Thông Báo Của Nhà Xuất Bản Việt Museum, San Jose. TÂM HỒN CAO THƯỢNG – HÀ MAI ANH
ÔNG THẦY TRƯỜNG GỐC NGÁI (NAM ĐỊNH) Giao Chỉ, San Jose. Năm nay tôi và anh Hà Mai Việt cùng tuổi, 88. Mấy tháng nay từ Texas Việt gọi tôi liên tiếp. Anh bạn già thân yêu của tôi nhắc đi nhắc lại về chuyện thân phụ Hà Mai Anh và cuốn sách dịch Tâm Hồn Cao Thượng. Ông đại tá thiết giáp, người chỉ huy cả lữ đoàn xe tăng chia làm 4 cánh quân đi theo 4 lữ đoàn tổng trừ bị mũ đỏ, mũ xanh tùng thiết đánh trận Quảng Trị.
Bây giờ ông già mũ đen ngày xưa đã bị điếc nặng nên câu chuyện viễn liên trở thành hài kịch. Ông mở cell tay áp vào tai, nhưng ngài nghe 2 trên 5 nên chỉ nói một chiều. Anh Lộc ơi, ở bên này chúng nó đi nhiều quá. Sắp đến lượt mình rồi. Tôi muốn in lại cuốn sách của ông cụ rồi phát không cho thiên hạ. Các trung tâm dạy tiếng Việt. Các thư viện. Biếu các thầy cô giáo. Biếu các nhà văn hóa. Báo hiếu, Father Day. Anh giúp tôi…
Tôi nhận lời ngay. Giúp mạnh đi chứ. Bố anh Việt chính là ông thầy hiệu trưởng trường Gốc Ngái, Nam Định khi chúng tôi cùng ngồi ghế tiểu học. Tôi bèn ghé lại nhà in của anh chị Quang ngay tại San Jose. Cuốn sách mới tái bản mấy năm trước bây giờ sẽ chờ scan lại. Anh Việt nói rằng chú em Hà Mai Phuơng trước khi ra đi đã sắp xếp lại cẩn thận. Sẽ cần ghi thêm một trang của con cháu kính dâng lên cho thân phụ. Hàng chữ hết sức đơn giản và ý nghĩa chính do đại tá Cao Tiêu ghi lại. Phía dưới là danh tính tất các con của thầy Hà Mai Anh. Xin xem bản liệt kê đính kèm.
Phần tôi nhận lời lo việc ấn loát và phát hành nên có một trang dành cho Việt Museum xuất bản. Số là hình ảnh ông thầy đầu đời văn tự còn nhớ mãi đã đành. Sau khi di cư vào Nam, yên bề gia thất tìm lớp cho con chợt ghé trường Trần Quý Cáp. Gặp cụ hiệu trưởng là Bùi Văn Bảo, nhìn lên danh sách các vị tiền nhiệm lại thấy tên cụ Hà Mai Anh. Thầy Bảo cho biết được thầy Anh bàn giao ngôi trường danh tiếng và nay cụ đã qua đời. Do duyên văn tự, các cháu nhà tôi lần lượt tốt nghiệp trường Trần Quý Cáp. Riêng phần tôi cùng với Hà Mai Việt đều là dân Nam Định trường cửu. Thời kỳ kháng chiến đều theo học Nguyễn Khuyến tản cư rồi tiếp theo là Nguyễn Khuyến “dinh tê”. Di cư vào Nam tôi đi Đà Lạt 1954 và Hà Mai Việt vào thủ Đức 1955. Duyên anh em và tình chiến hữu cho đến bây giờ.
Lại có tiếng chuông reo từ Texas. Vẫn tiếng ông Việt. Mở cell tay áp vào tai nhưng ngài nghe 2 trên 5 nên chỉ nói một chiều. Anh Lộc ơi, ở bên nay chúng nó đi nhiều quá. Sắp đến lượt mình rồi. Tôi muốn in lại cuốn sách của ông cụ rồi phát không cho thiên hạ. Các trung tâm dạy tiếng Việt. Các thư viện. Biếu các thầy cô giáo. Biếu các nhà văn hóa. Anh giúp tôi. Sách của bố anh nhưng cũng là sách của thầy tôi. Tôi phải giúp thôi…
Vài hàng viết thêm về cuốn sách của thầy Hà Mai Anh
Thật tình tôi không còn nhớ đã đọc cuốn Tâm hồn cao thượng của thầy Anh trong hoàn cảnh nào. Có thể là thời gian tiểu học ở Gốc Ngái, Nam Định. Thầy Hà Mai Anh vừa là hiệu trưởng vừa đứng lớp. Bố mẹ tôi có hàng Giầy ở cửa Đông. Mỗi khi Tết đến mẹ tôi vẫn Tết ông thầy đôi giầy Gia Định láng bóng. Tôi được thưởng cuốn sách của thầy Mai Anh. Nhưng tác giả gốc là ông người Ý, Edmondo De Amicis đã viết cuốn sách danh tiếng vào năm 1886. Rồi được ông Tây Pazzi dịch ra tiếng Pháp. Thầy Anh có thể là độc giả đầu tiên dịch tiếng Tây ra tiếng Việt năm 1943 nhận giải văn chương tại Hà Nội. Sau này tôi mới gặp thằng bé An Duy bên nước Ý ở trong Tâm Hồn Cao thượng vào năm 1945. Vào thời kỳ đó câu chuyện tuổi thơ của cậu bé học trò nước Ý đã phổ biến khắp thế giới. Tác phẩm dịch thuật của thầy Anh đã dẫn đầu kho tàng chuyện dịch của cụ. Les Grand Coeurs đã lên thác xuống ghềnh qua cuộc thế chiến đệ nhị hoàn cầu. Tâm hồn cao thượng bắt đầu đi cùng tuổi thơ của tôi theo cuộc chiến vào Nam ra Bắc. Những bài học đơn sơ ở tuổi vào đời qua lời khuyên bảo chỉ dẫn của ông thầy tiểu học đã trở thành bài học vĩ đại để độc giả hoa niên học làm người.
Lạ lùng thay những bài học ở tuổi lên 10 ngày nay đã làm sao xuyến cả tuổi 88 khi còn nhớ lại. Chúng tôi đã in những mẩu chuyện cũ trích trong Tâm hồn Cao thượng phổ biến trên mạng lưới toàn cầu. Đã đọc được một vài lời bình luận của độc giả ngày nay như sau:
Thu Âu: Tôi ấn tượng nhất là lời nói mở đầu An Di con ơi! Nghe thiết tha trầm ấm làm sao, đã mấy mươi năm rồi tôi vẫn không quên bài học trong sách tiểu học này.
Văn Thế Liêm: “Tâm hồn cao thượng” là tập hợp những câu chuyện rất có giá trị giáo dục do Hà Mai Anh dịch từ tác phẩm “Grand coeur ” của Edmond de Amicis, nhà văn Pháp. Tôi thích nhất là 1 câu trong lá thư của người cha gởi cho con “…An Di con ơi, đời con sẽ có những ngày buồn bã ảm đạm. Nhưng ngày buồn nhất là ngày con mất mẹ.
Anh Tuyet: Tuổi thơ tôi không hiểu giá trị của quyển sách, nên cho nó đi vào quên lãng. Nhưng giờ nhớ lại, hối tiếc quá muộn màng . Xin hỏi tác giả? HÀ MAI ANH hiện nay ông ở đâu, còn khỏe mạnh không ?
Trả lời: Cụ Hà Mai Anh mất 1975, ông Hà Mai Việt, sẽ có mặt tại San Jose vào tháng 7-2021 để biếu các trường Việt Ngữ cuốn sách danh tiếng nhất từ năm 1940 đến nay. Xin theo dõi tin từ Việt Museum. — Giao Chi San Jose. giaochi12@gmail.com (408) 316 8393 *** Thông báo của nhà xuất bản Việt Museum, San Jose.
Thưa quý độc giả bốn phương.
Ông Hà Mai Việt đại diện gia đình có nhã ý tái bản cuốn Tâm Hồn Cao Thượng do thân phụ là cụ Hà Mai Anh dịch từ tác phẩm Les Grandes Coeurs của nhà văn Ý Edmondo De Amicis. Chúng tôi rất hân hạnh góp phần trong việc liên lạc ấn loát và phổ biến dưới hình thức biếu cho các trung tâm dạy Việt Ngữ. Tùy theo số lượng sẵn có, các độc giả quan tâm đến Việt Ngữ có thể viết thư về chúng tôi có thể gửi biếu. Đặc biệt quý vị cần sách để gửi tặng trực tiếp các thư viện tại địa phương chúng tôi sẽ cung cấp ưu tiên. Các nơi xa có hảo ý muốn góp tiền bưu tín xin đề cho Hà Mai Việt 10210 Kent Towne Lane, Sugar Land, TX 77498.
Cá nhân chúng tôi vốn là học trò của thầy Hà Mai Anh từ lớp tiểu học tại trường Gốc Ngái, Nam Định. Sau này các con chúng tôi là học sinh trường Trần Quý Cáp, Sài Gòn vào thời gian các cụ Hà Mai Anh và cụ Bùi văn Bảo làm hiệu trưởng. Nhà tôi Quan Thị Châu là Hội trưởng hội Phụ huynh học sinhTrần Quý Cáp. Những ân tình qua 2 thế hệ ngày nay được dịp tiếp tay với chiến hữu Hà Mai Việt thực là một hân hạnh cuối đời.
Trân trọng thông báo
Giao Chỉ, Vũ Văn Lộc, San Jose 2021 *******
“Đây là ấn bản sau cùng tại Hoa Kỳ để tưởng nhớ thân phụ của chúng tôi là nhà giáo Hà Mai Anh, suốt đời tận tụy trong chức nghiệp. Mãi mãi là tấm gương sáng cho con cháu noi theo.”
*************** Hà Mai Xuân, Hà thị Mai Tâm, Hà Mai Việt, Hà Mai Nguyên, Hà thị Mai Trang,Hà Mai Phương, Hà thị Mai Dung, Hà thị Mai Thúy, Hà thị Mai Khánh,Hà Mai Trường, Hà thị Mai Vân, Hà thị Mai Thư, Hà Mai Nam, Hà thị Mai Điệp
Địa chỉ liên lạc : Hà Mai Việt 10210 Kent Towne Lane, Sugar Land, TX 77498
GIỚI THIỆU: Thi Tập Thơ Xướng Họa Cao Mỵ Nhân & Trịnh Cơ -Phương Hoa
Thi Tập Thơ Xướng Họa Cao Mỵ Nhân & Trịnh Cơ
Phương Hoa
Tôi quen biết nhị vị thi sĩ Cao Mỵ Nhân (Hoa Kỳ) và Trịnh Cơ (Pháp Quốc) cũng đã được mấy năm, khởi đầu từ trên những diễn đàn Đường Thi xướng họa. Tôi rất quý mến và ngưỡng mộ họ, và tôi cũng biết, cả hai đều từng là quân nhân Việt Nam Cộng Hoà, là anh kiệt và anh thư phục vụ nước nhà từ trước 1975 cho đến ngày tan đàn xẻ nghé.
Nhà thơ đàn chị Cao Mỵ Nhân thì tôi đã có dịp gặp mặt về sau tại Văn Thơ Lạc Việt, San Jose, Hoa Kỳ. Chị nhìn hiền hoà, rất trang nhã, nhưng ít nói, nét mặt có chút nghiêm nghị và hơi… kỳ bí, kỳ bí như những vần thơ du dương nhưng đầy ẩn ý ẩn tình của chị. Tôi thích mê sự kỳ bí ấy, cũng thích mê sự phong phú về chữ nghĩa của nhà thơ, và niềm mê thích này đã làm cho tôi đôi khi xúc động tận tâm can chỉ vì đọc được một vài câu độc đáo trong các bài thơ của chị. Mỗi lần đọc thơ Cao Mỵ Nhân tôi thường hay nghiền ngẫm, tìm tòi, để nhận chân và thưởng thức cho kỳ hết những tinh tuý của bài thơ trước khi đặt bút đáp họa.
