VTLV: TRANG ĐẶC BIỆT CHÀO MỪNG GS NGUYỄN HUY LẠP CHÚC Đến Với Thi Văn Đàn VTLV

Tóm tắt tiểu sử:

Tên và bút hiệu: Lạp Chúc Nguyễn Huy.

*Trước năm 1975, giảng dạy tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn.

*Sau 1975, làm việc khảo cứu tại Département d’anthropologie de l’Université Laval, Québec, CANADA

*Hiện là cố vấn văn hóa cho cô Sỏi Ngọc, quản lý CLB Văn Hóa Montreal, CANADA

***

**

VTLV CHÀO MỪNG GIÁO SƯ LẠP CHÚC NGUYỄN HUY

(Bát vận đồng âm)

VĂN THƠ chào đón khách – thơ quà

LẠC VIỆT vào hè lại nở hoa

LẠP CHÚC danh ngời nơi xứ lạ

NGUYỄN HUY tiếng rạng thuở quê nhà

CÀ MAU lịch sử ly kỳ quá!

RỪNG MẮM cội nguồn thú vị nha!

Mời hết Thi Đàn vui xướng họa

Giáo Sư mừng đón tặng thơ quà.

Phương Hoa – VTLV

RỪNG MẮM CÀ MAU LẠP CHÚC NGUYỄN HUY

Đất nước tôi từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau. Ngày nhỏ mẹ ru tôi ngủ:

Con cò bay lả bay la,

Bay qua Đồng Phố bay về Đồng Đăng,

Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa,

Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh

… chìm trong giấc ngủ thơ ngây mà nào có biết mẹ tôi nói đến ải Nam Quan có phố Kỳ Lừa, có nàng Tô Thị. Lúc khôn lớn, thầy giáo mới dạy ải Nam Quan là cửa ải Hoa Việt ở tỉnh Lạng Sơn, có Nguyễn Trãi từ biệt cha vè giúp Lê Lợi phục quốc, có Thoát Hoan, Tôn Sĩ Nghị không còn manh giáp chạy trốn về Tầu, còn Cà Mau thì thầy tôi chỉ nói đến nào là rừng Sát âm u, muỗi độc kêu như sáo thổi, cọp um bên vách lá …

Mảnh đất Cà Mau chỉ mới sát nhập vào Việt Nam hồi thế kỷ 17. Cà Mau là địa bàn của Nguyễn Ánh mưu phục lại cơ đồ. Đã bao lần đại bại phải bỏ lại vợ con, binh sĩ chạy trốn qua đảo Phú Quốc, Poulo Panjang, lưu lạc bên Thái Lan. Nguyễn Ánh với một ý chí sắt đá trở lại Cà Mau, tập họp binh sĩ, đánh chiếm Gia Định rồi thống nhất đất nước năm 1802. Trang sử Gia Long phục quốc hiện nay còn ghi lại vết tích tại Cà Mau. Bạn nào quê quán nới đây chắc còn nhớ xã Khánh An ở vùng Cái Tàu có nền Công Chúa trên một gò đất cao, đó là mộ xưa của một công chúa tử nạn trong thời kỳ Nguyễn Ánh phục quốc. Còn ở xã Tân Hưng trong vùng Cái Rắn còn giữ lại một gò đất cao, di tích ‘’Đồn Dừng Binh’’ của binh sĩ Gia Long. Cách gò này chừng 100M và cách rạch Cái Rắn 30M có một ‘’Ao Ngự’’ tròn rộng chừng 10M của binh sĩ đào lấy nước ngọt cho vua dùng. Ao Ngự có nước ngọt cho dân chúng của xóm Cái Rắn, Rạch Muỗi, Ông Trị dùng quanh năm. Do đó xã Cái Rắn còn gọi là xã Long Ẩn đổ ra sông Ông Đốc dùng làm đường cho Nguyễn Ánh chạy sang đảo Poulo Panjang mỗi lần bại trận.

