Văn nhân và THÙNG THƠ

Câu lạc bộ Văn Hóa Montreal

Giới thiệu văn nhân và văn vật của Montreal

Luân Hoán

Câu lạc bộ Văn Hóa Montreal sẽ giới thiệu hàng tuần :

1.    Sách văn hóa , bài viết của độc giả và hội viên CLB

2.    Mỗi sáng thứ bảy, các văn nhân và văn vật sống tại Montreal theo danh sách dưới đây.

Văn nhân. Văn hóa là linh hồn của một dân tộc do chính con người của dân tộc đó sáng tạo, con người đó được gọi là văn nhân (văn thi sĩ, nhạc sĩ, nhiếp ảnh gia, nhà biên khảo …).

 Văn vật 文 . Văn文 là vẻ đẹp, vật   chỉ người. Văn vật chỉ những người tài giỏi hoặc người bỏ công sức, thiện chí ra tô điểm Cộng Đồng người Việt tỵ nạn cộng sản tại Montreal. Những văn vật của Montreal, cũng giống như những văn vật xưa kia đã tô điểm Thăng Long (Thăng Long ngàn năm văn vật[1]), đã làm rạng danh người Việt tỵ nạn cộng sản tại Montreal.  

Câu lạc bộ Văn Hóa Montreal sẽ giới thiệu các văn nhân và văn vật sống tại Montreal theo danh sách dưới đây.

Văn/thi sĩ : Song Thao,  Luân Hoán, Trang Châu, Hoàng Xuân Sơn, Lưu Nguyễn, Hải Bình, Nguyễn Bá Dĩnh, Tôn Thất Tuệ,, Hoài Hương, Nguyễn Hữu Hiệp, Phương Hoài Nam, Lê Bạch Lựu, Võ Kỳ Điền, Hồ Đình Nghiêm,Tiểu Thu,Hải Phong, Kim Thúy, Sỏi Ngọc

Biên Khảo : Phạm Hoàng Hộ, Lê Hữu Mục, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Khắc Ngữ, Thái Công Tụng,  Lạp Chúc Nguyễn Huy, Nguyễn Văn Lục, Khiếu Đức Long, Nguyễn Kiến Thiết, Lâm Văn Bé, Lê Quốc, Thái Việt, Từ Uyên, Nguyễn Bá Hoa, Nguyễn Thanh Bạch, Cả Ngố họ Trịnh

Kết từ : Huy chương và giải thưởng của Trang Châu, Thái Công Tụng, Lê Quang Xuân. Lâm văn Bé, Nhiếp ảnh gia Lê Quang Xuân

văn vật Di chứng[2] trên đất Montreal :  Tượng đài Tưởng Niệm Tử Sĩ QLVNCH và TT Ngô Đình Diệm., Ngô Anh Võ, Trần Quốc Túy, Dương đình Huy&Cấn Thị Bích Ngọc,Tượng đài văn hóa Montreal

 Văn vật Quebec-Canada

 văn vật đại học

Raymond Lê văn Mão

Bùi Tiến Rũng

Lê Văn Ngàn

Trương Công Hiếu, Ngô Thanh Hải

 văn vật y khoa

Caroline Quách Thanh

Tăng An

Huy Ong

Cẩm-Tú Émilie Nguyễn

Trần Thái Hòa

Nguyễn Lương Tuyền

Luân Hoán

Trần thị Nguyệt Mai

Khi đến thăm Anh, vài điều đập ngay vào mắt :

-Thùng thơ trước cửa sơn cờ vàng ba sọc đỏ ,

-Bắt tay Anh mà biết rằng Anh đã để lại chiếc chân trái tại mặt trận Mộ Ðức, Quảng Ngải vào cuối năm 1969.

-Trong nhà là những chồng tác phẩm văn thơ “quá nhiều và quá hay” của Anh.

Tiểu sử

Nhà thơ Luân Hoán : Tên thật Lê Ngọc Châu, bút hiệu khác: Châu Hải Châu, Cự Hải, Lý Phước Ninh, Trần Gia Nam, Lê Bảo Hoàng, Hà Khánh Quân… Sinh ngày 10 tháng 1 năm 1941 tại thị xã Hội An, Quảng Nam. 

Tốt nghiệp khóa 24 Sĩ quan Trừ Bị Thủ Ðức, giải ngũ năm 1969,  Nghề tay phải: tham sự ngân hàng VNTT, Ðà Nẵng.

Sau 1975, sống nhiều tháng trong trại học tập cải tạo

Từ 02.02.1985, định cư Montreal theo chương trình O.D.P, 

Thành lập nhà xuất bản Nhân Ảnh tại Canada, 

Hiện Chủ biên Tạp chí Ngôn Ngữ tại Hoa Kỳ từ 2019.

Trang chủ website Vuông Chiếu từ ngày 19-3-1999 đến 02 tháng 8 năm 2024 

Tác phẩm trước 1975 thuộc văn hóa Sài Gòn

Về Trời, NXB Văn Học, Sài Gòn, 1964; Trôi Sông, NXB Văn Học, Sài Gòn, 1966; Chết Trong Lòng Người,NXB Ngưỡng Cửa, 1967; Viên Ðạn Cho Người Yêu Dấu,NXB Thơ, 1969, tái bản, 1995; Hòa Bình Ơi Hãy Ðến,1970;  Nén Hương Cho Bàn Chân Trái, 1970, với nhiều bạn văn; Thơ Tình (in cùng Khắc Minh), NXB Thơ, 1970; Ca Dao Tình Yêu, NXB Thơ, 1970; Lục Bát Ca (in cùng Khắc Minh), NXB Thơ, 1970; Rượu Hồng Ðã Rót (cùng Lê Vĩnh Thọ, nhạc Vĩnh Ðiện), NXB Thơ, 1974; tái bản, 1995.

