Giao Chỉ đọc hồi ký Kiều Chinh

Người đi tìm quá khứ

Giao Chỉ đọc hồi ký Kiều Chinh

lf.jpg

Kiều Chinh by Kiều Chinh                                                                                     

(Đoạn mở đầu viết lúc chưa đọc sách, đoạn sau viết sau khi đọc sách)              

Nhà xuất bản nổi tiếng của Hoa Kỳ Barnes and Noble vừa phát hành cuốn hồi ký 500 trang của Kiều Chinh. Giới văn chương Mỹ gọi cô là nghệ sĩ lưu vong. Tra cứu trên Internet chúng ta thấy bản văn Anh ngữ nhà Barnes khen ngợi tác giả. Bản văn Việt Ngữ khen ngợi cô Kiều Chinh do nữ đại úy Phan của quân lực Mỹ viết. Cuốn hồi ký đặc biệt này đã ghi bán 30 đồng giấy thường và sách bìa cứng giá 40 đồng. Đại úy Phan là nữ quân nhân trẻ hiếm có đọc được cuốn hồi ký tiếng Việt đã ước mong rằng sẽ có phiên bản Anh Ngữ sớm phát hành.

Trong cộng đồng Việt Nam cũng đã có khá nhiều hồi ký chính trị của các nhà lãnh đạo và các nhân vật nổi tiếng trong trường văn trận bút. Nhưng rất hiếm những cây bút nữ lưu Việt Nam viết hồi ký văn nghệ. Trong giới điện ảnh thì chỉ có riêng Kiều Chinh. Đã có nhiều tác giả viết về con người thường được coi là đệ nhất minh tinh của màn ảnh miền Nam Việt Nam từ sau cuộc di cư 1954. Bây giờ đến lượt Kiều Chinh viết về mình. Xem ra có phần muộn màng. Một số lớn khán giả của cô không còn nữa. Chẳng còn Mai Thảo để điểm sách hay Nguyên Sa để đọc thơ. Ngay như bạn ta Bùi Bảo Trúc cũng chờ đợi mãi không được, đành bỏ đi. Đặc biệt các danh tài văn nghệ nữ giới dù cao niên bao nhiêu các khán giả muôn đời vẫn thấy còn trẻ mãi nên suốt đời luôn gọi là cô. Cô Thái Thanh. Cô Thanh Nga. Cô Kiều Chinh. Dù cô còn đó hay cô đã đi xa. Tiếc thay các cô đi xa mà chẳng để lại Hồi Ký. May thay cô Kiều Chinh chưa vội đi xa và còn để lại hồi ký. Tác giả mới gọi cho chúng tôi nói là sách đã có rồi. 500 trang bìa cứng thì dù nội dung ra sao quả thực cũng là một tác phẩm nặng ký đấy. Hỏi rằng sách có nói gì đến ông Trump hay Biden không. Không có đâu. Nếu vậy sách này hiền. Có nói đến trận Covid 19 không? Không có. Nếu vậy sách này lành mạnh. Sách đã chích đủ 2 kỳ. Nếu vậy Hồi Ký này khỏe mạnh đấy. Có thể đọc mà không phải đeo khẩu trang. Anh Giao Chỉ sẽ order nhà Barnes để xem Kieu Chinh By Kieu Chinh ra sao. Như vậy sách sẽ không có chữ ký. Bèn đi máy bay xuống nhận sách có chữ ký của tác giả. Tò mò xem cô Kiều Chinh viết về cô ra sao

Một cuộc đời nên quay thành phim: 

Sau cùng tôi đã đọc hết 500 trang sách. Dù đã quen biết đôi chút với đệ nhất minh tinh Việt Nam, và đọc khá nhiều sách và tài liệu viết về Kiều Chinh nhưng phải đọc hồi ký này mới thực sự biết rõ về cuộc đời của cô kiều nữ Nguyễn Thị Chinh. Quả thực không thể thuật sự tóm tắt về cả cuộc đời, nhưng có thể ghi lại những nhận xét để giúp cho quý độc giả muốn biết tin tức. Kiều Chinh không phải là nhà văn. Không phải là cây viết chuyên nghiệp nên tác phẩm đã có người biên tập. Một nhà thơ làm công việc này và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Chúng ta có thể hiểu rằng KC đã ghi chép và ngồi kể lại cuộc đời để người chấp bút viết lại. Một tác phẩm công phu với rất nhiều chi tiết, đầy đủ hình ảnh và những tình tiết éo le hấp dẫn từng phân đoạn. Tôi nghĩ rằng tác phẩm nên ghi tên nhà thơ chấp bút. Các hồi ký danh tiếng của thế giới đều có tên người biên tập. Mai này nếu có ai nghĩ rằng nên quay cuộc đời KC thành phim thì diễn tiến của tác phẩm hết sức đầy đủ và phong phú. Bao gồm cả bi kịch và rất nhiều giây phút vinh quang hào hứng.

Những lần tuyên dương và những giải thưởng.

Kiều Chinh trong suốt cuộc đời đã được gặp biết bao nhiêu danh nhân thế giới. Được nhận sự khen ngợi và tưởng thưởng của rất nhiều lãnh vực và trong nhiều hoàn cảnh. Các vị nguyên thủ quốc gia, các tỷ phú giám đốc công ty thương mại và điện ảnh. Các vị lãnh đạo tôn giáo. Nhưng nếu độc giả lưu ý sẽ thấy trường hợp vô cùng đặc biệt là trước giây phút lâm chung cô dâu Nguyễn Thị Chinh đã được sự khen thưởng của bà mẹ chồng khó tính. Con Chinh đâu rồi, lại đây để mẹ cảm ơn. Không lời khen ngợi nào giá trị hơn. Một tuyên dương đặc biệt khác là giây phút KC cùng với các cựu quân nhân Mỹ tại VN khánh thành trường tiểu học cho trẻ em nghèo làng Mọc là làng quê của thân phụ. Không có ai trao giải hay tuyên dương người tài tử danh tiếng trở về trả nợ quê hương. Nhưng chính hoạt động nhân đạo này đã đem lại oan khiên chính trị khi cô bị lên án theo cộng sản và chịu nhục nhã bị đuổi xuống tại diễn đàn Bolsa khi lên giới thiệu thượng nghị sĩ McCain

Những chuyến bay và những giây phút trên mây. 

Trong suốt cuộc đời KC là người đi mây về gió nhiều nhất. Hàng trăm chuyến bay. Nếu không phải là bạn bè của các tỷ phú thượng hạng làm sao có cơ hội nằm ngủ trên giường bay trên phản lực tư nhân bay về Việt Nam khi đi công tác việc thiện. Ai được mời bữa ăn tối giữa đại đô thị Hoa Kỳ đưa rước bằng trực thăng từ nóc nhà cao ốc này đến nóc nhà cao ốc khác. Cùng với biết bao nhiêu chuyến đi từ phi trường này đến phi trường khác có người đưa đón hay chỉ một mình lẻ bóng. Phải kể thêm cả những chuyến bay vô định vào những ngày vô tổ quốc sau 30 tháng tư 1975.

Bi kịch của đời người nổi tiếng.

Tác phẩm dành rất nhiều trang để nhắc lại bi kịch đau thương của bà mẹ với người con trai trong tai nạn. Không phải chỉ vì tình thương mà gồm cả lòng can đảm khi đòi hỏi chứng kiến các chuyên viên trực tiếp cứu chữa bệnh nhân. Thêm một chương khác đã viết về niềm thất vọng cùng cực khi KC đã quyết định tự vẫn. Những đoạn đời này tuy là thảm kịch nhưng cũng đã vô tình đem lại quân bình cho một tác phẩm không phải tất cả đều là khải hoàn ca.

Bốn nhân vật trong một cuộc đời.  

Sinh ra trong một gia đình giàu có, nhưng bất hạnh trở thành mồ côi mẹ lúc niên thiếu và xa rời người cha thân yêu lúc trưởng thành. KC trong suốt cuộc đời đã đóng vai một người vợ bị bỏ rơi, một bà mẹ đơn thân. Nhưng đờingười đàn bà bị tình phụ lại trở thành cơ hội của định mệnh. Ai đứa con sáo sang sông. Con sáo sổ lồng, con sáo bay xa. Là một tài tử duy nhất của VN đóng hàng trăm phim danh tiếng từ trong nước đến hải ngoại. Trong tất cả các bộ phim đều là hình ảnh của thế giới tự do. Vai trò thứ ba gần như là diễn giả Anh ngữ duy nhất của Việt Nam đi nói chuyện chuyên nghiệp có khế ước thù lao. Hàng trăm lần thuyết giảng đều là các đề tài văn hóa xã hội ca ngợi nhân quyền và quyền bình đẳng của phụ nữ. Sau cùng KC cũng là nhân vật đi làm việc thiện tình nguyện cùng các tổ chức bất vụ lợi Hoa Kỳ hướng về quê hương Việt Nam. Trải qua bao năm chinh chiến người chiến binh Hoa Kỳ và Việt Nam đã chiến đấu bên nhau. Ngày nay cựu quân nhân Mỹ trở lại Việt Nam trên cả 3 miền đất nước qua sứ mạng hòa bình xây trường cho con trẻ. Kiều Chinh là phụ nữ duy nhất miền Nam nhập cuộc. Cô tham dự cuộc chiến tranh chính trị bên cạnh các chiến binh Hoa Kỳ. Cả 4 vai trò đều vượt qua điểm trung bình đến gần hoàn thiện. Điều đáng ghi nhận là trong vai trò làm vợ, làm dâu và làm mẹ Việt Nam, cô bé di cư Bắc Kỳ 16 tuổi đã làm tròn bổn phận. Suốt cuộc đời tài tử, diễn giả và xã hội người mẹ đơn thân không bị lôi cuốn vào những chuyện ái tình tục lụy tuy rằng đã gặp nhiều cơ hội. Nhiều chuyến đi huy hoàng trong những vai quan trọng, tác giả đã dành 1 chương viết về chuyến đi của một phật tử cô đơn, lôi thôi, lếch thếch kéo theo hành trang tìm về nước Phật.

Đặc điểm của hồi ký. 

Đây là cuốn sách mà tác giả tự mình đi tìm lại quá khứ. Sự xuất sắc của một con người không hề được trang bị đầy đủ khi bước vào đời. Tác giả không phải là người có trình độ đại học. Không qua một lớp huấn luyện về kịch nghệ. Khởi sự từ nghịch cảnh, xa cách anh chị và người cha ngay từ tuổi thơ trong hoàn cảnh di cư đất nước chia đôi. Với thân hình cao và thon thả, cô gái trở thành thiếu phụ đi đóng phim và quen biết với giới văn nghệ và lấy trường đời làm lớp học. Người phụ nữ lễ giáo không buông thả đã sống trong tinh thần tự lập và đạo đức để đạt được thành công. Khéo léo trong giao tế, có thiên phú về diễn xuất và Anh ngữ nên đã sớm trở thành một phụ nữ kiểu mẫu và điển hình trong chiến tranh cũng như sau này ở thời hậu chiến. Nhưng cũng phải ghi thêm rằng nàng là người có nhiều tham vọng và nắm bắt được cơ hội qua tình bằng hữu.

 Hoa Kỳ là miền đất của cơ hội. 

KC với sự giao thiệp tinh tế và khôn ngoan nên có rất nhiều bạn bè ở mọi nơi và mọi quốc tịch. Đã gặp nhiều cơ hội giúp cô vượt qua nghịch cảnh. Duy có một điều là người nổi tiếng KC dù có bao nhiêu bạn bè nhưng sau cùng cũng vẫn rất cô đơn. Bao nhiêu người thân được chia xẻ những giây phút vinh quang hay những ngày thăng hoa trong điện ảnh. Ai chứng kiến trong những lần diễn giả nói chuyện với 3 ngàn khán giả đứng lên vỗ tay. Niềm vui này ai là người để chia xẻ. Làm sao người nổi tiếng đã có được những giai đoạn sống đặc biệt như thế. Phải chăng vì cuộc sống riêng tư gia đình không hạnh phúc. Ai đưa lối, ai dẫn đường để tìm những lối đoạn trường mà đi. Phải chăng chính cuộc chiến tranh Việt Nam đã đưa thiên hạ tìm đến một phụ nữ Việt Nam được chọn làm tài tử toàn thời gian lâu dài đến thế. Người nổi tiếng cô đơn trong những chuyện đi về và trong cả những giấc ngủ đợi chờ trình diễn từ những chân trời xa lạ. 

Sau cùng tác giả nào cũng phải về già. Nàng đã cố xây dựng một CÕI TÔI cho tuổi hoàng hôn, nhưng rồi phải thay đổi xuống cấp đến 5 lần. Cõi riêng cứ nhỏ dần. Rồi cũng như mọi người, cõi riêng khi thành cát bụi thì cũng sẽ như chúng ta. Trong lòng đất ai cũng sẽ có ngôi nhà một phòng ngủ cho giấc ngàn thu nhỏ bé. Không cần phóng tắm. Chẳng bận tâm nóng lạnh hay điện nước. Nhưng hơn mọi người nàng để lại một hồi ký 500 trang kể rằng đã có lần buồn muốn chết nhưng rồi phải sống lại để gửi đến bằng hữu. Ra mắt sách để tìm lại chính mình.

Tháng qua, tôi xuống quận Cam gặp một bà già thanh tú ngoài 80 mà sao còn khỏe mạnh, gương mặt quen thuộc lái xe nhanh nhẹn. Ai mà trông như Kiều Chinh sao còn trẻ vậy. Tôi nhận được sách tặng có chữ ký . Xin cảm ơn bằng bài viết chân tình. 

Năm 1954 có anh thiếu úy rất trẻ dẫn lính đi làm phu khuân vác đón di cư. Ngày chẵn công tác ở bến tàu, ngày lẻ ở phi trường. Có nhiều cô gái Hà Nội ngu ngơ tròn mắt ngắm cảnh Sài Gòn. Trong số này có cả cô bé Nguyễn thi Chinh 16 tuổi.

Giao Chi San Jose.   giaochi12@gmail.com  (408) 316 8393




THÔNG BÁO CỦA CƠ QUAN IRCC/VIETMUSEUM – San Jose – Giao Chỉ Vũ Văn Lộc

Thông báo của cơ quan IRCC/VietMuseum tại San Jose.       

Ngày 1 tháng 10-2021                                                                              

 Chúng tôi xin hân hạnh thông báo cùng cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ và đặc biệt là đồng hương tại Bắc California.                               

 Lễ An Vị và Khánh Thành Tượng Đài Tái Chiếm Cổ Thành Quảng Trị vào lúc 11 giờ sáng Thứ Bảy ngày 13/11/2021  tại Việt Museum trong công viên lịch sử History Park, San Jose.

1) Chúng tôi ghi nhận sáng kiến và công trình của Uỷ Ban Xây Dựng Tượng Đài Tái Chiếm Cổ Thành Quảng Trị với các thành viên Nam Bắc California đã cùng nhau thực hiện. 

 Trải qua rất nhiều sóng gió, khó khăn nhưng anh em đã vượt qua và sau cùng quyết định chọn Việt Museum (Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân và VNCH) là nơi an vị Tượng Đài.                                                                             

2)Công trình đào móng và dựng Tượng dự trù sẽ hoàn tất trong tháng 10. Lễ An Vị và Khánh Thành Tượng Đài sẽ được tổ chức lúc 11 giờ sáng Thứ Bảy 13/11/2021 tại Việt Museum, bên cạnh “Bức Tường Tưởng Niệm” các vị anh hùng đã tuẫn tiết vào ngày 30/4/1975.                                                                                                      

3) Khi quyết định nhận Tượng Đài về an vị tại Việt Museum, chúng tôi bày tỏ quan điểm rõ ràng và nhất quán vì tinh thần vinh danh và tưởng niệm các chiến sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến bảo vệ miền Nam. Đồng thời trong niềm hy vọng góp phần chấm dứt việc chia rẽ trong cộng đồng Việt Nam đặc biệt là giữa các quân binh chủng VNCH.  

4). Chúng tôi không quên vinh danh công trình của tổ chức sáng lập là “Quảng Trị Victory Foundation” và đặc biệt là những ân nhân và đồng hương khắp nơi đã tích cực đóng góp tài chánh và công sức cho dự án xây dựng Tượng Đài.

5) Chúng tôi quan niệm rằng con người chúng ta không hoàn hảo,   Xin bao dung, thông cảm cho nhau. Cũng không có Tượng Đài nào hoàn hảo. Hãy chấm dứt các chỉ trích để Tượng Đài được yên nghỉ. Chúng tôi sẽ lắng nghe để bổ túc và sửa chữa. Tượng Đài được an vị tại Việt Museum sẽ được cơ quan IRCC và tổ chức sáng lập là “Quảng Trị Victory Foundation” thoả hiệp sửa chữa và bảo trì lâu dài.

6). Chúng tôi sẽ phối hợp tổ chức một Lễ Khánh Thành trong tinh thần Tưởng niệm, xây dựng và đoàn kết. Một Lễ Khánh Thành giản dị nhưng nghiêm trang. Mục đích của ban tổ chức là mời được tối đa các vị dân cử. Mời được đông đảo các hội đoàn quân dân cán chính VNCH. Xin quý vị hãy đến với chúng tôi, cùng thắp một nén nhang và một bông hoa tưởng niệm. Thật lòng bình tâm nhớ tới những chiến sĩ đã nằm xuống để chúng ta có được ngày hôm nay. Hãy đến để yêu thương và bày tỏ tinh thần đoàn kết.

7. Chúng tôi ghi nhận Tượng Đài sẽ là tấm bia, là Đài Tưởng Niệm tất cả quân dân cán chính VNCH đã hy sinh trong cả năm 1972, từ Tân Cảnh đến Kontum, qua Bình Long, An Lộc  và sau cùng là Quảng Trị. Chúng ta không tưởng niệm riêng một cá nhân hay một đơn vị. Chúng ta tưởng niệm tất cả tử sĩ Thuỷ Quân Lục Chiến, Nhảy Dù, bộ binh, Biệt Động hay Địa Phương Quân cho đến Nhân dân tự vệ và biết bao người dân vô tội đã chết trên Đại Lộ Kinh Hoàng. Chúng ta sẽ đặt vòng hoa, quấn khăn tang cho thân nhân hay tất cả những người ra đi không quen biết. Chúng ta cầu nguyện cho họ được yên nghỉ trong an bình.

8). Sau cùng xin nói về vấn đề tài chánh. Cơ quan IRCC/Viet Museum không liên quan và không tiếp nhận tài chánh. Uỷ Ban Xây Dựng đảm trách công việc chuyên chở, thiết dựng tượng đài và hoàn tất khu vườn cảnh chung quanh. Đồng thời sẽ dành ngân khoản cho việc tu bổ, bảo trì tương lai.                                             Đó là những lời chân thành giãi bày của cơ quan IRCC/Việt Museum.

Xin chân thành thông báo và cám ơn–

Giao Chi San Jose.   giaochi12@gmail.com  (408) 316 8393




GIỚI THIỆU SÁCH MỚI: Kiều Chinh By Kiều Chinh: Giao Chỉ Vũ Văn Lộc


Kiều Chinh by Kiều Chinh

Giao Chỉ giới thiệu Hồi Ký KC.

Nhà xuất bản nổi tiếng của Hoa Kỳ Barnes and Noble vừa phát hành cuốn hồi ký 500 trang của Kiều Chinh. Giới văn chương Mỹ gọi cô là nghệ sĩ lưu vong. Tra cứu trên Internet chúng ta thấy bản văn Anh ngữ nhà Barnes khen ngợi tác giả. Bản văn Việt Ngữ khen ngợi cô Kiều Chinh do nữ đại úy Phan của quân lực Mỹ viết.

Cuốn hồi ký đặc biệt này đã ghi bán 30 đồng giấy thường và sách bìa cứng giá 40 đồng. Đại úy Phan là nữ quân nhân trẻ hiếm có đọc được cuốn hồi ký tiếng Việt đã ước mong rằng sẽ có phiên bản Anh Ngữ sớm phát hành. Trong cộng đồng Việt Nam cũng đã có khá nhiều hồi ký chính trị của các nhà lãnh đạo và các nhân vật nổi tiếng trong trường văn trận bút. Nhưng rất hiếm những cây bút nữ lưu Việt Nam viết hồi kỳ văn nghệ.

Trong giới điện ảnh thì chỉ có riêng Kiều Chinh. Đã có nhiều tác giả viết về con người thường được coi là đệ nhất minh tinh của màn ảnh miền Nam Việt Nam từ sau cuộc di cư 1954. Bây giờ đến lượt Kiều Chinh viết về mình. Xem ra có phần muộn màng. Một số lớn khán giả của cô không còn nữa. Chẳng còn Mai Thảo để điểm sách hay Nguyên Sa để đọc thơ. Ngay như bạn ta Bùi Bảo Trúc cũng chờ đợi mãi không được, đành bỏ đi.Đặc biệt các danh tài văn nghệ nữ giới dù cao niên bao nhiêu các khán giả muôn đời vẫn thấy còn trẻ mãi nên suốt đời luôn gọi là cô. Cô Thái Thanh. Cô Thanh Nga. Cô Kiều Chinh. Dù cô còn đó hay cô đã đi xa. Tiếc thay các cô đi xa mà chẳng để lại Hồi Ký. May thay cô Kiều Chinh chưa vội đi xa và còn để lại hồi ký. Tác giả mới gọi cho     

chúng tôi nói là sách đã có rồi. 500 trang bìa cứng thì dù nội dung ra sao quả thực cũng là một tác phẩm nặng ký đấy. Hỏi rằng sách có nói gì đến ông Trump hay Biden không. Không có đâu. Nếu vậy sách này hiền. Có nói đến trận Covid 19 không? Không có. Nếu vậy sách này lành mạnh. Sách đã chích đủ 2 kỳ. Nếu vậy Hồi Ký này khỏe mạnh đấy. Có thể đọc mà không phải đeo khẩu trang.

Anh Giao Chỉ sẽ order nhà Barnes để xem Kieu Chinh By Kieu Chinh ra sao.

Như vậy sách sẽ không có chữ ký. Bèn đi máy bay xuống nhận sách có chữ ký của tác giả.

Tò mò xem cô Kiều Chinh viết về mình ra sao. Theo pháp thuật của Phạm Duy người ta có thể viết hồi ký theo dân ca, tình ca, tục ca hay đạo ca, thiền ca. Nhưng phải can đảm lắm mới viết theo phép tự ca. Con người một đời phục vụ cho điện ảnh và xã hội vào đoạn cuối phải về với thiền ca. 

Tuần tới tôi nhận được tác phẩm sẽ điểm sách. Các bạn có thể mua trên B&N hoặc chờ sách có chữ ký khi tác giả đi khắp 4 vùng chiến thuật ra mắt sách

Giao Chi San Jose.   giaochi12@gmail.com  (408) 316 8393




TIN CỘNG ĐỒNG: Hòn Đất Nặn Thành Ông Bụt – Giao Chỉ San Jose

Thông báo đặc biệt
Ngày 18 tháng 9-2021 miền Nam CA sẽ tổ chức ra mắt tượng đài ghi dấu chiến thắng Quảng Trị. Phái đoàn Việt Museum sẽ xuống tham dự lễ tiếp nhận và tượng đài sẽ đưa lên định vị tại San Jose History Park. Thành phố San Jose vừa loan báo sẽ dành ngày thứ bẩy 6 tháng 11-2021 để Việt Museum tổ chức lễ khánh thành. Xin hân hạnh loan báo cũng toàn thể quý vị quân dân chính VNCH tại hải ngoại. Bài viết sau đây xin ghi thêm về việc Việt Museum xuống tham dự lễ giới thiệu Tượng đài tại miền Nam CA.

Hòn đất nặn thành Ông Bụt.

Giao Chỉ. San Jose.download.jpg

IMG_0027.JPG

Báo cáo bằng hữu 2 miền Nam Bắc CA. Như vậy là chúng tôi sẽ đi miền Nam nhận Tượng đài Quảng Trị vào cuối tuần này. Ban tổ chức tại khu Bolsa quảng cáo về buổi lễ hết sức vĩ đại. Các bạn miền Bắc cũng nao nức hăng hái ghi danh tham dự. Có thể hàng trăm người lên đường. Đi xe khách được thuê riêng. Ra đi khi trời vừa sáng và trở về từ nửa khuya. Xem ra quận Cam và thung lũng điện tử Silicon đều hết lòng với Quảng Trị.

Miền Nam CA ra mắt tượng đài ngày thứ bẩy 18 tháng 9-2021.

Miền Bắc CA sẽ khánh thành vào ngày thứ bẩy 6 tháng 11-2021.

Khu vườn lịch sử Kelley Park của thành phố San Jose đã lên lịch dành một ngày cho Việt Museum. Bây giờ xin viết đôi lời về chuyện xuôi Nam nhận Tượng. Rồi sẽ nói đến việc dự trù cho lễ khánh thành tại San Jose. Đã lâu lắm rồi hai miền Nam Bắc không có các chương trình yểm trợ hỗ tương. 

Nếu được hỏi chuyến đi nhận tượng Quảng Trị mang ý nghĩa gì. Là người nhận một phần trách nhiệm tôi xin giãi bầy. San Jose về tham dự trong sứ mạng hòa bình. Chuyện dài về dự án đã gây ra nhiều tranh chấp rất đáng tiếc. Bất đồng ý kiến trong cộng đồng. Không đồng ý về hình thức và cả nội dung. Không đồng ý về đồ án và cả những người sáng tạo. Quá nhiều cuộc tranh luận trong công chúng và cả những vị dân cử. Hình ảnh các cựu quân nhân cao niên cùng mầu cờ sắc áo phản đối nhau công khai trên diễn đàn là chuyện rất đau lòng. Như vậy miền Bắc xuôi Nam dự lễ trình diện Tượng đài không phải là để tiếp tay cho cuộc tương tàn trên công luận . Anh em chúng tôi đến để nhận một di sản quý giá bằng tượng đá có linh hồn để giải tỏa những búa rìu dư luận và xây dựng hòa bình. Tiền nhân của chúng ta đã từng nói Hòn đất nặn thành Ông Bụt. Nắm đất bùn vô giá nhưng khi thành Ông Bụt tức là thành Phật. Chúng ta rất cẩn niềm tin của quần chúng giữ cho trị giá của tượng đài.

Giá trị Tượng Đài Quảng Trị. Năm 1972 cuộc chiến Việt Nam bước vào giai đoạn thử lửa cuối cùng.. Bắc quân dồn hết nỗ lực đánh miền Nam trên 3 mặt trận. Mở màn quân cộng sản đánh Kon Tum trong 29 ngày nhưng rồi vì tổn thất nên bỏ cuộc đưa quân qua Cam Bốt để tấn công Bình Long. Thành phố Kon Tum đã có lúc bị địch chiếm một nửa nhưng rồi đứng vững và trở thành Kon Tum kiêu hùng. Tiếp theo thị xã An Lộc bị bao vây trong 90 ngày nhưng vẫn đứng vững cho đến ngày cuối nên tổng thống Thiệu phong tước hiệu Bình Long Anh dũng. Sau cùng trận Quảng Trị kéo dài trên 100 ngày từ khi Bắc Quân vượt sông Bến Hải cho đến khi chiếm được Cổ Thành và mở đầu cuộc chiến 81 ngày lịch sử. Trận tái chiến Cổ Thành của miền Nam chính là ý nghĩa của tượng đài Quảng Trị ghi dấu chiến thắng sau cùng của cả chiến dịch mùa hè năm 72. Kể từ khi tiếng súng của địch pháo vào Kon Tum cho đến cuộc bao vây An Lộc kéo dài đến hết tháng 3 năm 1972 tại miền Hỏa Tuyến. Trong cuộc chiến mùa hè năm xưa đã có hàng trăm ngàn quân dân chính miền Nam đã hy sinh mang màu sắc của tất cả các quân binh chủng trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.                                                     

 Sau miền Nam CA ra mắt tháng 9 đến miền Bắc CA sẽ giới thiệu Tượng Đài vào ngày thứ bẩy 6 tháng 11-2021. 

 Đây sẽ là dịp giới thiệu cuộc chiến thắng cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa sau 20 năm vừa chiến đấu vừa xây dựng. Đồng thời cũng là dịp giới thiệu Viện Bảo tàng của Thuyền Nhân và VNCH duy nhất trên thế giới. Chúng tôi sẽ mời đồng bào Việt ty nạn từ miền Nam lên dự. Mời các vị dân cử toàn vùng Vịnh Cựu kim Sơn. Các chiến hữu VNCH trên toàn thế giới. Cuối tháng 10 cũng là dip ghi nhận đại hội của TQLC VNCH. Rất mong đây là dịp có sự hợp tác tổ chức chung vào ngày 6 tháng 11-2021. Lễ khánh thành tượng đài Quảng Trị sẽ là dịp xây dựng tinh thần đoàn kết quân dân chánh VNCH. Ghi dấu sự hy sinh của toàn dân và toàn quân. Không phải của riêng một quân chủng hay một binh chủng. Sẽ mời gọi tất cả các tổng hội và hội đoàn cựu quân nhân VNCH. Tháng 11 cũng là tháng có ngày tưởng niệm Cựu chiến binh Hoa Kỳ. Lễ khánh thành cũng sẽ là một ngày họp mặt mở rộng cho tất cả chiến sĩ và đồng minh đã từng sống chết bên nhau. Nhắc lại phương ngôn Việt Nam có câu. Hòn đất nặn thành ông Bụt. Hãy cùng nhau đặt niềm tin thiệng liêng vào một tượng đài. Hãy vì những chiến hữu và đồng bào đã hy sinh mà dành cho tượng đá một linh hồn. Nhìn nhận như vậy mọi tỵ hiềm tranh chấp sẽ trở nên nhỏ bé tầm thường. San Jose City cách đây hơn 50 năm đã từng thể hiện tinh thần bao dung vĩ đại. Người ta có can đảm xây dựng công viên tưởng niệm cựu chiến binh với 73 ngọn cờ trắng dành cho các chiến sĩ trận vong. Đây cũng là đài tưởng niệm duy nhất trên thế giới vượt lên trên những

suy nghĩ nhỏ hẹp thường tình.o (2).jpg

l.jpg

Giao Chi San Jose.   giaochi12@gmail.com  (408) 316 8393




TÔI GIỮA TRỜI BƠ VƠ – KỂ CHUYỆN TRUNG TÁ LÊ NGỌC TÔ: Giao Chỉ San Jose

Tôi giữa trời bơ vơ.

Giao Chỉ San Jose kể chuyện tiễn đưa trung tá Lê Ngọc Tô.IMG_3584.jpg

Tháng 3 năm 1954 tổng cộng 300 anh em chúng tôi xếp hàng ở trại Ngọc Hà, Hanoi. Đây là đám thanh niên Bắc Kỳ bị động viên được gọi đi Thủ Đức. Quân đội quốc gia mới thành lập sẽ huấn luyện cấp tốc các thiếu úy tưởng chừng sẽ đi cứu Điện Biên Phủ đang bị bao vây.Trong số hiện diện có một vài anh quê Nam Định. Vũ Văn Lộc, Trần Quốc Lịch, Nguyễn Thế Thứ, và Lê Ngọc Tô…

Phần lớn còn trẻ chưa có nửa mối tình đầu. Chúng tôi chia tay Hà Nội trong bài ca bất hủ. Tôi xa Hà Nội năm lên 18 chưa từng biết yêu. Sau khi cùng xây dựng 2 nền cộng hòa miền Nam, hai mươi mốt năm sau nước mất tan hàng tháng tư 1975. Bao nhiêu mộng đẹp tan ra thành khói bay bốn phương trời. Từ ngày đó đến nay tôi đã tiễn đưa bao nhiêu bạn cùng khóa lên đường về miền vĩnh cửu. Năm 72 trung tá Nghiêm Kế bị bắt tù binh trận Tân Cảnh. Năm 73 trung đoàn trưởng Nguyễn Thế Nhã đón Nghiêm Kế trở về trên sông Thạch Hãn. Nhã nói rằng Kế ơi là Kế, sao mày khốn khổ thế này. Hai tháng sau trung tá Nhã gốc mũ đỏ về sư đoàn 1 bị pháo kích. Chúng tôi làm đám ma cho đại tá truy thăng với vòng hoa cườm Thương tiếc Nguyễn Thế Nhã anh hùng. Nghiêm Kế khóc rằng. Nhã ơi Nhã. Sao số mày khốn nạn thế này. Sau cùng Nghiêm Kế vẫn còn sống ở San Jose cho đến năm 2020. Hai năm qua, với công việc hội trưởng của khóa Cương Quyết Đà Lạt 1954, tôi trở thành người chuyên lo Chung sự cho anh em. Tôi thừa biết rồi sẽ có một ngày anh em chẳng còn ai. Đưa người ta, không đưa qua sông.Cũng chẳng còn sóng ở trong lòng… Nào ngờ ngày sau cùng đó chính là hôm qua. Ngày thứ bẩy đầu tiên của tháng 9 năm 2021. Cả khóa trong tang lễ chỉ còn lại có 2 thằng cùng quê Nam Định. Một thằng nằm. Một thằng đứng. Trung tá Lê Ngọc Tô sinh năm 1934 đội mũ đỏ nằm trong quan tài. Tuy đã già những nét mặt bình yên. Con người của chiến tranh, của tù đầy, của cô đơn. Nhân hậu và dễ thương với chiến hữu và đơn vị nhưng xa cách và gia trưởng với vợ con. Phần tôi vẫn là thằng đứng đó giữa tang gia và bạn bè của gia đình. Rất đông các thanh niên nam nữ bạn bè của con cháu người ra đi. Tất cả mặc quần áo đen lịch sự và giữ yên lặng. Hầu hết đều không biết người chết là ai. Ông già này từ đâu đến và hơn 80 năm qua ông đã làm công việc gì. Tang gia có 3 cô con gái nhưng không giới thiệu ai là vợ. Dù không biết nhưng cũng không ai thắc mắc. Các cô thương yêu biết rõ về thân phụ nhưng không cháu nào biết rõ về ông trung tá nhảy dù. Lại càng không biết về ông chỉ huy đơn vị cảnh sát dã chiến.  Mười hai chiến binh nhảy dù xếp hàng nghiêm chỉnh làm lễ phủ cờ cho người anh hùng mũ đỏ nhưng không ai biết về những thành tích của ông thời đệ nhất cộng hòa. Đại diện hội cảnh sát và hội Võ bị lên chia buồn cùng tang quyến nhưng cũng không có dịp biết về công việc của vị trung tá cảnh sát thời đệ nhị cộng hòa.IMG_3582.jpg

IMG_3637.jpg

IMG_3589.jpg

Tôi sinh năm 1933 hơn bạn Tô một tuổi cùng quê Nam Định vì duyên nợ quân trường nên biết nhau qua 21 năm binh nghiệp. Nhưng quả thực không biết rõ về gia cảnh, về chuyện ngục tù, chuyện HO và đời sống nơi đất khách quê người. Gặp nhau 1 lần họp khóa ở Việt Nam rồi lại gặp nhau khi bạn HO mới qua Mỹ. Đã gần 30 năm qua Lê Ngọc Tô mới trở lại San Jose, tôi nhớ thủa từ Nam Định lên trại Ngọc Hà Hà Nội. Mười năm sau họp khóa ở Việt Nam rồi lại gặp nhau khi bạn HO mới qua Mỹ. Đã gần 30 năm qua Lê Ngọc Tô mới trở lại San Jose. Ngày xưa tuổi trẻ rực rỡ như sao mai, bây giờ một thằng nằm và một thằng đứng. Tôi với trời bơ vơ biết nói gì với người yêu cũ của bạn và đám con cùng với tuổi trẻ m ặc áo đen đưa đám người anh hùng của cuộc chiến tranh Việt Nam. Khóa chúng tôi ở miền Bắc này có 10 bà quả phụ và 8 vị anh hùng. Chỉ duy có con gái Đinh Trọng Ất chở mẹ ghé qua. Tất cả quý ông bà còn lại đều không đi được hoặc con cái không có ngày giờ thuận tiện. Hội trưởng về chiều tuyên bố các bạn cứ kêu Taxi hay Hu Bơ hội ta sẽ trả tiền. Các bạn tôi cho biết chưa từng gọi Hu Bơ và dù có kêu cũng rất cần có y tá hộ tống. Vì những lý do rất dễ thương như vậy nên tôi không bàn nữa mà xin kể qua câu chuyện riêng về bạn Lê Tô như sau.  

Năm 1954 khi ra trường Tô về nhẩy dù và trải qua các đơn vị tác chiến cho đến khi lên đại úy và làm tiểu đoàn phó. Sau thời gian dài làm sĩ quan mũ đỏ, đẹp trai hào hoa phong nhã anh lập gia đình với giai nhân Cẩm Dung qua mối tình Chú Cháu như tiểu thuyết của Chu Tử. Cô vợ trẻ hơn chồng trên 10 tuổi đã sinh hạ cho chàng một trai và 3 gái.Trong 21 năm chiến tranh anh sinh viên sỹ quan của khoá Cương Quyết Đà Lạt đã 4 lần lãnh chiến thương bội tinh. Đã từng làm quận trưởng cảnh sát quận 6 và chỉ huy sảnh sát dã chiến. Lần bị thương và thoát chết lịch sử là bị không quân Mỹ bắn nhầm trong Chợ Lớn năm Mậu Thân 1968. Giai đoạn tiếp theo là trang sử thi của gia đình và đất nước. Trung tá Tô đi tù tập trung 13 năm và người vợ tiểu thư gánh vác toàn vẹn việc nuôi con và nuôi chồng trong tù. Đến khi được tự do và gia đình HO qua Mỹ thì ông trung tá nhảy dù vốn là người của chiến tranh nên không thích hợp với cuộc sống bình yên tại Mỹ. Lê Ngọc Tô quyết định xa gia đình, tìm cuộc sống cô đơn và biệt lập ở miền Tây Bắc Hoa Kỳ. Cô Cẩm Dung trở thành bà mẹ quán xuyến một mình xây dựng cuộc sống nuôi đàn con trưởng thành như phép lạ. Những đứa con gái hiếu thảo vẫn liên lạc với thân phụ và sau cùng vào những ngày tháng sau cùng đưa ông Tô về San Jose để trông nom trong giờ phút cuối.

