Thư Sinh : NỬA THẾ KỶ VIỆT NAM: CUỐN SÁCH CỦA ANH EM H.O. VÀ TÙ CẢI TẠO

NỬA THẾ KỶ VIỆT NAM: CUỐN SÁCH CỦA ANH EM H.O. VÀ TÙ CẢI TẠO

* Thư Sinh

Tôi quen biết với ông Song Nhị, qua thơ.
Số là, vào năm 1995, một anh bạn tặng tôi cuốn tuyển tập thơ Gởi Người Dưới Trăng, trong đó có hai bài thơ tù đầy ấn tượng của ông. Nhất là bài Tôi Đi Giữa Đoàn Tù Vác Đá, viết tại trại tù Lam Sơn Thanh Hóa.
Nội dung bài thơ tả cảnh đoàn tù đi vác đá về xây xà lim để nhốt chính mình. Tôi cũng từng trải qua cảnh ấy, hồi  bị nhốt ở trại tù Phước Long. Thay vì đi vác đá, chúng tôi đi chặt cây rừng về dựng trại tù. Do đó, bài thơ đã tạo được sự đồng cảm giữa tôi và ông Song Nhi. Tôi giữ lại trong ký ức hai câu thơ:
Tôi đi dưới bóng thời nô lệ,
Ngọn núi đè lên cả kiếp người.
và nảy ra ý định muốn gặp tác giả hai câu thơ ấy. Không ngờ, cơ duyên hội ngộ đã đến rất nhanh, khi tôi được ông anh họ rủ lại nhà tham dự một buổi họp mặt với các đồng môn Đại Học Vạn Hạnh. Qua điện thoại, ông anh tôi bảo: Sẽ giới thiệu cho tôi một tay sính văn chương, và từng trải một cuộc vượt tuyến vào miền Nam, khác hẳn với đám Bắc kỳ di cư 54 chúng mình. Khi tôi đến, thì té ra người tôi được giới thiệu, lại chính là Song Nhị!
Từ mối quen biết này, ông có rủ rê tôi vào ban biên tập nguyệt san Cội Nguồn. Tôi từ chối. Vì nghĩ cái thứ văn chương mì ăn liền của mình không thể nào so sánh với… văn chương thứ thiệt của ông. Tuy vậy, tôi vẫn theo dõi sinh hoạt nhóm Cội Nguồn qua trang văn học nghệ thuật mỗi tuần trên nhật báo Việt Nam Thời Báo và tạp chí Nguồn. Và tôi thấy, nhóm Cội Nguồn vẫn kiên trì theo đuổi tôn chỉ mà nhóm đã đề ra, kể từ khi thành lập.
Riêng Song Nhị, hình như trong suốt những năm tháng dính dáng tới văn chương chữ nghĩa, ông thiên về Thơ nhiều hơn Văn. Ngay cả cuốn bút luận, viết chung với ông Diên Nghị, mang tên Lưu Dân Thi Thoại – thì chung cục, cũng dính dáng đến Thơ.
Và mãi cho đến hôm nay, chúng ta mới đón nhận tập bút ký tự truyện Nửa Thế Kỷ Việt Nam.
Cuốn sách này được phát hành đúng lúc tờ nhật báo Người Việt dưới Nam Cali mở ra mục HO, kỷ niệm 20 Năm Hội Nhập. Sơ khởi, đã có khoảng 15 bài viết liên quan đến chủ đề này. Mà tác giả, hầu hết là những anh em H.O., và vợ con họ. Trong số những bài viết ấy, tôi để ý đến bài viết của cô Niệm Huyên, con gái  một anh HO. Cô đã viết như thế này:
Tôi nghĩ lịch sử đã vô hình chung đặt lên vai mỗi người HO, và những người có trải nghiệm sống về họ, sứ mệnh phải biên tập lại những trải nghiệm ấy, không phải để cho chính dân tộc mình, mà còn cả cho thế giới làm sử liệu về sau.
Tôi nghĩ, cuốn sách Nửa Thế Kỷ Việt Nam đã đáp ứng được nỗi mong muốn đó.
Trước hết, xin nói đến cái tựa cuốn sách. Nửa Thế Kỷ Việt Nam chắc chắn phải là một nửa thế kỷ chót của thiên niên kỷ trước, bắt đầu từ năm 1950. Có thể, ông Song Nhị trải nghiệm đời mình lâu hơn thế nữa. Vì nơi trang 8 trong phần lời tựa, ông đã viết:
Mười lăm năm tuổi thơ tôi trên mảnh đất xóm làng chôn nhau cắt rốn. Mười chín năm ly tổ xa quê, sau khi thoát khỏi vòng tai họa, sống trên phần đất tự do. Bốn năm ở Lào, mười lăm năm giữa Saigon hoa lệ của miền Nam cho tôi một phần đời thành đạt, mộng đầy hăm hở mai sau.
Và đấy chỉ là một khúc nhạc dạo đầu cho một cuộc đời gian truân sau này. Nên cái con số 50 năm, quá dài cho một đời người. Nhất là những năm tháng đi tù cải tạo. Các cụ ta đã bảo, nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại. Song Nhị đã đếm từng ngày trong tù. Tổng cộng ba ngàn ngày! Mọi sự kiện được ghi chép lại một cách thật trung thực qua hai thể văn bút ký và tự truyện. Đó là hình ảnh chung của những người tù cải tạo. Nên khi đọc xong cuốn sách này, nhà báo Thanh Thương Hoàng, đã rất xúc động, và đưa ra những nhận xét như sau:
 "Đọc hết cuốn bút ký tự truyện Nửa Thế Kỷ Việt Nam của Song Nhị dày trên 460 trang, khi xếp lại, thú thật, tôi đã buồn càng buồn thêm, đã đau càng đau thêm. Tôi thấy bạn bè tôi (và cả thế hệ tôi) hiển hiện trong cuốn sách. Chẳng biết chúng tôi có sinh nhầm thế kỷ không, nhưng điều chắc chắn chúng tôi bị đánh mất tuổi trẻ, đã bị cuốn hút vào trận bão thời đại, và nhận lãnh những thua thiệt, bất hạnh về phía mình. Và có thể nói, cả thế hệ chúng tôi mộng vỡ tan tành. Nỗi đau này không phải chỉ riêng Song Nhị, mà là tất cả chúng ta – những người sống sót trong cuộc chiến, và sau đó trong tù đày ".
Riêng Song Nhị, ông còn lãnh thêm một đoạn đường đời cũng gian nan cực khổ không kém những năm tháng trong tù. Đó là thời kỳ xảy ra chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất (vào giữa thập niên 50) tại miền Bắc. Mà chính ông và gia đình là nạn nhân. Tất cả đều được ghi lại qua những chương I, II, II và IV. Qua mấy chương này, có những đoạn văn đã làm cho người đọc xúc động đến rơi nước mắt.
Như trang 53, chẳng hạn:
Chiều ba mươi Tết, mẹ tôi ngồi khuất sau một tấm phên rách nát, vừa lượm về che lên cho đỡ lạnh, đôi mắt quầng thâm, mặt vẫn chưa hết những vết gai bưởi, vết bầm sau hai tháng bị bắt giam và bẩy đêm bị hành hạ giữa đám đấu trường cuộc đấu tố… . Nước mắt bà ràn rụa, bà đưa hai tay kéo từng anh chị em chúng tôi chụm đầu vào lòng như con gà mẹ xòe cánh ủ  những con gà con. (trang 53)
Ta hãy tưởng tượng ra hình ảnh một người phụ nữ chân yếu tay mềm, bị trói thúc ké treo lơ lửng trên cành cây, bị kim gút và gai bưởi đâm nát mặt đến bất tỉnh (trang 36, 37), nhưng vẫn cố sống để bảo vệ đàn con bảy đứa, thì mới thấy sức chịu đựng của người Mẹ tác giả thật đáng phục.
Thế mới biết, muôn đời, dù ở vào hoàn cảnh nào, người Mẹ Việt Nam vẫn là hình ảnh thân cò lặn lội, chỉ biết hi sinh bản thân mình cho chồng con. Sự hi sinh bao la ấy đã được tác giả ghi nhận qua một mục đặc biệt mang tên: Mẹ Tôi.
Có điều, trong cảnh cả gia đình bị gạt ra ngoài lề xã hội trong cảnh cùng quẫn, đời sống tận cùng thê thảm đến thế – khi hồi tưởng lại, tác giả vẫn để cho ngòi bút mình tuôn chảy một cách nhẹ nhàng thanh thản. Từ đó, người đọc có thể cảm nhận được, một nét nào đó hết sức khiêm tốn và nhân bản trong cái tôi của ông bàng bạc trong hầu hết 16 chương sách.
Vì khi tự kể lại đời mình, ông đã cho rằng, sự mất mát của một đời người, nào có thấm tháp gì so với sự mất mát của cả một dân tộc (trang 21).
Sau cuộc đấu tố kinh hoàng, trừ người anh cả còn kẹt lại, cả gia đình may mắn trốn thoát được sang Lào, trong một cuộc vượt tuyến đầy gian nan vất vả kéo dài cả tháng trời. Để rồi 4 năm sau (1960), ông mới trở về miền Nam Tự Do làm lại cuộc đời, đem hết nhiệt huyết tuổi trẻ phục vụ đất nước. Nên ở chương 5 này, ông đặt tên là Ngày Bắt Đầu Cuộc Đời.
Nhưng giai đoạn hào hứng này chỉ kéo dài vỏn vẹn 15 năm. Từ chương 6 trở đi, miền Nam đã bị chìm đắm trong Cơn Lũ Nghịch Thường. Cửa địa ngục đã mở, lùa tất cả các sĩ quan viên chức chính quyền Việt Nam Cộng Hòa vào trong những trại học tập cải tạo. Trải qua 3 ngàn ngày trong các trại tù khổ sai từ Nam ra Bắc, ông đã chứng kiến và tham dự vào nhiều cảnh huống đặc biệt khác thường xảy ra trong những trại tù này. Tất cả, đều được ghi lại một cách trung thực và tỉ mỉ, từ chương 6 đến chương 11. Trong đó, phải kể đến cuộc nổi dậy kéo dài 3 ngày tại trại tù Lam Sơn (Thanh Hóa), vào năm 1979. Và tác giả đã phải trả giá bằng 6 tháng kiên giam.
Nói chung, theo tác giả, tinh thần anh em tù cải tạo rất cao. Ngoại trừ một thiểu số đem thân làm tôi tớ cho đám cai tù để đổi lấy một chút vật chất trội thừa, hoặc cái ảo tưởng được thoát chốn lao tù trước những người cùng cảnh ngộ. (trang 151).
Chính những tay ăng ten này đã làm điêu đứng những bạn đồng tù, mà trong nhiều trường hợp còn hắc ám hơn cả cai tù quản giáo. Chỉ cần một lời báo cáo từ mấy tên ăng ten hay những đội trưởng thi đua, là người tù sẽ phải khốn đốn với những hình phạt: giảm khẩu phần ăn, nhốt kiên giam. Thậm chí có nhiều trường hợp, người tù bị chết thảm bởi  đòn thù.
Trong đám ấy, phải kể đến Bùi Đình Thi. Dù không sống chung một trại, nhưng tác giả Song Nhị cũng đã dành nguyên cả một chương 8 để nói về tay ăng ten khét tiếng, đã từng được linh mục Nguyễn Hữu Lễ kể lại trong cuốn hồi ký Tôi Phải Sống.
Bản án dành cho anh ta, như một chiêm nghiệm về Nhân Duyên Nghiệp Quả, đã đành. Nhưng còn vợ con anh ta ? . Qua cách diễn tả ở trong chương sách này, chúng ta tìm được nơi tấm lòng đôn hậu của ông, một sự cảm thông sâu xa với người vợ Bùi Đình Thi. Và theo tác giả tâm sự ở trang 118, chính vụ án Bùi Đình Thi, với những hệ quả của nó – đã làm cho ông hoàn tất sớm hơn dự liệu, cuốn bút ký tự truyện Nửa Thế Kỷ Việt Nam. Ông viết:
Vừa qua, nhân vụ Bùi Đình Thi làm xúc tác, tôi mới có hứng khởi tiếp tục hoàn thành bản thảo. Tôi viết như một trao gởi đến những ai – hôm nay và mai sau – muốn biết về một thời chiến tranh chia cắt, hận thù, tù đầy, tan tác chia ly… mà cả thế hệ chúng ta là người trong cuộc.
Như vậy, cái thông điệp mà ông gởi gấm qua cuốn sách này, đã rõ. Mà nếu đã rõ như thế, thì cái tôi đáng ghét qua dạng tự truyện, và những sự thật rất dễ làm người khác mất lòng qua dạng bút ký – đã không còn là những vấn đề làm cho tác giả băn khoăn lưỡng lự, như ông đã thố lộ ở ngay những giòng chữ đầu tiên, nơi phần " Thay lời tựa " cuốn sách này.
Có khối những cuốn hồi ký tự truyện được viết bởi các ông lớn, chưa chắc đã thành thật và trung thực bằng cuốn sách của Song Nhị, một cựu sĩ quan cấp nhỏ. Vì họ viết để dạy đời, để chạy tội. Trong khi, Song Nhị viết cuốn bút ký tự truyện này, bằng cái tâm trong sáng của mình. Nên nếu tôi thêm vào tờ bìa cuốn sách hai chữ Tâm Bút, chắc chắn cũng không phiền đến cái tôi đầy khiêm tốn của ông.
Vả lại, Nửa Thế Kỷ Việt Nam nghe có vẻ khói lửa và tang thương như thế đấy, nhưng đâu phải là không có lối thoát!
Ngay từ chương thứ 12, chúng ta đã thấy Châu Về Hiệp Phố, với mấy câu thơ lục bát mang ý nghĩa có vẻ như …Hy vọng Trong Màn Đêm Ánh Sáng Cuối Đường Hầm:
Xin từ biệt một cảnh đời
Tường xây cửa sắt tình đời lạnh căm
Xin từ biệt những tháng năm
Mồ hôi máu lệ nhục nhằn đắng cay.
(trang 295)
Trên đường trở về miền Nam, người tù cải tạo như đi trong tình tự dân tộc! Hành trình của người cựu tù cải tạo mang danh số HO, sau đó, tuy gian nan vất vả, nhưng sau cùng, cũng tới một kết thúc tốt đẹp, qua một chương trình nhân đạo mang tên… HO !
Riêng Song Nhị, chưa hẳn ông đã gấp lại cuốn sách Nửa Thế Kỷ Việt Nam.
Vì ông vẫn đi tìm… lý lịch của Con Chữ HO!
Để thấy rằng, chương trình HO mà những người đồng cảnh ngộ như ông được hưởng – là do nỗ lực của rất nhiều người. Từ Tổng Thống Ronald Reagan, Thứ Trưởng Ngoại Giao Robert Frenseth, cho tới những đồng hương bỏ nước ra đi trước tháng 4-1975, hoặc những người tù cải tạo vượt biên, trước khi có chương trình HO… . Tất cả, đều khởi đi từ tấm lòng nhân ái. Một thứ tình người vốn rất hiếm trong nửa thế kỷ Việt Nam đầy hận thù, đau thương tang tóc.
Các cụ ta đã bảo, cùng tắc biến biến tắc thông, hết cơn bĩ cực đến hồi thái lai. Những người anh em HO và tù cải tạo xứng đáng được hưởng phần đời còn lại trong hạnh phúc và vinh quang. Bởi nơi trang 430, tác giả Song Nhị đã ghi lại câu nói của cựu Tướng hồi hưu John Vessey như thế này:
Riêng đối với tôi, danh từ H.O. là biểu tượng của lòng dũng cảm, tinh thần phục vụ, và lòng hi sinh của người H.O. Tất cả những ai thuộc diện H.O. đều là những anh hùng thật sự trong thời đại chúng ta.
Đúng vậy, những anh em HO và các cựu tù cải tạo, đã có một chỗ đứng xứng đáng trong lịch sử Việt Nam cận đại.
Và cuốn sách Nửa Thế Kỷ Việt Nam, thật xứng đáng là một cuốn sách dành cho họ.