Nhớ về Cà Mau, một miền thôn dã xa xôi, bát ngát trong rừng sát âm u, sông rạch chằng chịt như mạng nhện, thú rừng thì nhiều, nước thì đen nên người Miên gọi là vùng Tuk Khmau nghĩa là nước đen nên ta phiên âm thành Cà Mau. Cà mau còn là vùng đất thấp sình lầy, hàng ngày thủy triều đẩy nước biển trộn phù sa sông Cửu vào bồi đắp, tràn ngập cả một vùng rừng sát bao la tại vùng Cán Gáo, Cái Tàu, Trèm Trẹm, Tân Bằng … Nước lớn tràn vào khu 12 rừng cấm do Pháp phân ranh xưa kia, nước ròng kéo ra biển nào là lá khô, củi mục, nhựa tràm, cá tôm đủ thứ khiến cho nước điểm màu trà đậm mà thôn dân gọi là nước dớn. Chảy dưới lá rừng U Minh, nước dớn đổ sang màu đen, làm tăng thêm bức tranh tối sáng của U Minh, làm rợn da gà những ai lạc bước nơi đây. Vì vậy mới có địa danh U Minh để chỉ tranh tối, tranh sáng nơi rừng Cà Mau.

Từ trên máy bay nhìn xuống, tất cả sinh vật như chìm đắm dưới màu xanh, xanh của rừng tràm U Minh, rừng đước Tân Bằng, rừng mấm dưới chân giồng, xanh của biển nước đến tận chân trời. Lạc bước vào tấm thảm xanh đó, mới thấy được sức sống của người nông dân tiều phu đang ra công chế ngự khu rừng sát lớn nhất Việt Nam và cả Đông Nam Á nữa. Xưa kia rừng sát mọc gần tỉnh lỵ Cần Thơ, Long Xuyên, Bạc Liêu. Chỉ mới các đây hơn 100 năm, từ Long Xuyên đi Rạch Giá phải len lỏi trong sông rạch, giữa tàn cây âm u, khó khăn và cực nhọc đến nỗi bác nông dân phải than rằng:

Đường đi Rạch Giá thị quá sơn trường,

Gió lay bông sậy dạ buồn nhớ ai.

Ngày xưa, dọc theo dãy Trường Sơn, có những sơn trường để binh sĩ đóng chặn đường người Thượng xuống cướp phá đồng bằng. Đường lên sơn trường dốc núi cheo leo lại sống giữa cảnh núi rừng hoang vu thì hỏi buồn nào bằng cảnh ‘’Ba năm trấn thủ lưu đồn’’ chiều chiều vượn hót chim kêu mỏi’’ mà nhớ đến cái ‘’Chĩnh chọe’’ ở nhà, tơ tưởng đến cành đa, lá đa đầu làng thì hỏi có đứt ruột được không? Ấy vậy mà đường đi Rạch Giá còn buồn đứt ruột hơn là đường đi sơn trường, ngồi nhìn gió lay bông sậy còn ‘’trường tương tư’’ hơn là cảnh chim kêu vượn hót. Các cô gái khuê các nào như cành liễu rủ, như bông đào trước gió, như cành lan để chàng thư sinh ‘’thương em mong manh như một cành lan’’. Còn đối với bác nông dân nơi đây, phải là bông sậy lung linh với gió chiều, bông sậy ngậm hạt sương mai óng ánh trong bình minh mới gợi nhớ, gợi thương.

Rồi từ thế kỷ 18, nông dân Việt tràn xuống Hậu Giang, phá rừng tràm lập xóm làng, rẫy ruộng. Trước khi dẫn các bạn vào thăm rừng sát bắt con muỗi lớn bằng con gà mái mà nhậu chơi, tôi xin tả cảnh rừng Cà Mau trước đã. Hiện nay rừng Cà Mau rộng chừng 300 000 ha, có khoảng 80 sắc mộc chính mọc trên các loại đất cháy (hay đất hữu cơ), đất phèn, đất mặn. Các đất này được cấu tạo từ phù sa của biển, của sông trộn lẫn với các chất hữu cơ (cây, cỏ).