Phút lâm chung. Chuyện gia đình kể rằng vào ngày sắp ra đi ông Tô đã rất yếu. Những người con gái và bà mẹ ngồi quanh giường bệnh. Con gái thì vẫn là những đứa con gái thương yêu của bố. Nhưng người thiếu phụ bây giờ không phải là vợ, cũng chẳng phải là người yêu dấu bé bỏng ngày xưa. Bà ngồi đó tiếp tay cho con gái soa bóp cho ông Tô. Kỷ niệm nào còn lại hơn 10 năm làm vợ. Gần 13 năm nuôi tù. Rồi những năm chuẩn bị HO. Sau cùng là 30 năm xa cách ngay tại xứ Mỹ. Con gái nói. Bố có biết ai đang soa bóp không. Tay mẹ đấy. Trên khuôn mặt già nua hiu hắt qua ánh mắt chợt như nở một nụ cười. Tiếng con trẻ lại kêu vang. Bố cười rồi mẹ ơi. Trung tá Lê ngọc Tô thực sự đã mỉm cưới trước khi ra đi về miền vĩnh cửu. Con người mãi mãi thuộc về chiến tranh. Một thứ gia trưởng trong gia đình. Không biết bày tỏ tình yêu thương vợ con. Ở Việt Nam làm ông lớn đã đành. Đi tù về không chịu đạp cyclo. Qua Mỹ không chịu quét nhà. Vợ nấu cơm tháng nhưng chồng không chịu lái xe. Thời vàng sơn không chịu giao tiền cho vợ. Vào giờ phút cuối cùng anh Tô giao phong bì có chút tiền dành dụm bảo con đưa cho vợ. Cẩm Dung vừa khóc vừa nói. Ngày xưa anh không đưa tiền cho em vung vít. Bây giờ lâm chung anh đưa tiền cho người vợ cũ làm gì. Nhưng cô Dung ơi. Đó không phải là tiền. Đó chính là tình yêu.

Người anh hùng của cuộc chiến tranh tan hàng gẫy súng. Ông Tô đứng về phe thua cuộc. Ở Việt Nam ông không chịu đạp Cyclo. Đi Mỹ ông không chịu quét nhà và đưa cơm tháng. Ông khước từ đoàn tụ ngay trên đất Mỹ. Tô phải tìm đường đi xa vì ông mãi mãi là gia trưởng của nhà Lê. Ông là con cháu vua Lê Đại Hành, Lê Ngọc Tô không chịu lao động trước mặt vợ con. Anh đành đoạn để vợ con lao động tự do.

Trước phút lâm chung bạn Tô của tôi đưa cho vợ phong bì với chút tiền dành dụm từ 30 năm xa cách. Đó chính là thông điệp của người gia trưởng. Vẫn còn tiền và trách nhiệm đùm bọc vợ con .

Tiền đó chính là tình yêu. Tình yêu của chú Tô gửi cho cháu Dung. Sau cùng cuộc chiến tranh Việt Nam vẫn còn lại mối tình Chú Cháu. Tôi đứng dưới trời bơ vơ mà giải được một cuộc tình. Ước mong tìm được cái vòng hoa Cườm ngày xưa tôi đặt làm cho đại tá Nguyễn Thế Nhã với hàng chữ Tiếc Thương Nguyễn Thế Nhã anh hùng. Nếu phải ông còn đủ quyền hành như thời xưa. Trung tá Lê Ngọc Tô sẽ ra đi với cấp bậc đại tá truy thăng. Bây giờ tôi với bạn chỉ còn là một thằng đứng và một thằng nằm dưới trời bơ vơ. Chờ đến lượt mà thôi.

Xin cảm ơn anh em Mũ đỏ phủ cờ. Hội Võ bị và hội Cảnh sát đến  chia buồn. Cảm ơn thiệt tình.

Tiểu sử Trung tá nhảy dù Lê ngọc Tô

Trung tá Tô một thời được coi như anh hùng của binh chủng Mũ đỏ. 11 lần tuyên dương công trạng với 16 huy chương gồm đệ tứ bảo quốc với ngành dương liễu và 4 chiến thương bội tinh. Từ trung úy năm 1954 lên trung tá năm 1968. Chỉ huy các đơn vị nhảy dù cấp trung đội lên đại đội và tiểu đoàn. Với vóc dáng cao lớn ông được tuyển chọn làm sĩ quan liên lạc hội nghị Colombo. Được đặc cách qua chỉ huy biệt đoàn cảnh sát dã chiến. Trưởng ty cảnh sát quận 6 kiêm đặc khu trưởng khu 6 thuộc đô thành Sài Gòn. Đơn vị sau cùng ông là phối trị viên cho nghị hội Liên hợp quân sự 2 bên. Trung tá Tô cũng đã trải qua 12 năm 8 tháng 3 ngày tù tập trung từ trong Nam ra ngoài Bắc. Cùng gia đình định cư tại Bắc CA cuối năm 1991

Giao Chi San Jose.   giaochi12@gmail.com  (408) 316 8393




LINH HỒN TƯỢNG ĐÁ – Giao Chỉ -Vũ Văn Lộc

LINH HỒN TƯỢNG ĐÁ

Giao Chỉ, San Jose.

Lời nói đầu: 

Anh em cao niên từ xa vẫn hỏi tôi. Bác biết gì về chuyện xây dựng tượng đài Quảng Trị tại Nam CA. Trả lời rằng tuy không biết nhiều nhưng cũng biết đủ để tìm thấy Cay đắng nở hoa. Khi cuộc tranh chấp gần bế tắc thì các bạn ở San Jose đến hỏi tôi. Viet Museum có thể dành một chỗ cho tượng đá yên nghỉ không. Tôi trả lời. Con người không toàn hảo nhưng ai cũng có linh hồn. Tượng đá cũng không thể toàn hảo, nhưng tượng đá có linh hồn. Viet Museum là nơi hội tụ của linh hồn trăm ngàn thuyền nhân và trăm ngàn tử sĩ. Đây chính là ngôi đền thánh của chiến tranh Việt Nam. Cửa đền luôn rộng mở. Xin các bạn đem Quảng Trị về San Jose. Câu chuyện bắt đầu như thế và sẽ chấm dứt cũng như thế. Không thắc mắc mà cũng chẳng oán thù. Đừng quên là San Jose có công viên toàn cờ trắng tưởng niệm chiến tranh.

Chuyện kể từ đầu: 

Cá nhân tôi cũng không biết nhiều về các bạn dân cử miền Nam CA. Chỉ nghe nói thành phố nhỏ bé với Exit Little Sài Gòn có 5 ghế nghị viên mà thế hệ tương lai của Việt Nam đã ngồi 4 ghế. Tin mừng chưa bao lâu thì lại có chuyện cử tri sẽ tổ chức truất phế tất cả. Các bạn dân cử miền Nam lên xin miền Bắc cứu viện. Tôi cũng đến dự ngày vận động gây quỹ và nói được một câu gây tình thân hữu. Giao Chỉ nói rằng, chúng ta đã mất Hoàng Sa rồi lại mất cả Trường Sa. Xin đừng để mất Bol Sa. Từ đó mối thân tình được lưu ý. Nhưng rồi sáng kiến của anh em về việc xây dựng một tượng đài vinh danh trận Quảng Trị đã trở thành vấn nạn cộng đồng. Chuyện nhỏ thành lớn chuyện. Thật đáng tiếc.                                                                         

 Khóa Cương Quyết Đà Lạt 54.           

Cá nhân tôi là đại tá giám đốc PathFinder làm việc tại bộ Tổng Tham Mưu nên liên hệ rất nhiều với cố vấn Mỹ. Thường bay trực thăng đến các mặt trận. Gặp các bạn cùng khóa trên khắp 4 vùng chiến thuật. Năm 1954 Bắc Kỳ động viên có 300 thanh niên vào khóa tư phụ Thủ Đức. Bay từ Hà Nội vào Sài Gòn theo khóa Cương Quyết số 2 nhưng giờ chót quân xa chở chúng tôi lên học trường hiện dịch Đà Lạt. Khóa chúng tôi có danh hiệu Cương Quyết Đà Lạt 1974. Sinh viên sỹ quan học khóa Cương quyết chính tại Thủ Đức đã vào trường là ông Ngô Quang Trưởng.

Mùa hè 72 ở hỏa tuyến: 

Mười tám năm sau, mùa hè 1972 Bắc Quân tấn công miền Hỏa tuyến chiếm gần hết Quảng Trị làm rung động đất Huế. Có ông thượng sĩ tiểu khu Thừa Thiên đạp xe quanh chợ Đông Ba nói rằng. Bà con không phải chạy. Trưởng hắn từ trong Nam bay ra rồi. Thực vậy. Cương Quyết Thủ Đức Ngô Quang Trưởng từ Cần Thơ bay lên Sài Gòn. Cùng ông Hinh, thủ khoa khóa 1 Nam Định ghé dinh độc lập rồi bay ra Đà Nẵng. Trực thăng bốc ra Huế, ông Trưởng đến ngay phòng tuyến sông Mỹ Chánh gặp đại tá TQLC Phạm Văn Chung. Tướng Trưởng kéo Chung ra một góc hỏi nhỏ. Giữ được không? Hai người cùng ngó về phía trước. Bên tay trái là Đại Lộ Kinh Hoàng, xa xa phía bên phải là Cổ thành Quảng Trị hiện trong tay Bắc Quân. Quay về ông tư lệnh, Phạm văn Chung lữ đoàn trưởng 369 trả lời. Thưa trung tướng, tôi giữ được. Hiện nay đường tiếp tế của địch quá dài nên đã yếu rồi. Chắc chắn tôi chặn đường của địch đánh Huế. Anh SVSQ khóa Cương Quyết Đà Lạt 54 nguyên thuộc trung đội 24 nói quả quyết với ông tư lệnh quân khu. Nhưng ta phải phản công ngay. Anh bạn cùng khóa với tôi đã kể lại câu chuyện bên bờ sông Mỹ Chánh. Bây giờ ông SVSQ Cương Quyết Thủ Đức Ngô Quang Trưởng và SVSQ Cương Quyết Đà Lạt đều không còn nữa. Nhưng ngay sau đó trận phản công bắt đầu. Từ phòng tuyến Mỹ Chánh lữ đoàn 2 nhẩy dù đi cánh trái do đại tá Trần Quốc Lịch chỉ huy. Anh Lịch là SVSQ khóa Cương Quyết trung đội 21. Lữ đoàn phó cũng là bạn cùng khóa. Trung tá Ngô Lê Tĩnh với 53 huy chương và 4 chiến thương. Anh Tĩnh là người nhiều huy chương nhất của gia đình mũ đỏ. Cánh quân tay mặt đi phía biển do SVSQ trung đội 22 chỉ huy. Bây giờ anh là đại tá TQLC Ngô Văn Định lữ đoàn trưởng 258. Với 5 lần bị thương, 22 lần tuyên dương có cả đệ tam bảo quốc, Anh là người có nhiều chiến công nhất của binh chủng mũ xanh. Nhận lệnh chỉ huy lữ đoàn 258 bao gồm 5 tiểu đoàn TQLC và 1 tiểu đoàn pháo 105 tổng cộng 5 ngàn chiến binh. Lữ đoàn phó là trung tá Đỗ đình Vượng cùng khóa Cương Quyết. Hai cánh quân cùng tiến về Cổ Thành bên sông Thạch Hãn. Thật là sự trùng hợp kỳ lạ trong một chiến dịch đã có đến 3 tư lệnh lữ đoàn và 2 phụ tá cùng khóa tham dự. Nhưng Phạm văn Chung không còn nữa. Ngày nay chuẩn tướng Trần Quốc Lịch cũng đã ra đi. Cả khóa 300 chiến hữu 10 phần chết 7 còn 3. Hiện chỉ còn đại tá Ngô Văn Định và chúng tôi cư ngụ tại San Jose. 

Anh Tĩnh và anh Vượng vẫn còn đây. Một anh bạn học sinh tiểu học từ Nam Định đã chỉ huy lữ đoàn Thiết Giáp chia làm 4 đơn vị đem chiến xa yểm trợ cho Dù và TQLC khi đánh trận Cổ Thành. Ngày nay đại tá thiết giáp Hà Mai Việt ở TX vẫn còn lận đận đi biếu sách Tâm Hồn Cao Thượng để báo hiếu cho thân phụ.

Giọt nước mắt mùa Thu.

Dù rằng chúng tôi hoan nghênh và chào đón Tượng Đài trên đất Việt Museum nhưng thủ tục giấy tờ và kiểm soát kỹ thuật kiến trúc vẫn phải thi hành và thời gian là trở ngại chính. Kiến trúc sư của dự án cho biết chỉ nguyên lấy hẹn với chuyên viên thành phố cũng phải chờ 2 tuần. Nhà ngoại giao số một của chúng tôi phải bỏ việc chính tại dược phòng để đi lo ngày đêm cho việc phụ. Trong danh sách thành phần góp sức quan trọng có tên Ms. Hoàng Mộng Thu cả 2 phía. Nhân danh trưởng đoàn Lam Sơn cô Thu đã đích thân xây tường tưởng niệm 30 tháng tư tại Museum . Lần này cô lại cầm bản vẽ đi gõ cửa tại San Jose City. Các nhân vật thẩm quyền đã đưa câu hỏi không thể tranh cãi. Hồ sơ này đã thực hiện hơn 6 tháng và không hoàn tất ở một thành phố nhỏ bé miền Nam, làm sao bà lại nói rằng chúng tôi là đại đô thị trên triệu dân ở San Jose phải chấp thuận ngay trong một tuần. Bà phải biết rằng cái ông đại tá già ở Việt Museum đã tung hoành phá lệ hơn 10 năm tại đây. Chuyện như vậy thử hỏi nhà ngoại giao số 1 của chúng ta đã hòa giải ra sao? Nước Mắt Mùa Thu rửa sạch mọi khó khăn. Trước bàn hội nghị cô Thu giải thích trong nước mắt chan hòa. Cô khóc cho Thuyền nhân. Cô khóc cho Tử sĩ. Cô khóc cho thân phận và có khóc cho hồ sơ tượng đài Quảng Trị. Các ông bà Mỹ khó tính bỗng hoảng hồn xuống nước dỗ dành người phụ nữ Việt Nam đi tìm đất cho Linh Hồn Tượng Đá. Và ngày hôm sau thư từ thượng viện CA ong Dave gửi đến. Điện thoại từ văn phòng giám sát quận hạt ong Lee gọi qua. Tel hỏi thăm kết quả từ nghị viên số 7 trực tiếp nhắc nhở. Nước mắt mùa Thu của con cháu bà Triệu Ẩu ướt đẫm hồ sơ tượng đài Quảng Trị. Nhà Thầu bắt đầu chuẩn bị đưa máy đào khởi công.

Đâu là mây trời Cam Lộ.

Trong phái đoàn Việt Museum xuống miền Nam ký nhận hồ sơ Quảng Trị có bác Nguyễn Đức Cường hiện là chủ tịch hội đồng quản trị cơ quan IRCC. Xin nhắc qua về nhân vật quan trọng của chúng tôi. Ông Cường là thanh niên Bắc Kỳ di Cư 54 được học bổng du học Hoa Kỳ. Đầu thập niên 70 thành tài về nước gặp lúc tổng động viên. Phần lớn các nhà chuyên môn bằng cấp Hoa Kỳ đều lên Quang Trung làm tạp dịch để chờ vào Thủ Đức tòng quân. Nội các của thủ tướng Trần Thiện Khiêm cần cải tổ nhân sự với các nhà khoa bảng tốt nghiệp từ Hoa Kỳ. Quý vị có học vị chuyên môn từ đại học Mỹ đang lao động cắt cỏ hàng rào trại lính bỗng được mời ra giúp nước. Tưởng rằng tương lai sẽ trở thành chuẩn úy Thủ Đức đi khắp 4 vùng chiến thuật nào ngờ được về lại Sài Gòn học việc để lãnh chức tổng trưởng kinh tế. Đó là phần số bác Nguyễn Đức Cường vào đầu thập niên 70.

Nhưng hoàn cảnh bác Phan Quang Tuệ có kỷ niệm đau thương hơn với tượng đài Quảng Trị. Lần này xuống chứng kiến lễ bàn giao Linh Hồn Tượng Đá với tư cách chủ tịch hội đồng tư vấn của Việt Museum, ông Tuệ vốn đã là thẩm phán tòa di trú liên bang tại San Francisco. Hơn 40 năm trước ông Tuệ là trung úy Thủ Đức ngành tư pháp đang phục vụ tại Tối Cao Pháp viện. Mặt trận hỏa tuyến bùng nổ dữ dội. Hai bên đang quần thảo khắp vùng Đông Hà, Triệu Phong và Cam Lộ. Bác Sĩ Phan Quang Đán, Quốc Vụ Khanh của chính phủ đang lo cho dân ty nạn đã gọi điện cho trung úy Tuệ. Ông kêu con trai ra ngay miền Trung. Người con út là phi công khu trục đã gãy cánh và mất xác tại chiến trường Cam Lộ. Đây là người em trai duy nhất. Ông Tuệ kể lại. Đại Uý Phan Quang Tuấn bị hoả tiễn Sam bắn rơi ngày 6 tháng 4, 1972 trên không phận Cam Lộ.  Phi công Trần Thế Vinh là người giao xách tay hành trang của Tuấn cho tôi.  Qua ngày hôm sau Trần Thế Vinh bị bắn rơi.  Buổi lễ cầu an cho Đại Uý Tuấn thành lễ cầu an cho cả hai phi c ông VNCH.  Cam Lộ là chỗ nào.Trên bản đồ Việt Nam, nếu ta kẻ một đường dọc và một đường ngang chính giữa. Giao điểm của 2 đường kẻ chính là Cam Lộ. Đó là lý do chúng tôi mời ông bà Tuệ suôi Nam để đón linh hồn tượng đá Quảng Trị về San Jose. Dưới trời Bolsa sẽ có người nhớ về mây trời Cam Lộ.

Tại Sao lại là Việt Museum.

Viện bảo tàng của chúng tôi có tên dài và đầy đủ là Viện Bảo tàng Thuyền Nhân và Việt Nam Cộng Hòa. Ước mong thành lập Museum đã có trên 30 năm. Thực sự có duyên may vào được khu vườn lịch sử San Jose từ năm 2006. Năm nay 2021 ngôi nhà Victoria thêm đất và khu vườn công sản trị giá 4 triệu Mỹ Kim. Các tác phẩm và di sản hiện có đã lên đến 6 triệu mỹ kim bao gồm 100 danh hiệu gần như vô giá. Những danh họa sơn dầu về thuyền nhân và chiến tranh. Di sản của ông Thiệu do bà Thiệu trao tặng. Ngôi sao đầu tiên của tướng Lương Xuân Việt. Những bộ quân phục của hải lục không quân VNCH. Di sản đem theo của đại tướng Viên. Quà tặng của tướng Westmoreland gửi ông Viên. Gạt tàn thuốc lá của tướng tuẫn tiết Lê Văn Hưng. Đôi nạng gỗ của Việt Dzũng. 4 cây súng trường của Nga Tàu Mỹ và Pháp trao vào tay thanh niên Việt 2 miền trong cuộc chiến 21 năm. Các bức tượng đài vô giá. Ba bộ huy chương VNCH mỗi bộ 120 chiếc trị giá tổng hợp 200 ngàn mỹ kim. Hai con thuyền Cà Mau vượt biển đi suôi và con thuyền Hải Nhuận từ Huế đi ngược. Cả hai đến bến tự do và nằm cạnh nhau tại Museum Thuyền nhân. Ngay cửa Museum có tấm bảng ghi lại ý nghĩa của viện bảo tàng đầu tiên và duy nhất của người Việt trên thế giới. Với tro tàn lịch sử. Ta xây dựng bảo tàng. Đem quá khứ huy hoàng, gửi tương lai vĩnh cửu (We build the Museum of the future from the Ashes of the Historical Past) Tất cả học sinh Silicon Valley cả ngàn em đều phải đi Field Trip  hàng năm tại đây.

Và chính ở viện bảo tàng này đã có hàng trăm ngàn linh hồn thuyền nhân đi mà không đến, có hàng trăm ngàn tử sĩ hy sinh cho chúng ta được sống. Thưa quý vị chính tại nơi đây chúng tôi sẽ hân hoan chào đón linh hồn tượng đá Quảng Trị từ miền Nam California. Đây chính là quá khứ huy hoàng gửi tương lai vĩnh cửu. Chúng tôi không tranh luận mà cũng chẳng hận thù. Chỉ yên lặng đón chào bằng nước mắt mùa Thu.( Đại tá Giao Chỉ, Vũ Văn Lộc)

Sau đây là thông báo chính thức của cơ quan IRCC/Viet Museum

Thông báo đặc biệt của cơ quan IRCC/VietMuseum

3017 Oakbridge Dr San Jose CA 95121

408 316 8393   giaochi 12@gmail.com   vietmuseums@gmail.com

Cơ quan xin hân hạnh thông báo.

Được sự thỏa hiệp của History Park và thnh phố San Jose, cơ quan IRCC/ Viet Museum chúng tôi sẽ chính thức tiếp nhận tượng đài “Tái Chiếm Cổ Thành Quảng Trị” do Uỷ Ban Xây Dựng Tượng Đài thuộc tổ chức “Quang Tri Victory Foundation” thực hiện vào ngày 18 tháng 9-2021 tại thành phố Westminster. Sau lễ tiếp nhận, tượng đài sẽ được đưa về an vị bên cạnh “Bức Tường Tưởng Niệm” các vị đã tuẫn tiết ngày 30/4/1975. Trong khuôn viên Việt Museum thuộc Công Viên Lịch Sử -History Park, San Jose. Đây là một di sản vô giá do Quang Tri Victory Foundation thực hiện với sự cộng tác của các thành phần tình nguyện trong cộng động Việt Nam 2 miền Nam Bắc California và sự ủng hộ của đồng hương khắp nơi. Việt Museum là viện Bảo Tàng Thuyền Nhân và Việt Nam Cộng Hòa đầu tiên và duy nhất trên thế giới được thành lập trên phần đất vinh danh lịch sử San Jose là nơi có số lượng người Việt đông đảo nhất cư ngụ ngoài Việt Nam. Đây là những lý do mà tổ chức Quang Tri Victory Foundation đã quyết định dành cho Việt Museum được vinh dự tiếp nhận tượng đài Quảng Trị. Chúng tôi xin vui mừng loan báo tin rất quan trọng và gửi lời chân thành cảm ơn Uỷ Ban Xây Dựng Tượng Đài. Sau khi tượng đài được an vị tại Việt Museum chúng tôi sẽ hợp tác tổ chức lễ khánh thành trọng thế với sự tham dự của các cấp dân cử cùng toàn thể đồng hương Việt Nam tại Bắc Cali và khắp nơi.                       

Ký tên:  Vũ Văn Lộc              Giám đốc cơ quan IRCC/Viet Museum,                  Nguyên đại tá thuộc bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH,                                   

Nhân chứng ủy nhiệm 1   Nguyễn Đức Cường                                                                                  Chủ tịch hội đồng quản trị IRCC/Viet Museum.                                                                            Nguyên Tổng trưởng Kinh tế Đệ nhị Cộng Hòa.                                                                                                                                                                                 Nhân chứng ủy nhiệm  2  Phan Quang Tuệ,                                                                        Chủ tịch hội đồng Tư vấn IRCC/ Viet Museum,                                         Nguyên chánh thẩm tòa án di dân liên bang tại San Francisco  

*************************************

Linh Vu  10:24 PM (8 minutes ago)   To BacLoc.

Your story is touching / uplifting and I am very sure many people in San Jose greatly appreciate everything you have done for the community for almost 50 years.   Every time I read any of your articles,  I would learn something very valuable. So for that, I am very grateful.   The lesson that I learn from this writing is this

A house divided will help those that might not have our best interest in mind.  This is true even within our family and not alone in the community.   And more importantly,  don’t let temper take the best of you for you might end up doing something that destroys instead of building.  The story of Judge Phan Quang Tue’s brother is very beautiful in its tragedy, bravery and temperament.

The will of the Vietnamese as Dr. Dan would have espoused can be seen indirectly throughout the process.  What’s lacking is a little humility and putting a little bit of thought into lifting oneself up by lifting the community and others and not stepping on each other, putting each other down in order to lift oneself up.

The article shows the political leverage that you have, which is justly so.   However, political power is fleeting because it is often dependent on the personality of individuals.  We need to institutionalize it so that it is permanently lasting.–

Giao Chi San Jose.   giaochi12@gmail.com  (408) 316 8393




Giới Thiệu Sách: “HÀNH TRÌNH NHIẾP ẢNH” & “The Best We Could Do”- GIAO CHỈ

GIAO CHỈ GIỚI THIỆU 2 TÁC PHẨM.

HÌNH CHỤP VÀ HÌNH VẼ

Độc giả thân tình.

Mỗi khi khai báo con người có thú vui riêng, tôi vẫn không ngần ngại khai rằng mình là người thích ĐỌC. Vốn sở học của tôi chỉ trung bình. Vừa đỗ trung học đệ nhất cấp tại Nam Định xong. Lên Hà Nội chưa được bao lâu thì có giấy gọi động viên. Năm 1954 Điện Biên Phủ đang bị bao vây, quân đội quốc gia tân lập cần rất nhiều sĩ quan. 300 anh em miền Bắc chúng tôi vừa tốt nghiệp trung học là phải đi lớp sĩ quan trừ bị. Từ 1954 cho đến 1972 tôi mới có dịp tự đọc sách để thi tú tài IBM. Vì vậy phải nói rằng từ tuổi 20 cho đến nay, đa số kiến thức tôi học được trong sách và trong cuộc đời. Tôi đọc sách say mê và ngày nay đọc rất nhiều trên máy tính. Với khả năng của con mọt sách, hôm nay xin giới thiệu với độc giả thân tình hai tác phẩm mà tôi thực sự say mê. Tác phẩm làm cho chúng ta yêu quê hương hơn. Yêu con người Việt Nam hơn. Hai tác phẩm này rất khác biệt cũng do 2 người Việt Nam sáng tác và xuất bản tại Hoa Kỳ. Cuốn thứ nhất là Hành trình nhiếp ảnh của giáo sư Vũ Công Hiển San Francisco và cuốn thứ hai là The Best We Could Do của nữ tác giả Thi Bùi, nguyên giáo sư tại Oakland.

Hành trình nhiếp ảnh:  Tác phẩm của nhà giáo Vũ Công Hiển tốt nghiệp cử nhân rồi cao học Sử tại Sài Gòn, trải qua 10 năm dạy học tại miền Nam. Vượt biên qua Mỹ trở thành sinh viên tốt nghiệp SFSU để trở lại làm thầy dạy các trường trung học Hoa Kỳ trong 20 năm. . Năm 2010 ông thực sự dành toàn vẹn cuộc đời cho nhiếp ảnh. Hơn 10 năm lên thác xuống ghềnh, vượt qua trăm vạn nẻo đường chụp hàng trăm ngàn tấm ảnh để chọn lựa đưa vào tác phẩm gọi là 100 ảnh nghệ thuật và bài viết. Chúng ta là khán giả của các công trình nghệ thuật trình diễn đã từng say mê với Thơ phổ Nhạc. Khi nhạc sĩ danh tiếng mà đi tìm được vần thơ tuyệt vời của thi sĩ thì hạnh phúc sẽ dành cho người thưởng ngoạn. Trong lãnh vực giao duyên của văn chương với nhiếp ảnh, Vũ công Hiển là người đi tiên phong. Đã từ lâu chúng ta có cơ hội xem tác phẩm Vũ Công Hiển trên Youtube với những danh ca hát nhạc Vàng của một thời vang bóng. Những bức hình tuyệt tác xuất hiện tinh tế trên màn ảnh nhỏ qua nghệ thuật trình bày hết sức đơn giản đã làm say mê khán giả bốn phương. Nhưng lần này những câu chuyện đặc biệt viết cho từng bức hình là một sự kết hợp mới lạ đầu tiên dành cho người xem và đồng thời cũng là người đọc. Tấm hình nầy chụp ở đâu, trong hoàn cảnh nào. Kỳ công của tác giả hay là duyên may của người cầm máy. Phần lớn các tác phẩm của tác giả chụp con người. Không hề xử dụng người mẫu của đời thường. Người mẫu là nhân vật của trời đất, và của hoàn cảnh. Vẻ đẹp của trẻ thơ, của ông già thật già, của sức cần lao và núi đồi hay biển cả. Xem từng bức hình xúc động rồi quay sang đọc câu chuyện đời của từng tác phẩm. Bạn đọc sẽ suy tư cho kiếp người và phần lớn sẽ tự thương chính mình. Nhưng thực sự tác giả không nghĩ đến thân phận trầm luân của độc giả. Ông đưa đến cho chúng ta cái tình yêu quê hương, tình yêu đồng loại cũ kỹ mà dường như ta đã bỏ lại cố hương. Tác phẩm của Vũ Công Hiển không kêu gọi đấu tranh, không phê phán cuộc đời.  Tác phẩm của ông là bà già răng đen cuối cùng của dân tộc hay của cả nhân loại. Trẻ thơ thổi bóng hay nghịch nước. Những nụ cười của người ăn mày. Cuộc đua bò vĩ đại hơn cả đấu trường La Mã. Đôi bạn già còng lưng thăm hỏi trên đường quê. Đó đây có những bức hình ghi dấu được giải thưởng khiêm nhường ở một góc. Vinh quang gọi là nhưng không phải là điều hãnh diện.

Tôi có thể bàn với các bạn từng tấm hình khởi đi từ số 1. Phần ảnh miền Bắc tác giả mở đầu bằng h ình Tháp Rùa trong Hồ Gươm. Nhưng sẽ không thấy toàn cảnh Hồ Hoàn Kiếm nổi danh, mà cũng chẳng thấy rõ Tháp Rùa. Chỉ là bức hình treo một cành ngang. Tháp Rùa mờ trong sương khói. Tác giả muốn nói lên điều gì. Hoặc chỉ là vô tình. Đọc bài viết kèm theo mới biết được quanh hồ có trăm chỗ dựng ống kính nhưng dân chơi Hà Nội sao lại cùng nhau chọn chỗ này. Mở xem bức hình thứ 2 tôi bị chinh phục liền. Cô bé HMong đi kiếm củi ngồi nghỉ mệt. Tôi nhớ thời ở trường Võ Bị Đà Lạt đeo ba lô ngồi nghỉ không tháo ra khỏi lưng. Đứng dậy là đi tiếp. Đứa bé này cũng ngồi như thế. Nó duỗi chân dài để vỗ về đôi chân mỏi. Con bé chừng 10 tuổi kiếm củi về cho mẹ. Đôi mắt u uẩn với khuôn mặt mệt mỏi nhìn máy chụp hình. Cháu nghĩ gì. Quá khứ, hiện tại và tương lai. Bạn có chợt nghĩ đến cô bé HMuong vừa được giải thường ở thế vận hội Tokyo. Xem qua bên bài viết thấy những dòng sau đây: Gương mặt con bé chịu đựng như một thói quen. Tôi ngắm tấm ảnh này nhiều lần, nhưng chính con bé lại chưa bao giờ nhìn thấy tấm ảnh chụp của mình. Lại càng không biết tấm ảnh đã dự thi nhiếp ảnh quốc tế và thắng bao nhiêu lần.

Thôi, tôi chỉ dẫn quý vị đi xem 2 tấm hình trong số 100 hình chọn lọc của nhiếp ảnh gia Vũ Công Hiển. Còn lại để các bạn tùy tiện. Có cuốn sách hình này dễ thương quê hương hơn. Dễ thương dân tộc hơn. Rồi thương người như thể thương thân. Sau cùng có bạn hỏi tôi về quan điểm chính trị. Xin nhắc lại: Yêu nước không phải yêu xã hội chủ nghĩa. Chống Cộng không phải chống cả quê hương. Sách hình này khá nặng. 100 trang và giá bán 25$. Liên lạc vuconghien@gmail.com

The Best we could do.

 Đây là một tác phẩm rất lạ bằng Anh Ngữ. Tác giả là một nữ lưu gốc Việt hiện ở Oakland CA. An Illustrated memoir của Thi Bui. Đây là sách hình, tốc họa với ghi chú và đối thoại như loại sách hoạt họa dành cho trẻ nhỏ. Tác phẩm độc đáo này đã được nhiều giải thưởng, đã được nhiều lời giới thiệu của truyền thông Hoa Kỳ và sau cùng được xếp vào loại National Bestseller. Tôi chưa bao giờ thấy một tác phẩm họa hình kiểu con nít do tác giả Việt Nam viết về cuộc đời của chính mình. Đây là một hồi ký bằng tranh vẽ. Một tác phẩm về nhân văn hay chính sự.

Ba trăm ba mươi trang với hàng ngàn tấm hình tốc họa. Hết sự linh động giới thiệu một đại gia đình Việt Nam qua hơn 1 thế kỷ trầm luân. Từ trước 54 cho đến sau 75. Từ những nhân vật là bố của ông nội cho đến đàn con cháu trưởng thành tại Mỹ. Tài hội họa độc đáo của tác giả thể hiện toàn bộ lược sử người Việt từ ông Bảo Đại 1949 cho đến ông Hồ, ông Diệm rồi đến ông Thiệu ông Kỳ gói trọn trên 2 trang giấy 6×8 với đầy đủ chân dung tóm lược thời sự với biết bao nhiều tình tiết dâu bể trăm năm. Bằng những nét vẽ tài tình tác giả đã mở đầu cuốn sách hình bằng một cơn đau đẻ của bà mẹ đem chính tác giả vào đời. Vẫn chưa hết, ở đoạn sau là hình ảnh của chính tác giả sinh đứa con đầu lòng. Dùng văn chương để kể chuyện đàn bà vượt cạn cũng là độc đáo. Làm phim chuyện sinh đẻ cũng là lạ lùng nhưng vẽ cảnh sinh con có lẽ ít người nghĩ đến. Trên 300 trang sách tác giả đưa hình ảnh từ thời chiến tranh tại Việt Nam đến thời sự tại Hoa Kỳ. Cả chuyện tù cải tạo, kinh tế mới và thuyền nhân. Những thành phần trong gia đình đã hòa thuận và xung đột ra sao. Những đứa còn sống và chết, đời sống vợ chồng. Những người con gái lấy chồng Mỹ không có đám cưới. Những xung đột Quốc Cộng trong cùng dòng họ. Mỗi gương mặt phải có nét đặc thù để để phân biệt. Và sau cùng tất cả hình ảnh phải làm thành một câu chuyện lôi cuốn và hấp dẫn. Làm thế nào mà các độc giả và những nhà điểm sách Hoa Kỳ đọc được lịch sử của một gia đình Việt Nam lồng trong lịch sử của cả dân tộc. Khi đặt bút viết rằng người vợ lo lắng thì phải vẽ làm sao cho những nét đơn giản mà thấy cả một trời buồn trên nét mặt.  Sợ hãi, buồn rầu. Lo lắng hay mừng rỡ vui vẻ thể hiện qua từng nét vẽ và cử động rất tinh tế và xuất sắc.. Cuốn sách này quả thực đã hấp dẫn tôi là người đọc bị cuốn hút bất ngờ. Cuốn sách đã được giáo sư tiểu thuyết gia danh tiếng Ng, Việt Thanh phán một câu xanh rờn: Sách đã làm vỗ tim ta rồi hàn gắn lại.

“A book to break your heart and heal it” Tác giả tốt nghiệp đại học Hoa Kỳ và đồng thời theo học về hội hoạ. Tuy nhiên soạn được cuốn hồi ký cuộc đời như tác phẩm này quả là một thiên phú. Sách này có bán trên các hệ thống phát hành của Mỹ. Tôi thấy có những cuốn sách cũ nhưng con mới rao bán có $5 bao cước phí. Hãy mua một cuốn về coi. Đọc sẽ thấy thương người và thương mình hơn nữa. Cảm ơn cô tác giả Thi Bui. Thank you.

Giao Chi San Jose.   giaochi12@gmail.com  (408) 316 8393






Tưởng Niệm Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm – Giao Chỉ – San Jose

Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm
Tưởng niệm Thủ tướng Trần Thiện Khiêm
Giao Chỉ Vũ Văn Lộc

Tuổi hoa niên cùng mặc áo chinh y,
Lòng mở rộng giữa dòng đời ấm áp,
Chín mươi năm, cuộc đời như gió thoảng,
Chiều cô đơn về chậm lúc cao niên.

Nhà văn Giao Chỉ tưởng niệm Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm vừa qua đời ngày 24/6/2021 tại California.