* Thư Sinh
—

 

 

QCNTK002.jpg picture by hinhkhong




Tường Phạm & nhà văn Nguyễn Phước Đáng : Viết về buổi ra mắt sách của nhà thơ Hoàng Phong Linh.


 
Tường Phạm Viết về buổi ra mắt sách của nhà thơ Hoàng Phong Linh.

 " Thời gian quá lâuVodaiton2.jpg picture by tuongpham làm thay đổi lòng người. Hai mươi năm trước , gần năm ngàn người  ở San Jose  đã tưng bừng  chào đón chiến sĩ Võ Đại Tôn trở về. Hai mươi năm sau, chỉ có khoảng một trăm người đến tham dự "
Đó là lời phát biển của M.C . Đỗ Hùng và cũng được Ông Phạm phú  Nam lập lại  trong phần mở đầu của buổi ra mắt sách  : " Tuổi thơ và chiến tranh " , gặp gỡ và nói chuyện với đồng bào  của Ông Võ đại Tôn do Hội quán Việt nam IRCC tổ chức  vào lúc 1 giờ chiều ngày Thứ Bảy 15/5/2010 tại Hội trường quận hạt Santa Clara , khiến người nghe cảm thấy bùi ngùi, xúc động trong khung cảnh của một hội trường hơi trống vắng với  khoảng một trăm người tham dự ngồi rải rác so với sứa chứa theo bảng ghi trên vách tường là 209 người.   
 
   Trong hàng quan khách tham dự, người ta nhận thấy có Các Cụ Võ Toàn, cụ Trương đình Sửu ( Hội đồng cư dân San Jose ), Ông Phan quang Tuệ ( thẩm phán toà án  di trú San Francisco ), Ô. Lân Nguyễn ( ủy viên học khu East Side San Jose ), Giáo sư Lưu Khôn, Ông Nguyễn mộng Hùng , Ô. Hồ văn Khởi, Ô. Võ Đại , nữ Luật sư Nguyễn thu Hương, Ông Lại đức Hùng ( Tổng Thư ký Liên Hội ), Bà Ngọc Bích ( Hội đồng cư dân San Jose ), Ông Nguyễn như Hùng, Ô. Nguyễn trung Cao ( Oakland ) ..
  Giới truyền thông, báo chí gồm có : Ô. Lê Bình ( Nàng Magazine),Ông Bà Nguyễn vạn Bình ( Ý  Dân ), nhà báo Thư Sinh, Ô. Nghê Lữ ( SBTN ), Ô. Huỳnh lương Thiện ( Mõ San Francisco ) nhà văn Nguyễn phước Đáng, nhà thơ Chinh Nguyên ( văn đoàn Lạc Việt ), nhiếp ảnh gia Huỳnh minh Nhựt, Trương xuân Mẫn
 Điều đáng  nhận xét là  số quý vị nữ lưu tham dự buổi gặp gỡ hôm  nay khá nhiều so với tỉ lệ quý Ông  thường hay chú ý tới các cuộc hộp họp có tính cách thời sự chính trị, ra mắt sách , hội thảo  mà thông thường thì Quý Ông tham dự đông hơn Quý Bà. Lần này thì khác.
 Cũng không thấy có sự tham dự của các nhân vật sinh hoạt cộng đồng ( Public figure ),  các đoàn thể như Liên đoàn cử tri, khu hội cựu tù nhân chính trị, Ban Đại diện cộng đồng…, chỉ thấy  có 2,3  Bà cầm  các tờ " mailers " tranh cử của Ứng cử viên Lê hữu Phú phân phát cho  các người tham dự.
 Ông Võ Đại Tôn  năm nay đã 75 tuổi, râu tóc bạc phơ nhưng dáng dấp vẫn còn khỏe mạnh được mời lên diễn đàn.  Với một cách nói chuyện đầy sức thuyết phục,hùng biện và tràn đầy cảm xúc, trong phần mở đầu Ông cho biết hôm nay không phải là một buổi ra mắt sách thuần túy, mà là buổi Ông trở lại San Jose để thăm lại mái gia đình xưa, gặp gỡ  những Cô, những Bác, những Chú, những người Anh, người em,  của hơn hai mươi năm qua.
Ông nhắc lại những người bạn trẻ ngày xưa như các Ô. Đỗ Hùng, Huỳnh lương Thiện, Nguyễn trung Cao, Lại đức  Hùng đã cùng với Ông rong ruổi trên những chặng đường dài đi đây đi đó để đấu tranh vận động cho một quê hưong VN không còn chế độ  Cộng sản nữa.
 Về chuyện đấu tranh , Ông  quan niệm " Đảng Cộng sản  VN không xứng đáng để phải hoà hợp, hoà giải với họ . Ông đấu  tranh cho thế hệ  mai sau.  Đấu tranh không phải là " hận thù "
 Kết thúc buổi gặp gỡ, Ông Vũ văn Lộc, giám đốc Hội quán VN IRCC cám ơn  sự  tham dự của  quan khách và tiếp tục giới thiệu về buổi ra mắt sách cuả bà Mỹ Dung ( Dung Krall ) đến từ Georgia  với cuốn sách mang tên " Ngàn giọt lệ rơi " vào ngày mai  Chủ nhật 16/5/2010  vào lúc 1 giờ chiều cũng tại địa điểm này.
  Được biết buổi ra mắt này, Ban tổ chức cho biết: Trưởng ban tổ chức,MC, người  giới thiệu tác giả, giới thiệu tác phẩm đều là phụ nữ. Buổi ra mắt sách " ngàn giọt lệ rơi" vào dịp Lễ hiền Mẫu để tưởng niệm một Bà Mẹ VN không còn nữa. Người chồng, một  đảng viên cao cấp Cộng sản và con trai út là phi công QLVNCH đã nằm yên trong lòng quê hương. Mộ phần cúa Bà  và người con trai trưởng , nguyên sĩ quan phòng không tên lửa của Hà Nội, vượt biên tìm tự do đã cùng an táng tại Hoa Kỳ.VodaiTon.jpg picture by tuongpham
 Kính mời quý vị tham dự .
 
 

Hình 1 : Từ trái sang phải Ô. Võ đại Tôn, Ô. Phạm phú Nam ( Ảnh của nhiếp ảnh gia Huỳnh minh Nhựt )

 
 

Chuyện vòng vo.
Nguyễn Phước Đáng

 Xin  chuyển đến quý vị một bài viết của nhà báo Nguyễn phước Đáng : Chuyện vòng vo nhân buổi ra mắt sách của Ô. Võ đại Tôn vào lúc 1 giờ trưa ngày Thứ Bảy 15/5/2010.
 
 Hình 1: Ông Võ đại Tôn ( Hình của Ô. Nguyễn phước Đáng )
VodaiTon1.jpg picture by tuongpham
–
 
 
Hình 2: Từ trái sang phải : Bà Ngọc Bích, Bà Tuyết Mai tay cầm bó hoa ( phu nhân Ô. Võ đại Tôn ), Ô. Võ đại Tôn và một vị không biết tên ( Hình của Nguyễn phước Đáng )
 
VodaiTon2-2.jpg picture by tuongpham

 

Chuyện vòng vo.

(Tham dự buổi RMS của ông Võ Đại Tôn)

 

 Năm 1993, tôi sang được Hoa Kỳ, đoàn tụ với 2 thằng con vượt biển đến đây từ năm 1981.  Mấy tháng sau, nghe thằng Út kể:

– Năm đó con và Anh Vĩnh bỏ Cali, giông tuốt qua Colorado để học.  Anh Vĩnh vô được Đại học Boulder.  Ảnh ở nội trú.  Ảnh chăm chỉ học như ba căn dặn.  Con học ở Denver.  Chị Mai (lúc đó là bồ của Anh Vĩnh), từ VN gởi qua cho ảnh một số sách của Cộng Sản, của VNCS.  Một số bạn của ảnh thấy được.  Bọn Sinh viên trong Hội Sinh Viên Boulder định “làm thịt ảnh”.  Con từ Denver, biết được, bèn chạy lên Boulder, gặp bọn SV ở đó.  Con can thiệp, cho biết ảnh là anh ruột của con.  Con nói “Ba tao là sĩ quan QLVNCH, bị tù cải tạo của VC.  Bọn tao vượt biển sang đây, vào Mỹ với tư cách tị nạn Cộng Sản, làm sao anh Vĩnh tao là VC, là thân Cộng, mà tụi bây định làm dữ…”  Họ nghe con, vì lúc đó con là đoàn viên trong ‘Chí Nguyện Đoàn’, một tổ chức của Chiến sĩ Võ Đại Tôn bên Úc.  Lúc đó Bà Đỗ Mùi là xếp sòng của tụi con….

 Tôi không biết “chiến sĩ” Võ Đại Tôn, cũng không biết thi sĩ Hoàng Phong Linh, tôi lại nghĩ Võ Đại Tôn, Hoàng Cơ Minh chỉ còn là những người hùng dĩ vãng thôi, nên tôi không có dự tính đến tham dự buổi RMS và “Nói Chuyện Tâm Tình” của ông trong ngày 15-5-10.  Nhưng nhớ lại lời thằng con Út nói năm xưa, tôi lại quyết định đi xem cho biết mặt con người đã đấu tranh vang lừng một thời, mà từ Úc đã làm lay động được bầu nhiệt huyết của thằng Út nhà tôi, bỏ thì giờ vừa làm SV vừa làm “quân” trong “Chí Nguyện Đoàn” của chiến sĩ Võ Đại Tôn (Lúc đó VĐT chưa trở về VN để bị bắt).

 

****

 

Hội trường thưa thớt, còn rất nhiều ghế trống.  MC Đỗ Hùng so sánh, trước kia, khi Ông VĐT đến đây, có hằng 4 – 5 nghìn người chào đón và lắng nghe ông nói chuyện.  Nay chỉ có trên dưới 100 người.  Ý nghĩ “chỉ còn là người hùng trong dĩ vãng” lúc ban đầu của tôi được củng cố thêm.

Nghe ông Vũ Văn Lộc nhắc lại, cách mơ hồ, về 2 cuộc họp báo do VC tổ chức để “người tù” VĐT phát biểu, lần đầu chỉ có ký giả trong nước, lần sau có cả ký giả ngoại quốc.  Tôi mơ hồ hiểu ra, chính cuộc họp lần đầu đã di hại cho thanh danh của ông Võ Đại Tôn, vì những phát biểu lúc đó của ông chắc có lợi cho CSVN (được báo chí VN đăng lại thành bằng chứng “giấy trắng mực đen”)

Phần quan trọng trong buổi RMS là phần “nói chuyện tâm tình” của tác giả Hoàng Phong Linh (tức chiến sĩ Võ Đại Tôn).

Ông Võ Đại Tôn năm nay 75 tuổi, nhưng dáng vẻ còn quắc thước, bước đi vũng chắc, tiếng nói mạnh, cách nói thật hùng biện.  Ông không giấu giếm chuyện ông vừa mới sang đến Nam Cali thì đã thấy những bài trên Net, trên báo tố ông là nằm vùng cho VC, là phản bội… Ông rất buồn, nhưng hứa không bao giờ bỏ cuộc.

Ông không coi trọng chuyện RMS, vì ông không chủ tâm đi bán thơ của mình để kiếm tiền, mà ông cần đi thăm “gia đình” (tôi hiểu 2 tiếng “gia đình” có nghĩa là những bạn bè thân quen từ lúc xưa).  Và ông muốn thưa chuyện với cử tọa, thưa chuyện dong dài có mất thì giờ.  Ông kể 3 chuyện trên những chặng đường đấu tranh ông đi qua:

1) Chuyện Cá Ông.  Lúc mới sang Úc ông đã gặp đoàn người biểu tình kêu gọi cứu đàn Cá Ông bị lâm nạn, ông cật vấn BTC và trách móc sao “Con Người” VN bị chết trên biển cả mà không được “Con Người” nói đến, mà lại để hết tâm vào những con “Cá Ông”.  Ông chê trách cả thế giới không quan tâm đến những khổ nạn của dân tộc VN…

(Tôi nghĩ rằng ông VĐT vì quá xúc động, mà quá đà, chê trách rằng cả thế giới không quan tâm đến khổ nạn của dân tộc VN.  Thực ra cả thế giới từ Đông sang Tây đều đã viết, đã nói quá đầy đủ, quá nhiều, về những đày đọa, khổ nhục của người Việt, về những việc gian ác của VC, tưởng chừng không giấy mực nào ghi lại hết được tất cả.  Thế giới đã ước tính số người vượt biển đến được bến bờ tự do chừng 2/3.  Còn 1/3 đã chết trong lòng biển cả.  Nếu thoát ra được 500,000 người, thì đã bỏ thây trên biển hết 250,000 người.  Con số thật thê thảm, cả thế giới đều biết và buồn đau cho dân tộc VN!!!)

