ĐỖ DUNG: TRUYỆN NGẮN – CẦM BẰNG THEO GIÓ

CẦM  BẰNG THEO GIÓ – Đỗ Dung

                                                                                                   

Hảo dậy sớm hơn mọi ngày. Nàng thấy nóng ruột, dạ bồn chồn. Hôm nay có kết quả kỳ thi ra trường. Hoặc là nàng tốt nghiệp thành Dược sĩ, hoặc lại phải ở lại tụng bài, chờ khóa thi sau.

Mặc dù biết bài làm của mình cũng khá, phần thi vấn đáp cũng trả lời suôn sẻ, nhưng sao tim nàng vẫn hồi hộp, lo âu…

Sau khi chắc chắn nhìn thấy tên và số báo danh của mình trên bảng vàng, Hảo chuyện trò, chia vui với những người bạn vừa tốt nghiệp cùng khóa. Nàng khoan khoái cho chiếc Honda chạy từ từ trên con đường Cường Để ngập nắng, rồi hướng về Đinh Tiên Hoàng để về nhà báo tin vui.

Mặt ngẩng cao, hít đầy bầu không khí trong lành vào lồng ngực, lòng nàng lâng lâng sung sướng.

Một tiếng nói mơ hồ, nhẹ như gió thoảng bên tai:

— Hảo… Bích Hảo!

Hảo xoay người ngoái nhìn về phía sau. Một chiếc Honda nhẹ lướt lên ngang xe nàng. Một giọng nói trầm ấm cất lên:

— Xin lỗi… Phải Bích Hảo, con cô giáo Khanh không?

Hảo cho xe ghé sát lề đường gần trường Nông Lâm Súc. Nàng nhìn sững người thanh niên trước mặt.

— Huân! Phải Huân, con bác giáo Ngọc không? Trời ơi! Lâu lắm chúng mình không gặp nhau! Huân có thay đổi nhưng Hảo nhận ra ngay. Đi đâu đây?

— Huân vừa ghé thăm một thằng bạn ở Văn Khoa ra, nhìn thấy xe Hảo chạy ngang nên vội phóng theo liền. Đúng là lâu quá rồi, vậy mà mình cũng nhận ra Hảo ngay. Chúng mình ghé vào quán cà phê gần đây nói chuyện đi.

Hai người bước vào một quán cà phê nhỏ trên đường Đinh Tiên Hoàng, cùng nhau nhắc lại chuyện ngày xưa.

Ngày ấy, hai gia đình còn ở Hà Nội. Hai bà giáo còn rất trẻ, cùng dạy chung trường, cùng chia sẻ với nhau những vui buồn của nghề giáo. Dần dần, hai bà trở thành đôi bạn thân, chuyện trường lớp, chuyện gia đình, chuyện chồng con, chuyện vui buồn trong cuộc sống… chuyện gì cũng kể cho nhau nghe.

Hai gia đình cũng trở nên thân thiết theo. Con cái hai nhà lớn lên cùng nhau. Khi ấy, mỗi nhà mới có ba đứa trẻ, hằng ngày ríu rít chạy sang nhà nhau, sinh hoạt vui vẻ như anh chị em trong cùng một nhà. Cứ thế, một mối dây thân tình được tạo nên, tưởng rằng sẽ không bao giờ bị chia cắt.

Trong đám trẻ ấy có Huân, con trưởng của bà giáo Ngọc, và cô con gái lớn của bà giáo Khanh là Bích Hảo. Huân còn có một mối liên hệ đặc biệt nữa: Chàng là học trò cưng của bà giáo Khanh.

Rồi năm 1954 đến.

Đất nước chia đôi. Một dòng người di cư từ Bắc vào Nam. Hai gia đình cũng theo dòng người ấy vào Sài Gòn.

Từ đó, cuộc sống không còn giống trước. Hai bà giáo không còn cùng chung nhiệm sở. Hai gia đình cũng không còn ở gần nhau. Mỗi người có một công việc, một cuộc sống, một mái nhà riêng. Cha của Huân là một sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Cha của Bích Hảo làm nghề thầu, chuyên cung cấp đồ trang trí nội thất, bàn ghế, giường tủ.

Những mối liên lạc ngày trước dần thưa đi, rồi có lúc tưởng như đã mất hẳn.

Hai đứa trẻ ngày nào nay cũng đã lớn. Huân bước vào đời quân ngũ. Hảo theo học ngành Dược.

Cuộc sống cứ thế cuốn mỗi người đi một hướng. Không ai biết người kia đang ở đâu, và cũng chẳng ai chờ đợi một cuộc gặp lại. Có lẽ nếu cuộc đời cứ bình lặng như thế, Huân và Hảo chỉ còn là hai cái tên trong một miền ký ức xa xôi của tuổi nhỏ.

Vậy mà hôm nay, tự nhiên Hảo cảm thấy bồn chồn, nao nao khác lạ. Cuộc gặp gỡ thật tình cờ. Không có sự sắp đặt, không chuẩn bị, mà bây giờ Hảo đang ngồi đây, trong một quán cà phê nhỏ, đối diện với Huân, người con trai trưởng của bà giáo Ngọc.

Như có một định mệnh nào đó an bài, từ những đứa trẻ xa nhau khi chỉ mới lên chín, lên mười, nay đã trở thành hai người trưởng thành thế mà chỉ vừa thoáng nhìn đã nhận ra nhau ngay.

Cả hai đang ngồi trầm ngâm nhớ về những ngày thơ ấu, Hảo chợt hỏi:

— Bây giờ Huân có thêm mấy người em nữa?

— Năm! Tổng cộng Huân có tám anh chị em, bốn trai, bốn gái. Còn gia đình Hảo?

— Cũng không thua kém. Hảo có tám chị em gái, chỉ có một đứa em trai. Vậy là chín đứa, hơn nhà Huân rồi nhé!

Cả hai cùng cười, nghĩ bụng: Hèn gì các cụ bận rộn, không có thì giờ nghĩ đến bạn xưa.

Huân chợt nói:

— Hảo cho Huân về nhà thăm mẹ Hảo xem cô còn nhận ra mình không nhé!

Về đến nhà, bà Khanh cũng vừa mới đi làm về, còn đang ngồi nghỉ trong phòng khách.

Hảo chạy ngay đến gần, ghé vào tai mẹ nói nhỏ, báo tin vui:

— Mẹ! Con của mẹ đã là Dược sĩ. Con thi đậu rồi!

Rồi nàng cười:

— Con mới gặp lại một người. Xem mẹ có nhớ không nhé!

Đúng lúc đó, Huân bước vào, kính cẩn cúi đầu:

— Con chào cô ạ!

Bà Khanh ngước mắt nhìn lên:

— Chào cậu!

— Thưa cô, mẹ con là cô giáo Ngọc!

Tiếng Hảo vang lên:

— Mẹ có nhớ ai đây không?

— Ôi Trời! Huân, học trò giỏi của cô đây mà! Lớn quá rồi. Nhưng có nói cô mới nhận ra, chứ nếu gặp ngoài đường thì chưa chắc cô đã nhận ra được đâu. Ngồi chơi đi con!

Rồi bà giáo Khanh tíu tít hỏi thăm Huân những chuyện về gia đình xưa nay.

Từ sau lần gặp lại đó, hai bên bắt đầu qua lại. Những thân thiết giữa hai nhà được nhắc đến, và từ cái tình thân cũ, một tình cảm mới dần dần nảy nở. Hai bầy con có dịp quen biết nhau và càng ngày càng thân hơn. Thỉnh thoảng, ông bố của Hảo lại lấy chiếc xe van lớn của hãng, chở cả đám trẻ đi ăn, đi chơi…

Tình cảm của Huân và Hảo ngày càng thắm đượm, lại được cả hai gia đình ủng hộ. Ngày nghỉ là Huân đã có mặt ở nhà Hảo.

Và kết quả là sang năm 1973, một đám cưới tốt đẹp của Huân và Hảo đã diễn ra.

Đám cưới giản dị nhưng ấm cúng, lịch sự và trang trọng.

Hai bà giáo không thể ngờ rằng hai đứa trẻ ngày nào còn chạy qua chạy lại giữa hai nhà, nay đã trở thành một đôi vợ chồng. Một mối duyên tưởng như thời gian đã cất đi, vậy mà sau gần hai chục năm lại tìm đường quay trở lại.

Bích Hảo bước vào cuộc hôn nhân của mình với những ước vọng thật bình thường và hồn nhiên của một thiếu nữ trẻ. Sau đám cưới, nàng có một người chồng yêu thương, có một gia đình hạnh phúc riêng. Một tương lai phơi phới đang đợi chờ…

Nhưng thực tế, Hảo phải về ở chung với gia đình nhà chồng.  Mặc dù cả hai vợ chồng đều đã có công việc làm chắc chắn với đồng lương ổn định. Hằng ngày, nàng vẫn phải dậy sớm sửa soạn đi làm tại hãng bào chế Biofarmo gần hồ Con Rùa. Khi về nhà, dù mệt nhoài, nàng vẫn phải chu toàn nhiệm vụ của người con dâu trưởng. Ở chung với gia đình đông người, trong một căn nhà nhỏ càng lúc càng khó khăn, càng có những xung đột tuy nhẹ nhàng nhưng khó hàn gắn.

Người thương nàng nhất có lẽ vẫn là ông bố.

Ông hiểu con gái mình. Ông cũng hiểu những điều khó giải quyết trong một gia đình, nhất là chuyện mẹ chồng nàng dâu. Có những điều càng nói ra càng thấy khó. Hai bà mẹ vốn là bạn thân từ thuở còn trẻ, vậy mà khi con cái thành vợ thành chồng, tình bạn giữa hai người cũng không đủ để ngăn những va chạm xảy ra giữa mẹ chồng với nàng dâu.

Ông không muốn con gái phải chịu cảnh ấy lâu dài.

Thương con là một chuyện, còn giữ thể diện cho con rể và gia đình bên chồng lại là một chuyện khác. Ông vốn làm nghề thầu, chuyên cung cấp đồ gỗ và trang trí nội thất. Thế là ông âm thầm lo cho con một căn nhà ở cư xá Thanh Đa.

Một căn nhà nhỏ nhưng thật đẹp. Một căn nhà được ông sửa sang tươm tất bằng tất cả tấm lòng thương con của người cha. Từng món đồ trang trí được ông nắn nót, chăm chút. Những thứ cần thiết cho một gia đình trẻ được ông sắp xếp đâu vào đó. Ông muốn khi dọn ra ở riêng, con gái ông có một nơi ấm áp để trở về; Huân có một nơi để xây dựng cuộc sống hạnh phúc của một gia đình nhỏ.

Ai có hỏi, ông không nói đó là căn nhà ông mua cho con gái, mà khéo léo nói đó là nhà của chính hai vợ chồng con tự mua. Người trong nhà hiểu. Ông hiểu. Con gái ông hiểu. Và có lẽ Huân cũng hiểu. Nhưng chẳng ai cần nói ra. Đó là cái tế nhị của người cha. Thương con đến đâu cũng giữ cho con một chút tự trọng; thương con rể cũng không muốn làm con rể mất mặt, ngại ngùng.

Căn nhà đã xong.

Có lẽ lúc ấy Hảo đã nghĩ đến cuộc sống mới. Không còn những va chạm trong căn nhà đông người. Buổi sáng đi làm, chiều về nhà mình. Có chồng bên cạnh trong căn nhà xinh xắn.  Buổi tối, dưới ánh đèn vàng ấm áp tỏa ra từ cây đèn góc nhà, hai vợ chồng có thể thoải mái, vui vẻ bên nhau ngồi xem TV hoặc thả hồn theo tiếng nhạc.

Hai vợ chồng còn trẻ. Huân đang là sĩ quan Hải quân và được gửi đi học tại trường Phú Thọ. Chàng cũng đã hoàn tất chương trình để lấy bằng kỹ sư điện.

Cuộc đời tưởng như đã đi đúng đường.  Cứ thế cuộc sống sẽ êm ả trôi.

Hai vợ chồng đã dọn vào căn nhà mới, rộn ràng sửa soạn ngày mời gia đình hai bên cùng bạn bè thân hữu đến ăn tân gia.

Nhưng bữa ăn tân gia ấy không bao giờ có.

Bởi lịch sử đã không cho họ kịp vui hưởng căn nhà mà ông bố đã lo lắng thu xếp.

Tháng Tư năm 1975 ập đến.

MẤT NƯỚC!

Chỉ một biến cố tang thương mà bao nhiêu dự định của biết bao gia đình tan theo.

Căn nhà Thanh Đa vẫn còn đó, đẹp đẽ, đầy đủ, nhưng thiếu một điều quan trọng nhất:

Một cuộc sống hạnh phúc bình thường mà Hảo từng ao ước.

Cha của Huân là sĩ quan, đáng lẽ phải đi học tập nhưng ông không đi trình diện.

Huân thì phải đi. Chàng phải vào nơi tập trung cải tạo, để Hảo ở lại. Tổ ấm hai vợ chồng bây giờ trở thành ngôi nhà chỉ còn có người vợ trẻ cô đơn chờ chồng.

Hằng ngày nàng vẫn đi làm ở viện bào chế cũ, nay đã đổi tên thành Xí nghiệp Dược phẩm 25. Chiều về lạnh lẽo, cô đơn, ngồi một mình lặng lẽ trong căn nhà nhỏ nhớ chồng. Mong ngóng đến ngày được giấy thăm nuôi để sửa soạn mua sắm và nấu nướng. Bao nhiêu lần ngóng tin. Bao nhiêu đêm nằm trằn trọc một mình trong căn nhà vắng, không biết ngày mai sẽ ra sao.

Những lần có giấy phép chính thức, Hảo cùng mẹ chồng lên trại tập trung học tập ở Trảng Táo, Tây Ninh. Hai mẹ con vất vả tàu xe, khuân mấy bao đồ nặng trĩu. Gặp Huân được mấy tiếng, đau xót nhìn nhau rồi nghẹn ngào, lủi thủi ra về.

Ngoài những lần chính thức, Hảo cũng liều lĩnh theo mấy người vợ có giấy phép, coi như người nhà đi theo để đi thăm lén. May có lần được gặp chồng.  Khi Huân không tìm cách ra được, nàng đành lặng lẽ quay về.

Rồi một ngày, khi nghe tiếng chuông cửa.  Chàng đã trở về.

Vợ chồng mừng tủi ôm nhau, tưởng như trong mơ!

Những ngày sau đó quấn quýt, âu yếm, chăm sóc nhau cho bõ bao năm dài xa cách. Hảo tưởng rằng sau ba năm chờ đợi, cuối cùng hai vợ chồng cũng có thể bắt đầu lại.

Nhưng cuộc sống lứa đôi êm đềm không được bao lâu.

Họ vừa bước ra khỏi một cánh cửa thì trước mặt lại mở ra một cánh cửa khác.

Lần này là một cánh cửa dẫn đến con đường mà thời ấy rất nhiều người Việt Nam phải chọn:

Vượt biên. Ra đi.

Hai vợ chồng chưa kịp sống một cuộc đời bình thường đã phải tính chuyện rời khỏi quê hương. Hảo và Huân cứ như những chiếc lá trong cơn dông, cuốn theo chiều gió lốc.

Cha của Huân phải trốn tránh vì không đi học tập, thỉnh thoảng cũng đến tá túc tại nhà của con.  Cuộc sống thật nặng nề, ngột ngạt, nơm nớp lo âu. Tương lai không biết sẽ ra sao.

Mọi người phải tìm đường để ra đi, mà mỗi lần ra đi là một lần đánh cược với sinh mạng.

Rồi một tin buồn như sét đánh ngang tai.

Ông bố của Huân và hai đứa em cùng bước lên một con tàu. Sau đó không ai có tin tức gì về chuyến đi mang mấy chục con người ấy. Con tàu đã vĩnh viễn biến mất giữa biển khơi.

Nhưng biến cố đã không dừng lại ở đó.

Người cha đã từng thương con gái, âm thầm mua cho vợ chồng con căn nhà đẹp ở cư xá Thanh Đa, chưa được vui với cuộc sống mới của con thì con rể phải đi tù. Con rể mới được thả về thì bây giờ chính ông cũng bị cuốn vào vòng lốc xoáy.

Ông làm nghề thầu, cung cấp đồ gỗ và đồ trang trí nội thất. Với chính quyền mới, ông bị xếp vào thành phần tư sản. Một ngày người ta đến nhà bắt ông đi, giam ông ở Xuyên Mộc, Đồng Nai. Họ không chỉ bắt người mà xưởng gỗ và những của cải trong nhà cũng bị tịch thu.

Căn nhà từng đầy đủ, từng là nơi ông bỏ bao công sức để dựng nên một cuộc sống tử tế cho gia đình, dần dần cũng trở nên trống trải. Nhưng mất mát lớn nhất của ông là cảm giác bất lực của một người cha. Ông từng nghĩ mình có thể che chở cho vợ con, có thể lo cho con một mái nhà, có thể nhìn con cái trưởng thành, dựng vợ gả chồng. Vậy mà chỉ trong một thời gian ngắn, tất cả những gì ông từng gây dựng đã bị lấy đi.

Ông vào trại cải tạo trong nỗi uất ức không bút mực nào tả xiết.

Hai gia đình vốn từng có một mối giao tình đẹp từ thuở còn trẻ, giờ đây lại gặp nhau trong một hoàn cảnh không ai có thể tưởng tượng nổi. Một người mẹ vừa mất chồng và hai đứa con ngoài biển. Một người mẹ thì chồng phải đi tù và mất hết tài sản. Vậy mà cả hai bà mẹ ấy vẫn phải dành dụm, lo lắng cho những đứa con tìm đường vượt biên.

Ba người em của Huân được mẹ lo cho đi ba nơi khác nhau cũng may mắn thoát được, tấp vào mấy đảo nhỏ, nhưng từ từ cũng gặp nhau tại đảo Galang, Nam Dương. Tiền bạc gia đình đã cạn kiệt nên hai cô con gái còn lại đành ở nhà với mẹ, đợi ngày ông ngoại bên Pháp bảo lãnh

Và rồi, sau bao lần tính toán, bao nhiêu lần thất bại, vợ chồng Hảo cũng vẫn tìm cách ra đi. Có chuyến đi rồi lại trở về. Có chuyến bị lừa nên mất tiền nhưng may không bị bắt. Cuối cùng tiền bạc cạn dần. Hảo đành để Huân đi một mình. Và chuyến đi ấy thành công.

Tàu Huân được vớt, đưa vào đảo Pulau Bidong ở Mã Lai.

Huân ở đảo chờ ngày đi định cư.

Hảo ở lại.

Nàng bán căn nhà Thanh Đa, về sống với mẹ và các em. Nàng vẫn tin rằng rồi sẽ có ngày hai vợ chồng được đoàn tụ. Dù chồng ở một nơi rất xa, nhưng nàng vẫn cương quyết đợi chờ.

Hằng ngày nàng vẫn đến sở làm, bận rộn với công việc và có bạn bè gần bên nên cũng khuây khỏa. Nhưng khi trở về, nằm trên chiếc giường cũ của một thời con gái, nàng không khỏi xót xa cho phận mình.

Nhà Hảo có một bầy con gái. Ba người em liền sau Hảo đã đi du học từ trước năm 1975. Cậu con trai được gửi theo một gia đình quen từ ngay Tháng Tư năm mất nước. Mấy cô con gái nhỏ đành ở nhà với mẹ và chị để chờ bố và chờ mấy chị bên Mỹ gửi giấy về bảo lãnh.

Sự chờ đợi kéo dài không biết đến bao lâu. Nhưng Hảo vẫn chờ. Chờ người chồng đầu gối tay ấp, người mà nàng đã thương yêu, đã cùng nàng đi qua những bước thăng trầm, những nỗi khó khăn của cuộc đời.

Thư từ qua lại hàng tuần, rồi hàng tháng.

Nàng vẫn yên chí đợi chờ.

Một năm.

Hai năm.

Rồi ba năm.

Nàng vẫn vững lòng chờ đợi.

Nhưng ngày 1 tháng 3 năm 1983, tin ông bố vì tuổi già sức yếu và vì quá uất ức đã chết trong tù khiến cả nhà sững sờ, đau xót.

Cùng thời gian ấy, nàng nhận được một lá thư từ Mỹ gửi về. Không phải tờ giấy mà nàng chờ đợi. Mà là tờ giấy ly hôn.

Không có đoàn tụ. Không có ngày lên đường. Không có căn nhà mới ở một đất nước khác mà nàng hằng mong đợi.

Tờ giấy trả lại nàng hai chữ: TỰ DO.

Hơn ba năm đợi chờ là một khoảng thời gian rất dài đối với một người vợ trẻ trong một xã hội mới đầy đổi thay. Hảo không hiểu nổi tại sao Huân lại lạnh lùng viết thư nói rằng chàng trả lại nàng hai chữ “Tự Do”.

Mẹ nàng thật giận.

Các em và bạn bè của Hảo thì tức.

Tức đến mức không hiểu nổi tại sao, trong khi một người vợ mỏi mòn chờ đợi chồng mấy năm, đã cùng chồng chống chọi qua những ngày học tập, trải qua những năm tháng lo vượt biên, những ngày đói khổ và sợ hãi… Cuối cùng lại nhận được từ người chồng một tấm giấy ly hôn.

Hai điều đau khổ đã đến với Hảo thật tàn nhẫn.  Vừa có tin buồn mất cha chưa lâu, nàng lại nhận được giấy ly hôn từ chồng. Người Hảo như tê đi, không còn cảm giác.

Nhưng điều lạ lùng nhất là Hảo không nổi giận với Huân mà vẫn đem lý lẽ ra để bênh vực. Nàng cho rằng do thời cuộc nên con người dễ đổi thay.  Có lẽ sống xa nhà, một mình nơi đất khách, trải qua những năm tháng đầy biến động, con người ta dễ yếu lòng.

Hảo nói một câu nghe vừa buồn vừa thương:

“Ông ấy có phải là Bụt đâu.”

Bạn bè nghe xong chắc muốn… nổi quạu thay cho nàng!

Một người chịu không nổi, bật lại:

“Thế mày là Bụt à?”

Cả đám bạn vừa tức vừa thương. Tức vì Hảo hiền quá. Thương vì Hảo vẫn còn tìm một lý do để bảo vệ người đã làm mình đau.

Có lẽ lúc ấy Hảo cũng biết. Biết rằng Huân đã thay đổi. Biết rằng ở bên kia, chàng đã có một cuộc sống khác. Nhưng lòng người đâu phải cái công tắc, muốn tắt là tắt được.

Gần bốn năm chờ đợi đâu phải chỉ nói một câu “ly hôn” là có thể xóa sạch. Và một cuộc hôn nhân bắt đầu từ một tình yêu có gốc rễ tận những ngày thơ ấu càng không dễ dàng biến thành một mối quan hệ xa lạ chỉ vì một tờ giấy.

Hảo vẫn hy vọng.  Không phải hy vọng Huân sẽ quay lại ngay. Mà có lẽ nàng chỉ mong một điều rất nhỏ: Nếu một ngày nào đó Huân nhận ra mình đã sai, nếu chàng quay về xin lỗi, nàng vẫn có thể tha thứ. Bởi Hảo chưa bao giờ nghĩ mình là người hoàn hảo. Và nàng cũng chẳng bắt Huân phải là một vị thánh. Nàng chỉ nghĩ: Con người ta có thể sai. Nếu biết sai thì vẫn còn có thể tha thứ.

Cũng có thể hai điều đau khổ quá lớn cùng lúc đến với Hảo. Thương xót cha nhiều hơn nên nỗi đau về sự phụ bạc của chồng cũng vì thế mà nhẹ bớt.

Các em của Hảo lúc ấy đã ở Mỹ. Một người trong gia đình tìm hiểu và biết rằng Huân đang sống chung với một người phụ nữ khác. Người phụ nữ ấy muốn được chính thức kết hôn với Huân, và điều kiện để chuyện đó có thể xảy ra là Huân phải chấm dứt cuộc hôn nhân với Hảo. Vậy là mọi chuyện trở nên rõ ràng. Không còn là chuyện thời cuộc. Không còn là chuyện xa cách. Cũng không còn là một cuộc hôn nhân bị hoàn cảnh đẩy đưa đến chỗ lạnh nhạt.

Đó là một sự lựa chọn. Huân đã lựa chọn.

Hảo đau. Đau đến tê điếng.

Nhưng điều đáng nói là nàng không làm ầm lên, cũng không chạy đi tìm chồng để níu kéo.

Bạn bè biết Hảo đau. Nhưng Hảo lại cứ tìm cách nói đỡ cho người làm mình đau. Có lẽ vì Hảo hiểu con người vốn yếu đuối. Có lẽ vì nàng không muốn biến một mối tình đã từng đẹp thành một cuộc chiến của oán hận. Và cũng có lẽ, sâu trong lòng, nàng vẫn còn thương. Nhưng thương không có nghĩa là phải níu kéo. Hảo không van xin. Nàng chấp nhận.

Không phải vì nàng không đau, mà vì nàng hiểu một điều rất rõ:

Khi người ta đã muốn đi, giữ lại cũng chẳng còn là tình yêu.

Hảo ký giấy.  Cuộc hôn nhân bắt đầu từ cuối năm 1973 chính thức kết thúc sau những năm tháng mà cả hai đã cùng trải qua quá nhiều biến cố.

Năm 1982, bà giáo Ngọc cùng hai cô con gái sang Pháp theo sự bảo lãnh của ông ngoại Huân.

Mãi đến tháng Năm năm 1991, chị em Hảo cùng mẹ mới đặt chân sang Mỹ.

Đến phi trường San Francisco, Hảo nhìn quanh, trong lòng vẫn có một niềm hy vọng mong manh: biết đâu Huân sẽ ra đón. Nhưng không. Chỉ có mấy cô em gái của Hảo và vài người bạn thân của mẹ nàng.