⭐️ Những đại tướng VNCH
Quý vị có biết quân đội chúng ta có bao nhiêu ông đại tướng. Cao cấp và thâm niên nhất là đại tướng Lê Văn Tỵ, khi ông qua đời thời kỳ quốc trưởng Nguyễn Khánh đã truy thăng ông lên Thống Tướng. Các vị đại tướng khác là tổng thống Dương Văn Minh, quốc trưởng Nguyễn Khánh, Tổng tham mưu truong Cao Văn Viên và thủ tướng Trần Thiện Khiêm.        
⭐️ Hoàng hôn của các đại tướng
Ngoại trừ tướng Cao Văn Viên ra đi từ miền Đông, tất cả các vị đại tướng đều trải qua những ngày cuối cùng tại tiểu bang CA Hoa Kỳ.
Nước Mỹ đã từng là đồng minh của các tướng lãnh cầm quyền. Rồi đã quay lưng bỏ rơi, nhưng sau cùng Hoa Kỳ cũng vẫn là nơi quý vị gửi nắm xương tàn. Tôi có dịp nói chuyện với đại tướng Cao Văn Viên tại cao ốc cao niên xứ Virginia, với quốc trưởng Nguyễn Khánh và thủ tướng Khiêm tại Việt Museum San Jose. Không hỏi về chiến tranh và quốc sự. Chỉ hỏi về tuổi hoa niên. Còn tuổi nào là tuổi của tình yêu lúc mới vào đời. Tình yêu nước, yêu người và yêu chính mình.  Các niên trưởng đều đồng ý là tuổi 20. Thời kỳ trước 1954, ở Secteur Hưng Yên đã có 3 vị sĩ quan trẻ tình cờ gặp nhau trên chiến trường Bắc Việt. Trung úy Nguyễn Văn Thiệu gốc Phan Rang, Trung Kỳ. Trung Úy Cao Văn Viên gia đình từ Lào trở về Hà Nội, Bắc Kỳ. Đại úy Trần Thiện Khiêm, quê Long An, Nam Kỳ. Không ai biết rằng sau này sẽ trở thành tổng thống, thủ tướng và tổng tham mưu trưởng. Cũng vào thời kỳ đó đại úy Nguyễn Khánh từ Sài Gòn ra hành quân Hà Nội đã lấy cô vợ của 36 phố phường.
Nửa thế kỳ sau tôi hỏi niên trưởng Khánh ai lái xe đưa ngài từ Sactramento về thăm bảo tàng Việt Museum tại San Jose ? Ông nói ngon lành. “Moi” lái chứ ai. Lại hỏi ai ngồi ghế chỉ huy bên cạnh? Bà ngoại hàng Đào của đám Bắc Kỳ nhà anh chứ còn ai. Mấy năm sau cả hai ông bà cùng vào ở chung một phòng trong nhà già bác sĩ Ngải. Luật nursing home là nam nữ bất khả chung phòng, ngoại trừ phòng của ông bà quốc trưởng. Khi quốc trưởng ra đi, khách vào thăm, cô gái hàng Đào Bắc Kỳ, một thời đệ nhất phu nhân hồn nhiên nói rằng anh Khánh đi công tác. Không có nhà. Bà đã thăng hoa ngay trước khi tình Bắc duyên Nam vẫn còn nguyên vẹn.
Ông Khánh lấy vợ Bắc nhưng ông đại úy Khiêm thì vẫn một lòng một dạ với tình yêu Nam Kỳ. Ông lấy vợ Rạch Giá. Trong quân đội cấp bậc của chúng tôi xa cách. Trong chính quyền vai trò của chúng tôi lại càng cách biệt, nhưng về đường tình duyên chúng tôi chẳng khác biệt bao nhiêu. Nhà tôi cũng là nữ sinh trường Nguyễn Trung Trực cùng với chị em bà Trần Thiện Khiêm. Khi cùng ngồi nói chuyện tôi thưa rằng từ Bắc vào Nam tìm thấy hồ Than Thở ở Đà Lạt. Ai ngờ đi hành quân ở Hậu Giang thấy Rạch Giá cũng có hồ Than Thở. Xếp Khiêm vỗ đùi nói rằng: “Toi”nói đúng, “moi”lấy vợ Rạch Giá cũng thấy cái hồ Than Thở  Mệt lắm.  
⭐️ Nói đến thủ tướng Trần Thiện Khiêm ai cũng tiếc rằng ông Thiệu ông Khiêm đều không ông nào để lại hồi ký. Lúc sinh thời thủ tướng Khiêm nổi tiếng là người ít nói dù trước năm 1975 hay sau này trải qua gần nửa thế kỷ lưu vong. Ngày xưa trong một buổi đại hội tại Vũng Tàu do tổng thống Thiệu chủ tọa có cả nội các và tướng lãnh tham dự. Hội trường có cả trăm người chiếu trực tiếp trên TV. Tổng thống thao thao bất tuyệt. Ông nói thẳng những điều cấm kỵ. Về bang giao Việt Mỹ, ông không ngần ngại nói rằng ảnh hưởng Hoa Kỳ Việt Nam rất quan trọng và trực tiếp. Bên Mỹ hắt hơi là bên ta sổ mũi. Suốt buổi thủ tướng ngồi bên cạnh, đeo kính mát, yên lặng và bình tĩnh. Báo chí gọi là ông Tư mắt Kính. Không nói. Không lỡ lời. Không sai lầm. Đó có thể là khuyết điểm của chính khách. Đó cũng có thể là ưu điểm của chính trị gia. Sau này ra hải ngoại cũng như thế. Dư luận có thể thêu vẽ và bình luận về vai trò của đại tướng trong chính trường Việt Nam từ binh biến 63 cho đến ngày tàn cuộc 75, nhưng không hề khai thác được điều gì trực tiếp từ niên trưởng Khiêm. Tất cả chỉ là suy diễn.
⭐️ Những ngày sau cùng.
Những năm gần đây niên trưởng Khiêm quanh quẩn tại San Jose. Vóc dáng cao lớn và khỏe mạnh với tuổi ngoài 90. Ông không ngần ngại xuất hiện trong các buổi họp mặt đông đảo. Cùng với niên trưởng đô đốc hải quân Trần văn Chơn và tham mưu trưởng Nguyễn Khắc Bình, quý vị làm thành bộ ba tương đắc của QLVNCH. Thêm vào sự hiện diện của tổng trưởng kinh tế Nguyễn Đức Cường và dân biểu dược sĩ Nguyễn văn Bẩy.  Dù sao cũng chỉ còn vang bóng một thời. Chung quanh là những người biết chuyện nhưng không nói và người không biết tha hồ lên tiếng. Văng vẳng đâu đây là lời nói than vãn của trung tướng Thiệu: Mất nước là mất tất cả. Trong hoàn cảnh cả cộng đồng Việt hải ngoại chia rẽ giữa 2 đảng Cộng Hóa và Dân Chủ, ông đại tướng cuối cùng của Việt Nam Cộng Hoà lặng lẽ ra đi.  Lúc cư ngụ ở San Jose niên trưởng Khiêm bị té và đau chân. Ông nằm trong Nursing home một mình. Hồ Than thở xứ Kiên Giang của ông đã bỏ đi từ lâu sau một thời gian rất dài ông phải săn sóc cho bà. Ông thủ tướng đã trải qua giai đoạn rất vất vả nuôi vợ mệt mỏi hơn cả lúc cầm quyền. Ông vẫn nằm chờ đợi một mình. Một hôm có vị linh mục là cha xứ gốc Việt của miền Senter vào thăm thân phụ. Quan sát thấy tình cha con trong vòng đạo lý tôn giáo. Cha vào thăm con hay con vào thăm cha. Đại tướng bèn mời linh mục đến gặp. Ông muốn tìm về niềm tin tôn giáo vào những ngày cuối của cuộc đời. Tôi tưởng rằng niên trưởng Khiêm lẽ ra phải theo đạo từ thời ông Diệm, nhưng tôi nhầm. Thời đó mà rửa tội có thể do ảnh hưởng chính trị. Nhưng đến năm 2021 mà theo đạo là do tiếng gọi của con tim. Đại tướng hỏi vị chủ chiên tên họ là gì. Thầy tu thưa rằng họ Lê chữ đệm là Trung, tên gọi là Tướng. Lê Trung Tướng. Chuyện đơn giản thành phức tạp. Vào ngày đẹp trời. Ngay tại Nursing Home có ông Trung Tướng họ Lê rửa tội cho đại tướng thủ tướng họ Trần tại San Jose. Cuối tuần qua lễ tang đã tổ chức cho niên trưởng Khiêm tại San Diego nhưng hoàn cảnh hiện nầy mọi chuyện đều phải xếp hàng. Niên trưởng của chúng tôi, vị đại tướng cuối cùng của QLVNCH cũng đang xếp hàng nằm chờ chưa đến lượt hỏa thiêu.
⭐️ Con người một thời lẫm liệt, kiến trúc sư của biết bao nhiêu cuộc cách mạng và binh biến. Người đã từng chờ đợi Được làm Vua và Thua làm đại sứ. Đã gần 50 năm lưu lạc xứ người. 10 năm nuôi vợ đau yếu và sau cùng hồn thiêng đã bay về cố hương nhưng xác tục vẫn nằm chờ trong phòng lạnh để hỏa thiêu cùng thiên hạ. Đại tướng Khánh, đại tướng Viên, đại tướng Khiêm ai cũng nghĩ rằng cuộc đời đẹp nhất ở tuổi cấp úy ngoài 20. Nếu phải được trở lại làm tuổi trẻ 20 sẽ làm lại từ đầu. Sáng suốt hơn, xây dựng hơn, bao dung hơn và giúp được biết bao nhiêu cho đất nước cho dân tộc và cho chính mình.
Giao Chỉ VVL
⭐️ https://youtu.be/Tt7DdtjN0hw

Thủ Tương Trần Thiện Khiêm cùng các tướng lãnh VNCH viếng thăm Việt Museum San Jose .


  Giao Chi San Jose.   giaochi12@gmail.com  (408) 316 8393 ReplyReply allForward




Hoàng Hôn Của Các Đại Tướng – Giao Chỉ, San Jose.

Hoàng hôn của các đại tướng.

Giao Chỉ, San Jose.

Sáng nầy nhận được thư của niên trưởng hàng xóm Nguyễn Khắc Bình. Thứ sáu 16 tháng 7-2021 San Jose tưởng niệm thủ tướng Trần Thiên Khiêm tại nhà thờ Maria Goretti 2980 cầu nguyện lúc 11:30 và thánh lễ lúc 12 giờ. Ban tổ chức là tướng Bình nguyên TMT của đại tướng Khiêm và ông Ng Đức Cường nguyên tổng trưởng kinh tế trong nội các của thủ tướng đệ nhị cộng hòa. Ban tổ chức xin mời toàn thể đồng hương đến dự.                                                             Cũng vào dịp tháng 7 vào ngày 20-1974 cách đây 67 năm là dịp tưởng niệm cuộc di cư vĩ đại đưa 1 triệu người từ Bắc vào Nam. Tháng trước anh Dương Phục của Radio Saigon Houston hỏi rằng bác Lộc có biết đại tướng Khiêm ở CA không. Trả lời rằng ngày xưa ở Việt Nam chưa từng có dịp trực diện khi ông tướng còn trong quân đội. Sau này ông làm thủ tướng thì lại càng xa cách. Mấy năm gần đây tướng Bình có dịp mời ông đến thăm Việt Museum nên tôi mới có cơ hội nói chuyện. Nhắc lại chuyện xưa thời kỳ đất nước còn đủ hai đầu Nam Bắc, Sài Gòn Hà Nội cũng thực thú vị.

Những vị đại tướng VNCH.                                                                      

Quý vị có biết quân đội chúng ta có bao nhiêu ông đại tướng. Cao cấp và thâm niên nhất là đại tướng Lê Văn Tỵ, khi ông qua đời thời kỳ quốc trưởng Nguyễn Khánh đã truy thăng ông lên Thống Tướng. Các vị đại tướng khác là tổng thống Dương Văn Minh, Cố vấn Đặng Văn Quang, quốc trưởng Nguyễn Khánh, Tổng tham mưu truong Cao Văn Viên và thủ tướng Trần Thiện Khiêm.                  

 Hoàng hôn của các đại t ướng.                                                              

Ngoại trừ tướng Viên ra đi từ miền Đông, tất cả các vị đại tướng đều trải qua những ngày cuối cùng tại tiểu bang CA Hoa Kỳ. Nước Mỹ đã từng là đồng minh của các tướng lãnh cầm quyền. Rồi đã quay lưng bỏ rơi, nhưng sau cùng Hoa Kỳ cũng vẫn là nơi quý vị gửi nắm xương tàn. Tôi có dịp nói chuyện với đại tướng Cao Văn Viên tại cao ốc cao niên xứ Virginia, với quốc trưởng Nguyễn Khánh và thủ tướng Khiêm tại Việt Museum San Jose. Không hỏi về chiến tranh và quốc sự. Chỉ hỏi về tuổi hoa niên. Còn tuổi nào là tuổi của tình yêu lúc mới vào đời. Tình yêu nước, yêu người và yêu chính mình.  Các niên trưởng đều đồng ý là tuổi 20. Thời kỳ trước 1954, ở Secteur Hưng Yên đã có 3 vị sĩ quan trẻ tình cờ gặp nhau trên chiến trường Bắc Việt. Trung úy Nguyễn Văn Thiệu gốc Phan Rang, Trung Kỳ. Trung Úy Cao Văn Viên gia đình từ Lào trở về Hà Nội, Bắc Kỳ. Đại úy Trần Thiện Khiêm, quê Long An, Nam Kỳ. Không ai biết rằng sau này sẽ trở thành tổng thống, thủ tướng và tổng tham mưu trưởng. Cũng vào thời kỳ đó đại úy Nguyễn Khánh từ Sài Gòn ra hành quân Hà Nội đã lấy cô vợ của 36 phố phường. Nửa thế kỳ sau tôi hỏi niên trưởng Khánh ai lái xe đưa ngài từ Sacto về thăm bảo tàng của chúng tôi tại San Jose. Ông nói ngon lành. “Moi” lái chứ ai. Lại hỏi ai ngồi ghế chỉ huy bên cạnh. Bà ngoại hàng Đào của đám Bắc Kỳ nhà anh chứ còn ai. Mấy năm sau cả hai ông bà cùng vào ở chung một phòng trong nhà già bác sĩ Ngải. Luật nursing home là nam nữ bất khả chung phòng, ngoại trừ phòng của ông bà quốc trưởng. Khi quốc trưởng ra đi, khách vào thăm, cô gái hàng Đào Bắc Kỳ, một thời đệ nhất phu nhân hồn nhiên nói rằng anh Khánh đi công tác. Không có nhà. Bà đã thăng hoa ngay trước khi tình Bắc duyên Nam vẫn còn nguyên vẹn. Ông Khánh lấy vợ Bắc nhưng ông đại úy Khiêm thì vẫn một lòng một dạ với tình yêu Nam Kỳ. Ông lấy vợ Rạch Giá. Trong quân đội cấp bậc của chúng tôi xa cách. Trong chính quyền vai trò của chúng tôi lại càng cách biệt, nhưng về đường tình duyên chúng tôi chẳng khác biệt bao nhiêu. Nhà tôi cũng là nữ sinh trường Nguyễn Trung Trực cùng với chị em bà Trần Thiện Khiêm. Khi cùng ngồi nói chuyện tôi thưa rằng từ Bắc vào Nam tìm thấy hồ Than Thở ở Đà Lạt. Ai ngờ đi hành quân ở Hậu Giang thấy Rạch Giá cũng có hồ Than Thở. Xếp Khiêm vỗ đùi nói rằng: “Toi”nói đúng, “moi”lấy vợ Rạch Giá cũng thấy cái hồ Than Thở  Mệt lắm.  

Nói đến thủ tướng Trần Thiện Khiêm ai cũng tiếc rằng ông Thiệu ông Khiêm đều không ông nào để lại hồi ký. Lúc sinh thời thủ tướng Khiêm nổi tiếng là người ít nói dù trước năm 1975 hay sau này trải qua gần nửa thế kỷ lưu vong. Ngày xưa trong một buổi đại hội tại Vũng Tàu do tổng thống Thiệu chủ tọa có cả nội các và tướng lãnh tham dự. Hội trường có cả trăm người chiếu trực tiếp trên TV. Tổng thống thao thao bất tuyệt. Ông nội thẳng những điều cấm kỵ. Về bang giao Việt Mỹ, ông không ngần ngại nói rằng ảnh hưởng Hoa Kỳ Việt Nam rất quan trọng và trực tiếp. Bên Mỹ hắt hơi là bên ta sổ mũi. Suốt buổi thủ tướng ngồi bên cạnh, đeo kính mát, yên lặng và bình tĩnh. Báo chí gọi là ông Tư mắt Kính. Không nói. Không lỡ lời. Không sai lầm. Đó có thể là khuyết điểm của chính khách. Đó cũng có thể là ưu điểm của chính trị gia. Sau này ra hải ngoại cũng như thế. Dư luận có thể thêu vẽ và bình luận về vai trò của đại tướng trong chính trường Việt Nam từ binh biến 63 cho đến ngày tàn cuộc 75, nhưng không hề khai thác được điều gì trực tiếp từ niên trưởng Khi êm. Tất cả chỉ là suy diễn. 

Những ngày sau cùng.

Những năm gần đây niên trưởng Khiêm quanh quẩn tại San Jose. Vóc dáng cao lớn và khỏe mạnh với tuổi ngoài 90. Ông không ngần ngại xuất hiện trong các buổi họp mặt đông đảo. Cùng với niên trưởng đô đốc hải quân Trần văn Chơn và tham mưu trưởng Nguyễn Khắc Bình, quý vị làm thành bộ ba tương đắc của QLVNCH. Thêm vào sự hiện diện của tổng trưởng kinh tế Nguyễn Đức Cường và dân biểu dược sĩ Nguyễn văn Bẩy.  Dù sao cũng chỉ còn vang bóng một thời. Chung quanh là những người biết chuyện nhưng không nói và người không biết tha hồ lên tiếng. Văng vẳng đâu đây là lời nói than vãn của trung tướng Thiệu: Mất nước là mất tất cả. Trong hoàn cảnh cả cộng đồng Việt hải ngoại chia rẽ giữa 2 đảng Cộng Hóa và Dân Chủ, ông đại tướng cuối cùng của Việt Nam Cộng Hoà lặng lẽ ra đi.  Lúc cư ngụ ở San Jose niên trưởng Khiêm bị té và đau chân. Ông nằm trong Nursing home một mình. Hồ Than thở xứ Ki ên Giang của ông đã bỏ đi từ lâu sau một thời gian rất dài ông phải săn sóc cho bà. Ông thủ tướng đã trải qua giai đoạn rất vất vả nuôi vợ mệt mỏi hơn cả lúc cầm quyền. Ông vẫn nằm chờ đợi một mình. Một hôm có vị linh mục là cha xứ gốc Việt của miền Senter vào thăm thân phụ. Quan sát thấy tình cha con trong vòng đạo lý tôn giáo. Cha vào thăm con hay con vào thăm cha. Đại tướng bèn mời linh mục đến gặp. Ông muốn tìm về niềm tin tôn giáo vào những ngày cuối của cuộc đời. Tôi tưởng rằng niên trưởng Khiêm lẽ ra phải theo đạo từ thời ông Diệm, nhưng tôi nhầm. Thời đó mà rửa tội có thể do ảnh hưởng chính trị. Nhưng đến năm 2021 mà theo đạo là do tiếng gọi của con tim. Đại tướng hỏi vị chủ chiên tên họ là gì. Thầy tu thưa rằng họ Lê chữ đệm là Trung, tên gọi là Tướng. Lê Trung Tướng. Chuyện đơn giản thành phức tạp. Vào ngày đẹp trời. Ngay tại Nursing Home có ông Trung Tướng họ Lê rửa tội cho đại tướng thủ tướng họ Trần tại San Jose. Cuối tuần qua lễ tang đã tổ chức cho niên trưởng Khiêm tại San Deago nhưng hoàn cảnh hiện nầy mọi chuyện đều phải xếp hàng. Niên trưởng của chúng tôi, vị đại tướng cuối cùng của QLVNCH cũng đang xếp hàng nằm chờ chưa đến lượt hỏa thiêu. Con người một thời lẫm liệt, kiến trúc sư của biết bao nhiêu cuộc cách mạng và binh biến. Người đã từng chờ đợi Được làm Vua và thua làm đại sứ. Đã gần 50 năm lưu lạc xứ người. 10 năm nuôi vợ đau yếu và sau cùng hồn thiêng đã bay về cố hương nhưng xác tục vẫn nằm chờ trong phòng lạnh để hỏa thiêu cùng thiên hạ. Đại tướng Khánh, đại tướng Viên, đại tướng Khiêm ai cũng nghĩ rằng cuộc đời đẹp nhất ở tuổi cấp úy ngoài 20. Nếu phải được trở lại làm tuổi trẻ 20 sẽ làm lại từ đầu. Sáng suốt hơn, xây dựng hơn, bao dung hơn và giúp được biết bao nhiêu cho đất nước cho dân tộc và cho chính mình.

Tuổi hoa niên cùng mặc áo chinh y, Lòng mở rộng giữa dòng đời ấm áp. Chín mươi năm, cuộc đời như gió thoảng. Chiều cô đơn về chậm hồn cao niên.(Giao Chỉ tưởng niệm niên trưởng Khiêm, cùng hội cùng thuyền những người con rể xứ Kiên Giang.)

Giao Chi San Jose.   giaochi12@gmail.com  (408) 316 8393




Người Việt và Quốc Khánh Mỹ & Chiến Tranh Việt Nam – GIAO CHỈ JAN JOSE

Người Việt Và Quốc Khánh Mỹ

Tháng 7-2021

·         Giao Chỉ San Jose

·          images.jpgdownload.jpgoc_3.jpg
Phần thứ nhất: Lời nói đầu:

Tôi phải kể câu chuyện này.  Hai chính khách gốc Nhật danh tiếng của Mỹ mới gặp nhau ở San Jose nhắc lại thời thơ ấu đã cùng gia đình phải vào trại tập trung khi Trân Châu Cảng bị tấn công. Những cậu bé sinh ra tại Mỹ, không biết nói tiếng Nhật, tưởng mình là Mỹ chính thống bỗng nhiên bị coi là kẻ thù Nhật Bản. Sau đệ nhị thế chiến, cậu bé Mineta lên làm thị trưởng San Jose. Năm 1976 ông đến dự lễ thành lập cơ quan IRCC tại đường Amaden. Sau lên tổng trưởng giao thông cho chính phủ Bush. Còn ông Honda làm hiệu trưởng trường trung học tại San Jose. Là người đầu tiên mở của các lớp học cuối tuần cho chương trình Việt Ngữ Văn Lang. Sau ông làm dân biểu liên bang. Hai ông già Hoa Kỳ gốc Nhật về hưu được báo chí hỏi có nhắn nhủ gì cho thế hệ tương lai. Cả hai cùng trả lời một câu vô cùng ý

nghĩa. Làm gì thì làm, luôn luôn phải nhớ rằng mình là ai? image.png Mineta and Honda.
    Luôn luôn phải nhớ rằng mình là ai?    

   Hôm nay với tư cách là người Việt quốc tịch Mỹ, mãi mãi vẫn nhớ mình là ai, xin ghi lại câu chuyện Hoa Kỳ lập quốc nhân ngày lễ Độc Lập. Lịch sử nước Hoa Kỳ ngắn và tưởng chừng đơn giản nhưng thực sự rất phức tạp. Những người Anh tha phương tìm được đất sống đã nổi dậy chống lại cố quốc để trở thành người Mỹ. Văn hóa và ngôn ngữ vẫn từ nước Anh, nhưng di dân đã làm cách mạng chống lại nước mẹ để trở thành Hiệp Chúng Quốc. Cách mạng thành công, họ viết ra bản tuyên ngôn độc lập rồi soạn thảo hiến pháp.

Đó là cuốn Kinh thánh của nền dân chủ. Tuy nhiên những áng văn chương bất hủ đó cũng chỉ mới là lý thuyết. Tân quốc gia Hoa Kỳ ra đời đưa ra những ý tưởng cao quý và lý tưởng nhưng không thực sự thi hành. Người Mỹ trắng gốc Âu châu miền Trung Mỹ chiếm đất và tập trung dân da đỏ vào khu đồng khô cỏ cháy. Mỹ trắng miền Nam thi hành chế độ nô lệ khắc nghiệt đối với dân da đen. Tuy gọi là thể chế dân chủ nhưng không cho phụ nữ đi bầu. Di dân ngoại nhập từ Á châu cũng chỉ làm trong nông trại và làm phu đường xe lửa. Người Mỹ cũng đã từng mở cuộc chiến tranh chiếm các miền đất tốt đẹp của Mễ tây Cơ từ Texas đến California. Phải trải qua 1 trăm năm lập quốc Hoa Kỳ mới đi được từ con đường vị kỷ qua vị tha. Sau cuộc nội chiến đẫm máu Mỹ mới giải phóng nô lệ và cho phụ nữ đi bầu. Phải thêm 1 trăm năm thứ nhì nước Mỹ mới có các đạo luật đón nhận di dân và đến cuối thế kỷ 20 Mỹ mới trở thành cường quốc về chính trị, kinh tế và quân sự. Hoa Kỳ sau khi trải qua 2 đại chiến thế giới mới thực sự là quốc gia tự do dân chủ kiểu mẫu toàn cầu và đem cơ hội đến cho mọi sắc dân. 70 năm trước Mỹ đã chỉ huy trận đổ bộ từ Anh Quốc vào bờ biển nước Pháp chiến thắng phát xít Đức và xây dựng lại toàn thể Âu Châu. Chính người Mỹ đã góp phần lớn  vào việc trực tiếp viện trợ cho Nga Sô vươn lên để trở thành quốc gia dẫn đầu cộng sản thế giới. Tại Á Châu, Hoa Kỳ đã xây dựng kẻ cựu thù Nhật Bản từ một nước quân phiệt thành quốc gia dân chủ hùng cường nhưng vẫn giữ được truyền thống hoàng gia. Mang danh nghĩa là đất nước cha đẻ của Liên Hiệp Quốc, Hoa Kỳ là quốc gia duy nhất không ngần ngại đem chiến binh đi khắp thế giới bảo vệ hòa bình cùng với các chương trình viện trợ các quốc gia chậm tiến. Tham dự vào chiến tranh Cao Ly trong 3 năm hy sinh hàng ngàn chiến sĩ chỉ đem đến kết quả giữ cho nguyên trạng chia cắt Bắc Nam. Tham dự vào chiến tranh Việt Nam trong 10 năm với kết quả bi thảm phải đón nhận trước sau hàng triệu dân Việt trở thành di dân ty nạn. Sau kinh nghiệm Cao Ly và Việt Nam, giữa thế giới tự do và cộng sản, nước Mỹ đã tìm ra đường lối đấu tranh khác qua cuộc chiến tranh lạnh và sau cùng cờ đỏ phải hạ xuống tại thủ đô Mạc Tư Khoa. Trong vai trò cường quốc lãnh đạo thế giới tự do, Hoa Kỳ vẫn không ngần ngại dấn thân vào mọi hoạt động dân sinh để bảo vệ hòa bình cho nhân loại trên khắp năm châu bốn bể. Anh ngữ cũng nhờ Hoa Kỳ trở thành ngôn ngữ khuôn vàng thước ngọc toàn cầu và đồng Mỹ Kim trở thành bản mệnh kinh tế thế giới. Từ khi Hoa Kỳ chiến thắng trong đệ nhị thế chiến năm 1945 đến nay, nước Mỹ chưa bao giờ từ bỏ vai trò vĩ đại lãnh đạo toàn cầu. Cùng một lúc nước Mỹ chia xẻ phúc lợi vật chất cho thế giới và đồng thời hướng dẫn con đường xây dựng dân chủ cho các dân tộc chưa phát triển. Tinh thần quảng đại của dân tộc Mỹ có được hôm nay đã trải qua nhiều phen lột xác từ gần 300 năm lập quốc. Với tinh thần đó, xin độc giả cùng chúng tôi đọc lại trang sử Hoa Kỳ nhân ngày Quốc Khánh 4 tháng 7 năm 2021. Phần sau cùng, chúng tôi sẽ có nhận định về hoàn cảnh hiện tại. Vai trò của tổng thống Trump là một thách đố của chính trường Hoa Kỳ.  

Phần thứ hai: Dân Việt và lễ Độc Lập Mỹ.
Người Việt đến Mỹ ngay sau biến cố tháng tư 75 được gọi là di tản. Ra đi bằng phi cơ và bằng tàu trên biển Đông. Sau khi hải quân Hoa Kỳ rời khỏi hải phận Việt Nam thì những con thuyền vượt biển đầu tiên ra đi. Tất cả đều được nhận vào Hoa Kỳ dưới danh hiệu ty nạn vào khoảng 150 ngàn. Con số này nhiều hơn con số chính phủ Mỹ dự trù. Vào thời đó nước Mỹ chưa có vấn nạn di dân và lòng người Mỹ còn mở rộng sau thảm kịch cộng sản chiến thắng Sài Gòn. Ngày 4 tháng 7 năm 75 những người Việt đầu tiên hiện diện tại Hoa Kỳ vẫn chưa cảm nhận được hương vị của lễ Độc Lập. Nhiều gia đình còn ở trong trại tạm trú chờ các nhà thờ bảo trợ. Qua đến năm 1976, Hoa Kỳ kỷ niệm 200 năm lập quốc, người dân Việt mới lưu ý tham dự cùng các gia đình bảo trợ. Ngày nay, trải qua gần nửa thế kỷ sống trên quê hương mới, xin nhắc lại một lần ngày lễ vĩ đại nhất của Hoa Kỳ.

Lịch sử lễ Độc lập                                    . .
Hoa Kỳ lập quốc năm1776 có 4 triệu dân, ngày nay 2021 có 340 triệu. Trải qua gần 250 năm gia tăng trên 333 triệu.– Năm 1976 người Việt tại Mỹ có 170 ngàn, ngày nay có 2 triệu. Sau 45 năm tăng hơn 10 lần– Dân Việt tỵ nạn xây dựng cuộc sống trên đất mới trong khi thế giới chuyển tiếp giữa 2 thế kỷ 20 và 21.– Về kỹ thuật, điện tử thay đổi toàn bộ đời sống.–Về nhân văn, với sự chấp nhận hôn nhân đồng tính, Hoa Kỳ đã tiến bước rất dài trên phương diện tư tưởng, bỏ xa phần còn lại của thế giới cả trăm năm.–
Người Việt đã có mặt trên miền đất lịch sử trong một giai đoạn lịch sử. –Xin cùng quay về với câu chuyện lập quốc Hoa Kỳ. Lịch sử quê hương mới một thời bao dung mà di dân tỵ nạn chúng ta đã một thời sống chết tìm đến images (8).jpgimages (7).jpg

               .
Ngày quốc lễ                      .
Ngày 4 tháng 7 hàng năm là ngày lễ trọng đại nhất của Hoa Kỳ. Đó là ngày Mỹ quốc Tuyên Ngôn Độc Lập năm 1776 và bắt đầu chiến tranh cách mạng chống lại Anh quốc trong 6 năm. Đến 1782 Anh và Mỹ ký thỏa ước ở Paris và công nhận Hoa Kỳ độc lập. Người Mỹ đã chiến thắng trận chiến tranh đầu tiên của lịch sử Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ.  Sau kỳ kiểm kê dân số 2020 nước Mỹ tương lai dần dần trở thành là đất nước của các sắc dân mà trong đó da trắng sẽ chỉ còn 50% tổng số.                 .
Là công dân gốc Việt trong đợt di dân cuối cùng của thế kỷ 20, chúng ta nên tìm hiểu về đất nước mà chúng ta lập nghiệp. Các di dân tỵ nạn Việt Nam đầu tiên đến Mỹ năm 1975. Đến bây giờ nước Mỹ đã già thêm hơn 45 năm nhưng lịch sử trẻ trung của Hiệp Chủng Quốc rất phong phú và cũng rất độc đáo. Hoa Kỳ là quốc gia bao gồm tất cả các sắc dân, các ngôn ngữ, các tập tục văn hóa. 

Nước Mỹ đã có các kỷ niệm vừa hung bạo vừa nhân từ. Tiêu diệt da đỏ, bắt da đen làm nô lệ, kỳ thị da vàng, đem quân đi làm cảnh sát trên thế giới, đi đến đâu là gây sóng gió ở đó. Hoa Kỳ cũng là quốc gia phát huy tự do dân chủ toàn cầu, viện trợ kinh tế, quân sự, giáo dục, xã hội, văn hóa cho toàn thể các quốc gia chậm tiến trên thế giới. Nước Mỹ sống giữa 2 đại dương và có ba múi giờ. Biên cương của Hoa Kỳ trên địa cầu là một vùng đất bao la tiếp giáp với Thái Bình Dương và Đại Tây Dương. Tiểu bang Alaska của Hoa Kỳ là ải địa cầu trấn giữ Bắc Băng Dương. Biên giới không gian của Hoa Kỳ lên đến mặt trăng và Mỹ quốc cũng là quốc gia tiên phong ghi dấu vết trên Hỏa tinh. Hai ngàn vệ tinh kinh tế thương mại và quân sự của Hoa Kỳ canh gác toàn vùng khí quyển của quả đất. Đế quốc nhân văn của Hiệp Chủng Quốc thống trị thế giới bằng các đại sứ quán và tòa lãnh sự luôn luôn tấp nập các khách hàng xin visa.  Cơ sở ngoại vi của các sứ quán Hoa Kỳ là những chỗ bán thức ăn Fast Food McDonald, Kenturky, nước Coke, nhạc Rock và quần Jeans. Mỹ phát thực phẩm cho dân nghèo toàn thế giới nhưng đi đến đâu cũng bị đuổi về nhà: Yankee go home. Đó là Hoa Kỳ ngày nay, quá trẻ trung vì chỉ có hơn 250 năm lập quốc. Đất nước mà chúng ta đang là công dân có đứng lên tuyên thệ bảo vệ và tuyệt đối trung thành.Vì vậy chúng ta cũng nên biết qua lịch sử của quê hương mà phần đông chúng ta sẽ cùng các thế hệ tiếp theo ở lại đời đời .Người đầu tiên trên đất Mỹ?                        .
Các nhà nhân chủng học cho biết 12 ngàn năm trước con người tiền sử Á Châu đi tìm đường sống đã đi từ Á qua Mỹ. Tuy nhiên, đây cũng chỉ là giả thuyết. Thực tế ghi nhận đây là miền đất mới không có nhiều chỉ dấu của các nền văn minh ngàn năm trước như Âu châu. Chỉ có dấu vết các bộ lạc tàn lụi. Sau cùng chỉ còn các bộ lạc da đỏ tồn tại cho đến thời kỳ 1500 các sắc dân tây phương mới đến Mỹ bằng đường biển. Nổi danh nhất là nhà hàng hải Columbus khám phá ra Mỹ châu. Rồi tiếp theo là Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh Cát Lợi, Pháp, Đức rồi đến Nga và các quốc gia Đông Âu. Các cuộc chiến đẫm máu, triền miên ở tân lục địa giữa người địa phương và dân giang hồ mới đến. Chiến tranh giữa các thế lực Tây phương. Sau cùng Anh quốc ổn định được tại phần lớn miền Đông Hoa Kỳ và các di dân bắt đầu lên đường. Con tàu Hoa Tháng Năm, May Flower nổi tiếng đến Mỹ năm 1620 vỏn vẹn có 100 người mà một nửa là thủy thủ đoàn. Con tầu này đã trở thành biểu tượng của di dân định cư trên đất mới vì có đem theo gia đình. Năm 1621 di dân được mùa đã cùng tổ chức Lễ Tạ Ơn và ăn tiệc mừng với dân da đỏ trong một lễ Thanksgiving đầu tiên của nhân loại.  

Trong khi đó hơn 100 năm nước Mỹ thuộc Anh đã hình thành với 13 tiểu bang liên hiệp ở miền Đông. Phần lớn làm nghề nông, trồng thuốc lá, trà, và lúa. Các vùng khác thuộc Tây Ban Nha, Pháp vẫn còn tranh chấp. Cuộc chiến 1754 giữa Pháp và Anh giành đất trong 7 năm, sau cùng Anh thắng và mở rộng biên cương thuộc địa. Tiếp theo nước Anh cần tiền cho mẫu quốc nên đánh thuế các thuộc địa, thu tiền các nhà sản xuất và các đồn điền tại Hoa Kỳ. Chính sách thuế của Anh ban hành năm 1774 trở thành mầm mống cho cuộc chiến dành độc lập tại Hoa Kỳ. Tướng Washington nhận trách nhiệm lãnh đạo cuộc chiến tranh cách mạng vào năm 1775 và chính thức đứng ra tuyên bố độc lập 1776. Bản Tuyên Ngôn Độc Lập do Thomas Jefferson đại diện tiểu bang Virginia viết ra lúc ông 33 tuổi được coi là một áng văn tuyệt tác nhất của nhân loại và mở đầu cuộc chiến dành độc lập cho đến chiến thắng cuối cùng bằng hiệp định Paris 1782. Sau chiến thắng, Hoa Kỳ có 5 năm xây dựng dân chủ từ 1782 đến 1787 để hiến pháp ra đời với 9 tiểu bang chính thức rồi đến 13 tiểu bang thỏa hiệp. Những lá cờ Mỹ đầu tiên có 9 ngôi sao rồi 13 ngôi sao và bây giờ là 50 ngôi sao. Suốt từ buổi bình minh của Hiệp Chủng Quốc cho đến nay, nước Mỹ đã trải qua biết bao nhiêu là biến động. Từ hơn 4 triệu dân trở thành trên 333 triệu. Trên giấy tờ có 250 năm lập quốc nhưng thực sự quốc gia này đã thành hình từ trên 300 năm                                             .

Ý nghĩa Hiệp Chúng Quốc                                           .
Phải chăng Hoa Kỳ là một đĩa rau trộn gồm đủ mọi sắc thái nhưng tía tô vẫn là tía tô, rau giấp cá vẫn nồng nàn mùi tanh của biển mặn. Hay đây là nồi cháo mà mọi thứ thực phẩm đã được hòa tan thành một hương vị mới. Trước khi nói đến nhân quyền, tự do và bình đẳng, nước Mỹ đã trải qua các giai đoạn hành động tàn nhẫn với các sắc dân thiểu số. Vào thế kỷ thứ 19, da trắng buộc dân da đỏ phải di cư tập trung vào các khu vực dành riêng, phần nhiều là đồng khô, cỏ cháy. Thảm kịch diễn ra trên các con đường mòn di chuyển dân da đỏ được gọi là: Đường mòn nước mắt. Da đỏ già trẻ lớn bé đều phải ra đi, bỏ nhà cửa, vườn trại để vào các khu hoang vu xa cách vạn dặm. Hàng chục ngàn người đã chết. Trong khi đó ở miền Nam Hoa Kỳ, dân da đen bị bắt làm nô lệ đem từ Phi châu qua đã trở thành một lực lượng lao động quan trọng. Những bàn tay đen đủi đã xây dựng nên nền nông nghiệp miền Nam nuôi cả nước Mỹ vào thời kỳ lập quốc với những vườn bông vải trắng xóa. Nhưng cũng chính da đen là vấn nạn cho cuộc chiến tranh tương tàn Nam Bắc. Những người da đen bỏ trốn các nông trại đã bị đánh roi cho đến chết. Câu chuyện Uncle Tom với bài ca lừng danh: Let my people go, Hãy cho dân tôi đi, đã trở thành một vấn nạn trong lương tâm Hoa Kỳ   

Da đỏ xin ở lại thì bị đuổi đi. Da đen xin đi thì bị giữ lại. Ngay khi nội chiến chấm dứt, da đen được giải phóng mà vẫn còn bị kỳ thị. Cuộc chiến đấu vĩ đại của một đàn bà da đen năm 1955 không chịu ngồi phía sau xe bus đã trở thành một cuộc tổng đình công tẩy chay xe bus tại Hoa Kỳ. Từ cuộc đình công này, da đen có được một nhà lãnh đạo đầy huyền thoại là mục sư King mà tên tuổi trở thành một ngày quốc lễ. Rồi đến lịch sử Tây tiến làm đường xe lửa đem da vàng Nhật Bản và Trung Hoa nhập cuộc. Các tiền nhân di dân châu Á cũng đã ngậm đắng nuốt cay ở miền Tây Hoa Kỳ trong suốt thời lịch sử cận đại. Dân da vàng có một thời chỉ được làm cu ly đường xe lửa hay thợ giặt ủi. Sau cùng đến lượt chúng ta. Việt Nam ngày nay có hai triệu  người tại Hoa Kỳ. Sau đợt di tản 75 tiếp đến là thuyền nhân từ 75 đến 95 rồi là các HO, con lai, ODP đoàn tụ nhập cư cho đến cuối thế kỷ thứ 20. Sau cùng là diện hôn nhân. Cuộc ra đi bi thảm của thuyền nhân Việt Nam kéo dài 20 năm đã viết thành trang Kinh Khổ với 1 triệu ngưởi thành công và 300 ngàn người chết ở biển Đông. Chính những oan nghiệt của thuyền nhân đã mở đường cho ODP, HO, Con Lai đến bến tự do. Mười quận hạt có dân Việt đông đảo nhất là Orange, Santa Clara, Los Angeles, Houston, San Diego, Seattle, Oakland, DC, và Dallas. Chúng ta không phải là sắc dân cuối cùng, và chúng ta không phải là sắc dân duy nhất có quê hương cố quốc. 

