GIAO CHỈ SAN JOSE – PHÓNG SỰ 30 THÁNG TƯ.

https://issuu.com/vietnamthuvien

https://issuu.com/vietnamthuvien

Thân gửi bằng hữu

Bảo tàng là linh hồn của dân tộc. Bảo tàng là linh hồn của cộng đồng. Bảo tàng Nhân Văn là thông điệp của quá khứ gửi tương lai. Dân tộc Việt cần nhiều viện Bảo tàng.  

1)Bảo tàng lập quốc từ miền Nam sông Dương Tử đến châu thổ sông Hồng.                                                                    

2)Bảo tàng Ngàn năm Bắc Thuộc vẫn còn nước non.                    

3) Bảo tàng Nam Tiến bên bờ sông Gianh tại Quảng Bình. 

4)Bảo tàng di cư bên bờ sông Bến Hải tại Quảng Trị.               

Tất cả đều không có dù tại miền Bắc hay miền Nam. 

Dù trước hay sau 1975

Chúng ta cũng rất cần Viện Bảo tàng về lịch sử xây dựng cộng đồng Việt tại hải ngoại. Đó là lý do chúng tôi hoàn tất dự án Bảo tàng Thuyền Nhân và Việt Nam Cộng Hòa tại khu vườn lịch sử San Jose. Hơn 40 năm sưu tầm và sáng tạo. Hiện nay dinh thự và đất đai chung quanh trị giá trên 4 triệu Mỹ Kim được thành phố San Jose dành riêng. Tổng cộng 200 tác phẩm và di sản lịch sử trị giá 4 triệu Mỹ kim thuộc Viet Museum. Việt Museum sẽ là đền Thánh tưởng niệm Quân Cán Chính hy sinh trong chiến tranh và thuyền nhân tử nạn. Dự án tương lai sẽ dựng lại bức tường Thương Tiếc tại Nghĩa trang Biên Hòa do Cộng sản phá sập 1975. Sẽ gây quỹ để thành lập trung tâm văn hóa Việt bên cạnh Việt Museum dưới hình thức kiến trúc Đình Làng Đình Bảng 700 năm lịch sử tại Việt Nam với cổng Lăng Ông Lê văn Duyệt.

Viet Museum đã viết xong dự án để trường đại học Stanford yểm trợ công tác điện toán hóa việc lưu trữ các hình ảnh di vật và mở cửa bảo tàng viện để toàn thể giới thăm viếng qua máy bàn hay Cell phone.

Sau đây xin mời quý vị thăm viếng qua Youtube phần giới thiệu sơ lược của Việt Museum với một số hình ảnh chính trong số 200 tác phẩm và di sản ghi nhận được trong 40 năm qua.                                                                          

 Lấy tro tàn lịch sử, để xây dựng bảo tàng.                              

Đem quá khứ huy hoàng, gửi tương lai vĩnh cửu

Giao Chỉ, San Jose.
———- Forwarded message ———

Mời các bạn xem LS của Sean Ly Ngày 30/4/2022: 

Phóng sự 30 tháng 4 – 




MẤT DẤU THỜI SỰ: Mạn Đàm GIAO CHỈ VŨ VĂN LÔC & PHẠM PHÚ NAM




Tôi Sẽ Viết Gì Về Anh Phạm Phú Nam – Giao Chỉ San Jose.

Tôi sẽ viết gì về anh Phạm Phú Nam

Vạt nắng bên thềm chưa vội tắt, mà lời tạm biệt đã lên đường..

(Tôi ghi tạm biệt vì ở tuổi 90 mình sẽ sớm gặp lại nhau)

Sau 1975 tôi quen biết các bằng hữu của Tổng cục CTCT tiếp tục công tác hải ngọai. Các bạn Văn Quang, Huy Phương, Phan Lạc Phúc lần lượt ra đi. Đây là chuyện đời anh lính thủy VNCH tình cờ và tình nguyện làm công tác chiến tranh chính trị tại hải ngọai.

Mấy tháng qua anh Nam đã gặp nhiều khó khăn về thể chất. Trải qua kỳ Covid và thoát chết thực là may mắn kỳ lạ. Là người thân thuộc làm việc chung 30 năm, tôi chưa kịp lo buồn khi anh nằm nhà thương thì đã có tin vui khi anh thoát nạn. Nhưng tiếp theo lại được tin Nam bị đau đến nỗi phải đi nạng. Hy vọng rồi cũng sớm qua khỏi. Mới ngoài 60, thân thể tráng kiện và tinh thần rất vững. Mọi trở ngại rồi cũng vượt qua. Đầu tháng 3 tôi nhờ anh Nam làm MC cho chương trình giới thiệu đặc biệt tại Việt Museum. Nhân dịp quý vị thân hữu mừng 16 năm Viet Museum dọn vào San Jose History Park đã ghi dấu kỷ niệm bác Giao Chỉ 90 tuổi. Ôi tuổi già thấy đại thọ mà sợ chết khiếp. Vui mừng không nổi. Nhưng anh MC Phạm Phú Nam cậy mình biết rõ cuộc đời ông già nên đã nói về chúng tôi quá nhiều. Toàn chuyện tốt đẹp hay ho. Không hề nhắc gì đến chuyện sai lầm hay phiền phức.

Nhưng tuần qua tin rất đáng ngại đã đến với anh Nam. Anh cho biết là mắt bị mờ và đi khám các chuyên viên xuất sắc nhất của y khoa Hoa Kỳ cho biết nguyên nhân từ trên đầu và anh sẽ phải tạm nghỉ để theo chương trình điều trị.

Dù anh là bệnh nhân can đảm, bình tĩnh chuẩn bị đương đầu với định mệnh, nhưng chúng tôi và những người thân bên anh không thể bình tâm chia xẻ được hoàn cảnh hết sức đau thương này. Cũng sẽ cố mà theo tinh thần của bệnh nhân.

Xin nhắc lại chuyện cũ. Tôi còn nhớ được Phạm Phú Nam mời đến một lần khi anh tổ chức giới thiệu tạp chí Thị Trường Tự Do trong giai đoạn vinh quang nhất. Anh có khả năng giao thiệp và thành công với một tạp chí hết sức tân kỳ và phong phú. Nhưng sau đó tôi không rõ chuyện tiếp theo. Một hôm Nam ghé thăm và tạm coi là đang thất nghiệp. Tôi mời anh đến ngồi trong văn phòng và tự do xây dựng lại giấc mơ. Bỗng có dịp may cơ quan IRCC được County giao phó một chương trình dạy nghề và tìm công việc cho các gia đình Mễ và Việt đang hưởng trợ cấp. Dự án lên hàng triệu Mỹ kim kéo dài 3 năm. Tôi bèn ủy nhiệm anh Nam làm giám đốc và chương trình mở đầu rất vất vả. Sau 2 năm không thất bại nhưng cũng chẳng thành công huy hoàng như đã dự trù. Thực tế là các gia đình hưởng trợ cấp đều không muốn đi làm với số lương thấp hơn trợ cấp. Anh Nam cũng không vui với vai trò giám đốc chương trình xã hội. Anh đề nghị mở chương trình làm truyền thông với Radio, TV và sản xuất phim tài liệu. Chúng tôi đồng ý và cùng làm với danh hiệu Dân Sinh Media. Phạm Phú Nam như rồng gặp mây và phát huy thiên tài ăn nói với kiến thức lấy từ kho tàng lịch sử của cơ quan IRCC lâu năm không ai đụng tới.

Bây giờ vẫn còn hàng trăm đĩa tài liệu phát thanh Radio hết sức rung động nghe đi nghe lại không chán. Lại thêm hàng trăm đĩa DVD do Phạm Phú Nam đạo diễn, bình luận, tìm tòi, cắt xén trở thành những tài liệu lịch sử vô cùng xuất sắc đã nuôi sống cơ quan trên cả thập niên. Thời gian sau này thiên hạ sử dụng tài liệu DVD của Dân Sinh đưa qua Youtube tràn ngập Internet. Gần đây bác cháu chúng tôi lại có chương trình nói chuyện trên TV phát vào Youtube được các bằng hữu tán thưởng. Trên sân khấu hay trong cuộc đời chúng tôi có nhiều quan điểm tương đồng nhưng cũng có nhiều khác biệt. Anh Nam thường bày tỏ mà không quản ngại, tôi lắng nghe nhưng không bắt buộc phải đồng ý mọi chuyện. Trong cuộc đời riêng, tôi đã có nhiều chiến hữu cộng tác trong quân ngũ. Tại đất Hoa Kỳ, tôi cũng có nhiều vị phụ tá tại cơ quan IRCC nhưng chưa có ai làm việc lâu dài như anh Nam. Quý vị khác ai cũng làm công việc có lương. Nhưng riêng anh Nam dù có lương hay không vẫn nỗ lực cộng tác bình tĩnh và bền bỉ. Tính nết trong sáng và xa cách các sinh hoạt cộng đồng phức tạp nên anh có nhiều thì giờ làm việc với chương trình và hoàn tất các DVD với chiều sâu tràn đầy tình nghĩa dân tộc. Cá nhân chúng tôi có một số kinh nghiệm và thêm nhiều cơ hội để đưa ra tin tức và nhận định về cuộc sống văn hóa , xã hội hay chính trị. Anh Phạm Phú Nam đưa lên Radio, TV và DVD để trở thành có ý nghĩa lưu lại lâu dài.

