Sáng nầy nhận được thư của niên trưởng hàng xóm Nguyễn Khắc Bình. Thứ sáu 16 tháng 7-2021 San Jose tưởng niệm thủ tướng Trần Thiên Khiêm tại nhà thờ Maria Goretti 2980 cầu nguyện lúc 11:30 và thánh lễ lúc 12 giờ. Ban tổ chức là tướng Bình nguyên TMT của đại tướng Khiêm và ông Ng Đức Cường nguyên tổng trưởng kinh tế trong nội các của thủ tướng đệ nhị cộng hòa. Ban tổ chức xin mời toàn thể đồng hương đến dự. Cũng vào dịp tháng 7 vào ngày 20-1974 cách đây 67 năm là dịp tưởng niệm cuộc di cư vĩ đại đưa 1 triệu người từ Bắc vào Nam. Tháng trước anh Dương Phục của Radio Saigon Houston hỏi rằng bác Lộc có biết đại tướng Khiêm ở CA không. Trả lời rằng ngày xưa ở Việt Nam chưa từng có dịp trực diện khi ông tướng còn trong quân đội. Sau này ông làm thủ tướng thì lại càng xa cách. Mấy năm gần đây tướng Bình có dịp mời ông đến thăm Việt Museum nên tôi mới có cơ hội nói chuyện. Nhắc lại chuyện xưa thời kỳ đất nước còn đủ hai đầu Nam Bắc, Sài Gòn Hà Nội cũng thực thú vị.
Những vị đại tướng VNCH.
Quý vị có biết quân đội chúng ta có bao nhiêu ông đại tướng. Cao cấp và thâm niên nhất là đại tướng Lê Văn Tỵ, khi ông qua đời thời kỳ quốc trưởng Nguyễn Khánh đã truy thăng ông lên Thống Tướng. Các vị đại tướng khác là tổng thống Dương Văn Minh, Cố vấn Đặng Văn Quang, quốc trưởng Nguyễn Khánh, Tổng tham mưu truong Cao Văn Viên và thủ tướng Trần Thiện Khiêm.
Hoàng hôn của các đại tướng.
Ngoại trừ tướng Viên ra đi từ miền Đông, tất cả các vị đại tướng đều trải qua những ngày cuối cùng tại tiểu bang CA Hoa Kỳ. Nước Mỹ đã từng là đồng minh của các tướng lãnh cầm quyền. Rồi đã quay lưng bỏ rơi, nhưng sau cùng Hoa Kỳ cũng vẫn là nơi quý vị gửi nắm xương tàn. Tôi có dịp nói chuyện với đại tướng Cao Văn Viên tại cao ốc cao niên xứ Virginia, với quốc trưởng Nguyễn Khánh và thủ tướng Khiêm tại Việt Museum San Jose. Không hỏi về chiến tranh và quốc sự. Chỉ hỏi về tuổi hoa niên. Còn tuổi nào là tuổi của tình yêu lúc mới vào đời. Tình yêu nước, yêu người và yêu chính mình. Các niên trưởng đều đồng ý là tuổi 20. Thời kỳ trước 1954, ở Secteur Hưng Yên đã có 3 vị sĩ quan trẻ tình cờ gặp nhau trên chiến trường Bắc Việt. Trung úy Nguyễn Văn Thiệu gốc Phan Rang, Trung Kỳ. Trung Úy Cao Văn Viên gia đình từ Lào trở về Hà Nội, Bắc Kỳ. Đại úy Trần Thiện Khiêm, quê Long An, Nam Kỳ. Không ai biết rằng sau này sẽ trở thành tổng thống, thủ tướng và tổng tham mưu trưởng. Cũng vào thời kỳ đó đại úy Nguyễn Khánh từ Sài Gòn ra hành quân Hà Nội đã lấy cô vợ của 36 phố phường. Nửa thế kỳ sau tôi hỏi niên trưởng Khánh ai lái xe đưa ngài từ Sacto về thăm bảo tàng của chúng tôi tại San Jose. Ông nói ngon lành. “Moi” lái chứ ai. Lại hỏi ai ngồi ghế chỉ huy bên cạnh. Bà ngoại hàng Đào của đám Bắc Kỳ nhà anh chứ còn ai. Mấy năm sau cả hai ông bà cùng vào ở chung một phòng trong nhà già bác sĩ Ngải. Luật nursing home là nam nữ bất khả chung phòng, ngoại trừ phòng của ông bà quốc trưởng. Khi quốc trưởng ra đi, khách vào thăm, cô gái hàng Đào Bắc Kỳ, một thời đệ nhất phu nhân hồn nhiên nói rằng anh Khánh đi công tác. Không có nhà. Bà đã thăng hoa ngay trước khi tình Bắc duyên Nam vẫn còn nguyên vẹn. Ông Khánh lấy vợ Bắc nhưng ông đại úy Khiêm thì vẫn một lòng một dạ với tình yêu Nam Kỳ. Ông lấy vợ Rạch Giá. Trong quân đội cấp bậc của chúng tôi xa cách. Trong chính quyền vai trò của chúng tôi lại càng cách biệt, nhưng về đường tình duyên chúng tôi chẳng khác biệt bao nhiêu. Nhà tôi cũng là nữ sinh trường Nguyễn Trung Trực cùng với chị em bà Trần Thiện Khiêm. Khi cùng ngồi nói chuyện tôi thưa rằng từ Bắc vào Nam tìm thấy hồ Than Thở ở Đà Lạt. Ai ngờ đi hành quân ở Hậu Giang thấy Rạch Giá cũng có hồ Than Thở. Xếp Khiêm vỗ đùi nói rằng: “Toi”nói đúng, “moi”lấy vợ Rạch Giá cũng thấy cái hồ Than Thở Mệt lắm.
Nói đến thủ tướng Trần Thiện Khiêm ai cũng tiếc rằng ông Thiệu ông Khiêm đều không ông nào để lại hồi ký. Lúc sinh thời thủ tướng Khiêm nổi tiếng là người ít nói dù trước năm 1975 hay sau này trải qua gần nửa thế kỷ lưu vong. Ngày xưa trong một buổi đại hội tại Vũng Tàu do tổng thống Thiệu chủ tọa có cả nội các và tướng lãnh tham dự. Hội trường có cả trăm người chiếu trực tiếp trên TV. Tổng thống thao thao bất tuyệt. Ông nội thẳng những điều cấm kỵ. Về bang giao Việt Mỹ, ông không ngần ngại nói rằng ảnh hưởng Hoa Kỳ Việt Nam rất quan trọng và trực tiếp. Bên Mỹ hắt hơi là bên ta sổ mũi. Suốt buổi thủ tướng ngồi bên cạnh, đeo kính mát, yên lặng và bình tĩnh. Báo chí gọi là ông Tư mắt Kính. Không nói. Không lỡ lời. Không sai lầm. Đó có thể là khuyết điểm của chính khách. Đó cũng có thể là ưu điểm của chính trị gia. Sau này ra hải ngoại cũng như thế. Dư luận có thể thêu vẽ và bình luận về vai trò của đại tướng trong chính trường Việt Nam từ binh biến 63 cho đến ngày tàn cuộc 75, nhưng không hề khai thác được điều gì trực tiếp từ niên trưởng Khi êm. Tất cả chỉ là suy diễn.
Những ngày sau cùng.
Những năm gần đây niên trưởng Khiêm quanh quẩn tại San Jose. Vóc dáng cao lớn và khỏe mạnh với tuổi ngoài 90. Ông không ngần ngại xuất hiện trong các buổi họp mặt đông đảo. Cùng với niên trưởng đô đốc hải quân Trần văn Chơn và tham mưu trưởng Nguyễn Khắc Bình, quý vị làm thành bộ ba tương đắc của QLVNCH. Thêm vào sự hiện diện của tổng trưởng kinh tế Nguyễn Đức Cường và dân biểu dược sĩ Nguyễn văn Bẩy. Dù sao cũng chỉ còn vang bóng một thời. Chung quanh là những người biết chuyện nhưng không nói và người không biết tha hồ lên tiếng. Văng vẳng đâu đây là lời nói than vãn của trung tướng Thiệu: Mất nước là mất tất cả. Trong hoàn cảnh cả cộng đồng Việt hải ngoại chia rẽ giữa 2 đảng Cộng Hóa và Dân Chủ, ông đại tướng cuối cùng của Việt Nam Cộng Hoà lặng lẽ ra đi. Lúc cư ngụ ở San Jose niên trưởng Khiêm bị té và đau chân. Ông nằm trong Nursing home một mình. Hồ Than thở xứ Ki ên Giang của ông đã bỏ đi từ lâu sau một thời gian rất dài ông phải săn sóc cho bà. Ông thủ tướng đã trải qua giai đoạn rất vất vả nuôi vợ mệt mỏi hơn cả lúc cầm quyền. Ông vẫn nằm chờ đợi một mình. Một hôm có vị linh mục là cha xứ gốc Việt của miền Senter vào thăm thân phụ. Quan sát thấy tình cha con trong vòng đạo lý tôn giáo. Cha vào thăm con hay con vào thăm cha. Đại tướng bèn mời linh mục đến gặp. Ông muốn tìm về niềm tin tôn giáo vào những ngày cuối của cuộc đời. Tôi tưởng rằng niên trưởng Khiêm lẽ ra phải theo đạo từ thời ông Diệm, nhưng tôi nhầm. Thời đó mà rửa tội có thể do ảnh hưởng chính trị. Nhưng đến năm 2021 mà theo đạo là do tiếng gọi của con tim. Đại tướng hỏi vị chủ chiên tên họ là gì. Thầy tu thưa rằng họ Lê chữ đệm là Trung, tên gọi là Tướng. Lê Trung Tướng. Chuyện đơn giản thành phức tạp. Vào ngày đẹp trời. Ngay tại Nursing Home có ông Trung Tướng họ Lê rửa tội cho đại tướng thủ tướng họ Trần tại San Jose. Cuối tuần qua lễ tang đã tổ chức cho niên trưởng Khiêm tại San Deago nhưng hoàn cảnh hiện nầy mọi chuyện đều phải xếp hàng. Niên trưởng của chúng tôi, vị đại tướng cuối cùng của QLVNCH cũng đang xếp hàng nằm chờ chưa đến lượt hỏa thiêu. Con người một thời lẫm liệt, kiến trúc sư của biết bao nhiêu cuộc cách mạng và binh biến. Người đã từng chờ đợi Được làm Vua và thua làm đại sứ. Đã gần 50 năm lưu lạc xứ người. 10 năm nuôi vợ đau yếu và sau cùng hồn thiêng đã bay về cố hương nhưng xác tục vẫn nằm chờ trong phòng lạnh để hỏa thiêu cùng thiên hạ. Đại tướng Khánh, đại tướng Viên, đại tướng Khiêm ai cũng nghĩ rằng cuộc đời đẹp nhất ở tuổi cấp úy ngoài 20. Nếu phải được trở lại làm tuổi trẻ 20 sẽ làm lại từ đầu. Sáng suốt hơn, xây dựng hơn, bao dung hơn và giúp được biết bao nhiêu cho đất nước cho dân tộc và cho chính mình.
Tuổi hoa niên cùng mặc áo chinh y, Lòng mở rộng giữa dòng đời ấm áp. Chín mươi năm, cuộc đời như gió thoảng. Chiều cô đơn về chậm hồn cao niên.(Giao Chỉ tưởng niệm niên trưởng Khiêm, cùng hội cùng thuyền những người con rể xứ KiênGiang.)
Tôi phải kể câu chuyện này. Hai chính khách gốc Nhật danh tiếng của Mỹ mới gặp nhau ở San Jose nhắc lại thời thơ ấu đã cùng gia đình phải vào trại tập trung khi Trân Châu Cảng bị tấn công. Những cậu bé sinh ra tại Mỹ, không biết nói tiếng Nhật, tưởng mình là Mỹ chính thống bỗng nhiên bị coi là kẻ thù Nhật Bản. Sau đệ nhị thế chiến, cậu bé Mineta lên làm thị trưởng San Jose. Năm 1976 ông đến dự lễ thành lập cơ quan IRCC tại đường Amaden. Sau lên tổng trưởng giao thông cho chính phủ Bush. Còn ông Honda làm hiệu trưởng trường trung học tại San Jose. Là người đầu tiên mở của các lớp học cuối tuần cho chương trình Việt Ngữ Văn Lang. Sau ông làm dân biểu liên bang. Hai ông già Hoa Kỳ gốc Nhật về hưu được báo chí hỏi có nhắn nhủ gì cho thế hệ tương lai. Cả hai cùng trả lời một câu vô cùng ý
nghĩa. Làm gì thì làm, luôn luôn phải nhớ rằng mình là ai? Mineta and Honda. Luôn luôn phải nhớ rằng mình là ai?
Hôm nay với tư cách là người Việt quốc tịch Mỹ, mãi mãi vẫn nhớ mình là ai, xin ghi lại câu chuyện Hoa Kỳ lập quốc nhân ngày lễ Độc Lập. Lịch sử nước Hoa Kỳ ngắn và tưởng chừng đơn giản nhưng thực sự rất phức tạp. Những người Anh tha phương tìm được đất sống đã nổi dậy chống lại cố quốc để trở thành người Mỹ. Văn hóa và ngôn ngữ vẫn từ nước Anh, nhưng di dân đã làm cách mạng chống lại nước mẹ để trở thành Hiệp Chúng Quốc. Cách mạng thành công, họ viết ra bản tuyên ngôn độc lập rồi soạn thảo hiến pháp.
Đó là cuốn Kinh thánh của nền dân chủ. Tuy nhiên những áng văn chương bất hủ đó cũng chỉ mới là lý thuyết. Tân quốc gia Hoa Kỳ ra đời đưa ra những ý tưởng cao quý và lý tưởng nhưng không thực sự thi hành. Người Mỹ trắng gốc Âu châu miền Trung Mỹ chiếm đất và tập trung dân da đỏ vào khu đồng khô cỏ cháy. Mỹ trắng miền Nam thi hành chế độ nô lệ khắc nghiệt đối với dân da đen. Tuy gọi là thể chế dân chủ nhưng không cho phụ nữ đi bầu. Di dân ngoại nhập từ Á châu cũng chỉ làm trong nông trại và làm phu đường xe lửa. Người Mỹ cũng đã từng mở cuộc chiến tranh chiếm các miền đất tốt đẹp của Mễ tây Cơ từ Texas đến California. Phải trải qua 1 trăm năm lập quốc Hoa Kỳ mới đi được từ con đường vị kỷ qua vị tha. Sau cuộc nội chiến đẫm máu Mỹ mới giải phóng nô lệ và cho phụ nữ đi bầu. Phải thêm 1 trăm năm thứ nhì nước Mỹ mới có các đạo luật đón nhận di dân và đến cuối thế kỷ 20 Mỹ mới trở thành cường quốc về chính trị, kinh tế và quân sự. Hoa Kỳ sau khi trải qua 2 đại chiến thế giới mới thực sự là quốc gia tự do dân chủ kiểu mẫu toàn cầu và đem cơ hội đến cho mọi sắc dân. 70 năm trước Mỹ đã chỉ huy trận đổ bộ từ Anh Quốc vào bờ biển nước Pháp chiến thắng phát xít Đức và xây dựng lại toàn thể Âu Châu. Chính người Mỹ đã góp phần lớn vào việc trực tiếp viện trợ cho Nga Sô vươn lên để trở thành quốc gia dẫn đầu cộng sản thế giới. Tại Á Châu, Hoa Kỳ đã xây dựng kẻ cựu thù Nhật Bản từ một nước quân phiệt thành quốc gia dân chủ hùng cường nhưng vẫn giữ được truyền thống hoàng gia. Mang danh nghĩa là đất nước cha đẻ của Liên Hiệp Quốc, Hoa Kỳ là quốc gia duy nhất không ngần ngại đem chiến binh đi khắp thế giới bảo vệ hòa bình cùng với các chương trình viện trợ các quốc gia chậm tiến. Tham dự vào chiến tranh Cao Ly trong 3 năm hy sinh hàng ngàn chiến sĩ chỉ đem đến kết quả giữ cho nguyên trạng chia cắt Bắc Nam. Tham dự vào chiến tranh Việt Nam trong 10 năm với kết quả bi thảm phải đón nhận trước sau hàng triệu dân Việt trở thành di dân ty nạn. Sau kinh nghiệm Cao Ly và Việt Nam, giữa thế giới tự do và cộng sản, nước Mỹ đã tìm ra đường lối đấu tranh khác qua cuộc chiến tranh lạnh và sau cùng cờ đỏ phải hạ xuống tại thủ đô Mạc Tư Khoa. Trong vai trò cường quốc lãnh đạo thế giới tự do, Hoa Kỳ vẫn không ngần ngại dấn thân vào mọi hoạt động dân sinh để bảo vệ hòa bình cho nhân loại trên khắp năm châu bốn bể. Anh ngữ cũng nhờ Hoa Kỳ trở thành ngôn ngữ khuôn vàng thước ngọc toàn cầu và đồng Mỹ Kim trở thành bản mệnh kinh tế thế giới. Từ khi Hoa Kỳ chiến thắng trong đệ nhị thế chiến năm 1945 đến nay, nước Mỹ chưa bao giờ từ bỏ vai trò vĩ đại lãnh đạo toàn cầu. Cùng một lúc nước Mỹ chia xẻ phúc lợi vật chất cho thế giới và đồng thời hướng dẫn con đường xây dựng dân chủ cho các dân tộc chưa phát triển. Tinh thần quảng đại của dân tộc Mỹ có được hôm nay đã trải qua nhiều phen lột xác từ gần 300 năm lập quốc. Với tinh thần đó, xin độc giả cùng chúng tôi đọc lại trang sử Hoa Kỳ nhân ngày Quốc Khánh 4 tháng 7 năm 2021. Phần sau cùng, chúng tôi sẽ có nhận định về hoàn cảnh hiện tại. Vai trò của tổng thống Trump là một thách đố của chính trường Hoa Kỳ.