Di dân tỵ nạn Việt Nam tùy theo hoàn cảnh và cảm nghĩ, có người mang theo quê hương, có người bỏ lại quê hương. Suy nghiệm hơn 40 năm mới thấy rằng đám di tản 75 phần lớn bỏ lại quê hương và chính những thuyền nhân đi sau đã đem theo quê hương. Tuy nhiên chúng ta không thể hành xử khác tập thể di dân trong trách nhiệm xây dựng đất mới. Sắc dân nào cũng có những niềm tự hào của họ. Ai cũng có các hãnh diện về truyền thống văn hóa, ngôn ngữ của cội nguồn. Điều quan trọng là phong cách đối xử và tìm hiểu để hội nhập. Chúng ta phải cảm ơn những người đi trước đã mở đường. Kể cả người xấu lẫn người tốt đã sống và đã qua đi trong công cuộc chinh phục đất nước vĩ đại này. Có điều hết sức trùng hợp là dù bất cứ sắc dân nào, dù cố quốc lầm than hay tươi sáng. Dù quê hương cũ còn độc tài cộng sản hay đã tự do dân chủ, di dân đến đây là ở lại đây. Những nhà văn Nga và Đông Âu lưu vong chống Cộng đã từng sống chết với quê hương rồi cũng phải nói rằng. Quê hương bây giờ là nơi chúng ta sống có hạnh phúc. Đó là lý do người Anh ngày xưa chiến đấu chống cố hương để trở thành người Mỹ. Người Nhật trong đệ nhị thế chiến, bị cầm tù trong trại tập trung nhưng vẫn tình nguyện cầm súng chiến đấu chống Thiên Hoàng để trở thành người Mỹ. Bởi vì trên thế giới chỉ có Hoa Kỳ mới thực sự là đất của cơ hội. Quốc gia mà con một người da đen ngoại quốc, xuất thân cán sự cộng đồng đã trở thành tổng thống. Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ hơn 200 năm trước đã ghi điều khoản bất hủ là con người được quyền mưu cầu hạnh phúc               .
Mùa hè năm qua, để chào mừng lễ độc lập lần thứ 237, tối cao pháp viện Hoa Kỳ đã ban hành nghị quyết lịch sử. Công nhận hôn nhân đồng tính, cho phép các cơ thể khác biệt cũng được mưu cầu hạnh phúc. Và bây giờ là chuyện dân Việt tại Hoa Kỳ                  .
Một lần nữa, đợt người Việt đầu tiên ở Mỹ sẽ là nhưng cây tràm, cây đước giữ chặt đất cho một cộng đồng tương lai phát triển. Con cháu chúng ta sẽ vừa nhớ ơn ông cha đã đến đất này mà cũng không hổ thẹn về những đóng góp của chúng ta trong những giai đoạn đầu tiên. Bỏ lại phía sau con sông Hồng, sông Hương, sông Cửu Long và dãy Trường Sơn. Bây giờ ta phải làm quen với con sông Sacramento và rặng Rocky Mountain để con cháu ta đứng lên đáp lời sông núi mới. Xin hãy công bình với hoàn cảnh. Hãy lưu tâm ngày 4 tháng 7 của Hoa Kỳ. Bước ra khỏi cái ghetto của cộng đồng nhỏ hẹp, tham dự vào cái xã hội vĩ đại đã đem phúc lợi cho chúng ta. Đó là cách hay nhất để xây dựng cùng một lúc cộng đồng tại Mỹ và quê hương bỏ lại ở Việt Nam. Bao gồm cả giấc mơ tự do và dân chủ. Hãy làm một công dân tốt và chân thành với xứ “tạm dung”, chúng ta sẽ góp phần xây dựng dân sinh tại Hoa Kỳ và đồng thời xây dựng cả dân quyền cho Việt Nam  

Phần thứ ba:         

Thử thách trên chính trường. Hoa Kỳ vốn sẵn có một thế chế dân chủ kiểu mẫu với 3 ngành Lập, Hành và Tư Pháp. Thêm vào đó truyền thông là sự thể hiện mạnh mẽ của đệ tứ quyền. Hiến pháp Mỹ ghi thêm quyền tuyệt vời. Đó là quyền Mưu cầu hạnh phúc.
Tuy nhiên Hoa Kỳ cũng có những vấn nạn truyền kiếp không bao giờ giải quyết xong. Súng đạn, homeless, phá thai, đồng tính, di dân, kỳ thị.  Tùy theo hoàn cảnh lần lượt các tổng thống Hoa Kỳ từ lưỡng đảng thay phiên cầm quyền với các phương thức khác biệt nhưng sự thực guồng máy công quyền và việc tổ chức xã hội với 50 tiểu bang độc lập luôn luôn giữ cho đất nước này đi vào khuôn phép. Nhưng đến lần ông Trump với vai trò tổng thống thứ 45 thì cuộc diện có phần khác biệt. Là ứng cử viên tài tử dưới danh nghĩa đảng Cộng Hóa nhưng ông hoàn toàn đi ra ngoài khuôn phép của đảng. Ông vẽ ra hình ảnh một nước Mỹ đang xuống cấp bị toàn cầu lợi dụng và ông đã thành công. Với khẩu hiệu Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại, dù cá nhân ông có rất  nhiều điều đáng chê trách nhưng cá tính mạnh mẽ đã thuyết phục cử tri Cộng Hòa và đánh bại 16 ứng cử viên toàn là chính khách kinh nghiệm. Vượt qua thách đố đầu tiên Trump tiếp tục tranh cử với ngôn từ mãnh liệt lại thêm một lần nữa chiến thắng đối thủ phe Dân Chủ. Dù toàn thể khối truyền thông Hoa Kỳ gần như hoàn toàn tin tưởng bà Clinton, ứng cử viên xuất sắc được tiên đoán sẽ cầm chắc kết quả. Ngay chính ông Trump cũng không ngờ mình chiến thắng. Nhưng giây phút ngỡ ngàng qua mau. Hết sức tự tin, tân tổng thống khi tuyên thệ nhậm chức đã lên tiếng chê trách toàn thể các vị tổng thống tiền nhiệm lưỡng đảng. Ngôn từ của ông ngay trong giờ phút lịch sử thiêng liêng đã báo trước cơn sóng gió trên chính trường Hoa Kỳ. Lần lượt ông xóa bỏ tất cả các cam kết, các thỏa hiệp và các chương trình hiện hữu dù tại quốc nội hay hải ngoại. Nước Mỹ từ lâu nay vẫn mang niềm hãnh diện về một hệ thống truyền thông tự do và trung thực. Trump trực tiếp phá vỡ huyền thoại khi tuyên bố báo chí toàn tin láo và trở thành kẻ thù của nhân dân Mỹ. Hệ thống tình báo quốc nội, quốc ngoại của Mỹ từ FBI cho đến CIA trở thành các cơ quan bất tài và bất công dưới sự phê phán công khai của tổng thống. Từ bao năm qua lưỡng đảng tuy có cạnh tranh như chưa bao giờ trở thành thù nghịch. Bach Cung và quốc hội trở thành cuộc tranh chấp hàng ngày giữa hành pháp và lập pháp. Tổng thống dù chưa thể đưa nước Mỹ trở thành độc tài nhưng với khối cử tri hết sức nhiệt thành và tiếp tục kiên trì ủng hộ, ông đã áp dụng chính sách độc tài tuyệt đối ngay trong Bạch Cung và trong nội các. Trump xử dụng tối đa quyền hạn tổng thống và bất chấp cả hiến pháp trong vai trò lãnh đạo quốc gia.  Mỗi ngày ông đều có những quyết định thách đố các nguyên tắc tam quyền phân lập, thách đố các luật gia giải thích lại hiến pháp. Với khối cử tri nhiệt thành và kiên định ông luôn luôn chứng minh được quyết tâm thi hành các điều đã cam kết và sẽ đi hết cả hai nhiệm kỳ trọn vẹn 8 năm. Với quyết tâm sắt đá ông thách đố mọi phê phán, mọi trở ngại và giữa thời điểm của ngày lễ Độc Lập Hoa Kỳ 2020 vị tổng thống thứ 45 là một thứ thách của cả nước Mỹ. Dù Trump không qua nhiệm kỳ thứ hai, hiện tượng Donald Trump cũng vẫn ảnh hưởng tương lai Hoa Kỳ. Truyền thông Mỹ đã phải duyệt lại vai trò của mình. Hệ thống an ninh nước Mỹ với FBI và CIA cũng phải điều chỉnh lại nội bộ. Sự tranh đua và hợp tác giữa các chính đảng cũng phải xem lại. Ngay cả bản Hiến Pháp truyền thống hãnh diện của nền dân chủ cũng phải duyệt lại về nguyên tắc bầu cử, về quyền súng đạn, quyền phá thai và các tu chánh án về di dân. Đề tài di dân sẽ là các điểm quan trọng cho tương lai Hoa Kỳ với cuộc sống toàn cầu. Với tất cả những chủ trương đầy thử thách và ngôn ngữ phóng túng vị tổng thống thứ 45 dù ra ngoài Bạch Cung vẫn giữ vững được sự tin tưởng của số cử tri quan trọng hết sức trung thành thì sự phán xét thành bại không nằm trong khuôn khổ thông thường.

 Tuy nhiên điều quan trọng trong tiền đề Hãy làm cho nước Mỹ mạnh trở lại tuy được lòng một số dân chúng nhưng tìm được định nghĩa mạnh yếu ra sao mới là chân lý. Trăm năm qua Hoa Kỳ vẫn hùng mạnh đóng vai cường quốc số một trên thế giới là do tinh thần hy sinh và chia xẻ. Chủ trương hoàn toàn trên căn bản quyền lợi dù là quyền lợi cá nhân, quyền lợi của một sắc dân hay một quốc gia sẽ dẫn đến những bất toàn nội trị và hận thù quốc tế ngay giữa đồng minh. Với chủ trương thu toàn quyền lợi về một mối, đóng cửa rút cầu gây hấn bằng ngôn ngữ e rằng ông Trump đã đưa toàn dân Mỹ từ tinh thần vị tha trở về với chủ trương vị kỷ. Ông đi ngược con đường tiền nhân đưa nước Mỹ tiến bộ từ ngày lập quốc đến nay. Rất mong thể chế dân chủ với tam quyền phân lập vượt qua được những khò khan hiện tại. Năm 2020 Hoa Kỳ đã kiểm kê dân số 10 năm một lần. Đếm đầu người dân nhưng cũng đo lòng người. Tổng thống 45 muốn đưa vào phiếu kiểm kê một câu hỏi về quốc tịch của di dân. Như vậy dù nửa đêm đi đếm người ở gầm cầu hay xó chợ cũng sẽ có hàng triệu dân bất hợp tác. May thay tối cao pháp viện với đa số là thân hữu của Bạch Cung đã bác bỏ câu hỏi về quốc tịch. Chúng ta vẫn còn niềm tin vào thể chế dân chủ Hoa Kỳ. Đó là thiển nghĩ của chúng tôi nhân ngày lễ độc lập 2021. Điều quan trọng nhắn gửi sau cùng theo gương 2 ông chính khách già gốc Nhật là luôn luôn biết mình là ai?

Giao Chỉ, San Jose-*****************************************************- 

Chiến tranh Việt Nam

Chiến tranh Việt Namdownload.jpgimages.jpgimages (1).jpgSan Jose và các thành phố đều có đài tưởng niệm lính Mỹ chết tại VN, 20 tuổi.

Năm 2018 truyền thông Hoa Kỳ tung ra cuốn phim Viet Nam War, chúng tôi đã viết bài bình luận gửi đến bạn đọc. Năm nay 2021 xin đăng lại bài nhận định cũ vẫn còn như mới. Chúng ta lại thua trên từng thước phim. Cuốn phim vĩ đại này nhằm mục đích kể lại một cuộc chiến mà người Mỹ đã thảm bại. Mỹ giết vị tổng thống đệ nhất Cộng Hòa VN do chính Hoa Kỳ dựng lên để chính thức đem quân vào đánh Hà Nội. Đã có lúc nửa triệu lính Mỹ hiện diện cùng với một triệu chiến sĩ VNCH và trăm ngàn lính đồng minh. Nhưng không có kết quả. Phe tự do chỉ đánh lấy hòa chứ không đánh lấy thắng. Mỹ đem toàn thể sức mạnh không quân đánh bom Hà Nội không phải để dứt điểm mà chỉ để mời kể địch vào bàn hội nghị. Ký bằng được một hòa ước Paris khốn nạn năm 73 để rút quân và bỏ rơi đồng minh Việt Nam. Tổng kết cuộc chiến dân Việt cả 2 miền Nam Bắc chết 2 triệu người. Bắc quân hy sinh 600 ngàn và chiến sĩ miền Nam chết 300 ngàn. Lính Mỹ 58 ngàn người tử trận. Xin quý độc giả đọc bài nhận định của chúng tôi đính kèm. Ngoài bài viết, tôi có nói chuyện trên Youtube và được trăm ngàn độc giả tham dự. Ngoài ra cũng trên Youtube với đề tài về Việt Nam Cộng Hòa có được hơn 1 triệu 300 ngàn người ghé qua. Hôm nay, đưa lại đề tài này mục đích chúng tôi muốn làm cuốn phim phản bác lại Việt Nam War của truyền thông Mỹ. Phim của chúng ta sẽ đặt tên ra sao. Can trường trong chiến bại hay là tiếng nói của bên thua cuộc. Dù đặt tên ra sao thì cũng phải nói lên một lần cái chết của 2 triệu dân Việt, của 600 ngàn Bắc quân và 300 ngàn lính miền Nam đã chết cho cuộc chiến vô nghĩa. Vietnam War của truyền thông Mỹ chỉ đơn thuần nói đến sự hy sinh của người Mỹ mà không nói đến gấp 10 lần đau thương của đồng minh miền Nam. Vào những ngày bi thảm cuối cùng, sĩ quan Việt Nam đã nói với cố vấn Hoa Kỳ ngay tại bộ tổng tham Mưu. Phải chỉ các anh đừng nhảy vào, chỉ giúp chúng tôi đánh một mình, được thua chúng tôi cam chịu.

Năm 2019 những tay làm phim người Mỹ cộng tác với các cựu chiến binh Hoa Kỳ cũng vận động cộng động Việt Nam để thực hiện cuốn phim lên tiếng về VN War. Chúng tôi cũng góp phần quảng bá với nhiều hy vọng. Phim dự trù sẽ phổ biến trong các trường học để thế hệ người Mỹ tiếp nối hiểu được phần nào sự thực về cuộc chiến đầu tiên mà Hoa Kỳ thất bại. Tiếc thay chính dự án này đã thất bại và niềm hy vọng đã tắt lịm không kèn không trống. Bây giờ đến lượt chúng tôi muốn nói lên ước vọng cuối đời. Một bản tường trình về dự án này sẽ được phổ biến. Bây giờ xin quý vị đọc trước bản nhận định phổ biến từ năm 2018 sau đây.                                                      Phim Vietnam War.

  Trong công việc sưu tầm tài liệu cho Việt Museum, chúng tôi phải xem và đọc biết bao nhiêu tài liệu, đặc biệt phim về chiến tranh Việt Nam. Hết sức đau lòng. Xem bộ phim Vietnam War mới đây lại thêm đau lòng. Vẫn hiểu rằng đây là phim của người Mỹ làm cho khán giả Mỹ. Không phải dành cho người Mỹ gốc Việt. Tôi viết bài nhận xét sau đây, đã phổ biến nhưng phần lớn không đến tay các bạn. Xin gửi lại thêm một lần nữa. Nếu nhận được xin vui lòng cho biết. Cảm ơn.

Phim tài liệu Vietnam War  

Cuộc thảm bại tái diễn

Giao Chỉ, San Jose

Tin tức thời sự chính trị nước Mỹ vẫn tràn ngập trên diễn đàn truyền thông. Thiên tai vừa trải qua với cuồng phong và mưa bão tại miền Đông Nam Hoa Kỳ rồi tiếp đến động đất Mễ Tây Cơ. Bộ phim 10 tập 18 giờ do hai nhà làm phim Ken Burns và Lynn Novick bỏra mười năm với 30 triệu mỹ kim mới hoàn tất vẫn làm xôn xao dư luận. Phần lớn các nhà bình luận, các chính khách và nhân vật cộng đồng Hoa Kỳ đều hết lòng khen ngợi. Riêng phần chúng tôi có nhận định khác biệt. Là quân nhân của phe bại trận với niềm đau thương gặm nhấm suốt cuộc đời. Mất nước là mất tất cả. Một lần bại trận và phải đào thoát ngay trên quê hương. Từ đó thấy lại biết bao lần thảm bại tái diễn trên phim ảnh, làm sao mà vui mừng khi nhìn lại vết thương. Sau 42 năm phe tự do thua trận, với bộ phim công phu phổ biến năm nay, cuộc thảm bại trên chiến trường Việt Nam lại một lần nữa tái diễn. Xin có đôi lời đóng góp ý kiến như sau.         
                                            

 1) Vẫn hình ảnh đau thương cũ:  
Các nhà làm phim mới đã soạn lại tài liệu cũ. Thêm tài liệu sưu tầm trong thập niên qua. Cắt ráp và bình luận công phu, nhạc đệm xuất sắc. Phỏng vấn khoảng 100 người trong đó có chừng 30 nhân vật từ cả hai phía quốc cộng Nam Bắc Việt Nam. Đặc biệt có những hình ảnh và lời bình luận khen chê cả hai bên. Lần đầu tiên có đề cập đến vai trò của chiến binh Việt Nam Cộng Hòa cũng như vụ Việt cộng thảm sát Mậu Thân. Nhưng sau cùng khán giả của thế hệ hôm nay thuộc thế kỷ21 đều thấy rằng những nhà làm phim đã gián tiếp xác định sự chiến thắng của Cộng sản Việt Nam là hữu lý và tất yếu. Hình ảnh sau cùng vẫn là một dân tộc chống ngoại xâm và thống nhất đất nước. Dù hy sinh bao nhiêu họ cũng vẫn khoác danh hiệu chống Pháp xâm lược, chiến thắng trận Điện Biên thần thánh. Dủ chết thêm bao nhiêu cũng giữ được hào quang đánh Mỹ giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Bốn mươi năm sau chiến tranh, Hoa Kỳ vẫn còn vẳng nghe tiếng hô vang của hàng triệu thành viên phản chiến. Thế hệ Hoa Kỳ ngày nay làm sao hiểu được những khúc mắc phức tạp của cuộc chiến tranh Quốc Cộng. Trong lãnh vực truyền thông, hình ảnh sống động vẫn có khả năng thuyết phục hơn cảngàn lời nói. Một bên là chiến binh đồng minh dù là lính Pháp, lính Mỹ hay chiến binh miền Nam mặc quân phục, trang bị đầy đủ được yểm trợ bằng phi pháo hùng mạnh. Phía bên địch toàn là hình ảnh nữ dân quân, vũ khí thô sơ, chân dép áo nâu quyết tâm chiến đấu. Phe ta thua trên từng thước phim. Hình ảnh hàng ngũ lãnh đạo miền Bắc. Ốm yếu khắc khổ, cuộc sống thanh đạm và ý chí chiến đấu mãnh liệt. Tất cả đều đã vào tù ra khám. Trong khi đó phe ta là hình ánh quan lại, xiêm áo lịch sự, xa cách quần chúng, không chứng tỏ được tinh thần hy sinh cho dân và quyết tâm bảo vệ đất nước. Hình ảnh vị tướng VNCH đích thân lạnh lùng xử bắn tù binh trước ống kính của báo chí quốc tế, hình em bé trần truồng chạy bom. Những bức hình đã mang danh hiệu biểu tượng đau thương của cả thế kỷ. Và rất nhiều hình ảnh sẵn có phô diễn những sai lầm dã man của phe ta mà không có chứng tích tội ác của đối phương. Không thể nào có đủ lời lẽ để giải thích nguồn cơn. Dù 40 năm trước hay bốn mươi năm sau, một lần nữa chúng ta thua trận trên từng thước phim.
 

2) Không thể tranh luận được với sự thành công.  
Chúng ta phải chấp nhận rằng phe cộng sản đã chiến thắng phe tự do trong cuộc chiến Việt Nam. Hoa Kỳ từ tổng thống Johnson thực sự đã từng quyết tâm chiến thắng. Sau vụ hỏa mù trên Vịnh Bắc Việt, quốc hội Hoa Kỳ đã biểu quyết đồng thuận cho tổng thống toàn quyền. Nhưng sau cùng ý chí của chính phủ Mỹ thua ý chí của phe cộng sản. Nga, Tàu và Việt cộng không hề nao núng. Phong trào phản chiến đánh gục ý chí của chính phủ Hoa Kỳ. Mỹ thua trận ngay từ trong lòng dân chúng quốc nội.. Tiếp theo chính thức thua trận trên giấy tờ ký hiệp định Paris 1973. Sau cũng là cuộc bỏ chạy cùng Việt Nam Cộng Hòa trên nóc tòa đại sứ. Trong chiến tranh Việt Nam, Hoa Kỳ đã thua hết sức cay đắng, nhưng vẫn còn vượt qua được vì đây chỉ là một chiến dịch trong chiều dài của lịch sử Hoa kỳ. Đối với Mỹ, Việt Nam chỉ là một mặt trận. Một cuộc chiến. Thế giới Tự do thua trong một cuộc chiến nhưng 20 năm sau đã toàn thắng khi liên bang Sô viết xụp đổ tại Nga. Với Nam Việt Nam năm 1972 thắng trận Bình Long, Kon Tum và lấy lại được Quảng Trị. Nhưng thua trận 75 là mất tất cả. Dù sau này một lần hay là 10 lần cờ đỏ phải hạ xuống ở điện Cẩm Linh thì Việt Nam Cộng Hoà cũng đã mất tất cả. Bao nhiêu sự hy sinh trong 21 năm chiến đấu và xây dựng 2 nền cộng hòa của miền Nam đều đổ ra sông ra biển.images (5).jpgNhững tấm hình là vũ khí của phản chiến đòi Mỹ rút quânimages (4).jpgimages (3).jpgimages (6).jpg

Xử bắn VC trên đường phố, lính Mỹ đốt nhà dân, cô gái bị bom là những hình ảnh dân Mỹ chống chiến tranh
  

3) Vì đâu nên nỗi: 
Phía Hoa Kỳ sai lầm hẳn đã học được bài học chiến tranh Việt Nam. Dù trở thành cơn ác mộng nhưng người Mỹvẫn còn sống. Nam Việt Nam thì hoàn toàn đã chết qua sự sai lầm trong chiến tranh. Đối với miền Nam Việt Nam thì việc thất trận là một thảm kịch vô cùng đau thương, không có điều gì có thể bào chữa ngoài lý do duy nhất là lỗi ở chính chúng ta. Kết quả mất nước là mất tất cả. Lỗi lầm không phải tại đồng minh không quyết tâm, cũng không phải bởi kẻ thù quá mạnh. Lỗi lầm là lãnh đạo ta không đủ sức vượt qua những khó khăn lớn lao và toàn dân không được vận động để quyết tâm tham chiến. Trong cuộc chiến 2 thập niên, trong khi miền Bắc vận dụng toàn dân tấn công thì miền Nam chỉ xử dụng được một phần rất nhỏ để tự vệ. Lãnh đạo lè phè và dân chúng thờ ơ.  Tất cả tùy thuộc vào Hoa Kỳ. Mỹ trực tiếp tham chiến đã cứu Việt Nam nhưng đồng thời cũng làm mất Việt Nam.Việt Nam mất khả năng tự chủ. Không dùng hết khả năng vào công việc phòng thủ. Không vận động được dư luận thế giới và đồng minh. Bị đồng minh Hoa Kỳ và thế giới bỏ rơi và chính nhân dân miền Nam cũng bỏ rơi cuộc chiến. Cho đến khi cả chính quyền và nhân dân miền Nam mất nước mới biết là mất tất cả. 
 

4) Những cuộc chiến sau chiến tranh.  
Khi miền Bắc chiếm được miền Nam, hàng trăm ngàn chiến binh bị tù đầy, hàng triệu người miền Nam trở thành dân “Ngụy.” Lúc đó mới bừng tỉnh và tham dự vào hai cuộc chiến sau chiến tranh.  Cuộc chiến trong tủ đầy chiến đấu để tồn tại, và không bị khuất phục. Cuộc chiến của người dân bên ngoài tiếp tục chịu đựng phấn đấu để nuôi tù và toàn dân tìm đường vượt thoát. Trong chiến tranh, hàng trăm ngàn chiến binh cộng sản đã được miền Nam Chiêu Hồi. Sau cuộc chiến, hàng trăm ngàn chiến binh VNCH bị tù đầy. Dù bị tuyên truyền và bỏ mặc đói rét. Dù bị hành hạ lao động khổ sai. Dù tuyệt đường tương lai, vô hy vọng có ngày tự do, nhưng tuyệt nhiên không hề đầu hàng cộng sản. Không một ai trở thành cộng sản. Đó là chiến thắng sau chiến tranh.Trong chiến tranh, đa sốdân miền Nam vẫn sống trong thanh bình tại các đô thị. Sau chiến tranh bắt đầu cuộc sống phải chiếu đấu khi được kẻ thù “Giải phóng” Đây là lúc toàn dân miền Nam tham gia chiến dịch chiến đấu để đào thoát. Cuộc chiến dành cho tất cả mọi người tham dự. Người già, em bé. Nam phụ lão ấu cùng tìm đường vượt biên. Đàn bà có bầu và trẻ sơ sinh. Tu sĩ và thầy chùa. Các nông dân và các giáo sư, bác sĩ. Trên đường tìm tự do đã hy sinh hàng trăm ngàn người. Tù đầy, sóng gió và hải tặc. Mọi người dù thất bại năm mười lần vẫn tiếp tục lên đường. Đó là cuộc chiến sau chiến tranh.
 

5) Ý nghĩa của chiến thắng:      
Kết quả ngày nay phe chiến thắng trở thành lũ độc tài đảng trị trăm lần tham nhũng, bất công. Kết quả ngày nay sau khi cả ngàn ngôi mộ hoang nằm lại trên các trại tù cải tạo và hàng trăm ngàn người vượt biên nằm dưới đáy biển. Đây mới là lúc luận bàn thắng bại trong chiến tranh Việt Nam. Nếu ngày nay, sau khi thống nhất đất nước, Việt Nam trở thành quốc gia dân chủ tự do không cộng sản. Việt Nam trở thành một con rồng châu Á như Nam Hàn, Singapore, Hồng Kông, Đài Loan..Dân Việt Nam từ Bắc vào Nam đều sống trong tự đó hạnh phúc. Dân trí mở mang, các tệ trạng xã hội được giải quyết. Không kỳ thị về chính trị và tôn giáo. Không quá cách biệt giầu nghèo. Người dân Việt được kính trọng trên 5 châu 4 bể.  Được như vậy thì sự thất bại của Nam Việt Nam cũng là chuyện đáng cam chịu. Được như vậy thì cuộc chiến thắng của miền Bắc mới là điều cho Hoa Kỳ và chúng ta cần học hỏi. Nhưng Việt Nam ngày nay là nước độc tài đảng trị, tham nhũng và bị cả thế giới coi thường. Cuộc chiến thắng do đó trở thành vô nghĩa. Mọi hy sinh của người miền Bắc đều trởnên vô nghĩa. Và những tổn thất của miền Nam cũng như sự hy sinh của Hoa Kỳ vẫn muôn đời là những ghi dấu vô cùng cay đắng. Không, chúng ta không thể kết luận là Hoa Kỳ đã chiến thắng trong chiến tranh Việt Nam. Chỉ có thể nhận định rằng Miền Bắc đã chiến thắng trong một cuộc chiến nhưng không đem lại hạnh phúc cho toàn dân.

Riêng tại Hoa Kỳ, không có ai làm phim chiến thắng cho những người bại trận. Không bao giờ có vòng hoa cho người chiến bại. Sau chiến tranh Đông Dương, đại diện Khmer Đỏ với bàn tay diệt chủng giết cả triệu dân bước vào diễn đàn Liên Hiệp Quốc với những tiếng vỗ tay vang dội. Tiếp theo, tiếng vỗ tay lại vang dội nhiều hơn khi đại diện Hà Nội trở thành hội viên chính thức với thành tích đánh thắng 2 đế quốc Pháp và Mỹ. Sau gần nửa thế kỷ, dù thiên đàng Sô Viết đã tan rã, Việt Nam thống nhất đã biến hình ảnh những người nữ dân quân anh hùng trở thành nạn nhân nô lệ tình dục khắp Đông Nam Á. Trong chiến tranh, dù ở bên này hay bên kia, chỉ những người chết mới là người thua cuộc. Nhân chứng không phải là sự thực. Lời bình luận không phài là sự thực và ngay cả những thước phim cũng không phải là sự thực. Dù là phim tài liệu Vietnam War trị giá 30 triệu mỹ kim, 10 năm sưu tầm kéo dài 18 giờ qua 10 phim tập. Sự thực đã chôn vùi cùng những người lính trẻ ở cả hai bên chiến tuyến.

Giao Chi San Jose.   giaochi12@gmail.com  (408) 316 8393




Thông Báo Của Nhà Xuất Bản Việt Museum, San Jose. TÂM HỒN CAO THƯỢNG – HÀ MAI ANH

ÔNG THẦY TRƯỜNG GỐC NGÁI (NAM ĐỊNH)  
                                   Giao Chỉ, San Jose.     
                                                                                                                                                                                                          Năm nay tôi và anh Hà Mai Việt cùng tuổi, 88. Mấy tháng nay từ Texas Việt gọi tôi liên tiếp. Anh bạn già thân yêu của tôi nhắc đi nhắc lại về chuyện thân phụ Hà Mai Anh và cuốn sách dịch Tâm Hồn Cao Thượng. Ông đại tá thiết giáp, người chỉ huy cả lữ đoàn xe tăng chia làm 4 cánh quân đi theo 4 lữ đoàn tổng trừ bị mũ đỏ, mũ xanh tùng thiết đánh trận Quảng Trị.
 
Bây giờ ông già mũ đen ngày xưa đã bị điếc nặng nên câu chuyện viễn liên trở thành hài kịch. Ông mở cell tay áp vào tai, nhưng ngài nghe 2 trên 5 nên chỉ nói một chiều. Anh Lộc ơi, ở bên này chúng nó đi nhiều quá. Sắp đến lượt mình rồi. Tôi muốn in lại cuốn sách của ông cụ rồi phát không cho thiên hạ. Các trung tâm dạy tiếng Việt. Các thư viện. Biếu các thầy cô giáo. Biếu các nhà văn hóa. Báo hiếu, Father Day. Anh giúp tôi…
 
Tôi nhận lời ngay. Giúp mạnh đi chứ. Bố anh Việt chính là ông thầy hiệu trưởng trường Gốc Ngái, Nam Định khi chúng tôi cùng ngồi ghế tiểu học. Tôi bèn ghé lại nhà in của anh chị Quang ngay tại San Jose. Cuốn sách mới tái bản mấy năm trước bây giờ sẽ chờ scan lại. Anh Việt nói rằng chú em Hà Mai Phuơng trước khi ra đi đã sắp xếp lại cẩn thận. Sẽ cần ghi thêm một trang của con cháu kính dâng lên cho thân phụ. Hàng chữ hết sức đơn giản và ý nghĩa chính do đại tá Cao Tiêu ghi lại. Phía dưới là danh tính tất các con của thầy Hà Mai Anh. Xin xem bản liệt kê đính kèm.
 
Phần tôi nhận lời lo việc ấn loát và phát hành nên có một trang dành cho Việt Museum xuất bản.  Số là hình ảnh ông thầy đầu đời văn tự còn nhớ mãi đã đành. Sau khi di cư vào Nam, yên bề gia thất tìm lớp cho con chợt ghé trường Trần Quý Cáp. Gặp cụ hiệu trưởng là Bùi Văn Bảo, nhìn lên danh sách các vị tiền nhiệm lại thấy tên cụ Hà Mai Anh. Thầy Bảo cho biết được thầy Anh bàn giao ngôi trường danh tiếng và nay cụ đã qua đời. Do duyên văn tự, các cháu nhà tôi lần lượt tốt nghiệp trường Trần Quý Cáp. Riêng phần tôi cùng với Hà Mai Việt đều là dân Nam Định trường cửu. Thời kỳ kháng chiến đều theo học Nguyễn Khuyến tản cư rồi tiếp theo là Nguyễn Khuyến “dinh tê”. Di cư vào Nam tôi đi Đà Lạt 1954 và Hà Mai Việt vào thủ Đức 1955. Duyên anh em và tình chiến hữu cho đến bây giờ.
 
Lại có tiếng chuông reo từ Texas. Vẫn tiếng ông Việt. Mở cell tay áp vào tai nhưng ngài nghe 2 trên 5 nên chỉ nói một chiều. Anh Lộc ơi, ở bên nay chúng nó đi nhiều quá. Sắp đến lượt mình rồi. Tôi muốn in lại cuốn sách của ông cụ rồi phát không cho thiên hạ. Các trung tâm dạy tiếng Việt. Các thư viện. Biếu các thầy cô giáo. Biếu các nhà văn hóa. Anh giúp tôi. Sách của bố anh nhưng cũng là sách của thầy tôi. Tôi phải giúp thôi…
 
   Vài hàng viết thêm về cuốn sách của thầy Hà Mai Anh
 
Thật tình tôi không còn nhớ đã đọc cuốn Tâm hồn cao thượng của thầy Anh trong hoàn cảnh nào. Có thể là thời gian tiểu học ở Gốc Ngái, Nam Định. Thầy Hà Mai Anh vừa là hiệu trưởng vừa đứng lớp. Bố mẹ tôi có hàng Giầy ở cửa Đông. Mỗi khi Tết đến mẹ tôi vẫn Tết ông thầy đôi giầy Gia Định láng bóng. Tôi được thưởng cuốn sách của thầy Mai Anh. Nhưng tác giả gốc là ông người Ý, Edmondo De Amicis đã viết cuốn sách danh tiếng vào năm 1886. Rồi được ông Tây Pazzi dịch ra tiếng Pháp. Thầy Anh có thể là độc giả đầu tiên dịch tiếng Tây ra tiếng Việt năm 1943 nhận giải văn chương tại Hà Nội. Sau này tôi mới gặp thằng bé An Duy bên nước Ý ở trong Tâm Hồn Cao thượng vào năm 1945. Vào thời kỳ đó câu chuyện tuổi thơ của cậu bé học trò nước Ý đã phổ biến khắp thế giới. Tác phẩm dịch thuật của thầy Anh đã dẫn đầu kho tàng chuyện dịch của cụ.  Les Grand Coeurs đã lên thác xuống ghềnh qua cuộc thế chiến đệ nhị hoàn cầu. Tâm hồn cao thượng bắt đầu đi cùng tuổi thơ của tôi theo cuộc chiến vào Nam ra Bắc. Những bài học đơn sơ ở tuổi vào đời qua lời khuyên bảo chỉ dẫn của ông thầy tiểu học đã trở thành bài học vĩ đại để độc giả hoa niên học làm người.
 
Lạ lùng thay những bài học ở tuổi lên 10 ngày nay đã làm sao xuyến cả tuổi 88 khi còn nhớ lại. Chúng tôi đã in những mẩu chuyện cũ trích trong Tâm hồn Cao thượng phổ biến trên mạng lưới toàn cầu. Đã đọc được một vài lời bình luận của độc giả ngày nay như sau:                
 
Thu Âu: Tôi ấn tượng nhất là lời nói mở đầu An Di con ơi!  Nghe thiết tha trầm ấm làm sao, đã mấy mươi năm rồi tôi vẫn không quên bài học trong sách tiểu học này.
 
 Văn Thế Liêm:  “Tâm hồn cao thượng” là tập hợp những câu chuyện rất có giá trị giáo dục do Hà Mai Anh dịch từ tác phẩm “Grand coeur ” của Edmond de Amicis, nhà văn Pháp. Tôi thích nhất là 1 câu trong lá thư của người cha gởi cho con “…An Di con ơi, đời con sẽ có những ngày buồn bã ảm đạm. Nhưng ngày buồn nhất là ngày con mất mẹ.                              
 
Anh Tuyet:  Tuổi thơ tôi không hiểu giá trị của quyển sách, nên cho nó đi vào quên lãng. Nhưng giờ nhớ lại, hối tiếc quá muộn màng . Xin hỏi tác giả? HÀ MAI ANH hiện nay ông ở đâu, còn khỏe mạnh không ?
 
Trả lời: Cụ Hà Mai Anh mất 1975, ông Hà Mai Việt, sẽ có mặt tại San Jose vào tháng 7-2021 để biếu các trường Việt Ngữ cuốn sách danh tiếng nhất từ năm 1940 đến nay.
 Xin theo dõi tin từ Việt Museum. 

Giao Chi San Jose.   giaochi12@gmail.com  (408) 316 8393
*** 
Thông báo của nhà xuất bản Việt Museum, San Jose.

Thưa quý độc giả bốn phương. 
 
Ông Hà Mai Việt đại diện gia đình có nhã ý tái bản cuốn Tâm Hồn Cao Thượng do thân phụ là cụ Hà Mai Anh dịch từ tác phẩm Les Grandes Coeurs của nhà văn Ý Edmondo De Amicis.  Chúng tôi rất hân hạnh góp phần trong việc liên lạc ấn loát và phổ biến dưới hình thức biếu cho các trung tâm dạy Việt Ngữ. Tùy theo số lượng sẵn có, các độc giả quan tâm đến Việt Ngữ có thể viết thư về chúng tôi có thể gửi biếu. Đặc biệt quý vị cần sách để gửi tặng trực tiếp các thư viện tại địa phương chúng tôi sẽ cung cấp ưu tiên. Các nơi xa có hảo ý muốn góp tiền bưu tín xin đề cho Hà Mai Việt 10210 Kent Towne Lane, Sugar Land, TX 77498.
 
Cá nhân chúng tôi vốn là học trò của thầy Hà Mai Anh từ lớp tiểu học tại trường Gốc Ngái, Nam Định. Sau này các con chúng tôi là học sinh trường Trần Quý Cáp, Sài Gòn vào thời gian các cụ Hà Mai Anh và cụ Bùi văn Bảo làm hiệu trưởng. Nhà tôi Quan Thị Châu là Hội trưởng hội Phụ huynh học sinhTrần Quý Cáp. Những ân tình qua 2 thế hệ ngày nay được dịp tiếp tay với chiến hữu Hà Mai Việt thực là một hân hạnh cuối đời.
 