Trong khoảng 30 năm qua chúng tôi làm việc bên nhau từng ngày và từng tháng từng năm. Những năm sau này anh Nam tự mình đứng độc lập với chương trình Dân Sinh hết sức trong sáng và hấp dẫn. Chúng tôi tranh cãi chuyện chính trị, thỏa hiệp chuyện văn hóa và đưa các đối thoại xây dựng cũng như mâu thuẫn lên diễn đàn. Rất vui mừng được bà con tán thưởng. Nếu quý vị cho phép tôi mạo xưng là người làm công tác của tổng cục chiến tranh chính trị tại hải ngoại thì anh Nam dù chỉ có một mình cũng đang làm giám đốc Tâm Lý Chiến qua một phạm vi nhỏ bé như tiểu khu Gia Định mà thôi. Chúng tôi có mối giao tình hết sức tốt đẹp không phai nhạt suốt 3 thập niên. Phạm Phú Nam vốn là thủy thủ trẻ tuổi của hải quân Việt Nam năm 1975. Rồi là thuyền trưởng trẻ tuổi của nhiều chuyến vượt biên. Sang Mỹ đi làm đi học đủ mọi ngành nghề nhưng chỉ ngấp nghé chờ đợi ngày đọc điếu văn cho bác Giao Chỉ. Thế sự xoay vần nào ai biết ai sẽ khóc cho ai. Duy có một điều đơn giản là bác Giao Chỉ sẽ không bao giờ tìm được một Phạm Phú Nam thứ hai. Anh là tình nguyện viên số 1 của IRCC và là người chồng tuyệt vời của cô Yến, là người cha gương mẫu của cháu Việt và sau cùng là anh con rể có một không hai của ông bà bác sĩ dân biểu Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Tuấn Anh.  

Với riêng tôi, sẽ không có một Phạm Phú Nam thứ hai.

Anh Nam sinh năm 1955 là con út của gia đình có 10 anh chị em. Đây là một gia đình hết sức Việt Nam Cộng Hoà. Gốc di cư công giáo Bắc Kỳ. Các anh ruột và anh rể của Nam đều ở trong quân đội. Ông anh hạm trưởng hải quân đem em út vào làm thủy thủ để chờ đi học trường quân y. Năm 75 đứt phim các ông anh vào tù trọn gói để cậu em sống với cộng sản được 8 năm. Nam trải qua cuộc đời dâu bể. Biết thế nào là Việt Nam Cộng hòa và Việt Nam Xã hội chủ nghĩa. Xuất thân từ gia đình giàu có ngoài Bắc và tiểu tư sản trong Nam. Chàng thanh niên còn lại trong một gia đình có 8 anh em trong tù cộng sản. Năm 1983 anh thủy thủ trẻ tuổi của Hải Quân Việt Nam tổ chức vượt biên và cũng trở thành thuyền trưởng. Câu chuyện của “hạm trưởng” điêu linh đã trải qua với giông bão và hải tặc ra sao đã được bác Nguyễn Đức Cường nguyên tổng trưởng kinh tế VNCH viết lại bằng Anh Ngữ đăng trên tập san của đại học hải quân Hoa Kỳ.

Vì duyên nợ là thủy thủ hải quân VNCH, Phạm Phú Nam trở thành đoàn viên trẻ tuổi nhất của hội Hải quân Bạch Đằng Bắc CA và lập nhiều thành tích đáng kể. Anh góp phần tổ chức đại hội hải quân, soạn thảo tài liệu và dựng lại Chuyến Hải hành Cuối cùng trên DVD. Anh cũng tham dự vào việc đóng góp cho hải quân Hoa Kỳ xây dựng tượng đài thủy thủ cô đơn trên đảo Guam. Nam cũng là đoàn viên thủy thủ yêu quý số một của ông đô đốc tư lệnh Trần Văn Chơn và ông hải quân đại tá Điền chủ tịch hội Bạch Đằng. Trong công tác giám đốc Dân Sinh Media, gần như chỉ có một mình anh tung hoành trong kho tàng lịch sử VNCH của IRCC. Anh sáng tác gần 100 DVD phim tài liệu. Từ Bình Long Anh Dũng đến cuộc thư hùng Quảng Trị. Anh tổ chức các chương trình văn nghệ đấu tranh để lấy hình ảnh làm tài liệu cho DVD. Có lần tổ chức luôn 2 đại hội trong một tháng từ đồi Charle Cupertino xuống CPA San Jose. Từ sân khấu anh đưa hình ảnh của các nhân vật danh tiếng qua DVD nay đã thành YouTube để lại cho đời sau. Anh đã có cơ hội nói chuyện và phỏng vấn hầu hết các nhân vật lịch sử VNCH từ đại sứ Bùi Diễm đến ngoại trưởng Vương Văn Bắc. Từ bà Tuyết Mai đến bà Khúc Minh Thơ. Từ tổng thống Thiệu cho đến các chiến binh vô danh.  Nhiều người đã ra đi và cũng còn người ở lại. Trong duyên nợ công việc anh Nam đã tham dự rất nhiều trong khóa Cương Quyết Đà Lạt 1954 với chúng tôi từ kỳ họp khóa ngậm ngùi 50 năm kỷ niệm với 70 hội viên còn lại. Anh theo từng câu chuyện của 300 người từ Hà Nội lên đường năm 1954 rồi lần lượt ra đi đến nay chỉ còn 20. Anh chính là hội viên danh dự của khóa Cương quyết 1954. Chúng tôi cách xa gần 30 tuổi nhưng rất cảm thông trong công việc. Anh làm việc giúp tôi nhưng chính tôi cũng giúp anh. Chúng tôi giúp nhau. Tôi khai thác khả năng của anh nhưng anh cũng khai thác tôi. Chúng tôi khai thác nhau. Và cũng để lại niềm hãnh diện là kiến thức về lịch sử của của một thời VNCH. Tất cả đều lưu lại trong Viện Bảo tàng tại San Jose. Hãy đọc qua danh sách các tựa đề DVD phát hành trên 10 năm qua. Từ Bình Long Anh Dũng đến trận Thư Hùng Quảng Trị năm 1972. Từ Người lính năm xưa cho đến câu hỏi hồi tháng tư 75. Lúc đó bác ở đâu. Từ Chuyến hải hành cuối cùng đến 35 năm nhìn lại. Lịch sử ngàn người viết nối tiếp Bộ quân phục của cha tôi.Có cả DVD về ông Thiệu và tựa đề Vị Tổng tư Lệnh. Cũng có cả DVD chấp nhận lịch sử với tựa đề Cuộc Chiến nhìn từ phía người thua cuộc. Kể ra thì rất nhiều nhưng chúng tôi cũng phát hành cả tình ca đem từ sân khấu xuống. Tựa đe Tình khúc cho em để đưa sân khấu vào DVD những hình ảnh của ông bà Lương Xuân Việt lúc còn là đại tá đi học tại Stanford, chuyện tình của ông bà Ngô Quang Thiều đi lính nhảy dù cùng khóa Cương quyết. Anh Thiều ra trường trung sĩ tiểu đoàn 5 nhảy dù, 21 năm sau bạn nhẩy dù Trần Quốc Lịch lên chuẩn tướng, bạn nhảy dù Vũ Thế Quang lên đại tá anh Thiều mới đeo lon thiếu úy. Năm thiếu úy Thiều ra đi tại quận Cam có 5 ông đại tá về khiêng quan tài. Chúng tôi ngồi bên phía những người thua cuộc nhưng không thua tình chiến hữu. Phạm phú Nam là người làm chứng ghi lại trong màn ảnh nhỏ. Những hình ảnh của Nam sẽ lưu lại ngàn đời trong Việt Museum. Hơn 10 năm trước những thước phim của Bình Long và Quảng Trị đã được độc giả tán thưởng và còn giữ lại cho lịch sử VNCH. Bình Long anh dũng với câu chuyện của y sĩ tiền tuyến mổ thương binh dưới mưa pháo. Chuyện cô ca sĩ sư đoàn 5 bộ binh đi tìm xác chồng và chuyện anh phóng viên từ mặt trận Hỏa Tuyến nhảy trực thăng vào hầm tư lệnh An Lộc.

Chúng tôi còn nhớ khi phát hành trận Hỏa Tuyến Nam Bắc Thư Hùng đã nhận được 2 ngàn thư của độc giả gửi về. Bốn phương gửi về trả tiền phát hành và ấn phí đã cho thêm những đồng tiền lẻ. Người 5 hay 3 đồng tổng cộng lên đến 25 ngàn. Đó chính là những giọt lệ khóc cho cuộc chiến tưởng như những bông hoa của người Quảng Trị thả xuống những con sông miền Trung đưa linh hồn tử sĩ trôi ra biển Nam Hải. Không phải những tiền ủng hộ lớn lao đã xây dựng DVD Phạm Phú Nam và Việt Museum. Chính những tấm lòng vô danh của bốn phương đã đem lại sức sống cho Dân Sinh Media. Xem lại những hình ảnh CPA San Jose với 2 ngàn 500 khán giả đứng lên cùng hát với 250 diễn viên tài từ trên sân khấu, ai cũng phải xúc động. Còn đâu 3 ông tướng phất cờ cùng các chiến binh bao năm lang thang đất lạ. Hình ảnh các bà các cô Kiều Chinh, Khúc Minh Thơ đứng cạnh bà Võ đại Tôn và rất nhiều tên tuổi khác để hát bài ca bất hủ Cô Gái Việt. Sau cung sẽ không quên được các DVD ghi lại dấu ấn cuối cùng của các anh hùng tuẫn tiết 30 tháng tư. Anh Nam đã tả cái chết của tướng Nguyễn Khoa Nam ra sao. Ông tướng tư lệnh sông nước Cửu Long đã tự hỏi Đi làm gì rồi đành đoạn ra đi lối khác với phát súng tự vẫn vào sáng 1 tháng 5-1975. Câu chuyện tuyệt vời của Phạm Phú Nam trên DVD. Phạm Phú Nam đã để lại cho đời sau lời nói và kỷ niệm của biết bao chiến sĩ anh hùng, dù họ là Quân là Dân hay là Chính. Quân Dân Chính.

