K.Đ – Truyện dài : Những tháng năm cuồng nộ (kỳ cuối)

K.Đ – Những tháng năm cuồng nộ (kỳ cuối)

03/06/2010 | 1:00 sáng | 3 phản hồi

Tác giả: K.Đ

Chuyên mục: Sáng tác
Thẻ: > > >

 Xem kỳ 1, kỳ 2, kỳ 3, kỳ 4, kỳ 5, kỳ 6, kỳ 7kỳ 8 và kỳ 9

 17.

Giữa những con phố đầy cờ nửa xanh nửa đỏ, mọi người mệt mỏi trở về sau khi đã cố sức chạy theo quân miền Nam mà không kịp. Hay đúng hơn là cũng không còn biết chạy đi đâu nữa. Lịch sử đang viết tiếp những dòng dữ dội. Hết Phan Rang, Phan Thiết, đến Long Khánh, Biên Hòa rơi rụng như những đồng bạc vô hồn trong tay một con bạc tháu cáy. Sài Gòn bị bao vây bởi một số lớn những máy cày giả làm xe tăng. Tổng thống một ngày Dương văn Minh chỉ kịp ghi cái dấu chấm nhỏ vào lịch sử bằng cách tuyên bố đầu hàng vô điều kiện!

Dù sao thì cũng đã hoà bình, tuy rằng con chim bồ câu một cánh thì xanh, một cánh thì đỏ. Từ đây các bà mẹ không phải đêm đêm ra thắp nhang giữa trời, cầu xin Trời Phật chở che cho con trai khỏi phải bị hòn tên mũi đạn. Các chị vợ lính khỏi phải ngất xỉu vì nhận giấy báo tử của chồng. Và lúa chín sẽ có người chờ gặt!

Trở về! Hai tiếng nghe náo nức làm sao!

Trên đường về làng, nhộn nhịp những người hồi cư. Vẫn gồng vẫn gánh, vẫn tay xách nách mang, vẫn luộm  thuộm rách rưới như ngày nào bỏ cả nhà cửa ruộng đồng mà đi. Sau bao nhiêu năm dấp dúi bên hông phố chợ, những con người của đồng ruộng cũng chẳng giàu có văn minh hơn chút nào. Đôi mắt ai cũng mờ đi ít nhiều. Giọng nói còn đục và buồn hơn. Biết sống làm sao đây khi ruộng đồng cỏ lác cao ngập đầu người. Những đồng lương ít ỏi của những đứa con đi lính xẻ chia đã không còn nữa. Trên đầu đứa nào cũng cao lêu nghêu một cái mũ ngụy quân ngụy quyền.

Tôi đã gặp các ông hương kiểm, hương bộ, các ông biện, ông câu… Với cây gậy trong tay các ông run rẩy đi theo con cháu. Chừng ấy năm chạy loạn, chừng ấy năm sống bụi sống bờ, các ông hãy còn liêu xiêu bước đi đã là may. Đem được cái nắm xương về với quê nhà thì con chim hoà bình màu gì cũng được!

Đã tới làng rồi đây!

Tôi lội qua sông leo lên cái mô đất bên cầu. Giữa cây cỏ hoang vu, một cây khế đúng là đã mọc trên chỗ cô tôi nằm. Những bông khế đầu mùa tim tím đang lặng lẽ toả  hương. Tôi cứ tưởng mình sẽ phải khóc nức nở khi được quỳ trên mộ của cô. Nhưng thật lạ, tôi lại thấy lòng mình rất ấm áp. Như thể tôi đang gặp lại cô. Tôi nói thầm: Con đã về rồi, thưa Mẹ!

Trong lúc tôi đang lay hoay thắp nhang cho cô thì có tiếng đạn lên nòng và có tiếng  quát:

– Mày là thằng Được chó đẻ phải không?

Tôi nói:

– Đúng, Lê Văn Được là tôi.

– Đi theo tao!

Tôi nói:

– Để tôi thắp cho cô tôi cây nhang đã!

Nhưng bọn họ túm nắm nhang vừa mới đốt ném vào bụi.

– Đi ngay! Không nhang khói gì hết. Đồ chó đẻ mà cũng bày đặt nhang với khói!

Tôi bị dí súng vào lưng bắt phải đi đến trụ sở Ủy ban quân quản lúc này đang che tạm trên nền nhà ông chánh nhạc. Một người hơn 30 tuổi đầu đội mũ tai bèo lưng đeo súng colt xô ghế đứng dậy hỏi tôi:

– Hừ, thằng chó đẻ mày có biết tao không?

Tôi không trả lời. Thực ra tôi biết. Nó là thằng Khấu con ông Năm Qườn chăn vịt. Ngày trước ở làng người ta gọi đùa ông là thiếu tá vì dưới cây sào của ông lúc nào cũng có cả ngàn con vịt đẻ. Bà vợ ông cũng đẻ nhiều như vịt, nhiều đến nỗi ông không nhớ hết tên con. Để khỏi nhầm, ông gọi kèm với một đặc điểm nào đó. Như Sủng lé, Mận còi, Khấu thẹo… Một lần đuổi theo mấy con vịt lạc bầy, ông đã bị nước lụt cuốn trôi. Khấu thẹo thay cha nắm cây sào. Chẳng biết có phải vì lý lịch chăn vịt mấy đời mà nay nó được chăn dắt dân làng An Định lúc này cũng đang lao nhao chẳng khác gì một bầy vịt đói.

Múa cây colt trong tay như một viên thiếu tá thực thụ, nó nói:

– Giải phóng đã từ lâu rồi sao mày còn ôm chân đế quốc?

Tôi nói:

– Hôm nay mới mùng 10 tháng 5.

– Tao nói từ khi giải phóng Bình Định kia!

– Nhưng nay cũng đâu đã hết hạn.

– Mày cãi lý với tao hả. Nếu không gông cổ mày tới đây, đã chắc gì mày chịu trình diện. Mày có biết cái tội của mày lớn đến chừng nào không?

– Tôi trốn không được thì phải đi lính vậy thôi. Tôi nào đã bắn chết ai đâu!

– Mày đem chó khui hầm bắt đồng chí Thảnh và nhiều đồng chí khác mà không bắn giết ai à? Những đồng chí ấy đáng giá cả trăm cả ngàn người. Lại còn đồng chí Khứ nữa. mày ác đến độ để lũ chó kéo xác cho lũ giặc xem.

– Ông ấy cố lết ra miệng cống uống quá nhiều nước nên chết. Tôi muốn cứu cũng không được.

– Vậy là mày nói đồng chí ấy ngu?

– Không. Tôi nghe người ta nói bị thương mà uống nước nhiều nước là chết không kịp ngáp.

Thế là hắn quát:

– Tống cổ nó vào xà lim.

Thực ra đó là cái nhà tắm của cô Thảnh đã bỏ hoang từ khi có một thằng phải gió nằm trên mái nhìn trộm. Sau bao nhiêu năm dưới bom đạn, chẳng hiểu sao nó vẫn còn! Nó đầy cóc đầy nhái và trên tường đầy những hình vẽ tục tĩu. Tôi bị trói, một tay quặt ra sau lưng, một tay vòng sau ót, hai chân không bị cùm nhưng cột vào một khúc cây nên chỉ có trời cứu được. Tôi cố chịu trận suốt đêm.

Sáng hôm sau chúng đem tôi ra trước dân, thực ra là trước một đám du kích, chỉ lèo tèo vài cụ già ốm yếu. Tôi biết là mình đang bị đem ra đấu tố. Tôi được cởi trói, nhưng bị bắt quỳ chống hai tay xuống đất. Tiếng Khấu thẹo:

– Bò tới đây!

Tôi bò tới. Hắn thảy một gói gì hôi hôi trước mặt bảo ăn đi. Tôi không ăn, cả bọn cùng cười. Hắn chế nhạo:

– Chó mà chê cứt à?

Tôi im lặng vì biết những gì sắp xảy ra. Đó là sau khi bị làm nhục đủ điều sẽ ăn đấm ăn đá, bị báng súng nện vào đầu, gậy đập vào lưng và sau cùng là bị quẳng xác xuống sông. Y như chó chết. Tôi đang chờ đợi cái kết thúc cuộc đời một cách khốn nạn như thế thì có đứa đến nói nhỏ vào tai Khấu thẹo gì đó. Hắn bực bội chửi thề, rút súng bắn lên trời mấy phát. Hắn chỉ thẳng vào mặt tôi, nói:

– Tội của mày đáng băm vằm ra trăm mảnh chứ không phải chỉ có mỗi lá gan như của thằng Mậu đâu. Trước đây thì mày đã nát xương với tao rồi. Nhưng nay hoà bình thì để Trên xử. Mày đã hại các cụ lớn thì hãy để phần cho các cụ trị mày. Thôi đưa nó lên Huyện. Đồ chó đẻ!

Bọn chúng không bắt tôi phải đi theo kíểu chó. Nhưng cả chân tay đều bị trói, lại có cả tiểu đội du kích áp tải, nên suốt dọc đường đi mọi người nhìn tôi thương hại như nhìn một tử tội trên đường ra pháp trường.

Tại Ủy ban quân quản huyện, tôi được đối xử nhân đạo hơn. Người ta cho tôi ăn, dĩ nhiên là cơm độn. Rồi người ta đưa giấy bút bảo tôi kê khai những tên biệt kích Mỹ. Tôi nào nhớ hết. Vả lại tôi cũng chỉ nhớ mang máng một vài đứa. Tôi định viết hai chữ: không biết, nhưng nhớ lại hồi bị giam ở quận, nếu không khai bậy vài tên sẽ bị đánh nhừ đòn, nên tôi phịa ra cả một danh sách dài với những tên Mỹ và Nùng mà dù có thắp đuốc đến năm 2000 cũng không tìm ra được.

Có danh sách ấy người ta coi tôi như thằng thủ ngữ Đực dạo nào. Nghĩa là từ tôi sẽ phăng ra bọn biệt kích mà người ta tin là còn được cài lại để chống phá Cách mạng. Tôi được phép mua thuốc hút, được mua bia nếu muốn. Cứ như tiêu chuẩn của cán bộ cao cấp. Nhưng rồi tôi phát hoảng khi nhớ lại rằng, cũng chính vì thế mà thằng thủ ngữ Đực đã bị đem ra bắn bỏ ở đồng Cây Sanh!

Cũng may là người ta có quá nhiều việc phải làm, nào đổi tiền, nào cải tạo công thương nghiệp, nguỵ quân nguỵ quyền… nên người ta quên mất cái danh sách bậy bạ của tôi. Sau đó, người ta đưa tôi đi cải tạo mặc dù tôi không phải là sĩ quan. Tôi bị ghép vào tội ác ôn gây nợ máu với nhân dân. Cái danh sách ở làng An Định đi học tập, chẳng những tên tôi đứng đầu mà còn gạch đít màu đỏ đến những hai lần.

Đến trại K…

Một tháng sau, người ta rà soát lý lịch thấy tôi chỉ là một thằng lính chó nên đuổi về. Nhưng vừa về tới làng thì Khấu thẹo bảo tôi bỏ trốn lại thộp cổ đưa đi. Lại đuổi về. Rồi lại bị áp giải đưa lên. Đá qua đá lại như thế, sau cùng người ta ném tôi vào chung với bọn ma cô đĩ điếm, bọn anh chị cướp giật trước đây.

Có vào đây mới biết địa ngục là có thật. Nó ở ngay trên cái trần gian này chứ không cần phải xuống tận âm phủ. Chẳng biết do ai đồn thổi mà chúng tưởng tôi đã từng làm chủ bar nên rất giàu. Có đứa còn bảo tôi đi biệt kích Mỹ đã từng nhảy sô ra Bắc nên tiền tử và tiền thưởng để đâu cho hết. Cứ sau khi cán bộ quản giáo vừa quay lưng là chúng lôi tôi ra tẩm quất bằng những cái lên gối muốn ói máu, những cái thúc cùi chỏ đến nghẹn thở. Rồi chúng bắt tôi uống một thứ nước quỷ quái gì đó, nửa như nước đái bò nửa như nước rửa thớt để tôi nôn thốc nôn tháo ra. Không thấy gì, chúng lại bắt tôi uống một thứ nước khác đau thắt ruột, rồi bắt một đứa ngồi xem tôi ỉa có hột xoàn hay không. Chúng hành hạ tôi suốt cả tháng trời đến nỗi chỉ còn là cái xác khô nằm trong xó. Cán bộ tưởng tôi chết cho đem đi chôn. Bọn chúng không thèm đào lỗ, chỉ quăng tôi xuống suối. Có một người mò cá vớt được, cho tôi uống nước gừng và quế. Nhờ đó tôi sống lại, một mình bò về trại.

Mãi sau này chúng mới biết tôi là đứa không mẹ không cha, mới sinh đã bị đem thả trôi sông, đi lính chỉ là lính quèn! Từ đó, chúng coi tôi như cùng một giuộc, nghĩa là cùng bị cuộc đời chó má chà lên đạp xuống không biết bao nhiêu lần. Chẳng những chúng thôi hành hạ mà còn cho chác, khi miếng đường khi điếu thuốc. Chúng còn bảo khi ra tù chúng sẽ bày cho mánh làm ăn!

Tôi cố gắng cải tạo thật tốt, nghĩa là cố gắng giữ đúng nội quy của trại. Sáng nhận một củ khoai nhỏ bằng ngón tay để đánh thức cái dạ dày đã ngủ yên. Rồi vác rựa vào rừng để chặt cây hay vác cuốc xuống ruộng tuỳ theo đội. Trưa về, đúng một chén cơm trộn bo bo và một phần tư con mắm thối. Chiều lại đi vào rừng, lại xuống ruộng. Lại một chén khô rốc gọi là cơm và một phần tư cái xác thối gọi là mắm. Tối xem TV để thấy cả nước đang hăng say xây dựng chủ nghĩa xã hội!

Sau cùng đến giờ ngủ. Cứ tưởng với cái thân xác đói khát mệt rũ người ra, đứa nào cũng sẽ ngủ như chết. Nhưng trong đêm tối đủ thứ tiếng động lịch kịch. Tiếng rên, tiếng khóc, đôi khi tiếng thét như một đường gươm. Tôi co quắp người, bịt tai lại như con trút. Có những cảnh cưỡng dâm khủng khiếp như trong cái buồng tắm của bar thằng Hậu!

Mặc dù năm nào tổng kết, tôi cũng được coi là tiến bộ, được đề nghị cho ra trại. Nhưng địa phương vẫn cứ bảo là tôi cần phải cải tạo nữa không chịu nhận. Sau nhiều lần như vậy, quản giáo đâm gắt: cái làng An Định chết tiệt, có giỏi thì lên đây mà cải tạo. Nhờ vậy tôi được cho về sau đúng năm năm giáo dưỡng! Nếu tính ra thiên thu thì biết mấy ngàn cái thiên thu trong một đời người!

Khi về đến làng, việc trước nhất của tôi là đến thăm mộ cô Sáu. Lần này thì tôi khóc nức nở như một đứa bé bị lạc mất mẹ. Đến những mười lăm năm kể từ ngày cô mất, giờ tôi mới được bình yên ngồi bên cạnh mộ cô, thực ra là ngồi trên chỗ cô nằm mà chỉ có mỗi cây khế thay cho bia mộ. Tôi bồi hồi nhớ lại những ngày sống bên cô. Những lần đi mót lúa, đi mua mía và cái áo mới cổ vuông. Đó là những ngày êm đẹp nhất. Tôi thiếu cơm, thiếu áo nhưng không bao giờ cảm thấy thiếu Mẹ.

Cái chòi của cô đương nhiên không còn. Cái rẻo đất ấy người ta cũng không cho làm nhà. Tôi được anh Cọng trưởng tràng ngày nào giờ là trưởng ban thôn cho ở tạm trong nhà kho của Hợp tác xã. Rồi tôi được giao cho việc giữ sổ sách, mỗi ngày được 10 điểm, quy ra thóc là được 500 g.

Mọi việc có vẻ êm xuôi như thế là nhờ Khấu thẹo không còn ngồi trên cái ghế chủ tịch nữa. Anh ta sau mấy năm được cho đi học bồi dưỡng nhưng không qua được cái bổ túc công nông cấp 1 bèn chửi đổng: Đù mẹ, thà làm thằng chăn vịt sướng hơn làm thằng cán bộ. Anh ta lại tậu một bầy vịt và dưới cây sào của anh, bầy vịt ngoan ngoãn để cho anh đếm dễ dàng hơn là làm mấy con tính cộng trừ nhân chia.

Đời sống ở Hợp tác xã so ra cũng chẳng khác gì mấy ở trại giáo dưỡng. Cũng sáng đánh kẻng ra đồng. Trưa đánh kẻng về, chiều lại đánh kẻng ra. Lúa thóc đến mùa được đưa hết vào những cái kho to đùng mới cất trên các gò đầy mồ mả. Ban quản trị Hợp tác xã nắm hết tất cả soi ruộng trong làng, trở thành một đại địa chủ còn to gấp trăm lần ông tổng Bá. Chỉ khác một điều là anh có thể cầm cuốc đứng nhơi nhơi cho hết giờ rồi về. Và tối đến anh có thể đi ăn trộm!

Cứ đem theo một cái bao cát rồi nằm sấp trên bờ ruộng mà trườn đi. Chân thì đạp tay thì tuốt. Tuốt, tuốt mãi cho đến khi đầy bao hay chảy máu tay thì thôi. Năm Quầng, Sáu Quẳng mà có sống lại cũng phải cúi đầu bái phục! Ở trại giáo dưỡng tội ăn cắp của tập thể là bị bỏ đói, nhiều lần thì bị cùm chân. Nhưng ở làng thì chẳng ai làm gì anh vì gần như cả làng cùng đi ăn trộm như thế. Biết bỏ đói ai, cùm ai bây giờ! Với lại cũng phải làm ngơ cho người ta sống chứ. Một hạt lúa bây giờ cõng đủ thứ trên lưng. Nào quỹ này quỹ nọ, nào phải mua nông cụ, nào tái sản xuất, nào xây dựng kênh mương và phải nuôi mấy chục người trong Ban quản trị nên công điểm tụt dần, mỗi ngày công chưa được vài lạng.

Còn đói hơn hồi chín năm. Và để có cái áo cho con, cái quần cho vợ, trai tráng trong làng kéo nhau đi buôn. Ngày xưa, chợ là của đàn bà, bây giờ chợ là của đàn ông. Bởi vì chẳng những phải biết khiêng biết vác mà còn phải biết chạy. Chạy và chạy. Nếu chạy không giỏi thì bị quản lý thị trường và thuế vụ tịch thu! Bây giờ có hàng ngàn ông Khứ  đang ngày đêm chực chờ rình rập ở các bến xe, các con tàu, các sân ga, các ngõ vào thành phố…

Ham vui và cũng đi một lần cho biết Sài Gòn, tôi đã theo bọn họ thử làm con buôn! Với 20 ký gạo buộc trên lưng, ăn ngủ nằm ngồi cũng không được rời ra, trông cứ như một cái bướu. Bọn họ, kẻ thì mang giỏ gà, kẻ thì mang heo con. Buồn cười nhất là anh bán heo. Anh ta mang hai con heo trên lưng cứ như Phạm Công mang hai con ra trận. Cốt Đột thấy thương quá bèn cắt cho cái đầu rồi bãi binh. Nhưng thuế vụ thì không. Anh ta bị rượt chạy mà không trốn vào đâu được vì hai con heo cứ mãi kêu éc éc!

Cả bọn trốn vào các nhà gần ga. Khi con tàu mệt nhọc bò tới, có cả trăm con người với đủ thứ lỉnh kỉnh trên lưng cùng leo lên. Bọn trên tàu sập cửa, bọn dưới đất liền phá cửa. Một cuộc hỗn chiến như du kích tập đánh xáp lá cà. Kẻ lên được thì chết ngộp trong hơi người, hơi heo gà mắm muối. Kẻ chưa lên thì cố đu theo như những con nhái. Trên mui đương nhiên là đặc kín người. Thỉnh thoảng có kẻ ngủ quên hay qua cầu bị gạt rơi xuống!

Xe qua Vân Canh như đi vào một cuộc phục kích của thổ phỉ. Một cơn mưa cây và than trút vào các toa. Ai không tránh được thì đành ôm đầu máu hay cái tay gãy! Xe qua Suối Dầu là mưa chuối cây. Xe vào Phan Thiết là mắm muối, cá khô…

Phì phò, è ạch mãi đến hai ngày đêm, con tàu mới lết nổi tới Sài Gòn. Cái thành phố khổng lồ gần như đang bị bao vây sống lây lất nhờ bọn con buôn đem những thứ không ăn được như lốp xe, vải vóc, thuốc trừ sâu… đổi lấy những thứ ăn được. Một cuộc bán buôn chụp giựt diễn ra dưới sự bố ráp của đủ thứ lực lượng. Tu huýt kêu toét toét… Mặc kệ! Đạn bắn chỉ thiên kêu chóc chóc! Cũng mặc kệ! Bị rượt đuổi như chuột… Mặc kệ tuốt! Vừa chạy vừa bán. Vừa trốn vừa bán. Đang té ngã cũng cứ bán.

Tôi bị đạp ngã nhào. Chưa kịp ngồi dậy đã bị đè nghiến. Chỉ nghe một tiếng rẹt, cái cục gạo dính chặt suốt mấy ngày trên lưng bỗng biến mất. Khi tôi đứng lên được thì một gã đeo băng đỏ quát vào mặt: Cút xéo đi, đồ con buôn!

Vậy là, mất hết cả vốn liếng, tôi lại bị ném về làng.

Thế rồi, bỗng dưng bức tường Bá Linh kiên cố là thế lại sụp đổ. Các nước Đông Âu rơi rụng y hệt như những thành phố Miền Nam năm 75. Liên xô thành trì Cách mạng vô sản thế giới cũng tan rã theo như tuyết tan trên sông Vônga.

Cả nước bàng hoàng!

Người ta không còn thách thức “Ai thắng ai!” nữa, mà làm một cuộc Đổi Mới là trả ruộng lại cho dân! Thực ra là chia và tôi cũng được đúng 475 thước. Bây giờ, tôi có nhiều cục đất để ném chó ỉa và không còn bị gọi bằng thằng như trước nữa.

Nhưng bấy nhiêu ruộng đất đó cũng chỉ đổi đời bằng tiếng gọi ông chứ nghèo vẫn hoàn nghèo. Tôi dành 75 thước cất một cái nhà chỉ lớn hơn cái lều cô Sáu tôi một chút, còn lại suốt năm cặm cụi trên mảnh đất đó như con gà bươi mãi trên cát.

Những nhà khác được chia nhiều hơn vì có đông nhân khẩu. Nhưng cũng lại đông hơn những cái miệng há ra đòi ăn như những con chim tu hú trong các tổ chim sáo! Và cũng chẳng hơn gì tôi, cũng lại nghèo, có khi còn thê thảm hơn vì ốm đau phải đem cầm thế, bán lần bán hồi rồi cũng lại trắng tay.

Cả làng, toàn là nhà tranh vách đất, ngoại trừ nhà cô Thảnh vừa mới xây nhà ngói to rộng. Chẳng phải vì cô là cán bộ to mà vì bỗng dưng cô được một món tiền to như ngày trước cụ Chánh nhạc được bạc của thằng Tây. Câu chuyện tưởng như chỉ có thể xảy ra ở thời phong kiến không ngờ lại xảy ra dưới thời xã hội chủ nghĩa đổi mới cuối thế kỷ 20 này.

Ngày tôi bị bắt, nói theo kiểu hồi ấy là bị truy tróc, tức là vừa truy nã vừa tróc nã, bắt được là bắn bỏ. Lúc ấy cô vừa từ Chí Hòa trở về, đang giữ chức chủ tịch Ủy ban quân quản huyện, một chức to kềnh thật xứng với bao nhiêu năm hò hét. Khi được tin tôi đã bị truy tróc, cô liền cho người về bảo Khấu thẹo không được bắn bỏ mà phải đưa ngay lên huyện. Chẳng phải vì cô thương tôi mà vì muốn dùng tôi để truy tróc bọn biệt kích. Công việc chưa thành thì cô đã bị tố cáo là phản Đảng vì trong tù đã khai ra rất nhiều bí mật. Người ta bảo nếu không có cha và anh, cô đã bị đi tù, tức là bị đưa đi cải tạo chẳng khác gì tôi. Thực ra, cô bị chụp mũ sau khi đã chụp hàng trăm cái mũ lên đầu người khác.