Tác phẩm thơ văn nối dài văn hóa Sài Gòn tại Montreal

Thơ

Hơi Thở Việt Nam,NXB Sông Thu, Hoa Kỳ, 1986; Ngơ Ngác Cõi Người ,NXB Nhân Văn, Hoa Kỳ, 1989; Ðưa Nhau Về Ðến Ðâu, NXB Sông Thu, 1989; Cảm Ơn Ðất Ðá Trổ Thơ Lòng Ta Hạt Bụi Vu Vơ Bám Hoài, NXB Kinh Ðô, Hoa Kỳ, 1991; Mời Em Lên Ngựa, NXB Sông Thu, Hoa Kỳ, 1994; Nuôi Thơm Chùm Kỷ Niệm Xanh, NXB Thơ, Canada, 1995; Cỏ Hoa Gối Ðầu NXB Sóng Văn, Hoa Kỳ, 1997; Sông Núi Cùng Người Thơm Ngát Thơ, NXB Thơ, Canada, 2002); Ổ Tình Lận Lưng (600 trang, NXB Nhân Ảnh, 2007; Em Từ Lục Bát Bước Ra, trường ca, NXB Nhân Ảnh, 2008; Thanh Thi NXB Thư Ấn Quán, 2011; Thơ Thơm Từ Gốc Rễ Tình,NXB Nhân Ảnh, 2014; Khói Cuối Nguồn Hương,NXB Nhân Ảnh, 2016. 568 trang; Ngao Du Cùng Vũ Khí NXB Nhân Ảnh, 2016; Liên Hoa Thi,NXB Nhân Ảnh, 2019; Ba Hoa Huê Tình,NXB Nhân Ảnh, 2020; Tâm Chân Dung, NXB Nhân Ảnh 2021; Hương Ảo Cõi Hương, NXB Nhân Ảnh, 2021, 435 trang; Nhánh Tình Thời Chưa Mê Gái, NXB Nhân Ảnh, 2022; Tay Chạm Vai Gần, NXB Nhân Ảnh 2024; Nỗi Nhớ Nhà Từ Montréal, NXB Nhân Ảnh, 2024.

Văn

 Quá Khứ Trước Mặt (hồi ký), NXB Nhân Ảnh, 2006; Dựa Hơi Bè Bạn 1, NXB Nhân Ảnh, 2006; Dựa Hơi Bè Bạn 2, NXB Nhân Ảnh, 2007; Theo Gót Thơ 1, NXB Nhân Ảnh, 2010; Tác Giả Việt Nam (sưu tập, dùng bút danh Lê Bảo Hoàng) NXB Sóng Văn, Hoa Kỳ, 2005 (Nhân Ảnh tái bản 2006, 2017, 2020); Theo Gót Thơ 2 (dùng bút hiệu Hà Khánh Quân), NXB Nhân Ảnh, 2017; Đường Chữ Sau Lưng (hồi ký), NXB Nhân Ảnh, 2020.

Sách viết về Luân Hoán:

Chân Dung Thơ Luân Hoán (nhiều tác giả), NXB Kinh Ðô, Hoa Kỳ, 1991 : Luân Hoán, Một Ðời Thơ (nhiều tác giả), NXB Sông Thu, 2005; Đọc Nhịp Thở Luân Hoán (nhiều tác giả), NXB Nhân Ảnh, 2014; Gặp Luân Hoán Trong Đời Sống Thơ (nhiều tác giả), NXB Nhân Ảnh, 2022.

Thực hiện” Các Tuyển tập, Tác phẩm: Cùng Khánh Trường, Nguyễn Vy Khanh thực hiện bộ Văn Học Việt Nam Hải Ngoại 1975 – 2019 (gồm 7 cuốn). Cùng Lê Hân… thực hiện các tuyển tập: Thơ Việt Đầu Thế Kỷ 21 (thơ, 155 tác giả, 820 trang), NXB Nhân Ảnh, 2018; Tình Nghĩa Mẹ Cha (thơ, 167 tác giả, 532 trang), NXB Nhân Ảnh, 2020; Tình Thơ Mủa Thu, (118 tác giả, 624 trang) NXB Nhân Ảnh 2020; Tình Thơ Mùa Xuân (149 tác giả,614 trang) NXB Nhân Ảnh, 2022; Tình Thơ Quê Hương (133 tác giả 634 trang), NXB Nhân Ảnh, 2023, Tuyển tập Truyện Ngắn Chọn Lọc (75 tác giả, 608 trang) NXB Nhân Ảnh 2023[3].

Bút pháp

Bút pháp của anh vững vàng, nhuần nhuyễn, thong dong, xuôi suốt ở thế 7, 8 chữ mềm mại, nhẹ nhàng ở thể lục bát cô đọng, tự nhiên ở 5 chữ. Thơ của anh dồi dào hình ảnh, màu sắc với giọng giản dị đôn hậu, hay đưa tục ngữ vào thơ, đánh thức được xúc cảm của người đọc. 

Cảm nhận thơ Luân Hoán.