2) Chuyện con ruồi.  Năm 2009, ông VĐT đọc thấy trên báo kể chuyện Tổng Thống Mỹ họp báo tại Tòa Bạch Ốc, bị con ruồi cứ bay đến đậu trên bàn tay TT.  Đuổi hoài không được, sau cùng TT dùng bàn tay đập chết con ruồi.  Ấy vậy mà nhóm người “bảo vệ thú vật” đã rùm beng chê trách Tổng Thống Mỹ “tàn nhẫn” với… loài ruồi!  Ông VĐT so sánh con ruồi với “Ba Cô”, 3 thiếu nữ VN vượt biển chạy trốn chế độ CSVN, bị hải tặc hãm hiếp,, mình đầy thương tích, trôi tấp vào bờ biển Mã Lai, 3 cô treo cổ chết, khiến người Mã Lai lập miếu thờ, tên là Miếu “Ba Cô”.  Ông than phiền, thân phận 3 thiếu nữ, thân phận người Việt không bằng con ruồi ở nước Mỹ tự do.  Ông đã khóc vì nghĩ đến thân phận người Việt đồng bào!…

3) Chuyện Cô Hoàng Dung Bắc Kỳ Cộng Sản.  Trên chặng đường, sau khi Liên Xô sụp đổ, ông được mời sang Mat-cơ-va thuyết trình về nhân quyền.  Trong 3 ngày làm việc ông được cô Hoàng Dung là một cô gái lớn lên từ bé trong nền giáo dục CSVN, giúp ông thông dịch từ tiếng Việt qua tiếng Nga.  (Lớn lên, thấm nhuần chủ nghĩa CS, đến mức Đảng CSVN tín cẩn cử cô sang Liên xô du học về ngành Ngoại Giao.  Liên xô sụp đổ, cô ở lại.  Cô được BTC cử làm người thông dịch cho ông VĐT).  Sau đó, ngày ra phi trường trở về Úc, cô Hoàng Dung đã xin được nói chuyện riêng với ông VĐT ở một góc riêng, rằng cô vốn là một đứa trẻ mồ côi từ bé, cô xin ông VĐT chấp nhận cho cô được gọi ông bằng “Bố”.  Đó là “tình người”.  Từ đó, ông nhận chân cuộc chiến đấu với phe CS không phải vì thù hận, chiến đấu để trả thù, mà chiến đấu vì tình người, tình dân tộc Việt, cho con người được tự do dân chủ… Có người bảo rằng tư tưởng “không trả thù” của ông là tư tưởng hòa giải hòa hợp.  Ông dứt khoát “Không!  Chủ nghĩa Cộng Sản, chóp bu CS, không xứng đáng để hòa giải hòa hợp!”

(Tôi nghĩ, chỉ trong 3 ngày làm việc, mà với tài hùng biện, ông VĐT đã hoán cải được tâm trí một con người từ tấm bé luân lưu trong huyết quản chủ nghĩa Cộng Sản.  Tuy cô Hoàng Dung chỉ đơn giản xin được gọi ông bằng “Bố”.  Nhưng điều xin nhỏ nhoi đó có ý nghĩa thật sâu sắc, ý nghĩa người CS “ngộ” ra, sau khi nghe chiến sĩ VĐT, mà khước từ chủ nghĩa Cộng Sản.  Tôi muốn cám ơn ông VĐT đã thay mặt người Miền Nam thuyết giảng đến mức thu phục, hoán cải được một người miền Bắc Cộng Sản, ngay chính tại cái nôi Cộng Sản Liên Xô.)

Sau cùng, ông VĐT nói lên cái tâm tình nghe thật bi thiết:

– Tôi đến với các quí vị không phải để XIN PHIẾU, không phải để XIN TIỀN, thậm chí cũng không phải để BÁN SÁCH KIẾM TIỀN, mà tôi đến để xin quí vị một điều, “TÔI XIN QUÍ VỊ CHO TÔI ĐƯỢC CÙNG ĐỨNG TRONG HÀNG NGŨ CỦA QUÍ VỊ ĐỂ ĐẤU TRANH CHO DÂN TỘC VN ĐƯỢC SỚM TỰ DO DÂN CHỦ…”  Trân trọng kính chào quí vị.

            (Tôi thật ngậm ngùi khi nghe lời hạ mình cầu xin của chiến sĩ oanh liệt một thời Võ Đại Tôn.  Thưa ông VĐT, tôi không rõ nội tình giữa ông và Cộng Đồng người Việt, khiến ông phải buồn lòng mà hạ giọng ngỏ  lời như vậy.  Lý ra bọn trẻ, hậu duệ, phải nói ngược lại “Chúng tôi cầu mong có được tinh thần đấu tranh bền vững như Cụ Võ Đại Tôn, đấu tranh cho dân tộc VN lấy lại được tự do dân chủ, cho đến hơi thở cuối cùng, như Cụ từng dõng dạc tuyên bố…”  Tôi nghĩ, cũng vì buồn phiền, xúc động, mà ông VĐT lại quá lời trong việc nầy).

Ra xe về, sau buổi RMS và tâm tình của ông Võ Đại Tôn, tôi nhớ lại câu chuyện của thằng con Út, “Thuở đó, bọn con hăng say lắm, nghe tiếng kêu gọi của ông Võ Đại Tôn, sinh viên tụi con gia nhập ngay ‘Chí Nguyện Đoàn’.  Đâu có đứa nào ham hố, đòi giành chức vụ gì, chỉ nhào vô làm quân của ‘Chí Nguyện Đoàn’ thôi!”.

Ba cám ơn Út của Ba.  Nhờ lòng hăng say của con thuở đó, mà Ba đến tham dự buổi RMS nầy, để được thấy, được nghe tài hùng biện của ông Võ Đại Tôn, lúc tuổi đã 75 xế bóng, dù đã trở thành dĩ vãng.  Chắc lúc còn trẻ, ba mươi mấy năm về trước, hẳn ông Võ Đại Tôn còn hùng hồn, thu hút người nghe hơn nữa!

 

Nguyễn Phước Đáng.




K.Đ – Truyện dài : Những tháng năm cuồng nộ (kỳ cuối)

K.Đ – Những tháng năm cuồng nộ (kỳ cuối)

03/06/2010 | 1:00 sáng | 3 phản hồi

Tác giả: K.Đ

Chuyên mục: Sáng tác
Thẻ: > > >

 Xem kỳ 1, kỳ 2, kỳ 3, kỳ 4, kỳ 5, kỳ 6, kỳ 7, kỳ 8 và kỳ 9

 17.

Giữa những con phố đầy cờ nửa xanh nửa đỏ, mọi người mệt mỏi trở về sau khi đã cố sức chạy theo quân miền Nam mà không kịp. Hay đúng hơn là cũng không còn biết chạy đi đâu nữa. Lịch sử đang viết tiếp những dòng dữ dội. Hết Phan Rang, Phan Thiết, đến Long Khánh, Biên Hòa rơi rụng như những đồng bạc vô hồn trong tay một con bạc tháu cáy. Sài Gòn bị bao vây bởi một số lớn những máy cày giả làm xe tăng. Tổng thống một ngày Dương văn Minh chỉ kịp ghi cái dấu chấm nhỏ vào lịch sử bằng cách tuyên bố đầu hàng vô điều kiện!

Dù sao thì cũng đã hoà bình, tuy rằng con chim bồ câu một cánh thì xanh, một cánh thì đỏ. Từ đây các bà mẹ không phải đêm đêm ra thắp nhang giữa trời, cầu xin Trời Phật chở che cho con trai khỏi phải bị hòn tên mũi đạn. Các chị vợ lính khỏi phải ngất xỉu vì nhận giấy báo tử của chồng. Và lúa chín sẽ có người chờ gặt!

Trở về! Hai tiếng nghe náo nức làm sao!

Trên đường về làng, nhộn nhịp những người hồi cư. Vẫn gồng vẫn gánh, vẫn tay xách nách mang, vẫn luộm  thuộm rách rưới như ngày nào bỏ cả nhà cửa ruộng đồng mà đi. Sau bao nhiêu năm dấp dúi bên hông phố chợ, những con người của đồng ruộng cũng chẳng giàu có văn minh hơn chút nào. Đôi mắt ai cũng mờ đi ít nhiều. Giọng nói còn đục và buồn hơn. Biết sống làm sao đây khi ruộng đồng cỏ lác cao ngập đầu người. Những đồng lương ít ỏi của những đứa con đi lính xẻ chia đã không còn nữa. Trên đầu đứa nào cũng cao lêu nghêu một cái mũ ngụy quân ngụy quyền.

Tôi đã gặp các ông hương kiểm, hương bộ, các ông biện, ông câu… Với cây gậy trong tay các ông run rẩy đi theo con cháu. Chừng ấy năm chạy loạn, chừng ấy năm sống bụi sống bờ, các ông hãy còn liêu xiêu bước đi đã là may. Đem được cái nắm xương về với quê nhà thì con chim hoà bình màu gì cũng được!

Đã tới làng rồi đây!

Tôi lội qua sông leo lên cái mô đất bên cầu. Giữa cây cỏ hoang vu, một cây khế đúng là đã mọc trên chỗ cô tôi nằm. Những bông khế đầu mùa tim tím đang lặng lẽ toả  hương. Tôi cứ tưởng mình sẽ phải khóc nức nở khi được quỳ trên mộ của cô. Nhưng thật lạ, tôi lại thấy lòng mình rất ấm áp. Như thể tôi đang gặp lại cô. Tôi nói thầm: Con đã về rồi, thưa Mẹ!

Trong lúc tôi đang lay hoay thắp nhang cho cô thì có tiếng đạn lên nòng và có tiếng  quát:

– Mày là thằng Được chó đẻ phải không?

Tôi nói:

– Đúng, Lê Văn Được là tôi.

– Đi theo tao!

Tôi nói:

– Để tôi thắp cho cô tôi cây nhang đã!

Nhưng bọn họ túm nắm nhang vừa mới đốt ném vào bụi.

– Đi ngay! Không nhang khói gì hết. Đồ chó đẻ mà cũng bày đặt nhang với khói!

Tôi bị dí súng vào lưng bắt phải đi đến trụ sở Ủy ban quân quản lúc này đang che tạm trên nền nhà ông chánh nhạc. Một người hơn 30 tuổi đầu đội mũ tai bèo lưng đeo súng colt xô ghế đứng dậy hỏi tôi:

– Hừ, thằng chó đẻ mày có biết tao không?

Tôi không trả lời. Thực ra tôi biết. Nó là thằng Khấu con ông Năm Qườn chăn vịt. Ngày trước ở làng người ta gọi đùa ông là thiếu tá vì dưới cây sào của ông lúc nào cũng có cả ngàn con vịt đẻ. Bà vợ ông cũng đẻ nhiều như vịt, nhiều đến nỗi ông không nhớ hết tên con. Để khỏi nhầm, ông gọi kèm với một đặc điểm nào đó. Như Sủng lé, Mận còi, Khấu thẹo… Một lần đuổi theo mấy con vịt lạc bầy, ông đã bị nước lụt cuốn trôi. Khấu thẹo thay cha nắm cây sào. Chẳng biết có phải vì lý lịch chăn vịt mấy đời mà nay nó được chăn dắt dân làng An Định lúc này cũng đang lao nhao chẳng khác gì một bầy vịt đói.

Múa cây colt trong tay như một viên thiếu tá thực thụ, nó nói:

– Giải phóng đã từ lâu rồi sao mày còn ôm chân đế quốc?

Tôi nói:

– Hôm nay mới mùng 10 tháng 5.

– Tao nói từ khi giải phóng Bình Định kia!

– Nhưng nay cũng đâu đã hết hạn.

– Mày cãi lý với tao hả. Nếu không gông cổ mày tới đây, đã chắc gì mày chịu trình diện. Mày có biết cái tội của mày lớn đến chừng nào không?

– Tôi trốn không được thì phải đi lính vậy thôi. Tôi nào đã bắn chết ai đâu!

– Mày đem chó khui hầm bắt đồng chí Thảnh và nhiều đồng chí khác mà không bắn giết ai à? Những đồng chí ấy đáng giá cả trăm cả ngàn người. Lại còn đồng chí Khứ nữa. mày ác đến độ để lũ chó kéo xác cho lũ giặc xem.

– Ông ấy cố lết ra miệng cống uống quá nhiều nước nên chết. Tôi muốn cứu cũng không được.

– Vậy là mày nói đồng chí ấy ngu?

– Không. Tôi nghe người ta nói bị thương mà uống nước nhiều nước là chết không kịp ngáp.

Thế là hắn quát:

– Tống cổ nó vào xà lim.

Thực ra đó là cái nhà tắm của cô Thảnh đã bỏ hoang từ khi có một thằng phải gió nằm trên mái nhìn trộm. Sau bao nhiêu năm dưới bom đạn, chẳng hiểu sao nó vẫn còn! Nó đầy cóc đầy nhái và trên tường đầy những hình vẽ tục tĩu. Tôi bị trói, một tay quặt ra sau lưng, một tay vòng sau ót, hai chân không bị cùm nhưng cột vào một khúc cây nên chỉ có trời cứu được. Tôi cố chịu trận suốt đêm.

Sáng hôm sau chúng đem tôi ra trước dân, thực ra là trước một đám du kích, chỉ lèo tèo vài cụ già ốm yếu. Tôi biết là mình đang bị đem ra đấu tố. Tôi được cởi trói, nhưng bị bắt quỳ chống hai tay xuống đất. Tiếng Khấu thẹo:

– Bò tới đây!

Tôi bò tới. Hắn thảy một gói gì hôi hôi trước mặt bảo ăn đi. Tôi không ăn, cả bọn cùng cười. Hắn chế nhạo:

– Chó mà chê cứt à?