Riêng về thi sĩ Trịnh Cơ thì tôi chỉ gặp anh qua… bóng. Trong tấm hình, có một chiếc bóng nhìn từ phía sau lưng, dáng người dong dỏng cao với mái tóc hoa râm đang bước độc hành trên con đường dài hun hút tận bên trời Paris, Pháp Quốc. Dù với dáng vẻ cô đơn lẻ loi ấy, nhưng tâm hồn Trịnh Cơ lại chất chứa ngập tràn những búp nụ, những mầm thơ mượt mà, ngào ngạt hương thơm. Dù chưa bao giờ diện kiến, nhưng tôi luôn thích đọc thơ của thi sĩ và cố gắng họa lại bài xướng của anh mỗi khi chúng xuất hiện trên các diễn đàn nếu tôi có thời gian.
Trên các diễn đàn, hai nhà thơ nổi trội Cao Mỵ Nhân và Trịnh Cơ vẫn thường xuyên xướng họa cùng chúng tôi trong vẻ vô tư. Nhưng tôi thật bất ngờ, bất ngờ đến giật cả mình, khi hôm nay nhận được tập thơ mà hai vị đang chuẩn bị in chung. Bao ý nghĩ ngộ nghĩnh chợt nảy ra trong đầu tôi, như có lẽ họ đã từng là một cặp “thanh mai trúc mã” ngày xưa, từng bị cách chia kẻ chân trời người góc bể vì quê hương loạn lạc bây giờ gặp lại, có lẽ vì sự trắc trở ấy đã khiến cho hai tâm hồn xao động nên ý thơ mới ngùn ngụt, hồn thơ mới dạt dào, và tình thơ mới lai láng đến thế. Lòng rộn ràng với những ý nghĩ tò mò đầy thú vị đó, tôi vội buông bỏ tất cả mọi thứ bận rộn đời thường để mở tập thơ ra mà nghiền ngẫm, mà thưởng thức một cách… “triệt để.”
Thấy bài thơ đầu tiên “ANH VÀ 2019” là của thi sĩ Cao Mỵ Nhân, tôi cười thầm trong thích thú. Nhà thơ Trịnh Cơ hiện đang sống ở phương Tây nên thực hiện đúng cái câu “Lady’s First,” phụ nữ luôn ưu tiên số một, để nhường nữ thi sĩ “ra tay trình làng” trước, chứ không phải như phong tục Á Đông mình, đã xem thường thân phận cánh quần thoa, lại còn cho là “Phụ nhân nan hóa,” phụ nữ không dễ gì dạy dỗ, cảm hóa được, và mỗi khi ra đường, người đàn bà thường phải đi phía sau để cho phù hợp với câu “Núp bóng tùng quân” cổ hủ.
Bài đầu tiên trong thi tập, “ANH VÀ 2019,” là bài thơ Lục Bát Cao Mỵ Nhân viết lúc đón Giao Thừa, khi thi sĩ đang ngồi cùng “người ấy” (hay tưởng tượng có người ấy ngồi cùng) nhìn TV chờ đếm phút quả cầu Chào Mừng Năm Mới vỡ tung, nhưng trong lòng không có chút hơi hướm mừng vui hạnh phúc vì được đón Giao Thừa, mà lại chứa đựng ngập tràn tâm tư sầu nhớ. Hình ảnh sống động nhất tác giả cho thấy trong bài thơ, là nữ thi sĩ đưa tay chặn lên trái tim lúc trái cầu sắp vỡ và nhìn vào TV thấy trời đêm rõ ràng nhưng lại không thấy cố quốc nơi đâu. Nỗi niềm thương nhớ về quê Mẹ Việt Nam trong thời điểm giao Xuân của người con ly hương đã gói trọn vào mấy câu thơ làm xao động lòng người:
“Ở đây không có… Việt Nam
Quả cầu quê mẹ cơ hàn héo khô
Trái tim thất nhịp mơ hồ
Đêm đen đổ xuống nấm mồ giao xuân…” (Anh Và 2019 – CMN – tr. 12)
Người ta nói, thơ Lục Bát dễ làm nhưng làm rất khó hay, và họa thơ Lục Bát thì lại càng không dễ. Chữ nghĩa cần phải lưu loát mượt mà, ý tứ phải sâu xa, và vần điệu phải phù hợp mới là một bài họa hấp dẫn khiến độc giả chăm chú thưởng thức; và quan trọng nhất là, phải tránh tình trạng làm thơ Lục Bát đọc lên nghe như…ca dao, khiến người ta chỉ lướt phớt qua rồi đánh giá bài họa có đúng vần đúng luật hay chăng. Ở đây chúng ta có thể thấy nữ thi sĩ Cao Mỵ Nhân gặp phải “Kỳ phùng địch thủ.” Nhà thơ Trịnh Cơ đã gom được đủ các yêu cầu ấy trong bài họa “2019 ĐỐI MẶT.” Chưa kể đến những đối đáp xướng họa khá lý thú trong khổ thơ đầu về chuyện cả hai mơ ước cùng ngồi bên nhau, cùng đưa tay đặt lên tim khi nhìn TV trong giờ Giao Thừa chỉ thấy bầu trời đêm, và đôi bên người thì “xin còn mãi nhau,” kẻ hứa “sẽ còn với nhau,” xin mời quý vị cùng thưởng thức vế họa tuyệt vời của thi sĩ Trịnh Cơ, cũng bày tỏ cái tâm trạng đau buồn vì mất quê hương trong giờ Trừ Tịch cùng với thi nhân:
“Nhìn kỹ… đâu có Việt Nam
Đêm đông lạnh lẽo nỗi hàn lạnh khô
Cây kim đếm nhịp đồng hồ
Như là đưa tiễn đến mồ ngày Xuân” (2019 Đối Mặt – TC- tr. 13)
Tiếp theo, trải dài, xuyên suốt hơn phân nửa tập thơ là phần xướng họa “Cao Mỵ Nhân & Trịnh Cơ. Hai thi nhân với hồn thơ lai láng cứ thế mà thoải mái vung bút trải vần, xướng họa với nhau, chữ nghĩa giao duyên, ý tình hòa điệu, phát họa lên những đường nét sống động, bừng sáng từng chữ từng câu trên từng trang sách gọi mời, khiến cho người đọc mãi mê theo tiếp hết bài này sang bài khác, không thể dừng lại. Mời bạn hãy xem, bài Lục Bát 4 câu rất mượt mà “Bên Đó” của Cao Mỵ Nhân với những lời than làm nhói lòng người:
“Sao mưa lại lạnh trời thu
Khiến người bên đó thương ru bên này
Mưa đêm thấm ướt hồn say
Người bên đó ngó mưa bay thẫn thờ…” (Bên Đó – CMN – tr. 14)
Thì tiếp theo ngay, bài họa “Bên Này” của Trịnh Cơ cũng làm cho trái tim ai trật nhịp:
“Giọt mưa rỉ rả đêm Thu
Nhớ người bên đó lời ru luống này
Mơ màng trong giấc mộng say
Nửa đêm nghe tiếng lá bay ơ thờ.” (Bên Này – TC – tr 15)
Thơ Lục Bát đã hay đến vậy, đọc những bài Đường Thi xướng họa của hai nhà thơ lão thành càng khiến tôi như bị lạc vào “mê hồn trận.” Đọc một hồi những bài thơ kế tiếp, tôi đột nhiên…nín thở, khi mắt chạm vào bài thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú “Mảnh Trăng Thơ” của thi sĩ Cao Mỵ Nhân. Chỉ hai câu mở đầu thôi đã có thể nói là tuyệt tác, và tôi bị chấn động tận tâm can, “Từ lâu, để mực đọng nghiên vàng/Bút cũng âm thầm ngại điểm trang.” Một sự ví von tuyệt hảo! Lời lẽ tuy đơn giản nhẹ nhàng nhưng thật thâm thúy, làm cho người đọc cảm nhận được đây là những tiếng than xé lòng của kẻ cô đơn. Mực đã bị bỏ đọng bơ vơ ở nghiên vàng, thì bút còn điểm trang để làm gì cơ chứ! Hai cặp đối cũng thật tuyệt vời, nhưng tôi phải giữ lại để cho độc giả tự mình thưởng thức mới là thú vị. Chỉ xin chia sẻ cùng quý vị nơi đây hai câu kết, vì hai câu này đã làm tăng thêm phần đặt sắc cho bài thơ. Bơ vơ thì mặc bơ vơ, tác giả tự nhủ, ta cứ vui cứ đối bóng với thơ, để rồi còn tìm cách bay theo trăng để đi xé nửa cái thiên đàng đã mất. Tự cổ chí kim, chỉ mới có Thi Tiên Lý Bạch đời Đường bên Tàu nhảy xuống sông để vớt trăng lên, giờ đây lại có thi nữ Việt là Cao Mỵ Nhân đòi theo trăng đi xé nửa cái thiên đàng. Những điều kỳ thú ngoạn mục như vậy chỉ có những nhà thơ “siêu việt” mới tính làm, hoặc nghĩ ra!
“Thì cứ cùng thơ vui đối bóng
Theo trăng đi xé nửa thiên đàng.” (Mảnh Trăng Thơ – CMN – tr. 73)
Riêng bài họa của nhà thơ Trịnh Cơ “Nhớ Cảnh Trường Xưa” trong trường hợp này, tuy không đáp ứng với ý nghĩa của bài xướng, mà chỉ là họa nương vận, nhưng cũng phải kể là một bài họa hay. Trong khi bài xướng của Cao Mỵ Nhân chứa đầy lãng mạn về tình yêu nam nữ, than thở với bút nghiên, với trăng và thơ, thương mây khóc gió cho sự bơ vơ…, thì bài họa của Trịnh Cơ cũng tràn ngập sự nhớ nhung tiếc nuối, nhưng mà là nhớ về tình yêu đất nước, về một thời được đào tạo dưới mái trường quân đội với những bước chân “ắc ê” gọn gàng, và những chuyến hải hành bảo vệ quê hương. Để rồi cuối cùng thi sĩ thốt lên tiếng than:
“Nước non xả tắc thời vi diệu
Nay chẳng còn đâu chốn địa đàng.” (Nhớ Cảnh Trường Xưa – TC – tr. 74)
Bài thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt vận trắc “Nỗi Buồn Vô Cớ” của thi nữ Cao Mỵ Nhân dưới đây cũng đưa người yêu thơ vào một khung trời đầy mộng ảo, “Có những nỗi buồn vô cớ lắm/Mà sao thổn thức đến trăm năm.” Đã làm người thì ít nhiều gì ai cũng có những tâm sự thầm kín. Chắc độc giả sẽ đồng cảm khi được nhà thơ “nói giùm” giải bày giùm cho những băng khoăn, những nỗi buồn âm ỷ đang giấu giếm trong lòng, và sau cùng thì …xúi người ta thổ lộ:
“Thì cứ tự nhiên ngồi thổ lộ
Tỏ bày như chẳng có chi ngăn
Tỏ bày tình tiết sầu thương đó
Khổ luỵ trong tim nức nở thầm…” (Nỗi Buồn Vô Cớ – CMN – tr. 93)
Và để đáp lại nỗi niềm của thi nhân, Trịnh Cơ đã họa bài “Buồn…Cũng Vậy Thôi” thật duyên dáng trữ tình, để bày tỏ với đối phương, rằng thì là bên nớ chỉ có những nỗi buồn, nhưng bên ni là cả vạn điều buồn, chúng cứ mãi đong đưa trên hố thẳm, rồi “Khi sầu khi chán lại như câm” mà thi nhân không thố lộ nên nào ai hay biết,“Ta giữ trong tim không hé lộ/Ai nào có biết để can ngăn…”(Buồn…Cũng Vậy Thôi – TC) Đây quả thật đúng là tri kỷ.
Đặc biệt, bài thơ thể tự do Ngũ Ngôn “Viết Sau 10:00 PM” của Cao Mỵ Nhân cũng làm tôi xao xuyến. Nhà thơ đã trải lòng, trút cạn nhớ nhung vào thơ lúc 10 giờ khuya, cùng tâm sự với những con chim biển cũng đang cô đơn giữa màn đêm, và nghe được chúng thốt lên những tiếng kêu thầm hò hẹn trong tuyệt vọng.