Mới đây Nam có hỏi tôi là cháu có Thiện Tâm không. Tôi trả lời không ngần ngại. Có đấy. Người thiện tâm là người biết tất cả những đòn phép xấu xa nhưng không làm.Nếu không biết thì không thành chuyện. Biết Bá đạo mà không làm thì mới là người tử tế. Vào chốn giang hồ mà làm người tử tế cũng vất vả lắm. Không học mà làm được là Phạm Phú Nam. Biết thiên hạ sự nhưng không quan tâm, đó là Phạm Phú Nam. Khi tôi chê trách chuyện thiên hạ chỉ có một người bào chữa. Chính là Phạm Phú Nam. Rồi ra năm cùng tháng tận cũng chẳng còn. Tôi cố đi tìm nhưng sẽ không có một Phạm Phú Nam thứ hai. Sinh hữu hạn, tử bất kỳ. Thôi chẳng đi tìm nữa. Cầu nguyện cho phép lạ.                      

Vạt nắng bên thềm chưa vội tắt, mà lời tạm biệt đã lên đường…

Giao Chi San Jose.   giaochi12@gmail.com  (408) 316 8393




MỪNG ĐẠI THỌ NHÀ VĂN GIAO CHỈ SAN JOSE – Cố Vấn VTLV & Mừng Ngày Ra Mắt Tân Ban Điều Hành Của Viet Museum, San Jose, CA

Mừng Thượng Thọ Và Tân BĐH Viện Bảo Tàng Việt!

Chúc Mừng Thượng Thọ!

Văn Thơ Lạc Việt nhận được 2 Tin Vui liên tiếp:

Trước nhất, Niên Trưởng, Nhà Văn Giao Chỉ, Vũ Văn Lộc, cũng là Cố Vấn (số một) của VTLV.

Vừa thông báo: Một Buổi Sinh Hoạt đặc biệt, để mừng Ông, Hưởng Đại Thọ 90 Tuổi!

Lúc 2 giờ chiều Thứ Bảy, ngày 13 tháng 3 năm 2022. Tại Viện Bảo Tàng Việt. (Khách mời giới hạn)

Nhân dịp này, VTLV Xin Kính Chúc Nhà Văn Giao Chỉ Vũ Văn Lộc: Sức Khỏe Dồi Dào, Phúc Lộc An Khang, Sống Lâu Trăm Tuổi, Hăng Say Sáng Tác và Mọi Điều Như Ý.

Chúc Mừng Ban Tân Điều Hành Việt Museum.

Cũng nhân dịp này, Ông sẽ giới thiệu một Ban Điều Hành mới của Việt Museum gồm có:

-Anh Cao Hồng, Giám Đốc Điều Hành.

-Chị Hoàng Mộng Thu, Quản Trị và Tổ Chức.

VTLV, cũng xin Kính Chúc “Nhị Vị,” có nhiều Sức Khỏe, Mạnh Tiến phụng sự và đạt được mọi điều Thành Công như ý.

Chân Thành Kính Chúc!

Lê Văn Hải

Thông báo đặc biệt của Việt Museum

Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân và Việt Nam Cộng Hòa xin hân hạnh thông báo quý vị đồng hương xa gần 

Thứ bảy vào lúc 2 giờ chiều ngày 12 March 2022 tại Việt Museum sẽ có các chương trình sau đây: 

1)Giới thiệu đặc biệt tổng cộng 200 di sản và tác phẩm sáng tác, sưu tầm trong 30 năm qua.                                        2) Ghi dấu ngày nhận lãnh tòa nhà lịch sử trong khu San Jose History 14 tháng 3-2006 tức là 16 năm trước.                3) Giới thiệu các thành viên kế tiếp tình nguyện đảm trách các chức vụ tổ chức và điều hợp tương lai của Museum.  

Đôi lời thưa trước của Vũ văn Lộc giám đốc sáng lập Viet Museum

            Chuyện này trước sau rồi cũng đến ngày.

Tôi sinh ngày 4 tháng 5-1933 và năm nay 89 tuổi Tây có thể coi như 90 tuổi Ta. Trước sau cũng sẽ từ giã anh chị em. Tuy hiện nay vẫn còn trách nhiệm cơ quan IRCC nhưng rất cần quý vị chia xẻ gánh nặng quan trọng là Việt Museum. Ngoài ra tôi hết sức hãnh diện đã xây dựng một một Viện bảo tàng đầu tiên và duy nhất nên muốn khoe với bằng hữu. Xin mời trực tiếp các bạn tại địa phương, đặc biệt các ân nhân đã yểm trợ tinh thần và tài chánh cho chúng tôi trên 40 năm qua. Xin gửi các bạn bốn phương xa gần để thông báo

Viện bảo tàng khởi sự tại khu văn phòng IRCC trên đường San Carlos đầu thập niên 1990 cùng với dự án Công Viên Văn Hóa và Lễ dựng Kỳ đài. Đã khánh thành Kỳ đài đầu tiên tại Mỹ với 4 ngàn người tham dự nhưng sau 10 năm âm thầm đóng cửa vì city lấy lại đất và di chuyển công trình đi chỗ khác.                                       

Nhưng rất may chúng tôi đã nhận được khu nhà và đất trong San Jose History vào ngày 14 tháng 3-2006. Thời gian xây dựng Viet Museum hoàn tất giai đoạn đầu là 16 năm. Vì quản ngại tuổi già sức yếu nên từ 6 năm qua có ý tìm người tình nguyên nhận lãnh nhiệm vụ. Cần người có khả năng, nhiệt tâm, hy sinh và không vụ lợi.

Sau cùng tìm được 2 vị tình nguyện đã nhận công việc chính thức từ ngày 20 tháng 2 năm 2022. Ông Cao Hồng sẽ là giám đốc điều hành và cô Hoàng Mộng Thu sẽ là thành viên quản trị trách nhiệm về tổ chức. 

Thứ bảy vào lúc 2 giờ chiều ngày 12 March 2022 chúng tôi sẽ mời quý vị đồng hương và bằng hữu đến Việt Museum để được hân hạnh giới thiệu với quý vị theo chương trình kể trên. Nếu đến được xin vui lòng cho biết.   

Vào cổng chính góc Phelan và Senter. Đi bộ một đoạn ngắn quẹo trái vào Museum. 

Đi cổng sau ngay cạnh Museum.  Xin vào Parking cạnh vườn Nhật phải trả tiền.  

Trân trọng kính mời .

Vũ Văn Lộc. Giám đốc IRCC, San Jose.–

Giao Chi San Jose.   giaochi12@gmail.com  (408) 316 8393




GIAO CHỈ San Jose: Tổng Thống Hoa Kỳ và Tỵ Nạn Việt Nam

Tổng thống Hoa Kỳ và tỵ nạn Việt Nam

·         Giao Chỉ San Jose

·          

Nhân ngày quốc lễ President’s Day xin ghi lại mối liên hệ Hoa Kỳ Việt Nam từ tổng thống thứ 34 vào năm 1953

 Vài nét về cộng đồng Việt tại Mỹ qua 11 đời tổng thống.

Trước năm 1975 kiều dân Việt tại Mỹ chỉ có 15 ngàn. Cuộc di tản tháng 4-75 đem vào Mỹ 150 ngàn và sau đây là con số mỗi kỳ kiểm kể từng thập niên. 1980 có 250 ngàn,1990 có 600 ngàn, năm 2000 có 1 triệu và 100 ngàn. Năm 2010 có 1 triệu và 700 ngàn. Năm sau cùng hiện nay 2020 có 2 triệu và 200 ngàn. Con số này chưa được là 1% dân số Hoa Kỳ nhưng lại là một thành phần rất quan trọng so với dân số tại Việt Nam về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Tìm hiểu thêm với một vài chi tiết so sánh với dân Mỹ cũng có nhiều điều lý thú. Lợi tức trung bình của một gia đình Việt có 20 ngàn 1 năm với nhân khấu là 3.8 gần 4 người một nhà. Gia đình Mỹ tính chung có 26 ngàn 1 năm với 3.2 tức là hơn 3 người trong 1 nhà. Người Việt chưa tốt nghiệp trung học là 26% người Mỹ là 15%. Nói chung trình độ học thức người Việt thấp, nhưng tuổi trẻ Việt Nam tốt nghiệp đại học lên đến19% trong khi Mỹ chỉ có 17%. Tuổi trung bình của Mỹ là 36 nhưng Việt Nam có 34.  Thành phần cao niên của Hoa Kỳ trên 70 tuổi lên đến 6% trong khi Việt Nam chỉ có 3%. Nước Mỹ hiện có 1 triệu 100 ngàn dân ở lậu. Trong số này Việt Nam cũng có 160 ngàn dân lậu. Các con số thống kê này cho chúng ta nhiều điều đáng lưu ý.

Tổng kết về các tổng thống Hoa Kỳ                                                  Hơn nửa thế kỷ vừa qua 9 vị tổng thống Mỹ, từ Eisenhower đến Obama đều là ân nhân của người Việt và di dân gốc Việt. Trong chiến tranh với 58 ngàn chiến binh Hoa Kỳ hy sinh và 300 ngàn thương binh, các vị tổng thống đều quyết tâm nhưng không vượt qua đươc hoàn cảnh. Sau chiến tranh nước Mỹ đã thực sự chào đón tỵ nạn. Chúng ta không bao giờ quên được tấm lòng hào hiệp của người dân Hoa Kỳ.

Trải qua 5 đời tổng thống Hoa Kỳ thời hậu chiến dù là Cộng Hòa hay Dân Chủ di dân Việt Nam luôn luôn được chào đón và trở thành con số vào Mỹ cao nhất cuối thế kỷ 20.