Tôi im lặng vì biết những gì sắp xảy ra. Đó là sau khi bị làm nhục đủ điều sẽ ăn đấm ăn đá, bị báng súng nện vào đầu, gậy đập vào lưng và sau cùng là bị quẳng xác xuống sông. Y như chó chết. Tôi đang chờ đợi cái kết thúc cuộc đời một cách khốn nạn như thế thì có đứa đến nói nhỏ vào tai Khấu thẹo gì đó. Hắn bực bội chửi thề, rút súng bắn lên trời mấy phát. Hắn chỉ thẳng vào mặt tôi, nói:

– Tội của mày đáng băm vằm ra trăm mảnh chứ không phải chỉ có mỗi lá gan như của thằng Mậu đâu. Trước đây thì mày đã nát xương với tao rồi. Nhưng nay hoà bình thì để Trên xử. Mày đã hại các cụ lớn thì hãy để phần cho các cụ trị mày. Thôi đưa nó lên Huyện. Đồ chó đẻ!

Bọn chúng không bắt tôi phải đi theo kíểu chó. Nhưng cả chân tay đều bị trói, lại có cả tiểu đội du kích áp tải, nên suốt dọc đường đi mọi người nhìn tôi thương hại như nhìn một tử tội trên đường ra pháp trường.

Tại Ủy ban quân quản huyện, tôi được đối xử nhân đạo hơn. Người ta cho tôi ăn, dĩ nhiên là cơm độn. Rồi người ta đưa giấy bút bảo tôi kê khai những tên biệt kích Mỹ. Tôi nào nhớ hết. Vả lại tôi cũng chỉ nhớ mang máng một vài đứa. Tôi định viết hai chữ: không biết, nhưng nhớ lại hồi bị giam ở quận, nếu không khai bậy vài tên sẽ bị đánh nhừ đòn, nên tôi phịa ra cả một danh sách dài với những tên Mỹ và Nùng mà dù có thắp đuốc đến năm 2000 cũng không tìm ra được.

Có danh sách ấy người ta coi tôi như thằng thủ ngữ Đực dạo nào. Nghĩa là từ tôi sẽ phăng ra bọn biệt kích mà người ta tin là còn được cài lại để chống phá Cách mạng. Tôi được phép mua thuốc hút, được mua bia nếu muốn. Cứ như tiêu chuẩn của cán bộ cao cấp. Nhưng rồi tôi phát hoảng khi nhớ lại rằng, cũng chính vì thế mà thằng thủ ngữ Đực đã bị đem ra bắn bỏ ở đồng Cây Sanh!

Cũng may là người ta có quá nhiều việc phải làm, nào đổi tiền, nào cải tạo công thương nghiệp, nguỵ quân nguỵ quyền… nên người ta quên mất cái danh sách bậy bạ của tôi. Sau đó, người ta đưa tôi đi cải tạo mặc dù tôi không phải là sĩ quan. Tôi bị ghép vào tội ác ôn gây nợ máu với nhân dân. Cái danh sách ở làng An Định đi học tập, chẳng những tên tôi đứng đầu mà còn gạch đít màu đỏ đến những hai lần.

Đến trại K…

Một tháng sau, người ta rà soát lý lịch thấy tôi chỉ là một thằng lính chó nên đuổi về. Nhưng vừa về tới làng thì Khấu thẹo bảo tôi bỏ trốn lại thộp cổ đưa đi. Lại đuổi về. Rồi lại bị áp giải đưa lên. Đá qua đá lại như thế, sau cùng người ta ném tôi vào chung với bọn ma cô đĩ điếm, bọn anh chị cướp giật trước đây.

Có vào đây mới biết địa ngục là có thật. Nó ở ngay trên cái trần gian này chứ không cần phải xuống tận âm phủ. Chẳng biết do ai đồn thổi mà chúng tưởng tôi đã từng làm chủ bar nên rất giàu. Có đứa còn bảo tôi đi biệt kích Mỹ đã từng nhảy sô ra Bắc nên tiền tử và tiền thưởng để đâu cho hết. Cứ sau khi cán bộ quản giáo vừa quay lưng là chúng lôi tôi ra tẩm quất bằng những cái lên gối muốn ói máu, những cái thúc cùi chỏ đến nghẹn thở. Rồi chúng bắt tôi uống một thứ nước quỷ quái gì đó, nửa như nước đái bò nửa như nước rửa thớt để tôi nôn thốc nôn tháo ra. Không thấy gì, chúng lại bắt tôi uống một thứ nước khác đau thắt ruột, rồi bắt một đứa ngồi xem tôi ỉa có hột xoàn hay không. Chúng hành hạ tôi suốt cả tháng trời đến nỗi chỉ còn là cái xác khô nằm trong xó. Cán bộ tưởng tôi chết cho đem đi chôn. Bọn chúng không thèm đào lỗ, chỉ quăng tôi xuống suối. Có một người mò cá vớt được, cho tôi uống nước gừng và quế. Nhờ đó tôi sống lại, một mình bò về trại.

Mãi sau này chúng mới biết tôi là đứa không mẹ không cha, mới sinh đã bị đem thả trôi sông, đi lính chỉ là lính quèn! Từ đó, chúng coi tôi như cùng một giuộc, nghĩa là cùng bị cuộc đời chó má chà lên đạp xuống không biết bao nhiêu lần. Chẳng những chúng thôi hành hạ mà còn cho chác, khi miếng đường khi điếu thuốc. Chúng còn bảo khi ra tù chúng sẽ bày cho mánh làm ăn!

Tôi cố gắng cải tạo thật tốt, nghĩa là cố gắng giữ đúng nội quy của trại. Sáng nhận một củ khoai nhỏ bằng ngón tay để đánh thức cái dạ dày đã ngủ yên. Rồi vác rựa vào rừng để chặt cây hay vác cuốc xuống ruộng tuỳ theo đội. Trưa về, đúng một chén cơm trộn bo bo và một phần tư con mắm thối. Chiều lại đi vào rừng, lại xuống ruộng. Lại một chén khô rốc gọi là cơm và một phần tư cái xác thối gọi là mắm. Tối xem TV để thấy cả nước đang hăng say xây dựng chủ nghĩa xã hội!

Sau cùng đến giờ ngủ. Cứ tưởng với cái thân xác đói khát mệt rũ người ra, đứa nào cũng sẽ ngủ như chết. Nhưng trong đêm tối đủ thứ tiếng động lịch kịch. Tiếng rên, tiếng khóc, đôi khi tiếng thét như một đường gươm. Tôi co quắp người, bịt tai lại như con trút. Có những cảnh cưỡng dâm khủng khiếp như trong cái buồng tắm của bar thằng Hậu!

Mặc dù năm nào tổng kết, tôi cũng được coi là tiến bộ, được đề nghị cho ra trại. Nhưng địa phương vẫn cứ bảo là tôi cần phải cải tạo nữa không chịu nhận. Sau nhiều lần như vậy, quản giáo đâm gắt: cái làng An Định chết tiệt, có giỏi thì lên đây mà cải tạo. Nhờ vậy tôi được cho về sau đúng năm năm giáo dưỡng! Nếu tính ra thiên thu thì biết mấy ngàn cái thiên thu trong một đời người!

Khi về đến làng, việc trước nhất của tôi là đến thăm mộ cô Sáu. Lần này thì tôi khóc nức nở như một đứa bé bị lạc mất mẹ. Đến những mười lăm năm kể từ ngày cô mất, giờ tôi mới được bình yên ngồi bên cạnh mộ cô, thực ra là ngồi trên chỗ cô nằm mà chỉ có mỗi cây khế thay cho bia mộ. Tôi bồi hồi nhớ lại những ngày sống bên cô. Những lần đi mót lúa, đi mua mía và cái áo mới cổ vuông. Đó là những ngày êm đẹp nhất. Tôi thiếu cơm, thiếu áo nhưng không bao giờ cảm thấy thiếu Mẹ.

Cái chòi của cô đương nhiên không còn. Cái rẻo đất ấy người ta cũng không cho làm nhà. Tôi được anh Cọng trưởng tràng ngày nào giờ là trưởng ban thôn cho ở tạm trong nhà kho của Hợp tác xã. Rồi tôi được giao cho việc giữ sổ sách, mỗi ngày được 10 điểm, quy ra thóc là được 500 g.

Mọi việc có vẻ êm xuôi như thế là nhờ Khấu thẹo không còn ngồi trên cái ghế chủ tịch nữa. Anh ta sau mấy năm được cho đi học bồi dưỡng nhưng không qua được cái bổ túc công nông cấp 1 bèn chửi đổng: Đù mẹ, thà làm thằng chăn vịt sướng hơn làm thằng cán bộ. Anh ta lại tậu một bầy vịt và dưới cây sào của anh, bầy vịt ngoan ngoãn để cho anh đếm dễ dàng hơn là làm mấy con tính cộng trừ nhân chia.

Đời sống ở Hợp tác xã so ra cũng chẳng khác gì mấy ở trại giáo dưỡng. Cũng sáng đánh kẻng ra đồng. Trưa đánh kẻng về, chiều lại đánh kẻng ra. Lúa thóc đến mùa được đưa hết vào những cái kho to đùng mới cất trên các gò đầy mồ mả. Ban quản trị Hợp tác xã nắm hết tất cả soi ruộng trong làng, trở thành một đại địa chủ còn to gấp trăm lần ông tổng Bá. Chỉ khác một điều là anh có thể cầm cuốc đứng nhơi nhơi cho hết giờ rồi về. Và tối đến anh có thể đi ăn trộm!

Cứ đem theo một cái bao cát rồi nằm sấp trên bờ ruộng mà trườn đi. Chân thì đạp tay thì tuốt. Tuốt, tuốt mãi cho đến khi đầy bao hay chảy máu tay thì thôi. Năm Quầng, Sáu Quẳng mà có sống lại cũng phải cúi đầu bái phục! Ở trại giáo dưỡng tội ăn cắp của tập thể là bị bỏ đói, nhiều lần thì bị cùm chân. Nhưng ở làng thì chẳng ai làm gì anh vì gần như cả làng cùng đi ăn trộm như thế. Biết bỏ đói ai, cùm ai bây giờ! Với lại cũng phải làm ngơ cho người ta sống chứ. Một hạt lúa bây giờ cõng đủ thứ trên lưng. Nào quỹ này quỹ nọ, nào phải mua nông cụ, nào tái sản xuất, nào xây dựng kênh mương và phải nuôi mấy chục người trong Ban quản trị nên công điểm tụt dần, mỗi ngày công chưa được vài lạng.

Còn đói hơn hồi chín năm. Và để có cái áo cho con, cái quần cho vợ, trai tráng trong làng kéo nhau đi buôn. Ngày xưa, chợ là của đàn bà, bây giờ chợ là của đàn ông. Bởi vì chẳng những phải biết khiêng biết vác mà còn phải biết chạy. Chạy và chạy. Nếu chạy không giỏi thì bị quản lý thị trường và thuế vụ tịch thu! Bây giờ có hàng ngàn ông Khứ  đang ngày đêm chực chờ rình rập ở các bến xe, các con tàu, các sân ga, các ngõ vào thành phố…

Ham vui và cũng đi một lần cho biết Sài Gòn, tôi đã theo bọn họ thử làm con buôn! Với 20 ký gạo buộc trên lưng, ăn ngủ nằm ngồi cũng không được rời ra, trông cứ như một cái bướu. Bọn họ, kẻ thì mang giỏ gà, kẻ thì mang heo con. Buồn cười nhất là anh bán heo. Anh ta mang hai con heo trên lưng cứ như Phạm Công mang hai con ra trận. Cốt Đột thấy thương quá bèn cắt cho cái đầu rồi bãi binh. Nhưng thuế vụ thì không. Anh ta bị rượt chạy mà không trốn vào đâu được vì hai con heo cứ mãi kêu éc éc!

Cả bọn trốn vào các nhà gần ga. Khi con tàu mệt nhọc bò tới, có cả trăm con người với đủ thứ lỉnh kỉnh trên lưng cùng leo lên. Bọn trên tàu sập cửa, bọn dưới đất liền phá cửa. Một cuộc hỗn chiến như du kích tập đánh xáp lá cà. Kẻ lên được thì chết ngộp trong hơi người, hơi heo gà mắm muối. Kẻ chưa lên thì cố đu theo như những con nhái. Trên mui đương nhiên là đặc kín người. Thỉnh thoảng có kẻ ngủ quên hay qua cầu bị gạt rơi xuống!

Xe qua Vân Canh như đi vào một cuộc phục kích của thổ phỉ. Một cơn mưa cây và than trút vào các toa. Ai không tránh được thì đành ôm đầu máu hay cái tay gãy! Xe qua Suối Dầu là mưa chuối cây. Xe vào Phan Thiết là mắm muối, cá khô…

Phì phò, è ạch mãi đến hai ngày đêm, con tàu mới lết nổi tới Sài Gòn. Cái thành phố khổng lồ gần như đang bị bao vây sống lây lất nhờ bọn con buôn đem những thứ không ăn được như lốp xe, vải vóc, thuốc trừ sâu… đổi lấy những thứ ăn được. Một cuộc bán buôn chụp giựt diễn ra dưới sự bố ráp của đủ thứ lực lượng. Tu huýt kêu toét toét… Mặc kệ! Đạn bắn chỉ thiên kêu chóc chóc! Cũng mặc kệ! Bị rượt đuổi như chuột… Mặc kệ tuốt! Vừa chạy vừa bán. Vừa trốn vừa bán. Đang té ngã cũng cứ bán.

Tôi bị đạp ngã nhào. Chưa kịp ngồi dậy đã bị đè nghiến. Chỉ nghe một tiếng rẹt, cái cục gạo dính chặt suốt mấy ngày trên lưng bỗng biến mất. Khi tôi đứng lên được thì một gã đeo băng đỏ quát vào mặt: Cút xéo đi, đồ con buôn!

Vậy là, mất hết cả vốn liếng, tôi lại bị ném về làng.

Thế rồi, bỗng dưng bức tường Bá Linh kiên cố là thế lại sụp đổ. Các nước Đông Âu rơi rụng y hệt như những thành phố Miền Nam năm 75. Liên xô thành trì Cách mạng vô sản thế giới cũng tan rã theo như tuyết tan trên sông Vônga.

Cả nước bàng hoàng!

Người ta không còn thách thức “Ai thắng ai!” nữa, mà làm một cuộc Đổi Mới là trả ruộng lại cho dân! Thực ra là chia và tôi cũng được đúng 475 thước. Bây giờ, tôi có nhiều cục đất để ném chó ỉa và không còn bị gọi bằng thằng như trước nữa.