“Em cũng như chim biển
Cô đơn giữa thế gian
Chim kêu thầm hò hẹn
Nỗi u tình chứa chan…” (Viết Sau 10:00 PM – CMN – tr. 125)
Người ta nói “Thần giao cách cảm” có lẽ chính xác nhất để dùng trong trường hợp này. Thì ra từ chốn xa xăm chàng thi nhân kia cũng đâu có ngủ được lúc 10 giờ đêm. Ta hãy nghe Trịnh Cơ tâm sự cùng nàng thơ nơi viễn xứ trong bài họa “Đêm Về”, “Tiếng chuông gõ 10 giờ/Sao cứ còn thương nhớ,” và “trần tình” rằng vì thi sĩ vẫn còn yêu biển, yêu nguồn vui thế gian, nên đã quên lời hẹn ước, tuy vậy tình yêu say đắm thì vẫn mãi chan hòa:
“Ta vẫn còn yêu biển,
Nguồn vui giữa nhân gian,
Cứ quên lời ước hẹn.
Tình yêu vẫn hòa chan…” (Đêm Về – TC – tr. 127)
Qua nhiều năm cùng theo đòi xướng họa trong các diễn đàn thơ, tôi đã thưởng thức đủ các thể loại mà nhà thơ Cao Mỵ Nhân đã sáng tác. Bài thơ 8 chữ “Trái Tim Lửa” này cũng là một trong các bài thơ tự do đặc sắc của thi nữ. Lúc này trái tim yêu của thi nhân hừng hực bốc cháy vì tình, cho nên mặc kệ những chông gai, mặc kệ bao trở ngại, nàng thơ chỉ thấy “Xuân sẽ đến bốn mùa đều tươi thắm/Đẹp hồn ta đang bốc cháy hoang sơ.” Thông điệp gửi đi cho người trong mộng thật dạt dào, chất chứa ngập lụt say mê, chờ đợi chỉ cần một tiếng hót khẽ của loài chim quý là sẽ được cả trái tim nàng:
“Nhưng Chim Quí một lần thôi hót khẽ
Ta tặng người nguyên vẹn trái tim thơ…”(Trái Tim Lửa – CMN – tr 136)
Đáp lại khối tình “bốc lửa bốc khói” này, chàng thi sĩ cũng đâu có kém. Bài họa “Về Nghe Cô Đơn” của Trịnh Cơ càng chất chứa lắm nỗi niềm. Chàng còn “bạo gan” nhắc lại chuyện xưa, cái thuở cùng nhau bàn tính “Chuyện ngày ấy bàn về ăn trái cấm/Ở Thiên Đường cây đẹp, lá nghiêng chờ.” Nhưng cuối cùng rồi mấy lời trách cứ cũng được trao lại cho ai kia:
Nhìn xuống dưới, âm thầm rơi giọt lệ
Lụy trần ai khiến ta phải ơ thờ
Quay trở lại hầu nghe lời kể lể
Tình bay xa, còn lại mấy câu thơ… (Về Nghe Cô Đơn – TC – tr.137)
Sự sắp xếp trong thi tập này thật là thú vị, quá bán trong phần đầu là những bài thơ Cao Mỵ Nhân xướng – Trịnh Cơ họa. Đọc một hơi, thưởng thức hết phần đầu thì tiếp theo phần sau đổi ngược lại Trịnh Cơ xướng – Cao Mỵ Nhân họa. Dòng thơ trữ tình, mượt mà, nhưng lại chất chứa nhiều nỗi niềm riêng của thi sĩ Trịnh Cơ lâu nay cũng rất được các nhóm xướng họa bạn bè chúng tôi yêu thích, không kém gì nữ sĩ Cao Mỵ Nhân. Thi sĩ Trịnh Cơ rất “có duyên” với thơ tứ tuyệt, lời thơ giản dị không gút mắc, nhưng ý tứ rất phong phú, làm xúc động người đọc, cho nên thơ của anh cũng đã được nhiều người đáp họa. Bài thơ “Biết Đâu” đong đầy cảm xúc của Trịnh Cơ sau đây khiến những người đang yêu phải chạnh lòng xót xa. Chàng cùng người ấy lâu lâu mới gặp một lần, nhưng có nỗi đau nào hơn khi “Nụ hôn vừa dứt rồi ly biệt/Ở cuối chân trời giấc mộng tan.” Sự xa cách như thế đã khiến cho nhà thơ e ngại. Chúng ta hãy đọc những lời lo âu khắc khoải của chàng, “Đâu biết lần này sẽ gặp nhau/Còn yêu tha thiết tựa ban đầu?” và:
“Hay là hờ hững như người lạ
Để lại cho anh cả mối sầu!” (Biết Đâu – TC – tr. 155)
Và thú vị vô cùng, nàng thơ Cao Mỵ Nhân đã vội vàng đáp lại bài họa ngọt ngào, “Đành Thôi” với những lời cảm thông, trần tình, vỗ về “ai kia,” bỡi vì không hợp mới tan, “Kẻ ở người đi ôi giã biệt/Bởi không hợp được mới đành tan.” Và:
“Hoàng hôn cũng nguội theo tình lạ
Tuổi tác đầy thêm mộng mị sầu…” (Đành Thôi – CMN – tr. 156)
Bài thơ “Có Ai” của thi sĩ Trịnh Cơ tiếp theo đây nói lên nỗi niềm cô độc làm cho người ta phải xót xa. Một người có cuộc sống mà muốn “Nói chuyện… tâm tình chẳng có ai/Đêm đêm trằn trọc suốt canh dài” thì quả là buồn vô kể. Lời thơ như nức nở, ý thơ như trách móc ai đó sao nỡ đành “bỏ ta một mình,” và một chút ước mơ được có người bên cạnh:
“Bởi ta đang sống đời hiu quạnh
Thiếu vắng ai bên cạnh, đỡ sầu.” (Có Ai – TC – tr. 157)
Tuyệt thay, đàng này bài “Có Ai” của Trịnh Cơ than thở bị bỏ cô đơn, thì đàng kia, Cao Mỵ Nhân đã trải lòng cảm thông thay cho “ai đó” của nhà thơ, bằng bài họa “Vẫn Ông” rất duyên dáng, thêm chút dí dỏm, nhưng có thể thấy trong lời thơ ẩn hiện chút …hờn ghen nhè nhẹ rất dễ thương. Bởi vì ngày xưa bay bướm quá, đa đoan quá, có cả chục giai nhân quanh mình, cho nên bây giờ…ráng chịu chứ than thở mà làm chi:
“Giờ thì đầu bạc trắng hơn xưa
Cả chục giai nhân bỗng ngó hờ
Bởi lẽ đa đoan nên khổ luỵ
Đâu còn thanh thản mà làm ngơ”(Vẫn Ông – CMN – tr. 158)
Thi sĩ Trịnh Cơ từng là một sĩ quan Hải Quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Bài thơ “Lời Cuối” của anh tôi đọc mà rưng rưng cảm phục. “Tôi chết đi… xin chớ phủ cờ.” Đây là lời di chúc, dặn lại khi thi sĩ mất đi thì không nên phủ cờ Quốc Gia như bao người vẫn làm lâu nay nơi hải ngoại. Dù vận nước đảo điên là do thế cuộc tạo nên, chứ quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa chúng ta thuở ấy vẫn một lòng chiến đấu rất anh dũng, thi sĩ vẫn cho rằng mình không làm tròn viêc giữ nước nên không xứng đáng, mà chỉ có những người vị quốc vong thân mới xúng đáng được phủ cờ:
“Phủ cờ cho kẻ đáng tôn vinh
Ngã gục thân trai, hiến phận mình
Bỏ mạng sa trường cho đất nước
Đã bao cay đắng lúc đăng trình…” (Lời Cuối – TC – tr. 169)
Nhà thơ Cao Mỵ Nhân cũng từng là một sĩ quan QLVNCH. Cho nên bài họa “Vàng Sắc Nhớ” của chị là một đồng cảm, kiêm ý trách móc những kẻ đã bỏ lại thành xưa bóng cờ tổ quốc, nhưng rồi lại quên bẳng đi, để mãi lơ ngơ với dáng vẻ phạc phờ của người không biết đâu là quê hương. Dù ai có quên, nhưng nhà thơ thì vẫn nhớ,
Bài thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú của nhà thơ Trịnh Cơ “Tàn Đông” là một bài thơ buồn, nhưng chữ nghĩa lại xôn xao tràn đầy cảm xúc. Đó là nỗi u buồn bất chợt, chính thi sĩ cũng “Không biết vì đâu cảm thấy buồn.” Hai câu thực đã làm cho hồn tôi xao xuyến. Cái hình ảnh sống động trước mắt với đàn chim rét mướt bay vật vờ về tổ, và con suối thì chênh chao khi nhớ lại cội nguồn, diễn tả một tâm trạng đau thương khiến cho những kẻ ly hương, tan tác vì mất nước như tôi càng thêm nhói cả cõi lòng:
“Đàn chim rét mướt bay về tổ
Con suối chênh chao nhớ lại nguồn”(Tàn Đông – TC – tr. 185)
May mắn thay, nhà thơ Cao Mỵ Nhân đã…cứu bồ bằng bài họa “Paris Buồn” giúp tôi có thêm “sinh khí,” tươi tắn lên một chút để tôi khỏi “đổ thừa” thi sĩ Trịnh Cơ đã làm cho lòng tôi héo úa khi sắp kết thúc bài viết này. Cao Mỵ Nhân đã an ủi “người ta” là tại vì Paris quá lãng mạn mới khiến cho buồn, chứ thực ra thì mùa đông đã tàn, tuyết cũng tan chờ Xuân đến:
“Chim én mừng xuân tươi sắc cội
Tao nhân đón khách lộng thơ nguồn..” (Paris Buồn – CMN – tr. 186)
Tới đây thì tôi xin phép được tạm dừng vì bài viết đã khá dài. Thực ra thì còn nhiều, nhiều lắm những bài tình thơ có thể nói là tuyệt tác trong thi phẩm “Xướng Họa” của nhị vị Cao Mỵ Nhân và Trịnh Cơ. Điều tôi muốn nói ở đây là “cặp bài trùng” này quá ư tuyệt vời trong các thể thơ xướng họa. Họ đã quá hoà hợp, quá “nhập vai,” nhâp vai trong việc trải lòng như là tâm sự của chính một đôi trai tài gái sắc từng yêu nhau, bị trắc trở, và rồi khi gặp lại thì đã muộn màng nhưng hồn thơ vẫn còn réo rắc, chứa đựng ngập tràn nỗi nhớ, niềm thương. Cho nên xuyên suốt thời gian từng bước đọc thơ và ghi lại cảm nhận của mình, Phương Hoa tôi cũng đã “nhập vai” trong cái cảm xúc họ là “một đôi” thật sự. Nếu sự thật hai người trước đây chưa từng yêu nhau, chưa bao giờ quen biết nhau, mà đây chỉ là “bình thủy tương phùng” trên những dòng thơ xướng họa nơi hải ngoại rồi trở thành bạn thiết, thì quả là thi tài của họ đã lên đến đỉnh cao, nguồn tình thơ quá lai láng dạt dào.
Cuối cùng, thi tập “XƯỚNG HỌA” của hai nhà thơ Cao Mỵ Nhân và Trịnh Cơ là một tác phẩm văn học có giá trị, chẳng những rất đáng đọc, mà cần phải đọc thật kỹ mới thưởng thức hết những cái hay cái đẹp cái ý cái tình của mỗi một bài thơ. Tôi tin rằng quý vị sẽ thích thú với sự phong phú chữ nghĩa của những bài thơ tình thật ngọt ngào, thật lãng mạn, trong tập thơ này.
Xin trân trọng kính giới thiệu cùng với quý độc giả thi tập “XƯỚNG HỌA” của Cao Mỵ Nhân & Trịnh Cơ.
Muốn mua sách Xin Liên lạc Tác giả:
Trịnh cơ – Cao Mỵ Nhân
trinhco@gmail.com
caomynhan91@yahoo.com
Liên lạc Nhà xuất bản:
Nhân Ảnh
han.le3359@gmail.com
(408) 722-5626
Phương Hoa – Miền Bắc California
CHÚC MỪNG & GIỚI THIỆU THI PHẨM Của Nhà Thơ Lê Tuấn
Chuyện lạ! Đàn ông mà lại sinh con!…(tinh thần!)
Tin rất vui! Xin gởi lời khen tặng. Nhân tiện, Anh Tuấn cho Hải “order” 5 cuốn, giữ lại cho mình và tặng bạn bè.
Cám ơn Anh.