Vân, em của Hảo, cho biết người đàn bà đã sống với Huân, đã bắt Huân phải ly dị vợ, cuối cùng cũng không ở với Huân. Bây giờ Huân đang sống chung với mẹ và mấy người em.

Vậy là Huân đã không trở về. Có thể vì ăn năn. Có thể vì tự ái hay quá mắc cỡ vì hành động bội bạc của mình.

Nhưng có một điều Hảo đã hiểu. Hiểu rằng tình yêu của Huân với nàng không đủ đầy, không đủ mạnh. Hoặc có thể vì Hảo mới sang, tay trắng, nên Huân ngại phải cưu mang.

Dù vì lý do gì đi nữa, Hảo cũng thấy nhẹ lòng.

Nàng phải mạnh mẽ và quên đi những chuyện ưu phiền.  Và nếu cuộc đời đã lấy đi của nàng nhiều thứ, thì nàng phải quyết định giữ lấy một thứ: Tương lai của mình.  Phải đứng trên đôi chân của mình.

Chỉ bốn tháng sau, Hảo đã xin được việc làm teacher aide tại một trường học gần nhà.

Nàng chấm dứt khoản trợ cấp mà chính phủ thường cấp cho người mới nhập cư, 300 đô-la một tháng trong tám tháng. Nàng quyết tâm học lại.

Ở thời điểm ấy, các giáo sư của Đại học Dược Sài Gòn cũ đang tranh đấu, nên những dược sĩ Việt Nam có cơ hội được thi lấy bằng tương đương.

Hảo liên lạc với các bạn sang trước, rồi ghi tên học lớp hàm thụ để thi bằng tương đương Dược sĩ trên toàn nước Mỹ.

Liên lạc lại với những người bạn cũ, mỗi đứa mỗi hoàn cảnh nhưng vẫn có dịp gặp nhau để an ủi, chia sẻ.  Cuộc sống tuy vất vả nhưng Hảo thấy vui vẻ và yêu đời hẳn lên.

Bốn năm.

Bốn năm miệt mài học hành, vừa học vừa đi làm tại các dược phòng. Bốn năm ấy không có chồng bên cạnh. Không có ai hứa hẹn tương lai. Không có một mái gia đình mới để trông chờ.  

Hảo tự nhủ:

“Đời mình còn dài. Không thể cứ ngồi đó mà chờ một người đã chọn rời bỏ mình.”

Rồi ngày tốt nghiệp cũng đến. Hảo có bằng Dược sĩ.

Và thật may, đó cũng là lúc ngành Dược ở Mỹ đang phát triển mạnh. Những hệ thống siêu thị lớn bắt đầu mở thêm các dược phòng, nhu cầu dược sĩ tăng cao. Hảo có việc làm. Nàng bắt đầu đứng vững bằng chính đôi chân mình. Có lẽ đó là lần đầu tiên sau rất nhiều năm, Bích Hảo không còn là người vợ của ai, không còn là người đàn bà ngồi chờ giấy bảo lãnh của một người chồng ở phương xa.

Nàng chỉ đơn giản là Bích Hảo. Một Dược sĩ. Một người đàn bà tự mình xây dựng lại cuộc đời.

Nhưng đúng lúc Hảo bắt đầu tìm được nhịp sống mới, một hôm người em của Huân lại liên lạc với nàng;

“Chị Hảo về với anh Huân đi!”

Câu nói ấy, nghe thì đơn giản, Hảo nghe mà chẳng biết nên cười hay nên khóc. Hảo đã bước qua bao khó nhọc, bao đớn đau.  Người đã gửi cho nàng giấy ly hôn, giờ đây lại được nhắc đến như thể chuyện cũ có thể quay ngược trở lại. Hảo đã bước qua đoạn đời đau khổ đó rồi!

Sau đó, Huân chính thức cưới một người vợ khác và chẳng bao lâu sau, Huân bị ung thư và qua đời vài năm sau đó.

Lần này, giữa họ không còn là một cuộc hôn nhân. Hảo cũng có một thoáng bâng khuâng nhớ  lại một đoạn đời đã từng có thật. Một đoạn đời rất dài.Rất đau. Nhưng cuối cùng, Hảo đã mạnh mẽ sống tiếp.

Chuyện vợ chồng coi như đến đó là hết. Không ai biết trong lòng hai người lúc ấy còn gì với nhau, mà có lẽ cũng chẳng cần biết nữa. Có những chuyện của một đời người, đến cuối cùng chỉ còn lại một chữ: Thôi.

Hảo tiếp tục sống.

Các em đều học hành xong, lập gia đình, ra ở riêng. Còn nàng vẫn ở với mẹ, hai mẹ con nương tựa nhau. Hảo cương quyết không lấy chồng nữa. Mẹ còn sống ngày nào thì nàng ở với mẹ ngày đó.

Bạn bè thấy nàng cứ một mình mãi cũng sốt ruột. Hết người này tới người kia tìm cách mai mối.

Một hôm, Hảo buông một câu:

“Tao chỉ thay tã cho mẹ tao thôi…”

Thế là cả đám bạn im luôn. 😂

Sau đó mẹ Hảo mất.

Các em ai cũng có gia đình riêng nhưng vẫn gần gũi với chị. Bạn bè cũng vậy.

Hảo sống một mình nhưng chẳng đến nỗi cô độc. Nàng vui vẻ đi đây đi đó với bạn bè, gần gũi các em, các cháu; chăm chút cho căn nhà và khu vườn của mình.

Cho đến một ngày, Hảo ra vườn tưới cây. Nàng vấp phải cái ống nước nằm dưới đất, té xuống mà không ai hay biết. May sao có người hàng xóm đi ngang nhìn thấy, gọi 911 đưa nàng vào phòng cấp cứu. Hảo bị gãy xương vai, dập xương ống tay. Sau một thời gian nằm nhà thương, nàng được về nhà.

Các em chia nhau luân phiên đến thăm. Có therapist đến nhà tập hằng ngày, lại có cô giúp việc đến mỗi ngày bốn tiếng.

Vậy là cũng ổn.

Nghĩ lại, có lẽ Hảo không phải Bụt thật. Nàng chỉ là một người đàn bà có lòng. Mà người có lòng thì đôi khi chịu thiệt. Hảo đã chịu thiệt nhiều rồi. Nhưng may mắn là nàng không để những chuyện ấy làm mất đi niềm vui sống.

Bây giờ Hảo vẫn ở đó, gần các em, gần bạn bè. Có lúc đau ốm, có lúc té ngã, có lúc cần người giúp, nhưng bên cạnh vẫn có người.  Sau một đời long đong như vậy, Hảo còn có người thân để nương tựa, còn có bạn bè để gọi nhau một tiếng, còn có một căn nhà để yên ổn trở về.

Hôm nay trời đã vào Thu, những chiếc lá vàng đã lác đác rơi,  Hảo thấy người đã khỏe, bước ra sân sau nhìn lên trời cao, nhìn quanh thấy phong cảnh thiên nhiên đẹp quá. Hảo sẽ chịu khó tập tành cho khỏi hẳn để đại hội Trưng Vương năm nay sẽ đi gặp bạn bè. Từng khuôn mặt, từng khuôn mặt hiện ra. Một bầy con gái tung tăng trên lòng đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Một đời người trôi đi quá nhanh. Hảo nhớ quá một thời ngây thơ trẻ dại!

Đỗ Dung




ĐỖ DUNG – NHƯ MỘT THOÁNG MÂY BAY – (FLIPBOOK)




VTLV – TRANG ĐẶC BIỆT MỪNG NGÀY TỪ PHỤ 2026. ĐỖ DUNG: Tùy Bút “Đỗ Gia Trang Trên Đồi Mê Linh.” Phương Hoa: THƠ CHÚC MỪNG NGÀY TỪ PHỤ. Phương Thúy: MỘT ĐỜI TẬN TỤY. Minh Thúy: THƠ & VĂN VỀ NGÀY LỄ CHA. THƠ TRẦN VẤN LỆ. THƠ CAO MỴ NHÂN.

==

==

THƠ HỌA – MỪNG NGÀY TỪ PHỤ: NGUYỄN HUY KHÔI

MỪNG NGÀY TỪ PHỤ

               (Bát cú liên khúc)

Có NGÀY TỪ PHỤ “đã” rồi nha,

Lòng rộ lộc chồi thắm trái hoa!?

Bằng hữu ưu tôn cung chuốc rượu,

Cháu con chân kính phụng dâng trà!

Hương thôn đầm ấm đời khang thịnh,

Chồng vợ hiền lương sống thuận hòa!

Trước sủng muôn nơi tôn Nghĩa Mẹ,

Nay mừng thiên hạ trọng Công Cha!

**

Mừng Cha an lạc cảnh thơi nhàn.

Thọ hưởng Song Thân gấp bội vàng!

Ngõ rộn lời già khơi sắc thắm,

Nhà xôm tiếng trẻ tỏa hương tràn!

Học Đường bồi tẩm nhân tâm sáng,

Gia đạo trau gìn đức hiếu ngoan!

Dân mạnh-Nước giầu bền Xã Tắc,

Cơ đồ tấn triển rạng TIÊN SAN!

                      Nguyễn Huy Khôi

                             21-6-2026

==

=

.

Rồi… lại tới Ngày Lễ:  Đón mừng Ngày Nhớ Cha!

Trước… ngày này, hôm qua / là Ngày Mừng Nhớ Mẹ!

.

Mẹ luôn luôn là thế:  ưu tiên mọi tấm lòng!

Mẹ là biển là sông / rộng vô bờ vô bến…

.

Mẹ với Cha có hẹn / để cháu con nhớ về…

cái chỗ gọi là Quê – Tình Yêu Không Đong Đếm!…

.

Có người về Điểm Hẹn bây giờ là khói nhang…

nhưng những cánh tay choàng ôm đất trời ấm áp!

.

Có người về chậm chạp… vì gió táp mưa sa!

Chuyện của Đất Nước TA / hai Thế Kỷ Nước Mắt!

.

Tôi… thành thật thú thật:  Tôi-trường-hợp-thứ-hai

… là đường xa mây bay… là dặm dài vô định!

.

Thương quá chớ, thời Lính:  Mẹ Cha hằng mong con!

Thương là Thương, rất thương… những đứa con bất hiếu!

*

Em của tôi làm điệu:  Hai mắt đang ướt kìa!

“Em nhớ Ba, không chia – Một Cái Hôn Giùm Với…”

.

Ôi người yêu tôi nói nghe buồn như trong mơ!

Và đây là… Bài Thơ:  Happy Father’s Day em, đó!

.

Có người yêu bỗng nhỏ như giọt lệ lăn lăn…

Có người yêu như trăng… Vầng Trăng Tôi Gọi Nguyệt!

.

Em là lòng tha thiết tôi gửi về Cố Hương

Lòng đứa con tha phương bốn phương đường thiên lý!

.

Việt Nam nhìn từ Mỹ xa vời nhang khói bay!

Happy Father’s Day!  Happy Father’s Day!

.

Trần Vấn Lệ

=

=

NGƯỜI CHA HÀNG XÓM.       CAO MỴ NHÂN

Cha tiễn con đi chiến dịch

Tuổi vừa tròn chẵn đôi mươi

Cùng nghe bên trời súng địch

Nổi lên ” thách đố ” trận đời

*

Làm sao quên ngay buổi đó

Mẹ không giấu được băn khoăn

Cha cười lẫn trong nỗi khổ

Thế rồi con ngủ trăm năm

*

Mấy mươi mùa xuân tan vỡ

Mẹ, cha vướng víu dương trần

Khói hương quê nhà lỡ dở

Cha giờ uất hận chôn thân

*

Muốn san bằng câu hỗn hợp

Cũng không thể sống bình yên

Ngang trời sáng tia lửa chớp

Mẹ nhìn cha thoắt cuồng điên

*

Cuộc chiến càng sâu thăm thẳm

Ai người chứng kiến hôm qua

Để ngày nay thôi u uẩn

Tội tình oan nghiệt người cha …

        CAO MỴ NHÂN

=

ĐỖ GIA TRANG TRÊN ĐỒI MÊ LINH

Đỗ Dung kính nhớ Bố.

FATHER’S DAY 2026

Có những ngôi nhà biến mất khỏi mặt đất từ rất lâu nhưng vẫn còn nguyên trong ký ức.

Tôi nghĩ về điều đó vào một chiều cuối năm, khi ngồi bên cạnh Bố trong căn phòng nhỏ của viện dưỡng lão.

Ngoài cửa kính, trời mùa đông California xám đục. Mấy cành cây trơ lá run nhẹ trong gió. Chiếc tivi đặt ở góc phòng vẫn mở nhưng không có tiếng. Ánh sáng xanh nhấp nháy trên khuôn mặt đã hằn sâu những nếp thời gian.

Tôi cúi xuống hỏi:

“Bố có biết con là ai không?”

Ông ngẩng lên nhìn tôi. Đôi mắt đục mờ vì tuổi tác bỗng sáng ra một chút.

“Dung.”

Chỉ một tiếng gọi ấy thôi.

Bao nhiêu năm tháng bỗng quay về.

Tôi lại thấy mình đứng trong căn nhà cũ ở Mai Hắc Đế của Hà Nội ngày xưa. Những buổi sáng mùa đông, sương còn đọng trên mái ngói. Mùi hương trầm len lỏi trong từng gian nhà. Bộ sập gụ bóng màu thời gian nằm giữa phòng khách. Trên mặt tủ chè khảm xà cừ, những ông tiên trong tích Bát Tiên vẫn lấp lánh dưới ánh đèn vàng.

Đó là thế giới đầu tiên của tuổi thơ tôi.

Một thế giới có tiếng guốc của Mẹ đi trong sân. Có tiếng anh chị em gọi nhau í ới. Có mùi nước mắm chưng trên bếp. Và có tiếng chuông cơm của Bố.

Ba hồi dài.

Lúc nào cũng vậy.

Tiếng chuông vang lên là mọi cuộc chơi phải dừng lại.

Đứa ở sân trước chạy vào.

Đứa ở sân sau chạy lên.

Đứa còn đang đọc sách cũng phải gấp sách lại.

Cả nhà ngồi quanh mâm cơm như một nghi lễ không ai được phép vắng mặt.

Ngày ấy chúng tôi nghĩ đó là luật.

Nhiều năm sau mới hiểu đó là tình yêu.

Có những người cha thể hiện tình yêu bằng những lời âu yếm. Có người bằng những cái ôm. Bố tôi lại chọn cách riêng của ông: dựng nên một nếp nhà.

Ông vốn là người lính.

Người lính thường tin vào kỷ luật như tin vào xương sống của một đời người.

Khi gia đình chuyển vào Sài Gòn, căn nhà trên đường Thành Thái dần trở thành một thế giới riêng mang dấu ấn của ông. Chuông điện lớn được lắp ngay phòng khách. Mỗi người có một tín hiệu riêng. Phòng ngủ của mấy chị em được ông gọi bằng cái tên rất nhà binh: “Trại nữ binh”.

Mỗi lần nhớ lại, tôi vẫn bật cười.

Ngay cả tuổi thơ của chúng tôi cũng được tổ chức theo kiểu nhà binh.

Nhưng lạ thay, trong ký ức, tất cả đều ấm áp.

Kỷ luật của Bố chưa bao giờ làm người ta sợ.

Nó giống hàng rào quanh một khu vườn hơn.

Nhờ có nó mà những đứa trẻ được lớn lên trong an toàn.

Bên dưới vẻ nghiêm nghị ấy là một tâm hồn mềm đến không ngờ.

Ông mê nhạc tiền chiến.

Những đêm yên tĩnh, từ chiếc máy hát trong phòng khách vang lên Suối Mơ, Thiên Thai, Con Thuyền Không Bến. Có những bản nhạc tôi đã quên gần hết lời nhưng mỗi lần nghe lại vẫn thấy hiện lên bóng dáng Bố ngồi lặng lẽ bên tách trà.

Ông thích thơ.

Thích viết.

Thích những câu chữ đẹp.

Có lần tôi than phiền rằng hôm sau phải thuyết trình ở trường. Sáng dậy đã thấy trên bàn một bài viết hoàn chỉnh ông thức khuya chuẩn bị cho con gái.

Đến bây giờ tôi vẫn không biết trong đêm ấy ông đã thức đến mấy giờ.

Nhưng tôi biết chắc một điều:

Có những người cha không nói “Bố thương con”.

Họ dành cả cuộc đời để làm điều đó.

Nhà tôi đông con.

Đông đến mức người ngoài nhìn vào thường ngạc nhiên.

Vậy mà bằng một cách nào đó, Bố vẫn biết rõ từng đứa.

Biết đứa nào yếu đuối.

Biết đứa nào bướng bỉnh.

Biết đứa nào đang buồn.

Biết đứa nào cần được giúp đỡ.

Mỗi người nhận từ ông một tình thương khác nhau nhưng không ai thấy mình bị bỏ quên.

Có lẽ vì thế mà cho đến tận bây giờ, khi tóc đã điểm bạc, anh chị em chúng tôi vẫn nhắc về ông như nhắc về tâm điểm của một vòng tròn.

Rồi đất nước đổi thay.

Những cơn sóng lớn của lịch sử tràn qua từng mái nhà.

Gia đình tôi cũng không nằm ngoài dòng chảy ấy.

Một ngày, người cha vẫn đứng đầu bàn ăn bỗng phải rời khỏi nhà để bước vào những năm tháng cải tạo.

Khi ấy tôi còn trẻ.

Chưa đủ tuổi để hiểu hết nỗi đau của người lớn.

Nhưng tôi nhớ rất rõ khuôn mặt của Mẹ.

Nhớ những đêm đèn khuya.

Nhớ mùi nhang trên bàn thờ.

Nhớ sự chờ đợi kéo dài tưởng như không có điểm cuối.

Sau này đọc lại những dòng di bút của Bố, tôi mới hiểu phần nào sức mạnh đã giúp ông đi qua những năm tháng ấy.

Ông không viết về hận thù.

Ông viết về nhân cách.

Ông không nói đến thất bại.

Ông nói đến lòng tự trọng.

Có những con người càng ở trong nghịch cảnh càng hiện rõ phẩm giá của mình.

Bố thuộc về số ít những người như thế.

Ngày đoàn tụ ở San Francisco, tôi nhìn thấy một người đàn ông gầy hơn, già hơn, tóc bạc hơn.

Nhưng không phải là một người bị đánh gục.

Tôi nghĩ có những chiến thắng không ai nhìn thấy.

Đó là khi một con người vẫn giữ được phần tốt đẹp nhất của mình sau tất cả những gì đã xảy ra.

Những năm cuối đời, sức khỏe của ông yếu dần.

Bệnh tật đến như những cơn thủy triều không thể cưỡng lại.

Mẹ cũng già đi.

Hai người chậm rãi bước về phía bên kia cuộc đời.

Có lần nhìn họ ngồi cạnh nhau trong phòng bệnh, tôi chợt nghĩ đến hai ngọn đèn dầu đã cháy gần cạn.

Ánh sáng không còn mạnh.

Nhưng vẫn sáng.

Vẫn đủ để soi cho nhau.

Ngày ấy, Bố thường nói về một giấc mơ.

Ông gọi nó là Đỗ Gia Trang.

Một khu nhà trên đồi Mê Linh.

Một mặt hồ.

Một dãy nhà hình chữ U.

Ông bà ở giữa.

Con cháu quây quần xung quanh.

Ông còn vẽ sơ đồ bằng bút chì và ghi tên từng đứa con vào từng phòng.

Nhiều năm qua đi.

Giấc mơ ấy chưa bao giờ được xây dựng bằng gạch đá.

Nhưng càng sống lâu, tôi càng hiểu rằng Bố đã xây nó rồi.

Ông xây bằng một vật liệu bền hơn xi măng.

Ông xây bằng ký ức.

Bằng tiếng chuông cơm ba hồi.

Bằng những bài hát cũ.

Bằng những lời dạy đơn sơ.

Bằng những giọt nước mắt ngày tiễn con gái về nhà chồng.

Bằng khí phách của một người lính không chịu đánh mất mình.

Bằng tình yêu bền bỉ dành cho gia đình.

Cho nên hôm nay, khi nhìn lại, tôi không còn tiếc ngôi nhà trên đồi Mê Linh nữa.

Bởi vì Đỗ Gia Trang chưa bao giờ nằm ở một địa chỉ nào trên bản đồ.

Nó nằm trong chúng tôi.

Trong cách anh chị em vẫn tìm đến nhau.

Trong cách con cháu vẫn nhắc tên Ông Bà.

Trong cách một gia đình được nối tiếp qua nhiều thế hệ bằng lòng biết ơn và ký ức.

Chiều cuối năm ngoài cửa kính đã xuống hẳn.

Tôi ngồi bên cạnh Bố.

Nắm bàn tay gầy guộc của ông trong tay mình.

Bàn tay ấy đã đi qua chiến tranh, tù đày, ly biệt và đoàn tụ.

Bàn tay ấy đã dựng nên một mái nhà.

Và bỗng nhiên, từ rất xa trong ký ức, tôi lại nghe thấy tiếng chuông cơm năm nào.

Ba hồi dài.

Rõ ràng.

Ấm áp.

Như thể suốt cuộc đời này, Bố vẫn đang gọi chúng tôi trở về.

Đỗ Dung

==

MỘT ĐỜI TẬN TỤY – Tùy Bút Nguyễn Phương Thúy

Một Đời Tận Tụy

Nguyễn Phương Thúy

Bố Mẹ tôi di cư vào Nam lúc tôi mới được vài tháng. Thay tên đổi họ, Bố phải làm lại từ đầu mặc dù đã có bằng Diplome Pháp. Trước tiên là Bố thi Tiểu học, năm sau thi nhảy Tú tài I, rồi năm kế thi Tú tài II, sau đó thi vào ngạch Bộ Y tế. Bố vừa đi làm vừa lấy bằng cử nhân Luật trong bốn năm, rồi lại thi chuyển ngạch sang Bộ Ngoại giao. Ban ngày Bố đi làm, ban đêm chong đèn học khi các con đã đi ngủ hết. Bố học rất giỏi lại nhớ lâu, như một tủ sách biết đi.

Nhà đông con, cứ hai năm lại thêm một đứa, chỉ một mình Bố đi làm nuôi cả gia đình. Đời sống tuy chật vật, nhưng Bố lại không muốn Mẹ tôi phải tất bật phụ giúp việc mưu sinh vì Bố cho rằng việc chăm sóc và dậy dỗ con cái là tối quan trọng. Bố lo cho gia đình rất đầy đủ, cho chúng tôi được ăn học đàng hoàng nhưng bản than Bố rất cần kiệm, ăn uống rất giản dị, nhường cho vợ con ăn trước, rồi còn gì ăn nấy, nhiều khi nhâm nhi tí rượu với rau muống luộc cũng xong.

Bố Mẹ tôi có bảy người con, hai con trai đầu và cuối, ở giữa là năm cô con gái. Mỗi lần sanh, nghe bà đỡ reo lên “con gái” là Mẹ lại ớn đến phát rét, nhưng Bố thì rất thích, cho rằng:

“Con gái là con của ta,

Thương cha, thương mẹ, việc nhà đảm đang.”

Tôi là chị cả của đám con gái. Khỏi phải nói, tôi được hưởng nhiều quyền lợi hơn các em, cái gì cũng được ưu tiên, từ quần áo đến đồ chơi, nhưng ngược lại tôi phải phụ Mẹ tôi lo cho gia đình. Tôi đảm nhiệm vai trò của mình khá giỏi giang, lại hợp tính Bố, hay thủ thỉ tâm tình, nên Bố yêu thương tôi hơn cả. Những lúc lỡ tay làm vỡ chén bát, đồ đạc, tôi chỉ cần mau lẹ thú tội với Bố là Bố nhận hết tội dùm tôi; thế là tôi tránh được biết bao nhiêu cái roi vào đít.

Khi tôi lên chín, thì Bộ Y tế cho Bố đi tu nghiệp ở London sáu tháng. Tôi không bao giờ quên được hôm tiễn Bố ở phi trường Tân Sơn Nhất. Tôi cứ bịn rịn, quấn quanh chân Bố không muốn rời. Đến khi Bố đưa tay vẫy và khuất bóng sau cách cửa tàu bay thì tôi khóc nức nở, chỉ sợ Bố đi luôn, không về nữa. Mẹ phải trấn an và dỗ dành là Bố sẽ về và sẽ mua cho tôi nhiều đồ chơi thật đẹp.

Tôi nhớ Bố đến héo hon. Chiều nào cũng vậy, sau bữa cơm tối, chị Hai (người giúp việc) dẫn tôi ra đầu đường ngóng Bố. Tôi đứng ôm cột đèn, dõi mắt tìm Bố trong dòng người, dòng xe cộ tấp nập qua lại. Mãi đến khi phố lên đèn thì tôi mới lủi thủi đi về.

Sáu tháng dài dằng dặc rồi cũng qua. Ngày đón Bố về vui như hội. Tôi lăn xả vào lòng Bố, đòi Bố kể cho nghe những món quà đang nằm trong vali. Tôi nài nỉ, kì kèo cho mình được chọn quà trước và tôi đã dành được con búp bê đẹp nhất, tóc dài vàng óng, váy đỏ viền ren, biết nhắm mắt mở mắt. Các em tôi còn hậm hực, ấm ức mãi cho đến bây giờ.

Đời sống hạnh phúc, êm đềm trôi giữa những giao động của chiến tranh. Công việc của Bố ở bệnh viện Chợ Rẫy rất vững bền. Bố được cấp nhà cho ở gần đó và được mọi người kính nể, thương mến.

Năm 1968, Tết Mậu Thân, Việt cộng tấn công thủ đô và các vùng phụ cận. Gia đình tôi chứng kiến cảnh giết người ngay trước cửa nhà, trên đường Lê Đại Hành. Lần đâu tôi thấy Bố sợ hãi, như thể một cái gì thật khủng khiếp trong quá khứ bỗng dưng chổi dậy đe dọa phá vỡ những gì mà chúng tôi đang có, kể cả sinh mệnh.