Phần thứ hai: Dân Việt và lễ Độc Lập Mỹ. Người Việt đến Mỹ ngay sau biến cố tháng tư 75 được gọi là di tản. Ra đi bằng phi cơ và bằng tàu trên biển Đông. Sau khi hải quân Hoa Kỳ rời khỏi hải phận Việt Nam thì những con thuyền vượt biển đầu tiên ra đi. Tất cả đều được nhận vào Hoa Kỳ dưới danh hiệu ty nạn vào khoảng 150 ngàn. Con số này nhiều hơn con số chính phủ Mỹ dự trù. Vào thời đó nước Mỹ chưa có vấn nạn di dân và lòng người Mỹ còn mở rộng sau thảm kịch cộng sản chiến thắng Sài Gòn. Ngày 4 tháng 7 năm 75 những người Việt đầu tiên hiện diện tại Hoa Kỳ vẫn chưa cảm nhận được hương vị của lễ Độc Lập. Nhiều gia đình còn ở trong trại tạm trú chờ các nhà thờ bảo trợ. Qua đến năm 1976, Hoa Kỳ kỷ niệm 200 năm lập quốc, người dân Việt mới lưu ý tham dự cùng các gia đình bảo trợ. Ngày nay, trải qua gần nửa thế kỷ sống trên quê hương mới, xin nhắc lại một lần ngày lễ vĩ đại nhất của Hoa Kỳ.
Lịch sử lễ Độc lập . . Hoa Kỳ lập quốc năm1776 có 4 triệu dân, ngày nay 2021 có 340 triệu. Trải qua gần 250 năm gia tăng trên 333 triệu.– Năm 1976 người Việt tại Mỹ có 170 ngàn, ngày nay có 2 triệu. Sau 45 năm tăng hơn 10 lần– Dân Việt tỵ nạn xây dựng cuộc sống trên đất mới trong khi thế giới chuyển tiếp giữa 2 thế kỷ 20 và 21.– Về kỹ thuật, điện tử thay đổi toàn bộ đời sống.–Về nhân văn, với sự chấp nhận hôn nhân đồng tính, Hoa Kỳ đã tiến bước rất dài trên phương diện tư tưởng, bỏ xa phần còn lại của thế giới cả trăm năm.– Người Việt đã có mặt trên miền đất lịch sử trong một giai đoạn lịch sử. –Xin cùng quay về với câu chuyện lập quốc Hoa Kỳ. Lịch sử quê hương mới một thời bao dung mà di dân tỵ nạn chúng ta đã một thời sống chết tìm đến
. Ngày quốc lễ . Ngày 4 tháng 7 hàng năm là ngày lễ trọng đại nhất của Hoa Kỳ. Đó là ngày Mỹ quốc Tuyên Ngôn Độc Lập năm 1776 và bắt đầu chiến tranh cách mạng chống lại Anh quốc trong 6 năm. Đến 1782 Anh và Mỹ ký thỏa ước ở Paris và công nhận Hoa Kỳ độc lập. Người Mỹ đã chiến thắng trận chiến tranh đầu tiên của lịch sử Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ. Sau kỳ kiểm kê dân số 2020 nước Mỹ tương lai dần dần trở thành là đất nước của các sắc dân mà trong đó da trắng sẽ chỉ còn 50% tổng số. . Là công dân gốc Việt trong đợt di dân cuối cùng của thế kỷ 20, chúng ta nên tìm hiểu về đất nước mà chúng ta lập nghiệp. Các di dân tỵ nạn Việt Nam đầu tiên đến Mỹ năm 1975. Đến bây giờ nước Mỹ đã già thêm hơn 45 năm nhưng lịch sử trẻ trung của Hiệp Chủng Quốc rất phong phú và cũng rất độc đáo. Hoa Kỳ là quốc gia bao gồm tất cả các sắc dân, các ngôn ngữ, các tập tục văn hóa.
Nước Mỹ đã có các kỷ niệm vừa hung bạo vừa nhân từ. Tiêu diệt da đỏ, bắt da đen làm nô lệ, kỳ thị da vàng, đem quân đi làm cảnh sát trên thế giới, đi đến đâu là gây sóng gió ở đó. Hoa Kỳ cũng là quốc gia phát huy tự do dân chủ toàn cầu, viện trợ kinh tế, quân sự, giáo dục, xã hội, văn hóa cho toàn thể các quốc gia chậm tiến trên thế giới. Nước Mỹ sống giữa 2 đại dương và có ba múi giờ. Biên cương của Hoa Kỳ trên địa cầu là một vùng đất bao la tiếp giáp với Thái Bình Dương và Đại Tây Dương. Tiểu bang Alaska của Hoa Kỳ là ải địa cầu trấn giữ Bắc Băng Dương. Biên giới không gian của Hoa Kỳ lên đến mặt trăng và Mỹ quốc cũng là quốc gia tiên phong ghi dấu vết trên Hỏa tinh. Hai ngàn vệ tinh kinh tế thương mại và quân sự của Hoa Kỳ canh gác toàn vùng khí quyển của quả đất. Đế quốc nhân văn của Hiệp Chủng Quốc thống trị thế giới bằng các đại sứ quán và tòa lãnh sự luôn luôn tấp nập các khách hàng xin visa. Cơ sở ngoại vi của các sứ quán Hoa Kỳ là những chỗ bán thức ăn Fast Food McDonald, Kenturky, nước Coke, nhạc Rock và quần Jeans. Mỹ phát thực phẩm cho dân nghèo toàn thế giới nhưng đi đến đâu cũng bị đuổi về nhà: Yankee go home. Đó là Hoa Kỳ ngày nay, quá trẻ trung vì chỉ có hơn 250 năm lập quốc. Đất nước mà chúng ta đang là công dân có đứng lên tuyên thệ bảo vệ và tuyệt đối trung thành.Vì vậy chúng ta cũng nên biết qua lịch sử của quê hương mà phần đông chúng ta sẽ cùng các thế hệ tiếp theo ở lại đời đời .Người đầu tiên trên đất Mỹ? . Các nhà nhân chủng học cho biết 12 ngàn năm trước con người tiền sử Á Châu đi tìm đường sống đã đi từ Á qua Mỹ. Tuy nhiên, đây cũng chỉ là giả thuyết. Thực tế ghi nhận đây là miền đất mới không có nhiều chỉ dấu của các nền văn minh ngàn năm trước như Âu châu. Chỉ có dấu vết các bộ lạc tàn lụi. Sau cùng chỉ còn các bộ lạc da đỏ tồn tại cho đến thời kỳ 1500 các sắc dân tây phương mới đến Mỹ bằng đường biển. Nổi danh nhất là nhà hàng hải Columbus khám phá ra Mỹ châu. Rồi tiếp theo là Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh Cát Lợi, Pháp, Đức rồi đến Nga và các quốc gia Đông Âu. Các cuộc chiến đẫm máu, triền miên ở tân lục địa giữa người địa phương và dân giang hồ mới đến. Chiến tranh giữa các thế lực Tây phương. Sau cùng Anh quốc ổn định được tại phần lớn miền Đông Hoa Kỳ và các di dân bắt đầu lên đường. Con tàu Hoa Tháng Năm, May Flower nổi tiếng đến Mỹ năm 1620 vỏn vẹn có 100 người mà một nửa là thủy thủ đoàn. Con tầu này đã trở thành biểu tượng của di dân định cư trên đất mới vì có đem theo gia đình. Năm 1621 di dân được mùa đã cùng tổ chức Lễ Tạ Ơn và ăn tiệc mừng với dân da đỏ trong một lễ Thanksgiving đầu tiên của nhân loại.
Trong khi đó hơn 100 năm nước Mỹ thuộc Anh đã hình thành với 13 tiểu bang liên hiệp ở miền Đông. Phần lớn làm nghề nông, trồng thuốc lá, trà, và lúa. Các vùng khác thuộc Tây Ban Nha, Pháp vẫn còn tranh chấp. Cuộc chiến 1754 giữa Pháp và Anh giành đất trong 7 năm, sau cùng Anh thắng và mở rộng biên cương thuộc địa. Tiếp theo nước Anh cần tiền cho mẫu quốc nên đánh thuế các thuộc địa, thu tiền các nhà sản xuất và các đồn điền tại Hoa Kỳ. Chính sách thuế của Anh ban hành năm 1774 trở thành mầm mống cho cuộc chiến dành độc lập tại Hoa Kỳ. Tướng Washington nhận trách nhiệm lãnh đạo cuộc chiến tranh cách mạng vào năm 1775 và chính thức đứng ra tuyên bố độc lập 1776. Bản Tuyên Ngôn Độc Lập do Thomas Jefferson đại diện tiểu bang Virginia viết ra lúc ông 33 tuổi được coi là một áng văn tuyệt tác nhất của nhân loại và mở đầu cuộc chiến dành độc lập cho đến chiến thắng cuối cùng bằng hiệp định Paris 1782. Sau chiến thắng, Hoa Kỳ có 5 năm xây dựng dân chủ từ 1782 đến 1787 để hiến pháp ra đời với 9 tiểu bang chính thức rồi đến 13 tiểu bang thỏa hiệp. Những lá cờ Mỹ đầu tiên có 9 ngôi sao rồi 13 ngôi sao và bây giờ là 50 ngôi sao. Suốt từ buổi bình minh của Hiệp Chủng Quốc cho đến nay, nước Mỹ đã trải qua biết bao nhiêu là biến động. Từ hơn 4 triệu dân trở thành trên 333 triệu. Trên giấy tờ có 250 năm lập quốc nhưng thực sự quốc gia này đã thành hình từ trên 300 năm .
Ý nghĩa Hiệp Chúng Quốc . Phải chăng Hoa Kỳ là một đĩa rau trộn gồm đủ mọi sắc thái nhưng tía tô vẫn là tía tô, rau giấp cá vẫn nồng nàn mùi tanh của biển mặn. Hay đây là nồi cháo mà mọi thứ thực phẩm đã được hòa tan thành một hương vị mới. Trước khi nói đến nhân quyền, tự do và bình đẳng, nước Mỹ đã trải qua các giai đoạn hành động tàn nhẫn với các sắc dân thiểu số. Vào thế kỷ thứ 19, da trắng buộc dân da đỏ phải di cư tập trung vào các khu vực dành riêng, phần nhiều là đồng khô, cỏ cháy. Thảm kịch diễn ra trên các con đường mòn di chuyển dân da đỏ được gọi là: Đường mòn nước mắt. Da đỏ già trẻ lớn bé đều phải ra đi, bỏ nhà cửa, vườn trại để vào các khu hoang vu xa cách vạn dặm. Hàng chục ngàn người đã chết. Trong khi đó ở miền Nam Hoa Kỳ, dân da đen bị bắt làm nô lệ đem từ Phi châu qua đã trở thành một lực lượng lao động quan trọng. Những bàn tay đen đủi đã xây dựng nên nền nông nghiệp miền Nam nuôi cả nước Mỹ vào thời kỳ lập quốc với những vườn bông vải trắng xóa. Nhưng cũng chính da đen là vấn nạn cho cuộc chiến tranh tương tàn Nam Bắc. Những người da đen bỏ trốn các nông trại đã bị đánh roi cho đến chết. Câu chuyện Uncle Tom với bài ca lừng danh: Let my people go, Hãy cho dân tôi đi, đã trở thành một vấn nạn trong lương tâm Hoa Kỳ
Da đỏ xin ở lại thì bị đuổi đi. Da đen xin đi thì bị giữ lại. Ngay khi nội chiến chấm dứt, da đen được giải phóng mà vẫn còn bị kỳ thị. Cuộc chiến đấu vĩ đại của một đàn bà da đen năm 1955 không chịu ngồi phía sau xe bus đã trở thành một cuộc tổng đình công tẩy chay xe bus tại Hoa Kỳ. Từ cuộc đình công này, da đen có được một nhà lãnh đạo đầy huyền thoại là mục sư King mà tên tuổi trở thành một ngày quốc lễ. Rồi đến lịch sử Tây tiến làm đường xe lửa đem da vàng Nhật Bản và Trung Hoa nhập cuộc. Các tiền nhân di dân châu Á cũng đã ngậm đắng nuốt cay ở miền Tây Hoa Kỳ trong suốt thời lịch sử cận đại. Dân da vàng có một thời chỉ được làm cu ly đường xe lửa hay thợ giặt ủi. Sau cùng đến lượt chúng ta. Việt Nam ngày nay có hai triệu người tại Hoa Kỳ. Sau đợt di tản 75 tiếp đến là thuyền nhân từ 75 đến 95 rồi là các HO, con lai, ODP đoàn tụ nhập cư cho đến cuối thế kỷ thứ 20. Sau cùng là diện hôn nhân. Cuộc ra đi bi thảm của thuyền nhân Việt Nam kéo dài 20 năm đã viết thành trang Kinh Khổ với 1 triệu ngưởi thành công và 300 ngàn người chết ở biển Đông. Chính những oan nghiệt của thuyền nhân đã mở đường cho ODP, HO, Con Lai đến bến tự do. Mười quận hạt có dân Việt đông đảo nhất là Orange, Santa Clara, Los Angeles, Houston, San Diego, Seattle, Oakland, DC, và Dallas. Chúng ta không phải là sắc dân cuối cùng, và chúng ta không phải là sắc dân duy nhất có quê hương cố quốc.
