

        Sau khi các ông bắt tay tôi xong, Đại-Tá Bảy tóm-tắt cho Đại-Tá Tây biết sự hiện-diện của họ tại đây, đại-ý là họ phải vào báo-cáo ngay cho Tư-Lệnh biết về cái Thông-Tư Liên-Bộ quy-định thể-thức giải-tán biểu-tình, vì Tư-Lệnh muốn đọc cho biết nội-dung, trong lúc cần phải có quyết-định gấp về trường-hợp của Thiếu-Tá Liên Thành, Chỉ-Huy-Trưởng CSQG Thừa-Thiên‒Huế, là người vừa mới đàn-áp một cuộc xuống đường do chính Linh-Mục Nguyễn Kim Bính, Chánh Xứ Phú-Cam (Huế), dẫn đầu.

        Đại-Tá Quy nói rằng mình mới nhậm-chức, nên không biết về cái Thông-Tư ấy, bảo các phần-hành tìm thì tìm không ra.

        Đại-Tá Giàu nói là vấn-đề cần phải được giải-quyết ngay, vì phía Hội-Đồng Giám-MụcTòa Tổng-Giám-Mục, nhất là “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng”, thì đang gây áp-lực nặng-nề lên Chính-Quyền. 

        Các vấn-đề tín-ngưỡng/giáo-hội (cũng như chính-trị/đảng-phái, v.v…) đều thuộc quyền kiểm-soát của Ngành Đặc-Biệt, và các biến-cố/tình-huống liên-hệ ở Thừa-Thiên/Huế đều do tôi ở Vùng I thay mặt Trung-Ương theo-dõi/điều-tra.  Cho nên tin-tức của tôi có giá-trị bổ-túc cho tài-liệu của Bộ Tư-Lệnh CSQG. 

        Nhân cơ-hội này, tôi thấy cần-thiết nên đã nói với Đại-Tá Giàu:

        − Thưa đại-tá, trong vụ vừa rồi ở Huế, Thiếu-Tá Liên Thành đã làm đúng thủ-tục quy-định trong Thông-Tư Liên-Bộ.

        Đại-Tá Giàu nhìn các Đại-Tá Bảy, Quy và Tây, nhún vai.  Tôi cảm thấy, dù có làm đúng hay không làm đúng thì Thiếu-Tá Liên Thành cũng khó lòng vượt qua vụ này.

        Tôi quay qua nói với Đại-Tá Tây rằng bức Thông-Tư Liên-Bộ ấy (Bộ Nội-Vụ, Bộ Tư-Pháp, và Bộ Quốc-Phòng) hiện có tại Ngành Đặc-Biệt của mình.  Ông hỏi lại tôi có chắc hay không, ở đâu; tôi đáp là tại E2 (Nha Phản-Tình-Báo/Nội-Chính) của Trung-Tá Phạm Văn Ca; vì tại cấp Vùng tôi đã nhận được một bản sao từ nơi đó gửi ra.

        Đại-Tá Giàu liền nhờ Đại-Tá Tây đi lấy giùm.

        Đại-Tá Tây bảo tôi ngồi chờ, rồi cả bốn ông cùng rời phòng-chờ, xuống lầu…

*

        Ngồi một mình, tôi vẩn-vơ suy-nghĩ xem những gì có thể sẽ xảy ra cho tôi.

        Chuẩn-Tướng Nguyễn Khắc Bình là một người rất “khó”, có thể nói là “độc-tài”.

        Trước khi ông qua Cảnh-Sát Quốc-Gia, Trung-Ương cũng như các Địa-Phương đều được tự-do báo-chí.

        Nhiều cấp Vùng, Tỉnh, đã có ấn-hành những đặc-sannội-santhư tin, v.v…  Nhưng ông ra lệnh từ nay cấm hết.

        Tại Bộ Tư-Lệnh CSQG có tờ báo “Bạn Dân”, ra đời từ thời Đệ-Nhất Cộng-Hòa.  Dưới thời Đại-Tá Tổng-Giám-Đốc Nguyễn Văn Y, Chánh Văn Phòng [thay vì Phó Tổng-Giám-Đốc] Nguyễn Văn Hay, chính tôi cũng đã có nhiều bài được nhận đăng trên đó, kể cả mấy bài có vẻ… chướng tai.  Bây giờ thì “Bạn Dân” là tờ báo duy-nhất được tồn-tại, nhưng số đặc-biệt Xuân 1973 thì mãi đến Xuân 1974 mới được phát-hành.

        Các vị soạn-thảo bản văn cải-tổ Lực-Lượng Cảnh-Sát Quốc-Gia, hẳn không rành về nguyên-tắc hành-chánh, nên trong Sắc-Lệnh số 17A/TT/SL ngày 1-3-1971, biến Tổng-Nha CSQG thành một Bộ Tư-Lệnh, ngang hàng các Bộ khác trong Nội-Các, tức là tách rời khỏi Bộ Nội-Vụ, nhưng đã không có một khoản nào nói về ngân-sách, cho nên ngân-sách của Bộ Tư-Lệnh CSQG vẫn còn nằm trong ngân-sách của Bộ Nội-Vụ.  Tết năm 1974, các vị bên Bộ Nội-Vụ giở lý, bắt bí, đòi phía CSQG phải nhượng bớt cho họ một phần, nếu không thì họ không chịu ký chuẩn-chi cho.  Các cấp liên-hệ bên CSQG thì sợ, không dám trình nội-vụ lên Tư-Lệnh Nguyễn Khắc Bình.  Báo hại, suốt cả tháng trời Cảnh-Sát Quốc-Gia cấp dưới không có xăng cho xe chạy; các Bộ Chỉ-Huy địa-phương phải dàn-xếp với các nhà thầu để mua chịu xăng cho cảnh-xa…

        Ông ở trên cao, có những sự việc cấp dưới không dám trình lên nên ông đâu hay… .

*

        Khi ba viên đại-tá ấy từ văn-phòng Tư-Lệnh bước ra, Đại-Tá Tây ra hiệu cho tôi cùng đứng dậy để chuẩn-bị đến phiên mình vào.

        Đại-Tá Bảy chỉ vào cái cặp hồ-sơ đang cầm trên tay (tôi đoán là vụ Thiếu-Tá Liên Thành đàn-áp cuộc biểu-tình của “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng” của LM Trần Hữu Thanh do LM Nguyễn Kim Bính dẫn đầu ở Huế vừa rồi), nhìn Đại-Tá Tây, lắc đầu… .

        Ngưng một lát, Chuẩn-Tướng Nguyễn Khắc Bình chuyển sang vấn-đề khác:

        – Anh nói tóm-tắt tình-hình ở Huế hiện nay ra sao?

        Tình-hình ở Huế nói riêng, và những nơi khác liên-quan đến Huế nói chung, thì tôi đã có báo-cáo lên đầy-đủ rồi.

        Tôi chỉ nhấn mạnh vài điểm nổi bật mà thôi:

        – Về phần cộng-sản thì quả trước đây chúng đã nắm được đa-số các tay “lãnh-tụ” tập-thể sinh-viên, nhất là qua vụ vu-khống “Chính-Quyền bắt cóc Sinh-Viên” vừa rồi, chúng đã tạo được ảnh-hưởng trong giới phụ-huynh sinh-viên & học-sinh, giáo-chức, và cả quần-chúng nói chung.

        “Nhưng tôi đã lập kế-hoạch, đích-thân chỉ-đạo và yểm-trợ cho Sở Đặc-Cảnh Thừa-Thiên/Huế sử-dụng một số biện-pháp tình-báo chuyên-môn để lật ngược lại thế cờ, làm chủ tình-hình.  Hiện nay, chúng ta đã chiếm được thế thượng-phong đối với cộng-sản trong giới giáo-chức, sinh-viên & học-sinh ở nội-thành rồi”*.

        ——-

        *Xem các trang 269 và 279.

        – Về phần nội-chính?

        – Tuy không có những tổ-chức nhỏ và nhiều như từ Đà-Nẵng trở vào, nhưng hai tổ-chức lớn thì rất đáng được Chính-Quyền quan-tâm:  đó là “Lực-Lượng Hòa-Hợp Hòa-Giải Dân-Tộc” và “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng và Kiến-Tạo Hòa-Bình”, mà cấp-thiết nhất là “Phong-Trào” này.

        – Anh nói về Lực-Lượng Hòa-Hợp Hòa-Giải Dân-Tộc trước.

        – “Lực-Lượng” ấy quy-tụ được hầu hết Phật-Tử là thành-phần đại-đa-số trong dân-chúng, kể cả công-chức và quân-nhân.  Ngoài Khối Ấn-Quang xuất-phát từ Miền Trung và kiểm-soát hầu hết Phật-Giáo-Đồ khắp nơi, Đại-Tướng Dương Văn Minh đã thu-phục được hầu hết giới tín-đồ Phật-Giáo gốc Miền Nam, và Giáo-Sư Vũ Văn Mẫu đã lôi-cuốn được hầu hết khối tín-đồ Phật-Giáo gốc Miền Bắc di-cư.  Đối với quốc-tế thì đó là thành-phần thứ ba; đối với quốc-nội thì đó là tập-hợp dân-sự lớn mạnh nhất, bao gồm nhiều chính-đảng nhất; các cấp lãnh-đạo lại là nhân-vật dân-cử có quyền bất-khả xâm-phạm.

        “Điều đáng nói là cộng-sản đã len-lỏi vào, và chính-quyền địa-phương thì không dám dòm-ngó đến, phó mặc cho Trung-Ương lo.

        “Tuy thế, tôi đã có người bên trong, cho nên biết trước chương-trình & nội-dung sinh-hoạt của họ, khắp Vùng.

        “Trên hết, chính tôi đã gặp, trực-tiếp nói chuyện với Thượng-Nghị-Sĩ Vũ Văn Mẫu, Giáo-Sư Võ Đình Cường, và các tay cầm đầu, nên biết ý-đồ của họ, và tôi đã có trình lên thiếu-tướng rồi.”

        – Anh có chắc-chắn là không có gì đáng lo?

        – Vâng, nếu họ vẫn cứ tổ-chức mít-tinh tại các sân chùa, chứ không xuống đường gây xáo-trộn trật-tự chung, như họ đã cam-kết với tôi, và nếu họ không xúi-giục quân-đội gây binh-n gì, mà chỉ chờ-đợi đến ngày bầu-cử Tổng-Thống, vào cuối năm tới, như họ đã nói rõ với tôi.  Tính đến hôm nay, và riêng Miền Trung thì thế; còn về tương-lai, và các nơi khác thì tôi không dám đoán trước…

        – Còn về “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng”?

        Tôi tin là Thiếu-Tướng Bình, tuy là tín-đồ Đạo Chúa, nhưng ông “sống đời công-chính theo lời Chúa dạy”, sẽ “rất công-bình chứ không thiên-vị Đạo nào”, không bao che cho người nào, nên tôi nói thẳng cảm+nghĩ của tôi:

        – Chủ-đề chống tham-nhũng thì hấp-dẫn đối với mọi người, kể cả một số người mà bản-thân cũng không trong-sạch gì; nhưng tham-gia vào “Phong-Trào” thì hầu như là chỉ có tín-đồ Kitô-Giáo*; còn xuống đường thì là những phần-tử mà quyền-lợi vật-chất hoặc tinh-thần đã quá gắn liền với cố Tổng-Thống Ngô Đình Diệm và gia-đình.

        ——-

        *Một số nhân-vật chính-đảng và tổ-chức khác có tham-gia vào, nhưng không đáng kể so với đại-khối hơn 301 linh-mục.

        “Dù sao, cuộc biểu-tình của họ mà bị Cảnh-Sát [do Thiếu-Tá Liên Thành chỉ-huy] đàn-áp vừa rồi cũng đã gây được một tiếng vang, có lợi cho “Phong-Trào”, tức là có hại cho Chính-Quyền.  Đó là một bước dò đường.  Tin-tức mới nhất cho biết là “Phong-Trào” sẽ tổ-chức xuống đường khắp nước.  Từ Huế, Quảng-Trị vào các Tỉnh Vùng II thì do Linh-Mục Nguyễn Kim Bính, cha xứ Phú Cam ở Huế khởi-xướng.

        “Tại Thủ-Đô Sài-Gòn và các Tỉnh Vùng III, Vùng IV thì do Linh-Mục Trần Hữu Thanh phát-động.

        “Khi đó thì tình-hình khắp nước sẽ rối beng; Chính-Quyền khó kiểm-soát được dân-chúng, ngay cả các Ban Tổ-Chức biểu-tình cũng không nắm vững thành-phần tham-gia.  Và không ai đối-phó nổi với phản-ứng của các thành-phần bị họ chống, trong khi các phương-tiện truyền-thông trong và ngoài nước tha-hồ đổ thêm dầu vào.

        “Tóm lại, ‘Phong-Trào’ không chờ đến ngày bầu-cử sang năm; họ muốn Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu phải từ-chức ngay; họ muốn có một Tổng-Thống là tín-đồ Đạo Kitô.”

        Chuẩn-Tướng Bình nhắc tôi:

        – Tổng-Thống [Nguyễn Văn Thiệu] cũng là…

        Tôi thấy ông có vẻ thực tình muốn biết Sự Thật nên tôi trình-bày:

        – Nhưng có một số phần-tử phân-biệt “đạo dòng” với “đạo theo”*.  Vả lại, vấn-đề không ngừng ở đó, mà là nhắm vào vai trò giáo-dân của người lãnh-đạo quốc-gia.  Họ muốn có một Tổng-Thống rập khuôn cố Tổng-Thống Ngô Đình Diệm.  Tống-Thống hiện nay không hề đối-xử phân-biệt với các tín-đồ đạo khác, không chịu lợi-dụng Chính-Quyền để tạo ưu-thế cho Đạo Kitô – tỷ như gia-tăng tín-đồ – mà lại lập một đảng riêng là Đảng Dân-Chủ, nên họ bất-mãn.  Họ đồn miệng rằng Đức Tổng-Giám-Mục Nguyễn Văn Bình đã “cảnh-cáo” Tổng-Thống về khoản này. 

        ——-

        *Trong quan-điểm đó, mãi đến thế-kỷ 21, nhà văn Nguyễn Văn Lục còn phát-biểu về Cựu-Hoàng Bảo-Đại như sau:

        “Bản thân Bảo Đại là người gốc Phật giáo, cái nhãn hiệu Thiên Chúa giáo bất quá chỉ là ‘đạo theo’ cho có lệ, và chính thức ông chưa hề bao giờ là người Thiên Chúa giáo.”

        “Nổi bật nhất là nội-dung những lời thuyết-giáo của Linh-Mục Nguyễn Kim Bính tại nhà thờ Phú-Cam, Huế, mà tôi đã cho thu băng gửi trình thiếu-tướng, trong đó đã có hai đoạn tiêu-biểu cho hai phương-diện của một vấn-đề:  một đoạn Linh-Mục Bính hằn-học khích-động đồng-đạo, đại-ý “người ta đã ám-hại một tổng-thống anh-minh…”, và một đoạn ông cay-đắng phân bua, đại-ý “như tôi là một Cha Xứ ở Phú Cam này, có ai mà không biết tôi; thế mà cái “ngài” Đại-Tá Tôn Thất Khiên ấy, cái “đấng” Tỉnh-Trưởng Tôn Thất Khiên ấy, đến nhậm-chức ở đây đã bao lâu rồi, mà vẫn chưa hề đến thăm hỏi tôi lấy một lần…”

        Chuẩn-Tướng Nguyễn Khắc Bình gật đầu:

        – Tôi đã có nghe cuốn băng ấy rồi.

        Ông hỏi tiếp tôi:

        – Theo anh thì những việc gì cụ-thể có thể xảy ra trong tương-lai gần, hậu-quả thế nào?

        – Cộng-sản Bắc-Việt ồ-ạt chuyển quân và chiến-cụ vào.  Quân-Lực của ta thì bị bó tay vì bản Hiệp-Định Paris; nếu có đụng-độ quân-sự thì điều đó thuộc thẩm-quyền của cấp Trung-Ương.  Riêng về phương-diện chính-trị nội-bộ thì tình-hình chung ngày càng xấu thêm:  các cấp Chính-Quyền địa-phương không biết thu-phục dân-tâm; nhất là ở vùng ven-ô, nói chi ở vùng tranh-chấp.  Đồng-bào chán ghét tham-nhũng, mà lại khao-khát hòa-bình.  Tổ-chức của nhóm các Linh-Mục Trần Hữu Thanh và Nguyễn Kim Bính là “Phong Trào Nhân Dân Chống Tham Nhũng để Cứu Nước và Kiến Tạo Hòa Bình”.  Một số tín-đồ Kitô-Giáo sẽ đồng-loạt xuống đường khắp nơi.  Nếu không ngăn-chận thì có thể có bạo-động.  Giả-dụ một số quá-khích (Việt-Cộng xúi-giục) tấn-công những người mà họ cho là đã tham-gia tích-cực vào cuộc Cách-Mạng 1-11-1963 lật đổ chế-độ Đệ-Nhất Cộng-Hòa, mà những người ấy thì nằm bên phía “Lực-Lượng”, và tất-nhiên là những phần-tử này sẽ phải tự-vệ, biến thành xung-đột tôn-giáo, ít nhất cũng như biến-cố Thanh-Bồ Đức-Lợi tại Đà-Nẵng trước đây.  “Phong-Trào” mà “làm mạnh” được thì phía “Lực-Lượng” hẳn cũng sẽ không chịu thua.  Ngăn-chận thì bị gán cho là đàn-áp tôn-giáo; giả-dụ có kẻ bắt chước nữ-Dân-Biểu Kiều-Mộng-Thu, nằm lăn giữa đường để cho phóng-viên chụp ảnh, quay phim, dùng làm bằng-chứng là ả đã bị cảnh-sát bạo-hành, xong kéo đồng-bọn vào nhà-hàng lớn ăn khao, trong lúc phản-ứng của dư-luận chung, cả trong nước lẫn ngoài nước, nhất là tại Hoa-Kỳ, chỉ nhìn vào tấm ảnh “dân-biểu mà cũng còn bị đánh ngã giữa đường” thì rất bất-lợi cho ta.

        “Hơn nữa, làm sao có đủ lực-lượng để giúp vãn-hồi an-ninh:  kinh-nghiệm các vụ lộn-xộn ở Quận Hoài-Nhơn của Tỉnh Bình-Định*, Thị-Xã Tuy-Hòa của Tỉnh Phú-Yên*, vừa qua, cho thấy là Chính-Quyền Tỉnh bất-lực khi chính Cảnh-Sát của địa-phương mình bị đám lộng-hành bao vây, tấn-công.  Trung-Ương cũng khó tiếp tay:  chỉ nội một vụ ở Chùa Linh-Sơn, Đà-Lạt, mà phải cần có phi-cơ quân-sự di-chuyển Cảnh-Sát Dã-Chiến từ Sài-Gòn lên; nếu có biến-động nhiều nơi một lần thì làm sao mà giải-nguy?

        ——-

        *Xem sách “Cảnh-Sát-Hóa…” của Lê Xuân Nhuận.

        “Quan-trọng hơn hết là bọn Việt-Cộng đã xâm-nhập vào “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng và Kiến-Tạo Hòa-Bình”.  Chúng đã hiểu rõ là tổ-chức này thù-hận chế-độ hiện-thời hơn hết (vì Sư-Đoàn của Tổng-Thống là lực-lượng chủ-yếu tấn-công Dinh Gia-Long), nên chúng lợi-dụng để có thêm những đồng-minh chung sức chống phá Việt-Nam Cộng-Hòa.

        “Trong lúc đó, ‘Phong-Trào’ đã bắt đầu lôi kéo thêm các tổ-chức khác nữa, từ bên ngoài Kitô-Giáo – thí-dụ Đảng Đại-Việt – để cùng hưởng-ứng ‘Phong-Trào’.

        “Việt-Cộng thấy rõ ‘Phong-Trào’ là hình-thức đối-lập hợp-pháp, nấp được vào đó là hoạt-động dễ vô cùng.

        “Chúng sẽ có thể trà-trộn xúi-giục chiếm giữ công-sở, đột-nhập đồn bót, khủng-bố, phá-hoại, ít nhất là cũng thành-công về mặt chính-trị, thông-tin tuyên-truyền…”

        – Theo anh thì Chính-Quyền nên đối-phó cách nào?

        Tôi nghĩ đến mối ác-cảm của Linh-Mục Nguyễn Kim Bính, Cha Xứ Phú-Cam, đối với Đại-Tá Tỉnh/Thị-Trưởng Tôn Thất Khiên, vì đã “chưa hề đến thăm hỏi” ông lần nào, và mối căm-thù của ông đối với Thiếu-Tá Liên Thành, Chỉ-Huy-Trưởng CSQG địa-phương, vì đã “đàn áp cuộc xuống đường” do chính ông dẫn đầu, và chương-trình hành-sự của tôi.