 Chúng ta có thể quản ngại cho tương lai. Nhưng cũng ghi nhận sự vui mừng đã đạt được con số người Việt đáng kể tại Hoa Kỳ để làm thành một cộng đồng vững mạnh. Nếu Hoa Kỳ không tham dự vào Việt Nam từ 1954, dân Việt miền Nam không có được 2 thập niên tự do dân chủ. Nếu tổng thống, chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ không chủ trương bao dung với di dân, chúng ta không có mặt tại Mỹ. 

Giao Chỉ, San Jose

Sơ lược tổng quát34-Dwight_D._Eisenhower,_ .jpg35 -John_F._Kennedy, _portrait.jpg36_Lyndon_Johnson_3x4.jpg37-Richard_Nixon_ ait_(1).jpg38-Gerald_Ford_ _ .jpg

Eisenhower 34,CH     Kennedy 35 DC       Johnson 36 DC          Nixon 37 CH           Ford 38 CH   

Bắt đầu từ 1954 với tổng thống thứ 34 là ông Eisenhower, Việt Nam mới có cơ hội đóng vai trò trong lịch sử Hiệp Chủng Quốc. Vào cuối thập niên 50, trong chuyến đi Mỹ, chúng tôi thấy hình ảnh ông Eisenhower đón chào tổng thống Ngô Đình Diệm và ca ngợi vị nguyên thủ Việt Nam là vĩ nhân của Đông Nam Á. Chẳng bao lâu sau đó, vị tổng thống thứ 35 của Hoa Kỳ là ông Kennedy đã gián tiếp trách nhiệm về cuộc đảo chánh và việc hạ sát anh em ông Diệm năm 1963 tại Sài Gòn. Ông Kennedy tuy giải tỏa được một chế độ cản đường nhưng cũng rất ân hận về cái chết của ông Diệm. Cả hai ông Ngô Đình Diệm và Kennedy đều là Thiên Chúa Giáo. Nhưng niềm ân hận cũng không lâu, chỉ sau một thời gian ngắn đến lượt ông Kennedy bị ám sát chết tại Dallas, Texas. Cái chết của cả hai vị tổng thống vẫn còn nhiều bí ẩn cho đến ngày nay. Ông Johnson lên thay trong vai trò tổng thống thứ 36 với gánh nặng chiến tranh Việt Nam. Ông là người quyết tâm chiến thắng nhưng vẫn không thành công và để gánh nặng cho ông Nixon với chiêu bài Việt Nam hóa chiến tranh, rút quân về bằng mọi giá. Năm 1974, Nixon, vị tổng thống thứ 37 vì Watergate phải từ chức. Ông Gerald Ford thứ 38 lên thay, thể theo lòng dân và quốc hội, quay lưng cuộc chiến tranh Việt Nam. Từ nay đối với Hoa Kỳ, Việt Nam chỉ còn là vấn đề nhân đạo. Với 5 vị tổng thống can dự vào chiến tranh Việt Nam, bắt đầu từ Eisenhower, Kennedy, Johnson, Nixon và Ford, người Mỹ gọi đây là The War of the Presidents. Ý nói là cuộc chiến riêng tư của các vị tổng thống, không can dự gì vào nước Mỹ và dân Mỹ. Làn sóng chống chiến tranh của dân Mỹ dâng cao với các cuộc xuống đường hàng triệu người. Bây giờ sống tại đây chúng ta mới có thể hiểu được là lòng dân của Mỹ quốc thực sự ảnh hưởng đến chính quyền ra sao. Không cần đúng hay sai, không cần giữ lời cam kết. Đối với dân chúng Hoa Kỳ, lòng kiên nhẫn và sự chịu đựng, hy sinh có giới hạn. Đánh không xong thì rút, sống chết mặc bay. Từ các quan niệm đó, định mệnh đưa chúng ta đến Hoa Kỳ. Sau đây là phần chi tiết.

Người Mỹ tại Việt Nam

1) Eisenhower,34 Chính sách ngăn chặn (1953-1961)

Sau cuộc vây hãm kéo dài 56 ngày, đầu năm 1954, Pháp đã phải chịu thất bại tại Điện Biên Phủ. Kết quả là Hiệp định Geneve 1954 chia Việt Nam làm hai phần ở vĩ tuyến 17. Hoa Kỳ bác bỏ hiệp định Geneve và giúp đỡ một chính quyền quốc gia ở Nam Việt Nam vào tháng 6 năm 1954. Ngô Đình Diệm, một người Công giáo chống Cộng từng sống ở Mỹ, đã trở lại Việt Nam với vai trò thủ tướng và năm sau lên làm tổng thống của một nước miền Nam Việt Nam độc lập. Hiệp định Geneve trở thành bàn khai sinh của Việt nam Cộng Hòa.

Khi những binh lính Pháp cuối cùng ra đi vào tháng 3 năm 1956, Mỹ đã thay thế, và Nam Việt Nam trở thành tiền tuyến trong cuộc chiến nhằm ngăn chặn chủ nghĩa Cộng sản tại Đông Nam Á. Chính quyền Eisenhower đã phải gửi 200 triệu đôla viện trợ một năm và 675 cố vấn quân sự đầu tiên. Tổng thống Eisenhower vốn là anh hùng nước Mỹ sau đệ nhị thế chiến trải qua 2 nhiệm kỳ từ 1953 đến 1961. Ông đón tiếp long trọng tổng thống Việt Nam thăm Hoa Kỳ năm 1957 và ca tụng ông Diệm là vĩ nhân châu Á.

2) Kennedy, 35 vấn đề nan giải.(1961-1963)

Khi Kennedy trở thành tổng thống, ông thừa kế di sản Việt Nam từ Eisenhower. Nhưng điều thực sự lôi cuốn ông là cơ hội để thử nghiệm học thuyết chống chiến tranh du kích cùng với chiến lược quân sự đáp trả linh hoạt.

Đến năm 1961, cộng sản Bắc Việt đã thành lập tại miền Nam một phong trào nổi dậy với cái tên Mặt trận giải phóng dân tộc (NLF). Trong một buổi phỏng vấn của đài CBS, Kennedy đã nhận định rằng tùy thuộc vào người Nam Việt Nam mà “Cuộc chiến của họ” sẽ thắng hay bại. Trong khi đó tình hình miền Nam ngày càng xấu. Nông thôn mất an ninh, cường độ chiến tranh gia tăng. Tại thành thị dân chúng và Phật giáo chống chính phủ. Vào thời điểm đó, đã có khoảng 16.000 “cố vấn” Mỹ tại Việt Nam. Mất kiên nhẫn với ông Diệm, Kennedy cho Sài Gòn biết rằng Mỹ sẽ ủng hộ một cuộc đảo chính quân sự. Vào 1/11/1963, chính quyền Diệm bị lật đổ và tổng thống Việt Nam bị giết chết, một kết cục mà Kennedy đã không đoán trước được. Nhưng ông phải chịu trách nhiệm về cái chết của nhà lãnh đạo mà tổng thống Eisenhower gọi là vĩ nhân châu Á. Ba tuần sau, chính ông Kennedy cũng bị ám sát chết.

3) Lyndon Johnson, 36 Quyết tâm sa lầy, (1963-1969)

Giống như Kennedy nhận lãnh Việt Nam từ Eisenhower, Lyndon Johnson cũng thừa hưởng Việt Nam từ Kennedy. Tuy nhiên di sản mà Johnson nhận được phiền toái hơn, bởi đến lúc này một cuộc can thiệp qui mô lớn của Mỹ mới có thể ngăn chặn sự sụp đổ của Nam Việt Nam. Johnson thề trong buổi nhậm chức,“Tôi sẽ không để mất Việt Nam”, Sau đó chiến tranh Việt Nam thực sự nằm trong quyết tâm của ông. Trong mùa hè 1964, Johnson nhận được báo cáo về những tàu ngư lôi của Bắc Việt Nam đã tấn công khu trục Maddox. Trong cuộc tấn công đầu tiên, vào ngày 2 tháng 8, tổn thất chỉ giới hạn ở một lỗ đạn; cuộc tấn công thứ hai, vào ngày 4 tháng 8, sau đó được chứng minh là nhầm lẫn của radar. Điều đó không quan trọng. Trong tình trạng khẩn cấp của quốc gia, dù có thực hay tưởng tượng, lời kêu gọi vũ trang của tổng thống khó có thể cưỡng lại. Trong cả Quốc hội, chỉ có hai thượng nghị sĩ bỏ phiếu chống. Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ đã ủy thác cho Johnson quyền được mở các chiến dịch ở Việt Nam. Với cuộc bầu cử năm 1964 đã gần sau lưng, Johnson bắt đầu một chương trình để người Mỹ trực tiếp đảm nhiệm cuộc chiến ở Việt Nam. Chến tranh leo thang, bắt đầu từ đầu năm 1965, bao gồm 2 hình thái: Gia tăng bộ binh Mỹ và đẩy mạnh đánh bom miền Bắc. Ngày 8/3/1965, những người lính thủy quân lục chiến đầu tiên đã đặt chân lên bờ biển Đà Nẵng, bề ngoài là để bảo vệ căn cứ không quân ở đây. Nhưng họ sớm phải chạm trán với kẻ thù. Năm 1966, hơn 380.000 lính Mỹ đã đóng quân ở Việt Nam; năm 1967, 485.000 quân; và 1968 là 536.000. Mỹ tiến hành chiến dịch có tên Rolling Thunder, leo thang đánh bom Bắc Việt Nam. Mục tiêu đặc biệt là Đường mòn Hồ Chí Minh, một mạng lưới tinh vi bao gồm đường mòn, cầu, và nơi trú ẩn trải dài từ Bắc Việt Nam qua Campuchia và Lào đến Nam Việt Nam. Đến năm 1968, một triệu tấn bom đã trút xuống Bắc Việt Nam.