Di dân tỵ nạn Việt Nam tùy theo hoàn cảnh và cảm nghĩ, có người mang theo quê hương, có người bỏ lại quê hương. Suy nghiệm hơn 40 năm mới thấy rằng đám di tản 75 phần lớn bỏ lại quê hương và chính những thuyền nhân đi sau đã đem theo quê hương. Tuy nhiên chúng ta không thể hành xử khác tập thể di dân trong trách nhiệm xây dựng đất mới. Sắc dân nào cũng có những niềm tự hào của họ. Ai cũng có các hãnh diện về truyền thống văn hóa, ngôn ngữ của cội nguồn. Điều quan trọng là phong cách đối xử và tìm hiểu để hội nhập. Chúng ta phải cảm ơn những người đi trước đã mở đường. Kể cả người xấu lẫn người tốt đã sống và đã qua đi trong công cuộc chinh phục đất nước vĩ đại này. Có điều hết sức trùng hợp là dù bất cứ sắc dân nào, dù cố quốc lầm than hay tươi sáng. Dù quê hương cũ còn độc tài cộng sản hay đã tự do dân chủ, di dân đến đây là ở lại đây. Những nhà văn Nga và Đông Âu lưu vong chống Cộng đã từng sống chết với quê hương rồi cũng phải nói rằng. Quê hương bây giờ là nơi chúng ta sống có hạnh phúc. Đó là lý do người Anh ngày xưa chiến đấu chống cố hương để trở thành người Mỹ. Người Nhật trong đệ nhị thế chiến, bị cầm tù trong trại tập trung nhưng vẫn tình nguyện cầm súng chiến đấu chống Thiên Hoàng để trở thành người Mỹ. Bởi vì trên thế giới chỉ có Hoa Kỳ mới thực sự là đất của cơ hội. Quốc gia mà con một người da đen ngoại quốc, xuất thân cán sự cộng đồng đã trở thành tổng thống. Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ hơn 200 năm trước đã ghi điều khoản bất hủ là con người được quyền mưu cầu hạnh phúc . Mùa hè năm qua, để chào mừng lễ độc lập lần thứ 237, tối cao pháp viện Hoa Kỳ đã ban hành nghị quyết lịch sử. Công nhận hôn nhân đồng tính, cho phép các cơ thể khác biệt cũng được mưu cầu hạnh phúc. Và bây giờ là chuyện dân Việt tại Hoa Kỳ . Một lần nữa, đợt người Việt đầu tiên ở Mỹ sẽ là nhưng cây tràm, cây đước giữ chặt đất cho một cộng đồng tương lai phát triển. Con cháu chúng ta sẽ vừa nhớ ơn ông cha đã đến đất này mà cũng không hổ thẹn về những đóng góp của chúng ta trong những giai đoạn đầu tiên. Bỏ lại phía sau con sông Hồng, sông Hương, sông Cửu Long và dãy Trường Sơn. Bây giờ ta phải làm quen với con sông Sacramento và rặng Rocky Mountain để con cháu ta đứng lên đáp lời sông núi mới. Xin hãy công bình với hoàn cảnh. Hãy lưu tâm ngày 4 tháng 7 của Hoa Kỳ. Bước ra khỏi cái ghetto của cộng đồng nhỏ hẹp, tham dự vào cái xã hội vĩ đại đã đem phúc lợi cho chúng ta. Đó là cách hay nhất để xây dựng cùng một lúc cộng đồng tại Mỹ và quê hương bỏ lại ở Việt Nam. Bao gồm cả giấc mơ tự do và dân chủ. Hãy làm một công dân tốt và chân thành với xứ “tạm dung”, chúng ta sẽ góp phần xây dựng dân sinh tại Hoa Kỳ và đồng thời xây dựng cả dân quyền cho Việt Nam
Phần thứ ba:
Thử thách trên chính trường. Hoa Kỳ vốn sẵn có một thế chế dân chủ kiểu mẫu với 3 ngành Lập, Hành và Tư Pháp. Thêm vào đó truyền thông là sự thể hiện mạnh mẽ của đệ tứ quyền. Hiến pháp Mỹ ghi thêm quyền tuyệt vời. Đó là quyền Mưu cầu hạnh phúc. Tuy nhiên Hoa Kỳ cũng có những vấn nạn truyền kiếp không bao giờ giải quyết xong. Súng đạn, homeless, phá thai, đồng tính, di dân, kỳ thị. Tùy theo hoàn cảnh lần lượt các tổng thống Hoa Kỳ từ lưỡng đảng thay phiên cầm quyền với các phương thức khác biệt nhưng sự thực guồng máy công quyền và việc tổ chức xã hội với 50 tiểu bang độc lập luôn luôn giữ cho đất nước này đi vào khuôn phép. Nhưng đến lần ông Trump với vai trò tổng thống thứ 45 thì cuộc diện có phần khác biệt. Là ứng cử viên tài tử dưới danh nghĩa đảng Cộng Hóa nhưng ông hoàn toàn đi ra ngoài khuôn phép của đảng. Ông vẽ ra hình ảnh một nước Mỹ đang xuống cấp bị toàn cầu lợi dụng và ông đã thành công. Với khẩu hiệu Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại, dù cá nhân ông có rất nhiều điều đáng chê trách nhưng cá tính mạnh mẽ đã thuyết phục cử tri Cộng Hòa và đánh bại 16 ứng cử viên toàn là chính khách kinh nghiệm. Vượt qua thách đố đầu tiên Trump tiếp tục tranh cử với ngôn từ mãnh liệt lại thêm một lần nữa chiến thắng đối thủ phe Dân Chủ. Dù toàn thể khối truyền thông Hoa Kỳ gần như hoàn toàn tin tưởng bà Clinton, ứng cử viên xuất sắc được tiên đoán sẽ cầm chắc kết quả. Ngay chính ông Trump cũng không ngờ mình chiến thắng. Nhưng giây phút ngỡ ngàng qua mau. Hết sức tự tin, tân tổng thống khi tuyên thệ nhậm chức đã lên tiếng chê trách toàn thể các vị tổng thống tiền nhiệm lưỡng đảng. Ngôn từ của ông ngay trong giờ phút lịch sử thiêng liêng đã báo trước cơn sóng gió trên chính trường Hoa Kỳ. Lần lượt ông xóa bỏ tất cả các cam kết, các thỏa hiệp và các chương trình hiện hữu dù tại quốc nội hay hải ngoại. Nước Mỹ từ lâu nay vẫn mang niềm hãnh diện về một hệ thống truyền thông tự do và trung thực. Trump trực tiếp phá vỡ huyền thoại khi tuyên bố báo chí toàn tin láo và trở thành kẻ thù của nhân dân Mỹ. Hệ thống tình báo quốc nội, quốc ngoại của Mỹ từ FBI cho đến CIA trở thành các cơ quan bất tài và bất công dưới sự phê phán công khai của tổng thống. Từ bao năm qua lưỡng đảng tuy có cạnh tranh như chưa bao giờ trở thành thù nghịch. Bach Cung và quốc hội trở thành cuộc tranh chấp hàng ngày giữa hành pháp và lập pháp. Tổng thống dù chưa thể đưa nước Mỹ trở thành độc tài nhưng với khối cử tri hết sức nhiệt thành và tiếp tục kiên trì ủng hộ, ông đã áp dụng chính sách độc tài tuyệt đối ngay trong Bạch Cung và trong nội các. Trump xử dụng tối đa quyền hạn tổng thống và bất chấp cả hiến pháp trong vai trò lãnh đạo quốc gia. Mỗi ngày ông đều có những quyết định thách đố các nguyên tắc tam quyền phân lập, thách đố các luật gia giải thích lại hiến pháp. Với khối cử tri nhiệt thành và kiên định ông luôn luôn chứng minh được quyết tâm thi hành các điều đã cam kết và sẽ đi hết cả hai nhiệm kỳ trọn vẹn 8 năm. Với quyết tâm sắt đá ông thách đố mọi phê phán, mọi trở ngại và giữa thời điểm của ngày lễ Độc Lập Hoa Kỳ 2020 vị tổng thống thứ 45 là một thứ thách của cả nước Mỹ. Dù Trump không qua nhiệm kỳ thứ hai, hiện tượng Donald Trump cũng vẫn ảnh hưởng tương lai Hoa Kỳ. Truyền thông Mỹ đã phải duyệt lại vai trò của mình. Hệ thống an ninh nước Mỹ với FBI và CIA cũng phải điều chỉnh lại nội bộ. Sự tranh đua và hợp tác giữa các chính đảng cũng phải xem lại. Ngay cả bản Hiến Pháp truyền thống hãnh diện của nền dân chủ cũng phải duyệt lại về nguyên tắc bầu cử, về quyền súng đạn, quyền phá thai và các tu chánh án về di dân. Đề tài di dân sẽ là các điểm quan trọng cho tương lai Hoa Kỳ với cuộc sống toàn cầu. Với tất cả những chủ trương đầy thử thách và ngôn ngữ phóng túng vị tổng thống thứ 45 dù ra ngoài Bạch Cung vẫn giữ vững được sự tin tưởng của số cử tri quan trọng hết sức trung thành thì sự phán xét thành bại không nằm trong khuôn khổ thông thường.
Tuy nhiên điều quan trọng trong tiền đề Hãy làm cho nước Mỹ mạnh trở lại tuy được lòng một số dân chúng nhưng tìm được định nghĩa mạnh yếu ra sao mới là chân lý. Trăm năm qua Hoa Kỳ vẫn hùng mạnh đóng vai cường quốc số một trên thế giới là do tinh thần hy sinh và chia xẻ. Chủ trương hoàn toàn trên căn bản quyền lợi dù là quyền lợi cá nhân, quyền lợi của một sắc dân hay một quốc gia sẽ dẫn đến những bất toàn nội trị và hận thù quốc tế ngay giữa đồng minh. Với chủ trương thu toàn quyền lợi về một mối, đóng cửa rút cầu gây hấn bằng ngôn ngữ e rằng ông Trump đã đưa toàn dân Mỹ từ tinh thần vị tha trở về với chủ trương vị kỷ. Ông đi ngược con đường tiền nhân đưa nước Mỹ tiến bộ từ ngày lập quốc đến nay. Rất mong thể chế dân chủ với tam quyền phân lập vượt qua được những khò khan hiện tại. Năm 2020 Hoa Kỳ đã kiểm kê dân số 10 năm một lần. Đếm đầu người dân nhưng cũng đo lòng người. Tổng thống 45 muốn đưa vào phiếu kiểm kê một câu hỏi về quốc tịch của di dân. Như vậy dù nửa đêm đi đếm người ở gầm cầu hay xó chợ cũng sẽ có hàng triệu dân bất hợp tác. May thay tối cao pháp viện với đa số là thân hữu của Bạch Cung đã bác bỏ câu hỏi về quốc tịch. Chúng ta vẫn còn niềm tin vào thể chế dân chủ Hoa Kỳ. Đó là thiển nghĩ của chúng tôi nhân ngày lễ độc lập 2021. Điều quan trọng nhắn gửi sau cùng theo gương 2 ông chính khách già gốc Nhật là luôn luôn biết mình là ai?
Giao Chỉ, San Jose-*****************************************************-
Chiến tranh Việt Nam
Chiến tranh Việt NamSan Jose và các thành phố đều có đài tưởng niệm lính Mỹ chết tại VN, 20 tuổi.
Năm 2018 truyền thông Hoa Kỳ tung ra cuốn phim Viet Nam War, chúng tôi đã viết bài bình luận gửi đến bạn đọc. Năm nay 2021 xin đăng lại bài nhận định cũ vẫn còn như mới. Chúng ta lại thua trên từng thước phim. Cuốn phim vĩ đại này nhằm mục đích kể lại một cuộc chiến mà người Mỹ đã thảm bại. Mỹ giết vị tổng thống đệ nhất Cộng Hòa VN do chính Hoa Kỳ dựng lên để chính thức đem quân vào đánh Hà Nội. Đã có lúc nửa triệu lính Mỹ hiện diện cùng với một triệu chiến sĩ VNCH và trăm ngàn lính đồng minh. Nhưng không có kết quả. Phe tự do chỉ đánh lấy hòa chứ không đánh lấy thắng. Mỹ đem toàn thể sức mạnh không quân đánh bom Hà Nội không phải để dứt điểm mà chỉ để mời kể địch vào bàn hội nghị. Ký bằng được một hòa ước Paris khốn nạn năm 73 để rút quân và bỏ rơi đồng minh Việt Nam. Tổng kết cuộc chiến dân Việt cả 2 miền Nam Bắc chết 2 triệu người. Bắc quân hy sinh 600 ngàn và chiến sĩ miền Nam chết 300 ngàn. Lính Mỹ 58 ngàn người tử trận. Xin quý độc giả đọc bài nhận định của chúng tôi đính kèm. Ngoài bài viết, tôi có nói chuyện trên Youtube và được trăm ngàn độc giả tham dự. Ngoài ra cũng trên Youtube với đề tài về Việt Nam Cộng Hòa có được hơn 1 triệu 300 ngàn người ghé qua. Hôm nay, đưa lại đề tài này mục đích chúng tôi muốn làm cuốn phim phản bác lại Việt Nam War của truyền thông Mỹ. Phim của chúng ta sẽ đặt tên ra sao. Can trường trong chiến bại hay là tiếng nói của bên thua cuộc. Dù đặt tên ra sao thì cũng phải nói lên một lần cái chết của 2 triệu dân Việt, của 600 ngàn Bắc quân và 300 ngàn lính miền Nam đã chết cho cuộc chiến vô nghĩa. Vietnam War của truyền thông Mỹ chỉ đơn thuần nói đến sự hy sinh của người Mỹ mà không nói đến gấp 10 lần đau thương của đồng minh miền Nam. Vào những ngày bi thảm cuối cùng, sĩ quan Việt Nam đã nói với cố vấn Hoa Kỳ ngay tại bộ tổng tham Mưu. Phải chỉ các anh đừng nhảy vào, chỉ giúp chúng tôi đánh một mình, được thua chúng tôi cam chịu.
Năm 2019 những tay làm phim người Mỹ cộng tác với các cựu chiến binh Hoa Kỳ cũng vận động cộng động Việt Nam để thực hiện cuốn phim lên tiếng về VN War. Chúng tôi cũng góp phần quảng bá với nhiều hy vọng. Phim dự trù sẽ phổ biến trong các trường học để thế hệ người Mỹ tiếp nối hiểu được phần nào sự thực về cuộc chiến đầu tiên mà Hoa Kỳ thất bại. Tiếc thay chính dự án này đã thất bại và niềm hy vọng đã tắt lịm không kèn không trống. Bây giờ đến lượt chúng tôi muốn nói lên ước vọng cuối đời. Một bản tường trình về dự án này sẽ được phổ biến. Bây giờ xin quý vị đọc trước bản nhận định phổ biến từ năm 2018 sau đây. Phim Vietnam War.
Trong công việc sưu tầm tài liệu cho Việt Museum, chúng tôi phải xem và đọc biết bao nhiêu tài liệu, đặc biệt phim về chiến tranh Việt Nam. Hết sức đau lòng. Xem bộ phim Vietnam War mới đây lại thêm đau lòng. Vẫn hiểu rằng đây là phim của người Mỹ làm cho khán giả Mỹ. Không phải dành cho người Mỹ gốc Việt. Tôi viết bài nhận xét sau đây, đã phổ biến nhưng phần lớn không đến tay các bạn. Xin gửi lại thêm một lần nữa. Nếu nhận được xin vui lòng cho biết. Cảm ơn.
–
Phim tài liệu Vietnam War
Cuộc thảm bại tái diễn
Giao Chỉ, San Jose
Tin tức thời sự chính trị nước Mỹ vẫn tràn ngập trên diễn đàn truyền thông. Thiên tai vừa trải qua với cuồng phong và mưa bão tại miền Đông Nam Hoa Kỳ rồi tiếp đến động đất Mễ Tây Cơ. Bộ phim 10 tập 18 giờ do hai nhà làm phim Ken Burns và Lynn Novick bỏra mười năm với 30 triệu mỹ kim mới hoàn tất vẫn làm xôn xao dư luận. Phần lớn các nhà bình luận, các chính khách và nhân vật cộng đồng Hoa Kỳ đều hết lòng khen ngợi. Riêng phần chúng tôi có nhận định khác biệt. Là quân nhân của phe bại trận với niềm đau thương gặm nhấm suốt cuộc đời. Mất nước là mất tất cả. Một lần bại trận và phải đào thoát ngay trên quê hương. Từ đó thấy lại biết bao lần thảm bại tái diễn trên phim ảnh, làm sao mà vui mừng khi nhìn lại vết thương. Sau 42 năm phe tự do thua trận, với bộ phim công phu phổ biến năm nay, cuộc thảm bại trên chiến trường Việt Nam lại một lần nữa tái diễn. Xin có đôi lời đóng góp ý kiến như sau.
1) Vẫn hình ảnh đau thương cũ: Các nhà làm phim mới đã soạn lại tài liệu cũ. Thêm tài liệu sưu tầm trong thập niên qua. Cắt ráp và bình luận công phu, nhạc đệm xuất sắc. Phỏng vấn khoảng 100 người trong đó có chừng 30 nhân vật từ cả hai phía quốc cộng Nam Bắc Việt Nam. Đặc biệt có những hình ảnh và lời bình luận khen chê cả hai bên. Lần đầu tiên có đề cập đến vai trò của chiến binh Việt Nam Cộng Hòa cũng như vụ Việt cộng thảm sát Mậu Thân. Nhưng sau cùng khán giả của thế hệ hôm nay thuộc thế kỷ21 đều thấy rằng những nhà làm phim đã gián tiếp xác định sự chiến thắng của Cộng sản Việt Nam là hữu lý và tất yếu. Hình ảnh sau cùng vẫn là một dân tộc chống ngoại xâm và thống nhất đất nước. Dù hy sinh bao nhiêu họ cũng vẫn khoác danh hiệu chống Pháp xâm lược, chiến thắng trận Điện Biên thần thánh. Dủ chết thêm bao nhiêu cũng giữ được hào quang đánh Mỹ giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Bốn mươi năm sau chiến tranh, Hoa Kỳ vẫn còn vẳng nghe tiếng hô vang của hàng triệu thành viên phản chiến. Thế hệ Hoa Kỳ ngày nay làm sao hiểu được những khúc mắc phức tạp của cuộc chiến tranh Quốc Cộng. Trong lãnh vực truyền thông, hình ảnh sống động vẫn có khả năng thuyết phục hơn cảngàn lời nói. Một bên là chiến binh đồng minh dù là lính Pháp, lính Mỹ hay chiến binh miền Nam mặc quân phục, trang bị đầy đủ được yểm trợ bằng phi pháo hùng mạnh. Phía bên địch toàn là hình ảnh nữ dân quân, vũ khí thô sơ, chân dép áo nâu quyết tâm chiến đấu. Phe ta thua trên từng thước phim. Hình ảnh hàng ngũ lãnh đạo miền Bắc. Ốm yếu khắc khổ, cuộc sống thanh đạm và ý chí chiến đấu mãnh liệt. Tất cả đều đã vào tù ra khám. Trong khi đó phe ta là hình ánh quan lại, xiêm áo lịch sự, xa cách quần chúng, không chứng tỏ được tinh thần hy sinh cho dân và quyết tâm bảo vệ đất nước. Hình ảnh vị tướng VNCH đích thân lạnh lùng xử bắn tù binh trước ống kính của báo chí quốc tế, hình em bé trần truồng chạy bom. Những bức hình đã mang danh hiệu biểu tượng đau thương của cả thế kỷ. Và rất nhiều hình ảnh sẵn có phô diễn những sai lầm dã man của phe ta mà không có chứng tích tội ác của đối phương. Không thể nào có đủ lời lẽ để giải thích nguồn cơn. Dù 40 năm trước hay bốn mươi năm sau, một lần nữa chúng ta thua trận trên từng thước phim.