Tôi lập cập chồng hai cái ghế vào nhau để Bố leo lên trần nhà trốn. Sự sợ hãi của Bố Mẹ bao trùm con cái, cả con chó cũng sợ lây. Tôi núp trong căn phòng nhỏ dưới chân cầu thang, siết chặt hai bàn tay cho cơ thể đỡ run rẩy; nhắm nghiền mắt cầu nguyện với niềm tin tuyệt đối vào sự cứu khổ và linh ứng của Phật Bà Quán Thế Âm.

Thật may mắn, bọn Việt cộng đã bỏ đi sau khi giết chết một người đàn ông vô tội. Bố vội vã đưa gia đình vào tạm trú trong nhà thương Chợ Rẫy. Đến khi bình yên trở về nhà, tôi thấy có những vết đạn loang lổ trên tường.

Từ đấy Bố tôi trở nên trầm tư, bi quan, và để ý theo dõi cuộc chiến mà mỗi ngày một thêm khốc liệt.

Rồi Bố nhất định bỏ hết những bổng lộc đang có, để thi chuyển ngạch vào Bộ Ngoại giao, mong muốn sẽ có cơ hội đem cả gia đình đi ngoại quốc. Bố am hiểu tình hình chính trị nước nhà và thế giới, đã tiên đoán được vận mệnh không may của đất nước sau này.

Rồi những ngày tháng của 1975 hoảng loạn, ai cũng tìm đường chạy, vòng trong và vòng ngoài phi trường Tân Sơn Nhất đầy xe và người. Bố liên lạc hàng tuần, dục Mẹ lên Bộ Ngoại giao xin visa qua Lào đoàn tụ gia đình, chuẩn bị hành lý, đốt những giấy tờ, hình ảnh không cần thiết. Nhờ có Bố mà chúng tôi đi được trót lọt, đáp chuyến bay cuối cùng qua Lào chỉ một tuần trước khi mất nước.

Đến Lào, sau vài hôm nghỉ ngơi, Bố lại dục chúng tôi “dọn nhà”, chuẩn bị sẵn sàng cho một cuộc ra đi khác.

Đúng như Bố dự đoán, 10:45 sáng ngày 30 tháng Tư, có tin Sài Gòn đã mất. Từ nhiệm sở về, Bố vội vã hối thúc mọi người ra xe thật nhanh vì Bố biết bọn Lào cộng sẽ kéo đến đây, bắt Bố là người tổ chức những chương trình kiều vận để lôi kéo đồng bào Việt về với quốc gia. Cả gia đình gồm chín người và hành lý không thể dồn hết vào chiếc xe Toyota. Bố Mẹ tôi và em gái phải ở lại chờ chuyến sau. Chú Lễ, nhân viên của Bố, chở chúng tôi về nhà chú gần đấy rồi quay trở lại ngay để đón Bố Mẹ và em tôi. Đúng đến lúc tôi tuyệt vọng, không thể chờ được nữa thì Bố Mẹ và em tôi về, cùng với ba chiếc taxi. Mọi người hối hả lên xe, chạy hết tốc lực về phía Thadeur là nơi giáp sông Mekong; từ đây chúng tôi hồi hộp vượt sông, lấy chuyến xe lửa tốc hành chạy suốt đêm đến Bangkok. Vừa đến đây lại được tin tòa Đại sứ VN đóng cửa, chúng tôi đành theo nhân viên tòa Đại sứ lên mấy chiếc xe bus trực chỉ căn cứ Mỹ Utapao. Cuộc trốn chạy bọn Lào cộng, tìm tự do của gia đình tôi từ Vientiane, qua sông Mekong, đến Bangkok, rồi đến Utapao có nhiều khó khăn và nguy hiểm, nhưng có Bố bên cạnh, tôi không thấy sợ hãi, chỉ thấy buồn thấm thía. Trong cái tai họa chung của dân tộc, mới thấy gia đình tôi thật là  quá may mắn.

Lại một lần nữa Bố tôi phải gầy dựng lại từ đầu, từ hai bàn tay trắng. Bố sẵn sàng làm bất cứ việc gì để nuôi gia đình và chỉ muốn Mẹ tôi tiếp tục quán xuyến việc nội trợ như xưa. Khi cầm cái paycheck đầu tiên, Bố đã bật khóc. Cái paycheck ấy đã đem lại sự sống, niềm hy vọng cho gia đình tôi, và cũng giúp Bố lấy lại lòng tự trọng và niềm tự hào khi tiếp tục hoàn thành bổn phận của một người cha và là trụ cột của gia đình.

Bố mua một chiếc station wagon để đưa đón chị em tôi đi học ở Ohio University, cách nhà hơn bốn tiếng lái xe.

Bố không quen lái đường xa, vẫn vui vẻ đón đưa con đi về vào kỳ nghỉ của trường dù tôi muốn tránh cho Bố việc lái xe nhọc nhằn, nguy hiểm bằng cách xin ở lại trong ký túc xá (dorm). Sự lo lắng của tôi đã thành sự thật.

Trên đường về, xe của Bố đâm xuống ruộng, may mà Bố chỉ bị thương nhẹ; nhưng cái xe thì hư hại hoàn toàn; bán cho tiệm xăng được 100 dollars thì tiền đi taxi về nhà hết 120 dollars.

Sau bao nhiêu năm vất vả, Bố đã hoàn thành mỹ mãn nhiệm vụ làm Cha. Các con đã trưởng thành, đã có nghề nghiệp vững chắc, và đã có tổ ấm riêng. Mỗi năm, từ mọi miền đất hứa, các con về thăm viếng, quây quần họp mặt tại nhà tôi vì Bố Mẹ đã chọn ở với gia đình tôi sau khi về hưu.

Vào dịp lễ thượng thọ, tôi làm hai câu đối này để tặng Bố, một người thương yêu gia đình rất mực, luôn tận tâm lo lắng và hy sinh tất cả cho vợ con:

Một đời tận tụy vì vợ vì con,

Hai phận vuông tròn làm Phu làm Phụ.

Quá 80 tuổi, Bố vẫn còn minh mẫn, vẫn còn nhớ ngày sinh nhật của đám con cháu – hơn 20 đứa, và còn giúp tôi những việc vặt trong nhà.

Ngoài những đau nhức phong thấp thường có ở tuổi già, Bố ít khi bị bệnh nặng.

Năm ngoái, Bố phải vào nằm nhà thương mấy hôm vì có sạn ở túi mật. Để tránh bị đau đớn lần nữa, bác sĩ đề nghị cắt bỏ, nhưng Bố không chịu, nói là chỉ còn sống thêm vài năm nữa, tội gì phải chịu mổ xẻ. Vì không muốn vào nhà thương và không muốn làm khổ con cháu, Bố bắt đầu ăn kiêng ngay từ hôm về lại nhà. Bố gầy yếu hẳn đi, nhưng tinh thần không bị dao động, không sợ hãi. Bố đã hiểu rõ chuyện sinh tử, luân hồi của đạo Phật từ lâu và đã sẵn sàng để “về”. Tôi hằng cầu nguyện:

“Xin Trời lấy bớt tuổi đời,

Thêm vào Cha Mẹ sống thời bách niên.

Cho chúng con được đáp đền,

Công Cha, nghĩa Mẹ bách niên chưa vừa.”

Dù Bố có sống đến 100 năm hay không, tôi vẫn được an ủi rất nhiều vì tôi đã có được một phần thân thể của Bố và đã học được một phần những đức tính nhân hậu, tận tụy, hy sinh quý giá của Bố. Tình yêu của chúng tôi dành cho Bố tuy không biểu lộ qua lời nói thường xuyên nhưng lại vô cùng sâu đậm, mãi mãi với thời gian.

Nguyễn Phương Thúy, 5/20/2010

==

==

THƠ & VĂN VỀ NGÀY LỄ CHA_ MINH THÚY THÀNH NỘI

Hội Phụ Nữ Tổ Chức Lễ Cha 

Tình cha vỹ đại nói sao vừa 
Lặn lội thân mình hứng gió mưa 
Rường cột gia đình lo bạc tóc 
Công ơn dưỡng dục kể bằng thừa 

Một đời lam lũ bởi vì con 
Dạy dỗ lời êm tránh đánh đòn 
Vật lộn mưu sinh nuôi trẻ dại 
Thành nhân đỗ đạt dẫu thân mòn 

Can trường thời chiến với non sông 
Cha lính cộng hòa góp sức công 
Đội nắng phơi sương vì tổ quốc 
Tù lao vận nước đổi đau lòng 

Nơi miền đất Bắc phố Cali
Thung lũng hoa vàng hoạt động chi 
Phụ nữ chung tay cùng hội trưởng 
Mừng cha từ phụ chức cao kỳ 

Văn nghệ chung vui diễn đủ màn 
Tặng quà cắt bánh nhạc mừng vang 
Vinh danh Từ phụ thiêng liêng phút 
Nguyện sống vai trò hiếu tử mang 

Văn hóa giữ gìn đẹp sáng tươi 
Vườn hoa hiếu hạnh dạy con người 
Lễ Cha ý nghĩa ngày tham dự 
Hội Phụ Nữ xây những nụ cười 
Minh Thúy Thành Nội 
Happy Father’s Day 
…………………………………………………..

Lời Ba Muốn Nói – Minh Thúy Thành Nội

Mùa Hạ đã bắt đầu báo hiệu, các loài hoa thi đua nở đủ màu sắc tươi vui. Anh Quang bước ra sân theo tiếng gọi của vợ nhờ bưng phụ mấy chậu hoa quỳnh lên bệ cao, vì muốn ngắm nét đẹp của loài hoa trang đài đang nở hàng chục đóa hồng và vàng. Bé LiLy bước chân cao chân thấp đi theo cha cười hồn nhiên.

– Con tránh ra để ba phụ mẹ chút nha

Lily nghiêng đầu qua, nghiêng đầu về vẫn níu áo, anh đành dừng chân nói với vợ “chờ chút…con đang vui vẻ”. Anh gỡ nhẹ tay con dìu vào ghế dài dưới tàng cây phượng vàng nay đã tàn hoa, chỉ còn bóng lá xanh tỏa mát. Anh ôm con, đặt đầu LiLy áp vào ngực anh, nghe luồng tim đập ấm áp chứa tình thương bao la.

Nhìn con lòng anh như quên hết chuyện phiền não hôm qua.

Vợ chồng anh mua vé hai tháng trước cho chuyến bay qua Hawaii nghỉ mát như thường lệ. Đã làm thủ tục check-in và ký gởi hành lý xong xuôi, vợ chồng anh hân hoan xếp hàng, bỗng bé Lily ngồi sụp xuống, níu chân ba mẹ nhìn về hướng ngược, biểu hiện ý đòi trở lui. Anh dỗ con “Ngoan Lily nhé, con sẽ vui đùa tắm biển khi qua đó”. Bé hất tay anh ra, rồi nằm lăn dài khóc lóc. Anh chị thay phiên dỗ dành, dìu con lùi qua một bên nhường chỗ cho khách hàng đang bước từ từ lên. Thời gian như muốn đứng lại, Anh chị nhỏ nhẹ, vuốt ve con sau gần một tiếng đồng hồ, cháu vẫn la hét đến khàn cổ. Cuối cùng anh chị phải chiều ý con gọi Uber trở về nhà. Anh liên lạc với nhân viên Airlines báo cáo hủy chuyến bay dù hành lý đã gởi, và được cho biết sẽ nhận lại một tuần sau.

LiLy ngồi yên ép sát đầu vào ngực anh, trong khi chị nhổ cỏ dại mọc xen chung quanh các chậu hoa trong lúc chờ đợi anh giúp đỡ việc nặng.

Anh nhìn màu nắng rực rỡ, ký ức ùa về của khoảng thời gian gần 30 năm trước. Anh giật mình “thời gian trôi nhanh quá, mọi chuyện cứ ngỡ như mới đâu đây…” Anh để dòng sông êm ả trôi về miền kỷ niệm…

Sinh ra trong một gia đình có ba anh em, Anh là trai lớn, thủa nhỏ đi học luôn đoạt bằng khen, bằng danh dự. Theo gia đình vượt biên qua Mỹ, anh hội nhập mau chóng và tiến bộ trong lãnh vực học đường, suôn sẻ tốt nghiệp bằng kỹ sư. Anh làm việc đi qua nhiều hãng nổi tiếng, hiện tại làm cho hãng Cisco tọa lạc vùng San Jose, nhưng được làm việc ở nhà.

Anh nhớ một mùa hè năm đó…. trong vài buổi làm việc thiện nguyện tại San Francisco, Anh gặp Ái Thanh (vợ anh bây giờ) đang là sinh viên của trường San Jose State, nàng rất đẹp và xông xáo trong công việc. Anh đã bị hớp hồn ngay từ phút đầu và tìm cách làm quen, quyết chinh phục cho bằng được. Chị lúc ấy cũng mến anh, một kỹ sư có nét thanh tú với dáng cao và tánh tình hiền lành ít nói. Anh chờ chị tốt nghiệp bốn năm, chị có việc làm trong phòng thí nghiệm của trường Đại Học. Mọi việc đều vững vàng bảo đảm đời sống, vì anh đã mua nhà trước đó. Sau vài năm tìm hiểu, anh chị quyết định tiến tới hôn nhân và hiện là cư dân của vùng Milpitas.

Mọi sự đều chuẩn bị sẵn sàng, đứa con trai Robert đầu đời, Anh chị chào đón trong niềm hạnh phúc vô biên. Ba năm sau bé Lily được sinh ra, những giây phút chờ trông cháu Lily lật trở vui nhộn biết bò theo thứ tự bẩm sinh. Sau gần hai năm, theo dõi bước thay đổi và phát triển của con, chưa thấy bé Lily biết đứng, biết bập bẹ phát ra âm thanh của trẻ con, anh chị lo lắng đem con đi gặp bác sĩ và bệnh viện nhiều lần, kết quả bác sĩ cho biết cháu bình thường, hãy chờ đợi thêm thời gian nữa”. Anh chị bắt đầu sống trong tâm trạng lo âu hồi hộp vì chẳng có gì tiến triển, ngày tháng trôi qua trong mòn mỏi, nhìn con vẫn bò quanh nhà dù đã lên bốn, năm, sáu…tuổi.

Khi con đầu lòng chào đời, anh chị tìm được người trung niên độc thân tên Sâm, sinh hoạt các chùa (do bạn giới thiệu), sau thời gian quan sát tìm hiểu tánh tình chị Sâm này rất hiền từ nhân hậu. anh chị yên tâm để chị Sâm ở lại sáu ngày, cuối tuần về thăm nhà, vì vậy vợ chồng yên tâm cày cấy trang trải nhiều thứ nợ.

Trước đây chị Sâm trông nom em gái Natalie con anh kỹ sư Lâm. Chị kể lại: “Em gái này đã trên hai mươi tuổi, bị bệnh Autism (tự kỷ) rất hung dữ, qua nhiều người đến chăm sóc nhưng họ phải đầu hàng vì em không chịu ai cả. Có những lúc em bị kinh nguyệt, em vùng vằng không cho chị Sâm thay băng làm vệ sinh, cuối cùng anh Lâm phải tự tay làm công việc ấy cho con, bởi vợ chồng đã ly dị, mà anh là người nuôi con. Chị Sâm thương lắm cũng đành nghỉ việc, sau bà Nội đến ở lại chăm cháu. Thỉnh thoảng cuối tuần chị Sâm cũng ghé thăm vì thương những mảnh đời đau khổ, thương những đứa trẻ không được bình thường sống trong hoàn cảnh thật xót xa. Câu chuyện được kể khi chị Sâm chứng kiến bé Lily có nhiều dấu hiệu không được bình thường, nhưng chị Sâm may mắn trông cháu bền lâu vì tánh Lily hiền lành dễ chịu hơn.

Một hôm tình cờ xem hình cha con anh Lâm trong buổi tiệc gia đình có chị Sâm chụp chung, nhờ vậy anh Quang nhận ra người bạn học xưa. Họ liên lạc hỏi thăm, tâm tình tìm sự cảm thông nhau từ đó.

Một buổi hai anh hẹn gặp uống cà phê cuối tuần. Sự mệt mỏi hiện ra trên nét mặt, mỗi người như bị áp lực đè nặng trong công việc và con cái. Anh Quang kể về hãng Cisco, anh Lâm làm cho hãng IBM, trao đổi những mẫu chuyện về nghề nghiệp. Anh Quang hỏi thăm bệnh tình cháu Natalie.

– Cháu vẫn chơi và khỏe đó chứ?

– Càng ngày tâm tính cháu càng hung hăng chướng kỳ, giai đoạn này cháu không thích mặc quần áo, cởi bỏ hết đi khắp nhà. Bà nội không đủ sức mặc vào cho cháu, tôi phụ giúp thật khó khăn vì cháu vùng vẫy, phải cố gắng dùng sức mạnh kềm tay chân cháu. Mặc quần áo xong rồi tôi phát hiện có vết bầm trên cánh tay cháu, biết mình vô ý lỡ mạnh tay tôi thật đau lòng, hối hận muốn khóc vì thương con mình quá.

Anh Lâm kể lại với ánh mắt buồn bã. Biết hoàn cảnh bạn mình đã ly dị chịu cảnh gà trống nuôi con, anh Quang nhẹ nhàng:

– Ông cũng nên tìm người bạn mới cho khuây bớt

Anh Lâm lộ vẻ uể oải chậm rãi:

– Nói gì, tôi cũng có bạn gái chứ, tháng trước dẫn về chơi dò ý con, cháu Natalie lộ vẻ giận dữ hai mắt đỏ ngầu, tôi sợ quá nghĩ từ nay không đem về nhà nữa. Lòng tôi cũng chẳng hứng thú gì khi nghĩ đến con, chỉ muốn để mặc dòng đời trôi… Mỗi ngày đi làm về nhìn con, chơi với con bằng tình phụ tử thiêng liêng dậy lên những cảm xúc dạt dào khôn nguôi thật khó tả.

Một hôm người quen khuyên anh Quang xin tiền phúc lợi Social Security Disability Insurance (Bảo Hiểm Khuyết Tật An Sinh Xã Hội – SSDI). Anh gạt ngang nghĩ thầm “Làm gì có chuyện đó đối với anh, khi mức lương vợ chồng cao, lại đang làm chủ hai ngôi nhà, một ở và một cho thuê, trường hợp anh không thể được quyền hưởng phúc lợi”. Anh hoàn toàn không tin, nhưng nghe nhiều người bàn cãi quá, điện thoại hỏi bạn Lâm, bạn cũng không biết. Hai anh điền đơn thử thì được xác nhận: trẻ em bị bệnh tự kỷ được hưởng quyền lợi là đúng, dù cha mẹ có dư điều kiện tài chánh đi chăng nữa.

Anh Quang không thể ngờ được nước Mỹ có chính sách nhân đạo đến vậy. Chính phủ không quan tâm ai giàu hay ai lương cao việc lớn mà chỉ chú trọng việc chăm sóc, hỗ trợ cho trẻ em, nhất là các trẻ em đặc biệt. Chính phủ trả lương cho người chăm sóc bé Lily và được hưởng thêm quyền lợi bảo hiểm sức khỏe. Bé được đi trường học lớp đặc biệt có xe đưa đón tận nhà, được cô giáo người bản xứ về nhà dạy riêng hai tiếng ngoài giờ. Anh muốn hét to “American vĩ đại, nhân từ bậc nhất…” Cho dù lương của anh bị trừ thuế 40% vẫn xứng đáng, vui vẻ góp phần xây dựng đất nước này phát triển vững mạnh thêm.

Mùa đông đi qua, mùa xuân lại đến, mùa hè trở lại, mùa thu tuần tự. Anh chị vẫn sống bằng niềm hy vọng bệnh tình bé Lily có phần tiến bộ, dù đã qua mười hai năm cháu vẫn chưa biết nói, biết đứng dậy. Tới năm mười bốn tuổi, bỗng dưng cháu đứng dậy và từ từ bước tập tễnh, còn niềm vui nào lớn hơn. Anh chị đã ôm nhau khóc vì mừng rỡ, bám tiếp tục niềm hy vọng để sống.

Nghĩ đến vợ, anh cảm thấy thường quý vô cùng. Nàng nấu ăn rất ngon, dù có chị Sâm trong nhà, nhưng bà xã chỉ muốn tự tay nấu những món ngon cho chồng con ăn vừa ý. Sau giờ làm vợ tất bật về nhà đứng mấy tiếng đồng hồ trong bếp, tối dành thì giờ chơi với con. Bé Lily rất kén ăn, nàng theo chiều con sát nút. Có điều đối với chị Sâm, bé dễ chịu vui vẻ, nhưng khi vợ anh về là bé chướng hết cỡ, đòi lung tung đủ thứ, bắt nàng bồng bế dù LiLy rất nặng ký. Bé có dấu hiệu: thích ngồi một mình, sợ người đông và sợ âm thanh mở lớn. Khi vui bé ngồi cười một mình xoay đầu liên tục, cô giáo có kỹ thuật chuyên môn dạy cháu chơi game để phát triển não bộ, cháu biết mở ipad và biết nhiều trò chơi trong máy khiến anh chị thấy phấn khởi vô cùng.

Anh chị ngoài thì giờ sinh hoạt, cũng tìm đọc các trang mạng về bệnh tự kỷ để hiểu thêm tâm lý. Chị là người mẹ rất tuyệt vời, luôn dặn anh “đừng bao giờ lộ nét mặt buồn giận con, mà phải cố gắng tạo nét mặt vui vẻ, ánh mắt trao nhìn con thật trìu mến”. Anh nhớ bao nhiêu năm, vợ luôn đè nén những ước mơ riêng tư, chịu đựng hy sinh cho con hết mực, những khi cháu nổi cơn bất thình lình. Như lần qua Florida ăn cưới cháu, trong buổi tiệc Lily nằm dài la hét làm anh chị không dự được phải ẵm con về khách sạn sớm; lần đi máy bay qua Nhật, cháu nằm lăn trên sàn khóc lóc lăn lộn, hành khách thật lịch sự ngồi yên như không có chuyện gì xảy ra dù cháu quậy rất ồn ào; lần qua đảo Big Island bên Hawaii, Lily cũng nằm vạ trên lối chờ vào máy bay, hôm đó tình cờ một viên phi công đi ngang qua, cúi xuống cầm tay em dẫn đi vào máy bay, cháu ngưng tiếng khóc bước theo, may mắn chuyến đó anh chị được thoát nạn; mỗi khi đến nhà ai hoặc ra ngoài công viên dự tiệc, thường chỉ có mình anh đi dự, họa hoằn đôi bữa có chị nhưng chị cũng nửa chừng bỏ cuộc.

Tiếng chị đánh thức anh về vùng hiện tại:

– Anh để con chơi, phụ em cho xong việc, em còn đi chợ vì tủ lạnh trống trơn rồi

– Được em! 

Anh đẩy nhẹ Lily ra khỏi vòng tay.

– Con dạo ngắm hoa đi nhé, con có thấy hoa nở đẹp không?

Bé buông tay anh bước chậm nhìn hoa, không biết con có hiểu lời anh nói!!??

Sau một hồi phụ vợ các việc nặng, anh ngồi nhìn con chơi trong sân. Robert, anh Hai của LiLy đã tốt nghiệp Đại Học và có việc làm nơi xa. Anh chị vẫn tựa vào niềm hy vọng một ngày được nghe con gái nói, dù tiếng nói bằng ngôn, anh chị ngữ riêng cũng tốt. Năm nay quỹ An Sinh Xã Hội cắt giảm tài trợ việc cô giáo đến nhà bày vẽ chơi game cùng Lily hai tiếng mỗi ngày. Nhưng không hề gì, anh chị vẫn tiếp tục trả lương cho cô giáo, để cô hướng dẫn dưới hình thức chơi game bằng phương pháp trị liệu tâm lý và khai triển bộ óc.

Lily quay nhìn anh, cười tươi tắn, trở lại ôm anh sờ ngực, sờ áo. Anh vuốt tóc con thì thầm “Lời ba muốn nói với con, là ba mẹ yêu con nhất trên đời. Con là hơi thở, là sự sống của ba mẹ. Dù sao con cũng được sinh ra trên nước Mỹ, một đất nước nhân bản, có nhân đạo luôn đặt quyền lợi các trẻ em bị bệnh lên ưu tiên hàng đầu”.

Năm nay LiLy đã hai mươi tuổi. Tuần trước anh chị định dẫn bé đi chơi xa như món quà sinh nhật, vì anh chị thấy cháu rất thích chơi đùa với sóng biển, thích tắm nơi bờ biển vắng người, nhưng chuyến này không may nên bất thành. Con bé cao giống anh, khuôn mặt trái soan, nét mặt giống chị. LiLy sinh ra đời được bao nhiêu người yêu thương ngoài ba mẹ, hai bên nội ngoại, chị Sâm, người quen và nhất là anh Hai Robert của bé, cũng biết dỗ dành, chiều chuộng, đút cơm hoặc thay tả cho em mình.

Đã vào tháng Sáu, ngày Chủ Nhật đẹp trời. Anh chị tổ chức sinh nhật cho LiLy ngoài park gần nhà. Mùa hè đến, cây cỏ xanh um, quang cảnh mang bộ mặt tươi vui đầy sức sống. Bà con đến đông chúc mừng quà cho cháu. Tuần trước bé không vui cản trở chuyến đi chơi, hôm nay bé vui, ngồi yên cho mọi người chuyện trò ăn uống khiến anh chị mừng lắm.