Johnson có lí do để tự tin về người dân Mỹ. Sự đồng thuận rộng rãi vững vàng được hình thành từ những năm trước đó là điều kiện thuận lợi để Washington tiến hành cuộc chiến. Cả Đảng Dân Chủ và Cộng Hòa đều chấp thuận cho Johnson leo thang chiến tranh ở Việt Nam, và điều tương tự đối với những cuộc khảo sát ý kiến công chúng trong năm 1965 và 1966. Nhưng sau đó quan điểm bắt đầu thay đổi.

Mỗi buổi tối người Mỹ lại thấy trên truyền hình cảnh tàn sát của cuộc chiến và những người Mỹ thương vong. Những phóng viên bắt đầu viết về một “Sự khủng hoảng lòng tin “

Nhưng kinh tế đặt ra cho Johnson nhiều vấn đề hơn. Chiến tranh Việt Nam tiêu tốn 27 tỉ đô-la vào năm 1967, đẩy thâm hụt ngân sách từ 9,8 tỉ đô-la lên 23 tỉ đô-la. Chi tiêu quân sự đã thúc tỉ lệ lạm phát lên cao. Chỉ trong mùa hè năm 1967, Johnson đã yêu cầu đánh thêm 10% thuế thu nhập. Cho đến lúc đó, vòng xoáy lạm phát sẽ gây họa cho nền kinh tế Mỹ trong suốt thập niên 1970 đang đến rất gần.

Phong trào phản chiến :Trong hoàn cảnh đó phong trào phản chiến bắt đầu hình thành. Hạt nhân của nó, cùng với những nhóm ủng hộ hòa bình lâu năm, là một thế hệ mới những nhà hoạt động hòa bình như SANE, nhóm đã biểu tình chống thử vũ khí hạt nhân vào những năm 1950. Phong trào phản chiến nhanh chóng có khả năng tạo ra những cuộc biểu tình lớn ở Washington, đem đến 20-30 ngàn người một lúc. Mặc dù bao gồm nhiều thành phần đa dạng, tất cả những người theo phong trào đều chia sẻ một mối hoài nghi về chính sách của Mỹ ở Việt Nam. Tổng thống Johnson năm 1965 đã hy vọng vào một chiến thắng chớp nhoáng ở Việt Nam, trước khi cái giá chính trị của việc leo thang đến hạn. Nhưng đã không có chiến thắng nhanh chóng. Các lực lượng của Bắc Việt Nam và Việt Cộng đồng loạt tấn công, chính quyền Nam Việt Nam mất đất, và thương vong của Mỹ tăng lên. Vào đầu năm 1968, tỉ lệ tử vong đã chạm đến mức vài trăm người một tuần. Johnson và các tướng lĩnh của ông vẫn khăng khăng cho rằng có “ánh sáng ở cuối đường hầm”. Thực tế trên chiến trường đã cho thấy điều ngược lại.

Vào 30/1/1968, Việt Cộng mở một cuộc tấn công lớn ở Nam Việt Nam. Thời điểm trùng với Tết, kỳ nghỉ đón năm mới của người Việt, cuộc tấn công đánh vào 36 thủ phủ của các tỉnh và 5 trong số 6 thành phố lớn, bao gồm Sài Gòn, nơi Việt Cộng đã gần như lọt vào Sứ quán Mỹ vốn được cho là không thể đánh chiếm được. Về mặt quân sự, cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân là một thất bại, với con số thương vong nặng nề của Việt Cộng. Nhưng về mặt tinh thần, hậu quả là rất lớn. Truyền hình đã đem đến tận nhà người Mỹ những hình ảnh gây sốc.

Đến cuối một bài phát biểu truyền hình vào ngày 31/3, Johnson đã làm cả nước sửng sốt khi tuyên bố ông sẽ không tái ứng cử. Ông cũng kêu gọi tạm ngưng một phần chiến dịch đánh bom và hứa sẽ dùng những tháng trong nhiệm kỳ còn lại để tìm kiếm hòa bình. Vào 10/5/1968, Hoa Kỳ và Bắc Việt Nam bắt đầu vòng đàm phán hòa bình sơ bộ tại Paris.
4) Cuộc chiến của Nixon 37 (1969-1974) Chiến lược Hòa hoãn.

Khái niệm thế giới hai phe, vốn đã trở nên lỗi thời từ thời của Lyndon Johnson, lại càng bị chối bỏ khi Richard Nixon sử dụng sách lược hòa hoãn. Nhưng khi đối diện với cuộc chiến ởViệt Nam, Nixon thừa hưởng di sản mà Johnson để lại. Từ bỏ Việt Nam, theo Nixon, sẽ hủy hoại “uy tín” của nước Mỹ và khiến cho cường quốc này có vẻ giống như một “Người khổng lồ chân đất sét”. Và cũng giống như Johnson, Nixon có những toan tính riêng cho bản thân mình. Ông không được phép trở thành vị tổng thống đầu tiên để thua một cuộc chiến. Nixon muốn hòa bình, nhưng phải là “Hòa bình trong danh dự”.

Để làm dịu chỉ trích trong nước, ông bắt đầu giao việc chiến đấu cho những người lính Việt Nam Cộng Hòa. Với chính sách mới có tên “Việt Nam hóa chiến tranh”, số lượng lính Mỹ giảm xuống từ 543.000 năm 1968 xuống còn 334.000 năm 1971 và chỉ còn 24.000 vào đầu năm 1973. Tỉ lệ thương vong cũng như uy tín chính trị của họ cũng giảm theo. Nhưng cuộc giết chóc ở Việt Nam vẫn tiếp tục. Như lời đại sứ Mỹ tại Việt Nam, Ellsworth Bunker, đã nói một cách mỉa mai, đó chỉ là vấn đề thay đổi “Màu da của những xác chết”.

Vào tháng tư năm 1972, khi cuộc chiến trở nên khốc liệt, Nixon đã ra lệnh cho B-52 không kích miền Bắc Việt Nam. Một tháng sau đó, ông đồng ý cho gài mìn những bến cảng Bắc Việt, điều mà Johnson đã không bao giờ dám làm. Nixon có thể rảnh tay như thế là bởi, theo tinh thần hòa hoãn, Trung Quốc không còn đe dọa can thiệp nữa. Phía Nga, Brezhnev cũng làm ngơ khi chào đón Nixon vào tháng năm1972, thời điểm cao trào của những cuộc không kích B-52. Việt Cộng có thể cảm thấy bị cô lập, nhưng viện trợ từ Trung Quốc và Liên Xô vẫn tiếp tục đổ vào, và du kích Cộng sản vẫn tiếp tục chiến đấu.

Ở trong nước, cuộc chiến của Nixon đã trở thành gánh nặng. Chẳng những không suy giảm mà phong trào phản chiến ngày càng rầm rộ. Tháng 11 năm 1969, nửa triệu người đã biểu tình ở Washington. Ngày 30/4/1970, trong chiến dịch ném bom bí mật những tuyến đường vận chuyển khí giới của Việt Minh ở nước Campuchia trung lập, binh lính Mỹ đã xâm nhập để tiêu diệt những cơ sở địch ở đó. Khi tin tức về việc đổ bộ vào Campuchia được loan ra, những trường đại học Mỹ như nổ tung vì căm giận, và lần đầu tiên, có sinh viên bị chết. 4/5/1970, tại trường đại học Kent State ở Ohio, lực lượng cảnh vệ quốc gia đã nổ súng vào đoàn người biểu tình, giết chết bốn sinh viên và làm bị thương mười một người. Tại trường đại học Jackson State ở Mississippi, lực lượng cảnh vệ đã tấn công vào một ký túc xá, giết chết hai sinh viên da đen. Hơn 450 trường đại học đã đóng cửa để phản đối. Trên khắp đất nước, khóa học mùa xuân đã bị hủy bỏ.

Bất chấp tất cả, Nixon vẫn bền chí, phê phán kịch liệt những sinh viên biểu tình và tổ chức một cuộc biểu tình phản đối. Mũ bảo hộ lao động đã trở thành một biểu tượng yêu nước sau khi những công nhân xây dựng New York đánh bại những người biểu tình trong một cuộc biểu tình hòa bình vào tháng 5/1970. Dần dần, chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” khiến phong trào phản chiến đi xuống. Khi nhân lực trong quân đội cần được cắt giảm, chế độ quân dịch cũng bị cắt bớt, làm xẹp đi lòng nhiệt tình của nhiều sinh viên phản chiến. Cuối cùng, Nixon đã đẩy lui được những chỉ trích. Nhưng cái mà ông không đẩy lui được là công sản Bắc Việt Nam.