        – Tôi xin đề-nghị Trung-Ương tạm-thời nhượng-bộ “Phong-Trào” một bước đầu tiên, để tiện cấp-thời vô-hiệu-hóa mọi kế-hoạch hoạt-động của họ hiện nay, bằng cách cử hai tín-đồ Kitô-Giáo, gốc-gác Đệ-Nhất Cộng-Hòa và thân-cận với giới cựu Cần-Lao, ra làm Tỉnh-Trưởng và Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Sát Quốc-Gia tại Tỉnh Thừa-Thiên & Thị-Xã Huế…

        Thiếu-tướng Bình và Đại-Tá Tây nhìn nhau.

        Tôi nói tiếp liền:

        – Như thế là chỉ mới giải-quyết được bước đầu, chứ chưa xong trọn vấn-đề.

        “Nếu tôi còn ở Vùng I thì tôi, chính tôi, sẽ ngăn-chận được mọi sự xáo-trộn tiếp theo, cho Vùng I, và do đó, cho toàn Miền Nam…” (Xem thêm)

*

        Chuẩn-Tướng Nguyễn Khắc Bình, Tư-Lệnh Lực-Lượng Cảnh-Sát Quốc-Gia Việt-Nam Cộng-Hòa, đứng dậy, đưa tay bắt tay cám ơn tôi, và kết-thúc cuộc tiếp-xúc bằng lời khuyến-khích tôi và hứa-hẹn sẽ thăng cấp cho tôi vào “Ngày Cảnh-Lực” 1-6-1975.

        Tôi cùng Đại-Tá Hùynh Thới Tây trở về văn-phòng Trưởng Ngành Đặc-Cảnh Trung-Ương, lần này thì cùng đi bộ.

        Tôi muốn nói lên một lời cám ơn ông đã đề-bạt tôi, đã dành cho tôi rất nhiều đặc-quyền, đặc-ân, mà các viên-chức khác, ngang tôi, kể cả cao cấp hơn tôi, cũng không có được – đương-nhiên là trong công-vụ mà thôi.  Ít nhất thì ông cũng đã bắt cả các cấp Giám-Đốc phụ-tá của ông tại Trung-Ương phải đích-thân đáp-ứng ngay mọi đề-nghị của tôi; và, thay vì, như với nhiều giới-chức khác – cấp dưới dâng nạp quà cáp lên cho cấp trên – thì ông ngược lại đã cho riêng tôi mỗi tháng 20,000 đồng, tương-đương gần nửa tháng lương của tôi, để thuê nhà ở, vì tôi phải rời gia-đình mà ra Miền Trung – tất-nhiên với sự tán-đồng của Chuẩn-Tướng Nguyễn Khắc Bình.

        Nhưng tôi không nói ra được lời cám ơn đó, vì nó có vẻ nịnh-hót thế nào ấy – một việc mà tôi không bao giờ làm, cho nên đã bị thiệt-thòi từ hai mươi bảy năm nay.

        Chúng tôi lặng-lẽ bước bên cạnh nhau, trước những cặp mắt ngạc-nhiên của nhiều sĩ-quan gặp trên đường đi.  

        Cuối cùng, như để đánh tan bầu không-khí lạt-lẽo ấy, và lấy lại thế chủ-động, Đại-Tá Tây nói với tôi:

        – Qua Sắc-Phục thì có tiền…

        Câu nói ngắn-ngủi mà tôi nghe như nói lên tâm-tư của một số đông viên-chức chỉ-huy Ngành Đặc-Cảnh thời bấy giờ.

        Sau đó, ông không quên trao tiền thuê nhà cho tôi, và nhắc tôi cần gì thì giải-quyết gấp với các Giám-Đốc hữu-quan, để còn rời Sài-Gòn sớm mà ghé thăm gia-đình hiện ở Nha-Trang… .

*

        Tôi vừa về đến Nha-Trang thì nhận được tin Trung-Ương đã cử hai nhân-vật khác đến thay Đại-Tá Tôn Thất Khiên và Thiếu-Tá Liên Thành trong chức-vụ Tỉnh/Thị-Trưởng và Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực Tỉnh Thừa-Thiên & Thị-Xã Huế.

        Tân Tỉnh/Thị-Trưởng là Đại-Tá Nguyễn Hữu Duệ.

        Đại-Tá Nguyễn Xuân Lộc, Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực Vùng I, nhắn tôi ra Đà-Nẵng gấp, để cùng ông ra Huế chủ-tọa lễ giao-nhận chức-vụ Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực Tỉnh Thừa-Thiên & Thị-Xã Huế, giữa Thiếu-Tá Liên-Thành và Trung-Tá Hoàng Thế Khanh.*

        ——-

        *Xem “Trung-Tá Hoàng Thế Khanh”, trang 367.

        Những lần trước, tôi có thể ở lại với gia-đình vài ngày; vì tuy ở xa nhiệm-sở, dù ở Tỉnh/Thị/Quận nào khác, kể cả những ngày ở Sài-Gòn và ở Nha-Trang, nhưng qua một hệ-thống liên-lạc đặc-biệt mà tôi đã tự mình sắp-xếp và đặt trong tình-trạng thường-trực 24/7, tôi vẫn liên-tục trực-tiếp điều-khiển và giải-quyết mọi việc ở cơ-quan.

        Lần nầy thì tôi phải gọi Hãng Hàng-Không Air Vietnam yêu-cầu dành chỗ ưu-tiên để sáng hôm sau tôi ra Đà-Nẵng ngay**.

        ——-

        **Bản gốc Chương này đã được in trong cuốn hồi-ký “Về Vùng Chiến-Tuyến” do Nhà “Văn Nghệ” ở Nam CaliforniaUSA, xuất-bản năm 1996, nay được in lại, giữ nguyên tất cả các sự-kiện và nội-dung cốt-yếu – chỉ thêm vào một số hiệu-đính, phụ-chú, giải-thích cho đầy-đủ và rõ-ràng hơn mà thôi.

LÊ XUÂN NHUẬN

Biến-Loạn Miền Trung

==============================

Về NHÂN-THÂN LÊ XUÂN NHUẬN

        Đại-Tá Huỳnh Thới Tây đưa tôi vào gặp Chuẩn-Tướng Nguyễn Khắc Bình.

        Trong cuộc gặp mặt này, Đại-Tá Tây chỉ đóng vai trò dự-thính và quan-sát-viên, từ đầu đến cuối không hề nói một tiếng nào.

        Sau khi bắt tay, mời ngồi, hỏi qua về sức khỏe và gia-đình tôi, xong Tướng Bình nói:

       – Tôi định đưa anh ra làm Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Sát Quốc-Gia Tỉnh Thừa-Thiên & Thị-Xã Huế [thay Thiếu-Tá Liên Thành], anh nghĩ sao?

        Tôi không nghĩ sao hết.

        Trong một thời-buổi mà giấc mơ của không biết bao nhiêu sĩ-quan cấp tá, dù là đã được biệt-phái từ Quân-Lực qua Cảnh-Lực rồi, hay là vẫn còn ở bên quân-ngũ, là được cử làm Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực một Tỉnh, một Thị-Xã, hoặc một Quận ở Thủ-Đô Sài-Gòn, thì tôi đã thấy chán ngán từ lâu cái chức-vụ mà giá-trị công-chính của nó đã bị nhiều người dẹp bỏ, để chỉ mong đợi cái hệ-quả tư-tà của nó mà thôi.  Có thể nói đó là một cương-vị để làm tiền; trừ một số ít chỉ tự bằng lòng với những lợi-lộc vừa-phải tự-nhiên-mà-có, còn thì đua nhau đổi trắng thay đen vơ-vét cho đầy túi tham, mà điều tệ-hại hơn hết là do đó mà dung-dưỡng tệ-nạn xã-hội, làm suy-yếu đội-ngũ Quốc-Gia, tạo kẽ hở cho đối-phương xông lên.

        Tôi nghĩ đến bản-thân tôi, mà gia-đình còn ở Nha-Trang: nếu làm việc ở Đà-Nẵng như hiện nay thì tôi còn có thể ít nhất mỗi tháng một lần về Trung-Ương và nhân đó ghé thăm gia-đình, chứ đi làm việc ở các Tỉnh khác thì khó mà về Nha-Trang vì trái ngả đường; còn nếu đưa vợ+con theo thì cứ mỗi lần dời-đổi chỗ ở là một lần hao-tốn, xáo-trộn, mà đã chắc gì ở được tại một Tỉnh nào lâu đâu.

        Riêng đối với Huế, sau mười lăm năm dâu-bể − kể từ ngày tôi bị đày đi khỏi nó, vì chống độc-tài Nhà Ngô, vào năm 1960 − bộ mặt đã khác hẳn rồi, tấm lòng cũng chẳng còn nguyên; bây giờ nếu tôi vẫn ở xa Huế mà giúp-đỡ Huế thì dễ, chứ ở ngay Huế thì e tôi sẽ khó lòng mà tự giúp-đỡ được ngay chính mình.

        Tôi thấy rõ là các cấp chỉ-huy của tôi hiện nay, Chuẩn-Tướng Bình và Đại-Tá Tây, đã dành cho tôi một lòng ưu-ái đặc-biệt, cả một đặc-ân lớn-lao.  Đáng lẽ tôi nên nói một câu gì khéo-léo, để vừa chối-từ vừa tỏ lòng cám ơn.

        Biết bao nhiêu lần tôi đã nghe rõ các người xung quanh, dù là ở cấp Xã Ấp, ở cấp Toán Tổ, nói đến “cất-nhắc”, nói đến “chức-phận”, nào là “tri-ân”, nào là “trung-thành”.  Nhưng tôi không thể sử-dụng miệng lưỡi mình trong trường-hợp này, mặc dù biết rằng một lời nói ngọt sẽ gây được nhiều thiện-cảm nơi người nghe hơn.

        Tôi đáp:

        – Xin thiếu-tướng cho tôi ở lại Đà-Nẵng.

        Cả Chuẩn-Tướng Bình lẫn Đại-Tá Tây đều giữ vẻ mặt điềm-nhiên, nhưng tôi nghĩ là họ hẳn không khỏi ngạc-nhiên.

        Tướng Bình hỏi tôi:

        – Tại sao anh không thích ra Huế?

        Tôi nghĩ ngay đến trách-vụ ổn-định tình-hình nội-chính ở Miền Trung mà Trung-Ương đã giao cho tôi, nhất là ở Huế, mà cụ-thể là chồng đơn/hồ-sơ khiếu+tố dày thịch từ Huế mà tôi đã tế-nhị xin giao qua cho phía An-Ninh Cảnh-Lực nhận-hành năm ngoái (nhưng thực ra các vụ-việc vẫn chưa được ai giải-quyết trôi tròn – mà nếu giải-quyết thì kẻ chủ-trách sẽ bị danh-bại thân-liệt tức-thời) .

        Tôi thực tình trả lời Chuẩn-Tướng Bình:

        – Vì tôi bị đổi đi xa, nay được trở về; gặp những kẻ đáng bị trừng-trị mà dung-thứ thì không được, nhưng ra tay thì sẽ bị xem là trả thù hoặc trở mặt, e không trọn tiếng với đời…  

image.png

        Phóng-ảnh trang 229 “Về Vùng Chiến-Tuyến” (1996)

        Tướng Bình hỏi tiếp:

        – Anh thấy nếu ở nơi khác thì dễ làm việc hơn ở Huế sao?

        Tôi sợ là ông hiểu lầm rằng tôi tránh né những nơi khó-khăn.  Tôi không tránh né khó-khăn mà tôi chỉ muốn tránh né những nơi mà mình có thể bị dùng làm vật hy-sinh.  Tự-nhiên tôi thấy muốn nói, công-khai và trực-diện, vì đây quả là cơ-hội hiếm có, rằng:  “Các ông đừng đánh giá tôi ngang hàng với đa-số cùng mang cấp-bậc và/hoặc cùng giữ chức-vụ như tôi!” – ý tôi định nói là vì tôi không gặp thời, chứ thực ra thì…  Tôi bỗng kịp tự kiềm-chế, và chỉ trình-bày một cách mà tôi cho là… khiêm-tốn:

        – Tôi có khả-năng làm Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực tại bất-cứ một Tỉnh nào trên toàn-quốc, mà không thua kém bất-cứ một người nào.

        Nói xong, tôi tự thấy là mình đã lỡ lời.

        Nhưng Tướng Bình gật đầu.  Hẳn ông hiểu rõ là tôi nói thật.

        Nhưng có lẽ ông tưởng tôi muốn xin đi làm Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực tại một Tỉnh nào không có người cũ quen tôi, để dễ trừng-trị những kẻ phạm-pháp hơn chăng, nên ông hỏi tôi:

        – Anh nghĩ thế nào về Tỉnh Quảng-Nam?

        Thừa-Thiên là quê mẹ tôi; tôi đã lớn lên ở đó, tôi có ở đó rất nhiều kỷ-niệm trọn đời khôn quên, thế mà tôi đã chối-từ, huống gì Quảng-Nam.  Tôi thấy thật khó nói lên ý-kiến của mình.  Tuy thế, nhìn thấy nét mặt của tôi là ông biết ngay tôi không nhận lời.       

        Ông liền nói tiếp:  

        – Tôi cho anh chọn Tỉnh nào anh thích.

        Đến tận nước này thì thật quá lắm.  Một vị Tư-Lệnh Lực-Lượng Cảnh-Sát toàn-quốc, đồng-thời cũng là Đặc-Ủy-Trưởng Phủ Đặc-Ủy Trung-Ương Tình-Báo, thứ-bậc gấp đôi Bộ-Trưởng, hiện có đầy-đủ quyền-hành cũng như dư-thừa thuộc-viên thân-tín để chọn bổ-nhiệm vào các chức-vụ chỉ-huy, từ ở Trung-Ương xuống đến Xã Phường, mà lại chấp-nhận cho tôi tự chọn địa-phương công-tác theo ý muốn riêng của mình!  

        Tôi thật xúc-động trước thái-độ đó, cùng lúc cảm thấy thỏa-mãn, vì tự-ái được vuốt-ve.

        Phải chăng Cấp Trên cần tôi tập-trung nỗ-lực đảm-trách an-ninh trật-tự riêng cho một Tỉnh quan-trọng, như Tỉnh Thừa-Thiên, mà tỉnh-lỵ là Thị-Xã Huế, nơi xuất-phát liên-tục của những phong-trào chống-đối Chính-Quyền Trung-Ương, và hiện nay vẫn là nơi sôi-sục chính-tình, nên cần có tôi có mặt thường-trực tại chỗ để chuyên-chú lo ổn-định nội-an; hoặc Tỉnh Quảng-Nam, là nơi bám trụ của các cơ-quan đầu-não của cả Đảng-Ủy Liên-Khu V lẫn Bộ Tư-Lệnh Quân-Khu V của đối-phương, cũng là hậu-cứ tiếp-nhận lực-lượng cộng-sản từ Bắc-Việt xâm-nhập vào, bàn-đạp để chúng vừa cầm chân Quân-Đoàn I của ta, vừa tiến sâu hơn vào các tỉnh ở phía Nam, kể từ vùng đất địa-đầu chiến-lược này bên trong phòng-tuyến A-Sau và Đèo Hải-Vân, nên cần có tôi chú-tâm bảo-vệ số đông đồng-bào bị kẹt tại các Xã Ấp thuộc vùng tranh-chấp ở giữa hai bên?  Nếu thế thì tại sao ông lại bảo tôi chọn Tỉnh nào khác hơn?  Hay là ông định đưa người nào khác đến thay-thế tôi ở trách-vụ và hoạt-hạt hiện-thời?  Trong trường-hợp đó, tôi nên chọn một Tỉnh nào tiện đường cho tôi để dễ đi+về chăm-sóc gia-đình hiện ở Nha-Trang. 

        Tôi bèn hỏi lại:

        – Thưa thiếu-tướng, bất-cứ ở Vùng nào?

        Tướng Bình mỉm cười, nhận thấy tôi đã lợi-dụng câu nói của ông, trả lời:

        – Cứ tạm chọn ở Vùng I trước đã!

        Quảng-Trị, Quảng-Tín, Quảng-Ngãi, đều càng bất-tiện hơn Thừa-Thiên và Quảng-Nam.  Tôi suy-nghĩ nhanh trong đầu: nếu lại từ-chối thì có thể làm cấp trên bực mình, nên tôi dựa theo câu nói của ông mà trả lời ông, vì tôi biết chắc là sẽ bị từ-chối ngay:

        – Nếu thiếu-tướng cho tôi đảm-trách Thị-Xã Đà-Nẵng…

        Và, để mở một lối thoát cho cả ông lẫn tôi, hầu chấm dứt vụ cử-nhiệm này, tôi nói thêm:

        – Tôi có thể kiêm-nhiệm cả Đặc-Cảnh Vùng I lẫn Cảnh-Lực Thị-Xã Đà-Nẵng, để nâng phía Sắc-Phục ở đó lên… .

*

        Chuẩn-Tướng Bình im-lặng một lát rồi chuyển câu chuyện qua đề-tài khác.  Ông hỏi tôi:

        – Anh có tham-gia đảng-phái nào không?

        Tôi đáp:

        – Tôi là người không đảng-phái.

        Có lẽ ông muốn hỏi xem, ngoài các đảng-phái chính-trị ra, còn có hội-đoàn, phe-nhóm hoặc nhân-vật hữu-danh hữu-quyền nào khác đỡ đầu cho tôi hay không, nên ông khéo-léo:

        – Hồi đó, ai giới-thiệu anh qua Phủ Đặc-Ủy?

        Sự-việc thật là đơn-giản, nhưng ông không nghĩ đơn-giản, và tôi cũng khó trình-bày đơn-giản. 

        Cả một quá-trình chuyển-biến của Ngành Cảnh-Sát Công-An Quốc-Gia qua suốt gần ba thập-niên hiện lên trong đầu-óc tôi; nhưng các viên-chức dù cao cấp nhất, dù lớn chức nhất, và già nghề nhất, cũng có mấy ai nắm vững vấn-đề? 

        Tôi đành trả lời ngắn gọn:

        – Tôi được chỉ-định dự thi khả-năng chuyên-môn, trắc-nghiệm bằng máy polygraph dò-sự-nói-dối, học Khóa đầu tiên Tình-Báo Đặc-Biệt Cao-Cấp của Mỹ, rồi được biệt-phái qua Phủ Đặc-Ủy, chứ không do sự giới-thiệu của một nhân-vật hay đoàn-thể nào.

        Tướng Bình lại đổi đề-tài.  Ông hỏi tôi:

        – Anh với Lê Văn Hảo liên-hệ thế nào?

        Thì ra Cấp Trên vẫn chưa biết rõ sự liên-hệ ấy. 

        Tôi đáp:

        – Lê Văn Hảo là em-khác-mẹ của vợ tôi.

        Ông hỏi thêm:

        – Sau vụ cộng-sản tổng-tấn-công Tết Mậu-Thân 1968 thì sao?

        Tôi trình-bày:

        – Hảo theo Việt-Cộng; tôi có báo-cáo lên Trung-Tá Nguyễn Mâu, hồi đó là Phụ-Tá Tư-Lệnh/Trưởng Ngành Đặc-Biệt Trung-Ương; Trung-Tá Mâu nói rằng:  “Trong một gia-đình, có thể có người này bên này, kẻ kia bên kia; nếu anh không dính-dáng gì với y thì thôi!”  Đương-nhiên Trung-Tá Mâu và CSĐB Trung-Ương đã cho mật theo-dõi vụ này.  Thực-tế, tôi, và vợ tôi, không hề liên-lạc với anh-ta.

        Tôi rất ngạc-nhiên tại sao mãi đến giờ này Chuẩn-Tướng Tư-Lệnh Cảnh-Lực mới nêu vấn-đề đó ra với tôi.

        Phải chăng Trung-Ương không biết chuyện đó trước khi cử tôi ra Miền Trung?

        Còn nếu có biết và có nghi tôi thì đâu có bổ-nhiệm tôi?

        Ngược lại, tuy biết mà vẫn tin tôi thì còn nhắc lại làm gì?

        Hay là mãi đến gần đây mới biết?

        Tôi nhớ, trước đó không lâu, trong một buổi họp tại phòng-giấy của Thiếu-Tướng Hoàng Văn Lạc, Phó Tư-Lệnh Quân-Khu I, nhân khi Đại-Tá Lê Quang Nhơn, Chánh-Sở I An-Ninh Quân-Đội, thuyết-trình về công-tác theo-dõi các quân-nhân có liên-hệ gia-đình với Việt-Cộng – các quân-nhân này có tên trong một loại hồ-sơ đặc-biệt gọi là “Hồ-Sơ Z”; cách phân-loại này về sau cũng được áp-dụng đối với cảnh-nhân –Đại-Tá Nhơn đã nói:  “Ngay trong năm anh+em chúng tôi ngồi họp ở đây, cũng có người có hồ-sơ Z”.

        Năm người hiện-diện là Đại-Tá Nguyễn Xuân Lộc, Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực Vùng I; Đại-Tá Phạm Văn Phô, Trưởng Phòng 2 Quân-Đoàn và Quân-Khu I; Trung-Tá Phạm Xuân Bách, Phụ-Tá Trung-Tâm-Trưởng Phụng-Hoàng Vùng I; Đại-Tá Nhơn, và tôi.