Trân trọng thông báo 
 
 Giao Chỉ, Vũ Văn Lộc, San Jose 2021
*******

This image has an empty alt attribute; its file name is ha-mai-anh-sachCapture.jpg
 
“Đây là ấn bản sau cùng tại Hoa Kỳ để tưởng nhớ thân phụ của chúng tôi là nhà giáo Hà Mai Anh, suốt đời tận tụy trong chức nghiệp. Mãi mãi là tấm gương sáng cho con cháu noi theo.”
 
***************
Hà Mai Xuân, Hà thị Mai Tâm, Hà Mai Việt, Hà Mai Nguyên, Hà thị Mai Trang,Hà Mai Phương, Hà thị Mai Dung, Hà thị Mai Thúy, Hà thị Mai Khánh,Hà Mai Trường, Hà thị Mai Vân, Hà thị Mai Thư, Hà Mai Nam, Hà thị Mai Điệp
 
Địa chỉ liên lạc : Hà Mai Việt 10210 Kent Towne Lane, Sugar Land, TX 77498
 
 




Ngày chiến sĩ trận vong 2021

Giao Chỉ, San Jose.

Nhân ngày tưởng niệm chiến sĩ tại Hoa Kỳ, ghi lại câu chuyện về trận tái chiếm Cổ Thành Quảng trị tôi phải gửi tặng nhiều người. Nhà báo Trùng Dương, tài tử Kiều Chinh và đại tá Ngô văn Định, Đại úy Phan Nhật Nam. Những người còn sống. Đại tá Phạm Văn Chung và chuẩn tướng Trần quốc Lịch những người đã ra đi. Các anh Định, Chung và Lịch cùng khóa võ bị với chúng tôi. Năm 2019 đã hy vọng rằng tháng 4 năm 2020 ghi dấu 45 năm từ khi mất nước 1975 sẽ cùng về San Jose dự quốc hận tại Việt Museum. Cùng ôn lại một thời oanh liệt. Năm 1972 Đại tá Phạm văn Chung Khóa CuongQuyet Đà Lạt lữ đoạn trưởng Mũ Xanh đang giữ vững phòng tuyến trên sông Mỹ Chánh. Tướng Ngô quang Trưởng khóa Cương Quy êt Thủ Đức vừa ra nhận chức quân đoàn 1 để phản công. Ông đã đến ngay Mỹ Chánh và hỏi riêng Phạm Văn Chung.  Giữ được không, ông tương hỏi?  Thưa trung tướng tôi giữ được. Người sinh viên khóa Cương Quyết Đà Lạt bình tĩnh trả lời. Tiếp theo đại tá Trần Quốc Lịch, khóa Cương Quyết Đà Lạt chỉ huy lữ đoàn mũ đỏ vượt sông Mỹ Chánh tiến quân phía núi. Đại tá Ngô Văn Đình, Cương Quyết Đà Lạt vượt sông Mỹ Chánh tiến quân phía biển. Mục tiêu là Cổ Thành. Khi một đơn vị đầu tiên của nhảy dù đã bám được vào tương thành thị trấn thì tai họa chiến tranh đã xảy ra. Phi cơ của phe ta đã thả bom vào đội hình của cả đại đội mụ đỏ. Lính dù bị tổn thất nặng nên ông Trưởng cho lữ đoàn của Trần Quốc Lịch tạm lùi lại để lữ đoàn mũ xanh của Ngô Văn Định lên thay. Trong trận Quảng Trị khóa chúng tôi có mặt một lần 3 đại tá chỉ huy. Viet Museum dự trù xây một tượng đài với 4 trận đánh lịch sử để các bạn cùng khóa về tham dự lễ khánh thành nhưng rồi Covid chặn mất đường về. Phạm văn Chung và Trần quốc lịch đã ra đi. Tháng 3 năm 54 đám thanh niên Bắc Kỳ chúng tôi lên Đà Lạt từ Hà Nội. Đã tình cờ có mặt tại Quảng Trị năm 1972. Cầm quân tham dự trận lịch sử. Nhưng đành lỗi hẹn năm cuối cùng tại San Jose. Xin các bạn đọc câu chuyện dài về cổ th ành Quảng Trị để nhớ về những người không còn nữa. Nhân ngày chiến sĩ trận vong tại Hoa Kỳ.

Ngày chiến sĩ trận vong 2021

Cách đây hơn 150 năm, giữa khi cuộc nội chiến Hoa Kỳ đang diễn ra, tổng thống Lincoln trong bài diễn văn tại Gettyburg đã nói những tư tưởng đi trước thời đại. Ông nói đại ý rằng những người lính bên này hay bên kia đều là những người yêu nước. Mới đây, tôi có dịp xem trên mạng hình ảnh buổi họp mặt của các gia đình tử sĩ miền Bắc VN hy sinh trong trận Quảng Trị năm 1972. Diễn giả cho chương trình tưởng niệm là đại tá Nguyễn Quý Hải, thời gian đánh Quảng Trị ông là sĩ quan chỉ huy pháo đội Bông Lau. Một diễn giả khác là bác sĩ Lê văn An của Bắc Quân. Ông là bác sĩ duy nhất đã có mặt trong Thành Cổ Quảng Trị và là một trong 11 chiến binh còn sống. Vị bác sĩ này đã tả lại những giây phút đau thương oan nghiệt cuối cùng trong vòng vây thị xã. Câu chuyện nhắc đến các chiến binh còn sống dưới hầm sâu của tòa tỉnh trưởng bị bom đánh xập nhưng không có phương tiện để cấp cứu. Hôm nay, giữa không khí vui tươi trong dịp lễ cuối tuần Hoa Kỳ, dù tưởng niệm chiến sĩ trận vong nhưng với dân Mỹ vẫn là ngày Lễ Hội, tôi xin mở lại câu chuyện cũ về cuộc chiến Quảng Trị. Nửa thế kỷ trước, chúng tôi có dịp ra thăm Quảng Trị sau khi Miền Nam lấy lại được Cổ Thành. Sau 81 ngày ác mộng đã trôi qua. Hàng ngàn chiến binh 2 bên đã chết trong một thị xã bé nhỏ ở miền hỏa tuyến. Hà Nội gọi là Thành Cổ. Sài Gòn gọi là Cổ Thành. Khi miền Bắc có lệnh rút quân, chỉ có 11 chiến binh còn sống để trở về. Chúng tôi có dịp gặp một vài chiến binh cộng sản bị bắt tù binh. Trong số này có em nhỏ vượt qua bờ Nam sông Thạch Hãn nhưng không lọt vào trong Thành Cổ. Em thuộc toán quân bơi lạc vào đơn vị TQLC. Ông bạn tôi, đại tá Cao Tiêu của tổng cục chiến tranh chính trị buồn bã nhìn thằng bé quân đội thù nghịch mà hỏi rằng. Con quê ở đâu. Bao nhiêu tuổi. Thưa ông con quê Thái Bình, 16 tuổi. Sao 16 tuổi đã phải đi bộ đội. Con đi thay cho anh con. Anh con bị què chân. Nhưng nhà nào cũng phải đi. Ông Tiêu thở dài mà nói rằng. Để ông sẽ thu xếp cho con. Quê ông cũng ở Thái Bình. Chúng tôi không bao giờ quên được câu chuyện thẩm vấn tù binh ngày hôm đó. Vì vậy, nhân ngày Chiến Sĩ Trận Vong với không khí lễ hội tưng bừng tại Hoa Kỳ, xin kể lại những chuyện không vui của hai miền Nam Bắc trong chiến tranh. Chuyện từ Đại Lộ kinh Hoàng cho đến 81 ngày trận chiến Quảng Trị. Như vị tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ đã nói. Trong chiến tranh, những chiến binh của hai bên đã hy sinh đều là những người yêu nước. Từ Hà Nội, anh Ba Lê Duẩn ra lệnh phải giữ Thành Cổ bằng mọi giá. Từ Sài Gòn, Tổng Thống Ng Văn Thiệu ra lệnh phải lấy lại Cổ Thành bằng mọi giá. Quảng Trị là con bài trong canh bạc chính trị tại Paris. Chiến binh hai miền Nam Bắc chết trong thị xã Quảng Trị ai là phe thắng ai là phe bại. Xin bằng hữu cùng tôi đọc lại các tác phẩm viết về Đại Lộ Kinh Hoàng và Mùa hè đỏ lửa của miền Nam. Xin đọc qua Mùa hè Cháy, Mãi mãi tuổi 20 và Một thời hoa lửa của miền Bắc. Những mẩu chuyện như sau:

(1)Ngày Chiến sĩ Trận Vong                                                     

 Người Mỹ tưởng niệm những quân nhân đã hy sinh vì đất nước trong ngày lễ Chiến Sĩ Trận Vong. Ngày quốc lễ này năm nay là Thứ hai 31 tháng 5-2021.  Dù còn giới hạn vì Covid nhưng trên khắp nước tổ chức tưởng niệm các tử sĩ với những cuộc diễn hành, các buổi hoà nhạc nói lên tinh thần yêu nước. Có các cộng đồng khác sẽ đánh dấu ngày này bằng những giây phút suy ngẫm trong tĩnh lặng về những người đã ngã xuống trong khi đang phục vụ trong quân đội. Ngày lễ này từng được gọi là Ngày Vinh Danh được tổ chức tại nghĩa trang Arlington vào năm 1868. Ba năm sau cuộc nội chiến đẫm máu ở Hoa Kỳ gây thiệt mạng cho trên 600.000 người. Nhiều trường học được nghỉ lễ vào 3 ngày cuối tuần này và được xem như ngày khởi đầu không chính thức của mùa nghỉ hè. Nhiều gia đình tổ chức các buổi ăn ngoài trời hay đi đến vùng biển, công viên hoặc cắm trại. Nhân dịp đặc biệt này, năm trước chúng tôi đã phổ biến loạt bài về tổn thất trong chiến tranh. Năm nay xin gửi đến tài liệu ghi nhận được về trận Quảng Trị năm 72 để quý vị đọc trong những ngày nghỉ lễ.

(2) Năm 72 Ở Quảng Trị .

Ghi Chú: Một phần bài này viết năm 1990 phổ biến khắp nơi. Bỗng có một cựu pháo thủ Bắc quân thuộc đoàn pháo Bông Lau gửi email cho tôi báo tin rằng không phải pháo Bông Lau của cộng sản bắn trên Đại Lộ Kinh Hoàng. Tôi hỏi lại, nếu Bông Lau không bắn thì pháo nào. Không thấy trả lời. Sách của Dương Phục và Thanh Thủy phát hành có đoạn tả về Đại Lộ Kinh Hoàng.

Thời kỳ trước 1975, khi tôi có dịp phụ trách về binh thư tại bộ Tổng Tham Mưu, thường qua bên Phòng Nhì hoặc Trung ương tình báo tìm đọc các sách báo của miền Bắc. Đọc và ghi chép lại, thêm 1 chút nhận xét, nhưng không phê phán. Đôi khi phải tóm lược lại để trình lên hay phổ biến nội bộ nhưng tuyệt đối không viết thêm những lời tuyên truyền hay lên án.

Ngày nay trên đướng đi tìm tài liệu cho trận Quảng Trị, chúng tôi giữ các nguyên tắc đó. Bây giờ xin quý vị cùng chúng tôi tìm hiểu về miền Bắc Việt Nam thời kỳ đầu thập niên 70.

Để chuẩn bị cho trận mùa hè 72, Hà Nội bắt lính từ năm 1970. Sau khi vét hết nông dân, qua năm 1971 tổng động viên toàn bộ nhân lực thành thị. Các học sinh và sinh viên trên 18 tuổi chuẩn bị nhập ngũ hết. Cũng trong thời gian này, Nga và Tàu hoàn toàn đồng ý viện trợ cho Hà Nội đánh Mỹ. Trong lúc Hoa Kỳ rút quân, bên ta Việt Nam hóa chiến tranh thì Nga Sô viện trợ tối đa cho miền Bắc qua Trung Cộng.

(3) Sau trận mùa hè Phan nhật Nam viết cuốn “Mùa hè đỏ lửa” thì 33 năm sau Hà Nội mới cho ra đời 2 cuốn sách viết về Quảng Trị. Đại tá pháo binh quân đội nhân dân Nguyễn Quý Hải ra đời cuốn “Mùa Hè Cháy” ghi lại con đường nhận pháo Nga Sô từ biên giới Tàu đem về Hà Nội đưa vào đến Quảng Bình, rồi qua Quảng Trị trong trận mùa hè. Với số lượng pháo đủ loại và hỏa tiễn, 5 sư đoàn Bắc quân đã được yểm trợ tối đa để tấn công miền Nam trực tiếp qua Bến Hải.

Tất cả đều ghi rõ trong tác phẩm “Mùa Hè Cháy” và chính từ tác phẩm này tôi có thể đối chiếu với tài liệu còn lưu giữ để có được những trang sử gần chính xác về phía Việt Nam Cộng Hòa. Cũng vào năm 2005 một tác phẩm khác của phe cộng sản tựa đề “Một Thời Hoa Lửa” đã ra đời, cũng nói về đề tài Quảng Trị. Bài viết này sẽ ghi lại rất nhiều chi tiết từ Hoa Lửa do các tác giả miền Bắc sáng tác.

(4) “Mãi mãi tuổi 20” Tập hồi ký được Hà Nội nhắc nhở đến nhiều nhất là: “Mãi mãi tuổi 20,” hồi ký của 1 thanh niên tên Nguyễn văn Thạc. Anh là Sinh Viên đại học Tổng hợp Hà Nội. Đi lính binh nhì truyền tin ngày 6-9-1971 và hy sinh tại chiến trường Quảng Trị ngày 30-7-1972, lúc chưa đầy 20 tuổi và chưa đủ 1 năm lính. Anh bị pháo cắt ngang đùi trái, mất máu nhiều quá nên đã chết. Chôn ngay tại mặt trận Quảng Trị. Thạc để lại cuốn nhật ký 260 trang, viết lời cuối vào ngày 27-7-1972. Ba ngày sau tử trận. Tháng 5-1973 tức là gần 1 năm sau, gia đình chưa có tin tức từ đơn vị, nhưng được đồng đội về báo tin. Sau tháng 4-1975 gia đình không có phương tiện đi tìm xác. Phải chờ đến cuối năm 1976 mới có điều kiện đi tìm. Cải táng từ quận Triệu Phong về huyện Từ Liêm, gần Hà nội vào dịp tết 1977. Tôi đã đọc 2 lần 260 trang sách nhưng không tìm được những dữ kiện về trận Quảng Trị. Hồi ký ghi lại 10 tháng trong quân ngũ của 1 thanh niên miền Bắc, nhưng mới vào trận đã bị thương rồi chết. Nội dung là lời lẽ chân thành đơn giản nhưng không có tình tiết hấp dẫn. Tác phẩm này được giới trẻ miếm Bắc tìm đọc vì đã nhắc đi nhắc lại đến tình yêu tuổi học trò với cô bạn học Như Anh. Cô này hiện nay là di dân sống tại Đức quốc. Vì tác phẩm nặng về tình yêu và thiếu quyết tâm nên đã không được phổ biến suốt 33 năm. Phải chờ đợi đến cuối thế kỷ thứ 20, nhạc vàng miền Nam chinh phục hoàn toàn nền văn hóa vô sản thì hồi ký tình yêu của Nguyễn văn Thạc mới được phổ biến và quảng bá mạnh mẽ.

(5) “Một Thời Hoa Lửa” Đây là tên 1 tác phẩm, đồng thời cũng là tên 1 chương trình do đài truyền hình Việt Nam tại Hà Nội và công ty viễn thông quân đội nhân dân phối hợp tổ chức vào ngày 31 tháng 10 năm 2005. Ban tổ chức mời tất cả bộ đội đã tham dự trận Quảng Trị trên 1.000 người về lại Thành Cổ để dự 1 chương trình văn nghệ. Cùng 1 lúc họ tập hợp lối 5.000 sinh viên Hà Nội tại sân trường đại học Khoa học, Xã hội, Nhân văn cùng tham dự. Báo Nhân dân đã ghi lại là vào ngày 6 tháng 9 năm 1971 tại 30 sân trường đại học và cao đẳng, tổng cộng 10.000 sinh viên lên đường nhập ngũ

Như vậy là 50 năm trước đảng cộng sản đã động viên hầu hết các sinh viên miền Bắc để tấn công miền Nam. Có nhiều trường đại học sau đó đóng cửa, các giáo sư cũng đi lính với học trò. Hầu hết có được 4 tháng huấn luyện và đầu năm 1972 tất cả lên đường vào Nam tham dự vào 3 mặt trận. An Lộc, Kontum, và Quảng trị. 70% bộ đội hy sinh hoặc bị thương. Trận Mậu Thân 68 Việt Cộng hy sinh toàn bộ các đơn vị thuộc Mặt trận giải phóng miền Nam và bộ đội tập kết.

Qua đến trận Mùa hè 72 đảng cộng sản Việt Nam hy sinh khối nhân lực trí thức tương lai của miền Bắc. Người có quyết định sắt máu đó là Lê Duẩn.

  Lúc 10 giờ 30 sáng ngày 30/3/72 trung đoàn pháo Bông Lau khai hỏa trận địa pháo vào căn cứ Carroll, Ái tử và Mai Lộc. Ngày 2/4/1972 căn cứ Carroll thất thủ. Sau đó Ái Tử, Mai Lộc rồi Quảng Trị đều rút quân. Một tháng sau, ngày 1 tháng 5-1972 Bắc quân chiếm đóng trên tỉnh Quảng Trị từ sông Bến Hải đến sông Mỹ Chánh. Sau khi miền Nam rút quân, xác người và di sản chiến tranh vẫn còn trên quốc lộ số 1. Báo chí Sài Gòn ghi lại con đường đã trở thành đại lộ Kinh Hoàng.

Hội nghị hòa đàm Paris bước vào năm thứ 4. Hoa kỳ đơn phương rút quân. Khối cộng sản Nga Sô và Trung Cộng đổ chiến cụ và tiếp viện tối đa vào miền Bắc.

Mở đầu cho giai đoạn thử thách Việt Nam hóa chiến tranh, quân lực Việt Nam Cộng Hòa hành quân Lam Sơn 72. Nam quân vượt sông Mỹ Chánh ngày 28 tháng 6-1972 và kết thúc việc chiếm lại Cổ Thành Quảng Trị ngày 16 tháng 9-1972. Sau 81 ngày tại một chiến trường khốc liệt nhất trong chiến tranh Việt Nam. Báo chí miền Bắc gọi là Cuộc đụng đầu của lịch sử. Hơn 30 năm qua và cho đến ngày nay, Hà Nội luôn luôn nhắc đến chiến tích đã cầm cự được 81 ngày.

Tại viện bảo tàng lịch sử Thành Cổ hiện nay có bảng tưởng niệm với 81 tờ lịch ghi dấu 81 ngày trong cuộc chiến mùa hè 72. Thêm vào đó có 11 tấm phù điêu tiểu sử 11 chiến binh đã có mặt trong Cổ Thành và còn sống đến ngày nay. Mỗi người đều ghi lại cuộc đời sinh viên, nhập ngũ, chiến đấu và trở về. Phù điêu gọi là Dương bản. Còn Âm bản là mộ bia tưởng niệm chung trên 10.000 bộ đội đã hy sinh.

Trong đêm văn nghệ Hoa Lửa 31/10/2005 họ đã dùng 81 nhạc công trong ban hòa tấu để nhắc lại ý nghĩa của 81 ngày lịch sử.

(7) Cổ Thành gian khổ. Cũng theo tài liệu của miền Bắc, tuyển tập Hoa Lửa ghi lại bút ký, bài viết và lời phát biểu của gần 100 nhân vật về trận mùa hè 72. Sách xuất bản năm 2005 ngôn ngữ Hà Nội đã có khác biệt với tài liệu tuyên truyền phổ biến trước và sau 1975. Không còn những lời miệt thị miền Nam. Họ gọi quân lực Việt Nam Cộng Hòa, tổng thống Nguyễn văn Thiệu, trung tướng Ngô quang Trưởng. Đồng thời qua tài liệu với nội dung mở rộng đã có đề cập đến số tổn thất, thương vong khủng khiếp, nỗi sợ hãi, việc đào ngũ của chiến binh.

Đặc biệt có những chỗ ghi rõ tuổi tân binh có nhiều em dưới 18 tuổi. Các chú lính mới chưa được huấn luyện và cán bộ quân sự đã dạy bắn hay ném lựu đạn lúc còn ở dưới hầm trong Cổ Thành. Họ lùa tất cả đám lính mới qua sông rồi sẽ huấn luyện sau. Cuộc sống của hàng ngàn bộ đội dưới hầm là một thế giới cực kỳ gian khổ. Các hầm đều ngập nước. Không đủ nước uống. Không đủ ăn. Điều kiện vệ sinh hết sức khốn nạn. Người sống ở chung với thương binh và người chết. Trên 20% thương vong khi vượt sông Thạch Hãn. Sau đây là 1 đoạn nguyên văn của cán bộ quân sự viết lại: “Trong 81 ngày đêm đó, trung bình hàng đêm có 1 đại đội tăng cường hơn 100 người vượt sông và cũng từng đó con người đã ra đi không trở về. Máu thịt hòa vào nước sông trôi ra cửa Việt.”

Một chiến binh khác viết về những ngày sau cùng: Đêm 13/9/1972 Hồ Tú Bảo là sinh viên đại học toán, làm trinh sát cho sư đoàn 325 được lệnh qua sông vào tiếp viện. Suốt 2 ngày 13 và 14 tháng 9 không vượt được sông Thạch Hãn, Ngày 15 tháng 9-72 chuẩn bị vượt sông nhưng bến đáp cả 2 bờ Bắc Nam không còn nữa. Trong thành vẫn có súng nổ. Đến ngày 16/9/72 thì Cổ Thành Quảng Trị đã hoàn toàn im tiếng. Chỉ còn những ngọn khói bốc lên.

Đơn vị được lệnh rút về và hiện nay anh lính trinh sát sư đoàn 325 trở thành giáo sư tin học tại đại học Hà nội.

(8) Cờ bay trên Thành Cổ. Phía Việt Nam Cộng Hòa rất hiểu rõ ý nghĩa của việc tái chiếm Cổ Thành để dành thắng lợi trên bàn hội nghị. Phía Hà nội cũng ghi nhận đây là điểm quan trọng nhất. Hòa đàm Paris dự trù tái nhóm ngày 13 tháng 7-1972. Tài liệu của miền Bắc ghi lại rằng:“Tướng Ngô quang Trưởng đôn đốc nhẩy dù phải chiếm bằng được nhà thờ Tri Bưu ngày 12 và sau đó chỉ còn 500 thước đến Cổ Thành thì phải cắm cờ vào ngày 13/7/72. Kết quả quân Dù của VNCH chiếm được Tri Bưu nhưng quân ủy trung ương Hà Nội ra lệnh trung đoàn 48 và 2 tiểu đoàn địa phương, trung đoàn 95 của sư đoàn 325 phải sẵn sàng để chống vụ cắm cờ bằng mọi giá.

Một trang báo dài của đại tá Nguyễn Hải Như, tham mưu trưởng trung đoàn Thạch Hãn đã mô tả về trận quân Dù đánh xong Tri Bưu nhưng thất bại trong việc treo cờ Cổ Thành ngày 13/7/72. Sau trận đánh đẫm máu mà lính mũ đỏ hy sinh rất nhiều. Tài liệu của cộng sản cũng ghi rõ cách đánh rất dũng mãnh của cả 2 binh đoàn nhẩy dù và thủy quân lục chiến trong trận Cổ Thành. Bên Việt Nam Cộng Hòa có lợi thế thay quân. Đánh rồi ra nghỉ. Đưa thương binh tử sĩ ra khỏi trận địa. Trong khi phía miền Bắc không có điều kiện thuận tiện vì thay quân là phải qua sông và thương vong trên sông Thạch Hãn rất cao.

(9) Sau cuộc chiến. Cũng từ tài liệu của miền Bắc ghi lại, trên toàn thể Việt Nam, Quảng Trị là nơi có 2 nghĩa trang liệt sĩ lớn nhất. Nghĩa trang Trường Sơn và nghĩa trang Quảng Trị. Phần lớn chiến binh cộng sản tử trận được gom lại chôn tại Quảng Trị. Một số lớn còn thất lạc. Các cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa khi qua Mỹ được hỏi về di hài lính Mỹ cũng đã tiết lộ thêm về các mộ phần của bộ đội tại miền Nam do bên ta chôn cất. Phía Hoa Kỳ có chuyển tin tức này cho Hà nội. Tuy nhiên về việc tìm kiếm mộ phần của phía Việt Nam Cộng Hòa trước 75 bao gồm thêm di hài tù tập trung “cải tạo“ hiện vẫn chưa được chính quyền Hà Nội lưu tâm. Gần 45 năm sau tháng 4-1975 dân Việt tỵ nạn đã có cả triệu lần trở về cùng với hàng tỷ mỹ kim gửi quà hàng năm, nhưng vết thương chính trị vẫn còn là gánh nặng nên chưa giải tỏa được con đường vào chốn tâm linh.

Thuần túy trên lãnh vực tâm linh, nghĩa tử nghĩa tận, chỉ có chính quyền Hà Nội mới có thẩm quyền và trách nhiệm tối thiểu đối với di hài chiến sĩ miền Nam.

Với danh nghĩa người Mỹ gốc Việt, với sự cộng tác mạnh mẽ của tòa đại sứ Mỹ tại Việt Nam, việc tìm kiếm tảo mộ di hài chiến binh miền Nam đưa về nguyên quán hay chôn tại Nghĩa trang Biên Hòa với sự bảo quản tối thiểu, không có gì khó khăn.

Hà Nội đã bước vào kỷ nguyên mới, phải ý thức được những điều phải làm trong trách nhiệm với lịch sử dân tộc, theo trào lưu tiến hóa của nền văn minh nhân loại.

(10) Hàn gắn thương đau. Năm 1992, hai mươi năm sau mùa hè 72, Hội VMA (Vietnam Memorial Association) gồm các cựu chiến binh Hoa Kỳ muốn hàn gắn thương đau của Việt Nam hậu chiến. VMA dự trù xây trường học tại các nơi hẻo lánh cả 2 miền Nam Bắc. Ban quản trị họp để tìm 1 địa điểm đầu tiên. 8 ông bà Hoa Kỳ bàn về các địa điểm. Ý kiến rất khác biệt, Cô Kiều Chinh là người Việt duy nhất, đồng sáng lập viên của VMA đã đề nghị ngôi trường đầu tiên sẽxây tại Quảng Trị. Nơi mang vết thương lớn nhất của chiến tranh Việt Nam. Nơi chia cắt 2 miền suốt 21 năm. Toàn thể VMA đều đồng ý chọn đất cho ngôi trường tại Đông Hà coi như món quà của người phụ nữ Việt Nam tỵ nạn cộng sản gửi lại quê hương. Bức thông điệp đẹp đẽ biết dường nào. Năm 1954, cha của cô Kiều Chinh bị Việt cộng bỏ tù không bản án và chết trong tù. Thêm một ngôi trường được xây cất tại làng Mọc, quê hương của ông Nguyễn Cửu, thân phụ của cô Nguyễn thị Chinh, tên thật của tài tử Kiều Chinh. Cô ra đi lúc còn nhỏ 1954 và từ đó không bao giờ thấy được mặt cha. Trong phim “Người tình không chân dung” có đoạn Kiều Chinh quay tại nghĩa trang Biên Hòa cũng vào năm 1972. Một ngày nào đó, cô sẽ lên thăm lại nghĩa trang quân đội miền Nam, nơi có rất nhiều chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh tại chiến trường Quảng Trị mùa hè 72. Không thiếu bất cứ 1 quân binh chủng nào, không thiếu bất cứ màu cờ sắc áo nào. Kể cả lính Dù chết dưới chiến hào với cờ vàng pha máu và lính thủy quân lục chiến hy sinh trong thành nội 10 ngày sau cùng, chưa thấy được lá cờ bay trên trời xanh của Cổ Thành Quảng Trị. Phía bên kia Bến Hải một thời, có câu chuyện của họ. Bây giờ đến lượt chúng ta phải kể lại câu chuyện của mình. Nếu anh không nói, ai nói. Bây giờ không nói, bao giờ.

(11) Tổn thất chiến tranh. Vì vậy sau khi nghe chuyện bên kia, chúng ta hãy nói chuyện bên này. Rồi mai đây, vào năm 2025, nửa thế kỷ sau cuộc chiến, sử Việt sẽ ghi rằng chiến tranh Việt Nam đã làm chết 2 triệu dân trên khắp các miền đất nước. Riêng tại Quảng Trị, mùa hè năm 1972 cuộc chiến dằng xé điên cuồng đã giết chết 50 ngàn thanh niên của cả hai miền Nam Bắc. Lịch sử sẽ không cần ghi phần tổn thất hay thắng bại của các đơn vị. Sau này những đóa hoa tưởng niệm thả xuống dòng Thạch Hãn hay con sông Bến Hải sẽ cùng trôi ra biển Đông. Thể hiện tấm lòng của thế hệ tương lai gửi chung cho tất cả linh hồn các chiến binh đã hy sinh cho cuộc chiến tương tàn cuối thế kỷ thứ 20 tại Việt Nam.

(12) NHÂN CHỨNG TRÊN ĐẠI LỘ KINH HOÀNG

Khi đi tìm nhân chứng của 1 chiến trường hết sức oan nghiệt và thê lương, hết sức dũng mãnh và hào hùng, tôi vẫn không quên đoạn đường đầy xác người trên quốc lộ số 1. Ngay khi chiến trường còn vương khói súng, cây bút nhẩy dù, đại úy Phan nhật Nam đã viết “Mùa hè đỏ lửa.” Tác phẩm đem vinh quang cho tác giả đồng thời cũng làm khổ ông sau 1975. Nhưng trước sau “Mùa hè đỏ lửa” đã gắn liền vào tên tuổi Phan nhật Nam.

Phải chờ đến 32 năm sau, Hà Nội mới xuất bản cuốn “Mùa hè cháy“ của đại tá pháo binh “Quân đội Nhân dân” viết về trận pháo kích của trung đoàn pháo Bông Lau, trận pháo dã man trên đường di tản của dân Quảng Trị, giết chết hàng ngàn người và làm đoạn đường trên 2 cây sốgiữa con sông Thạch Hãn và Mỹ Chánh trở thành Đại lộ Kinh Hoàng.

Chúng tôi vẫn đi tìm xem ai là người đặt tên cho đoạn đường của trận thảm sát mùa hè năm 72. Có lẽ chỉ trong chiến tranh Việt Nam mới có cái đại lộ mang tước hiệu kinh hoàng.

Anh phóng viên của bộ Thông Tin có mặt tại Quảng Trị nói rằng bác đi hỏi ông Lê Thiệp trên DC. Khi quân ta phản công ở Mỹ Chánh, ông nhà báo Lê Thiệp có đi theo trên quốc lộ 1 qua lối này. Năm 2005 nhân dịp gặp ông Thiệp tại DC, ông nói rằng không biết tay nào đặt cái tên Đại lộ Kinh Hoàng thật hay. Câu chuyện dừng tại đó. Một lần khác, chúng tôi rao lên là muốn tìm gặp những ai đã chạy trên con đường ác độc vào đúng lúc địch pháo kích. Tôi biết có trung tá Lê huy Linh Vũ của Tổng cục Chiến tranh Chính trị là người đã trải qua và đã viết lại thành cuốn sách. Con gái của trung tá Vũ là họa sĩ Hương Alaska có cho phép chúng tôi in lại cuốn này để tặng các bạn. Nhưng ông Vũ nay không còn nữa. Đại tá Hà Mai Việt, tỉnh trưởng Quảng trị thời kỳ 72 đã nói rằng: “Tại ông không lưu tâm đọc sách của tôi. Mở trang này ra mà xem, nhân chứng sống là ông Phan văn Châu. Tôi đã viết rõ từng trường hợp của trận Quảng Trị trong tác phẩm Thép và Máu. Ông nhân chứng này không những chịu đựng trực tiếp trận pháo trên quốc lộ mà còn nằm lại 1 đêm giữa các xác chết.”

Sau cùng nhờ ông Hà mai Việt, chúng tôi đã gặp nhân chứng sống. Trung sĩ Phan văn Châu năm nay 68 tuổi quả thực là 1 người dân tiêu biểu của miền đất Quảng. Qua máy điện thoại, dường như cả một trời tâm sự tuôn tràn. Những hình ảnh quê hương, chiến tranh, loạn lạc, pháo kích, khói lửa, lẫn lộn giữa trận 72 và trận 75.

Nói đến chuyện đất nước biết bao nhiêu địa danh nào là Nhan Biều, Cầu Ga, Ái Tử, Mai Lĩnh, Cầu Dài. Rồi đến biết bao nhiêu con sông, bao nhiêu rạch nước. Âm thanh đất Quảng của người dân chân chỉ hạt bột, vòng qua quay lại để sau cùng trở về với cái ngày cả gia đình bỏ Nhan Biều mà đi. Ông Châu nói rằng, lúc đó dường như mọi người đã chạy hết. Phan văn Châu là trung sĩ thông dịch viên cho ngành tình báo tại Đà Nẵng đang đi công tác về Ái tử.

Đến khi thiên hạ bỏ chạy hết, thầy thông ngôn trẻ tuổi mặc đồ dân sự cùng 1 đứa cháu, dẫn vợcó bầu với 3 đứa con nhỏ, năm một, sáu, bẩy, tám tuổi. Tất cả vội vàng ra đi bỏ lại phía sau căn nhà mới cất tại Nhan Biều bên bờ Bắc của sông Thạch Hãn.

Vợ con đi trước 1 đoạn với gia đình bà chị. Thằng cháu và ông Châu đi xe gắn máy kéo theo 1 chiếc xe gỗ 2 bánh. Hành trang chất đầy, người kéo, người đẩy chiếc xe qua khỏi cầu Ga, đi được một đoạn dài đến 9 giờ sáng thì pháo nổ ngay trên đường. Con đường đầy người chạy loạn. Cả dân cả lính với đủ mọi thứ xe. Đa số đi bộ vì đường tắc nghẽn nên không thể đi nhanh. Đạn rơi chỗ nào cũng có người chết. Xác bắn tung lên trời. Khói lửa mù mịt. Mạnh ai nấy chạy. Vợ con thất lạc ngay từ lúc đó. Ông Châu nghĩ rằng vợ con có thể đang ở phía trước. Nhưng phía trước hay phía sau thì cũng bị pháo. Khi pháo tạm ngưng thì có người lại tràn ra đi tới. Nhưng phần lớn nằm yên chịu trận. Có nhiều người không chết ở đợt pháo đầu nhưng rồi bị chếtở các đợt pháo sau. Nhiều xác chết trên đường bị pháo đi pháo lại nhiều lần. Bị thương rồi lại bịpháo rồi cũng chết. Biết bao nhiều người cố chạy cho thoát bỏ lại cả gia đình vợ con. Những đứa nhỏ nằm khóc bên xác mẹ. Những em bé sơ sinh bú vú mẹ đã lạnh khô. Có người còn sống thấy đó mà phải bỏ đi. Ông Châu và đứa cháu chạy về phía đông quốc lộ, vùi thây xuống cát mà chịu đựng 1 ngày pháo kích. Đủ loại pháo của cộng sản thay phiên bắn phá suốt một ngày dài. Pháo 122, pháo 130 và pháo 155. Chỉ khi nào có B52 đến thả bom mới thấy địch im tiếng súng được 1 lúc.Toàn thân ông tê liệt dưới trời nắng gắt. Phải bò đến các vũng nước có cả phân trâu và máu người để uống. Khi trời tối dần, tất cả đều im lặng và ghê sợ. Ông Châu và đứa cháu bắt đầu bò quanh lật các xác chết đàn bà và trẻ em lên xem có phải vợ con. Lật một xác phụ nữ mà ông nghĩ rằng người vợ, đầu óc ông mê muội. Thằng cháu còn tỉnh táo nói rằng không phải mợ. Mợcó bụng mà cậu. Mấy người khác còn sống cũng làm như vậy. Tất cả đi tìm xác thân nhân. Nhưng rồi trời tối hẳn, bộ đội Việt Cộng bắt đầu xuất hiện. Chúng tìm đến các xe nhà binh và tìm các quân nhân mặc quân phục bắt đi hết. Cậu cháu ông Châu khai là dân thường nên được lệnh phải nằm yên tại chỗ. Đêm hôm đó, ông Châu thức trắng trên bãi cát đẫm máu của Đại lộ Kinh Hoàng. Hình như có đôi lúc ông cũng thiếp đi. Cũng chẳng còn nhớ rõ. Chung quanh toàn xác chết. Người chết nhiều hơn người sống. Những xác chết cháy như than củi. Ông nghĩ rằng chắc xác vợ con cũng quanh đây. Sáng hôm sau, từ sớm mai những người còn sống đành phải bỏ lại1 cánh đồng xác ở đằng sau để chạy về miền Nam. Đi đến cầu Dài gần sông Mỹ Chánh thì gặp toán tiền sát của thủy quân lục chiến Việt Nam chận lại. Khi biết chắc là không phải quân địch, ông trung úy thủy quân lục chiến phất tay cho qua. Vừa đi khỏi một đoạn đường thì thấy ông sĩ quan bị du kích phía sau bắn sẻ chết ngay tại chổ. Đó là cái chết cuối cùng ông chứng kiến tại Quảng Trị. Tìm xe quá giang về Huế với tâm trạng hết sức não nề. Nhưng rồi phép lạ đầu tiên đến với cuộc đời ông. Ngay tại khu vực tạm cư Phú văn Lâu, thuộc thành phố Huế, ông gặp lại đầy đủ vợ con. Bà vợ bầu đã dẫn 3 đứa con nhỏ đi xuống đường ven biển theo dân địa phương. Đoàn người đi xa quốc lộ nên tránh được pháo kích.

Vợ con dắt díu nhau đi suốt 1 ngày 1 đêm về đến Mỹ Chánh rồi được xe cho bà bầu quá giang về Huế. Hai năm sau người vợ đầu tiên của ông Châu qua đời, sau khi sinh cho ông thêm 3 ngưới con nữa. Cô gái còn nằm trong bụng mẹ trên đại lộ kinh hoàng năm nay đúng 37 tuổi, tốt nghiệp đại học và có gia đình cư ngụ tại miền đông Hoa kỳ.