2) Không thể tranh luận được với sự thành công. Chúng ta phải chấp nhận rằng phe cộng sản đã chiến thắng phe tự do trong cuộc chiến Việt Nam. Hoa Kỳ từ tổng thống Johnson thực sự đã từng quyết tâm chiến thắng. Sau vụ hỏa mù trên Vịnh Bắc Việt, quốc hội Hoa Kỳ đã biểu quyết đồng thuận cho tổng thống toàn quyền. Nhưng sau cùng ý chí của chính phủ Mỹ thua ý chí của phe cộng sản. Nga, Tàu và Việt cộng không hề nao núng. Phong trào phản chiến đánh gục ý chí của chính phủ Hoa Kỳ. Mỹ thua trận ngay từ trong lòng dân chúng quốc nội.. Tiếp theo chính thức thua trận trên giấy tờ ký hiệp định Paris 1973. Sau cũng là cuộc bỏ chạy cùng Việt Nam Cộng Hòa trên nóc tòa đại sứ. Trong chiến tranh Việt Nam, Hoa Kỳ đã thua hết sức cay đắng, nhưng vẫn còn vượt qua được vì đây chỉ là một chiến dịch trong chiều dài của lịch sử Hoa kỳ. Đối với Mỹ, Việt Nam chỉ là một mặt trận. Một cuộc chiến. Thế giới Tự do thua trong một cuộc chiến nhưng 20 năm sau đã toàn thắng khi liên bang Sô viết xụp đổ tại Nga. Với Nam Việt Nam năm 1972 thắng trận Bình Long, Kon Tum và lấy lại được Quảng Trị. Nhưng thua trận 75 là mất tất cả. Dù sau này một lần hay là 10 lần cờ đỏ phải hạ xuống ở điện Cẩm Linh thì Việt Nam Cộng Hoà cũng đã mất tất cả. Bao nhiêu sự hy sinh trong 21 năm chiến đấu và xây dựng 2 nền cộng hòa của miền Nam đều đổ ra sông ra biển.Những tấm hình là vũ khí của phản chiến đòi Mỹ rút quân
Xử bắn VC trên đường phố, lính Mỹ đốt nhà dân, cô gái bị bom là những hình ảnh dân Mỹ chống chiến tranh
3) Vì đâu nên nỗi: Phía Hoa Kỳ sai lầm hẳn đã học được bài học chiến tranh Việt Nam. Dù trở thành cơn ác mộng nhưng người Mỹvẫn còn sống. Nam Việt Nam thì hoàn toàn đã chết qua sự sai lầm trong chiến tranh. Đối với miền Nam Việt Nam thì việc thất trận là một thảm kịch vô cùng đau thương, không có điều gì có thể bào chữa ngoài lý do duy nhất là lỗi ở chính chúng ta. Kết quả mất nước là mất tất cả. Lỗi lầm không phải tại đồng minh không quyết tâm, cũng không phải bởi kẻ thù quá mạnh. Lỗi lầm là lãnh đạo ta không đủ sức vượt qua những khó khăn lớn lao và toàn dân không được vận động để quyết tâm tham chiến. Trong cuộc chiến 2 thập niên, trong khi miền Bắc vận dụng toàn dân tấn công thì miền Nam chỉ xử dụng được một phần rất nhỏ để tự vệ. Lãnh đạo lè phè và dân chúng thờ ơ. Tất cả tùy thuộc vào Hoa Kỳ. Mỹ trực tiếp tham chiến đã cứu Việt Nam nhưng đồng thời cũng làm mất Việt Nam.Việt Nam mất khả năng tự chủ. Không dùng hết khả năng vào công việc phòng thủ. Không vận động được dư luận thế giới và đồng minh. Bị đồng minh Hoa Kỳ và thế giới bỏ rơi và chính nhân dân miền Nam cũng bỏ rơi cuộc chiến. Cho đến khi cả chính quyền và nhân dân miền Nam mất nước mới biết là mất tất cả.
4) Những cuộc chiến sau chiến tranh. Khi miền Bắc chiếm được miền Nam, hàng trăm ngàn chiến binh bị tù đầy, hàng triệu người miền Nam trở thành dân “Ngụy.” Lúc đó mới bừng tỉnh và tham dự vào hai cuộc chiến sau chiến tranh. Cuộc chiến trong tủ đầy chiến đấu để tồn tại, và không bị khuất phục. Cuộc chiến của người dân bên ngoài tiếp tục chịu đựng phấn đấu để nuôi tù và toàn dân tìm đường vượt thoát. Trong chiến tranh, hàng trăm ngàn chiến binh cộng sản đã được miền Nam Chiêu Hồi. Sau cuộc chiến, hàng trăm ngàn chiến binh VNCH bị tù đầy. Dù bị tuyên truyền và bỏ mặc đói rét. Dù bị hành hạ lao động khổ sai. Dù tuyệt đường tương lai, vô hy vọng có ngày tự do, nhưng tuyệt nhiên không hề đầu hàng cộng sản. Không một ai trở thành cộng sản. Đó là chiến thắng sau chiến tranh.Trong chiến tranh, đa sốdân miền Nam vẫn sống trong thanh bình tại các đô thị. Sau chiến tranh bắt đầu cuộc sống phải chiếu đấu khi được kẻ thù “Giải phóng” Đây là lúc toàn dân miền Nam tham gia chiến dịch chiến đấu để đào thoát. Cuộc chiến dành cho tất cả mọi người tham dự. Người già, em bé. Nam phụ lão ấu cùng tìm đường vượt biên. Đàn bà có bầu và trẻ sơ sinh. Tu sĩ và thầy chùa. Các nông dân và các giáo sư, bác sĩ. Trên đường tìm tự do đã hy sinh hàng trăm ngàn người. Tù đầy, sóng gió và hải tặc. Mọi người dù thất bại năm mười lần vẫn tiếp tục lên đường. Đó là cuộc chiến sau chiến tranh.
5) Ý nghĩa của chiến thắng: Kết quả ngày nay phe chiến thắng trở thành lũ độc tài đảng trị trăm lần tham nhũng, bất công. Kết quả ngày nay sau khi cả ngàn ngôi mộ hoang nằm lại trên các trại tù cải tạo và hàng trăm ngàn người vượt biên nằm dưới đáy biển. Đây mới là lúc luận bàn thắng bại trong chiến tranh Việt Nam. Nếu ngày nay, sau khi thống nhất đất nước, Việt Nam trở thành quốc gia dân chủ tự do không cộng sản. Việt Nam trở thành một con rồng châu Á như Nam Hàn, Singapore, Hồng Kông, Đài Loan..Dân Việt Nam từ Bắc vào Nam đều sống trong tự đó hạnh phúc. Dân trí mở mang, các tệ trạng xã hội được giải quyết. Không kỳ thị về chính trị và tôn giáo. Không quá cách biệt giầu nghèo. Người dân Việt được kính trọng trên 5 châu 4 bể. Được như vậy thì sự thất bại của Nam Việt Nam cũng là chuyện đáng cam chịu. Được như vậy thì cuộc chiến thắng của miền Bắc mới là điều cho Hoa Kỳ và chúng ta cần học hỏi. Nhưng Việt Nam ngày nay là nước độc tài đảng trị, tham nhũng và bị cả thế giới coi thường. Cuộc chiến thắng do đó trở thành vô nghĩa. Mọi hy sinh của người miền Bắc đều trởnên vô nghĩa. Và những tổn thất của miền Nam cũng như sự hy sinh của Hoa Kỳ vẫn muôn đời là những ghi dấu vô cùng cay đắng. Không, chúng ta không thể kết luận là Hoa Kỳ đã chiến thắng trong chiến tranh Việt Nam. Chỉ có thể nhận định rằng Miền Bắc đã chiến thắng trong một cuộc chiến nhưng không đem lại hạnh phúc cho toàn dân.
Riêng tại Hoa Kỳ, không có ai làm phim chiến thắng cho những người bại trận. Không bao giờ có vòng hoa cho người chiến bại. Sau chiến tranh Đông Dương, đại diện Khmer Đỏ với bàn tay diệt chủng giết cả triệu dân bước vào diễn đàn Liên Hiệp Quốc với những tiếng vỗ tay vang dội. Tiếp theo, tiếng vỗ tay lại vang dội nhiều hơn khi đại diện Hà Nội trở thành hội viên chính thức với thành tích đánh thắng 2 đế quốc Pháp và Mỹ. Sau gần nửa thế kỷ, dù thiên đàng Sô Viết đã tan rã, Việt Nam thống nhất đã biến hình ảnh những người nữ dân quân anh hùng trở thành nạn nhân nô lệ tình dục khắp Đông Nam Á. Trong chiến tranh, dù ở bên này hay bên kia, chỉ những người chết mới là người thua cuộc. Nhân chứng không phải là sự thực. Lời bình luận không phài là sự thực và ngay cả những thước phim cũng không phải là sự thực. Dù là phim tài liệu Vietnam War trị giá 30 triệu mỹ kim, 10 năm sưu tầm kéo dài 18 giờ qua 10 phim tập. Sự thực đã chôn vùi cùng những người lính trẻ ở cả hai bên chiến tuyến.
Thông Báo Của Nhà Xuất Bản Việt Museum, San Jose. TÂM HỒN CAO THƯỢNG – HÀ MAI ANH
ÔNG THẦY TRƯỜNG GỐC NGÁI (NAM ĐỊNH) Giao Chỉ, San Jose. Năm nay tôi và anh Hà Mai Việt cùng tuổi, 88. Mấy tháng nay từ Texas Việt gọi tôi liên tiếp. Anh bạn già thân yêu của tôi nhắc đi nhắc lại về chuyện thân phụ Hà Mai Anh và cuốn sách dịch Tâm Hồn Cao Thượng. Ông đại tá thiết giáp, người chỉ huy cả lữ đoàn xe tăng chia làm 4 cánh quân đi theo 4 lữ đoàn tổng trừ bị mũ đỏ, mũ xanh tùng thiết đánh trận Quảng Trị.
Bây giờ ông già mũ đen ngày xưa đã bị điếc nặng nên câu chuyện viễn liên trở thành hài kịch. Ông mở cell tay áp vào tai, nhưng ngài nghe 2 trên 5 nên chỉ nói một chiều. Anh Lộc ơi, ở bên này chúng nó đi nhiều quá. Sắp đến lượt mình rồi. Tôi muốn in lại cuốn sách của ông cụ rồi phát không cho thiên hạ. Các trung tâm dạy tiếng Việt. Các thư viện. Biếu các thầy cô giáo. Biếu các nhà văn hóa. Báo hiếu, Father Day. Anh giúp tôi…
Tôi nhận lời ngay. Giúp mạnh đi chứ. Bố anh Việt chính là ông thầy hiệu trưởng trường Gốc Ngái, Nam Định khi chúng tôi cùng ngồi ghế tiểu học. Tôi bèn ghé lại nhà in của anh chị Quang ngay tại San Jose. Cuốn sách mới tái bản mấy năm trước bây giờ sẽ chờ scan lại. Anh Việt nói rằng chú em Hà Mai Phuơng trước khi ra đi đã sắp xếp lại cẩn thận. Sẽ cần ghi thêm một trang của con cháu kính dâng lên cho thân phụ. Hàng chữ hết sức đơn giản và ý nghĩa chính do đại tá Cao Tiêu ghi lại. Phía dưới là danh tính tất các con của thầy Hà Mai Anh. Xin xem bản liệt kê đính kèm.
Phần tôi nhận lời lo việc ấn loát và phát hành nên có một trang dành cho Việt Museum xuất bản. Số là hình ảnh ông thầy đầu đời văn tự còn nhớ mãi đã đành. Sau khi di cư vào Nam, yên bề gia thất tìm lớp cho con chợt ghé trường Trần Quý Cáp. Gặp cụ hiệu trưởng là Bùi Văn Bảo, nhìn lên danh sách các vị tiền nhiệm lại thấy tên cụ Hà Mai Anh. Thầy Bảo cho biết được thầy Anh bàn giao ngôi trường danh tiếng và nay cụ đã qua đời. Do duyên văn tự, các cháu nhà tôi lần lượt tốt nghiệp trường Trần Quý Cáp. Riêng phần tôi cùng với Hà Mai Việt đều là dân Nam Định trường cửu. Thời kỳ kháng chiến đều theo học Nguyễn Khuyến tản cư rồi tiếp theo là Nguyễn Khuyến “dinh tê”. Di cư vào Nam tôi đi Đà Lạt 1954 và Hà Mai Việt vào thủ Đức 1955. Duyên anh em và tình chiến hữu cho đến bây giờ.
Lại có tiếng chuông reo từ Texas. Vẫn tiếng ông Việt. Mở cell tay áp vào tai nhưng ngài nghe 2 trên 5 nên chỉ nói một chiều. Anh Lộc ơi, ở bên nay chúng nó đi nhiều quá. Sắp đến lượt mình rồi. Tôi muốn in lại cuốn sách của ông cụ rồi phát không cho thiên hạ. Các trung tâm dạy tiếng Việt. Các thư viện. Biếu các thầy cô giáo. Biếu các nhà văn hóa. Anh giúp tôi. Sách của bố anh nhưng cũng là sách của thầy tôi. Tôi phải giúp thôi…
Vài hàng viết thêm về cuốn sách của thầy Hà Mai Anh
Thật tình tôi không còn nhớ đã đọc cuốn Tâm hồn cao thượng của thầy Anh trong hoàn cảnh nào. Có thể là thời gian tiểu học ở Gốc Ngái, Nam Định. Thầy Hà Mai Anh vừa là hiệu trưởng vừa đứng lớp. Bố mẹ tôi có hàng Giầy ở cửa Đông. Mỗi khi Tết đến mẹ tôi vẫn Tết ông thầy đôi giầy Gia Định láng bóng. Tôi được thưởng cuốn sách của thầy Mai Anh. Nhưng tác giả gốc là ông người Ý, Edmondo De Amicis đã viết cuốn sách danh tiếng vào năm 1886. Rồi được ông Tây Pazzi dịch ra tiếng Pháp. Thầy Anh có thể là độc giả đầu tiên dịch tiếng Tây ra tiếng Việt năm 1943 nhận giải văn chương tại Hà Nội. Sau này tôi mới gặp thằng bé An Duy bên nước Ý ở trong Tâm Hồn Cao thượng vào năm 1945. Vào thời kỳ đó câu chuyện tuổi thơ của cậu bé học trò nước Ý đã phổ biến khắp thế giới. Tác phẩm dịch thuật của thầy Anh đã dẫn đầu kho tàng chuyện dịch của cụ. Les Grand Coeurs đã lên thác xuống ghềnh qua cuộc thế chiến đệ nhị hoàn cầu. Tâm hồn cao thượng bắt đầu đi cùng tuổi thơ của tôi theo cuộc chiến vào Nam ra Bắc. Những bài học đơn sơ ở tuổi vào đời qua lời khuyên bảo chỉ dẫn của ông thầy tiểu học đã trở thành bài học vĩ đại để độc giả hoa niên học làm người.
Lạ lùng thay những bài học ở tuổi lên 10 ngày nay đã làm sao xuyến cả tuổi 88 khi còn nhớ lại. Chúng tôi đã in những mẩu chuyện cũ trích trong Tâm hồn Cao thượng phổ biến trên mạng lưới toàn cầu. Đã đọc được một vài lời bình luận của độc giả ngày nay như sau:
Thu Âu: Tôi ấn tượng nhất là lời nói mở đầu An Di con ơi! Nghe thiết tha trầm ấm làm sao, đã mấy mươi năm rồi tôi vẫn không quên bài học trong sách tiểu học này.
Văn Thế Liêm: “Tâm hồn cao thượng” là tập hợp những câu chuyện rất có giá trị giáo dục do Hà Mai Anh dịch từ tác phẩm “Grand coeur ” của Edmond de Amicis, nhà văn Pháp. Tôi thích nhất là 1 câu trong lá thư của người cha gởi cho con “…An Di con ơi, đời con sẽ có những ngày buồn bã ảm đạm. Nhưng ngày buồn nhất là ngày con mất mẹ.
Anh Tuyet: Tuổi thơ tôi không hiểu giá trị của quyển sách, nên cho nó đi vào quên lãng. Nhưng giờ nhớ lại, hối tiếc quá muộn màng . Xin hỏi tác giả? HÀ MAI ANH hiện nay ông ở đâu, còn khỏe mạnh không ?
Trả lời: Cụ Hà Mai Anh mất 1975, ông Hà Mai Việt, sẽ có mặt tại San Jose vào tháng 7-2021 để biếu các trường Việt Ngữ cuốn sách danh tiếng nhất từ năm 1940 đến nay. Xin theo dõi tin từ Việt Museum. — Giao Chi San Jose. giaochi12@gmail.com (408) 316 8393 *** Thông báo của nhà xuất bản Việt Museum, San Jose.
Thưa quý độc giả bốn phương.
Ông Hà Mai Việt đại diện gia đình có nhã ý tái bản cuốn Tâm Hồn Cao Thượng do thân phụ là cụ Hà Mai Anh dịch từ tác phẩm Les Grandes Coeurs của nhà văn Ý Edmondo De Amicis. Chúng tôi rất hân hạnh góp phần trong việc liên lạc ấn loát và phổ biến dưới hình thức biếu cho các trung tâm dạy Việt Ngữ. Tùy theo số lượng sẵn có, các độc giả quan tâm đến Việt Ngữ có thể viết thư về chúng tôi có thể gửi biếu. Đặc biệt quý vị cần sách để gửi tặng trực tiếp các thư viện tại địa phương chúng tôi sẽ cung cấp ưu tiên. Các nơi xa có hảo ý muốn góp tiền bưu tín xin đề cho Hà Mai Việt 10210 Kent Towne Lane, Sugar Land, TX 77498.