Chiều dần xuống Lily chỉ về hướng xa vắng người, nắm tay ba kéo đi. Anh nhờ chị tiếp khách, hai ba con bước tới những mô đá bên kia đường, bé ngừng lại muốn ngồi xuống. Anh cũng ngồi theo bé nhìn bóng chiều lung linh hoa nắng nhảy múa trên vạt cỏ. LiLy nhìn quanh quẩn lộ nét mặt dễ chịu nơi có không khí yên tĩnh thoáng đạt. Mặc bên kia mọi người rôm rả nói chuyện, ăn uống tiếp tục, anh vẫn lặng lẽ ngồi bên con cả tiếng đồng hồ, nhìn mây trời trôi lãng đãng, nghĩ đến những mảnh đời khác nhau biến chuyển theo cuộc sống.

“Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh”, nghĩ người bạn có con bị bệnh giống Lily, anh thấy mình được may mắn hơn, vì còn có đứa con trai thành đạt, có vợ bên cạnh chung nhau chăm sóc Lily. Anh nhớ điều đã đọc trong tài liệu về phương thuốc chữa bệnh Tự Kỷ Tâm Lý: “Tình yêu thương của người thân chính là phương thuốc hữu hiệu nhất cho người bị tự kỷ. Nên trò chuyện với họ nhiều hơn để tinh thần được thoải mái”.

Anh lẩm bẩm “Nhất định xóa tan đau khổ, thất vọng, chống phá căn bệnh trầm cảm chen vào. Con là giọt máu, là tình yêu thương lớn nhất trên đời. Ba Mẹ sẽ chiều ý con, dù lúc con vui hay khi con nổi chướng, miễn Ba Mẹ được sống bên con gái yêu quý …”

Minh Thúy Thành Nội 

Mùa Lễ Cha 

==

ĐỌC TRUYỆN THỦY NHƯ: THỬ THÁCH ĐẦU ĐỜI – Diễn Đọc Thảo Mi

==

Thử Thách Đầu Đời

Tiếng súng nổ vang dội lấn át giọng nói của người cha vừa vẫy tay tạm biệt cậu
con trai vừa bước lui về phía chiến trường đầy khói. Cậu bé thét gào lên, “Ba ơi!
Ba ơi! Tại sao ba phải đi?” “Ba phải đi. Ba thương con vô cùng…” Giọng người
cha xa dần và cậu bé giật mình thức giấc. Cậu nhận ra là mình đang khóc trong
mơ và miệng vẫn còn lẩm nhẩm, “Tại sao ba phải đi?”

Đó là một đoạn trong vở kịch truyền thanh “The Price of Freedom” do Focus On
The Family phát hành mà má chồng tôi đã mua tặng cho các con tôi. Bà mua một
loạt những vở kịch Adventures in Odyssey truyền thanh như vậy để chúng nghe
mỗi khi chúng tôi ngồi trên xe. Hôm đó tôi và hai cậu con trai nhỏ đang lắng nghe
vở kịch “The Price of Freedom” trên đường lái xe đến thăm ba mẹ tôi lúc bấy giờ
đang ở Redlands. Nhìn qua kiếng chiếu hậu, tôi thấy mắt hai cậu con trai tôi ngấn
nước. Tôi nhấn nút dừng vở kịch và hỏi chúng với giọng cũng nghẹn ngào. “Các
con có sợ khi nghe vở kịch này không? Mẹ tắt nhé!” Cậu con trai lớn 8 tuổi của tôi
trả lời với giọng mếu máo, “Không. Con muốn nghe tiếp.” Cậu nhỏ tôi tiếp theo
anh nó. “Con cũng muốn nghe nữa.”

Tôi nhấn nút tiếp tục vở kịch. Đó là câu chuyện về câu chuyện về cậu bé Kirk
McGinty có ba đã tử trận trong chiến tranh Việt nam. Mẹ của Kirk cũng sang Việt
nam làm việc và gặp ba cậu nơi đó. Họ làm đám cưới ở Việt nam và có những
ngày hạnh phúc ngắn ngủi với nhau. Sau đó Mỹ quyết định rút quân khỏi Việt nam
và mẹ cậu trở về Mỹ với bào thai, là Kirk, trong bụng mà chưa kịp báo cho người
chồng còn ở lại. Và ông đã vĩnh viễn nằm xuống tại chiến trường Việt nam những
ngày sau đó. Với phong trào phản chiến leo thang, bà McGinty đã đem con rời
thành phố về sống tại một miền đồng quê để tránh cho con khỏi nghe những lời chỉ
trích và chửi bới độc địa về những người lính tham chiến tại Việt nam.

Có lẽ bà McGinty đã kể lại cho con trai rất nhiều hình ảnh oai hùng của chồng bà,
là ba của Kirk, nên cậu bé rất thích những ý tưởng về những cuộc chiến thắng,
chinh phục và chiến lược binh trận. Kirk ngưỡng mộ ba mình biết bao nhiêu thì
cậu cảm thấy sụp đổ đau đớn bấy nhiêu khi trong giờ học lịch sử, thầy giáo Altman
đã gọi cuộc chiến Việt nam là một cuộc chiến vô nghĩa. Cậu đã nán lại sau giờ học
để hỏi thầy giáo những cảm nghĩ của ông về những người lính tham chiến tại Việt
nam. Thầy Altman khẳng định lại lập trường của mình rằng chiến tranh Việt nam
là vô nghiã và cái chết của những người lính Mỹ cũng vô nghĩa như vậy. Ông còn

cho cậu bé mượn một cuốn sách trong đó tác giả mô tả những người lính Mỹ ở
chiến trường Việt nam là những kẻ giết người một cách tàn bạo.
Kirk đau đớn khi nghe những nhận xét của thầy giáo. Cậu giống như bị quật một
trận nên thân, biếng ăn, mất ngủ và không còn là một cậu bé vui tươi hiếu động
nữa. Thần tượng của cậu là người cha đã hoàn toàn sụp đổ sau những lời nói của
ông thầy dạy Sử. Ba của cậu không còn là một anh hùng mà là một tội đồ. May
mắn thay, Whit, một ông già trong phố đã nhận ra sự thay đổi của Kirk. Ông đã
tìm hiểu và đến nói chuyện với thầy giáo về ba của Kirk, một quân nhân đã tử trận
trong chiến tranh Việt nam. Thầy giáo đã nhận ra rằng ông đã quá lời.

Mẹ của Kirk cũng đau lòng khi thấy tinh thần con suy sụp. Với sự sắp xếp của ông
Whit, bà được mời phát biểu trong buổi lễ Memorial của thành phố. Hôm đó bà đã
đọc lá thư cuối cùng của chồng. Sau khi nghe lá thư của ba, Kirk đã lấy lại niềm
tin của mình, rằng ba cậu đã chiến đấu cho một lý tưởng cao đẹp và đã hy sinh thân
mình cho một sứ mạng mà đất nước đã giao phó.

Mẹ con tôi sụt sùi khi nghe câu chuyện đó. Có lẽ tôi quên nhiều chi tiết trong vở
kịch nhưng có một câu nói của người mẹ làm tôi nhớ hoài. “I’m sorry that your
father was your first test.” (Mẹ lấy làm tiếc rằng ba là thử thách đầu đời của con.)
Trong nước mắt, tôi cũng đã nói với các con tôi giống như vậy sau khi nghe xong
vở kịch. “Mẹ cũng rất lấy làm tiếc là ông ngoại cũng đã là thử thách đầu đời của
mẹ và các cậu dì, là chị em của mẹ.” Tôi đã kể cho các con tôi về những cảm nghĩ
của tôi về ba ngày ấy.

Sau năm 75, ba tôi vì đã làm việc cho chế độ miền Nam Việt nam nên ông bị bắt
giam trong tù cộng sản. Thương mẹ ngày ấy phải một mình chống chọi với đủ mọi
áp lực để nuôi đàn con thơ dại khờ. Chị em chúng tôi còn quá nhỏ để có thể sẻ
chia với mẹ những sợ hãi, gánh nặng trên thể xác cũng như tinh thần thời đó. Mẹ
mong chờ ba trở về để cất bớt gánh nặng. Mỗi lần chúng tôi ước một điều gì đó,
mẹ nói. “Khi nào ba về, thì ba sẽ làm cho con.” Tôi đặt bao nhiêu hy vọng vào ba.
Tôi tin rằng khi ba về, nhà tôi sẽ khá hơn và tôi cũng sẽ được ngẩng cao đầu với bè
bạn.

Cũng giống như cậu bé trong truyện, tôi đã nhiều lần nghi ngờ rằng có thực là ba
tôi là một người tử tế không. Hay là ba thật sự là một trong những “tên ác ôn có
nợ máu với nhân dân” như cách nói của chính quyền cộng sản. Tôi thích nhớ ba tôi thật oai trước năm 75 dẫu hồi đó tôi còn rất bé. Ba tôi trở về nhà sau những đợt công cán dài ngày và tôi ngồi dưới chân ba nhổ những bông cỏ mây bám vào vớ và ống quần khi ba đi qua vạt cỏ đến máy bay đậu trên đồng để bay về nhà. Nhưng ba tôi trông thật xơ xác khi tôi đi với mẹ thăm ba trong trại tù. Ba trông hốc hác, tiều tuỵ, yếu ớt, khác rất nhiều so với những gì tôi nhớ về ba. Mẹ bảo, “Ở tù mà con.”

Tôi nhớ hồi đó có bộ phim gì tôi không nhớ tên (mà bây giờ cũng không muốn
kiếm,) nhưng nhớ tên bài hát trong phim, “Em sẽ là hoa hồng nhỏ.” Trong phim
đó, ba của cô bé cũng như ba tôi đang ở tù. Ông đã nhận ra những điều sai trái đã
làm trong chính quyền miền Nam và đã giác ngộ. Nhà nước đã mau chóng khoan
hồng cho ông trở về sum họp với gia đình. Tôi đã ngây thơ viết thư cho ba sau khi
đi xem phim về, mong rằng ba cũng làm như ông đó để ba được chóng về với mẹ
và chị em chúng tôi. Lá thư đó có lẽ đã bị quẳng vào thùng rác, chẳng đến tay ba,
nên ba tôi đi tù đến 7 năm – một thời gian dài đủ để tôi, từ một con bé hỉ mũi chưa
sạch thành một cô bé tuổi thiếu niên với bao mơ ước.

Khi ba tôi về, gia đình tôi không khá hơn mà còn tệ hơn. Chính quyền không cho
ba tôi về ở nhà tôi nhưng bắt phải về trên quê cách chỗ chúng tôi 20 km. Nhà tôi
hồi đó chỉ có một chiếc xe đạp cho mẹ đi buôn bán. Ba không làm được việc gì cả
vì không có hộ khẩu nên không có chỗ ở. Không thể hiểu nổi cái lý luận lòng vòng
của chính quyền về cái tờ hộ khẩu, hậu khổ, tai quái đó.

Ba tôi bị bắt đi tù trước khi cái tờ hộ khẩu quái đản đó được ban hành và dĩ nhiên
là tên ông không có trong tờ hộ khẩu của nhà tôi. Họ bảo rằng ba bị bắt ở trên quê
nên khi ra tù phải về trên quê, nơi mà ba tôi không có một mảnh đất để làm nhà.
Trong khi đó cái nhà do ba tôi xây ra ở dưới thị xã, nơi mẹ con tôi đang trú ngụ thì
ba lại không được ở. Không biết là chính quyền không hiểu hay là không chịu
nghe để mà hiểu, nên cứ bắt ba tôi về quê. Công an đến soát nhà tôi mỗi đêm để
tìm bắt ba tôi vì cư ngụ bất hợp pháp. Điều trớ trêu là nhà tôi có rất nhiều người ở
trên quê xuống tạm trú. Anh chị em họ ở trọ để đi học, đi họp. Bác cậu mợ cô chú
thím dì dượng ở nhờ nhà tôi để chữa bịnh dài lâu. Chính quyền không bắt ai cả,
mà chỉ tìm bắt mỗi ba tôi. Mỗi đêm xuống là chúng tôi lo sợ. Gia đình chúng tôi
sống trong căng thẳng, sợ hãi và lo âu. Cái lo sợ đã làm mặt mày tôi lúc nào cũng
nhăn nhó, đau khổ nên bạn bè có đứa gọi tôi là bà già khắc khổ. Tôi nhiều lần ước
chi ba còn ở trong tù để cho chị em chúng tôi không bị khổ sở về tinh thần.

Có người bảo ba mẹ tôi đấm vào mõm họ … một ít tiền là xong. Ước gì nhà tôi có
tiền để làm điều đó. Mẹ lên kế hoạch dài lâu. Đem thiến hai con gà trống trong
đám gà nhà. Rồi vỗ béo và đem hiến cho họ, giống như tống cho đám quỷ sứ,
giống như là “con gà trống thiến để riêng cho thầy …” Kế hoạch thành công! Với
bao đêm ba tôi phải leo lên mái nhà để trốn mỗi khi công an đến soát nhà và chị
em tôi nín thở giả vờ ngủ, mấy tháng sau đó nhà tôi có được hai con gà trống thiến
mập mạp. Chị em tôi hí hửng. Thí cho họ một con. Còn một con, chị em tôi
mong được ăn thử thịt gà trống thiến xem nó ngon cỡ nào. Có lẽ thịt gì chúng tôi
cũng cho là ngon hết, bởi mỗi năm chúng tôi chỉ được ăn thịt một, hai lần.
Vậy mà đến Tết, ba bảo phải biếu cả hai con gà trống thiến. Một con cho ông công
an xã trên quê để ổng ký giấy cho đi và con kia cho ông công an khu vực chỗ nhà
tôi để ổng cho ba tôi ở. Chị em tôi thất vọng hết sức. Chúng tôi chẳng được ăn
thịt gà trống thiến như mong đợi. Hai con gà ra đi. Ba vẫn không được về ở nhà
chúng tôi. Đám quỷ sứ đông quá! Nhà tôi không nuôi kịp gà để … đấm vào mõm
họ. Ba bực mình bỏ Tam kỳ vào Mỹ xuân lập nghiệp.

Ba đi được vài tháng rồi gởi thư về bảo mẹ đem cậu em trai đang chuẩn bị lên lớp
6 vào ở với ba. Tôi chuẩn bị lên lớp 12 và sẽ vào ở với ba sau khi tốt nghiệp. Mẹ
sẽ ở lại Tam kỳ với cô em gái cho đến khi em học xong lớp 12 vì chỗ ba ở không
có trường cấp ba. Chị tôi chuẩn bị đi lấy chồng nên ba mẹ khỏi phải lo. Mẹ dẫn
cậu em vào với ba và khi về, mẹ kể chuyện nơi ba đến lập nghiệp. Tôi nghe mẹ kể
về miền đất ba vào sinh sống với bao háo hức. Nhà có vườn và ao nuôi cá, có
ruộng để trồng lúa đủ ăn, có đất để trồng rau và hoa quả. Người ta vào tận nhà để
mua cây trái hoa lá trong vườn, mình không phải đem ra chợ bán. Đặc biệt là vườn
có những cây xoài tượng cho trái ngọt lịm… Tôi tưởng tượng ra một cuộc sống
yên bình no đủ đang chờ đón tôi nơi miền Nam hiền hoà như tôi đã đọc trong
truyện.

Tôi đã thất vọng tràn trề khi tôi vào đến nhà ở Mỹ xuân vào tháng 6 năm 1985. Đó
là mùa mưa của miền Nam. Chiều nào trời cũng mưa. Nhà ba mua nằm trên vạc
đất thấp của khu vườn nên nước thấm vào nền nhà bằng đất, làm nền nhà trông
nhớp nháp. Căn nhà lợp lá dừa phía trong nhìn đẹp nhưng phía ngoài trông thật
xấu xí. Tường nhà thì bằng đất nhồi rơm. Mưa đổ xuống, nhà dột lung tung và
nước tạt vào tường làm ướt đồ đạc nằm sát vách. Mùa mưa cây cỏ xanh tốt vượt
lên che phủ mọi thứ làm cho căn nhà của chúng tôi trông như một cái chòi giữa

rừng hoang. Buổi tối còn thảm hơn với ngọn đèn dầu le lói trông thật buồn. Cái
cảnh đìu hiu trong rừng vắng đó làm tôi nhớ Tam kỳ đến cháy người.
Nhưng điều kinh khủng hơn cả là không có bạn bè. Tôi ngày ngày ra vườn nhổ
đậu, trồng khoai, cấy lúa, hái điều…Tối về đọc đi đọc lại vài cuốn sách tôi có
được. Đọc đi đọc lại mãi phát chán nhưng cũng phải đọc vì không có gì để giải trí.
Tôi ước mong có một người đến thăm nhưng điều tôi mơ ước là không tưởng bởi
nhà tôi ở xa đường lộ, không địa chỉ. Thư từ thì cả tháng mới tới mà cũng không
có tiền mua tem để gởi thư. Tôi và ba chỉ biết làm ruộng rẫy mà không biết tính
toán buôn bán, thành ra cuộc sống rất là chật vật. Những ngày giáp hạt, nhà không
có gạo ăn. Ba phải đạp xe đi 20 km mượn lúa của một người bà con xa. Đem lúa
về, thì lại không có tiền đi xay thành gạo. Mang xuống nhà máy xay xong, họ lấy
lại một ít gạo để trừ tiền xay.

Vài tháng sau đó, ba tôi dắt cậu em về Tam kỳ chịu tang ông nội mấy tuần. Tôi ở
một mình giữa cánh đồng hoang, xa xa mới có một hàng xóm và nhà họ lúc nào
cũng đóng cửa. Tôi thường nói chuyện một mình trong cái cô đơn tột cùng. Đó là
những ngày kinh khủng của đời tôi. Không dám bạo dạn như Scarlett thề trong
truyện “Cuốn theo chiều gió” “I’ll never be hungry again.” khi bị lâm vào cảnh đói
nghèo, tôi chỉ dám than khóc với Chúa. “…Con không muốn rơi vào cảnh đói
nghèo cô đơn này một lần nào nữa…” Và tôi cũng hát đi hát lại câu hát của Vũ
Thành An. “Về sau, và nhiều năm sau nữa, có buồn nhưng vẫn chưa bao giờ bằng
hôm nay.” Chẳng phải buồn tình nhưng buồn tủi vì nhà nghèo không đủ ăn.
Vở kịch “The Price of Freedom” này được phát thanh lần đầu tiên vào tháng 5
nhằm dịp lễ Memorial vào năm 1988. Ông xã tôi bảo lúc bấy giờ nước Mỹ đã hầu
như không còn nhớ đến chiến tranh Việt nam. Nhưng ở bên kia bờ Thái Bình
Dương, cộng sản Việt nam vẫn không hề ngơi phân biệt đối xử với những người
như gia đình chúng tôi. Lúc đó cô em của tôi vừa tốt nghiệp lớp 12 và em không
muốn rời miền Trung. Em không nộp đơn thi đại học mà chỉ nộp đơn thi vào Cao
đẳng Sư phạm Anh văn – Đà nẵng với hy vọng trường thấp hơn thì sẽ được họ cho
đi học. Em đã không có được cơ hội để đi thi chứ đừng nói gì đến chuyện đi học.
Họ đã bác đơn xin dự thi của em tôi. Tôi nghe tin và cầu nguyện để em không bị
trầm cảm bế tắc như chị họ tôi trong truyện Niềm nhớ. Dù luyến tiếc Tam kỳ
nhưng cô em tôi cũng phải theo mẹ vào ở với ba. Căn nhà ở Tam kỳ giao lại cho
chị tôi. Gia đình đoàn tụ. Ba mẹ tôi tin Chúa và cả gia đình tôi cùng đi thờ phượng Chúa ở hội thánh Phước thái gần nhà. Chúa cho gia đình tôi được thảnh thơi hơn và có bạn bè trong hội thánh đến thăm chơi. Năm sau đó, cô em tôi cũng đi học Cao đẳng Biên hoà như tôi trước đó. Mẹ mỗi ngày mang hoa quả rau củ trong vườn ra chợ bán. Mẹ đã làm cho khu vườn giống như những gì mẹ tả cho tôi
nghe trước khi tôi rời Tam kỳ. Cuộc sống của gia đình tôi khá tươm tất. Chúng tôi tưởng cuộc đời của gia đình tôi đã an bài nơi xã Mỹ xuân ven lộ 51.

Những năm 90, chương trình H.O. nở rộ nhưng ba tôi không muốn đi. Gia đình tôi
đang sống ổn định trên mảnh đất ba mua. Ba đã gần 60 tuổi nên không muốn làm
lại cuộc đời nơi xứ người, nơi mà ngôn ngữ và văn hoá quá xa lạ với một ông già
như ba để làm quen. Nhưng có lẽ cái ngại ngùng của ba là chuyện lo giấy tờ để
nộp đơn cho chương trình H.O.. Ba không muốn về Trung làm giấy tờ bởi cái ám
ảnh ghê sợ của những ngày ở tù và bị bắt bớ khi ra tù. Hồi đó tôi không hiểu
những lo âu của ba nhưng bây giờ, khi đã thấm mùi đời, tôi nhận ra những lo âu đó
là đúng.

Rồi cuối cùng gia đình tôi cũng đến được nước Mỹ , chứ không phải xã Mỹ …
xuân lèo tèo ngày xưa. Lúc tôi hai mươi mấy, tôi nghe một người nói đại loại như
thế này. “Từ nhỏ cho tới 10 tuổi, mình thấy ba giỏi quá, cái gì cũng biết. Từ 10
tuổi cho đến 18 tuổi, mình thấy ba không biết gì mấy. Từ 18 – 30 tuổi, mình thấy
ba không biết gì hết trơn. Từ 30 – 40 tuổi, mình thấy ba nói nhiều điều đúng. Hơn
40 tuổi, mình thấy ba là anh hùng.” Ngày đó tôi cười khi nghe những lời đó, nhưng
bây giờ tôi thấy quá chính xác.

Ba tôi năm nay đã ngót nghét 90 tuổi. Ông vẫn mỗi ngày lái xe chở mẹ tôi đi dạo
bờ biển thật đẹp ở Navarre, FL. Những đứa cháu nội ngoại của ba, đa số là sinh ra
ở Mỹ, có đứa nói được tiếng Việt, có đưá lọng ngọng, có đứa không nói được chữ
nào, nhưng chúng đều yêu quý ông nội/ngoại. Thằng cháu nội đích tôn nói tiếng
Việt hơi thiếu dấu nhưng thương ông nội nhất trong đám cháu. Lâu lâu nó xin ba
mẹ nó được qua ngủ với ông nội một đêm. Thằng bé nằm kế bên ông nội, kéo da
tay ông lên và nói, “Ông nội ốm quá! Chỉ có xương và da thôi. Ông nội phải ăn
nhiều lên…” Ba tôi xoa đầu cháu và chảy nước mắt.

Lúc này tôi thấy mình hay lục tìm quá khứ. Đọc những dòng nhật ký viết về ba
những ngày tháng kinh khủng ở Việt nam, đã có lúc tôi tưởng, vì ba mà đời tôi bị
dìm xuống. Tôi cũng như cậu bé Kirk trong vở kịch “The Price of Freedom”, tôi
đã ngờ vực về ba, không phải chỉ trong mấy mươi phút như trong vở kịch mà rất nhiều năm. Không biết tôi có hành xử được như ba hay không nếu tôi bị cô thế, bị bắt phải tù tội, bị bắt bớ khi ra tù, rồi lạc đến một nơi không cùng ngôn ngữ khi tuổi đã về chiều. Bây giờ nhìn thấy ba mẹ tôi sống an bình, tôi ước ngày về hưu tôi cũng được sống như vậy. Bây giờ tôi lại nhìn lên mẫu mực của ba mẹ như tôi đã nhìn ba mẹ trước năm 75 khi tôi còn bé tí. Bây giờ tôi nghiệm ra rằng thử thách đầu đời ấy đã giúp tôi khẳng định niềm tin về ba, tự hào về ba, người tôi đã kính nể lúc nhỏ và cho đến bây giờ.

Viết cho Tháng Tư!
2025
Thuỷ Như

==

TRUYỆN SỎI NGOC

Khóc Cha

Biết bao nhiêu bài viết về Mẹ, công ơn sinh thành, hy sinh của người Mẹ vào ngày lễ Mẹ, nhưng hôm nay là ngày Father’s Day, ngày của CHA, tôi phải lợi dụng ngày này để viết lên công trạng của cha không kém gì MẸ, ngược lại vai trò người cha trong gia đình tôi là điểm đặc biệt quan trọng mà những chị em gái chúng tôi không thể nào quên.

Người cha ngoài công lao dưỡng dục, mặc dù không là người trực tiếp mang nặng đẻ đau như người mẹ, nhưng người cha đổ rất nhiều công lao như đi làm kiếm tiền trang trải cuộc sống, gánh vác cả gia đình; cuộc sống có tốt đẹp, ấm no, con cái có học hành, phẩm hạnh đạo đức không, chính nhờ phần lớn mồ hôi, công sức nuôi dậy của người CHA.

Tôi là đứa con trai giữa trong gia đình năm chị em, ba gái đầu liên tiếp và hai trai sau, mà tôi là người anh đầu. Lẽ ra ba chỉ muốn có hai người con, một trai và một gái thôi, hoặc ba người là nhiều rồi, vì ba bảo có nhiều con vui thật nhưng trách nhiệm nặng nề, phải nuôi con đến nơi đến chốn, cho ăn học và đến khi chúng lập gia đình mình cũng còn phải lo!

Mỗi lần mẹ mang bầu là mỗi lần ba đặt nhiều hy vọng, mong một thằng cu! Ba hay kể với bác Tư, bạn thân của gia đình là ba cảm thấy rất phấn khích, khỏe mạnh khi “gần” mẹ, chắc chắn kỳ này phải là đứa con trai. Thế nhưng kết quả là… người chị cả ra đời!

Ba tự an ủi, nói với ông bà Nội rằng:

-Không sao, đứa đầu lòng là gái hay trai cũng được, là con gái thì sau này nó dậy dỗ trông nom em càng tốt hơn nữa, nhất là chỉ bảo em trai thì tốt đẹp biết bao.