Cô trở về làng với tất cả hậm hực và căm hận. Cô sống âm thầm lặng lẽ, không tham gia bất cứ công tác nào. Một người ưa gào thét như cô mà suốt ngày không mở miệng ra là cả một nỗi khổ đau ngấm ngầm còn hơn cả nỗi khổ đau chưa chồng. Cụ Chánh nhạc, lúc đầu vì giận con làm ô danh gia đình cũng không chịu về làng. Cụ sống còm cõi với đồng lương hưu ít ỏi, cố sức chịu đựng sự chì chiết của bà dâu cả. Đến khi cụ bị bệnh ba hay bốn “căng xông” gì đó, cụ đành phải để cho cô con gái út đem về.

Từ đó hai cha con một thời lẫy lừng giờ lui vào bóng tối. Và tất cả sẽ quên hết trơn, nếu không có cái sự kiện Liên xô tan rã và Đổi mới. Vì đổi mới cần phải có những con người mới, nên thằng cháu nội lúc đi tập kết mới được hai tháng tuổi, nay đã là ông  vụ trưởng một vụ gì đó to lắm, quanh năm xách cặp đi nước ngoài như đi chợ.

Thế là từ trong bóng tối cụ lại được rước ra đánh bóng như những chân đèn lư hương trong mấy ngày giỗ chạp. Người ta vô cùng xúc động khi biết cụ là vị cách mạng tiền bối và nay chỉ còn thiếu mười mấy ngày nữa là đúng một trăm tuổi.

Để làm vui lòng ngài vụ trưởng, người ta liền tổ chức một đại lễ với cái tên nghe rất cảm động là Trăm Năm Mừng Thọ. Giống như những ngày đầu cướp chính quyền, người ta rộn ràng lo cờ xí, khẩu hiệu. Hội người cao tuổi cấp tỉnh cấp huyện lo làm thơ chúc mừng, cấp trung ương gửi tặng câu đối. Con đường làng vắng vẻ giờ xe mẹ, xe con bóp còi tin tin suốt ngày. Bọn trẻ con được dịp nhảy tưng tưng trong bụi mù, vừa hít bụi vừa hít xăng, bảo là rất thơm.

Nhưng, càng đến gần cái ngày trọng đại cụ lại có vẻ như muốn đi. Suốt một trăm năm làm người mà lại là người làm cách mạng nên đến giờ phút này cụ hụt hơi là phải. Mặc dù bác sĩ Tây y đã chuyền rất nhiều đạm, bác sĩ Đông y cho uống cả hộp sâm, cho ăn cả yến nữa, nhưng ai cũng lo là cụ không sống được đến cái ngày đáng sống. Khổ nỗi thiệp đã in ngày tháng rồi, đâu có phải muốn bày ra lúc nào là cứ bày. Không ai biết mà đến chúc mừng thì tổ chức làm chi.

Trong lúc đang bối rối như thế, bỗng lão Văn Văn Ba, tức là lão phù thủy ngụy quyền được một đứa cháu ngoại cõng đến thăm. Lão khô rốc như một con cá hố phơi khô, nhưng cái miệng nhót nhép vẫn còn rất tỉnh táo. Lão cầm cái bàn tay đang run như duôi thằn lằn bị đứt của ông cụ. Một lúc sau lão phán chỉ độc một tiếng: Bú! Người ta ngơ ngác hỏi: Bú gì? Thì lão bảo bú vú chớ bú gì!

Lúc đầu người ta cho là lão nói tầm phào, nhất là cô Thảnh không tin được cái miệng phản động của lão. Nhưng sau các vị đông y nhớ lại các bài thuốc trường sinh của các hoàng đế Trung Hoa nên đồng loạt vỗ đùi khen hay. Vậy là người ta quyết định tìm cho cụ một chị vú.

Cứ tưởng cái việc cỏn con ấy quá dễ, không ngờ lại rất nhiêu khê. Bởi vì phải là một chị có con so, phải khoẻ mạnh và cái điều sau cùng này mới thật gay go. Ấy là lý lịch phải trong sạch, tức là không phải vợ con của nguỵ quân nguỵ quyền! Cụ thì sắp chết đến nơi rồi mà tiêu chuẩn khắt khe như thế thì biết đào đâu cho ra!

Cũng may, đứa con gái của Khấu thẹo vừa mới chết con. Đúng là lý lịch hoàn toàn trong sạch, người như thế mới xứng đáng cho cụ bú chứ! Nhưng khi tìm được nó thì con nhỏ mắc cỡ không chịu. Cô Thảnh phải dỗ ngon dỗ ngọt, phải hứa cho vải vóc và cả nhẫn vàng. Rồi khi nó chịu thì thằng chồng lại không chịu. Nó bảo ai động đến vú của vợ nó là nó chém. Lại phải dỗ dành, phải cho ngay một chiếc honda “xì cần hên” nó mới thôi không đòi chém.

Đến cái lúc cho cụ bú lại càng gay go hơn nữa. Bồng cụ lên như đứa bé thì không được mà nằm xuống bên cạnh lại cũng không. Sau cùng phải để cụ ngồi trên xe lăn, đứng dạng chân ra, loay hoay một lúc con nhỏ mới cho cụ ăn được. Thế là như nước cam lồ của Phật bà Quan âm, cụ dần dần tươi tỉnh lại. Mọi người đều thở phào nhẹ nhõm.

Đại lễ mừng thọ quả là có một không hai. Cái nhà kho giờ không còn lúa hợp tác xã được sửa lại làm hội trường. Cụ mặc áo đỏ, đội khăn đỏ, được bồng cả xe lên sân khấu. Ông vụ trưởng phải bỏ dở một buổi họp để đứng sau lưng hầu cụ. Một trăm em bé cầm đúng 100 bông vạn thọ lên dâng hoa chúc mừng. Rồi diễn văn, rồi ngâm thơ và sau cùng là các vị chức sắc của cả tỉnh đến chúc mừng. Mỗi người một phong bì đỏ nghe đâu ít nhứt cũng vài triệu. Sau đó có cả hát tuồng vì dẫu sao cụ cũng đã từng là bầu gánh của Thanh Bình ban. Lẽ ra cụ cầm chầu khai hội nhưng cô Thảnh lấy cớ cụ mệt xin đưa cụ về.

Như thế là cụ có lộc lúc về già. Lộc quá lớn. Chỉ tiếc là cụ không hưởng được chút nào vì ngay lúc về đến nhà cụ đã tịch .Và, cũng ngay chiều hôm đó, cụ đã được đem đi chôn một cách vội vàng, trong khi tiếng trống hát tuồng vẫn còn điểm những tiếng tùng tùng và dân làng An Định vẫn còn đang say sưa với những đào kép mới.

Đứa con gái của Khấu thẹo ngày hôm sau đeo đến hai chiếc nhẫn vàng sáng choé, được thằng chồng chở honda bình bịch lượn khắp làng.

Và cũng từ miệng con nhỏ lý lịch trong sạch đó, người ta biết được rằng cụ đã đi trước đó hai hôm. Chính nó đã cùng cô Thảnh cột cụ vào xe, mặc áo đội mũ đưa đến hội trường. Mỗi khi có khách đến chúc mừng, ngài vụ trưởng lại khẽ ấn cái đầu của cụ xuống một chút. Như thế thì đố ai mà biết được là cụ đã tịch.

Nhờ cái đức của cụ quá lớn, cô Thảnh có được cái nhà to nhất làng, không đến nỗi quá hẩm hiu như lão Khứ hay thằng thủ ngữ Đực. Thôi cũng mừng cho cô.

Kết

Bây giờ đã là năm 2000. Mặt trời vẫn mọc. Nắng vẫn vàng như mật ong. Trời vẫn xanh màu xanh muôn thuở. Chẳng có gì là đã đến ngày tận thế. Chúa cũng chỉ hù dọa mà thôi.

Dù sao được sống đến cái năm mà cả thế giới hồi hộp đón chờ cũng thật là hạnh phúc. Các ông già đã được con cháu lần lượt khiêng qua bên kia sông. Tôi tròn sáu mươi tuổi. Cũng sắp được lên lão làng.

Từ một đứa bé bị thả trôi sông, trải qua sáu mươi năm, trở thành một ông già, quãng thời gian thật dài. Những tháng năm cuồng nộ đã đi qua đời tôi như một bầy ngựa điên. Nhiều lúc tôi tưởng đã bị chúng giẫm đạp cho nát tan. Tôi bị tung lên, bị quật xuống, bị đá qua bên này, bị đạp qua bên nọ.

Nhưng cuộc đời dù khốc liệt đến đâu vẫn có cách san sẻ riêng của nó. Tôi kể ra đây câu chuyện cuối cùng để kết thúc những trang hồi ký buồn nhiều hơn vui này.

Một buổi chiều, trời cũng đẹp như chiều hôm nay. Đó là lần giỗ thứ ba mươi lăm của cô Sáu tôi. Đám giỗ ngay tại cái mô đất bên cầu. Bên cạnh cây khế giờ đã xum xuê hoa trái, tôi đặt một đĩa cơm vắt và muối rang, là hai thứ mà cô tôi thích vì cho rằng đó là những thứ quý nhất trên đời. Tôi đang lâm râm khấn khứa, bỗng có cảm giác nóng ran một bên má. Tôi quay lại. Đứng trên cầu là một người đàn bà đang lặng nhìn tôi. Hai hàng nước mắt sáng lên trong nắng cùng những sợi tóc bạc.

Tôi kêu lên thảng thốt:

– Chị Thảo! Có phải chị Thảo không?

Chị gật đầu.

Tôi sụp lạy. Vừa lạy cô tôi, vừa lạy tạ đất trời.

Khi tôi ngẩng đầu lên, một người con trai cao lớn ở đâu đến đứng sau lưng chị. Tôi nghe tiếng nói như từ trong mơ hay từ một cõi trời nào đưa lại:

– Chào cha đi con!

Lần này thì tôi khóc. Đứa con trai ôm lấy tôi, áp cái đầu đang muốn nổ tung vì bất ngờ vào lồng ngực vững chãi của nó. Một lúc sau nó mới ngửa mặt tôi ra, hôn lên cái trán đã bắt đầu nhăn nheo thay cho một lời chào.

Bản thảo do tạp chí Thư quán Bản thảo (Hoa Kỳ) sưu tập.

Liên lạc:

Thư Ấn Quán
P.O Box 58
South Bound Brook, NJ 08880 USA

© 2010 K.Đ/Thư Ấn quán

© 2010 talawas


ShareThis

Phản hồi

3 phản hồi (bài “K.Đ – Những tháng năm cuồng nộ (kỳ cuối)”)

  1. Nguyễn Việt nói:

    Một tác phẩm tuyệt vời, mô tả một cách sinh động cuộc sống thê thảm của những người dân An Định trong suốt 50 năm, trải qua 3 chế độ, bằng một giọng văn hài hước hiếm thấy.

    Là người cũng đã 60 tuổi, đọc nhiều về lịch sử, tôi cứ tưởng mình biết nhiều, thế mà tác giả K.Đ đã làm cho tôi té ngửa nhiều chỗ, nhất là đoạn “Cải cách ruộng đất” hai chiều trước và sau tập kết trong những năm 1954-1956 tại khu 5 cũ.

    Tôi đã được nghe kể về cả khủng bố đỏ lẫn khủng bố trắng đè lên nhau ở miền Nam, nhưng không đâu sự chồng chất khủng bố lên thân xác người dân được mô tá sống động như ở đây.

    Theo tôi suy luận thì tác giả K.Đ vẫn còn sống ở Bình Định. Giá có dịp được gặp anh!

  2. Tôn Văn nói:

    GÓP NGỌN GIÓ HOANG

    *
    Chia sẻ nhận xét trong phản hồi của một bạn, tôi cũng thường đợi cho tới hồi cuối của một câu chuyện dài được đăng tải. Cũng giống khi xem tài liệu: Đọc phần đầu và phần cuối thì có thể biết tới tám phần nội dung. – Tôi đã đọc kỹ phần này và thấy đây là những hồi niệm (hồi ký) thực và cảm động. Tuy nhiên, cũng vì là hồi ký, tác giả có thể đưa ra những nhận xét nhẹ nhàng (có chút phần „hài“) mà sâu sắc. Xin lấy thí dụ và liên hệ; Tác giả viết:
    „Thực ra, cô bị chụp mũ sau khi đã chụp hàng trăm cái mũ lên đầu người khác.“
    Tôi chợt bật cười vì nghĩ cái thói „chụp mũ“ quen đến mức có người không chụp cho ai cái mũ nào vẫn có thể bị mang một/mấy cái nón chẳng theo ý mình. Tục ngữ: „Cơm ăn không sớm thì trưa, / Nón đội trên đầu không mưa thì nắng“ – Trong đám đông, không có nón cũng là một sự kỳ!

    *
    Nhớ câu nói của nhạc sỹ Phạm Duy trong cuốn „Thúy Nga đặc biệt“ về ông: Khóc cười theo vận nước nổi trôi…; Xin góp một đoạn suy nghĩ như lời chia sẻ:
    Ngổn ngang thế sự bời bời,
    Càng coi càng thấy phận người mong manh;
    Gió hoang là cuộc đời mình,
    Góp thêm xào xạc để thành mùa thu.




Ông VÕ ÐẠI TÔN ra mắt tác phẩm: TUỔI THƠ VÀ CHIẾN TRANH

Ông VÕ ÐẠI TÔN  ra mắt tác phẩm:

TUỔI THƠ VÀ CHIẾN TRANH

 

 
http://www.thochuphinh.myphotoalbum.com/view_photo.php?set_albumName=album05&id=tamtinh_vdt_05_15_10

 

San Jose (Ý Dân):  Trên 100 người đã đến tham dự  buổi ra mắt tác phẩm: “Tuổi Thơ Và Chiến Tranh” của  ông Võ Đại Tôn do các ông Vũ văn Lộc và Phạm Phú Nam tổ chức tại hội trường của quận hạt Santa Clara , San Jose vào 2 giờ trưa ngày 15-5-2010 vừa qua.  Trong thành phần khách tham dự chúng tôi nhận thấy có cụ  Võ Toàn, bà Đặng Mỹ Dung, cụ Trương Đình Sữu, các ông Phan Quang Tuệ, Vũ văn Lộc, Nguyễn Mộng Hùng, Nguyễn Lân, Võ Đại, Lưu Khôn, Lại Đức Hùng, Nguyễn Trung Cao, Nguyễn Tấn Thọ, Đỗ Hùng, Huỳnh Lương Thiện, Chinh Nguyên, Hồ Văn Khởi,  Nguyễn Hoàng Đoan, Hưá Trung Lập , luật sư Nguyễn Thu Hương, các bà Ngọc Bích, Hoàng Mộng Thu  v..v. và giới truyền thông.

            Sau nghi thức khai mạc, ban tổ chức đã cho trình chiếu lại đoạn phim dài 13 phút của buổi họp báo ngày 13-7-1982 tại Hà Nội của ông Võ Đại Tôn. Trong buổi họp báo nầy, ông Võ Đại Tôn đã dõng dạc tuyên bố: “Tôi sẽ không phản bội bất cứ ai đã giúp đở, ủng hộ tôi. Tôi tiếp tục duy trì  lập trường chính trị của tôi cho tự do và giải phóng dân tộc. Tôi sẳn sàng nhận bất cứ một bản án nào mà chế độ cộng sản dành cho tôi.”

            Sau đó, bài ca “Mẹ Việt Nam ơi” lời  của ông Võ Đại Tôn đã  được nhóm Lam Son hợp ca để mở đầu cho buổi ra mắt sách. Dịp nầy, ông Phạm Phú Nam cho biết vào năm 1992, khi ông chủ trương tờ tạp chí  Thị Trường Tự Do đã đăng bức ảnh của chiến sĩ Võ Đại Tôn  lên trang bià màu với tựa đề: Niềm Khao Khát Một Lãnh Tụ , hiện  ông vẫn còn giữ tờ báo nầy và nay xin trao lại cho ông Võ Đại Tôn làm kỷ niệm.

            Nhà báo Huỳnh Lương Thiện, trong vai trò giới thiệu tác phẩm: “Tuổi Thơ và Chiến Tranh”  đã cho biết vào năm 1982 ông và các bạn du học tại Nhật đã được một ký giả Nhật thông báo và ônd đã thu được đoạn phim trên đài truyền hình Nhât về buổi họp báo của ông Võ Đại Tôn tại Hà Nội. Sau khi xem đoạn phim nầy, ông rất ngưỡng mộ về sự lẫm liệt, anh hùng của ông Võ Đại Tôn. Năm1991, khi ông Võ Đại Tôn được thả về Úc  thì ông chỉ còn là một thân xác tiều tuỵ, nhưng ánh mắt vẫn còn sáng ngời. Nhận định về tác phẩm “ Tuổi Thơ và Chiến Tranh” , ông Thiện cho biết trong cuốn sách đã có đoạn nói về cái chết của bà Mẹ  bị cộng sản đánh đến chết mà ông Võ Đại Tôn  đã diễn tả rất cảm động. Theo ông Thiện thì tác phẩm nầy rất cần cho giới trẻ Việt Nam hầu hiểu rõ hơn về cuộc chiến Việt Nam .

        Ông Nguyễn Trung Cao dịp nầy đã đọc một bài thơ tặng cho ông Võ Đại Tôn,

            Sau đó, ông Vũ văn Lộc cho biết ông Võ Đại Tôn là một trong những người đã đem thân xác ra chiến đấu cho sự tự do. Ông khen ngợi ông Võ Đại Tôn, đã khéo léo gạt được nhà cầm quyền Hà Nội để có một cuộc họp báo quốc tế mà nhờ đó ông Tôn mới có dịp tuyên bố những lời phát biểu đanh thép của mình.

            Trong phần tâm tình, ông Võ Đại Tôn cho biết ông đến đây chính là ông mong được gặp lại các anh em bạn cũ đã từng sát cánh với ông đấu  tranh chống Cộng trong tình gia đình. Ông đến đây không phải để bán sách là vì ông không đem bán những dòng máu, nước mắt của mình  với thời gian 10 năm lao tù với 96 lần bị Cộng Sản  tra tấn và bị biệt giam.  Dịp nầy, ông Võ Đại Tôn đã kể lại những mẫu chuyện mà ông đã chứng kiến khiến ông cảm thấy tủi nhục cho thân phận của người dân Việt.

            Ttong chuyến từ Mã Lai về Úc , ông đã gặp một nhóm người đã biểu tình  tại Úc đòi phải cứu các con cá voi. Ông mới nói với họ rằng  các ông đã có thấy con cá voi chưa? Một người Úc đã trả lời: Chưa. Ông bèn mới họ rằng: Trên biển đông, đã có hàng ngàn người Việt trên đường vượt biển tìm tự do đã vùi thân trên biển cả, thế mà các ông không  lên tiếng biểu tình? Người Úc nầy chỉ nhìn ông một cách im lặng không trả lời.

            Vào tháng 6 năm 2009, trong một buổi họp báo tại Tòa Bạch Ốc, có một con ruồi đậu vào tay tổng thống Obama ,ông cố đuổi con ruồi bay đi, nhưng nó cứ bay quanh bàn  tay ông. Sau cùng, ông Obama đã lấy tay đập chết con ruồi nầy. Hành động của ông liền bị báo chí Mỹ lên tiếng chỉ trích vì đã có hành động không tế nhị với con ruồi và bị  Ủy Ban Bảo Vệ Súc Vật phê phán. Ông cảm thấy tủi nhục cho thân phận những người tỵ nạn Việt Nam tại trại Galăng, các ngôi mộ ít người chăm sóc, ngay cả mộ phần được gọi là Miếu Ba Cô của  3 cô gái Việt đã bị hải tặc hãm hiếp đến chết  ít  được ai quan tâm  đến.

            Ông Tôn cũng kể lại câu chuyện khi ông sang Mạc Tư Khoa  để thuyết trình về Nhân quyền , ông đã gặp cô Hoàng Dung, một sinh viên du học. Sau buổi hội thảo, cô Hoàng Dung đã chạy theo ông van xin một điều là xin được gọi ông bằng Bố. Điều nầy đã làm cho ông rất xúc động trước tình tự dân tộc mà cô Hoàng Dung đã dành cho ông..

            Nhắc về nội dung tác phẩm “Tuổi Thờ và Chiến Tranh”, ông Võ Đại Tôn đã cho biết Mẹ của ông đã    bị cộng sản đánh chết  bằng cái cuốc khi ông chỉ mới được 10 tuổi.  Ngày ông ra đi kháng chiến với  40 tuổi, khi ông được thả về với tuổi 50 thì  thân thể tiều tụy giống như một ông già 80 tuổi.  Ông đã đưa cho cử tọa xem tấm hình nầy. Ngày về, con trai út của ông đã không nhận ra ông. Vợ ông là Tuyết Mai đã mất đi tuổi thanh xuân, riêng ông đã nướng hết tuổi trung niên của mình trong nhà tù. Thế nhưng, khi ra tù, ông vẫn bị một số người gọi ông là Võ Đại Bịp v.v.. Ông mong mõi mọi người hiểu ông hơn, như đứa con trai của ông đã hiểu ông. Lúc đầu cậu con trai đã xa lạ với ông, nhưng nay mỗi khi ông đi biểu tình chống Cộng, thì chính đứa con trai nầy luôn nhắc nhở ông rằng: Ba nhớ cầm theo lá quốc kỳ  VNCH.

Sau cùng, ông cho biết ông chiến đấu để cho dân Việt được thoát ra khỏi cảnh tủi nhục của một quốc gia nhược tiểu và mất tất cả quyền tư do. Ông  nay đã 75 tuổi, chỉ xin được đứng chung hàng ngũ của người Việt Quốc Gia để cứu nước.

            Sau đấy, ông Phan Quang Tuệ cho rằng sự bất hạnh của đất nước, mỗi thế hệ đều phải có trách nhiệm.

Dịp nầy, nhà báo Nguyễn Vạn Bình đã cho biết cảm tưởng của mình khi xem qua đoạn phim họp báo cũng như qua phần tâm tình của ông Võ Đại Tôn. Ông Bình cho biết  vào tháng 11 năm ngoái, trong dịp  đi  Úc, ông đã có dịp ghé đến nhà của ông Võ Đại Tôn và dùng cơm tối. Ông Bình nhận thấy ông Võ Đại Tôn dù tuổi đã cao, trãi qua bao sóng gió, vinh nhục nhưng tấm lòng sắt son của ông dành cho quê hương vẫn không thay đổi. Qua đoạn phim của buổi họp báo cũng như qua phần tâm tình của ông, ông Bình đã  tìm thấy nơi ông Võ Đại Tôn  một sự dũng cảm, lòng yêu nước  và sư hy sinh to lớn. Sự dũng cảm của ông Võ Đại Tôn khiến ông nhớ đến anh hùng Trần Bình Trọng đời nhà Trần, khi bị quân Mông Cổ bắt làm tù binh, trước  sự chiêu dụ của địch, tướng Trần Bình Trọng  đã dỏng dạc tuyên bố: Ta thà làm qủy đất Nam  chứ  không them làm Vua đất Bắc.  Chính nhờ sự khí phách và lòng yêu nước của Trần Bình Trọng đã giúp cho Đức Trần Hưng Đạo và quân dân nhà Trần đánh bại quân Mông Cổ . Ông Bình cũng nhắc đến anh hùng Nguyễn Thái Học cùng 12 chiến sĩ của Việt Nam Quốc Dân Đảng đã hiên ngang lên đoạn đầu đài bị Pháp chém đầu mà vẫn không khuất phục thực dân Pháp. Trước khi chết, Nguyễn Thái Học đã hô to:Việt Nam Muôn Năm.Sự dũng cảm của ông Nguyễn Thái Học đã khiến cho cuộc kháng chiến chống Pháp lan rộng mạnh mẽ sau đó. Ông cho biết, tất cả những sự hy sinh của anh Trần Văn Bá, ông Hoàng Cơ Minh cũng như của ông Võï Đại Tôn sẽ không vô ích cho cuộc đấu tranh chống Cộng.