Khi cuộc bầu cử năm 1972 đang cận kề, Nixon đã gửi Henry Kissinger đến mở cuộc đối thoại hòa bình ở Paris. Ở đây Kissinger đã có một nhượng bộ quan trọng khi chấp nhận sự xuất hiện của binh lính Bắc Việt ở lại miền Nam. Với lời tuyên bố của Kissinger: “Hòa bình trong tầm tay”, Nixon đã có thêm số phiếu mà ông muốn, nhưng thỏa thuận đã bị phá bỏ bởi ông Nguyễn Văn Thiệu, tổng thống Nam Việt Nam. Bởi vậy Nixon, trong cuộc đổ máu cuối cùng, đã ra lệnh hai tuần “Ném bom giáng sinh”, sự kiện tàn khốc nhất trong cả cuộc chiến. Kết quả 27/1/1973, hai bên thỏa thuận hòa bình Paris, tái thỏa thuận việc ngừng bắn đã  bàn tháng mười năm trước. Nixon hi vọng rằng với sự viện trợ ồ ạt của Mỹ, chính quyền Thiệu có thể tồn tại. Nhưng Quốc hội đã từ chối cho phép ném bom Campuchia sau 15/8/1973, và từ từ cắt viện trợ  Nam Việt Nam. Tiếp theo ông Nixon bị truất phế vì Watergate 1974. Tháng ba năm 1975, các lực lượng Bắc Việt Nam đã phát động cuộc tấn công và Sài Gòn thất thủ. Liệu kết thúc như vậy có đáng buồn không?. Đúng, dĩ nhiên, đối với những người bạn Việt Nam của Hoa Kỳ, những người đã mất đi việc làm và tài sản, phải mất nhiều năm trong những trại cải tạo, hoặc phải rời khỏi quê hương. Đúng, đối với nước láng giềng Campuchia, nơi bọn Khơme đỏ điên cuồng lên nắm quyền, tàn sát 1,7 triệu người và đưa đất nước gần như quay trở về thời kì đồ đá. Đối với nước Mỹ, đúng, bởi sự lãng phí sinh mạng (58.000 người chết, 300.000 người bị thương), 150 tỉ đô-la, những vết thương bên trong lâu lành, và sự tự tin bị đánh mất đối với những nhà lãnh đạo nước Hoa Kỳ.
Ghi chú. Các tài liệu về tổng thống Mỹ trong chiến tranh Việt Nam được lấy từ phần Việt Ngữ của tự điển điện toán Wikipedia
Nhận định riêng.
Điều thực sự quan trọng là, trước khi bỏ rơi Nam Việt Nam, các vị tổng thống Hoa Kỳ đã thực sự muốn hoàn thành sứ mạng bảo vệ Việt Nam.. Johnson quyết tâm chiến thắng. Nixon muốn có hòa bình trong danh dự. Nhưng họ không vượt qua được hoàn cảnh. Chính vì những lý do đó, người Mỹ đã mở vòng tay đón tỵ nạn Việt Nam trong hơn 40 năm qua. Đồng thời tìm cách trở lại Việt Nam để trực tiếp gặp người dân của nước cựu thù. Nước Mỹ tìm cách chinh phục lòng người, vận động đồng minh bằng vòng tay mở rộng thay vì B52 hay bom đạn chiến tranh..
Sau đây là giai đoạn hậu chiến với các chương trình di dân và hình thành cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ.
Tổng thống Cộng Hòa 38 Ford. (1974-1977)
Trong phiên họp cuối cùng quốc hội Hoa Kỳ bàn về viện trợ cho miền Nam. Tổng thống Ford thông báo tài khóa 1973 đã dành cho VNCH 2 tỷ 8 trăm triệu. Tài khóa 1974 chỉ xin 700 triệu nhưng không được chấp thuận. Kịp đến đầu năm 1975 xin 300 triệu cũng bị từ chối. Quốc hội quyết định không cho 1 xu nhưng tuyên bố sẽ dành cho ngân khoản tối đa để đón người ty nạn. Ông Ford lên thay Nixon làm tổng thống thứ 38 chỉ còn công việc cuối dành cho VNCH là đến San Francisco đón đứa bé mồ côi Việt Nam chụp hình cho báo chí phổ biến. Với 3 năm sau cùng, vị tổng thống Cộng Hòa đã hoàn tất việc định cư cho 150 ngàn người di tản Việt đầu tiên đến Mỹ.39-JimmyCarter 2.jpg40- _President_Reagan_1981.jpg41-George_H._W._Bush_ ).jpg42-px-Bill_Clinton.jpg43- George-W-Bush.jpeg

 (Carter 39 DC)         (Reagan 40 CH)    (Bush Cha 41 CH)      (Clinton 42 DC)      (Bush Con 43 CH)

Tổng thống Dân Chủ 39, Jimmy Carter. (1977-1981)

Ngay khi chiến tranh chấm dứt, ông đã cử phái đoàn đến Hà Nội ngỏ ý muốn giúp kẻ thù cũ xây dựng đất nước. Việt Cộng đã ngạo mạn bỏ qua một cơ hội bằng vàng. Sau đó đã kéo lùi đất nước lại hơn 30 năm từ khi chiến thắng 75 đến 85 mới tỉnh ngộ. Trong một nhiệm kỳ ngắn ngủi 4 năm ông đã trở thành vị ân nhân số một mang danh hiệu tổng thống của thuyền nhân Việt Nam.Tại Hoa Kỳ, tổng thống Carter đã mở đầu chính sách ODP từ 1979 và cho lệnh vớt thuyền nhân trên biển Đông. Năm 1980 kiểm kê dân số lần đầu tiên dưới thời kỳ Carter người Việt đạt được trên 260 ngàn. Cũng trong triều đại Carter bộ luật về Ty Nạn được ban hành 1980 với danh hiệu Refugee Act.

Tổng thống Cộng Hòa 40, Reagan (1981-1989)

Không thể quên được hình ảnh tổng thống Reagan ký tài liệu mở đường cho chương trình nhận tù chính trị và gia đình định cư tại Mỹ và tiếp theo là chương trình con lai. Kiểm kê dân số 1990 với thời kỳ Reagan kết quả gia tăng và người Việt đạt được 600 ngàn. Trong số này có nhiều thuyền nhân từ các trại ty nạn Đông Nam Á.

Tổng Thống Cộng Hòa 41, Bush Cha (1989-1993)

Chương trình ODP, con lai và thuyền nhân tỵ nạn tiếp tục được nhận vào Hoa Kỳ. Có thể nói trong 4 năm ngắn ngủi của ông Bush Cha là giai đoạn thuyền nhân đến Mỹ nhiều nhất.

Tổng Thống Dân Chủ 42 Clinton. (1993-2001)

Thời kỳ 8 năm của ông Clinton con số ODP rất cao và số thuyền nhân xuống thấp vì các trại ty nạn đóng cửa năm 1995. Tuy nhiên tổng số dân ty nạn Việt Nam ghi lại trong kỳ kiểm kê 2000 đã lên gần gấp đôi là 1 triệu và 100 ngàn. Đặc biệt tổng thống Clinton đến thăm Việt Nam lần đầu tiên năm 2000 đã đem luồng gió tự do, dân chủ đến trực tiếp với dân Việt cả hai miền Nam Bắc. Một hiện tượng lịch sử có rất nhiều ý nghĩa.

Tổng Thống Cộng Hòa 43. Ông Bush Con (2001-2009)

Thuyền nhân không còn trực tiếp đến Mỹ nhưng các diện đoàn tụ, con lai và HO vẫn tiếp tục. Tổng thống Bush con cũng đến Việt Nam và đem lại rất nhiều ý nghĩa đặc biệt . Đồng thời kỳ kiểm kê dân số năm 2010 người Việt tại Mỹ gia tăng lên con số 1 triệu và 500 ngàn.44- Barack_Obama.jpg45-Donald_Trump_ .jpg46-Joe_Biden_ t.jpg

Obama 44 DC      Trump 45 CH          Biden 46 DC

Tổng thống Dân Chủ 44 ông Obama. (2009-2017)

Trải qua 8 năm cầm quyền, hồ sơ đoàn tụ ODP và nhiều hình thức khác vẫn tiếp diễn. Thêm vào đó người Việt qua Mỹ theo diện kết hôn gia tăng đáng kể . Tính đến cuối năm 2016 dân số gốc Việt tại Hoa Kỳ vào khoảng 1 triệu 800 ngàn người. Đạt được rất nhiều thành quả đáng kể. Thế hệ thứ hai và thứ ba Việt Nam trở thành dân cử, các tướng lãnh, các chuyên gia và các công dân Hoa Kỳ gốc Việt gương mẫu. Chuyến thăm viếng Việt Nam của tổng thống Obama được coi là một thành quả ngoại giao vô cùng khích lệ không phải đối với chính quyền mà là trực tiếp đối với dân chúng Việt Nam, đặc biệt là giới trẻ.

 Tổng Thống Cộng Hòa 45 Trump (2017-2020)

Năm 2017 Hoa Kỳ có vị tổng thống mới. Một hiện tượng đặc biệt. Một đường lối khác biệt. Ông Trump có những suy nghĩ và hành động khác biệt hoàn toàn với tất cả các vị tổng thống tiền nhiệm dù Cộng Hòa hay Dân Chú Ông công khai bày tỏ ý kiến là việc Hoa Kỳ tham chiến ở Việt Nam là một sai lầm. Với chủ trương hạn chế di dân thêm vào đó lại gặp nạn dịch Covid nên cộng động Việt Nam chia xẻ những khó khăn với nhân dân Hoa Kỳ trong vấn nạn chung của đất nước. Vị tổng thống 45 cũng không quan tâm đến đề tài nhân quyền nên các nhà đấu tranh tại Việt Nam đã gặp rất nhiều khó khăn và thêm nhiều tù nhân của lương tâm bị tù đầy. Dưới triều đại của tổng thống Trump sự chia rẽ trầm trọng giữa 2 chính đảng Hoa Kỳ cũng đã tạo ảnh hưởng rất nhiều trong cộng đồng Việt Nam

Tổng thống Dân Chủ 46 Joe Biden. Ông mới lên nhận chức vụ được 1 năm chủ trương gần như hoàn toàn đối lập với đường lối của tổng thống Cộng Hòa tiền nhiệm. Trong hoàn cảnh rất khó khăn về kinh tế, lạm pháp và việc chia rẽ ngày càng trầm trọng giữa 2 chính đáng. Chưa có nhiều dữ kiện để nhận định cho tương lai.