Hai năm sau, mẹ mang bầu, ba đặt tất cả kỳ vọng vào cái bầu tròn căng vượt mặt của mẹ. Thuở ấy chưa có siêu âm ở những vùng tỉnh nhỏ, nên chỉ nhìn dáng bụng thì suy đoán là trai hay gái mà thôi; ông bà nội với nhiều kinh nghiệm, ngắm cái bầu của mẹ khi lên Dalat thăm gia đình nhỏ của chúng tôi:

-Nhìn cái bầu tròn như thế thì 80% là con gái rồi!

Ba cố chống đối:

-Nhưng sao kỳ này mẹ chúng nó lại thích ăn ngọt chứ không thích ăn chua như lần mang bầu đầu tiên, có thể nào là con …trai?

Đứa con gái thứ hai ra đời, ba có hơi thất vọng.

Đến ba năm sau, ba lại nhất định “thua keo này ta bầy keo khác”, không chịu thua số phận, hy vọng tăng trội hơn khi thấy khuôn bụng của mẹ nhỏ gọn hơn hai lần trước.

Ngày mẹ đi sanh chỉ có ông bà ngoại bên cạnh vì ba phải đi làm xa, ở Liên Khương, ba phone về thấp thỏm hỏi ông bà ngoại:

-Vợ con sanh có tốt không bố? Baby sinh ra có khỏe không? và có phải là con… trai?

Ông ngoại ái ngại, không dám trả lời liền, ngần ngừ:

-…Ưm… nhờ Trời thương mẹ tròn con vuông!… Con bé khỏe mạnh!

Ba thốt lên một cách thất vọng:

– …Lại là con gái ư?!

Một khoảng thời gian yên lặng, rồi ba nói tiếp :

-Con nhờ ông ngoại đặt tên cháu nhé.

-…Ừ được rồi, nhưng con bé này rất kháu khỉnh, có cặp mắt tròn to, da trắng và rất nhiều tóc!

-Vâng! Ông cứ đặt tên cho cháu đi nhé, con cám ơn ông bà Ngoại giúp con nuôi vợ con và các cháu nhé; con phải làm đến hết tuần này mới về nhà được ạ.

-Được rồi, con cứ an tâm đi.

Chỉ nói thế thôi, ba cúp phone tiếp tục làm việc.

Ông Ngoại trầm ngâm suy nghĩ, biết ba đã « ngán » con gái lắm rồi, nếu mẹ cứ tiếp tục cái đà này thì chắc ba ở luôn trên Liên Khương làm việc!

Ba chị gái đầu ra đời làm ba tôi chán quá, đổi nhà về Saigon làm việc để có thể thay đổi không khí, thay đổi sinh hoạt, biết đâu….

Lần thứ tư mang bầu, mẹ tôi chẳng thèm kiêng cữ gì như ba lần trước, bà ăn uống xả láng vì cảm thấy lúc nào cũng đói, nhất là rất thích ăn kem, ăn đồ lạnh.

Ngày mẹ đau bụng, mới đến nhà thương, chưa kịp vào phòng sanh, đứa trẻ đã muốn lọt ra ngoài, họ vội vàng đẩy mẹ vào phòng ngay; ba đứng bên ngoài chờ cho mọi chuyện êm thắm một chút, định bỏ về đi làm thì nghe tiếng khóc thé của tôi vọng ra; ba đã biết đó là thằng con trai!

Ba đã mừng đến rơi nước mắt và đã chắp tay cảm ơn Trời Phật ngay tại trước phòng sanh của mẹ!

Tôi được cưng chiều đến nỗi chỉ một tiếng khóc nhỏ cũng được chị vú ẵm bồng, dỗ dành.

Mỗi buổi chiều đi làm về, ba đều vào thăm thằng cu Thơm, vì hồi bé tôi thơm mùi sữa, mùi phấn lắm nên được đặt tên ở nhà là cu Thơm, ba mua đồ chơi, hôn hít, bồng bế tôi. Tôi đem niềm may mắn đến cho gia đình, ba được thăng chức, được chính phủ cấp cho nhà rộng to, rất đẹp.

Dù ba cưng chiều tôi nhất nhà, nhưng ba chị của tôi cũng được ba chăm sóc, lo lắng cho từng người. Tôi nhớ chị lớn nhất của tôi đến tuổi có bạn trai, mỗi lần anh ấy đến, ba đều hỏi gia cảnh nhà anh ấy tưởng chừng như cảnh sát hỏi cung phạm nhân vậy, đến nỗi anh ấy không dám vào nhà nữa mà hẹn chị ở góc đường, ba nói :

-Đứa nào có can đảm đối đầu được với ba thì mới xứng đáng làm con rể của ba!

Mỗi lần tôi bị bệnh thì khỏi nói rồi, ba thức đêm lo cho tôi uống thuốc đúng giờ thay vì là mẹ, ba cẩn thận đến nỗi sợ mẹ mệt ngủ quên nên ba để đồng hồ báo thức dậy đúng giờ đó, và tự tay cho tôi uống thuốc.

Sau tôi, em trai ra đời, ba rất vui mừng và ngưng tại đây.

***

Những ngày vui hạnh phúc chưa được bao nhiêu thì miền Nam bị nhuộm đỏ, công việc dưới chính quyền cũ không còn nữa, ba phải cơ cực làm những công việc chẳng phải là chuyên môn của mình, hy sinh tất cả cho các con từ hạt cơm bo bo đến miếng thịt heo cả tháng mới mua được một lần ở hợp tác xã.

Sau đó là những lần vượt biên không thành, ba bán dần dần những đồ đạc trong nhà, ba ít nói hơn, mái tóc bất ngờ chuyển màu trắng toát chỉ qua vài đêm, ngồi yên nhìn vào khoảng trống như suy tính mọi cách làm sao cho con cái thoát thân trước, rồi ba mẹ mới là người cuối cùng.

May mắn làm sao đúng vào lúc gia đình cạn kiệt nguồn vốn để dành bao lâu nay, giấy tờ bảo lãnh của người thân bên Canada về đúng lúc, chúng tôi sửa soạn rời xa quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn đến một xứ sở thứ hai với hai bàn tay trắng, tương lai mịt mờ, chỉ còn mỗi niềm hy vọng mong manh trong tim.

***

Ba mươi năm sống ở xứ Canada lạnh giá, 15 năm đầu ở Montreal, ba đã bỏ cả tự ái, quên đi cái chức giám đốc nha hỏa xa, xưa kia ở Saigon, một thời cai quản hơn cả mấy chục nhân viên dưới quyền, ba đã phải làm công nhân với mức lương 4$/ giờ trong hãng làm giầy da, sáng sớm dậy chờ bus lạnh lẽo ở đầu đường, làm cho đến chiều 5 :00 về nhà mệt nhoài. Với số tuổi không còn trẻ, 55, Ba cố gắng quên mình, bỏ tự ái để đi làm công việc tay chân với một mức lương tối thiểu mà không hề than trách, để cho chị em chúng tôi đừng bị dang dở việc học.

Vài ba năm sau, năm 1990 dù lớn tuổi, ba vẫn lấy thêm chứng chỉ học ban đêm, mỗi tối cả nhà chúng tôi đều yên lặng, ai nấy đều gục đầu vào quyển sách, chỉ nghe tiếng trang sách lật; ba thi vào một chức vụ hành chính về quyền con người của cấp thành phố Montreal, tỉnh Quebec nơi chúng tôi đang cư ngụ, chức vụ này có đến trên 10 người thi vào, chỉ một mình ba là người Việt tỵ nạn đến Quebec được ba năm rưỡi, còn những kia toàn là dân bản xứ, họ thi lên ngạch, làm lâu năm và có kinh nghiệm cả chục năm trong guồng máy hành chính này. Ba nói với chúng tôi :

-Cứ thử sức xem sao, không mất mát gì cả, nếu đậu thì cả nhà chúng ta sẽ được thay đổi đời sống, mâm cơm sẽ khác hơn, sẽ có xe đi và chỗ ở tốt hơn; nếu không được thì mình cũng học cho có thêm sự hiểu biết về luật pháp của Canada, không có gì mất công hết!

Chúng tôi rất cảm động vì thấy tuổi ba đã lớn, trên 55 mới bắt đầu học lại, ba không muốn cho mẹ phải đi làm, không muốn thấy chúng tôi phải bỏ học ngang để đi làm kiếm tiền, ba lúc nào cũng tự cho mình phải mang trách nhiệm này đối với gia đình.

Nhiều đêm thấy ba đọc sách mà quyển sách đã tự rơi xuống đất vì buồn ngủ và mệt quá, ban ngày đi làm từ sáng sớm, tối thức khuya đến 12 :00 đêm làm sao sức nào chịu nổi, tôi thương ba vô cùng, tự hứa với lòng sẽ ráng học ra trường kỹ sư để ba hài lòng.

Rồi một ngày, ba về nhà mang trên tay bao nhiêu giỏ xách, ba hớn hở nói như reo, lần đầu tiên tôi thấy ba vui như thế :

-Mẹ chúng nó này! Tôi đã… thắng rồi nhé, tôi được chọn vào làm văn phòng của chính  phủ rồi, thứ hai tới này tôi đi làm công sở mới!

Lúc ấy ở nhà chỉ còn hai anh em trai chúng tôi thôi, ba chị lớn đã lần lượt đi lấy chồng sau khi ba mẹ tôi sang được một năm, tôi và em trai đã chạy ra ôm lấy ba, chúc mừng :

-Ba giỏi quá! Chúng con phải noi theo gương ba!… Hôm ba đi thi có đông người phỏng vấn ba không?

-Cả một phái đoàn 6 người, mỗi người hỏi một vấn đề, người thì hỏi về luật lệ Canada, kẻ thì đưa ra những tình huống xem mình giải quyết thế nào, còn người thì hỏi về học vấn và công việc trong quá khứ của mình ra sao…rất stress lắm, mỗi thí sinh phải qua cả tiếng đồng hồ với họ đấy chứ không dễ ăn đâu!

-Chúng con rất hãnh diện về ba, ba giỏi quá, ba làm gương cho chúng con noi theo đó!

-Vậy mấy người kia thì sao hả ba? Họ trả lời không được hay sao?

-Họ không đủ kinh nghiệm sống và có người chưa làm qua chức vụ đó thì làm sao trả lời được, còn ba thì đã làm mấy năm giám đốc hỏa xa, lại đi tu nghiệp ở Mỹ, Pháp về thành ra đối với ba không là vấn đề gì to tát, chỉ có cái mình nói chuyện bằng ngôn ngữ của họ không nhanh bằng họ thôi, mình viết giỏi, nhưng nói thì chưa lưu loát lắm.

-Bõ công ba học hành từ cả mấy tháng nay! Đây là món quà thật xứng đáng của ba!

-Cái gì cũng phải nỗ lực để đạt được, các con nhớ nhé, muốn gì phải đạt được bằng tất cả khả năng của mình, đừng từ bỏ, hãy theo đuổi mộng ước của mình đến cùng vì mình chỉ khổ vài năm thôi mà được hưởng cả đời.

Mẹ tôi chen vào:

-Ba nó mua nhiều thịt heo, thịt vịt quay quá, hôm nay tha hồ mà ba bố con nhậu với nhau!

***

Ba làm cho công sở cấp thành phố, tiểu bang Quebec này được 10 năm, đúng 65 ba về hưu, mọi người trong sở ai cũng quý mến ba, ba được thưởng bonus và được tiền hưu cao. Lúc ấy tôi và em trai đã tìm được một công việc khá ở Toronto về kỹ sư điện tử đã được trên sáu năm và cũng đã lập gia đình; ba mẹ muốn về gần con trai và các cháu nhỏ, nên đã từ giã Montreal, không muốn ở chung với các con, mà muốn ở riêng và thỉnh thoảng chúng tôi đến thăm.

Mẹ mất khi 70 tuổi, sự ra đi nhanh chóng của mẹ làm cuộc sống của ba bị mất thăng bằng, ba không còn thấy vui sống nữa, nhưng vẫn cố gắng giữ nụ cười khi gặp con cháu. Ba cố gắng tự mình di chuyển bằng xe đạp, bằng phương tiện giao thông công cộng như bus hay metro để đừng phiền đến ai, ba cũng tự học làm cơm mà từ trước đến nay ba chẳng bao giờ đụng đến bếp núc mà chỉ lo kiếm tiền cho gia đình mà thôi, ba ăn uống qua loa…Vì thế nên ba ngày càng gầy đi, mỗi lần gặp chúng tôi ba đều cố vui để chúng tôi đừng lo lắng, đừng mất công làm cơm đem đến cho ba:

-Ba khỏe mạnh lắm, không bệnh hoạn gì hết, các con cứ lo đi làm, lo cho các cháu là được rồi, đừng mất công đem gì đến cho ba, ba đặt đồ ăn ở gần đây, họ làm ngon lắm.

Đến một ngày, tôi nhận được phone của ba từ nhà thương, ba cố nói với giọng vui vẻ:

-Ba đã xin được một chỗ ở đây rất tốt, phải chờ đợi lâu lắm mới được chỗ này đó, họ làm cơm cho mình ngày ba bữa, nơi đây vừa gần chỗ các con ở, vừa gần …nhà quàn…

-Ba! Cái gì vậy? Tại sao ba lại vào nhà thương ở? Chỗ đó đâu phải….Sao ba không bàn gì với chúng con? Cancer phổi của ba các bác sĩ nói vẫn được theo dõi ok mà? Ba có bị đau đớn không? Ba có buồn giận gì chúng con không?

-Không đâu, chính ba là người quyết định, các con không có lỗi gì ở đây cả! đời người cũng phải có cái hạn mà con, ba đã sống hết đời rồi; từ ngày mẹ con qua đời đến giờ ba sống thật bấp bênh, thấy thiếu thốn một cái gì đó, cuộc sống không còn vui, không còn chất lượng nữa… Ba muốn…đi gặp Mẹ! Tuy nhiên, ba rất vui thấy các con đã thành công, tự lực, nuôi nấng và giáo dục các cháu rất tốt, đó là điều mà ba thấy hạnh phúc nhất. Ba thấy mình đã thực hiện được ước mơ, trách nhiệm đã xong, sống lâu quá chỉ làm phiền các con cháu mà thôi, ba chọn cách ra đi nhẹ nhàng nên mới vào nhà thương này….

Ba phone đến các chị lớn để “trăn trối”, dặn các chị phải làm gì sau khi ba ra đi, ba muốn được thiêu, tro của ba hãy để vào chùa, chỗ bên cạnh mẹ mà ba mẹ đã chọn mua, ba để lại gia tài cho đứa nào cái gì…

Chúng tôi chỉ yên lặng nghe quyết định của ba mà trái tim tan nát, nước mắt rơi không ngừng, không nói được điều gì khi thấy ba đã suy nghĩ, đã sắp xếp cho chuyến đi xa của ba được toàn vẹn. Các chị tôi lúc nào cũng túc trực bên cạnh nhà thương; khi vào thăm ba, thấy ba còn mạnh khỏe, vẫn tự mình làm vệ sinh cá nhân, ăn uống ngon miệng đồ ăn của nhà thương, nơi đây là chỗ để cho những người bệnh già ở, không bị bệnh nặng lắm, có những người ở đây đến hai năm vẫn chưa ra đi.

Chúng tôi nhắc lại những kỷ niệm xưa với ba, nói những chuyện vui để ba có thể quên đi cái thực trạng bệnh hoạn, ba chỉ cười mỉm và lúc nào cũng nhắc nhở chúng tôi:

-Nhớ trông nom các em, các cháu cho tốt nhé, ba ra đi sẽ phò hộ cho các con!

-Ba ơi, ba hãy đi đầu thai, hãy làm việc của ba, đừng vì chúng con nữa ba nhé, ba đã cho chúng con một đời này là được rồi ạ!

Đến tháng thứ hai ở nhà thương, lúc 3:00 sáng, tôi nhận được cái phone định mệnh reng lên giữa đêm, họ nói ba đã từ chối ăn uống, cũng như uống thuốc từ hai hôm nay, để được thảnh thơi ra đi…Ba tôi hưởng thọ 86 tuổi!

Cha đi, bóng xế bên thềm,
Lá rơi theo gió, nỗi niềm rụng theo.
Lặng thầm lệ ướt khăn treo,
Con ngồi thổn thức giữa chiều buốt tim.

Một đời cha gánh nổi chìm,
Cho con nắng ấm, cho tim yên bình.
Giờ đây trời đất lặng thinh,
Cha ơi… tiếng gọi chỉ mình con nghe.

Sỏi Ngọc

Montreal June’25

==

==

*

THUYỀN RA KHƠI … TUYẾT PHAN

   Hôm nay nhân Mùa Thế Giới Lễ Cha
Tôi viết bài tự tình này cùng vẽ bức tranh THUYỀN RA KHƠI để tưởng nhớ về CHA của tôi .

Năm 1975, khi MNVNCH rơi vào tay cộng nô , Cha của Tôi ông rất đau buồn
Cha thương nhớ các con bị tù đày và mất xác trong chiến tranh .
Ngày đêm cha đau khổ trầm ngâm .
Bỗng một hôm Cha đóng cửa phòng và ở mất trong phòng hết mấy hôm
Cha chỉ ra ăn cơm và trở vào phòng không nói gì cả .
Sau đó Cha khăn áo ra phố và rồi trở về với nhiều thứ lỉnh kỉnh trên tay.
Nào là những tấm thiếc mỏng , những lon sơn đỏ vàng và nhiều thứ nữa .
Sau đó Cha bắt tay vào việc ,
Cha đưa cho Tôi bản vẽ và nhờ Tôi vẽ lên những tấm thiếc mỏng .
Tôi ngỡ ngàng khi thấy mẫu Thuyền mà Cha đã nhốt mình mấy ngày trong phòng âm thầm vẽ …
Hai Cha con yên lặng bên nhau làm việc.
Hì hà hì hục sơn sơn vẽ vẽ…hàn giủa cả tháng trời mới làm xong một số thuyền nhỏ chạy bằng dầu.
Lúc Cha hàn, Cha cắt, Cha ghép từng mảnh thép thành những chiếc thuyền
Cha nói xa xăm , Cha nói bóng gió.
Cha như truyền hết tâm huyết của mình vào những cánh buồm nho nhỏ…
Cha tâm sự với con gái mà như nói với chính Cha trong suốt thời gian thực hiện tâm huyết của mình.
Sau khi những chiếc thuyền nhỏ chạy bằng dầu đã hoàn thành
Cha cùng con gái mang ra phố rao bán THUYỀN


Hai Cha con trải một tấm khăn màu xanh (mà Cha ám chỉ là Đại Dương) sắp xếp những chiếc thuyền sơn màu vàng và có những vạch thẳng màu đỏ hai bên hông thuyền .
Mới thoạt nhìn không ai để ý thì sẽ không biết đó là biểu tượng của Cờ Vàng 3 Sọc Đỏ mà Cha Tôi đã khéo léo gởi gắm tâm nguyện của mình.
Cha để một chậu nước cùng vài ba chiếc thuyền nổ phành phạch chạy vòng vòng.
Hai Cha con tôi cùng phụ họa rao bán:
THUYỀN RA KHƠI ĐÂY VÀNG VÀNG ĐỎ ĐỎ MUA VỀ CHO CON TRẺ RA KHƠI CHO VUI CỬA VUI NHÀ …


(viết đến đây nước mắt của tôi đã ràn rụa )
Ý Cha tôi muốn NHẮN GỞI VỚI THẾ HỆ HẬU DUỆ HÃY RA KHƠI VƯỢT BIỂN TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC.


Lúc đó tôi đã hiểu được tâm huyết của Cha nên cũng chẵng còn mắc cỡ  gì cả (dầu gì đi nữa khi chưa mất nước Tôi cũng là một tiểu thư )
Tôi cùng Cha rao bán với một giọng rao hàng rất tự hào.
Sau đó bạn bè của Cha tôi có đến nhà và thân tình hỏi nếu Cha tôi cần tiền họ sẽ giúp chứ tại sao ra chợ rao bán từng chiếc thuyền con làm khổ thân như thế.(Tôi biết Cha tôi không thiếu tiền …)
Tôi nhớ có ông Bác Sĩ TênTrần văn Cát là bạn rất thân với Cha đã thì thầm to nhỏ với Cha hàng giờ trong phòng.
Trước khi ra về ông còn căn dặn Cha tôi:
*Hòa ơi, nếu có cần gì hãy đến gặp tôi .( Hòa tên Cha tôi)
Sau đó Cha tôi ngã bịnh.


Một vài năm sau khi tất cả các anh tôi chưa ra khỏi tù đày của bọn cộng sản và xác thân của một người anh ruột và một người anh rể chưa tìm ra thì Cha tôi đã bỏ lại Me Con tôi ra đi sau hai cơn nhồi máu cơ tim .
Lúc đó tôi đang ở xứ người xa xăm hay tin Cha mất tâm can tôi tan nát như có ngàn kim châm
Hiện giờ tôi đang có chung căn bệnh Tim với Cha.


Mỗi lần cơn đau tim rủ nhau về Tôi thấy như gần gũi bên Cha của mình hơn …


Một ngày cuối Xuân ở quê người  nhớ CHA

 Belgique tháng 6 – 2015

Tuyết Phan

==

==

=

Năm ấy chị Vân từ Mỹ gọi điện thoại cho tôi:

–        Loan ơi, còn nhớ anh “Hùng Từ” không?

–         Nhớ chứ, anh Hùng Từ… lừ đừ như ông Từ vào đền chứ gì. Chính nhóm tụi em đặt tên “Hùng Từ” cho anh ấy mà. Ủa, sao bỗng dưng chị lại nhắc đến anh Hùng? Lúc em lên đường đi Canada, chưa kịp viết thư về trại thì vài tuần sau anh ấy cũng đi Mỹ, nên mất liên lạc luôn từ đó.

–          Chị và anh Hùng ở cùng tiểu bang Florida mà hồi nào giờ có biết đâu. Tuần trước chị tình cờ gặp một người bạn trại tị nạn Thailand, được biết anh Hùng đang buồn lắm, trầm cảm sắp… tâm thần rồi kìa.

Tôi hốt hoảng:

–        Trời ơi, chuyện gì vậy? Bao lâu nay mới nghe tin anh Hùng lại là tin không vui.

–          Bé Ngân con gái anh bị chết đuối khi đi tắm biển. Anh tự trách tự giày vò, vì cái chết của con ngay trước mắt mà không cứu được nó và vì anh mang con đi tắm biển mới ra nông nỗi. Bạn bè thân quen đã an ủi khuyên nhủ mà anh vẫn sầu u không nguôi và rồi anh cắt liên lạc, tự cô lập, không tiếp chuyện với ai. Chị cố gọi mấy lần anh vẫn không bắt máy dù đã để lại lời nhắn là bạn chung phòng Cao Ủy Thailand với anh.

Chị Vân thúc giục tôi:

–        Loan gọi anh ấy đi, hồi đó Loan và anh Hùng thân nhau, Loan còn là “đồng minh” giúp anh ấy mà, chị tin là anh Hùng sẽ tiếp chuyện và nghe lời khuyên của Loan.

……………………………………………………..

Anh Hùng mà chúng tôi gọi anh là “Hùng Từ” vì anh hiền hòa như ông Từ trông đền, sống ở trại anh thân thiện với mọi người xung quanh, chẳng kiêu căng dù anh là thông dịch viên giỏi nhất nhì phòng Cao Ủy, cũng chẳng xích mích với ai, nên được nhiều người quý mến.

Anh vượt biên đến Thailand cùng đứa con gái 6 tuổi, để lại vợ và đứa con trai ở quê nhà.  Bé Ngân thông minh lanh lợi luôn quấn quýt bố. Ngân lớn thêm 3 tuổi nữa theo thời gian ở trại vì đợi chờ thanh lọc. Tôi thân với cả hai bố con, vì ở phòng Cao Ủy tôi và anh Hùng là đồng nghiệp, ở trường Việt Ngữ tôi là cô giáo của bé Ngân, và tôi ở chung nhà với 3 cô bạn gái là thành viên ca đoàn Nhà Thờ, phụ trách các em Thiếu Nhi Thánh Thể mà bé Ngân cũng là một bé ngoan của Thiếu Nhi Thánh Thể.

Rồi bỗng một ngày, anh Hùng có… người yêu, là chị Hương y tá bệnh viện trại. Anh Hùng tâm sự với tôi, em biết rồi đấy, chuyện tình yêu khó nói lắm, cả anh chị đều có gia đình ở Việt Nam, cuộc tình này là sai trái, nhưng lý trí phải chịu thua lý lẽ của con tim rung động, dù biết trước không lối thoát, không có đoạn kết trọn vẹn.

Cuộc tình này đã bị bé Ngân phản đối quyết liệt. Anh Hùng mỗi sáng đi làm, gặp tôi rầu rĩ:

–        Hễ mỗi lần Hương đến chơi nhà, là bé Ngân sưng sỉa ra mặt, hỏi gì cũng chẳng trả lời, cứ kè kè kế bên anh, ôm cổ ôm vai anh trước mặt Hương, tụi anh có nói chuyện được gì đâu.

Có lần anh đưa tôi lá thư:

–        Chút xong việc, em chuyển thư này cho Hương giùm anh nhe!

–        Trời, trại tỵ nạn bé tí, có ngăn sông cách núi gì đâu, mà phải thư với từ?

–        Em không biết đấy thôi, bé Ngân không cho anh một phút rảnh rỗi một mình, lúc sáng nó đi học Việt Ngữ lớp em dạy thì anh cũng đến mở cửa văn phòng sớm, trưa anh về lo cơm nước hai bố con, rồi lại đi làm, chiều về ăn cơm xong, hai bố con đi lễ, cứ thế nó bám anh cả ngày lẫn đêm. Chưa hết, từ ngày anh quen Hương, thỉnh thoảng nó chạy qua văn phòng để… chơi với bố mà thực ra là để canh chừng, nếu không thấy bố trong phòng Cao Ủy là về nhà nói hạch hỏi đủ điều …

–        Vụ này căng quá anh nhỉ! À, em có tin vui nè, Cha mới thông báo thành lập phong trào Thiếu Nhi Thánh Thể, mỗi tuần hai lần, sau giờ Lễ, các em ở lại sinh hoạt một tiếng, anh đưa Ngân đến ghi danh nhe, coi như anh có hai lần trong tuần tự do hẹn hò.