Cá nhân chúng tôi vốn là học trò của thầy Hà Mai Anh từ lớp tiểu học tại trường Gốc Ngái, Nam Định. Sau này các con chúng tôi là học sinh trường Trần Quý Cáp, Sài Gòn vào thời gian các cụ Hà Mai Anh và cụ Bùi văn Bảo làm hiệu trưởng. Nhà tôi Quan Thị Châu là Hội trưởng hội Phụ huynh học sinhTrần Quý Cáp. Những ân tình qua 2 thế hệ ngày nay được dịp tiếp tay với chiến hữu Hà Mai Việt thực là một hân hạnh cuối đời.
Trân trọng thông báo
Giao Chỉ, Vũ Văn Lộc, San Jose 2021 *******
“Đây là ấn bản sau cùng tại Hoa Kỳ để tưởng nhớ thân phụ của chúng tôi là nhà giáo Hà Mai Anh, suốt đời tận tụy trong chức nghiệp. Mãi mãi là tấm gương sáng cho con cháu noi theo.”
*************** Hà Mai Xuân, Hà thị Mai Tâm, Hà Mai Việt, Hà Mai Nguyên, Hà thị Mai Trang,Hà Mai Phương, Hà thị Mai Dung, Hà thị Mai Thúy, Hà thị Mai Khánh,Hà Mai Trường, Hà thị Mai Vân, Hà thị Mai Thư, Hà Mai Nam, Hà thị Mai Điệp
Địa chỉ liên lạc : Hà Mai Việt 10210 Kent Towne Lane, Sugar Land, TX 77498
Ngày chiến sĩ trận vong 2021
Giao Chỉ, San Jose.
Nhân ngày tưởng niệm chiến sĩ tại Hoa Kỳ, ghi lại câu chuyện về trận tái chiếm Cổ Thành Quảng trị tôi phải gửi tặng nhiều người. Nhà báo Trùng Dương, tài tử Kiều Chinh và đại tá Ngô văn Định, Đại úy Phan Nhật Nam. Những người còn sống. Đại tá Phạm Văn Chung và chuẩn tướng Trần quốc Lịch những người đã ra đi. Các anh Định, Chung và Lịch cùng khóa võ bị với chúng tôi. Năm 2019 đã hy vọng rằng tháng 4 năm 2020 ghi dấu 45 năm từ khi mất nước 1975 sẽ cùng về San Jose dự quốc hận tại Việt Museum. Cùng ôn lại một thời oanh liệt. Năm 1972 Đại tá Phạm văn Chung Khóa CuongQuyet Đà Lạt lữ đoạn trưởng Mũ Xanh đang giữ vững phòng tuyến trên sông Mỹ Chánh. Tướng Ngô quang Trưởng khóa Cương Quy êt Thủ Đức vừa ra nhận chức quân đoàn 1 để phản công. Ông đã đến ngay Mỹ Chánh và hỏi riêng Phạm Văn Chung. Giữ được không, ông tương hỏi? Thưa trung tướng tôi giữ được. Người sinh viên khóa Cương Quyết Đà Lạt bình tĩnh trả lời. Tiếp theo đại tá Trần Quốc Lịch, khóa Cương Quyết Đà Lạt chỉ huy lữ đoàn mũ đỏ vượt sông Mỹ Chánh tiến quân phía núi. Đại tá Ngô Văn Đình, Cương Quyết Đà Lạt vượt sông Mỹ Chánh tiến quân phía biển. Mục tiêu là Cổ Thành. Khi một đơn vị đầu tiên của nhảy dù đã bám được vào tương thành thị trấn thì tai họa chiến tranh đã xảy ra. Phi cơ của phe ta đã thả bom vào đội hình của cả đại đội mụ đỏ. Lính dù bị tổn thất nặng nên ông Trưởng cho lữ đoàn của Trần Quốc Lịch tạm lùi lại để lữ đoàn mũ xanh của Ngô Văn Định lên thay. Trong trận Quảng Trị khóa chúng tôi có mặt một lần 3 đại tá chỉ huy. Viet Museum dự trù xây một tượng đài với 4 trận đánh lịch sử để các bạn cùng khóa về tham dự lễ khánh thành nhưng rồi Covid chặn mất đường về. Phạm văn Chung và Trần quốc lịch đã ra đi. Tháng 3 năm 54 đám thanh niên Bắc Kỳ chúng tôi lên Đà Lạt từ Hà Nội. Đã tình cờ có mặt tại Quảng Trị năm 1972. Cầm quân tham dự trận lịch sử. Nhưng đành lỗi hẹn năm cuối cùng tại San Jose. Xin các bạn đọc câu chuyện dài về cổ th ành Quảng Trị để nhớ về những người không còn nữa. Nhân ngày chiến sĩ trận vong tại Hoa Kỳ.
Ngày chiến sĩ trận vong 2021
Cách đây hơn 150 năm, giữa khi cuộc nội chiến Hoa Kỳ đang diễn ra, tổng thống Lincoln trong bài diễn văn tại Gettyburg đã nói những tư tưởng đi trước thời đại. Ông nói đại ý rằng những người lính bên này hay bên kia đều là những người yêu nước. Mới đây, tôi có dịp xem trên mạng hình ảnh buổi họp mặt của các gia đình tử sĩ miền Bắc VN hy sinh trong trận Quảng Trị năm 1972. Diễn giả cho chương trình tưởng niệm là đại tá Nguyễn Quý Hải, thời gian đánh Quảng Trị ông là sĩ quan chỉ huy pháo đội Bông Lau. Một diễn giả khác là bác sĩ Lê văn An của Bắc Quân. Ông là bác sĩ duy nhất đã có mặt trong Thành Cổ Quảng Trị và là một trong 11 chiến binh còn sống. Vị bác sĩ này đã tả lại những giây phút đau thương oan nghiệt cuối cùng trong vòng vây thị xã. Câu chuyện nhắc đến các chiến binh còn sống dưới hầm sâu của tòa tỉnh trưởng bị bom đánh xập nhưng không có phương tiện để cấp cứu. Hôm nay, giữa không khí vui tươi trong dịp lễ cuối tuần Hoa Kỳ, dù tưởng niệm chiến sĩ trận vong nhưng với dân Mỹ vẫn là ngày Lễ Hội, tôi xin mở lại câu chuyện cũ về cuộc chiến Quảng Trị. Nửa thế kỷ trước, chúng tôi có dịp ra thăm Quảng Trị sau khi Miền Nam lấy lại được Cổ Thành. Sau 81 ngày ác mộng đã trôi qua. Hàng ngàn chiến binh 2 bên đã chết trong một thị xã bé nhỏ ở miền hỏa tuyến. Hà Nội gọi là Thành Cổ. Sài Gòn gọi là Cổ Thành. Khi miền Bắc có lệnh rút quân, chỉ có 11 chiến binh còn sống để trở về. Chúng tôi có dịp gặp một vài chiến binh cộng sản bị bắt tù binh. Trong số này có em nhỏ vượt qua bờ Nam sông Thạch Hãn nhưng không lọt vào trong Thành Cổ. Em thuộc toán quân bơi lạc vào đơn vị TQLC. Ông bạn tôi, đại tá Cao Tiêu của tổng cục chiến tranh chính trị buồn bã nhìn thằng bé quân đội thù nghịch mà hỏi rằng. Con quê ở đâu. Bao nhiêu tuổi. Thưa ông con quê Thái Bình, 16 tuổi. Sao 16 tuổi đã phải đi bộ đội. Con đi thay cho anh con. Anh con bị què chân. Nhưng nhà nào cũng phải đi. Ông Tiêu thở dài mà nói rằng. Để ông sẽ thu xếp cho con. Quê ông cũng ở Thái Bình. Chúng tôi không bao giờ quên được câu chuyện thẩm vấn tù binh ngày hôm đó. Vì vậy, nhân ngày Chiến Sĩ Trận Vong với không khí lễ hội tưng bừng tại Hoa Kỳ, xin kể lại những chuyện không vui của hai miền Nam Bắc trong chiến tranh. Chuyện từ Đại Lộ kinh Hoàng cho đến 81 ngày trận chiến Quảng Trị. Như vị tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ đã nói. Trong chiến tranh, những chiến binh của hai bên đã hy sinh đều là những người yêu nước. Từ Hà Nội, anh Ba Lê Duẩn ra lệnh phải giữ Thành Cổ bằng mọi giá. Từ Sài Gòn, Tổng Thống Ng Văn Thiệu ra lệnh phải lấy lại Cổ Thành bằng mọi giá. Quảng Trị là con bài trong canh bạc chính trị tại Paris. Chiến binh hai miền Nam Bắc chết trong thị xã Quảng Trị ai là phe thắng ai là phe bại. Xin bằng hữu cùng tôi đọc lại các tác phẩm viết về Đại Lộ Kinh Hoàng và Mùa hè đỏ lửa của miền Nam. Xin đọc qua Mùa hè Cháy, Mãi mãi tuổi 20 và Một thời hoa lửa của miền Bắc. Những mẩu chuyện như sau:
(1)Ngày Chiến sĩ Trận Vong
Người Mỹ tưởng niệm những quân nhân đã hy sinh vì đất nước trong ngày lễ Chiến Sĩ Trận Vong. Ngày quốc lễ này năm nay là Thứ hai 31 tháng 5-2021. Dù còn giới hạn vì Covid nhưng trên khắp nước tổ chức tưởng niệm các tử sĩ với những cuộc diễn hành, các buổi hoà nhạc nói lên tinh thần yêu nước. Có các cộng đồng khác sẽ đánh dấu ngày này bằng những giây phút suy ngẫm trong tĩnh lặng về những người đã ngã xuống trong khi đang phục vụ trong quân đội. Ngày lễ này từng được gọi là Ngày Vinh Danh được tổ chức tại nghĩa trang Arlington vào năm 1868. Ba năm sau cuộc nội chiến đẫm máu ở Hoa Kỳ gây thiệt mạng cho trên 600.000 người. Nhiều trường học được nghỉ lễ vào 3 ngày cuối tuần này và được xem như ngày khởi đầu không chính thức của mùa nghỉ hè. Nhiều gia đình tổ chức các buổi ăn ngoài trời hay đi đến vùng biển, công viên hoặc cắm trại. Nhân dịp đặc biệt này, năm trước chúng tôi đã phổ biến loạt bài về tổn thất trong chiến tranh. Năm nay xin gửi đến tài liệu ghi nhận được về trận Quảng Trị năm 72 để quý vị đọc trong những ngày nghỉ lễ.
(2) Năm 72 Ở Quảng Trị .
Ghi Chú: Một phần bài này viết năm 1990 phổ biến khắp nơi. Bỗng có một cựu pháo thủ Bắc quân thuộc đoàn pháo Bông Lau gửi email cho tôi báo tin rằng không phải pháo Bông Lau của cộng sản bắn trên Đại Lộ Kinh Hoàng. Tôi hỏi lại, nếu Bông Lau không bắn thì pháo nào. Không thấy trả lời. Sách của Dương Phục và Thanh Thủy phát hành có đoạn tả về Đại Lộ Kinh Hoàng.
Thời kỳ trước 1975, khi tôi có dịp phụ trách về binh thư tại bộ Tổng Tham Mưu, thường qua bên Phòng Nhì hoặc Trung ương tình báo tìm đọc các sách báo của miền Bắc. Đọc và ghi chép lại, thêm 1 chút nhận xét, nhưng không phê phán. Đôi khi phải tóm lược lại để trình lên hay phổ biến nội bộ nhưng tuyệt đối không viết thêm những lời tuyên truyền hay lên án.
Ngày nay trên đướng đi tìm tài liệu cho trận Quảng Trị, chúng tôi giữ các nguyên tắc đó. Bây giờ xin quý vị cùng chúng tôi tìm hiểu về miền Bắc Việt Nam thời kỳ đầu thập niên 70.
Để chuẩn bị cho trận mùa hè 72, Hà Nội bắt lính từ năm 1970. Sau khi vét hết nông dân, qua năm 1971 tổng động viên toàn bộ nhân lực thành thị. Các học sinh và sinh viên trên 18 tuổi chuẩn bị nhập ngũ hết. Cũng trong thời gian này, Nga và Tàu hoàn toàn đồng ý viện trợ cho Hà Nội đánh Mỹ. Trong lúc Hoa Kỳ rút quân, bên ta Việt Nam hóa chiến tranh thì Nga Sô viện trợ tối đa cho miền Bắc qua Trung Cộng.
(3) Sau trận mùa hè Phan nhật Nam viết cuốn “Mùa hè đỏ lửa” thì 33 năm sau Hà Nội mới cho ra đời 2 cuốn sách viết về Quảng Trị. Đại tá pháo binh quân đội nhân dân Nguyễn Quý Hải ra đời cuốn “Mùa Hè Cháy” ghi lại con đường nhận pháo Nga Sô từ biên giới Tàu đem về Hà Nội đưa vào đến Quảng Bình, rồi qua Quảng Trị trong trận mùa hè. Với số lượng pháo đủ loại và hỏa tiễn, 5 sư đoàn Bắc quân đã được yểm trợ tối đa để tấn công miền Nam trực tiếp qua Bến Hải.
Tất cả đều ghi rõ trong tác phẩm “Mùa Hè Cháy” và chính từ tác phẩm này tôi có thể đối chiếu với tài liệu còn lưu giữ để có được những trang sử gần chính xác về phía Việt Nam Cộng Hòa. Cũng vào năm 2005 một tác phẩm khác của phe cộng sản tựa đề “Một Thời Hoa Lửa” đã ra đời, cũng nói về đề tài Quảng Trị. Bài viết này sẽ ghi lại rất nhiều chi tiết từ Hoa Lửa do các tác giả miền Bắc sáng tác.
(4) “Mãi mãi tuổi 20” Tập hồi ký được Hà Nội nhắc nhở đến nhiều nhất là: “Mãi mãi tuổi 20,” hồi ký của 1 thanh niên tên Nguyễn văn Thạc. Anh là Sinh Viên đại học Tổng hợp Hà Nội. Đi lính binh nhì truyền tin ngày 6-9-1971 và hy sinh tại chiến trường Quảng Trị ngày 30-7-1972, lúc chưa đầy 20 tuổi và chưa đủ 1 năm lính. Anh bị pháo cắt ngang đùi trái, mất máu nhiều quá nên đã chết. Chôn ngay tại mặt trận Quảng Trị. Thạc để lại cuốn nhật ký 260 trang, viết lời cuối vào ngày 27-7-1972. Ba ngày sau tử trận. Tháng 5-1973 tức là gần 1 năm sau, gia đình chưa có tin tức từ đơn vị, nhưng được đồng đội về báo tin. Sau tháng 4-1975 gia đình không có phương tiện đi tìm xác. Phải chờ đến cuối năm 1976 mới có điều kiện đi tìm. Cải táng từ quận Triệu Phong về huyện Từ Liêm, gần Hà nội vào dịp tết 1977. Tôi đã đọc 2 lần 260 trang sách nhưng không tìm được những dữ kiện về trận Quảng Trị. Hồi ký ghi lại 10 tháng trong quân ngũ của 1 thanh niên miền Bắc, nhưng mới vào trận đã bị thương rồi chết. Nội dung là lời lẽ chân thành đơn giản nhưng không có tình tiết hấp dẫn. Tác phẩm này được giới trẻ miếm Bắc tìm đọc vì đã nhắc đi nhắc lại đến tình yêu tuổi học trò với cô bạn học Như Anh. Cô này hiện nay là di dân sống tại Đức quốc. Vì tác phẩm nặng về tình yêu và thiếu quyết tâm nên đã không được phổ biến suốt 33 năm. Phải chờ đợi đến cuối thế kỷ thứ 20, nhạc vàng miền Nam chinh phục hoàn toàn nền văn hóa vô sản thì hồi ký tình yêu của Nguyễn văn Thạc mới được phổ biến và quảng bá mạnh mẽ.
(5) “Một Thời Hoa Lửa” Đây là tên 1 tác phẩm, đồng thời cũng là tên 1 chương trình do đài truyền hình Việt Nam tại Hà Nội và công ty viễn thông quân đội nhân dân phối hợp tổ chức vào ngày 31 tháng 10 năm 2005. Ban tổ chức mời tất cả bộ đội đã tham dự trận Quảng Trị trên 1.000 người về lại Thành Cổ để dự 1 chương trình văn nghệ. Cùng 1 lúc họ tập hợp lối 5.000 sinh viên Hà Nội tại sân trường đại học Khoa học, Xã hội, Nhân văn cùng tham dự. Báo Nhân dân đã ghi lại là vào ngày 6 tháng 9 năm 1971 tại 30 sân trường đại học và cao đẳng, tổng cộng 10.000 sinh viên lên đường nhập ngũ
Như vậy là 50 năm trước đảng cộng sản đã động viên hầu hết các sinh viên miền Bắc để tấn công miền Nam. Có nhiều trường đại học sau đó đóng cửa, các giáo sư cũng đi lính với học trò. Hầu hết có được 4 tháng huấn luyện và đầu năm 1972 tất cả lên đường vào Nam tham dự vào 3 mặt trận. An Lộc, Kontum, và Quảng trị. 70% bộ đội hy sinh hoặc bị thương. Trận Mậu Thân 68 Việt Cộng hy sinh toàn bộ các đơn vị thuộc Mặt trận giải phóng miền Nam và bộ đội tập kết.