Lê Văn Hải
CHÚC MỪNG NHÀ THƠ LÊ TUẤN
(Kính giới thiệu cùng thành viên và thân hữu VTLV)
Thay mặt Ban Biên Tập VTLV
Phương Hoa – MAY 6th 2021
Ngã Văn: TÙY CẢM HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG – Kiều Mỹ Duyên
Bài của Ngã Văn
Lễ Phục Sinh, Hill, 2021
Làm người, không có gì hào sảng hơn, là được sinh tử với những gì mình hằng mong sinh tử cùng. Làm phóng viên, không có gì cảm hứng hơn là được thành nhân chứng của những nhân chứng và sự kiện. Cả hai nguyện ước, đời và nghề, đã làm nên một miền hoa cỏ có tên gọi là Kiều Mỹ Duyên. a
Nói là miền bởi trong các tác phẩm dung dị viết ra như không ấy lại nặng trĩu tình người, tình quê hương, và tình nhân loại như là bản nhiên hiện sinh trong góc nhìn báo chí sôi động như lời của tác giả, “Tôi không viết truyện mơ mộng lên cung trăng, tôi viết về người thật việc thật, viết hoài không hết, cần gì bay lên Trời, hay bay lên cung Trăng thăm chị Hằng. Tôi sống thật, thương thì nói là thương, ghét ai thì im, không nói ghét, vì người nào cũng có điểm dễ thương của họ. Họ không thích mình tại vì mình không khéo léo, thế thôi.” Thế thôi- tối giản nên chứa đựng can trường như kẻ đi vào bát phong thị phi mà chẳng ngại ngần.
Trong Chinh Chiến Điêu Linh, Kiều Mỹ Duyên tuyên từ, “chiến trận đối với người phóng viên chiến trường cũng tựa như ánh đèn sân khấu đối với người nghệ sĩ.” Đó quả nhiên là duyên khởi của một nghiệp nữ nhưng chí trượng phu vác bút xông pha chinh chiến trên bốn vùng chiến thuật, được sống với cái chết và được chết với đau thương trong tận cùng giới hạn của bi thảm binh lửa. Âu đó cũng là cái phúc can đảm đời người. Người phóng viên, với kỹ năng làm báo và sự may mắn, có thể trở thành ký giả xuất sắc nhưng nếu không duyên trì tự tính, ắt rằng khó có thể được cửa mở ra với mọi tấm lòng dù hao mòn vân tay gõ. Bút lực và nhãn quan tận hiến, Kiều Mỹ Duyên tiếp cận và đối thoại với mọi đối tượng để chuyển tải thông tin và kể lại những câu chuyện chính sự cũng như bên lề để phụng sự độc giả và khán thính giả. Đa dạng nhưng chẳng hề phân tán, Kiều Mỹ Duyên đi sâu khai thác vào bốn đề tài trở thành máu thịt: Hoạt động tôn giáo, Chính trị Việt Nam, Tri ân chiến hữu chiến sĩ, và Tình tương thân, tương ái cộng đồng vô phân biệt trong và ngoài nước.
Lòng thành, Kiều Mỹ Duyên kết nối mọi tấm tình
Hoa Cỏ Bên Đường cho người đọc được gặp gỡ với bao nhiêu phẩm hạnh đa dạng từ các vị ngôi trên tôn giáo, nhà chính trị lừng danh thế giới cho đến những thân phận con đỏ, con đen xứ Việt và ngoài xứ Việt. Mọi nhân vật hiện ra, dù khác biệt đức tin hay chính kiến, đều bình đẳng trong con chữ mộc mạc chân thành với những hoài bão về một đất nước Việt Nam hạnh phúc và hòa bình, Dân Chủ và Tự Do, một cộng đồng Việt hải ngoại mạnh mẽ và có tiếng nói trong không gian chính trị, tôn giáo, và văn hóa của Hoa Kỳ nói riêng và thế giới.
Niềm thiêng ấy hiện ra trong từng con chữ tràn đầy tự hào và khát vọng khi Kiều Mỹ Duyên viết về những vị chức sắc tôn giáo cao hạnh như “hai viên ngọc kim cương của Phật Giáo Việt Nam” là Thiền Sư- Thi sĩ Tuệ Sỹ và Thiền Sư- Triết Gia Lê Mạnh Thát. Kiều Mỹ Duyên duyên phước được gặp và viết về Hòa Thượng Thích Tâm Châu, vị cao tăng “ kiến thức uyên thâm, đi khắp nơi thế giới hoằng pháp” và không ngơi nghỉ tranh đấu cho một Việt Nam tự do lạc phúc. Kiều Mỹ Duyên là nữ “nang-pa- người ở trong” cõi Phật nhưng thiện tính, chị cũng trong lành một tâm hồn dâng Chúa. Kiều Mỹ Duyên dành sự tri ơn với Hồng Y Phạm Minh Mẫn, Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt, và Linh Mục Anthony Đào Quang Chính. Linh thể phụng sự Chúa, vị cha chánh xứ của nhà thờ Saint Catherine of Alexandria, Temecula, California và Hạt Trưởng hạt Hemet, Giáo Phận San Bernadio, hiếu thảo nhường một phần cơ thể mình để duy trì sự sống của thân phụ. Đạo và đời, tình yêu thương và trí tuệ uyên bác tương giao đã làm nên chân dung Linh Mục Anthony Đào Quang Chính, một vị Linh Mục từ tâm tương liên văn hóa mang trong mình dòng máu Việt.
Quê hương Việt Nam cồn cào ngòi bút của Kiều Mỹ Duyên.
Kể cả khi phỏng vấn các nhà chính trị hay học giả phương tây, Kiều Mỹ Duyên trước sau cũng trọng tâm hướng về nước Việt và con người Việt. Trong câu chuyện với cựu tổng tống Liên Bang Xô Viết Mikhail Sergeyvich Gorbachyov, Kiều Mỹ Duyên cũng không quên đặt vấn đề trực diện về Tự Do và Dân Chủ của Việt Nam. “Bao giờ Trung Quốc có Tự Do thì Việt Nam có Tự Do.” Câu trả lời ngắn gọn mà thấu suốt lịch sử thăng trầm của hai nước Việt- Trung nói lên tầm vóc của một chính trị gia- một nhân vật lịch sử góp phần làm tan băng chiến tranh lạnh- thật đáng để cho các sử gia cũng như người Việt suy ngẫm về thế sự dân tộc từ góc nhìn quan hệ quốc tế đa chiều. Tôi mong một ngày nào đó, Kiều Mỹ Duyên sẽ giới thiệu đầy đủ với bạn đọc tất cả những cuộc phỏng vấn của chị bởi đó là tư liệu sử và báo chí đáng quý.
Lòng tự tôn dân tộc, sự tri ân và chia sẻ với thế hệ đi trước, đặc biệt là với các cựu quân nhân và gia quyến chịu đựng khổ đau trước và sau 1975 là động lực khởi dậy những hoài bão của Kiều Mỹ Duyên về một cộng đồng Việt Nam “có chỗ đứng quan trọng trong các sinh hoạt tôn giáo, chính trị ở khắp nơi trên thế giới. Sự thành công của thế hệ thứ nhất và nhiều thế hệ sau này là niềm hãnh diện của người Việt Nam.”
Việt Nam yêu thương, Việt Nam đau thương, Việt Nam là mảnh đất của máu và nước mắt nhưng cũng là vùng đất thơ mộng và kiêu hùng của những Thiên Thần Mũ Nâu không bao giờ vơi trong ký ức sống của mỗi người Việt. Mỗi con người là mỗi mảnh đất tha hương nhưng không rời bỏ quê hương. Người đọc có thể nghẹn lòng “nghe tiếng nói đau đớn của các quả phụ tử sĩ, của cô nhi về người thân của họ, là tôi muốn khóc. Không ai quên những người đã chết. Họ vẫn còn sống đây với vợ con, cha mẹ. Họ vẫn còn sống ở đây với chiến hữu, đồng bào. Họ vĩnh viễn sống trong trái tim của những người thương mến họ. Hỡi vong linh các chiến sĩ oai hùng, xin phù hộ cho mọi người, nhất là đoàn hậu duệ, nối gót cha ông.”
Đó là lời chứng của một con người đi qua cuộc chiến, mang quá khứ vào hiện tại để nuôi nấng tương lai.
Việt Nam yêu thương, Việt Nam đau thương, Việt Nam Chinh Chiến Điêu Linh máu và nước mắt không bao giờ vơi trong ký ức sống của mỗi người Việt. Mỗi con người là mỗi mảnh đất tha hương nhưng không rời bỏ quê hương. Người đọc có thể nghẹn lòng với mỗi lần tôi nghe tiếng nói đau đớn của các quả phụ tử sĩ, của cô nhi về người thân của họ, là tôi muốn khóc. Không ai quên những người đã chết. Họ vẫn còn sống đây với vợ con, cha mẹ. Họ vẫn còn sống ở đây với chiến hữu, đồng bào. Họ vĩnh viễn sống trong trái tim của những người thương mến họ. Hỡi vong linh các chiến sĩ oai hùng, xin phù hộ cho mọi người, nhất là đoàn hậu duệ, nối gót cha ông.”
Lòng tự tôn dân tộc, sự tri ân và chia sẻ với những thế hệ đi trước, đặc biệt là với các cựu quân nhân và gia quyến chịu đựng khổ đau trước và sau 1975 là động lực khởi dậy những hoài bão của Kiều Mỹ Duyên về một cộng đồng Việt Nam “có chỗ đứng quan trọng trong các sinh hoạt tôn giáo, chính trị ở khắp nơi trên thế giới. Sự thành công của thế hệ thứ nhất và nhiều thế hệ sau này là niềm hãnh diện của người Việt Nam.”
Dòng máu giúp người thương đời của bậc phụ mẫu gieo mầm và nảy nở làm nên tâm hồn đa cảm nhưng không thiếu sự quyết liệt dấn thân vào những chuyến đi, những câu chuyện, những thân phận khác lạ những chẳng hề xa lạ trong đời sống như Kiều Mỹ Duyên tâm tình, rằng: Cha Mẹ nào cũng có nhiều đề tài để con cháu viết truyện viết sách. Mẹ tôi cũng vậy, sự mộc mạc chất phác của Mẹ tôi, tình thương người của Mẹ tôi cũng đủ để tôi viết dài dài. Để viết “dài dài” về một biến cố lịch sử không khó nhưng viết dài dài về một “sự mộc mạc” là không hề dễ dàng. Bằng nụ cười hồn nhiên, bằng nước mắt chia sẻ, chị biến bao nhiêu sự mộc mạc thành phẩm hạnh đời sống chị sống cùng và sống trong nó từng hơi thở.
Mưu sinh thời công nghệ, thời gian dường như ngày càng ngắn lại trong khi con người bận rộn hơn vì vậy tình yêu thương và sự chia sẻ cũng theo đó mà hư hao. Hoa Cỏ Bên Đường, với sự mộc mạc của mình, thức tỉnh lương tâm: “Xin đừng bao giờ nói: tôi bận quá, tôi không có thì giờ, tôi không có thì giờ. Hãy bao dung, hãy rộng lượng, hãy thương người như thể thương thân, thì chúng ta có 24 giờ một ngày là nhiều lắm.Thương người, đây là giá trị tinh thần quan trọng lắm… Thương người nên cho họ những gì thuộc về tinh thần: một lời cầu nguyện chân thành, những nụ cười hiền lành, tiếng cười giòn tan.”
Vậy thì có gì đâu mà chần chừ, 24 giờ dẫu bộn bề, chúng ta hãy cho nhau thời gian, dành chút chia sẻ với những khúc tâm tình Hoa Cỏ Bên Đường của Kiều Mỹ Duyên.
Bởi, có được một tiếng cười giòn tan đâu phải là niềm hạnh phúc chúng ta dành cho người mà còn cho chính bản thân chúng ta.
