Tuyển Tập Kiều Mỹ Duyên: HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG – Việt Hải, Khánh Lan, và Thụỵ Lan

Cách đây khá lâu khi tôi thực hiện tuyển tập Tây Ninh Quê Tôi dịp mỗi năm xuân về, hay ấn hành những đặc san văn hoc như Văn Học Thời Nay và Văn Đàn Đồng Tâm, tác giả Kiều Mỹ Duyên đã gởi bài góp mặt. Tôi thực sự trân quý tấm chân tình yêu văn chương, chữ nghĩa và lối viết hay phong văn bộc bạch chân thật, rõ ràng của bà. Xuyên qua tác phẩm này độc giả sẽ nghiệm ra điều như vậy. Đây là tác phẩm thứ hai sau tác phẩm khá thịnh hành về phóng sự chiến trường Chinh Chiến Điêu Linh của Kiều Mỹ Duyên.

Đọc qua Hoa Cỏ Bên Đường thì sách này gói ghém nhiều câu chuyện đời thường của tác giả khi sinh hoạt trong cộng dồng, dù là truyền thông báo chí, từ thiện xã hội, tôn giáo tâm linh hay địa ốc tài chánh,… của tác giả. Nó tiêu biểu cho những chuyện kể tin tích cực cần chia sẻ như YMCA: Niềm tin và hy vọng cho tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại (trang 157); Cảnh sát là bạn dân (trang 183); Có gan, làm giàu (trang 220); Những nữ tu sĩ dễ thương (trang 358); Hãy cho nhau tiếng cười (trang 429), Cho nhau thì giờ (trang 442) hay Lạc quan yêu ngưới, yêu đời mà sống (trang 452);…; hoặc những chuyện kể tin không vui nhưng chúng ta cần ôn lại nhắc nhớ như tin cộng đồng, những bản tin đồng hương kém may mắn như ở trang 239 tin bà con miền trunng ở quê nhà chịu nạn thiên tai lũ lụt; bài Cứu Người Như Cứu Lửa Cứu Lụt Bà Con Ơi!; bài đi thăm người Việt ở Miên sống khổ cực nơi xứ người; Một Chuyến Đi Ngậm Ngùi (trang 253); Và những bản tin về người quá cố như quý Hoà thượng Thích Tâm Châu, Thích Giác Nhiên, Thích Quảng Thanh, Trung tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn, Nhà văn Đỗ Phương Khanh, Phóng viên chiến trường Phan Trần Mai (trang 413). Bài Nhà sách Tú Quỳnh Giã Từ Đồng Hương (trang 401).

Tuyển tập Kiều Mỹ Duyên: Hoa Cỏ Bên Đường gồm có 41 bài viết gom góp lại từ nhiều năm qua. Sách dầy hơn 460 trang, trình bày kỹ thuật ấn loát do GS. Phạm Hồng Thái đảm nhiệm. Bìa sách do Phương Hoa. Cơ sở Văn Thơ Lạc Việt ấn hành. Sau đây ba anh em chúng tôi: Khánh Lan, Thụỵ Lan và Việt Hải thuộc Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian xin đi tiếp về quan điểm nhận định về tác giả Kiều Mỹ Duyên và tác phẩm Hoa Cỏ Bên Đường.

Nhà bào Kiều Mỹ Duyên tên thật là Nguyễn Thị Ẩn. Mặc dù tác giả Kiều Mỹ Duyên nhiều lần minh định bà không là nhà văn, mà bà chỉ viết báo. Trước 1975, bà viết bài cho các tờ Công Luận, Hòa Bình và Trắng Đen. Từ 1964 bà chuyên viết phóng sự về xã hội và chiến trường. Năm 1976, bà vượt biên và định cư tại miền Nam California, Hoa Kỳ. Bà từng du học Úc Châu qua học bổng Colombo Plan vào cuối thập niên 60 về cử nhân ngành báo chí. Qua Mỹ bà theo học tại trường Đại Học Cal State Fullerton, tốt nghiệp cử nhân các khoa Báo Chí, Chính Trị và Địa Ốc vào năm 1982. Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, bà chuyên viết những phóng sự chiến trường cùng những mảnh đời xã hội tan thương do chiến cuộc. Bước chân của bà ra mặt trận tiền phương theo những cuộc hành quân và nhiều chiến trường sôi động, khốc liệt nhất của thập niên 1970. Tác phẩm Chinh Chiến Điêu Linh ghi nhận giai đoạn này.

Kiều Mỹ Duyên: nhà văn hay nhà báo ?

Theo 2 bạn văn Thụỵ Lan và Khánh Lan cho là 2 phương vị này đều đúng với bà. Tôi đồng ý như vậy. Hãy tìm hiểu phần vụ của mỗi phương vị.

1/ Nhà văn là người chuyên sáng tác ra các tác phẩm văn học, đã có tác phẩm được công bố ra công chúng và ít nhiều được độc giả thừa nhận giá trị của một số tác phẩm. Kỹ năng của các nhà văn qua việc sử dụng ngôn ngữ để mô tả một ý tưởng, một câu chuyện hay qua bối cảnh, dù đó là do chuyện thực tế hay hư cấu.

2/ Còn nhà báo là người làm công việc đưa tin tức chuyên nghiệp, có nhiệm vụ tìm kiếm các tin tức sau khi phối kiểm tính xác thực của nguồn tin. Nhà báo chịu trách nhiệm bài viết của mình khi đưa tin ra công luận.

Hai tác phẩm của Kiều Mỹ Duyên như sách Chinh Chiến Điêu Linh khiến tác giả vừa là ký giả chiến trường kiêm nhà văn kể chuyện chiến tranh. Tác phẩm Hoa Cỏ Bên Đường lại là thể loại văn tạp ghi hay tạp bút với nhiều chủ đề.

Trên thực tế biên giới giữa nhà văn và nhà báo bị trùng lặp, trùng nhau, bởi vì báo đăng văn, văn đăng trên báo, ví du như Những Cột Trụ Chống Giữ Quê Hương (Phan Nhật Nam);  Cửu Long Cạn Dòng Biển Đông Dậy Sóng (Ngô Thế Vinh); Bánh Mì Ai Cập, Cá Việt Nam, Khát Vọng Con Người (Trần Trung Đạo); hay Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch (Ngô Thế Vinh); …

Nhà báo viết văn, nhà văn viết báo cũng là chuyện chẳng phải gì lạ cả. Viết báo, viết văn vốn ở thể văn xuôi (prose). Phải chăng văn chương và báo chí vẫn thường được ví như hai anh em chung mái nhà chữ nghĩa. Bên phương trời Tây Âu họ như bên ta. Quý ông “văn kiêm báo” hay “báo kiêm văn” như những Daniel Defoe, Samuel Richardson, Henry Fielding, Lawrence Sterne, … (novelists or journalists), ví dụ như nhà văn nhà báo Jonathan Swift với danh tác Gulliver’s Travels, và nhà văn nhà báo Daniel Defoe với danh tác Robinson Crusoe.

Tác phẩm Chinh Chiến Điêu Linh cho thấy Kiều Mỹ Duyên đóng vai trò nhà báo khá rõ ràng, nhà báo xông pha nơi chiến trường viết tường trình sống động, 100% ta không bàn thảo. Và ở tác phẩm mới Hoa Cỏ Bên Đường nhà văn Khánh Lan (một học trò Văn Hoá Quân Đội của GS. Nguyễn Thị Ẩn, môn Công Dân ngày xưa) đọc bài viết do nhà văn Kiều Mỹ Duyên, dẫn dụ những bài viết mô tả những đặc tính văn chương của Kiều tác giả như sau:

“Buổi sáng thức dậy, tôi vẫn nghe tiếng hát reo vui của những con chim nhỏ vui đùa chuyền từ cành cây này sang cành cây khác. Những trái đào vàng rực rỡ trên cây, những trái ổi óng ả quằn cành cây từng chùm, từng chùm. Ôi, đời sao đẹp quá! Cảnh thiên nhiên dễ thương, vô tư làm cho những nỗi buồn bay xa, bay cao, không còn ở trần gian này nữa.” (trích bài Có Tin Vui Giữa Giờ Tuyệt Vọng. 24/12/2020. Kiều Mỹ Duyên).

Một ví dụ khác cho thấy sự thi vị của văn chương của nhà văn Kiều Mỹ Duyên trong sự mô tả không gian bối cảnh:

“Hàng tre trúc xanh mướt

Những bạn bè tôi đã đến Tây Ninh, họ có dịp ghé qua và nhớ về một địa danh đã ghi sâu dấu ấn vào âm nhạc, và đó là Tha La Xóm Đạo, nơi có những hàng tre trúc xanh mướt mà tàn cây đan vào nhau như ngày xưa tôi đã chiêm ngưỡng. Ở đây có bóng dáng những cô gái mỹ miều trong chiếc áo dài thiết tha dự lễ tại giáo đường. Hỡi ai còn nhớ câu thơ của Vũ Anh Khanh…

“Đây Tha La Đây Xóm Đạo hoang tàn

Mây trời vây quanh màu tang khói lửa

Bao năm qua, Tha La còn chờ đó

Đoàn người đi giết thù đã hẹn về từ dạo ấy

Lòng viễn khách, bồi hồi như thương tiếc

Mùa thu nắng hanh vàng…”

(Hận Tha La, nhạc và lời Sơn Thảo)”, (Kiều Mỹ Duyên, Đặc san Tây Ninh Quê tôi, Xuân Đinh Hợi 2007, “Tây Ninh: Hẹn Một Ngày Về”).

Thấy chưa nhỉ, văn phong bóng bẩy, mượt mà đáng yêu với những lãng đãng chất văn chương lãng mạn, có khác nào những Mai Thảo, Nguyên Sa, Nhật Tiến, Thạch Lam hay Nguyễn Xuân Hoàng,… theo ý tưởng thiển nghĩ của anh em tôi.

Còn nhà văn Thụy Lan đọc văn chương Kiều Mỹ Duyên, cô chú trọng về nét bao dung, từ tâm của tác giả Hoa Cỏ Bên Đường, trích đoạn sau:

“Người hạnh phúc và vui vẻ thì sống lâu, sức khỏe dồi dào, không đau bệnh. Người lạc quan, cười nhiều sống lâu hơn người hay than thở, chán nản. Ai cũng thích sống với người lạc quan hơn người bi quan. Hàng ngày, chúng tôi gặp nhiều người tươi cười như ngày hội Tết, lúc nào cũng cười, khuôn mặt tươi như hoa, tiếng nói như chim hót mùa Xuân. Những người này làm việc gì cũng thành công. Người thành công là người hạnh phúc, vì hạnh phúc nên thành công. Người lạc quan thì trẻ mãi không già. Sống vui, sống khỏe, sống hạnh phúc, ai cũng mong có đời sống như thế. Nhưng có bao nhiêu người trong chúng ta được đời sống hanh thông như thế?”, (Hạnh Phúc Cho Đi. 04/03/2021, Kiều Mỹ Duyên).

Ví dụ khác: Hãy yêu mình, hãy yêu người xung quanh mình…

“Hãy yêu mình, hãy yêu người xung quanh mình. Yêu người nhưng phải tự trọng, vì yêu người không phải đi xin thứ này, thứ nọ của người đó, nhất là xin thì giờ, xin kiến thức. Kiến thức phải đến trường học và học với nhiều người, nhiều ngành khác nhau, không phải chỉ học với một người. Chúng ta vào trường đại học cùng học với nhiều người chứ không chỉ học với một giáo sư duy nhất.”, (bđd, Hạnh Phúc Cho Đi. 04/03/2021, Kiều Mỹ Duyên).

Ý tưởng chân tâm, vị tha khi ta sống san sẻ, hạnh phúc lạc quan như Mẹ Teresa từng chia sẻ: “Chúng ta hãy luôn mỉm cười gặp nhau, vì nụ cười là khởi đầu của tình yêu.” (Let us always meet each other with smile, for the smile is the beginning of love). Hay như triết gia Ần quốc Debasish Mridha ghi nhận trong danh tác của ông Verses of Happiness: “Cuộc sống đơn giản và ngắn ngủi nhưng tình yêu là vô hạn và vĩnh cửu. Vì vậy, hãy cho đi nhiều nhất có thể được, không cần phải phán xét bất cứ ai ”(Life is simple and short but love is infinite and eternal. So give it away, as much as you can, without judging anyone.).

Phải chăng trong tâm tư nhà văn Kiều Mỹ Duyên chất chứa nét triết lý duy tâm nhẹ nhàng trong phong văn. Đọc Kiều Mỹ Duyên, tôi nghiệm ra rằng bà có quan điểm tựa như GS. y khoa Henri de Mondeville cho là  “Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ” ( Le rire est la meilleure médecine), hay triết gia Bertrand Russel nhận định là  “Tiếng cười là liều thuốc kỳ diệu rẻ tiền nhất và hiệu quả nhất” (Le rire est le médicament miracle le moins coûteux et le plus efficace); hoặc như văn hào Victor Hugo ghi nhận: “Làm được cho mọi người cười là làm cho mọi người quên thì thật là một ân nhân trên quả đất này, là một nhà phân phối của sự lãng quên!” (Faire rire, c’est faire oublier. Quel bienfaiteur sur la terre qu’un distributeur d’oubli !); hay như nhạc sĩ tài hoa Frédéric Chopin cho cảm nghĩ:  “Những người không bao giờ cười không phải là những người nghiêm túc.” (Les gens qui ne rient jamais ne sont pas des gens sérieux). Kiều Mỹ Duyên chủ trương sống thoải mái, triết lý sống thanh tao, đơn giản và san sẻ, bà nhìn cuộc đời bằng trái tim mở rộng cảm thông, bà lạc quan trong nhân sinh quan của chính mình.

Trong bài viết Cho Nhau Thì Giờ (25/02/2021), Kiều Mỹ Duyên viết: “Vậy thì khi người nào đó nói với bạn rằng tôi không có thì giờ hoặc tôi bận quá, bạn hãy tự hỏi mình người đó thân với bạn như thế nào? Khi một người nói với bạn tôi không có thì giờ thì bạn phải nghĩ rằng người đó không có thì giờ cho bạn, trong con mắt của người đó hoặc trong trái tim của người đó, bạn không phải là người thân. Nếu là người thân thì không bao giờ nói câu tôi bận quá, tôi không có thì giờ. Thì giờ người nào cũng bằng nhau, 24 giờ một ngày. Với 24 giờ, làm sao sử dụng cho hết: làm việc, ăn, ngủ, chơi, xem tivi, nghe radio, đọc sách, điện thoại, hoặc email cho người này hay người nọ. Nên bạn phải biết mình là ai khi nghe người nào nói rằng tôi có đọc email của bạn hay nhận điện thoại của bạn, nhưng rất tiếc tôi bận quá, tôi không có thì giờ trả lời….  Người nào cũng có việc làm, có bổn phận, trách nhiệm, không phải ai cũng có thì giờ nghĩ đến người khác, có thì giờ quan tâm đến những người xung quanh mình, nhưng nếu biết sắp xếp thì mọi chuyện đều có thể làm được.”

Bài Cho Nhau Thì Giờ có đoạn hay của nó: “Có những chuyện trong cuộc sống xảy ra rất đỗi bình thường nhưng lại có kết thúc bất ngờ. Một cụ bà nằm trong viện dưỡng lão, con cháu không có thì giờ đến thăm, chỉ riêng có cô y tá chăm sóc cho cụ bà hàng ngày. Vào những ngày nghỉ hoặc ngày lễ, cô nhớ cụ bà, cô vào viện thăm cụ. Cụ bà cũng rất thương cô y tá này. Rồi một ngày kia, cụ bà qua đời. Luật sư của cụ bà gọi cô y tá đến văn phòng luật sư để nghe di chúc của cụ bà ở viện dưỡng lão. Cô y tá ngạc nhiên và vô cùng xúc động, không ngờ cụ bà để lại tài sản cho cô thay vì để lại cho con cháu của mình.”

Cũng trong bài viết trên, nụ cười trong cuộc sống được nhà văn Kiều Mỹ Duyên cổ võ, quảng bá ở Nam Cali trên các hệ thống truyền thanh cũng như truyền hình: “Bà con ơi, Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ”, tôi vẫn nghe rõ nhự in. Hãy đọc tiếp bà viết: ” Cho nhau tiếng cười, cho nhau một chút thì giờ có gì quá đáng? Hãy tự hỏi mỗi ngày mình bỏ bao nhiêu thì giờ xem tivi, nghe radio, đọc sách báo, nghe nhạc thì tại sao cho người khác một chút thì giờ thì lại phiền? Chỉ có lòng mình chưa đủ để quan tâm đến người bạn của mình mà thôi?

Xin đừng bao giờ nói: tôi bận quá, tôi không có thì giờ, tôi không có thì giờ. Mỗi ngày 24 giờ là nhiều lắm, nếu mình sử dụng hết 24 giờ này ngoài việc ăn, ngủ, làm việc thì còn thì giờ nhiều lắm. Nếu mình quan tâm đến người khác thì xin đừng bao giờ nói: tôi bận quá, tôi không có thì giờ. Hãy bao dung, hãy rộng lượng, hãy thương người như thể thương thân, thì chúng ta có 24 giờ một ngày là nhiều lắm…”.

Kiều Mỹ Duyên vốn dĩ vui vẻ, hoạt bát và từ tâm,  Bà ăn chay, tránh sát sinh. Trong bài viết Hãy Cho Nhau Tiếng Cười, xin trích đoạn: “Hãy cho nhau tiếng cười reo vui, đời sống ngắn lắm, sự sống và sự chết gần nhau lắm, như sợi chỉ. Chỉ một cơn mê, chỉ một vài phút không thở, tim ngừng đập là lên đường ra đi mãi mãi, không bao giờ trở lại. Hãy cho nhau nụ cười cho người còn hiện hữu, đừng đợi người ra đi rồi luyến tiếc. Muốn gặp ai thì cứ gặp, đừng chần chờ, vì không biết ngày mai mình còn thức dậy? Gặp người mình muốn gặp vài ba giây cũng đủ, nghe vài tiếng nói cũng đủ. Đâu cần ngồi bên cạnh cả ngày, cả tháng, cả đời? Biết đủ là đủ…”.

Đọc trích đoạn người nữ tu yêu tiếng cười nhân hậu, hiền hoà, “Đời sống quá ư vất vả, ai cũng thích tiếng cười. Tiếng cười đem niềm vui và sức sống cho người xung quanh. Sống lạc quan khi có nụ cười, tiếng cười. Sự linh hoạt của đời sống là sự vui vẻ, yêu đời và lạc quan. Càng lớn tuổi, tôi càng thích tiếng cười. Tôi thích những người đem niềm tin đến cho mình, tôi cũng thích chính mình đem niềm tin đến cho người khác. Đem nỗi buồn làm phiền người khác để làm gì? Thương ai nên đem cho họ nụ cười, tiếng cười. Ngay cả người bệnh nằm trong viện dưỡng lão mà mình đem tiếng cười đến cho họ, nhìn vào mắt của bệnh nhân mình sẽ cảm thấy mắt của họ tươi hơn, khuôn mặt của họ có hồn hơn.