Thơ Luân Hoán viết về nhiều đề tài, nổi bật hơn cả là đất nước, chiến tranh, tuổi mới lớn, tình yêu và bằng hữu thân phận con người và tình yêu quê hương, đặc biệt là tình yêu đôi lứa. Và có một nỗi đớn đau bàng bạc đằng sau những dòng thơ về người lính, về chiến tranh ngày xưa và đời sống tha hương bây giờ.

Nhà thơ Ðỗ Qúy Toàn: thơ Luân Hoán là những khắc khoải, ưu tư của ông trong cuộc đời lưu cư … ông cảm thấy lạc lõng giữa cõi sống trắng đem vàng lẫn lộn, vội vã đời ngược xuôi.

Thái Tú Hạp:  Thơ của ông, ngay cả những bài thơ tình rất ít ỏi, luôn luôn là một tiếng thơ buồn, uất nghẹn, là những ấm ức, những phẩn nộ, những đắng cay và những kinh hoàng của một nhân chứng lịch sử đen tối nhất của thời đại 

Nhà thơ Phan Xuân Sinh: “Ta có cảm tưởng anh làm thơ dễ dàng như lấy đồ trong túi… anh đùa với thơ ở bất cứ hoàn cảnh nào.”

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Thơ: “Thơ anh không trau chuốt, gọt giũa nhưng lại đầy sức sống, truyền cho người xem nhiều rung cảm… Nhờ tính chất chân phương này nên thơ Luân Hoán mang rất nhiều nhạc tính (musicalité).”

  Hai mảnh quê hương   Mảnh quê hương được cộng sản gieo rắc là: -Thù hận, là “đập đá núi lấp cho đầy trí não, xây thành cao bằng ánh mắt căm hờn”  – Cơ cực, là ” một hạt cơm cõng mấy hạt bo bo, nước rau muống có làm em đỡ ngẹn, đời đang vui sao nét mặt buồn xo?”  – Nỗi đau đớn của một kẻ lạ mặt ngay trên chính xứ sở mình “giữa quê nhà sao nghe sao nghe quá bơ vơ?”  – Không còn bình an cho những người đã chết: …” mẹ có biết con về đào mã mẹ theo chủ trương, đúng chính sách đề ra, ruộng đất hẹp, đời đang cần hoa quả, hỡi qủi thần trả lại bãi tha ma …”  
    Mảnh quê hương của nỗi nhớ thương trong lòng Ông

Tập thơ Nỗi Nhớ Quê Nhà Từ Montreal là những trang hồi ký nỗi buồn đau của Luân Hoán và của cả những thân phận lưu đày như chúng tôi. Nhà thơ, trong cái nhớ da diết về quê nhà, không chỉ hồi tưởng về những địa danh thân thương mà còn soi chiếu vào chính tâm can mình, nhận ra sự mong manh của đời người và sự bền bỉ vô thủy vô chung của tình yêu quê hương, dù cách trở muôn trùng.

Nhớ gì về thơ của Ông?

Gần bảy mươi năm cầm bút, số lượng tác phẩm giá trị về cả nội dung lẫn nghệ thuật của Ông là một viên gạch thơ kéo dài nhất trong phần nối dài văn hóa Sài Gòn tại Montreal.

Nhớ đến Ông là nhớ đến những vần thơ quá hay như:

Cám ơn đất đá trổ thơ

Lòng ta hạt bụi bơ vơ bám hoài

Người tôi yêu ở tứ tung

Nhưng sao chẳng thấy một người yêu tôi.

” mỗi lần sắp sửa yêu ai
tự nhiên mặt mũi tóc tai lạ lùng
tưởng như có triệu vi trùng
ngo ngoe đòi được nhớ nhung với mình “
                     (Triệu Chứng – ÐNVÐÐ)

Một thời văn hóa Montreal

Vào thời gian 1980-1995, văn nghê Montral rất khởi sắc chỉ đứng sau Little Sài Gòn. Đỗ Quý Toàn, Trang Châu, Nguyễn Đông Ngạc, Hồ Đình Nguyên, Hoàng Xuân Sơn, Lưu Nguyễn, Bắc Phong, Luân Hoán … thường xuyên gặp nhau ăn nhậu, ra mắt sách thơ đều đều nhờ độc giả rất nhiệt tình, trí thức, lịch thiệp. Bài viết xuất hiện thường xuyên trên tạp chí văn nghệ Cali như Văn, Văn học, Hợp Lưu, Thế kỷ 21. Montreal đón tiếp nhiều văn nghệ sĩ phương xa như Du Tử Lê, Nguyễn Ngọc Ngạn, Kiệt Tấn.

Từ trái: Phan Ni Tấn, Hoàng Chiều Nhân, Song Thao, Trương Vũ, Võ Kỳ Điền, Hồ Đình Nghiêm, Luân Hoán. (Montréal, 11/2012)


[1] Văn文là vẻ đẹp, vật   chỉ người. Khi nói « Thăng Long ngàn năm  văn vật » ý muốn nói từ ngàn năm nay, Thăng Long là nơi tụ hội nhiều người tài giỏi vua quan, tao nhân mặc khách cũng như các nghệ sĩ điêu khắc cung điện … tô thắm cho non sông đất nước

[2]  Di 移 có nghĩa chuyển đi; chứng   : bằng cứ. Di chứng : bằng cư  chuyển đời này sang đới khác

[3] ghi chú: các tác giả trong nước và cư ngụ trên nhiều quốc gia góp mặt, sách in bìa cứng và bìa mềm, có trên thư viện Hoa Kỳ,




Vũ Hoàng Chương – Tố Hữu

Lạp Chúc Nguyễn Huy

Hôm nay 30-4-2026, CÂU LẠC BỘ VĂN HÓA Montrealgiới thiệu hai thi sĩ tiêu biểu của hai chế độ Nam-Bắc: Vũ Hoàng Chương – Tố Hữu

Vũ Hoàng Chương: Nàng thơ                               Tố Hữu: Chàng thơ

Hai thi nhân Vũ Hoàng Chương và Tố Hữu được “truyền khẩu” rất nhiều là  nhờ mỗi người có 2 câu thơ để đời về nàng thơ và chàng thơ nên được vinh danh là hai đệ nhất thi nhân của hai miền Nam Bắc.