            Buổi ra mắt sách đã chấm dứt vào 4 giờ cùng ngày, sau phần phát biểu của các ông Nguyễn Mộng Hùng, Lại Đức Hùng, Nguyễn Phước Đáng, Nghê Lữ và phần điều khiển chương trình của ông Đỗ Hùng./.

 

  

NGUYEN VAN BINH
Ban Nguyet San YDAN
San Jose, CA va Denver, CO
ydannews@sbcglobal.net



Nguyễn Vạn Bình :Ðiệp Viên ÐẶNG MỸ DUNG Ra Mắt Tác Phẩm: NGÀN GIỌT LỆ RƠI

Ðiệp Viên  ÐẶNG MỸ DUNG

Ra Mắt Tác Phẩm: NGÀN GIỌT LỆ RƠI

 

Gioi thieu cuon sach nen doc.
 
www.ngangiotleroi.com 
 

 

  San Jose (Ý Dân):  Gần 250 đồng hương đã đến tham dự buổi ra mắt tác phẩm “Ngàn Giọt Lệ Rơi” của bà Đặng Mỹ Dung, đến từ  Georgia do cơ quan IRCC tổ chức  tại hội trường Isaac Newton của quận hạt Santa Clara, San Jose vào 1 giờ trưa ngày 16-5-2010 vừa qua. Trong thành phần khách tham dự, chúng tôi nhận thấy có  cựu đại tá Nguyễn Hồng Tuyền, cụ Trương Đình Sữu, các bác sĩ Nguyễn Thượng Vũ, Nguyệt Mehlert, thẩm phán Phan Quang Tuệ, luật sư Nguyễn Thị Thu Hương, cựu luật sư Lê Duy San, cựu luật sư Ngô Văn Quang,  Gs Lưu Khôn, các ông Nguyễn Mộng Hùng, Đỗ Thành Công, Đỗ Hùng, Huỳnh Lương Thiện, Nguyến Tấn Đức, Nguyễn Tấn Thọ, Vũ Văn Lộc, Nguyễn Quan Vĩnh, Hoàng Cơ Định, Châu Minh Hoàng, Nguyên Trung, Nguyễn Xuân Hoàng, các bà Trương Gia Vy, Ngọc Bích, Cao Ánh Nguyệt , Amy Dương v.v. và giới truyền thông.

            Sau nghi thức chào quốc kỳ, ca sĩ Thu Hà (bác sĩ Nguyệt Mehlert) cùng một số bà trong ban tổ chức đã đồng ca bài Cô Gái Việt để  khai mạc cho buổi ra mắt sách.

           Sau đó, bà Salle Hayden cho biết  nhờ vào tác tác phẩm “A Ten Thousand Tears Falling”  của bà Đặng Mỹ Dung mà bà đã hiều rõ hơn về những bi thương trong cuộc chiến Việt Nam .

Bà Phan Thị Châu, phu nhân của ông Vũ Văn Lộc  dịp nầy đã đọc bức thơ cáo lỗi  vắng mặt của nữ nghệ sĩ Kiều Loan, trưởng ban tổ  chức vì phải về Việt Nam thọ tang cha là thi sĩ Hoàng Cầm.

            Trong phần giới thiệu tác phẩm: “Ngàn Giọt Lê Rơi”,  bác sĩ  Nguyệt Mehlert cho biết tác phẩm đã kể lại thân phận của người phụ nữ Việt  trong cuộc chiến Việt Nam qua hai thế hệ của người Mẹ và của chính bản thân cuả tác giả.. Bà Nguyệt Mehlert cho rằng trong chiến tranh Việt Nam đã  gây nên bao cuộc chia ly như chồng phải đi tù, con chết, người vơ sang ngang v.v. Qua tác phẩm: Ngàn Giọt Lê Rơi: gia đình của tác giả đã phải lâm vào cảnh chia ly bi thương nầy chỉ vì khác nhau về ý thức hệ. Năm 1954, người Cha đã đi tập kết ra Bắc đem theo đưá con trai lớn 17 tuổi và bỏ lại vợ, con ở trong Nam . Biến c 30-4-1975 xảy ra, người Cha vào Nam   tìm vợ, con thì mọi người  đã ra đi tỵ nạn tại Hoa Kỳ. Sang Hoa Kỳ, tác giả đã trở thành điệp viên CIA hoạt động chống lại chế độ CSVN. Theo bác sĩ Nguyệt Mehlert thì cuộc đời của tác giả gặp đầy những trở ngại trớ trêu.

            Tiếp đến, nhà báo Trương Gia Vy trong phần giới thiệu tác giả cho biết bà Đặng Mỹ Dung sinh năm 1946 tại Cần Thơ.Thân sinh của chị là ông Đặng Quang Minh, đại sứ Việt Cộng tai Liên Xô . Vào năm 1954  cha của chị đã mang theo anh trai của chị là Đặng Văn Khôi, 17 tuổi ra Bắc tập kết. Ông Ngoại của chị hiểu rõ chế độ Cộng Sản nên Mẹ của chị nhất định không theo chồng, ở lại miền Nam nuôi 6 đứa con. Năm 18 tuổi, chị Mỹ Dung vào làm cho đài phát thanh ở Cần Thơ dưới quyền của ông Nguyễn Đạt Thịnh. Năm 1966, chị vào làm sở Mỹ và từ đấy đã quen và hứa hôn với ông John Krall, đại úy Hải  Quân của  Hoa Kỳ . Năm 1968, chị Dung sang Mỹ để kết hôn với ông john Krall. Nhưng chỉ sau 3 tháng ở Mỹ,chị Dung lại đòi về Việt Nam vì nhớ nhà , nhưng bà Mẹ không cho. Vào tháng 4 năm 1975, trước khi mất miền Nam , chồng chị về Việt Nam để đón mẹ và các em sang định cư tại Hoa Kỳ.  Tháng 5, 1975, chị Mỹ Dung đã trở thành điệp viên của CIA.

            Trong phần nói chuyện của tác giả, bà Đặng Mỹ Dung đã ngỏ lời cám ơn các giáo sư, thân hữu của Hội Phan Thanh Giản-Đoàn Thị Điểm cũng như ông anh họ là cựu đại tá Nguyễn Hồng Tuyền cùng các em. Bà cũng cám ơn ban tổ chức cùng quan khách đã giúp bà  ra mắt sách  qui tu được  đông đảo người tham dự như hôm nay. Bà cho  biết mục đích viết  sách  để ghi ơn và tưởng nhớ Cha, Mẹ và những người thân yêu đã ra đi.

Sau đó, bà Dung nêu ra sự việc vào năm 1977 khi gặp thân phụ tại Luân Đôn, bà đã thố lộ cùng Ba của chị là từ ngày xa Ba, bà rất là cô đơn , bà đã viết nhật ký trong suốt 20 năm đó, bà  đã phải đổi từ  họ Ba sang họ Mẹ. Bà cũng ngỏ ý muốn thân phụ viết hồi ký, thì  Ba của chị đã bảo với chị rằng: “Ba không thế viết hồi ký, vì chỉ có đảng CSVN mới có quyền viết hồi ký. Sau đó, ông nhắn nhủ: “Thôi thì con viết hồi ký thay cho Ba đi.”.

Bà Đặng Mỹ Dung cho biết ra hải ngoại, bà cố giữ gìn truyền thống tốt đẹp của Việt Nam . Bà Dung cho biết cuộc đời của bà đã lấy hình ảnh của Cha Mẹ làm hành trang. Bà đã lấy “ Trái Tim yêu nước của người Cha và lá Gan của Mẹ ” đã can đảm chọn lý tưởng Tự Do làm hướng dẫn cho  đời mình.

Trả lời câu hỏi của nhà báo Nguyễn Vạn Bình là đứng trên quan điểm của ông cũng như của nhiều người Việt Quốc Gia thì thân phụ của chị không thể nói là yêu nước.Vì yêu nước là đem đất nước được độc lập, hùng cường và người dân được ấm no hạnh phúc. Nhưng từ ngày chế độ Cộng Sản áp đặt trên quê hương, thì  Việt Nam dần dần mất đất, biển cho Trung Cộng, người dân bị tước đoạt các quyền tự do, người phụ nữ phải bán thân để sống. Theo ông Bình thì  thân phụ của chị Mỹ Dung đã đi lầm đường.  Bà Dung cho rằng thời gian bà sống  với thân phụ rất ngắn ngủi. Khi còn bé cho đến 9 tuổi đã xa cha, bà chỉ thấy qua hình ảnh Ba mình đã hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

Trả lời câu hỏi của ông Trần Trung Chính phải chăng tinh thần chống Cộng của bà đã ảnh hưởng từ  người Mẹ ?.  Bà Dung cho biết Mẹ của mình đã hai lần chống Cộng mạnh mẽ.  Đó là vào năm 1954, bà không đi tập kết ra Bắc cùng chồng và vào năm 1975 đã đi tỵ nạn sang Mỹ. Bà Dung cũng cho biết  tinh thần chống Cộng của cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại cũng đã ảnh hưởng đến bà rất nhiều.

Ông Vũ văn Lộc đề nghị bà Dung nên thực hiện cuốn phim Ngàn Lệ Giọt Rơi, một câu chuyện bi thương trong cuộc chiến Việt Nam

Trả lời câu hỏi của ông Nguyễn Mộng Hùng là bà đã phải trải qua bao nhiêu thử thách để trở thành điệp viên cho CIA? Bà Dung cho biết trái lại CIA đã phải trãi qua nhiều thử thách mới được bà nhận lời cộng tác.

Trả lời câu hỏi của ông Lê Duy San là ông thân sinh của chi Dung có trái tim lầm lẫn chứ không phải là trái tim yêu nước ? Bà Dung cho rằng trước năm 1954, lúc ấy bà được 9 tuổi thì hình ảnh thân phụ của bà theo Việt Minh chống thực dân Pháp là một hành động yêu nước. Sau năm 1954, bà đã không được liên lạc với Ba, nên bà không hiểu Ba mình đã lỡ cởi lưng cọp hay Ba chính là cọp, chị hoàn toàn không rõ.

Bà Ngọc Bích sau đó cũng bày tỏ đồng quan điểm với các ông Nguyễn Vạn Bình và Lê Duy San.

Trả lời ông Nguyễn Tấn Đức là có khi nào Ba của chị tiết lộ rằng Ba của chị đã đi lầm đường không? Phải chăng lời nhắn nhủ của thân phụ với chị là: “Thôi thì con hãy viết hồi ký thay cho Ba là một lời nhắn nhủ không?”  Bà Dung cho rằng Ba của chị là một nhà ngoại giao nên ăn nói rất là đắn đo. Bà Dung cho biết có điều bà nhận thấy nơi Ba của chị là một người chồng rất chung thủy với vợ và thương các con. Ngày ông chết cách đây 25 năm , không có ai ngoài những người trong gia đình của chị đã chạy ra nhận ông làm chồng hay làm cha như trường hợp của ông Hồ Chí Minh.

     Tiếp theo ông Hoàng Cơ Định cho biết ông đã say mê đọc quyển sách của bà Đặng Mỹ Dung ấn bản bằng Anh ngữ  “A Thousand Tears Falling” và cho rằng đây là một quyển sách rất giá trị

Sau đó, nhà bào Huỳnh Lương Thiện cho rằng câu chuyện xảy ra trong gia đình tác giả là một bi kịch. Nhưng theo ông Thiện, bà Mỹ Dung nên suy nghĩ lại  đừng nên ra trước đám đông người mà nói rằng Ba mình là người yêu nước. Vì  đảng CSVN đã đem khổ nạn  cho dân tộc Việt Nam . Theo ông Thiện thì Ba của chị Dung đã bị đảng CSVN lợi dụng lòng yêu nước . Bà Đặng Mỹ Dung cho biết bà sẽ không lấy lại lời nói nầy. Theo ý bà Dung  thì làm thân phận người con, bà không thể lên án hay chỉ trích Ba của mình, quyền phê phán nếu có về Ba mình là thuộc quyền của mọi người.

Sau cùng, ông Nguyễn Quan Vĩnh đã nhắc lại những kỷ niệm trước đây nhờ vào những tin tức do bà Đặng Mỹ Dung cung cấp mà cộng đồng Việt Nam ở Bắc Cali. đã biểu tình rượt đuổi tên đại sứ VC Hà Văn Lâu ở San Franciso khiến tên nầy phải luôn đi cửa hậu.

Ngoài ra, tác giả cũng đã trả lời một số câu hỏi của các ông Vũ Lập, Phan Quang Tuệ, Nguyễn phước Đáng, Nguyễn Tấn Thọ v.v.

Sau đó, tác giả đã ký tên trên sách. Được biết cả hai sách ấn bản bằng Anh Ngữ và Việt ngữ đã được cử tọa mua ủng hộ đến 230 cuốn.

Được biết gia đình của tác giả đã là nạn nhân đau thương trong cuộc nội chiến do khác ý thức hệ gây ra. Chị đã phải xa Cha từ năm 9 tuổi. Mẹ của chị đã phải xa chồng, một mình nuôi nấng và dạy dỗ 6 người con. Người anh cả của tác giả là ông Đặng văn Khôi, theo cha tập kết ra Bắc vào năm 1954 khi được 17 tuổi. Bị động viên, anh của chị phải gia nhập vào quân đội

Bắc Việt. Đến năm 1975, ông Khôi  vào Nam lại bị tù Cộng sản vì đi vượt biên. Đến năm 1986, vượt biên mới thành công và anh của chị sang định cư tại Mỹ. Ông Khôi đã chết ở Mỹ vào năm 2006. Trong khi đó, người em út là Đặng Hải Vân  là phi công trực thăng của QLVNCH. Năm 1971, em của chị đã bị tử nạn phi cơ tại Hoa Kỳ.  Nay thì Ba, Mẹ, ông anh cả và người em út đã ra người thiên cổ. Về lập luận của một số người bảo chị phải phê phán, lên án hành động Ba của chị. Bà Đặng Mỹ Dung cho biết truyền thống tốt đẹp và luân lý của Việt Nam không cho chị làm điều nầy. Chị không muốn trở thành Trường Chinh nời đã đấu tố Cha Mẹ mình đến chết trong cuộc cải cách ruộng đất đẩm máu  đã xảy ra ở Bắc Việt vào các năm 1953-1956.

Buổi ra mắt sách qua phần điều khiển chương trình của luật sư Nguyễn Thu Hương đã chấm dứt vào 4 giờ chiều cùng ngày. ./.

 

   

NGUYEN VAN BINH
Ban Nguyet San YDAN
San Jose, CA va Denver, CO
ydannews@sbcglobal.net



NV Đỗ Tiến Đức : Phát Biểu về Ông Võ Đại Tôn

Võ Đại Tôn Hoàng Phong Linh

 

 Đỗ Tiến Đức

 

Phát biểu trong buổi sinh hoạt “Hành trình công tâm để xây dựng lại niềm tin” và ra mắt thơ văn của ông Võ Đại Tôn tại nhà hàng Emerald Bay, Santa Ana ngày 12 tháng 6, 2010.

 

Đã có quá nhiều người nói và viết về ông Võ Đại Tôn. Và gọi ông bằng những danh từ đẹp nhất cho một đời người.

Cố thi sĩ Nguyên Sa gọi ông Tôn là chiến sĩ anh hùng, so sánh ông với một nhân vật lịch sử là Cao Bá Quát.

Thi sĩ Du Tử Lê chẳng những gọi ông Tôn là anh hùng mà còn là “nhị trùng bản ngã anh hùng Võ Đại Tôn.

Thi sĩ Cao Tiêu làm thơ tặng ông Tôn, gọi ông Tôn là “đại hùng”.

Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện cũng gọi ông Tôn là anh hùng. Ông còn gọi ông Tôn là chiến sĩ.

Cố nhà văn Xuân Vũ gọi ông Tôn là một nhà cách mạng, là lương tâm của thời đại.

Nhà báo Nguyễn Đạt Thịnh, cựu Trung tá Quân đội VNCH gọi ông Tôn là “một vị anh hùng”.

Nhà báo Giao Chỉ so sánh ông Tôn với danh tướng Trần Bình Trọng, là chiến sĩ anh hùng, là nhà cách mạng, là nhà thơ, là “một anh hùng còn sống”, là “người lính với nhị trùng bản ngã”..

Cũng theo nhà báo Giao chỉ thì trong giai đoạn đầu của lịch sử phục quốc của người Việt tỵ nạn cộng sản, có ba người đã dấn thân về nước. Đó là ông Trần Văn Bá từ Âu châu, ông Hoàng Cơ Minh từ Mỹ châu và ông Võ Đại Tôn từ Úc châu.  Hai ông Bá và Minh đã hy sinh. Chỉ còn ông Tôn, dù rằng ông đã có hành động tự sát khi Việt cộng đưa ông ra họp báo, ông đã cất cao tiếng nói bất khuất, giữ vững lập trường diệt cộng cứu nước, y như khi xưa Trần Bình Trọng đã dõng dạc nói vào mặt kẻ thù “Thà làm qủi nước nam còn hơn làm vương đất bắc”.

Cho nên ông Tôn trở thành “một anh hùng còn sống”.

Cho nên hôm nay chúng ta nói về  ông Võ Đại Tôn không phải trong một buổi lễ tưởng niệm, truy điệu, mà chúng ta hân hạnh được ngồi chung với ông bà Võ Đại Tôn  trong hội trường này.

Trở lại câu chuyện ba chục năm trước, khi mà ông Võ Đại Tôn đã tạm bỏ, mà nhiều phần là bỏ luôn, cuộc sống yên ấm nơi hải ngoại, với bà vợ trẻ đẹp, để lội suối băng rừng về quê hương chống thù cứu nước. Thử hỏi ông có mơ một ngày ông trở thành Tổng thống chăng ? Tôi nghĩ là ông Tôn không có ảo tưởng như thế.

Hẳn ai cũng biết, khi Hồ Chí Minh về hang Pắc Pó, ông ta chưa có dân, chưa có quân đội, nhưng ông ta có cả một đế quốc cộng sản Nga Tầu yểm trợ. Còn ông Tôn, trở về nước chỉ với vài chiến hữu, các đồng minh cũ của Việt Nam cộng hòa chẳng những đã không yểm trợ mà còn tạo dư luận chống đối, cô lập ông. Họ đề cao hình thức đấu tranh bất bạo động để trói tay kháng chiến Việt Nam. Họ không muốn Việt Nam có một Arafat. Họ đẩy chúng ta vào cuộc đấu tranh cho nhân quyền để chúng ta quên đi cuộc đấu tranh giải phóng. Thế mà cũng có một số đảng phái nghe theo, trước khi vào cuộc đấu tranh cứ phải minh định với kẻ thù rằng, chúng tôi chủ trương bất bạo động nghĩa là chúng tôi không động tới người các ông đâu, chúng tôi đã tự trói tay chúng tôi rồi.

Rõ ràng là kẻ thù của chúng ta không chỉ là kẻ vi phạm nhân quyền.  Giết dân, bán dân, bán lãnh thổ của cha ông không phải là vi phạm nhân quyền. Chúng là kẻ phạm tội diệt chủng. Chúng là kẻ bán nước. Chúng ta tội đồ của dân tộc.

Khi chúng ta chỉ kết án cộng sản vi phạm nhân quyền là chúng ta đã cải tội danh cho chúng, từ tội đại hình xuống tội vi cảnh, từ tội mà các vua thời trước phạt chu di tam tộc, xuống còn tội đậu xe mà quên bỏ tiền vào đồng hồ.

Ông Tôn đã xông vào cuộc chiến rõ ràng không phải ông muốn về Hà Nội để biên giấy phạt kẻ vi phạm nhân quyền. Ông muốn trao cho tội đồ cộng sản một bản án phản dân hại nước.

Nhưng có lẽ người chiến sĩ Võ Đại Tôn cũng đã ý thức rằng sẽ phải chiến đấu rất gian khổ mới hy vọng đạt được mục tiêu là giải phóng tổ quốc. Cho nên ông đã khẳng định ông chỉ là một viên gạch lót đường. Nghĩa là ông mang mạng sống của ông để kích thích lòng yêu nước, để mở ra cuộc đấu tranh vì đã có viên gạch lót đường rồi, toàn dân hãy  lên đường và xốc tới. Hơn ai hết, ông hiểu rằng vòng hoa vinh quang sau cùng sẽ không choàng lên viên gạch lót đường mà sẽ quàng lên cổ những người đã nhờ viên gạch lót đường mà đi tới chiến công.

Cái ý nghĩa “viên gạch lót đường” còn được sáng chói trong buổi cộng sản đưa người tù Võ Đại Tôn ra trước một cuộc họp báo ở Hà Nội . Chúng đinh ninh sau những trận đòn tàn bạo, sau những ngày bỏ đói, những đêm không cho ngủ, ông Tôn đã đầu hàng vì bản tính chung con người là tham sinh úy tử. Ngờ đâu, trước các phóng viên quốc tế, ông Võ Đại Tôn tuyên bố ông sẽ tiếp tục  tranh đấu cho tự do và giải phóng dân tộc.

Chắc chắn là ông Tôn thừa biết hậu qủa của những lời ông vừa nói. Vâng, ngày 13 tháng 7 năm 1982 tại Hà Nội, có thể khẳng định là ông Võ Đại Tôn đã quyết định tự sát. Tự sát để cho trọn ý nghĩa của kẻ tự nhận làm viên gạch lót đường. Tự sát để làm sáng cái lý tưởng của người chiến sĩ, lên đường tranh đấu không vì công danh phú quí cho bản thân. Tự sát để cái viên gạch lót đường kia sẽ có hàng vạn gót chân của người Việt yêu nuớc bước lên tham gia cuộc đấu tranh diệt cộng. Tự sát để sớm có một ngày những viên gạch tinh hoa của giòng giống Việt Nam không chỉ dùng lót đường mà sẽ  được dùng để xây dựng nên một toà nhà Việt Nam nguy nga tráng lệ.

Chính hành động tự sát của ông Võ Đại Tôn trong buổi họp báo ở Hà Nội ngày 13 tháng 7, 1982 đã khiến ông trở thành một Trần Bình Trọng của thời đại. Ông xứng đáng được vinh tặng hai tiếng anh hùng.

Nhưng, tại sao ông Võ Đại Tôn lại có quyết định băng suối bằng rừng trở về nước, mong dấy lên một cuộc đấu tranh chống cộng trong thời điểm mà nhiều người khác cho rằng chưa thuận lợi ?

Câu trả lời chung chung sẽ là : Vì ông Võ Đại Tôn yêu nước.

Tôi nói chung chung là bởi vì lòng yêu nước trong người Việt khó có thể biết ai hơn ai. Tại hải ngoại có biết bao nhiêu cựu quân cán chính Việt Nam cộng hoà, sao chỉ có vài ba người như ông Tôn lăn mình vào công cuộc phục quốc ? Vài ba người đó chắc chắn là phải có thêm một động lực mạnh mẽ nào khác.

Tôi được quen biết ông Võ đại Tôn trên 40 năm hồi cùng làm việc ở Bộ Thông tin, nhưng tôi vẫn phải đi tìm vì tôi chưa được thấy điều mà tôi muốn biết. Mãi đến khi đọc xong cuốn “Tuổi thơ và chiến tranh” hồi ký của Võ Đại Tôn, thì tôi mới có lời giải đáp.

Cuốn sách này có tựa là “Tuổi thơ và chiến tranh” thì tuổi thơ là tác giả lúc 10 tuổi, và chiến tranh là lúc cộng sản nổi lên khống chế dân tộc Việt Nam. Gia đình ông Tôn đang giàu có bỗng một sớm một chiều cơm không có mà ăn. Mẹ ông bị ho lao đã tới thời kỵ nặng nhưng không thuốc thang điều trị, không bồi dưỡng, bị cô lập trong một chòi lá ngoài vườn để tránh lây bệnh cho gia đình. Là một người con muôn vàn thương yêu mẹ, nên ông Tôn vẫn lẩn quẩn bên mẹ, chăm sóc miếng ăn cho mẹ, ban đêm không được nằm bên mẹ thì ông đứng trong phòng ngủ của ông mà nhìn sang chòi lá hiu hắt ánh đèn, nơi mà ông biết mẹ ông cũng đang ngồi nhìn về phía đàn con…

Thế rồi, vì muốn chồng con thoát cảnh tù túng đói khổ nên không xá gì đang bị bệnh nặng, mẹ ông vẫn tình nguyện vượt vòng phong tỏa của cộng sản  những mong mở ra một đường sống cho chồng con.