Hãy cho nhau nụ cười, cho nhau tiếng cười. Nếu mình có niềm vui trong lòng thì tiếng cười sẽ reo vui hơn, giòn tan hơn. Yêu người, yêu đời qua tiếng cười. Hãy yêu thương, lòng rộng mở, tiếng cười của mình sẽ hồn nhiên hơn, giòn giã hơn. Tôi yêu tiếng cười của trẻ thơ khắp nơi, nhất là các em trong viện mồ côi. Hãy ôm chặt các em trong tay với trái tim nồng nàn, chúng ta sẽ tìm thấy tình người trong vòng tay ấm áp của mình. Hãy nắm chặt tay người già trong viện dưỡng lão, chúng ta sẽ cảm nhận được người cần người dù trong chốc lát. Có người suốt đời đi tìm nụ cười đã mất, tìm hoài, tìm mãi không được, vì người có nụ cười thân thiện, thương yêu đã không còn nữa, cho nên khi còn hiện hữu, gặp bằng hữu, chúng ta nên cười vui vẻ, tự nhiên mà cười, nếu không ngày mai không còn kịp nữa.

Tôi được may mắn quen nhiều người có tiếng cười reo vui. Catherine bận rộn suốt ngày, làm việc không có ngày nghỉ. Vậy mà lúc nào cũng nở nụ cười trên môi và tiếng cười reo vui….  Catherine đem nụ cười đến với những người nghèo, trẻ em mồ côi. Catherine giúp họ rất tận tình như người mẹ chăm sóc con cái của mình. Những đứa trẻ ở Miên rất thương Catherine…Tiếng cười của bạn tôi vẫn reo vang. Năm nào, bạn tôi cũng gọi cho tôi với tiếng cười lạc quan pha chút nghịch ngợm của trẻ thơ vào ngày đầu năm. Tiếng cười vui vẻ không thay thế được cơm gạo, nhưng tiếng cười hồn nhiên của trẻ thơ, của người già vẫn là nhu cầu cần thiết của người nghe, của bằng hữu. Bạn tôi không gọi tôi thường xuyên nhưng mùng 1 Tết năm nào cũng gọi. Trước khi đi xa gọi, trở về gọi, có chuyện vui đều gọi tôi. Bạn tôi rất hồn nhiên, chỉ kể chuyện vui, không bao giờ kể chuyện buồn”.

Đoạn kết của bài viết thì cuộc đời này muôn thuở vẫn cần tiếng cười:

“Mãi đến bây giờ, tôi mới nhận ra một điều quan trọng là chúng ta rất cần nụ cười, cần tiếng cười trong đời sống hàng ngày: tiếng cười hồn nhiên của trẻ thơ, nụ cười héo hon của người già gần đất xa trời, giọng cười giòn tan của bạn bè, thân hữu,… Đúng là một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ?

Hạnh phúc thay cho những ai có tiếng cười giòn tan thường đến với mình trong 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Tiếng cười hồn nhiên pha lẫn chút nghịch ngợm của trẻ thơ làm cho người nghe lạc quan, yêu người, yêu đời mà sống, vượt qua những nỗi khó khăn ở hiện tại. Xin cảm ơn những nụ cười, những tiếng cười mà tôi đã được gặp, được nghe trong đời sống hàng ngày, nhất là vào mùa Xuân.

Kiều Mỹ Duyên, Orange County, 15/02/2021″.

Đọc Tuyển tập Kiều Mỹ Duyên qua tác phẩm mới Hoa Cỏ Bên Đường để chúng tôi, ba anh em: Thuỵ Lan, Khánh Lan và Việt Hải chia vui cùng tác giả Kiều Mỹ Duyên. Một nhà báo chuyên nghiệp đã ghi dấu giầy trên chiến trường xưa. Kiều Mỹ Duyên lặn lôi theo các mặt trận Quảng Trị qua danh trấn Mỹ Chánh, Hải Lăng, Đông Hà, La Vang, Gio Linh, cùng Huế như Cổ Thành, thung lũng Ashau, sang Quảng Ngãi với Ba Tơ, Quế Sơn, rồi Cao nguyên sương mù màu khói súng tại Tam Biên, Benhet, Dakto, Tân Cảnh, Pleiku, Kontum, Polei Kleng, Chu Pao, Bình Long, An Lộc,… Ngày hôm nay nếu chúng tôi nhận định Kiều Mỹ Duyên là một nhà báo nghiệp dư vì nhớ nghề xưa, hay một nhà truyền thông tài tử (amateur), hoặc giả là một phóng viên tự do (freelance) sẽ không ngoa. Và bà không làm vì tài chánh. Kiều Mỹ Duyên đã có nguồn cơm gạo từ hai cơ sở kinh doanh là Ana Real Estate và Ana Funding lo cho dạ dày. Hãy nói sự thật để được lòng người nghe. Sự thật hay chân lý là đích điểm đắc nhân tâm, như trường hợp nhà bác học Albert Einstein ghi nhận: “Những lý tưởng luôn luôn tỏa sáng trước mặt tôi và nó khiến tôi đầy ắp niềm vui về cái thiện, cái đẹp và chân lý” (The ideals which have always shone before me and filled me with joy are goodness, beauty, and truth). Tương tự, văn hào Nga Fyodor Dostoevsky cho ý tưởng: “Trên đời này không có gì khó hơn là nói ra sự thật lòng, không có gì dễ hơn là sự xu nịnh” (Nothing in this world is harder than speaking the truth, nothing easier than flattery).

oOo

Hoa Cỏ Bên Đường là tác phẩm chuyển tải nội dung những mẫu chuyện về chân thiện mỹ  trong đời sống xã hội. Khi “Gõ Cửa, Cửa Sẽ Mở”, như khi “Mở lòng, lòng thanh thản”; Hoa Cỏ Bên Đường là tác phẩm đề cao tiếng cười, bởi vì “Hãy Cho Nhau Tiếng Cười”, cũng bởi vì tiếng cười là nhu cầu, là niềm tin yêu của đời sống; Trong đời sống hãy “Cho Nhau Thì Giờ”, dành thì giờ cho yêu thương nhân đạo, nhân đức; Hoa Cỏ Bên Đường là tác phẩm cho thấy triết lý sống mà tác giả đề nghị về tư tưởng lạc quan. Tuyển tập Kiều Mỹ Duyên nhấn mạnh đặc tính nhân bản với nhân sinh quan hãy “Lạc Quan, Yêu Người, Yêu Đời Mà Sống”, nhũng tâm tư, tâm tình của tác giả chắt chiu từng con chữ, nắn nót từng ý tưởng nội tâm, để rồi Cơ Sở Lạc Việt gom góp in ấn hình thành tác phẩm này.

Đọc một tác phẩm, xin hãy tìm hiểu chiều sâu tâm hồn, những ngõ ngách của trí não qua ngòi bút của nhà văn, hãy truy nguyên sự góp mặt của tác phẩm, và xin hãy rộng mở chào đón tác phẩm như một viên gạch mới tô điểm ngôi nhà văn học Việt Nam hải ngoại. Chúng tôi xin chúc mừng nhà văn Kiều Mỹ Duyên với tác phẩm Hoa Cỏ Bên Đường như tiếng lòng gởi đến mọi người.

Việt Hải – Song Lan, Nam California. Mùa Xuân, 10/04/2021.




Chuyến Đi Biền Biệt

Xin quý vị click vào hình để đọc.




Tâm Pháp Khí Công

ÂM DƯƠNG KHÍ CÔNG – MỘT PHƯƠNG PHÁP LUYỆN TÂM TRÍ – KHÍ – LỰC CỦA VIỆT NAM NGUYÊN LÝ: KHÍ BÌNH => TÂM BÌNH; TÂM BÌNH => SÁNG SUỐT. ÂM DƯƠNG KHÍ CÔNG LÀ GÌ ? Âm Dương Khí Công là công phu luyện thở, nhằm điều chỉnh hai khí Âm và Dương trong hai mạch Nhâm và Đốc.
Xin quý vị click vào hình để đọc.




Những Mùa Xuân Trở Lại.

Mùa Xuân là sự bắt đầu của thời gian theo chu kỳ hàng năm, nhưng theo tập quán tống cựu nghênh tân của dân Việt Nam, Xuân là mùa của hy vọng có những tin vui, những sự tốt lành của năm mới. Trong tinh thần đó, tôi lựa ra những bài tôi đã viết về Mùa Xuân kể từ khi đến định cư tại nước Mỹ để tạo thành tuyển tập này.

Xin quý vị click vào hình để đọc.




Kho tàng sách cũ xuất bản trước 1975 dạng e-book:

Xin quý vị click vào hình để đọc.




Nếu đời không có thơ

Vài lời tự bạch

Khi tuổi đời đã xế bóng, vấn đề cơm áo tạm ổn định thì hồn thơ bỗng bừng cháy theo kỷ niệm thời áo trắng xa xưa…, của những chiều mưa ngồi bất động thả ánh mắt theo bong bóng nổi tan, hay mùa Thu với những tà áo tím xuất hiện trên khắp nẻo đường của xứ Sông Hương, Núi Ngự, của buổi chiều Hạ tìm hạt nắng mong manh sắp tàn dần theo hoàng hôn…

Thời gian đầu chỉ viết lung tung không lề luật. Rồi cơ may đến, MT gặp được người anh tên Bảo Trâm, đã chỉ dạy, hướng dẫn về các luật thơ, rồi đi xa hơn nữa là giới thiệu MT đến các diễn đàn văn thơ cũng như nhiều hội thơ Thất Ngôn Bát Cú để có cơ hội học hỏi thêm, từ đó MT lại được mời tham gia vào nhiều hội thơ khác nữa.

Khởi đầu, học thơ 5 chữ, 8 chữ, Tứ Tuyệt, Song Thất Lục Bát rồi cuối cùng là thơ Thất Ngôn Bát Cú, với loại thơ TNBC, có rất nhiều thể loại thật thú vị cho trí óc rèn luyện, đây là loại thơ MT thích nhất, vì vậy mà tập đầu tay MT chỉ nghĩ đến thơ Thất Ngôn Bát Cú là chính.

Thơ là sân chơi tao nhã, là cảm xúc dâng tràn theo câu chuyện đời, đôi lời tâm sự từ bạn bè, hay kỷ niệm được cô đọng đã lâu, hoặc là mơ là mộng, là thơ là thẩn đôi ba phút trong thế giới tưởng tượng, để tạm quên đi thực tế chắc hẳn không đẹp như mơ.

Còn gì thú vị bằng khi cùng với bạn thơ xướng họa giải trí sau một ngày làm việc mệt nhọc.

Khi vốn liếng đã đầy ắp, MT muốn lưu niệm cùng quý thi nhân khắp bốn phương trời, ước ao thành hình tập thơ và san sẻ đến những bạn yêu thơ gần xa, mong hỷ xã nếu có nhiều sai sót về mọi mặt 

Cuối cùng MT xin ngỏ lời tri ân đến người anh, người Thầy Bảo Trâm đã hướng dẫn đi vào luật thơ, đã làm hơn một ngàn tranh thơ cho MT, đã gom nhặt, tìm kiếm trên các hội thơ để cất giữ dùm thơ khi thấy MT quá bận rộn “cày bừa” trong tuần, cuối tuần chạy rong ngoài đường lo việc chú bác, chỉ biết xướng hoặc họa thơ mà không nhớ bài nào, không biết cách giữ gìn. Có lẽ người Thầy đã nhiệt tình hăng say khi thấy công lao đào tạo đệ tử…” tạm gọi” là có kết quả về luật thơ?

Nói tóm lại nếu không có Thầy Bảo Trâm thì MT không có được vốn liếng thơ để hôm nay được Thầy trình bày thành tập thơ này. 

Sau nữa MT xin cám ơn hội trưởng Chinh Nguyên của hội Văn Thơ Lạc Việt đã mở lớp học miễn phí về cách sử dụng Computer, về cách trình bày một cuốn sách, cũng như in sách do Thầy Phạm Thái nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ MT hoàn thành tập thơ Xướng Họa 2017 này.

Xin mời quý độc giả cùng bước vào vườn thơ với muôn cánh hoa đầy hương sắc. 

          Minh Thúy

Xin vui lòng click vào hình để xem sách



Hồi Ký Đập Đập Đá Trại 6 Nghệ Tĩnh

https://www.amazon.com/Quality-Shock-Absorbing-Iphone-4s-silver/dp/1716600782/ref=sr_1_1?dchild=1&keywords=Doi+dap+da&qid=1601437190&sr=8-1



The Mountains Sing: Tiểu thuyết Việt Nam đang làm độc giả phương Tây ‘cảm động’

Lê Quỳnh 

BBC News Tiếng Việt

Nguyễn Phan Quế Mai
Nguyễn Phan Quế Mai

Tiểu thuyết tiếng Anh của một tác giả Việt Nam đang nhận được sự quan tâm tích cực của các nhà phê bình nước ngoài.

The Mountains Sing là tựa đề tiểu thuyết đầu tay của nhà văn – dịch giả Nguyễn Phan Quế Mai, do nhà xuất bản đặt ở London Oneworld Publications ấn hành năm 2020.

Nhà văn được giải Pulitzer Viet Thanh Nguyen ca ngợi tiểu thuyết The Mountains Sing “cảm động và hấp dẫn”.

Báo chuyên ngành xuất bản Publishers Weekly khen sách: “Lá thư tình gửi Việt Nam xuất sắc, không che giấu nỗi đau này sẽ làm độc giả cảm động.”

Cuốn tiểu thuyết trải dài cả trăm năm lịch sử Việt Nam, tập trung vào một gia đình họ Trần. 

Qua cuộc đời của các nhân vật như Hương và người bà Diệu Lan, The Mountains Sing đề cập đến các biến cố như cải cách ruộng đất ở miền Bắc, chiến tranh với người Mỹ và giữa hai miền Nam – Bắc, và giai đoạn hậu chiến.

Là dịch giả tiếng Anh, bà Nguyễn Phan Quế Mai đã viết The Mountains Sing trực tiếp bằng tiếng Anh.

Hiện đang sống và làm việc ở Indonesia, bà đã dành cho BBC cuộc phỏng vấn về tiểu thuyết đầu tay này.

Nguyễn Phan Quế Mai: 

Tôi đã xây dựng không gian của tiểu thuyết The Mountains Sing (Những ngọn núi ngân vang) trong suốt bảy năm. Trước đó, tôi đã lắng nghe rất nhiều những câu chuyện của người Việt từ miền Bắc tới miền Nam, từ trong nước đến hải ngoại. Tôi cũng đã đọc rất nhiều các tác phẩm hư cấu và phi hư cấu bằng tiếng Việt và tiếng Anh viết về các sự kiện lịch sử Việt Nam, đặc biệt về các sự kiện mà tiểu thuyết của tôi đề cập tới: sự đô hộ của thực dân Pháp ở Việt Nam, sự xâm lược của đế quốc Nhật, nạn đói năm Ất Dậu, cải cách ruộng đất, sự chia cắt Bắc Nam, chiến tranh Việt Nam, thời kỳ bao cấp… 

Tất cả những câu chuyện và các tác phẩm kể trên đều cung cấp cho tôi những tư liệu quý và thúc giục tôi sáng tạo nên một tiểu thuyết khác biệt, ở đó, những người phụ nữ là trung tâm tác phẩm: họ là những người kể chuyện, dẫn dắt người đọc qua chiều dài gần một thế kỷ lịch sử Việt Nam, qua sự thăng trầm của bốn thế hệ trong một gia đình người Việt.

Tiểu thuyết này ra đời trong khuôn khổ chương trình Thạc sĩ và Tiến sĩ Viết văn mà tôi thực hiện với trường đại học Lancaster (Anh quốc). Đó là lý do tôi viết nó bằng tiếng Anh thay vì tiếng mẹ đẻ của mình. Một lý do nữa để tôi viết bằng tiếng Anh là hiện nay bạn đọc quốc tế biết rất ít về văn học Việt Nam, và văn học tiếng Anh có rất ít các tác phẩm viết qua đôi mắt và trải nghiệm của người Việt trong nước.

Tôi được sinh ra ở một vùng quê nghèo Bắc bộ và lớn lên ở đồng bằng sông Cửu Long (thị xã Bạc Liêu). Tôi bắt đầu chập chững học tiếng Anh khi vào lớp 8, với sự giúp đỡ của một người thầy mở lớp dạy tiếng Anh tình nguyện cho các trẻ em nghèo. Vì thế việc sáng tác tiểu thuyết đầu tay bằng tiếng Anh là sự liều lĩnh và thử thách lớn, tuy nhiên, tôi đã học hỏi được rất nhiều và biết ơn cơ hội được đặt một chân vào văn học thế giới qua tiểu thuyết này.

BBC: Tuy đây là tác phẩm hư cấu, bà có hy vọng giải thích một số chương lịch sử Việt Nam qua truyện kể của các nhân vật?

Tiểu thuyết “Những ngọn núi ngân vang” là sự kế thừa văn hoá kể chuyện của người Việt: tiểu thuyết bắt đầu bằng việc một người bà kể cho người cháu nghe những gì đã xảy ra với gia đình mình trong lúc hai người phải trốn chạy khỏi những trận bom Mỹ dội xuống Hà Nội. Người cháu tiếp tục những câu chuyện ấy của người bà để rồi khi người bà mất đi, cô viết lại những gì xảy ra với gia đình mình. Khi hoàn thành tiểu thuyết, cô đốt bản sao của bản thảo trước ngôi mộ của người bà đã mất để bà có thể đọc ở thế giới bên kia.

Lịch sử của Việt Nam có rất nhiều thăng trầm, có quá nhiều đau thương, mất mát. Với tiểu thuyết này, tôi muốn tái hiện lại những biến cố chính trong chiều dài lịch sử ấy, qua thân phận của những người dân bình thường, những người ấy rất cần được lắng nghe. 

Lịch sử Việt Nam cũng vô cùng phức tạp, và vì thế không dễ tiếp cận. Với “Những ngọn núi ngân vang”, tôi hy vọng bạn đọc sẽ vào vai các nhân vật trong gia đình họ Trần, để từ đó, họ trực tiếp trải nghiệm các biến cố chính của lịch sử, để rồi cảm nhận sự tác động của các biến cố ấy lên số phận con người. Tuy viết về các sự kiện lịch sử, nhưng trọng tâm của quyển sách này là số phận con người và cách con người vượt qua biến cố để giữ gìn không chỉ mạng sống mà còn phẩm giá, tình yêu, tình cảm gia đình và sự bình an trong tâm tưởng. 