        Họ có ám-chỉ gì tôi hay không?

        Hẳn là Tướng Bình có được “Người Bạn Đồng-Minh” [tên gọi mới của cố-vấn CIA] cho biết, vì chính tôi đã đích-thân kể rõ mối liên-hệ ấy với “Người Bạn Đồng-Minh” của tôi ― rồi NBĐM Vùng I báo-cáo lên NBĐM Trung-Ương, rồi vị này báo lại cho Tướng Bình, nên ông đích-thân hỏi tôi để ông trực-tiếp nghe cho rõ hơn?

        Nguyên Bộ Tư-Lệnh CSQG/Ngành Ðặc-Biệt Trung-Ương có khám-phá ra được một Cụm Tình-Báo Chiến-Lược của Cộng-Sản Bắc-Việt hoạt-động tại Miền Nam.  Cũng như Vũ Ngọc Nhạ của cố Tổng-Thống Ngô Ðình Diệm, Huỳnh Văn Trọng, là Phụ-Tá của Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu, bị lột mặt nạ là cán-bộ nội-tuyến của đối-phương.  Trong việc lùng bắt đồng-bọn tại địa-phương, Trưởng Ngành Ðặc-Cảnh hồi đó tại Vùng I là Chủ-Sự Phòng Cảnh-Sát Đặc-Biệt Lê Đình Khôi – nguyên là một cán-bộ VC hồi-chánh – vì đã “sơ-xuất để cho cán-bộ của địch tại địa-phương lọt lưới” nên bị nghi là Việt-Cộng nằm vùng.  Khôi bị Bộ Tư-Lệnh Cảnh-Sát Quốc-Gia cất chức, tạm giữ để điều-tra suốt nhiều tháng, xong cho trở về tiếp-tục làm việc tại cơ-quan cũ, là Ngành Đặc-Biệt Vùng I, bây giờ ở dưới quyền tôi*.

         ——-

        *Sự Thật là Lê Đình Khôi phải trả tự-do cho một nữ cán-bộ VC theo lệnh của cấp chỉ-huy trực-tiếp, hồi đó là Kiểm-Tra Võ Lương, Giám-Đốc Nha CSQG Vùng I (mà theo dư-luận thì ông này đã có quan-hệ riêng-tư với ả-ta).  Sau vụ đó thì chính Ô. Võ-Lương cũng đã rời khỏi Vùng I, về Sài-Gòn.

        Lê Đình Khôi hồi đó tạm-trú tại nhà của Ô. Lê-Văn Tập, một phú-gia tên-tuổi của Thành-Phố Ðà-Nẵng, bạn thân của thân-phụ Khôi.  Ô. Tập, có ba bà vợ, có mấy người con-gái trẻ tuổi cùng ở tại đây.  Do đó, nhân-viên điều-tra tưởng rằng Khôi là con-rể trong nhà này.  Nay tôi mới đến, vì chưa có chỗ ở, nên cũng tạm-trú tại đó, là nhà của nhạc-phụ tôi.  Vì thế, khi Người Bạn Ðồng-Minh muốn tìm hiểu tôi, mà cách hay nhất là nhờ chính các nhân-viên Đặc-Cảnh bí-mật điều-tra giùm, thì kết-quả là tôi trở thành anh-em-cột-chèo với Khôi, người đang bị theo-dõi vì bị nghi là nội-tuyến của đối-phương.

        Tôi được thân-tình-viên trong nội-bộ cơ-quan CIA và Tòa Tổng-Lãnh-Sự Hoa-Kỳ tại Đà-Nẵng cho biết, rằng Người Bạn Đồng-Minh Vùng I của tôi, là Đại-Tá Kenneth Ferguson, cũng có giao cho Người Bạn Đồng-Minh Tỉnh Thừa-Thiên/Thị-Xã Huế đảm-trách việc điều-tra này, vì ngại nhân-viên Đặc-Cảnh trong này [Đà-Nẵng] thiên-vị về tôi, và vì trước kia tôi và vợ tôi ở Huế, mà gia-đình Ô. Lê Văn Tập cũng như Lê Đình Khôi cũng đều gốc Huế.

        Người Bạn Đồng-Minh ngoài đó đương-nhiên phải nhờ Ngành Đặc-Biệt đồng-cấp [cấp tỉnh/thị] của mình; như thế thì hẳn nhân-viên của Sở Đặc-Cảnh Thừa-Thiên/Huế đã vào Đà-Nẵng mò-mẫm dò-la.

        Tôi biết được điều đó, nên đặt thẳng vấn-đề với Ferguson.

        Các cô em của vợ tôi hồi đó còn đi học, mà nhà Ô. Lê-Văn Tập là nhà lớn, có lầu, có sân, ở giữa thành-phố, nên vào buổi chiều, nhất là vào các ngày cuối tuần, có khá nhiều bạn học đến chơi, người ngoài không phân-biệt được ai là con, ai là bạn của con ông.  Lê Đình Khôi – là con của Ô. Hường [Hồng Lô Tự Khanh] Loan (bạn của Ô. Tập) – đã cưới một cô trong số các cô nữ-sinh ấy, không phải là con của Ô. Tập, nên Khôi không phải là rể của Ô. Tập, tức Khôi không phải là anh-em-cột-chèo của tôi.

        Tôi cho Ferguson xem hồ-sơ của Khôi, với giấy giá-thú, tờ khai lý-lịch, chứng-minh là vợ đương-nhân không có họ-hàng gì với gia-đình vợ tôi.  Ferguson vừa mừng-rỡ cám ơn tôi, vừa luống-cuống ghi-chép những điểm cần; tôi đoán là anh đang lựa lời để biện-minh cho việc-làm của mình, mà suýt nữa là phạm phải lỗi-lầm.  Cuối-cùng, không thể dối lòng, anh thú-nhận:

        – Tôi tưởng là anh lọt vào lưới tôi, nhưng chính là tôi lọt vào lưới anh!

        Ðó là câu nói chống-chế xã-giao, nhưng nó bộc-lộ đức-tính sòng-phẳng của Người Bạn Đồng-Minh của tôi.

        Tiếp theo, tôi cho Ferguson biết thêm về một mối liên-hệ khác trong gia-đình vợ tôi, quan-trọng hơn cái mẩu tin dởm về anh-em-cột-chèo.

        Ô. Lê Văn Tập, cha của vợ tôi (đã qua đời vào năm 1968), là thân-phụ của Tiến-Sĩ Lê Văn Hảo, Chủ-Tịch “Ủy-Ban Nhân-Dân Cách-Mạng Tỉnh Thừa-Thiên / Thành-Phố Huế” vào vụ Tết Mậu-Thân.

        Vợ tôi là chị-khác-mẹ của Hảo, chứ không phải là một trong số các cô em.

        Lê Văn Hảo đi du-học Pháp từ nhỏ, tốt-nghiệp năm 1965, về nước dạy tại các Viện Ðại-Học Sài-Gòn, Đà-Lạt, và Huế, rồi vào trước vụ VC tổng-công-kích Tết Mậu-Thân 1968 tại Huế thì vào rừng với đối-phương.

        Trước kia, vợ tôi ở với mẹ ruột tại Huế, còn Hảo thì ở Châu Âu.

        Sau ngày Lê Văn Hảo* hồi-hương thì Hảo chỉ ở Sài-Gòn và Huế, còn tôi [cùng với vợ tôi] thì bị cầm chân trên Cao-Nguyên (Darlac, Quảng-Đức, Pleiku) từ năm 1960.

        ——-

        *Đã bỏ VC qua tị-nạn chính-trị tại Pháp từ năm 1989 và đã chết rồi.          

        Tóm lại, vì biết em mình hoạt-động cho VC nên vợ tôi không liên-lạc hỏi-han gì, còn tôi thì chưa hề gặp mặt Hảo cho đến tận ngày hôm nay.

        Ðó là tin-tức sốt dẻo – anh-rể thật-sự của một nhân-vật cộng-sản quan-trọng hiện-thời – có giá-trị gấp bội phần so với trường-hợp của Lê Đình Khôi – chỉ là một viên-chức bị nghi, mà mấy tên gà-mờ gán cho là “anh-em-cột-chèo” với tôi.

        Tất-nhiên Ferguson đã cho tái-kiểm-chứng, và đã có được sự thật một cách đơn-giản, nhanh-chóng, dễ-dàng.

        Từ đó, anh cởi-mở và tận-tụy với tôi hơn bao giờ.

        Nhưng cũng từ đó tôi phải khổ nhọc với công-vụ hơn bao giờ, vì phải đương-đầu nhiều hơn với cả khách ngoài ngành cũng như bạn trong nghề, trong lúc còn phải đối-phó với quân thù cả đằng trước mặt lẫn đằng sau lưng*.

        ——-

        *Sự-việc này đã được kể lại trong cuốn “Về Vùng Chiến-Tuyến” do Nhà “Văn Nghệ” ở miền nam California xuất-bản năm 1996 (trang 302-03).  

        Bỗng-nhiên, trên diễn-đàn vô-tuyến “PalTalk” vào ngày 23-8-2010, cựu Thiếu-Tá Liên Thành, cựu CHT/CSQG Thừa-Thiên




 (Memoir of the June Season) MIC OF THE I CORPS AND THE I MILITARY REGION by LE XUAN NHUAN)

HEADQUARTERS –MILITARY REGION I AND MILITARY REGION I

SINCE the abolition of the Regional Government Representative Courts (an administrative organization under the “First Republic” of President Ngo Dinh Diem, replacing the Prime Minister’s Offices) /General of the Part/State level under the “Vietnamese Nation” of State Chief Bao-Dai), the “Region Generals” (Commanders of Corps and Tactical Regions) have obviously become The Prime Minister or Representative of the Government in his/her Region.

After abolishing the position of Administrative Assistant next to the Commander of the Tactical Region, the “Region Generals (now Military Region)” have even more authority over agencies. Regional (Regional) level civil service whose tasks are considered the main efforts of the Pacification & Development Program, through the Standing Center of the Regional Council for Pacification & Development, belongs to the Military Region Command, whose staff are all military personnel, under the command of the Deputy Commander of the Military Region.

As for the Police Force, it operates closer to the Military Force, so the Commander of the Regional/Area Police Force, as Head of an Agency under the Military Region, directly receives instructions. from the Military Region Commander.

In general, it is the Police Force, but in reality, only the Special Police have the majority of responsibilities related to the Military Forces, through the two branches of Military Intelligence (Second Department) and Military Security (Second Department). Military Security). In addition, the Special Scene is also responsible for implementing one of the main goals of the Binh Dinh & Development Program: rural security.

According to the Government Decree reforming the Special Police into a Special Branch in 1970, one year before the reform of the Special Police, my position was classified as a The Director of a Department has many Departments, and is responsible for directly reporting the situation to the Military Region Commander, which means I am also a Military Region-level Agency Head.

After the seminar that I organized at the National Police Command of Region I, and after my inspections in each Province+Town and District in the Region, I realized that the Special Landscape of Region I has a great potential. – has great potential and needs to be exploited to the fullest.

However, in the context of war and with the military’s obvious superiority, I first need to gain the affection and trust of the military.

In that spirit, to start the Sector’s foreign affairs activities, I must soon come and introduce myself to the leaders and executives of the Military Region here.

Lieutenant-General Ngo Quang Truong

In Military Region I, I rarely met Lieutenant General Ngo Quang Truong , compared to Lieutenant Generals Vinh Loc , Lu Lan , Ngo Du, and Nguyen Van Toan, like when I was still working. in Military Region II. General Truong spent most of his time on outside inspections, rarely in the office.

However, in my mind I feel that I meet and get close to him often. That lieutenant general, as I heard many people praise in Saigon as well as in Region II, is truly an ideal physical figure of contemporary society. The status of a soldier has been raised to the top of the four worlds  Military, Public, Officer, Government  and that soldier is at the pinnacle of his position (“Regional General” is “leader of the Region”. -lord” of the Region). He was promoted to a higher position at the Central Government but he refused and volunteered to stay and guard this dangerous area of ​​the Homeland; who devoted all his mind, effort and time to the anti-Communist work right at the front, rarely enjoying himself in the city; who was invited by the Southeast Asia Inter-Occupation Organization (SEATO= South East Asia Treaty Organization) to come to Thailand every month to give presentations on Vietnam’s efforts and battlefield experiences; He has no political ambitions, so he is trusted and loved by President Nguyen Van Thieu, assured that he will never break away from the Central Committee as planned by former Lieutenant General Nguyen Chanh Thi in the past. …

One day, while waiting to gather documents and bring them to the first meeting with the I Corps at the office of Colonel Hoang Manh Dang, Chief of Staff of the Corps and Military Region, some A high-ranking officer happened to mention to me about Lieutenant General Truong: that he had severely punished a General of the Division Commander for being jointly responsible for the case of a single-command. who is in charge of driving the people’s cows; that he punished a colonel Head of the Agency for corruption in the Rural Development budget; He used helicopters to fly throughout the Military Region, personally controlling the situation in all aspects and places, including supervising the disciplinary behavior of soldiers along the way as well as at stations. remote camps, on the most unexpected days and hours; What’s more, he only wore a battle uniform with armor and helmet, ready to go into battle at any time… Public opinion also rumored that he once slapped the ear of a proud Minister at the airport. -school…

General Truong’s countless exemplary deeds were recounted to me with words and attitudes full of admiration, causing a strong emotion and deep impression in me, so much so that later, when I Halfway up the stairs leading to his office and that of Colonel Dang, I suddenly saw him coming down and I suddenly stopped. Standing tall before me was the great image of a “hero” wearing armor and a helmet, realistic yet as mythical as in ancient legends. He asked me what I came for. I was speechless, causing Colonel Le Quang Nhon, Chief of Department I of Military Security, who was accompanying me, to answer for me.

So I have a trustworthy anti-Communist leader for this entire boiling War Zone .

Major-General Hoang Van Lac

Lieutenant General Ngo Quang Truong has agreed to let us  as Commander of National Police Region I, Head of Division 2 of Army Corps I & Military Region I, Chief of Department I of Military Security – The team, and I, the Director of Special Sector I, and my ” Allied Friend ” MEET weekly at the office of Colonel Hoang Manh Dang, his Chief of Staff.

That is an effort to coordinate intelligence and operations.

As for territorial security/internal affairs, we met at the office of Major General Hoang Van Lac, Deputy Commander of the Military Region.

Attending here were the Assistant Commander/National Police of Region I in charge of Phung Hoang, that is, the Assistant General Secretary of the Standing Center of the ” Phung Hoang ” Committee of Military Region I, but there is no “Ally”.

Right in the meeting that included me for the first time, General Lac emphasized the general security situation, especially in and around Da Nang Town, where Army Corps I and Military Region I were headquartered. -headquarters, where is now the capital of the Central region.

Typical issues raised:

The largest gas depot of Military Region I in Lien-Chieu, next to the foot of Hai-Van Pass, was attacked several times by the Viet Cong; Other important gasoline reserve tanks in the inner city of Da Nang were also half-cut by Viet Cong special forces with barbed wire fences (last year, bombs were set to destroy a large amount of gasoline); Trains from Hue, entering the Hai-Van Pass tunnel, were mined regularly by the Viet Cong; Especially in the south of Ngu Hanh Son Mountain, Lieutenant General Ngo Quang Truong ‘s helicopters were often shot by snipers from the Viet Cong, so he had to avoid that area by flying away…

I don’t need to wonder why the Commands of Army Corps I & Military Region I and the National Police Command of Region I are located there, but the agencies/units of the Army and Police Department are located there. – because these chronic ulcers have not been eliminated.

I immediately volunteered to take on the responsibility of restoring and ensuring long-term security for the above mentioned places.

I also propose that the Police Force in general and the Special Branch in particular, with me personally participating, take on the leading role in both covert and surface operations to eliminate communists. -produce and maintain territorial security, in any land where civilians reside and live, starting from towns and district capitals, throughout the Military Region.

I only ask for a signature from the Commander of the Army Corps and the Military Region, to notify this to all military agencies and units throughout the Region for compliance.

Lieutenant General Ngo Quang Truong , Commander of Army Corps I and Military Region I, approved my proposal.

Second Department and Military Security

In general, military people do not like police people; In particular, in the field of intelligence, there is disagreement, if not a struggle for influence, between Military Intelligence, Military Security, and the National Police [Special Forces]. -Scene]. Although in later times, there were a large number of military personnel at all levels seconded to the Police Force, and hybrid military officers held the majority of command positions in the French Army, so the Communication between the two sides at high levels and on the surface has improved quite a lot; But in daily interactions, even in work coordination, the inferior part is often reserved for the human side.

Everyone knows that in the field of military intelligence, military experts are naturally more proficient; What’s more, in wartime, Military Intelligence is equipped with state-of-the-art machinery, tools and techniques through military aid which is the main budget of the United States; supported by the sky; given priority in exploiting documents captured on the battlefield; Priority is given to interrogate all sources of information, including police officers, criminals and prisoners of war captured by the Special Police. The Special Police’s weakness is that it also collects military information, but lacks confirmation circumstances and is wary of being blamed, so any information it receives is forwarded to the Second Division. ; In the end, there are many reports from high levels that have only low value, or even no value at all. (The Special Police leaders at the Central level hardly pay attention to this.)

For me, the issue is more clear-cut. It’s even better if the Special Canh is also knowledgeable about the military. For example, to achieve that, for many years, I have fasted every day without breakfast to attend early morning presentations at II Corps Command, when I was still stationed in Pleiku. , and the Military Region II Command, moved to Nha Trang, to closely follow the situation and grasp military issues throughout the Region, mingling with the commanders of the regions. In the military world, when involved in an incident, one is respected and therefore public affairs are sincerely coordinated.

However, each agency has its own function and each part has its own responsibility. Security and intelligence are not just limited to the military, even though the country is in a state of war.

Communism is not just military units or armed forces that ambush or attack. If there are no regular forces to create storms, the enemy’s political and civil organizations will still be hidden nests and cradles for termites and pests. the power to hollow out, erode, and collapse the foundation of the Nation.

That is the People’s Revolutionary Party (Labour Party in disguise); National Liberation Front; Provisional Government of the Southern Republic; people’s associations such as Trade Unions, Agricultural Associations, Women’s, Youth, Students, and Pupils; with Party Committees, Front Committees, state agencies, association branches, from the central government down to communes and villages; espionage, special operations, propaganda, enemy operations, intelligence operations, religious operations, finance, supply, communications…

All are objects of Special Scenes; but they are enemies that transcend borders and are omnipresent.

Agreeing with that perception of mine, Colonel Pham Van Pho, Head of Division 2, Army Corps I and Military Region I, agreed to inform and transfer to me all the information. and any documents related to the politics and civil affairs of the Viet Cong that the Military Newspaper has.

As for me, I only provide the Second Department with information and documents that I have personally selected, verified, and are of high value.

Up to now, all intelligence agencies as well as military units across the country have relied on the document ” The Viet Cong Battle ” drafted by the Second Division, as a set of documents. – a comprehensive dictionary of the enemy’s organization and personnel, to search for, detect, and determine the background and position of each communist element found before or during hand.

However, realizing that on the political and civil side, my Special Police Branch has more complete data, so I proposed that the Command of Army Corps I and Military Region I approved, from now on, the ” Viet Cong Battle ” is divided into two parts: the Second Department only sets up the Military Battle, and the Political Battle, I am responsible for the Special Police Department of the Department. I implemented, were circulated and used throughout the Military Region, as well as disseminated to the Central Committee (General Staff, Central Intelligence Special Committee Office, Ministry of Intelligence). Hoi, National Police Command, etc.) and into Military Region II which is border territory, so that all agencies and units can refer to it for all things related to Vietnam. -Communist in the Central region.

During the time of Major General Nguyen Cao Ky as Chairman of the Central Law Enforcement Committee, Colonel (later Major General) Nguyen Ngoc Loan , Director of Military Security, was appointed concurrently. The Director General of the National Police has ordered the Police to provide all information and documents to the Military Security. From then on, it became a routine…

But I refuse to limit the coordination between the two branches to such a simple level as above. For example, for a long time, the Military Police only needed to rely on the results of the Police’s archive collection to approve the political activities of Vietnamese candidates. Apply to work at US offices, military bases, and private companies. I have noticed that in the Police Archives (Sac-Fitness) departments, there are always quite a few personal files on communist activities stagnant, not yet tabulated and classified for inclusion. storage system for use in retrieval. In addition, there are soldiers seconded to administrative agencies; soldiers elected to elected positions; and even soldiers who are not always in barracks: they enjoy military status, outside the jurisdiction of the Police, but at the same time they are beyond the reach of control. by Quan-An.

I raised the issue with Colonel Le Quang Nhon, Chief of Department I of Military Security, and he agreed with my opinion and submitted his favorable opinion to the Superiors, so that the two branches could coordinate. with each other more closely and widely, both in terms of supervision and monitoring, as well as in investigation and handling, including detention and interrogation, especially is in terms of counter-intelligence, against the enemy’s in-line elements and hidden bases in the military ranks…

Binh-Dinh Standing Center and Military Development Zone I

If a Government has to do both jobs at once, preserving the country and building the country, then the Council for Pacification and Development is the organization that builds the country.