Chẳng may bà bị Việt cộng bắt và Việt cộng chém bà bằng những nhát cuốc. Sau đó Việt cộng đã chôn sống bà. Phải nhiều năm sau, ông Tôn mới được sờ vào thân thể người mẹ nhưng không phải là làn da mịn màng ấm áp mà chỉ còn là những khúc xương tàn bị chôn vùi ngoài đồng hoang cô quạnh không một nén nhang, không một giọt nước mắt của chồng con.

Theo tôi, chính nỗi căm thù cộng sản giết mẹ từ tiềm thức này đã biến thành hành động, đưa Võ Đại Tôn vào con đường tranh đấu dù đó là một cuộc tranh đấu rất cô đơn, mà những người cho là khôn ngoan sẽ không làm.

Ngày xưa, trong lịch sử Việt Nam có bà Trưng,  đang là khách má hồng bỗng phất cờ khởi nghĩa vì thù quân Tầu đã giết chồng bà.  Thư sinh Nguyễn Trãi vì thù giặc bắt cha mà trở thành quân sư của Bình Định Vương Lê Lợi.

Ngày nay, Võ đại Tôn từ hải ngoại vượt rừng băng suối về quê hương mưu đồ phục quốc cũng là do nợ nước cộng với mối thù cộng sản chôn sống mẹ ông.

Thưa qúy vị,

Hai mươi năm trước, khi ông Võ Đại Tôn được thả do áp lực của quốc tế, tôi đã tổ chức tại nhà tôi buổi tiếp đón ông bà lần đầu tiên trở lại nước Mỹ.

Với gần  một trăm người, gồm rất nhiều anh em thuộc các đoàn thể, chính đảng khác nhau, mọi người lúc bấy giờ đều hứng khởi với sự xuất hiện của ông Võ đại Tôn trong cuộc  trao đổi nhau về phương thức đấu tranh. Và, điểm đầu tiên là nhiều vị đã ân hận rằng khi ông Tôn “lên đường tranh đấu”, bị tù không có ngày về, thì rất ít ai ở Mỹ thăm hỏi và giúp đỡ về tinh thần và vật chất cho bà Tôn  ở bên Úc.

Cũng trong buổi đón tiếp ông bà Võ Đại Tôn tại nhà tôi năm 1993, một ý kiến được nhiều vị gật gù đồng ý là cuộc đấu tranh chống cộng không phải là cuộc đi tìm vàng để  phải tranh giành nhau. Các đoàn thể chống cộng nên coi nhau như một bộ phận của cùng một cơ thể. Người này là mắt thì người kia là mũi. Người này là tay thì người kia là chân.   Nếu là một người bình thường thì tay sẽ không chặt chân, tay sẽ không đâm mù mắt. Mắt sẽ không ích kỷ để mặc cho chân bước xuống hố. Bởi vì những hành động hại nhau như thế đều là tự sát.

Thế nhưng, sau đó tôi vẫn nghe ông Võ đại Tôn than thở, dù than  thở bằng thơ : Anh không sợ kẻ thù trước mặt mà sợ người chiến hữu sau lưng.

Đồng thời, tôi còn nhớ một số ý kiến hôm đó là, cộng đồng chúng ta phải lập ra một qũi gọi là qũi tranh đấu. Chúng ta đã sẵn sàng gửi tiền về giúp một số nhà dân chủ trong nước, nhưng những nhà đấu tranh ở hải ngoại tại sao chúng ta không yểm trợ ? Cụ thể, với một người như Võ Đại Tôn, tên tuổi ông được cả thế giới biết đến, lý tưởng chống cộng của ông đã được thử thách, tại sao chúng ta không giúp ông giải quyết các nhu cầu cuộc sống, để ông có toàn thời gian làm việc cho công cuộc đấu tranh phục quốc ?  Nếu ông phải đi làm một công việc nào đó để mưu sinh và nuôi vợ con thì thì giờ của ông sẽ bị ràng buộc với công việc, như thế cuộc đấu tranh của ông tất nhiên sẽ bị hạ xuống thành “part time” cuối tuần.  Tiếc rằng vì không có qũi tranh đấu nên nhiều người dù rất nặng lòng với quê hương cũng đành nhìn thời gian trôi qua.

Thê thảm hơn, một số vị muốn đấu tranh đã tự đi tìm nguồn tài trợ khác cho mình thì chẳng những đã không được thông cảm mà còn bị đánh phá rất trớ trêu.

Mang chuyện cũ từ hai mươi năm trước ra nói, chẳng qua là vì tôi rất quí trọng và thương mến Võ Đại Tôn. Bây giờ dù ông đã được vinh danh là anh hùng, là liệt sĩ sống nhưng tôi biết, đó không phải là giấc mộng của ông.  Giấc mộng của ông là được nhìn thấy quê hương không còn màu cờ máu , không còn cộng sản để tuổi thơ Việt Nam được sống hồn nhiên trong sáng, để mọi người dân Việt  được sống tự do, để Việt Nam được năm châu bốn biển nể phục..

Đó là lý do mà ông Tôn  thường quên rằng tuổi ông đã thuộc loại cổ lai hy. Mỗi lần nghe tin bên Úc đồng bào ta có cuộc biểu tình chống cộng  là tôi thấy hình ảnh Võ Đại Tôn với lá cờ vàng ba sọc đỏ đi đầu. Tháng trước, ngay khi vừa đặt chân đến Nam Cali ông đã có mặt trong các buổi lễ tưởng niệm Tháng Tư Đen. Ngoài ra, ông viết sách, viết báo, làm thơ. Chữ của ông thay ông tiếp tục làm viên gạch lót đường. Thơ của ông là tiếng trống thúc đẩy anh em và đồng hương đừng quên nhiệm vụ đối với tổ quốc.

Cố thi sĩ Nguyên Sa gọi Võ Đại Tôn tức thi sĩ Hoàng Phong Linh thuộc trường phái “thi ca ái quốc”. Thi sĩ Du Tử Lê viết rằng Võ Đại Tôn là “tài hoa của đất nước” nên trong thơ của ông mới có được những rung cảm đỉnh ngọn, có nhịp đập của tổ quốc trong dòng máu Tiên Rồng.

Như thế thì, ông Võ Đại Tôn đã đi vào lịch sử của đất nước bằng  cửa chính. Và ông đang cõng trên lưng  một nhà thơ tên là Hoàng Phong Linh bước vào lịch sừ văn học Việt Nam. Tôi  chúc mừng sự thành công của ông.




             Đỗ Tiến Đức


 




HNQVN-TS Genève 20.7.10; Tuyển tập thơ Trần Khải Thanh Thủy : Ấm Thầm

Phim Tội Ác Cộng Sản Nga, có Phụ đề Tiếng Việt.

http://vimeo. com/12057428

*******************************************

Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ

Lời Người Dưới Mộ của nhà thơ và nhà văn Trần Khải Thanh Thủy,

Âm Thầm xuất bản năm 2004 tại Hà Nội, 

La Voix d’Outre -Tombe của bà Hoàng Nguyên

Voice from Beyond the Grave của nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt.

               

                         * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * *  

 

Lời Người Dưới Mộ

Tôi nằm lại đây chốn nghĩa trang

Trạm cuối cùng cuộc đời bao số kiếp

Đất phủ kín mình tôi giá lạnh

Khói nhang thơm mách nẻo đi, về

 

Quà chia tay – bạn hữu tặng trao

Nhị rữa nát, hám hôi mùi nghĩa địa

Gió cứ thổi, vật vờ khoang đất trống

Quạ tru, rên từ khoang đất không người

 

Cỏ đã xanh rờn… chân, tóc, tai

Hồn tôi thoát tục để băng ngàn

Lang thang rừng thẳm…muôn nơi ngắm

Cõi trần ai người sống đọa đầy

 

Thôi hãy xanh cùng với đất đai

Tạo hoá anh minh đã mỉm cười…

Trích Tập Thơ ‘’Âm Thầm’’

NXB : Hội Liên Hiệp Văn Học Nghệ Thuật Hà Nội (2004)

 

Extrait du Recueil de Poèmes ‘’Âm Thầm’’ (La Voix Silencieuse)

Editeur: Association ‘’Littérature et Arts’’ de Hà Nội (2004)

Traduit du Viêtnamien par Mme Hoàng Nguyên (2010) pour CEVEX.

Except from Collection of Poems ‘’Âm Thầm’’ (Silent Voice)

Editor: Association of Literature and Arts of Hà Nội (2004)

Translated from Vietnamese by Nguyên Hoàng Bảo Việt (2010),

Member of Vietnamese Writers in Exile Centre (CEVEX)

and PEN Suisse Romand Centre.

                         Trích Bản Tin Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ngày 12 tháng 3 năm 2010

 

                

 

                                

Từng là hội viên Hội nhà Văn và Câu lạc bộ nhà Thơ Hà Nội, bà Trần Khải Thanh Thủy là một nhà văn được công nhận, có tinh thần độc lập, viết nhiều tác phẩm giá trị, dưới một số bút hiệu khác nhau (Nguyễn Thái Hoàng, Nguyễn Thị Hiền, Nguyễn Thái Bình, Nguyễn Quý Dân, Nguyễn Hải, Võ Quế Dương, Trần Thị Thanh Hằng, Phạm Xuân Mai, Mai Xuân Thưởng, v.v.). Bà còn là một nhà thơ, nhà viết tiểu luận, phóng viên và cộng tác biên tập với nhiều tờ báo, như bán nguyệt san Tổ Quốc (báo bị cấm, in không giấy phép CS). Bà là tác giả Nhật Ký Ngục Tù, Hang Đá, Đối Thoại cùng Sông và mấy mươi tác phẩm thơ văn, bài báo khác. Bằng ngòi bút bén nhạy, tinh tế, ngay thẳng, bà bênh vực những nạn nhân của bất công xã hội. Bà viết về các trường hợp cán bộ viên chức tham nhũng và lạm quyền, cướp đất chiếm nhà của hàng trăm nông dân không có khả năng tự vệ và chống đối. Bởi vậy bà Trần Khải Thanh Thủy trở thành đối tượng của nhiều cuộc sách nhiễu hung bạo và bắt giam để thẩm vấn của công an mật vụ. Kể từ tháng 9 năm 2006, bà là một tù nhân bị công an mật vụ sách nhiễu và canh chừng nghiêm ngặt tại nhà. Ngày 21 tháng 4 năm 2007, trong lúc bà bị mắc bệnh lao phổi nặng và bệnh tiểu đường, bà bị bắt giam cho đến ngày 31 tháng giêng năm 2008. Bà chỉ ra khỏi trại tù sau khi tòa CS tuyên phạt bà 9 tháng 10 ngày tù giam (thời gian bà đã bị nhốt tù) và 3 năm quản chế vì ‘’phá rối trật tự công cộng’’. Ban đầu, bà Trần Khải Thanh Thủy bị truy tố về "tội tuyên truyền chống phá nhà nước CHXHCNVN’’, theo Điều 88/Hình luật CS. ‘’Tội’’ của bà: đã phổ biến nhiều bài tiểu luận mà chế độ kiểm duyệt CS không ngăn chận được. Bà còn bị cáo buộc là hội viên hoạt động của Khối 8406, hỗ trợ Ủy Ban Nhân Quyền độc lập và tham gia tổ chức một Công đoàn bất hợp pháp đối với nhà nước CS. Cuối cùng, vì áp lực quốc tế và một số lý do khác, tòa CS đã biến cải cáo trạng nêu trên thành ra tội ‘’phá rối trật tự công cộng’’. Về nhà, bà còn mang những vết thẹo rất rõ trên mặt và trên chân bà, hậu quả của 9 tháng 10 ngày bị đày đọa, hành hung, ngược đãi.

Ngày 25 tháng 9 năm 2009, bà Trần Khải Thanh Thủy phổ biến bài viết ‘’Trò Hề Xã Hội Chủ Nghĩa’’. Truyện kể lại quang cảnh đồng bào, bà con, thân nhân nhiều tù nhân ngôn luận và lương tâm sáng ngày 24 tháng 9 năm 2009 chen chúc đứng chờ phiên tòa CS Hà Nội xử nhà dân chủ đối kháng Phạm Văn Trội. Rốt cuộc, phiên xử đã bị hoãn đến tháng 10 nhưng không có thông tri cho dân chúng biết. Ngày 8 tháng 10 năm 2009, bà Trần Khải Thanh Thủy đi Hải Phòng để ủng hộ thân nhân gia đình những nhà dân chủ đối kháng sắp bị tòa CS xét xử. Chưa đến thành phố hải cãng thì bà đã bị Công an CS chận lại và buộc bà trở về Hà Nội. Chiều hôm đó, bà và chồng bà đã bị những kẻ ‘’lạ mặt’’ đến tận nhà gây sự, khiêu khích để lấy cớ đánh đập vợ chồng bà khiến bà bị thương ở đầu, máu chảy ướt hết tóc, đổ xuống vai áo và nền gạch trước nhà. Nhưng công an CS lại bắt giam bà Trần Khải Thanh Thủy, ngụy tạo hình ảnh (ngày chụp ảnh 28 tháng 2 năm 2005 đổi thành ngày 9 tháng 10 năm 2009), tung tin trên báo rằng bà đã gây thương tích cho một người có mặt lúc đó. Thế giới đều biết dưới chế độ CS không có báo chí tự do và nhà báo độc lập được phép hành nghề. Cho nên, dù chi tiết tin tức về biến cố chưa đầy đủ và rõ ràng, các quan sát viên trung thực đều tin rằng nhà văn Trần Khải Thanh Thủy là nạn nhân của một vụ bạo hành có tổ chức và điều khiển trong bóng tối. Chẳng khác vụ nhà báo nước Tunisie Taoufik Ben Brik bị bắt giữ mới đây vì bị cáo là ‘’đã hành hung một phụ nữ trên đường phố’’. Phóng Viên Không Biên Giới xác quyết rằng tổng thống (độc tài) Zine El Abidine Ben Ali không bao giờ dung thứ ông Taoufik Ben Brik vì những bài báo ông viết chỉ trích chế độ Tunis . Bà Trần Khải Thanh Thủy bị nhốt lại tại trại Hỏa Lò Mới (Cầu Diễn Hà Nội), nơi mà hai năm trước, giữa những điều kiện lao lung tồi tệ, bà còn bị tù thường phạm nhốt chung hành hung và sỉ nhục .

Cần nhắc lại, từ đầu tháng 2 đến cuối tháng 4 năm 2009, một chiến dịch thể hiện ‘’truyền thống văn hóa’’ phi nhân, đồi bại và quái đản, hiếm thấy trên thế giới, được tổ chức để ném phân người và xác chết thú vật vào cửa và mặt tiền căn nhà của bà Trần Khải Thanh Thủy. Sau khi bà Trần Khải Thanh Thủy bị giam cầm độc đoán đầu năm 2007, hội Nhà Văn Hà Nội dưới sự lãnh đạo của đảng CS đã xóa tên bà trong danh sách hội viên. Một hành vi làm kinh tởm các nhà văn hội viên Văn Bút Quốc Tế vì bà Trần Khải Thanh Thủy là hội viên danh dự của Trung Tâm Văn Bút An h . Hành vi của hội Nhà Văn Hà Nội làm nhớ đến phong cách của hội Nhà Văn Liên Sô thời bạo chúa Staline ngự trị tại "thành trì tổ quốc xã hội chủ nghĩa". Năm 2009, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy và mục sư Nguyễn Công Chính đồng lãnh Giải Nhân Quyền của Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam .

Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy từng được Văn Bút Quốc Tế tuyên dương nhân dịp thế giới cữ hành Ngày Phụ Nữ Quốc Tế 8 tháng 3 năm 2007. Cùng với nhà văn và nhà báo Nga Politkosvkayav, nhà báo Umida Niyazo, nước Ouzbékistan, nhà báo Serkalem Fasi, nước Éthiopie, bà Trần Khải Thanh Thủy tiêu biểu cho những nhà nữ trí thức chân chính, những người cầm bút dấn thân, bất khuất, mà tù ngục, hăm dọa và cả đến giết hại không hủy diệt được tiếng nói chỉ trích bạo quyền và bạo lực.

Năm nay – 2010 – đánh dấu 50 năm thành lập Ủy Ban Văn Bút Quốc Tế Bênh Vực Nhà Văn bị đàn áp và cầm tù (1960). Trong một thông cáo đặc biệt phổ biến vào Ngày Phụ Nữ Quốc Tế 8 tháng 3 năm 2010, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy lại được Hiệp Hội Nhà Văn Thế Giới nhắc đến, cùng với 14 nhà văn và nhà báo phụ nữ được tuyên dương vì là biểu tượng lòng can đảm của hàng ngàn người cầm bút nam lẫn nữ từng bị dọa giết, bị tra tấn và tù đày, bị sát hại hoặc mất tích trong nửa thế kỷ qua :

Nhà văn Nawal El-Saadawi, nước Ai Cập; nhà văn Alaíde de Foppa de Solórzano, nước Guatamala; nhà thơ Alicia Partnoy, nước Argentine; nhà văn Nien Cheng, nước Trung Hoa (mất năm 2009); nhà văn Lydia Cacho Ribeiro, nước Mễ Tây Cơ; nhà văn Shahrnush Parsipour, nước Ba Tư; nhà văn Maria Elena Cruz Varela, nước Cuba; nhà báo Martha Kumsa, nước Ethiopie; nhà văn Taslima Nasrin, nước Bangladesh; nhà báo Sihem Bensedrine, nước Tunisie; nhà thơ  Irina Ratushinskaya, nước Nga dưới chế độ Cộng sản Liên Sô; nhà báo Anna Politkovskaya, nước Nga (bị ám sát năm 2006); nhà văn Aung San Suu Kyi, nước Miến Điện; nhà báo Natalia Khoussaïnovna Estemirova, nước Nga (Tchétchénie năm 2009) và nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, nước Việt Nam (dưới chế độ CS) (…). Ngoài Trung Tâm Văn Bút An h , bà Trần Khải Thanh Thủy còn là hội viên danh dự của Trung Tâm Văn Bút Hoa Kỳ và Trung Tâm Văn Bút Thụy Sĩ Ý Thoại.

 

 

                                                         ******************************************************

Bao Giờ ?

 

Ta ép chặt trái tim

Để giết chết nỗi buồn

Trong nhà tù Cộng sản

Bao ước mơ nhấn ch

ọt bớt suy tư

Đởng

Bảy tháng trời chết chóc *

Hồn ta thành vườn hoang

Ngoài trời mây thôi bay

Đời ta trong ngục tối

Chẳng sao trời dọi tới

Bao hoài vọng tả tơi

Sáng qua rồi trưa tới

Ta kiệt quệ mỏi m

ỉ bài bạc ăn thua

Vui đạm

Ôi! Số phận tai ương

Bao nhiệp chướng

Bao giờ ta thoát khỏi

Để ta lại là ta?

 

Trại giam Hỏa L

ần Khải Thanh Thủy

Hội viên danh dự các Trung Tâm Văn Bút An h , Hoa Kỳ và Thụy Sĩ Ý thoại 

ừ 8.10.09 đến 29.4.10

Camp Hỏa

Khải Thanh Thủy




Trong buổi ra mắt sách của Khối 8406, 13/4/08 (Chinh Nguyên)

Phát biểu của NhàThơ Ðông Anh,
Trưởng Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt
Trong buổi ra mắt sách của Khối 8406, 13/4/08
 
Kính thưa Quý vị
Trong một cuộc họp hàng tháng của Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt, nhà thơ Hà Thượng Nhân, Cố vấn đã nêu ý kiến là cơ sở chúng ta nên tìm tòi và xuất bản những cuốn sách mà từ trong nước không in ấn được. Mục đích là phổ biến những tuyên ngôn, tư tưởng của những nhà tranh đấu quốc nội cho đồng bào hải ngoại cùng thấu hiểu, ngõ hầu yểm trợ cho các cuộc tranh đấu hiện đang sôi động ở quê nhà.
Nhà thơ Chinh Nguyên, Tổng Thư Ký Văn Thơ Lạc Việt hiện được ủy quyền nắm giữ một số tài liệu của khối 8406 do linh mục Phan Văn Lợi chuyển đến. Ban Ðiều Hành cơ sở bèn đọc và quyết định phổ biến tập tài liệu này.
Khi đi tìm nhà in, chúng tôi may mắn được gặp anh Lê Văn Hải, Chủ nhiệm tuần báo Mõ San Jose. Sau khi nghe chuyện, anh đồng ý nhận thành lập khối yểm trợ Nhóm Linh Mục Nguyễn Kim Ðiền để in ấn hai tập sách nhan đề 1- Linh Mục Tadeo Nguyễn Văn Lý, Cuộc Ðời Ðấu Tranh Cho Tôn Giáo và Dân Chủ Nhân Quyền và 2- Nhóm Linh Mục Nguyễn Kim Ðiền, Cuộc Ðời Ðấu Tranh Cho Tôn Giáo và Dân Chủ Nhân Quyền.
Việc in với giá phải chăng lại không cần đặt tiền trước. Anh Hải đồng ý hỗ trợ cho việc này nên số tiền in sẽ hoàn lại sau khi bán sách. Do đó hai cuốn sách ra đời và được trình diện với quý vị hôm nay.
Ðể hỗ trợ cho buổi ra mắt sách và cho hai cuốn sách tranh đấu, cơ sở Văn Thơ Lạc Việt chúng tôi cũng in một tuyển tập văn, thơ và nhạc có tính cách thời sự đấu tranh cho Hoàng Sa và Trường Sa bị Trung Cộng chiếm đóng 34 năm nay với nhan đề Toàn Dân Vùng Dậy Bảo Toàn Lãnh Thổ để gửi đến quý vị cùng với chiếc áo thun có logo Hoàng Sa Trường Sa như một món quà giới thiệu hai tập sách của khối 8406.
Với sự hy sinh của quý vị linh mục và các thành viên của 8406, hàng ngày đối diện với nguy hiểm và tù đày thì việc ấn hành hai cuốn sách này chỉ là một việc làm rất nhỏ, nhưng tất cả mọi người đều mong muốn được góp bàn tay rất nhỏ ấy cho sự hy sinh cao cả kia của quý vị đang kiên cường đấu tranh cho tôn giáo và dân chủ nhân quyền tại Việt Nam. Cho nên với hoàn cảnh eo hẹp và những cánh tay dù ngắn ngủi toàn thể anh chị em thuộc cơ sơ Văn Thơ Lạc Việt mong mỏi được góp phần yểm trợ và kính chúc Quý Vị trong khối 8406 có nhiều sức khỏe và mọi sự thành công.
Trân trọng kính chào quý vị
 
 Xen hình gây quỹ do nhiếp ảnh Long Nguyễn.
 



Hoàng Lan Chi & Bich Huyền : Sách Lê Hữu = Âm Nhạc Của Một Thời.

Giới Thiệu “Âm Nhạc của một thời” của Lê Hữu

 

 

 

  Lê Hữu, “người tìm ngọc trong đá” của Hoàng Lan Chi vừa xuất bản cuốn sách đầu tay :  “Âm Nhạc của một thời”.

 

Sách trình bầy trang nhã và đẹp. Lê Hữu viết về các Nhạc Sĩ Đoàn Chuẩn-Từ Linh, Nguyễn Hiền, Y Vân, Tuấn Khanh, Nguyễn Văn Đông, Phạm Duy, Nhật Trường. 

Đây là một cuốn sách nói về các nhạc sĩ với những tác phẩm của họ một cách khái quát và nhạc phẩm đã làm nên tên tuổi họ hay cái “air” của họ theo cảm nhận của Lê Hữu. Sự nhận xét hay cảm nhận được trình bầy nhẹ nhàng, tinh tế và cẩn thận, cẩn thận đến mức có vẻ “trau chuốt”.  