Bài của Ngã Văn
Lễ Phục Sinh, Hill, 2021
TÙY CẢ
TÙY CẢM HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG KIỀU MỸ DUYÊN
Bài của Ngã Văn
Lễ Phục Sinh, Hill, 2021
Làm người, không có gì hào sảng hơn, là được sinh tử với những gì mình hằng mong sinh tử cùng. Làm phóng viên, không có gì cảm hứng hơn là được thành nhân chứng của những nhân chứng và sự kiện. Cả hai nguyện ước, đời và nghề, đã làm nên một miền hoa cỏ có tên gọi là Kiều Mỹ Duyên. a
Nói là miền bởi trong các tác phẩm dung dị viết ra như không ấy lại nặng trĩu tình người, tình quê hương, và tình nhân loại như là bản nhiên hiện sinh trong góc nhìn báo chí sôi động như lời của tác giả, “Tôi không viết truyện mơ mộng lên cung trăng, tôi viết về người thật việc thật, viết hoài không hết, cần gì bay lên Trời, hay bay lên cung Trăng thăm chị Hằng. Tôi sống thật, thương thì nói là thương, ghét ai thì im, không nói ghét, vì người nào cũng có điểm dễ thương của họ. Họ không thích mình tại vì mình không khéo léo, thế thôi.” Thế thôi- tối giản nên chứa đựng can trường như kẻ đi vào bát phong thị phi mà chẳng ngại ngần.
Trong Chinh Chiến Điêu Linh, Kiều Mỹ Duyên tuyên từ, “chiến trận đối với người phóng viên chiến trường cũng tựa như ánh đèn sân khấu đối với người nghệ sĩ.” Đó quả nhiên là duyên khởi của một nghiệp nữ nhưng chí trượng phu vác bút xông pha chinh chiến trên bốn vùng chiến thuật, được sống với cái chết và được chết với đau thương trong tận cùng giới hạn của bi thảm binh lửa. Âu đó cũng là cái phúc can đảm đời người. Người phóng viên, với kỹ năng làm báo và sự may mắn, có thể trở thành ký giả xuất sắc nhưng nếu không duyên trì tự tính, ắt rằng khó có thể được cửa mở ra với mọi tấm lòng dù hao mòn vân tay gõ. Bút lực và nhãn quan tận hiến, Kiều Mỹ Duyên tiếp cận và đối thoại với mọi đối tượng để chuyển tải thông tin và kể lại những câu chuyện chính sự cũng như bên lề để phụng sự độc giả và khán thính giả. Đa dạng nhưng chẳng hề phân tán, Kiều Mỹ Duyên đi sâu khai thác vào bốn đề tài trở thành máu thịt: Hoạt động tôn giáo, Chính trị Việt Nam, Tri ân chiến hữu chiến sĩ, và Tình tương thân, tương ái cộng đồng vô phân biệt trong và ngoài nước.
Lòng thành, Kiều Mỹ Duyên kết nối mọi tấm tình
Hoa Cỏ Bên Đường cho người đọc được gặp gỡ với bao nhiêu phẩm hạnh đa dạng từ các vị ngôi trên tôn giáo, nhà chính trị lừng danh thế giới cho đến những thân phận con đỏ, con đen xứ Việt và ngoài xứ Việt. Mọi nhân vật hiện ra, dù khác biệt đức tin hay chính kiến, đều bình đẳng trong con chữ mộc mạc chân thành với những hoài bão về một đất nước Việt Nam hạnh phúc và hòa bình, Dân Chủ và Tự Do, một cộng đồng Việt hải ngoại mạnh mẽ và có tiếng nói trong không gian chính trị, tôn giáo, và văn hóa của Hoa Kỳ nói riêng và thế giới.
Niềm thiêng ấy hiện ra trong từng con chữ tràn đầy tự hào và khát vọng khi Kiều Mỹ Duyên viết về những vị chức sắc tôn giáo cao hạnh như “hai viên ngọc kim cương của Phật Giáo Việt Nam” là Thiền Sư- Thi sĩ Tuệ Sỹ và Thiền Sư- Triết Gia Lê Mạnh Thát. Kiều Mỹ Duyên duyên phước được gặp và viết về Hòa Thượng Thích Tâm Châu, vị cao tăng “ kiến thức uyên thâm, đi khắp nơi thế giới hoằng pháp” và không ngơi nghỉ tranh đấu cho một Việt Nam tự do lạc phúc. Kiều Mỹ Duyên là nữ “nang-pa- người ở trong” cõi Phật nhưng thiện tính, chị cũng trong lành một tâm hồn dâng Chúa. Kiều Mỹ Duyên dành sự tri ơn với Hồng Y Phạm Minh Mẫn, Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt, và Linh Mục Anthony Đào Quang Chính. Linh thể phụng sự Chúa, vị cha chánh xứ của nhà thờ Saint Catherine of Alexandria, Temecula, California và Hạt Trưởng hạt Hemet, Giáo Phận San Bernadio, hiếu thảo nhường một phần cơ thể mình để duy trì sự sống của thân phụ. Đạo và đời, tình yêu thương và trí tuệ uyên bác tương giao đã làm nên chân dung Linh Mục Anthony Đào Quang Chính, một vị Linh Mục từ tâm tương liên văn hóa mang trong mình dòng máu Việt.
Quê hương Việt Nam cồn cào ngòi bút của Kiều Mỹ Duyên.
Kể cả khi phỏng vấn các nhà chính trị hay học giả phương tây, Kiều Mỹ Duyên trước sau cũng trọng tâm hướng về nước Việt và con người Việt. Trong câu chuyện với cựu tổng tống Liên Bang Xô Viết Mikhail Sergeyvich Gorbachyov, Kiều Mỹ Duyên cũng không quên đặt vấn đề trực diện về Tự Do và Dân Chủ của Việt Nam. “Bao giờ Trung Quốc có Tự Do thì Việt Nam có Tự Do.” Câu trả lời ngắn gọn mà thấu suốt lịch sử thăng trầm của hai nước Việt- Trung nói lên tầm vóc của một chính trị gia- một nhân vật lịch sử góp phần làm tan băng chiến tranh lạnh- thật đáng để cho các sử gia cũng như người Việt suy ngẫm về thế sự dân tộc từ góc nhìn quan hệ quốc tế đa chiều. Tôi mong một ngày nào đó, Kiều Mỹ Duyên sẽ giới thiệu đầy đủ với bạn đọc tất cả những cuộc phỏng vấn của chị bởi đó là tư liệu sử và báo chí đáng quý.
Lòng tự tôn dân tộc, sự tri ân và chia sẻ với thế hệ đi trước, đặc biệt là với các cựu quân nhân và gia quyến chịu đựng khổ đau trước và sau 1975 là động lực khởi dậy những hoài bão của Kiều Mỹ Duyên về một cộng đồng Việt Nam “có chỗ đứng quan trọng trong các sinh hoạt tôn giáo, chính trị ở khắp nơi trên thế giới. Sự thành công của thế hệ thứ nhất và nhiều thế hệ sau này là niềm hãnh diện của người Việt Nam.”
Việt Nam yêu thương, Việt Nam đau thương, Việt Nam là mảnh đất của máu và nước mắt nhưng cũng là vùng đất thơ mộng và kiêu hùng của những Thiên Thần Mũ Nâu không bao giờ vơi trong ký ức sống của mỗi người Việt. Mỗi con người là mỗi mảnh đất tha hương nhưng không rời bỏ quê hương. Người đọc có thể nghẹn lòng “nghe tiếng nói đau đớn của các quả phụ tử sĩ, của cô nhi về người thân của họ, là tôi muốn khóc. Không ai quên những người đã chết. Họ vẫn còn sống đây với vợ con, cha mẹ. Họ vẫn còn sống ở đây với chiến hữu, đồng bào. Họ vĩnh viễn sống trong trái tim của những người thương mến họ. Hỡi vong linh các chiến sĩ oai hùng, xin phù hộ cho mọi người, nhất là đoàn hậu duệ, nối gót cha ông.”
Đó là lời chứng của một con người đi qua cuộc chiến, mang quá khứ vào hiện tại để nuôi nấng tương lai.
Việt Nam yêu thương, Việt Nam đau thương, Việt Nam Chinh Chiến Điêu Linh máu và nước mắt không bao giờ vơi trong ký ức sống của mỗi người Việt. Mỗi con người là mỗi mảnh đất tha hương nhưng không rời bỏ quê hương. Người đọc có thể nghẹn lòng với mỗi lần tôi nghe tiếng nói đau đớn của các quả phụ tử sĩ, của cô nhi về người thân của họ, là tôi muốn khóc. Không ai quên những người đã chết. Họ vẫn còn sống đây với vợ con, cha mẹ. Họ vẫn còn sống ở đây với chiến hữu, đồng bào. Họ vĩnh viễn sống trong trái tim của những người thương mến họ. Hỡi vong linh các chiến sĩ oai hùng, xin phù hộ cho mọi người, nhất là đoàn hậu duệ, nối gót cha ông.”
Lòng tự tôn dân tộc, sự tri ân và chia sẻ với những thế hệ đi trước, đặc biệt là với các cựu quân nhân và gia quyến chịu đựng khổ đau trước và sau 1975 là động lực khởi dậy những hoài bão của Kiều Mỹ Duyên về một cộng đồng Việt Nam “có chỗ đứng quan trọng trong các sinh hoạt tôn giáo, chính trị ở khắp nơi trên thế giới. Sự thành công của thế hệ thứ nhất và nhiều thế hệ sau này là niềm hãnh diện của người Việt Nam.”
Dòng máu giúp người thương đời của bậc phụ mẫu gieo mầm và nảy nở làm nên tâm hồn đa cảm nhưng không thiếu sự quyết liệt dấn thân vào những chuyến đi, những câu chuyện, những thân phận khác lạ những chẳng hề xa lạ trong đời sống như Kiều Mỹ Duyên tâm tình, rằng: Cha Mẹ nào cũng có nhiều đề tài để con cháu viết truyện viết sách. Mẹ tôi cũng vậy, sự mộc mạc chất phác của Mẹ tôi, tình thương người của Mẹ tôi cũng đủ để tôi viết dài dài. Để viết “dài dài” về một biến cố lịch sử không khó nhưng viết dài dài về một “sự mộc mạc” là không hề dễ dàng. Bằng nụ cười hồn nhiên, bằng nước mắt chia sẻ, chị biến bao nhiêu sự mộc mạc thành phẩm hạnh đời sống chị sống cùng và sống trong nó từng hơi thở.
Mưu sinh thời công nghệ, thời gian dường như ngày càng ngắn lại trong khi con người bận rộn hơn vì vậy tình yêu thương và sự chia sẻ cũng theo đó mà hư hao. Hoa Cỏ Bên Đường, với sự mộc mạc của mình, thức tỉnh lương tâm: “Xin đừng bao giờ nói: tôi bận quá, tôi không có thì giờ, tôi không có thì giờ. Hãy bao dung, hãy rộng lượng, hãy thương người như thể thương thân, thì chúng ta có 24 giờ một ngày là nhiều lắm.Thương người, đây là giá trị tinh thần quan trọng lắm… Thương người nên cho họ những gì thuộc về tinh thần: một lời cầu nguyện chân thành, những nụ cười hiền lành, tiếng cười giòn tan.”
Vậy thì có gì đâu mà chần chừ, 24 giờ dẫu bộn bề, chúng ta hãy cho nhau thời gian, dành chút chia sẻ với những khúc tâm tình Hoa Cỏ Bên Đường của Kiều Mỹ Duyên.
Bởi, có được một tiếng cười giòn tan đâu phải là niềm hạnh phúc chúng ta dành cho người mà còn cho chính bản thân chúng ta.
Bài của Ngã Văn
Lễ Phục Sinh, Hill, 2021
M HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG KIỀU MỸ DUYÊN
Bài của Ngã Văn
Lễ Phục Sinh, Hill, 2021
Làm người, không có gì hào sảng hơn, là được sinh tử với những gì mình hằng mong sinh tử cùng. Làm phóng viên, không có gì cảm hứng hơn là được thành nhân chứng của những nhân chứng và sự kiện. Cả hai nguyện ước, đời và nghề, đã làm nên một miền hoa cỏ có tên gọi là Kiều Mỹ Duyên. a
Nói là miền bởi trong các tác phẩm dung dị viết ra như không ấy lại nặng trĩu tình người, tình quê hương, và tình nhân loại như là bản nhiên hiện sinh trong góc nhìn báo chí sôi động như lời của tác giả, “Tôi không viết truyện mơ mộng lên cung trăng, tôi viết về người thật việc thật, viết hoài không hết, cần gì bay lên Trời, hay bay lên cung Trăng thăm chị Hằng. Tôi sống thật, thương thì nói là thương, ghét ai thì im, không nói ghét, vì người nào cũng có điểm dễ thương của họ. Họ không thích mình tại vì mình không khéo léo, thế thôi.” Thế thôi- tối giản nên chứa đựng can trường như kẻ đi vào bát phong thị phi mà chẳng ngại ngần.