Although the Program has a goal of “neutralizing the Viet Cong’s infrastructure and restoring security to rural Hamlets”, that task has been contracted out. , in name, for the Royal Service Commission, and in reality, for the Armed Forces and the National Police, whose means of operation were originally supplied from abroad. It’s Central. There are other remaining goals, such as helping farmers increase rice production, fighting illiteracy and improving the education level of rural people, examining and treating diseases and protecting people. health for the people, building bridges and roads to meet transportation needs, expanding the information network to disseminate current and official news infrastructure. The Government’s rules and regulations, etc. are accompanied by a budget to buy fertilizers, build more schools, clinics, bridges, roads, information stations, etc., so they are attractive to investors. contractors and attract officials at all levels to call for tenders and bid more.

The first time I came to the Binh Dinh Standing and Development Center of Military Region I, I met the Ministry of Trade and Industry and the Command of Military Region I to consider a problem. A number of overseas Chinese merchants applied to exploit cinnamon in Que Son District (Quang Tin Province) which is a semi-secure area.

Cinnamon is a great source of profit, the Viet Cong also took it.

Before that, Major-General (later Lieutenant-General) Nguyen Van Toan “took advantage” in such a way that the press dubbed him “Que Tuong Cong”. I stand on the security, intelligence, political, economic and civil aspects, and give my opinions to the Center, because we are afraid that military leaders are having to deal with the minds of the people. tycoon of the wealthy business class. I propose that Colonel Nguyen Xuan Loc, Commander of the Police Region I, join the Military Region delegation to study the site thoroughly.

Suddenly there was an order banning Colonel Loc from entering Quang Tin Province.

I persuaded Loc, and he listened to me: just go, because it is your right; I go about my business. I’m going with you.

I once discovered that the Center for Binh-Dinh and Military Development of Region I used two policemen, a captain and a sergeant, who were distinguished by the Region I Police Command. -sent to “coordinate work”, to boil water for tea, and serve the officers and non-commissioned officers serving at this Center!

I reported this matter to Colonel Loc and he withdrew the other staff members.

Coordination of Activities Between

Security & Political & Military Counter-Intelligence in the Central Region

Some time later, after establishing closeness, trust and mutual respect between the National Police (Special Branch), Second Division, and Military Security agencies -The team, at the Military Region/Region level, I have gone further, proposed, and received approval from Lieutenant General Ngo Quang Truong, for the Military Region I Command to organize a meeting between the Commanders of the National Police and the Heads of Military Security Departments/Departments of the Provinces/Towns and with the Heads of the Second Departments of Sub/Special Zones throughout the Central Region, to formalize and concretize the coordination of work between the three branches of security, intelligence, counter-intelligence and the military mentioned above, at the provincial/municipal level.

That special meeting took place at the meeting hall of the Command of Army Corps I & Military Region I, under the chairmanship of Major General Hoang Van Lac, Deputy Commander of Military Region I, General -representing Lieutenant General Ngo Quang Truong, Commander of the Army Corps & Military Region.

Because the Headquarters of the I Corps Command & I Military Region strictly control entry/exit, I personally guided the convoy of the National Police Commanders. Province/Town in Zone I from the Regional Police Command to the Camp gate, all the way to the Military Zone’s synagogue.

Just like in other cases, I both initiated, organized, and acted as a commander and executive officer.

*

In addition, Lieutenant General Ngo Quang Truong also approved for me to use a Special Police officer, even if only a non-commissioned officer, to play the role of Army captain to join the Army Detachment. -The work of the Republic of Vietnam, in the 4-Party Joint Military Commission (later there were only 2 Parties), to carry out espionage work targeting the two communist groups of Poland and Hungary. Gia-Loi , planning to hide as secretary of Lieutenant Colonel Vinh, Deputy Head of the Delegation of the Republic of Vietnam in Military Region I  that is, Region II according to the 1973 Paris Agreement.

(The installation of Special Police officers in the Military Delegation of the Republic of Vietnam was proposed by me when I was still in control of the Special Police Branch in Region II, typically with the case of Major Tran Van Tha, Chief of the Special Police Department of Binh Thuan Province [with the support of Provincial Governor and Sub-Region Chief Ngo Tan Nghia], brought in a Special Police sergeant to pretend to be a colonel. Lieutenant of the Army of the Republic of Vietnam to approach a target as a member of the “Provisional Revolutionary Government of South Vietnam” in the “Four-Party Joint Military Commission” stationed in Phan -Thiet.)

Department I of Military Security has also permanently seconded a major to lead 5 officers and non-commissioned officers to work with the ” Thach Ma ” Team (supervisor & follow-up). following the members of the Polish and Hungarian Communist Delegations in the above-mentioned International Committee) of my Special Sector I.

The Second Division of Army Corps I also permanently seconded a lieutenant, to accompany my local police officer to operate day/night in Quang Nghia Province, next to the Sub-Region Command. , the Regiment Commands, the Branch Commands, the Chieu Hoi Department, the Social Department, the Health Department, etc. so that the Military Region level can coordinate with localities in time. -time to exploit news & access all sources of information on the spot (VCs were killed, captured, returned to justice; civilians in distress, refugees, liberated by us; etc. .), for the purpose of recruiting, building and using as intelligence agents to infiltrate, or within-line, within the enemy’s ranks  because Quang-Nghia is where there are the most opportunities to search for these clues…

*

These initiatives and efforts of mine, aimed at tightening the relationship and coordination of activities between the above-mentioned agencies, have created a more favorable atmosphere and circumstances for work of the National Police/Special Police levels throughout Region/ Military Region I from then on.

LE XUAN NHUAN




LÊ XUÂN NHUẬN – Hồi Kí Mùa Hè: Tháng 6 BIẾN-LOẠN MIỀN TRUNG

(hồi kí Mùa Tháng 6) TH.TG. NG.KHẮC BÌNH VS 

BIẾN-LOẠN MIỀN TRUNG

        Ngưng một lát, Chuẩn-Tướng Nguyễn Khắc Bình chuyển sang vấn-đề khác:

        – Anh nói tóm-tắt tình-hình ở Huế hiện nay ra sao?

        Tình-hình ở Huế nói riêng, và những nơi khác liên-quan đến Huế nói chung, thì tôi đã có báo-cáo lên đầy-đủ rồi.

        Tôi chỉ nhấn mạnh vài điểm nổi bật mà thôi:

        – Về phần cộng-sản thì quả trước đây chúng đã nắm được đa-số các tay “lãnh-tụ” tập-thể sinh-viên, nhất là qua vụ vu-khống “Chính-Quyền bắt cóc Sinh-Viên” vừa rồi, chúng đã tạo được ảnh-hưởng trong giới phụ-huynh sinh-viên & học-sinh, giáo-chức, và cả quần-chúng nói chung.

        “Nhưng tôi đã lập kế-hoạch, đích-thân chỉ-đạo và yểm-trợ cho Sở Đặc-Cảnh Thừa-Thiên/Huế sử-dụng một số biện-pháp tình-báo chuyên-môn để lật ngược lại thế cờ, làm chủ tình-hình.  Hiện nay, chúng ta đã chiếm được thế thượng-phong đối với cộng-sản trong giới giáo-chức, sinh-viên & học-sinh ở nội-thành rồi”*.

        ——-

        *Xem các trang 269 và 279.

        – Về phần nội-chính?

        – Tuy không có những tổ-chức nhỏ và nhiều như từ Đà-Nẵng trở vào, nhưng hai tổ-chức lớn thì rất đáng được Chính-Quyền quan-tâm:  đó là “Lực-Lượng Hòa-Hợp Hòa-Giải Dân-Tộc” và “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng và Kiến-Tạo Hòa-Bình”, mà cấp-thiết nhất là “Phong-Trào” này.

        – Anh nói về Lực-Lượng Hòa-Hợp Hòa-Giải Dân-Tộc trước.

        – “Lực-Lượng” ấy quy-tụ được hầu hết Phật-Tử là thành-phần đại-đa-số trong dân-chúng, kể cả công-chức và quân-nhân.  Ngoài Khối Ấn-Quang xuất-phát từ Miền Trung và kiểm-soát hầu hết Phật-Giáo-Đồ khắp nơi, Đại-Tướng Dương Văn Minh đã thu-phục được hầu hết giới tín-đồ Phật-Giáo gốc Miền Nam, và Giáo-Sư Vũ Văn Mẫu đã lôi-cuốn được hầu hết khối tín-đồ Phật-Giáo gốc Miền Bắc di-cư.  Đối với quốc-tế thì đó là thành-phần thứ ba; đối với quốc-nội thì đó là tập-hợp dân-sự lớn mạnh nhất, bao gồm nhiều chính-đảng nhất; các cấp lãnh-đạo lại là nhân-vật dân-cử có quyền bất-khả xâm-phạm.

        “Điều đáng nói là cộng-sản đã len-lỏi vào, và chính-quyền địa-phương thì không dám dòm-ngó đến, phó mặc cho Trung-Ương lo.

        “Tuy thế, tôi đã có người bên trong, cho nên biết trước chương-trình & nội-dung sinh-hoạt của họ, khắp Vùng.

        “Trên hết, chính tôi đã gặp, trực-tiếp nói chuyện với Thượng-Nghị-Sĩ Vũ Văn Mẫu, Giáo-Sư Võ Đình Cường, và các tay cầm đầu, nên biết ý-đồ của họ, và tôi đã có trình lên thiếu-tướng rồi.”

        – Anh có chắc-chắn là không có gì đáng lo?

        – Vâng, nếu họ vẫn cứ tổ-chức mít-tinh tại các sân chùa, chứ không xuống đường gây xáo-trộn trật-tự chung, như họ đã cam-kết với tôi, và nếu họ không xúi-giục quân-đội gây binh-n gì, mà chỉ chờ-đợi đến ngày bầu-cử Tổng-Thống, vào cuối năm tới, như họ đã nói rõ với tôi.  Tính đến hôm nay, và riêng Miền Trung thì thế; còn về tương-lai, và các nơi khác thì tôi không dám đoán trước…

        – Còn về “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng”?

        Tôi tin là Thiếu-Tướng Bình, tuy là tín-đồ Đạo Chúa, nhưng ông “sống đời công-chính theo lời Chúa dạy”, sẽ “rất công-bình chứ không thiên-vị Đạo nào”, không bao che cho người nào, nên tôi nói thẳng cảm+nghĩ của tôi:

        – Chủ-đề chống tham-nhũng thì hấp-dẫn đối với mọi người, kể cả một số người mà bản-thân cũng không trong-sạch gì; nhưng tham-gia vào “Phong-Trào” thì hầu như là chỉ có tín-đồ Kitô-Giáo*; còn xuống đường thì là những phần-tử mà quyền-lợi vật-chất hoặc tinh-thần đã quá gắn liền với cố Tổng-Thống Ngô Đình Diệm và gia-đình.

        ——-

        *Một số nhân-vật chính-đảng và tổ-chức khác có tham-gia vào, nhưng không đáng kể so với đại-khối hơn 301 linh-mục.

        “Dù sao, cuộc biểu-tình của họ mà bị Cảnh-Sát [do Thiếu-Tá Liên Thành chỉ-huy] đàn-áp vừa rồi cũng đã gây được một tiếng vang, có lợi cho “Phong-Trào”, tức là có hại cho Chính-Quyền.  Đó là một bước dò đường.  Tin-tức mới nhất cho biết là “Phong-Trào” sẽ tổ-chức xuống đường khắp nước.  Từ Huế, Quảng-Trị vào các Tỉnh Vùng II thì do Linh-Mục Nguyễn Kim Bính, cha xứ Phú Cam ở Huế khởi-xướng.

        “Tại Thủ-Đô Sài-Gòn và các Tỉnh Vùng III, Vùng IV thì do Linh-Mục Trần Hữu Thanh phát-động.

        “Khi đó thì tình-hình khắp nước sẽ rối beng; Chính-Quyền khó kiểm-soát được dân-chúng, ngay cả các Ban Tổ-Chức biểu-tình cũng không nắm vững thành-phần tham-gia.  Và không ai đối-phó nổi với phản-ứng của các thành-phần bị họ chống, trong khi các phương-tiện truyền-thông trong và ngoài nước tha-hồ đổ thêm dầu vào.

        “Tóm lại, ‘Phong-Trào’ không chờ đến ngày bầu-cử sang năm; họ muốn Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu phải từ-chức ngay; họ muốn có một Tổng-Thống là tín-đồ Đạo Kitô.”

        Chuẩn-Tướng Bình nhắc tôi:

        – Tổng-Thống [Nguyễn Văn Thiệu] cũng là…

        Tôi thấy ông có vẻ thực tình muốn biết Sự Thật nên tôi trình-bày:

        – Nhưng có một số phần-tử phân-biệt “đạo dòng” với “đạo theo”*.  Vả lại, vấn-đề không ngừng ở đó, mà là nhắm vào vai trò giáo-dân của người lãnh-đạo quốc-gia.  Họ muốn có một Tổng-Thống rập khuôn cố Tổng-Thống Ngô Đình Diệm.  Tống-Thống hiện nay không hề đối-xử phân-biệt với các tín-đồ đạo khác, không chịu lợi-dụng Chính-Quyền để tạo ưu-thế cho Đạo Kitô – tỷ như gia-tăng tín-đồ – mà lại lập một đảng riêng là Đảng Dân-Chủ, nên họ bất-mãn.  Họ đồn miệng rằng Đức Tổng-Giám-Mục Nguyễn Văn Bình đã “cảnh-cáo” Tổng-Thống về khoản này. 

        ——-

        *Trong quan-điểm đó, mãi đến thế-kỷ 21, nhà văn Nguyễn Văn Lục còn phát-biểu về Cựu-Hoàng Bảo-Đại như sau:

        “Bản thân Bảo Đại là người gốc Phật giáo, cái nhãn hiệu Thiên Chúa giáo bất quá chỉ là ‘đạo theo’ cho có lệ, và chính thức ông chưa hề bao giờ là người Thiên Chúa giáo.”

        “Nổi bật nhất là nội-dung những lời thuyết-giáo của Linh-Mục Nguyễn Kim Bính tại nhà thờ Phú-Cam, Huế, mà tôi đã cho thu băng gửi trình thiếu-tướng, trong đó đã có hai đoạn tiêu-biểu cho hai phương-diện của một vấn-đề:  một đoạn Linh-Mục Bính hằn-học khích-động đồng-đạo, đại-ý “người ta đã ám-hại một tổng-thống anh-minh…”, và một đoạn ông cay-đắng phân bua, đại-ý “như tôi là một Cha Xứ ở Phú Cam này, có ai mà không biết tôi; thế mà cái “ngài” Đại-Tá Tôn Thất Khiên ấy, cái “đấng” Tỉnh-Trưởng Tôn Thất Khiên ấy, đến nhậm-chức ở đây đã bao lâu rồi, mà vẫn chưa hề đến thăm hỏi tôi lấy một lần…”

        Chuẩn-Tướng Nguyễn Khắc Bình gật đầu:

        – Tôi đã có nghe cuốn băng ấy rồi.

        Ông hỏi tiếp tôi:

        – Theo anh thì những việc gì cụ-thể có thể xảy ra trong tương-lai gần, hậu-quả thế nào?

        – Cộng-sản Bắc-Việt ồ-ạt chuyển quân và chiến-cụ vào.  Quân-Lực của ta thì bị bó tay vì bản Hiệp-Định Paris; nếu có đụng-độ quân-sự thì điều đó thuộc thẩm-quyền của cấp Trung-Ương.  Riêng về phương-diện chính-trị nội-bộ thì tình-hình chung ngày càng xấu thêm:  các cấp Chính-Quyền địa-phương không biết thu-phục dân-tâm; nhất là ở vùng ven-ô, nói chi ở vùng tranh-chấp.  Đồng-bào chán ghét tham-nhũng, mà lại khao-khát hòa-bình.  Tổ-chức của nhóm các Linh-Mục Trần Hữu Thanh và Nguyễn Kim Bính là “Phong Trào Nhân Dân Chống Tham Nhũng để Cứu Nước và Kiến Tạo Hòa Bình”.  Một số tín-đồ Kitô-Giáo sẽ đồng-loạt xuống đường khắp nơi.  Nếu không ngăn-chận thì có thể có bạo-động.  Giả-dụ một số quá-khích (Việt-Cộng xúi-giục) tấn-công những người mà họ cho là đã tham-gia tích-cực vào cuộc Cách-Mạng 1-11-1963 lật đổ chế-độ Đệ-Nhất Cộng-Hòa, mà những người ấy thì nằm bên phía “Lực-Lượng”, và tất-nhiên là những phần-tử này sẽ phải tự-vệ, biến thành xung-đột tôn-giáo, ít nhất cũng như biến-cố Thanh-Bồ Đức-Lợi tại Đà-Nẵng trước đây.  “Phong-Trào” mà “làm mạnh” được thì phía “Lực-Lượng” hẳn cũng sẽ không chịu thua.  Ngăn-chận thì bị gán cho là đàn-áp tôn-giáo; giả-dụ có kẻ bắt chước nữ-Dân-Biểu Kiều-Mộng-Thu, nằm lăn giữa đường để cho phóng-viên chụp ảnh, quay phim, dùng làm bằng-chứng là ả đã bị cảnh-sát bạo-hành, xong kéo đồng-bọn vào nhà-hàng lớn ăn khao, trong lúc phản-ứng của dư-luận chung, cả trong nước lẫn ngoài nước, nhất là tại Hoa-Kỳ, chỉ nhìn vào tấm ảnh “dân-biểu mà cũng còn bị đánh ngã giữa đường” thì rất bất-lợi cho ta.

        “Hơn nữa, làm sao có đủ lực-lượng để giúp vãn-hồi an-ninh:  kinh-nghiệm các vụ lộn-xộn ở Quận Hoài-Nhơn của Tỉnh Bình-Định*, Thị-Xã Tuy-Hòa của Tỉnh Phú-Yên*, vừa qua, cho thấy là Chính-Quyền Tỉnh bất-lực khi chính Cảnh-Sát của địa-phương mình bị đám lộng-hành bao vây, tấn-công.  Trung-Ương cũng khó tiếp tay:  chỉ nội một vụ ở Chùa Linh-Sơn, Đà-Lạt, mà phải cần có phi-cơ quân-sự di-chuyển Cảnh-Sát Dã-Chiến từ Sài-Gòn lên; nếu có biến-động nhiều nơi một lần thì làm sao mà giải-nguy?

        ——-

        *Xem sách “Cảnh-Sát-Hóa…” của Lê Xuân Nhuận.

        “Quan-trọng hơn hết là bọn Việt-Cộng đã xâm-nhập vào “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng và Kiến-Tạo Hòa-Bình”.  Chúng đã hiểu rõ là tổ-chức này thù-hận chế-độ hiện-thời hơn hết (vì Sư-Đoàn của Tổng-Thống là lực-lượng chủ-yếu tấn-công Dinh Gia-Long), nên chúng lợi-dụng để có thêm những đồng-minh chung sức chống phá Việt-Nam Cộng-Hòa.

        “Trong lúc đó, ‘Phong-Trào’ đã bắt đầu lôi kéo thêm các tổ-chức khác nữa, từ bên ngoài Kitô-Giáo – thí-dụ Đảng Đại-Việt – để cùng hưởng-ứng ‘Phong-Trào’.

        “Việt-Cộng thấy rõ ‘Phong-Trào’ là hình-thức đối-lập hợp-pháp, nấp được vào đó là hoạt-động dễ vô cùng.

        “Chúng sẽ có thể trà-trộn xúi-giục chiếm giữ công-sở, đột-nhập đồn bót, khủng-bố, phá-hoại, ít nhất là cũng thành-công về mặt chính-trị, thông-tin tuyên-truyền…”

        – Theo anh thì Chính-Quyền nên đối-phó cách nào?

        Tôi nghĩ đến mối ác-cảm của Linh-Mục Nguyễn Kim Bính, Cha Xứ Phú-Cam, đối với Đại-Tá Tỉnh/Thị-Trưởng Tôn Thất Khiên, vì đã “chưa hề đến thăm hỏi” ông lần nào, và mối căm-thù của ông đối với Thiếu-Tá Liên Thành, Chỉ-Huy-Trưởng CSQG địa-phương, vì đã “đàn áp cuộc xuống đường” do chính ông dẫn đầu, và chương-trình hành-sự của tôi.

        – Tôi xin đề-nghị Trung-Ương tạm-thời nhượng-bộ “Phong-Trào” một bước đầu tiên, để tiện cấp-thời vô-hiệu-hóa mọi kế-hoạch hoạt-động của họ hiện nay, bằng cách cử hai tín-đồ Kitô-Giáo, gốc-gác Đệ-Nhất Cộng-Hòa và thân-cận với giới cựu Cần-Lao, ra làm Tỉnh-Trưởng và Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Sát Quốc-Gia tại Tỉnh Thừa-Thiên & Thị-Xã Huế…

        Thiếu-tướng Bình và Đại-Tá Tây nhìn nhau.