Âm nhạc Việt Nam có một nét khá đặc thù, đó là bên cạnh âm thanh của dòng nhạc, thính giả Việt Nam còn “nghe” lời nhạc. Có lẽ vì ngôn ngữ Việt Nam rất phong phú đa dạng và trữ tình nên cái “nghe lời nhạc” đôi khi có phần lấn lướt âm thanh. Trong chiều hướng đó, Lê Hữu tìm những nét đẹp trong ngôn ngữ nhạc và gửi đến độc giả. Khó ai có thể phủ nhận giá trị của món quà ấy vì với tâm hồn yêu nhạc, yêu thơ, yêu văn và cả “yêu người”, Lê Hữu đã trao cho độc giả tất cả những gì “tinh tuý nhất” “yêu kiều nhất” của ngôn ngữ trong các nhạc phẩm.  

Xin hãy xem bài giới thiệu của Phạm Xuân Đài và trích đoạn 5 bài từ “Âm Nhạc của một thời”.  

Đây là món quà tao nhã mà quý vị nên có để tận hưởng thêm vẻ mỹ miều của âm nhạc và nên tặng cho bạn hữu để cùng chia sẻ tiếng tơ đồng của đất trời, quà tặng của Thượng Đế cho con người.  

Xem tại đây vì sao Lan Chi gọi Lê Hữu là “người tìm ngọc trong đá”: 

Lê Hữu, Người Tìm Ngọc Trong Đá 

Tất cả các độc giả mua sách và có ý kiến sau khi xem,  Hoàng Lan Chi xin phép đăng ý kiến của quý độc giả tại trang nhà Hoàng Lan Chi. Xin liên lạc hoanglanchi@gmail.com khi gửi ý kiến. 
 

Âm Nhạc Của Một Thời-Lê Hữu
(375 trang, giá $20.00)
Sách có bán tại nhà sách Tự Lực
14318 Brookhurst St – Garden Grove , CA 92843
* Liên lạc: Lê Hữu
PO Box 88806
Tukwila , WA   98138, USA
Tel:  (206) 251-9608

             E-mail:  lehuu123@hotmail.com

 

 

Trích đoạn một số bài viết trong sách “Âm nhạc của một thời”

 

 Trích đoạn bài “Người Lính Trong Nhạc Nguyễn Văn Đông”:

.    .    .

Hôm ấy, tôi còn nhớ, một chiều hè năm 1969, chúng tôi ngồi ở một quán nước quen dọc bờ biển Nha Trang. Bên cạnh tôi là H., người bạn học cũ. Ðã lâu lắm chúng tôi mới gặp lại nhau kể từ ngày rời xa mái trường cũ ở một thị trấn miền cao nguyên đất đỏ.  H. cho biết anh sắp sửa nhập ngũ, thì giờ rảnh rỗi như thế này sẽ chẳng còn được bao lâu nữa. Anh có người yêu ở thành phố biển này. Tôi thì vẫn lang thang trên sân trường đại học, tấm giấy chứng chỉ hoãn dịch trong tay vẫn còn hiệu lực.

      Trên mặt bàn là những chai bia đã cạn và câu chuyện cũng đến lúc cạn đề tài. Chúng tôi ngồi im lặng, cùng phóng tầm mắt nhìn ra vùng biển bao la trước mặt, chờ mặt trời lặn để ngắm cảnh hoàng hôn trên bãi biển trong lúc tiếng nhạc bập bùng vọng ra từ một góc quầy.

      Người đi giúp núi sông
     hàng hàng lớp lớp chưa về 
      hàng hàng nối tiếp câu thề
      giành lấy quê hương

      “Bài gì vậy?” H. quay sang tôi, hỏi.

      “‘Hàng hàng lớp lớp’,” tôi trả lời.

      “Tên gì lạ vậy?”

      “Gọi tắt là vậy,” tôi cười, “tên đầy đủ là ‘Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp’.”

      H. lặng thinh, có vẻ chăm chú lắng nghe. Lời ca tiếng nhạc khi réo rắt, khi trầm bổng…

      Còn đây đêm cuối cùng

      nhìn em muốn nói chuyện người Kinh Kha

      ngại khơi nước mắt nhạt nhòa môi em

      “Giọng Hà Thanh phải không?” H. lại hỏi. “Còn giọng nam?”

      “Hùng Cường.”

      “Thiệt sao?” giọng hỏi thoáng chút ngờ vực.

      Tôi hiểu, anh bạn tôi đâu biết rằng, ngoài những bài “tủ” như “Vọng ngày xanh” (Khánh Băng), “Ông lái đò” (Hiếu Nghĩa), “Sơn nữ ca” (Trần Hoàn)…, ca sĩ Hùng Cườngmột nghệ sĩ cải lương khá nổi tiếng thời ấyvới chất giọng ténor khoẻ khoắn, còn hát rất “tới” một ít bài tân nhạc khác nữa, đặc biệt là những bài của Nguyễn Văn Ðông.

      Bài hát chúng tôi đang nghe là của Nguyễn Văn Ðông.

      Anh bạn tôi đã nương theo câu hát ấy mà đi vào cuộc chiến. Anh đã nhập vào “hàng hàng lớp lớp” những đoàn người “nối tiếp câu thề giành lấy quê hương”.

      Mùa hè năm sau, tôi cũng “lên đường nhập ngũ tòng quân”, nghĩa là chỉ sau anh bạn H. một năm. Bạn bè tôi kẻ trước người sau lục tục vào lính. Chiến cuộc ngày càng leo thang, ngày càng trở nên khốc liệt…

      H., anh bạn cùng ngồi với tôi buổi chiều ấy, cùng nghe với tôi bài nhạc ấy, cùng ngắm nhìn với tôi cảnh hoàng hôn trên bãi biển ấy, đã không còn nữa. Anh đã nằm sâu dưới lòng đất.  H. đã hy sinh trong chiến trận ít năm sau đó, như biết bao người lính khác, như hơn một nửa bạn bè tôi đã nằm xuống trên khắp các mặt trận trong cuộc chiến nghiệt ngã ấy. Chiến tranh như con quái vật khổng lồ đã nuốt chửng bao nhiêu bè bạn tôi, anh em tôi.

      Ðã nhiều năm, nhiều năm trôi qua, hình ảnh một chiều nào biển xanh cát trắng và những câu hát của Nguyễn Văn Ðông giữa biển trời mênh mông vẫn còn đậm nét trong ký ức tôi, mặc cho những lớp sóng của thời gian như từng đợt sóng biển cứ “hàng hàng lớp lớp” xô nhau, xô nhau tràn mãi vào bờ, rồi lại rút xuống trong con nước thủy triều của buổi hoàng hôn.

 

______________________________________

 

Trích đoạn bài Y Vân Và Ảo Ảnh Cuộc Đời”:

.    .    .  

Nét nhạc Y Vân có dấu ấn riêng và ảnh hưởng ít nhiều đến sáng tác của các nhạc sĩ sau ông. Nhiều người vẫn lầm tưởng “Ai nói yêu em đêm nay”, một bài Slow của Trần Thiện Thanh, hoặc “Kim”, một bài Twist của Y Vũ, là của Y Vân. Trong những bài “Những tâm hồn hoang lạnh” của Y Vũ, “Tôi đưa em sang sông” của Y Vũ & Nhật Ngân… người ta nghe phảng phất nét nhạc (và cả lời ca) của Y Vân, qua những dấu thăng (dièse) hoặc dấu giảm (bémol) ở nốt nhạc cuối trong câu, tạo cảm giác lơ lửng, mênh mang.

      Có thể nói được rằng Y Vân là nhạc sĩ của mọi thể loại, mọi thể điệu và mọi đề tài của nhạc Việt những thập niên 50’s, 60’s, 70’s.  Nghe nhạc Y Vân, người ta nghe thấy có hạnh phúc và khổ đau, có nụ cười và nước mắt, có hội ngộ và chia phôi, có hình ảnh người mẹ, người cha, người vợ hiền, người lính chiến, có tình yêu đôi lứa, có tình tự dân tộc…, tựa như ông muốn ôm hết cuộc sống vào lòng vậy. Nói cách khác, cuộc sống hiện ra muôn màu muôn vẻ trong nhạc Y Vân.  Như câu nói của Robert Schumann, nhà soạn nhạc và phê bình âm nhạc nổi tiếng của Đức, “Họa sĩ biến thơ thành tranh; nhạc sĩ biến tranh thành âm nhạc”, Y Vân, ông đã vẽ ra những “bức tranh đời” nhiều màu sắc và sinh động bằng nét cọ thần kỳ là những nét nhạc, những nốt âm thanh tràn đầy cảm xúc.

      Dòng suối nhạc của Y Vân biến đổi không ngừng, khi thì êm đềm hiền hòa, khi thì cuồn cuộn xối xả, như dòng chảy của cuộc sống đổi thay từng ngày, từng giờ. Sức sáng tác của Y Vân thật sung mãn và nguồn nhạc hứng trong con người nghệ sĩ ấy vẫn luôn dạt dào, như cuộc sống vẫn lao nhanh về phía trước. Bằng cây đàn muôn điệu và bằng những cung bậc kỳ diệu, ông đã tạo nên ở quanh ông một thế giới âm thanh thật phong phú và biến hóa đa dạng, đôi lúc khá bất ngờ và ngoạn mục như chàng nghệ sĩ đu bay giữa không trung tràn đầy tiếng nhạc.  

      Âm nhạc của Y Vân đến được với mọi người, mọi tầng lớp, mọi đối tượng. Dường như ai cũng tìm được ở nhạc Y Vân một bài nào mình yêu thích, ai cũng từng hát một đôi bài hoặc một đôi câu của Y Vân. Nói khác hơn, âm nhạc của Y Vân, bằng mọi ngả đường và bằng những cách riêng của ông, đã tới được và chạm được trái tim người yêu nhạc.

      Y Vân, ông đã từng làm bao người cùng khóc cùng cười với ông. Ông đã ngợi ca tình yêu, ông đã mang những lứa đôi lại gần nhau hơn và yêu nhau hơn, vì chỉ sợ mất nhau, chỉ sợ không giữ được nhau. Ông đã ngợi ca cuộc sống, ông đã làm cho người người thương yêu cuộc đời hơn, dẫu cho đời sống có lúc không được như ý muốn và không phải là lúc nào cũng đẹp. Ông đã ngợi ca tình người, ông đã làm cho người người thương quý nhau hơn và tử tế với nhau hơn, như tình nghĩa vợ chồng, như tình thân bè bạn, như tình yêu chan chứa của những đứa con dành cho đấng sinh thành… Phía sau những dòng kẻ nhạc của ông người ta nhìn thấy được trái tim đầy tình nhân bản.

      Y Vân, ông đã cố làm cho cuộc đời trở nên tươi đẹp hơn, hay ít ra trông có vẻ tươi đẹp hơn. Dường như ông vẫn muốn tin rằng, dẫu có thế nào đi nữa thì mọi chuyện sau cùng vẫn đi đến một kết thúc tốt đẹp. Điều có có xảy đến hay không, không ai biết chắc. Nói rằng ông có tài “tiên tri” để thấy trước là ông chỉ góp mặt góp tiếng với thế gian này có 60 năm thôi, tôi không tin lắm, thế nhưng tôi tin rằng ông đã thấy trước là–như ông đã viết ra trong bài “Đồi thông”–suốt một đời “hoài công tìm kiếm trên bước đi thăng trầm…”, ông chẳng tìm thấy được gì ở cuối đường, ngoài nỗi… trống không.

      Và tôi cũng tin rằng không phải là ngẫu nhiên ông viết nên những câu hát…     

      Người đi tiếc chi cho thêm buồn

      tìm thư thái trong tâm hồn

      thì đừng xây mơ trên cát vàng

        (“Hoàng hôn trên bãi biển”)

      Như những lâu đài bằng giấy, như những dấu chân trên cát sóng biển sẽ xóa nhòa, liệu còn có nghĩa gì, khi mà những phù hoa phù phiếm, những phấn son cuộc đời rồi… “cũng theo hư không mà đi”.

      Liệu còn có nghĩa gì, khi mà ông đã phải chia tay với cuộc sống ông vẫn muốn làm cho tươi đẹp hơn, và khi mà những “muôn màu muôn vẻ” của cuộc sống ấy, chung cuộc chỉ như những màu sắc lung linh, óng ánh của những bong bóng xà phòng, thật mỏng manh và tan biến trong thoáng chốc như là… ảo ảnh cuộc đời.

 

_______________________________________________________

 

Trích đoạn bài Đoàn Chuẩn-Từ Linh, Một Mùa Nào Lãng Mạn”:

.    .    .  

Khi cho chạy lại cuốn video tape ca nhạc ấy, tôi thấy Đoàn Chuẩn vẫn còn ngồi đó, vẫn còn điếu thuốc trên tay ông. Hầu như lúc nào trên tay ông cũng là điếu thuốc (tựa như Văn Cao, lúc nào cũng ly rượu trên tay). Ông đốt thuốc liên tục, thả khói mơ màng. Khói thuốc mơ màng và ánh mắt ông cũng mơ màng. Ông nghĩ ngợi gì, hay chẳng nghĩ ngợi gì. Trông ông giống như người đợi chờ mà không đợi chờ điều gì cả, hay như người ngồi đợi hoài những giấc mơ “không đến bao giờ”. Ông sống lặng lẽ như một cái bóng, và cử động cũng chậm chạp, nhẹ nhàng như một cái bóng, không nói không năng, khuôn mặt không thấy có nụ cười, không biểu lộ nét vui hay buồn.

      Tôi thấy Đoàn Chuẩn vẫn còn ngồi đó, vẫn còn ánh mắt mơ màng, vẫn còn đăm đăm nhìn ra khoảng sân trước nhà. Ông nhìn ngắm hay tìm kiếm gì vậy? Đêm đêm nhìn cây trút lá / lòng thấy rộn ràng / ngỡ bóng ai về… Những phút sướng vui rộn ràng ấy chắc cũng chẳng kéo dài được bao lâu, chắc cũng chỉ là những phút giây hạnh phúc ngắn ngủi… Nhưng ông cũng đã bằng lòng, và cũng đã tận hưởng những giây phút ấy. Hơn thế nữa, tôi cho là ông cũng đã san sẻ với chúng ta, những người nghe nhạc của ông, chút hạnh phúc như gió thoảng qua ấy. Hạnh phúc như gió thoảng, có phải đấy là những phút giây chìm đắm trong thế giới lãng đãng của âm thanh, những phút giây thả hồn theo tiếng nhạc bềnh bồng và giọng hát dịu dàng cất lên giữa khoảng không gian thật yên tĩnh, thật lắng đọng, trong tiết trời se se lạnh của một ngày chớm thu.

      Với bao tà áo xanh, đây mùa thu…

      Tôi chắc là không có lúc nào người nghe nhạc cảm thấy thèm một hơi thuốc, một ngụm café nóng hơn là lúc ấy.

      Nghe nhạc ĐC-TL đôi lúc có được những khoảnh khắc hạnh phúc như thế, cũng tựa như những phút giây “lòng thấy rộn ràng” của người đã viết nên những tình khúc ấy. Còn mong gì hơn thế nữa! Cám ơn ĐC-TL, cám ơn những khoảnh khắc hạnh phúc ấy.

      Mùa thu đã qua từ bao giờ. Thu tàn, nhưng đông vẫn chưa sang… Những cánh hoa hướng dương đã “tàn tạ trong đêm tối”. Những chiếc “lá thu còn lại đôi ba cánh” rồi cũng sẽ lìa cành.

      Nhủ lòng thôi hết những mùa thu…

      Câu hát ấy nghe như tiếng thở dài thật nhẹ, như bước chân ai thật khẽ vừa lặng lẽ rời bỏ chốn này, như tiếng động thật nhẹ nhàng của chiếc lá cuối cùng vừa rụng xuống trong một ngày tàn thu.

      Hình ảnh sau cùng về Đoàn Chuẩn tôi còn giữ được, và giữ được mãi về sau này, là những ngón tay kẹp điếu thuốc của ông và những cử chỉ thật nhẹ nhàng, thật thong thả, gạt tàn thuốc vào chiếc gạt tàn trên mặt bàn. Trong lúc bà vợ ông nói và nói, để trả lời các câu hỏi, ông ngồi lặng thinh, dõi mắt theo làn khói thuốc (như thể những chuyện ấy chẳng có chút gì liên quan tới ông). Đôi mắt vẫn như chìm đắm trong một thế giới nào khác.

      Thật khó mà biết được một người ngồi lặng im với dáng điệu và cử chỉ như thế, với nét mặt không biểu lộ cảm xúc nào như thế, đang nghĩ gì trong đầu. Thế nhưng không hiểu sao, ánh mắt mơ màng ấy và ngón tay trỏ gõ gõ trên chiếc gạt tàn ấy theo một nhịp thật chậm rãi, thật đều đặn ấy vẫn cho tôi cảm tưởng rằng ông đang chăm chú lắng nghe những nốt nhạc. Những nốt nhạc thật xa xăm mà cũng thật gần gũi, những nốt nhạc từng có một thời cùng với ông, và người bạn đường nghệ sĩ của ông, đi suốt chặng đường dài tuổi trẻ. Những nốt nhạc bềnh bồng dắt đưa ông về thăm lại những cây cỏ xanh tươi trên con đường trí nhớ, cho ông tìm gặp lại những mùa thu xa vắng, những tà áo mầu xanh thắm bay lượn chập chờn, và cũng rót xuống cho ông, chàng nghệ sĩ đa tình một thuở, những yêu thương đằm thắm nhất của một mùa nào lãng mạn.

 

Xin bấm vào đây xem tiếp:

http://hoanglanchi.com/?p=1394 

 ——————————————————————————————————————

Diễn giả Bích Huyền trong đêm ra mắt sách "Âm nhạc của một thời"

Đôi nét về tác phẩm “Âm Nhạc Của Một Thời”
của nhà văn Lê Hữu
(Bài nói chuyện của nhà văn/nhà truyền thông Bích Huyền
trong đêm “Giới thiệu sách & Chương trình thơ-nhạc”)

      Câu chuyện thơ nhạc Đài VOA

     

Kính thưa quý vị và các anh chị,

Đêm nay Bích Huyền rất vui được chào đón quý vị và quý anh chị, rất vui được nói về một đề tài mình yêu chuộng và về một cuốn sách mình yêu thích.

      Một trong những bài Bích Huyền thích nhất trong cuốn sách của anh Lê Hữu là bài viết về nhạc sĩ Nguyễn Hiền, có tên là “Nguyễn Hiền, nhạc, thơ tràn muôn lối”. Và một trong những đoạn mà Bích Huyền thích nhất trong bài ấy là đoạn nói về “những mối duyên trong cuộc đời”.  Bích Huyền xin mạn phép đọc ít câu trong đoạn ấy: 
      “Đúng vào ngày đó, giờ đó, chứ không phải ngày nào, giờ nào khác, chúng ta gặp gỡ người nào đó, ở một nơi nào đó, một quán ăn, quán nước chẳng hạn, đấy không phải là chuyện tình cờ, ngẫu nhiên như ta tưởng mà mọi việc đều có bàn tay của ai đó sắp đặt.  Đấy là bàn tay của định mệnh, hay còn gọi là… “định mệnh đã an bài”.  Định mệnh ấy, hay những mối duyên kỳ ngộ ấy, có khi dẫn chúng ta đến một lối rẽ khác trong cuộc đời.”
      Thưa quý vị và các anh chị, những chuyện như thế từng xảy đến trong cuộc đời Bích Huyền, nhất là những mối duyên văn nghệ với nhiều người bạn văn nghệ, trong đó phải kể đến mối duyên văn nghệ với anh Lê Hữu.  Và chính nhờ vậy, chính vì thế, đêm nay Bích Huyền mới có mặt ở đây, mới có cái duyên may được gặp gỡ quý vị, và được nói một vài điều về tác phẩm của anh Lê Hữu.  Nếu không, nói như anh Lê Hữu ở một trang nào đó trong cuốn sách của anh: “Nếu không có cái ‘duyên’ ấy thì dẫu có đi hết cuộc đời mình cũng chẳng ai gặp được ai.”

      Thưa quý vị và các anh chị, gọi những bài viết trong sách “Âm Nhạc Của Một Thời” là những bài nhận định, hay khảo luận cũng đúng, mà gọi là “Những câu chuyện nhạc Việt” như cách gọi của tác giả cũng không sai.  Có lẽ anh Lê Hữu muốn gọi như thế cho “nhẹ nhàng” và để cho người đọc cảm thấy gần gũi hơn với những bài viết của anh.  Điều lý thú là, qua cuốn sách này, người ta tìm thấy nơi anh một lối viết mới khá lôi cuốn, thay cho những bài biên khảo khô khan như vẫn thường thấy từ trước đến giờ.  Người ta đọc bài của anh như nghe một người kể chuyện có duyên và hấp dẫn, đặc biệt là những “khám phá” từ cái nhìn và cảm thụ thật tinh tế, bén nhạy về con người, về sự việc qua những bài viết thật công phu.  Người ta cũng nhận ra ở nơi anh một kiến thức rộng rãi về âm nhạc, một “bản lãnh nghe nhạc”, và một óc thẩm mỹ về âm nhạc để nhìn ra những nét đẹp đầy tính nghệ thuật của dòng nhạc Việt.  Người ta cũng tìm thấy trong cuốn sách của anh những người nhạc sĩ được yêu chuộng, những giọng hát, những bài hát quen thuộc được giới yêu nhạc yêu thích một thời nào.
      Nhiều bài nhận định về âm nhạc của anh Lê Hữu được rất nhiều nguời đọc yêu thích và chia sẻ, đặc biệt là những bài về nhạc Đoàn Chuẩn-Từ Linh, nhạc Nguyễn Văn Đông, nhạc Nguyễn Hiền, nhạc Trịnh Công Sơn… Người ta yêu thích những bài ấy không chỉ vì lối văn lôi cuốn mà còn vì những ý tưởng thật là mới, thật là đẹp được tìm thấy qua những dòng chữ ấy.  Thưa quý vị và các anh chị, đến đây Bích Huyền không thể nào không xin phép trích ra ít câu ngăn ngắn trong một vài bài của anh Lê Hữu, để dẫn chứng và để gọi là “minh họa” cho những điều Bích Huyền vừa trình bày.
      Ví dụ, một đoạn trong bài “Người lính trong nhạc Nguyễn Văn Đông”, mời quý vị nghe qua:
      “Trong khói lửa chiến tranh, bên cạnh những nỗi bất trắc, tình yêu vẫn nở hoa, như những đóa hồng vẫn nở bên những hầm hố và hàng rào kẽm gai.  Vẫn có chút tình yêu làm quà tặng cho những người lính cầm súng chiến đấu, vẫn có những ánh mắt, “nụ cười xinh tươi” trong câu chuyện tình thời chiến, câu chuyện tình ‘người hùng và giai nhân’.”
      Hoặc, một đoạn trong bài “Hà Nội, một thoáng dư âm”, mời quý vị nghe qua:
      “Những bài hát hoài niệm về một dĩ vãng xa xôi, một quê hương xa khuất, một nơi chốn người ta đã sống, đã yêu, đã hạnh phúc, đã khổ đau, bao giờ cũng làm cho người ta bâng khuâng tiếc nhớ.
      Những người tình một thuở của Hà Nội muốn đi tìm lại Hà Nội cũ như tìm lại chính mình, như tìm lại mối tình cũ, như tìm lại một phần đời của mình còn gửi lại nơi chốn ấy.
      Cám ơn những bài hát cũ về Hà Nội đã giữ cho những giấc mơ về Hà Nội không bao giờ tắt hẳn.  Hà Nội ấy còn đọng lại trong dư âm lời ca tiếng nhạc của những bản tình ca một thuở.
      Hà Nội như một dĩ vãng đẹp và buồn.  Hà Nội chỉ còn là một thoáng dư âm.”
      Và một đoạn khác trong bài “Hát về những giấc mơ”:
      “Một bài nhạc cũ, đôi lúc chẳng có gì là hay ho lắm với người này, thế nhưng với người khác, cứ mỗi lần nghe lại là mỗi lần như khơi dậy cả ‘một trời kỷ niệm’.  Một bài hát người ta yêu thích thường gắn liền với kỷ niệm nào đó trong đời mình, và khi yêu bài hát ấy đồng thời người ta cũng yêu kỷ niệm gắn liền với bài hát ấy.”       
      Thưa quý vị và các anh chị, Bích Huyền tin rằng, bất cứ ai cũng có thể tìm thấy trong cuốn sách của anh Lê Hữu một bài hát nào đó mình yêu thích, bài hát mà “cứ mỗi lần nghe lại như khơi dậy cả ‘một trời kỷ niệm’”.  Những bài hát đánh thức trong mỗi chúng ta những giấc mơ ngọt ngào, những bài hát gợi lại trong mỗi chúng ta những kỷ niệm ấm áp của những ngày xưa êm đềm.  Những bài hát ấy, những khúc nhạc quen thuộc ấy chính là “âm nhạc của một mùa kỷ niệm”, hay nói như anh Lê Hữu, “Âm Nhạc Của Một Thời”.
      Và Bích Huyền cũng tin rằng, bất cứ ai có tâm hồn yêu âm nhạc, yêu thi ca, yêu văn chương, hoặc muốn tìm hiểu về nền tân nhạc Việt của một thời đã qua sẽ tìm thấy những gì mình yêu thích; và hơn thế nữa, sẽ tìm lại được “tình yêu âm nhạc” của mình, hay… tìm lại được chính mình qua những trang sách của anh Lê Hữu.  Những trang sách đưa chúng ta về lại một thời nào đã sống sôi nổi, đã yêu thiết tha, một thời nào đầy ắp thương yêu và kỷ niệm.
      Sau cùng, để đánh dấu “mối duyên văn nghệ” không chỉ với tác giả cuốn sách mà với tất cả quý thân hữu mà Bích Huyền có duyên may được gặp gỡ và chuyện trò đêm nay, Bích Huyền có một món quà văn nghệ nho nhỏ xin được gửi đến tất cả.  Đó là một dĩa CD thu âm một vài “Chương trình thơ-nhạc” của đài Tiếng Nói Hoa Kỳ, trong số nhiều bài mà Bích Huyền đã biên tập từ những bài viết của anh Lê Hữu và đã nhận được khá nhiều lời khen tặng của quý thính giả.  Món quà nhỏ này được gửi kèm với sách “Âm Nhạc Của Một Thời” của anh Lê Hữu, để đánh dấu mối duyên văn nghệ với quý vị và quý anh chị trong “Đêm thơ-nhạc và Giới thiệu sách” này.
     Bích Huyền xin hết lời và xin cám ơn quý vị và quý anh chị đã lắng