 Vài nét về cộng đồng Việt tại Mỹ

Trước năm 1975 kiều dân Việt tại Mỹ chỉ có 15 ngàn. Cuộc di tản tháng 4-75 đem vào Mỹ 150 ngàn và sau đây là con số mỗi kỳ kiểm kể từng thập niên. 80 có 250 ngàn,90 có 600 ngàn, năm 2000 có 1 triệu và 100 ngàn. Năm 2010 có 1 triệu và 700 ngàn. Năm sau cùng hiện nay 2020 có 2 triệu và 200 ngàn. Con số này chưa được là 1% dân số Hoa Kỳ nhưng lại là một thành phần rất quan trọng so với dân số tại Việt Nam về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Tìm hiểu thêm với một vài chi tiết so sánh với dân Mỹ cũng có nhiều điều lý thú. Lợi tức trung bình của một gia đình Việt có 20 ngàn 1 năm với nhân khấu là 3.8 gần 4 người một nhà. Gia đình My tính chung có 26 ngàn 1 năm với 3.2 tức là hơn 3 người trong nhà.Người Việt không tốt nghiệp trung học là 26% người Mỹ là 15% nhưng tuổi trẻ Việt Nam tốt nghiệp đại học lên den19% trong khi Mỹ chỉ có 17%. Tuổi trung bình của Mỹ là 36 nhưng Việt Nam có 34.  Thành phần cao niên của Hoa Kỳ trên 70 tuổi lên đến 6% trong khi Việt Nam chỉ có 3%. Nước Mỹ hiện có 1 triệu 100 ngàn dân ở lậu. Việt Nam cũng có 160 ngàn dân lậu. Các con số thống kê này cho chúng ta nhiều điều đáng lưu ý.

Tổng kết về các tổng thống Hoa Kỳ                                                  Hơn nửa thế kỷ vừa qua 9 vị tổng thống Mỹ, từ Eisenhower đến Obama đều là ân nhân của người Việt và di dân gốc Việt. Trong chiến tranh với 58 ngàn chiến binh Hoa Kỳ hy sinh và 300 ngàn thương binh, các vị tổng thống đều quyết tâm nhưng không vượt qua đươc hoàn cảnh. Sau chiến tranh nước Mỹ đã thực sự chào đón tỵ nạn. Chúng ta không bao giờ quên được tấm lòng hào hiệp của người dân Hoa Kỳ.

Trải qua 5 đời tổng thống Hoa Kỳ thời hậu chiến dù là Cộng Hòa hay Dân Chủ di dân Việt Nam luôn luôn được chào đón và trở thành con số vào Mỹ cao nhất cuối thế kỷ 20.

 Chúng ta có thể quản ngại cho tương lai. Nhưng cũng ghi nhận sự vui mừng đã đạt được con số người Việt đáng kể tại Hoa Kỳ để làm thành một cộng đồng vững mạnh. Nếu Hoa Kỳ không tham dự vào Việt Nam từ 1954, dân Việt miền Nam không có được 2 thập niên tự do dân chủ. Nếu tổng thống, chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ không chủ trương bao dung với di dân, chúng ta không có mặt tại Mỹ. 
—

Giao Chi San Jose.   giaochi12@gmail.com  (408) 316 8393




Chuyện tuổi già. Từ bình minh đến hoàng hôn.

Giao Chỉ San Jose viết cho hội Cao niên

Tất cả chỉ là bằng hữu

Đã từ lâu tôi không chịu mình già. Bây giờ còn một năm nữa là đến tuổi 90. Ai hỏi bác muốn gì. Mình chỉ muốn mãi mãi tuổi tám mươi. Như thời kỳ hoa niên, các em choai choai mong mãi mãi tuổi hai mươi. Cùng lắm là Twenty one. Bây giờ thực sự ta không còn trẻ nữa. Anh chị em thương yêu cũng bỏ đi gần hết. Thậm chí những tay chuyên chửi mắng bác Lộc cũng bỏ cuộc chơi. Nhưng thưa quý vị riêng tối hôm nay chúng tôi đón 2 người khách, bà Bích Ngọc đương kim chủ tịch hội người Việt cao niên miền bắc tiểu bang California. Cùng với bà phó là chị trung tá Lê Đình Vọng.Tôi còn nhớ tên nguyên văn Hội người Việt cao niên vùng Vịnh cựu Kim Sơn. Những người khách phụ nữ cao niên đưa tôi về thời quá khứ. Cuối thập niên 70 tôi phụ trách các chương trình cộng đồng cho tổ chức Social của County Santa Clara sau này đổi thành cơ quan IRCC. Nhờ trụ sở khang trang rộng rãi, có thêm nhiều thân hữu hợp tác. Xin nhắc lại tên anh em một lần để còn nhớ mãi về sau. Viên chức sắc tộc Yklong, kịch tác giả Phan Tùng Mai, các luật sư Phan Thế Ngọc, Đình Thành Châu.. Các bạn Vũ Khiêm, Lê Đình Lãm ,Võ thành Văn. Các anh Nguyễn Xuân Phác, Nguyễn Quang Huyến, Vũ thượng Đôn, Trần văn Tước lần lượt theo thời gian tham dự trong hội đồng quản trị và còn rất nhiều bằng hữu mà bất chợt tôi không nhớ hết..

Ca khúc họp đàn

Chúng tôi đã ngồi bàn nhau nhu cầu đầu tiên là mời các bà con ngồi lại để tổ chức các hội ái hữu. Có ngay bạn Trần trúc Việt tổ chức hội hải quân. Anh Nguyễn Quang Vĩnh thành lập hội Không Quân. Gia đình mũ đỏ có anh Bùi Đức Lạc. Cũng không thể quên một hội hoạt động tích cực là phụ huynh và giáo chức. …   .

Tất cả các hội đều cùng sinh hoạt trong một ban liên lạc là Liên Hội đó anh Lại đức Hùng làm tổng thư ký và các cụ Đào Đăng Vỹ, Trần Hữu Phúc trong vai trò cố vấn. Trong phạm vi văn nghệ và vận động quần chúng có đoàn Thanh niên quốc gia do anh Trần Mạnh Hòa thành lập. Trên đây là chỉ nhắc đến thời kỳ xa xưa từ thập niên 70 và 80. Qua thập niên 90 thì chuyện dâu bể còn nhiều không thể ghi hết. Thời đó tất cả mọi phương tiện hội họp tổ chức đều do cơ quan IRCC tức Hội quán Việt Nam tích cực yểm trợ. Một trong các hội đoàn hội họp thường xuyên và đông đảo lại là hội Cao Niên. Nhân sự điều hợp cần nhiều phương tiện nên cơ quan IRCC chúng tôi đã cử các cán sự xã hội Đỗ Xuân Hợp và Phạm tài Đôn trực tiếp đảm nhận. Xin nhắc lại thời gian cuối thập niên 70 chính San Jose là nơi tập trung nhiều đồng hương ty nạn. Vì vậy hội Cao niên Việt Nam là hội đoàn đầu tiên chính thức thành lập tại Hoa Kỳ.

Thành tích đầu tiên: Nghĩa Trang Việt Nam.

Thành tích đáng kể chính là việc hoàn tất chương trình Nghĩa trang Việt Nam tại Los Gatos. Công đầu là nhờ sự vận động tích cực của ông tổng thư ký Phạm Tài Đôn. Thay vì các cán sự khác thuộc chương trình CETA trong IRCC lo tìm việc cho đồng bào thì thầy Đôn chỉ lo chỗ chôn cất ty nạn. Ông vận động các cụ già đi gõ cửa mọi nhà đồng ý ký tên đủ 100 người sẽ mua đất tại nghĩa trang Việt Nam. Chúng tôi hăng hái ghi danh cam đoan sẽ yên nghỉ tại ngôi nhà một phòng ngủ duy nhất không có nhà vệ sinh và không có điện nước. Ngôi nhà nhỏ bé để yên giấc ngàn thu. Một hôm thầy Phạm công tác về đã thuyết trình lớn tiếng. Thôi thế là các cụ yên tâm. Sẽ nằm nơi Gối sơn đạp thủy. Đầu quay về núi, chân đạp lên Thái Bình Dương. Nếu nằm trên gối cao sẽ nhìn thấy quê hương.

Thầy Phạm tài Đôn hăng hái nói tiếp, ông Lộc phải ghi nhận công đầu của tôi. Thực sự như vậy. Anh em cán sự tìm việc làm cho cả ngàn người suốt nửa thế kỷ vừa qua. Ai còn nhớ đến ai. Bao nhiêu chương trình ESL ê a cả  thập niên dài. Ai còn nhớ đến ai. Nhưng cái nghĩa trang đầu tiên ngày nay bao nhiêu chủ tich và hội viên cao niên đã rủ nhau về Los Gatos an nghỉ. Thi sĩ của hội đã viết ra đôi câu đối treo trên cổng vào. Xác tục ngàn năm lưu đất Mỹ. Hồn thiêng vạn dặm gửi quê hương. Tôi viết lại nhưng không biết còn trúng hay không? Nhưng có điều chính xác là bác tổng thư ký Phạm Tài Đôn cũng đã nằm lại trên đất Mỹ. Ông chính thức gối đầu vào núi non Mỹ quốc để chân đáp về hướng quê nhà bên kia Thái Bình Dương. Ngay đến như bác hội trưởng trẻ tuổi Nguyễn Đình Tuấn cũng ra đi. Mới năm trước đây khi dẫn hội viên thăm nghĩa trang bác Tuấn chỉ dẫn rằng ngôi mộ số 1 trên đường vào ở ngã tư là chỗ của bà mẹ ông Lộc. Chỗ này địa điểm tốt nên ông hội trưởng IRCC dành cho bà cụ mở cửa hàng 7 & 11. Cũng vào năm xưa khi ông Đôn hoàn tất Nghĩa trang thì cụ Lại Đức Chuẩn còn ở tù cộng sản trên Yên Bái. Tưởng rằng ông ra đi ở miền thượng du Bắc Việt. Nhưng 2 bác Chuẩn đã vinh quang đến phi trường SF để ông con trưởng tổ chức đón rước linh đình. Ngày nay 2 cụ nằm bên nhau cũng tại Nghĩa Trang Việt Nam với bia đá hình cờ vàng hết sức nghiêm chỉnh.