Những bước chân trần ai trên bãi cát Quảng Trị mùa hè năm 72 của bà mẹ mang bầu không biết có còn vương vấn chút nào trong lòng cô bé nghe pháo kích từ lúc chưa ra đời. Ông Châu nói rằng: Tụi nhỏ chẳng biết gì đâu. Chỉ có đứa lớn nhất năm nay ngoài 40 tuổi là còn nhớ đôi chút. Hỏi rằng thế ông có được bao nhiêu con tất cả. Ông tính nhẩm rồi nói rằng tất cả 10 con. Bà đầu tiên 6 con. Bà thứ hai 3 con. Bà này bỏ tôi đi lấy chồng nên bây giờ vẫn còn ở Việt Nam. Tôi đưa cả 3 cháu đoàn tụ bên này. Bà hiện nay ở với tôi có 1 cháu. Năm nay cháu cũng 24 tuổi rồi. Bà sau này có 1 con riêng. Như vậy là chúng tôi có 11 con. Thế bác có hạnh phúc không. Hạnh phúc chứ. Tất cả là số trời. Ông Châu nói rằng, cái đêm nằm ở đại lộ kinh hoàng, uống nước máu người và phân trâu tôi không bao giờ giờ nghĩ đến có ngày đi Mỹ như bây giờ. Tôi nghĩ rằng bây giờ vợ con chết hết thì mình sẽ ra sao. Làm sao tìm xác. Rồi chôn ở đâu. Hàng trăm xác người chung quanh, biết bao nhiêu xác trẻ con, vợ con tôi đều trong số đó. Không hiểu nó bắn pháo đạn gì quá ác. Tất cả xác chết như than củi chẳng làm sao biết được người nào là người nào.

“Năm 1973 tôi có trở lại, đi qua con đường thấy có đài tưởng niệm, rồi có các mồ chôn tập thể, có mồ chôn riêng rẽ. Lòng tôi hết sức xúc động. Cho đến bây giờ tôi vẫn còn xúc động. Con cháu tôi thì nhiều nhưng mà làm sao các con hiểu được những gì tôi đã trải qua. Trận 72 quân ta mới lấy lại một nửa Quảng Trị. Đứng bên này dòng Thạch Hãn, bên kia là Nhan Biều, nơi tôi ra đời còn cả ngôi nhà thân yêu. Bên ta đã bị địch chiếm bờ Bắc, chỉ giữ được bờ Nam, đến 75 thì bờNam cũng chẳng còn.”

“Vâng thưa bác, năm nay em 67 tuổi,” ông Châu nói tiếp, “quê ở Nhan Biều, bờ Bắc sông Thạch Hãn, ngay dưới cầu Ga. Nhà em thi vào làm trung sĩ thông dịch viên năm 1966 khóa 11 tại quân đoàn I. Sau 75 em trốn được. Nếu khai thật chắc là bị buộc tội CIA.

Bờ sông Mỹ Chánh và cây cầu mới năm 2009. Mùa hè năm 1972, Nam quân và thường dân đã chạy qua “Đại lộ Kinh hoàng” để rút về phía Nam sông này.

Sau đó em vượt biên rồi đoàn tụ. Trước sau 3 vợ, 11 người con. Bà sau này là bà bền chặt nhất đã sống với nhau 25 năm. Vâng, thưa bác đây chắc chắn là bà sau cùng. Gia đình em rất hạnh phúc. Phần em, dù có bị kinh hoàng nhưng cũng chỉ có 1 ngày 1 đêm. So với người ta có người cả đời kinh hoàng thì nỗi khổ của chúng em có thấm vào đâu.”

Đó là câu chuyện của ông Châu, nhân chứng số 1 của chúng tôi. Tôi hỏi ông Châu câu cuối cùng. “Ông có biết ai đặt tên Đại lộ kinh hoàng.” “Không đâu,” bây giờ ông gọi tôi là cụ. “Cụ với cụHà Mai Việt không biết thì ai mà biết. Nhưng quả thực là kinh hoàng thực đấy các cụ ạ.”




Vượt Qua Covid-19 LẠC VIỆT SAN JOSE Hồi Sinh Cùng Nước Mỹ – GIAO CHỈ SJ & THƠ Mừng VTLV – Dương Huệ Anh

VƯỢT QUA COVID 19 LẠC VIỆT SJ. HỒI SINH CÙNG NƯỚC MỸ.               

Giao Chỉ. SJ.

 (Viết tặng các bạn Chinh Nguyên, Lê văn Hải, Đông Anh và các bạn văn thơ Lạc Việt)

Cách đây hơn 30 năm thi sĩ Dương Huệ Anh thành lập một hội thi ca miền Bắc CA. Thời đó sinh hoạt ra sao chúng tôi không rõ nhưng chắc chắn là hội họp hiền lành không bão bùng sóng gió. Dương tiên sinh phụ trách được khoảng 4 năm thì bạn Nguyễn Đình Tạo sau 9 năm ngục tù chèo thuyền đến USA bèn nhận đảm trách hội trưởng. Bác Tạo quê ở huyện Đông Anh nên làm thơ ký tên kỷ niệm quê nhà.

Thi sĩ Đông Anh có ông bạn tù là nhà thơ Hà Thượng Nhân bèn mời làm cố vấn. Tôi là bạn cùng khóa với Đông Anh nên cũng được cho tên Giao Chỉ vào danh sách. Cũng nhờ vào vai trò cố vấn nên tôi có cơ hội gặp gỡ các bạn bè cao niên trong làng văn nghệ địa phương.

Bác Đông Anh lãnh nhiệm vụ được chừng 8 năm thì giao lại cho ông Chinh Nguyen. Theo thông lệ nhiệm kỳ của tổng thống 4 năm tái cử thành 8 năm. Thi sĩ Chinh Nguyên gốc không quân đi luôn một lèo gần 20 năm. Lý do đơn giản là anh chị em hội viên thấy ông hội trưởng lèo lái rất nhẹ nhàng và tình nghĩa sâu đậm nên không cần bầu cử.

Thi Văn Đàn Lạc Việt sinh hoạt rất nhộn nhịp hàng năm. Có TV, Radio, trao giải văn thơ hàng năm. In thành tác phẩm xuất bản. Các hội viên thi nhau in tác phẩm riêng. Quanh năm làm thơ, phổ nhạc, tổ chức văn nghệ, sinh nhật tập thể và tham dự vào các hoạt động cộng đồng.

Qua đến năm 2020 cũng như các đoàn thể khác, vì Covid 19 hội viên Lạc Việt phải Thiền tại gia một thời gian cho đến ngày chủ nhật 16 tháng 5-2021 tổ chức đại hội hồi sinh cùng nước Mỹ. Chúng tôi có dịp gặp lại các bạn cao niên tưởng rằng người đã đi xa mà vẫn còn quanh đây. Phúc đức vô cùng.

Trong dịp này bạn Chinh Nguyên loan báo xin về tạm nghỉ mời không quân phi hành Lê văn Hải thay thế.

Cựu Chủ Tịch Chinh Nguyên bàn giao ấn tín cho Tân Chủ Tịch Lê Văn Hải

Anh Hải là gương mặt quen thuộc của cộng đồng Việt tại Bắc CA. Đây là chủ nhân của tờ báo Mõ nổi tiếng San Jose. Hải Mõ đã đích thân tham dự vào hầu hết các sinh hoạt cộng đồng , văn nghệ và xã hội tại địa phương. Anh Hải vừa viết báo vừa là họa sĩ vẽ tranh đồng thời cũng là ca sĩ đồng ca và hoạt náo viên cho các chương trình vận động quần chúng.

Một trong các ưu điểm của Lê Văn Hải là nhân vật hào phóng đã từng là Mạnh thường quân của hầu hết các hoạt động gây quỹ thường niên. Từ chương trình Homeless, cứu thuyền nhân, thương phế binh, gửi quà về quê hương tất cả đều có Mõ San Jose nhiệt thành tham dự. Mỗi lần công tác dù đóng vai chánh hay phó, Mõ San Jose không ngần ngại bảo trợ toàn phần hay quá bán. Anh lo chu đáo các phần quà dưới đĩa ăn hay dưới gầm bàn. Những tác phẩm hội họa và những chai rượu chuẩn bị biếu quan khách.

Trong buổi chiều hội ngộ giữa tháng 5 chúng tôi thấy phần trình diện của anh chị em Lạc Việt đông đảo và vui tươi. Đây là hình ảnh đẹp đẽ nhất của tổ chức sau hơn 30 năm sinh hoạt. Công của anh Chinh Nguyên rất nhiều. Cố vấn Hà Thượng Nhân khi ra đi có để lại câu thơ bất hủ. Những mái đầu cất cao. Không một lời than thở. Câu thơ này nên dành tặng cho bà Chinh Nguyên. Anh Chinh nhờ vợ đảm đang đã giúp anh xây dựng Lạc Việt. Trong cái thế giới hợp đoàn của cộng đồng Việt tại Hoa Kỳ, chỉ có Chinh Nguyên là hội trưởng duy nhất giao cho phu nhân công tác đi đón các hội viên già mỗi lần họp mặt. Nàng cúi đầu lặng thinh, không một lời than thở. Đằng sau người đàn ông thành công luôn luôn có một người đàn bà. Vậy đằng sau người đàn ông thất bại thì có ai. Xin trả lời: 2 Người đàn bà.

Thi văn đàn Lạc Việt họp mặt năm nay đàn bà nhiều hơn đàn ông với nhiều tác giả là phụ nữ. Ưu điểm đáng ghi nhận là có sự hiện diện của ông Dương Huệ Anh đã ngoài 90 tuổi. Chủ tịch sáng lập vui mừng nhìn thấy tổ chức của bác vẫn còn vững mạnh.

Người sáng lập Văn Thơ Lạc Việt, hiện là cố vấn VTLV Dương Huệ Anh (Giữa, đội mũ)

Chỉ tiếc thay cho bạn tôi là bác Đông Anh hiện nay đầu óc quá lơ mơ. Mỗi buổi sáng ông Tạo ngủ dậy gặp vợ lại tưởng là người lạ bèn cất tiếng chào. Mười năm trước chị Tạo còn nghĩ rằng nhà thơ nói đùa, nhưng ngày nay em biết rằng chàng chẳng còn nhớ em là ai.

Riêng phần chúng tôi, xin cảm ơn Chinh Nguyên vẫn còn nhớ đến cố vấn Giao Chỉ. Riêng cảm ơn anh Mõ Hải tặng cho tấm tranh kỷ niệm. Nhờ có buổi chiều Phú Lâm tôi gặp lại các bạn cố vấn trên 80 tuổi. Chẳng phải lần đầu nhưng vẫn có thể là lần cuối. Văn nghệ nghiệp dư nhưng vẫn không kém phần linh động. MC lảnh lót làm tròn bổn phận. Diễn giả nói chuyện ngắn gọn đầy đủ thân tình. Thực đơn Phú Lâm ngon lành và chu đáo. Các tác giả giới thiệu sách rất phong phú và nhiệt thành.

Bác Nguyễn Đức Cường nguyên tổng trưởng kinh tế VNCH đã mua một số tác phẩm và gửi lời khen ngợi ban tổ chức. Chúng tôi cũng gửi tiền anh Chinh Nguyên để mua sách cho thư viện của Museum.

 Nhìn khung cảnh ấm cúng của các bạn, tôi muốn mời một lần sau đến chơi chỗ của chúng tôi tại Viet Museum.                            

 Thân ái.

Giao Chỉ San Jose.




Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ (Vũ Đình Liên)

 Giao Chỉ San Jose                                            

Hơn nửa đời người sống tại San Jose, dài gần nửa thế kỷ, chúng tôi có nhiều bằng hữu. Mỗi lần tiễn người đi, tôi có dịp viết một bài ai điếu. Có duyên thì sáng tác, bất kể thân sơ, nhưng không may mắn viết cho tất cả anh chị em. Không phải vì giàu nghèo hay sự nghiệp hơn kém. Bây giờ gần đến lượt mình bèn góp lại những bài vô tình còn lưu lại trên thế giới ảo để in thành tác phẩm. Giữ cuộc đời của anh chị em còn ở lại bằng văn tự Giao Chỉ. Lấy câu thơ của cụ Vũ Đình Liên làm tựa đề tác phẩm. Mỗi bài tạp văn mang linh hồn của một bằng hữu đã cùng một thời sống gần nhau. Xin gọi là nhờ văn chương một lần giữ Đời cho nhau. Năm nay 2021, nhân danh Viet Museum chúng tôi sẽ đem tất cả các DVD và tác phẩm hiện có và sẽ xuất bản, gửi đi bốn phương cho tất cả bè bạn xa gần. Bán cũng không phải bán, biếu cũng không hẳn là biếu. Chỉ là chương trình nhờ độc giả và khán giả Giữ Đời Cho Nhau.  Cuốn tạp văn này cũng thế. Trân trọng.

Giao Chỉ, San Jose.

 (1) HÀ THƯỢNG NHÂN, không một lời than thở. 

 Nhà Thơ Không Có Tác Phẩm.                                                                                           

Những mái đầu cất cao, không một lời than thở. (HTN)

Quả thực bác này đúng là chàng thi sĩ miền quê. Nếu năm trước, khi bác mới được HO qua Mỹ, làng văn thơ hải ngoại mời bác làm chủ tịch Văn bút Việt Nam Tự do thì chắc hẳn ai cũng cho là rất xứng đáng. Ấy vậy mà, bác lại không đủ điều kiện để nộp đơn xin vào làm hội viên bình thường của Văn bút Việt Nam Hải ngoại. Bởi vì dù là tác giả của hàng ngàn bài thơ nhưng chưa bao giờ ông có được một tác phẩm thi ca. Không tác phẩm là không hội viên. Nói gì là chủ tịch.

Chàng thi sĩ niên trưởng ở San Jose của chúng tôi là người Thanh Hóa, quê làng Hà Thượng, sinh năm 1919. Khi đệ nhị thế chiến chấm dứt (1939- 45) ông bắt đầu làm báo và theo kháng chiến suốt 7 năm. Ðó là thời kỳ bài ca Tuổi Xanh của Phạm Duy gọi lên hồn nước làm rung động toàn thể thanh thiếu niên Việt Nam.

“Một mùa thu năm qua, cách mạng tiến ra…”

Thời kỳ đó có lần làng Bình Hải, huyện Yên Mô tổ chức đón các đại biểu liên khu về hội họp. Những cậu bé trong đoàn thiếu niên Kim Ðồng của Hà Nam Ninh chúng tôi hết lòng sùng kính các đàn anh từ liên khu Thanh Nghệ Tĩnh về nói chuyện. Gia đình tôi từ Nam Ðịnh tản cư về Yên Mô, Ninh Bình.Từ miền Hoa Lư, đường vào xứ Nghệ phải qua Thanh Hóa với cây cầu Hàm Rồng đầy huyền thoại.

Các anh từ khu Tư nổi tiếng về họp tại đình làng Bình Hải.Năm đó, tuổi 16 tôi đứng dựa cột đình. Dường như chàng thi sĩ làng Hà Thượng cũng có mặt trong vai trò cán bộ văn hóa quan trọng của kháng chiến. Phần văn nghệ có cả cô bé Thái Thanh 15 tuổi tham dự chống nạn mù chữ hát bài chữ i chữ tờ.

Hơn 60 năm sau, bây giờ 2010, tại San Jose tôi xin gửi đến các bạn bài viết về Trung Tá Phạm Xuân Ninh, tức là nhà thơ Hà Thượng Nhân, người Thanh Hóa.

Một đời văn nghệ

Có thể nói suốt đời bác Ninh là một đời văn nghệ. Ði lính từ đại úy đến trung tá nhưng ông không hề liên quan gì đến quân trường và súng đạn. Làm chủ nhiệm báo Tiền Tuyến nhưng chàng luôn luôn ở hậu phương. Cuộc đời của ông tất cả là bằng hữu và thơ phú.

Năm 1935, cậu Ninh 16 tuổi đã có dịp dự cuộc thi thơ với các bậc tiền bối và đoạt giải với bài Trăng Thu.

“Sương mỏng manh, canh vắng lặng tờ

Buồn xưa náo động mấy vần thơ…

Quả thực bài thơ trúng giải của cậu thư sinh đã làm náo động cả hội thơ Vỹ Dạ thuở xưa. Trải qua 7 năm theo kháng chiến, năm 1952 ông về thành và 1954 ông di cư vào Nam.

Do nhu cầu của tâm lý chiến miền Nam và do thân hữu đề cử, thủ tướng Ngô Ðình Diệm ký lệnh cho me-xừ Phạm Xuân Ninh đặc cách mang lon đại úy trừ bị. Ðây là cấp bậc theo quy chế đồng hóa thuộc bộ quốc phòng. Sau đó ông được đề nghị thăng cấp thiếu tá và trung tá. Suốt 21 năm ông làm việc tại Tổng cục Chiến tranh Chính trị. Sau 75 ông đi tù tập trung cải tạo từ Nam ra Bắc và từ Bắc vào Nam. Sau cùng HO qua định cư tại San Jose.

* Anh em văn nghệ cao niên chúng tôi tại San Jose thường ghi nhận rằng cuộc đời từ hoa niên, binh nghiệp, tù đầy, tỵ nạn và định cư trải qua các giai đoạn chính như sau. Lẽ dĩ nhiên cũng có người đi theo thứ tự, có người đặc cách khác anh em. Sau đây là các dấu mốc: 1) Sinh quán, sinh nhật 2) Trường học và quân trường 3) Trại binh, trại gia binh, trại tù, trại tỵ nạn 4) Nhà tạm trú, nhà housing, nhà trả góp, nhà mobile, và nhà dưỡng lão.

Anh bạn cùng khóa Cương quyết II Thủ Ðức của tôi là Trung tá Lực lượng Đặc biệt Ðỗ Hữu Nhơn đã có lần còn nhắc đến chuyện nhà quàn từ Down Hill cho đến Oak Hill. Riêng phần các bác, xin cứ ghi nhận và xem lại để thấy rằng mình đang ở giai đoạn nào và đã đặc cách vượt cấp ra sao.

 Sau đây là giai đoạn cuộc đời bằng Anh Ngữ.

DOP, POB / School, Military School / Military Camp, Concentrate Camp, Refugee Camp / Half way House, Housing, Single House, Mobile Home, Nursing Home.

Và cuộc đời bác Ninh của chúng tôi hiện ở giai đoạn hết sức hoàng hôn.Ông đang được điều trị tại khu dưỡng lão Willow Glen, San Jose. Chàng vốn không có tên trong các hội ái hữu quân trường dù là Ðồng Ðế, Thủ Ðức hay Ðà Lạt. Cũng chẳng phải là thành viên của các quân binh chủng bay bướm oai hùng. Ở đây hội ái hữu đồng hương chẳng thiếu địa danh nào nhưng lại chẳng hề có hội đồng hương Thanh Hóa. Nhưng bằng hữu thơ văn thì ai mà chẳng biết Hà Thượng Nhân. Ðặc biệt ông bạn tù là nhà thơ Nguyễn Ðình Tạo, quê làng Ðông Anh sớm tối vào thăm bác Ninh. Bác Ðông Anh là người điều hợp thi đàn Lạc Việt, có bạn Chinh Nguyên làm tổng thư ký. Hội ta vẫn thường trực chuyên chở bác hội viên cố vấn Hà Thượng Nhân. Vì vậy chàng thi sĩ của chúng ta đã từng viết câu thơ mãi mãi tràn đầy tình nghĩa…

“Ta từ có bạn đến giờ,

Lời thơ lại bỗng bất ngờ thành vui…”

Những bài thơ…

Nếu đem in những bài thơ của thi sĩ người làng Hà Thượng thì xoàng ra cũng có được năm bảy tác phẩm. Thực ra với nhiều bút hiệu khác nhau, bác Phạm Xuân Ninh đã từng soạn nhiều tài liệu nghiên cứu do Nha Chiến tranh Tâm lý xuất bản.

Tuy nhiên, đây chỉ là sáng tác thuộc về lãnh vực nghiên cứu của một công chức quốc gia. Còn những vần thơ gan ruột của thi nhân, những bài thơ về tình yêu của nhà thơ thì chưa bao giờ in thành sách.

Ông đã từng viết :

“Ta có một tình yêu, bao la như trời đất.

Ta viết vào trang Thơ, tình yêu ta không mất.”

  Và mục đích của cuộc đời được ghi lại.

“Sống chỉ lấy cái tâm làm trọng.

Gửi ngàn sau mấy giọng tiêu dao.”

Trong số hàng ngàn bài thơ của thi nhân tôi thích nhất những bài thơ ông làm trong thời gian ở tù. Trong hằng trăm bài thơ tù, tôi ghi nhận có 3 bài hết sức rung động. Xin giới thiệu bài Thắp Sáng. Xin các bác lưu ý. Mỗi câu thơ đều là một lời kinh đấu tranh.Mỗi câu thơ đều có thể đặt tựa cho cả bài thơ. Bài thơ ngũ ngôn, một sở trường của tác giả như sau:

Thắp sáng muôn vì sao

Nếu như không đau khổ.      

Làm sao biết căm hờn.     

Càng muôn trùng sóng gió.

Tay chèo càng vững hơn.

Chúng ta cùng có nhau.

Nhìn nhau vui hớn hở.

Trên luống cày khổ đau.

Hoa Tự do vẫn nở

Những mái đầu cất cao.

Không một lời than thở.

 Tác giả chỉ giải thích lòng căm hờn bắt nguồn từ thân tù đầy oan trái, tuy nhiên, như lời thơ đã viết, tác giả không nuôi dưỡng căm hờn. Chỉ là:

“Những mái đầu cất cao, không một lời than thở”.

Nhưng có hai bài thơ trong tù tràn ngập yêu thương xin gửi đến các bác đọc lại thật rõ từng lời để cùng rung động với tác giả.

Năm 1975 mới vào tù, ông làm bài Mưa Buồn từ trại Long Giao trong lòng đất quê hương miền Nam. Năm 1978 sau khi bị đưa ra đất Bắc ông làm bài Cỏ Biếc, vào lúc tác giả chuyển trại từ Thác Bà, Yên Bái về Thanh Chương, Nghệ Tĩnh. Ðây là lời thơ của bài Mưa Buồn Long Giao. Xin hãy nhớ cho, tác giả làm bài thơ này vào thời gian sau tháng 4/75.Người tù già ngồi nghe mưa miền Nam tại Long Giao.

Ngũ ngôn tứ tuyệt đoạn cuối, tác giả dùng chữ nẻo cụt chỉ bước đường cùng, tưởng là giấc mơ, tưởng chỉ là cơn ác mộng, hút điếu thuốc lào, hỏi lòng mình đã say chưa.

 Mưa Buồn Long Giao

Trời có điều chi buồn?

Mà trời mưa mãi thế!

Cây cỏ có chi buồn?                                                                                                               

Mà cỏ cây ứa lệ!                                                             

Anh nhớ em từng phút,

Anh thương con từng giây.

Chim nào không có cánh,

Cánh nào không thèm bay.

Người nào không có lòng,

Lòng nào không ngất ngây.

Gửi làm sao nỗi nhớ, 

Trao làm sao niềm thương. 

Nhớ thương như trời đất,

Trời đất vốn vô thường.

Ngày xưa chim hồng hộc,

Vượt chín tầng mây cao,

Ngày xưa khắp năm châu,

Bước chân coi nhỏ hẹp,

Bây giờ giữa Long Giao,

Ngồi nghe mưa sùi sụt,

Cuộc đời như chiêm bao.

Có hay không nẻo cụt,

Anh châm điếu thuốc lào,

Mình say, mình say sao!! 

Trại Long Giao 1975 

Và sau cùng là bài Cỏ Biếc làm trong trại tù nơi quê hương của tác giả, liên khu 4, Thanh Nghệ Tĩnh ngày xưa: 

Xin Làm Cỏ Biếc

Anh cầm tay em, 

Bàn tay khô héo.

Anh nhìn mắt em, 

Gió lùa lạnh lẽo.

Anh nhìn lòng mình, 

Mùa Đông mông mênh.

Cỏ non mùa Xuân,  

Còn vương dấu chân.

Trăng non mùa Hạ, 

Ướt đôi vai trần.

Có xa không nhỉ 

Ngày xưa thật gần.

Thời gian! Thời gian.  

Em vẫn là em…  

Nụ cười rạng rỡ,

Ngày nào vừa quen, 

Mai đưa em về,

Xin làm cỏ biếc, 

Vương chân em đi.

Xin làm giọt mưa  

Mưa dầm rưng rức.

Trên vai người yêu,

Sài Gòn Sài Gòn,                                                                                                                 

Không là quê hương,                                                                                                       

Mà sao mình nhớ,                                                                                                             

Mà sao mình thương. 

Ngày từ trại Thác Bà, Yên Bái về trại 6 Thanh Chương Nghệ Tĩnh 1978.

Ngày nay, tại hải ngoại có biết bao nhiêu Little Saigon. Có bao nhiêu người đã tranh đấu cho tên gọi thành phố Sài Gòn. Nhưng có ai yêu Sài Gòn hơn được người thi sĩ Thanh Hóa.

Saigon Saigon, / không là quê hương.

Mà sao mình nhớ, / mà sao mình thương.

Gửi ông bạn già, 

Bác Hà Thượng Nhân, tôi chưa biết ông 60 năm về trước. Hồi thập niên 70 ở Sài Gòn tôi cũng không quen bác. Bác H.O. về San Jose, mới biết bác qua bạn Ðông Anh. Năm xưa, chúng tôi mời bác lên sân khấu nhận giải sự nghiệp một đời của tiểu bang California. Bác chiều lòng anh em mà lên nhận bản tuyên dương, tôi biết bác đâu có quan tâm gì những vinh quang phù phiếm đó.

Tấm lòng bác đôn hậu, tinh thần bác an nhiên.

“Chẳng cầu cạnh, chẳng ưu phiền,

Miễn sao lòng cứ an nhiên là mừng.”

Năm nay bác đã ngoài 90.Tuy không còn hút thuốc lào nhưng đang trải qua giai đoạn khi tỉnh khi mê.Lúc quên lúc nhớ. Khi tỉnh bác làm thơ hay. Khi say thơ vẫn còn hồn. Lúc trẻ lời thơ đã uyên bác.Khi về già thơ vẫn còn tình tứ.

Bác phê bình Giao Chỉ tôi viết văn như bổ củi.Hết bó này đến bó khác.Mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng, mỗi năm. Hôm nay gặp bó củi cao niên, tôi xin tiếp tục làm công tác bổ củi.Chẻ thật nhỏ ra làm đóm để bác châm lửa hút lại điếu thuốc lào.Tôi có lần hỏi tuổi bác, bác trả lời 9 chục. Rồi nói tiếp: “Mình cũng không biết tại sao lại sống lâu như vậy”. Tôi nói rằng:

“Tại bác sống đời thi sĩ. Sống bên cạnh cuộc đời. Tại bác không sống tỉnh.             

Bác sống say say.

Bác tự hỏi lòng : “Mình say sao? Bác say thật rồi.

Một đời sung sướng. Một cuộc sống tuyệt vời.

Bác thuộc về một số rất ít.

Những mái đầu cất cao, không một lời than thở.

Ngoc Lan post (theo Giao Chỉ)

Phần tiểu sử Nhà thơ HÀ THƯỢNG NHÂN

  Hà Thượng Nhân (1920- 11/10/2011) là bút hiệu của nhà thơ Phạm Xuân Ninh, nguyên danh Hoàng Sĩ Trinh.Ông quê ở Hà Thượng, huyện Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa.

  Ông từng dạy học ở trường Dũng Lạc Hà Nội và trường Thiếu Sinh Quân Liên khu IV, rồi theo Kháng chiến nhưng đến năm 1952 thì ông về thành rồi di cư vào Nam. Ông gia nhập Quân đội VNCH lúc đó thăng đến cấp trung tá.

Đóng góp văn học

Nhà thơ Hà Thượng Nhân làm Giám đốc Đài Phát thanh Quốc gia, chủ bút rồi chủ nhiệm nhật báo Tiền tuyến, lúc đầu do Cục Tâm lý chiến đảm nhiệm, sau tập thể của quân đội. Với nhật báo Tự Do ông thường góp bài dưới bút hiệu Tiểu Nhã và phụ trách mục thơ châm biếm “Đàn ngang cung”. Bút hiệu khác của ông là Nam Phương Sóc trên báo Ngôn luận. Ông là thành viên của Trung tâm Văn Bút VN.

Về tài văn thơ, ông có biệt tài làm thơ trào phúng nhưng khi còn trẻ tuổi ông cũng sính thơ Đường. Khi vào Huế trong một cuộc chơi thơ, ông có ứng khẩu một bài thơ vịnh “Trăng Thu” được chấm là hay nhất.”

Nhà thơ Hà Thượng Nhân từng được Phủ Quốc vụ khanh Văn hóa của VNCH đề cử làm giám khảo Giải Văn Học Nghệ Thuật về bộ môn Thơ.

Sau năm 1975 ông đi “tù cải tạo” cho đến năm 1983 mới được về và sang định cư ở Hoa Kỳ vào năm 1990 dưới diện HO. Ông mất vào ngày 11/10/2011 tại San Jose California, thọ 91 tuổi.                    

(Thụy Vi) 

Giao Chi San Jose.   giaochi12@gmail.com  (408) 316 8393




Tóm lược Lịch sử Nghĩa Trang Quân Ðội tại Biên Hòa (Giao Chỉ)

Tóm lược
Lịch sử Nghĩa Trang Quân Ðội tại Biên Hòa
 
Giao Chỉ – San Jose
I- Trước năm 1975      

                 
1) Hiệp định Geneve: Năm 1954, Hiệp định Geneve chia đôi đất nước, quân dân miền Nam tái tổ chức chính phủ và quân đội, xây dựng hai nền Cộng hòa trong 21 năm.
2) Chiến Tranh Nam Bắc: Năm 1960, Cộng sản miền Bắc thành lập ‘Mặt trận giải phóng miền Nam’, khởi sự cuộc chiến tranh nổi dậy.Bắt đầu du kích chiến rồi tiến tới tổng tấn công bằng toàn thể binh đội từ miền Bắc với sự yểm trợ tối đa về quân dụng vũ khí của Nga sô và Trung cộng. Miền Nam được sự yểm trợ của quân đội Hoa Kỳ và một số các nước trong thế giới tự do để chống lại cuộc xâm lăng.
3) Hiệp định Paris: Năm 1973, Hiệp định đình chiến Paris, Mỹ rút quân về.Tháng 4 năm 1975 miền Bắc tổng tấn công và chiếm đóng miền Nam.
4) Chung sự vụ: Trong gần 20 năm chiến tranh, các tử sĩ miền Nam được chôn cất tại các nghĩa trang tiểu khu. Tại Saigon, và vùng phụ cận sử dụng nghĩa trang quân đội tại Gò vấp và một phần nghĩa trang Mạc Ðĩnh Chi tại Saigon.
5) Thành lập Nghĩa trang Biên Hòa. Kể từ năm 1965, chiến tranh ngày càng gia tăng, Bộ Tổng tham mưu QLVNCH quyết định thành lập Nghĩa trang quân đội tại Biên Hòa. Khu đất rộng 125 mẫu, bên cạnh xa lộ Biên Hòa, được Công binh khởi công thiết lập và do Quân nhu quản trị. Sau này dự trù thành Nghĩa trang quốc gia Việt Nam.
6) Xây dựng: Nghĩa trang đủ chỗ cho 30,000 ngôi mộ với đường xá, đồi nhân tạo theo hình con ong. Mũi kim con Ong có bức tượng Thương Tiếc, dẫn vào cổng Tam Quan, đến đền Tử Sĩ. Phía sau là Nghĩa dũng Ðài với Tháp mũi kiếm giữa Vành khăn tang.
7) Mai táng: Cho đến tháng 4 năm 1975, nghĩa trang này đã chôn cất 16 ngàn tử sĩ.Ða số chiến sĩ hy sinh thuộc các đơn vị Tổng trừ bị, Không quân, Hải quân, Quân đoàn III, Biệt khu thủ đô, Tiểu khu Gia Ðịnh. Phần lớn tổn thất nhiều trong các chiến dịch Mậu thân 68, mùa hè 72, hành quân vượt biên Cam bốt và Lào.
8) Ngày Quân Lực 75: Nếu không có ngày đau thương 30 tháng 4 năm 1975, thì Bộ Tổng tham mưu dự trù sẽ hoàn tất toàn bộ xây cất tại nghĩa trang và khánh thành vào ngày 19 tháng 6 năm 1975, là ngày Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.Nhưng việc này không thực hiện được.

 
II- Sau năm 1975   
                                                                      
1) Tháng 4 năm 1975: Cộngsản kéo tượng Thương Tiếc đem đi mất. Hiện chưa tìm được dấu vết. Chúng phá phách các ngôi mộ làm hư hại các mộ bia. Các đơn vị và cả dân chúng tháo gỡ các bệ ciment trên phần mộ.
2) Chiếm đóng: Ðất chung quanh và hai bên đường xa lộ bị chiếm đóng làm nhà, lò gạch, thiết lập các cơ xưởng tiểu công nghệ.Bộ đội và dân chúng chiếm các vùng đất trống phía Nam nghĩa trang, lấn sát vào các khu đã chôn cất.
3) Doanh trại: Một đơn vị huấn luyện của Cộng sản chiếm đóng doanh trại của Liên đội chung sự ở phía Bắc và lấn chiếm các phần đất sát vào khu có mộ phần.
4) Nhà máy nước: Nhà máy nước Bình An chiếm cứ một khu đất rộng lớn ngay chính giữa nghĩa trang, chắn ngang đường từ Ðền Tử sĩ vào Nghĩa dũng Ðài.
5) Xây tường: Ðể ngăn cản dân chúng và các đơn vị lấn chiếm thêm vào khu vực có chôn cất tử sĩ miền Nam, Cộng sản cho xây một bức tường vòng theo con đường phía Nam và có chừa một lối đi cho thân nhân vào thăm mộ.
6) Khu quân sự: Vì có doanh trại của bộ đội Cộng sản và đơn vị này được giao quản trị khu đất nghĩa trang làm chỗ huấn luyện nên toàn vùng trở thành khu quân sư. Cấm quay phim, chụp hình. Tuy nhiên thân nhân vẫn có thể vào tìm mộ thăm viếng. Nhiều gia đình vượt biên đã lên thăm trước khi ra đi. Sau này các cựu quân nhân ra đi theo diện HO có lên từ biệt tại nghĩa trang. Hầu hết từ trong nước đến hải ngoại, nếu không có liên hệ, đều không biết là nghĩa trang vẫn còn đó dù điêu tàn hoang phế.
           Trên đây là tình trạng chúng tôi ghi nhận được vào năm 1993.
7) Sưu tầm tài liệu: Vì nhu cầu muốn làm một mô hình Nghĩa trang quân đội cho Viện Bảo Tàng tại San Jose, cơ quan IRCC đi sưu tầm tài liệu và bắt đầu tìm hiểu hiện trạng Nghĩa trang Biên hòa từ năm 1993 đến năm 1997. Nhiều lần gởi người về thăm viếng, tảo mộ chui dưới hình thức thân nhân thăm mộ. Về sau thấy cần phải làm nhiều hơn và có tổ chức dù rằng vẫn dưới hình thức gia đình.
8) Tảo mộ: Từ năm 1997, bắt đầu tổ chức các toán Thương phế binh lên tảo mộ nhiều lần mỗi năm và chia làm nhiều toán.Năm nào cũng có quay phim, chụp hình và báo cáo tổng kết. Tính đến năm 2008, công việc đã diễn tiến được 15 năm, từ hình thức nhỏ đến nỗ lực ngày một nhiều hơn.
9) Dịch vụ nghĩa trang: Ðặc biệt từ năm 2000 đến nay thì các thân nhân và hội đoàn người Việt đã biết đến việc tảo mộ nên từ bốn phương tìm về thăm viếng dọn dẹp.Tại địa phương đã có những người chuyên làm công việc chỉ đường, sẵn sàng giúp việc tảo mộ hay săn sóc phần mộ quanh năm và trở thành một thứ dịch vụ tại nghĩa trang
10) Dân sự hóa: Kể từ tháng 7 năm 2007, chính quyền Cộng sản Hà nội ra lệnh
bàn giao việc quản trị cho dân sự tại quận Dĩ an, tỉnh Bình dương. Ðơn vị bộ đội rút đi. Khu vực doanh trại được sửa chữa dùng làm trường dạy kỹ thuật. Một bức tường ở phía Bắc được xây thêm để ngăn cách khu trường học với nghĩa trang. Các tấm bảng Cấm chụp hình được gỡ đi.Nghĩa trang này được chính quyền địaphương gọi là Nghĩa trang nhân dân xã Bình an. Sau khi các gia đình cải táng, vẫn còn lại trên 10 ngàn ngôi mộ. Từ 33 năm qua không có ai chôn cất thêm, và hiện nay cũng không có một quy chế rõ ràng về việc bảo toàn hay cho phép ai được chôn cất.

 
III- Ghi chú đặc biệt
1) Xây tường :  Có thể hiểu rằng hai bức tường do chính quyền Cộng sản xây tại phía Nam nghĩa trang vào năm 1990, và mới xây ở phía Bắc năm 2007, nhằm để giữ riêng khu có mộ không bị xâm nhập thêm.Nghĩa trang trước đây có 125 mẫu, nay thu hẹp trong phạm vi có mộ phần chỉ còn 52 mẫu.
2) Phá hoại quan trọng: Ngoài việc phá hoại quan trọng nhất là bức tượng Thương Tiếc năm 1975, thì vào năm 2004, bộ đội Cộng sản đã phá hủy 10 thước chiều cao của Nghĩa dũng Ðài.Hạ thấp xuống để làm một trạm gác. Khi bộ đội rút đi, thì trạm gác này không còn nữa. Ngoài các phá hoại trên các phần mộ từ 1975 đến 1980, sau đó không có dấu vết phá hoại thêm.
3) Ðền tử sĩ: Trước đây có lính Cộng sản tạm trú, nay bỏ trống được dọn sạch nhưng rất xác xơ.Ở giữa có kê một bàn thờ để khách thăm viếng thắp hương cúng bái. Nhiều du khách về thăm quê hương đã ghé thăm chụp hình.
 
IV- Chúng tôi kêu gọi
1) Hình ảnh & tin tức: Mặc dù chúng tôi có gởi người về thăm viếng thường xuyên nhưng vẫn cần thêm các tin tức và hình ảnh.Xin quý vị viếng thăm có hình ảnh, tin tức xin vui lòng liên lạc với chúng tôi.
2) Tượng Thương Tiếc: Thưởng từ $1,000 đến $5,000 US.tùy theo giá trị tin tức dành cho ai biết rõ về bức tượng Thương Tiếc. Ðơn vị bộ đội nào đã đem bức tượng đi đâu. Nếu còn, thì cất giữ tại đâu. Cần tài liệu và hình chụp.
3) Ngọn Tháp: Thưởng đặc biệt cho ai có hình chụp lúc ngọn tháp bị phá, hoặc biết rõ về lệnh ở đâu, ai quyết định phá đi 10 thước chiều cao của ngọn Tháp Nghĩa dũng đài tại nghĩa trang Biên hòa.
4) Ðịa chỉ liên lạc: Xin gởi về địa chỉ sau đây
IRCC,Inc. 1445 Koll Cir. #110. San Jose, CA 95112
Email: irccsj@yahoo.com
Tel: (408) 971-7878



Giao Chỉ Vũ Văn Lộc : Thôi đành phụ nhau

 

 

Thôi đành phụ nhau

                                                                          Giao Chỉ, Vũ văn Lộc

                                       ( Viết về tác giả và tác phẩm ký ức Huỳnh Văn Lang ).