        Tôi nói tiếp liền:

        – Như thế là chỉ mới giải-quyết được bước đầu, chứ chưa xong trọn vấn-đề.

        “Nếu tôi còn ở Vùng I thì tôi, chính tôi, sẽ ngăn-chận được mọi sự xáo-trộn tiếp theo, cho Vùng I, và do đó, cho toàn Miền Nam…” (Xem thêm)

*

        Chuẩn-Tướng Nguyễn Khắc Bình, Tư-Lệnh Lực-Lượng Cảnh-Sát Quốc-Gia Việt-Nam Cộng-Hòa, đứng dậy, đưa tay bắt tay cám ơn tôi, và kết-thúc cuộc tiếp-xúc bằng lời khuyến-khích tôi và hứa-hẹn sẽ thăng cấp cho tôi vào “Ngày Cảnh-Lực” 1-6-1975.

        Tôi cùng Đại-Tá Hùynh Thới Tây trở về văn-phòng Trưởng Ngành Đặc-Cảnh Trung-Ương, lần này thì cùng đi bộ.

        Tôi muốn nói lên một lời cám ơn ông đã đề-bạt tôi, đã dành cho tôi rất nhiều đặc-quyền, đặc-ân, mà các viên-chức khác, ngang tôi, kể cả cao cấp hơn tôi, cũng không có được – đương-nhiên là trong công-vụ mà thôi.  Ít nhất thì ông cũng đã bắt cả các cấp Giám-Đốc phụ-tá của ông tại Trung-Ương phải đích-thân đáp-ứng ngay mọi đề-nghị của tôi; và, thay vì, như với nhiều giới-chức khác – cấp dưới dâng nạp quà cáp lên cho cấp trên – thì ông ngược lại đã cho riêng tôi mỗi tháng 20,000 đồng, tương-đương gần nửa tháng lương của tôi, để thuê nhà ở, vì tôi phải rời gia-đình mà ra Miền Trung – tất-nhiên với sự tán-đồng của Chuẩn-Tướng Nguyễn Khắc Bình.

        Nhưng tôi không nói ra được lời cám ơn đó, vì nó có vẻ nịnh-hót thế nào ấy – một việc mà tôi không bao giờ làm, cho nên đã bị thiệt-thòi từ hai mươi bảy năm nay.

        Chúng tôi lặng-lẽ bước bên cạnh nhau, trước những cặp mắt ngạc-nhiên của nhiều sĩ-quan gặp trên đường đi.  

        Cuối cùng, như để đánh tan bầu không-khí lạt-lẽo ấy, và lấy lại thế chủ-động, Đại-Tá Tây nói với tôi:

        – Qua Sắc-Phục thì có tiền…

        Câu nói ngắn-ngủi mà tôi nghe như nói lên tâm-tư của một số đông viên-chức chỉ-huy Ngành Đặc-Cảnh thời bấy giờ.

        Sau đó, ông không quên trao tiền thuê nhà cho tôi, và nhắc tôi cần gì thì giải-quyết gấp với các Giám-Đốc hữu-quan, để còn rời Sài-Gòn sớm mà ghé thăm gia-đình hiện ở Nha-Trang… .

*

        Tôi vừa về đến Nha-Trang thì nhận được tin Trung-Ương đã cử hai nhân-vật khác đến thay Đại-Tá Tôn Thất Khiên và Thiếu-Tá Liên Thành trong chức-vụ Tỉnh/Thị-Trưởng và Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực Tỉnh Thừa-Thiên & Thị-Xã Huế.

        Tân Tỉnh/Thị-Trưởng là Đại-Tá Nguyễn Hữu Duệ.

        Đại-Tá Nguyễn Xuân Lộc, Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực Vùng I, nhắn tôi ra Đà-Nẵng gấp, để cùng ông ra Huế chủ-tọa lễ giao-nhận chức-vụ Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực Tỉnh Thừa-Thiên & Thị-Xã Huế, giữa Thiếu-Tá Liên-Thành và Trung-Tá Hoàng Thế Khanh.*

        ——-

        *Xem “Trung-Tá Hoàng Thế Khanh”, trang 367.

        Những lần trước, tôi có thể ở lại với gia-đình vài ngày; vì tuy ở xa nhiệm-sở, dù ở Tỉnh/Thị/Quận nào khác, kể cả những ngày ở Sài-Gòn và ở Nha-Trang, nhưng qua một hệ-thống liên-lạc đặc-biệt mà tôi đã tự mình sắp-xếp và đặt trong tình-trạng thường-trực 24/7, tôi vẫn liên-tục trực-tiếp điều-khiển và giải-quyết mọi việc ở cơ-quan.

        Lần nầy thì tôi phải gọi Hãng Hàng-Không Air Vietnam yêu-cầu dành chỗ ưu-tiên để sáng hôm sau tôi ra Đà-Nẵng ngay**.

        ——-

        **Bản gốc Chương này đã được in trong cuốn hồi-ký “Về Vùng Chiến-Tuyến” do Nhà “Văn Nghệ” ở Nam CaliforniaUSA, xuất-bản năm 1996, nay được in lại, giữ nguyên tất cả các sự-kiện và nội-dung cốt-yếu – chỉ thêm vào một số hiệu-đính, phụ-chú, giải-thích cho đầy-đủ và rõ-ràng hơn mà thôi.

LÊ XUÂN NHUẬN

Biến-Loạn Miền Trung




VĂN – ĐỒN ÔNG LỢI – Lê Xuân Nhuận

ÔNG ÐỒN LỢI

TÔI nói với Đại-Úy (sau này là Thiếu-Tá) Trương Công Ân, Chánh Sở Ðặc-Cảnh Tỉnh+Thị Thừa-Thiên+Huế, rằng anh khỏi cần tháp-tùng hoặc cử nhân-viên đi theo tôi. Tôi chỉ đi dạo chơi trên Đại-Lộ Trần Hưng Ðạo và quanh Chợ Ðông-Ba, để xem lại những nơi chốn cũ vốn đã ghi sâu trong tôi nhiều kỷ-niệm khôn quên trước ngày tôi bị đày đi khỏi Huế vào năm 1960.

Sau đó, cùng với Đại-Úy (sau này là Thiếu-Tá) Ngô Phi Đạm, Chánh Sở Tác-Vụ thuộc Ngành Đặc-Biệt Vùng I, ngồi trong chiếc xe Jeep sơn màu trắng-xám và mang bảng số ẩn-tế đậu dọc lề đường, tôi dùng máy vô-tuyến chỉ-huy công-tác của Đại-Úy Nguyễn Công Văn, Phó Sở Tác-Vụ, và Toán Ðặc-Nhiệm Vùng I, mà tôi đã phái đi riêng từ Ðà-Nẵng ra, đang kín-đáo làm việc ở bên kia Bờ Sông Gia-Hội và ở mé sau Chợ Ðông-Ba.

Vì các đối-tượng theo-dõi của chúng tôi có những liên-hệ mật-thiết với một số viên-chức hữu-trách ở đây, tôi không tiện giao cho địa-phương thi-hành nên phải đích-thân từ Ðà-Nẵng ra tận nơi hành-động với nhân-viên riêng của mình.

*

Dù là dân Huế hay là người ở xa mà đã có lần đến Huế, chắc là không ai không biết đến Đường Trần-Hưng-Ðạo và Chợ Ðông-Ba, nổi bật giữa trung-tâm thương-mại và kỹ-nghệ của cố-đô này.

Ðối với tôi, bây giờ cảnh-vật ở đây kém phần thân thương, vì bây giờ ở đây không còn có nữa một khuôn mặt quen thuộc, quen thuộc như người nhà của mọi người, mọi nhà, nhất là ở khu phố này, lần cuối cách đây chừng trên mươi năm.

Ðó là “ông Ðồn Lợi”.

*

Tháng 3 năm 1947, Đế-Quốc Pháp đem binh-lính viễn-chinh đến dẫm gót giày đinh xâm-lược lên đất Thần-Kinh, trong âm-mưu tái-chiếm cựu thuộc-địa Việt-Nam mà chúng đã khởi đầu tại Sài-Gòn từ tháng 9 năm 1945. Thực-dân đánh đuổi về đồng quê và lên rừng núi lực-lượng kháng-chiến mà Ðảng Cộng-Sản Việt-Nam đã cướp được quyền lãnh-đạo dưới lốt Mặt Trận Việt-Minh. Pháp dựng lên bộ máy kềm kẹp tại những thành+thị và khu-vực mà chúng đã chiếm-đóng được, thí-dụ:  Sở Liêm-Phóng Liên-Bang (Sûreté Fédérale), Ty Cảnh-Sát Pháp (Police Française), Toà Án Pháp (Tribunal Français), Lao-Xá Trung-Ương (Prison Centrale), v.v…

Các nhà ái-quốc không-Cộng-Sản bèn đứng ra thành-lập Chính-Quyền Quốc-Gia. Một mặt, họ đương-đầu với Mặt Trận Việt-Minh; một mặt, họ vừa hợp-tác với bạn đồng-minh để bình-định xứ-sở, vừa tranh-đấu với thù cố-cựu để giành lại chủ-quyền cho quốc-dân. Trong tình-hình đó, tại Miền Trung, Hội-Ðồng Chấp-Chánh Lâm-Thời Trung-Kỳ, mà trụ-sở được đặt tại Huế, đã tổ-chức các công-sở: ở cấp Phần thì có Nha An-Ninh Quốc-Gia, v.v…; ở cấp Tỉnh thì có Toà Hành-Chánh với các Ty, tỷ như Ty An-Ninh Quốc-Gia, Ty Cảnh-Sát Quốc-Gia, v.v… là những cơ-quan song-hành nhưng tranh-chấp với các bộ-phận tay-sai kể trên của ngoại-bang.

Huế là trung-tâm của toàn-quốc, đồng-thời là thủ-phủ cuả Miền Trung, cho nên khu phố cốt-lõi của Huế là nơi đầu tiên đón nhận sự hiện-diện của Chính-Quyền Quốc-Gia. Ðó là Ðồn Cảnh-Sát Ðông-Ba, nằm ngay đầu Đường Trần-Hưng-Ðạo và sát hông ngôi chợ mà Ðồn này mang tên.

Ðặng Hữu Lợi là viên Trưởng Ðồn đầu tiên ở đây.

Lợi có một bộ mặt dài thòng như mặt ngựa, với cái vẻ tỉnh bơ như không nói gì mà lại nói rất nhiều, sâu-sắc và chua-cay, khiến nhiều người so sánh anh với vai hề nổi tiếng cuả màn-ảnh Pháp, Fernandel, mặc dù gã diễn-viên của nước ngoài thì cao to ngược hẳn với ông cò thấp gầy của nước mình. Nhưng, xen kẽ với phim-ảnh Pháp thì cũng có nhiều phim-ảnh Mỹ được chiếu thời bấy giờ, nên đã có không ít người cãi lại, bảo rằng trông Lợi giống thằng gầy trong cặp mập+gầy Laurel và Hardy của Hoa-Kỳ. Ðó là những lúc Lợi pha trò, nhộn và tếu vô cùng.

Lợi có một đặc-điểm khác nữa, là anh thường hay chồm nửa người trên về phiá cửa lớn cũng như cửa sổ, nghiêng đầu và hướng mắt ra xa, dù cho đang bàn-luận chuyện gì với ai, tạo cho người xung quanh cái cảm-tưởng là anh luôn luôn ngóng đợi một người nào. Vì là Trưởng Ðồn nên anh được gọi là “ông Ðồn”, và vì tên Lợi mà lại có dáng-bộ chờ-đợi nên bạn-bè tinh-nghịch đặt cho anh cái biệt-danh “ông Ðồn… Lợi”, với cái hàm-ý theo lối nói lái là “ông đợi… l…”. Chính anh cũng lấy làm thích-thú được mọi người dùng cái tên ấy để gọi mình.

Sau khi có Chính-Quyền Quốc-Gia, những người dân Huế, vốn đã bỏ chạy về miền nông-thôn lánh nạn sau đêm lịch-sử 19 tháng 12 năm 1946quân và dân Việt-Nam bất-thần tấn-công các đồn/trại và tư-gia cuả Pháp để khởi đầu cuộc kháng-chiến toàn-quốcnay lũ-lượt hồi-cư. Một số dân quê cũng rời ruộng đồng lên phố sinh sống để tránh tai-họa vì các cuộc giao-chiến ngày càng lan ra. Tuy thế, hàng ngày dân-chúng vẫn di-chuyển tấp-nập giữa Thành-Phố này với các Tỉnh khác và các Quận+Xã xung quanh; và bến xe chính cũng như bến đò chính thì ở sát chợ, cạnh Ðồn, nên “ông Ðồn Lợi” được hầu hết bà con khắp nơi trong Tỉnh và các Tỉnh khác quen mặt hoặc biết tên, trong lúc các Đồn-Trưởng Ðồn khác chỉ được nghe thấy trong Phường mình mà thôi.

Lợi nổi tiếng không phải chỉ do cái dáng-mạo buồn-cười ấy, mà còn nhờ ở thiện-chí bênh-vực bảo-vệ đồng-bào hiền-lương.

Nào là Sûreté Fédérale (Mật-Thám Pháp), nào là Commando (Biệt-Kích Pháp), nào là Partisan (thân-binh Pháp), cùng với binh-lính Pháp và cả thường-dân Pháp nữa, ngày nào cũng có không biết bao nhiêu vụ chúng cướp-bóc, đánh-đập, hãm-hiếp, bắt-bớ, và cả bắn/giết, người dân Việt-Nam. Lợi là một trong số những viên-chức Cảnh-Sát Quốc-Gia đầu tiên đứng ra can-thiệp chống kẻ bạo-tàn. Tất-nhiên, không phải lần nào người ngay-chính cũng thuyết-phục được kẻ gian-tà. Anh đã bị không ít trận đòn dã-man.

Đặc-biệt, đối với các phần-tử phạm-pháp bị bắt quả-tang, ngay cả Việt-Minh, Lợi cũng đòi cho họ được đối-xử đàng-hoàng.

Vào những ngày cuối tuần, cuối tháng, và sau mỗi cuộc hành-quân, hầu như tất cả lính Pháp đều đổ xô ra đường; mua sắm thì ít mà nhậu-nhẹt và kiếm gái thì nhiều. Người gốc Ma-Rốc, Xê-Nê-Gan, An-Jê-Ri, Tuy-Ni Zi, từ các thuộc-địa của Pháp ở Châu Phi, thì chỉ dạo phố và giải-trí bình-thường; thỉnh-thoảng mới có vài vụ lôi-thôi. Người gốc thiểu-số Ra-Ðê ở Cao-Nguyên Trung-Phần Việt-Nam thì chất-phác, không gây phiền-hà. Chỉ duy người Pháp chính-quốc và người gốc Ðức cảm-tử trong binh-chủng Lê-Dương là thường hay say-sưa đánh người. Ðặc-biệt vào Ngày Quốc-Khánh Pháp, 14 tháng 7 hàng năm, người lính Lê-Dương được xá mọi tội nên tha-hồ phá-phách, quỵt-giật, hành-hung người, và hiếp-dâm phụ-nữ Việt-Nam.

Vào những dịp ấy, hầu hết nhân-viên Cảnh-Sát Quốc-Gia khắp Thành-Phố Huế, ngoài giờ làm việc đều mặc giả thường-dân, đổ dồn về Đường Trần-Hưng-Ðạo, nấp sẵn trong các con hẻm dẫn ra Bờ Hồ, hoặc phiá trước hiên đình Chợ Ðông-Ba, hễ thấy có lính Lê-Dương hoặc lính Pháp giở trò áp-bức dân lành là ào ra nện cho chúng những trận nên thân. Xong xuôi, “ông Ðồn Lợi” mới dẫn nhân-viên trực Ðồn đến tiếp-ứng giải vây cho chúng và giúp phương-tiện chở chúng về trại giùm.

Thảng-hoặc có Prévôté (Hiến-Binh Pháp) xuất-hiện thì Lợi cho nhân-viên tuần đường đi trước để thông-tin. Trong trường-hợp đó, các toán hành-hiệp đành nhẫn-nhịn nhìn đồng-bào bị thiệt-thòivì Prévoté chỉ can ngăn chứ không bắt giữ kẻ phạm-pháp hoặc bồi-thường cho nạn-nhânsau đó, họ mới bám theo bọn tội-phạm trên đường chúng trở về trại binh, và chận dọc đường mà trả thù.

Hồi đó, Ty Cảnh-Sát Huế là nơi cung-cấp Phái-Viên Hành-Chánh (về sau gọi là Quận-Trưởng) cho các Quận thuộc các Tỉnh, và các Cảnh-Sát-Trưởng cho các Thị-Xã, khắp Miền Trung.

Ðội Túc-Cầu Cảnh-Sát Huế nhiều lần đoạt giải vô-địch toàn-quốc.

Ban Kịch Thơ Cảnh-Sát Huế vượt trội các đoàn kịch-nghệ khác, tỷ như của Nha Thông-Tin, của Nha Cảnh-Sát Công-An, v.v… khắp Trung-Phần Việt-Nam.

Ðặng Ngọc Lựu, đạo-diễn, và tôi, tác-giả, luôn luôn để dành cho Lợi ít nhất là một vai kịch hài và một màn ngâm thơ tếu, trong mỗi đêm trình-diễn trước quảng-đại đồng-bào. Không-khí văn-nghệ cởi-mở ấy cũng là một dịp để “ông Ðồn Lợi” được người dân gần-gũi và thân-thương mình hơn.

Dần dần, các chính-khách Quốc-Gia giành thêm được nhiều bước nhượng-bộ cuả Pháp, và tiến tới nhất-trí mời Cựu-Hoàng Bảo Ðại về nước nắm chính-quyền trung-ương. Cùng với Hội-Ðồng An Dân Bắc-Việt và Chính-Phủ Cộng-Hoà Nam-Kỳ-Quốc Tự-Trị, Hội-Ðồng Chấp-Chánh Lâm-Thời Trung-Kỳ rút lui. Chính-phủ Quốc-Gia thành-hình. Các cơ-quan đơn-vị thuộc Pháp giải-thể lần lần. Nhiều phe phái thay phiên nhau lên cầm quyền trong từng địa-hạt và vào từng thời-kỳ. Nhưng “ông Ðồn Lợi” vẫn còn là Trưởng Ðồn Cảnh-Sát Ðông-Ba. Các cấp chỉ-huy chưa độc-tài đến độ chỉ bổ-nhiệm vây cánh của mình vào mọi chức-vụ điều-khiển mọi cấp trong mọi ngành như sau này.

Ngày 07-5-1954, Pháp thất-trận ở Ðiện Biên Phủ.

Ngày 07-7 cùng năm, Ông Ngô-Ðình-Diệm chính-thức nhậm-chức Thủ-Tướng Chính-Phủ do Quốc-Trưởng Bảo Ðại bổ-nhiệm, hướng về Hoa-Kỳ.

Ngày 20 cùng tháng, Hiệp-Ðịnh Geneva ra đời, chia đôi đất nước, mở đường cho Mỹ đến và Pháp ra đi. Phản-ứng cuả Quân-Ðội Quốc-Gia, thân Pháp, là gây một cuộc khủng-hoảng chính-trị trầm-trọng trên toàn-quốc, xuất-phát từ Sài-Gòn và Huế. Nhưng Huế mới là trung-tâm thực-nghiệm, với hành-động chống-đối quyết-liệt và cụ-thể, vì Bộ Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu ở Huế đang có cơ-hội điều-động và sử-dụng một lực-lượng quân-sự lớn để vào tiếp-thu Tỉnh Quảng-Ngãi mà Việt-Minh vì phải tập-kết ra Bắc nên giao lại cho Chính-Quyền Quốc-Gia; và Huế là nơi tập-trung cuả gia-đình họ Ngô. Ngoài một số ít các nhà cách-mạng sáng suốt, còn thì những người có ưu-tư vì thời-cuộc tuy dè-dặt nhưng đều nôn-nao nghe ngóng dư-luận trong và ngoài nước để ước-đoán chiều hướng biến-đổi cuả tình-hình, hầu chọn thế đứng cho mình.

Giới Công-An Cảnh-Sát vốn biết tôi đã tiên-đoán thế nào Mỹ cũng nhảy vào Việt-Nam nên đã chú-tâm trau-dồi tiếng Anh từ nhiều năm trước đó, nay thấy tôi đã qua bên quân-ngũ, giữ mục thời-luận hằng ngày trên mặt báo và trên Ðài Phát-Thanh, tiếng nói chính-thức của Quân-Lực và Tư-Lệnh Quân-Khu, bèn tìm cách thăm dò ý-kiến tôi. Lợi là người được họ cậy nhờ, và tôi cũng cần có anh để liên-lạc với bạn-bè. Bên ngoài thì sự tiếp-xúc thường-xuyên giữa Lợi với tôi chỉ nhằm mục-đích văn-nghệ, vì tôi vẫn còn tiếp-tục sáng-tác cho Ban Kịch Thơ cuả Cảnh-Sát Huế và cho chính anh diễn-ngâm, nhưng bên trong thì qua anh tôi thuyết-phục mọi người hãy đón nhận Hoa-Kỳ, giàu-mạnh hơn, và hào-hiệp, chứ không như Pháp, để nước nhà dễ sớm vươn lên.