     Bích Huyền

Lê Hữu và "Thân Hữu"
 




Biển Đỏ Việt Nam (Chinh Nguyên)

BIỂN ĐỎ VIỆT NAM.
  Chiều thứ bẩy 01 tháng 11 năm 2008 tôi lái xe trong khi trời mưa đầu thu có gió gây lạnh để tới Học Khu Franlin McKinley Shool District số 463 Wool Creek Dr. San Jose Ca. 95112 để dự buổi ra mắt sách của tác giả còn trong quốc nội, anh Nguyễn Quang.
  Sách do nhóm Cội Nguồn ấn hành và xuất bản hầu yểm trợ tinh thần cho những nhà văn trong nuớc bất đồng chính kiến đã can đảm bước qua được sự sợ hãi để nói lên tiếng nói tranh đấu bằng ngòi bút cho tự do dân chủ và nhân quyền tại  Việt Nam.
  Sau phần nghi lễ chào quốc kỳ Hoa kỳ và Việt Nam. Qua lời cám ơn các quan khách tới dự có đọc tên của hai MC anh Hoàng Tuấn, Chị Thủy Tiên. Tôi nhìn quanh  và thấy thành phần văn nghệ sĩ đông đảo hơn cả mặc dù trời mưa, nhưng vì cái tình của người cầm bút và hổ trợ đấu tranh.
Trong số quan khách có Cụ Tiêu Hữu Bích, Cụ Trương Đình Sửu, Họa Sĩ Đào Hải Triều,Ông Trần Ngọc Ảnh, Ông Nguyễn Cao Can, Ông Đỗ Hữu Nha, Nhà thơ  Đông Anh chủ tịch Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt, Nhà Thơ Trường Giang, chủ tịch nhóm Thi Đoàn Bốn Phương, Nhà Văn Giao Chỉ, Giám Đốc IRCC,  Nghệ sĩ Đan Hùng, Nhà thơ/nhà văn Hoàng Văn, Võ Thạnh Văn, Ngọc Bích, Thiên Tâm và phu nhân,   Thi cầm, Ngọc Đoàn, Dạ Chi, Ngô Đình Khôi, Bùi Duy Thuyết, Mai Hoài Thu, Mạc Phương Đình, Nhà Báo kỳ cự Thanh Thương Hoàng, anh Cao Sơn, anh Lâm Văn Sang,  v..v..

  Sau phần giới thiệu quan khách anh MC Hoàng Tuấn gìới thiệu nhà thơ Song Nhị, anh Song Nhị là thành viên trong ban tổ chức đại điện tác giả Nguyễn Quang ra mắt cuốn sách Biển Đỏ Việt Nam tại San Jose.
Nhà thơ Song Nhị phát biểu như sau : “ Vì một lý do nào đó Tác giả Nguyễn Quang đã bị tòa Đại sứ Mỹ từ chối không cho qua Mỹ để ra mắt cuốn sách của ông mặc dù ông rất ao ước gặp đồng hương tại quốc ngoại” Nhà thơ Song Nhị nói Tiếp :”Tác gỉa đã bị tù Cộng Sản nhiều năm vì lý do đấu tranh bất bạo động, tác giả viết ra cuốn sách Biển Đỏ Việt Nam bằng tấm lòng, nên nhóm Cội Nguồn cũng vì tấm long mà phát hành cuốn sách này hầu hộ trơ anh cũng như hổ trợ các văn nghệ sĩ đấu tranh tại Việt Nam…”

  Sau bản nhạc Tiếng Dân Kêu của nhạc sĩ Xuân Điềm được phát ra bằng CD, chị Thủy Tiên giới Thiệu nhà thơ Võ Thạnh Văn nói về cá nhân tác giả Nguyễn Quang, vì nhà thơ Võ Thạnh Văn là bạn thân, anh Võ Thạnh Văn tả về tác gỉa Nguyễn Quang như sau :” Chúng tôi lớn lên với nhau…ăn cùng mâm, ngủ cùng chiếu và đôi CS khi pháo kích chúng tôi trốn cùng hầm…Và bàn chuyện công danh thời thanh niên lãng mạn đầu đời…Tác giả Nguyễn Quang thông minh can đảm, miệt mài học tập và gan dạ… Biển Đỏ Việt Nam là một phản ảnh trong đời sống của tác gỉả. Tác gỉa đã đối chất với CS trên tòa án , chính vì thế mà bị CS bỏ tù đáng lý 17 năm nhưng đã tăng lên thành 20 năm mặc dù chưa một ngày trong quân đội VNCH. Có lẽ tác giả được hưởng gia tài văn chương của Ông Nguyễn bá Tính, một dưỡng phụ và được ở gần Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận để học về đạo đức cho nên tác giả đã có những đức tính tốt mà chúng ta đã có…Chính vì thế mà tác giả đã dám đứng lên đấu tranh bất bạo động và dùng ngòi bút viết ra cuốn Biển Đỏ Việt Nam…”

  Tác Giả Nguyễn Quang cũng đã dùng điện thoại liên lạc với ban tổ chức để cám ơn quý quan khách đã tới dự bưổi ra mắt sách Biển Đỏ Viẹt Nam của anh.

  Sau “Tà Áo Quê Hương” của nhạc sĩ Từ Huy do nhóm phụ nữ Bắc Cali trình bày, nhà thơ Diên Nghị phát biểu về cuốn sách :”Việt Nam dưới quyền thống trị của CS nên không có tự do và nhân quyền, cho nên có những phong trào tranh đấu trên thế giới đang phát động…
Chúng ta hãnh diện đã là những thành phần đấu tranh cho dân chủ và tự do…Nhà văn Nguyễn Quang nuôi dưỡng ý chí và dấn thân ngay trên quê hương  bằng ngòi bút của anh qua Biển Đỏ Việt Nam…”

  Tiếp theo nhà văn Giao Chỉ, Vũ Văn Lộc đã đọc cuốn sách và ông phát biểu như sau :”Tôi đã đọc rất kỹ ba bốn lần mới hiểu được tác gỉa muốn nói gì với chúng ta trong cuốn sách Biển Đỏ Việt Nam… Tôi hiểu được rằng tác gỉa là người can đảm dám chống đối CS ngay trong buổi điều tra đề ra tòa, nhưng đặc biệt nhất là câu chuyện một bà vợ tù nhân cải tạo của một sĩ quan QLVNCH đã đem tám con đi thăm và ở lại ngay trong tù … có nghĩa nhà tù CS đã ghê gớm, nhưng ở ngoài nhà tù CS còn ghê gớm hơn vì đói khát, không còn gì để sống mà phải

vào tù Cộng Sản mới có thể sống
…! 
Tôi buuớc qua quầy bán sách mua một cuốn Biển Đỏ Việt Nam với hậu ý mưa sách hổ trợ tác gỉa Nguyễn Quang. Tôi đọc đọan văn cuối trong lời gìới thiệu sách của nhà văn Song Nhi/NXB  ở bìa sau và kể như đây là lời kết luận :  “Sau năm 1975, cầu Bến Hải nối liền hai miền Nam Bắc không bằng yêu thương tình tự, mà bằng cuộc trả thù khốc liệt, dai dẳng tạo thành một biển đỏ trên cả nước – Biển Đỏ Việt Nam.
  Biển Đỏ Việt Nam là một thứ Gulasg của bạo chúa Stalin được CSVN rặp khuôn dựng lên khắp ba miền đất nước sau khi thể chế dân chủ, tự do nhân bản của miền Nam bị đồng minh bán đứng…”
                                                                                                             Gíá bán US$20.00
  



Tha Nhân : Giới Thiệu Sách Giọt Sầu Quê Hương

 

 

 

 

 

 

 

 




Ra Mắt Sách 8406 tại Sacramento (Chinh Nguyên)

 

Ra Mắt Sách 8406 tại Sacramento

(Tin San Jose- Văn Thơ Lạc Việt)

 

Image result for LM Tađêô Nguyễn Văn Lý image

   Ngày Chủ Nhật 25 tháng 5 năm 2008 hai cuốn sách 1/ LM Tađêô Nguyễn Văn Lý, Cuộc Đời Đấu Tranh Cho Tôn Giáo và Dân Chủ Nhân Quyền. và 2/ Nhóm LM Nguyễn Kim Điền, Cuộc Đời Đấu Tranh Cho Tôn Giáo và Dân Chủ Nhân Quyền do cơ sở Văn Thơ Lạc Việt ấn hành được ra mắt trong buổi lễ tại hội trường Stockton Boulevard Partnership, 5625 Stockton Blvd. Sacramento, CA. 95824 vào lúc 12:00 trưa.

 

   Buổi ra mắt sách do ông Trần Văn Ngà, một nhà hoạt động cộng đồng và cũng là nhà hoạt động văn hóa nổi danh tại Sacramento phối hợp cùng ông Lê Văn Hải và tuần báo Thằng Mõ vùng thủ phủ tổ chức. Được biết ông Lê Văn Hải cũng là trưởng khối yểm trợ nhóm Linh Mục Nguyễn Kim Điền đã xuất bản hai cuốn sách kể trên.

 

   Buổi lễ khai mạc đúng 12 giờ trưa. Sau phần nghi lễ, ông Trần Văn Ngà tuyên bố khai mạc. Hội trường với khoảng 100 ghế đã được ngồi kín, ông Ngà nói:”Hôm nay là ngày Chủ Nhật cũng là ngày lễ cuối tuần nên có nhiều lễ hội khác nhau, do vậy mà số quan khách thường tham dự các buổi ra mắt sách bị chia xẻ đi rất nhiều. Nhưng đặc biệt là sách này của Khối 8406 nên đã tập họp được những quý vị có tâm huyết muốn yểm trợ cho những cuộc đấu tranh tại quốc nội. Quý vị đã bỏ thời giớ quý báu lại còn bảo trợ bằng tài vật lực cho buổi ra mắt sách thành công.”

 

   Sau đó ông giới thiệu các diễn giả chính là ông Lê Văn Hải trưởng khối yểm trợ nhóm Linh Mục Nguyễn Kim Điền, người đã dẫn đầu phái đoàn từ San Jose lên tham dự gồm có nhà báo lão thành Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, nhà thơ Đông Anh, nhà văn Chinh Nguyên, nhà báo Cao Sơn, ông bà Ngô Sĩ Hùng đài phát thanh Bình Minh San Jose, ông Thừa Trần chủ nhà in đã hoàn tất hai cuốn sách của khối 8406. Ông Hải trình bày những lý do mà khối yểm trợ được thành lập và chỉ với mục đích hỗ trợ cho quê nhà có phương tiện hoạt động đấu tranh.

 

   Kế tiếp là ông Đoàn Thi chủ tịch phong trào yểm trợ đấu tranh quốc nội vùng thủ phủ Sacramento lên kêu gọi mọi ngưỡi hãy tích cực yểm trợ cho các nhà hoạt động cho dân chủ nhân quyền đang đối đầu với hiểm nguy và khó khăn tại quê nhà.

 

   Sau cùng nhà báo lão thành Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh trình bày một đề tài đặc biệt là Đấu Tranh Cho Tôn Giáo và Dân Chủ Nhân Quyền đang sảy ra tại Việt Nam. Cả hội trường yên lặng say mê theo rõi.

 

   Sau đó là phần phát biểu của quan khách. Trong số đó có ông Hùng là cơ sở địa phương của Việt Tân và cô Diễm Hương, phóng viên đài phát thanh VOA và Tiếng Nước Tôi lên mời mọi người tham dự buổi họp báo của nhà hoạt động Nguyễn Quôãc Quân mới từ ngục tù Cộng Sản trở về vào ngày 31 tháng này.

 

   Sau cùng ông Ngà tổng kết tài chánh đã thu được trong buổi ra mắt sách. Ngoài việc chi phí về tổ chức do các nhà bảo trợ cung ứng, ban tổ chức còn mời tất cả quan khách tham dự buổi ăn trưa rất thịnh soạn. Số tiền thu được US$1335.00 tại chỗ hoàn toàn giao hết cho khối yểm trợ nhóm Linh Mục Nguyễn Kim Điền theo thông cáo chính thức của khối đính kèm.

 

   Ngoài ra chúng tôi được biết hai cuốn sách của khối 8406 đã được tổ chức ra mắt sách tại San Jose thu được 5,163.00 dollars, tại Houston, Texas thu được $2,800.00 tại Dallas, Texas thu được $1,016.00. Tổng cộng là $11019.00 tính cả số tiền thu được tại Sacramento $ 2,040.00. Số tiền trên được ký thác vào ngân hàng dưới chương mục “Democracy Fund for VietNam”. Đây là số thu thực sự. Tất cả mọi chi phí ăn ở, di chuyển của những thành viên đi từ San Jose đều tự túc.

 

   Mỗi khi lấy tiền ra hoặc gửi vào đều phải có sự hiện diện của hai ông Lê Văn Hải và Chinh Nguyên cùng hai chữ ký.

 

   Tính đến nay đã gửi về cho khối 8406 hai đợt là $2,000.00. Chi phí tiền gửi 2 lần là $80.00. Ông Chinh Nguyên cho biết rằng theo yêu cầu từ Việt Nam thì chỉ nên gửi mỗi tháng một lần, mỗi lần một ngàn. Khối yểm trợ không tiết lộ tên người nhận ở Việt Nam để tránh gây khó khăn cho họ. Khi nhận được tiền đều có biên nhận và e-mail xác nhận của người có thẩm quyền trong khối 8406. Ông Chinh Nguyên hiện đang lưu giữ các tài liệu này.

 

   Nhà văn Chinh Nguyên dự trù sẽ tổ chức ra mắt sách tại Nam Cali, Washington DC và tại Seattle trong thời gian sắp tới.

 

Đông Anh ghi lại

 

Trân Trọng Thông Báo

 

Thay mặt Khối Yểm Trợ nhóm Linh Mục Nguyễn Kim Điền 8406.

 

   Chúng tôi thành thật cám ơn tất cả quí vị trong ban tổ chức, bảo trợ, báo chí truyền thông và tất cả các quí vị quan khách đã có lòng hỗ trợ buổi RMS gây quỹ cho khối 8406, tại Sacramento, ngày Chủ Nhật 25 tháng 5 năm 2008 cho hai cuốn sách :

 

   1/ LM Tađêô Nguyễn Văn Lý, Cuộc Đời Đấu Tranh Cho Tôn Giáo và Dân Chủ Nhân Quyền.

 

   2/ Nhóm LM Nguyễn Kim Điền, Cuộc Đời Đấu Tranh Cho Tôn Giáo và Dân Chủ Nhân Quyền.

   Tại hội trường Stockton Boulevard Partnership, 5625 Stockton Blvd. Sacramento, CA. 95824, lúc 11:00 trưa.

   Cuối chương trình ra mắt sách, trong buổi họp tổng kết,ờ nhóm kiểm sóat tài chánh gồm có :

1/ Ông Trần Văn Ngà

2/ Chị Thu (bà Ngô Sĩ Hùng)

3/ Ông Ngô Sĩ Hùng

4/ Nhà văn Chinh Nguyên

   đã làm việc tích cực dưới sự giám sát của Ban Tổ Chức để có một kết quả cuối cùng vào lúc 2:15 chiều cùng ngày. Danh sách các vị hảo tâm và tiền hổ trợ khối 8406 của mỗi cá nhân, đã được Ông Trần Văn Ngà trưởng ban tổ chức đọc trong buổi ra mắt sách ở cuối chương trình, và mọi quí tham dự đều công nhận đúng.

   Đại diện Ban Tổ Chức Ông Trần văn Ngà, cũng như anh Lê Văn Hải Trưởng khối Yểm trợ Nhóm lm Nguyễn Kim Điền đều chấp nhận tuyên bố số tài chánh thu được không trừ bất cứ phí khoản nào là: US$1335.00. và số tài chánh hỗ trợ gởi thẳng tới Ông Lê Văn Hải tại địa chỉ : Quỹ Yểm Trợ Đấu Tranh Dân Chủ (Democracy Fund For VietNam) la : US$705.00.

 

Tổng cộng : US$2040.00

 

Số tiền này đã được ký thác vào ngân hàng dưới chương mục Democracy Fund For Vietnam và sẽ gởi về khối 8406, VN.

 Gía bán hai cuốn  US$40.00 

Trân trọng thông báo quý vị cùng rõ.

Lê Văn Hải
Chinh Nguyên

 

2008-10-16 14:05:47

 




Trung Tướng Đặng Văn Quang Vinh Quang và Đau Khổ

*Tuệ Ngọc ghi thuật

 

 

 

   

   

 ang của

  

    

      

    

 

 

 

 

  




Việt Nam : Suối Nguồn Văn Minh Phương Đông

 

VIỆT NAM : SUỐI NGUỒN VĂN MINH PHƯƠNG ĐÔNG

Image result for SUỐI NGUỒN VĂN MINH PHƯƠNG ĐÔNG image

Tác phẩm Việt Nam Suối Nguồn Văn Minh Đông phương của tác giả Du Miên Lê Thanh Hoa
vừa ra mắt tại San Jose Ngày thứ bẩy 08 tháng 11 năm 2008 tại Hội Trường Học khu Quản Trị Trung Học East Side số 830 N. Capital Ave. San Jose CA. 95133
Sau nghi lễ chào quốc kỳ tôi thấy :
Nhà báo bình luận gia Sơn Điền Nguyẽn Viết Khánh, gìới thiệu tác phẩm.
Nhà văn cựu chủ tịch báo chi VN Thanh Thuuơng Hoàng. giới thiệu tác giả.

Hầu hết thân hữu tới dự buổi ra mắt sách dường như có sự chọn lựa để tới với cuốn sách hơn là tới với tác giả. Tôi nhận thấy có các quí vị :
Nhà văn Trần Nam Giang, Ông Lê Duy San, Nhà thơ Bùi Ngọc Tô – Huệ Thu, Nhà văn Dương Diên Nghị, Nhà thơ Song Nhị, Ông Hàn Phong Cao – Nữ sĩ Vũ Triều Nghi, hoa hậu Bích Liên
Cụ Toaàn và cụ Sửu v.v..
Trong lời mở đầu chào quí quan khách anh Lê Văn Hải báo Thằng mỡ phát biểu : “Xin chân thành cám ơn tất cả quí vị có mặt trong buỏi ra mắt hôm nay.
Một cuốn sách đặc biệt không viết bởi nhà biên khảo, nhà văn mà là nhà báo gần hai mươi năm tìm tòi dữ kiện lịch sử của người Việt trong thời cổ đại, để chứng minh văn minh của giống Bách Việt, sống cạnh Trung hoa bá quyền, và đã bị người Trung Hoa cập nhật tất cả những phong tục tập quán và nhận vật lich sử của giòng Bách Việt vào Trung Hoa và nhận là gia tài văn học của họ.
Ông Hải đã nêu tên ra những nhân vật lịch sử của giống Việt đã chống nhà Nguyên ngay trên đất Tàu và chiến cả nửa đất Tàu, cũng như đã có người được người Tàu thờ là ông tổ đúc súng thần công và một nhà kiến trức sư đã vễ kiểu và xây Tử Cấm Thành nổi danh tới ngày nay cho Trung Hoa..v..v
Mộng thống nhất thiên hạ của người Tàu đã có tự trong máu, và hiện nay chính quyền Cộng Sản Việt Nam đã nhu nhược nên chúng ta đã mất Thác Bản Dốc, chưa kể Hoàng Trường sa.
Hồn nước mất trước, nước mất sau, Tác phẩm Việt Nam Sối Nguồn Văn Minh Phương Đông
Là một tác phẩm bồi dưỡng cho tinh thần hồn Việt Nam ”.

Tiếp theo Nữ sĩ Triều nghi gìới thiệu Nhà báo Bình luận gia Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, Sau khi gởi lời chào tới quí vị quan khách, ông có vài lời như sau : Tối rất quan tâm đến nguồn gốc dân tộc Việt nhất là khi chúng ta đang sống ở xứ ngọai. Cuốn sách đã hấp dẫn tôi bởi dòng chữ Việt Nam Suối nguồn Văn Minh Phương Đông. Ông giải thích nguồn gốc của hai chữ Văn Minh và văn minh dân tộc sẽ như thế nào trong văn học lịch sử Việt Nam từ ngàn xưa tới ngày nay.
Văn minh là trình độ phát triền đến mức độ cao nhất của xã hội loài người, Có nền văn hoá, vật chất và tinh thần nối kết những đặc tính của mỗi một dân tộc. Văn hoá là tổng thể nói chung những giá trị vật chất tinh thần như văn học nghệ thuật do mối một dân tộc tạo ra trong quá trình lịch sử. Hai chữ Suối nguồn là một nguồn gốc văn hoá Việt đã và đang tìm kiếm và thấy được qua chữ viết, dấu tích chứng cứ rõ rệt…
Cuốn sách Viêjt Nam Suối Nguồn Văn Minh Phương Đông của Du Miên Lê Thanh Hoa đã làm nổi bật rất rõ nét của dân tộc Việt bắt đầu từ nguồn gốc lịch sử loài người với bằng chứng có thực qua sự nghiên cứ biên khảo.

Sau Nhà Văn Thanh Thương Hoàng, nói về tiểu sử tác gỉa là những bản nhạc quê hương do nhóm Phụ nữ Bắc Cali của nhà thơ Ngọc Bích hổ trợ giúp vui.

Một tác phẩm có giá trị thiết thực cho nền văn minh Việt Nam, một nền văn minh đã và đang bị đánh cắp bởi Trung Hoa với mộng bá quyền từ ngàn xưa đến nay, văn minh nhân bản nông nghiệp của dòng bách Việt.
Cuốn sách có thể gợi ý hoặc sẽ phản ảnh cho những cuộc nghiên cứu về nguồn gốc Việt trong những thế hệ mai sau.
Tuy nhiên nếu cứ khư ôm lấy quá khứ để rồi hãnh diện không tiến tới theo trào lưu tiến hoá của nhân loại, dòng lịch sử văn minh Việt một ngay nào đó sẽ bị Hán Tộc dùng sức mạnh về kinh tế cũng như quân sự đè bẹp như hiện nay.

 Việt Nam Cộng Sản đã và đang bị đòi hỏi nhượng đất và cướp linh hồn Việt bởi Trung Cộng.