Trong Chinh Chiến Điêu Linh, Kiều Mỹ Duyên tuyên từ, “chiến trận đối với người phóng viên chiến trường cũng tựa như ánh đèn sân khấu đối với người nghệ sĩ.” Đó quả nhiên là duyên khởi của một nghiệp nữ nhưng chí trượng phu vác bút xông pha chinh chiến trên bốn vùng chiến thuật, được sống với cái chết và được chết với đau thương trong tận cùng giới hạn của bi thảm binh lửa. Âu đó cũng là cái phúc can đảm đời người. Người phóng viên, với kỹ năng làm báo và sự may mắn, có thể trở thành ký giả xuất sắc nhưng nếu không duyên trì tự tính, ắt rằng khó có thể được cửa mở ra với mọi tấm lòng dù hao mòn vân tay gõ. Bút lực và nhãn quan tận hiến, Kiều Mỹ Duyên tiếp cận và đối thoại với mọi đối tượng để chuyển tải thông tin và kể lại những câu chuyện chính sự cũng như bên lề để phụng sự độc giả và khán thính giả. Đa dạng nhưng chẳng hề phân tán, Kiều Mỹ Duyên đi sâu khai thác vào bốn đề tài trở thành máu thịt: Hoạt động tôn giáo, Chính trị Việt Nam, Tri ân chiến hữu chiến sĩ, và Tình tương thân, tương ái cộng đồng vô phân biệt trong và ngoài nước.
Lòng thành, Kiều Mỹ Duyên kết nối mọi tấm tình
Hoa Cỏ Bên Đường cho người đọc được gặp gỡ với bao nhiêu phẩm hạnh đa dạng từ các vị ngôi trên tôn giáo, nhà chính trị lừng danh thế giới cho đến những thân phận con đỏ, con đen xứ Việt và ngoài xứ Việt. Mọi nhân vật hiện ra, dù khác biệt đức tin hay chính kiến, đều bình đẳng trong con chữ mộc mạc chân thành với những hoài bão về một đất nước Việt Nam hạnh phúc và hòa bình, Dân Chủ và Tự Do, một cộng đồng Việt hải ngoại mạnh mẽ và có tiếng nói trong không gian chính trị, tôn giáo, và văn hóa của Hoa Kỳ nói riêng và thế giới.
Niềm thiêng ấy hiện ra trong từng con chữ tràn đầy tự hào và khát vọng khi Kiều Mỹ Duyên viết về những vị chức sắc tôn giáo cao hạnh như “hai viên ngọc kim cương của Phật Giáo Việt Nam” là Thiền Sư- Thi sĩ Tuệ Sỹ và Thiền Sư- Triết Gia Lê Mạnh Thát. Kiều Mỹ Duyên duyên phước được gặp và viết về Hòa Thượng Thích Tâm Châu, vị cao tăng “ kiến thức uyên thâm, đi khắp nơi thế giới hoằng pháp” và không ngơi nghỉ tranh đấu cho một Việt Nam tự do lạc phúc. Kiều Mỹ Duyên là nữ “nang-pa- người ở trong” cõi Phật nhưng thiện tính, chị cũng trong lành một tâm hồn dâng Chúa. Kiều Mỹ Duyên dành sự tri ơn với Hồng Y Phạm Minh Mẫn, Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt, và Linh Mục Anthony Đào Quang Chính. Linh thể phụng sự Chúa, vị cha chánh xứ của nhà thờ Saint Catherine of Alexandria, Temecula, California và Hạt Trưởng hạt Hemet, Giáo Phận San Bernadio, hiếu thảo nhường một phần cơ thể mình để duy trì sự sống của thân phụ. Đạo và đời, tình yêu thương và trí tuệ uyên bác tương giao đã làm nên chân dung Linh Mục Anthony Đào Quang Chính, một vị Linh Mục từ tâm tương liên văn hóa mang trong mình dòng máu Việt.
Quê hương Việt Nam cồn cào ngòi bút của Kiều Mỹ Duyên.
Kể cả khi phỏng vấn các nhà chính trị hay học giả phương tây, Kiều Mỹ Duyên trước sau cũng trọng tâm hướng về nước Việt và con người Việt. Trong câu chuyện với cựu tổng tống Liên Bang Xô Viết Mikhail Sergeyvich Gorbachyov, Kiều Mỹ Duyên cũng không quên đặt vấn đề trực diện về Tự Do và Dân Chủ của Việt Nam. “Bao giờ Trung Quốc có Tự Do thì Việt Nam có Tự Do.” Câu trả lời ngắn gọn mà thấu suốt lịch sử thăng trầm của hai nước Việt- Trung nói lên tầm vóc của một chính trị gia- một nhân vật lịch sử góp phần làm tan băng chiến tranh lạnh- thật đáng để cho các sử gia cũng như người Việt suy ngẫm về thế sự dân tộc từ góc nhìn quan hệ quốc tế đa chiều. Tôi mong một ngày nào đó, Kiều Mỹ Duyên sẽ giới thiệu đầy đủ với bạn đọc tất cả những cuộc phỏng vấn của chị bởi đó là tư liệu sử và báo chí đáng quý.
Lòng tự tôn dân tộc, sự tri ân và chia sẻ với thế hệ đi trước, đặc biệt là với các cựu quân nhân và gia quyến chịu đựng khổ đau trước và sau 1975 là động lực khởi dậy những hoài bão của Kiều Mỹ Duyên về một cộng đồng Việt Nam “có chỗ đứng quan trọng trong các sinh hoạt tôn giáo, chính trị ở khắp nơi trên thế giới. Sự thành công của thế hệ thứ nhất và nhiều thế hệ sau này là niềm hãnh diện của người Việt Nam.”
Việt Nam yêu thương, Việt Nam đau thương, Việt Nam là mảnh đất của máu và nước mắt nhưng cũng là vùng đất thơ mộng và kiêu hùng của những Thiên Thần Mũ Nâu không bao giờ vơi trong ký ức sống của mỗi người Việt. Mỗi con người là mỗi mảnh đất tha hương nhưng không rời bỏ quê hương. Người đọc có thể nghẹn lòng “nghe tiếng nói đau đớn của các quả phụ tử sĩ, của cô nhi về người thân của họ, là tôi muốn khóc. Không ai quên những người đã chết. Họ vẫn còn sống đây với vợ con, cha mẹ. Họ vẫn còn sống ở đây với chiến hữu, đồng bào. Họ vĩnh viễn sống trong trái tim của những người thương mến họ. Hỡi vong linh các chiến sĩ oai hùng, xin phù hộ cho mọi người, nhất là đoàn hậu duệ, nối gót cha ông.”
Đó là lời chứng của một con người đi qua cuộc chiến, mang quá khứ vào hiện tại để nuôi nấng tương lai.
Việt Nam yêu thương, Việt Nam đau thương, Việt Nam Chinh Chiến Điêu Linh máu và nước mắt không bao giờ vơi trong ký ức sống của mỗi người Việt. Mỗi con người là mỗi mảnh đất tha hương nhưng không rời bỏ quê hương. Người đọc có thể nghẹn lòng với mỗi lần tôi nghe tiếng nói đau đớn của các quả phụ tử sĩ, của cô nhi về người thân của họ, là tôi muốn khóc. Không ai quên những người đã chết. Họ vẫn còn sống đây với vợ con, cha mẹ. Họ vẫn còn sống ở đây với chiến hữu, đồng bào. Họ vĩnh viễn sống trong trái tim của những người thương mến họ. Hỡi vong linh các chiến sĩ oai hùng, xin phù hộ cho mọi người, nhất là đoàn hậu duệ, nối gót cha ông.”
Lòng tự tôn dân tộc, sự tri ân và chia sẻ với những thế hệ đi trước, đặc biệt là với các cựu quân nhân và gia quyến chịu đựng khổ đau trước và sau 1975 là động lực khởi dậy những hoài bão của Kiều Mỹ Duyên về một cộng đồng Việt Nam “có chỗ đứng quan trọng trong các sinh hoạt tôn giáo, chính trị ở khắp nơi trên thế giới. Sự thành công của thế hệ thứ nhất và nhiều thế hệ sau này là niềm hãnh diện của người Việt Nam.”
Dòng máu giúp người thương đời của bậc phụ mẫu gieo mầm và nảy nở làm nên tâm hồn đa cảm nhưng không thiếu sự quyết liệt dấn thân vào những chuyến đi, những câu chuyện, những thân phận khác lạ những chẳng hề xa lạ trong đời sống như Kiều Mỹ Duyên tâm tình, rằng: Cha Mẹ nào cũng có nhiều đề tài để con cháu viết truyện viết sách. Mẹ tôi cũng vậy, sự mộc mạc chất phác của Mẹ tôi, tình thương người của Mẹ tôi cũng đủ để tôi viết dài dài. Để viết “dài dài” về một biến cố lịch sử không khó nhưng viết dài dài về một “sự mộc mạc” là không hề dễ dàng. Bằng nụ cười hồn nhiên, bằng nước mắt chia sẻ, chị biến bao nhiêu sự mộc mạc thành phẩm hạnh đời sống chị sống cùng và sống trong nó từng hơi thở.
Mưu sinh thời công nghệ, thời gian dường như ngày càng ngắn lại trong khi con người bận rộn hơn vì vậy tình yêu thương và sự chia sẻ cũng theo đó mà hư hao. Hoa Cỏ Bên Đường, với sự mộc mạc của mình, thức tỉnh lương tâm: “Xin đừng bao giờ nói: tôi bận quá, tôi không có thì giờ, tôi không có thì giờ. Hãy bao dung, hãy rộng lượng, hãy thương người như thể thương thân, thì chúng ta có 24 giờ một ngày là nhiều lắm.Thương người, đây là giá trị tinh thần quan trọng lắm… Thương người nên cho họ những gì thuộc về tinh thần: một lời cầu nguyện chân thành, những nụ cười hiền lành, tiếng cười giòn tan.”
Vậy thì có gì đâu mà chần chừ, 24 giờ dẫu bộn bề, chúng ta hãy cho nhau thời gian, dành chút chia sẻ với những khúc tâm tình Hoa Cỏ Bên Đường của Kiều Mỹ Duyên.
Bởi, có được một tiếng cười giòn tan đâu phải là niềm hạnh phúc chúng ta dành cho người mà còn cho chính bản thân chúng ta.
Bài của Ngã Văn
Lễ Phục Sinh, Hill, 2021
Tuyển Tập Kiều Mỹ Duyên: HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG – Việt Hải, Khánh Lan, và Thụỵ Lan
Cách đây khá lâu khi tôi thực hiện tuyển tập Tây Ninh Quê Tôi dịp mỗi năm xuân về, hay ấn hành những đặc san văn hoc như Văn Học Thời Nay và Văn Đàn Đồng Tâm, tác giả Kiều Mỹ Duyên đã gởi bài góp mặt. Tôi thực sự trân quý tấm chân tình yêu văn chương, chữ nghĩa và lối viết hay phong văn bộc bạch chân thật, rõ ràng của bà. Xuyên qua tác phẩm này độc giả sẽ nghiệm ra điều như vậy. Đây là tác phẩm thứ hai sau tác phẩm khá thịnh hành về phóng sự chiến trường Chinh Chiến Điêu Linh của Kiều Mỹ Duyên.
Đọc qua Hoa Cỏ Bên Đường thì sách này gói ghém nhiều câu chuyện đời thường của tác giả khi sinh hoạt trong cộng dồng, dù là truyền thông báo chí, từ thiện xã hội, tôn giáo tâm linh hay địa ốc tài chánh,… của tác giả. Nó tiêu biểu cho những chuyện kể tin tích cực cần chia sẻ như YMCA: Niềm tin và hy vọng cho tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại (trang 157); Cảnh sát là bạn dân (trang 183); Có gan, làm giàu (trang 220); Những nữ tu sĩ dễ thương (trang 358); Hãy cho nhau tiếng cười (trang 429), Cho nhau thì giờ (trang 442) hay Lạc quan yêu ngưới, yêu đời mà sống (trang 452);…; hoặc những chuyện kể tin không vui nhưng chúng ta cần ôn lại nhắc nhớ như tin cộng đồng, những bản tin đồng hương kém may mắn như ở trang 239 tin bà con miền trunng ở quê nhà chịu nạn thiên tai lũ lụt; bài Cứu Người Như Cứu Lửa Cứu Lụt Bà Con Ơi!; bài đi thăm người Việt ở Miên sống khổ cực nơi xứ người; Một Chuyến Đi Ngậm Ngùi (trang 253); Và những bản tin về người quá cố như quý Hoà thượng Thích Tâm Châu, Thích Giác Nhiên, Thích Quảng Thanh, Trung tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn, Nhà văn Đỗ Phương Khanh, Phóng viên chiến trường Phan Trần Mai (trang 413). Bài Nhà sách Tú Quỳnh Giã Từ Đồng Hương (trang 401).