Ngô Ðình Diệm là người được Hoa-Kỳ chấp-nhận và ủng-hộ.

Trong cảnh tranh-tối tranh-sáng của những ngày tháng giao-thời ấy, Lợi là một trong số ít những ủng-hộ-viên và cổ-động-viên đắc-lực nhất nhưng cũng bất-vụ-lợi nhất mà tôi đã tranh-thủ được cho Thủ-Tướng họ Ngô. Trong một nước còn hậu-tiến, một lời phát-biểu của các viên-chức chỉ-huy Ngành Công-Lực, tỷ như “ông Ðồn Lợi”, có một ảnh-hưởng khá lớn trong dân-nhân.

Rồi cố-vấn Mỹ vào, viện-trợ Mỹ vào, và Diệm tất-nhiên vững chân.

Vở kịch thơ dã-sử “Gươm Chính-Nghiã” của tôi, dưới bút-danh Nguyệt Cầm, mà nội-dung có ngụ-ý đề-cao Ngô Ðình Diệm, được khán-giả nhiệt-liệt hoan-nghênh và yêu-cầu diễn lại nhiều lần. Các bài thơ trào-phúng của tôi, dưới bút-danh Tú Ngông, mà chủ-đề là “đả thực, bài phong, diệt cộng”, đúng theo chiêu-bài của Diệm, qua tài diễn-xuất của “ông Ðồn Lợi”, cũng được công-chúng tán-thưởng nồng-nàn.

*

Cuối năm 1956, mãn hạn động-viên, tôi về lại với Ty Cảnh-Sát Huế.

Cầm lại cây bút dân-sự, tôi tái-hoạt-động văn-nghệ tích-cực hơn xưa.

Riêng trong công-quyền, ngoài công-vụ hằng ngày, tôi vun-đắp thêm cho Ban Kịch Thơ, xuất-bản một tờ nội-san mang tên “Phục-Vụ”, phổ-biến đi khắp các Tỉnh và lên cả Trung-Ương. Qua tờ nội-san này, tôi đã hướng-dẫn và khuyến-khích “ông Ðồn Lợi”, dưới bút-danh Hữu Lợi, viết tùy-bút, truyện ngắn, và làm thơ. Tôi mở các lớp bổ-túc nghiệp-vụ chuyên-môn, dạy tiếng Anh, cho cảnh-nhân toàn Thành, đồng-thời thuyết-trình về những ý-nghiã cao-đẹp của chủ-nghiã Nhân Vị, nòng-cốt của học-thuyết Diệm, và phổ-biến tạp-chí “Thế-Giới Tự Do”, chiếu phim cuả Phòng Thông-Tin Hoa-Kỳ, cả cho đồng-bào trong khắp địa-phương. Lợi là một trong những anh em sốt-sắng nhất, ngoài giờ làm việc tham-gia phụ-lực tôi. Chúng tôi phục-vụ hăng say, đúng theo tinh-thần của cuộc “Cách-Mạng Quốc-Gia” mà Tổng-Thống Ngô Đình Diệm chủ-trương.

Tuy thế, vì không phải là tay+chân thân-tín, cũng không phải là cừu non, nên dù đem hết tâm-huyết ra để đóng góp, số đông, như Lợi và tôi, vẫn không được đãi-ngộ công bình. Trái lại, có một số phần-tử kém-cỏi nhiều mặt vẫn được tưởng-thưởng vượt quá lệ thường; thậm chí tùy-phái lao-công cũng được thăng cấp sĩ-quan, mỗi khi lễ-lạc lớ-quớ trong bộ đại-lễ-phục xuất-hiện trước quần-chúng làm trò cười cho mọi người. Có kẻ in thiệp báo tin chịu lễ rửa tội gửi khắp toàn Miền, cho cả các công-sở khác và những người không quen, như một thông-cáo chính-thức bảo-đảm cho nấc thang giá-trị mới và tiền-đồ công-danh sự-nghiệp của mình.

Qua những mẩu tùy-bút của Hữu-Lợi mà tôi không dám cho đăng, tôi thấy anh không còn chỉ là một cây cười vô-biên-giới, mà đã nghiêm-túc chọn một giới-tuyến cho chính mình. Ðiều quan-hệ hơn hết là anh đã dám giãi-bày, bằng giấy trắng mực đen, tâm-tình ẩn-ức của những tầng lớp thấp cổ bé miệng, công-nhiên gửi cho báo đăng, thách-thức các thế-lực thịnh-thời.

Lâu nay, Lợi đến với tôi tại văn-phòng, tại hội-đường, tại câu-lạc-bộ, là những nơi hầu như khi nào cũng có đồng-nghiệp lắng nghe chúng tôi. Từ nay, tôi đến với Lợi tại Ðồn Cảnh-Sát Ðông-Ba, là nơi luôn luôn có quá nhiều giới người, mà lại có quá nhiều loại việc, nên không ai chú ý đến nội-dung câu chuyện của chúng tôi.

Lợi có thói quen uống cà-phê với thật nhiều đường, mà anh gọi là chè-phê. Bên ly chè-phê, “ông Ðồn Lợi” lắc đầu ngao-ngán kể thêm cho tôi biết mỗi lần vài ba sự việc mà tôi chưa hề nghe.

 Vẫn với thói quen chồm nửa người trên ra hướng cửa sổ, Lợi chỉ tay về phiá dãy phố buôn bán sầm-uất dọc lề bên kia Đại-Lộ Trần Hưng Ðạo, nơi đến đầu Cầu Gia-Hội thì giáp góc với Đường Huỳnh-Thúc-Kháng song-song với Đường Gia-Long. Anh nói:

– Hôm nọ là Bửu Bang chủ tiệm “Rồng Vàng”, hôm kia là Phan Văn Thí chủ hiệu “Đức Sinh”, hôm khác là nhà buôn Lý Lâm Thịnh, rồi Châu chủ hãng “Nam-Hưng”, rồi thầu-khoán Nguyễn Giáp, rồi thương-gia Phan Cho. (Chưa kể Nguyễn Văn Yến, Nguyễn Đắc Phương đã bị giết chết rồi.) Ngày mai, ngày mốt, sẽ đến phiên ai đây?

Ðó là những người có máu mặt ở trong khu-vực trách-nhiệm của Lợi, đã lần-lượt bị bắt giam, bị tịch-biên tài-sản, hoặc ít nhất là bị vây hãm phạm-vi kinh doanh.

Trong lúc phong-trào bài-trừ tứ-đổ-tường dâng lên cao thì những tệ-đoan xã-hội khác, trầm-trọng và nguy-hại hơn, lại do chính một số các con-cưng của chế độ gây ra.

Một dược-sĩ đêm đêm giả làm tài-xế đạp xe-đạp xuống các bến, dưới Cầu Trường-Tiền, dọc bờ Sông Hương, o-mèo các cô giúp việc của những gia-đình khá-giả ở các dãy phố từ Cửa Thượng-Tứ xuống đường Hàng-Bè. Thường thì đến mười một giờ tối cửa tiệm mới đóng; đợi dọn-dẹp xong, chủ nhà đi ngủ, các cô mới mang áo quần xuống sông giặt-dịa, hoặc gánh cặp thùng nhiều chuyến đi lấy nước về đổ đầy hồ chứa để có đủ dùng cho ngày hôm sau. Ðó là thời-gian tự-do; ai muốn nghỉ sớm thì gắng làm nhanh, còn ai muốn đàn-đúm bạn-bè thì cứ rán mà thức khuya. Họ là con gái nhà quê, ít chữ nghiã, nhưng có nhan-sắc nên mới được các chủ-nhân ăn-nên làm-ra chọn mướn cho phù-hợp với cảnh thanh-lịch thị-thành. Thế là, thay vì phải mặc đồ lớn đi chầu-lụy cả một đại-gia-đình, vất-vả tốn kém suốt năm mà chưa chắc đã nắm được bàn tay của một cô gái Huế hộ-đối môn-đăng, viên dược-sĩ nhà-ta chỉ cần bỏ ra vài xu mua một gói đậu phụng rang, trổ tài ăn nói của kẻ học rộng biết nhiều ra mà chiêu-dụ, mỗi khi một con mồi, là cầm chắc trung-bình mỗi tuần phá được cuộc đời cuả ít nhất là một cô gái còn trinh. Lợi đã tình-cờ bắt gặp một cặp trai+gái đang ôm nhau trên bãi hoang, và nhận-diện ra gã đàn-ông chính là viên dược-sĩ kia; nhà trí-thức ấy đã tâm-tình riêng với “ông Ðồn Lợi” như trên. Rồi một hôm, được tin báo có kẻ bị tình-địch đâm ở bờ sông, Lợi cùng nhân-viên chạy đến thì không còn thấy người nào. Riêng Lợi lần theo thì gặp được nạn-nhân-mà-là-tội-nhân đang ôm vai lủi-thủi về nhà. Y năn-nỉ “ông Ðồn Lợi” đừng ghi lời báo-cáo “vô căn-cứ” nọ vào sổ trực đêm, vì sợ sáng sau trình sổ lên Ty thì Ty sẽ cho mở cuộc điều-tra, nhà tai-mắt sẽ mất mặt với mọi người. Cứ thế mà tên hiếu-dâm vô-lương kia gặp gió thuận chiều nên vẫn lên cao như diều.

Một giáo-sư đại-học bị Ðội Biệt-Ðộng của Ty bắt gặp “ngủ đò” cùng với vợ bạn trên sông Hương. Ở Huế, có cái thú thuê đò mà ngủ giữa lòng sông: vừa mát-mẻ nhờ không-khí trong lành, vừa thoải-mái vì không ngại bị ai quấy rầy, lại kín-đáo bởi sông thì tối mà đò không thắp đèn, và nhất là không đòi hỏi khách, như khi mướn phòng khách-sạn, phải khai tên người thuê. Do đó, đa-số trường-hợp ngủ đò đều là để ăn nằm với nhau. Trong cuộc “cách-mạng quốc-gia”, mọi người đều phải noi gương “đạo-đức của Ngô Tổng-Thống”, cho nên dù là vợ+chồng với nhau mà đi ngủ đò thì cũng bị xem là tội-lỗi rồi, huống-hồ họ là những ông nọ, bà kia. Rốt cuộc, nội-vụ đã được ém nhẹm, và “ông Ðồn Lợi” không thể ghi chép gì trong sổ trực đêm, mặc dù sự việc xảy ra trong hoạt-vực của mình…

*

Hôm ấy, Lợi nhắn các bạn đồng cảnh-ngộ là Trần Xuân Tự, Trần Vĩnh Thuận, Ưng Hạc, Nguyễn Thông, Nguyễn Duy Hát, Nguyễn Mầm, Đỗ Dzư, Tôn Thất Ninh, v.v… đến Ðồn Cảnh-Sát Ðông-Ba để cùng gặp tôi. 

Không-khí có vẻ nghiêm-trọng khác thường. Khi tôi mới ngồi xuống ghế, Lợi đã hỏi ngay:

– Anh em muốn biết sự thật: anh đã có bao nhiêu “Д rồi ?

Tôi đã có nghe nhiều người kháo chuyện với nhau về cái thang “Д này. Dân-chúng truyền miệng với nhau:

     Một “Д mới đứng ngoài sân,

     Hai “Д mới được bước chân vô nhà;

     Ba “Д: con cháu ruột rà;

     Bốn “Д là chú, là cha trên đầu…

Nay Lợi nói ra, tôi muốn nhân dịp tìm hiểu rõ hơn, nên đáp chung-chung:

– Thì người nào trong chúng ta cũng đều có một “Д cả. Chúng ta là “đồng-Ðoàn” với nhau, tức đều có chân trong Ðoàn [“Công-Chức Cách-Mạng Quốc-Gia”].

Thuận tức “Thuận Xù” lắc đầu:

– “Ðoàn” thì nói làm gì? Nông-dân thì Ðoàn Nông-Dân Cách-Mạng Quốc-Gia, v.v… Một “Д thì chỉ là lính; hai “Д mới là sĩ-quan chứ!

Tôi cười:

– Thế thì tôi không phải là “sĩ-quan”!

Lợi đưa tay bắt tay tôi:

– Xin lỗi anh. Chúng tôi tưởng anh đã lên hai “Д rồi!

– Cho nên anh rủ các bạn đến đây để hài tội tôi chứ gì?

“Thuận Xù” kết-luận:

– Người như anh mà muốn kiếm thêm “Д thì chúng tôi còn biết trông nhờ vào ai!

Thật ra, không có một văn-bản nào quy-định như thế; nhưng cứ dựa vào sự việc xảy ra, người dânđã từng sáng-tác tục-ngữ, phương-ngôn, ca-dao, hò, vèđã hình-dung ra cái thang mới ấy, gồm có bốn cấp bậc “Д:

“Đ” thứ nhất là “đồng-Đoàn” như đã nói trên;

“Д thứ hai là “đồng-Ðảng”, tức đã vào Ðảng [“Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng Đảng”];

“Д thứ ba là “đồng-Ðạo”, tức đã theo Ðạo [Kitô-Giáo].

Nhưng nếu có “Д thứ tư thì mới lên đến tột-đỉnh quyền-lợi và uy danh: “đồng-Ðịa”, tức là cùng Ðịa-Phương, quê-quán [Quảng-Bình hay Thừa-Thiên] với gia-đình họ Ngô và các vệ-tinh.

Kết-nạp đảng-viên hay thu-nhận tín-đồ là một việc làm thông-thường; nhưng cậy thế cường-quyền và đơm mồi tục-lụy để đạt mục-đích là một việc trái với đạo-đức thông-thường.

Ðảng lãnh-đạo thì cứ lãnh-đạo, miễn sao đem lại hạnh-phúc cho mọi người thì tự-nhiên quần-chúng ủng-hộ và tham-gia. Tại sao ép buộc người ta theo mình, trở mặt với các chính-đảng khác, các tổ-chức ái-quốc kỳ-cựu khác, vốn có quá-khứ tranh-đấu vẻ-vang gắn liền với lịch-sử nước nhà; mà không thuận theo thì bị xem là phản-loạn, nghịch thù. Ðâu là quyền tự-do lựa chọn, kể cả quyền tự-do không nhập bọn với bất cứ một bọn nào.

Ðối với đa-số đồng-bào mà tinh-thần tam-giáo thấm-nhuần, sự dốt-nát và vụng-về của thiểu-số công-thần thao-túng chế-độ, trong vấn-đề này, để giúp cho tổng-giám-mục sớm lên hồng-y, bị xem là trắng-trợn xâm-phạm đời sống tâm-linh của người dân: dồn ép công-chức, quân-nhân, và cả thường-dân, từ bỏ tín-ngưỡng của mình để phải tuân-phục tín-điều của tập-đoàn cầm quyền, chà-đạp lên các giá-trị truyền-thống của nền triết-học Ðông-Phương vốn đã un đúc nên tinh-thần quốc-gia cho toàn-dân.

(Trước đây khi Pháp mới trở lại vào năm 1947, Cụ Trần-Văn-Lý, một nhân-sĩ Kitô-Giáo, đã làm Chủ-Tịch Hội Ðồng Chấp-Chánh Trung-Kỳ nhiều năm. Trong tình-trạng chiến-tranh, hiến-pháp không có, luật-lệ hỗn-tạp, tư-pháp một chiều, thì quyền-hành của Cụ Lý đối với người dân sâu rộng bội phần hơn so với Vua Bảo-Ðại ngày xưa; thế mà cụ có lợi-dụng cơ-hội để bắt ai theo đạo của mình đâu? Cho nên, đến năm 1967, mặc dù cụ không đắc-cử nhưng đã có biết bao nhiêu người tuy khác tín-ngưỡng với cụ song thâm-cảm đức-độ của cụ mà hy-sinh quyền-lợi tôn-giáo và đảng-phái của mình để dồn phiếu cho cụ mong cụ lên làm Nguyên-Thủ Quốc-Gia.)

Vấn-đề tế-nhị vô cùng, đâu phải dễ như chuyện “chớp thời-cơ”, “đốt giai-đoạn”, “thưà thắng xông lên” của cộng-sản độc-tài xem dân như dân ngu.

Cộng-sản củng-cố hệ-thống bằng thủ-đoạn phi-nhân; đằng này chống Cộng mà lại áp-dụng phương-sách và phương-tiện của quân thù…

Ðến nay thì chính bản-thân “ông Ðồn Lợi” đã bị đẩy vào chân tường. Dù anh có muốn nhắm mắt, ngậm miệng cho qua ngày, thì cũng vẫn không yên thân. Bộ-hạ của tập-đoàn chuyên-quyền đã đến móc nối “ông Ðồn Lợi”, cũng như các bạn kia, và tôi. Thuận theo thì danh-lợi hanh-thông. Trái lại, thì…

Bên ngoài thì một số các phần-tử cứng đầu, không chịu có hơn một “Д, mà thật-sự có khả-năng, vẫn được bổ-nhiệm vào các chức-vụ chỉ-huy cấp thấp, cấp trung.

Nhưng bên trong thì vì chỉ tuân phục một hệ-thống chính-quyền, chứ không chấp-nhận vai trò giật dây của các thế-lực đằng sau, nên họ bị kỳ-thị, bị ếm-trù, không được thăng-tiến dễ-dàng, và có thể bị hãm-hại bất-cứ lúc nào.

Lợi và các bạn tóm-lược tình-hình chung.

Họ không đòi hỏi tôi phải có thái-độ hay hành-động gì, nhưng kết-luận là họ đặt tin-tưởng vào tôi.

Xưa nay tôi vẫn tự mình chọn lấy đường đi của mình, tiền-phong bước những bước đầu, chứ không chịu quyền lãnh-đạo của ai.

Nhưng “ông Ðồn Lợi” và các bạn không lập thành một nhóm để lôi kéo tôi.

Dù sao, cùng với vô-số cá-nhân và tập-thể khác, họ là nguồn gốc của những đợt sóng cảm nghĩ tạo nên nền móng cho các phong-trào đột-khởi trong dân-gian.

Thế rồi biến-cố Ngày Lễ Hai Bà Trưng 3-3-1960 xảy ra*.

——-

         *Xem “Lãnh-Chúa Ngô Đình Cẩn” trang 215.

Lời phát-biểu công-khai của tôi tại Ty Cảnh-Sát Huế, rằng chế-độ có nhiều ung độc, đã có tác-dụng của một mồi lửa châm cháy ngòi thuốc súng nối liền vào quả mìn nhân-tâm.

Sau đó là Phong-Trào “Phật-Tử Tranh-Ðấu” đòi quyền bình-đẳng và chống đàn-áp tôn-giáo, được sự đồng lòng của quảng-đại quần-chúng, mà hăng-hái nhất là giới sinh-viên, và quyết-liệt nhất là giới quân-nhân.

Trong lúc bất-cứ một tu-sĩ Kitô-Giáo nào, nếu muốn, cũng có thể tiếp-xúc với Tổng-Thống Ngô Ðình Diệm nhanh-chóng và dễ-dàng, thì Ðức Ðại-Lão Hoà-Thượng Thích Tịnh Khiết, là Hội-Chủ Tổng-Hội Phật-Giáo Việt-Nam, một tổ-chức quy-tụ trên chín mươi phần trăm dân-số trong nước, đang bị bệnh nặng ở Huế mà cũng rán sức vào tận Sài-Gòn để xin gặp Tổng-Thống Ngô Đình Diệm, ước mong giải-quyết vấn-đề; thế nhưng Ngài phải chờ đợi nhiều ngày mà vẫn hoài-công.

Nhiều cao-tăng và Phật-Giáo-Ðồ theo nhau tự-thiêu từ Thủ-Ðô đến các Tỉnh Thành.

Cả thế-giới nhờ ngọn lửa Thích Quảng-Ðức mà thức tỉnh lương-tri.

Rồi cuộc Cách-Mạng 1-11-1963, rồi các biến-cố khác xảy ra.

Rồi “ông Ðồn Lợi” không còn làm Trưởng Ðồn Cảnh-Sát Ðông-Ba nữa.

Anh từ-giã Huế; rồi anh từ-giã cuộc đời, để lại tiếc thương cho những ai đã từng sinh sống trong khu-vực này, đã từng tán-thưởng những màn kịch vui và giọng ngâm thơ tếu của người Cảnh-Sát Văn-Nghệ mà không cảnh-sát văn-nghệ này.

*

Ðại-Úy Nguyễn Công Văn gọi máy báo-cáo đã bắt được một cơ-sở tiếp-tế nội-thành và một cán-bộ mậu-dịch từ miền quê lên, cùng hai tấn gạo được che giấu dưới những món hàng thông-thường, trong một chiếc ghe đang rời bến, để chở về tiếp-tế cho Việt Cộng ở mật-khu, đúng với tin-tức tình-báo cuả E6 chúng tôi.

Tiếng Văn vang lên từ máy vô-tuyến cắt đứt dòng hoài-niệm về người bạn cũ trong tôi.