Nàng thơ của Vũ Hoàng Chương.

“…Em ơi lửa tắt bình khô rượu
             Đời vắng em rồi say với ai”

Chàng thơ Stalin của Tố Hữu.

« Thương cha thương mẹ, thương chồng,

Thương mình thương một, thương ông (Stalin) thương mười

 Tố Hữu của miền Bắc XHCN đươc tôn vinh là “nhà thơ của cách mạng”, “nhà thơ của nhân dân”, “ngọn cờ chiến đấu của thơ ca cách mạng Việt Nam”, “người có công đầu xây dựng nền thơ ca cách mạng Việt Nam”, “nhà thơ của chủ nghĩa nhân văn cách mạng”. Ông từng là Ủy viên trung ương đảng lao động Việt Nam, Phó thủ tướng và giữ vai trò  người “đầu tầu” xây dựng văn hóa XHCN, cụ thể là Ông phụ trách về công tác văn hóa văn nghệ, tuyên truyền được coi là người kiên quyết đàn áp văn nghệ tự do của nhóm Nhân văn – Giai Phẩm.

Vũ Hoàng Chương ca tụng Nàng Thơ, còn Tố Hữu thì ca tụng Chàng Thơ thí dụ như chàng thơ Staline là vì trong văn hóa XHCN, nhà thơ“có nhiệm vụ nhất định, tức là phụng sự kháng chiến” nên trong thơ cũng phải có hương vị kháng chiến, có “chàng thơ (thép)” chứ không thể có “nàng thơ” ủy mị, trữ tình. Giới văn nghệ sĩ phải nghe lời chỉ đạo sáng tác của Hồ Chí Minh và Trường Chinh qua hai bài thơ mẫu dưới đây. 

Nay ở trong thơ nên có thép

Nhà thơ cũng phải biết xung phong.

(Hồ Chí Minh)

Là thi sĩ

Dùng bút làm đòn chuyển xoay chế độ

Mỗi vần thơ: bom đạn phá cường quyền.

(Trường Chinh)

Vũ Hoàng Chương của Việt Nam Cộng Hòa, được vinh danh là “Thi bá”, “Đệ nhất thi sĩ miền Nam tự do”. Năm 1959 ông đoạt Giải Văn học Nghệ thuật Toàn quốc của Việt Nam Cộng hòa với tập thơ Hoa đăng. Thời gian 1969-1973 Vũ Hoàng Chương là Chủ tịch Trung tâm Văn bút Việt Nam. Năm 1972 ông đoạt giải thưởng văn chương toàn quốc lần thứ hai.

Đụng độ giữa NÀNG THƠ và CHÀNG THƠ   

                 (tức    giữa văn hóa XHCN và văn hóa Sài Gòn)

Sau ngày 30/4/1975, những người văn nghệ sĩ Sài Gòn bị gọi đến Toà Đại Sứ Đại Hàn (đường Nguyễn Du) đăng ký tên tuổi, địa chỉ. Sau khi có danh sách đầy đủ của văn nghệ sĩ thì chiến dịch bắt bớ văn nghệ sĩ khởi sự từ đêm 2-4-1976 đến đêm 8-4-1976, rồi ngừng lại. Mãi đến 28-4 mới bắt thêm một số nữa đi tù dưới hình thức đi cải tạo[1]. Trong số các văn nghệ sĩ bị bắt giam thì có câu chuyện “chí dị” nổi bật nhất liên quan đến sự đối diện giữa “Đệ nhất thi sĩ miền Nam” Vũ Hoàng Chương và “Đệ nhất thi sĩ cách mạng của miền Bắc” Tố Hữu.

Khoảng đầu tháng 4 năm 1976, Thanh Nghị tổ chức ” Đêm Họp Mặt Văn Nghệ ” với sự tham dự của nhiều nhà thơ miền Bắc như Xuân Diệu, Huy Cận, Vũ Đình Liên, Hoài Thanh… Phía Sài Gòn có Vũ Hoàng Chương… được mời. Đề tài thảo luận là 2 câu thơ để đời của Tố Hữu :

« Thương cha thương mẹ, thương chồng,

Thương mình thương một, thương ông thương mười »

 Trong bài thơ « Khóc Stalin » chết năm 1953 dưới đây[2] :

Áo Ông trắng giữa mây hồng

Mắt Ông hiền hậu, miệng Ông mỉm cười

 …………………………..

Yêu biết mấy, nghe con tập nói,

Tiếng đầu lòng con gọi Stalin.

Ông Stalin ơi, ông Stalin ơi.

Hỡi ơi ông mất đất trời có không?