Bạn đọc quốc tế hầu như chỉ biết về Việt Nam như một cuộc chiến tranh. Qua tiểu thuyết này, tôi muốn khắc họa nên hình ảnh của một Việt Nam giàu truyền thống văn hoá bao gồm truyền thống văn học (kể cả văn học dân gian). Dù phải đi qua rất nhiều thảm kịch, nhưng niềm tin và hy vọng vào tương lai, vào lòng tốt con người là những ngọn đuốc sưởi ấm cho các nhân vật trong tiểu thuyết, giúp họ vượt qua nhiều vực thẳm của bóng đêm. 

The Mountains Sing

BBC: Một bài điểm sách ghi nhận rằng “tha thứ và hòa giải – trong gia đình, giữa người Việt và với ngoại bang – là những chủ đề xuyên suốt” trong tiểu thuyết. Bà có hy vọng độc giả người Việt đồng tình với những gì bà viết trong sách, hay sẽ có những người không tán thành?

Một trong những điều thôi thúc tôi viết quyển sách này là sự chia cắt vẫn còn sâu thẳm giữa cộng đồng người Việt. Tiểu thuyết “Những ngọn núi ngân vang” nói về gốc rễ của sự chia cắt ấy, về nỗi đau của một gia đình khi họ bị chia lìa bởi lịch sử, để rồi người Bắc kẻ Nam, anh em ruột thịt phải cầm súng ở hai đầu chiến tuyến. Khi tiểu thuyết kết thúc, nỗi đau chia cắt ấy vẫn còn hằn sâu vào từng thành viên gia đình, dai dẳng và khó nguôi ngoai. Với tiểu thuyết này, tôi ước ao người Việt chúng ta lắng nghe và chia sẻ nhiều hơn các câu chuyện của cộng đồng mình – dù các câu chuyện đó có khác biệt thế nào chăng nữa. Tôi tin rằng khi chúng ta đọc và lắng nghe các câu chuyện của nhau, sẽ có nhiều hơn sự thấu hiểu và cảm thông. 

Tôi tin rằng mỗi gia tộc người Việt đều có những trải nghiệm độc đáo, kịch tích và nhiều màu sắc – những trải nghiệm ấy hoàn toàn có thể biến hoá thành một tiểu thuyết hấp dẫn. Và tôi cũng tin rằng không một câu chuyện nào có thể đại diện cho tất cả mọi trải nghiệm của người Việt. Gia đình họ Trần trong tiểu thuyết của tôi là một gia đình được xây dựng nên bởi trí tưởng tượng. Trải nghiệm của họ phản ánh một phần trải nghiệm của gia đình tôi cũng như trải nghiệm của nhiều gia đình mà tôi đã từng tiếp xúc. Nhưng gia đình Trần có một cuộc sống riêng, nơi đó trí tưởng tượng, bắt nguồn từ các sự kiện lịch sử, được phép thăng hoa.

Tôi không dám mong đợi rằng mọi người Việt đều đồng tình với những quyết định, suy nghĩ của các nhân vật trong tiểu thuyết Những ngọn núi ngân vang. Tôi chỉ mong những gì xảy ra trong sách khiến bạn đọc xúc động, để từ đó họ liên tưởng và suy ngẫm tới gia đình họ và quê hương của họ, về những gì ông bà cha mẹ của họ đã phải trải qua để cho họ cuộc sống hôm nay. Tôi viết về sự thảm khốc của chiến tranh và xung đột để nói lên giá trị hoà bình, viết về sự chia lìa để nói về giá trị của sự đoàn tụ, viết về cái chết để nói về giá trị của mỗi phút giây bình thường. Tôi luôn ước ao mọi người Việt, dù ở bất cứ nơi đâu, cũng được hưởng một cuộc sống bình an, nơi họ có thể quây quần bên gia đình, được làm việc, học tập, được trân trọng và được yêu thương.




‘The Mountains Sing” A Song Of Many Voices

THÚY ĐINH

The Mountains Sing

by Que Mai Phan Nguyen

Hardcover, 352 pages

Nguyễn Phan Quế Mai

In The Mountains Sing, Nguyễn Phan Quế Mai has created a luminous, complex family narrative that spans nearly a century of Vietnamese history, from the French colonial period through the communist Viet Minh’s rise to power, the separation between North and South Vietnam, the Vietnam War, all the way to the present day. Told alternately by Diệu Lan, born in 1920, and her granddaughter Hương, born in 1960, the novel resembles a choral performance with multiple voices.

Diệu Lan is the family matriarch — bereft of father, husband, brother, and eldest son due to war and occupation, she weathers historical changes and economic hardship with self-reliance, intelligence, creativity, and kindness. Born in the same province as revolutionary leader Hồ Chí Minh, Diệu Lan’s actions reflect her own idea of independence. During the era before Vietnam’s economic reforms of the 1980s, she becomes a black marketeer to improve her family and community living conditions. She introduces contraband American literature to her granddaughter, hoping to broaden Hương’s intellectual horizons, and shows unwavering love to a son who fought in the pro-American South Vietnamese Army.

The Mountains in the title represent the Vietnamese people and their land, and Sing standsfor the novel’s celebration of plural perspectives. Mountains Sing is also the literal meaning of sơn ca, the Sino-Vietnamese word for the hand-carved wooden lark that Hương inherits from her long-lost father. As a symbol of immortality in Vietnamese culture, the sơn ca also brings to mind Yeats’s golden nightingale, his avatar in “Sailing to Byzantium” that sings of “what is past, or passing, or to come.”

The past figures prominently in Quế Mai’s novel, for it still affects the present and the future. The author dedicates The Mountains Sing to her grandmother, who perished in the Great Famine of the 1940s when Japan occupied Vietnam, to her grandfather who died because of the harsh land reform policy imposed by the North Vietnamese Communist government in 1955, and to her uncle, “whose youth the Vietnam War consumed,” as well as millions of Vietnamese and non-Vietnamese who lost their lives in the war.Article continues after sponsor messagehttps://5bacdb423a428db7f08f7e251c8d88b2.safeframe.googlesyndication.com/safeframe/1-0-37/html/container.html

‘The Mountains Sing’ affirms the individual’s right to think, read, and act according to a code of intuitive civility, borne out of Vietnam’s fertile and compassionate cultural heritage.

Born in 1973 in North Vietnam, Quế Mai relocated at six with her family to the South, before winning a university scholarship to study in Australia. She later decided to pursue a writing career exploring the long lasting socio-psychological consequences of the Vietnam War. This background gives Quế Mai an astute and graceful ability to sustain contradictory truths about war, displacement, aesthetic representations, and human nature. In The Mountains Sing, Hương is able to see the humanity of her so-called American enemies because she’s read Laura Ingalls Wilder’s depiction of the close-knit pioneer family in Little House in the Big Woods (a book she acquired from her grandmother Diệu Lan’s black market trade). At the same time, beauty does not exempt a culture from its inhumanity; at one point, Diệu Lan observes that an elegant haiku about a frog by the Japanese poet Basho could not save the Vietnamese from the brutality of their Japanese occupiers.

Most importantly, the novel helps all of us see “the enemy” not as abstract or demonic, but corporeal, even familial. An American bomber who falls out of the sky, Icarus-like, is as vulnerable as someone’s brother who fights for the other side. The Vietnam War is not only an international ideological struggle, but also a civil war among kin. A character laments, “But what if one of my comrades had his gun pointed at your forehead? Would I kill my brother in arms to save my brother in blood?”

In depicting the dire consequences of war and Marxist ideology, which forced citizens and family members to become either traitors or patriots, The Mountains Sing affirms the individual’s right to think, read, and act according to a code of intuitive civility, born out of Vietnam’s fertile and compassionate cultural heritage.

And yet, despite the novel’s wondrously balanced approach, true reparation has yet to take place between the Vietnamese state and its people. The “enemies” that Diệu Lan faces when she returns to her home town are not her true enemies, but merely agents of an oppressive Marxist regime that engineered the disastrous land reform.

At the end of the day, the fact that The Mountains Sing is published in English means its content still faces translation and censorship hurdles before reaching readers in Vietnam. Can Nguyễn Phan Quế Mai’s message be heard in her homeland, where the mountains of Vietnam are still a fortress silencing the sounds of birds?

Thúy Đinhis a writer, literary translator, and co-editor of the Vietnamese e-zine Da Màu (Multitude). Her work has appeared in NBCThinkAsymptotediaCRITICs, Amerasia Journal, Pop Culture Nerd, among others.




Tập thơ “Trịnh Cung trên nước Mỹ”

No photo description available.
No photo description available.
Image may contain: 1 person
Image may contain: 2 people, including Hong Nguyen, people sitting, tree, table and outdoor



Cô gái Dao đầu hai xoáy tung vó ngựa trời Âu

Cô gái Dao đầu hai xoáy tung vó ngựa trời Âu

Phạm Xuân Nguyên

Một cô gái dân tộc Dao Tuyển ở thôn Ngám Xá, xã Nậm Chạc, huyện Bát Xát (Lào Cai) sát biên giới Việt Trung đã trở thành người đầu tiên trong bản đậu đại học và cũng là người đầu tiên ở xã vùng cao này đi du học châu Âu. Năm 2016, sau khi tốt nghiệp xuất sắc trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam và đi làm hai năm, cô đã giành được học bổng toàn phần Erasmus Mundus trị giá 50.000 USD đào tạo thạc sĩ ngành quản lý tài nguyên rừng bền vững của Trường đại học Gottingen (Đức) và Trường đại học Padova (Italia). Cuốn sách mang tên “Đường ngược chiều từ bản người Dao đến học bổng Erasmus”. Và tên tác giả là Chảo Yến.

This image has an empty alt attribute; its file name is Sach-cogai-Dao-hocbong-Eramus-1.jpg

Đường ngược chiều của Chảo Yến là đi ngược lại những định kiến, quan
niệm, thái độ của dân bản, kể cả bố mẹ và những người thân nhất trong họ
hàng, gia đình, cho rằng con gái thì không nên học lắm làm gì, con gái
người dân tộc thiểu số thì càng không mong học cao vì học sao lại người
Kinh. Cô bé đi học sớm tuổi khi được mẹ cho đi theo cùng chị đến trường
ngày khai giảng và rồi từ ngày đó, việc học của cô là chuỗi ngày vật lộn
với cái sự ăn đói mặc rách và đủ mọi sự thiếu thốn của một gia đình
nông dân nghèo vùng cao.

Hãy nghe cô thạc sĩ hiện nay ở thủ đô kể lại cái ăn của cô bé là mình hồi nhỏ ở quê: “Tôi
khai vị bữa sáng bằng lá me rừng, món chính là lá xuyến chi, có hôm đổi
sang lá tàu bay cho phong phú. Tôi kết thúc bữa sáng bằng món tráng
miệng là lá chó đẻ, có nơi gọi là sam hôi. Tôi chào đón bữa trưa bằng
món nộm lá thập cẩm: lá chó đẻ, lá tàu bay, lá me rừng, lá xuyến chi và
nhiều loại “rau thơm” khác có nguồn gốc xuất xứ không từ trên cành cây
thì cũng dưới mặt đất. Bữa tối của tôi sẽ hoành tráng hơn vì tôi được ăn
ở những nơi yêu thích của loài lợn như chuồng lợn hoặc các bụi rậm và
tất nhiên, các món ăn cũng không kém phần đặc sắc. Tất cả các bữa ăn của
tôi đều được ăn kèm với một loại gia vị mà gia đình người Việt Nam nào
cũng có, đó là muối trắng”
 (tr. 41).

Cứ thế,  bố mẹ suốt ngày lên nương rẫy, cô bé sống tự nhiên như cây
cỏ cùng chúng bạn và đi học hồn nhiên như đi chơi. Nhưng cô đã được Trời
phú cho trí thông minh nên học giỏi. Học giỏi nhưng hết năm lớp 9 thì
cô đành phải ở nhà cùng anh trai theo bố mẹ lên rẫy phát nương hoặc chăn
trâu, lấy củi dù cô rất muốn được xuống huyện dự thi vào lớp 10. Thầy
giáo thương trò đến nhà thuyết phục bố mẹ cho cô đi học tiếp cũng không
được và cô sau khi nghe lỏm xong câu chuyện của người lớn lòng đầy buồn
bã đã ra ngồi chuồng lợn khóc ròng bỏ cả bữa tối. Để nguôi ngoai nỗi
thèm học, cô tranh thủ những lúc chăn trâu lại đứng nấp ghé lớp học mà
mình đã học qua đến nỗi thầy giáo cũ lại cho vào lớp ngồi cùng để có dịp
ôn lại kiến thức cũ mong năm sau đi thi. Hy vọng lại nhen nhóm trong
cô. Nhưng rồi nó lại nhanh chóng bị dập tắt bởi những lời bàn ra tán vào
của bà con xóm bản để cuối cùng bố mẹ cô quyết định dứt khoát và lạnh
lùng là cô phải ở nhà đi rẫy thay vì đi học tiếp. Đó là sự ngược chiều.

Ba năm ở nhà cô đã những muốn ruồng bỏ, quên đi ước mơ đến trường học
tiếp, nhất là khi cô phải chứng kiến cảnh các chủ nợ đến nhà mình giằng
từng bao lúa mới tuốt xong để trừ vào món nợ bán lúa non mà bố cô đã
ứng trước để có tiền lo việc học cho các con. Cô đã tìm cách vào rừng
lấy măng phơi khô bán chợ, đã thử mua rau đưa sang Trung Quốc bán, đã
liều sang bên kia biên giới làm công kiếm tiền.

Và cô tưởng đã yên phận như bao cô gái vùng cao khác. Nhưng rồi ước mơ lại bùng cháy trong cô, “lần này không còn chỉ là đơn giản là thích đi học nữa mà là khát vọng thoát nghèo”
(tr. 212). Và người thầy giáo cũ đã khích lệ cô, đã lại đến nói chuyện
với bố mẹ cô. Rồi cô được xuống huyện thi vào lớp 10 và thi đậu vào
Trường Trung học Phổ thông số 2 Bát Xát. Cô được vào lớp 12A4 là lớp cá
biệt của trường. Cô được bầu làm lớp trưởng cả ba năm học. Cô được nhận
học bổng của tổ chức Global Care cho học sinh vượt khó học giỏi ngay năm
học đầu cấp.

Vượt qua những khó khăn nghịch cảnh cô đã bước đầu chứng tỏ được
mình. Nhưng cùng lúc, sự ngược chiều lại tăng lên với cô mỗi khi về nhà
thấy bố mẹ không vui, thấy những người bà con chòm xóm mỉa mai, dè bỉu
việc học của mình, thấy sự độc ác hồn nhiên của mọi người. “Tôi thật
sự sợ con đường về nhà! Sợ cái bản làng tôi yêu từng ngóc ngách, sợ
những con người mà tôi từng rất yêu quý. Bản làng lúc đấy đã có điện
lưới quốc gia, nhưng đường về nhà thì lại bị mất điện, nên chúng tôi
chẳng muốn tìm đường về”
(tr. 230) – cô gái lúc đó đã nghĩ vậy.

Nhưng cô vẫn quyết ngược chiều. Tốt nghiệp phổ thông, cô thi đậu vào
Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, tiếp tục phát huy năng lực học tập
của mình, chinh phục được tiếng Anh, từ đó mở ra cho mình con đường đi
đến châu Âu, vươn ra thế giới. Cô đã chủ động nắm lấy vận mệnh mình và
biết “căng buồm đợi gió” khi vận may đến. Cô chọn ngành học về rừng vì
cô sống ở rừng, biết nỗi đau của rừng khi bị con người phá hủy và nỗi
đau của người khi vì phá rừng mà bị thiên nhiên trừng phạt. Hiện giờ
Chảo Yến đang làm việc tại Trung tâm Con người và Thiên nhiên (Hà Nội).
Cô gái tuổi Ngọ (1990) đã thực sự tung vó ngựa vượt qua những rào cản
ngược chiều để phi tới những miền xa khát vọng, những đỉnh cao mơ ước,
cống hiến sức lực và năng lực của mình cho lợi ích cộng đồng.

Cuốn tự truyện “Đường ngược chiều từ bản người Dao đến học bổng
Erasmus” đọc thích vì giọng điệu kể chuyện. Chảo Yến kể lại cuộc đời
tuổi trẻ của mình bằng lời văn hồn nhiên, tinh nghịch, mang chất tuổi
mới lớn (teenage) tạo được sự đồng cảm yêu mến nơi người đọc dù chuyện
bố mẹ, bản làng và của chính cô nhiều buồn bã, đau xót. Những trang kể
về buổi khai trường, về buổi học cấp hai đầu tiên, về cuộc đi chợ huyện,
về cảnh tranh mót mía với bầy lợn, về cậu bạn tên Hộp, về chuyện
“cave”, về hình ảnh người bố trong buổi lễ tri ân trưởng thành của con
gái, về chuyến đi của bố con lần đầu xuống Hà Nội… đọc lên có thể cười
khóc được.

Đặc biệt trong truyện kể của Chảo Yến hiện lên sinh động những con
người quanh cô, đã giúp cô dám làm hành trình ngược chiều đi tới ước mơ.
Đó là những người thầy ở cấp trung học và đại học. Đó là anh chị em
trong nhà. Và trên hết là người mẹ của cô. Mẹ hay quát mắng, phát mông,
đánh đòn con gái mỗi khi cô nghịch ngợm. Mẹ đã có lúc cùng bố muốn con
gái thôi học ở nhà. Nhưng chính mẹ sau hôm nói chuyện với thầy giáo đã
quyết định cho con gái xuống huyện thi vào lớp 10 bất chấp ý bố không
muốn. Mẹ tin ở đứa con gái “đầu hai xoáy” của mẹ. Mẹ đã truyền cho con
gái quyết tâm đi tới từ lời tâm sự: “Cuộc đời mẹ từ bé đã vất vả,
tám tuổi mẹ đã phải đi làm thuê cùng bà ngoại để mua thuốc phiện cho ông
ngoại. Sau ông ngoại mất, mẹ lại phụ bà ngoại nuôi các cậu, các dì. Mẹ
cũng rất muốn được đi học, đến lúc lấy bố con mới được ông nội dạy để
biết đọc báo. Mẹ mà được đi học mẹ chắc chắn cũng học giỏi như con,
nhưng đời mẹ coi như bây giờ chỉ có các con thôi. Nên con hãy nhớ những
gì mẹ kể, những gì người ta đối xử với bố, với mẹ, với nhà mình, để cố
gắng học. Con tuyệt đối không được thất bại, con phải cho mọi người thấy
con đường mình đi là đúng”
(tr. 229). Nghe những lời này của mẹ,
cô gái biết không thể tự cho phép mình bỏ cuộc. Cô đã dấn bước tiếp trên
con đường đã chọn, đã quyết tâm leo hết con dốc Khó Khăn để được “rã
rời” trong hạnh phúc tột độ khi lên tới đỉnh dốc.