Nói xong, tôi thấy mình thật vô duyên, đã ngầm “vẽ đường cho hươu chạy”, ủng hộ mối quan hệ sai trái này, mà thực tình là tôi chỉ nghĩ đến bé Ngân, muốn cho Ngân có dịp vui chơi với các bạn . Cũng có lúc tôi từng nghĩ đến việc góp ý khuyên anh Hùng dừng chuyện “con tim”, nhưng tôi có tư cách gì? Anh lớn tuổi hơn tôi cả hơn một con giáp, khi Sài Gòn sụp đổ năm 75 anh cũng mới ra trường Quốc Gia Hành Chánh, tài giỏi khôn ngoan như thế, đâu cần tôi khuyên với bảo.

Dù sao Ngân cũng chỉ là đứa bé 9 tuổi, ham vui, nên mau chóng gật đầu tham gia nhóm Thiếu Nhi Thánh Thể của Nhà Thờ, nhưng đến ngày sinh hoạt là nó dặn, bố không được đi đâu đấy nhé, con mà biết bố đi gặp cô Hương là con giận bố luôn đấy.

Được vài tuần, anh Hùng lại than thở:

–        Mệt quá Loan ơi, những lần hẹn hò chỉ được một tiếng, đi dạo, vào quán cafe là đã gần hết giờ, anh lại sợ bé Ngân kiểm tra đột xuất nên anh luôn về nhà sớm 15 phút, thật đúng là “vội vàng thay những phút yêu người”, thì Hương lại giận hờn, bảo anh sợ con hơn là yêu cô ấy, rồi có hôm Hương không thèm ra chỗ hẹn, anh ở giữa hai bên, khổ thiệt.

Tôi được dịp cười chọc quê anh:

–        Thì tự anh đâm đầu vào “thú đau thương” thì ráng mà chịu, có ai ép uổng gì đâu nà!

Rồi một ngày, anh Hùng qua bàn làm việc của tôi, thỏ thẻ:

–        Loan à, ngày mai cuối tuần, anh được mời đi dự tiệc tiễn người bạn chuyển trại đi định cư, Hương cũng được mời, anh sợ bé Ngân đòi đi theo, nên anh nhờ Loan cầm số tiền này, chiều mai hai cô cháu đi ăn hủ tíu, đi chơi vòng vòng trong trại để anh thoải mái đi tiệc, sau đó sẽ đi chơi riêng với Hương, tổng cộng khoảng …ba tiếng, được không em?

Tôi trố mắt nhìn, anh vội giải thích:

–        Anh biết Ngân thương và nể em lắm, anh muốn em lựa lời nói chuyện với nó, cho nó bớt… căng thẳng, bớt ngăn cấm bố.

–        Trời đất! Anh sai rành rành mà biểu em nói gì với Ngân, hơn nữa, anh đang đưa em vào tội “đồng lõa” đấy!

–        Anh năn nỉ em đó Loan, anh hứa chỉ một lần này thôi, vì Hương sắp có kết quả thanh lọc rồi.

Cuối cùng, anh Hùng và tôi cũng tìm được lý do để anh được đi tiệc một mình, và tôi dẫn bé Ngân đi ăn hủ tíu. Trong lúc ngồi ăn, trời tối gió mát rượi, tôi thấy Ngân vui nên hỏi nó nghĩ sao về chuyện bố quen cô Hương, nó nói:

–        Con thương bố, con thương mẹ, không muốn mẹ buồn.

Tôi bào chữa:

–        Ở trại, đôi khi có những tình cảm đồng nghiệp thân thiết, rủ nhau đi uống cafe, đến nhà nhau ăn cơm là chuyện bình thường.

–        Nhưng nếu bố đi với nhiều người thì không sao, mà đi riêng với cô Hương thì con không chịu.

Ăn xong hủ tíu, tôi ráng “câu giờ” ngồi lại, kêu thêm hai ly chè đậu xanh, hai cô cháu nhâm nhi chè, ngắm thiên hạ đi qua đi lại, vẫn chưa đủ ba tiếng như giao hẹn với anh Hùng. Tôi đưa bé Ngân đi dạo vòng quanh trại để… tập thể dục, nó than mỏi chân, tôi rủ nó về nhà, nơi tôi ở với mấy cô bạn thân đi chung chuyến tàu vượt biên. Nhóm bạn này chẳng lạ gì bé Ngân vì họ là các “Trưởng” trong Đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể. Vì đã được tôi báo trước sự tình nên họ rủ thêm vài em nhỏ khác, tôi mua một ít bánh kẹo, chúng tôi bày ra trò chơi ca hát, đố vui đủ kiểu, khiến Ngân thích thú, quên cả chuyện canh chừng bố.

Anh Hùng đã nói đúng, sau đó ít lâu, Hương nhận kết quả rớt thanh lọc, rồi đăng ký hồi hương, chị ấy không muốn tái thanh lọc, kéo dài thời gian vô ích ở trại. Buổi sáng tiễn đoàn xe hồi hương ra phi trường Bangkok xong, tôi và anh Hùng đi dạo ngoài bãi đá, tôi nói:

–        Thôi duyên phận anh và chị Hương đến đây là hết, cũng như nhiều cuộc tình nơi trại tạm dung này, coi như là kỷ niệm “người đi qua đời tôi!”.

Anh Hùng cười buồn:

–        Tụi anh đã biết trước ngày này, nhưng vẫn thấy buồn và thật buồn.

Tôi phá tan bầu khí nặng nề:

–        Từ nay bé Ngân yên tâm rồi nhé.

Anh thú tội:

–        Anh chưa kể em nghe, tuần trước Hương bị cảm, anh không biết tìm cách nào đến thăm Hương, chả lẽ lại nhờ vả em nữa, nên anh chờ buổi tối Ngân ngủ say, anh lén chạy qua nhà Hương, ai dè lúc gần sáng quay về không thấy Ngân trong mùng, thì ra nó tỉnh giấc không thấy anh nên chạy đi tìm. Nó khóc quá chừng, từ đó đến nay tối nào ngủ cũng ôm bố thật chặt.

–        Anh hư thật đấy!

–        Sáng nay anh nói với nó, chút bố tiễn cô Hương về Việt Nam, con không cần ôm bố ngủ nữa nha, em biết nó nói sao không?

–        Sao hả anh?

–        Nó ngúng nguẩy bảo, con vẫn cứ ôm bố ngủ, vì sợ bố lại có… cô khác, con chỉ muốn bố là của con thôi.

–        Ôi dào cái con bé này, cứ làm như bố nó là vàng bạc châu báu không bằng á!

Vậy đó, bao nhiêu kỷ ức với anh Hùng và bé Ngân lần lượt quay về làm tay tôi run run khi cầm tờ giấy ghi số phone anh Hùng mà chị Vân vừa đọc cho tôi. Tôi bấm số, tim đập nhanh vì hồi hộp, bởi chị Vân nói, Ngân mới mất một hai tháng, anh ấy vẫn còn đớn đau day dứt, không tiếp chuyện bất cứ ai nhất là những người chung trại tị nạn cũ . Bỗng có tiếng “A lô, ai đó?” làm tôi giật mình:

–        Anh Hùng ơi, Loan đây, Loan Bưu Điện Loan Cao Ủy ở trại đây!

–        Ồ…Loan! Có gì không em?

Tôi nói nhanh:

–        Anh ơi, đừng cúp phone em nhé, em biết hết rồi, em đau lòng và thương Ngân lắm, nên muốn chia sẻ nỗi đau này cùng anh …

Anh vẫn im lặng, tôi vội nói tiếp:

–        Mong anh đừng quá đau khổ, cầu xin Chúa thương linh hồn bé Ngân, và thời gian sẽ chữa lành vết thương lòng của anh.

Anh bất ngờ bật khóc:

–        Loan ơi, anh đã giết con anh!

–        Sao anh lại nói thế?

–        Bố con anh vừa bảo lãnh vợ và con trai anh qua một thời gian, anh sắp xếp chuyến đi biển cho cả nhà, đến gần ngày đi, Ngân bảo bận chút việc học muốn dời ngày khác, nhưng anh bảo bố đã chuẩn bị hết rồi, đã xin nghỉ phép mấy ngày, thế là Ngân vâng lời đi theo. Có ngờ đâu, Ngân đang tắm biển bị sóng đánh ra xa, đưa tay cầu cứu anh nhưng đã không kịp, anh đã giết con anh rồi Loan ơi!!

Tôi chỉ biết im lặng, thổn thức cùng anh, anh vẫn khóc:

–        Ngân không những là con gái, mà còn là người bạn, nó hiểu anh nhiều lắm. Chúa đã trừng phạt anh phải không em, vì tội lỗi của anh ở trại, nên Chúa lấy đi đứa con yêu quý của anh.

–        Chuyện đã lỡ rồi, chẳng ai có tội lỗi gì cả, số phận đã thế, anh đừng tự dằn vặt mình nữa.

Anh còn nói thêm vài câu buồn bã, rồi bảo tôi từ nay đừng gọi, anh sẽ đổi số phone, tôi cố vớt vát:

–        Anh Hùng, xin anh đừng nghĩ quẩn và em tin rằng anh sẽ vượt qua nỗi đau này.

………………………………………………………………………………………………

Thế rồi một hôm, sau mười lăm năm kể từ lần gọi phone ấy, tôi bỗng nhận được một cú phone lạ, lẽ ra tôi đã không trả lời vì ngại gặp quảng cáo hoặc bẫy lừa tiền, nhưng như có điều gì thúc đẩy, tôi đã nghe phone:

–        Có phải Loan không, anh Hùng Từ đây!

Tôi vui sướng reo lên:

–        Anh Hùng Từ! Anh Hùng Từ… Sao bây giờ anh mới gọi cho em?

–        Anh tìm kiếm số phone của em mãi mới được đấy, đừng giận anh nhe!

Thế là, anh vẫn là anh Hùng Từ của ngày xưa, giọng nói từ tốn ấm áp, kể cho tôi nghe về khoảng thời gian đã qua. Anh vật lộn, chữa bệnh trầm cảm suốt 6 năm trời, bên cạnh bác sĩ tâm lý, uống thuốc theo toa, là sự chăm sóc đầy kiên nhẫn yêu thương của vợ hiền và con trai, cũng như sự khuyến khích từ các đồng nghiệp thân thiết nơi công ty anh làm việc. Có khi, nhớ lại lỗi lầm ở trại tị nạn, anh muốn tâm sự với vợ, nhưng nghĩ đến bé Ngân, anh lại thôi.

Khi hai bố con qua Mỹ định cư, bé Ngân vừa đi học vừa phụ giúp anh chuyện cơm nước, nhà cửa để anh yên tâm đi làm, hai bố con gắn bó như hai người bạn. Khi vợ và con trai đến Mỹ đoàn tụ là lúc bé Ngân ở tuổi 15, con rất khéo léo, không bao giờ nhắc lại chuyện ở trại, luôn chuyển qua đề tài khác, để anh đỡ áy náy bối rối trước mặt vợ. Dù anh không dặn dò, bé Ngân vẫn không kể tội của anh cho vợ anh biết. Những lúc có riêng hai bố con, Ngân còn ngầm nhắn nhủ anh, bố hãy quên đi dĩ vãng ấy, để gia đình chúng ta bình yên hạnh phúc.

Sau khi vượt qua căn bệnh trầm cảm, anh trở lại đi làm full-time cho đến khi anh và vợ nghỉ hưu, sống gần nhà vợ chồng con trai để phụ trông chừng đứa cháu nội, niềm vui đơn giản của tuổi xế chiều.

Chúng tôi cùng hồi tưởng về thời gian ở trại với nhiều kỷ niệm của bé Ngân. Anh vui vẻ khoe:

–        Anh rất thích tấm hình hai bố con anh chụp trước văn phòng Cao Ủy bên giàn hoa giấy đỏ trong một bữa tiệc, anh không nhớ hôm ấy là tiệc gì, nhưng anh nhớ bữa đó bà trưởng Cao Ủy người Thái nhờ tụi em nấu nồi bò kho ăn với bánh mì.

–        Ôi, em nhớ rồi, đó là tiệc nhân dịp Sinh Nhật Đức Vua Thái. Hôm ấy Ngân mặc áo đầm màu xanh, tụi em chải tóc và thắt nơ cho bé Ngân chớ ai!

–        Đúng rồi! Anh đã phóng to tấm hình ấy, treo ở ngoài phòng khách nhà anh nè. Ngân cười rất xinh đẹp.

Rồi chúng tôi lại lan man, nhớ đến những bạn bè chung phòng Cao Ủy, những kỷ niệm của mấy năm dài nơi trại tạm dung thật khó quên, và anh Hùng nhắc đến chị Hương:

–        Khi Hương về Việt Nam tụi anh cắt đứt liên lạc từ ngày ấy, nhưng anh có nghe nói, cuộc sống của Hương bên quê nhà cũng khấm khá. Hai vợ chồng Hương có một xưởng gỗ ở Thủ Đức, vợ chồng, con, cháu sum vầy bình yên.

–        Vậy em mừng cho chị ấy.

Cuộc nói chuyện dài hơn hai tiếng. Cúp phone xong, lòng tôi lâng lâng niềm vui rộn ràng, khi nhớ lại câu kết của anh Hùng:

–        Loan biết không, thỉnh thoảng nhìn lên tấm hình hai bố con treo trên tường, anh vẫn thì thầm với Ngân: “Con gái bé bỏng của bố ơi! Cám ơn con đã đến với cuộc đời bố, để yêu thương, cảm thông và tha thứ những sai lầm của bố. Hồi ấy con sợ mất bố, nhưng rồi bố lại mất con. Hãy giữ nụ cười tươi xinh như thế trên nước Thiên Đàng con nhé, và đừng quên rằng, bố vẫn mãi là của con!”

Edmonton, Fathers Day 2026

=

KIM LOAN

THÁNG SÁU

Tháng Sáu lòng ngẩn ngơ

Nhớ cơn mưa mùa hạ

Cành hoa ép trong vở

Ngày chúng mình cách xa

*

Người chung trường khác lớp

Cho tôi biết mộng mơ

Buổi học cuối man mác

Giã từ tuổi ngây thơ

*

Nhìn nhau một lần nữa

Ve sầu kêu bơ vơ

Sân trường buồn nức nở

Giờ biệt ly, ai ngờ!

*

Màu phượng đỏ tươi thắm

Mênh mông một góc trời

Cành rung rinh trong nắng

Để tim ai rối bời

*

Cô bé tôi đang khóc

Thương nhớ tuổi học trò

Bạn bè và sách vở

Những khuôn mặt Thầy, Cô

*

Và ánh mắt người nữa

Nụ cười hiền chơi vơi

Những buổi chiều tan học

Theo bước tôi, lá rơi

*

Hạt mưa bay nhè nhẹ

Vương vấn cả con đường

Lòng tôi thầm van khẽ

Đừng ướt áo người thương

*

Xin đường về dài mãi

Xao xuyến với bâng khuâng

Có ai mong hè đến

Có ai buồn lắm không?

*

Phút chia tay lưu luyến

Kỷ niệm bao ngày qua

Mây lưng trời giăng kín

Che mắt buồn thiết tha

*

Mình xa nhau từ đấy

Trách chi thuở dại khờ

Nghìn trùng xa biết mấy

Thời gian trôi hững hờ

*

Để hôm nay tôi nhớ

Tháng Sáu về trời mưa

Hoa phượng xưa rực rỡ

Tôi chép vội bài Thơ!

KIM LOAN

(Trời không mưa, anh có lạy trời mưa 🎶😱??)

==

NGÀY TỪ PHỤ – THƠ HỒ DUY HẠ

*

Dâng lên Ba nhân ngày Lễ Từ Phụ
Cảm xúc này xin báo đáp đền ơn
Công cha cao như ngọn núi Thái sơn
Luôn dưỡng dục đàn con hiền thơ dại

*

Dầu gian khổ Ba chẳng hề quản ngại
Vì đàn con Ba chia xẻ yêu thương
Dạy dỗ con nên phấn đấu kiên cường
Luôn đứng vững trên đường đời chớ ngã

*

Phải hy sinh với nụ cười buông thả
Và Đức Tin Trông Cậy Đấng Quyền Năng
Công ơn Ba nuôi nấng con trưởng thành
Giờ khôn lớn tình Ba luôn cao quý

*

Ngày Lễ Cha con tâm tình thủ thỉ
Mong Ba hiền sống khỏe với đàn con
Để chúng con phụng dưỡng cho đạo tròn
Về sum họp làm quả dâng Từ Phụ

Xin gởi đến những người Cha

HAPPY FATHER’S DAY
Hồ Duy Hạ

*

KHÓC BA – HỒ DUY HẠ

*

Duy nhất Ba ơi niềm tâm sự
Nỗi lòng thân phụ con cưu mang
Gần Ba cuối đời không là mấy
Thương tiếc Ba yêu lệ tuôn tràn.

*

Khóc Ba thương nhớ ôn kỷ niệm
Công lao dưỡng dục nuôi đàn con
Mất Ba bây giờ con nuối tiếc
Cứ tưởng bên con Ba vẫn còn…

*

Kỷ niệm luôn mãi tình Ba Mẹ
Nay đã đoàn viên nơi suối vàng
Ảnh hình ghi lại buồn muôn thuở
Thương lắm Song Thân lòng chứa chan

*

Ước nguyện con chưa được hoàn thành
Ba ơi sao lại đi quá nhanh
Bao nhiêu công việc chưa hoàn tất
Đè nén đau thương buồn bao quanh.

*

Nghẹn lòng không thể nào con tưởng
Hình ảnh xưa nay cứ xuyến xao
Gợi về ký ức chan dòng lệ
Gọi Ba nhớ Mẹ khóc nghẹn ngào.

Father’s Day nhớ Ba rất nhiều.
San Jose June 2026
Hồ Duy Hạ.

==

Chiều muộn của ngày thứ Sáu trước thềm Lễ Cha (Father’s Day). Không khí trên đất Mỹ nhộn nhịp hơn hẳn thường ngày. Những biển hiệu “Happy Father’s Day” rực rỡ treo khắp nơi, các cửa hàng bánh ngọt, sô cô la ngập tràn những chiếc bánh kem trang trí hình chiếc thắt lưng bản lớn, chiếc mũ nồi duyên dáng, cặp kính tròn vo, hay những bộ râu ngộ nghĩnh.

Jamie bước ra khỏi bệnh viện sau một ca trực dài căng thẳng, chiếc áo blouse trắng gấp vội trong ba lô nhẹ nhàng, nhưng gánh nặng trong lòng thì chẳng thể cất đi. Là một bác sĩ nội khoa, mỗi ngày cô đều phải chứng kiến ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết, đối diện với những nỗi đau thể xác lẫn tinh thần của bệnh nhân, nên những nỗi buồn vu vơ không có thời gian xuất hiện trong tâm trí.  Nhưng hôm nay, khi cởi bỏ chiếc áo blouse trắng, Jamie chợt thấy lòng mình chùng xuống và tim như thắt lại bởi một nỗi niềm riêng. Ngày Lễ Cha năm nay trùng hợp đến nghiệt ngã, là đúng tròn hai năm cô và Đức ký vào tờ đơn ly dị, và gần đúng một năm ngày người cha thân yêu của cô lìa trần.  Nghĩ tới đây, Jamie quẹo xe tấp vào siêu thị Safeway gần nhà để mua hoa về dâng lên bàn thờ bố.

Những bước chân Jamie trong siêu thị như bồng bềnh trên cơn sóng, khi cô vừa đi vừa nghĩ về bố. Trong phút chốc, không gian ồn ào của siêu thị Safeway như lùi xa, nhường chỗ cho cuốn phim ký ức trào dâng, đưa nàng trở về với những năm tháng bảng lảng sương mờ quá khứ.

Bố cô, ông Luận từng là một Sĩ quan Bộ Binh trong Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Jamie nghe kể lại, sau biến cố năm 1975, ông bị tù đày biệt tích trong những trại cải tạo khắc nghiệt miền Bắc xa xôi suốt 5 năm trời. Ngày bước ra khỏi trại giam, thân hình ông gầy gò, bước chân xiêu vẹo, và đôi tay chai sần, nhưng đôi mắt vẫn sáng ngời nghị lực.  Sau đó ông tìm đường vượt biển dắt theo Lan người vợ trẻ, khi ấy đang mang thai Jamie được hai tháng, xuống một con thuyền nhỏ cùng vài chục người, đánh cược mạng sống với đại dương song gió để tìm tự do.

Nhưng con tàu định mệnh ấy đã gặp phải hải tặc Thái Lan. Trận cuồng phong của lòng người tham ác và thú tính dã man đã đổ ập xuống con tàu.  Lan và tất cả những phụ nữ yếu ớt trên thuyền đã bị chúng vùi dập, làm nhục ngay trước mắt bao người. Còn may là vì Lan ngất xỉu nằm bất động nên bọn chúng tưởng rằng đã chết và không nhớ tới để liệng xuống biển như những phụ nữ và các cô gái bất hạnh khác trên thuyền.

Sau bi kịch đó, khi đặt chân đến đảo tị nạn, Lan đã nhiều lần tìm đến cái chết để rửa sạch nỗi tủi nhục bủa vây. Nhưng mỗi lần nhìn xuống bụng mình, nơi sinh linh bé bỏng  đang lớn lên từng ngày, và nhìn vào ánh mắt van nài, đầy xót thương của chồng, bà lại nghẹn ngào ráng nuốt nước mắt vào trong để sống.

Gia đình ba người đặt chân đến Hoa Kỳ với vết thương lòng sâu hoắm. Nhưng định mệnh nghiệt ngã chưa chịu buông tha. Khi Jamie vừa tròn hai tuổi, mẹ cô đổ bệnh nặng.  Căn bệnh lạ quái ác nhiễm từ những gã hải tặc năm xưa trên biển như một thứ độc dược âm ỉ phát tác, cướp đi sinh mạng của người mẹ trẻ.

Kể từ ngày đó, bố Jamie ở vậy một mình. Một người đàn ông trí thức, vốn chỉ quen với sách vở và súng đạn, rồi đến đốn cây phá rừng sau khi mất nước, nay phải tự học cách pha sữa, nấu từng bát cháo cho con. Ông làm đủ mọi công việc tay chân nặng nhọc để nuôi Jamie khôn lớn.  Chính những giọt mồ hôi và tình yêu bao la của bố đã nuôi dưỡng ước mơ của Jamie.   Cô bé học hành thật giỏi, luôn đạt điểm xuất sắc từ Tiểu học cho đến trưởng thành.  Jamie nhận bằng Bác sĩ và rồi hoàn tất chuyên khoa nội, thì mái tóc bố đã bạc trắng.  Đôi mắt bố nhòe lệ bảo Jamie:

 “Bố rất hảnh diện về con! Con đi chữa bệnh cứu người, cũng là đang xoa dịu nỗi đau mà mẹ con ngày xưa đã phải gánh chịu!”

Nhớ lại một ngày Lễ Từ Phụ năm Jamie hoàn tất việc học, cô tự tay chuẩn bị một bữa tiệc nhỏ cho hai cha con, và mua tặng bố một chiếc áo len mới. Nhưng bố cô lại lặng lẽ ra chợ mua về một bó hoa hồng vàng và một bó hoa hồng đỏ thật đẹp. Khi Jamie thắc mắc, bố đã cười và nói, “Dù là ngày Lễ Cha, nhưng đây là quà cho mẹ và cho con. Bố luôn muốn mẹ, và nhất là con, được hạnh phúc!”

Nhưng hạnh phúc ngắn ngủi như bọt nước tan mau. Chỉ mấy tháng sau ngày Lễ Cha năm ấy, đại dịch COVID-19 càn quét qua nước Mỹ.  Là một bác sĩ, Jamie phải lao vào chữa cho bịnh nhân cùng toàn thể nhân viên bệnh viện. Bố ở nhà rất lo lắng cho con gái, đang vì lương tâm một bác sĩ mà phải lao vào nơi chốn hiểm nguy.   Đâu ai ngờ, Jamie thì không sao, mà bố cô ở nhà đã không may nhiễm phải thứ virus quái ác ấy.

Bố được đưa vào bệnh viện, chính nơi Jamie đang làm việc. Nhưng sự nghiệt ngã của số phận ở chỗ, dù là một bác sĩ hằng ngày cứu sống bao người, Jamie lại bất lực nhìn hơi thở của bố cứ yếu dần đi sau bức tường kính cách ly nghiêm ngặt. Cô không thể lao vào ôm bố, không thể nắm lấy bàn tay gầy gộc đã nuôi cô khôn lớn.

Trong những giờ phút cuối cùng, qua màn hình điện thoại kết nối nghẹn ngào, bố Jamie đã dùng chút tàn lực, tháo mặt nạ oxy ra trong vài giây. Ông nhìn con gái bằng ánh mắt trìu mến nhất, và đôi môi mấp máy thều thào rất nhỏ:

 “Bố… yêu con…con hãy sống… thật hạnh phúc!”

Rồi màn hình máy trợ tim phẳng lặng một đường dài. Con virus ác độc đã mang bố đi mãi mãi, bỏ lại Jamie bơ vơ giữa cuộc đời rộng lớn.  