Rồi đây, mọi người ai cũng qua đi. Bao nhiêu là lễ hội, bao nhiêu lần biểu tình và biết bao nhiêu văn nghệ đấu tranh. Hội đoàn cũng như các cửa hàng thương mại, tưng bừng khai trương và âm thầm đóng cửa. Hội viên cao niên cũng không còn nữa nhưng Nghĩa trang đầu tiên của cộng đồng Việt tại San Jose vẫn còn mãi muôn đời.

Vinh danh những nhà lãnh đạo.

Sau trận dịch tàn nhẫn làm điêu đứng toàn cầu ngày nay nhân loại đang tập sống với Covid, hội cao niên ngày chủ nhật sẽ họp mặt bà con tại San Jose. Có lẽ phải nhắc lại một lần, thưa với quý vị.Từ cái thuở gần 50 về trước cho đến nay đã biết bao nhiêu vị chủ tịch luân phiên làm việc. Thời gian dài gần đây vị chủ tịch là cụ Trần Hữu Phúc. Quý vị thay phiên nhau làm chủ tịch hội cao niên. Không hề có bất cứ một chuyện phiền phức, rắc rối nào giữa nội bộ. Cũng không có khó khăn nào liên quan tới các hội đoàn và cộng đồng tại địa phương.Toàn là những kỷ niệm êm đẹp. Nhưng tất cả các vị lãnh đạo đã từng làm chủ tịch hội người việt cao niên đó. Bây giờ ở đâu. Chúng tôi cũng theo dõi bước chân của tất cả các hội viên trải qua bao nhiêu năm. Một trong những người làm hội trưởng lâu nhất và chịu đựng nhiều khó khăn là người rất hiền lành nhưng không ai biết cụ vốn là sinh viên sĩ quan Thủ Đức ra trường từ thập niên 50 đưa về các đơn vị miền Bắc Việt Nam. Thiếu úy Trương Đình Sửu được giao chỉ huy trung đội bộ binh của BVN rồi lên trung úy đại đội trưởng tham dự các mặt trận Vĩnh Phúc Yên ở miền Bắc. Ít người biết được chuyện như vậy. Gần như không ai biết ông hội trường cao niên hiền lành và lịch sự của San Jose đã từng là người tham dự các trận chiến sống chết ngoài Bắc. Sau cụ Sửu hội cao niên được giao lai cho các vị nữ lưu đảm trách. Chúng ta đang ở trong thời điểm của những người đàn ông phải ra đi và phụ nữ cùng đợt tuổi ở lại. Bài ca của Trịnh Công Sơn nếu đổi lời sẽ thêm phần ai oán. Trong khi em nằm anh bỏ em đi. Trong khi tôi ngồi chàng bỏ tôi đi. Những ông hội trường bỏ nhau đi và đến phiên các bà lên cầm lái con thuyền cao niên của vùng Vịnh Cựu Kim Sơn. Trong gần 4 năm qua hội trưởng là bà Ngọc Bich quê Sơn Tây nhưng là gái Hà nội chính hiệu. Trong số nữ lưu quanh vùng không ai có nhiều khả năng và nỗ lực hơn con người đã một thời oanh liệt. Bà cũng là một nhà thơ nhà văn nhưng cũng là nhà ngoại giao xuất sắc.

Bà giữ cho hội cao niên đứng ngoài các đề tài tôn giáo và chính trị phức tạp. Bà cũng được người phụ tá đắc lực là chị trung tá Lê Đình Vọng xứ Huế. Trung tá Vọng thời sinh tiền khi chúng tôi thành lập cơ quan định cư cho chiến hữu HO thì mời bác Vũ Đức Nghiêm làm chủ sự và bác Lê Đình Vọng làm phụ tá. Hai ông bà Vọng ngoài giờ hành chánh đã tự đứng ra tổ chức gây quỹ cho thương binh và quả phụ Việt Nam rất thành công. Về sau anh Lê đình Vọng ra đi vì bệnh tim thì chị Vọng sinh hoạt với hội cao niên . Hai chị em cô gái Hà Nói và cô gái Huế ngày xưa cùng trở thành phụ nữ Sài Gòn ra tay xây dựng lại hội Cao Niên từ khi bác Trương đình Sửu đau yếu cho đến khi bác ra đi. Trải qua hơn 40 năm hội cao niên Bắc CA được nam giới lãnh đạo thì ngày nay đến lượt phụ nữ thay thế.

Từ bình minh đến hoàng Hôn:

Nửa thế kỷ trước khi thành lập hội cao niên chúng ta có đông đảo bằng hữu và thực sự ở vào tuổi ngoài 50 đời còn dài. Ngồi lại với nhau là chuẩn bị cho tương lai, cho tuổi già chưa đến. Ngày nay tình thế đã thay đổi. Các bạn ở tuổi 60 không quan tâm đến hội cao niên. Các vị hội trưởng nữ giới lão thành dù hết sức hết lòng nhưng vẫn chỉ có giới hạn. Trong nhiều năm qua chúng ta thấy hội cao niên thực sự đã tham dự trong các sinh hoạt cộng đồng. Dù bạn là Công giáo hay Phật giáo hô hào là hội chúng tôi có mặt. Về chính trị chúng tôi không lạm bàn. Chị em chúng tôi đi giữa quý ông Dân Chủ Và Cộng Hòa. Hội đoàn nào mời là phe nữ giới cao niên đều có mặt. Từ phe quân đội đến phe dân sự ái hữu đều có chúng tôi tham dự. Các hội đoàn xã hội hay văn nghệ tổ chức chị em cao niên cũng tham dự. Đồng phục cũng có thay đổi cho đủ mầu sắc với thiên hạ. Tuyệt đối không theo thời trang Trung Cộng và cũng không theo kiểu cách của cộng sản Việt Nam. Ai kêu gọi quyên góp hội ta cũng đóng góp nhẹ nhàng dù 5 chục hay 1 trăm.. Chúng tôi nhìn quanh thấy quý ông quý bả đều già lão cả nhưng mời vào hội cao niên thì ai cũng từ chối. Quý vị muốn trẻ trung cho đến bao giờ. Niên liễm một năm chỉ có 3 chục mà các thành viên cao niên không chịu đóng. Ai cũng nói rằng San Jose có trên 120 ngàn dân Việt mà trên 30% đã cao niên, tại sao hội viên ghi danh của hội chúng ta chỉ có vài chục người lại không đóng niên liễm. Thực sự tình nghĩa tràn đầy nhưng các bạn lười tham dự và đóng góp hay quý vị tuy tuổi cao nhưng từ chối sự thực. Trời đã về khuya mà tôi vẫn có những câu hỏi cho hai bà lãnh đạo hội cao niên. Hội ta có chỗ nào là trụ sở hội hợp không. Trả lời rằng dù đã có 40 năm sinh hoạt nhưng hội cao niên chúng tôi vẫn Homeless. Hiện nay việc sinh hoạt thu hẹp vì Covid và đồng thời cũng bị giới hạn vì không có ngân khoản. Năm 2018 bắt đầu sinh hoạt bà chủ tịch phải đi từng nhà để quyên góp tiền ủng hộ hàng tháng. Hội không đủ sức tổ chức gây quỹ. Xem qua cuốn sổ ân nhân chỉ có vài trang đơn giản vì sau nửa thế kỷ trầm luân chưa bao giờ có được các hội viên đóng góp đầy đủ niên liêm .. Biết bao nhiêu những nhà triệu phú Việt Nam tại San Jose cao niên khi ra đi đã để lại bạc triệu mà sao lại không nhớ đến hội cao niên thì hội lấy tiền đâu mà sinh hoạt phúng điếu cho nghiệp vụ Quan Hôn Tang Tế. Xem ra buổi bình mình bao giờ cũng tươi sáng. Khi hoàng hôn buông xuống thì cũng rất buồn. Phương Tây nói rằng tuổi già như con tàu đắm. Dù rằng các bà chánh phó hội cao niên hết sức hoạt động những lực bất tòng tâm. Rất cần các hội viên tiếp tay về cả tinh thần lẫn vật chất. Chúng tôi viết bài này để ca ngợi nỗ lực của ban chấp hành phụ nữ cao niên. Hai cô gái Hà Nội và Huế đã sống mãi với Sài Gòn nhưng vẫn không xây dựng được một Sài Gòn Nhỏ cho hội cao niên tại San Jose. Xin quý vị cao niên nam giới tiếp tay. Nhà kinh tế Nguyễn Đức Cường nói rằng khi thủy triều lên thì con tàu cũng nổi lên. Nhưng không phải là con tàu thủng đáy. Hãy sửa chữa con tàu để nó nổi lên theo thủy triều. Bà Ngọc Bích xứng đáng là thuyền trưởng nhưng vẫn cần các chuyên viên kỹ thuật giữ cho con tàu hoàn hảo. Tài chánh sẽ giải quyết được nhiều việc. Tiền chưa giải quyết được thì nhiều tiền việc gì cũng xong. Nhưng trước hết phải quan tâm và có tấm lòng hảo tâm.Chúc hội Cao Niên trẻ mãi không già-

Giao Chi San Jose.   giaochi12@gmail.com  (408) 316 8393