Nhưng bấy nhiêu ruộng đất đó cũng chỉ đổi đời bằng tiếng gọi ông chứ nghèo vẫn hoàn nghèo. Tôi dành 75 thước cất một cái nhà chỉ lớn hơn cái lều cô Sáu tôi một chút, còn lại suốt năm cặm cụi trên mảnh đất đó như con gà bươi mãi trên cát.

Những nhà khác được chia nhiều hơn vì có đông nhân khẩu. Nhưng cũng lại đông hơn những cái miệng há ra đòi ăn như những con chim tu hú trong các tổ chim sáo! Và cũng chẳng hơn gì tôi, cũng lại nghèo, có khi còn thê thảm hơn vì ốm đau phải đem cầm thế, bán lần bán hồi rồi cũng lại trắng tay.

Cả làng, toàn là nhà tranh vách đất, ngoại trừ nhà cô Thảnh vừa mới xây nhà ngói to rộng. Chẳng phải vì cô là cán bộ to mà vì bỗng dưng cô được một món tiền to như ngày trước cụ Chánh nhạc được bạc của thằng Tây. Câu chuyện tưởng như chỉ có thể xảy ra ở thời phong kiến không ngờ lại xảy ra dưới thời xã hội chủ nghĩa đổi mới cuối thế kỷ 20 này.

Ngày tôi bị bắt, nói theo kiểu hồi ấy là bị truy tróc, tức là vừa truy nã vừa tróc nã, bắt được là bắn bỏ. Lúc ấy cô vừa từ Chí Hòa trở về, đang giữ chức chủ tịch Ủy ban quân quản huyện, một chức to kềnh thật xứng với bao nhiêu năm hò hét. Khi được tin tôi đã bị truy tróc, cô liền cho người về bảo Khấu thẹo không được bắn bỏ mà phải đưa ngay lên huyện. Chẳng phải vì cô thương tôi mà vì muốn dùng tôi để truy tróc bọn biệt kích. Công việc chưa thành thì cô đã bị tố cáo là phản Đảng vì trong tù đã khai ra rất nhiều bí mật. Người ta bảo nếu không có cha và anh, cô đã bị đi tù, tức là bị đưa đi cải tạo chẳng khác gì tôi. Thực ra, cô bị chụp mũ sau khi đã chụp hàng trăm cái mũ lên đầu người khác.

Cô trở về làng với tất cả hậm hực và căm hận. Cô sống âm thầm lặng lẽ, không tham gia bất cứ công tác nào. Một người ưa gào thét như cô mà suốt ngày không mở miệng ra là cả một nỗi khổ đau ngấm ngầm còn hơn cả nỗi khổ đau chưa chồng. Cụ Chánh nhạc, lúc đầu vì giận con làm ô danh gia đình cũng không chịu về làng. Cụ sống còm cõi với đồng lương hưu ít ỏi, cố sức chịu đựng sự chì chiết của bà dâu cả. Đến khi cụ bị bệnh ba hay bốn “căng xông” gì đó, cụ đành phải để cho cô con gái út đem về.

Từ đó hai cha con một thời lẫy lừng giờ lui vào bóng tối. Và tất cả sẽ quên hết trơn, nếu không có cái sự kiện Liên xô tan rã và Đổi mới. Vì đổi mới cần phải có những con người mới, nên thằng cháu nội lúc đi tập kết mới được hai tháng tuổi, nay đã là ông  vụ trưởng một vụ gì đó to lắm, quanh năm xách cặp đi nước ngoài như đi chợ.

Thế là từ trong bóng tối cụ lại được rước ra đánh bóng như những chân đèn lư hương trong mấy ngày giỗ chạp. Người ta vô cùng xúc động khi biết cụ là vị cách mạng tiền bối và nay chỉ còn thiếu mười mấy ngày nữa là đúng một trăm tuổi.

Để làm vui lòng ngài vụ trưởng, người ta liền tổ chức một đại lễ với cái tên nghe rất cảm động là Trăm Năm Mừng Thọ. Giống như những ngày đầu cướp chính quyền, người ta rộn ràng lo cờ xí, khẩu hiệu. Hội người cao tuổi cấp tỉnh cấp huyện lo làm thơ chúc mừng, cấp trung ương gửi tặng câu đối. Con đường làng vắng vẻ giờ xe mẹ, xe con bóp còi tin tin suốt ngày. Bọn trẻ con được dịp nhảy tưng tưng trong bụi mù, vừa hít bụi vừa hít xăng, bảo là rất thơm.

Nhưng, càng đến gần cái ngày trọng đại cụ lại có vẻ như muốn đi. Suốt một trăm năm làm người mà lại là người làm cách mạng nên đến giờ phút này cụ hụt hơi là phải. Mặc dù bác sĩ Tây y đã chuyền rất nhiều đạm, bác sĩ Đông y cho uống cả hộp sâm, cho ăn cả yến nữa, nhưng ai cũng lo là cụ không sống được đến cái ngày đáng sống. Khổ nỗi thiệp đã in ngày tháng rồi, đâu có phải muốn bày ra lúc nào là cứ bày. Không ai biết mà đến chúc mừng thì tổ chức làm chi.

Trong lúc đang bối rối như thế, bỗng lão Văn Văn Ba, tức là lão phù thủy ngụy quyền được một đứa cháu ngoại cõng đến thăm. Lão khô rốc như một con cá hố phơi khô, nhưng cái miệng nhót nhép vẫn còn rất tỉnh táo. Lão cầm cái bàn tay đang run như duôi thằn lằn bị đứt của ông cụ. Một lúc sau lão phán chỉ độc một tiếng: Bú! Người ta ngơ ngác hỏi: Bú gì? Thì lão bảo bú vú chớ bú gì!

Lúc đầu người ta cho là lão nói tầm phào, nhất là cô Thảnh không tin được cái miệng phản động của lão. Nhưng sau các vị đông y nhớ lại các bài thuốc trường sinh của các hoàng đế Trung Hoa nên đồng loạt vỗ đùi khen hay. Vậy là người ta quyết định tìm cho cụ một chị vú.

Cứ tưởng cái việc cỏn con ấy quá dễ, không ngờ lại rất nhiêu khê. Bởi vì phải là một chị có con so, phải khoẻ mạnh và cái điều sau cùng này mới thật gay go. Ấy là lý lịch phải trong sạch, tức là không phải vợ con của nguỵ quân nguỵ quyền! Cụ thì sắp chết đến nơi rồi mà tiêu chuẩn khắt khe như thế thì biết đào đâu cho ra!

Cũng may, đứa con gái của Khấu thẹo vừa mới chết con. Đúng là lý lịch hoàn toàn trong sạch, người như thế mới xứng đáng cho cụ bú chứ! Nhưng khi tìm được nó thì con nhỏ mắc cỡ không chịu. Cô Thảnh phải dỗ ngon dỗ ngọt, phải hứa cho vải vóc và cả nhẫn vàng. Rồi khi nó chịu thì thằng chồng lại không chịu. Nó bảo ai động đến vú của vợ nó là nó chém. Lại phải dỗ dành, phải cho ngay một chiếc honda “xì cần hên” nó mới thôi không đòi chém.

Đến cái lúc cho cụ bú lại càng gay go hơn nữa. Bồng cụ lên như đứa bé thì không được mà nằm xuống bên cạnh lại cũng không. Sau cùng phải để cụ ngồi trên xe lăn, đứng dạng chân ra, loay hoay một lúc con nhỏ mới cho cụ ăn được. Thế là như nước cam lồ của Phật bà Quan âm, cụ dần dần tươi tỉnh lại. Mọi người đều thở phào nhẹ nhõm.

Đại lễ mừng thọ quả là có một không hai. Cái nhà kho giờ không còn lúa hợp tác xã được sửa lại làm hội trường. Cụ mặc áo đỏ, đội khăn đỏ, được bồng cả xe lên sân khấu. Ông vụ trưởng phải bỏ dở một buổi họp để đứng sau lưng hầu cụ. Một trăm em bé cầm đúng 100 bông vạn thọ lên dâng hoa chúc mừng. Rồi diễn văn, rồi ngâm thơ và sau cùng là các vị chức sắc của cả tỉnh đến chúc mừng. Mỗi người một phong bì đỏ nghe đâu ít nhứt cũng vài triệu. Sau đó có cả hát tuồng vì dẫu sao cụ cũng đã từng là bầu gánh của Thanh Bình ban. Lẽ ra cụ cầm chầu khai hội nhưng cô Thảnh lấy cớ cụ mệt xin đưa cụ về.

Như thế là cụ có lộc lúc về già. Lộc quá lớn. Chỉ tiếc là cụ không hưởng được chút nào vì ngay lúc về đến nhà cụ đã tịch .Và, cũng ngay chiều hôm đó, cụ đã được đem đi chôn một cách vội vàng, trong khi tiếng trống hát tuồng vẫn còn điểm những tiếng tùng tùng và dân làng An Định vẫn còn đang say sưa với những đào kép mới.

Đứa con gái của Khấu thẹo ngày hôm sau đeo đến hai chiếc nhẫn vàng sáng choé, được thằng chồng chở honda bình bịch lượn khắp làng.

Và cũng từ miệng con nhỏ lý lịch trong sạch đó, người ta biết được rằng cụ đã đi trước đó hai hôm. Chính nó đã cùng cô Thảnh cột cụ vào xe, mặc áo đội mũ đưa đến hội trường. Mỗi khi có khách đến chúc mừng, ngài vụ trưởng lại khẽ ấn cái đầu của cụ xuống một chút. Như thế thì đố ai mà biết được là cụ đã tịch.

Nhờ cái đức của cụ quá lớn, cô Thảnh có được cái nhà to nhất làng, không đến nỗi quá hẩm hiu như lão Khứ hay thằng thủ ngữ Đực. Thôi cũng mừng cho cô.

Kết

Bây giờ đã là năm 2000. Mặt trời vẫn mọc. Nắng vẫn vàng như mật ong. Trời vẫn xanh màu xanh muôn thuở. Chẳng có gì là đã đến ngày tận thế. Chúa cũng chỉ hù dọa mà thôi.

Dù sao được sống đến cái năm mà cả thế giới hồi hộp đón chờ cũng thật là hạnh phúc. Các ông già đã được con cháu lần lượt khiêng qua bên kia sông. Tôi tròn sáu mươi tuổi. Cũng sắp được lên lão làng.

Từ một đứa bé bị thả trôi sông, trải qua sáu mươi năm, trở thành một ông già, quãng thời gian thật dài. Những tháng năm cuồng nộ đã đi qua đời tôi như một bầy ngựa điên. Nhiều lúc tôi tưởng đã bị chúng giẫm đạp cho nát tan. Tôi bị tung lên, bị quật xuống, bị đá qua bên này, bị đạp qua bên nọ.

Nhưng cuộc đời dù khốc liệt đến đâu vẫn có cách san sẻ riêng của nó. Tôi kể ra đây câu chuyện cuối cùng để kết thúc những trang hồi ký buồn nhiều hơn vui này.

Một buổi chiều, trời cũng đẹp như chiều hôm nay. Đó là lần giỗ thứ ba mươi lăm của cô Sáu tôi. Đám giỗ ngay tại cái mô đất bên cầu. Bên cạnh cây khế giờ đã xum xuê hoa trái, tôi đặt một đĩa cơm vắt và muối rang, là hai thứ mà cô tôi thích vì cho rằng đó là những thứ quý nhất trên đời. Tôi đang lâm râm khấn khứa, bỗng có cảm giác nóng ran một bên má. Tôi quay lại. Đứng trên cầu là một người đàn bà đang lặng nhìn tôi. Hai hàng nước mắt sáng lên trong nắng cùng những sợi tóc bạc.

Tôi kêu lên thảng thốt:

– Chị Thảo! Có phải chị Thảo không?

Chị gật đầu.

Tôi sụp lạy. Vừa lạy cô tôi, vừa lạy tạ đất trời.

Khi tôi ngẩng đầu lên, một người con trai cao lớn ở đâu đến đứng sau lưng chị. Tôi nghe tiếng nói như từ trong mơ hay từ một cõi trời nào đưa lại:

– Chào cha đi con!

Lần này thì tôi khóc. Đứa con trai ôm lấy tôi, áp cái đầu đang muốn nổ tung vì bất ngờ vào lồng ngực vững chãi của nó. Một lúc sau nó mới ngửa mặt tôi ra, hôn lên cái trán đã bắt đầu nhăn nheo thay cho một lời chào.

Bản thảo do tạp chí Thư quán Bản thảo (Hoa Kỳ) sưu tập.

Liên lạc:

Thư Ấn Quán
P.O Box 58
South Bound Brook, NJ 08880 USA

© 2010 K.Đ/Thư Ấn quán

© 2010 talawas


ShareThis

Phản hồi

3 phản hồi (bài “K.Đ – Những tháng năm cuồng nộ (kỳ cuối)”)

  1. Nguyễn Việt nói:

    Một tác phẩm tuyệt vời, mô tả một cách sinh động cuộc sống thê thảm của những người dân An Định trong suốt 50 năm, trải qua 3 chế độ, bằng một giọng văn hài hước hiếm thấy.

    Là người cũng đã 60 tuổi, đọc nhiều về lịch sử, tôi cứ tưởng mình biết nhiều, thế mà tác giả K.Đ đã làm cho tôi té ngửa nhiều chỗ, nhất là đoạn “Cải cách ruộng đất” hai chiều trước và sau tập kết trong những năm 1954-1956 tại khu 5 cũ.

    Tôi đã được nghe kể về cả khủng bố đỏ lẫn khủng bố trắng đè lên nhau ở miền Nam, nhưng không đâu sự chồng chất khủng bố lên thân xác người dân được mô tá sống động như ở đây.

    Theo tôi suy luận thì tác giả K.Đ vẫn còn sống ở Bình Định. Giá có dịp được gặp anh!

  2. Tôn Văn nói:

    GÓP NGỌN GIÓ HOANG

    *
    Chia sẻ nhận xét trong phản hồi của một bạn, tôi cũng thường đợi cho tới hồi cuối của một câu chuyện dài được đăng tải. Cũng giống khi xem tài liệu: Đọc phần đầu và phần cuối thì có thể biết tới tám phần nội dung. – Tôi đã đọc kỹ phần này và thấy đây là những hồi niệm (hồi ký) thực và cảm động. Tuy nhiên, cũng vì là hồi ký, tác giả có thể đưa ra những nhận xét nhẹ nhàng (có chút phần „hài“) mà sâu sắc. Xin lấy thí dụ và liên hệ; Tác giả viết:
    „Thực ra, cô bị chụp mũ sau khi đã chụp hàng trăm cái mũ lên đầu người khác.“
    Tôi chợt bật cười vì nghĩ cái thói „chụp mũ“ quen đến mức có người không chụp cho ai cái mũ nào vẫn có thể bị mang một/mấy cái nón chẳng theo ý mình. Tục ngữ: „Cơm ăn không sớm thì trưa, / Nón đội trên đầu không mưa thì nắng“ – Trong đám đông, không có nón cũng là một sự kỳ!