Trưởng ban tôr chức : Nhà văn Sao Biển.
Phó trưởng ban : Ông Lê Văn Hải, tuần báo Thằng Mõ
MC : nhà văn Sao Biển và nữ Sĩ Triều Nghi.

Giá bán US$50.00

 

 




Quốc Nam : Trận chiến An Lộc,

An-Lộc Foundation ra mắt thành công tốt đẹp tại thành phố Houston

* Trận chiến An-Lộc khủng khiếp hơn trận Điện Biên Phủ, và Đảng CSVN đã thảm bại nhục nhã trước Quân Dân VNCH

 

HOUSTON (TMN News).- Hàng chục chiến sĩ QLVNCH trong quân phục lá hoa rừng đứng nghiêm chỉnh trước di ảnh cố Danh Tướng Lê Văn Hưng trong Chương Trình ca nhạc vinh danh Người Lính VNCH, đã làm nức lòng hội trường, mở đầu Lễ ra mắt An-Lộc Foundation. Vào đúng 3:15G chiều Chủ Nhật ngày 8 tháng 7 năm 2012, tại Trung Tâm Việt-Mỹ thành phố Houston, tiểu bang Texas (USA).

Mở đầu, cựu Thiếu Tá BĐQ Nguyễn Ngọc Khoan (Trưởng Ban Tổ Chức) chào mừng quan khách và đồng hương hiện diện. Ông giới thiệu trước cử tọa cựu Trung Tá Nguyễn Ngọc Ánh (Chủ Biên quyển sử liệu ‘Chiến Thắng An Lộc 1972’, nguyên Phụ Tá Hành Quân Trung Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn 3 Quân Khu 3 đặc trách chiến trường An Lộc & ngoại biên). Ông Ánh bước lên sân khấu bày tỏ lòng tri ân đến những chiến sĩ anh hùng đã hy sinh trong trận An Lộc, cùng một số cựu sĩ quan tham dự chiến trận An Lộc còn sống, điển hình như Chuẩn Tướng Mạch Văn Trường, Y sĩ Thiếu Tá Trần Văn Tính, Thiếu Tá Ngô Xuân Vinh, Thiếu Tá Nguyễn Sơn, Đại Úy Lê Đắc Lực, Trung Úy Lê Đình Trân v.v… Ông kể lại bao nỗi khó khăn khi thu thập tài liệu và những nhân chứng sống của chiến trận An Lộc. Tuy vậy, ấn bản đầu tiên dầy 504 trang đã được xuất bản năm 2006. Sau đó, bổ túc thêm, thời gian kéo dài tới cuối năm 2010 đã lên tới 800 trang.

Cuối diễn văn, cựu Trung Tá Nguyễn Ngọc Ánh long trọng giới thiệu 1 cựu Sĩ Quan Võ Bị Dalat chia xẻ trách nhiệm với ông, cùng thành lập An-Lộc Foundation, tiếp tục dự án chuyển qua Anh Ngữ quyển sử liệu ‘Chiến Thắng An-Lộc 1972’ để đưa vào dòng lịch sử thế giới. Đó là thi sĩ Quốc Nam. Ông Ánh nói: ‘Hiện là Tổng Giám Đốc Đài phát thanh toàn cầu SRBS-HD Radio, ông Quốc Nam từng được bác sĩ/nhà sử học Trần Đại Sỹ và Giáo sư/học giả Vũ Ký gọi là ‘Nhà Văn Hóa VN’.

Thi sĩ Quốc Nam bước lên sân khấu chính thức nhận nhiệm vụ Chủ Tịch An-Lộc Foundation. Ông giới thiệu Ban Điều Hành sơ khởi Tổ Chức Mới này gồm Cố Vấn Đoàn: cựu Đại Tá Phan Văn Huấn (nguyên Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 81 Biệt Cách Dù) & cựu Trung Tá Nguyễn Ngọc Ánh; Chủ Tịch là Quốc Nam, Phó Chủ Tịch là cựu Thiếu Tá Ngô Xuân Vinh (nguyên Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 16 Nhẩy Dù, Người Hùng suýt vong mạng trong trận Đồi Gió, An Lộc ngày 19/4/2072), Tổng Thư Ký là nhà báo Bùi Quốc Hùng (cựu SVSQ Trừ Bị Thủ Đức, Biên Tập Trưởng tuần báo Việt Báo Miền Nam), và Thủ Qũy là bạn trẻ Nguyên Ngọc Minh ở Nam California (Cao Học Giáo Dục).

Tiếp đó, cựu Trung Tá Nguyễn Ngọc Ánh đã Đại Diện Ban Biên Tập quyển sử liệu ‘Chiến Thắng An-Lộc 1972’ trao tay Ông Quốc Nam một quyển CD An Lộc Danh Dự, để An-Lộc Foundation toàn quyền xử dụng trong mục tiêu công ích.

Trong bài diễn văn nhận chức Chủ Tịch ALF, thi sĩ Quốc Nam nói: ‘Trước khi nói về chủ đề chính ngày hôm nay, tôi xin phép tâm sự đôi điều với quý vị. Sở dĩ tôi nhận nhiệm vụ khó khăn này, vì một vài chi tiết sau đây: Thứ nhất.- Từ năm 1970, tôi đảm nhiệm chức vụ Chủ Biên Hãng thông tấn Tin Miền Nam. Từ năm 1972 Hãng tôi có đặc phái viên quân sự rất xuất sắc là bác sĩ Trần Đại Sỹ.  Do đó, Hãng Tin Miền Nam loan tin về trận chiến An Lộc nhanh chóng hơn cả các hãng thông tấn quốc tế và đài BBC. Từ  đó, các văn phòng Thượng Viện / Hạ Viện & báo chí đều dùng tin của chúng tôi, thành ra trên thực tế Hãng TMN qua mặt Việt Tấn Xã của chánh phủ VNCH về các nguồn tin chiến sự và chống bất công / tham nhũng. Đặc phái viên Trần Đại Sỹ là bạn đồng môn Thiếu Sinh Quân với Trung Tá Nguyễn Ngọc Ánh, hồi đó là phát ngôn nhân của Quân Đoàn 3 Quân Khu 3. Hãng TMN chúng tôi đã tích cực hỗ trợ thông tin cho trận chiến An Lộc suốt 93 ngày đêm tử chiến với Bắc Quân. Thứ hai.- Năm 1972, tôi là đương kim Chủ Tịch Khu Hội Phế Binh Quân Khu 3 với 12 Tỉnh Thị Hội Phế Binh trực thuộc, nên khi trận An Lộc chấm dứt 1 tháng sau, phái đoàn chúng tôi đã có mặt tại thị trấn An Lộc để phát quà và uỷ lạo anh em Phế Binh & một số gia đình cô nhi quả phụ.

Chính bởi 2 lý do nêu trên đã khiến tôi gắn bó với Chiến Thắng An Lộc 1972 và cựu Trung Tá Nguyễn Ngọc Ánh đến tận ngày hôm nay.

Chúng tôi nhận định rằng: Trong cuộc đấu tranh Quốc-Cộng trải dài nhiều thập niên, Đảng CSVN đã rất hãnh diện về trận chiến Điện Biên Phủ năm 1954, nhưng họ quá nhục nhã khi thảm bại trận chiến An Lộc năm 1972. Có thể nói trận An Lộc 93 ngày đêm kinh khủng hơn trận Điện Biên Phủ 55 ngày kịch chiến.

Kể từ ngày Hồ Chí Minh và đồng bọn mang chủ nghĩa Cộng Sản vào Việt Nam hơn 80 năm qua, đất nước Việt Nam đã chịu đựng biết bao tang thương đổ nát, kể cả nền văn hóa dân tộc và đạo đức xuống dốc thê thảm. Trong hơn 20 năm chiến tranh giữa Miền Bắc và Miền Nam VN (1954-1975), Bắc Quân đã không thể thắng được QLVNCH trong rất nhiều trận đánh, kể cả Tết Mậu Thân 68 và Mùa Hè Đỏ Lửa 72. Tuy nhiên, trận chiến lớn nhất trong dòng lịch sử đấu tranh Quốc-Cộng vẫn là trận An Lộc. Đây là sự thất bại nhục nhã muôn đời của Đảng CSVN (với sự hỗ trợ tối đa của Trung Cộng & Liên Sô) trước sức chiến đấu dũng mãnh của Quân Dân Miền Nam.

So sánh như vậy, để mọi người thấy rằng: Đảng CSVN không thể thắng được VNCH vào ngày 30 tháng tư 1975, nếu không được một số thế lực ngoại bang sắp xếp trên bàn cờ Quốc Tế. Những tài liệu giải mật của các thế lực liên hệ trong 37 năm qua, đã hiện rõ nghịch cảnh này.

Tuy vậy, các loa tuyên truyền của Đảng CSVN vẫn ra rả nhận là Đảng Ta đã có công đánh thắng Tây và ‘Mỹ-Ngụy’. Nhưng sự thật lịch sử hoàn toàn không phải như thế. Trận chiến Điện Biên Phủ, Đảng CSVN với sự tham chiến của Hồng Quân Trung Cộng và võ khí dư thừa của Nga-Tàu đã thắng được Quân Đội Pháp năm 1954 sau 55 ngày kịch chiến. Vậy mà Đảng Ta cực kỳ hãnh diện, tự ca ngợi trên sách báo và chuyển tài liệu ra nhiều loại ngoại ngữ (như Anh, Pháp, Trung Hoa v.v…).

Trong khi đó, trận chiến An Lộc 93 ngày đêm khủng khiếp, được coi là lớn nhất trong lịch sử đấu tranh Quốc-Cộng, thì 40 năm sau ngày Quân Lực VNCH chiến thắng (7/7/1972) vẫn chưa được ghi nhận đúng mức. Chúng tôi nghĩ rằng ấn bản Anh Ngữ & Pháp Ngữ rất cần được phổ biến vào dòng Lịch Sử Thế Giới. Đó sẽ là một thông điệp mạnh mẽ cho Quốc Tế biết rằng: Quân Dân VNCH thực sự anh dũng, và ghi vết đen nhục nhã lên mặt Đảng CSVN từng thảm bại tại chiến trường An Lộc năm 1972, để chúng bớt huênh hoang là Đảng Ta thắng Tây & thắng Mỹ…

Cá nhân Quốc Nam tôi, với khả năng của một Tác Giả có 20 tác phẩm đã xuất bản trước & sau năm 1975, cùng kinh nghiệm của Giám Đốc Điều Hành nhà xuất bản Đông Phương suốt 36 năm qua, chúng tôi sẽ tìm thêm hình ảnh & tài liệu về trận chiến An Lộc, để viết lại quyên sử liệu quan trọng này dầy khoảng 450 trang, thay vì quyển CD Việt Ngữ hiện nay dày tới 800 trang sách thông thường. Sau đó, An-Lộc Foundation sẽ nhờ một nhà xuất bản Hoa Kỳ ở New York giúp đỡ, và nhóm cầm bút Mỹ chuyên nghiệp sẽ ‘edit’ quyển sách Anh Ngữ ‘Chiến Thắng An-Lộc 1972’, trước khi tung ra công luận quốc tế. Có như thế, quyển sử liệu ấn bản Anh Ngữ ‘Chiến Thắng An-Lộc 1972’ sẽ dễ dàng đưa vào dòng lịch sử & quân sử Thế Giới, để các thế hệ Việt Nam còn mãi mãi hãnh diện về QLVNCH và Quân Dân Miền Nam VN Tự Do.

An-Lộc Foundation năm nay thành hình, là quyết tâm cùng Quân Dân VNCH chuyển dịch ra Anh Ngữ tập sử liệu ‘Chiến Thắng An Lộc 1972’, để xuất bản thành sách bìa cứng, rồi gởi biếu các quốc gia Thành Viên Liên Hiệp Quốc, các Sử Gia, các Thư Viện lớn, các cơ quan truyền thông quốc tế & Việt Ngữ, một số nhân vật liên hệ với cộng đồng Người Việt tại các quốc gia khắp thế giới v.v… Kinh phí hoàn thành dự án này khá lớn, chúng tôi kính mong sự ủng hộ tinh thần và tài chánh từ Quý Vị. Quyển sách CD này, An Lộc Foundation xin được biếu quý vị và gia đình. Chúng tôi mong mỏi quý vị cổ động quý thân hữu khắp nơi tích cực ủng hộ dự án quan trọng nêu trên.

Nguyện cầu Thượng Đế và Hồn Thiêng Sông Núi phù hộ chúng ta – cho Đất nước Việt Nam sớm thoát khỏi ách thống trị ác độc của Đảng CSVN, và toàn Dân Việt sớm được sống trong Tự Do Dân Chủ, Hạnh Phúc Ấm No. Trân trọng’.

Sau một vài nhạc phẩm ca ngợi Người Lính VNCH giới thiệu bởi nhà thơ Cù Hòa Phong, Ông Tổng Thư Ký Bùi Quốc Hùng được mời lên sân khấu. Sau khi ghi nhận sự phát triển và sinh hoạt đa dạng của cộng đồng người Việt tại Houston, ông nhấn mạnh: ‘Chúng tôi ngạc nhiên khi được biết ở Houston có 1 Câu Lạc Bộ (CLB) Lính VNCH. Tối hôm qua, chúng tôi có dịp đến tham dự buổi sinh hoạt tại đây với quý chiến hữu thuộc các binh chủng. Trong chương trình, chiến hữu Trần Văn Chiến, người sáng lập CLB có nói: ‘Chúng ta là những người lính, không thương nhau thì ai thương’. Một chiến sĩ TQLC trẻ khác, trong bài viết về Đại Tá Nguyễn Thành Trí, nói: ‘Nếu các anh không nói thì chúng tôi biết hỏi ai?’. Là những người lính, chúng tôi luôn luôn nói về người lính và luôn vinh danh người lính VNCH. Trong 1 buổi talk show vào thứ Ba hàng tuần trên Global SRBS-HD Radio nhằm đúng ‘Ngày Quân Lực 19-6’, tôi nói với Quốc Nam : ‘Chúng ta là những người lính VNCH, nếu chúng ta không nói về người lính thì ai nói?’ Và 1 cựu chiến binh Mỹ trong chiến tranh Việt Nam mới đây viết tác phẩm trở thành ‘Best Seller’ nói về QLVNCH với tựa đề ‘Một Quân Đội Bị Bỏ Quên’. Thưa Quí vị, thỉnh thoảng ở nơi này nơi khác, một người nào đã nói: ‘Hãy quên đi quá khứ!’ Tại sao lại phải quên đi quá khứ, bởi vì quá khứ là 1  phần đời của chúng ta. Chúng ta không quên quá khứ và hơn thế, chúng ta tái hiện quá khứ trong chiến sử với ‘Chiến Thắng An Lộc 1972’. QLVNCH trong suốt cuộc chiến đã qua, chiến đấu trong gian khổ, chiến đấu cho chính nghĩa. Trong năm 1972, chúng ta có An Lộc (Bình Long Anh Dũng), có Kontum Kiêu Hùng và Trị Thiên vùng dậy ngoài Quân Khu I. Người lính VNCH chiến đấu trong tinh thần ‘Bảo Quốc An Dân’ và chiến đấu trong tinh thần ‘Vị Quốc Vong Thân’. Sau đó, nhà báo Bùi Quốc Hùng kêu gọi những người Việt Quốc Gia ủng hộ tài chánh cho ‘dự án chuyển dịch qua Anh Ngữ quyển sử liệu nêu trên’. Ông nói: Quý Vị có thể ‘donation’ một số tiền (bao nhiêu cũng được) về Qũy của ALF. Xin đề trên Check hoặc Money Order trả cho ‘An Lộc Foundation’. Tất cả danh tánh và số tiền ủng hộ của quý vị đều ghi đầy đủ trong ‘Sổ Vàng ALF’ thường xuyên tại 1 trong 4 địa chỉ websites sau đây: www.tuongvang.com, www.tuongvang.org, www.tuongvang.net  hoặc www.saigonhdradio.com. Trường hợp vị Mạnh Thường Quân nào ‘donation’ số tiền từ 1 ngàn Mỹ Kim trở lên, ALF sẽ xin phép in danh tánh trên ấn bản Anh Ngữ quyển sử liệu ‘Chiến Thắng An Lộc 1972’. Chúng tôi mong rằng dự án nêu trên sẽ là sự đóng góp chung của khối Người Việt Quốc Gia chống sự bóp méo lịch sử của Đảng CSVN xảo trá. Đây chính là công trình tập thể của tất cả chúng ta’.

Trong chương trình, đặc biệt thi sĩ Vô Tình (cựu SVSQ Võ Bị Dalat khóa 17) đã tặng ALF bài Đường Luật "Chiến Địa An Lộc" nguyên văn như sau:

Việt Nam chiến cuộc đã trôi qua,

Thí điểm tranh hùng: Cộng – Quốc Gia.

Súng đạn ngoại bang tràn lãnh thổ,

Máu xương Nam-Bắc đổ chan hòa.

Địa danh An Lộc, trang hùng sử,

Quân Lực Miền Nam chiến thắng ca.

Mưu trí, điều quân theo chiến lược,

Thơm Danh bảo vệ giải sơn hà.

Phái viên chúng tôi ghi nhận: Buổi ra mắt An-Lộc Foundation và chương trình ca nhạc chủ đề ‘Vinh danh Người Lính VNCH’ thực đông đảo quan khách và đồng bào tham dự. 4 đài truyền hình ở Houston đều đến ghi nhận sinh hoạt sống động suốt Chương Trình, gồm: BYN-TV, Vietnamese American TV, Global TV, Saigon Houston TV. Giới truyền thông hiện diện, ngoài 4 đài TVs, Đài Đáp Lời Sông Núi và Global SRBS-HD Radio, còn có các tuần báo như Saigon Nhỏ, Việt Báo Houston, Việt Báo Miền Nam, tạp chí Con Ong v.v… Hầu hết các hội đoàn Quân  Đội VNCH đều hiện diện. Các Tổ Chức cộng đồng, chúng tôi nhận thấy có Đại Việt Cách Mạnh Đảng, Liên Minh Dân Chủ VN, Lực Lượng Dân Tộc Cứu Nguy Tổ Quốc, Trung Tâm Văn Bút VN vùng Nam Hoa Kỳ v.v… Mỗi vị khách tham dự đều được Ban Tổ Chức biếu 1 hộp CD quyển sử liệu ‘Chiến Thắng An Lộc 1972’. Theo BTC, gần 300 hộp CDs này đã được phân phối. Số hiện kim được đồng bào ‘donation’ tại chỗ trên 3 ngàn Mỹ Kim. Danh sách quý vị ủng hộ đầu tiên tại Houston đã được ghi trên ‘Sổ Vàng An-Lộc Foundation’. Phát ngôn viên ALF cho biết: quý đồng hương trong & ngoài nước VN, nếu muốn được biếu quyển CD sử liệu nêu trên, hãy email tới ‘tuongvang@gmail.com’ hoặc gởi thư về ‘An-Lộc Foundation P.O.Box 18104 Seattle, WA 98118 USA’.

Được biết Chủ Tịch An-Lộc Foundation là nhà thơ nhà báo kỳ cựu Quốc Nam (cựu SVSQ Võ Bị Dalat khóa 22). Ông hoạt động cộng đồng và văn hóa liên tục hơn 37 năm qua tại hải ngoại. Hiện ông là chủ nhân Global SRBS-HD Radio phát thanh 24/7 ngót 19 năm nay, cũng là người sáng lập Giải Quốc Tế Tượng Vàng VN từ 1987 & Đại Hội Văn Chương Phụ Nữ VN từ 1995. (Tin Miền Nam News Agency, since 1970)

 




QUÁN CHIỀU THÊM ẤM CUỘC TÌNH THƠ (Hải Bằng)

 

QUÁN CHIỀU THÊM ẤM

             CUỘC TÌNH THƠ”

               
                              
* HẢI BẰNG

 

Trong cuộc hành trình dài hun hút vào thế giới thơ, càng khám phá càng thấy đẹp đẽ, mơ hồ, sâu xa, hùng tráng, bi ai. Tạo hóa đã ban cho mỗi thi nhân một cảm quan nhạy bén và lạ lùng đối với hoàn cảnh, cây cỏ, hoa, màu sắc chung quanh họ. Tuy ngôn ngữ là phương tiện diễn đạt, thế mà đối với thi nhân, ngôn ngữ cũng là thơ, một bài thơ tuyệt vời khi ý và lời đều đẹp. Vụng về tự ví cuộc hành trình “Như Khóm Lục Bình” trôi vật vờ trên sông Cửu, rồi một chiều vô tình ghé lại Quán Thơ của Cao Mỵ Nhân. Nhìn chữ Quán, có lẽ là nơi cho lữ khách tạm trú, và chủ nhân là một nhà thơ đã thành danh ít nhất là năm thập niên. Phải, Cao Mỵ Nhân đã làm thơ từ khi còn là nữ sinh Trưng Vương, nhà thơ trẻ nhất của thi đoàn Quỳnh Dao của thập niên 60. Thi sĩ Hà Thượng Nhân, một trong các vị giám khảo các cuộc thi thơ, văn toàn quốc hồi đó đã cho rằng, thi tài của nàng ngang ngửa với Trần Dạ Từ, Trần Tuấn Kiệt, Nhã Ca…

Dừng lại Quán Thơ, cũng có nghĩa là đang trong cuộc hành trình vào thế giới thơ. Ô kìa, bên dưới chữ “Quán Thơ còn có bốn chữ tháng ngày còn lại. Có thật nàng thơ muốn tìm chốn ẩn dật với những ngày còn lại ? Thì cứ xem kim chỉ nam của hồn thơ đang hướng về đâu.

 Đêm hoang lửa tắt giữa đồng

Sầu vương ánh nguyệt, nước ròng chơi vơi

Quán bên đường ngó xa khơi

Nửa khuya trăng tán, gió trời vẩn mây

…..

Quán bên đường đợi đò ngang

Vạt lau gió nổi ngày sang cạn buồn

Dường như thao thức tâm hồn

Cánh chim vừa bỏ làng thôn lên rừng

(Sau đêm lũ cạn)

 

Nàng thơ không dừng lại quán để thiền. Tâm hồn thi nhân luôn luôn bay bổng như mây trời. Tuổi nào không lãng mạn, huống hồ nàng thơ vốn không tuổi, nào ai gọi Hồ Xuân Hương là cụ, cụ bà ! Đêm đêm, Cao Mỵ Nhân vẫn lắng lòng nghe “tiếng dế kêu than” :

 

Ô, quán bên đường xa tít tắp

Giờ ni trăng đã lệch trời khuya

Có nghe tiếng dế kêu bi thảm

Ta khoác tàn y kiếm lối về

 

Chờ thư ai đó và khi thư đến, người thơ cũng ỡm ờ như bao thiếu nữ thường tình :

…..

Một trang nhung nhớ vẩn vơ

Chúng mình đang muốn giả vờ yêu đương

Mùa nầy trời bắt đầu sương

 

Chắc thu tới sớm vì vương vấn đời

Hôm qua nhận được thư rồi

Sao chưa hồi đáp còn ngồi ngắm mây !

(Thư xa)

 

Ỡm ờ chút thôi chứ niềm rung cảm thì không lý trí nào kềm hãm :

 

Bạn cho em cây hồng vàng

Quanh năm, suốt tháng chỉ toàn lá xanh

Từ khi thơ em có anh

Hồng tươi thay sắc đan thanh tuyệt vời

(Cây hồng vàng)

 

                Hay là…..

Một tháng thu vương sắc lá vàng

Vào ra ngắm nghía lòng mênh mang

Chơi vơi vạt nắng pha mầu áo

Bất chợt thư anh tới ngỡ ngàng…

(Một tháng – CMN)

 

Con người vốn yếu đuối trước định mệnh, trong nỗi nhớ thương khắc khoải, thi nhân gởi hồn vào những tín hiệu tôn giáo để tìm sự an bình :

…..