Khép lại cuốn tự truyện của mình, Chảo Yến viết: “Tôi không dám
nói tôi là người thành công, nhưng với tôi nụ cười tít mắt của bố mẹ
khoe khắp nơi rằng “Con gái tôi sắp đi Đức học thạc sĩ”, nụ cười của
thầy Lee, thầy Dũng khi nói “Congratulations! Well done, I’m proud of
you”, hay chỉ đơn giản là quyết tâm đi học của một vài em nhỏ ở trường
cấp hai trên bản, đó chính là sự thành công. Thành công còn là cả khi
tôi dám thoát khỏi lớp vỏ bọc, dám mơ ước được bay cao, bay xa như bao
người. Hay đúng hơn, tôi vốn đã thành công ngay từ giây phút tạo hóa cho
tôi được làm con của bố mẹ. Dù có nghèo, có vất vả, nhưng chính hoàn
cảnh đó đã tôi luyện tôi thành một người kiên cường”
(tr. 276).

Có lẽ cả cuốn sách và những lời này của tác giả sẽ truyền được cảm
hứng cho nhiều người đọc. Chảo Yến đã có dự định trích 10% lợi nhuận từ
cuốn sách này để lập một quỹ học bổng dành cho các học sinh nghèo ở quê
mình và cho các sinh viên ở Trường Đại học Lâm Nghiệp nơi cô từng học.




QUÊ HƯƠNG THƯƠNG NHỚ

QUÊ HƯƠNG THƯƠNG NHỚ-LỜI NÓI ĐẦU CHO “MIỀN THƠ ẤU”

Vũ Thư Hiên

Khi đặt bút viết những dòng đầu tiên của cuốn sách mà bạn đang cầm trong tay, tôi không dám tin rằng sẽ có ngày nó được thấy ánh sáng mặt trời.

Nó ra đời như một may mắn không ngờ, như nhờ một phép màu.
Đối với tôi, nó có ý nghĩa đặc biệt. Một thời, nó đã là người bạn tâm tình, là cái nạng cho tôi vịn vào mà đi trên con đường vô định.

Mùa đông năm 1967 là một một mùa đông giá buốt, ít nhất là cho tôi, trong cái xà lim không có sưởi và không có quần áo ấm. Trong mùa đông ấy, không hiểu vì sao, tôi cảm thấy nhớ quê hương nhiều hơn bất cứ lúc nào. Cái đầu tiên gợi nhớ đến quê hương là mùi khói cay nồng từ những đống lá mà phu quét đường đốt lên để sưởi, ở bên kia bức tường đá của nhà tù. Ở quê tôi người ta thường đốt những đống rấm như thế để khói ngăn sương muối sà xuống những vườn rau. Mùi khói thoang thoảng lọt vào xà lim gây nên một nỗi nhớ cồn cào, da diết.

Gối đầu trên đôi tay, tôi nằm dài trên phản xi măng lạnh ngắt mà thả hồn về quá khứ, tự hứa thể nào rồi mình cũng phải viết một cuốn sách về cái làng bùn lầy nước đọng quê hương. Cái làng nhỏ nhoi và nghèo khổ ấy gắn liền với thời thơ ấu của tôi, cái thời không mấy hạnh phúc nếu đứng ngoài nhìn vào, nhưng tuyệt đẹp đối với tôi, mà cũng có thể đối với bất cứ ai từng có một cái quê để mà nhớ.

Lúc ấy tôi không nghĩ rằng cuốn sách tôi định viết sẽ được thực hiện không phải ở nơi nào khác, mà trong nhà tù. Ở Hỏa Lò tù nhân bị cấm đủ thứ, nhất là viết, hoặc đọc. Một mẩu giấy báo bị quản giáo phát hiện trong xà lim cũng là một cái tội, người tù giấu nó sẽ bị kỷ luật cùm chân, bị cắt “tiếp tế”. Trong năm tù đầu tiên tôi chưa có đủ kinh nghiệm để biết rằng khi cần thiết người tù có thể làm được những việc anh ta không bao giờ ngờ tới.

Ở trại quân pháp Bất Bạt (Sơn Tây) sự sống trong xà lim còn tệ hơn ở Hỏa Lò. Tôi hoàn toàn bị cắt đứt với thế giới bên ngoài. Nếu ở Hỏa Lò người tù xà lim còn có thể đoán biết được một sự kiện nào đó xảy ra bên kia những bức tường và hàng rào dây kẽm gai nhờ nghe ngóng được động thái của bạn đồng cảnh ở các xà lim cùng khu, thì ở Bất Bạt cái đó hoàn toàn không có. Những người bị giam ở đây, bên cạnh xà lim tôi, thường đã qua thời kỳ hỏi cung (thẩm vấn). Họ yên tâm nằm chờ, tháng này qua tháng khác, mà cũng có thể năm này qua năm khác, nhưng họ có cái để mà chờ: đó là ngày chắc chắn sẽ được ra tòa lĩnh án. Án có thể ngắn, có thể dài, nhưng họ sẽ được trở về khi mãn hạn. Những người tù chính trị, lại là thứ có tên gọi mỹ miều là “xử lý nội bộ”, thì không thể có xử, cứ việc nằm đấy, không chờ.

May cho tôi, ở trại này trong một lần “tiếp tế” vợ tôi lén lút giúi cho tôi một cây bút bi Trung Quốc hai màu. Tôi có một đam mê khó hiểu đối với những cây bút. Vợ tôi biết người ta chẳng đời nào cho tù nhận thứ đồ quốc cấm ấy nhưng đã mang nó cho tôi, tôi sẽ có cách giấu. Tôi vờ xin đi vệ sinh, ở đó tôi kín đáo phá nát cây bút quý giá ấy, chôn những mảnh vỡ của nó xuống đất, rồi luồn hai cái ruột bút bi vào nẹp áo bông để mang vào xà lim.

Cuốn sách bắt đầu từ ấy, mùa thu năm 1969.
Tôi mải mê viết những trang đầu tiên trên vỏ bao thuốc lá, trên giấy kẹo, trên những riềm báo cũ mà gia đình bọc đồ “tiếp tế” (đến lúc đó nhà cầm quyền đã rộng lượng cho phép chúng tôi được giữ lại một số tờ giấy có in chữ, nhưng phải là thứ cũ, hết sạch thời gian tính). Viết phải rất cẩn thận, không được lãng phí những mẩu giấy hiếm hoi, lại phải canh chừng lính gác năm phút mươi phút một lần lượn lờ qua phòng giam để kiểm tra.

Những mẩu “bản thảo” lắt nhắt không thể xếp thành trang, phải đánh số rõ ràng để không lẫn lộn, được gom lại, được cất giấu bằng mọi cách trong cái xà lim nhỏ hẹp. Sau đó là những ngày chờ đợi đến lần được gặp gia đình kế tiếp thì tuồn cho mẹ tôi, vợ tôi mang ra. Khi viết được nhiều, bản thảo tích lại khá dày cũng gây ra mối lo. Mà những cuộc gặp lại khôngcó kỳ có hạn, gia đình muốn gặp thì làm đơn, khi nào người ta rộng lượng cho gặp thì được gặp. Được cái từ năm tù thứ ba trở đi đám quản giáo coi nhà tiếp tế không còn khám xét kỹ mỗi lần tôi được gặp gia đình nữa. Vả lại, chẳng cần khám làm gì – chúng tôi đâu có biết ngày nào tháng nào được gặp vợ con đâu mà chuẩn bị. Tôi bao giờ cũng sẵn sàng, cho nên lần nào gặp gia đình cũng chuyển ra ngoài được một ít bản thảo.

Về sau này, trong xà lim trại Tân Lập (Phú Thọ), việc viết không còn khó như trước, mặc dầu vẫn phải canh chừng để không bị phát giác. Sau nhiều lần yêu cầu kiên trì, chúng tôi thậm chí còn được người ta chiếu cố cho phép gia đình mang cho giấy bút và vài cuốn tiểu thuyết ngoại quốc để đọc.
Cuốn sách hình thành dần dần, từng ít một.

Một lần các nhân viên công an nghi ngờ tôi chuyển gì ra, họ chặn mẹ tôi và vợ tôi lại để khám, nhưng hai người đã mang được những mẩu giấy của tôi ra ngoài trót lọt.

Khi những bản thảo đã gom được kha khá, các em tôi – Vũ Chí Dũng, Vũ Thu Hương và Vũ Thu Hòa – hì hục chép lại. Năm 1976, sau chín năm tù, tôi trở về thì đã có một bản thảo hoàn chỉnh. Các em tôi còn đánh máy ra làm mấy bản sạch sẽ để những người thân đọc.

Mẹ tôi đọc xong, bảo:
– Mẹ thích. Nhưng sách không in được đâu. Một là, tên của con bị cấm. Hai là, chuyện một nhà, một làng, liệu mấy ai quan tâm?
Bố tôi nhận xét:
– Dù sao thì nó cũng ghi lại dấu vết một thời kỳ của nông thôn Việt Nam vùng Thiên Chúa giáo. Cứ để đấy, nó sẽ có ích sau này. Cho những nhà nghiên cứu chẳng hạn.

Tôi không có ý định viết cho những nhà nghiên cứu. Họ chẳng cần đến tôi. Tôi cũng chẳng có ý định viết để in. Tôi viết vì đó là công việc duy nhất mà tôi có thể làm trong sự ăn không ngồi rồi bất đắc dĩ. Tôi viết vì tôi thèm được làm công việc mà tôi yêu thích. Tôi viết, ít nhất thì cũng để cho các con tôi, chúng không biết thời thơ ấu của tôi đã trôi qua thế nào. Mà chắc gì sẽ có ngày tôi kể được cho các con tôi nghe?

Hồi ở trại Bất Bạt tôi không nghĩ tới ngày về. Không ít người đã nằm lại trong các nghĩa trang nhà tù. Những nghĩa trang ấy, thường ở sườn đồi, nếu có đồi, hoặc ở một bãi hoang giữa rừng. Trong cái sự tù của chúng tôi nghĩ tới ngày về là ý nghĩ ngu ngốc.

Ý nghĩ viết cuốn sách để lại cho các con đã làm cho cuốn Miền Thơ Ấu có một sắc thái riêng. Nó là hồi ký, nhưng trong lần in đầu tiên nhà xuất bản đặt nó vào loại tiểu thuyết. Trên bìa sách cũng đề rõ Miền Thơ Ấu – tiểu thuyết. Hồi ấy ở Việt Nam chỉ có loại hồi ký là hồi ký cách mạng, do các lãnh tụ kể cho các nhà văn ghi. Người thường không ai viết hồi ký, không được viết hồi ký. Để nó vào dạng tiểu thuyết thì dễ in hơn.

Còn có một lẽ nữa, là cuốn sách có hình thức giống tiểu thuyết trong cách viết, trong cách miêu tả nhân vật, dựng lại đối thoại. Tuy nhiên, tên người, tên đất trong cuốn này được giữ nguyên, không thay đổi. Người trong họ ngoài làng sẽ nhận ngay ra người quen khi đọc. Mà người làng tôi thì không quan tâm đến chuyện cuốn sách mà họ đọc thuộc thể loại gì.
Tôi cho rằng có thể chép cuộc đời vào sách và tạo ra cho nó một dáng vẻ nghệ thuật, nếu ta nhìn đời theo cách nghệ thuật.

Cuốn sách nằm lâu trong đống giấy má vàng úa của một thời chữ nghĩa. Tôi cũng chẳng có thời giờ để ý tới nó vì còn bận đánh vật với những thí nghiệm, chạy đi chạy lại các cơ quan nhà nước kiếm hợp đồng làm hàng gia công, là việc có ích cho sự kiếm sống. Từ khi ra tù tôi làm đủ mọi thứ nghề tạp nham, trong đó việc sản xuất hàng hoá liên quan tới hóa chất cho các tổ hợp thủ công nghiệp đem lại nhiều tiền hơn cả.

Mãi tới năm 1987, anh bạn Lê Phát, biên tập viên đài Tiếng nói Việt Nam, một người tò mò thích văn chương, đã khui nó ra trong đống giấy má bừa bộn của tôi. Lê Phát đọc một lèo, anh thích nó, bèn đưa cho nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh, nơi nhà văn Hà Mậu Nhai làm giám đốc. Hà Mậu Nhai cũng đọc một lèo, rồi nhắn tôi đến chơi. Anh tỏ ý muốn in cuốn sách. Tôi ngăn anh:
– Anh không biết có một chỉ thị cấm in tôi sao ?
– Tôi biết.
– Vậy mà anh vẫn quyết định in ?

Hà Mậu Nhai nói:
– Chừng nào chưa có trước mặt tôi một văn bản pháp luật trong đó ghi rõ quyết định của tòa án cấm không được in Vũ Thư Hiên thì tôi vẫn in. Tôi không ngán những lệnh miệng và những chỉ thị nội bộ. Tôi in, và còn in tên Vũ Thư Hiên to hơn bình thường nữa kia.

Tôi ngần ngừ. Tôi không muốn vì cuốn sách của mình mà bạn mình mang vạ. Hà Mậu Nhai nói chỉ cần tôi đồng ý cho in. Tôi miễn cưỡng đồng ý.
Cuốn sách được in ra. Tên tác giả được in to hơn bình thường, đúng như Hà Mậu Nhai nói. Hà Mậu Nhai là một nhà văn nhưng không có chân trong Hội Nhà Văn. Anh chỉ có chân trong Xã Hội Những Người Tử Tế.

Năm sau Miền Thơ Ấu được giải thưởng loại A của Hội nhà văn Việt Nam, tức là giải nhất, cho sách dành cho thiếu nhi, mặc dầu nhà xuất bản không đưa nó vào danh sách tác phẩm dự thi. Trong chuyện này Hà Mậu Nhai nghĩ như tôi, sách được in ra là tốt rồi, mong gì được giải. Việc trao giải thưởng năm ấy là sự kiện lớn. Đã nhiều năm chuyện xét và trao giải thưởng văn học bị xếp lại, vì chiến tranh, và vì văn chương là cái sự không ra gì, một thứ xướng ca vô loài, dưới mắt các nhà lãnh đạo. Chủ tịch Hội đồng xét giải là nhà văn Tô Hoài. Phùng Quán cũng được giải thưởng, loại B, với tiểu thuyết ba tập Tuổi Thơ Dữ Dội. Hai tên tội đồ, một Xét Lại Hiện Đại, một Nhân văn-Giai phẩm, chiếm hai giải thưởng nhất nhì trong một cuộc thi văn chương, là quá lố. Nhưng đã là năm 1988, hai năm sau khi Đảng cộng sản tuyên bố “đổi mới” và “cởi trói”. Nếu là những năm trước, việc làm ngang bướng của Hà Mậu Nhai ắt bị trừng trị. Anh vẫn ngồi yên trên ghế giám đốc cho tới khi qua đời, ba năm sau.

Giải thưởng này đối với tôi là bất ngờ, không kém gì việc cuốn sách được in ra. Khi mọi người cho tôi biết các báo đều đã đăng tin, tôi mới biết. Việc cuốn sách kể chuyện tầm phào về một làng quê khỉ ho cò gáy mà được giải, lại giải cao, là điều khó tin.

Tô Hoài hiển nhiên đóng vai trò quan trọng trong việc trao giải lần này. Uy tín của nhà văn già đã thắng tính bảo thủ của các cơ quan lãnh đạo tư tưởng của đảng cộng sản.
Sau đó, đài phát thanh Sài Gòn đọc Miền Thơ Ấu trong chương trình “Đọc truyện đêm khuya”, nhà xuất bản Kim Đồng ỏ Hà Nội tái bản một lần, rồi hai lần…

So với bản thảo, cuốn Miền Thơ Ấu trong lần in đầu tiên được rút gọn còn một nửa theo yêu cầu của nhà xuất bản. Vì không có giấy. Giấy vào những năm ấy đắt khiếp đảm.

Lần xuất bản sau ở hải ngoại không thiếu giấy nhưng lại thiếu những trang bản thảo bị bỏ ra nọ. Chúng nằm lại ở Việt Nam, cách tôi quá xa, không phải xa theo khoảng cách địa lý, mà bởi những khó khăn. Tôi cũng không tìm cách bổ khuyết. Cuốn sách đã có cuộc sống riêng của nó, diện mạo của nó. Chưa chắc gì một sự thay đổi sẽ làm cho nó đẹp hơn. Những gì bị bỏ ra ngoài trong lần xuất bản đầu tiên rồi sẽ được đặt vào một lần xuất bản khác, hoặc một chỗ khác.

Câu chuyện về một chú bé trong cuộc gặp gỡ với quê hương của chú đã tìm được độc giả của nó. Thì ra quê hương của một người, nếu nói về nó bằng tình yêu chân thật, từ trái tim mình, thì cũng mang dáng dấp quê hương của bất kỳ ai khác, trong sự đồng điệu của tâm hồn.
Tôi bao giờ cũng nhớ về tuổi thơ của mình với tất cả niềm thương yêu dịu dàng, bởi vì tuổi thơ của ai cũng vậy, nó chứa đựng những tình cảm đẹp nhất mà cuộc đời có thể cho ta, khi nắng bao giờ cũng lấp lánh và gió bao giờ cũng ngát hương. Nơi miền đất tuổi thơ, mỗi đám mây bay ngang cũng gợi ta hình dung ra những xứ sở xa xôi từ đó nó bay đến, mặt trăng rằm nào cũng bắt ta phải ngắm nhìn để tìm ra bóng dáng cây đa với chú Cuội cổ tích, thậm chí một con chuồn chuồn ngô cũng có phép màu làm cho ta biết bơi.

Bạn đã bao giờ cho chuồn chuồn ngô cắn rốn chưa? Nếu bạn đã được một con chuồn chuồn ngô cắn rốn một lần để được sặc sụa một lần trong dòng sông quê hương thì bạn là người hạnh phúc đấy.
Tôi đã đọc những dòng viết ấm áp và chân thành, và lạ thay, bao giờ cũng đầy nuối tiếc, về tuổi thơ trong sáng của mình nơi Lev Tolstoi, Maxim Gorky hay Paul Vaillant Couturier.

Chúa Giê-su Ki-ri-xi-tô dạy: “Hãy như con trẻ!”
Tôi chưa được nghe lời nào thông thái hơn.

Nếu tất cả những con người sống trên mặt đất này biết nâng niu gìn giữ trái tim con trẻ trong mình thì chúng ta đã không phải chứng kiến những gì xấu xa mà chúng ta phải chứng kiến: chiến tranh, nhà tù, và mọi sự hành hạ mà con người hàng ngày gây ra cho đồng loại.