« Thương cha, thương mẹ, thương chồng,

Thương mình thương một, thương ông thương mười »

             Các nhà thơ miền Bắc như Thanh Nghị, Huy Cận, Vũ Đình Liên…lên phát biểu, xưng tụng thơ của“nhà thơ của cách mạng” Tố Hữu.  Để có tiếng nói của các nhà thơ miền Nam, Hoài Thanh đã tha thiết mời « Thi Bá » Vũ Hoàng Chương góp ý. Mặc dù từ chối nhiều lần, sau cùng với tư cách đại diện cho giới thi sĩ miền Nam Ông đã phát biểu để tỏ chí khí của thi sĩ miền Nam tự do: « Uy vũ bất năng khuất ».  

                 Dưới đây là lời phát biểu của Vũ Hoàng Chương (Theo tác giả Sông Lô) :
Thi nhân từ cảm xúc mỗi lúc tác động vào tâm cảnh của mình, để hồn trí phản ứng theo thất tình con người mà vận dụng thi tứ phổ diễn nên lời một tình tự nào đó, rồi đãi lọc thành thơ. Sự vận dụng càng xuất thần, việc phổ diễn càng khẩu chiếm, thơ càng có giá trị cao.
               Cảm xúc trước cái chết của một thần tượng được ‘đóng khung’ tự bao giờ trong tâm cảnh mình, Tố-Hữu đã xuất thần vận dụng nỗi u hoài, phổ diễn nên những lời thơ thật khẩu chiếm, rồi dùng những từ thật tầm thường, ít thi tính, đãi lọc nỗi u hoài của mình thành một tiếng nấc rất tự nhiên, đạt đến một mức độ điêu luyện cao. Lời thẩm định của Thanh-Nghị thật xác đáng, tôi chịu. Nhưng thơ không phải chỉ có thế. Xuất thần khẩu chiếm thuộc phạm vi kỹ thuật, dù đã có thi hứng phần nào, và nếu chỉ có thế thì thơ chỉ có khéo mà thôi, chưa gọi là đạt; tức chưa phải là hay. Thơ hay cần phải khéo như thế vừa phải đạt thật sự. Thi hứng nằm trong sự thực của tình tự phổ diễn nên lời. Tình tự mà không thực, lời thơ thành gượng ép. Vấn đề của thơ, nói cho đến nơi, là ở đây, có nghiã là thơ phải thực.

Tố-Hữu đặt tiếng khóc của chính mình vào miệng một bà mẹ Việtnam, muốn bà dùng mối u hoài của một nhà thơ để dạy con trẻ Việtnam yêu cụ Stalin thay cho mình. Cũng chẳng sao vì đó cũng là một kỹ thuật của thi ca; nhưng trước hết phải biết bà mẹ Việtnam có cùng tâm cảnh với mình không, có chung một mối cảm xúc hay không?
Tôi biết chắc là không. Bởi trong đoạn trên của hai câu lục bát này trong bài ‘Đời đời nhớ Ông’ Tố-Hữu đã đặt vào lời bà mẹ hai câu:

” Yêu biết mấy nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng con gọi Stalin “

             Chắc chắn là không có một bà mẹ Việtnam nào, kể cả Bà Tố-Hữu, mà thốt được những lời như vậy một cách chân thành. Cái không thực của hai câu này dẫn tới cái không thực hai câu sau ta đang mổ xẻ.

          Một tình tự không chân thực, dù đươc luồn vào những lời thơ xuất thần, khẩu chiếm đến đâu cũng không phải là thơ đẹp, thơ hay, mà chỉ là thơ khéo làm; đó chỉ là thơ thợ chứ không phải là thơ tiên. Loại thơ khéo này người thợ thơ nào lành nghề cũng quen làm, chẳng phải công phu lắm. Nhất là nếu có đòi hỏi một tuyên truyền nào đó. Tố-Hữu nếu khóc lấy, có lẽ là khóc thực, khóc một mình. Nhưng bà mẹ Việtnam trong bài đã khóc tiếng khóc tuyên truyền, không mấy truyền cảm ».

              Cũng theo tác giả Sông Lô, qua sự phân tích và lý giải của Vũ Hoàng Chương, khán thính gỉa miền Bắc bàn luận rất sôi nổi. Có người muốn phản bác lập luận của Ông, nhưng thấy không có chỗ hở, họ bèn đề nghị Vũ Hoàng Chương nói về ” Thi ca ” mong có kẽ hở để phê bình bắt bẻ, Ông đã diễn đạt như sau : “Thơ vốn là mộng, là tưởng tượng, là tách rời thực tế, nhưng mộng trên những tình tự thực. Không chấp nhận loại thơ tình tự hoang. Có khoa học giả tưởng, không có thơ giả tưởng. Nói thơ là nói đến thế giới huyễn tưởng, huyễn tưởng trên sự thực để thăng hoa sự thực, chứ không bất chấp, không chối bỏ sự thực. Nhà thơ không được láo; nhà thơ phải thực nhưng thoát sáo sự thực thành mộng để đưa hồn tính người yêu thơ vươn lên sự thực muôn đời đạt đến chân lý cuộc sống. Thiên chức thi ca là ở chỗ đấy ».

 [“Tôi xin nhắc ; sự thực muôn đời là cơ sở duy nhất của thi ca; vì có sự thực cho riêng một người, có sự thực cho riêng một thời, nhưng vẫn có sự thực cho muôn đời, sự thực bao quát không gian, thời gian, chân lý cuộc sống »].

Tiếng hót thiên nga

Trong văn chương, tiếng hót thiên nga sắp chết (Le chant du cygne mourant ) ẩn dụ tác phẩm cuối cùng của văn nghệ sĩ sắp lìa sân khấu hay sắp lìa đời.