Tuyển tập Kiều Mỹ Duyên: Hoa Cỏ Bên Đường gồm có 41 bài viết gom góp lại từ nhiều năm qua. Sách dầy hơn 460 trang, trình bày kỹ thuật ấn loát do GS. Phạm Hồng Thái đảm nhiệm. Bìa sách do Phương Hoa. Cơ sở Văn Thơ Lạc Việt ấn hành. Sau đây ba anh em chúng tôi: Khánh Lan, Thụỵ Lan và Việt Hải thuộc Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian xin đi tiếp về quan điểm nhận định về tác giả Kiều Mỹ Duyên và tác phẩm Hoa Cỏ Bên Đường.
Nhà bào Kiều Mỹ Duyên tên thật là Nguyễn Thị Ẩn. Mặc dù tác giả Kiều Mỹ Duyên nhiều lần minh định bà không là nhà văn, mà bà chỉ viết báo. Trước 1975, bà viết bài cho các tờ Công Luận, Hòa Bình và Trắng Đen. Từ 1964 bà chuyên viết phóng sự về xã hội và chiến trường. Năm 1976, bà vượt biên và định cư tại miền Nam California, Hoa Kỳ. Bà từng du học Úc Châu qua học bổng Colombo Plan vào cuối thập niên 60 về cử nhân ngành báo chí. Qua Mỹ bà theo học tại trường Đại Học Cal State Fullerton, tốt nghiệp cử nhân các khoa Báo Chí, Chính Trị và Địa Ốc vào năm 1982. Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, bà chuyên viết những phóng sự chiến trường cùng những mảnh đời xã hội tan thương do chiến cuộc. Bước chân của bà ra mặt trận tiền phương theo những cuộc hành quân và nhiều chiến trường sôi động, khốc liệt nhất của thập niên 1970. Tác phẩm Chinh Chiến Điêu Linh ghi nhận giai đoạn này.
Kiều Mỹ Duyên: nhà văn hay nhà báo ?
Theo 2 bạn văn Thụỵ Lan và Khánh Lan cho là 2 phương vị này đều đúng với bà. Tôi đồng ý như vậy. Hãy tìm hiểu phần vụ của mỗi phương vị.
1/ Nhà văn là người chuyên sáng tác ra các tác phẩm văn học, đã có tác phẩm được công bố ra công chúng và ít nhiều được độc giả thừa nhận giá trị của một số tác phẩm. Kỹ năng của các nhà văn qua việc sử dụng ngôn ngữ để mô tả một ý tưởng, một câu chuyện hay qua bối cảnh, dù đó là do chuyện thực tế hay hư cấu.
2/ Còn nhà báo là người làm công việc đưa tin tức chuyên nghiệp, có nhiệm vụ tìm kiếm các tin tức sau khi phối kiểm tính xác thực của nguồn tin. Nhà báo chịu trách nhiệm bài viết của mình khi đưa tin ra công luận.
Hai tác phẩm của Kiều Mỹ Duyên như sách Chinh Chiến Điêu Linh khiến tác giả vừa là ký giả chiến trường kiêm nhà văn kể chuyện chiến tranh. Tác phẩm Hoa Cỏ Bên Đường lại là thể loại văn tạp ghi hay tạp bút với nhiều chủ đề.
Trên thực tế biên giới giữa nhà văn và nhà báo bị trùng lặp, trùng nhau, bởi vì báo đăng văn, văn đăng trên báo, ví du như Những Cột Trụ Chống Giữ Quê Hương (Phan Nhật Nam); Cửu Long Cạn Dòng Biển Đông Dậy Sóng (Ngô Thế Vinh); Bánh Mì Ai Cập, Cá Việt Nam, Khát Vọng Con Người (Trần Trung Đạo); hay Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch (Ngô Thế Vinh); …
Nhà báo viết văn, nhà văn viết báo cũng là chuyện chẳng phải gì lạ cả. Viết báo, viết văn vốn ở thể văn xuôi (prose). Phải chăng văn chương và báo chí vẫn thường được ví như hai anh em chung mái nhà chữ nghĩa. Bên phương trời Tây Âu họ như bên ta. Quý ông “văn kiêm báo” hay “báo kiêm văn” như những Daniel Defoe, Samuel Richardson, Henry Fielding, Lawrence Sterne, … (novelists or journalists), ví dụ như nhà văn nhà báo Jonathan Swift với danh tác Gulliver’s Travels, và nhà văn nhà báo Daniel Defoe với danh tác Robinson Crusoe.
Tác phẩm Chinh Chiến Điêu Linh cho thấy Kiều Mỹ Duyên đóng vai trò nhà báo khá rõ ràng, nhà báo xông pha nơi chiến trường viết tường trình sống động, 100% ta không bàn thảo. Và ở tác phẩm mới Hoa Cỏ Bên Đường nhà văn Khánh Lan (một học trò Văn Hoá Quân Đội của GS. Nguyễn Thị Ẩn, môn Công Dân ngày xưa) đọc bài viết do nhà văn Kiều Mỹ Duyên, dẫn dụ những bài viết mô tả những đặc tính văn chương của Kiều tác giả như sau:
“Buổi sáng thức dậy, tôi vẫn nghe tiếng hát reo vui của những con chim nhỏ vui đùa chuyền từ cành cây này sang cành cây khác. Những trái đào vàng rực rỡ trên cây, những trái ổi óng ả quằn cành cây từng chùm, từng chùm. Ôi, đời sao đẹp quá! Cảnh thiên nhiên dễ thương, vô tư làm cho những nỗi buồn bay xa, bay cao, không còn ở trần gian này nữa.” (trích bài Có Tin Vui Giữa Giờ Tuyệt Vọng. 24/12/2020. Kiều Mỹ Duyên).
Một ví dụ khác cho thấy sự thi vị của văn chương của nhà văn Kiều Mỹ Duyên trong sự mô tả không gian bối cảnh:
“Hàng tre trúc xanh mướt
Những bạn bè tôi đã đến Tây Ninh, họ có dịp ghé qua và nhớ về một địa danh đã ghi sâu dấu ấn vào âm nhạc, và đó là Tha La Xóm Đạo, nơi có những hàng tre trúc xanh mướt mà tàn cây đan vào nhau như ngày xưa tôi đã chiêm ngưỡng. Ở đây có bóng dáng những cô gái mỹ miều trong chiếc áo dài thiết tha dự lễ tại giáo đường. Hỡi ai còn nhớ câu thơ của Vũ Anh Khanh…
“Đây Tha La Đây Xóm Đạo hoang tàn
Mây trời vây quanh màu tang khói lửa
Bao năm qua, Tha La còn chờ đó
Đoàn người đi giết thù đã hẹn về từ dạo ấy
Lòng viễn khách, bồi hồi như thương tiếc
Mùa thu nắng hanh vàng…”
(Hận Tha La, nhạc và lời Sơn Thảo)”, (Kiều Mỹ Duyên, Đặc san Tây Ninh Quê tôi, Xuân Đinh Hợi 2007, “Tây Ninh: Hẹn Một Ngày Về”).
Thấy chưa nhỉ, văn phong bóng bẩy, mượt mà đáng yêu với những lãng đãng chất văn chương lãng mạn, có khác nào những Mai Thảo, Nguyên Sa, Nhật Tiến, Thạch Lam hay Nguyễn Xuân Hoàng,… theo ý tưởng thiển nghĩ của anh em tôi.
Còn nhà văn Thụy Lan đọc văn chương Kiều Mỹ Duyên, cô chú trọng về nét bao dung, từ tâm của tác giả Hoa Cỏ Bên Đường, trích đoạn sau:
“Người hạnh phúc và vui vẻ thì sống lâu, sức khỏe dồi dào, không đau bệnh. Người lạc quan, cười nhiều sống lâu hơn người hay than thở, chán nản. Ai cũng thích sống với người lạc quan hơn người bi quan. Hàng ngày, chúng tôi gặp nhiều người tươi cười như ngày hội Tết, lúc nào cũng cười, khuôn mặt tươi như hoa, tiếng nói như chim hót mùa Xuân. Những người này làm việc gì cũng thành công. Người thành công là người hạnh phúc, vì hạnh phúc nên thành công. Người lạc quan thì trẻ mãi không già. Sống vui, sống khỏe, sống hạnh phúc, ai cũng mong có đời sống như thế. Nhưng có bao nhiêu người trong chúng ta được đời sống hanh thông như thế?”, (Hạnh Phúc Cho Đi. 04/03/2021, Kiều Mỹ Duyên).
“Hãy yêu mình, hãy yêu người xung quanh mình. Yêu người nhưng phải tự trọng, vì yêu người không phải đi xin thứ này, thứ nọ của người đó, nhất là xin thì giờ, xin kiến thức. Kiến thức phải đến trường học và học với nhiều người, nhiều ngành khác nhau, không phải chỉ học với một người. Chúng ta vào trường đại học cùng học với nhiều người chứ không chỉ học với một giáo sư duy nhất.”, (bđd, Hạnh Phúc Cho Đi. 04/03/2021, Kiều Mỹ Duyên).
Ý tưởng chân tâm, vị tha khi ta sống san sẻ, hạnh phúc lạc quan như Mẹ Teresa từng chia sẻ: “Chúng ta hãy luôn mỉm cười gặp nhau, vì nụ cười là khởi đầu của tình yêu.” (Let us always meet each other with smile, for the smile is the beginning of love). Hay như triết gia Ần quốc Debasish Mridha ghi nhận trong danh tác của ông Verses of Happiness: “Cuộc sống đơn giản và ngắn ngủi nhưng tình yêu là vô hạn và vĩnh cửu. Vì vậy, hãy cho đi nhiều nhất có thể được, không cần phải phán xét bất cứ ai ”(Life is simple and short but love is infinite and eternal. So give it away, as much as you can, without judging anyone.).
Phải chăng trong tâm tư nhà văn Kiều Mỹ Duyên chất chứa nét triết lý duy tâm nhẹ nhàng trong phong văn. Đọc Kiều Mỹ Duyên, tôi nghiệm ra rằng bà có quan điểm tựa như GS. y khoa Henri de Mondeville cho là “Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ” ( Le rire est la meilleure médecine), hay triết gia Bertrand Russel nhận định là “Tiếng cười là liều thuốc kỳ diệu rẻ tiền nhất và hiệu quả nhất” (Le rire est le médicament miracle le moins coûteux et le plus efficace); hoặc như văn hào Victor Hugo ghi nhận: “Làm được cho mọi người cười là làm cho mọi người quên thì thật là một ân nhân trên quả đất này, là một nhà phân phối của sự lãng quên!” (Faire rire, c’est faire oublier. Quel bienfaiteur sur la terre qu’un distributeur d’oubli !); hay như nhạc sĩ tài hoa Frédéric Chopin cho cảm nghĩ: “Những người không bao giờ cười không phải là những người nghiêm túc.” (Les gens qui ne rient jamais ne sont pas des gens sérieux). Kiều Mỹ Duyên chủ trương sống thoải mái, triết lý sống thanh tao, đơn giản và san sẻ, bà nhìn cuộc đời bằng trái tim mở rộng cảm thông, bà lạc quan trong nhân sinh quan của chính mình.