Tôi ra lệnh chuyển-giao nội-vụ cho nhà chức-trách địa-phương, là người hiện nay thay thế “ông Ðồn Lợi” ở Cuộctên mới cuả ÐồnCảnh-Sát Ðông-Ba.

Bây giờ ở đây chỉ có một Trưởng Cuộc Cảnh-Sát Quốc-Gia kiêm-nhiệm đại-diện của Ngành Ðặc-Biệt, của tôi, tại cấp Phường này, chứ không còn có tên hề mặt-ngựa đã có một thời chọc cười tức-bụng chảy-nước-mắt cho cả mấy thế-hệ đồng-bào ở cố-đô…

*

Đại-Úy Nguyễn Công Văn đến với chúng tôi, báo-cáo tóm-tắt công-tác xong, tôi bảo mọi người lên xe rời Huế trở vào Đà-Nẵng.

Văn nói với Đạm, Chánh Sở Tác-Vụ, mà nhìn vào tôi:

− Qua đặc-nhiệm này, chắc ông Giám-Đốc muốn “dằn mặt” Bộ Chỉ-Huy Cảnh-Lực ngoài này, chứ gì?

Tôi không trả lời, quay nhìn về Đạm.

Đạm phát-biểu:

− Mình là Cảnh-Sát Quốc-Gia, thì mình có bổn-phận và quyền-hạn phanh-phui mọi vụ phạm-pháp bất-cứ ở đâu. Nhưng mình là Cảnh-Sát Đặc-Biệt, thì việc-làm chính của mình là chính-trị chứ không phải là hình-sự, mặc dù mình cũng có thể nhúng tay vào các vụ hình-sự, vì mình là Hình-Cảnh-Lại cơ mà.

Nhưng mình có dòm-ngó gì đến các việc-làm khuất-tất của ai đâu.

Ngành Đặc-Biệt Khu thỉnh-thoảng mới hành-động phụ giúp Ngành Đặc-Biệt các Tỉnh/Thị thuộc Khu trong những trường-hợp đặc-biệt mà thôi, thế thì chỉ là việc-làm bình-thường, chứ có gì là “dằn mặt” ai đâu!

LÊ XUÂN NHUẬN  

Cảnh-Sát-HóaBiến-Loạn Miền Trung




NỮ-SĨ VI KHUÊ – Lê Xuân Nhuận

NỮ-SĨ VI KHUÊ

TRỤ-SỞ Ðài Phát-Thanh Huế tọa-lạc ngay trên bờ Hữu-Ngạn của Sông Hương, cạnh mé Tây của đầu Cầu Trường-Tiền, đối-diện Đại-Khách-Sạn Morin bên kia Đường Lê-Lợi sát góc Đường Duy-Tân.

Thuở ấy, chưa có các Ðài cấp Tỉnh, Ðài Huế là Tiếng Nói chung của cả Miền Trung, nên máy phát rất mạnh (không thua Ðài Quốc-Gia và Ðài Pháp-Á [Radio France-Asie] của Pháp ở Sài-Gòn), nghe được cả ở Miền Bắc lẫn Miền Nam Việt-Nam.

Cả nước chưa có hệ-thống truyền-hình; cả Miền Trung chỉ có vài ba tờ nhật-báo ở Huế mà thời-sự thì dựa theo tin-tức-đọc-chậm của Ðài Sài-Gòn. Trong tình-hình đó, Ðài Huế là món ăn tinh-thần hằng ngày của đồng-bào Miền Trung, và của cả những người ở phiá Ngozi Tỉnh Thanh-Hoá và ở phiá trong Tỉnh Bình-Thuận mà có gốc-gác hoặc liên-hệ đời sống ở Miền Trung.

Ngoài những tiếng hát của các nam+nữ ca-sĩ mà một số về sau vào Sài-Gòn thì trở thành danh-ca của toàn-dân, giọng bình và ngâm thơ của các thi+kịch-sĩ tên-tuổi một thời, tiếng hát của các danh-ca quốc-tế trong các chương-trình nhạc ngoại-quốc do thính-giả yêu-cầu, và giọng đọc xì-xồ của mấy người Pháp trong chương-trình vô-tuyến của Service d’Information, những ai đã từng nghe Ðài Huế cũng đều xác-nhận rằng người nữ-xướng-ngôn chính của Ðài này có một giọng đọc truyền-cảm vô-cùng. Giọng đọc của người con gái Huế ấy chẳng những dịu-dàng, ngọt-ngào, ấm-cúng, hấp-dẫn, mà còn trí-thức (vì không bao giờ vấp phạm lỗi-lầm khiến thính-giả khó chịu hoặc làm sai lạc ý-nghiã của câu văn).

Những người hiếu-kỳ đi ngang qua Ðài Huế thường để ý thấy có một thiếu-nữ be-bé xinh-xinh, cư-ngụ trong một căn phòng khiêm-tốn ở tầng trên của một buồng-kho bên hông trụ-sở Ðài. Một cầu thang nhiều bậc xi-măng từ mặt đất bắc lên cửa phòng làm cho căn phòng có vẻ cao hơn, khiến các thanh-niên ái-mộ đặt cho người-đẹp và căn phòng ấy cái mỹ-danh “nàng bồ-câu trên chuồng bồ-câu”.  

Ðó chính là cô xướng-ngôn nói trên.

Sau ngày hồi-cư vào đầu năm 1947, tôi thường đến Ðài Huế để góp phần vào các chương-trình kịch vô-tuyến hằng tuần, kể cả việc trình-bày một số kịch thơ dã-sử và xã-hội của tôi, trong đó nhạc-sĩ Trịnh Văn Ngân là một trong những cây ngâm tuyệt-vời.

Do đó, tôi quen biết “nàng bồ-câu trên chuồng bồ-câu”. Tên nàng là Trần Trinh Thuận, tức nữ-sĩ Vi Khuê, một biên-tập-viên chính-ngạch có giọng-nói-trời-cho nên kiêm luôn phần-vụ xướng-ngôn.

Tuy Vi-Khuê làm việc ở một cơ-quan thông-tin tuyên-truyền đậm màu chính-trị, nhưng những bài thơ của nàng hồi đó chỉ là tâm-tình của bạn gái ở lứa tuổi hai mươi, dễ thương như “con nai vàng ngơ-ngác, đạp trên lá vàng khô”.

*

Tôi thì lăn xả vào giữa tình-hình rối-ren cuả Quê Hương.

Dù đã từng bị giặc Pháp tù đày, tôi vẫn giao-du tuy không đồng-ý với Hồng Quang, chủ-nhiệm báo “Ý Dân”, là người chỉ chọn vũ-lực để chống chủ-nghiã thực-dân; và vẫn cộng-tác tuy không thuận-tình với Phạm Bá Nguyên, chủ-nhiệm báo “Công Lý,” là kẻ nhận Ðệ-Tứ thay cho Ðệ-Tam. Tôi lui+tới với Duy Sinh nhưng chưa yên tâm vì huyền-thoại văn-hoá điệp-báo của Nguyễn Bách Khoa. Tôi rất đau lòng vì đồng-bào đói khổ, nhưng chỉ hiệu-chính giùm thi-pháp chứ không tán-thành nội-dung khích-động giai-cấp đấu-tranh trong thi-tập “Tiếng Nói của Dân Nghèo” cuả Vân Sơn PMT [Phan Mỹ Trúc]. Tôi thân+thương Trụ Vũ và Quách Thoại nhưng không hợp tính với họ vì lối sống phóng-túng của hai nghệ-sĩ thân-nhân ấy của Vi Khuê. Tôi tiếp-xúc với tác-giả nhưng không khép mình trong triết-thuyết bi-quan trong “Con Thuyền Không Bến” cuả Nguyễn Vũ Ban. Tôi thả hồn lên cõi siêu-nhiên nhưng không bước vào nương nhờ Cửa Thiền trong “Không Bến Hạn” cuả Huyền Không.

Tôi ủng-hộ cả hai đường-lối phục-hồi độc-lập quốc-gia: công-nghiệp kháng-chiến vũ-trang chân-chính của người dân, và nỗ-lực ngoại-vận ôn-hoà của các chính-trị-gia không-cộng-sản trong lòng Thế-Giới Tự-Do.

Riêng ở phiá bên này lằn ranh, tôi nhận thấy Cựu-Hoàng Bảo Ðại thì quá yếu mềm mà Đế-Quốc Pháp thì còn luyến tiếc giấc mơ đô-hộ Việt Nam, nên viết cuốn truyện dã-sử “Trai Thời Loạn” để gửi gắm ý mình, và kết-quả là tôi bị cơ-quan An-Ninh Quốc-Gia bắt giam; sau nhờ có chính-khách Cao Văn Chiểu, Giám-Đốc Thông-Tin Lê Tảo, cùng nhiều nhân-sĩ khác, can-thiệp với Thủ-Hiến Phan Văn Giáo, tôi mới được thả ra.

Ðể tạo một thế đứng vững-vàng hơn, tôi thành-lập Thi+Văn Ðoàn “Xây-Dựng”, xuất-bản các tác-phẩm của mình và của các bạn từ Bắc chí Nam. Mới bắt đầu thì Nhất Hiên [Phan Nhật Hiến] bỏ theo Việt Minh, và nửa chừng thì Như Trị [Bùi Chánh Thời] cũng nhảy lên chiến-khu.

Tôi hướng về nền dân-chủ và lòng hào-hiệp cuả Hoa Kỳ như tia sáng ở cuối đường hầm.

*

Tháng 4 năm 1954, tôi vào phục-vụ tại Phòng 5 Bộ Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu với tư-cách văn-nghệ-sĩ & ký-giả bị/được động-viên chuyên-môn. Lê Ðình Thạch và Huy Vân thì kỳ-cựu, Tô Kiều Ngân gốc Nha Thông-Tin cũng đã thành quân-nhân. Tchya [Ðái Ðức Tuấn] và Nhất Lang thì được đồng-hoá sĩ-quan.

Ngoài việc viết bài cho báo “Tiếng Kèn”, cho các đơn-vị Võ-Trang Tuyên-Truyền ở tuyến đầu, và cho chính tôi đi vận-động trong dân-nhân, tôi còn là phóng-viên chiến-tranh và biên-tập-viên chính cuả Ðài “Tiếng Nói Quân Ðội” tại Miền Trung.

Do chương-trình phát-thanh này, mà tôi là giám-đốc, tôi mới đặt phòng-giấy ngay tại trụ-sở của Ðài Phát-Thanh Huế, và gặp mặt Vi Khuê thường-xuyên.

Thay chỗ nhạc-sĩ Anh Chương, tôi cử Lâm Tuyền làm Trưởng Ban Tân-Nhạc; nhưng rồi tôi làm lơ cho Lâm Tuyền đào-ngũ vì anh quá chán chuyện đời.

Tôi đưa Văn Giảng lên thay.

Hà Thanh mới bắt đầu vào nghề.

Những lần xe Jeep bị hư, tôi đạp xe-đạp qua chở Kim Tước từ cư-xá Nha Thông-Tin ở bên kia Cầu Trường-Tiền. Cặp Châu-Kỳ−Mộc-Lan của giới ca-nhạc, cũng như cặp Hoàng-Pha−Phương-Khanh của giới văn+thơ, cũng đã từng ở đây.

*

Rồi Thoả-Ước Geneva ra đời.

Trong hội-nghị quốc-tế ấy, có ba nhân-vật Việt-Nam đã được thế-giới chú ý hàng đầu: Cô Thiên-Hương, con gái của nhà văn Hồ Hữu Tường, là nữ ký-giả duy-nhất, nói được nhiều ngoại-ngữ và trẻ đẹp nhất trong giới truyền thông; Cụ Võ-Thành-Minh, một lão-thi-sĩ, từ Huế đến, đã bí-mật vượt hàng rào Cảnh-Sát Thụy-Sĩ vào cắm trại trên Bờ Hồ Leman trước hội-đường, tuyệt-thực thổi sáo nói lên nỗi lòng của người dân Việt-Nam mong-muốn Thống-Nhất và khao-khát Tự-Do; và Ông Nguyễn-Quốc-Ðịnh, Ngoại-Trưởng cầm đầu Phái-Ðoàn Quốc-Gia Việt-Nam của chính-phủ Bảo Ðại, đã từ-chức để khỏi ký tên vào văn-bản thừa-nhận việc đất nước bị qua-phân.

Thủ-Tướng Ngô Ðình Diệm cử Ông Trần-Văn-Ðỗ đến thay. Pháp và Việt-Minh thoả-thuận ngưng bắn, lấy vĩ-tuyến 17 ngang sông Bến Hai làm ranh-giới Bắc–Nam.

*

Ðại-Tá Trương Văn Xương, Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu, thuộc cánh Tổng-Tham-Mưu-Trưởng là Trung-Tướng Nguyễn Văn Hinh [con của cựu Thủ-Tướng Nguyễn Văn Tâm, thân-Pháp], mở một chiến-dịch đưa quân từ Huế vào tiếp-thu các Tỉnh phiá trong. Theo chương-trình chính-thức thì Thủ-Tướng Diệm sẽ từ Sài-Gòn ra chủ-toạ lễ thiết-lập Chính-Quyền Quốc-Gia tại vùng đất mới lấy lại này. Theo kế-hoạch riêng của cặp Hinh+Xương thì Diệm, trên đường đi từ Huế vào Quảng-Ngãi, sẽ bị lính và dân dàn chào bằng tiếng hô “Đả Đảo” cùng với trứng thối và cà chua. Câu hỏi nổi bật là “Mười vé phi-cơ cho gia-đình họ Ngô, hay là mạng sống cuả cả trăm ngàn binh sĩ Quốc-Gia?” Các bức tường vẽ khẩu-hiệu đã được xây lên; và biểu-ngữ, bích-chương, cùng truyền-đơn liên-hệ đã được chuẩn-bị sẵn dọc đường rồi.

Phòng 5 Quân-Khu đương-nhiên đảm-trách công-tác Tác-Động Tinh-Thần này.

Thành-Phố Huế ngẫu-nhiên được chia thành hai trận-tuyến. Bộ Tư-Lệnh Quân-Khu thì đóng trong Ðại-Nội, phiá Bắc của Sông Hương; nhà Ông Ngô-Ðình-Cẩn, trung-tâm quy-tụ cuả gia-đình Họ Ngô, thì nằm trên Xóm Phú-Cam, phiá Nam của Sông Hương. Bộ-phận “Tiếng Nói Quân-Ðội” của tôi lại đặt trụ-sở tại Ðài Huế, trên bờ phiá Nam. Ðể biểu-dương lực-lượng, Quân-Khu phái đến hai chiếc xe-tăng, án-ngữ hai bên sân, trước Ðài Phát-Thanh. Các chương-trình vô-tuyến dân-chính chỉ có nội-dung lập-lờ, thông-tin hàng-hai.

Ở Quảng-Ngãi, cán-bộ Việt Minh gài lại xúi giục dân-chúng phản-kháng lực-lượng tiếp-thu, vì thấy vẫn có Cố-Vấn Pháp trong hàng-ngũ Quốc-Gia; súng nổ, người chết; Ủy-Hội Quốc-Tế Kiểm-Soát xen vào.

Ðảng Cần-Lao, qua nhạc-sĩ Ngọc Linh, móc nối tôi.

Tôi không theo đảng-phái nào hết, nhưng quyết-định ủng-hộ Thủ-Tướng Diệm, với chủ-trương “Ðả Thực, Bài Phong, Diệt Cộng”, để được sự giúp-đỡ cuả Hoa-Kỳ. Quốc-gia giàu mạnh nhất thế-giới này đã dìu-dắt Tây-Ðức, nâng-nhấc Nhật-Bản, và cứu-vớt Ðại-Hàn. Trung-Tá Nguyễn Văn Bông, Tư-Lệnh Mặt Trận Nam–Ngãi, đã phát-biểu với Trung-Tá Nguyễn Văn Tố, Phó Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu, trong khi Bông lái xe ra đón Tố vào:

– Mình cộng-tác với thằng giàu thì hẳn sướng hơn phục-vụ cho thằng nghèo!

Tôi thảo truyền-đơn, tài-liệu, viết bài tuyên-truyền cho chí-sĩ họ Ngô.

Bộ Tham-Mưu của Xương không tin-tưởng ở tôi. Họ lập hẳn một Ðài Phát-Thanh riêng, trong Thành-Nội― dân-chúng gọi là “Đài bí-mật”để tự mình phổ-biến lập-trường chống-Diệm và hô-hào dân-chúng nổi lên.

Không còn bị Cấp Trên ràng buộc, tôi công-khai dùng “Tiếng Nói Quân Ðội” để hậu-thuẫn cho Diệm và Hoa-Kỳ.

Hồi ấy, chỉ có một số trong giới Nho-học lớn-tuổi nghe danh Ông Ngô-Ðình-Khả, còn đa-số dân-chúng nói chung thì ít ai biết tên Ông Ngô-Ðình-Diệm, ngoại-trừ một nhóm trong giới Kitô-Giáo có đọc tờ báo “Tinh Thần” thời-gian gần đó.

Chương-trình phát-thanh của tôi có ảnh-hưởng rất lớn trong quần-chúng, vì làn sóng của Ðài Huế phát đi rất mạnh và xa, trong lúc “Ðài bí-mật” thì nhỏ và yếu, chỉ lẩn-quẩn vùng gần, lại khi-có khi-không.

Tôi đã lèo-lái để người dân xứ Huế, nghe Đài “của tôi” và trông thấy hai chiếc xe-tăng trấn đóng trước Ðài mà tưởng và tin là phe mạnh nhất trong Quân-Lực đã đứng hẳn qua phía Diệm, nên biệt-phái chiến-xa đến cho tôi để bảo-vệ Tiếng Nói của mình, chống lại phe yếu thế Hinh–Xương.

Toàn-quốc, nhất là Sài-Gòn, hướng về xứ Huế, gốc-gác của họ Ngô, lấy đó làm chỉ-dấu mà lên tinh-thần.

Từ đó, các phần-tử thân-Diệm mới dám đứng ra khỏi vòng giới-hạn của mình mà hoạt-động rộng-rãi trước mắt mọi người.

*

Trong những tháng ngày gay-cấn ấy, cứ mỗi lần từ các cuộc hành-quân hoặc từ các hoạt-vực bên ngoài trở về với phòng-giấy tại Ðài, tôi lại cảm thấy nhẹ-nhõm cả người, khi gặp mặt lại những nữ-nghệ-sĩ trẻ đẹp tươi vui, như bướm, như hoa, tô thắm cuộc đời. Trong vườn thanh+sắc ấy, Vi Khuê của giới thi+văn vẫn gần-gũi với tôi hơn các bạn bên giới cầm+ca. Nhưng “nàng bồ-câu” vẫn vô-tư-lự như mọi ngày, đâu biết đầu-óc tôi đã bỏng-rát những tính-toán mưu-mô, thân-xác tôi đã bầm-dập những gian-nan nguy-khốn, và chỉ trở về văn-phòng để thư-giãn cho những căng-thẳng thần-kinh.

*

Thủ-Tướng Ngô Đình Diệm thắng phe Hinh+Xương.

Hoa-Kỳ mở Phòng Thông-Tin tại Đại-Khách-Sạn Morin. Giám-Ðốc Thompson A. Grunwald là viên-chức dân-sự Mỹ đầu tiên đặt chân đến Miền Trung. Tôi tổ-chức dạy tiếng Anh trên Ðài, có Tôn Thất Ðát phụ-lực; tham-gia thường xuyên là Thompson, và bất-thường là bất-cứ người ngoại-quốc nào nói tiếng Anh mà tôi gặp được, bắt đầu từ Đại-Tá Richardson, Trưởng Phái-Ðoàn quân-sự Hoa-Kỳ T.R.I.M.

Lớp dạy tiếng Anh của tôi là lớp đầu tiên trong lịch-sử dạy tiếng Anh qua làn sóng truyền-thanh cho thính-giả Việt-Nam.

A picture containing text, indoor, person
Description automatically generated

Nguyễn Cửu Tú (Phó Giám-Đốc Đài), Thompson và Nhuận

Ðại-Tá Nguyễn Quang Hoành lên thay Trương Văn Xương, rồi vì bất-đồng chính-kiến nên lại nhường chỗ cho Thiếu-Tướng Lê Văn Nghiêm.

Ðại-Úy Ngô Văn Hùng thay thế nhạc-sĩ Ngọc Linh, làm Trưởng Phòng 5. Văn Giảng ra đi, tôi cử Lê Trọng Nguyễn lên thay. Nguyễn vừa dịch tài-liệu vừa sáng-tác nhạc; bên cạnh giai-phẩm “Nắng Chiều” là “Hoan-Hô Lê Thiếu-Tướng” theo lệnh của Hùng  (bắt chước “Hoan Hô Ngô Thủ-Tướng”). Ðể giúp Tôn Thất Ðậu chọn nhạc ngoại-quốc do thính-giả yêu-cầu, tôi liên-lạc với hàng chục Toà Ðại-Sứ ở Sài-Gòn, viết lời mở đầu về nền âm-nhạc của mỗi nước, và đặc-tính của mỗi bản nhạc, để giới-thiệu trước khi trình-bày. Giáo-Sư Lê Hữu Mục có đến chơi đàn; nữ-sĩ Như Thu đến góp bài; thi-sĩ Hồ Ðình Phương đến ngâm thơ. Trình-bày “Mục Thi-Ca” của tôi là Trần Anh Tuấn, Ðinh Lợi, Lan Hương, và Tâm Thanh [Tôn Nữ Kim Ninh].