    *
    Nhớ câu nói của nhạc sỹ Phạm Duy trong cuốn „Thúy Nga đặc biệt“ về ông: Khóc cười theo vận nước nổi trôi…; Xin góp một đoạn suy nghĩ như lời chia sẻ:
    Ngổn ngang thế sự bời bời,
    Càng coi càng thấy phận người mong manh;
    Gió hoang là cuộc đời mình,
    Góp thêm xào xạc để thành mùa thu.




Ông VÕ ÐẠI TÔN ra mắt tác phẩm: TUỔI THƠ VÀ CHIẾN TRANH

Ông VÕ ÐẠI TÔN  ra mắt tác phẩm:

TUỔI THƠ VÀ CHIẾN TRANH

 

 
http://www.thochuphinh.myphotoalbum.com/view_photo.php?set_albumName=album05&id=tamtinh_vdt_05_15_10

 

San Jose (Ý Dân):  Trên 100 người đã đến tham dự  buổi ra mắt tác phẩm: “Tuổi Thơ Và Chiến Tranh” của  ông Võ Đại Tôn do các ông Vũ văn Lộc và Phạm Phú Nam tổ chức tại hội trường của quận hạt Santa Clara , San Jose vào 2 giờ trưa ngày 15-5-2010 vừa qua.  Trong thành phần khách tham dự chúng tôi nhận thấy có cụ  Võ Toàn, bà Đặng Mỹ Dung, cụ Trương Đình Sữu, các ông Phan Quang Tuệ, Vũ văn Lộc, Nguyễn Mộng Hùng, Nguyễn Lân, Võ Đại, Lưu Khôn, Lại Đức Hùng, Nguyễn Trung Cao, Nguyễn Tấn Thọ, Đỗ Hùng, Huỳnh Lương Thiện, Chinh Nguyên, Hồ Văn Khởi,  Nguyễn Hoàng Đoan, Hưá Trung Lập , luật sư Nguyễn Thu Hương, các bà Ngọc Bích, Hoàng Mộng Thu  v..v. và giới truyền thông.

            Sau nghi thức khai mạc, ban tổ chức đã cho trình chiếu lại đoạn phim dài 13 phút của buổi họp báo ngày 13-7-1982 tại Hà Nội của ông Võ Đại Tôn. Trong buổi họp báo nầy, ông Võ Đại Tôn đã dõng dạc tuyên bố: “Tôi sẽ không phản bội bất cứ ai đã giúp đở, ủng hộ tôi. Tôi tiếp tục duy trì  lập trường chính trị của tôi cho tự do và giải phóng dân tộc. Tôi sẳn sàng nhận bất cứ một bản án nào mà chế độ cộng sản dành cho tôi.”

            Sau đó, bài ca “Mẹ Việt Nam ơi” lời  của ông Võ Đại Tôn đã  được nhóm Lam Son hợp ca để mở đầu cho buổi ra mắt sách. Dịp nầy, ông Phạm Phú Nam cho biết vào năm 1992, khi ông chủ trương tờ tạp chí  Thị Trường Tự Do đã đăng bức ảnh của chiến sĩ Võ Đại Tôn  lên trang bià màu với tựa đề: Niềm Khao Khát Một Lãnh Tụ , hiện  ông vẫn còn giữ tờ báo nầy và nay xin trao lại cho ông Võ Đại Tôn làm kỷ niệm.

            Nhà báo Huỳnh Lương Thiện, trong vai trò giới thiệu tác phẩm: “Tuổi Thơ và Chiến Tranh”  đã cho biết vào năm 1982 ông và các bạn du học tại Nhật đã được một ký giả Nhật thông báo và ônd đã thu được đoạn phim trên đài truyền hình Nhât về buổi họp báo của ông Võ Đại Tôn tại Hà Nội. Sau khi xem đoạn phim nầy, ông rất ngưỡng mộ về sự lẫm liệt, anh hùng của ông Võ Đại Tôn. Năm1991, khi ông Võ Đại Tôn được thả về Úc  thì ông chỉ còn là một thân xác tiều tuỵ, nhưng ánh mắt vẫn còn sáng ngời. Nhận định về tác phẩm “ Tuổi Thơ và Chiến Tranh” , ông Thiện cho biết trong cuốn sách đã có đoạn nói về cái chết của bà Mẹ  bị cộng sản đánh đến chết mà ông Võ Đại Tôn  đã diễn tả rất cảm động. Theo ông Thiện thì tác phẩm nầy rất cần cho giới trẻ Việt Nam hầu hiểu rõ hơn về cuộc chiến Việt Nam .

        Ông Nguyễn Trung Cao dịp nầy đã đọc một bài thơ tặng cho ông Võ Đại Tôn,

            Sau đó, ông Vũ văn Lộc cho biết ông Võ Đại Tôn là một trong những người đã đem thân xác ra chiến đấu cho sự tự do. Ông khen ngợi ông Võ Đại Tôn, đã khéo léo gạt được nhà cầm quyền Hà Nội để có một cuộc họp báo quốc tế mà nhờ đó ông Tôn mới có dịp tuyên bố những lời phát biểu đanh thép của mình.

            Trong phần tâm tình, ông Võ Đại Tôn cho biết ông đến đây chính là ông mong được gặp lại các anh em bạn cũ đã từng sát cánh với ông đấu  tranh chống Cộng trong tình gia đình. Ông đến đây không phải để bán sách là vì ông không đem bán những dòng máu, nước mắt của mình  với thời gian 10 năm lao tù với 96 lần bị Cộng Sản  tra tấn và bị biệt giam.  Dịp nầy, ông Võ Đại Tôn đã kể lại những mẫu chuyện mà ông đã chứng kiến khiến ông cảm thấy tủi nhục cho thân phận của người dân Việt.

            Ttong chuyến từ Mã Lai về Úc , ông đã gặp một nhóm người đã biểu tình  tại Úc đòi phải cứu các con cá voi. Ông mới nói với họ rằng  các ông đã có thấy con cá voi chưa? Một người Úc đã trả lời: Chưa. Ông bèn mới họ rằng: Trên biển đông, đã có hàng ngàn người Việt trên đường vượt biển tìm tự do đã vùi thân trên biển cả, thế mà các ông không  lên tiếng biểu tình? Người Úc nầy chỉ nhìn ông một cách im lặng không trả lời.

            Vào tháng 6 năm 2009, trong một buổi họp báo tại Tòa Bạch Ốc, có một con ruồi đậu vào tay tổng thống Obama ,ông cố đuổi con ruồi bay đi, nhưng nó cứ bay quanh bàn  tay ông. Sau cùng, ông Obama đã lấy tay đập chết con ruồi nầy. Hành động của ông liền bị báo chí Mỹ lên tiếng chỉ trích vì đã có hành động không tế nhị với con ruồi và bị  Ủy Ban Bảo Vệ Súc Vật phê phán. Ông cảm thấy tủi nhục cho thân phận những người tỵ nạn Việt Nam tại trại Galăng, các ngôi mộ ít người chăm sóc, ngay cả mộ phần được gọi là Miếu Ba Cô của  3 cô gái Việt đã bị hải tặc hãm hiếp đến chết  ít  được ai quan tâm  đến.

            Ông Tôn cũng kể lại câu chuyện khi ông sang Mạc Tư Khoa  để thuyết trình về Nhân quyền , ông đã gặp cô Hoàng Dung, một sinh viên du học. Sau buổi hội thảo, cô Hoàng Dung đã chạy theo ông van xin một điều là xin được gọi ông bằng Bố. Điều nầy đã làm cho ông rất xúc động trước tình tự dân tộc mà cô Hoàng Dung đã dành cho ông..

            Nhắc về nội dung tác phẩm “Tuổi Thờ và Chiến Tranh”, ông Võ Đại Tôn đã cho biết Mẹ của ông đã  vì  bị cộng sản đánh chết  bằng cái cuốc khi ông chỉ mới được 10 tuổi.  Ngày ông ra đi kháng chiến với  40 tuổi, khi ông được thả về với tuổi 50 thì  thân thể tiều tụy giống như một ông già 80 tuổi.  Ông đã đưa cho cử tọa xem tấm hình nầy. Ngày về, con trai út của ông đã không nhận ra ông. Vợ ông là Tuyết Mai đã mất đi tuổi thanh xuân, riêng ông đã nướng hết tuổi trung niên của mình trong nhà tù. Thế nhưng, khi ra tù, ông vẫn bị một số người gọi ông là Võ Đại Bịp v.v.. Ông mong mõi mọi người hiểu ông hơn, như đứa con trai của ông đã hiểu ông. Lúc đầu cậu con trai đã xa lạ với ông, nhưng nay mỗi khi ông đi biểu tình chống Cộng, thì chính đứa con trai nầy luôn nhắc nhở ông rằng: Ba nhớ cầm theo lá quốc kỳ  VNCH.

Sau cùng, ông cho biết ông chiến đấu để cho dân Việt được thoát ra khỏi cảnh tủi nhục của một quốc gia nhược tiểu và mất tất cả quyền tư do. Ông  nay đã 75 tuổi, chỉ xin được đứng chung hàng ngũ của người Việt Quốc Gia để cứu nước.

            Sau đấy, ông Phan Quang Tuệ cho rằng sự bất hạnh của đất nước, mỗi thế hệ đều phải có trách nhiệm.

Dịp nầy, nhà báo Nguyễn Vạn Bình đã cho biết cảm tưởng của mình khi xem qua đoạn phim họp báo cũng như qua phần tâm tình của ông Võ Đại Tôn. Ông Bình cho biết  vào tháng 11 năm ngoái, trong dịp  đi  Úc, ông đã có dịp ghé đến nhà của ông Võ Đại Tôn và dùng cơm tối. Ông Bình nhận thấy ông Võ Đại Tôn dù tuổi đã cao, trãi qua bao sóng gió, vinh nhục nhưng tấm lòng sắt son của ông dành cho quê hương vẫn không thay đổi. Qua đoạn phim của buổi họp báo cũng như qua phần tâm tình của ông, ông Bình đã  tìm thấy nơi ông Võ Đại Tôn  một sự dũng cảm, lòng yêu nước  và sư hy sinh to lớn. Sự dũng cảm của ông Võ Đại Tôn khiến ông nhớ đến anh hùng Trần Bình Trọng đời nhà Trần, khi bị quân Mông Cổ bắt làm tù binh, trước  sự chiêu dụ của địch, tướng Trần Bình Trọng  đã dỏng dạc tuyên bố: Ta thà làm qủy đất Nam  chứ  không them làm Vua đất Bắc.  Chính nhờ sự khí phách và lòng yêu nước của Trần Bình Trọng đã giúp cho Đức Trần Hưng Đạo và quân dân nhà Trần đánh bại quân Mông Cổ . Ông Bình cũng nhắc đến anh hùng Nguyễn Thái Học cùng 12 chiến sĩ của Việt Nam Quốc Dân Đảng đã hiên ngang lên đoạn đầu đài bị Pháp chém đầu mà vẫn không khuất phục thực dân Pháp. Trước khi chết, Nguyễn Thái Học đã hô to:Việt Nam Muôn Năm.Sự dũng cảm của ông Nguyễn Thái Học đã khiến cho cuộc kháng chiến chống Pháp lan rộng mạnh mẽ sau đó. Ông cho biết, tất cả những sự hy sinh của anh Trần Văn Bá, ông Hoàng Cơ Minh cũng như của ông Võï Đại Tôn sẽ không vô ích cho cuộc đấu tranh chống Cộng.

            Buổi ra mắt sách đã chấm dứt vào 4 giờ cùng ngày, sau phần phát biểu của các ông Nguyễn Mộng Hùng, Lại Đức Hùng, Nguyễn Phước Đáng, Nghê Lữ và phần điều khiển chương trình của ông Đỗ Hùng./.

 

  

NGUYEN VAN BINH
Ban Nguyet San YDAN
San Jose, CA va Denver, CO
ydannews@sbcglobal.net



Nguyễn Vạn Bình :Ðiệp Viên ÐẶNG MỸ DUNG Ra Mắt Tác Phẩm: NGÀN GIỌT LỆ RƠI

Ðiệp Viên  ÐẶNG MỸ DUNG

Ra Mắt Tác Phẩm: NGÀN GIỌT LỆ RƠI

 

Gioi thieu cuon sach nen doc.
 
www.ngangiotleroi.com 
 

 

  San Jose (Ý Dân):  Gần 250 đồng hương đã đến tham dự buổi ra mắt tác phẩm “Ngàn Giọt Lệ Rơi” của bà Đặng Mỹ Dung, đến từ  Georgia do cơ quan IRCC tổ chức  tại hội trường Isaac Newton của quận hạt Santa Clara, San Jose vào 1 giờ trưa ngày 16-5-2010 vừa qua. Trong thành phần khách tham dự, chúng tôi nhận thấy có  cựu đại tá Nguyễn Hồng Tuyền, cụ Trương Đình Sữu, các bác sĩ Nguyễn Thượng Vũ, Nguyệt Mehlert, thẩm phán Phan Quang Tuệ, luật sư Nguyễn Thị Thu Hương, cựu luật sư Lê Duy San, cựu luật sư Ngô Văn Quang,  Gs Lưu Khôn, các ông Nguyễn Mộng Hùng, Đỗ Thành Công, Đỗ Hùng, Huỳnh Lương Thiện, Nguyến Tấn Đức, Nguyễn Tấn Thọ, Vũ Văn Lộc, Nguyễn Quan Vĩnh, Hoàng Cơ Định, Châu Minh Hoàng, Nguyên Trung, Nguyễn Xuân Hoàng, các bà Trương Gia Vy, Ngọc Bích, Cao Ánh Nguyệt , Amy Dương v.v. và giới truyền thông.