Bằng cuốn sách bé nhỏ này, tôi muốn chia sẻ với bạn đọc tình cảm trìu mến đối với những gì quý báu nhất trong cuộc đời, những gì bạn và tôi đều có nhưng chóng quên, ở một miền thơ ấu của mỗi chúng ta.

Vũ Thư Hiên




Tâm sự của một người yêu Sài Gòn đến bất chấp

Tâm sự của một người yêu Sài Gòn đến bất chấp

“Vọng Sài Gòn” là một tâm sự ngút lòng của một người yêu Sài Gòn đến bất chấp. Nhưng Trác Thúy Miêu đâu chỉ yêu, mà muốn kêu gọi tình yêu ấy từ những người trẻ.

Trác Thúy Miêu (tên thật Vũ Hoài Phương) vốn được biết đến như một người có tính cách độc đáo. Cô không chỉ là nhà báo với ngòi bút sắc sảo, một MC có phong cách đặc trưng không lẫn vào đâu, mà còn là một thị dân yêu nồng nhiệt, yêu dữ dội đến bất chấp thành phố mình đang sinh sống. Tình yêu cuồng nhiệt ấy đã được cô gửi gắm vào trong tập tản văn vừa mới xuất bản Vọng Sài Gòn, như là một cách giữ gìn ký ức cho bản thân và những người đồng điệu.

Tam su cua mot nguoi yeu Sai Gon den bat chap hinh anh 1 17760895_10203258432937286_784245843635762483_o.jpg
Nhà báo, MC Trác Thúy Miêu. Nguồn: Facebook nhân vật.

Vọng Sài Gòn (sách do NXB Hội Nhà văn và Công ty Văn hóa & Truyền thông Nhã Nam liên kết xuất bản và phát hành) là đứa con đầu lòng của Trác Thúy Miêu. Cuốn sách tập hợp nhiều bài viết trong nhiều năm về miền đất mà cô đã gắn bó suốt hơn 40 năm.

Với Vọng Sài Gòn, Trác Thúy Miêu muốn cho thấy đằng sau sự hào nhoáng của giải trí truyền hình là một Trác Thúy Miêu với sứ mệnh của người cầm bút. Và ở trong địa hạt này, cô tiếp tục sự bền bỉ của mình trong việc gìn giữ Sài Gòn (cô đã làm việc này trong nhiều hoạt động khác nhau) theo cách rất riêng, như cách cô định tính cho Sài Gòn từ chính nhân xưng của nó. Mỗi miền đất hay mỗi con người, nếu mà thuộc tính đặc thù quá đặc biệt thì danh từ gọi miền đất hay con người ấy một ngày nào đó sẽ trở thành tính từ. Sài Gòn có những thuộc tính đủ để gọi một ai đó, một hành xử nào đó, một văn hóa sống “rất Sài Gòn”.

Cái riêng của Trác Thúy Miêu trong Vọng Sài Gòn còn là sự đột phá trong phong cách thể hiện, sự táo bạo trong các ý tưởng, sự ngồn ngộn của chữ nghĩa… Chẳng phải ngẫu nhiên mà trong chia sẻ về tập tản văn này (in cuối cuốn sách), MC, diễn viên Liêu Hà Trinh đưa ra nhận xét: “Nếu bạn đang tìm một nàng thơ áo trắng, đạp xe tới Dinh Độc lập trên con đường Trưng Vương đầy lá me, hay những hợp xướng ngợi ca cho sức sống trai trẻ tráng kiến của 300 năm thành phố, rất tiếc phải nói bạn tìm nhầm chỗ.

Tam su cua mot nguoi yeu Sai Gon den bat chap hinh anh 2 6g0Fstu.jpg
Bìa cuốn sách Vọng Sài Gòn

Miêu ví Sài Gòn như một ả đàn bà vừa hồn nhiên vừa giảo hoạt. Phép so sánh đó có phần phiến diện đó hy vọng không làm người đọc khó chịu. Bản thân tác giả cũng đóng vai xuất sắc vào thân phận đào hoa của một ả mỹ nhân “dễ bỏ khó quên” với những dẫn chứng hùng hồn chắc nịch khiến người ta khó nghĩ khác”.

Là một người có óc quan sát, trí nhớ đặc biệt tốt, Trác Thúy Miêu đã dùng ký ức của mình để chụp lại những hình ảnh đắt giá về Sài Gòn. Ở đó, cô đưa người đọc về những kỷ niệm và tâm thức Sài Gòn kiểu cũ, Sài Gòn tập làm quen với một giai kỳ mới trong thập niên 1980 với cái sức sống vừa trẻ trung, vừa hoài cổ, Sài Gòn trong vô số những cuộc đại phẫu, tiểu phẫu dọc ngang trong một vài thập niên trở lại đây, hay Sài Gòn hiện tại, một thành phố năng động đang chuyển mình, phát triển từng ngày…

Có rất nhiều thứ được Trác Thúy Miêu mô tả trong Vọng Sài Gòn, bằng một thứ ngôn ngữ trau chuốt, đôi khi cường điệu nhưng rất hợp lý. Đó là những đường nét bút vẽ tranh truyện của 02 họa sĩ Văn Minh và Đức Lâm trên báo Khăn Quàng Đỏ trong những năm 1980; sự kết thúc thói quen đọc truyện diễm tình của chị em phụ nữ bình dân có từ thập niên 1960 khi video phim bộ và truyền hình nội hóa xuất hiện; mùi hương mang đặc tính của Sài Gòn và loại nước hoa Oriental mang phong vị phương Đông từ thập niên 1920, ảnh hưởng đối với Sài Gòn đến mãi về sau này.

Tam su cua mot nguoi yeu Sai Gon den bat chap hinh anh 3 2.jpg
Chợ Hoa Nguyễn Huệ nhìn từ trên cao, 1990. Ảnh: Doi Kuro

Đó là một thành phố khi không còn mang tên Sài Gòn; những cư dân xuất hiện ở thành phố qua quan sát của Trác Thúy Miêu ở tuổi mới lớn, đầu thập niên 1990 mà cô gọi nôm na “Kỷ phục sinh – đánh dấu thời kỳ Việt Nam bắt đầu hé vào cuộc mở cửa khá tưng bừng, sau hơn một thập niên khóa kín”; cuộc hồi hương của những cựu thị dân đã nghiễm nhiên trở thành những kiều bào yêu nước, là màn khai sinh ổ ạt của những huyền thoại thời vụ như taxi vàng, điện thoại công cộng; sự tàn lụi của sân khấu cải lương; món nghêu phô mai đốt lò; tính hay chuyện của dân Sài Gòn…

Đó là câu chuyện nền văn minh mì Tàu Chợ Lớn, nghiệp vận của Thiên Hương, huyền thoại Miliket, Vị Hương giấy kraft; những gánh nhạc rong góp phần lưu truyền dòng nhạc đặc thù của Sài Gòn – dòng nhạc vàng, hay bolero; giọng đàn tình tứ vô ngôn của ghi ta vô thường; chiếc áo dài Sài Gòn đúng kiểu, mang nét bản địa đặc thù của Sài Gòn, đôi tà áo đặc biệt một thời đã làm nên cốt cách xứ ngọc Viễn Đông…

Đó là từ kịch nói đến phim trường, phòng trà đến vũ trường, kỷ niệm 30/4 cho đến lễ Giáng sinh; thương xá Tax bị phá bỏ đến hàng cây đường Tôn Đức Thắng bị đốn gục… Cứ thế, theo dòng cảm xúc với những ký ức vọng về, Trác Thúy Miêu kể tỉ mỉ về những điều mình quan sát thấy, những cảm nhận hết sức tinh tế về Sài Gòn như một kẻ si tình.

Có thể nói, Vọng Sài Gòn là một tâm sự ngút lòng của một người yêu Sài Gòn đến bất chấp. Nhưng Trác Thúy Miêu đâu chỉ yêu, mà muốn kêu gọi tình yêu ấy từ những người trẻ, như người đi truyền giáo, đạo của người yêu Sài Gòn. Cô nhắn họ hãy “Yêu thương mê đắm và hồn nhiên. Yêu không cầu hơn thua cao thấp, yêu bất luận xuất xứ nhân thân. Yêu khỏi ai hô hào thi đua phấn đấu”.




Ra mắt sách “Con Đường Phượng Vĩ”

     Ra mắt sách “Con Đường Phượng Vĩ”

Chiều Chù nhật 8 tháng 10, hồi 2PM tại Hội trường Câu Lạc Bộ Mây Bốn Phương đường số 2, thành phố San José, bắc California, buổi Ra mắt tác phẩm Con Đường Phượng Vỹ của Nhà Văn Tôn Nữ Áo Tím, đã được tổ chức và khai mạc với sư tham dự của hàng trăm đồng hương và thân hữu, có người đến từ Texas, Nam Cali và các thành phố phụ cận.

 
Thời tiết đẹp, không khí ấm áp, dễ chịu, nhưng vào cùng ngày giờ này có nhiều sinh hoạt khác tại địa phương, nên một số bạn bè của tác giả đã gọi phone xin lỗi, rất tiếc đã không đến tham dự được.
 
Tác giả Tôn Nữ Áo Tím là ái nữ của Nhà Văn Hoàng Diệp,- Thư ký Viện Đại học Huế ngày xưa – Cựu Nữ sinh Đồng Khánh và Đại học Huế, Tôn Nữ Áo Tím được sinh ra trong một gia đình mà các Anh Chị Em đều có máu Văn nghệ, ca hát, làm thơ, viết văn. Tác phẩm Con Đường Phương Vĩ của Cô là là tập truyện đầu tay với một số truyện ngắn, tuỳ bút với dòng văn chương bình dị nhưng mang đầy những suy tư về cuộc sống, nhất là hình ảnh cuộc đổi đời đầy cay nghiệt sau khi CS chiếm trọn miền Nam. Nhà Văn Song Nhị, Diên Nghị và Ngô Đức Diễm đã giới thiệu tác phẩm, Tác giả với những dòng cảm nghĩ thật đẹp.
 
Sau đây là một số hình ảnh chúng tôi ghi lại  xin được gửi đến Quí Bạn Xa gần, để gọi là chia chút niềm vui với tác giả Tôn Nữ Áo Tím, về một buổi Ra măt tác phẩm khá thành công, vào thời điểm mà chuyện ra mắt sách bây giờ càng ít thu hút người tham dự.
 
                      












 



Biển Đỏ Việt Nam (Chinh Nguyên)

BIỂN ĐỎ VIỆT NAM.
  Chiều thứ bẩy 01 tháng 11 năm 2008 tôi lái xe trong khi trời mưa đầu thu có gió gây lạnh để tới Học Khu Franlin McKinley Shool District số 463 Wool Creek Dr. San Jose Ca. 95112 để dự buổi ra mắt sách của tác giả còn trong quốc nội, anh Nguyễn Quang.
  Sách do nhóm Cội Nguồn ấn hành và xuất bản hầu yểm trợ tinh thần cho những nhà văn trong nuớc bất đồng chính kiến đã can đảm bước qua được sự sợ hãi để nói lên tiếng nói tranh đấu bằng ngòi bút cho tự do dân chủ và nhân quyền tại  Việt Nam.
  Sau phần nghi lễ chào quốc kỳ Hoa kỳ và Việt Nam. Qua lời cám ơn các quan khách tới dự có đọc tên của hai MC anh Hoàng Tuấn, Chị Thủy Tiên. Tôi nhìn quanh  và thấy thành phần văn nghệ sĩ đông đảo hơn cả mặc dù trời mưa, nhưng vì cái tình của người cầm bút và hổ trợ đấu tranh.
Trong số quan khách có Cụ Tiêu Hữu Bích, Cụ Trương Đình Sửu, Họa Sĩ Đào Hải Triều,Ông Trần Ngọc Ảnh, Ông Nguyễn Cao Can, Ông Đỗ Hữu Nha, Nhà thơ  Đông Anh chủ tịch Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt, Nhà Thơ Trường Giang, chủ tịch nhóm Thi Đoàn Bốn Phương, Nhà Văn Giao Chỉ, Giám Đốc IRCC,  Nghệ sĩ Đan Hùng, Nhà thơ/nhà văn Hoàng Văn, Võ Thạnh Văn, Ngọc Bích, Thiên Tâm và phu nhân,   Thi cầm, Ngọc Đoàn, Dạ Chi, Ngô Đình Khôi, Bùi Duy Thuyết, Mai Hoài Thu, Mạc Phương Đình, Nhà Báo kỳ cự Thanh Thương Hoàng, anh Cao Sơn, anh Lâm Văn Sang,  v..v..

  Sau phần giới thiệu quan khách anh MC Hoàng Tuấn gìới thiệu nhà thơ Song Nhị, anh Song Nhị là thành viên trong ban tổ chức đại điện tác giả Nguyễn Quang ra mắt cuốn sách Biển Đỏ Việt Nam tại San Jose.
Nhà thơ Song Nhị phát biểu như sau : “ Vì một lý do nào đó Tác giả Nguyễn Quang đã bị tòa Đại sứ Mỹ từ chối không cho qua Mỹ để ra mắt cuốn sách của ông mặc dù ông rất ao ước gặp đồng hương tại quốc ngoại” Nhà thơ Song Nhị nói Tiếp :”Tác gỉa đã bị tù Cộng Sản nhiều năm vì lý do đấu tranh bất bạo động, tác giả viết ra cuốn sách Biển Đỏ Việt Nam bằng tấm lòng, nên nhóm Cội Nguồn cũng vì tấm long mà phát hành cuốn sách này hầu hộ trơ anh cũng như hổ trợ các văn nghệ sĩ đấu tranh tại Việt Nam…”

  Sau bản nhạc Tiếng Dân Kêu của nhạc sĩ Xuân Điềm được phát ra bằng CD, chị Thủy Tiên giới Thiệu nhà thơ Võ Thạnh Văn nói về cá nhân tác giả Nguyễn Quang, vì nhà thơ Võ Thạnh Văn là bạn thân, anh Võ Thạnh Văn tả về tác gỉa Nguyễn Quang như sau :” Chúng tôi lớn lên với nhau…ăn cùng mâm, ngủ cùng chiếu và đôi CS khi pháo kích chúng tôi trốn cùng hầm…Và bàn chuyện công danh thời thanh niên lãng mạn đầu đời…Tác giả Nguyễn Quang thông minh can đảm, miệt mài học tập và gan dạ… Biển Đỏ Việt Nam là một phản ảnh trong đời sống của tác gỉả. Tác gỉa đã đối chất với CS trên tòa án , chính vì thế mà bị CS bỏ tù đáng lý 17 năm nhưng đã tăng lên thành 20 năm mặc dù chưa một ngày trong quân đội VNCH. Có lẽ tác giả được hưởng gia tài văn chương của Ông Nguyễn bá Tính, một dưỡng phụ và được ở gần Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận để học về đạo đức cho nên tác giả đã có những đức tính tốt mà chúng ta đã có…Chính vì thế mà tác giả đã dám đứng lên đấu tranh bất bạo động và dùng ngòi bút viết ra cuốn Biển Đỏ Việt Nam…”

  Tác Giả Nguyễn Quang cũng đã dùng điện thoại liên lạc với ban tổ chức để cám ơn quý quan khách đã tới dự bưổi ra mắt sách Biển Đỏ Viẹt Nam của anh.

  Sau “Tà Áo Quê Hương” của nhạc sĩ Từ Huy do nhóm phụ nữ Bắc Cali trình bày, nhà thơ Diên Nghị phát biểu về cuốn sách :”Việt Nam dưới quyền thống trị của CS nên không có tự do và nhân quyền, cho nên có những phong trào tranh đấu trên thế giới đang phát động…
Chúng ta hãnh diện đã là những thành phần đấu tranh cho dân chủ và tự do…Nhà văn Nguyễn Quang nuôi dưỡng ý chí và dấn thân ngay trên quê hương  bằng ngòi bút của anh qua Biển Đỏ Việt Nam…”

  Tiếp theo nhà văn Giao Chỉ, Vũ Văn Lộc đã đọc cuốn sách và ông phát biểu như sau :”Tôi đã đọc rất kỹ ba bốn lần mới hiểu được tác gỉa muốn nói gì với chúng ta trong cuốn sách Biển Đỏ Việt Nam… Tôi hiểu được rằng tác gỉa là người can đảm dám chống đối CS ngay trong buổi điều tra đề ra tòa, nhưng đặc biệt nhất là câu chuyện một bà vợ tù nhân cải tạo của một sĩ quan QLVNCH đã đem tám con đi thăm và ở lại ngay trong tù … có nghĩa nhà tù CS đã ghê gớm, nhưng ở ngoài nhà tù CS còn ghê gớm hơn vì đói khát, không còn gì để sống mà phải

vào tù Cộng Sản mới có thể sống
…! 
Tôi buuớc qua quầy bán sách mua một cuốn Biển Đỏ Việt Nam với hậu ý mưa sách hổ trợ tác gỉa Nguyễn Quang. Tôi đọc đọan văn cuối trong lời gìới thiệu sách của nhà văn Song Nhi/NXB  ở bìa sau và kể như đây là lời kết luận :  “Sau năm 1975, cầu Bến Hải nối liền hai miền Nam Bắc không bằng yêu thương tình tự, mà bằng cuộc trả thù khốc liệt, dai dẳng tạo thành một biển đỏ trên cả nước – Biển Đỏ Việt Nam.
  Biển Đỏ Việt Nam là một thứ Gulasg của bạo chúa Stalin được CSVN rặp khuôn dựng lên khắp ba miền đất nước sau khi thể chế dân chủ, tự do nhân bản của miền Nam bị đồng minh bán đứng…”
                                                                                                             Gíá bán US$20.00
  



Tha Nhân : Giới Thiệu Sách Giọt Sầu Quê Hương

 

 

 

 

 

 

 

 




Ra Mắt Sách 8406 tại Sacramento (Chinh Nguyên)

 

Ra Mắt Sách 8406 tại Sacramento

(Tin San Jose- Văn Thơ Lạc Việt)

 

Image result for LM Tađêô Nguyễn Văn Lý image

   Ngày Chủ Nhật 25 tháng 5 năm 2008 hai cuốn sách 1/ LM Tađêô Nguyễn Văn Lý, Cuộc Đời Đấu Tranh Cho Tôn Giáo và Dân Chủ Nhân Quyền. và 2/ Nhóm LM Nguyễn Kim Điền, Cuộc Đời Đấu Tranh Cho Tôn Giáo và Dân Chủ Nhân Quyền do cơ sở Văn Thơ Lạc Việt ấn hành được ra mắt trong buổi lễ tại hội trường Stockton Boulevard Partnership, 5625 Stockton Blvd. Sacramento, CA. 95824 vào lúc 12:00 trưa.