*

Ở các Tỉnh Cao-Nguyên và miền núi Tỉnh Quảng-Ngãi, phong-trào đòi tự-trị của người Thượng nổi lên. 

Chính-Quyền Diệm gom các phần-tử chủ chốt “Thượng Tự-Trị” về tập-trung ở đầu Cầu Nam-Giao. Một Nha Chiến-Tranh Tâm-Lý được lập nên, đặt trụ-sở ở đầu Cầu Phú-Cam. Đại-Úy Hùng kiêm-nhiệm Nha này. Tôi cũng kiêm thêm một số phần-vụ ở cơ-quan này, nên dời bàn-giấy đến đây.

Bộ Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu dời tổng-hành-dinh qua Hữu-Ngạn sông Hương.

Nước Việt-Nam Cộng-Hoà, với sự hậu-thuẫn của Hiệp-Chủng Quốc Hoa-Kỳ,  được Thế-Giới Tự-Do nhìn-nhận.

*

Trong những năm trẻ-trung của Nền Ðệ-Nhất Cộng-Hòa ấy, Liên-Xô, Hoa-Cộng, và Cộng-Sản Bắc-Việt, là những bên chủ-trương chia đôi đất nước Việt-Nam, chưa sẵn-sàng thực-hiện vũ-trang xâm-lược Miền Nam, mà Hoa-Kỳ thì viện-trợ tối-đa cả tinh-thần lẫn vật-chất cho con bài của mình và cái tiền-đồn mới lập này của họ ở Ðông Nam Á, nên tình-hình an-ninh khả-quan, chế-độ bắt đầu vững-vàng.

Thế là nhiều người liền tranh nhau mưu-quyền thủ-lợi riêng. Hầu hết chiến-công giữ nước, cũng như thành-tích dựng nước, được dùng để dâng lên Ngô Tổng-Thống, chỉ là những cử-chỉ qụy-lụy, những lời-lẽ tâng-bốc, những thái-độ tôn-thờ, dành cho toàn-thể gia-đình họ Ngô, được các tay+chân thân-tín của Cụ xét thấy êm tai đẹp mắt nên tường-trình lên mà thôi.

Ông Ngô-Ðình-Khôi, bào-huynh của Diệm, từ-trần đâu cả chục năm trước kia, không ai biết đến; nay dời mộ-phần thì có cả tá cấp-cao chức-lớn gây lộn nhau để giành làm Trưởng Nam danh-dự hầu-cận bên quan-tài; nhiều năm về sau, hễ nhắc đến ông, nhiều kẻ còn khóc-lóc thảm-thương. Ông Ngô-Ðình-Luyện làm đại-sứ tận bên nước Anh, người dân không hề thấy mặt, thế mà khi nhắc đến ổng thì ai nấy đều vẽ-vời ra vô-vàn tài-cao đức-trọng, để ngợi-ca cho vừa lòng thế-gia. Huống chi các “Cố Vấn” hùng-cứ trong nước mà uy-quyền có khi lấn át cả ông anh. Dù không muốn nhập-cuộc, đa-số vẫn phải nhắc đi nhai lại, để được yên thân, những sáo-ngữ đã thành công-thức chót lưỡi đầu môi: “Nhờ ơn Ngô Tổng-Thống và các bào-huynh, bào-đệ cuả Người!” Thế là lắm kẻ được đặc-cách tiến-chức thăng-quan.

Trung-Tướng Thái Quang Hoàng thay thế Thiếu-Tướng Lê Văn Nghiêm.

Nhà văn Bùi Tuân trở thành Dân-Biểu, không còn viết thuê xã-luận cho Ðài của tôi, mà diện lễ-phục lái xe-hơi di diễu khắp phố-phường. Nhạc-sĩ Ngô Ganh không còn lập-dị, mặc bộ com-lê may bằng dạ chăn đi dưới nắng hè, bên trong là chiếc áo ngủ cổ kiềng mà mỗi lần đi đâu thì chỉ cần gài thêm vào đó một cái cổ áo trắng có đính sẵn ca-vát là khỏi phải tốn thêm nguyên cả chiếc áo sơ-mi; bây giờ ảnh làm Quản-Ðốc Ðài, kiêm Ðại-Diện Nhân-Dân Miền Trung, ngồi chung dãy ghế danh-dự với Ðại-Biểu Chính-Phủ, Tư-Lệnh Quân-Khu, v.v… trong những buổi lễ công-cộng trên khán-đài Phu Văn Lâu.

Trong lúc đó, tôi bị cơ quan An-Ninh Quân-Ðội thẩm-vấn tới, điều-tra lui. Họ vin vào cớ tôi đã là Trưởng Ðài Quân-Ðội từ khi còn Hinh+Xương.

Một hôm, Tổng-Thống Diệm ra Huế và ở lại đêm. Sáng sau, tôi nghe hàng-xóm kháo chuyện với nhau: “May mà bắt được, chứ không thì quân khủng-bố đã ám-hại Tổng Thống đêm qua rồi!” Ðến sở, tôi hỏi Đại-Úy Ngô Văn Hùng thực/hư thế nào; ổng liền gọi điện-thoại cho An-Ninh Quân-Đội, và cơ-quan này đến bắt tôi. Truy-cứu mới biết: chính-quyền sở-tại và thân-tộc có tổ-chức nhiều vòng đai an-ninh xung quanh nhà-thờ Phú Cam, nơi Diệm đến tiếp-xúc với giáo-dân; có một nhân-viên chìm, thuộc vòng-đai trong, vì đến trễ nên bị chận soát ở vòng-đai ngoài; thấy y có vũ-khí giấu trong người, đồng-bào tưởng lầm là Việt Minh. Chỉ có thế thôi, nhưng vì Diệm đã được thần-thánh-hoá, nên câu hỏi của tôi, dù là để phối-kiểm với mục-đích dùng Đài Quân-Đội mà trấn-an dư-luận đồng-bào, cũng đã bị xem là một sự xúc-phạm tày trời.

Ngày xưa, phần lớn văn-nghệ-sĩ đều phục-vụ trong ngành truyền-thông, nên tôi đã từng mong được chuyển nghề qua làm việc trong cơ-quan Thông Tin, để được quần-chúng độc-giả khán+thính-giả trọng-vọng hơn. Bây giờ đã ở trong ngành Tác Ðộng Tinh Thần, dù của Quân Lực nhưng cũng là thông-tin tuyên-truyền, tôi mới thấy mặt trái của tấm huy-chương.

Lần đó, nhà bác-học Bửu Hội, thân-thích của Cựu-Hoàng Bảo Đại, nhân dịp từ Pháp về thăm nhà, đến nói chuyện về y-học với đồng-bào Huế tại Rạp Chiếu Bóng Morin. Một số văn+thi-sĩ tùng-sự tại Nha Thông-Tin Trung-Phần đã nêu lên nhiều câu hỏi về thời-sự, mục-đích là để gài Hội phải phát-ngôn ủng-hộ Diệm, hoặc ngược lại thì có bằng-chứng để dễ ra tay. Mặc dù Hội đã nhấn mạnh rằng ông không về Việt Nam với mục-đích chính-trị, và xin miễn đề-cập đến các vấn-đề ngoài phạm-vi y-học, đồng-thời số đông trong cử-tọa cũng đã huýt gió phản-đối những câu hỏi lạc-đề, nhưng nhà văn Ðỗ Tấn [Đỗ Tấn Xuân] vẫn trơ-tráo đứng dậy đặt thêm cho được vài câu hỏi nữa.

Bác-Sĩ Trần Văn Thọ, Tổng Giám-Ðốc Thông-Tin, mà còn tranh tài với Bác-Sĩ Trần Kim Tuyến (Giám-Ðốc Nha Nghiên-Cứu [tức cơ-quan Tình-Báo] thuộc Phủ Tổng-Thống), thảo nào mà nhà-văn này cũng không chịu lép vế các nhà-văn khác trong thành-tích bao vây những ai bị nghi là, bị cho là có thể đối-kháng chế-độ đương-quyền.

Một số nhà-thơ giành nhau chức-vụ lãnh-đạo ngành Thông-Tin, khởi đầu bằng địa-vị Chủ-Tịch Hội Văn-Nghệ-Sĩ & Ký-Giả Miền Trung.

Nhà-thơ Đỗ Tấn Xuân nhai lại cái bã Tố Hữu tán-tụng Staline, in hẳn cả một tập thơnhan đề “Mùa Hoa Sim Nở”trong đó có câu “Tiếng đầu lòng con gọi: Cụ Ngô!”

Họ sợ vướng tôi nên tìm cách loại tôi, lùng thu thi-tập “Ánh Trời Mai” của tôi, v.v…

Thế nhưng hầu hết các nam+nữ tân+cổ+nhạc thi+ca+kịch-sĩ cộng-tác với tôi thì chỉ thấy tôi là một nhà thơ trẻ trai, hiền-lành, hòa-đồng với họ trong từng bộ-môn, chứ không biết gì về những khó-khăn của tôi.

Họ cũng không quan-tâm gì đến mục-đích chính-trị của Ðài, mà lại đinh-ninh rằng trọng-tâm hoạt-động và lý-do cùng ý-nghĩa của sự hiện-diện của Ðài chỉ là phần diễn-ngâm ca-tấu giải-trí văn-nghệ mà họ cống-hiến cho số thính-giả gần xa ái-mộ họ mà thôi.

Vi Khuê thì trầm-lặng hơn họ và có một thế đứng riêng. Nàng không ca hát nhưng số khán+thính-giả địa-phương hằng ngày háo-hức đến xúm dán mũi vào cửa kính để xem tận mắt các nữ-danh-ca hát thật cũng như dượt bài, đều không bỏ lỡ cơ hội nhìn ngắm cô biên-tập-viên duyên-dáng của Ðài. Các người-đẹp trình-diễn thì chỉ xuất-hiện vào giờ có chương-trình liên-quan, còn Vi Khuê thì có mặt ở đó suốt ngày, để những lúc trở về Ðài tôi nhìn thấy nàng mà dịu-vợi ưu-tư…

*

Thế rồi tôi giã-từ quân-ngũ, rời khỏi Ðài, ra ngoài hoạt-động văn-nghệ nhiều hơn trong một môi-trường rộng-lớn và khoảng-khoát hơn.

Ngoài các nỗ-lực tích-cực trong Quân-Ðội và sau đó là trong ngành Cảnh-Sát Công-An, tôi còn hăng say dùng hoạt-động văn-nghệ riêng tư để góp phần xây-dựng và củng-cố chế-độ Ðệ-Nhất Cộng-Hoà, thí-dụ: viết báo, đi thuyết-trình trong Cảnh-Sát & Công-An và ngoài dân-chúng; sáng-tác và trình-diễn khắp nhiều Tỉnh vở kịch thơ “Gươm Chính-Nghiã” của tôi đề-cao Tổng-Thống Ngô Ðình Diệm, kêu gọi sĩ-phu khắp nơi, đặc-biệt từ Miền Bắc, về với Chính-Nghiã Miền Nam; sáng-tác và xuất-bản tập thơ “Tuần Trăng Mật” vinh-danh tình yêu vợ+chồng, mà nguồn cảm-hứng sáng-tạo thì đi trước và sau đó lại phù-hợp với tinh-thần canh-tân trong Luật Gia-Ðình của Bà Ngô-Ðình Nhu…

Tôi giữ Mục “Vườn Thơ” trên tuần-báo “Rạng Ðông” của Lê Hữu Mục, họp làm đặc-san với Tôn Thất Dương Tiềm, xuất-bản thơ của các bạn gần+xa và của chính mình, kết-thân với các nhóm như Hồ Mộng Thiệp, Thanh Phượng, Anh Ðộ, Tô Như, và Quốc Dân… ở Ðà-Nẵng; đồng nhóm Xây-Dựng là Xuân Huyền, Tường Vi, Huyền Chi, Hoài Minh, Bàng Bá Lân, v.v… ở Sài-Gòn. Trong đó, tôi giữ mục “Hội Thơ” (do Hồ Đình Phương trung-gian) trên tuần-báo Văn-Nghệ Tiền-Phong của Hồ Anh, và có nhạc-sĩ Lê Mộng Bảo giúp phần ấn-loát & phát-hành sách và đặc-san.

Tôi tái-tổ-chức họp bạn hằng tuần; ngày xưa thì có Nhân Hậu, Vĩnh Thao, Hạnh Lang, Trúc Lang, Võ Ngọc Trác, Xuân Dưỡng, Giang Tuyền, Kiêm Minh, Lê Mộng Hoà, Nhân Nam, v.v…; bây giờ thì có Hoàng Hương Trang, Tuyết Lộc, Kim Lan, Nguyên Xuân Tứ, Hữu Ðỗ, Khang Lang, Hoài Tâm, Hương Thu, Xuân Nghị, Thanh Thuyền, Thế Viên, v.v…; có lần có cả Trần Minh Phú từ Hàng Me đến, Diên Nghị từ đơn-vị về, Hồ Ðình Phương từ Long-An ra…

Ðại-Hội Văn-Hoá Toàn-Quốc dưới thời Ðệ-Nhất Cộng-Hoà (khai-mạc ngày 11 tháng 1 năm 1957) đã đem lại cho tôi một phần thưởng tinh-thần: “Xây-Dựng” cuả tôi được nhìn-nhận là một cành của Cây Ða Văn-Hiến Việt-Nam.

Text
Description automatically generated

Trong thời-gian đó, Vi Khuê lên xe hoa. Và đôi uyên-ương đưa nhau lên xây tổ ấm trên đồi núi Ðà-Lạt sương mù, bỏ lại “chuồng bồ câu” trống lạnh như nỗi thiếu vắng trong lòng của những ai ai…

*

Sau khi bản-thân tôi gặp nhiều khó-khăn vì không chịu cải-đạo; sau khi người ta giết chết cả hai vợ+chồng thầu-khoán Nguyễn Văn Yến; sau khi người ta dùng ngay phòng họp là nơi tôi hướng-dẫn học-tập “Ðạo-Ðức của Ngô Tổng-Thống” cho các cấp chỉ-huy Cảnh-Sát Huế trong các buổi “học-tập Chính-Trị và Công-Dân Giáo-Dục” hằng tuần, để làm nơi tra khảo và giết chết thầu-khoán Nguyễn Ðắc Phương rồi ném xác xuống sân tri-hô là Phương nhảy lầu tự tử; sau khi nhận được vô-số bài-vở của anh+chị+em Cảnh-Sát Công-An gửi về tôi để xin đăng lên tờ nội-san “Phục Vụ” do tôi chủ-biên, nội-dung tố-cáo nhiều, quá nhiều, hành-động tham-lam, tàn-bạo, kể cả giết người, dựa quyền cuả ông Cố-Vấn Ngô Ðình Cẩn; v.v…

Do đó, tôi đã liều-lĩnh đứng lên công-khai nêu ra một số khuyết-điểm của chế-độ họ Ngô, trong một buổi học-tập tại cơ-quan vào ngày Lễ Hai Bà Trưng (3-3-1960).

Biến-cố này đã gây chấn-động cả Miền Trung.

Kết-qủa là tôi bị quản-thúc điều-tra ba tháng, gây tranh-cãi giữa hai ông Cố-Vấn Cẩn và Nhu…

Rồi tôi bị đày lên Cao Nguyên “vùng nước độc và nguy-hiểm” với bụi đỏ mù trời.

Đời sống chính-trị tạo thi-hứng cho tôi sáng-tác và đăng báo rời-rạc các bài thơ mà sau Cách-Mạng 1-11-1963 mới được gom lại ấn-hành thành tập “Với Thượng-Ðế”, tập thơ thứ bảy cuả mình.

*

Qua đến Ðệ-Nhị Cộng-Hoà, tôi cũng lại gặp rắc-rối, vì tôi công-khai phản-đối những sai trái, nhất là chiều-hướng quân-phiệt trong chế-độ Nguyễn Văn Thiệu, bằng một bức thư trần-tình gửi lên Cấp Trên**.

Sau cùng tôi được (hay bị?) đưa về lại Miền Trung để giải-quyết giùm (và tôi đã giải-quyết được) những khó-khăn nội-bộ tại vùng đất này mà trước đó Trung-Ương hầu như bó tay…

Giờ đây, tôi trở về Huế lại.

Ngồi trên ghế đá công-viên trước Ðài Phát-Thanh Huế, tôi nhắm mắt mường-tượng những gì đã xảy ra tại đây vào buổi tối 8-5-1963phản-ứng của giới Phật-Tử bị cấm treo cờ Phật-Giáo vào ngày lễ Phật, Phật-Giáo-Đồ tập-trung, chất nổ, người chết, sức mạnh quần-chúng…

Rồi lịch-sử đã sang trang…

Lắc đầu xua đi những ảnh-hình thế-sự, tôi thả hồn sống lại quãng đời thơ trẻ đã qua.

Những khuôn mặt cuả Huế một thời, mà tôi nhớ thêm: các nhà văn Bửu Kế, Phan Khoang…; các nhà thơ Phan Văn Dật, Nguyễn Anh, Tô Kiều Ngân…; nhà khảo-cứu Bửu Cầm; hoạ-sĩ Phi Hùng; nhà dựng kịch Lê Hữu Khải; các kịch-sĩ Vũ Ðức Duy, Vĩnh Phan, Minh Mão, Hà Nguyên Chi…; các nhạc-sĩ Nguyễn Hữu Ba, Lê Quang Nhạc, Ưng Lang, Hoàng Thi Thơ, Lê Tất Vịnh, Hoàng Nguyên…; các ca-sĩ Minh Trang, Thanh Nhạn, Tôn Thất Niệm, Ngọc Cẩm–Nguyễn Hữu Thiết, Bạch Yến, Thiện Nhân, Hương Việt, Diệu Hương…

Tôi không gặp lại Phương Như, Bằng Trình của Huế, Anh-Ðộ [Ðỗ Cẩm Khê] của Ðà-Nẵng, và mất liên-lạc với Huyền-Chi từ sau khi nàng lấy chồng. Trước đó, bóng người áo trắng Kiều-Ngọc đã vuột khỏi tầm tay tôi.

Nhưng tôi vẫn còn nhớ rõ buổi hoàng-hôn ấy tôi lái xe Lambretta-2-bánh chở Trần Dạ Từ từ khách-sạn Khê-Ký lên Bến-Ngự để anh gặp Nhã Ca; và buổi sáng chủ-nhật kia Hy Văn Mộng đến nhà tôi chơi bị cháu nhỏ tè ướt cả quần khi anh bế nó lên hôn.

Có những bạn thân không còn, hoặc còn nhưng phai thân…

Nhưng Vi-Khuê thì vẫn còn là một người bạn thân. Cuả vợ+chồng chúng tôi.

Trong cuốn lưu-bút “Kỷ-Niệm Vàng” mà tôi giữ kỹ, bây giờ vẫn còn tờ giấy bạc “anh gánh dưa” một đồng mới toanh mà Vi-Khuê đã ký tặng mừng tuổi tôi vào dịp Tết năm nào.

Hình-ảnh ấy càng đậm nét khi nàng đưa Vân-Anh, cả hai phất-phơ tà áo màu qua cánh đồng An-Cựu vàng rực mùa lúa gie, đến thăm tôi vào thuở ban đầu, để rồi sau đó thì nàng làm chứng-nhân cho cuộc lễ thành-hôn của tôi với người bạn thân ấy của nàng.

*

Giờ đây Thành-Phố Huế đã bị giáng bậc xuống làm Thị-Xã, tước mấtngoại-trừ về phần văn-hóa và lịch-sử cái địa-vị thủ-phủ của Miền Trung; hoa-khôi Ðồng Khánh ngày càng hiếm-hoi; Ðài Huế xuống cấp làm Ðài Tỉnh nhỏ; các xướng-ngôn-viên và ca-sĩ chỉ gợi tiếc những giọng oanh vàng và hương sắc ngày xưa…

Ðệ-Nhất Cộng-Hoà thế kia, Ðệ-Nhị Cộng-Hoà thế này. Mỗi chế-độ có những vấn-đề khác nhau, nhưng đều giống nhau ở vận nước chông-chênh.

Liệu những biến-thiên của cuộc đời sẽ còn đem lại những đổi thay nào khác nữa cho Đồng-Bào, cho Quê-Hương?

Huế vẫn còn đây, Ðài Huế vẫn còn đây, và tôi trở về ngồi đây.

Nhưng tôi không còn tìm thấy lại được, sau mỗi chặng đườngcũng vẫn gian-nan một mình chống-chọi với ma-quỷ còn sót lại trong thời buổi mớisự thanh-thản, dù trong chốc-lát, cho tâm-hồn mình, như những ngày nào xa xôi…

LÊ XUÂN NHUẬN  




TRUNG-TÁ HỒ ĐỨC NHỊ