                                            

                                   

 

                                              Bác Huỳnh văn Lang, ở tuổi 90 không ai có thể sánh được.
                                     Trí tuệ sáng suốt, thể lực mạnh mẽ, lời nói vang dội, đi đứng vững vàng.
 

 

 “Để người phụ, tôi không phụ người.”

 


Giữa câu chuyện, tôi chợt nghe bác Huỳnh văn Lang nói : Tôi thà để người ta phụ mình. Tôi không phụ người.

 

Đó là cách trò chuyện của tác giả ký ức Huỳnh văn Lang. Đôi khi ông chợt nhẩy vào giữa câu chuyện. Phải theo một lúc mới bắt kịp.

Tôi hỏi: Bác nói phụ ai, ai phụ?

Trả lời: Tôi không phụ anh em tổng thống. Người anh phụ tôi, cất chức viện Hối Đoái mà không cho tôi biết. Người em giải tán kỳ bộ Cần lao của tôi mà không có lý do chính đáng. Người ta phụ tôi nhưng tôi không phụ người. Tôi thương cho người anh mà tiếc cho người em.

 

Tập Ký ức Huỳnh văn Lang gần 900 trang, tác giả dành để kính dâng hương hồn tổng thống Ngô đình Diệm và ông cố vấn Ngô đình Nhu. Ông viết lời tâm huyết:

 

                           Vô cùng thương cho người Anh và tiếc cho người em. 

                                       

Bìa cuốn sách là hình tổng thống Ngô đình Diệm. Dưới có ghi tác giả xuất bản và trình bầy.

Bìa trong là hình ông Ngô đình Nhu. Mặt trong của bìa sau là hình bà Ngô đình Nhu.

Phía ngoài bìa sau mới là hình phác họa chân dung tác giả. Phía dưới có một câu hết sức đặc biệt.

 

                           Cám ơn đời đãi ngộ tôi quá nhiều.

                           Nhưng bây giờ tôi lại thiếu quá lớn, thiếu cả vòm trời của một quê hương.

 

Theo tôi nghĩ, lời cám ơn đời của tác giả, hết sức chân thực. Đọc về cuộc đời tác giả, có thể lời cảm ơn chưa đủ. Sẽ không bao giờ đủ. Bởi vì thực ra quê hương Việt Nam đã đãi ngộ ông nhiều hơn tất cả mọi người,trong mọi thời đại. Đời ông không còn gì để phàn nàn. Nhưng bác vẫn phàn nàn bằng cả một cuốn sách.

 

Đời của bác Huỳnh văn Lang, ở tuổi 90 không ai có thể sánh được. Trí tuệ sáng suốt, thể lực mạnh mẽ, lời nói vang dội, đi đứng vững vàng. Ông thách đố với định mệnh, ông sẵn sàng đối thoại với mọi vấn đề. Ông đặt tên cho những vấn nạn lịch sử, ông phê phán nhân sự từ Âu sang Á, trong và ngoài chính quyền, trong mọi hoàn cảnh và mọi thời đại. Ông là tay chơi của xứ Nam Kỳ. Từ đá cá thia thia đến săn cọp. Ông là khai quốc công thần của Đệ nhất Cộng Hòa. Ông là người số 2 của đảng Cần Lao. Chỉ đứng sau số 1 Ngô đình Nhu.

 

                                  

                                                           Ông bà Huỳnh Văn Lang

     

Ông là người hưởng bổng lộc hợp pháp nhiều nhất của nền đệ nhất Cộng Hòa. Ông là người đứng đầu phong trào Bình dân giáo dục và nhà bảo trợ sáng lập của tạp chí Bách khoa. Ông thành hôn với giai nhân Bắc hà, con gái của nhà hàng vàng danh tiếng Đức Âm. Ông là sinh viên du học Mỹ được thủ tướng Diệm triệu hồi đích danh về giúp nước. Nhưng trong kỳ đảo chánh tổng thống Diệm, chính ông cũng lại là người sẵn sàng hợp tác với đại tướng Khiêm để hy vọng thực hiện giải pháp giữ lại tổng thống Diệm và loại bỏ ông Nhu.

Nhưng phe tướng lãnh lúc đó xét ra không cần và không tin nên đã bỏ rơi ông Huỳnh văn Lang và cả Phạm ngọc Thảo.

 

Kết quả đảo chánh thành công, hai anh em tổng thống bị giết. Người bạn gần như đồng chí của ông Huỳnh văn Lang là Phạm ngọc Thảo bị giết. Riêng ông Lang bị bắt, ra tòa và sau cùng được trả tự do. Trước sau ông bị tù chưa đến 2 năm. Tài sản bị mất khá nhiều, nhưng cũng còn lại khá nhiều vì dưới tên của bà Đức Âm, là mẹ vợ. Sau khi ra tù, lúc đó là thời kỳ nhiễu nhương giữa 2 nền Cộng Hòa. Đệ nhất đã cáo chung và nền đệ nhị chưa chính thức ra đời.

 

Cuộc đời của tác giả Huỳnh văn Lang chuyển qua giai đoạn làm ăn và trở thành phú gia địch quốc.

 

Tác giả đã liệt kê và mô tả chi tiết công việc làm ăn thành công với 4 tổ chức vĩ đại. Hòa Phong công ty nhập cảng hàng trăm ngàn xe gắn máy Honda, rồi mở Đại Á ngân hàng qua công ty Đông Phương.

Một lãnh vực khác rất mới mẻ với thị trường thương mại Việt Nam là công ty Bảo hiểm và tái bảo hiểm Phượng Hoàng.

Sau cùng là Phương Phương Export mà tác giả tự nhận là phạm 1 trong 2 tội lớn của con người. Thứ nhất là phá Sơn lâm và thứ hai là đâm Hà bá.

Công ty Phương phương là nỗ lực phá rừng xuất cảng gỗ trên toàn vùng cao nguyên Darlac, Lâm Đồng, Ban Mê Thuột, Quảng Đức, Pleiku, Kontum.

 

Xem như vậy cuộc đời của tác giả Huỳnh văn Lang hết sức phong phú, kỳ ngộ, đột biến và rất nhiều cơ hội. Chỉ riêng về cuộc đời của một con người, quá đủ để viết thành 1 cuốn trường thiên tiểu thuyết.

 

                        

                            Thiếu tướng Nguyễn khắc Bình, tác giả và Bác sĩ Nguyễn Thượng Vũ

 

Ra mắt sách

 

Tôi đã tường thuật hết sức vắn tắt đến quý vị về cuộc đời của tác giả qua chính tác phẩm của ông . Tuy nhiên còn rất nhiều chi tiết lý thú phải tự đọc mới thấy được. Bây giờ, ngang đây xin ghi lại cũng vắn tắt về buổi ra mắt sách và phần chúng tôi tham dự.

 

Khi cuốn ký ức số 1 bác Lang xuất bản có nhờ chúng tôi đọc và góp ý. Vì chỉ đơn thuần là cuộc đời của một thanh niên miền Nam mới trưởng thành. Đọc rất thú vị nên tôi có viết bài gọi là tán thưởng. Lần nầy tác giả muốn chúng tôi đọc và cho ý kiến chân thực. Dược sĩ Bẩy, người bạnSan Jose trưởng ban tổ chức cũng mời anh em tham dự và thỏa hiệp xin cứ phê phán tự nhiên.

 

Buổi ra mắt sách tại VIVO San Jose vào chiều chủ nhật phải nói là tuy không đông đảo nhưng hết sức hấp dẫn. Giáo sư Ngô đức Diễm điều hợp chặt chẽ và trật tự. Bác sĩ Nguyễn Thượng Vũ trong tình thân hữu với tác giả bao năm đã hết lòng ca ngợi bác Lang về mọi lãnh vực. Đặc biệt là về cá nhân và thành quả văn học, văn hóa. Về thú ăn chơi săn bắn và sưu tầm đồ cổ. Đến nhà văn Diệu Tần thì soạn bài công phu khi nói về tác phẩm. Rất mạch lạc và chi tiết, ông nêu lên các nhận định của bác Huỳnh văn Lang về đệ nhất và đệ nhị Cộng Hòa. Đặc biệt các đoạn tác giả lên án hoặc nhắc lại các lời phê phán về tướng lãnh trong vụ đảo chánh. Những lời phê phán hết sức nặng nề. Một đoạn ghi rõ nhất khi tác giả nhắc lại ý kiến của Phạm ngọc Thảo và cho rằng đại tá quân báo Connor cũng ghi nhận như vậy.

Nguyên văn như sau: ” Minh là đại ca đại ngu. Đôn là thằng đểu, Đính là thằng dốt, Đỗ Mậu gian, Kim là điếm chính trị, Oai là thằng hèn, Xuân là tên đại ác “.

 

Trong suốt tác phẩm, tác giả nhắc đi nhắc lại nhiều lần các tướng lãnh cầm quyền ngu, dốt, gái, tiền. Tác giả cũng thanh minh rằng khi nói đến người lính cầm quyền là chỉ các ông này. Không phải là các tỉnh trưởng và quận trưởng nhà binh.

 

Tác giả xác nhận là cuốn sách viết để tưởng nhớ anh em ông Diệm, nên các hình ảnh trình bày do chính tác giả sắp xếp là nhằm vào mục đích kể trên.

 

Rõ ràng ghi nhận tác phẩm là trải tấm lòng của tác giả với đệ nhất Cộng Hòa. Người phụ ta chứ không phụ người và đồng thời cũng lên án mạnh mẽ phe tướng lãnh đã chủ trương nhà Ngô must go toàn diện. Khác với tác giả cũng chủ trương đảo chánh nhưng chỉ có Nhu must go mà thôi.

 

Thôi đành phụ nhau

 

Rất tiếc là chúng tôi đã phụ lòng của tác giả và nhà tổ chức khi góp ý kiến quá thẳng thắn trên diễn đàn như sau:

 

Tôi buồn nhiều hơn vui khi đọc tác phẩm nầy. Ý kiến phê phán tác giả và tác phẩm thì khá nhiều nhưng vì hết sức tôn trọng tuổi tác và khí phách của bác Lang qua tình thân hữu nên chỉ trình bầy giới hạn.

 

Người xưa có nói rằng: Dân thế nào thì vua thế ấy. Quân ra sao thì tướng như vậy. Tướng lãnh của chúng tôi mà xấu xa tệ hại như thế, thì thuộc cấp còn ra làm sao. Dù rằng thực ra, nằm trong chăn chúng tôi biết chăn có rận.Trải qua bao năm quân ngũ, trực tiếp dưới quyền các tướng lãnh như thế, làm sao tôi không biết là các niên trưởng của tôi có những sai lầm tệ hại. Nhưng ngày nay rõ ràng vì thù hận mà tác giả lên án nặng nề . Hỏi là hàng cấp dưới chúng tôi, ai chả đau lòng.

 

Nghĩ đi nghĩ lại, các vị tướng mà bác Lang nhắc đến tên từ Dương văn Minh, Tôn thất Đính, Đỗ Mậu, Trần văn Đôn, Trần tử Oai, Mai hữu Xuân, Lê văn Kim xem ra đều dốt và hèn. Nhưng các vị niên trưởng khác của chúng tôi chưa vươn lên trong giai đoạn cách mạng bỏ tù Huỳnh văn Lang. Họ lên tướng đợt sau nhưng cũng có lúc vẫn vừa dốt lại vừa hèn. Ngay như thân phận anh em cùng khóa chúng tôi, có người chưa tốt nghiệp trung học mà đã ra trường sĩ quan. Nào có cơ hội học hành gì đâu mà tránh được bản án dốt nát. Sau này trải qua 21 năm chinh chiến, chuyện tứ đổ tường trong chúng tôi, anh nào cũng có lúc ra vào thong thả. Lính mà em. Chinh chiến có lúc mạnh lúc yếu, lúc can đảm lúc hèn nhát.

 

Vì vậy nghe bác chửi thượng cấp, làm sao lại không đau lòng. Lại  xin có lời thưa rằng, xem lại các thượng cấp dốt nát mà bác chê bai chửi bới thì trăm phần trăm là do tổng thống Ngô đình Diệm tin cậy, nhận xét, cân nhắc, luôn luôn với sự cố vấn hết sức tinh tế của ông Ngô đình Nhu. Rồi mới thăng cấp và bổ nhiệm.

 

Làm sao các ngài lại để ra cớ sự như vậy. Lính tráng và các sĩ quan cấp dưới chúng tôi đâu có bầu ra tướng lãnh. Đặc biệt là các tướng lãnh cầm đầu đảo chánh và sau nầy họ bắt bác bỏ tù. Vì vậy xin bác nghĩ lại không nên nặng lời với anh em như thế.

 

Bác đã từng là đệ nhất công thần của chế độ, ngày xưa khi vua bị giết, quan đại thần phải chết theo. Nay bác chỉ bị tạm giữ, xem chừng mấy ông tướng vẫn còn sợ nhân vật Cần Lao số 2 của chế độ. Lại nói về Cần Lao, xin báo cáo bác rõ dù muộn màng gần 50 năm, là ở cấp dưới chúng tôi đã khổ vì mấy ông Cần Lao biết chừng nào. Phải  chi ngày xưa tôi quen với nhân vật số 2?

 

Vấn nạn tiếp theo là trong giai đoạn người lính cai trị kéo dài suốt đệ nhị Cộng Hòa. Lính là tổng thống, thủ tướng, tỉnh trưởng và quận trưởng. Đó lại là giai đoạn mà tác giả làm giàu. Làm giàu trong chiến tranh. Thời đệ nhất Cộng Hòa tác giả tiền bạc dư thừa vì hưởng quyền lợi hợp pháp qua tiền thưởng trên công vụ điều tra sai lầm hối đoái. Quả thực không 1 người lính tham nhũng nào được hưởng quyền lợi nhiều hơn những phần thưởng hợp pháp như thế.

 

Đó chính là nguồn gốc của bất công. Khi mới ra trường, tiểu đoàn hành quân tự do thành công sau khi chết mấy anh lính. Đơn vị được thưởng là con bò chết vì lạc đạn. Trong khi đó ở trên trời cao các bác được thưởng đủ tiền mua dinh thự.

 

Cho đến năm 1975 lương của cá nhân tôi cấp đại tá cũng chỉ có năm, sáu chục ngàn tương đương với 50 mỹ kim một tháng. Suốt đời đi lính, cho đến năm 75 tôi chưa có dịp cầm trong tay tờ 100 mỹ kim. Và tôi biết rằng các anh em khác còn khốn nạn hơn nhiều. Một lần đi công tác về Tân sơn Nhất, không có xe đón đúng giờ. Tôi tháo lon leo lên xe ôm của 1 anh lính ở cổng phi trường. Khi xuống xe mới biết anh xe ôm là thiếu tá. Chiến hữu thường cũng bỏ lon chở lính Mỹ từ Tân sơn nhất về đường Tự do. Cũng là một chuyến đi làm về, có tiền mua sữa cho con.

 

Vì vậy tôi cho rằng giàu có trong chiến tranh là 1 tội lỗi. Xem ra suốt cuộc đời thành công và tung hoành ngang dọc. Tác giả dù sống trong lòng đất nước, nhưng vẫn không biết lính tráng chúng tôi đã khổ sở biết chừng nào.

Vì vậy nên không cách chi giải thích được khi bác đổ tội cho người lính cầm quyền, người lính cai trị.

 

Tuy nhiên,  sau cùng, độc giả nên tìm đọc tác phẩm của tác giả Huỳnh văn Lang. Giá trị của tác phẩm là hết sức chân thực, thẳng thắn, hết sức chủ quan, không vòng vo khách sáo. Đa số các nhân vật đều bị đả kích. Ngay cả các nhân vật tác giả hết lòng kính trọng cũng có dịp phơi bầy những yếu kém sai lầm. Có cả đoạn tác giả đề nghị tổ chức đối lập cuội trong quốc hội nhưng gọi là đối lập xây dựng.

Tuy nhiên độc giả cần có 1 máy lọc để tự mình thẩm định. Tác phẩm nầy về chất lượng rất phong phú tha hồ cho máy lọc làm việc.

 

Buổi ra mắt sách này  có hai vị đại tướng rất nên là độc giả đang ở gần gũi San Jose nhưng lại không đến dự. Đại tướngTrần Thiện Khiêm ở San Francisco và đại tướng Nguyễn Khánh ở Palo Alto.

 

Riêng phần chúng tôi, rất tiếc không thể ca ngợi thêm tác giả và tác phẩm. Xin đành phụ lòng anh em.

Giao Chỉ, Vũ văn Lộc

 




Giao Chỉ : Viên Gạch Lót Đường

VIÊN GẠCH LÓT ÐƯỜNG

Giao Chỉ, San Jose

 

        Ngày xưa, thi sĩ Nguyên Sa gọi ông là Kinh Kha. Trên báo Ðời số đặc biệt năm 1982 xuất bản ở quận Cam, nhà văn Hư Trúc gọi ông là Mặt Trời Không Bao Giờ Lặn. Ðồng bào Việt ở Úc Châu gọi ông là Chiến Sĩ. Báo chí Hoa Kỳ gọi ông là Người Tù Anh Hùng. Trên tờ báo lớn ở miền Tây Úc, ký giả nổi tiếng Norman Aisbett gọi ông là Ðại Tá Cô Ðơn. Trong quân đội tên ông là Võ Ðại Tôn, với bí danh Wòng-A-Lìn. Ngoài văn giới ông mang bút hiệu Hoàng Phong Linh. Và sau cùng, khi tìm đường gai góc mà đi, ông tự coi mình là Viên Gạch Lót Ðường.

        Với chuyến trở về vào đầu thập niên 80, viên gạch quý của chúng ta được sản xuất tại miền đất Quảng anh hùng đã làm nên lịch sử. Khi tin tức về cuộc họp báo tại Hà Nội ngày 13-07-1982 được loan báo trên hầu hết các hệ thống truyền thông thế giới, đồng bào Việt Nam hải ngoại lập tức coi Võ Ðại Tôn như là một biểu tượng chung của người quốc gia đang tìm đường quang phục quê hương.

 

          

 

Ðoạn phim ngắn của truyền hình Nhật Bản đã làm nhỏ lệ biết bao khán giả xen lẫn niềm hãnh diện vốn đã vắng bóng từ lâu. Từ màn ảnh nhỏ, Võ Ðại Tôn xuất hiện vĩ đại, bất khuất. Một trận thư hùng đã mở màn. Một bên là toàn thể bộ máy cầm quyền, cao ngạo, hùng mạnh, khốc liệt và vô cùng hiểm độc. Một bên là người tù biệt giam, cô đơn, đói khát, tuyệt vọng. Ðây là cuộc chiến của một người chống một chế độ trước ống kính của truyền hình, máy ảnh và những cây bút ghi chép đại diện cho hàng trăm cơ sở truyền thông trong và ngoài nước. Trong số này có trên 10 phóng viên ngoại quốc đã được Hà Nội triệu tập khẩn cấp từ Vọng Các qua. Không ai biết chuyện gì sẽ xảy ra. Trong khi đó, nhà cầm quyền Hà Nội úp mở nói rằng sẽ cho trình diện một gián điệp của Hoa Kỳ và của tình báo Thái, xâm nhập vào làm công tác phá hoại Việt Nam.

             

Từ loa phóng thanh, tiếng viên Thứ Trưởng Bộ Văn Hóa Thông Tin Cộng Sản Hà Nội, Lê Thành Công, chủ tọa và điều  hợp buổi họp báo vang lên: Ðây là tên tay sai của trung ương tình báo Hoa Kỳ CIA.

        Với gương mặt khắc khổ và cặp mắt cương nghị, người đàn ông họ Võ, sinh năm 1936 tại Ðà Nẵng cúi đầu chào cử tọa. Tiếp theo ông đứng lên phía sau một chiếc bàn gỗ ghé đầu xuống micro: Tôi, Võ Ðại Tôn, chỉ huy trưởng Chí Nguyện Ðoàn Phục Quốc, tôi xác nhận hoàn toàn chịu trách nhiện về dự mưu xâm nhập Việt Nam…Tôi xin các nhà báo vì lương tâm chức nghiệp của người cầm bút, xin hãy tường thuật trung thực.

Một cách gián tiếp, Võ đại Tôn bác bỏ vai trò của trung ương tình báo Hoa Kỳ. Ông xác nhận đã là người chủ dộng và chấp nhận tất cả mọi hậu quả. Như chúng ta đã thấy, hậu quả tàn khốc nhất là ông đã làm mất mặt toàn thể guồng máy công an và tình báo Hà Nội. Sau khi thấy Võ đại Tôn nói không đúng bài bản dự trù là sẽ thành khẩn thú nhận tội lỗi, lập tức cộng sản cúp điện, và lôi ông vào.

  

Sau đó khán giả không được thấy hình ảnh tiếp theo. Bình luận gia của đài truyền hình cho biết là người ta đã đem ông Võ đi và cuộc họp báo chấm dứt. Cuộc chiến đã ngưng ở đây. Một người đã thắng một chế độ. Kinh Kha của Việt Nam đã hoàn tất sứ mạng và không ai nghĩ rằng người tráng sĩ đó lại có ngày trở về.

        Trần Bình Trọng của lịch sử Việt Nam, lúc sa cơ trong tay giặc đã bày tỏ tâm nguyện không làm vương đất Bắc. Người chiến sĩ họ Võ ra đi năm 1975, trở về năm 1981 vỏn vẹn với hai chiến hữu, sa cơ ở miền biên giới, đã đành quyết một lòng làm quỷ nước Nam. Sau này, khi đã xin tỵ nạn tại Pháp, nguyên đại tá cộng sản Bùi Tín kể lại rằng năm 82 Võ đại Tôn đã đem chính thân xác ra hy sinh để đánh lừa cả bộ chính trị Hà Nội một quả vô tiền khoáng hậu. Ai cũng biết rằng ông đã phải trả giá cho cuộc họp báo quốc tế phi thường như thế nào.

Tại San Jose, những thước phim ngắn trên truyền hình Nhật Bản được in ra phổ biến trong cộng đồng và một cuộc biểu dương hàng ngàn người đã được tổ chức tại công viên St James

        Từ đó đến nay, giữa ngục tù Cộng Sản, ông Tôn đã đếm được 10 năm 1 tháng và 17 ngày. Báo chí ở Úc nói rằng: Mr. Võ có một trí nhớ sắc bén như lưỡi dao cạo. Ông nhớ rằng với trọn năm tù đầu tiên ông bị đánh suốt 45 ngày. Biệt giam trong một xà lim 3 thước và 2 thước rưỡi. Suốt 10 năm ông đã bị đánh đập 96 lần.

        Sau ngày 13-7-1982, khắp thế giới nói đến Võ Ðại Tôn, nhưng cũng từ ngày ấy không một ai biết thêm tin tức gì về viên gạch lót đường yêu quý đó nữa.

        Tại Úc châu, tiểu bang New South Wales, nơi cộng đồng Việt Nam thân yêu mà ông từ giã, vẫn mòn mỏi chờ đợi là một người vợ trẻ và đứa con trai 3 tuổi.

          

Năm 1990, khi có cơ hội qua Úc châu thăm bà Võ Ðại Tôn, chúng tôi đã tìm thấy một gia đình rất bình thường như bất cứ một gia đình tỵ nạn nào của cộng đồng Việt Nam. Bà Tuyết Mai, vợ Võ Ðại Tôn đi làm công chức và thay chồng nuôi con. Trong căn nhà nhỏ bé, có treo một tấm chân dung vĩ đại của người chồng và người cha ngàn trùng xa cách. Trở về Hoa Kỳ, chúng tôi đã bắt đầu công cuộc vận động với các giới lập pháp Hoa Kỳ, kể cả việc gửi người trong phái đoàn về đấu tranh với Hà Nội. Cuối thập niên 80, các hội đoàn tại San Jose hòa nhịp với người Việt toàn thế giới cùng lên tiếng đấu tranh cho tù tập trung “Lao Cải”. Tên của Phan nhật Nam và Võ đại Tôn dược nhắc nhở nhiều lần. Sau đó, đại diện cơ quan IRCC là ông phó giám đốc Nguyễn đức Lâm trong phái đoàn quốc hội California đã về Sài gòn trong sứ mạng thăm dò với cùng muc đích của bộ ngoại giao Hoa Kỳ. Cũng vào thời gian đó, Phan Nhật Nam vừa được tự do và IRCC đã có dịp phỏng vấn trực tiếp ông tại Sài Gòn đem về phát lại trên radio San Jose. Nhưng trường hợp Võ đại Tôn hy vọng rất mong manh.

        Ðối với gia đình của ông Tôn, tin tức ghi nhận được ngày 13-7-1982 cũng là tin tức chính thức cuối cùng. Ít nhất cho đến 9 năm sau, với sự vận động rất tích cực của chính phủ Úc Ðại Lợi, Hà Nội đã cho phép ông nhận quà và gửi thư về. Rồi đến áp lực chung của toàn thế giới và sự lưu tâm đặc biệt của Úc châu. Sau cùng Cộng Sản Việt Nam quyết định trả tự do cho ông Võ Ðại Tôn ngày 10-12-1991.

        Ông trở về Úc châu với cả một cộng đồng thân yêu chào đón. Với người vợ đỏ mắt chờ mong và đứa con trai mà người cha như là một huyền thoại. Hà Nội đã giam giữ ông trên 10 năm, từ 72 kg xuống còn 48 kg. Thân hình tiều tụy trông già hơn 20 tuổi. Tuy nhiên, trí óc sắc bén còn nhớ hàng trăm bài thơ dài ngắn và 3 cuốn sách mà ông đã viết bằng ký ức trong thời gian biệt giam, vì không có ánh đèn và giấy bút. Ngay như cuốn hồi ký Tắm Máu Đen (đường về quê hương và cuộc chiến cô đơn trong lao tù Hà Nội) dày hơn 500 trang, ngay sau khi ra khỏi tù trở về Sydney, đã được đánh máy trong vòng một tuần lễ và phát hành ngay tại Úc, 1992. Tái bản tại Hoa Kỳ năm 2000. Như vậy là, sau cùng người chiến sĩ xuất thân từ biệt kích đã có nhiều lần đảm nhận nhiều công tác tình báo đặc biệt,  nay đã trở về. Lần cuối cùng ông đi vào lòng địch không hề có lệnh công tác mà cũng không có được một tiểu đội xung kích. Nếu không kể toán lính kháng chiến Lào hộ tống đã tan hàng, thì thầy trò chỉ vỏn vẹn có 3 người. Một người là Vũ Ðình Khoa đã hy sinh tại chỗ, một người thứ hai đã bị bắt cùng một lượt với Võ Ðại Tôn và được thả năm 1987.

        Năm 1981, khi ông Võ Ðại Tôn lên tiếng với toàn thế giới là ông đang tìm đường trở về quang phục quê hương, trong chúng ta đã có nhiều người bày tỏ sự hoài nghi rất hợp lý.

        Dứt bỏ cuộc sống ổn định, bỏ gia đình vợ con đơn chiếc để tìm con đường về mịt mù vô vọng. Quyết định này không dễ gì thực hiện. Mở cuộc thánh chiến cô đơn để chống chế độ Hà Nội lúc đó còn đầy đủ sắt máu và phong độ vào thập niên 80, rõ ràng đối với nhiều người thì đây là một hành động không khôn ngoan và thiếu thực tế.

        Nhưng chúng ta không thể lấy tri thức của mọi người mà đo lòng của một người. Không thể lấy bụng dạ của thường nhân mà đo lòng chiến sĩ. Và không thể lấy đất mà đo với gạch. Vì vậy mới có Võ Ðại Tôn. Con người này khi đi làm anh hùng thể hiện sứ mạng lịch sử, quả thực đã thiếu sự khôn ngoan của đa số bình thường. Chúng ta đâu có biết ông đã nghĩ gì khi quyết “Tìm đường gai góc mà đi”.
 

           
Tháng 4 năm 1992, miền đất ấm California đã có dịp chào đón Võ Ðại Tôn trên đường từ Úc Châu qua Hoa Kỳ. Lúc đó phong độ vẫn quả cảm quyết liệt, nhưng già dặn chín chắn hơn. Chúng ta thường có thói quen dành hết lòng thương yêu thành kính cho những người liệt sĩ ra đi vĩnh viễn vào cõi vô cùng. Trong khi đó cộng đồng và quê hương thực sự rất cần những anh hùng còn tồn tại.

        Hai mươi năm trước San Jose đã lên tiếng cảm ơn đất Quảng đã sản xuất ra một Võ Ðại Tôn trước sau như một. Chúng ta đã ca ngợi cộng đồng Việt tại Úc châu có được một Võ Ðại Tôn hơn một lần bước chân đi, lẫm liệt đường hoàng.

        Trên con đường đó vẫn cần rất nhiều viên gạch lót đường. Trong đó, chúng ta đã có sẵn một viên gạch bất khuất. Viên gạch lót đường mang họ Võ.

Tháng 4 năm nay, chúng tôi lại mời ông Võ Ðại Tôn qua Mỹ.

Ngày thứ bẩy 15 tháng 5-2010 lúc 1 giờ trưa ông sẽ có dịp gặp gỡ đồng hương và chiến hữu tại San Jose. Tại hội trường Santa Clara County số 90 W. Hedding. Ông sẽ giới thiệu những cuốn sách mới viết xong, trong đó có cuốn hồi ký  “Tuổi thơ và chiến tranh” và quan trọng hơn hết là ông sẽ trải rộng tâm tình với bà con San Jose, nơi cũng đã trải tấm lòng ra với ông suốt 30 năm qua.

Rồi một tuần sau, đến ngày chủ nhật 23 tháng 5-2010 trong chương trình văn nghệ 35 năm nhìn lại tại đại hí viện CPA, nhà thơ Hoàng Phong Linh, bút hiệu văn nghệ của Võ Ðại Tôn sẽ cất tiếng hát lời thơ do chính ông sáng tác (Nguyễn Ánh 9 phổ nhạc) :” Mẹ Việt Nam ơi, chúng con vẫn còn đây…

Tháng tư 1975, cách đây 35 năm miền Nam đã có biết bao nhiêu anh hùng tuẫn tiết. Tình cờ chúng tôi ghi nhận được tướng Nguyễn Khoa Nam của đất Thần kinh, Trung Việt. Tướng Lê Nguyên Vỹ, quê Sơn Tây, Bắc Việt và tướng Lê văn Hưng, Nam Việt. Quả thực anh hùng ở khắp mọi nơi và hào kiệt thời nào cũng có.

Trên con đướng đấu tranh phục quốc Trần văn Bá về từ Âu Châu, Hoàng cơ Minh về từ Mỹ Châu và Võ Ðại Tôn về từ Úc Châu. Trên sân khấu lịch sử 35 năm nhìn lại ngày 23 tháng 5-2010, chúng tôi ước mong có đại diện sinh viên Trần Văn Bá, có người con trai của tướng Hoàng cơ Minh. Liệt sĩ Trần văn Bá đã bị cộng sản xử tử hình tại Sài Gòn. Ðề đốc Hoàng cơ Minh đã hy sinh miền biên giới. Ta nỡ lòng nào đề một mình viên gạch lót đường cô đơn Võ Đại Tôn đứng đó mà hát rằng:” Mẹ Việt Nam ơi, chúng con vẫn còn đây…

 

Giao Chỉ – San Jose.

4.2010 

                        

Giao Chỉ : Nhà thơ không có tác phẩm


Ghi Chú của VTLV

Vào khoảng năm 1982 một số tù cải tạo từ trại Thanh Chương Nghệ Tĩnh được chuyển về Nam. Đêm hôm đó, tháng giêng, trời rất rét, đám tù chuyển trại ngủ tập trung ngoài trời ngay bãi cỏ bên hông đền thờ Vua An Dương Vương và Mỵ Châu. Nơi này gần ga Vinh và đèo Mộ Dạ, khi xưa vua và công chúa bị quân Triệu Đà, Trọng Thủy đuổi, chạy tới đây vua phát hiện công chúa rắc lông ngỗng chỉ đường cho Trọng Thủy tìm mình nên chém đầu . Ai ngờ lọt vào quỷ kế của giặc. Giống như đám tù nhân lọt vào bẩy của Cộng Sản.

Trời trong, sương lạnh, tù nhân cứ hai người còng lại với nhau. Hà Thượng Nhân và Đông Anh bị còng chung. Nhìn sao trời nói chuyện thơ văn trong đêm tối dưới họng súng AK. Nghĩ thương cho thân phận mình và thương cho vua An Dương Vương tin người mà lầm vào quỷ kế. Thương cho công chúa Mỵ Châu đặt hết tình yêu vào kẻ manh tâm lừa phản đến nỗi bị mất đầu.

Nay nghe Văn Thơ Lạc Việt tổ chức họp mặt tân niên, thi sĩ Hà Thượng Nhân viết bài thơ để nhớ lại chuyện xưa với ngày đi tù tại Thanh Chương để tặng cho quý vị quan khách trong ngày họp mặt tân niên hoa nở.

 

Nhân Đêm Rã Ngũ và Thành Lập Hội Thơ Lạc Việt.

Hà Thượng Nhân  viết cho ngày Văn Thơ Lạc Việt họp Xuân 2010

 

Lạc Việt dựng lên từ dạo ấy

Lạc Việt khi không lại góp lời

Bình thường họa lại văn thơ cũ

Thỉnh thoảng quay sang chuyện khóc cười

Câu chuyện có nhau thêm sắc cạnh

Mỗi phương thi hữu góp thêm lời

Ngày xưa Lạc Việt ai đem nhắc

Câu chuyện ngày xưa cũ lắm rồi

Ta mang hâm lại văn chương cũ

Câu chuyện ngày xưa lại sáng ngời

Đền cổ An Dương, đêm rã ngũ

Ngày sau lưu lại mấy cơn cười

Câu chuyện nỏ thần không có nữa

Thành ra ân oán lại đôi nơi

Nước non để lại năm cùng tháng

Năm tháng tàn theo chuyện khóc cười

Mối tình thuở  ấy tuy còn trẻ

Thành Cổ Loa kia sống với đời

Lông ngỗng rắc cho chàng nhớ thiếp

Trăm năm ân ái chuyện con người

Ái ân vả lại chàng bên thiếp

Hai chữ oan gia giữa cuộc đời

Câu chuyện tình yêu đêm gió lạnh

Đông Anh cảm hứng chép thành lời

Đến nay đã mấy mùa thương nhớ

Kỷ niệm xưa nay thấy ngậm ngùi

Đoàn quân bại trận nghe tình sử

Chẳng hiểu làm sao ngất ngưởng cười

Mới biết ngàn năm còn chữ nghĩa

Ngàn năm còn chuyện nỏ thần ơi

Đêm nay gió lạnh về qua đó

Ai có ngờ đâu chuyện vẫn dài

Một chuyện ái tình gây thắc mắc

Nỏ thần ai vẫn tiếc cho ai

Văn nghệ khởi duyên từ nghiệp đó

Muôn lòng thắc mắc những hôm mai

Nghĩ xót thương cho chàng Trọng Thủy

Mà thương cô gái Việt Nam ơi

Mỵ Châu, em chỉ vì chung thủy

Nước giếng thần kia chẳng đủ vơi

Ta lại có thêm câu chuyện lạ

Tình nào cho khác được tình ai

Tình kia thật quả thua quyền lợi

Gương sáng ngàn năm sống với đời

Gương ấy muôn sau đem xét lại

Người chê, kẻ hận rối tung hoài

Bạn ta phản bội quên tình bạn

Câu chuyện đồng minh: một cuộc đời

Oan nghiệt thương cho chàng Trọng Thủy

Lại thương số mệnh của con người

Nỏ thần bị mất vì tình nghĩa

Hai chữ oan gia luống ngậm ngùi

Chuyện ấy chúng ta ngồi nghĩ lại

Ghét yêu thôi cũng chuyện con người

Con người bởi lẽ không chung thủy

Lưu lại ngàn sau một tiếng cười

Ta muốn nói nhiều nhưng chẳng nói

Khi ông đại tướng bắt binh lui

Khi ông đại tướng còn ra lệnh

Bỏ thành, giữ lấy nước non thôi

Ta chịu thua vì không tiếp vận

Ta thua vì đã quá tin người

Lòng vẫn đêm ngày cùng nhớ rõ

Chuyện tình thuở  trước mịt mờ soi

Xưa nay có mấy người thua trận

Gom góp nhau về kể chuyện chơi

Thắng bại phải chăng là nỗi nhục?

Ta còn nhau đó cũng là vui

 

Hà Thượng Nhân

Nhà thơ không có tác phẩm

GIAO CHỈ – SAN JOSE

 

Có một chàng Thi sĩ miền quê … ( Phạm Duy)

Những mái đầu cất cao, không một lời than thở. (HTN)

 

Quả thực bác này đúng là chàng thi sĩ miền quê. Nếu hơn 15 năm trước, khi bác mới được HO qua Mỹ, làng văn thơ hải ngoại mời bác làm chủ tịch Văn bút Việt Nam Tự do thì chắc hẳn ai cũng cho là rất xứng đáng. Ấy vậy mà, bác lại không đủ điều kiện để nộp đơn xin vào làm hội viên bình thường của văn bút Việt Nam hải ngoại. Bởi vì dù là tác giả của hàng ngàn bài thơ nhưng chưa bao giờ ông có được một tác phẩm thi ca.

Chàng thi sĩ ở San Jose của chúng tôi là người Thanh Hóa, quê làng Hà Thượng, sinh năm 1919. Khi đệ nhị thế chiến chấm dứt (39- 45) ông bắt đầu làm báo và theo kháng chiến suốt 7 năm. Ðó là thời kỳ bài ca Tuổi Vàng của Phạm Duy gọi lên hồn nước làm rung động toàn thể thanh thiếu niên Việt Nam.

“Một mùa thu năm qua, cách mạng tiến ra ……..