Trong bài viết Cho Nhau Thì Giờ (25/02/2021), Kiều Mỹ Duyên viết: “Vậy thì khi người nào đó nói với bạn rằng tôi không có thì giờ hoặc tôi bận quá, bạn hãy tự hỏi mình người đó thân với bạn như thế nào? Khi một người nói với bạn tôi không có thì giờ thì bạn phải nghĩ rằng người đó không có thì giờ cho bạn, trong con mắt của người đó hoặc trong trái tim của người đó, bạn không phải là người thân. Nếu là người thân thì không bao giờ nói câu tôi bận quá, tôi không có thì giờ. Thì giờ người nào cũng bằng nhau, 24 giờ một ngày. Với 24 giờ, làm sao sử dụng cho hết: làm việc, ăn, ngủ, chơi, xem tivi, nghe radio, đọc sách, điện thoại, hoặc email cho người này hay người nọ. Nên bạn phải biết mình là ai khi nghe người nào nói rằng tôi có đọc email của bạn hay nhận điện thoại của bạn, nhưng rất tiếc tôi bận quá, tôi không có thì giờ trả lời…. Người nào cũng có việc làm, có bổn phận, trách nhiệm, không phải ai cũng có thì giờ nghĩ đến người khác, có thì giờ quan tâm đến những người xung quanh mình, nhưng nếu biết sắp xếp thì mọi chuyện đều có thể làm được.”
Bài Cho Nhau Thì Giờ có đoạn hay của nó: “Có những chuyện trong cuộc sống xảy ra rất đỗi bình thường nhưng lại có kết thúc bất ngờ. Một cụ bà nằm trong viện dưỡng lão, con cháu không có thì giờ đến thăm, chỉ riêng có cô y tá chăm sóc cho cụ bà hàng ngày. Vào những ngày nghỉ hoặc ngày lễ, cô nhớ cụ bà, cô vào viện thăm cụ. Cụ bà cũng rất thương cô y tá này. Rồi một ngày kia, cụ bà qua đời. Luật sư của cụ bà gọi cô y tá đến văn phòng luật sư để nghe di chúc của cụ bà ở viện dưỡng lão. Cô y tá ngạc nhiên và vô cùng xúc động, không ngờ cụ bà để lại tài sản cho cô thay vì để lại cho con cháu của mình.”
Cũng trong bài viết trên, nụ cười trong cuộc sống được nhà văn Kiều Mỹ Duyên cổ võ, quảng bá ở Nam Cali trên các hệ thống truyền thanh cũng như truyền hình: “Bà con ơi, Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ”, tôi vẫn nghe rõ nhự in. Hãy đọc tiếp bà viết: ” Cho nhau tiếng cười, cho nhau một chút thì giờ có gì quá đáng? Hãy tự hỏi mỗi ngày mình bỏ bao nhiêu thì giờ xem tivi, nghe radio, đọc sách báo, nghe nhạc thì tại sao cho người khác một chút thì giờ thì lại phiền? Chỉ có lòng mình chưa đủ để quan tâm đến người bạn của mình mà thôi?
Xin đừng bao giờ nói: tôi bận quá, tôi không có thì giờ, tôi không có thì giờ. Mỗi ngày 24 giờ là nhiều lắm, nếu mình sử dụng hết 24 giờ này ngoài việc ăn, ngủ, làm việc thì còn thì giờ nhiều lắm. Nếu mình quan tâm đến người khác thì xin đừng bao giờ nói: tôi bận quá, tôi không có thì giờ. Hãy bao dung, hãy rộng lượng, hãy thương người như thể thương thân, thì chúng ta có 24 giờ một ngày là nhiều lắm…”.
Kiều Mỹ Duyên vốn dĩ vui vẻ, hoạt bát và từ tâm, Bà ăn chay, tránh sát sinh. Trong bài viết Hãy Cho Nhau Tiếng Cười, xin trích đoạn: “Hãy cho nhau tiếng cười reo vui, đời sống ngắn lắm, sự sống và sự chết gần nhau lắm, như sợi chỉ. Chỉ một cơn mê, chỉ một vài phút không thở, tim ngừng đập là lên đường ra đi mãi mãi, không bao giờ trở lại. Hãy cho nhau nụ cười cho người còn hiện hữu, đừng đợi người ra đi rồi luyến tiếc. Muốn gặp ai thì cứ gặp, đừng chần chờ, vì không biết ngày mai mình còn thức dậy? Gặp người mình muốn gặp vài ba giây cũng đủ, nghe vài tiếng nói cũng đủ. Đâu cần ngồi bên cạnh cả ngày, cả tháng, cả đời? Biết đủ là đủ…”.
Đọc trích đoạn người nữ tu yêu tiếng cười nhân hậu, hiền hoà, “Đời sống quá ư vất vả, ai cũng thích tiếng cười. Tiếng cười đem niềm vui và sức sống cho người xung quanh. Sống lạc quan khi có nụ cười, tiếng cười. Sự linh hoạt của đời sống là sự vui vẻ, yêu đời và lạc quan. Càng lớn tuổi, tôi càng thích tiếng cười. Tôi thích những người đem niềm tin đến cho mình, tôi cũng thích chính mình đem niềm tin đến cho người khác. Đem nỗi buồn làm phiền người khác để làm gì? Thương ai nên đem cho họ nụ cười, tiếng cười. Ngay cả người bệnh nằm trong viện dưỡng lão mà mình đem tiếng cười đến cho họ, nhìn vào mắt của bệnh nhân mình sẽ cảm thấy mắt của họ tươi hơn, khuôn mặt của họ có hồn hơn.
Hãy cho nhau nụ cười, cho nhau tiếng cười. Nếu mình có niềm vui trong lòng thì tiếng cười sẽ reo vui hơn, giòn tan hơn. Yêu người, yêu đời qua tiếng cười. Hãy yêu thương, lòng rộng mở, tiếng cười của mình sẽ hồn nhiên hơn, giòn giã hơn. Tôi yêu tiếng cười của trẻ thơ khắp nơi, nhất là các em trong viện mồ côi. Hãy ôm chặt các em trong tay với trái tim nồng nàn, chúng ta sẽ tìm thấy tình người trong vòng tay ấm áp của mình. Hãy nắm chặt tay người già trong viện dưỡng lão, chúng ta sẽ cảm nhận được người cần người dù trong chốc lát. Có người suốt đời đi tìm nụ cười đã mất, tìm hoài, tìm mãi không được, vì người có nụ cười thân thiện, thương yêu đã không còn nữa, cho nên khi còn hiện hữu, gặp bằng hữu, chúng ta nên cười vui vẻ, tự nhiên mà cười, nếu không ngày mai không còn kịp nữa.
Tôi được may mắn quen nhiều người có tiếng cười reo vui. Catherine bận rộn suốt ngày, làm việc không có ngày nghỉ. Vậy mà lúc nào cũng nở nụ cười trên môi và tiếng cười reo vui…. Catherine đem nụ cười đến với những người nghèo, trẻ em mồ côi. Catherine giúp họ rất tận tình như người mẹ chăm sóc con cái của mình. Những đứa trẻ ở Miên rất thương Catherine…Tiếng cười của bạn tôi vẫn reo vang. Năm nào, bạn tôi cũng gọi cho tôi với tiếng cười lạc quan pha chút nghịch ngợm của trẻ thơ vào ngày đầu năm. Tiếng cười vui vẻ không thay thế được cơm gạo, nhưng tiếng cười hồn nhiên của trẻ thơ, của người già vẫn là nhu cầu cần thiết của người nghe, của bằng hữu. Bạn tôi không gọi tôi thường xuyên nhưng mùng 1 Tết năm nào cũng gọi. Trước khi đi xa gọi, trở về gọi, có chuyện vui đều gọi tôi. Bạn tôi rất hồn nhiên, chỉ kể chuyện vui, không bao giờ kể chuyện buồn”.
Đoạn kết của bài viết thì cuộc đời này muôn thuở vẫn cần tiếng cười:
“Mãi đến bây giờ, tôi mới nhận ra một điều quan trọng là chúng ta rất cần nụ cười, cần tiếng cười trong đời sống hàng ngày: tiếng cười hồn nhiên của trẻ thơ, nụ cười héo hon của người già gần đất xa trời, giọng cười giòn tan của bạn bè, thân hữu,… Đúng là một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ?
Hạnh phúc thay cho những ai có tiếng cười giòn tan thường đến với mình trong 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Tiếng cười hồn nhiên pha lẫn chút nghịch ngợm của trẻ thơ làm cho người nghe lạc quan, yêu người, yêu đời mà sống, vượt qua những nỗi khó khăn ở hiện tại. Xin cảm ơn những nụ cười, những tiếng cười mà tôi đã được gặp, được nghe trong đời sống hàng ngày, nhất là vào mùa Xuân.
Kiều Mỹ Duyên, Orange County, 15/02/2021″.
Đọc Tuyển tập Kiều Mỹ Duyên qua tác phẩm mới Hoa Cỏ Bên Đường để chúng tôi, ba anh em: Thuỵ Lan, Khánh Lan và Việt Hải chia vui cùng tác giả Kiều Mỹ Duyên. Một nhà báo chuyên nghiệp đã ghi dấu giầy trên chiến trường xưa. Kiều Mỹ Duyên lặn lôi theo các mặt trận Quảng Trị qua danh trấn Mỹ Chánh, Hải Lăng, Đông Hà, La Vang, Gio Linh, cùng Huế như Cổ Thành, thung lũng Ashau, sang Quảng Ngãi với Ba Tơ, Quế Sơn, rồi Cao nguyên sương mù màu khói súng tại Tam Biên, Benhet, Dakto, Tân Cảnh, Pleiku, Kontum, Polei Kleng, Chu Pao, Bình Long, An Lộc,… Ngày hôm nay nếu chúng tôi nhận định Kiều Mỹ Duyên là một nhà báo nghiệp dư vì nhớ nghề xưa, hay một nhà truyền thông tài tử (amateur), hoặc giả là một phóng viên tự do (freelance) sẽ không ngoa. Và bà không làm vì tài chánh. Kiều Mỹ Duyên đã có nguồn cơm gạo từ hai cơ sở kinh doanh là Ana Real Estate và Ana Funding lo cho dạ dày. Hãy nói sự thật để được lòng người nghe. Sự thật hay chân lý là đích điểm đắc nhân tâm, như trường hợp nhà bác học Albert Einstein ghi nhận: “Những lý tưởng luôn luôn tỏa sáng trước mặt tôi và nó khiến tôi đầy ắp niềm vui về cái thiện, cái đẹp và chân lý” (The ideals which have always shone before me and filled me with joy are goodness, beauty, and truth). Tương tự, văn hào Nga Fyodor Dostoevsky cho ý tưởng: “Trên đời này không có gì khó hơn là nói ra sự thật lòng, không có gì dễ hơn là sự xu nịnh” (Nothing in this world is harder than speaking the truth, nothing easier than flattery).
oOo
Hoa Cỏ Bên Đường là tác phẩm chuyển tải nội dung những mẫu chuyện về chân thiện mỹ trong đời sống xã hội. Khi “Gõ Cửa, Cửa Sẽ Mở”, như khi “Mở lòng, lòng thanh thản”; Hoa Cỏ Bên Đường là tác phẩm đề cao tiếng cười, bởi vì “Hãy Cho Nhau Tiếng Cười”, cũng bởi vì tiếng cười là nhu cầu, là niềm tin yêu của đời sống; Trong đời sống hãy “Cho Nhau Thì Giờ”, dành thì giờ cho yêu thương nhân đạo, nhân đức; Hoa Cỏ Bên Đường là tác phẩm cho thấy triết lý sống mà tác giả đề nghị về tư tưởng lạc quan. Tuyển tập Kiều Mỹ Duyên nhấn mạnh đặc tính nhân bản với nhân sinh quan hãy “Lạc Quan, Yêu Người, Yêu Đời Mà Sống”, nhũng tâm tư, tâm tình của tác giả chắt chiu từng con chữ, nắn nót từng ý tưởng nội tâm, để rồi Cơ Sở Lạc Việt gom góp in ấn hình thành tác phẩm này.
Đọc một tác phẩm, xin hãy tìm hiểu chiều sâu tâm hồn, những ngõ ngách của trí não qua ngòi bút của nhà văn, hãy truy nguyên sự góp mặt của tác phẩm, và xin hãy rộng mở chào đón tác phẩm như một viên gạch mới tô điểm ngôi nhà văn học Việt Nam hải ngoại. Chúng tôi xin chúc mừng nhà văn Kiều Mỹ Duyên với tác phẩm Hoa Cỏ Bên Đường như tiếng lòng gởi đến mọi người.
Việt Hải – Song Lan, Nam California. Mùa Xuân, 10/04/2021.