Rừng sát mọc lên như thế nào? Ở Cà Mau, rừng sát thường được phân biệt ra rừng mắm, rừng đước, rừng tràm, nếu đi từ chỗ bờ biển vào sâu trong đất liền:

Mắm trước, Đước sau, Tràm theo sát,

Sau hàng dừa nước mái nhà ai,

Lá chằm tỏa khói chiều biên tái.

Hàng ngày, thủy triều đẩy phù sa tạt vào bờ tràn sâu vào sông rạch, rồi thủy triều rút ra để lộ gần bên bờ biển, lớp bùn non cho cây mắm (Avicenia Officinalis) mọc lên hàng hàng, lớp lớp. Cây mắm có khả năng là rễ bám chặt được trong lớp bùn non ngập nước mặn. Nhờ vậy mắm tiến ra biển, mắm kết chặt bùn non lại cho cứng cáp, mắm đẩy đất bùn thoát dần khỏi mực nước thủy triều cao. Công việc của mắm là vậy, là làm cho đất cao và cứng lại để rồi nhường cái đất đã tốt này lại cho cây đước (Rhizophora Conjugata) đang lù lù đứng đàng sau để mọc lan dần trên rừng mắm. Chỉ chừng 20 năm sau, nếu ta trở lại thăm giang sơn cũ của mắm, chỉ thấy đước là đước, đước mọc thành rừng và lác đác đây đó còn vài cây mắm lẻ loi, dấu vết của rừng mắm xưa. Cây đước tiếp tục nhiệm vụ làm cho đất phèn đất mặn nơi đây được cứng cáp, nhô cao lên và đẩy xa ảnh hưởng của nước mặn ra vùng bờ biển của rừng mắm. Sau khi đã làm xong công tác này, đất đã cứng, bớt mặn, bớt phèn, thì cây tràm (Melaleuca Leucadendron) ở đàng sau rừng đước tràn tới. Nếu sống nơi đây, chúng ta sẽ chứng kiến cảnh người đến phá rừng tràm lập xóm làng, tràm xâm lấn rừng đước, đước chiếm đất của rừng mắm, mắm đẩy bờ biển lui xa dần. Và cứ như vậy, từ bao ngàn năm trước, bán đảo Cà Mau mở rộng dần lên biển cả.

Về mặt thực dụng, cây mắm thật là vô duyên nhất trong rừng sát. Cây thì mọc trên bùn lầy nước mặn, thân cành thì cong queo chẳng dùng cất chòi nhà gì được, củi đốt thì ôi thôi khói mù mịt làm cho mắt cô gái Cà Mau toét nhèm như mắt gái làng Lim bị toét mắt bởi tại hướng đình.

Nhưng rồi một buổi chiều nào đó, bạn gác mái chèo bên dòng sông Ông Đốc, cắm ghe trong rừng mắm chờ nước lên ra khơi với tiếng kêu của chim bìm bịp.

Bìm bịp kêu nước lớn em ơi,

Tảo tần chi lắm cái nồi cũng ra ơ.

Lúc đó bạn hãy ngắm nhìn cây mắm ‘’vô duyên’’ xấu xí đang lặn ngụp trong bãi bùn non, lặng lẽ vun xới, mở rộng đất đai cho Cà Mau. Rồi dăm ba câu vọng cổ từ xóm nhà đâu đấy chư cuộn lấy lá mắm, lấy cả rừng mắm đang âm thầm làm việc lót đường cho cây đước mọc cũng như bác nông dân đang phá rừng hoang dại cho ngày nào đó xóm làng, thành phố mọc lên. Nhớ đến mắm, mắm chấn bùn non sóng dữ cho đất bằng thôi nổi sóng, cho cây đước ngạo nghễ trên chùm rễ cà khêu mọc lên. Nhớ đến mắm mà lòng hổ thẹn vì lòng nhủ lòng chỉ muốn làm thân cây đước. Nhớ đến mắm mà lòng chân thành biết ơn ai kia làm thân cây mắm trên bước đường phục hồi tự do dân chủ cho Việt Nam

Lạp Chúc Nguyễn Huy