Thiên nga Vũ Hoàng Chương

Mấy ngày sau ” Đêm Họp Mặt Văn Nghệ “, nàng thơ miền Nam tự do của Vũ Hoàng Chương bị chàng thơ của Tố Hữu miền Bắc XHCN đưa vào tù khám lớn Chí Hoà. Bệnh nặng, đưa về nhà được 5 ngày thì “nàng thơ” mất ngày 6 tháng 9 năm 1976 tại Sài Gòn.

 Nhưng « đã là thi sĩ », với tâm Liêm sỉ và tính Khí phách« Uy vũ bất năng khuất” của một « Thi bá » đại diên cho giới thi sĩ miền Nam tự do nên Ông nên tiếng hót thiên nga của Vũ Hoàng Chương trong Khám Chí Hòa vào năm 1976:

Thấm thoắt vào đây tháng đã tròn,

Lông hồng gieo xuống nhẹ như non.

Một manh chiếu nát, thân tơi tả,

Nửa bát cơm hôi, xác mỏi mòn.

Ngày đến bữa ăn thường nhớ vợ,

Đêm về giấc ngủ lại thương con.

Dẫu bao nước chảy qua cầu nữa,

Hồ dễ gì phai được tấc son!

Thiên nga Tố Hữu

Sau sự sụp đổ của Liên Xô tiếp theo là “Chàng thơ Stalin” bị lên án khắp Đông Âu nên trước khi mất ngày 9 tháng 12 năm 2002, Tố Hữu để lại “Chant du cygne”  xót xa sau khi nhìn thấy tượng “Chàng thơ Stalin” bị kéo sập đổ khắp Đông Âu.

Cả đàn sói chồm lên,

cắn vào lịch sử

Cào chiến công,

xé cả xác anh hùng.

Ôi! Nỗi đau này là nỗi đau chung

Lương tâm hỡi, lẽ nào ta tự sát”.

Xin tạm biệt đời yêu quý nhất

Còn mấy vần thơ, một nắm tro

Thơ gửi bạn đường, tro bón đất

Sống là cho và chết cũng là cho[3].

Xin tạm biệt đời yêu quý nhất

Còn mấy vần thơ, một nắm tro

Thơ gửi bạn đường, tro bón đất

Sống là cho và chết cũng là cho.

Lạp Chúc Nguyễn Huy


[1] Chết trong tù như thi sĩ Vũ Hoàng Chương, nhà văn Nguyễn Mạnh Côn; bị tù như nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, văn sĩ Dương Nghiễm Mậu, Duyên Anh…  

[2] Đời đời nhớ Ông: Bữa trước mẹ cho con xem ảnh/Ông Stalin bên cạnh nhi đồng/Áo Ông trắng giữa mây hồng/Mắt Ông hiền hậu, miệng Ông mỉm cười/Stalin! Stalin!/Yêu biết mấy, nghe con tập nói/Tiếng đầu lòng con gọi Stalin!/Hôm qua loa gọi ngoài đồng/Tiếng loa xé ruột xé lòng biết bao/Làng trên xóm dưới xôn xao/Làm sao, Ông đã…làm sao, mất rồi!/Ông Stalin ơi, Ông Stalin ơi!/Hỡi ơi, Ông mất! Đất trời còn không?/Thương cha, thương mẹ, thương chồng/Thương mình thương một, thương Ông thương mười!

[3] Người đời sau thêm dấu sắc vào chữ cho




VTLV: TRANG ĐẶC BIỆT CHÀO MỪNG GS NGUYỄN HUY LẠP CHÚC Đến Với Thi Văn Đàn VTLV

Tóm tắt tiểu sử:

Tên và bút hiệu: Lạp Chúc Nguyễn Huy.

*Trước năm 1975, giảng dạy tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn.

*Sau 1975, làm việc khảo cứu tại Département d’anthropologie de l’Université Laval, Québec, CANADA

*Hiện là cố vấn văn hóa cho cô Sỏi Ngọc, quản lý CLB Văn Hóa Montreal, CANADA

***

**

**

VTLV CHÀO MỪNG GIÁO SƯ LẠP CHÚC NGUYỄN HUY

(Bát vận đồng âm)

VĂN THƠ chào đón khách – thơ quà

LẠC VIỆT vào hè lại nở hoa

LẠP CHÚC danh ngời nơi xứ lạ

NGUYỄN HUY tiếng rạng thuở quê nhà

CÀ MAU lịch sử ly kỳ quá!

RỪNG MẮM cội nguồn thú vị nha!

Mời hết Thi Đàn vui xướng họa

Giáo Sư mừng đón tặng thơ quà.

Phương Hoa – VTLV

*

Thầy mang thơ đến thân trao quà

Cả một Diễn Đàn nở vạn hoa

LẠC VIỆT vươn xa tươi tám hướng

VĂN THƠ  mở rộng đẹp muôn nhà 

Giáo sư LẠP CHÚC tôn nghiêm quá

Mặc Khách Tao Nhân ngưỡng mộ nha

Hương sắc Cao Đài Chân Thiện Mỹ 

Giai chương Nam Bộ quý trân quà.     