Qua đến trận Mùa hè 72 đảng cộng sản Việt Nam hy sinh khối nhân lực trí thức tương lai của miền Bắc. Người có quyết định sắt máu đó là Lê Duẩn.
Lúc 10 giờ 30 sáng ngày 30/3/72 trung đoàn pháo Bông Lau khai hỏa trận địa pháo vào căn cứ Carroll, Ái tử và Mai Lộc. Ngày 2/4/1972 căn cứ Carroll thất thủ. Sau đó Ái Tử, Mai Lộc rồi Quảng Trị đều rút quân. Một tháng sau, ngày 1 tháng 5-1972 Bắc quân chiếm đóng trên tỉnh Quảng Trị từ sông Bến Hải đến sông Mỹ Chánh. Sau khi miền Nam rút quân, xác người và di sản chiến tranh vẫn còn trên quốc lộ số 1. Báo chí Sài Gòn ghi lại con đường đã trở thành đại lộ Kinh Hoàng.
Hội nghị hòa đàm Paris bước vào năm thứ 4. Hoa kỳ đơn phương rút quân. Khối cộng sản Nga Sô và Trung Cộng đổ chiến cụ và tiếp viện tối đa vào miền Bắc.
Mở đầu cho giai đoạn thử thách Việt Nam hóa chiến tranh, quân lực Việt Nam Cộng Hòa hành quân Lam Sơn 72. Nam quân vượt sông Mỹ Chánh ngày 28 tháng 6-1972 và kết thúc việc chiếm lại Cổ Thành Quảng Trị ngày 16 tháng 9-1972. Sau 81 ngày tại một chiến trường khốc liệt nhất trong chiến tranh Việt Nam. Báo chí miền Bắc gọi là Cuộc đụng đầu của lịch sử. Hơn 30 năm qua và cho đến ngày nay, Hà Nội luôn luôn nhắc đến chiến tích đã cầm cự được 81 ngày.
Tại viện bảo tàng lịch sử Thành Cổ hiện nay có bảng tưởng niệm với 81 tờ lịch ghi dấu 81 ngày trong cuộc chiến mùa hè 72. Thêm vào đó có 11 tấm phù điêu tiểu sử 11 chiến binh đã có mặt trong Cổ Thành và còn sống đến ngày nay. Mỗi người đều ghi lại cuộc đời sinh viên, nhập ngũ, chiến đấu và trở về. Phù điêu gọi là Dương bản. Còn Âm bản là mộ bia tưởng niệm chung trên 10.000 bộ đội đã hy sinh.
Trong đêm văn nghệ Hoa Lửa 31/10/2005 họ đã dùng 81 nhạc công trong ban hòa tấu để nhắc lại ý nghĩa của 81 ngày lịch sử.
(7) Cổ Thành gian khổ. Cũng theo tài liệu của miền Bắc, tuyển tập Hoa Lửa ghi lại bút ký, bài viết và lời phát biểu của gần 100 nhân vật về trận mùa hè 72. Sách xuất bản năm 2005 ngôn ngữ Hà Nội đã có khác biệt với tài liệu tuyên truyền phổ biến trước và sau 1975. Không còn những lời miệt thị miền Nam. Họ gọi quân lực Việt Nam Cộng Hòa, tổng thống Nguyễn văn Thiệu, trung tướng Ngô quang Trưởng. Đồng thời qua tài liệu với nội dung mở rộng đã có đề cập đến số tổn thất, thương vong khủng khiếp, nỗi sợ hãi, việc đào ngũ của chiến binh.
Đặc biệt có những chỗ ghi rõ tuổi tân binh có nhiều em dưới 18 tuổi. Các chú lính mới chưa được huấn luyện và cán bộ quân sự đã dạy bắn hay ném lựu đạn lúc còn ở dưới hầm trong Cổ Thành. Họ lùa tất cả đám lính mới qua sông rồi sẽ huấn luyện sau. Cuộc sống của hàng ngàn bộ đội dưới hầm là một thế giới cực kỳ gian khổ. Các hầm đều ngập nước. Không đủ nước uống. Không đủ ăn. Điều kiện vệ sinh hết sức khốn nạn. Người sống ở chung với thương binh và người chết. Trên 20% thương vong khi vượt sông Thạch Hãn. Sau đây là 1 đoạn nguyên văn của cán bộ quân sự viết lại: “Trong 81 ngày đêm đó, trung bình hàng đêm có 1 đại đội tăng cường hơn 100 người vượt sông và cũng từng đó con người đã ra đi không trở về. Máu thịt hòa vào nước sông trôi ra cửa Việt.”
Một chiến binh khác viết về những ngày sau cùng: Đêm 13/9/1972 Hồ Tú Bảo là sinh viên đại học toán, làm trinh sát cho sư đoàn 325 được lệnh qua sông vào tiếp viện. Suốt 2 ngày 13 và 14 tháng 9 không vượt được sông Thạch Hãn, Ngày 15 tháng 9-72 chuẩn bị vượt sông nhưng bến đáp cả 2 bờ Bắc Nam không còn nữa. Trong thành vẫn có súng nổ. Đến ngày 16/9/72 thì Cổ Thành Quảng Trị đã hoàn toàn im tiếng. Chỉ còn những ngọn khói bốc lên.
Đơn vị được lệnh rút về và hiện nay anh lính trinh sát sư đoàn 325 trở thành giáo sư tin học tại đại học Hà nội.
(8) Cờ bay trên Thành Cổ. Phía Việt Nam Cộng Hòa rất hiểu rõ ý nghĩa của việc tái chiếm Cổ Thành để dành thắng lợi trên bàn hội nghị. Phía Hà nội cũng ghi nhận đây là điểm quan trọng nhất. Hòa đàm Paris dự trù tái nhóm ngày 13 tháng 7-1972. Tài liệu của miền Bắc ghi lại rằng:“Tướng Ngô quang Trưởng đôn đốc nhẩy dù phải chiếm bằng được nhà thờ Tri Bưu ngày 12 và sau đó chỉ còn 500 thước đến Cổ Thành thì phải cắm cờ vào ngày 13/7/72. Kết quả quân Dù của VNCH chiếm được Tri Bưu nhưng quân ủy trung ương Hà Nội ra lệnh trung đoàn 48 và 2 tiểu đoàn địa phương, trung đoàn 95 của sư đoàn 325 phải sẵn sàng để chống vụ cắm cờ bằng mọi giá.
Một trang báo dài của đại tá Nguyễn Hải Như, tham mưu trưởng trung đoàn Thạch Hãn đã mô tả về trận quân Dù đánh xong Tri Bưu nhưng thất bại trong việc treo cờ Cổ Thành ngày 13/7/72. Sau trận đánh đẫm máu mà lính mũ đỏ hy sinh rất nhiều. Tài liệu của cộng sản cũng ghi rõ cách đánh rất dũng mãnh của cả 2 binh đoàn nhẩy dù và thủy quân lục chiến trong trận Cổ Thành. Bên Việt Nam Cộng Hòa có lợi thế thay quân. Đánh rồi ra nghỉ. Đưa thương binh tử sĩ ra khỏi trận địa. Trong khi phía miền Bắc không có điều kiện thuận tiện vì thay quân là phải qua sông và thương vong trên sông Thạch Hãn rất cao.
(9) Sau cuộc chiến. Cũng từ tài liệu của miền Bắc ghi lại, trên toàn thể Việt Nam, Quảng Trị là nơi có 2 nghĩa trang liệt sĩ lớn nhất. Nghĩa trang Trường Sơn và nghĩa trang Quảng Trị. Phần lớn chiến binh cộng sản tử trận được gom lại chôn tại Quảng Trị. Một số lớn còn thất lạc. Các cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa khi qua Mỹ được hỏi về di hài lính Mỹ cũng đã tiết lộ thêm về các mộ phần của bộ đội tại miền Nam do bên ta chôn cất. Phía Hoa Kỳ có chuyển tin tức này cho Hà nội. Tuy nhiên về việc tìm kiếm mộ phần của phía Việt Nam Cộng Hòa trước 75 bao gồm thêm di hài tù tập trung “cải tạo“ hiện vẫn chưa được chính quyền Hà Nội lưu tâm. Gần 45 năm sau tháng 4-1975 dân Việt tỵ nạn đã có cả triệu lần trở về cùng với hàng tỷ mỹ kim gửi quà hàng năm, nhưng vết thương chính trị vẫn còn là gánh nặng nên chưa giải tỏa được con đường vào chốn tâm linh.
Thuần túy trên lãnh vực tâm linh, nghĩa tử nghĩa tận, chỉ có chính quyền Hà Nội mới có thẩm quyền và trách nhiệm tối thiểu đối với di hài chiến sĩ miền Nam.
Với danh nghĩa người Mỹ gốc Việt, với sự cộng tác mạnh mẽ của tòa đại sứ Mỹ tại Việt Nam, việc tìm kiếm tảo mộ di hài chiến binh miền Nam đưa về nguyên quán hay chôn tại Nghĩa trang Biên Hòa với sự bảo quản tối thiểu, không có gì khó khăn.
Hà Nội đã bước vào kỷ nguyên mới, phải ý thức được những điều phải làm trong trách nhiệm với lịch sử dân tộc, theo trào lưu tiến hóa của nền văn minh nhân loại.
(10) Hàn gắn thương đau. Năm 1992, hai mươi năm sau mùa hè 72, Hội VMA (Vietnam Memorial Association) gồm các cựu chiến binh Hoa Kỳ muốn hàn gắn thương đau của Việt Nam hậu chiến. VMA dự trù xây trường học tại các nơi hẻo lánh cả 2 miền Nam Bắc. Ban quản trị họp để tìm 1 địa điểm đầu tiên. 8 ông bà Hoa Kỳ bàn về các địa điểm. Ý kiến rất khác biệt, Cô Kiều Chinh là người Việt duy nhất, đồng sáng lập viên của VMA đã đề nghị ngôi trường đầu tiên sẽxây tại Quảng Trị. Nơi mang vết thương lớn nhất của chiến tranh Việt Nam. Nơi chia cắt 2 miền suốt 21 năm. Toàn thể VMA đều đồng ý chọn đất cho ngôi trường tại Đông Hà coi như món quà của người phụ nữ Việt Nam tỵ nạn cộng sản gửi lại quê hương. Bức thông điệp đẹp đẽ biết dường nào. Năm 1954, cha của cô Kiều Chinh bị Việt cộng bỏ tù không bản án và chết trong tù. Thêm một ngôi trường được xây cất tại làng Mọc, quê hương của ông Nguyễn Cửu, thân phụ của cô Nguyễn thị Chinh, tên thật của tài tử Kiều Chinh. Cô ra đi lúc còn nhỏ 1954 và từ đó không bao giờ thấy được mặt cha. Trong phim “Người tình không chân dung” có đoạn Kiều Chinh quay tại nghĩa trang Biên Hòa cũng vào năm 1972. Một ngày nào đó, cô sẽ lên thăm lại nghĩa trang quân đội miền Nam, nơi có rất nhiều chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh tại chiến trường Quảng Trị mùa hè 72. Không thiếu bất cứ 1 quân binh chủng nào, không thiếu bất cứ màu cờ sắc áo nào. Kể cả lính Dù chết dưới chiến hào với cờ vàng pha máu và lính thủy quân lục chiến hy sinh trong thành nội 10 ngày sau cùng, chưa thấy được lá cờ bay trên trời xanh của Cổ Thành Quảng Trị. Phía bên kia Bến Hải một thời, có câu chuyện của họ. Bây giờ đến lượt chúng ta phải kể lại câu chuyện của mình. Nếu anh không nói, ai nói. Bây giờ không nói, bao giờ.
(11) Tổn thất chiến tranh. Vì vậy sau khi nghe chuyện bên kia, chúng ta hãy nói chuyện bên này. Rồi mai đây, vào năm 2025, nửa thế kỷ sau cuộc chiến, sử Việt sẽ ghi rằng chiến tranh Việt Nam đã làm chết 2 triệu dân trên khắp các miền đất nước. Riêng tại Quảng Trị, mùa hè năm 1972 cuộc chiến dằng xé điên cuồng đã giết chết 50 ngàn thanh niên của cả hai miền Nam Bắc. Lịch sử sẽ không cần ghi phần tổn thất hay thắng bại của các đơn vị. Sau này những đóa hoa tưởng niệm thả xuống dòng Thạch Hãn hay con sông Bến Hải sẽ cùng trôi ra biển Đông. Thể hiện tấm lòng của thế hệ tương lai gửi chung cho tất cả linh hồn các chiến binh đã hy sinh cho cuộc chiến tương tàn cuối thế kỷ thứ 20 tại Việt Nam.
(12) NHÂN CHỨNG TRÊN ĐẠI LỘ KINH HOÀNG
Khi đi tìm nhân chứng của 1 chiến trường hết sức oan nghiệt và thê lương, hết sức dũng mãnh và hào hùng, tôi vẫn không quên đoạn đường đầy xác người trên quốc lộ số 1. Ngay khi chiến trường còn vương khói súng, cây bút nhẩy dù, đại úy Phan nhật Nam đã viết “Mùa hè đỏ lửa.” Tác phẩm đem vinh quang cho tác giả đồng thời cũng làm khổ ông sau 1975. Nhưng trước sau “Mùa hè đỏ lửa” đã gắn liền vào tên tuổi Phan nhật Nam.
Phải chờ đến 32 năm sau, Hà Nội mới xuất bản cuốn “Mùa hè cháy“ của đại tá pháo binh “Quân đội Nhân dân” viết về trận pháo kích của trung đoàn pháo Bông Lau, trận pháo dã man trên đường di tản của dân Quảng Trị, giết chết hàng ngàn người và làm đoạn đường trên 2 cây sốgiữa con sông Thạch Hãn và Mỹ Chánh trở thành Đại lộ Kinh Hoàng.
Chúng tôi vẫn đi tìm xem ai là người đặt tên cho đoạn đường của trận thảm sát mùa hè năm 72. Có lẽ chỉ trong chiến tranh Việt Nam mới có cái đại lộ mang tước hiệu kinh hoàng.
Anh phóng viên của bộ Thông Tin có mặt tại Quảng Trị nói rằng bác đi hỏi ông Lê Thiệp trên DC. Khi quân ta phản công ở Mỹ Chánh, ông nhà báo Lê Thiệp có đi theo trên quốc lộ 1 qua lối này. Năm 2005 nhân dịp gặp ông Thiệp tại DC, ông nói rằng không biết tay nào đặt cái tên Đại lộ Kinh Hoàng thật hay. Câu chuyện dừng tại đó. Một lần khác, chúng tôi rao lên là muốn tìm gặp những ai đã chạy trên con đường ác độc vào đúng lúc địch pháo kích. Tôi biết có trung tá Lê huy Linh Vũ của Tổng cục Chiến tranh Chính trị là người đã trải qua và đã viết lại thành cuốn sách. Con gái của trung tá Vũ là họa sĩ Hương Alaska có cho phép chúng tôi in lại cuốn này để tặng các bạn. Nhưng ông Vũ nay không còn nữa. Đại tá Hà Mai Việt, tỉnh trưởng Quảng trị thời kỳ 72 đã nói rằng: “Tại ông không lưu tâm đọc sách của tôi. Mở trang này ra mà xem, nhân chứng sống là ông Phan văn Châu. Tôi đã viết rõ từng trường hợp của trận Quảng Trị trong tác phẩm Thép và Máu. Ông nhân chứng này không những chịu đựng trực tiếp trận pháo trên quốc lộ mà còn nằm lại 1 đêm giữa các xác chết.”
Sau cùng nhờ ông Hà mai Việt, chúng tôi đã gặp nhân chứng sống. Trung sĩ Phan văn Châu năm nay 68 tuổi quả thực là 1 người dân tiêu biểu của miền đất Quảng. Qua máy điện thoại, dường như cả một trời tâm sự tuôn tràn. Những hình ảnh quê hương, chiến tranh, loạn lạc, pháo kích, khói lửa, lẫn lộn giữa trận 72 và trận 75.
Nói đến chuyện đất nước biết bao nhiêu địa danh nào là Nhan Biều, Cầu Ga, Ái Tử, Mai Lĩnh, Cầu Dài. Rồi đến biết bao nhiêu con sông, bao nhiêu rạch nước. Âm thanh đất Quảng của người dân chân chỉ hạt bột, vòng qua quay lại để sau cùng trở về với cái ngày cả gia đình bỏ Nhan Biều mà đi. Ông Châu nói rằng, lúc đó dường như mọi người đã chạy hết. Phan văn Châu là trung sĩ thông dịch viên cho ngành tình báo tại Đà Nẵng đang đi công tác về Ái tử.