Thời kỳ đó có lần làng Bình Hải, huyện Yên Mô tổ chức đón các đại biểu liên khu về hội họp. Những cậu bé trong đoàn thiếu niên Kim Ðồng của Hà Nam Ninh chúng tôi hết lòng sùng kính các anh từ liên khu Thanh Nghệ Tĩnh về nói chuyện. Gia đình tôi từ Nam Ðịnh tản cư về Yên Mô, Ninh Bình. Từ miền Hoa Lư, đường vào xứ Nghệ phải qua Thanh Hóa với cây cầu Hàm Rồng đầy huyền thoại.

Các anh từ khu Tư nổi tiếng về nói chuyện tại đình làng Bình Hải. Năm đó, tuổi 15 tôi đứng dựa cột đình. Dường như chàng thi sĩ làng Hà Thượng cũng có mặt trong vai trò cán bộ văn hóa quan trọng của kháng chiến. Phần văn nghệ có cả cô bé Thái Thanh tham dự hát bài chữ I chữ Tờ.

Hơn 60 năm sau, bây giờ 2010, tại San Jose tôi xin gửi đến các bạn bài viết về Trung Tá Phạm Xuân Ninh, tức là nhà thơ Hà Thượng Nhân, người Thanh Hóa.

 

            Một đời văn nghệ.

 

Có thể nói suốt đời bác Ninh là một đời văn nghệ. Ði lính từ đại úy đến Trung Tá nhưng ông không hề liên quan gì đến quân trường và súng đạn. Làm chủ nhiệm báo Tiền Tuyến nhưng chàng luôn luôn ở hậu phương. Cuộc đời của ông tất cả là bằng hữu và thơ phú. Năm 1935, cậu Ninh 16 tuổi đã có dịp dự cuộc thi thơ với các bậc tiền bối và đoạt giải với bài Trăng Thu.

“Sương mỏng manh, canh vắng lặng tờ

Buồn xưa náo động mấy vần thơ…….

Quả thực bài thơ trúng giải của cậu thư sinh đã làm náo động cả hội thơ Vỹ Dạ thủa xưa. Trải qua 7 năm theo kháng chiến, năm 1952 ông về thành và 1954 ông di cư vào Nam.

Do nhu cầu của Tâm lý chiến miền Nam và do thân hữu đề cử, thủ tướng Ngô Ðình Diệm ký lệnh cho me xừ Phạm Xuân Ninh đặc cách mang cấp đại úy trừ bị. Ðây là cấp bậc theo quy chế đồng hóa thuộc bộ quốc phòng. Sau đó ông được đề nghị thăng cấp thiếu tá và trung tá. Suốt 21 năm ông làm việc tại tổng cục chiến tranh chính trị. Sau 75 ông đi tù tập trung cải tạo từ Nam ra Bắc và từ Bắc vào Nam. Sau cùng HO qua định cư tại San Jose.

Anh em văn nghệ cao niên chúng tôi tại San Jose thường ghi nhận rằng cuộc đời từ hoa niên, binh nghiệp, tù đầy, tỵ nạn và định cư trải qua các giai đoạn chính như sau. Lẽ dĩ nhiên cũng có người đi theo thứ tự, có người đặc cách khác anh em. Sau đây là các dấu mốc

1) Sinh quán, sinh nhật 2) Trường học và quân trường 3) Trại binh, trại gia binh, trại tù, trại tỵ nạn 4) Nhà tạm trú, nhà housing, nhà trả góp, nhà mobil, và nhà dưỡng lão.

Anh bạn cùng khóa Cương quyết II Thủ Ðức của tôi là trung tá lực lượng đặc biệt Ðỗ Hữu Nhơn đã có lần còn nhắc đến chuyện nhà quàn từ Down Hill cho đến Oak Hill. Riêng phần các bác, xin cứ ghi nhận và xem lại để thấy rằng mình đang ở giai đoạn nào và đã đặc cách vượt cấp ra sao.

Sau đây là bài thơ cuộc đời bằng Anh Ngữ.

DOP, POB / School, Military School / Military Camp, Concentrate Camp, Refugee Camp / Half way House, Housing, Single House, Mobil Home, Nursing Home.

Và cuộc đời bác Ninh của chúng tôi hiện ở giai đoạn hết sức hoàng hôn. Ông đang được điều trị tại khu dưỡng lão Wilow Glen, San Jose. Chàng vốn không có tên trong các hội ái hữu quân trường dù là Ðồng Ðế, Thủ Ðức hay Ðà Lạt. Cũng chẳng phải là thành viên của các quân binh chủng bay bướm oai hùng. Ở đây hội ái hữu đồng hương chẳng thiếu địa danh nào nhưng lại chẳng hề có hội đồng hương Thanh Hóa. Nhưng bằng hữu thơ văn thì ai mà chẳng biết Hà Thượng Nhân. Ðặc biệt ông bạn tù là nhà thơ Nguyễn Ðình Tạo, quê làng Ðông Anh sớm tối vào thăm bác Ninh. Bác Ðông Anh hiện nay là người điều hợp thi đàn Lạc Việt, có bạn Chinh Nguyên làm tổng thư ký. Hội ta vẫn thường trực chuyên chở bác hội viên cố vấn Hà Thượng Nhân. Vì vậy chàng thi sĩ của chúng ta đã từng viết câu thơ mãi mãi tràn đầy tình nghĩa… “Ta từ có bạn đến giờ, lời thơ lại bỗng bất ngờ thành vui…..”

 

Những bài thơ…

 

Nếu đem in những bài thơ của thi sĩ người làng Hà Thượng thì xoàng ra cũng có được năm bẩy tác phẩm. Thực ra với nhiều bút hiệu khác nhau, bác Phạm Xuân Ninh đã từng soạn nhiều tài liệu nghiên cứu do Nha chiến tranh Tâm lý xuất bản.

Tuy nhiên, đây chỉ là sáng tác thuộc về lãnh vực nghiên cứu của một công chức quốc gia. Còn những vần thơ gan ruột của thi nhân, những bài thơ về tình yêu của nhà thơ thì chưa bao giờ in thành sách.

Ông đã từng viết !

“Ta có một tình yêu, bao la như trời đất.

                        Ta viết vào trang Thơ, Tình yêu ta không mất.”

Và mục đích của cuộc đời được ghi lại.

                        “Sống chỉ lấy cái tâm làm trọng.

                        Gửi ngàn sau mấy giọng tiêu giao.”

Trong số hàng ngàn bài thơ của thi nhân tôi thích nhất những bài thơ ông làm trong thời gian ở tù. Trong hằng trăm bài thơ tù, tôi ghi nhận có 3 bài hết sức rung động. Xin giới thiệu bài Thắp sáng. Xin các bác lưu ý. Mỗi câu thơ đều là một lời kinh đấu tranh. Mỗi câu thơ đều có thể đặt tựa cho cả bài thơ. Bài thơ ngũ ngôn, một sở trường của tác giả như sau :

 

“ Thắp sáng muôn vì sao”

Nếu như không đau khổ. Làm sao biết căm hờn. Càng muôn trùng sóng gió. Tay chèo càng vững hơn. Chúng ta cùng có nhau. Nhìn nhau vui hớn hở. Trên luống cày khổ đau. Hoa Tự do vẫn nở Những mái đầu cất cao. Không một lời than thở

Tác giả chỉ giải thích lòng căm hờn bắt nguồn từ thân tù đầy oan trái, tuy nhiên, như lời thơ đã viết, tác giả không nuôi dưỡng căm hờn. Chỉ là :

“ Những mái đầu cất cao, không một lời than thở.

            Nhưng có 2 bài thơ trong tù tràn ngập yêu thương xin gửi đến các bác đọc lại thật rõ từng lời để cùng rung động với tác giả.

Năm 1975 mới vào tù, ông làm bài Mưa buồn trong trại Long Giao trong lòng đất quê hương miền Nam. Năm 1978 sau khi bị đưa ra đất Bắc ông làm bài Cỏ biếc, vào lúc tác giả chuyển trại từ Thác Bà, Yên Bái về Thanh Chương, Nghệ Tĩnh. Ðây là lời thơ của bài Mưa Buồn Long Giao. Xin hãy nhớ cho, tác giả làm bài thơ này vào thời gian sau tháng 4-75. Người tù già ngồi nghe mưa miền Nam tại Long Giao.

Ở ngũ ngôn tứ tuyệt đoạn cuối, tác giả dùng chữ nẻo cụt chỉ bước đường cùng, tưởng là giấc mơ, tưởng chỉ là cơn ác mộng, hút điếu thuốc lào, hỏi lòng mình đã say chưa.

MƯA BUỒN LONG GIAO,

Trời có điều chi buồn ? Mà trời mưa mãi thế !

Cây cỏ có chi buồn ? Mà cỏ cây ứa lệ !

Anh nhớ em từng phút, Anh thương con từng giây.

 Chim nào không có cánh, Cánh nào không thèm bay.

                        Người nào không có lòng, Lòng nào không ngất ngây.

Gửi làm sao nỗi nhớ, Trao làm sao niềm thương.

Nhớ thương như trời đất, Trời đất vốn vô thường.

Ngày xưa chim Hồng hộc, Vượt chín tầng mây cao,

Ngày xưa khắp năm Châu, Bước chân coi nhỏ hẹp,

Bây giờ giữa Long Giao, Ngồi nghe mưa sùi sụt,

Cuộc đời như chiêm bao. Có hay không nẻo cụt,

Anh châm điếu thuốc lào, Mình say, mình say sao !!

Trại tù cải tạo Long giao 1975 HTN

Và sau cùng là bài Cỏ Biếc làm trong trại tù nơi quê hương của tác giả, miền khu 4 , Thanh Nghệ Tĩnh ngày xưa:

 

XIN LÀM CỎ BIẾC

 

Anh cầm tay em, Bàn tay khô héo. Anh nhìn mắt em, Gió lùa lạnh lẽo. Anh nhìn lòng mình, Mùa Đông mông mênh. Cỏ non mùa Xuân, Còn vương dấu chân. Trăng non mùa Hạ, Ướt đôi vai trần. Có xa không nhỉ? Ngày xưa thật gần. Thời gian ! Thời gian! Em vẫn là em…Nụ cười rạng rỡ, Ngày nào vừa quen, Mai đưa em về, Xin làm cỏ biếc, Vương chân em đi. Xin làm giọt mưa, Mưa giầm rưng rức. Trên vai người yêu, Sàigòn! Sài Gòn! Không là quê hương,  

Mà sao mình nhớ,  Mà sao mình thương…

Ngày từ trại Thác Bà, Yên Bái về trại 6 Thanh ChươngNGHỆ TĨNH 1978

 

Ngày nay, tại hải ngoại có biết bao nhiêu Little Saigon. Có bao nhiêu người đã tranh đấu cho tên gọi thành phố Saigon. Nhưng có ai yêu Saigon hơn được người thi sĩ Thanh Hóa.

Saigon Saigon, không là quê hương.

Mà sao mình nhớ, mà sao mình thương.

 

            Gửi ông bạn già.

Bác Hà Thượng Nhân, tôi chưa biết ông 60 năm về trước. Hồi 70 Saigon tôi cũng không quen bác. Bác HO về San Jose, mới biết bác qua bạn Ðông Anh. Năm xưa, chúng tôi mời bác lên sân khấu nhận giải sự nghiệp một đời của tiểu bang California. Bác chiều lòng anh em mà lên nhận bảng tuyên dương, tôi biết bác đâu có quan tâm gì những vinh quang phù phiếm đó. Tấm lòng bác đôn hậu, tinh thần bác an nhiên.

“ Chẳng cầu cạnh, chẳng ưu phiền,

                        Miễn sao lòng cứ an nhiên là mừng.”

Năm nay bác đã ngoài 90. Tuy không còn hút thuốc lào nhưng đang trải qua giai đoạn khi tỉnh khi mê. Lúc quên lúc nhớ. Khi tỉnh bác làm thơ hay. Khi say thơ vẫn còn hồn. Lúc trẻ lời thơ đã uyên bác. Khi về già thơ vẫn còn tình tứ.

Bác phê bình Giao Chỉ viết văn như bổ củi. Hết bó này đến bó khác. Mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng, mỗi năm.

Hôm nay gặp bó củi cao niên, tôi xin tiếp tục làm công tác bổ củi. Chẻ thật nhỏ ra làm đóm để bác châm lửa hút lại điếu thuốc lào.

Tôi có lần hỏi tuổi bác, bác trả lời 9 chục. Rồi nói tiếp : “Mình cũng không biết tại sao lại sống lâu như vậy”. Tôi nói rằng : “Tại bác sống đời thi sĩ. Sống bên cạnh cuộc đời. Tại bác không sống tỉnh. Bác sống say say.

Bác tự hỏi lòng : “ Mình say sao ? Bác say thật rồi.

            Một đời sung sướng. Một cuộc sống tuyệt vời. Bác thuộc về một số rất ít.

            Những mái đầu cất cao, không một lời than thở.

GIAO CHỈ, SAN JOSE.




Hãy cứu lấy Nghĩa Trang Biên Hòa! (Giao Chỉ)

Hãy cứu lấy Nghĩa Trang Biên Hòa!
Giao Chỉ – San Jose
Nghĩa tử là nghĩa tận. Nghĩa nào là nghĩa trang.
Từ muôn trùng xa cách. Nhắn ai về cố hương.
           Ðốt nén nhang viễn xứ. Gửi người dưới mộ sâu.
           Bao nhiêu năm quên lãng. Chợt xót thương một lần…

 
Thăm nghĩa trang xưa
          Năm nay mới bước vào mùa Lễ Tạ Ơn Hoa Kỳ, vé máy bay về Việt Nam ăn Tết đã bán hết. Kinh tế lên, người ta có tiền, vui vẻ về quê ăn Tết. Kinh tế xuống, thất nghiệp, buồn tình cũng về quê ăn Tết!
          Thôi bạn đã về, xin nhắn bạn về thăm một chỗ,
          Các cháu đã về, xin nhắn cháu về thăm một nơi:
                             Nghĩa trang Biên Hòa.
          Ngày xưa, lúc mới chạy đi, ông Kỳ viết cuốn sách tựa đề là 20 năm, 20 ngày. Ý ông nói là miền Nam chiến đấu trong 20 năm, nhưng mất trong 20 ngày. Ông hô hào chiến đấu, nhưng ông lại bỏ đi. Hụt hẫng cả đạo quân. Hai mươi năm sau, ông lại ra sách, tự xưng là con của Phật. Rồi ông trở về, cũng thăm lại nghĩa trang. Ngông nghênh, áo xanh, quần xọoc. Ông làm nhục anh em. Ông làm buồn lòng người sống, và ông làm tủi vong linh người chết. Sau khi đóng vai hàng thần lơ láo, ông làm hoen ố hình ảnh nghĩa trang xưa đã hoang phế lại còn thêm ảm đạm.
          Không,
Tôi không muốn các bạn về thăm như ông Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ.
          Ngày xưa, ông Trung tướng Thiệu có tuyên bố một câu khá ngậm ngùi:
                             “Mất nước, là mất tất cả”.
Thật đúng như thế. Chúng tôi và các bạn sĩ quan cao niên, chẳng những mất nước, mất cả binh đoàn, đành mất cả thể diện. Ðám chạy đi mang mối tủi nhục lưu vong, người ở lại gánh nỗi buồn ‘cải tạo’. Nhưng Trung tướng Nguyễn văn Thiệu đã qua đời, ông không biết rằng cho đến ngày nay, ba mươi ba năm sau cuộc chiến, chúng ta chưa mất hết. Chúng ta vẫn còn lại nghĩa trang Biên Hòa.
          Khi cuộc chiến miền Nam đứt phim vào tháng tư phiền muộn, Bắc quân vào tiếp quản miền Nam. Bộ đội ăn cướp theo binh đoàn. Cơ sở ăn cướp theo chính quyền. Nhà, nhà bị chiếm. Ngành, ngành tiếp quản. Trại lính, nhà thương, phòng sở và doanh trại. Tất cả đều bị chiếm đóng. “Giặc từ miền Bắc vô Nam, bàn tay dính máu đồng bào”. Bài ca tiên tri của cục chính huấn như còn vang vọng nơi đây. Nhưng thực ra, có một nơi, giặc chỉ phá phách mà không chiếm đóng. Ðó là nghĩa trang quân đội Biên Hòa. Nơi chúng ta đã bỏ lại 16 ngàn tử sĩ dưới mộ sâu, trong lòng đất nơi quê mẹ. Nơi có đại diện quân dân chính. Có đầy đủ quân binh chủng. Nơi thể hiện thực sự tình huynh đệ chi binh.
          Với tư cách là người biết về nghĩa trang này trước năm 1975 và đã có dịp nghiên cứu suốt 15 năm qua sau cuộc chiến, tôi xin gởi đến các chiến hữu bản tường trình đầu đuôi và các đề nghị cần thiết để cứu lấy nghĩa trang Biên Hòa.
 
Nghĩa trang ngày gẫy súng
             Khi miền Nam gẫy súng ngày 30 tháng 4 năm 1975, nghĩa trang Biên Hòa là phòng tuyến rộng 125 mẫu đang trải qua những giây phút sau cùng. 16 ngàn tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa nằm dưới mộ sâu, chung quanh ‘Nghĩa dũng đài’ chiếm ngụ hơn 50 mẫu. Từ trung tâm chia ra làm 8 lô theo hình nan quạt. Các cấp chỉ huy nằm trong vòng chính giữa, rồi đến vòng cung mai táng các sĩ quan. Mộ chôn từ năm 68 Mậu thân đến mùa hè Ðỏ lửa 72 đã có bệ ciment. Mộ chiến sĩ tử trận sau này còn đắp đất nằm vòng ngoài. Sáng ngày 1 tháng 5 năm 1975, những người còn lại quanh nghĩa trang đã chôn cất lần chót tất cả di hài quân dân lẫn lộn vào những mộ tập thể. Từ đó đến nay không có ai được chôn cất thêm tại khu nghĩa trang lịch sử nữa. Sau 1975 nghĩa trang quân đội Biên Hòa chỉ có những ngôi mộ cải táng đem đi, không có chôn cất mới.
          Bức tượng ‘Thương tiếc’ ngoài đầu xa lộ bị địch phá bỏ, kéo đi. Nhà máy nước Bình An chiếm đóng giữa con đường từ Ðền Tử Sĩ đến Nghĩa Dũng Ðài. Chung quanh khu nghĩa trang, bộ đội, dân chúng và chính quyền chiếm dụng làm doanh trại và nhà cửa.
          Vì lý do muốn xâm lấn thêm đất vòng ngoài, có lần chính quyền Cộng sản ra lệnh một số ngôi mộ phải cải táng. Ai có thân nhân nằm tại vùng bị giải tỏa phải dọn đi, nếu không, thì chính quyền sẽ giải quyết. Cho đến nay, không ai biết rõ Cộng sản đã giải quyết ra sao, nhưng cụ thể là phía Nam và phía Bắc của vòng tròn chôn cất chung quanh Nghĩa dũng đài đã bị xâm chiếm. Rồi chính quyền cho xây một bức tường theo con đường vòng phía Nam nghĩa trang, chỉ dành lối vào bên hông. Ðường vào cổng chính đã bị nhà máy nước Bình An chắn ngang. Doanh trại bộ đội xây cất thêm phía Bắc. Trồng cây xanh khắp nơi trong nghĩa trang để huấn luyện tân binh. Toàn thể khu vực trở thành vùng quân sự cấm quay phim, chụp hình. Lúc dễ, lúc khó, thân nhân vẫn được vào thăm mộ nhưng phải đi theo bức tường phía Nam và đi ngả sau. Ðó là tình trạng đã xảy ra cho đến tháng 4-1993
Tảo mộ chui                                                
          Từ khi biết được Nghĩa trang quân đội tại Biên Hòa vẫn còn đó, chúng tôi bắt đầu liên lạc với các gia đình có mộ tử sĩ. Xin hình ảnh tảo mộ, xin copy của cuốn phim quay việc cải táng. Bắt đầu gởi người về thăm viếng từ 1993 đến 1996. Từ năm 1997, tổ chức các toán thương phế binh Saigon, Gia định đi công tác. Nhiều toán nhận nhiệm vụ vừa tảo mộ vừa vẽ bản đồ. Chúng tôi cần tài liệu để làm mô hình nghĩa trang cho Viện Bảo Tàng. Các anh em thương phế binh thăm mộ ngày Tết, thanh minh tháng ba, tháng năm xá tội vong linh, ngày Quân lực tháng sáu, lễ Giáng sinh, rồi tiếp đó lại chào mừng năm mới. Thực sự cũng chẳng tốn kém nhiều. Một chút tiền gởi thêm là đủ cho các chiến binh quê nhà vận động bà con công tác. Hình chụp được rất nhiều. “Before and After”. Cùng một chỗ. Trước là cỏ mọc um tùm, sau là mộ phần quang đãng. Trước là đám đất xác xơ, sau đã vun lên thành ngôi mả mới. Rồi bia được gắn lại với tên kẻ sơn rõ ràng. Người thương binh còn sống vui mừng, anh tử sĩ đã chết cũng ngậm cười nơi chín suối. Công việc diễn tiến đến nay, trước sau đã 15 năm. Những năm sau này có các đoàn thể và gia đình trong nước hay hải ngoại về tảo mộ. Có gia đình sửa sang phần mộ. Có gia đình cải táng. Bà con hai xã Bình An và Bình Thắng có thêm dịch vụ. Hiện có cả danh thiếp phát ra ghi tên bà Hai, ông Ba chuyên nghề trông nom mộ phần lâu dài, hay chỉ dọn dẹp một lần cho tươm tất.
          Cho đến nay, việc tảo mộ tại nghĩa trang Biên Hòa không còn là một công tác tưởng như là điệp vụ khó khăn. Cũng không phải là độc quyền của một cơ quan từ thiện, hay một cá nhân, đoàn thể. Hơn 10 ngàn mộ còn đó, ai cũng có thể tình nguyện vào dọn dẹp. Những người chiến sĩ của chúng ta vẫn mãi mãi nằm chờ dưới đất lạnh nơi quê hương, Anh là bà con thân thuộc của chính chúng ta. Mồ mả đắp xong, cỏ dọn sạch, nén hương viễn xứ đốt lên cho không khí đượm mùi nhang khói. Ðặc biệt mở bao thuốc lá Hoa Kỳ, châm cho mỗi anh một điếu. Một bao là hai mươi điếu. Ðốt cháy đỏ rồi cắm xuống cạnh hai mươi tấm bia ciment đã tàn tạ. Nếu nghe được tiếng động dưới mộ sâu, cũng không phải là chuyện lạ.
          Các bạn lên nghĩa trang buổi sáng, cùng người dân quê, ta dọn dẹp chừng vài chục mộ phần. Tìm khu nào um tùm, hoang vắng nhất mà công tác. Buổi trưa làm một lễ nhỏ đạm bạc. Chọn một chiến sĩ nằm chính giữa làm bà con, chung quanh mộ của anh là xóm giềng. Làm đến đâu quay phim chụp hình đến đó. Buổi chiều, là giây phút thắp hương và hút chung điếu thuốc giã từ. Mặt trời đã lặn sau Nghĩa dũng Ðài. Cảnh nghĩa trang quân đội tuy hoang vắng thê lương nhưng vẫn có vẻ đẹp trang nghiêm và huyền bí. Mỗi người nằm dưới đất đều có một câu chuyện và chính người viếng mộ cũng có một câu chuyện. Câu chuyện tử sinh đôi ngả. Chuyện chinh chiến, tù đầy, vượt biên và cuộc sống còn lại.
          Trong suốt 15 năm tổ chức tảo mộ, chúng tôi có 10 đoạn phim quay từ năm 1997 đến năm 2008, và chúng tôi có hàng ngàn tấm hình. Hình các bia mộ, hình cảnh nghĩa trang trước và sau 75, và hình các công trình kiến tạo.
          Một trong các trưởng toán công tác danh tiếng của chúng tôi là ông Trần Văn Tảo, người đã tổ chức lễ tưởng niệm các chiến sĩ VNCH nhiều lần, có làm lễ truy điệu và có quay phim. Một hôm ông gọi điện cho chúng tôi, báo cáo tấm mộ bia chiến sĩ vô danh trước đây vẫn còn, sau biến mất, nay mới tìm thấy lại. Nếu không cất đi, sẽ bị phá hoại hay đánh cắp. Ông Tảo nói thời gian gần đây, ông bị đau nặng, không biết sẽ ra đi lúc nào. Vậy xin niên trưởng bên Mỹ lo cho cháu nó ra đi. Cháu đây là tấm mộ bia. Ðó là anh chiến sĩ vô danh, không có tên, nhưng có ghi ngày mai táng.
          Chúng tôi cho tin về để bác Tảo cất dấu. Sau đó anh em chúng tôi tìm đường cho bia đá vượt biên. Ðây là mộ bia chiến sĩ vô danh duy nhất và nguyên thủy của nghĩa trang quân đội Biên Hòa từ trước năm 75. Cháu qua Hoa Kỳ vào đầu năm 2004. Ðến tháng 4 năm 2004, trưởng toán công tác Trần Văn Tảo qua đời. Công việc giao cho người khác tiếp tục. Tại nghĩa trang quân đội Biên Hòa ngày nay có một tấm bia chiến sĩ vô danh mới làm lại. Ðây chỉ là phó bản. Bản chính đã đặt tại Viện Bảo Tàng ở San Jose.

 
Ngày Quân Lực 1975
          Nếu năm 1975 không phải là năm Cộng sản tổng tấn công. Nếu không có trận dò dẫm mở đường đánh Phước long. Nếu không có trận dứt điểm Ban Mê Thuột. Không có cuộc triệt thoái 2 quân đoàn từ hỏa tuyến cho đến cao nguyên. Chúng ta đã tổ chức ngày Quân lực tại Nghĩa trang quân đội Biên Hòa vào 19 tháng 6 năm 1975.
          Ngày đó toàn thể quân đội vẫn còn căng ra khắp bốn vùng đất nước để dành dân giữ đất nên không thể tập trung về Sài Gòn tổ chức diễn hành. Phủ tổng thống và Bộ Tổng tham mưu QLVNCH dồn nỗ lực cho ngày quân lực vinh danh các chiến sĩ đã hy sinh. Tất cả các tiểu khu đều tổ chức lễ chiến sĩ trận vong tại nghĩa trang quân đội riêng của mỗi tỉnh. Trung ương có Bộ Tổng tham mưu phối hợp công tác giữa ba Tổng cục: Tiếp vận, Quân huấn, và Chính trị. 16 ngàn ngôi mộ được hoàn chỉnh với 100% các tấm ciment phải đúc xong, Nghĩa dũng đài với vành khăn tang hoàn tất.
          Một ngàn sáu trăm sinh viên sĩ quan từ các quân trường Hải,Lục, Không quân về tham dự.
          Ngay từ buổi chiều hôm trước, các sinh viên đã chia vùng và lên phiên. Mỗi người phụ trách 10 ngôi mộ. Khi hoàng hôn phủ xuống là hương nến thắp lên. Lễ truy điệu lúc 10 giờ đêm, cũng được gọi là đêm Canh Thức.
          Từ trên Nghĩa dũng đài nhìn xuống hay từ Ðền tử sĩ ngó lên, 16 ngàn ngôi mộ thắp nến một lượt, một ngàn sáu trăm sinh viên sĩ quan cầm đuốc đi lại giữa hàng mộ chí. Ðoàn trực thăng của Phái đoàn Chính phủ, Quốc hội, Tổng thống và các tướng lãnh Tổng tham mưu chiếu đèn đáp xuống. Ðội quân nhạc của Hải, Lục, Không quân cùng rền rĩ tiếng kèn chiêu hồn tử sĩ. Từ phía sau doanh trại của Liên đội chung sự, tiếng nổ vang trời do Công binh đốt mìn và tiếp theo là ngọn lửa bốc cao với các thung dầu thô lấy từ giếng dầu Bạch hổ ngoài khơi biển Ðông. Trên nền trời xám, khói đen bay lên cuồn cuộn như ngọn nấm của bom nguyên tử.
          Ðó là biểu hiện giấc mơ của Tổng thống Thiệu muốn lấy kho dầu biển Ðông thay cho viện trợ Mỹ mà chống giữ miền Nam. Cầu nguyện cho linh hồn 16 ngàn tử sĩ nằm tại nghĩa trang quân đội Biên hòa phù hộ cho miền Nam đang rã rời vì Mỹ bỏ rơi. Nhưng đây chỉ là giấc mơ không bao giờ thành sự thực. Những tháng đầu của năm 1975 là ngày giờ của thảm họa kinh hoàng nối tiếp. Chúng ta không bao giờ có ngày tưởng niệm 19 tháng 6 năm 1975 tại nghĩa trang Biên Hòa. Ngay sau 30 tháng 4-75, tại nghĩa trang với 16 ngàn ngôi mộ, không một ngôi mộ nào được toàn vẹn, không một tử sĩ nào còn được viếng thăm nhang khói. Hàng trăm ngàn quân, dân, chính Việt Nam Cộng Hòa xếp hàng vào trại ‘cải tạo’.
 
Dân sự hóa
          Tháng 7 năm 2007, chính quyền Cộng sản Hà nội ra lệnh dân sự hóa nghĩa trang Biên hòa. Từ 16 ngàn ngôi mộ đã cải táng, đến nay còn hơn 10 ngàn ngôi mộ. Từ 125 mẫu năm 1975 nay bị chiếm hết đất trống
nên chỉ còn 52 mẫu. Bức tường phía Nam được xây vào thời kỳ 80. Nay bàn giao xong, bộ đội rút đi. Bức tường phía Bắc xây thêm để ngăn nghĩa trang với khu giao cho Trung tâm giáo dục. Khu phần mộ được gọi là Nghĩa trang nhân dân xã Bình An. Bảng cấm chụp quay phim đã được gỡ bỏ. Việc quản trị chưa có lệnh chi tiết. Cho phép cải táng đem đi nhưng không được phép chôn cất mới, dù rằng tại đây vẫn còn chỗ cho gần 5000 ngôi mộ bỏ trống.
          Cộng sản vào chiếm nhà của dân Saigon vượt biên. Cộng sản vào chiếm ngụ nhà của HO ra đi. Những ngôi mộ tử sĩ miền Nam cải táng về quê. Không có chiến binh Cộng sản qua đời vào nằm thay thế.
          Ngay sau khi lệnh dân sự hóa ban hành, chúng tôi có dịp đặt vấn đề với ông Thủ tướng Việt Nam, qua hình thức đặt câu hỏi trực tuyến bằng Internet. Qua đài BBC chuyển tiếp. Câu hỏi được ghi nhận nhưng không có câu trả lời.
          Tiếp theo, gởi hồ sơ đặt vấn đề đến văn phòng Thủ tướng tại Hà Nội, gởi qua Bộ ngoại giao Hoa Kỳ, qua đại sứ Mỹ tại Việt Nam, qua các dân biểu. Kết quả cho biết tài liệu đã nhận được nhưng cũng chưa có câu trả lời.
 
Hỏi thăm Thủ tướng
          Với tư cách là một công dân Hoa Kỳ, có chiến hữu nằm tại nghĩa trang, chúng tôi đã xin Thủ tướng chính phủ Việt Nam các điều chính sau đây:
1) Ban hành quyết định dành nghĩa trang quân đội Biên Hòa là khu di sản lịch sử của quốc gia, cần bảo vệ và duy trì nguyên trạng. Tuyệt đối không được lấn chiếm, phá hoại hay làm hư hỏng các công trình kiến trúc lịch sử và các phần mộ.
2) Cho điều tra và quy định trách nhiệm cho giới chức nào đã phá hoại 10 thước chiều cao của Nghĩa dũng đài vào năm 2004. Ðây là một công trình có giá trị lịch sử rất quan trọng. Nếu không được bảo vệ sẽ mở đường cho việc phá hoại toàn diện về sau.
Lời yêu cầu kể trên dựa trên nền tảng văn hóa truyền thống Việt Nam, phản ảnh tính văn minh của nhân loại, được bảo vệ bởi các công ước quốc tế về việc tôn trọng di hài tử sĩ, mồ mả chiến binh. Chính phủ Việt Nam đã ký kết từ Geneve 54 đến Paris 73 cũng như các luật lệ theo công pháp quốc tế mà Việt Nam phải tuân thủ với tư cách là thành viên của Liên hiệp quốc.
 
Nghĩa trang vẫn còn đó, tại sao?
Sau 33 năm cuộc chiến, ngày nay nghĩa trang Biên Hòa vẫn còn đó . Lý do chính là vì có sự tới lui thăm viếng của gia đình tử sĩ. Mặc dù bị phá hoại và quên lãng nhưng thực sự vẫn có thể coi như tồn tại. Tuy nhiên không có gì bảo đảm tất cả sẽ bền vững muôn đời. Thời gian, thiên nhiên và chính con người sẽ làm các di tích lịch sử tàn lụi hay được bảo vệ. Vì vậy nhờ sự chia xẻ thông tin, thường xuyên thăm viếng, chúng ta sẽ có nhiều nỗ lực và sáng kiến thích hợp. Nghĩa trang quốc gia Hoa Kỳ tại Arlington là một thí dụ cụ thể. Xin hãy ghi lại những năm lịch sử của một đất nước trẻ trung và hùng cường nhất thế giới. Chiến tranh dành độc lập 1775-1783, tử sĩ chôn khắp mọi nơi. Năm 1864, tử sĩ đầu tiên của cuộc nội chiến Nam Bắc chôn tại Arlington. Khi chiến tranh chấm dứt, miền Bắc chôn tổng cộng 16 ngàn tử sĩ của liên bang tại nghĩa trang quốc gia. Ðồng thời có khu mộ tập thể chôn cất chung binh sĩ của cả hai miền. Trên toàn lãnh thổ của các tiểu bang miền Nam đã có hàng trăm nghĩa trang lớn nhỏ mai táng chiến binh của phe bại trận nhưng đã được xây dựng và bảo toàn bởi luật lệ của liên bang từ phe chiến thắng. Nhưng thực sự phải chờ đến bốn mươi năm sau, mới đến ngày hòa giải dân tộc. Gần 500 ngôi mộ tử sĩ miền Nam được cải táng đem vào chôn tại Arlington, chung quanh tượng đài với hình ảnh bà mẹ chiến sĩ dân quân của phe Liên hiệp thua trận. Tiếp theo, nhiều mộ phần của các chiến sĩ anh hùng hy sinh từ cuộc chiến tranh cách mạng chống Anh Quốc cũng được cải táng đưa vào Arlington. Ðó là phương cách của người Mỹ đối xử với phe thù nghịch sau chiến tranh, dựa trên nền văn hóa trẻ trung của hơn 200 năm lập quốc. Dân tộc Việt Nam chúng ta, với 4,000 năm văn hiến, tiền nhân đã dậy rằng, nghĩa tử là nghĩa tận. Ðến bao giờ nghĩa trang Biên Hòa mới có thể trở thành di sản lịch sử của quốc gia. Ðến bao giờ những di hài các chiến binh miền Nam chết trên chiến trường, trong các trại tù mới được tìm kiếm và đem về cải táng tại Biên Hòa. Lúc đó Nghĩa trang Biên Hòa có còn không?

Cứu lấy nghĩa trang
          Trên đây là toàn bộ bản tường trình về Nghĩa trang quân đội Biên Hòa. Chúng tôi cũng có một bản tóm lược về lịch sử nghĩa trang đính kèm. Ðể có thể cứu lấy nghĩa trang Biên Hòa một cách cụ thể, xin đề nghị các điểm sau đây:
          Thứ nhất: Không khuyến khích quý vị về thăm quê hương, nhưng hàng triệu người đã về. Chúng tôi xin các bạn, có về Việt Nam, xin một lần đến thăm nghĩa trang Biên Hòa.
          Thứ hai: Viết thơ cho dân biểu địa phương để xin quí vị quan tâm đến vấn đề này. Không cần đặt ra những đề nghị phù phiếm, không tưởng. Không đòi hỏi phải xây cất, trùng tu qui mô lớn lao. Không cần phải tổ chức lễ hội giải oan hay hòa hợp. Chỉ cần xin bảo vệ cho toàn thể 52 mẫu còn lại không bị xâm phạm. Các kiến trúc hiện hữu sẽ không bị hư hỏng thêm. Nhiên hậu những bước kế tiếp sẽ được thời gian giải quyết.
 
Cho tôi xin một mộ phần
          Cá nhân chúng tôi có một câu chuyện. Năm 1968, chiến tranh khốc liệt, khói lửa lan đến cả Saigon, Chợ lớn. Một lần, tôi và Ðại tá Ðỗ Tùng lên thăm nghĩa trang, gặp Ðại tá Nguyễn tử Ðóa, cục trưởng Quân Nhu. Nửa đùa nửa thiệt, bác Ðỗ Tùng và tôi, xin đặt mỗi người một lô. Bây giờ ông Ðóa qua đời, chôn ở miền Trung Mỹ. Ông Ðỗ Tùng đi trước, chôn ở nghĩa trang Hollywood.
Trong số ba anh Bắc kỳ ngày xưa lẩm cẩm dành đất nghĩa trang Biên Hòa, chỉ còn một người, có ngày sẽ về nằm lại ở nơi hẹn ước. Nếu có sớm nằm chơi dưới cội hoa trên miền đất tạm dung thì thế hệ tương lai sẽ thi hành di chúc. Ðứa cháu ba đời đem hũ tro tàn leo 65 bậc thang sắt đặt trên đỉnh ngọn Tháp của Nghĩa dũng Ðài. Ngọn gió đông bắc tháng tư sẽ thổi di hài cát bụi của người giao chỉ bay khắp cánh đồng mộ chí. Sống đã chẳng trọn tình chiến hữu, đành tìm con đường chung sự lãng mạn để trả nợ binh đoàn.
          16 ngàn ngôi mộ bỏ lại năm 1975, trên 5,000 tử sĩ đã cải táng về quê khắp 4 vùng chiến thuật. Ðể lại 8 khu nghĩa trang, khu nào cũng còn đất trống. Nếu nghĩa trang được bảo vệ, quý vị thử nghĩ coi, đâu có anh cán bộ cộng sản nào dám vào nằm cạnh nhẩy dù hay thủy quân lục chiến!. Dân chúng cũng không muốn vào đấy nằm. Có chăng là các cựu chiến sĩ VNCH, các thương binh liệt sĩ còn tại Việt Nam. Hay là những người lính tha hương muốn về gởi nắm xương tàn nơi quê hương. Nếu là cựu chiến sĩ, thì vào đó chứ còn đi đâu? Lịch sử nghĩa trang quốc gia Hoa Kỳ cho thấy cả trăm năm sau mà người ta vẫn còn cải táng đem di hài tử sĩ vào Arlington.
Ðó là lý do tại sao chúng ta phải cứu lấy nghĩa trang Biên Hòa…
Khi tôi chết, đừng đem tôi ra biển,
Hãy đem về chôn tại nghĩa trang xưa                                       Giao Chỉ, San Jose.