            Sau nghi thức chào quốc kỳ, ca sĩ Thu Hà (bác sĩ Nguyệt Mehlert) cùng một số bà trong ban tổ chức đã đồng ca bài Cô Gái Việt để  khai mạc cho buổi ra mắt sách.

           Sau đó, bà Salle Hayden cho biết  nhờ vào tác tác phẩm “A Ten Thousand Tears Falling”  của bà Đặng Mỹ Dung mà bà đã hiều rõ hơn về những bi thương trong cuộc chiến Việt Nam .

Bà Phan Thị Châu, phu nhân của ông Vũ Văn Lộc  dịp nầy đã đọc bức thơ cáo lỗi  vắng mặt của nữ nghệ sĩ Kiều Loan, trưởng ban tổ  chức vì phải về Việt Nam thọ tang cha là thi sĩ Hoàng Cầm.

            Trong phần giới thiệu tác phẩm: “Ngàn Giọt Lê Rơi”,  bác sĩ  Nguyệt Mehlert cho biết tác phẩm đã kể lại thân phận của người phụ nữ Việt  trong cuộc chiến Việt Nam qua hai thế hệ của người Mẹ và của chính bản thân cuả tác giả.. Bà Nguyệt Mehlert cho rằng trong chiến tranh Việt Nam đã  gây nên bao cuộc chia ly như chồng phải đi tù, con chết, người vơ sang ngang v.v. Qua tác phẩm: Ngàn Giọt Lê Rơi: gia đình của tác giả đã phải lâm vào cảnh chia ly bi thương nầy chỉ vì khác nhau về ý thức hệ. Năm 1954, người Cha đã đi tập kết ra Bắc đem theo đưá con trai lớn 17 tuổi và bỏ lại vợ, con ở trong Nam . Biến cố 30-4-1975 xảy ra, người Cha vào Nam   tìm vợ, con thì mọi người  đã ra đi tỵ nạn tại Hoa Kỳ. Sang Hoa Kỳ, tác giả đã trở thành điệp viên CIA hoạt động chống lại chế độ CSVN. Theo bác sĩ Nguyệt Mehlert thì cuộc đời của tác giả gặp đầy những trở ngại trớ trêu.

            Tiếp đến, nhà báo Trương Gia Vy trong phần giới thiệu tác giả cho biết bà Đặng Mỹ Dung sinh năm 1946 tại Cần Thơ.Thân sinh của chị là ông Đặng Quang Minh, đại sứ Việt Cộng tai Liên Xô . Vào năm 1954  cha của chị đã mang theo anh trai của chị là Đặng Văn Khôi, 17 tuổi ra Bắc tập kết. Ông Ngoại của chị hiểu rõ chế độ Cộng Sản nên Mẹ của chị nhất định không theo chồng, ở lại miền Nam nuôi 6 đứa con. Năm 18 tuổi, chị Mỹ Dung vào làm cho đài phát thanh ở Cần Thơ dưới quyền của ông Nguyễn Đạt Thịnh. Năm 1966, chị vào làm sở Mỹ và từ đấy đã quen và hứa hôn với ông John Krall, đại úy Hải  Quân của  Hoa Kỳ . Năm 1968, chị Dung sang Mỹ để kết hôn với ông john Krall. Nhưng chỉ sau 3 tháng ở Mỹ,chị Dung lại đòi về Việt Nam vì nhớ nhà , nhưng bà Mẹ không cho. Vào tháng 4 năm 1975, trước khi mất miền Nam , chồng chị về Việt Nam để đón mẹ và các em sang định cư tại Hoa Kỳ.  Tháng 5, 1975, chị Mỹ Dung đã trở thành điệp viên của CIA.

            Trong phần nói chuyện của tác giả, bà Đặng Mỹ Dung đã ngỏ lời cám ơn các giáo sư, thân hữu của Hội Phan Thanh Giản-Đoàn Thị Điểm cũng như ông anh họ là cựu đại tá Nguyễn Hồng Tuyền cùng các em. Bà cũng cám ơn ban tổ chức cùng quan khách đã giúp bà  ra mắt sách  qui tu được  đông đảo người tham dự như hôm nay. Bà cho  biết mục đích viết  sách  để ghi ơn và tưởng nhớ Cha, Mẹ và những người thân yêu đã ra đi.

Sau đó, bà Dung nêu ra sự việc vào năm 1977 khi gặp thân phụ tại Luân Đôn, bà đã thố lộ cùng Ba của chị là từ ngày xa Ba, bà rất là cô đơn , bà đã viết nhật ký trong suốt 20 năm đó, bà  đã phải đổi từ  họ Ba sang họ Mẹ. Bà cũng ngỏ ý muốn thân phụ viết hồi ký, thì  Ba của chị đã bảo với chị rằng: “Ba không thế viết hồi ký, vì chỉ có đảng CSVN mới có quyền viết hồi ký. Sau đó, ông nhắn nhủ: “Thôi thì con viết hồi ký thay cho Ba đi.”.

Bà Đặng Mỹ Dung cho biết ra hải ngoại, bà cố giữ gìn truyền thống tốt đẹp của Việt Nam . Bà Dung cho biết cuộc đời của bà đã lấy hình ảnh của Cha Mẹ làm hành trang. Bà đã lấy “ Trái Tim yêu nước của người Cha và lá Gan của Mẹ ” đã can đảm chọn lý tưởng Tự Do làm hướng dẫn cho  đời mình.

Trả lời câu hỏi của nhà báo Nguyễn Vạn Bình là đứng trên quan điểm của ông cũng như của nhiều người Việt Quốc Gia thì thân phụ của chị không thể nói là yêu nước.Vì yêu nước là đem đất nước được độc lập, hùng cường và người dân được ấm no hạnh phúc. Nhưng từ ngày chế độ Cộng Sản áp đặt trên quê hương, thì  Việt Nam dần dần mất đất, biển cho Trung Cộng, người dân bị tước đoạt các quyền tự do, người phụ nữ phải bán thân để sống. Theo ông Bình thì  thân phụ của chị Mỹ Dung đã đi lầm đường.  Bà Dung cho rằng thời gian bà sống  với thân phụ rất ngắn ngủi. Khi còn bé cho đến 9 tuổi đã xa cha, bà chỉ thấy qua hình ảnh Ba mình đã hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

Trả lời câu hỏi của ông Trần Trung Chính phải chăng tinh thần chống Cộng của bà đã ảnh hưởng từ  người Mẹ ?.  Bà Dung cho biết Mẹ của mình đã hai lần chống Cộng mạnh mẽ.  Đó là vào năm 1954, bà không đi tập kết ra Bắc cùng chồng và vào năm 1975 đã đi tỵ nạn sang Mỹ. Bà Dung cũng cho biết  tinh thần chống Cộng của cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại cũng đã ảnh hưởng đến bà rất nhiều.

Ông Vũ văn Lộc đề nghị bà Dung nên thực hiện cuốn phim Ngàn Lệ Giọt Rơi, một câu chuyện bi thương trong cuộc chiến Việt Nam

Trả lời câu hỏi của ông Nguyễn Mộng Hùng là bà đã phải trải qua bao nhiêu thử thách để trở thành điệp viên cho CIA? Bà Dung cho biết trái lại CIA đã phải trãi qua nhiều thử thách mới được bà nhận lời cộng tác.

Trả lời câu hỏi của ông Lê Duy San là ông thân sinh của chi Dung có trái tim lầm lẫn chứ không phải là trái tim yêu nước ? Bà Dung cho rằng trước năm 1954, lúc ấy bà được 9 tuổi thì hình ảnh thân phụ của bà theo Việt Minh chống thực dân Pháp là một hành động yêu nước. Sau năm 1954, bà đã không được liên lạc với Ba, nên bà không hiểu Ba mình đã lỡ cởi lưng cọp hay Ba chính là cọp, chị hoàn toàn không rõ.

Bà Ngọc Bích sau đó cũng bày tỏ đồng quan điểm với các ông Nguyễn Vạn Bình và Lê Duy San.

Trả lời ông Nguyễn Tấn Đức là có khi nào Ba của chị tiết lộ rằng Ba của chị đã đi lầm đường không? Phải chăng lời nhắn nhủ của thân phụ với chị là: “Thôi thì con hãy viết hồi ký thay cho Ba là một lời nhắn nhủ không?”  Bà Dung cho rằng Ba của chị là một nhà ngoại giao nên ăn nói rất là đắn đo. Bà Dung cho biết có điều bà nhận thấy nơi Ba của chị là một người chồng rất chung thủy với vợ và thương các con. Ngày ông chết cách đây 25 năm , không có ai ngoài những người trong gia đình của chị đã chạy ra nhận ông làm chồng hay làm cha như trường hợp của ông Hồ Chí Minh.

     Tiếp theo ông Hoàng Cơ Định cho biết ông đã say mê đọc quyển sách của bà Đặng Mỹ Dung ấn bản bằng Anh ngữ  “A Thousand Tears Falling” và cho rằng đây là một quyển sách rất giá trị

Sau đó, nhà bào Huỳnh Lương Thiện cho rằng câu chuyện xảy ra trong gia đình tác giả là một bi kịch. Nhưng theo ông Thiện, bà Mỹ Dung nên suy nghĩ lại  đừng nên ra trước đám đông người mà nói rằng Ba mình là người yêu nước. Vì  đảng CSVN đã đem khổ nạn  cho dân tộc Việt Nam . Theo ông Thiện thì Ba của chị Dung đã bị đảng CSVN lợi dụng lòng yêu nước . Bà Đặng Mỹ Dung cho biết bà sẽ không lấy lại lời nói nầy. Theo ý bà Dung  thì làm thân phận người con, bà không thể lên án hay chỉ trích Ba của mình, quyền phê phán nếu có về Ba mình là thuộc quyền của mọi người.

Sau cùng, ông Nguyễn Quan Vĩnh đã nhắc lại những kỷ niệm trước đây nhờ vào những tin tức do bà Đặng Mỹ Dung cung cấp mà cộng đồng Việt Nam ở Bắc Cali. đã biểu tình rượt đuổi tên đại sứ VC Hà Văn Lâu ở San Franciso khiến tên nầy phải luôn đi cửa hậu.

Ngoài ra, tác giả cũng đã trả lời một số câu hỏi của các ông Vũ Lập, Phan Quang Tuệ, Nguyễn phước Đáng, Nguyễn Tấn Thọ v.v.

Sau đó, tác giả đã ký tên trên sách. Được biết cả hai sách ấn bản bằng Anh Ngữ và Việt ngữ đã được cử tọa mua ủng hộ đến 230 cuốn.

Được biết gia đình của tác giả đã là nạn nhân đau thương trong cuộc nội chiến do khác ý thức hệ gây ra. Chị đã phải xa Cha từ năm 9 tuổi. Mẹ của chị đã phải xa chồng, một mình nuôi nấng và dạy dỗ 6 người con. Người anh cả của tác giả là ông Đặng văn Khôi, theo cha tập kết ra Bắc vào năm 1954 khi được 17 tuổi. Bị động viên, anh của chị phải gia nhập vào quân đội

Bắc Việt. Đến năm 1975, ông Khôi  vào Nam lại bị tù Cộng sản vì đi vượt biên. Đến năm 1986, vượt biên mới thành công và anh của chị sang định cư tại Mỹ. Ông Khôi đã chết ở Mỹ vào năm 2006. Trong khi đó, người em út là Đặng Hải Vân  là phi công trực thăng của QLVNCH. Năm 1971, em của chị đã bị tử nạn phi cơ tại Hoa Kỳ.  Nay thì Ba, Mẹ, ông anh cả và người em út đã ra người thiên cổ. Về lập luận của một số người bảo chị phải phê phán, lên án hành động Ba của chị. Bà Đặng Mỹ Dung cho biết truyền thống tốt đẹp và luân lý của Việt Nam không cho chị làm điều nầy. Chị không muốn trở thành Trường Chinh người đã đấu tố Cha Mẹ mình đến chết trong cuộc cải cách ruộng đất đẩm máu  đã xảy ra ở Bắc Việt vào các năm 1953-1956.

Buổi ra mắt sách qua phần điều khiển chương trình của luật sư Nguyễn Thu Hương đã chấm dứt vào 4 giờ chiều cùng ngày. ./.

 

   

NGUYEN VAN BINH
Ban Nguyet San YDAN
San Jose, CA va Denver, CO
ydannews@sbcglobal.net



NV Đỗ Tiến Đức : Phát Biểu về Ông Võ Đại Tôn

Võ Đại Tôn Hoàng Phong Linh

 

 Đỗ Tiến Đức

 

Phát biểu trong buổi sinh hoạt “Hành trình công tâm để xây dựng lại niềm tin” và ra mắt thơ văn của ông Võ Đại Tôn tại nhà hàng Emerald Bay, Santa Ana ngày 12 tháng 6, 2010.

 

Đã có quá nhiều người nói và viết về ông Võ Đại Tôn. Và gọi ông bằng những danh từ đẹp nhất cho một đời người.

Cố thi sĩ Nguyên Sa gọi ông Tôn là chiến sĩ anh hùng, so sánh ông với một nhân vật lịch sử là Cao Bá Quát.

Thi sĩ Du Tử Lê chẳng những gọi ông Tôn là anh hùng mà còn là “nhị trùng bản ngã anh hùng Võ Đại Tôn.

Thi sĩ Cao Tiêu làm thơ tặng ông Tôn, gọi ông Tôn là “đại hùng”.

Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện cũng gọi ông Tôn là anh hùng. Ông còn gọi ông Tôn là chiến sĩ.

Cố nhà văn Xuân Vũ gọi ông Tôn là một nhà cách mạng, là lương tâm của thời đại.

Nhà báo Nguyễn Đạt Thịnh, cựu Trung tá Quân đội VNCH gọi ông Tôn là “một vị anh hùng”.

Nhà báo Giao Chỉ so sánh ông Tôn với danh tướng Trần Bình Trọng, là chiến sĩ anh hùng, là nhà cách mạng, là nhà thơ, là “một anh hùng còn sống”, là “người lính với nhị trùng bản ngã”..

Cũng theo nhà báo Giao chỉ thì trong giai đoạn đầu của lịch sử phục quốc của người Việt tỵ nạn cộng sản, có ba người đã dấn thân về nước. Đó là ông Trần Văn Bá từ Âu châu, ông Hoàng Cơ Minh từ Mỹ châu và ông Võ Đại Tôn từ Úc châu.  Hai ông Bá và Minh đã hy sinh. Chỉ còn ông Tôn, dù rằng ông đã có hành động tự sát khi Việt cộng đưa ông ra họp báo, ông đã cất cao tiếng nói bất khuất, giữ vững lập trường diệt cộng cứu nước, y như khi xưa Trần Bình Trọng đã dõng dạc nói vào mặt kẻ thù “Thà làm qủi nước nam còn hơn làm vương đất bắc”.