Đến khi thiên hạ bỏ chạy hết, thầy thông ngôn trẻ tuổi mặc đồ dân sự cùng 1 đứa cháu, dẫn vợcó bầu với 3 đứa con nhỏ, năm một, sáu, bẩy, tám tuổi. Tất cả vội vàng ra đi bỏ lại phía sau căn nhà mới cất tại Nhan Biều bên bờ Bắc của sông Thạch Hãn.
Vợ con đi trước 1 đoạn với gia đình bà chị. Thằng cháu và ông Châu đi xe gắn máy kéo theo 1 chiếc xe gỗ 2 bánh. Hành trang chất đầy, người kéo, người đẩy chiếc xe qua khỏi cầu Ga, đi được một đoạn dài đến 9 giờ sáng thì pháo nổ ngay trên đường. Con đường đầy người chạy loạn. Cả dân cả lính với đủ mọi thứ xe. Đa số đi bộ vì đường tắc nghẽn nên không thể đi nhanh. Đạn rơi chỗ nào cũng có người chết. Xác bắn tung lên trời. Khói lửa mù mịt. Mạnh ai nấy chạy. Vợ con thất lạc ngay từ lúc đó. Ông Châu nghĩ rằng vợ con có thể đang ở phía trước. Nhưng phía trước hay phía sau thì cũng bị pháo. Khi pháo tạm ngưng thì có người lại tràn ra đi tới. Nhưng phần lớn nằm yên chịu trận. Có nhiều người không chết ở đợt pháo đầu nhưng rồi bị chếtở các đợt pháo sau. Nhiều xác chết trên đường bị pháo đi pháo lại nhiều lần. Bị thương rồi lại bịpháo rồi cũng chết. Biết bao nhiều người cố chạy cho thoát bỏ lại cả gia đình vợ con. Những đứa nhỏ nằm khóc bên xác mẹ. Những em bé sơ sinh bú vú mẹ đã lạnh khô. Có người còn sống thấy đó mà phải bỏ đi. Ông Châu và đứa cháu chạy về phía đông quốc lộ, vùi thây xuống cát mà chịu đựng 1 ngày pháo kích. Đủ loại pháo của cộng sản thay phiên bắn phá suốt một ngày dài. Pháo 122, pháo 130 và pháo 155. Chỉ khi nào có B52 đến thả bom mới thấy địch im tiếng súng được 1 lúc.Toàn thân ông tê liệt dưới trời nắng gắt. Phải bò đến các vũng nước có cả phân trâu và máu người để uống. Khi trời tối dần, tất cả đều im lặng và ghê sợ. Ông Châu và đứa cháu bắt đầu bò quanh lật các xác chết đàn bà và trẻ em lên xem có phải vợ con. Lật một xác phụ nữ mà ông nghĩ rằng người vợ, đầu óc ông mê muội. Thằng cháu còn tỉnh táo nói rằng không phải mợ. Mợcó bụng mà cậu. Mấy người khác còn sống cũng làm như vậy. Tất cả đi tìm xác thân nhân. Nhưng rồi trời tối hẳn, bộ đội Việt Cộng bắt đầu xuất hiện. Chúng tìm đến các xe nhà binh và tìm các quân nhân mặc quân phục bắt đi hết. Cậu cháu ông Châu khai là dân thường nên được lệnh phải nằm yên tại chỗ. Đêm hôm đó, ông Châu thức trắng trên bãi cát đẫm máu của Đại lộ Kinh Hoàng. Hình như có đôi lúc ông cũng thiếp đi. Cũng chẳng còn nhớ rõ. Chung quanh toàn xác chết. Người chết nhiều hơn người sống. Những xác chết cháy như than củi. Ông nghĩ rằng chắc xác vợ con cũng quanh đây. Sáng hôm sau, từ sớm mai những người còn sống đành phải bỏ lại1 cánh đồng xác ở đằng sau để chạy về miền Nam. Đi đến cầu Dài gần sông Mỹ Chánh thì gặp toán tiền sát của thủy quân lục chiến Việt Nam chận lại. Khi biết chắc là không phải quân địch, ông trung úy thủy quân lục chiến phất tay cho qua. Vừa đi khỏi một đoạn đường thì thấy ông sĩ quan bị du kích phía sau bắn sẻ chết ngay tại chổ. Đó là cái chết cuối cùng ông chứng kiến tại Quảng Trị. Tìm xe quá giang về Huế với tâm trạng hết sức não nề. Nhưng rồi phép lạ đầu tiên đến với cuộc đời ông. Ngay tại khu vực tạm cư Phú văn Lâu, thuộc thành phố Huế, ông gặp lại đầy đủ vợ con. Bà vợ bầu đã dẫn 3 đứa con nhỏ đi xuống đường ven biển theo dân địa phương. Đoàn người đi xa quốc lộ nên tránh được pháo kích.
Vợ con dắt díu nhau đi suốt 1 ngày 1 đêm về đến Mỹ Chánh rồi được xe cho bà bầu quá giang về Huế. Hai năm sau người vợ đầu tiên của ông Châu qua đời, sau khi sinh cho ông thêm 3 ngưới con nữa. Cô gái còn nằm trong bụng mẹ trên đại lộ kinh hoàng năm nay đúng 37 tuổi, tốt nghiệp đại học và có gia đình cư ngụ tại miền đông Hoa kỳ.
Những bước chân trần ai trên bãi cát Quảng Trị mùa hè năm 72 của bà mẹ mang bầu không biết có còn vương vấn chút nào trong lòng cô bé nghe pháo kích từ lúc chưa ra đời. Ông Châu nói rằng: Tụi nhỏ chẳng biết gì đâu. Chỉ có đứa lớn nhất năm nay ngoài 40 tuổi là còn nhớ đôi chút. Hỏi rằng thế ông có được bao nhiêu con tất cả. Ông tính nhẩm rồi nói rằng tất cả 10 con. Bà đầu tiên 6 con. Bà thứ hai 3 con. Bà này bỏ tôi đi lấy chồng nên bây giờ vẫn còn ở Việt Nam. Tôi đưa cả 3 cháu đoàn tụ bên này. Bà hiện nay ở với tôi có 1 cháu. Năm nay cháu cũng 24 tuổi rồi. Bà sau này có 1 con riêng. Như vậy là chúng tôi có 11 con. Thế bác có hạnh phúc không. Hạnh phúc chứ. Tất cả là số trời. Ông Châu nói rằng, cái đêm nằm ở đại lộ kinh hoàng, uống nước máu người và phân trâu tôi không bao giờ giờ nghĩ đến có ngày đi Mỹ như bây giờ. Tôi nghĩ rằng bây giờ vợ con chết hết thì mình sẽ ra sao. Làm sao tìm xác. Rồi chôn ở đâu. Hàng trăm xác người chung quanh, biết bao nhiêu xác trẻ con, vợ con tôi đều trong số đó. Không hiểu nó bắn pháo đạn gì quá ác. Tất cả xác chết như than củi chẳng làm sao biết được người nào là người nào.
“Năm 1973 tôi có trở lại, đi qua con đường thấy có đài tưởng niệm, rồi có các mồ chôn tập thể, có mồ chôn riêng rẽ. Lòng tôi hết sức xúc động. Cho đến bây giờ tôi vẫn còn xúc động. Con cháu tôi thì nhiều nhưng mà làm sao các con hiểu được những gì tôi đã trải qua. Trận 72 quân ta mới lấy lại một nửa Quảng Trị. Đứng bên này dòng Thạch Hãn, bên kia là Nhan Biều, nơi tôi ra đời còn cả ngôi nhà thân yêu. Bên ta đã bị địch chiếm bờ Bắc, chỉ giữ được bờ Nam, đến 75 thì bờNam cũng chẳng còn.”
“Vâng thưa bác, năm nay em 67 tuổi,” ông Châu nói tiếp, “quê ở Nhan Biều, bờ Bắc sông Thạch Hãn, ngay dưới cầu Ga. Nhà em thi vào làm trung sĩ thông dịch viên năm 1966 khóa 11 tại quân đoàn I. Sau 75 em trốn được. Nếu khai thật chắc là bị buộc tội CIA.
Bờ sông Mỹ Chánh và cây cầu mới năm 2009. Mùa hè năm 1972, Nam quân và thường dân đã chạy qua “Đại lộ Kinh hoàng” để rút về phía Nam sông này.
Sau đó em vượt biên rồi đoàn tụ. Trước sau 3 vợ, 11 người con. Bà sau này là bà bền chặt nhất đã sống với nhau 25 năm. Vâng, thưa bác đây chắc chắn là bà sau cùng. Gia đình em rất hạnh phúc. Phần em, dù có bị kinh hoàng nhưng cũng chỉ có 1 ngày 1 đêm. So với người ta có người cả đời kinh hoàng thì nỗi khổ của chúng em có thấm vào đâu.”
Đó là câu chuyện của ông Châu, nhân chứng số 1 của chúng tôi. Tôi hỏi ông Châu câu cuối cùng. “Ông có biết ai đặt tên Đại lộ kinh hoàng.” “Không đâu,” bây giờ ông gọi tôi là cụ. “Cụ với cụHà Mai Việt không biết thì ai mà biết. Nhưng quả thực là kinh hoàng thực đấy các cụ ạ.”
Vượt Qua Covid-19 LẠC VIỆT SAN JOSE Hồi Sinh Cùng Nước Mỹ – GIAO CHỈ SJ & THƠ Mừng VTLV – Dương Huệ Anh
VƯỢT QUA COVID 19 LẠC VIỆT SJ. HỒI SINH CÙNG NƯỚC MỸ.
Giao Chỉ. SJ.
(Viết tặng các bạn Chinh Nguyên, Lê văn Hải, Đông Anh và các bạn văn thơ Lạc Việt)
Cách đây hơn 30 năm thi sĩ Dương Huệ Anh thành lập một hội thi ca miền Bắc CA. Thời đó sinh hoạt ra sao chúng tôi không rõ nhưng chắc chắn là hội họp hiền lành không bão bùng sóng gió. Dương tiên sinh phụ trách được khoảng 4 năm thì bạn Nguyễn Đình Tạo sau 9 năm ngục tù chèo thuyền đến USA bèn nhận đảm trách hội trưởng. Bác Tạo quê ở huyện Đông Anh nên làm thơ ký tên kỷ niệm quê nhà.
Thi sĩ Đông Anh có ông bạn tù là nhà thơ Hà Thượng Nhân bèn mời làm cố vấn. Tôi là bạn cùng khóa với Đông Anh nên cũng được cho tên Giao Chỉ vào danh sách. Cũng nhờ vào vai trò cố vấn nên tôi có cơ hội gặp gỡ các bạn bè cao niên trong làng văn nghệ địa phương.
Bác Đông Anh lãnh nhiệm vụ được chừng 8 năm thì giao lại cho ông Chinh Nguyen. Theo thông lệ nhiệm kỳ của tổng thống 4 năm tái cử thành 8 năm. Thi sĩ Chinh Nguyên gốc không quân đi luôn một lèo gần 20 năm. Lý do đơn giản là anh chị em hội viên thấy ông hội trưởng lèo lái rất nhẹ nhàng và tình nghĩa sâu đậm nên không cần bầu cử.
Thi Văn Đàn Lạc Việt sinh hoạt rất nhộn nhịp hàng năm. Có TV, Radio, trao giải văn thơ hàng năm. In thành tác phẩm xuất bản. Các hội viên thi nhau in tác phẩm riêng. Quanh năm làm thơ, phổ nhạc, tổ chức văn nghệ, sinh nhật tập thể và tham dự vào các hoạt động cộng đồng.
Qua đến năm 2020 cũng như các đoàn thể khác, vì Covid 19 hội viên Lạc Việt phải Thiền tại gia một thời gian cho đến ngày chủ nhật 16 tháng 5-2021 tổ chức đại hội hồi sinh cùng nước Mỹ. Chúng tôi có dịp gặp lại các bạn cao niên tưởng rằng người đã đi xa mà vẫn còn quanh đây. Phúc đức vô cùng.
Trong dịp này bạn Chinh Nguyên loan báo xin về tạm nghỉ mời không quân phi hành Lê văn Hải thay thế.
Cựu Chủ Tịch Chinh Nguyên bàn giao ấn tín cho Tân Chủ Tịch Lê Văn Hải
Anh Hải là gương mặt quen thuộc của cộng đồng Việt tại Bắc CA. Đây là chủ nhân của tờ báo Mõ nổi tiếng San Jose. Hải Mõ đã đích thân tham dự vào hầu hết các sinh hoạt cộng đồng , văn nghệ và xã hội tại địa phương. Anh Hải vừa viết báo vừa là họa sĩ vẽ tranh đồng thời cũng là ca sĩ đồng ca và hoạt náo viên cho các chương trình vận động quần chúng.
Một trong các ưu điểm của Lê Văn Hải là nhân vật hào phóng đã từng là Mạnh thường quân của hầu hết các hoạt động gây quỹ thường niên. Từ chương trình Homeless, cứu thuyền nhân, thương phế binh, gửi quà về quê hương tất cả đều có Mõ San Jose nhiệt thành tham dự. Mỗi lần công tác dù đóng vai chánh hay phó, Mõ San Jose không ngần ngại bảo trợ toàn phần hay quá bán. Anh lo chu đáo các phần quà dưới đĩa ăn hay dưới gầm bàn. Những tác phẩm hội họa và những chai rượu chuẩn bị biếu quan khách.
Trong buổi chiều hội ngộ giữa tháng 5 chúng tôi thấy phần trình diện của anh chị em Lạc Việt đông đảo và vui tươi. Đây là hình ảnh đẹp đẽ nhất của tổ chức sau hơn 30 năm sinh hoạt. Công của anh Chinh Nguyên rất nhiều. Cố vấn Hà Thượng Nhân khi ra đi có để lại câu thơ bất hủ. Những mái đầu cất cao. Không một lời than thở. Câu thơ này nên dành tặng cho bà Chinh Nguyên. Anh Chinh nhờ vợ đảm đang đã giúp anh xây dựng Lạc Việt. Trong cái thế giới hợp đoàn của cộng đồng Việt tại Hoa Kỳ, chỉ có Chinh Nguyên là hội trưởng duy nhất giao cho phu nhân công tác đi đón các hội viên già mỗi lần họp mặt. Nàng cúi đầu lặng thinh, không một lời than thở. Đằng sau người đàn ông thành công luôn luôn có một người đàn bà. Vậy đằng sau người đàn ông thất bại thì có ai. Xin trả lời: 2 Người đàn bà.
Thi văn đàn Lạc Việt họp mặt năm nay đàn bà nhiều hơn đàn ông với nhiều tác giả là phụ nữ. Ưu điểm đáng ghi nhận là có sự hiện diện của ông Dương Huệ Anh đã ngoài 90 tuổi. Chủ tịch sáng lập vui mừng nhìn thấy tổ chức của bác vẫn còn vững mạnh.
Người sáng lập Văn Thơ Lạc Việt, hiện là cố vấn VTLV Dương Huệ Anh (Giữa, đội mũ)
Chỉ tiếc thay cho bạn tôi là bác Đông Anh hiện nay đầu óc quá lơ mơ. Mỗi buổi sáng ông Tạo ngủ dậy gặp vợ lại tưởng là người lạ bèn cất tiếng chào. Mười năm trước chị Tạo còn nghĩ rằng nhà thơ nói đùa, nhưng ngày nay em biết rằng chàng chẳng còn nhớ em là ai.
Riêng phần chúng tôi, xin cảm ơn Chinh Nguyên vẫn còn nhớ đến cố vấn Giao Chỉ. Riêng cảm ơn anh Mõ Hải tặng cho tấm tranh kỷ niệm. Nhờ có buổi chiều Phú Lâm tôi gặp lại các bạn cố vấn trên 80 tuổi. Chẳng phải lần đầu nhưng vẫn có thể là lần cuối. Văn nghệ nghiệp dư nhưng vẫn không kém phần linh động. MC lảnh lót làm tròn bổn phận. Diễn giả nói chuyện ngắn gọn đầy đủ thân tình. Thực đơn Phú Lâm ngon lành và chu đáo. Các tác giả giới thiệu sách rất phong phú và nhiệt thành.
Bác Nguyễn Đức Cường nguyên tổng trưởng kinh tế VNCH đã mua một số tác phẩm và gửi lời khen ngợi ban tổ chức. Chúng tôi cũng gửi tiền anh Chinh Nguyên để mua sách cho thư viện của Museum.
Nhìn khung cảnh ấm cúng của các bạn, tôi muốn mời một lần sau đến chơi chỗ của chúng tôi tại Viet Museum.
Thân ái.
Giao Chỉ San Jose.