 

   Buổi ra mắt sách do ông Trần Văn Ngà, một nhà hoạt động cộng đồng và cũng là nhà hoạt động văn hóa nổi danh tại Sacramento phối hợp cùng ông Lê Văn Hải và tuần báo Thằng Mõ vùng thủ phủ tổ chức. Được biết ông Lê Văn Hải cũng là trưởng khối yểm trợ nhóm Linh Mục Nguyễn Kim Điền đã xuất bản hai cuốn sách kể trên.

 

   Buổi lễ khai mạc đúng 12 giờ trưa. Sau phần nghi lễ, ông Trần Văn Ngà tuyên bố khai mạc. Hội trường với khoảng 100 ghế đã được ngồi kín, ông Ngà nói:”Hôm nay là ngày Chủ Nhật cũng là ngày lễ cuối tuần nên có nhiều lễ hội khác nhau, do vậy mà số quan khách thường tham dự các buổi ra mắt sách bị chia xẻ đi rất nhiều. Nhưng đặc biệt là sách này của Khối 8406 nên đã tập họp được những quý vị có tâm huyết muốn yểm trợ cho những cuộc đấu tranh tại quốc nội. Quý vị đã bỏ thời giớ quý báu lại còn bảo trợ bằng tài vật lực cho buổi ra mắt sách thành công.”

 

   Sau đó ông giới thiệu các diễn giả chính là ông Lê Văn Hải trưởng khối yểm trợ nhóm Linh Mục Nguyễn Kim Điền, người đã dẫn đầu phái đoàn từ San Jose lên tham dự gồm có nhà báo lão thành Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, nhà thơ Đông Anh, nhà văn Chinh Nguyên, nhà báo Cao Sơn, ông bà Ngô Sĩ Hùng đài phát thanh Bình Minh San Jose, ông Thừa Trần chủ nhà in đã hoàn tất hai cuốn sách của khối 8406. Ông Hải trình bày những lý do mà khối yểm trợ được thành lập và chỉ với mục đích hỗ trợ cho quê nhà có phương tiện hoạt động đấu tranh.

 

   Kế tiếp là ông Đoàn Thi chủ tịch phong trào yểm trợ đấu tranh quốc nội vùng thủ phủ Sacramento lên kêu gọi mọi ngưỡi hãy tích cực yểm trợ cho các nhà hoạt động cho dân chủ nhân quyền đang đối đầu với hiểm nguy và khó khăn tại quê nhà.

 

   Sau cùng nhà báo lão thành Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh trình bày một đề tài đặc biệt là Đấu Tranh Cho Tôn Giáo và Dân Chủ Nhân Quyền đang sảy ra tại Việt Nam. Cả hội trường yên lặng say mê theo rõi.

 

   Sau đó là phần phát biểu của quan khách. Trong số đó có ông Hùng là cơ sở địa phương của Việt Tân và cô Diễm Hương, phóng viên đài phát thanh VOA và Tiếng Nước Tôi lên mời mọi người tham dự buổi họp báo của nhà hoạt động Nguyễn Quôãc Quân mới từ ngục tù Cộng Sản trở về vào ngày 31 tháng này.

 

   Sau cùng ông Ngà tổng kết tài chánh đã thu được trong buổi ra mắt sách. Ngoài việc chi phí về tổ chức do các nhà bảo trợ cung ứng, ban tổ chức còn mời tất cả quan khách tham dự buổi ăn trưa rất thịnh soạn. Số tiền thu được US$1335.00 tại chỗ hoàn toàn giao hết cho khối yểm trợ nhóm Linh Mục Nguyễn Kim Điền theo thông cáo chính thức của khối đính kèm.

 

   Ngoài ra chúng tôi được biết hai cuốn sách của khối 8406 đã được tổ chức ra mắt sách tại San Jose thu được 5,163.00 dollars, tại Houston, Texas thu được $2,800.00 tại Dallas, Texas thu được $1,016.00. Tổng cộng là $11019.00 tính cả số tiền thu được tại Sacramento $ 2,040.00. Số tiền trên được ký thác vào ngân hàng dưới chương mục “Democracy Fund for VietNam”. Đây là số thu thực sự. Tất cả mọi chi phí ăn ở, di chuyển của những thành viên đi từ San Jose đều tự túc.

 

   Mỗi khi lấy tiền ra hoặc gửi vào đều phải có sự hiện diện của hai ông Lê Văn Hải và Chinh Nguyên cùng hai chữ ký.

 

   Tính đến nay đã gửi về cho khối 8406 hai đợt là $2,000.00. Chi phí tiền gửi 2 lần là $80.00. Ông Chinh Nguyên cho biết rằng theo yêu cầu từ Việt Nam thì chỉ nên gửi mỗi tháng một lần, mỗi lần một ngàn. Khối yểm trợ không tiết lộ tên người nhận ở Việt Nam để tránh gây khó khăn cho họ. Khi nhận được tiền đều có biên nhận và e-mail xác nhận của người có thẩm quyền trong khối 8406. Ông Chinh Nguyên hiện đang lưu giữ các tài liệu này.

 

   Nhà văn Chinh Nguyên dự trù sẽ tổ chức ra mắt sách tại Nam Cali, Washington DC và tại Seattle trong thời gian sắp tới.

 

Đông Anh ghi lại

 

Trân Trọng Thông Báo

 

Thay mặt Khối Yểm Trợ nhóm Linh Mục Nguyễn Kim Điền 8406.

 

   Chúng tôi thành thật cám ơn tất cả quí vị trong ban tổ chức, bảo trợ, báo chí truyền thông và tất cả các quí vị quan khách đã có lòng hỗ trợ buổi RMS gây quỹ cho khối 8406, tại Sacramento, ngày Chủ Nhật 25 tháng 5 năm 2008 cho hai cuốn sách :

 

   1/ LM Tađêô Nguyễn Văn Lý, Cuộc Đời Đấu Tranh Cho Tôn Giáo và Dân Chủ Nhân Quyền.

 

   2/ Nhóm LM Nguyễn Kim Điền, Cuộc Đời Đấu Tranh Cho Tôn Giáo và Dân Chủ Nhân Quyền.

   Tại hội trường Stockton Boulevard Partnership, 5625 Stockton Blvd. Sacramento, CA. 95824, lúc 11:00 trưa.

   Cuối chương trình ra mắt sách, trong buổi họp tổng kết,ờ nhóm kiểm sóat tài chánh gồm có :

1/ Ông Trần Văn Ngà

2/ Chị Thu (bà Ngô Sĩ Hùng)

3/ Ông Ngô Sĩ Hùng

4/ Nhà văn Chinh Nguyên

   đã làm việc tích cực dưới sự giám sát của Ban Tổ Chức để có một kết quả cuối cùng vào lúc 2:15 chiều cùng ngày. Danh sách các vị hảo tâm và tiền hổ trợ khối 8406 của mỗi cá nhân, đã được Ông Trần Văn Ngà trưởng ban tổ chức đọc trong buổi ra mắt sách ở cuối chương trình, và mọi quí tham dự đều công nhận đúng.

   Đại diện Ban Tổ Chức Ông Trần văn Ngà, cũng như anh Lê Văn Hải Trưởng khối Yểm trợ Nhóm lm Nguyễn Kim Điền đều chấp nhận tuyên bố số tài chánh thu được không trừ bất cứ phí khoản nào là: US$1335.00. và số tài chánh hỗ trợ gởi thẳng tới Ông Lê Văn Hải tại địa chỉ : Quỹ Yểm Trợ Đấu Tranh Dân Chủ (Democracy Fund For VietNam) la : US$705.00.

 

Tổng cộng : US$2040.00

 

Số tiền này đã được ký thác vào ngân hàng dưới chương mục Democracy Fund For Vietnam và sẽ gởi về khối 8406, VN.

 Gía bán hai cuốn  US$40.00 

Trân trọng thông báo quý vị cùng rõ.

Lê Văn Hải
Chinh Nguyên

 

2008-10-16 14:05:47

 




Trung Tướng Đặng Văn Quang Vinh Quang và Đau Khổ

*Tuệ Ngọc ghi thuật

 

 

 

   

   

 ang của

  

    

      

    

 

 

 

 

  




Việt Nam : Suối Nguồn Văn Minh Phương Đông

 

VIỆT NAM : SUỐI NGUỒN VĂN MINH PHƯƠNG ĐÔNG

Image result for SUỐI NGUỒN VĂN MINH PHƯƠNG ĐÔNG image

Tác phẩm Việt Nam Suối Nguồn Văn Minh Đông phương của tác giả Du Miên Lê Thanh Hoa
vừa ra mắt tại San Jose Ngày thứ bẩy 08 tháng 11 năm 2008 tại Hội Trường Học khu Quản Trị Trung Học East Side số 830 N. Capital Ave. San Jose CA. 95133
Sau nghi lễ chào quốc kỳ tôi thấy :
Nhà báo bình luận gia Sơn Điền Nguyẽn Viết Khánh, gìới thiệu tác phẩm.
Nhà văn cựu chủ tịch báo chi VN Thanh Thuuơng Hoàng. giới thiệu tác giả.

Hầu hết thân hữu tới dự buổi ra mắt sách dường như có sự chọn lựa để tới với cuốn sách hơn là tới với tác giả. Tôi nhận thấy có các quí vị :
Nhà văn Trần Nam Giang, Ông Lê Duy San, Nhà thơ Bùi Ngọc Tô – Huệ Thu, Nhà văn Dương Diên Nghị, Nhà thơ Song Nhị, Ông Hàn Phong Cao – Nữ sĩ Vũ Triều Nghi, hoa hậu Bích Liên
Cụ Toaàn và cụ Sửu v.v..
Trong lời mở đầu chào quí quan khách anh Lê Văn Hải báo Thằng mỡ phát biểu : “Xin chân thành cám ơn tất cả quí vị có mặt trong buỏi ra mắt hôm nay.
Một cuốn sách đặc biệt không viết bởi nhà biên khảo, nhà văn mà là nhà báo gần hai mươi năm tìm tòi dữ kiện lịch sử của người Việt trong thời cổ đại, để chứng minh văn minh của giống Bách Việt, sống cạnh Trung hoa bá quyền, và đã bị người Trung Hoa cập nhật tất cả những phong tục tập quán và nhận vật lich sử của giòng Bách Việt vào Trung Hoa và nhận là gia tài văn học của họ.
Ông Hải đã nêu tên ra những nhân vật lịch sử của giống Việt đã chống nhà Nguyên ngay trên đất Tàu và chiến cả nửa đất Tàu, cũng như đã có người được người Tàu thờ là ông tổ đúc súng thần công và một nhà kiến trức sư đã vễ kiểu và xây Tử Cấm Thành nổi danh tới ngày nay cho Trung Hoa..v..v
Mộng thống nhất thiên hạ của người Tàu đã có tự trong máu, và hiện nay chính quyền Cộng Sản Việt Nam đã nhu nhược nên chúng ta đã mất Thác Bản Dốc, chưa kể Hoàng Trường sa.
Hồn nước mất trước, nước mất sau, Tác phẩm Việt Nam Sối Nguồn Văn Minh Phương Đông
Là một tác phẩm bồi dưỡng cho tinh thần hồn Việt Nam ”.

Tiếp theo Nữ sĩ Triều nghi gìới thiệu Nhà báo Bình luận gia Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, Sau khi gởi lời chào tới quí vị quan khách, ông có vài lời như sau : Tối rất quan tâm đến nguồn gốc dân tộc Việt nhất là khi chúng ta đang sống ở xứ ngọai. Cuốn sách đã hấp dẫn tôi bởi dòng chữ Việt Nam Suối nguồn Văn Minh Phương Đông. Ông giải thích nguồn gốc của hai chữ Văn Minh và văn minh dân tộc sẽ như thế nào trong văn học lịch sử Việt Nam từ ngàn xưa tới ngày nay.
Văn minh là trình độ phát triền đến mức độ cao nhất của xã hội loài người, Có nền văn hoá, vật chất và tinh thần nối kết những đặc tính của mỗi một dân tộc. Văn hoá là tổng thể nói chung những giá trị vật chất tinh thần như văn học nghệ thuật do mối một dân tộc tạo ra trong quá trình lịch sử. Hai chữ Suối nguồn là một nguồn gốc văn hoá Việt đã và đang tìm kiếm và thấy được qua chữ viết, dấu tích chứng cứ rõ rệt…
Cuốn sách Viêjt Nam Suối Nguồn Văn Minh Phương Đông của Du Miên Lê Thanh Hoa đã làm nổi bật rất rõ nét của dân tộc Việt bắt đầu từ nguồn gốc lịch sử loài người với bằng chứng có thực qua sự nghiên cứ biên khảo.

Sau Nhà Văn Thanh Thương Hoàng, nói về tiểu sử tác gỉa là những bản nhạc quê hương do nhóm Phụ nữ Bắc Cali của nhà thơ Ngọc Bích hổ trợ giúp vui.

Một tác phẩm có giá trị thiết thực cho nền văn minh Việt Nam, một nền văn minh đã và đang bị đánh cắp bởi Trung Hoa với mộng bá quyền từ ngàn xưa đến nay, văn minh nhân bản nông nghiệp của dòng bách Việt.
Cuốn sách có thể gợi ý hoặc sẽ phản ảnh cho những cuộc nghiên cứu về nguồn gốc Việt trong những thế hệ mai sau.
Tuy nhiên nếu cứ khư ôm lấy quá khứ để rồi hãnh diện không tiến tới theo trào lưu tiến hoá của nhân loại, dòng lịch sử văn minh Việt một ngay nào đó sẽ bị Hán Tộc dùng sức mạnh về kinh tế cũng như quân sự đè bẹp như hiện nay.

 Việt Nam Cộng Sản đã và đang bị đòi hỏi nhượng đất và cướp linh hồn Việt bởi Trung Cộng.

Trưởng ban tôr chức : Nhà văn Sao Biển.
Phó trưởng ban : Ông Lê Văn Hải, tuần báo Thằng Mõ
MC : nhà văn Sao Biển và nữ Sĩ Triều Nghi.

Giá bán US$50.00

 

 




Quốc Nam : Trận chiến An Lộc,

An-Lộc Foundation ra mắt thành công tốt đẹp tại thành phố Houston

* Trận chiến An-Lộc khủng khiếp hơn trận Điện Biên Phủ, và Đảng CSVN đã thảm bại nhục nhã trước Quân Dân VNCH

 

HOUSTON (TMN News).- Hàng chục chiến sĩ QLVNCH trong quân phục lá hoa rừng đứng nghiêm chỉnh trước di ảnh cố Danh Tướng Lê Văn Hưng trong Chương Trình ca nhạc vinh danh Người Lính VNCH, đã làm nức lòng hội trường, mở đầu Lễ ra mắt An-Lộc Foundation. Vào đúng 3:15G chiều Chủ Nhật ngày 8 tháng 7 năm 2012, tại Trung Tâm Việt-Mỹ thành phố Houston, tiểu bang Texas (USA).

Mở đầu, cựu Thiếu Tá BĐQ Nguyễn Ngọc Khoan (Trưởng Ban Tổ Chức) chào mừng quan khách và đồng hương hiện diện. Ông giới thiệu trước cử tọa cựu Trung Tá Nguyễn Ngọc Ánh (Chủ Biên quyển sử liệu ‘Chiến Thắng An Lộc 1972’, nguyên Phụ Tá Hành Quân Trung Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn 3 Quân Khu 3 đặc trách chiến trường An Lộc & ngoại biên). Ông Ánh bước lên sân khấu bày tỏ lòng tri ân đến những chiến sĩ anh hùng đã hy sinh trong trận An Lộc, cùng một số cựu sĩ quan tham dự chiến trận An Lộc còn sống, điển hình như Chuẩn Tướng Mạch Văn Trường, Y sĩ Thiếu Tá Trần Văn Tính, Thiếu Tá Ngô Xuân Vinh, Thiếu Tá Nguyễn Sơn, Đại Úy Lê Đắc Lực, Trung Úy Lê Đình Trân v.v… Ông kể lại bao nỗi khó khăn khi thu thập tài liệu và những nhân chứng sống của chiến trận An Lộc. Tuy vậy, ấn bản đầu tiên dầy 504 trang đã được xuất bản năm 2006. Sau đó, bổ túc thêm, thời gian kéo dài tới cuối năm 2010 đã lên tới 800 trang.

Cuối diễn văn, cựu Trung Tá Nguyễn Ngọc Ánh long trọng giới thiệu 1 cựu Sĩ Quan Võ Bị Dalat chia xẻ trách nhiệm với ông, cùng thành lập An-Lộc Foundation, tiếp tục dự án chuyển qua Anh Ngữ quyển sử liệu ‘Chiến Thắng An-Lộc 1972’ để đưa vào dòng lịch sử thế giới. Đó là thi sĩ Quốc Nam. Ông Ánh nói: ‘Hiện là Tổng Giám Đốc Đài phát thanh toàn cầu SRBS-HD Radio, ông Quốc Nam từng được bác sĩ/nhà sử học Trần Đại Sỹ và Giáo sư/học giả Vũ Ký gọi là ‘Nhà Văn Hóa VN’.

Thi sĩ Quốc Nam bước lên sân khấu chính thức nhận nhiệm vụ Chủ Tịch An-Lộc Foundation. Ông giới thiệu Ban Điều Hành sơ khởi Tổ Chức Mới này gồm Cố Vấn Đoàn: cựu Đại Tá Phan Văn Huấn (nguyên Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 81 Biệt Cách Dù) & cựu Trung Tá Nguyễn Ngọc Ánh; Chủ Tịch là Quốc Nam, Phó Chủ Tịch là cựu Thiếu Tá Ngô Xuân Vinh (nguyên Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 16 Nhẩy Dù, Người Hùng suýt vong mạng trong trận Đồi Gió, An Lộc ngày 19/4/2072), Tổng Thư Ký là nhà báo Bùi Quốc Hùng (cựu SVSQ Trừ Bị Thủ Đức, Biên Tập Trưởng tuần báo Việt Báo Miền Nam), và Thủ Qũy là bạn trẻ Nguyên Ngọc Minh ở Nam California (Cao Học Giáo Dục).

Tiếp đó, cựu Trung Tá Nguyễn Ngọc Ánh đã Đại Diện Ban Biên Tập quyển sử liệu ‘Chiến Thắng An-Lộc 1972’ trao tay Ông Quốc Nam một quyển CD An Lộc Danh Dự, để An-Lộc Foundation toàn quyền xử dụng trong mục tiêu công ích.