Bên trong chưa rõ sắc chiều

Bên ngoài ngoảnh cổ nhìn theo khói trầm

Chuông rơi thức tỉnh mê lầm

Nghe như tiếng mõ gọi thầm tên ai

(Bên trong – CMN)

 

Cũng trong những giây phút đó, nhà thơ Cao Mỵ Nhân mơ hồ nhận ra chân lý của cuộc đời : Như bong bóng nước mưa – Cuộc tình như bóng nước mưa – Bóng bay trên khắp nẻo thơ của người – Ta về hái đóa hoa tươi – Bóp trong tay nát chuỗi cười ròn tan…

Đó đây trong số hơn một trăm bài thơ của Quán Thơ, Tháng Ngày Còn Lại, người thưởng lãm sẽ thấy tâm hồn rung động, cảm thông và gắn bó với tác phẩm và tác giả trên từng trang thơ, từng bước phiêu lãng hay những lúc quán tưởng của thi nhân, chính tác giả đ㠓Bạt” ở những trang cuối:

“… Nên, Quán đứng lại ở bên đường mãi mãi nhìn theo cánh hoa mai trắng tung bay thật xa, thật xa tới cuối chân trời… bát ngát như khói mây…”.

Người đi hay kẻ ở buồn, chẳng biết. Cứ để tháng ngày còn lại lưu dấu thân quen (Trống vắng cũng không sao, nhưng nếu có nhau ở Chốn Bụi Hồng nầy, thì quả là Quán Chiều Thêm Ấm Áp cuộc tình thơ – CMN).

Vậy thì, Quán lại là ai ? Người thật hay chỉ là một nhân vật, nơi chốn hư cấu để người thơ tìm cảm hứng. Biết đâu, nhân buổi ra mắt Quán Thơ, Tháng Ngày Còn Lại, vào lúc 1 giờ trưa Chủ nhật 28 tháng 6 năm 2009 tại hội trường Vivo (2260 Quimby Rd., San Jose, CA. 95122) khi tâm tình, người thơ Cao Mỵ Nhân có thể bật mí phần nào điều thắc mắc đó.        

 




Giao Chỉ Vũ Văn Lộc : Thôi đành phụ nhau

 

 

Thôi đành phụ nhau

                                                                          Giao Chỉ, Vũ văn Lộc

                                       ( Viết về tác giả và tác phẩm ký ức Huỳnh Văn Lang ).

                                            

                                   

 

                                              Bác Huỳnh văn Lang, ở tuổi 90 không ai có thể sánh được.
                                     Trí tuệ sáng suốt, thể lực mạnh mẽ, lời nói vang dội, đi đứng vững vàng.
 

 

 “Để người phụ, tôi không phụ người.”

 


Giữa câu chuyện, tôi chợt nghe bác Huỳnh văn Lang nói : Tôi thà để người ta phụ mình. Tôi không phụ người.

 

Đó là cách trò chuyện của tác giả ký ức Huỳnh văn Lang. Đôi khi ông chợt nhẩy vào giữa câu chuyện. Phải theo một lúc mới bắt kịp.

Tôi hỏi: Bác nói phụ ai, ai phụ?

Trả lời: Tôi không phụ anh em tổng thống. Người anh phụ tôi, cất chức viện Hối Đoái mà không cho tôi biết. Người em giải tán kỳ bộ Cần lao của tôi mà không có lý do chính đáng. Người ta phụ tôi nhưng tôi không phụ người. Tôi thương cho người anh mà tiếc cho người em.

 

Tập Ký ức Huỳnh văn Lang gần 900 trang, tác giả dành để kính dâng hương hồn tổng thống Ngô đình Diệm và ông cố vấn Ngô đình Nhu. Ông viết lời tâm huyết:

 

                           Vô cùng thương cho người Anh và tiếc cho người em. 

                                       

Bìa cuốn sách là hình tổng thống Ngô đình Diệm. Dưới có ghi tác giả xuất bản và trình bầy.

Bìa trong là hình ông Ngô đình Nhu. Mặt trong của bìa sau là hình bà Ngô đình Nhu.

Phía ngoài bìa sau mới là hình phác họa chân dung tác giả. Phía dưới có một câu hết sức đặc biệt.

 

                           Cám ơn đời đãi ngộ tôi quá nhiều.

                           Nhưng bây giờ tôi lại thiếu quá lớn, thiếu cả vòm trời của một quê hương.

 

Theo tôi nghĩ, lời cám ơn đời của tác giả, hết sức chân thực. Đọc về cuộc đời tác giả, có thể lời cảm ơn chưa đủ. Sẽ không bao giờ đủ. Bởi vì thực ra quê hương Việt Nam đã đãi ngộ ông nhiều hơn tất cả mọi người,trong mọi thời đại. Đời ông không còn gì để phàn nàn. Nhưng bác vẫn phàn nàn bằng cả một cuốn sách.

 

Đời của bác Huỳnh văn Lang, ở tuổi 90 không ai có thể sánh được. Trí tuệ sáng suốt, thể lực mạnh mẽ, lời nói vang dội, đi đứng vững vàng. Ông thách đố với định mệnh, ông sẵn sàng đối thoại với mọi vấn đề. Ông đặt tên cho những vấn nạn lịch sử, ông phê phán nhân sự từ Âu sang Á, trong và ngoài chính quyền, trong mọi hoàn cảnh và mọi thời đại. Ông là tay chơi của xứ Nam Kỳ. Từ đá cá thia thia đến săn cọp. Ông là khai quốc công thần của Đệ nhất Cộng Hòa. Ông là người số 2 của đảng Cần Lao. Chỉ đứng sau số 1 Ngô đình Nhu.

 

                                  

                                                           Ông bà Huỳnh Văn Lang

     

Ông là người hưởng bổng lộc hợp pháp nhiều nhất của nền đệ nhất Cộng Hòa. Ông là người đứng đầu phong trào Bình dân giáo dục và nhà bảo trợ sáng lập của tạp chí Bách khoa. Ông thành hôn với giai nhân Bắc hà, con gái của nhà hàng vàng danh tiếng Đức Âm. Ông là sinh viên du học Mỹ được thủ tướng Diệm triệu hồi đích danh về giúp nước. Nhưng trong kỳ đảo chánh tổng thống Diệm, chính ông cũng lại là người sẵn sàng hợp tác với đại tướng Khiêm để hy vọng thực hiện giải pháp giữ lại tổng thống Diệm và loại bỏ ông Nhu.

Nhưng phe tướng lãnh lúc đó xét ra không cần và không tin nên đã bỏ rơi ông Huỳnh văn Lang và cả Phạm ngọc Thảo.

 

Kết quả đảo chánh thành công, hai anh em tổng thống bị giết. Người bạn gần như đồng chí của ông Huỳnh văn Lang là Phạm ngọc Thảo bị giết. Riêng ông Lang bị bắt, ra tòa và sau cùng được trả tự do. Trước sau ông bị tù chưa đến 2 năm. Tài sản bị mất khá nhiều, nhưng cũng còn lại khá nhiều vì dưới tên của bà Đức Âm, là mẹ vợ. Sau khi ra tù, lúc đó là thời kỳ nhiễu nhương giữa 2 nền Cộng Hòa. Đệ nhất đã cáo chung và nền đệ nhị chưa chính thức ra đời.

 

Cuộc đời của tác giả Huỳnh văn Lang chuyển qua giai đoạn làm ăn và trở thành phú gia địch quốc.

 

Tác giả đã liệt kê và mô tả chi tiết công việc làm ăn thành công với 4 tổ chức vĩ đại. Hòa Phong công ty nhập cảng hàng trăm ngàn xe gắn máy Honda, rồi mở Đại Á ngân hàng qua công ty Đông Phương.

Một lãnh vực khác rất mới mẻ với thị trường thương mại Việt Nam là công ty Bảo hiểm và tái bảo hiểm Phượng Hoàng.

Sau cùng là Phương Phương Export mà tác giả tự nhận là phạm 1 trong 2 tội lớn của con người. Thứ nhất là phá Sơn lâm và thứ hai là đâm Hà bá.

Công ty Phương phương là nỗ lực phá rừng xuất cảng gỗ trên toàn vùng cao nguyên Darlac, Lâm Đồng, Ban Mê Thuột, Quảng Đức, Pleiku, Kontum.

 

Xem như vậy cuộc đời của tác giả Huỳnh văn Lang hết sức phong phú, kỳ ngộ, đột biến và rất nhiều cơ hội. Chỉ riêng về cuộc đời của một con người, quá đủ để viết thành 1 cuốn trường thiên tiểu thuyết.

 

                        

                            Thiếu tướng Nguyễn khắc Bình, tác giả và Bác sĩ Nguyễn Thượng Vũ

 

Ra mắt sách

 

Tôi đã tường thuật hết sức vắn tắt đến quý vị về cuộc đời của tác giả qua chính tác phẩm của ông . Tuy nhiên còn rất nhiều chi tiết lý thú phải tự đọc mới thấy được. Bây giờ, ngang đây xin ghi lại cũng vắn tắt về buổi ra mắt sách và phần chúng tôi tham dự.

 

Khi cuốn ký ức số 1 bác Lang xuất bản có nhờ chúng tôi đọc và góp ý. Vì chỉ đơn thuần là cuộc đời của một thanh niên miền Nam mới trưởng thành. Đọc rất thú vị nên tôi có viết bài gọi là tán thưởng. Lần nầy tác giả muốn chúng tôi đọc và cho ý kiến chân thực. Dược sĩ Bẩy, người bạnSan Jose trưởng ban tổ chức cũng mời anh em tham dự và thỏa hiệp xin cứ phê phán tự nhiên.

 

Buổi ra mắt sách tại VIVO San Jose vào chiều chủ nhật phải nói là tuy không đông đảo nhưng hết sức hấp dẫn. Giáo sư Ngô đức Diễm điều hợp chặt chẽ và trật tự. Bác sĩ Nguyễn Thượng Vũ trong tình thân hữu với tác giả bao năm đã hết lòng ca ngợi bác Lang về mọi lãnh vực. Đặc biệt là về cá nhân và thành quả văn học, văn hóa. Về thú ăn chơi săn bắn và sưu tầm đồ cổ. Đến nhà văn Diệu Tần thì soạn bài công phu khi nói về tác phẩm. Rất mạch lạc và chi tiết, ông nêu lên các nhận định của bác Huỳnh văn Lang về đệ nhất và đệ nhị Cộng Hòa. Đặc biệt các đoạn tác giả lên án hoặc nhắc lại các lời phê phán về tướng lãnh trong vụ đảo chánh. Những lời phê phán hết sức nặng nề. Một đoạn ghi rõ nhất khi tác giả nhắc lại ý kiến của Phạm ngọc Thảo và cho rằng đại tá quân báo Connor cũng ghi nhận như vậy.

Nguyên văn như sau: ” Minh là đại ca đại ngu. Đôn là thằng đểu, Đính là thằng dốt, Đỗ Mậu gian, Kim là điếm chính trị, Oai là thằng hèn, Xuân là tên đại ác “.

 

Trong suốt tác phẩm, tác giả nhắc đi nhắc lại nhiều lần các tướng lãnh cầm quyền ngu, dốt, gái, tiền. Tác giả cũng thanh minh rằng khi nói đến người lính cầm quyền là chỉ các ông này. Không phải là các tỉnh trưởng và quận trưởng nhà binh.

 

Tác giả xác nhận là cuốn sách viết để tưởng nhớ anh em ông Diệm, nên các hình ảnh trình bày do chính tác giả sắp xếp là nhằm vào mục đích kể trên.

 

Rõ ràng ghi nhận tác phẩm là trải tấm lòng của tác giả với đệ nhất Cộng Hòa. Người phụ ta chứ không phụ người và đồng thời cũng lên án mạnh mẽ phe tướng lãnh đã chủ trương nhà Ngô must go toàn diện. Khác với tác giả cũng chủ trương đảo chánh nhưng chỉ có Nhu must go mà thôi.

 

Thôi đành phụ nhau

 

Rất tiếc là chúng tôi đã phụ lòng của tác giả và nhà tổ chức khi góp ý kiến quá thẳng thắn trên diễn đàn như sau:

 

Tôi buồn nhiều hơn vui khi đọc tác phẩm nầy. Ý kiến phê phán tác giả và tác phẩm thì khá nhiều nhưng vì hết sức tôn trọng tuổi tác và khí phách của bác Lang qua tình thân hữu nên chỉ trình bầy giới hạn.

 

Người xưa có nói rằng: Dân thế nào thì vua thế ấy. Quân ra sao thì tướng như vậy. Tướng lãnh của chúng tôi mà xấu xa tệ hại như thế, thì thuộc cấp còn ra làm sao. Dù rằng thực ra, nằm trong chăn chúng tôi biết chăn có rận.Trải qua bao năm quân ngũ, trực tiếp dưới quyền các tướng lãnh như thế, làm sao tôi không biết là các niên trưởng của tôi có những sai lầm tệ hại. Nhưng ngày nay rõ ràng vì thù hận mà tác giả lên án nặng nề . Hỏi là hàng cấp dưới chúng tôi, ai chả đau lòng.

 

Nghĩ đi nghĩ lại, các vị tướng mà bác Lang nhắc đến tên từ Dương văn Minh, Tôn thất Đính, Đỗ Mậu, Trần văn Đôn, Trần tử Oai, Mai hữu Xuân, Lê văn Kim xem ra đều dốt và hèn. Nhưng các vị niên trưởng khác của chúng tôi chưa vươn lên trong giai đoạn cách mạng bỏ tù Huỳnh văn Lang. Họ lên tướng đợt sau nhưng cũng có lúc vẫn vừa dốt lại vừa hèn. Ngay như thân phận anh em cùng khóa chúng tôi, có người chưa tốt nghiệp trung học mà đã ra trường sĩ quan. Nào có cơ hội học hành gì đâu mà tránh được bản án dốt nát. Sau này trải qua 21 năm chinh chiến, chuyện tứ đổ tường trong chúng tôi, anh nào cũng có lúc ra vào thong thả. Lính mà em. Chinh chiến có lúc mạnh lúc yếu, lúc can đảm lúc hèn nhát.

 

Vì vậy nghe bác chửi thượng cấp, làm sao lại không đau lòng. Lại  xin có lời thưa rằng, xem lại các thượng cấp dốt nát mà bác chê bai chửi bới thì trăm phần trăm là do tổng thống Ngô đình Diệm tin cậy, nhận xét, cân nhắc, luôn luôn với sự cố vấn hết sức tinh tế của ông Ngô đình Nhu. Rồi mới thăng cấp và bổ nhiệm.

 

Làm sao các ngài lại để ra cớ sự như vậy. Lính tráng và các sĩ quan cấp dưới chúng tôi đâu có bầu ra tướng lãnh. Đặc biệt là các tướng lãnh cầm đầu đảo chánh và sau nầy họ bắt bác bỏ tù. Vì vậy xin bác nghĩ lại không nên nặng lời với anh em như thế.

 

Bác đã từng là đệ nhất công thần của chế độ, ngày xưa khi vua bị giết, quan đại thần phải chết theo. Nay bác chỉ bị tạm giữ, xem chừng mấy ông tướng vẫn còn sợ nhân vật Cần Lao số 2 của chế độ. Lại nói về Cần Lao, xin báo cáo bác rõ dù muộn màng gần 50 năm, là ở cấp dưới chúng tôi đã khổ vì mấy ông Cần Lao biết chừng nào. Phải  chi ngày xưa tôi quen với nhân vật số 2?

 

Vấn nạn tiếp theo là trong giai đoạn người lính cai trị kéo dài suốt đệ nhị Cộng Hòa. Lính là tổng thống, thủ tướng, tỉnh trưởng và quận trưởng. Đó lại là giai đoạn mà tác giả làm giàu. Làm giàu trong chiến tranh. Thời đệ nhất Cộng Hòa tác giả tiền bạc dư thừa vì hưởng quyền lợi hợp pháp qua tiền thưởng trên công vụ điều tra sai lầm hối đoái. Quả thực không 1 người lính tham nhũng nào được hưởng quyền lợi nhiều hơn những phần thưởng hợp pháp như thế.

 

Đó chính là nguồn gốc của bất công. Khi mới ra trường, tiểu đoàn hành quân tự do thành công sau khi chết mấy anh lính. Đơn vị được thưởng là con bò chết vì lạc đạn. Trong khi đó ở trên trời cao các bác được thưởng đủ tiền mua dinh thự.

 

Cho đến năm 1975 lương của cá nhân tôi cấp đại tá cũng chỉ có năm, sáu chục ngàn tương đương với 50 mỹ kim một tháng. Suốt đời đi lính, cho đến năm 75 tôi chưa có dịp cầm trong tay tờ 100 mỹ kim. Và tôi biết rằng các anh em khác còn khốn nạn hơn nhiều. Một lần đi công tác về Tân sơn Nhất, không có xe đón đúng giờ. Tôi tháo lon leo lên xe ôm của 1 anh lính ở cổng phi trường. Khi xuống xe mới biết anh xe ôm là thiếu tá. Chiến hữu thường cũng bỏ lon chở lính Mỹ từ Tân sơn nhất về đường Tự do. Cũng là một chuyến đi làm về, có tiền mua sữa cho con.

 

Vì vậy tôi cho rằng giàu có trong chiến tranh là 1 tội lỗi. Xem ra suốt cuộc đời thành công và tung hoành ngang dọc. Tác giả dù sống trong lòng đất nước, nhưng vẫn không biết lính tráng chúng tôi đã khổ sở biết chừng nào.

Vì vậy nên không cách chi giải thích được khi bác đổ tội cho người lính cầm quyền, người lính cai trị.

 

Tuy nhiên,  sau cùng, độc giả nên tìm đọc tác phẩm của tác giả Huỳnh văn Lang. Giá trị của tác phẩm là hết sức chân thực, thẳng thắn, hết sức chủ quan, không vòng vo khách sáo. Đa số các nhân vật đều bị đả kích. Ngay cả các nhân vật tác giả hết lòng kính trọng cũng có dịp phơi bầy những yếu kém sai lầm. Có cả đoạn tác giả đề nghị tổ chức đối lập cuội trong quốc hội nhưng gọi là đối lập xây dựng.

Tuy nhiên độc giả cần có 1 máy lọc để tự mình thẩm định. Tác phẩm nầy về chất lượng rất phong phú tha hồ cho máy lọc làm việc.

 

Buổi ra mắt sách này  có hai vị đại tướng rất nên là độc giả đang ở gần gũi San Jose nhưng lại không đến dự. Đại tướngTrần Thiện Khiêm ở San Francisco và đại tướng Nguyễn Khánh ở Palo Alto.

 

Riêng phần chúng tôi, rất tiếc không thể ca ngợi thêm tác giả và tác phẩm. Xin đành phụ lòng anh em.

Giao Chỉ, Vũ văn Lộc

 




Quán Thơ Tháng Ngày Còn Lại

Tường Thuật buổi giới thiệu “QUÁN THƠ, Những Ngày Còn Lại” – Thơ CAO MỴ NHÂN tại hội trường VIVO SANJOSE,ngày 28 – 6 – 2009 , từ 1:00 – 5:00 PM. 
   

Hiện diện trong hội trường có thi sĩ Hà Thượng Nhân và nhiều văn thi sĩ – Diệu Tần, Diên Nghị, Đông Anh, Việt Bằng, Song Nhị, Hải Phương, Ngô Đình Chương, Giao Chỉ, Chinh Nguyên, Hoàng Song Liêm, Song Linh, Nguyên Phương, Nguyễn Thanh Hoàng, Đào Vũ Anh Hùng, Mặc Phương Đình, Trường Giang, phóng viên, Nhiếp ảnh Trương Xuân Mẫn, nhà báo Lâm văn Sang, Thư Sinh , Trần văn In và một số cựu sĩ quan… tôi không nhớ hết. . Khách tham dự khá đông, khoảng 150 người.

20. Toàn cảnh




Sơ lược về Văn Thơ Lạc Việt và lời cám ơn.

3 phút phóng sự: Ra mắt sách "Lược sử Việt Nam" tại San Jose
 

56 Pics – Ra mắt sách NGUỒN GỐC DÂN TỘC VIỆT và NỀN VĂN MINH VIỆT CỔ của tác giả Phạm Trần Anh tại San José, California 04-07-2013 do Văn Thơ Lạc Việt tổ chức.

 

Sơ lược về Văn Thơ Lạc Việt và lời cám ơn.

Xin kính chào quí vị trưởng thượng, quí truyền thông báo chí, quí đại diện các hội đoàn,quí thân hữu, quí văn nghệ sĩ, và qui hành viên Văn Thơ Lạc Việt.

Kính thưa quí vị :
Tháng tư nhớ mãi ngày buông súng
Hận thấm vào tim máu nghẹn lòng
Nhớ nước,  kiếp người than tầm gởi
Tóc trắng tàn phai vỡ ước mong !

Như quí vị đã biết Văn Thơ Lạc Việt là hội đã có chiều dài hoạt động trong thời gian hơn 20 năm bắt đầu với năm vị nhà văn,  nhà thơ :Hà Thượng Nhân, Chu Toàn Chung, Hoàng Anh Tuấn, Thượng Quân, và Dương Huệ Anh. Tôi là người tiếp sau cựu chủ tịch nhà thơ Đông Anh, ông bây giờ là cố vấn trực tiếp cho Văn Thơ Lạc Việt. 

Mục đích của Văn Thơ Lạc Việt là dùng văn hoá nhân bản, văn chương chủ đạo đức để đoàn kết bạn hữu, hầu chống đối bất bạo động nền văn hóa phá sản làm băng hoại xã hội tại quốc nội, do chế độ Cộng Sản cố tình tạo nên, hầu làm thối nát giới trẻ quốc nội, khủng bố, và chia để trị dân.

Cũng vì mục đích đoàn kết, Văn Thơ Lạc Việt đã mở ra những Giải Văn Thơ Lạc Việt hàng năm và đã được quí vị hỗ trợ và bảo trợ. Ngoài giải thi văn thơ, Văn Thơ Lạc Việt đã cố gắng tổ chức những buổi ra mắt những tác phẩm của những tác giả bạn khắp nơi nếu những tác giả muốn Văn Thơ Lạc Việt đứng ra tổ chức dùm tại San Jose. 
Ngoài giải Văn Thơ Lạc Việt hàng năm, Văn Thơ Lạc Việt đã mở ra web site, diễn đàn Văn Thơ Lạc Việt (www.vantholacviệt.org) với hơn 6 triệu người vào đọc trong ba năm. Mới đây chương trình radio Tiếng Thơ Lạc Việt phát thanh vào mỗi sáng thứ bẩy lúc 7:00 trên băng tần 1500 để quảng bá những dòng văn thơ của các thành viên Văn Thơ Lạc Việt và thân hữu.

Văn Thơ Lạc Việt hoạt động có hiệu quả và đứng vững được hơn hai mươi năm là nhờ các quí vị hổ trợ và bảo trợ như hôm nay quí vị đã tới với Văn Thơ Lạc Việt trong buổi giới thiệu tác phẩm Lược Sử Việt Nam của tác giả Phạm Trần Anh, Người tù bất khuất của chúng ta với ba không : Không sợ, không làm ăng ten tại hải ngoại và không hoà hợp với Cộng Sản.

Cuối cùng tôi xin chân thành cám ơn tất cả quí vị đã tới với Văn Thơ Lạc Việt trong tình thần đoàn kết, hổ trợ, bảo trợ, và chống cộng.

Tôi cũng thành thật cám ơn quí cơ quan truyền thông báo chí đã đăng lên báo, phát thanh và đưa lời mời của Văn Thơ Lạc Việt lên truyền hình hầu quảng bá tin tức buổi ra mắt tác phẩm Lược Sử Việt Nam của tác gỉa Phạm Trần Anh.

Đặc biệt tôi xin thành thật cám ơn Giám đốc đài TV ViênThao, VietToday, Dân Sinh, Quí đài Radio : Hội Sinh Viên Sĩ Quan Thủ Đức, Radio 11 giờ Quyên Mai, Phố đêm của báo CaliToday, và Quí vị báo chí : TinViêt News, ViệtBáo, ViêtWeekly, Viettriubune, ThờiBáo, Viêt Nam Nhật Báo và Phụ Nữ Cali. Đặc biệt cám ơn nhà văn Giao Chỉ đã bảo trợ bảo hiểm cho hội trường.
Nếu có xự thiếu xót của tôi xin quí vị tha thứ.
Hy vọng buổi ra mắt tác phẩm Lược Sử Việt Nam của tác gỉa Phạm Trần Anh sẽ để lại trong long quí vị một kỷ niệm vui

Kính chúc quí vị luôn an bình, vui mạnh và đoàn kết.

Chủ tịch Văn Thơ Lạc Việt
Chinh Nguyên

(408) 279-2532