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ (Vũ Đình Liên)
Giao Chỉ San Jose
Hơn nửa đời người sống tại San Jose, dài gần nửa thế kỷ, chúng tôi có nhiều bằng hữu. Mỗi lần tiễn người đi, tôi có dịp viết một bài ai điếu. Có duyên thì sáng tác, bất kể thân sơ, nhưng không may mắn viết cho tất cả anh chị em. Không phải vì giàu nghèo hay sự nghiệp hơn kém. Bây giờ gần đến lượt mình bèn góp lại những bài vô tình còn lưu lại trên thế giới ảo để in thành tác phẩm. Giữ cuộc đời của anh chị em còn ở lại bằng văn tự Giao Chỉ. Lấy câu thơ của cụ Vũ Đình Liên làm tựa đề tác phẩm. Mỗi bài tạp văn mang linh hồn của một bằng hữu đã cùng một thời sống gần nhau. Xin gọi là nhờ văn chương một lần giữ Đời cho nhau. Năm nay 2021, nhân danh Viet Museum chúng tôi sẽ đem tất cả các DVD và tác phẩm hiện có và sẽ xuất bản, gửi đi bốn phương cho tất cả bè bạn xa gần. Bán cũng không phải bán, biếu cũng không hẳn là biếu. Chỉ là chương trình nhờ độc giả và khán giả Giữ Đời Cho Nhau. Cuốn tạp văn này cũng thế. Trân trọng.
Giao Chỉ, San Jose.
(1) HÀ THƯỢNG NHÂN, không một lời than thở.
Nhà Thơ Không Có Tác Phẩm.
Những mái đầu cất cao, không một lời than thở. (HTN)
Quả thực bác này đúng là chàng thi sĩ miền quê. Nếu năm trước, khi bác mới được HO qua Mỹ, làng văn thơ hải ngoại mời bác làm chủ tịch Văn bút Việt Nam Tự do thì chắc hẳn ai cũng cho là rất xứng đáng. Ấy vậy mà, bác lại không đủ điều kiện để nộp đơn xin vào làm hội viên bình thường của Văn bút Việt Nam Hải ngoại. Bởi vì dù là tác giả của hàng ngàn bài thơ nhưng chưa bao giờ ông có được một tác phẩm thi ca. Không tác phẩm là không hội viên. Nói gì là chủ tịch.
Chàng thi sĩ niên trưởng ở San Jose của chúng tôi là người Thanh Hóa, quê làng Hà Thượng, sinh năm 1919. Khi đệ nhị thế chiến chấm dứt (1939- 45) ông bắt đầu làm báo và theo kháng chiến suốt 7 năm. Ðó là thời kỳ bài ca Tuổi Xanh của Phạm Duy gọi lên hồn nước làm rung động toàn thể thanh thiếu niên Việt Nam.
“Một mùa thu năm qua, cách mạng tiến ra…”
Thời kỳ đó có lần làng Bình Hải, huyện Yên Mô tổ chức đón các đại biểu liên khu về hội họp. Những cậu bé trong đoàn thiếu niên Kim Ðồng của Hà Nam Ninh chúng tôi hết lòng sùng kính các đàn anh từ liên khu Thanh Nghệ Tĩnh về nói chuyện. Gia đình tôi từ Nam Ðịnh tản cư về Yên Mô, Ninh Bình.Từ miền Hoa Lư, đường vào xứ Nghệ phải qua Thanh Hóa với cây cầu Hàm Rồng đầy huyền thoại.
Các anh từ khu Tư nổi tiếng về họp tại đình làng Bình Hải.Năm đó, tuổi 16 tôi đứng dựa cột đình. Dường như chàng thi sĩ làng Hà Thượng cũng có mặt trong vai trò cán bộ văn hóa quan trọng của kháng chiến. Phần văn nghệ có cả cô bé Thái Thanh 15 tuổi tham dự chống nạn mù chữ hát bài chữ i chữ tờ.
Hơn 60 năm sau, bây giờ 2010, tại San Jose tôi xin gửi đến các bạn bài viết về Trung Tá Phạm Xuân Ninh, tức là nhà thơ Hà Thượng Nhân, người Thanh Hóa.
Một đời văn nghệ
Có thể nói suốt đời bác Ninh là một đời văn nghệ. Ði lính từ đại úy đến trung tá nhưng ông không hề liên quan gì đến quân trường và súng đạn. Làm chủ nhiệm báo Tiền Tuyến nhưng chàng luôn luôn ở hậu phương. Cuộc đời của ông tất cả là bằng hữu và thơ phú.
Năm 1935, cậu Ninh 16 tuổi đã có dịp dự cuộc thi thơ với các bậc tiền bối và đoạt giải với bài Trăng Thu.
“Sương mỏng manh, canh vắng lặng tờ
Buồn xưa náo động mấy vần thơ…
Quả thực bài thơ trúng giải của cậu thư sinh đã làm náo động cả hội thơ Vỹ Dạ thuở xưa. Trải qua 7 năm theo kháng chiến, năm 1952 ông về thành và 1954 ông di cư vào Nam.
Do nhu cầu của tâm lý chiến miền Nam và do thân hữu đề cử, thủ tướng Ngô Ðình Diệm ký lệnh cho me-xừ Phạm Xuân Ninh đặc cách mang lon đại úy trừ bị. Ðây là cấp bậc theo quy chế đồng hóa thuộc bộ quốc phòng. Sau đó ông được đề nghị thăng cấp thiếu tá và trung tá. Suốt 21 năm ông làm việc tại Tổng cục Chiến tranh Chính trị. Sau 75 ông đi tù tập trung cải tạo từ Nam ra Bắc và từ Bắc vào Nam. Sau cùng HO qua định cư tại San Jose.
* Anh em văn nghệ cao niên chúng tôi tại San Jose thường ghi nhận rằng cuộc đời từ hoa niên, binh nghiệp, tù đầy, tỵ nạn và định cư trải qua các giai đoạn chính như sau. Lẽ dĩ nhiên cũng có người đi theo thứ tự, có người đặc cách khác anh em. Sau đây là các dấu mốc: 1) Sinh quán, sinh nhật 2) Trường học và quân trường 3) Trại binh, trại gia binh, trại tù, trại tỵ nạn 4) Nhà tạm trú, nhà housing, nhà trả góp, nhà mobile, và nhà dưỡng lão.
Anh bạn cùng khóa Cương quyết II Thủ Ðức của tôi là Trung tá Lực lượng Đặc biệt Ðỗ Hữu Nhơn đã có lần còn nhắc đến chuyện nhà quàn từ Down Hill cho đến Oak Hill. Riêng phần các bác, xin cứ ghi nhận và xem lại để thấy rằng mình đang ở giai đoạn nào và đã đặc cách vượt cấp ra sao.
Sau đây là giai đoạn cuộc đời bằng Anh Ngữ.
DOP, POB / School, Military School / Military Camp, Concentrate Camp, Refugee Camp / Half way House, Housing, Single House, Mobile Home, Nursing Home.
Và cuộc đời bác Ninh của chúng tôi hiện ở giai đoạn hết sức hoàng hôn.Ông đang được điều trị tại khu dưỡng lão Willow Glen, San Jose. Chàng vốn không có tên trong các hội ái hữu quân trường dù là Ðồng Ðế, Thủ Ðức hay Ðà Lạt. Cũng chẳng phải là thành viên của các quân binh chủng bay bướm oai hùng. Ở đây hội ái hữu đồng hương chẳng thiếu địa danh nào nhưng lại chẳng hề có hội đồng hương Thanh Hóa. Nhưng bằng hữu thơ văn thì ai mà chẳng biết Hà Thượng Nhân. Ðặc biệt ông bạn tù là nhà thơ Nguyễn Ðình Tạo, quê làng Ðông Anh sớm tối vào thăm bác Ninh. Bác Ðông Anh là người điều hợp thi đàn Lạc Việt, có bạn Chinh Nguyên làm tổng thư ký. Hội ta vẫn thường trực chuyên chở bác hội viên cố vấn Hà Thượng Nhân. Vì vậy chàng thi sĩ của chúng ta đã từng viết câu thơ mãi mãi tràn đầy tình nghĩa…
“Ta từ có bạn đến giờ,
Lời thơ lại bỗng bất ngờ thành vui…”
Những bài thơ…
Nếu đem in những bài thơ của thi sĩ người làng Hà Thượng thì xoàng ra cũng có được năm bảy tác phẩm. Thực ra với nhiều bút hiệu khác nhau, bác Phạm Xuân Ninh đã từng soạn nhiều tài liệu nghiên cứu do Nha Chiến tranh Tâm lý xuất bản.
Tuy nhiên, đây chỉ là sáng tác thuộc về lãnh vực nghiên cứu của một công chức quốc gia. Còn những vần thơ gan ruột của thi nhân, những bài thơ về tình yêu của nhà thơ thì chưa bao giờ in thành sách.
Ông đã từng viết :
“Ta có một tình yêu, bao la như trời đất.
Ta viết vào trang Thơ, tình yêu ta không mất.”
Và mục đích của cuộc đời được ghi lại.
“Sống chỉ lấy cái tâm làm trọng.
Gửi ngàn sau mấy giọng tiêu dao.”
Trong số hàng ngàn bài thơ của thi nhân tôi thích nhất những bài thơ ông làm trong thời gian ở tù. Trong hằng trăm bài thơ tù, tôi ghi nhận có 3 bài hết sức rung động. Xin giới thiệu bài Thắp Sáng. Xin các bác lưu ý. Mỗi câu thơ đều là một lời kinh đấu tranh.Mỗi câu thơ đều có thể đặt tựa cho cả bài thơ. Bài thơ ngũ ngôn, một sở trường của tác giả như sau:
Thắp sáng muôn vì sao
Nếu như không đau khổ.
Làm sao biết căm hờn.
Càng muôn trùng sóng gió.
Tay chèo càng vững hơn.
Chúng ta cùng có nhau.
Nhìn nhau vui hớn hở.
Trên luống cày khổ đau.
Hoa Tự do vẫn nở
Những mái đầu cất cao.
Không một lời than thở.
Tác giả chỉ giải thích lòng căm hờn bắt nguồn từ thân tù đầy oan trái, tuy nhiên, như lời thơ đã viết, tác giả không nuôi dưỡng căm hờn. Chỉ là:
“Những mái đầu cất cao, không một lời than thở”.
Nhưng có hai bài thơ trong tù tràn ngập yêu thương xin gửi đến các bác đọc lại thật rõ từng lời để cùng rung động với tác giả.
Năm 1975 mới vào tù, ông làm bài Mưa Buồn từ trại Long Giao trong lòng đất quê hương miền Nam. Năm 1978 sau khi bị đưa ra đất Bắc ông làm bài Cỏ Biếc, vào lúc tác giả chuyển trại từ Thác Bà, Yên Bái về Thanh Chương, Nghệ Tĩnh. Ðây là lời thơ của bài Mưa Buồn Long Giao. Xin hãy nhớ cho, tác giả làm bài thơ này vào thời gian sau tháng 4/75.Người tù già ngồi nghe mưa miền Nam tại Long Giao.
Ngũ ngôn tứ tuyệt đoạn cuối, tác giả dùng chữ nẻo cụt chỉ bước đường cùng, tưởng là giấc mơ, tưởng chỉ là cơn ác mộng, hút điếu thuốc lào, hỏi lòng mình đã say chưa.
Mưa Buồn Long Giao
Trời có điều chi buồn?
Mà trời mưa mãi thế!
Cây cỏ có chi buồn?
Mà cỏ cây ứa lệ!
Anh nhớ em từng phút,
Anh thương con từng giây.
Chim nào không có cánh,
Cánh nào không thèm bay.
Người nào không có lòng,
Lòng nào không ngất ngây.
Gửi làm sao nỗi nhớ,
Trao làm sao niềm thương.
Nhớ thương như trời đất,
Trời đất vốn vô thường.
Ngày xưa chim hồng hộc,
Vượt chín tầng mây cao,
Ngày xưa khắp năm châu,
Bước chân coi nhỏ hẹp,
Bây giờ giữa Long Giao,
Ngồi nghe mưa sùi sụt,
Cuộc đời như chiêm bao.
Có hay không nẻo cụt,
Anh châm điếu thuốc lào,
Mình say, mình say sao!!
Trại Long Giao 1975
Và sau cùng là bài Cỏ Biếc làm trong trại tù nơi quê hương của tác giả, liên khu 4, Thanh Nghệ Tĩnh ngày xưa:
Xin Làm Cỏ Biếc
Anh cầm tay em,
Bàn tay khô héo.
Anh nhìn mắt em,
Gió lùa lạnh lẽo.
Anh nhìn lòng mình,
Mùa Đông mông mênh.
Cỏ non mùa Xuân,
Còn vương dấu chân.
Trăng non mùa Hạ,
Ướt đôi vai trần.
Có xa không nhỉ
Ngày xưa thật gần.
Thời gian! Thời gian.
Em vẫn là em…
Nụ cười rạng rỡ,
Ngày nào vừa quen,
Mai đưa em về,
Xin làm cỏ biếc,
Vương chân em đi.
Xin làm giọt mưa
Mưa dầm rưng rức.
Trên vai người yêu,
Sài Gòn Sài Gòn,
Không là quê hương,
Mà sao mình nhớ,
Mà sao mình thương.
Ngày từ trại Thác Bà, Yên Bái về trại 6 Thanh Chương Nghệ Tĩnh 1978.
Ngày nay, tại hải ngoại có biết bao nhiêu Little Saigon. Có bao nhiêu người đã tranh đấu cho tên gọi thành phố Sài Gòn. Nhưng có ai yêu Sài Gòn hơn được người thi sĩ Thanh Hóa.
Saigon Saigon, / không là quê hương.
Mà sao mình nhớ, / mà sao mình thương.
Gửi ông bạn già,
Bác Hà Thượng Nhân, tôi chưa biết ông 60 năm về trước. Hồi thập niên 70 ở Sài Gòn tôi cũng không quen bác. Bác H.O. về San Jose, mới biết bác qua bạn Ðông Anh. Năm xưa, chúng tôi mời bác lên sân khấu nhận giải sự nghiệp một đời của tiểu bang California. Bác chiều lòng anh em mà lên nhận bản tuyên dương, tôi biết bác đâu có quan tâm gì những vinh quang phù phiếm đó.
Tấm lòng bác đôn hậu, tinh thần bác an nhiên.
“Chẳng cầu cạnh, chẳng ưu phiền,
Miễn sao lòng cứ an nhiên là mừng.”
Năm nay bác đã ngoài 90.Tuy không còn hút thuốc lào nhưng đang trải qua giai đoạn khi tỉnh khi mê.Lúc quên lúc nhớ. Khi tỉnh bác làm thơ hay. Khi say thơ vẫn còn hồn. Lúc trẻ lời thơ đã uyên bác.Khi về già thơ vẫn còn tình tứ.
Bác phê bình Giao Chỉ tôi viết văn như bổ củi.Hết bó này đến bó khác.Mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng, mỗi năm. Hôm nay gặp bó củi cao niên, tôi xin tiếp tục làm công tác bổ củi.Chẻ thật nhỏ ra làm đóm để bác châm lửa hút lại điếu thuốc lào.Tôi có lần hỏi tuổi bác, bác trả lời 9 chục. Rồi nói tiếp: “Mình cũng không biết tại sao lại sống lâu như vậy”. Tôi nói rằng:
“Tại bác sống đời thi sĩ. Sống bên cạnh cuộc đời. Tại bác không sống tỉnh.
Bác sống say say.
Bác tự hỏi lòng : “Mình say sao? Bác say thật rồi.
Hà Thượng Nhân (1920- 11/10/2011) là bút hiệu của nhà thơ Phạm Xuân Ninh, nguyên danh Hoàng Sĩ Trinh.Ông quê ở Hà Thượng, huyện Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa.
Ông từng dạy học ở trường Dũng Lạc Hà Nội và trường Thiếu Sinh Quân Liên khu IV, rồi theo Kháng chiến nhưng đến năm 1952 thì ông về thành rồi di cư vào Nam. Ông gia nhập Quân đội VNCH lúc đó thăng đến cấp trung tá.
Đóng góp văn học
Nhà thơ Hà Thượng Nhân làm Giám đốc Đài Phát thanh Quốc gia, chủ bút rồi chủ nhiệm nhật báo Tiền tuyến, lúc đầu do Cục Tâm lý chiến đảm nhiệm, sau tập thể của quân đội. Với nhật báo Tự Do ông thường góp bài dưới bút hiệu Tiểu Nhã và phụ trách mục thơ châm biếm “Đàn ngang cung”. Bút hiệu khác của ông là Nam Phương Sóc trên báo Ngôn luận. Ông là thành viên của Trung tâm Văn Bút VN.
Về tài văn thơ, ông có biệt tài làm thơ trào phúng nhưng khi còn trẻ tuổi ông cũng sính thơ Đường. Khi vào Huế trong một cuộc chơi thơ, ông có ứng khẩu một bài thơ vịnh “Trăng Thu” được chấm là hay nhất.”
Nhà thơ Hà Thượng Nhân từng được Phủ Quốc vụ khanh Văn hóa của VNCH đề cử làm giám khảo Giải Văn Học Nghệ Thuật về bộ môn Thơ.
Sau năm 1975 ông đi “tù cải tạo” cho đến năm 1983 mới được về và sang định cư ở Hoa Kỳ vào năm 1990 dưới diện HO. Ông mất vào ngày 11/10/2011 tại San Jose California, thọ 91 tuổi.