Trong bài diễn văn nhận chức Chủ Tịch ALF, thi sĩ Quốc Nam nói: ‘Trước khi nói về chủ đề chính ngày hôm nay, tôi xin phép tâm sự đôi điều với quý vị. Sở dĩ tôi nhận nhiệm vụ khó khăn này, vì một vài chi tiết sau đây: Thứ nhất.- Từ năm 1970, tôi đảm nhiệm chức vụ Chủ Biên Hãng thông tấn Tin Miền Nam. Từ năm 1972 Hãng tôi có đặc phái viên quân sự rất xuất sắc là bác sĩ Trần Đại Sỹ.  Do đó, Hãng Tin Miền Nam loan tin về trận chiến An Lộc nhanh chóng hơn cả các hãng thông tấn quốc tế và đài BBC. Từ  đó, các văn phòng Thượng Viện / Hạ Viện & báo chí đều dùng tin của chúng tôi, thành ra trên thực tế Hãng TMN qua mặt Việt Tấn Xã của chánh phủ VNCH về các nguồn tin chiến sự và chống bất công / tham nhũng. Đặc phái viên Trần Đại Sỹ là bạn đồng môn Thiếu Sinh Quân với Trung Tá Nguyễn Ngọc Ánh, hồi đó là phát ngôn nhân của Quân Đoàn 3 Quân Khu 3. Hãng TMN chúng tôi đã tích cực hỗ trợ thông tin cho trận chiến An Lộc suốt 93 ngày đêm tử chiến với Bắc Quân. Thứ hai.- Năm 1972, tôi là đương kim Chủ Tịch Khu Hội Phế Binh Quân Khu 3 với 12 Tỉnh Thị Hội Phế Binh trực thuộc, nên khi trận An Lộc chấm dứt 1 tháng sau, phái đoàn chúng tôi đã có mặt tại thị trấn An Lộc để phát quà và uỷ lạo anh em Phế Binh & một số gia đình cô nhi quả phụ.

Chính bởi 2 lý do nêu trên đã khiến tôi gắn bó với Chiến Thắng An Lộc 1972 và cựu Trung Tá Nguyễn Ngọc Ánh đến tận ngày hôm nay.

Chúng tôi nhận định rằng: Trong cuộc đấu tranh Quốc-Cộng trải dài nhiều thập niên, Đảng CSVN đã rất hãnh diện về trận chiến Điện Biên Phủ năm 1954, nhưng họ quá nhục nhã khi thảm bại trận chiến An Lộc năm 1972. Có thể nói trận An Lộc 93 ngày đêm kinh khủng hơn trận Điện Biên Phủ 55 ngày kịch chiến.

Kể từ ngày Hồ Chí Minh và đồng bọn mang chủ nghĩa Cộng Sản vào Việt Nam hơn 80 năm qua, đất nước Việt Nam đã chịu đựng biết bao tang thương đổ nát, kể cả nền văn hóa dân tộc và đạo đức xuống dốc thê thảm. Trong hơn 20 năm chiến tranh giữa Miền Bắc và Miền Nam VN (1954-1975), Bắc Quân đã không thể thắng được QLVNCH trong rất nhiều trận đánh, kể cả Tết Mậu Thân 68 và Mùa Hè Đỏ Lửa 72. Tuy nhiên, trận chiến lớn nhất trong dòng lịch sử đấu tranh Quốc-Cộng vẫn là trận An Lộc. Đây là sự thất bại nhục nhã muôn đời của Đảng CSVN (với sự hỗ trợ tối đa của Trung Cộng & Liên Sô) trước sức chiến đấu dũng mãnh của Quân Dân Miền Nam.

So sánh như vậy, để mọi người thấy rằng: Đảng CSVN không thể thắng được VNCH vào ngày 30 tháng tư 1975, nếu không được một số thế lực ngoại bang sắp xếp trên bàn cờ Quốc Tế. Những tài liệu giải mật của các thế lực liên hệ trong 37 năm qua, đã hiện rõ nghịch cảnh này.

Tuy vậy, các loa tuyên truyền của Đảng CSVN vẫn ra rả nhận là Đảng Ta đã có công đánh thắng Tây và ‘Mỹ-Ngụy’. Nhưng sự thật lịch sử hoàn toàn không phải như thế. Trận chiến Điện Biên Phủ, Đảng CSVN với sự tham chiến của Hồng Quân Trung Cộng và võ khí dư thừa của Nga-Tàu đã thắng được Quân Đội Pháp năm 1954 sau 55 ngày kịch chiến. Vậy mà Đảng Ta cực kỳ hãnh diện, tự ca ngợi trên sách báo và chuyển tài liệu ra nhiều loại ngoại ngữ (như Anh, Pháp, Trung Hoa v.v…).

Trong khi đó, trận chiến An Lộc 93 ngày đêm khủng khiếp, được coi là lớn nhất trong lịch sử đấu tranh Quốc-Cộng, thì 40 năm sau ngày Quân Lực VNCH chiến thắng (7/7/1972) vẫn chưa được ghi nhận đúng mức. Chúng tôi nghĩ rằng ấn bản Anh Ngữ & Pháp Ngữ rất cần được phổ biến vào dòng Lịch Sử Thế Giới. Đó sẽ là một thông điệp mạnh mẽ cho Quốc Tế biết rằng: Quân Dân VNCH thực sự anh dũng, và ghi vết đen nhục nhã lên mặt Đảng CSVN từng thảm bại tại chiến trường An Lộc năm 1972, để chúng bớt huênh hoang là Đảng Ta thắng Tây & thắng Mỹ…

Cá nhân Quốc Nam tôi, với khả năng của một Tác Giả có 20 tác phẩm đã xuất bản trước & sau năm 1975, cùng kinh nghiệm của Giám Đốc Điều Hành nhà xuất bản Đông Phương suốt 36 năm qua, chúng tôi sẽ tìm thêm hình ảnh & tài liệu về trận chiến An Lộc, để viết lại quyên sử liệu quan trọng này dầy khoảng 450 trang, thay vì quyển CD Việt Ngữ hiện nay dày tới 800 trang sách thông thường. Sau đó, An-Lộc Foundation sẽ nhờ một nhà xuất bản Hoa Kỳ ở New York giúp đỡ, và nhóm cầm bút Mỹ chuyên nghiệp sẽ ‘edit’ quyển sách Anh Ngữ ‘Chiến Thắng An-Lộc 1972’, trước khi tung ra công luận quốc tế. Có như thế, quyển sử liệu ấn bản Anh Ngữ ‘Chiến Thắng An-Lộc 1972’ sẽ dễ dàng đưa vào dòng lịch sử & quân sử Thế Giới, để các thế hệ Việt Nam còn mãi mãi hãnh diện về QLVNCH và Quân Dân Miền Nam VN Tự Do.

An-Lộc Foundation năm nay thành hình, là quyết tâm cùng Quân Dân VNCH chuyển dịch ra Anh Ngữ tập sử liệu ‘Chiến Thắng An Lộc 1972’, để xuất bản thành sách bìa cứng, rồi gởi biếu các quốc gia Thành Viên Liên Hiệp Quốc, các Sử Gia, các Thư Viện lớn, các cơ quan truyền thông quốc tế & Việt Ngữ, một số nhân vật liên hệ với cộng đồng Người Việt tại các quốc gia khắp thế giới v.v… Kinh phí hoàn thành dự án này khá lớn, chúng tôi kính mong sự ủng hộ tinh thần và tài chánh từ Quý Vị. Quyển sách CD này, An Lộc Foundation xin được biếu quý vị và gia đình. Chúng tôi mong mỏi quý vị cổ động quý thân hữu khắp nơi tích cực ủng hộ dự án quan trọng nêu trên.

Nguyện cầu Thượng Đế và Hồn Thiêng Sông Núi phù hộ chúng ta – cho Đất nước Việt Nam sớm thoát khỏi ách thống trị ác độc của Đảng CSVN, và toàn Dân Việt sớm được sống trong Tự Do Dân Chủ, Hạnh Phúc Ấm No. Trân trọng’.

Sau một vài nhạc phẩm ca ngợi Người Lính VNCH giới thiệu bởi nhà thơ Cù Hòa Phong, Ông Tổng Thư Ký Bùi Quốc Hùng được mời lên sân khấu. Sau khi ghi nhận sự phát triển và sinh hoạt đa dạng của cộng đồng người Việt tại Houston, ông nhấn mạnh: ‘Chúng tôi ngạc nhiên khi được biết ở Houston có 1 Câu Lạc Bộ (CLB) Lính VNCH. Tối hôm qua, chúng tôi có dịp đến tham dự buổi sinh hoạt tại đây với quý chiến hữu thuộc các binh chủng. Trong chương trình, chiến hữu Trần Văn Chiến, người sáng lập CLB có nói: ‘Chúng ta là những người lính, không thương nhau thì ai thương’. Một chiến sĩ TQLC trẻ khác, trong bài viết về Đại Tá Nguyễn Thành Trí, nói: ‘Nếu các anh không nói thì chúng tôi biết hỏi ai?’. Là những người lính, chúng tôi luôn luôn nói về người lính và luôn vinh danh người lính VNCH. Trong 1 buổi talk show vào thứ Ba hàng tuần trên Global SRBS-HD Radio nhằm đúng ‘Ngày Quân Lực 19-6’, tôi nói với Quốc Nam : ‘Chúng ta là những người lính VNCH, nếu chúng ta không nói về người lính thì ai nói?’ Và 1 cựu chiến binh Mỹ trong chiến tranh Việt Nam mới đây viết tác phẩm trở thành ‘Best Seller’ nói về QLVNCH với tựa đề ‘Một Quân Đội Bị Bỏ Quên’. Thưa Quí vị, thỉnh thoảng ở nơi này nơi khác, một người nào đã nói: ‘Hãy quên đi quá khứ!’ Tại sao lại phải quên đi quá khứ, bởi vì quá khứ là 1  phần đời của chúng ta. Chúng ta không quên quá khứ và hơn thế, chúng ta tái hiện quá khứ trong chiến sử với ‘Chiến Thắng An Lộc 1972’. QLVNCH trong suốt cuộc chiến đã qua, chiến đấu trong gian khổ, chiến đấu cho chính nghĩa. Trong năm 1972, chúng ta có An Lộc (Bình Long Anh Dũng), có Kontum Kiêu Hùng và Trị Thiên vùng dậy ngoài Quân Khu I. Người lính VNCH chiến đấu trong tinh thần ‘Bảo Quốc An Dân’ và chiến đấu trong tinh thần ‘Vị Quốc Vong Thân’. Sau đó, nhà báo Bùi Quốc Hùng kêu gọi những người Việt Quốc Gia ủng hộ tài chánh cho ‘dự án chuyển dịch qua Anh Ngữ quyển sử liệu nêu trên’. Ông nói: Quý Vị có thể ‘donation’ một số tiền (bao nhiêu cũng được) về Qũy của ALF. Xin đề trên Check hoặc Money Order trả cho ‘An Lộc Foundation’. Tất cả danh tánh và số tiền ủng hộ của quý vị đều ghi đầy đủ trong ‘Sổ Vàng ALF’ thường xuyên tại 1 trong 4 địa chỉ websites sau đây: www.tuongvang.com, www.tuongvang.org, www.tuongvang.net  hoặc www.saigonhdradio.com. Trường hợp vị Mạnh Thường Quân nào ‘donation’ số tiền từ 1 ngàn Mỹ Kim trở lên, ALF sẽ xin phép in danh tánh trên ấn bản Anh Ngữ quyển sử liệu ‘Chiến Thắng An Lộc 1972’. Chúng tôi mong rằng dự án nêu trên sẽ là sự đóng góp chung của khối Người Việt Quốc Gia chống sự bóp méo lịch sử của Đảng CSVN xảo trá. Đây chính là công trình tập thể của tất cả chúng ta’.

Trong chương trình, đặc biệt thi sĩ Vô Tình (cựu SVSQ Võ Bị Dalat khóa 17) đã tặng ALF bài Đường Luật "Chiến Địa An Lộc" nguyên văn như sau:

Việt Nam chiến cuộc đã trôi qua,

Thí điểm tranh hùng: Cộng – Quốc Gia.

Súng đạn ngoại bang tràn lãnh thổ,

Máu xương Nam-Bắc đổ chan hòa.

Địa danh An Lộc, trang hùng sử,

Quân Lực Miền Nam chiến thắng ca.

Mưu trí, điều quân theo chiến lược,

Thơm Danh bảo vệ giải sơn hà.

Phái viên chúng tôi ghi nhận: Buổi ra mắt An-Lộc Foundation và chương trình ca nhạc chủ đề ‘Vinh danh Người Lính VNCH’ thực đông đảo quan khách và đồng bào tham dự. 4 đài truyền hình ở Houston đều đến ghi nhận sinh hoạt sống động suốt Chương Trình, gồm: BYN-TV, Vietnamese American TV, Global TV, Saigon Houston TV. Giới truyền thông hiện diện, ngoài 4 đài TVs, Đài Đáp Lời Sông Núi và Global SRBS-HD Radio, còn có các tuần báo như Saigon Nhỏ, Việt Báo Houston, Việt Báo Miền Nam, tạp chí Con Ong v.v… Hầu hết các hội đoàn Quân  Đội VNCH đều hiện diện. Các Tổ Chức cộng đồng, chúng tôi nhận thấy có Đại Việt Cách Mạnh Đảng, Liên Minh Dân Chủ VN, Lực Lượng Dân Tộc Cứu Nguy Tổ Quốc, Trung Tâm Văn Bút VN vùng Nam Hoa Kỳ v.v… Mỗi vị khách tham dự đều được Ban Tổ Chức biếu 1 hộp CD quyển sử liệu ‘Chiến Thắng An Lộc 1972’. Theo BTC, gần 300 hộp CDs này đã được phân phối. Số hiện kim được đồng bào ‘donation’ tại chỗ trên 3 ngàn Mỹ Kim. Danh sách quý vị ủng hộ đầu tiên tại Houston đã được ghi trên ‘Sổ Vàng An-Lộc Foundation’. Phát ngôn viên ALF cho biết: quý đồng hương trong & ngoài nước VN, nếu muốn được biếu quyển CD sử liệu nêu trên, hãy email tới ‘tuongvang@gmail.com’ hoặc gởi thư về ‘An-Lộc Foundation P.O.Box 18104 Seattle, WA 98118 USA’.

Được biết Chủ Tịch An-Lộc Foundation là nhà thơ nhà báo kỳ cựu Quốc Nam (cựu SVSQ Võ Bị Dalat khóa 22). Ông hoạt động cộng đồng và văn hóa liên tục hơn 37 năm qua tại hải ngoại. Hiện ông là chủ nhân Global SRBS-HD Radio phát thanh 24/7 ngót 19 năm nay, cũng là người sáng lập Giải Quốc Tế Tượng Vàng VN từ 1987 & Đại Hội Văn Chương Phụ Nữ VN từ 1995. (Tin Miền Nam News Agency, since 1970)

 




QUÁN CHIỀU THÊM ẤM CUỘC TÌNH THƠ (Hải Bằng)

 

QUÁN CHIỀU THÊM ẤM

             CUỘC TÌNH THƠ”

               
                              
* HẢI BẰNG

 

Trong cuộc hành trình dài hun hút vào thế giới thơ, càng khám phá càng thấy đẹp đẽ, mơ hồ, sâu xa, hùng tráng, bi ai. Tạo hóa đã ban cho mỗi thi nhân một cảm quan nhạy bén và lạ lùng đối với hoàn cảnh, cây cỏ, hoa, màu sắc chung quanh họ. Tuy ngôn ngữ là phương tiện diễn đạt, thế mà đối với thi nhân, ngôn ngữ cũng là thơ, một bài thơ tuyệt vời khi ý và lời đều đẹp. Vụng về tự ví cuộc hành trình “Như Khóm Lục Bình” trôi vật vờ trên sông Cửu, rồi một chiều vô tình ghé lại Quán Thơ của Cao Mỵ Nhân. Nhìn chữ Quán, có lẽ là nơi cho lữ khách tạm trú, và chủ nhân là một nhà thơ đã thành danh ít nhất là năm thập niên. Phải, Cao Mỵ Nhân đã làm thơ từ khi còn là nữ sinh Trưng Vương, nhà thơ trẻ nhất của thi đoàn Quỳnh Dao của thập niên 60. Thi sĩ Hà Thượng Nhân, một trong các vị giám khảo các cuộc thi thơ, văn toàn quốc hồi đó đã cho rằng, thi tài của nàng ngang ngửa với Trần Dạ Từ, Trần Tuấn Kiệt, Nhã Ca…

Dừng lại Quán Thơ, cũng có nghĩa là đang trong cuộc hành trình vào thế giới thơ. Ô kìa, bên dưới chữ “Quán Thơ còn có bốn chữ tháng ngày còn lại. Có thật nàng thơ muốn tìm chốn ẩn dật với những ngày còn lại ? Thì cứ xem kim chỉ nam của hồn thơ đang hướng về đâu.

 Đêm hoang lửa tắt giữa đồng

Sầu vương ánh nguyệt, nước ròng chơi vơi

Quán bên đường ngó xa khơi

Nửa khuya trăng tán, gió trời vẩn mây

…..

Quán bên đường đợi đò ngang

Vạt lau gió nổi ngày sang cạn buồn

Dường như thao thức tâm hồn

Cánh chim vừa bỏ làng thôn lên rừng

(Sau đêm lũ cạn)

 

Nàng thơ không dừng lại quán để thiền. Tâm hồn thi nhân luôn luôn bay bổng như mây trời. Tuổi nào không lãng mạn, huống hồ nàng thơ vốn không tuổi, nào ai gọi Hồ Xuân Hương là cụ, cụ bà ! Đêm đêm, Cao Mỵ Nhân vẫn lắng lòng nghe “tiếng dế kêu than” :

 

Ô, quán bên đường xa tít tắp

Giờ ni trăng đã lệch trời khuya

Có nghe tiếng dế kêu bi thảm

Ta khoác tàn y kiếm lối về

 

Chờ thư ai đó và khi thư đến, người thơ cũng ỡm ờ như bao thiếu nữ thường tình :

…..

Một trang nhung nhớ vẩn vơ

Chúng mình đang muốn giả vờ yêu đương

Mùa nầy trời bắt đầu sương

 

Chắc thu tới sớm vì vương vấn đời

Hôm qua nhận được thư rồi

Sao chưa hồi đáp còn ngồi ngắm mây !

(Thư xa)

 

Ỡm ờ chút thôi chứ niềm rung cảm thì không lý trí nào kềm hãm :

 

Bạn cho em cây hồng vàng

Quanh năm, suốt tháng chỉ toàn lá xanh

Từ khi thơ em có anh

Hồng tươi thay sắc đan thanh tuyệt vời

(Cây hồng vàng)

 

                Hay là…..

Một tháng thu vương sắc lá vàng

Vào ra ngắm nghía lòng mênh mang

Chơi vơi vạt nắng pha mầu áo

Bất chợt thư anh tới ngỡ ngàng…

(Một tháng – CMN)

 

Con người vốn yếu đuối trước định mệnh, trong nỗi nhớ thương khắc khoải, thi nhân gởi hồn vào những tín hiệu tôn giáo để tìm sự an bình :

…..