Hawthorne. 8 – 2026

CAO MỴ NHÂN 

**

*
Kính họa bài thơ – một món quà

Chào thầy LẠP CHÚC đến vườn hoa

VĂN THƠ khởi sắc bừng tươi ngõ

LẠC VIỆT thêm hương tỏa ngát nhà

Lưỡng quốc Giáo Sư tài trí quá

Cà Mau, Biên khảo tuyệt vời nha

Tâm tình xin gói vào trang giấy

Biếu khách tao nhân, gọi chút quà

*
Quang Hà, 5/7/2026

********

BÀI VIẾT

Đất nước tôi từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau. Ngày nhỏ mẹ ru tôi ngủ:

Con cò bay lả bay la,

Bay qua Đồng Phố bay về Đồng Đăng,

Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa,

Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh

… chìm trong giấc ngủ thơ ngây mà nào có biết mẹ tôi nói đến ải Nam Quan có phố Kỳ Lừa, có nàng Tô Thị. Lúc khôn lớn, thầy giáo mới dạy ải Nam Quan là cửa ải Hoa Việt ở tỉnh Lạng Sơn, có Nguyễn Trãi từ biệt cha vè giúp Lê Lợi phục quốc, có Thoát Hoan, Tôn Sĩ Nghị không còn manh giáp chạy trốn về Tầu, còn Cà Mau thì thầy tôi chỉ nói đến nào là rừng Sát âm u, muỗi độc kêu như sáo thổi, cọp um bên vách lá …

Mảnh đất Cà Mau chỉ mới sát nhập vào Việt Nam hồi thế kỷ 17. Cà Mau là địa bàn của Nguyễn Ánh mưu phục lại cơ đồ. Đã bao lần đại bại phải bỏ lại vợ con, binh sĩ chạy trốn qua đảo Phú Quốc, Poulo Panjang, lưu lạc bên Thái Lan. Nguyễn Ánh với một ý chí sắt đá trở lại Cà Mau, tập họp binh sĩ, đánh chiếm Gia Định rồi thống nhất đất nước năm 1802. Trang sử Gia Long phục quốc hiện nay còn ghi lại vết tích tại Cà Mau. Bạn nào quê quán nới đây chắc còn nhớ xã Khánh An ở vùng Cái Tàu có nền Công Chúa trên một gò đất cao, đó là mộ xưa của một công chúa tử nạn trong thời kỳ Nguyễn Ánh phục quốc. Còn ở xã Tân Hưng trong vùng Cái Rắn còn giữ lại một gò đất cao, di tích ‘’Đồn Dừng Binh’’ của binh sĩ Gia Long. Cách gò này chừng 100M và cách rạch Cái Rắn 30M có một ‘’Ao Ngự’’ tròn rộng chừng 10M của binh sĩ đào lấy nước ngọt cho vua dùng. Ao Ngự có nước ngọt cho dân chúng của xóm Cái Rắn, Rạch Muỗi, Ông Trị dùng quanh năm. Do đó xã Cái Rắn còn gọi là xã Long Ẩn đổ ra sông Ông Đốc dùng làm đường cho Nguyễn Ánh chạy sang đảo Poulo Panjang mỗi lần bại trận.

Nhớ về Cà Mau, một miền thôn dã xa xôi, bát ngát trong rừng sát âm u, sông rạch chằng chịt như mạng nhện, thú rừng thì nhiều, nước thì đen nên người Miên gọi là vùng Tuk Khmau nghĩa là nước đen nên ta phiên âm thành Cà Mau. Cà mau còn là vùng đất thấp sình lầy, hàng ngày thủy triều đẩy nước biển trộn phù sa sông Cửu vào bồi đắp, tràn ngập cả một vùng rừng sát bao la tại vùng Cán Gáo, Cái Tàu, Trèm Trẹm, Tân Bằng … Nước lớn tràn vào khu 12 rừng cấm do Pháp phân ranh xưa kia, nước ròng kéo ra biển nào là lá khô, củi mục, nhựa tràm, cá tôm đủ thứ khiến cho nước điểm màu trà đậm mà thôn dân gọi là nước dớn. Chảy dưới lá rừng U Minh, nước dớn đổ sang màu đen, làm tăng thêm bức tranh tối sáng của U Minh, làm rợn da gà những ai lạc bước nơi đây. Vì vậy mới có địa danh U Minh để chỉ tranh tối, tranh sáng nơi rừng Cà Mau.

Từ trên máy bay nhìn xuống, tất cả sinh vật như chìm đắm dưới màu xanh, xanh của rừng tràm U Minh, rừng đước Tân Bằng, rừng mấm dưới chân giồng, xanh của biển nước đến tận chân trời. Lạc bước vào tấm thảm xanh đó, mới thấy được sức sống của người nông dân tiều phu đang ra công chế ngự khu rừng sát lớn nhất Việt Nam và cả Đông Nam Á nữa. Xưa kia rừng sát mọc gần tỉnh lỵ Cần Thơ, Long Xuyên, Bạc Liêu. Chỉ mới các đây hơn 100 năm, từ Long Xuyên đi Rạch Giá phải len lỏi trong sông rạch, giữa tàn cây âm u, khó khăn và cực nhọc đến nỗi bác nông dân phải than rằng:

Đường đi Rạch Giá thị quá sơn trường,

Gió lay bông sậy dạ buồn nhớ ai.