Cho nên ông Tôn trở thành “một anh hùng còn sống”.

Cho nên hôm nay chúng ta nói về  ông Võ Đại Tôn không phải trong một buổi lễ tưởng niệm, truy điệu, mà chúng ta hân hạnh được ngồi chung với ông bà Võ Đại Tôn  trong hội trường này.

Trở lại câu chuyện ba chục năm trước, khi mà ông Võ Đại Tôn đã tạm bỏ, mà nhiều phần là bỏ luôn, cuộc sống yên ấm nơi hải ngoại, với bà vợ trẻ đẹp, để lội suối băng rừng về quê hương chống thù cứu nước. Thử hỏi ông có mơ một ngày ông trở thành Tổng thống chăng ? Tôi nghĩ là ông Tôn không có ảo tưởng như thế.

Hẳn ai cũng biết, khi Hồ Chí Minh về hang Pắc Pó, ông ta chưa có dân, chưa có quân đội, nhưng ông ta có cả một đế quốc cộng sản Nga Tầu yểm trợ. Còn ông Tôn, trở về nước chỉ với vài chiến hữu, các đồng minh cũ của Việt Nam cộng hòa chẳng những đã không yểm trợ mà còn tạo dư luận chống đối, cô lập ông. Họ đề cao hình thức đấu tranh bất bạo động để trói tay kháng chiến Việt Nam. Họ không muốn Việt Nam có một Arafat. Họ đẩy chúng ta vào cuộc đấu tranh cho nhân quyền để chúng ta quên đi cuộc đấu tranh giải phóng. Thế mà cũng có một số đảng phái nghe theo, trước khi vào cuộc đấu tranh cứ phải minh định với kẻ thù rằng, chúng tôi chủ trương bất bạo động nghĩa là chúng tôi không động tới người các ông đâu, chúng tôi đã tự trói tay chúng tôi rồi.

Rõ ràng là kẻ thù của chúng ta không chỉ là kẻ vi phạm nhân quyền.  Giết dân, bán dân, bán lãnh thổ của cha ông không phải là vi phạm nhân quyền. Chúng là kẻ phạm tội diệt chủng. Chúng là kẻ bán nước. Chúng ta tội đồ của dân tộc.

Khi chúng ta chỉ kết án cộng sản vi phạm nhân quyền là chúng ta đã cải tội danh cho chúng, từ tội đại hình xuống tội vi cảnh, từ tội mà các vua thời trước phạt chu di tam tộc, xuống còn tội đậu xe mà quên bỏ tiền vào đồng hồ.

Ông Tôn đã xông vào cuộc chiến rõ ràng không phải ông muốn về Hà Nội để biên giấy phạt kẻ vi phạm nhân quyền. Ông muốn trao cho tội đồ cộng sản một bản án phản dân hại nước.

Nhưng có lẽ người chiến sĩ Võ Đại Tôn cũng đã ý thức rằng sẽ phải chiến đấu rất gian khổ mới hy vọng đạt được mục tiêu là giải phóng tổ quốc. Cho nên ông đã khẳng định ông chỉ là một viên gạch lót đường. Nghĩa là ông mang mạng sống của ông để kích thích lòng yêu nước, để mở ra cuộc đấu tranh vì đã có viên gạch lót đường rồi, toàn dân hãy  lên đường và xốc tới. Hơn ai hết, ông hiểu rằng vòng hoa vinh quang sau cùng sẽ không choàng lên viên gạch lót đường mà sẽ quàng lên cổ những người đã nhờ viên gạch lót đường mà đi tới chiến công.

Cái ý nghĩa “viên gạch lót đường” còn được sáng chói trong buổi cộng sản đưa người tù Võ Đại Tôn ra trước một cuộc họp báo ở Hà Nội . Chúng đinh ninh sau những trận đòn tàn bạo, sau những ngày bỏ đói, những đêm không cho ngủ, ông Tôn đã đầu hàng vì bản tính chung con người là tham sinh úy tử. Ngờ đâu, trước các phóng viên quốc tế, ông Võ Đại Tôn tuyên bố ông sẽ tiếp tục  tranh đấu cho tự do và giải phóng dân tộc.

Chắc chắn là ông Tôn thừa biết hậu qủa của những lời ông vừa nói. Vâng, ngày 13 tháng 7 năm 1982 tại Hà Nội, có thể khẳng định là ông Võ Đại Tôn đã quyết định tự sát. Tự sát để cho trọn ý nghĩa của kẻ tự nhận làm viên gạch lót đường. Tự sát để làm sáng cái lý tưởng của người chiến sĩ, lên đường tranh đấu không vì công danh phú quí cho bản thân. Tự sát để cái viên gạch lót đường kia sẽ có hàng vạn gót chân của người Việt yêu nuớc bước lên tham gia cuộc đấu tranh diệt cộng. Tự sát để sớm có một ngày những viên gạch tinh hoa của giòng giống Việt Nam không chỉ dùng lót đường mà sẽ  được dùng để xây dựng nên một toà nhà Việt Nam nguy nga tráng lệ.

Chính hành động tự sát của ông Võ Đại Tôn trong buổi họp báo ở Hà Nội ngày 13 tháng 7, 1982 đã khiến ông trở thành một Trần Bình Trọng của thời đại. Ông xứng đáng được vinh tặng hai tiếng anh hùng.

Nhưng, tại sao ông Võ Đại Tôn lại có quyết định băng suối bằng rừng trở về nước, mong dấy lên một cuộc đấu tranh chống cộng trong thời điểm mà nhiều người khác cho rằng chưa thuận lợi ?

Câu trả lời chung chung sẽ là : Vì ông Võ Đại Tôn yêu nước.

Tôi nói chung chung là bởi vì lòng yêu nước trong người Việt khó có thể biết ai hơn ai. Tại hải ngoại có biết bao nhiêu cựu quân cán chính Việt Nam cộng hoà, sao chỉ có vài ba người như ông Tôn lăn mình vào công cuộc phục quốc ? Vài ba người đó chắc chắn là phải có thêm một động lực mạnh mẽ nào khác.

Tôi được quen biết ông Võ đại Tôn trên 40 năm hồi cùng làm việc ở Bộ Thông tin, nhưng tôi vẫn phải đi tìm vì tôi chưa được thấy điều mà tôi muốn biết. Mãi đến khi đọc xong cuốn “Tuổi thơ và chiến tranh” hồi ký của Võ Đại Tôn, thì tôi mới có lời giải đáp.

Cuốn sách này có tựa là “Tuổi thơ và chiến tranh” thì tuổi thơ là tác giả lúc 10 tuổi, và chiến tranh là lúc cộng sản nổi lên khống chế dân tộc Việt Nam. Gia đình ông Tôn đang giàu có bỗng một sớm một chiều cơm không có mà ăn. Mẹ ông bị ho lao đã tới thời kỵ nặng nhưng không thuốc thang điều trị, không bồi dưỡng, bị cô lập trong một chòi lá ngoài vườn để tránh lây bệnh cho gia đình. Là một người con muôn vàn thương yêu mẹ, nên ông Tôn vẫn lẩn quẩn bên mẹ, chăm sóc miếng ăn cho mẹ, ban đêm không được nằm bên mẹ thì ông đứng trong phòng ngủ của ông mà nhìn sang chòi lá hiu hắt ánh đèn, nơi mà ông biết mẹ ông cũng đang ngồi nhìn về phía đàn con…

Thế rồi, vì muốn chồng con thoát cảnh tù túng đói khổ nên không xá gì đang bị bệnh nặng, mẹ ông vẫn tình nguyện vượt vòng phong tỏa của cộng sản  những mong mở ra một đường sống cho chồng con.

Chẳng may bà bị Việt cộng bắt và Việt cộng chém bà bằng những nhát cuốc. Sau đó Việt cộng đã chôn sống bà. Phải nhiều năm sau, ông Tôn mới được sờ vào thân thể người mẹ nhưng không phải là làn da mịn màng ấm áp mà chỉ còn là những khúc xương tàn bị chôn vùi ngoài đồng hoang cô quạnh không một nén nhang, không một giọt nước mắt của chồng con.

Theo tôi, chính nỗi căm thù cộng sản giết mẹ từ tiềm thức này đã biến thành hành động, đưa Võ Đại Tôn vào con đường tranh đấu dù đó là một cuộc tranh đấu rất cô đơn, mà những người cho là khôn ngoan sẽ không làm.

Ngày xưa, trong lịch sử Việt Nam có bà Trưng,  đang là khách má hồng bỗng phất cờ khởi nghĩa vì thù quân Tầu đã giết chồng bà.  Thư sinh Nguyễn Trãi vì thù giặc bắt cha mà trở thành quân sư của Bình Định Vương Lê Lợi.

Ngày nay, Võ đại Tôn từ hải ngoại vượt rừng băng suối về quê hương mưu đồ phục quốc cũng là do nợ nước cộng với mối thù cộng sản chôn sống mẹ ông.

Thưa qúy vị,

Hai mươi năm trước, khi ông Võ Đại Tôn được thả do áp lực của quốc tế, tôi đã tổ chức tại nhà tôi buổi tiếp đón ông bà lần đầu tiên trở lại nước Mỹ.

Với gần  một trăm người, gồm rất nhiều anh em thuộc các đoàn thể, chính đảng khác nhau, mọi người lúc bấy giờ đều hứng khởi với sự xuất hiện của ông Võ đại Tôn trong cuộc  trao đổi nhau về phương thức đấu tranh. Và, điểm đầu tiên là nhiều vị đã ân hận rằng khi ông Tôn “lên đường tranh đấu”, bị tù không có ngày về, thì rất ít ai ở Mỹ thăm hỏi và giúp đỡ về tinh thần và vật chất cho bà Tôn  ở bên Úc.

Cũng trong buổi đón tiếp ông bà Võ Đại Tôn tại nhà tôi năm 1993, một ý kiến được nhiều vị gật gù đồng ý là cuộc đấu tranh chống cộng không phải là cuộc đi tìm vàng để  phải tranh giành nhau. Các đoàn thể chống cộng nên coi nhau như một bộ phận của cùng một cơ thể. Người này là mắt thì người kia là mũi. Người này là tay thì người kia là chân.   Nếu là một người bình thường thì tay sẽ không chặt chân, tay sẽ không đâm mù mắt. Mắt sẽ không ích kỷ để mặc cho chân bước xuống hố. Bởi vì những hành động hại nhau như thế đều là tự sát.

Thế nhưng, sau đó tôi vẫn nghe ông Võ đại Tôn than thở, dù than  thở bằng thơ : Anh không sợ kẻ thù trước mặt mà sợ người chiến hữu sau lưng.

Đồng thời, tôi còn nhớ một số ý kiến hôm đó là, cộng đồng chúng ta phải lập ra một qũi gọi là qũi tranh đấu. Chúng ta đã sẵn sàng gửi tiền về giúp một số nhà dân chủ trong nước, nhưng những nhà đấu tranh ở hải ngoại tại sao chúng ta không yểm trợ ? Cụ thể, với một người như Võ Đại Tôn, tên tuổi ông được cả thế giới biết đến, lý tưởng chống cộng của ông đã được thử thách, tại sao chúng ta không giúp ông giải quyết các nhu cầu cuộc sống, để ông có toàn thời gian làm việc cho công cuộc đấu tranh phục quốc ?  Nếu ông phải đi làm một công việc nào đó để mưu sinh và nuôi vợ con thì thì giờ của ông sẽ bị ràng buộc với công việc, như thế cuộc đấu tranh của ông tất nhiên sẽ bị hạ xuống thành “part time” cuối tuần.  Tiếc rằng vì không có qũi tranh đấu nên nhiều người dù rất nặng lòng với quê hương cũng đành nhìn thời gian trôi qua.

Thê thảm hơn, một số vị muốn đấu tranh đã tự đi tìm nguồn tài trợ khác cho mình thì chẳng những đã không được thông cảm mà còn bị đánh phá rất trớ trêu.

Mang chuyện cũ từ hai mươi năm trước ra nói, chẳng qua là vì tôi rất quí trọng và thương mến Võ Đại Tôn. Bây giờ dù ông đã được vinh danh là anh hùng, là liệt sĩ sống nhưng tôi biết, đó không phải là giấc mộng của ông.  Giấc mộng của ông là được nhìn thấy quê hương không còn màu cờ máu , không còn cộng sản để tuổi thơ Việt Nam được sống hồn nhiên trong sáng, để mọi người dân Việt  được sống tự do, để Việt Nam được năm châu bốn biển nể phục..

Đó là lý do mà ông Tôn  thường quên rằng tuổi ông đã thuộc loại cổ lai hy. Mỗi lần nghe tin bên Úc đồng bào ta có cuộc biểu tình chống cộng  là tôi thấy hình ảnh Võ Đại Tôn với lá cờ vàng ba sọc đỏ đi đầu. Tháng trước, ngay khi vừa đặt chân đến Nam Cali ông đã có mặt trong các buổi lễ tưởng niệm Tháng Tư Đen. Ngoài ra, ông viết sách, viết báo, làm thơ. Chữ của ông thay ông tiếp tục làm viên gạch lót đường. Thơ của ông là tiếng trống thúc đẩy anh em và đồng hương đừng quên nhiệm vụ đối với tổ quốc.

Cố thi sĩ Nguyên Sa gọi Võ Đại Tôn tức thi sĩ Hoàng Phong Linh thuộc trường phái “thi ca ái quốc”. Thi sĩ Du Tử Lê viết rằng Võ Đại Tôn là “tài hoa của đất nước” nên trong thơ của ông mới có được những rung cảm đỉnh ngọn, có nhịp đập của tổ quốc trong dòng máu Tiên Rồng.

Như thế thì, ông Võ Đại Tôn đã đi vào lịch sử của đất nước bằng  cửa chính. Và ông đang cõng trên lưng  một nhà thơ tên là Hoàng Phong Linh bước vào lịch sừ văn học Việt Nam. Tôi  chúc mừng sự thành công của ông.




             Đỗ Tiến Đức