Bên trong chưa rõ sắc chiều

Bên ngoài ngoảnh cổ nhìn theo khói trầm

Chuông rơi thức tỉnh mê lầm

Nghe như tiếng mõ gọi thầm tên ai

(Bên trong – CMN)

 

Cũng trong những giây phút đó, nhà thơ Cao Mỵ Nhân mơ hồ nhận ra chân lý của cuộc đời : Như bong bóng nước mưa – Cuộc tình như bóng nước mưa – Bóng bay trên khắp nẻo thơ của người – Ta về hái đóa hoa tươi – Bóp trong tay nát chuỗi cười ròn tan…

Đó đây trong số hơn một trăm bài thơ của Quán Thơ, Tháng Ngày Còn Lại, người thưởng lãm sẽ thấy tâm hồn rung động, cảm thông và gắn bó với tác phẩm và tác giả trên từng trang thơ, từng bước phiêu lãng hay những lúc quán tưởng của thi nhân, chính tác giả đ㠓Bạt” ở những trang cuối:

“… Nên, Quán đứng lại ở bên đường mãi mãi nhìn theo cánh hoa mai trắng tung bay thật xa, thật xa tới cuối chân trời… bát ngát như khói mây…”.

Người đi hay kẻ ở buồn, chẳng biết. Cứ để tháng ngày còn lại lưu dấu thân quen (Trống vắng cũng không sao, nhưng nếu có nhau ở Chốn Bụi Hồng nầy, thì quả là Quán Chiều Thêm Ấm Áp cuộc tình thơ – CMN).

Vậy thì, Quán lại là ai ? Người thật hay chỉ là một nhân vật, nơi chốn hư cấu để người thơ tìm cảm hứng. Biết đâu, nhân buổi ra mắt Quán Thơ, Tháng Ngày Còn Lại, vào lúc 1 giờ trưa Chủ nhật 28 tháng 6 năm 2009 tại hội trường Vivo (2260 Quimby Rd., San Jose, CA. 95122) khi tâm tình, người thơ Cao Mỵ Nhân có thể bật mí phần nào điều thắc mắc đó.        

 




Giao Chỉ Vũ Văn Lộc : Thôi đành phụ nhau

 

 

Thôi đành phụ nhau

                                                                          Giao Chỉ, Vũ văn Lộc

                                       ( Viết về tác giả và tác phẩm ký ức Huỳnh Văn Lang ).

                                            

                                   

 

                                              Bác Huỳnh văn Lang, ở tuổi 90 không ai có thể sánh được.
                                     Trí tuệ sáng suốt, thể lực mạnh mẽ, lời nói vang dội, đi đứng vững vàng.
 

 

 “Để người phụ, tôi không phụ người.”

 


Giữa câu chuyện, tôi chợt nghe bác Huỳnh văn Lang nói : Tôi thà để người ta phụ mình. Tôi không phụ người.

 

Đó là cách trò chuyện của tác giả ký ức Huỳnh văn Lang. Đôi khi ông chợt nhẩy vào giữa câu chuyện. Phải theo một lúc mới bắt kịp.

Tôi hỏi: Bác nói phụ ai, ai phụ?

Trả lời: Tôi không phụ anh em tổng thống. Người anh phụ tôi, cất chức viện Hối Đoái mà không cho tôi biết. Người em giải tán kỳ bộ Cần lao của tôi mà không có lý do chính đáng. Người ta phụ tôi nhưng tôi không phụ người. Tôi thương cho người anh mà tiếc cho người em.

 

Tập Ký ức Huỳnh văn Lang gần 900 trang, tác giả dành để kính dâng hương hồn tổng thống Ngô đình Diệm và ông cố vấn Ngô đình Nhu. Ông viết lời tâm huyết:

 

                           Vô cùng thương cho người Anh và tiếc cho người em. 

                                       

Bìa cuốn sách là hình tổng thống Ngô đình Diệm. Dưới có ghi tác giả xuất bản và trình bầy.

Bìa trong là hình ông Ngô đình Nhu. Mặt trong của bìa sau là hình bà Ngô đình Nhu.

Phía ngoài bìa sau mới là hình phác họa chân dung tác giả. Phía dưới có một câu hết sức đặc biệt.

 

                           Cám ơn đời đãi ngộ tôi quá nhiều.

                           Nhưng bây giờ tôi lại thiếu quá lớn, thiếu cả vòm trời của một quê hương.

 

Theo tôi nghĩ, lời cám ơn đời của tác giả, hết sức chân thực. Đọc về cuộc đời tác giả, có thể lời cảm ơn chưa đủ. Sẽ không bao giờ đủ. Bởi vì thực ra quê hương Việt Nam đã đãi ngộ ông nhiều hơn tất cả mọi người,trong mọi thời đại. Đời ông không còn gì để phàn nàn. Nhưng bác vẫn phàn nàn bằng cả một cuốn sách.

 

Đời của bác Huỳnh văn Lang, ở tuổi 90 không ai có thể sánh được. Trí tuệ sáng suốt, thể lực mạnh mẽ, lời nói vang dội, đi đứng vững vàng. Ông thách đố với định mệnh, ông sẵn sàng đối thoại với mọi vấn đề. Ông đặt tên cho những vấn nạn lịch sử, ông phê phán nhân sự từ Âu sang Á, trong và ngoài chính quyền, trong mọi hoàn cảnh và mọi thời đại. Ông là tay chơi của xứ Nam Kỳ. Từ đá cá thia thia đến săn cọp. Ông là khai quốc công thần của Đệ nhất Cộng Hòa. Ông là người số 2 của đảng Cần Lao. Chỉ đứng sau số 1 Ngô đình Nhu.

 

                                  

                                                           Ông bà Huỳnh Văn Lang

     

Ông là người hưởng bổng lộc hợp pháp nhiều nhất của nền đệ nhất Cộng Hòa. Ông là người đứng đầu phong trào Bình dân giáo dục và nhà bảo trợ sáng lập của tạp chí Bách khoa. Ông thành hôn với giai nhân Bắc hà, con gái của nhà hàng vàng danh tiếng Đức Âm. Ông là sinh viên du học Mỹ được thủ tướng Diệm triệu hồi đích danh về giúp nước. Nhưng trong kỳ đảo chánh tổng thống Diệm, chính ông cũng lại là người sẵn sàng hợp tác với đại tướng Khiêm để hy vọng thực hiện giải pháp giữ lại tổng thống Diệm và loại bỏ ông Nhu.

Nhưng phe tướng lãnh lúc đó xét ra không cần và không tin nên đã bỏ rơi ông Huỳnh văn Lang và cả Phạm ngọc Thảo.

 

Kết quả đảo chánh thành công, hai anh em tổng thống bị giết. Người bạn gần như đồng chí của ông Huỳnh văn Lang là Phạm ngọc Thảo bị giết. Riêng ông Lang bị bắt, ra tòa và sau cùng được trả tự do. Trước sau ông bị tù chưa đến 2 năm. Tài sản bị mất khá nhiều, nhưng cũng còn lại khá nhiều vì dưới tên của bà Đức Âm, là mẹ vợ. Sau khi ra tù, lúc đó là thời kỳ nhiễu nhương giữa 2 nền Cộng Hòa. Đệ nhất đã cáo chung và nền đệ nhị chưa chính thức ra đời.

 

Cuộc đời của tác giả Huỳnh văn Lang chuyển qua giai đoạn làm ăn và trở thành phú gia địch quốc.

 

Tác giả đã liệt kê và mô tả chi tiết công việc làm ăn thành công với 4 tổ chức vĩ đại. Hòa Phong công ty nhập cảng hàng trăm ngàn xe gắn máy Honda, rồi mở Đại Á ngân hàng qua công ty Đông Phương.

Một lãnh vực khác rất mới mẻ với thị trường thương mại Việt Nam là công ty Bảo hiểm và tái bảo hiểm Phượng Hoàng.

Sau cùng là Phương Phương Export mà tác giả tự nhận là phạm 1 trong 2 tội lớn của con người. Thứ nhất là phá Sơn lâm và thứ hai là đâm Hà bá.

Công ty Phương phương là nỗ lực phá rừng xuất cảng gỗ trên toàn vùng cao nguyên Darlac, Lâm Đồng, Ban Mê Thuột, Quảng Đức, Pleiku, Kontum.

 

Xem như vậy cuộc đời của tác giả Huỳnh văn Lang hết sức phong phú, kỳ ngộ, đột biến và rất nhiều cơ hội. Chỉ riêng về cuộc đời của một con người, quá đủ để viết thành 1 cuốn trường thiên tiểu thuyết.

 

                        

                            Thiếu tướng Nguyễn khắc Bình, tác giả và Bác sĩ Nguyễn Thượng Vũ

 

Ra mắt sách

 

Tôi đã tường thuật hết sức vắn tắt đến quý vị về cuộc đời của tác giả qua chính tác phẩm của ông . Tuy nhiên còn rất nhiều chi tiết lý thú phải tự đọc mới thấy được. Bây giờ, ngang đây xin ghi lại cũng vắn tắt về buổi ra mắt sách và phần chúng tôi tham dự.

 

Khi cuốn ký ức số 1 bác Lang xuất bản có nhờ chúng tôi đọc và góp ý. Vì chỉ đơn thuần là cuộc đời của một thanh niên miền Nam mới trưởng thành. Đọc rất thú vị nên tôi có viết bài gọi là tán thưởng. Lần nầy tác giả muốn chúng tôi đọc và cho ý kiến chân thực. Dược sĩ Bẩy, người bạnSan Jose trưởng ban tổ chức cũng mời anh em tham dự và thỏa hiệp xin cứ phê phán tự nhiên.

 

Buổi ra mắt sách tại VIVO San Jose vào chiều chủ nhật phải nói là tuy không đông đảo nhưng hết sức hấp dẫn. Giáo sư Ngô đức Diễm điều hợp chặt chẽ và trật tự. Bác sĩ Nguyễn Thượng Vũ trong tình thân hữu với tác giả bao năm đã hết lòng ca ngợi bác Lang về mọi lãnh vực. Đặc biệt là về cá nhân và thành quả văn học, văn hóa. Về thú ăn chơi săn bắn và sưu tầm đồ cổ. Đến nhà văn Diệu Tần thì soạn bài công phu khi nói về tác phẩm. Rất mạch lạc và chi tiết, ông nêu lên các nhận định của bác Huỳnh văn Lang về đệ nhất và đệ nhị Cộng Hòa. Đặc biệt các đoạn tác giả lên án hoặc nhắc lại các lời phê phán về tướng lãnh trong vụ đảo chánh. Những lời phê phán hết sức nặng nề. Một đoạn ghi rõ nhất khi tác giả nhắc lại ý kiến của Phạm ngọc Thảo và cho rằng đại tá quân báo Connor cũng ghi nhận như vậy.

Nguyên văn như sau: ” Minh là đại ca đại ngu. Đôn là thằng đểu, Đính là thằng dốt, Đỗ Mậu gian, Kim là điếm chính trị, Oai là thằng hèn, Xuân là tên đại ác “.

 

Trong suốt tác phẩm, tác giả nhắc đi nhắc lại nhiều lần các tướng lãnh cầm quyền ngu, dốt, gái, tiền. Tác giả cũng thanh minh rằng khi nói đến người lính cầm quyền là chỉ các ông này. Không phải là các tỉnh trưởng và quận trưởng nhà binh.

 

Tác giả xác nhận là cuốn sách viết để tưởng nhớ anh em ông Diệm, nên các hình ảnh trình bày do chính tác giả sắp xếp là nhằm vào mục đích kể trên.

 

Rõ ràng ghi nhận tác phẩm là trải tấm lòng của tác giả với đệ nhất Cộng Hòa. Người phụ ta chứ không phụ người và đồng thời cũng lên án mạnh mẽ phe tướng lãnh đã chủ trương nhà Ngô must go toàn diện. Khác với tác giả cũng chủ trương đảo chánh nhưng chỉ có Nhu must go mà thôi.

 

Thôi đành phụ nhau

 

Rất tiếc là chúng tôi đã phụ lòng của tác giả và nhà tổ chức khi góp ý kiến quá thẳng thắn trên diễn đàn như sau:

 

Tôi buồn nhiều hơn vui khi đọc tác phẩm nầy. Ý kiến phê phán tác giả và tác phẩm thì khá nhiều nhưng vì hết sức tôn trọng tuổi tác và khí phách của bác Lang qua tình thân hữu nên chỉ trình bầy giới hạn.

 

Người xưa có nói rằng: Dân thế nào thì vua thế ấy. Quân ra sao thì tướng như vậy. Tướng lãnh của chúng tôi mà xấu xa tệ hại như thế, thì thuộc cấp còn ra làm sao. Dù rằng thực ra, nằm trong chăn chúng tôi biết chăn có rận.Trải qua bao năm quân ngũ, trực tiếp dưới quyền các tướng lãnh như thế, làm sao tôi không biết là các niên trưởng của tôi có những sai lầm tệ hại. Nhưng ngày nay rõ ràng vì thù hận mà tác giả lên án nặng nề . Hỏi là hàng cấp dưới chúng tôi, ai chả đau lòng.

 

Nghĩ đi nghĩ lại, các vị tướng mà bác Lang nhắc đến tên từ Dương văn Minh, Tôn thất Đính, Đỗ Mậu, Trần văn Đôn, Trần tử Oai, Mai hữu Xuân, Lê văn Kim xem ra đều dốt và hèn. Nhưng các vị niên trưởng khác của chúng tôi chưa vươn lên trong giai đoạn cách mạng bỏ tù Huỳnh văn Lang. Họ lên tướng đợt sau nhưng cũng có lúc vẫn vừa dốt lại vừa hèn. Ngay như thân phận anh em cùng khóa chúng tôi, có người chưa tốt nghiệp trung học mà đã ra trường sĩ quan. Nào có cơ hội học hành gì đâu mà tránh được bản án dốt nát. Sau này trải qua 21 năm chinh chiến, chuyện tứ đổ tường trong chúng tôi, anh nào cũng có lúc ra vào thong thả. Lính mà em. Chinh chiến có lúc mạnh lúc yếu, lúc can đảm lúc hèn nhát.

 

Vì vậy nghe bác chửi thượng cấp, làm sao lại không đau lòng. Lại  xin có lời thưa rằng, xem lại các thượng cấp dốt nát mà bác chê bai chửi bới thì trăm phần trăm là do tổng thống Ngô đình Diệm tin cậy, nhận xét, cân nhắc, luôn luôn với sự cố vấn hết sức tinh tế của ông Ngô đình Nhu. Rồi mới thăng cấp và bổ nhiệm.

 

Làm sao các ngài lại để ra cớ sự như vậy. Lính tráng và các sĩ quan cấp dưới chúng tôi đâu có bầu ra tướng lãnh. Đặc biệt là các tướng lãnh cầm đầu đảo chánh và sau nầy họ bắt bác bỏ tù. Vì vậy xin bác nghĩ lại không nên nặng lời với anh em như thế.

 

Bác đã từng là đệ nhất công thần của chế độ, ngày xưa khi vua bị giết, quan đại thần phải chết theo. Nay bác chỉ bị tạm giữ, xem chừng mấy ông tướng vẫn còn sợ nhân vật Cần Lao số 2 của chế độ. Lại nói về Cần Lao, xin báo cáo bác rõ dù muộn màng gần 50 năm, là ở cấp dưới chúng tôi đã khổ vì mấy ông Cần Lao biết chừng nào. Phải  chi ngày xưa tôi quen với nhân vật số 2?

 

Vấn nạn tiếp theo là trong giai đoạn người lính cai trị kéo dài suốt đệ nhị Cộng Hòa. Lính là tổng thống, thủ tướng, tỉnh trưởng và quận trưởng. Đó lại là giai đoạn mà tác giả làm giàu. Làm giàu trong chiến tranh. Thời đệ nhất Cộng Hòa tác giả tiền bạc dư thừa vì hưởng quyền lợi hợp pháp qua tiền thưởng trên công vụ điều tra sai lầm hối đoái. Quả thực không 1 người lính tham nhũng nào được hưởng quyền lợi nhiều hơn những phần thưởng hợp pháp như thế.

 

Đó chính là nguồn gốc của bất công. Khi mới ra trường, tiểu đoàn hành quân tự do thành công sau khi chết mấy anh lính. Đơn vị được thưởng là con bò chết vì lạc đạn. Trong khi đó ở trên trời cao các bác được thưởng đủ tiền mua dinh thự.

 

Cho đến năm 1975 lương của cá nhân tôi cấp đại tá cũng chỉ có năm, sáu chục ngàn tương đương với 50 mỹ kim một tháng. Suốt đời đi lính, cho đến năm 75 tôi chưa có dịp cầm trong tay tờ 100 mỹ kim. Và tôi biết rằng các anh em khác còn khốn nạn hơn nhiều. Một lần đi công tác về Tân sơn Nhất, không có xe đón đúng giờ. Tôi tháo lon leo lên xe ôm của 1 anh lính ở cổng phi trường. Khi xuống xe mới biết anh xe ôm là thiếu tá. Chiến hữu thường cũng bỏ lon chở lính Mỹ từ Tân sơn nhất về đường Tự do. Cũng là một chuyến đi làm về, có tiền mua sữa cho con.

 

Vì vậy tôi cho rằng giàu có trong chiến tranh là 1 tội lỗi. Xem ra suốt cuộc đời thành công và tung hoành ngang dọc. Tác giả dù sống trong lòng đất nước, nhưng vẫn không biết lính tráng chúng tôi đã khổ sở biết chừng nào.

Vì vậy nên không cách chi giải thích được khi bác đổ tội cho người lính cầm quyền, người lính cai trị.

 

Tuy nhiên,  sau cùng, độc giả nên tìm đọc tác phẩm của tác giả Huỳnh văn Lang. Giá trị của tác phẩm là hết sức chân thực, thẳng thắn, hết sức chủ quan, không vòng vo khách sáo. Đa số các nhân vật đều bị đả kích. Ngay cả các nhân vật tác giả hết lòng kính trọng cũng có dịp phơi bầy những yếu kém sai lầm. Có cả đoạn tác giả đề nghị tổ chức đối lập cuội trong quốc hội nhưng gọi là đối lập xây dựng.

Tuy nhiên độc giả cần có 1 máy lọc để tự mình thẩm định. Tác phẩm nầy về chất lượng rất phong phú tha hồ cho máy lọc làm việc.

 

Buổi ra mắt sách này  có hai vị đại tướng rất nên là độc giả đang ở gần gũi San Jose nhưng lại không đến dự. Đại tướngTrần Thiện Khiêm ở San Francisco và đại tướng Nguyễn Khánh ở Palo Alto.

 

Riêng phần chúng tôi, rất tiếc không thể ca ngợi thêm tác giả và tác phẩm. Xin đành phụ lòng anh em.

Giao Chỉ, Vũ văn Lộc