Ngày xưa, dọc theo dãy Trường Sơn, có những sơn trường để binh sĩ đóng chặn đường người Thượng xuống cướp phá đồng bằng. Đường lên sơn trường dốc núi cheo leo lại sống giữa cảnh núi rừng hoang vu thì hỏi buồn nào bằng cảnh ‘’Ba năm trấn thủ lưu đồn’’ chiều chiều vượn hót chim kêu mỏi’’ mà nhớ đến cái ‘’Chĩnh chọe’’ ở nhà, tơ tưởng đến cành đa, lá đa đầu làng thì hỏi có đứt ruột được không? Ấy vậy mà đường đi Rạch Giá còn buồn đứt ruột hơn là đường đi sơn trường, ngồi nhìn gió lay bông sậy còn ‘’trường tương tư’’ hơn là cảnh chim kêu vượn hót. Các cô gái khuê các nào như cành liễu rủ, như bông đào trước gió, như cành lan để chàng thư sinh ‘’thương em mong manh như một cành lan’’. Còn đối với bác nông dân nơi đây, phải là bông sậy lung linh với gió chiều, bông sậy ngậm hạt sương mai óng ánh trong bình minh mới gợi nhớ, gợi thương.

Rồi từ thế kỷ 18, nông dân Việt tràn xuống Hậu Giang, phá rừng tràm lập xóm làng, rẫy ruộng. Trước khi dẫn các bạn vào thăm rừng sát bắt con muỗi lớn bằng con gà mái mà nhậu chơi, tôi xin tả cảnh rừng Cà Mau trước đã. Hiện nay rừng Cà Mau rộng chừng 300 000 ha, có khoảng 80 sắc mộc chính mọc trên các loại đất cháy (hay đất hữu cơ), đất phèn, đất mặn. Các đất này được cấu tạo từ phù sa của biển, của sông trộn lẫn với các chất hữu cơ (cây, cỏ).

Rừng sát mọc lên như thế nào? Ở Cà Mau, rừng sát thường được phân biệt ra rừng mắm, rừng đước, rừng tràm, nếu đi từ chỗ bờ biển vào sâu trong đất liền:

Mắm trước, Đước sau, Tràm theo sát,

Sau hàng dừa nước mái nhà ai,

Lá chằm tỏa khói chiều biên tái.

Hàng ngày, thủy triều đẩy phù sa tạt vào bờ tràn sâu vào sông rạch, rồi thủy triều rút ra để lộ gần bên bờ biển, lớp bùn non cho cây mắm (Avicenia Officinalis) mọc lên hàng hàng, lớp lớp. Cây mắm có khả năng là rễ bám chặt được trong lớp bùn non ngập nước mặn. Nhờ vậy mắm tiến ra biển, mắm kết chặt bùn non lại cho cứng cáp, mắm đẩy đất bùn thoát dần khỏi mực nước thủy triều cao. Công việc của mắm là vậy, là làm cho đất cao và cứng lại để rồi nhường cái đất đã tốt này lại cho cây đước (Rhizophora Conjugata) đang lù lù đứng đàng sau để mọc lan dần trên rừng mắm. Chỉ chừng 20 năm sau, nếu ta trở lại thăm giang sơn cũ của mắm, chỉ thấy đước là đước, đước mọc thành rừng và lác đác đây đó còn vài cây mắm lẻ loi, dấu vết của rừng mắm xưa. Cây đước tiếp tục nhiệm vụ làm cho đất phèn đất mặn nơi đây được cứng cáp, nhô cao lên và đẩy xa ảnh hưởng của nước mặn ra vùng bờ biển của rừng mắm. Sau khi đã làm xong công tác này, đất đã cứng, bớt mặn, bớt phèn, thì cây tràm (Melaleuca Leucadendron) ở đàng sau rừng đước tràn tới. Nếu sống nơi đây, chúng ta sẽ chứng kiến cảnh người đến phá rừng tràm lập xóm làng, tràm xâm lấn rừng đước, đước chiếm đất của rừng mắm, mắm đẩy bờ biển lui xa dần. Và cứ như vậy, từ bao ngàn năm trước, bán đảo Cà Mau mở rộng dần lên biển cả.

Về mặt thực dụng, cây mắm thật là vô duyên nhất trong rừng sát. Cây thì mọc trên bùn lầy nước mặn, thân cành thì cong queo chẳng dùng cất chòi nhà gì được, củi đốt thì ôi thôi khói mù mịt làm cho mắt cô gái Cà Mau toét nhèm như mắt gái làng Lim bị toét mắt bởi tại hướng đình.

Nhưng rồi một buổi chiều nào đó, bạn gác mái chèo bên dòng sông Ông Đốc, cắm ghe trong rừng mắm chờ nước lên ra khơi với tiếng kêu của chim bìm bịp.

Bìm bịp kêu nước lớn em ơi,

Tảo tần chi lắm cái nồi cũng ra ơ.

Lúc đó bạn hãy ngắm nhìn cây mắm ‘’vô duyên’’ xấu xí đang lặn ngụp trong bãi bùn non, lặng lẽ vun xới, mở rộng đất đai cho Cà Mau. Rồi dăm ba câu vọng cổ từ xóm nhà đâu đấy chư cuộn lấy lá mắm, lấy cả rừng mắm đang âm thầm làm việc lót đường cho cây đước mọc cũng như bác nông dân đang phá rừng hoang dại cho ngày nào đó xóm làng, thành phố mọc lên. Nhớ đến mắm, mắm chấn bùn non sóng dữ cho đất bằng thôi nổi sóng, cho cây đước ngạo nghễ trên chùm rễ cà khêu mọc lên. Nhớ đến mắm mà lòng hổ thẹn vì lòng nhủ lòng chỉ muốn làm thân cây đước. Nhớ đến mắm mà lòng chân thành biết ơn ai kia làm thân cây mắm trên bước đường phục hồi tự do dân chủ cho Việt Nam

Lạp Chúc Nguyễn Huy