Câu nói cuối của bố, mỗi lần nhớ lại, Jamie vẫn thấy tim mình nhói buốt. Những năm tháng trước đó, vì lao vào các ca trực thâu đêm suốt sáng tại bệnh viện, vì bệnh nhân nặng cần cô ngày càng nhiều, Jamie đã vô tình bỏ quên tổ ấm của mình. Tình cảm vợ chồng cứ thế nhạt phai theo những bữa cơm lạnh ngắt. Cho đến một buổi sáng định mệnh, sau một ca trực đêm kiệt sức, Jamie được về sớm. Cô háo hức bước vào nhà, định bụng sẽ tạo cho chồng một sự bất ngờ. Nhưng tạo hóa trớ trêu, thứ chờ đón cô lại là một nhát dao chí mạng: Đức và Mai, người bạn gái thân thiết nhất của cô, đang quấn lấy nhau ngay trên chính chiếc giường ngủ của vợ chồng nàng.

Cái giá của sự tận hiến cho y học là sự phản bội ê chề từ chồng và người bạn thiết. Ngày hôn nhân đổ vỡ, người đau đớn nhất không phải Jamie, mà là bố cô. Người đàn ông cả đời chịu tủi nhục, một mình gà trống nuôi con chỉ mong con được ấm êm, nay lại phải chứng kiến đứa con gái báu vật bị người ta chà đạp. Ông Luận không trách Đức, cũng không rầy Jamie, ông chỉ ôm con gái vào lòng, đôi bàn tay gầy gộc run lên bần bật vì xót xa. Từ ngày đó, ông luôn đau đáu, tìm mọi cách xoa dịu và khát khao được nhìn thấy nụ cười trở lại trên môi đứa con độc nhất.

Jamie bỗng lắc đầu, đưa tay quẹt trôi đôi dòng lệ nóng vừa tràn ra khóe mắt, và cố xua đi bóng ma của quá khứ khi bước chân vừa tới hàng hoa. Dòng người mua sắm vẫn ngược xuôi hối hả, nào ai biết họ đã đi ngang qua một khách hàng đang bước đi cùng với tâm sự trùng trùng. Jamie tiến về phía thùng hoa, chọn một bó hồng vàng, màu hoa mà lúc sinh thời bố cô thích nhất, để ngày mai đặt lên bàn thờ ông và mẹ.

Đúng lúc cô đang nâng niu bó hoa trên tay, một giọng nói trầm ấm thoảng qua sát bên cạnh.  Jamie bất giác nhìn sang. Một người đàn ông mang kính trắng trí thức, dáng người cao gầy đang dắt theo một cô con gái nhỏ chừng 5 tuổi mặc áo đầm hồng với hai bím tóc cột nơ đỏ đong đưa, bước lại quầy hoa.

Tim Jamie chợt đập loạn lên lỗi nhịp. Đó là một gương mặt vừa thân quen, vừa xa xôi trong ký ức. Tom!

Tom là người bạn học cùng trường y với cô ngày trước. Những năm tháng thanh xuân cùng nhau thức trắng trong những đêm trực, cùng chia sẻ những hộp cơm truyền thống quê nhà do tự tay Jamie nấu bới theo… biết bao kỷ niệm ngọt ngào và thanh khiết đã nảy nở giữa hai người. Tom thương Jamie, Jamie biết. Jamie quý mến Tom, Tom hiểu. Nhưng khi ấy, chiếc nhẫn cưới trên ngón áp út của Jmaie và rào cản lễ giáo Á Đông đã giữ hai người ở hai phía của một lằn ranh vô hình. Họ tôn trọng nhau, giữ trọn sự chừng mực của những người bạn tri kỷ. Sau khi tốt nghiệp, Tom buồn vì chẳng thể làm gì hơn với mối tình tuyệt vọng, nên chuyển về vùng miền Đông làm việc trong một bệnh viện lớn, hai người cũng từ đó mà bặt tin nhau.

Jamie xúc động đến mức đứng chôn chân tại chỗ. Một cảm giác bối rối, tủi hổ, xen lẫn nghẹn ngào trào lên, cô vội quay mặt đi, giả bộ như đang chăm chú chọn hoa để Tom không nhận ra mình trong bộ dạng hốc hác và gần khóc này. Hai cha con Tom tiến lại gần ngay bên cạnh cô.

“Daddy!” Cô bé nhỏ bất ngờ níu tay cha khi thấy Tom cầm lên một bó hoa hồng đỏ thắm, rực rỡ và lộng lẫy. “Ngày mai chúng ta làm tiệc mừng lễ Father’s Day, là ngày của ba, nội nói ba sẽ mua bánh kem, sao ba mua hoa hồng chi vậy?”

Tom cúi xuống, chỉnh lại chiếc nơ trên tóc con gái, giọng anh trầm xuống, ấm áp và chứa chan một nỗi niềm sâu kín. Anh nói gần như thì thầm, nhưng Jamie đứng bên cạnh nghe không sót một lời:

“Con gái yêu! Ba mua hoa hồng là để ngày mai hai cha con mình cắm lên bàn thờ tặng mẹ con. Ở trên cao, chắc mẹ cũng đang chờ hoa của chúng ta. Ba chỉ muốn con và mẹ luôn được hạnh phúc.  Nhất là con gái ba được hạnh phúc! Là đủ với ba rồi!”

Câu nói của Tom như một luồng điện chạy dọc sống lưng Jamie. Tay cô run rẩy đến mức bó hoa hồng vàng suýt chút nữa rơi khỏi tay. Giọng nói ấy, sự ấm áp đầy truyền cảm ấy… chính là Tom của những đêm trực năm xưa không sai vào đâu được. Nhưng câu nói của anh cũng mang theo một sự thật xót xa. Tom đã lập gia đình, và vợ anh đã không còn nữa. Hóa ra, người đàn ông năm xưa cô từng quý mến cũng đang mang một vết thương lòng rỉ máu.

Không thể trốn chạy cảm xúc thêm được nữa, Jamie hít một hơi thật sâu để ngăn giọt nước mắt chực trào, cô quay sang, giả bộ như tình cờ ngước mắt lên nhìn người bên cạnh.

“Anh… anh Tom?”  Giọng Jamie thảng thốt, run lên.

Tom giật nẩy mình, quay phắt sang. Khi ánh mắt anh chạm vào gương mặt Jamie, thời gian như ngừng trôi, không gian sầm uất của siêu thị Safeway hoàn toàn biến mất. Bó hoa hồng đỏ trên tay Tom rơi tự do xuống thùng hoa bên dưới lúc nào không hay. Chàng sững sờ nhìn Jamie, đôi mắt sau cặp kính trắng mở to, đầy kinh ngạc và hoang mang, như thể cô vừa từ cung trăng rơi xuống trước mặt mình.

“Jamie?… Phải em không, Jamie?” – Giọng Tom lạc đi, đôi môi anh run rẩy.

“Là em, Tom…”

Trong phút chốc, bao nhiêu kìm nén của những năm tháng thăng trầm như vỡ òa. Ánh mắt Tom nhìn Jamie cùng với sự ngạc nhiên là cả một đại dương thương nhớ, lẫn sự xót xa khi nhìn thấy nét mệt mỏi bơ phờ trên gương mặt người con gái mình từng yêu, và cả một tia lửa hy vọng vừa được thắp lên sau chuỗi ngày dài tăm tối. Họ đứng đó, hai tâm hồn cô độc giữa đất Mỹ xa xôi, hai con người từng đi qua đổ vỡ và mất mát, bất ngờ va vào nhau trong một chiều hoàng hôn đầy nắng gió của vùng trời Cali.

Sau những phút giây nghẹn ngào, họ ra ngồi xuống chiếc bàn trước cửa Safeway. Những câu hỏi thăm vội vã về cuộc sống của nhau được trao đổi. Tom kể ngắn gọn về sự ra đi của vợ anh sau một cơn bạo bệnh, còn Jamie chỉ lặng lẽ cười buồn, xót xa cho cuộc hôn nhân đã qua của mình. Họ không cần nói nhiều, áp lực của một bác sĩ và nỗi đau của sự chia ly tự khắc làm họ thấu hiểu nhau hơn ai hết.

Jamie nhìn Tom, nhìn bờ vai đã gánh vác bao giông bão của anh, rồi từ từ cúi xuống nhìn vào đứa bé ngồi gần bên.  Cô dịu dàng nắm lấy bàn tay nhỏ bé, mềm mại đứa con gái nhỏ của Tom. Đứa bé ngước đôi mắt tròn xoe, trong veo nhìn cô đầy thiện cảm.

Ngay trong khoảnh khắc bàn tay cô chạm vào hơi ấm của đứa trẻ, trong tâm trí Jamie chợt vang lên một giọng nói quen thuộc, trầm khan, và bao dung của bố cô trước ngày ông mất vì đại dịch:

“Con phải cố gắng sống cho thật hạnh phúc! Con hạnh phúc là ba vui rồi!”

Hóa ra, lời di nguyện cuối cùng của bố lại là một lời chúc phúc, một sự giải thoát cho tâm hồn cô khỏi những u uất của quá khứ. Bố muốn cô mở lòng. Bố muốn cô được hạnh phúc. Và biết đâu, sự sắp đặt kỳ diệu của số phận ngày hôm nay, tại quầy hoa này, chính là món quà mà bố từ trên trời cao đã gửi gắm xuống cho cô?

Jamie ngước lên nhìn Tom, lần này, một nụ cười thực sự bình yên và rạng rỡ đã nở trên môi cô.

Ngoài kia, nắng chiều California vẫn đang vàng rực rỡ, và mùa đông lạnh lẽo trong lòng Jamie dường như đã bắt đầu tan chảy, nhường chỗ cho một mùa mới. Mùa của sự hồi sinh và hạnh phúc, ngay trong ngày Lễ Father’s Day diệu kỳ.

Phương Hoa

==

==

Alysa Liu và Ông Bố

                 Thơ Trần Quốc Bảo

Inline image

Alysa Liu và Ông Bố

Thế Vận Hội mùa Đông, vừa rồi tại Ý,

Alysa Liu, vận động viên Mỹ, thiệt tài!

Đoạt huy chương vàng dancing on ice,

Dành vinh dự cho Mỹ, niềm vui lớn!

24 năm qua, Mỹ hằng mong muốn,

Giật giải quán quân, môn nghệ thuật này.

Nhưng rồi kết quả, đều lọt vào tay,

Vận động viên Nga và các nước khác.

Inline image

Mãi tới nay Alysa Liu trổ tài uyên bác,

Nhẹ gót chân chim, trên mặt tuyết băng,

Ánh mắt như sao, gương mặt đẹp như trăng!

Tay dăng cờ mỹ, lướt trên sân Olympic!

Sở dĩ Alysa Liu được nhiều người yêu thích,

Vì gia đình cô, dân Mỹ gốc Trung Hoa.

Cha cô, thuở sinh viên, đã tích cực tham gia,

Vụ Thiên An Môn, cuộc đấu tranh đẫm máu!

Inline image

Nhưng ông may, trốn sang Hoa Kỳ nương náu,

Sống đời tỵ nan, xây dựng lại tương lai.

Ông thường dạy con: “Phải trọng Nghĩa, khinh Tài”

Alysa Liu 20 tuổi, đã trưởng thành tư tưởng.

Khi Bắc Kinh trao 14 triệu, thương lượng…

Cô ra sân Olympic với quốc tịch Tầu!

Alysa Liu lạnh lùng, khảng khái lắc đầu,

“Quyết không phản bội Quốc Gia tôi nương náu!

Inline image

 Nơi có “Tình Người” và “Tự Do” quí báu!

Tiền bạc không mua được lương tâm tôi đâu!”

Rồi tiến ra sân Thế Vận Hội Toàn Cầu,

Liu đoạt Huy Chương Vàng, về cho Mỹ Quốc!

Cô Tiên nhỏ, được Mỹ vui mừng đón rước,

Nhưng người vui nhất, là ông Bố Alysa!

Ông thành công, việc giáo duc tại gia.

Liu đọat giải,… mà thiệt… chính Ông thắng đó !!!

        Trần Quốc Bảo

             Richmond, Virginia

       Địa chỉ điện thư của tác giả:

     quocbao_30@yahoo.com

~~~~~~o~~~~~~o~~~~~~

Kính mời xem một vài đoạn Youtube Alysa Liu vũ nghệ thuật trượt tuyết trên băng

Đoạt vinh dự lớn lao bất ngờ cho MỸ tại Olympic Mùa Đông Ý – 2026

Alysa Liu . TLNR Breaking News

CÁC SÁNG TÁC TỪ TRANG BLOG THÂN HỮU LONG HỒ VĨNH LONG – ÚC CHÂU

Long Hồ Vĩnh Long: Đỗ Gia Trang Trên Đồi Mê Linh – Đỗ Dung

Long Hồ Vĩnh Long: Lòng Cha – Thơ: Chương Hà – Nhạc: Nguyễn Tuấn – Tiếng Hát: Đông Nguyễn

Long Hồ Vĩnh Long: Our Fathers(Anonymous) – Cha Chúng Tôi(Tâm Minh )

Long Hồ Vĩnh Long: Dệt Mộng Tôn Vinh Tình Cha – Lâm Hoài Vũ

Long Hồ Vĩnh Long: Hương Cà Chua – Ngô Thị Quý Linh

Long Hồ Vĩnh Long: Demain, Dès L’aube (Victor Hugo)Ngày Mai Lúc Sớm Tinh Sương (Trần Quốc Bảo)

Long Hồ Vĩnh Long: Lan Man Tháng Sáu Father’ Day và World Cup – Phong Châu

Long Hồ Vĩnh Long: Khi Đàn Ông Rửa Chén – Võ Phú

Long Hồ Vĩnh Long: Tổng Thống Charles De Gaulle – Lược Dịch & Sưu Tầm: Thái Lan

Long Hồ Vĩnh Long: Nhớ Đến Phụ Từ – Duy Anh

Long Hồ Vĩnh Long: Khi Cha Gìà Đi – Văn Duy Tùng

Long Hồ Vĩnh Long: Bố Vẫn Là Của Con – Kim Loan

Long Hồ Vĩnh Long: Cha Tôi – Nhac: Alpha Linh – AI Phục Hồi

Long Hồ Vĩnh Long: Demain, Dès L’aube (Victor Hugo)Ngày Mai, Ngay Lúc Rạng Đông (Ngô Tằng Giao)

Long Hồ Vĩnh Long: Lòng Cha – Luân Tâm

Long Hồ Vĩnh Long: Ca Dao: Công Cha… – Thư Pháp: Quang Hà

Long Hồ Vĩnh Long: Nhớ Ba – Minh Thúy




ĐỖ DUNG: Truyện Ngắn HAI CHIẾC ĐŨA LẺ

HAI CHIẾC ĐŨA LẺ

Đỗ Dung

1 -Tiếng điện thoại reo vang.  Gần 12 giờ đêm.  Ai lại gọi vào giờ này!?

_Hello!

_Bác Hoàng! Bác Hoàng… (tiếng nói trong phone như nghẹn lại) Bác ơi… Bố con… mất rồi!

_Hả!! Con nói gì!?

Tiếng Đảm, con trai lớn của Thạc như khóc nấc qua phone kể về sự ra đi của bố nó.  Như tiếng sét đánh bên tai, Hoàng ngồi phịch xuống ghế ôm đầu:

_Thạc ơi… Thạc ơi!

Hân vợ của Hoàng mới qua đời chưa đầy một năm. Hoàng được tin Thạc khám phá là vướng bịnh ung thư phổi mới vài tháng nay, chưa kịp sang thăm bạn thì nghe tin dữ! Hai năm liên tiếp, hai sự mất mát đớn đau. Người vợ đầu gối tay ấp, trải qua với nhau bao sóng gió, bao yêu thương gắn bó đã bỏ chàng.  Niềm đau chưa dứt bây giờ người bạn chí cốt thân thương từ thời thơ ấu cũng bỏ chàng mà đi. Thạc ơi, sao cậu vội đi thế!  Nghe tin cậu bịnh tôi đã hẹn sau giỗ đầu của Hân tôi sẽ sang thăm cậu mà… Tưởng cậu cũng cầm cự được vài năm chứ.  Cậu không đợi tôi sang chơi với cậu sao…

Hai giọt lệ lặng lẽ ứa ra khóe mắt!

Quá khứ như một cuốn phim quay chậm, thật chậm:

Hoàng và Thạc là đôi bạn chí thân, trước hiệp định Genève, ở thành phố Hải Phòng, hai gia đình là hàng xóm, cả hai học chung lớp, chung trường từ tiểu học. Cùng nhau đi hướng đạo từ khi còn là hai chú sói con cho đến khi trở thành hai thiếu sinh. 

Đến năm 1954 chia đôi đất nước, cả hai gia đình đều có những lý do riêng quyết định ở lại. Hai chàng trai trẻ cương quyết ra đi.  Mới 16 tuổi đầu, mỗi người chỉ có một tay nải bằng vải gói ghém vài bộ quần áo, giấy tờ cần thiết và một ít tiền lẻ, theo dòng người di cư vào nam.  Thời gian mới đến vùng đất lạ “hai chú dế mèn phiêu lưu” bơ vơ, không cha mẹ, anh em, không họ hàng thân thích. Những ngày đầu ở Sài Gòn thật cơ cực. Hai chàng trai làm đủ nghề để tồn tại: bỏ báo, dạy kèm, khuân vác… việc gì có tiền là làm.

Đêm đêm, cả hai chen chúc trong căn phòng trọ nhỏ, chia nhau từng ổ bánh mì, từng miếng bánh ngọt và những giấc mơ tuổi trẻ.

Có những hôm mưa lớn, quần áo ướt sũng, hai đứa vẫn ngồi cười.

— Ráng lên cậu! Sau này tụi mình sẽ khá.

Tình bạn ấy theo họ suốt cả cuộc đời.

2-Thạc gặp Nga trong một lớp học đêm luyện thi Tú Tài.

Nga vốn là nữ sinh trường Marie Curie. Nhưng biến cố gia đình khiến nàng phải nghỉ học sớm để đi dạy học phụ giúp mẹ nuôi các em.

Ngay lần đầu gặp, Hoàng đã quý Nga như một cô em gái.

Một cô em gái dịu dàng, hiền lành nhưng cương quyết.

Ngày Thạc cưới Nga, Hoàng xin nghỉ phép để phụ bạn lo đám cưới. Chàng còn mang hết số tiền dành dụm được để giúp bạn.

Hai năm sau, Hoàng gặp Hân, cô gái Bến Tre có nước da trắng như trứng gà bóc, mái tóc dài đen óng và nụ cười hiền hậu.

Rồi hai đôi bạn trẻ cùng bước vào đời sống hôn nhân.

Những năm tháng ấy, họ sống nghèo nhưng hạnh phúc.

Thạc có ba đứa con, hai trai một gái.  Hoàng cho ra đời bốn đứa, một gái ba trai. Hai nhà như một. Đám con trẻ cũng rất thân thiết, vui đùa với nhau.

Cho đến biến cố tháng Tư 1975.

Gia đình Thạc may mắn di tản sang Mỹ trước ngày Sài Gòn thất thủ.

Còn Hoàng bị kẹt lại.

Chàng bị đưa đi học tập cải tạo hơn bảy năm chỉ vì từng làm cho hãng Mỹ.

Những năm ấy, Hân một mình tần tảo nuôi bốn đứa con thơ.

Ngày Hoàng trở về, nhìn vợ gầy guộc, tiều tụy, chàng đã bật khóc.

Tưởng rằng gian khổ rồi sẽ qua.

Nhưng Hân lại mắc ung thư.

Cả gia đình chạy chữa suốt nhiều năm.

Năm 1992 Gia đình Hoàng may mắn được định cư tại Mỹ theo diện HO.  Hoàng ở Texas, Thạc ở California.

Đến năm 2001 Hân trút hơi thở cuối cùng. Hoàng như mất đi một phần đời mình.

3 – Hoàng thu xếp sang Cali tiễn đưa Thạc lần cuối. Nhìn bạn nằm trong chiếc quan tài Hoàng thật xót xa.  Vô thường đến vậy sao! Cuộc đời ngắn ngủi vậy sao! Thạc ơi… Hai đứa mình từng hẹn khi nghỉ hưu, con cái yên bề thì hai vợ chồng già sẽ rủ nhau đi du lịch, đi chơi cho bõ cả đời khổ cực mà. Sao cậu bỏ cuộc chơi sớm vậy! Nhìn Nga buồn ủ rũ, ẻo lả trong bộ áo tang, Hoàng thật thương cảm! Liệu Nga có chịu nổi sự đau khổ, cô đơn, hụt hẫng khi mất đi người chồng yêu qúy!

Trong dịp này Hoàng gặp lại hai cặp vợ chồng Khải – Liên và Tú – Hoa. Khải và Tú cùng ở Hải Phòng, cùng đi sinh hoạt hướng đạo với Hoàng và Thạc ngày đó.  Bây giờ cả hai cặp đang sinh sống tại thành phố Hayward, gần San Jose.

Ngày giỗ đầu của Thạc các bạn rủ Hoàng về dự, sau đó rủ ở lại chơi thêm cho biết miền bắc Cali.  Thời tiết Cali, con người Cali đã quyến rũ chàng. Năm 2006 Hoàng lo đám cưới cho hai đứa con nhỏ xong. Tất cả bốn đứa đều có công việc làm ổn định, đều yên bề gia thất và Hoàng cũng đã chính thức nghỉ hưu nên chàng yên tâm chuyển về sống tại Cali

Sau khi Thạc mất, Nga sống lặng lẽ hơn hẳn.

Nga vẫn còn đi làm. Con gái sợ mẹ cô đơn nên đón mẹ về ở cùng nhưng Nga vẫn nhớ căn nhà cũ — nơi chứa đầy kỷ niệm với chồng.

Nhóm bạn cũ ai cũng thương hai người cô quạnh nên thường nửa đùa nửa thật ghép đôi.

Mỗi lần như vậy, Nga đều bật cười:

— Anh Hoàng là anh của tôi mà.

Hoàng cũng cười theo:

— Ừ, anh của Nga.

Nhưng trong ánh mắt họ, đôi khi vẫn có những điều không nói thành lời.

Rồi một ngày, Thi — con gái Nga — đề nghị:

_ Bác Hoàng ơi, đằng nào bác cũng phải thuê nhà. Mẹ con muốn về lại nhà cũ, bác thuê nhà mẹ con đi.  Có bác ở cùng thì chúng con mới yên tâm để mẹ con về.  Mẹ ở một mình chúng con lo lắm. Chúng con không giám để mẹ ở một mình đâu.

_Con phải hỏi xem mẹ có bằng lòng cho bác thuê nhà hay không đã chứ!

Nga mỉm cười:

_Giá bác Hoàng là anh ruột của mẹ!

Hoàng đáp ngay:

_ Ơ kià cô này! Thì lúc nào anh chẳng là anh của Nga, kể từ khi còn Thạc anh vẫn coi Nga như em gái của anh mà!

Thi nói:

_ Đúng rồi! Từ xưa đến nay bác luôn là bác của chúng con! Hồi tụi con còn bé bác cưng chiều tụi con hết xẩy luôn! Bác chịu về ở chung nhà với mẹ thì tụi con mới cho mẹ về. Vậy nhé mẹ?

Nga im lặng rất lâu rồi khẽ nói:

— Nếu anh chịu coi em như em gái thì em mời anh về.

Hoàng nhìn Nga. Chàng hiểu. Cả hai đều đã đi qua gần hết cuộc đời.

Khi biết ý định Nga muốn trở về ngôi nhà cũ và nghe ý kiến của cô con gái thì Khải Liên, Tú Hoa rất ủng hộ.  Thế là do sự đốc thúc cuả các bạn, sự nài nỉ của mấy người con, năm 2008 Hoàng đồng ý dọn vào nhà Nga như một người thân của gia đình. Một người bác của các cháu.  Nga vẫn có giang sơn riêng trên lầu. Hoàng trú ngụ trong một phòng ở nhà dưới, cạnh một phòng sắp xếp giường tủ sẵn sàng để dành những lúc con cháu hoặc bạn bè đến chơi. Hoàng chọn đóng khung một số hình đẹp của gia đình Nga treo một cách mỹ thuật trên bức tường dọc theo cầu thang và rải rác trên tường của các phòng  khiến căn nhà như ấm cúng  hẳn lên.  Bàn thờ của Thạc đặt trang trọng trong phòng gia đình (family room).  

Nhớ ngay ngày đầu tiên Hoàng đã hỏi Nga:

_ Này bà “landlord”, bà cho “tenant” ăn cơm chung hay phải nấu riêng đây?

_Hì hì… Ông anh ơi! Anh em thì phải ăn cơm chung chứ!  EM GÁI sẽ lo việc bếp núc, ANH TRAI phải lo dọn dẹp, hút bụi, lau sàn, chăm sóc vườn tược.  Được chưa?

Tiếp theo Nga còn nói thêm hợp đồng sống chung “NHẤT ĐỊNH CHỈ LÀ ANH EM!”

Cả hai cùng phì cười và vui lòng chấp nhận theo “nội quy” và “hợp đồng” do bà chủ nhà mới soạn thảo.

Cả hai đều biết rằng tình yêu ở tuổi này không còn là những rung động cháy bỏng nữa.

Mà là sự có mặt. Là tiếng hỏi han. Là một mái nhà có người chờ mình trở về.

Họ ăn cơm chung. Đi tập thể dục cùng nhóm bạn. Chăm sóc khu vườn. Uống trà. Nghe nhạc xưa.

Một đời người tưởng như đã khép lại bỗng dịu dàng mở ra thêm một đoạn bình yên.

Những lúc ngả lưng trên chiếc ghế sofa trong phòng family room, ngước mắt nhìn lên bàn thờ Thạc, Hoàng nhớ những lời sau đó Nga đã nói với riêng anh. Nga rất cám ơn anh đã tôn trọng và coi Nga như em.  Em chưa quên được Thạc.  Em biết anh vẫn còn nhớ Hân. Chúng mình cần thêm thời gian phải không anh? Hoàng rất thương Nga và cũng thông cảm vì chính chàng những lúc nghĩ về Hân chàng vẫn thấy xót xa, bùi ngùi thương nhớ người vợ hiền vắn số.  Không dễ quên được người mình đã từng yêu thương gắn bó. Nga là vợ của Thạc. Thạc và Hoàng thân nhau như anh em. Hoàng chấp nhận sống với Nga như một người anh rồi từ từ theo thời gian nếu hai người tự nhiên đổi sang vai trò khác tốt đẹp hơn thì Hoàng cũng sẵn sàng còn nếu tình cảm chỉ dừng lại tại mức là tình gia đình thì chàng cũng vui lòng chấp nhận.

Hoàng cũng không khỏi buồn cười khi Liên hay Hoa buột miệng:

_Này ông bà Hoàng!

Nga vội vàng đính chính ngay:

_ Không phải ông bà Hoàng! Hoàng và Nga!

Buổi tối dưới ngọn đèn chùm ấm áp từ trên trần tỏa xuống hai người ngồi đối diện nhau, ngày nào cũng có cơm canh nóng sốt. Vừa ăn vừa chuyện trò, Hoàng cảm thấy thật hạnh phúc.

Năm 2011 Nga vừa tròn bẩy mươi thì chính thức nghỉ hưu. “Nhóm bạn không còn trẻ” lập nhóm TTCK (Thể Thao Cho Khỏe) thay vì nhóm ACCC (Ăn Chơi Chờ Chết)!  Buổi sáng thay vì chỉ có các ông đi thể thao nay các bà cũng đi theo luôn.  Khi các ông đi chơi tennis thì các bà vào gym trước, theo khoá Aqua Fitness để tập Aerobic dưới nước với tiếng nhạc và sự hướng dẫn của một huấn luyện viên.  Khi các ông đến gym thì các bà đã xong khóa tập, đang ngồi trong hot tub để vòi nước đấm lưng.  Các ông bơi lội một lúc thì sang hot tub.  Các bà đổi chỗ vào phòng thay quần áo sửa soạn, chờ các ông xong thì cùng về. Cứ thế thời gian êm đềm trôi, Xuân qua, Hạ tới, Thu tàn, Đông sang… vèo… Hết một năm! Đời sống đẹp như mơ!

Sau bốn năm chung sống hai người vẫn giữ hợp đồng, vẫn theo nội quy đã đặt ra nhưng tình cảm của cả hai hình như thay đổi, không có tình yêu cháy bỏng như thời trẻ dại nhưng ở gần nhau, săn sóc nhau từ những chuyện nhỏ nhặt nên cũng thêm tình quyến luyến. Cả hai đã sống thân thiết như một đôi vợ chồng, chỉ thiếu tình chăn gối.

Có lần Hoàng nhẹ nhàng hỏi:

— Nga này… nếu tụi mình chính thức sống với nhau thì sao?

Nga lặng người.

Một lúc sau, nàng khẽ đáp:

— Em thương anh.

Rồi đôi mắt nàng đỏ hoe.

— Nhưng em không quên được Thạc.

Nga kể về người chồng đã yêu thương và hy sinh cho mình suốt cả đời.

— Với em, chuyện vợ chồng là điều thiêng liêng. Em chỉ có một người chồng thôi.

Hoàng im lặng.

Và chàng chấp nhận.

Từ đó về sau, họ vẫn sống bên nhau như tri kỷ.

Không ràng buộc. Không hứa hẹn.

Chỉ âm thầm chăm sóc nhau qua từng ngày.

Chàng hiểu.

Nga vẫn theo những tập tục xưa, văn hoá cũ, với Nga chuyện gối chăn là chuyện thiêng liêng, mầu nhiệm của vợ chồng.  Gái chính chuyên thì chỉ có một chồng.  Bà ngoại của nàng cũng góa chồng rất sớm, mẹ nàng cũng mất chồng khi mới 38 tuổi.  Các cụ đã ở vậy thờ chồng nuôi dậy con thơ, không bao giờ nghĩ đến việc bước đi bước nữa.  Riêng Sơn, bạn thân của nàng cũng lẻ loi cô quạnh, đứng vững một mình  khi chưa đầy bốn mươi.  

Thật tình nếu tái hôn thì không ai tốt hơn Hoàng nhưng khi nghĩ đến Thạc Nga như chùng lại và vẫn muốn giữ tấm lòng thuỷ chung. Nghĩ đến Hoàng  Nga cũng không khỏi bâng khuâng.  Anh không đòi hỏi, ép buộc nhưng Nga cũng cảm thấy thiệt thòi cho anh, bất công cho anh, nhưng biết làm sao khi những nền nếp cổ xưa vẫn bám chặt lấy nàng, vả lại nay nàng đã hơn 70.  Xa chồng đã hơn 10 năm, nằm một mình đã quen. Nga khó chấp nhận nằm cạnh một người đàn ông khác.  Nằm cạnh người ta mà lòng mình vẫn nghĩ đến người cũ thì… Tội nghiệp cho cả hai.  Vả lại mình tự nhìn mình, bà già còn gì hấp dẫn? 

Chẳng thà cứ như vậy lại đẹp hơn.  Hoàng ơi… Em biết là em cũng yêu Hoàng nhưng anh hãy thông cảm với em và xin tha thứ cái tính lẩm cẩm, ương ương của em nhé.

4 -Rồi tuổi già cũng đến.

Nga bắt đầu quên trước quên sau.

Ban đầu chỉ là những chuyện nhỏ.

Sau đó nàng quên cả đường về nhà. Quên tên cháu. Quên hôm nay là ngày nào.

Bác sĩ chẩn đoán nàng bị Alzheimer.

Căn bệnh ấy như một cơn mưa mù lặng lẽ cuốn dần ký ức con người đi mất.

Có những lúc Nga bật khóc vì không nhớ nổi mình vừa nói gì.

Hoàng ngồi bên cạnh nắm tay nàng:

— Không sao đâu Nga.

Rồi một ngày, gia đình buộc phải đưa Nga vào Memory Care Center.

Ngày đầu tiên rời khỏi căn nhà cũ, Nga ngồi lặng trên xe lăn, mắt nhìn mãi khu vườn sau nhà.

Hoàng đứng phía sau, cảm giác như tim mình bị ai bóp nghẹt.

Đã gần ba năm nay, cứ 11 giờ trưa là Hoàng vào thăm Nga ở Memory Care Center, chăm sóc cho Nga ăn bữa trưa, ngồi chơi khoảng hai tiếng mới về.  Chỉ hai ngày cuối tuần là Hoàng ở nhà để các con của Nga chia nhau vào thăm mẹ. Nga bị Alzheimer đã hơn sáu năm, khi bịnh trở nặng gia đình phải đưa vào nơi này để được săn sóc chu đáo hơn.

Hôm nay Thứ Hai ngày đầu tuần, Hoàng vào thăm Nga sau hai ngày vắng mặt. Như thường lệ Hoàng chăm chút, bón cho Nga ăn, chàng chịu khó vỗ về, đút từng muỗng súp, ít khoai tây nghiền và từng chút rau xào thịt rất nhừ.  Một lúc sau Nga cũng ăn được gần hết phần cơm trưa. Nhìn qua khung cửa sổ, trời đã vào xuân khu vườn đẹp quá! Hoàng nhẹ nhàng đẩy chiếc xe lăn đưa Nga ra ngoài hưởng chút nắng ấm cho thoải mái và có thể cây cối xanh tươi, hoa nở tưng bừng, cảnh thiên nhiên thoáng mát khiến sức khỏe Nga sẽ tốt hơn. Đến chiếc băng đá dưới bóng mát của một cây cao, Hoàng dừng lại kéo chiếc xe lăn sát cạnh băng ghế.  Vẫn để Nga ngồi trên xe.  Hoàng ngồi xuống mở chiếc túi nhỏ mang theo, lấy quả quýt ra bóc vỏ, bón từng múi quýt cho Nga rồi chỉ vào ngực mình hỏi:

_ Nga biết ai đây không?

Mắt Nga ngơ ngác nhìn quanh như lạc thần rồi lẩm bẩm:

-Cây me, lá me.  Đi học về, lá me bay, lá me bay…

-Anh Hoàng đây mà, Nga ăn ngoan, bao giờ khỏe rồi anh sẽ đưa đi xem lá me bay nhé.

 Bây giờ đến giai đoạn trí óc nàng như bao phủ bởi những đám mây mù,  gần như nàng đã xa rời thế giới hiện tại này mà chỉ nhớ về những chuyện xưa cũ. Ăn quýt xong Hoàng lấy chiếc máy  ghi âm mở những bản nhạc xưa êm đềm rồi đeo chiếc “earphone”vào tai cho nàng. 

Ngước mắt nhìn lên trời cao, mấy cụm mây trắng lững lờ trôi.  Gốc cổ thụ nơi chàng ngồi, không biết là cây gì mà thân mầu nâu sậm, cành cũng mầu nâu sậm in lên nền trời, đám lá mới nhú ra mầu xanh non y hệt những cây me cổ thụ của những con đường Sài Gòn vào mùa me thay lá. À thì ra cây cao to này khiến Nga nhớ về những kỷ niệm khi còn bé đi học về trên những con đường Sài gòn ngập lá me bay!

— Lá me bay… lá me bay…

Hoàng khẽ cười.

Nhưng mắt chàng đỏ hoe.

Chàng hiểu.

Trong trí nhớ rời rạc của Nga bây giờ, có lẽ chỉ còn sót lại tuổi thơ, những con đường Sài Gòn đầy lá me và bóng dáng người chồng đã khuất.

Còn Hoàng…

Có khi Nga đã quên mất từ lâu.

Hoàng ngồi lặng dưới gốc cây già.

Gió xuân thổi nhè nhẹ. Mây trắng vẫn lững lờ trôi như năm tháng.

Hai chiếc đũa lẻ. Cuối cùng vẫn nương tựa bên nhau đi qua quãng đời còn lại.

Chỉ tiếc rằng…

Một người còn nhớ. Một người đã dần quên.

Đỗ Dung




VĂN – ĐỖ DUNG: HƯƠNG NGỌC LAN

Hương Ngọc Lan

Đỗ Dung

 – Ạ bà, thưa bà con mới đến!

Tôi còn đang nằm nướng trên giường, con bé nhảy tót lên ôm bà, dụi đầu vào ngực bà nũng nịu:

-Michelle muốn ngủ bà, Michelle muốn ôm bà…

Tôi ôm con bé hít một hơi thật dài:

-Cục cưng của bà thơm … thơm … thơm … !

Hai bà cháu ghiền nhau một lúc thì con bé nhổm lên, giương đôi mắt tròn xoe

-Bà ơi, nại nại!

Tôi vươn vai ngồi dậy nói vọng ra:

-Ông! Nại nại.

Chỉ đợi có thế ông đã xuất hiện ngay ở cửa phòng với bình sữa trên tay. Chúng tôi có ba người con, năm đứa cháu. Ba thằng cháu ngoại, Kobe lên chín, Carter lên bảy, Logi hai mươi tháng. Hai cháu nội, Michelle gần ba và Kenneth hơn một tuổi. Cô con dâu của chúng tôi người Việt gốc Hoa, buổi tối con bé ở nhà với bà ngoại, bà ngoại gọi con chị là Chể Chế còn thằng em là A Chảy. Chúng tôi ở nhà cô con gái, ban ngày con bé sang nhà bác chơi với các anh để ông bà trông nom một thể. Hai thằng lớn đã đi học nên nói chuyện với nhau bằng tiếng Mỹ, còn ông bà nói giọng đặc sệt Bắc kỳ. Con bé đang ở tuổi học nói, không biết trong cái đầu bé tí hon của nó có bị lộn xộn ba thứ tiếng không. Con bé sang dậy mấy thằng anh « phán xẻ », « phan cao », « xực phàn »… muốn uống sữa thì đòi « nại nại ».

Có những lúc thật buồn cười, khi ngồi vào bàn ăn, nó bảo Logi « xực phàn à », chỉ vào bát cơm nói bà « ăn cơm », quay qua hai thằng anh hô « eat! ». Buổi chiều khi mẹ nó đến đón, gọi con: « Chể chế phán xẻ! », nó quay lại khoanh tay: «Thưa ông bà con đi về».

Kenneth, thằng đích tôn ra đời sau cùng trong bầy cháu, ông bà đã «overload» nên phải nhờ bà ngoại cháu sang trông nom. Thằng bé kháu khỉnh, bụ bẫm, hiền lành… không lém lỉnh, ranh mãnh như con chị. Con chị làm thủ lãnh còn thằng em chỉ lúp xúp theo sau. Khi thằng bé sắp ra đời, bố mẹ nó cuống quýt tìm tên. Các cháu dù được gọi tên Mỹ nhưng trong khai sinh vẫn giữ nguyên tên Việt. Bố mẹ cháu tên Khôi và Linh, muốn bộ tên L.U.C.K., Michelle đã có tên Minh Uyên, ông con xin ông bố chọn tên vần C, ông bố tủm tỉm trêu: Vần C thì có Cục … ! Cuối cùng cháu cũng được ông nội đặt tên là Khiêm Cung và cả nhà đồng ý nếu các cháu có theo gương chị thêm đứa thứ ba thì đứa bé sẽ có tên Thiên Ý nếu là trai và Minh Yến nếu là gái để hoàn thành bộ L.U.C.K.Y.

Nói về con đầu cháu sớm phải kể chuyện Kobe – Minh Kha. Tôi vào phòng sanh với mẹ nó và tôi là người đầu tiên ôm thằng bé vào lòng, cảm nhận sự thiêng liêng, màu nhiệm và kỳ diệu của Hóa Công. Thằng bé to con, nặng hơn chín pounds. Mẹ nó nhỏ nhắn nên khi sanh xong bị hơi đuối sức, anh chồng phải ở cạnh săn sóc vợ. Tôi bám theo thằng bé để khỏi lo bị tráo con. Nhìn thằng bé lòng tôi lâng lâng, nao nao khó tả, như có một sợi dây vô hình ràng buộc hai bà cháu. Tôi yêu thằng bé vô cùng, xa thì nhớ quắt, nhớ quay… Khi cháu mới bập bẹ, vỗ tay vào miệng oa oa qua điện thoại với bà, tôi thu lại và giữ mãi mẩu băng đó, nghe hoài mà không biết chán.

Carter – Bảo Đăng kém thằng anh hai tuổi, gầy, cao, bảnh trai, láu lỉnh, thông minh và là « pet » của ông. Hai ông cháu rất tương đắc, ông nói gì cháu hiểu liền, cháu lại biết chiều ý bà, biết nịnh nọt ông. Ngặt một điều cháu rất biếng ăn, nếu không thúc thì bữa ăn kéo dài, dây dưa cả tiếng. Ra đường cháu nhanh nhẹn, luôn miệng hỏi và giải thích hết chuyện này tới chuyện kia, luôn bày đặt tài khôn với thằng anh to xác nhưng bộc tuệch như con gà tồ. Tiếng Việt cháu rất giỏi khi còn ở nhà với ông bà, nay học đến lớp hai thì cũng gửi gió cho mây ngàn bay gần hết.

Út ít Logi – Minh Khang hóm hỉnh, cười khẽ cũng rõ hai cái lúm đồng tiền. Bố mẹ cháu đã có hai thằng con trai, cố sanh thêm để kiếm một mụn con gái nhưng lại vẫn ra cái thằng cu! Mới bập bẹ nói mà ông hay bà hỏi : «Con có yêu ông bà không?» thì cu cậu toét miệng ra: “ Dạ tó!”. Hai thằng anh thì cao, thằng em nhỏ bé nên ông gọi là con vịt đẹt. Ông bà ráng vỗ, mua Pediasure, ngày nào cũng xay xay, giã giã … làm đồ ăn cho cháu, giả làm hề, làm tàu bay, tàu bò… để dụ nó ăn mà nó cũng chẳng lớn nhanh cho. Kenneth thì ăn như hùm, như hổ, chả phải dỗ dành và cứ lớn nhanh như thổi. Cô con gái trêu mẹ, phân bì: « Bà ngoại mình ơi, sao bà ngoại Kenneth nuôi nó bự quá, bà ngoại mình nuôi thằng Còm, bà ngoại mình dỏm rồi, bà ngoại mình ơi!»

Hè vừa qua bà ngoại Michelle về Việt Nam hơn một tháng, hai vợ chồng tôi quay cuồng với đám cháu từ sáng sớm đến tối khuya. Cả buổi sáng chỉ lo thay tã lót cho ba đứa nhỏ rồi lo ăn uống cho cả bầy, ăn xong ông cho hai thằng lớn ra sân dợt banh, bà bầy trò chơi cho ba đứa nhỏ. Đồ chơi đầy một nhà mà đôi lúc oái oăm thay cả ba cùng thích một thứ, eo sèo tị nạnh. Tôi nhớ hoạt cảnh gia đình tôi ngày xưa và nhớ bà nội tôi luôn luôn nói «xem tí, xem tí, chị phải nhường em» để bắt đứa lớn chịu thua. Ngày ấy tôi là lớn nên luôn phải chịu phần lép. Nay lịch sử tái diễn, tôi ở vị trí của bà và Michelle lại như tôi.

Nhãng đi một chút là ba đứa kéo nhau vào bếp, ôi thôi nồi niêu, xoong chảo đem ra khua inh ỏi, chúng rủ nhau mở ngăn kéo lôi hành tỏi vứt đầy ra sàn nhà, ông vào hét lên như còi tàu hỏa. Bà quýnh quáng thu góp, lôi ba đứa cho vào « family room » mở phim nhảy múa con nít. Thế là như một ban nhạc trẻ tài danh, ba đứa cùng múa may, nhảy nhót. Logi là vua phá, tất cả những gì có nút bấm là nó bấm loạn xạ, những “remode control” vào tay nó là kể như tiêu tùng.

Nhà tôi không bao giờ biết thay một cái tã hay pha một bình sữa cho con, bây giờ làm ông lại hóa giỏi. Chẳng qua tại ông thương vợ, không nỡ để tôi một mình vất vả nên phụ đỡ một tay, ông tiếp thu phần pha sữa cho mấy đứa bé, từ từ cho cháu ăn, cho cháu bú, khéo hồi nào chẳng biết. Mẹ chồng tôi nếu còn sống chắc Cụ không thể tưởng tượng ra cảnh này!

Đến bữa ăn trưa hay chiều mới rắc rối, năm đứa năm kiểu, thằng lớn nhất mới chín tuổi đã cao gần bằng bà, số cân cũng chẳng kém, bố mẹ nó nhắc ông bà bắt nó « diet ». Khổ nỗi thằng bé cứ thấy đồ ăn là thèm. Thằng thứ nhì hơi gầy, lại biếng ăn ông phải hò, phải hét. Hai thằng bé con cũng vậy, chưa đút cho thằng còm xong thì thằng ù đã há mồm sẵn đợi. Có Michelle là ngoan, cho phần ăn ngồi xúc lấy, chỉ đôi khi gặp món không thích là nhất định chẳng chịu ăn.

Ngày cuối tuần mới là ngày của bà … Có những buổi chiều êm ả, tôi ngả mình trên chiếc ghế xích đu trong bóng rợp ở vườn sau. Màu nắng của buổi chớm thu hanh vàng và bầu trời thì xanh trong với vài cụm mây trắng trôi lờ lững. Mùi Ngọc Lan thoang thoảng theo gió mơn man khứu giác… đưa ký ức tôi bềnh bồng, bềnh bồng trôi về dĩ vãng. Tôi nhớ bà nội tôi, nhớ xót xa. Năm tôi bé như Michelle bây giờ mà đã có hai em, Minh Thuận và Vân Hạnh. Những món đồ chơi ngày ấy chỉ là những con búp bê nhựa hay mấy con thú nhồi bông. Các em muốn chơi bà bắt tôi nhường nhưng khi thấy cháu phụng phịu, hậm hực bà lại ra cửa mua cho cái bánh giò nóng ngồi xúc cho ăn.

Năm tôi lên ba, học vỡ lòng ở trường Hồng Bàng, sau chợ Hàng Da. Bà đưa cháu đi học, tôi đòi bà phải ngồi ở cửa lớp chờ. Bà dỗ từ từ, bà nói ra ngoài hàng quà ở cổng trường ngồi đợi rồi bà lén về để đến giờ mới đi đón. Một hôm bà bận việc gì đó, sai cô Nga, em út của bố tôi đón cháu. Tôi im lặng không nói gì, về nhà gặp bà thì òa lên khóc bắt đền, khóc đến nỗi bà phải bắt cô đưa đến cổng trường để rồi bà lại đi đón. Không hiểu sao cả bà và mẹ tôi hồi ấy lại chiều tôi một cách vô lý như thế. Bà và mẹ tôi kể mãi chuyện này và nói là tôi đáo để.

Mẹ tôi cứ đều đều sản xuất, cách năm lại cho ra đời một đứa bé, mẹ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ. Cứ hễ có em là đứa bé vừa mới thôi sữa được chuyển sang bà. Khi em Tuấn ra đời, hai đứa bé được chui vào màn rúc nách bà là Thuận với Hạnh, tôi phải nằm ngang phía dưới chân. Lâu lâu bà lại với chân xuống nhè nhẹ lấy chân xoa lưng cháu. Những đêm hè bà phe phẩy chiếc quạt nan, thỉnh thoảng lại quạt xuống phía dưới an ủi cô cháu gái. Tối tối bà bắt anh em chúng tôi rửa mặt mũi chân tay, thay quần áo sạch sẽ, sắp hàng ngồi sau lưng bà nghe bà tụng kinh. Sau khóa lễ được chui vào màn nghe bà kể chuyện đời xưa, chuyện Tấm Cám, chuyện Thạch Sanh Lý Thông, chuyện Bà Chúa Ba, chuyện Quan Âm Thị Kính… Khi tôi lên mười, đã có năm em, đã là chị lớn, bà bắt đầu dạy đi chợ nấu ăn, dạy sao để chọn con gà cho ngon, con vịt cho béo, rau quả cho tươi.

Ở nhà bà mặc quần sa tanh đen, áo cánh lụa trắng, đầu vấn khăn nhung. Đi đâu bà khoác chiếc áo dài nâu thêu những bông cúc vàng nho nhỏ. Đặc biệt bà rất thích hoa Ngọc Lan, bà chẳng bao giờ phấn son, mỗi khi đi chùa hay đi ra khỏi nhà bà chỉ dắt bông hoa Ngọc Lan tươi trên vành khăn để làm dáng. Năm 1965, cha tôi đổi làm việc trên Thủ Đức, được cấp một căn nhà xinh, trước nhà có một cây Ngọc Lan lớn, chi chít hoa. Bà mừng lắm, ngày nào tắm xong bà cũng ngồi xõa tóc cho các cháu nhổ tóc sâu rồi khi vấn lại khăn không quên dắt một bông Ngọc Lan. Ở lan can trước nhà chúng tôi có một dàn Dạ Lý Hương, buổi tối hương thơm ngào ngạt nhưng bà không thích bằng hoa Ngọc Lan và chê mùi hương hắc quá. Chúng tôi biết ý nhờ chú làm vườn trèo lên cây cắt từng cành hoa cho bà lễ Phật. Nghĩ đến bà là tôi nhớ đến những chùm hoa trắng muốt cũng như khi nhìn thấy hay ngửi hương Ngọc Lan thoang thoảng tôi lại nhớ đến bà. Và… năm ấy bà tôi mất … bà mất vào tháng tám, tiết thu, những bông Ngọc Lan trắng muốt vẫn còn chúm chím ở trên cây.

Bây giờ tôi đang o bế một cây Ngọc Lan, cây ở đây trồng hơi khó. Mùa đông tôi phải quây buồng và mặc áo cho cây để tránh sương lạnh, giá buốt. Mỗi đợt cây cho được hơn chục nụ hoa, đủ hương thoang thoảng cho tôi tìm về quá khứ… Một ngày xa xôi nào đó trong tương lai, hoa nở đầy cành và hương thơm dịu ngọt tỏa xa, bầy cháu yêu quý của tôi có nhớ đến bà của chúng như tôi đang nhớ xót xa về bà của tôi không!

Đỗ Dung

Fragrance of the Magnolia
Đỗ Dung

  • Hey Grandma, Grandma, Michelle is here!
    I was still lying in bed when the little girl jumped up and hugged me, nestling her head into my chest and whining:
    “Michelle wants to sleep with Grandma, Michelle wants to cuddle with Grandma…”
    I hugged her tightly and took a deep breath:
    “My precious girl smells so… sweet… sweet… sweet!”
    We cuddled for a while, and then she sat up, eyes wide:
    “Grandma, milk, milk!”
    I stretched and called out:
    “Grandpa! Milk!”
    And just like that, Grandpa appeared at the door with a bottle in hand.

We have three children and five grandchildren: three grandsons—Kobe, nine; Carter, seven; Logi, twenty months—and two grandkids from our son: Michelle, nearly three, and Kenneth, just over one. Our daughter-in-law is of Chinese-Vietnamese descent. In the evenings, Michelle stays with her maternal grandmother. That grandma calls the girl “Chể Chế” and her little brother “A Chảy.” We live with our daughter, and during the day, Michelle goes to her uncle’s house to play with the boys, so my husband and I take care of all the kids together.

The two older boys speak English since they go to school, but we speak with a thick Northern Vietnamese accent. Michelle is at the age where she’s learning to talk—who knows if her little head is getting all jumbled with three languages! She teaches her cousins phrases like phán xẻ (go home), phan cao (go to bed), xực phàn (eat rice)… and asks for milk with “nại nại.”

Sometimes it’s hilarious: when sitting down to eat, she tells Logi “xực phàn à,” points at her rice bowl and says “ăn cơm,” then turns to her brothers and shouts “eat!” In the evening, when her mom comes to pick her up and calls “Chể Chế phán xẻ!” she turns around, folds her hands and says, “Thưa ông bà con đi về” (Goodbye Grandpa and Grandma, I’m going home).

Kenneth, the youngest and the only grandson from our son, came along last, when we were already overloaded, so we had to ask his maternal grandma to help. He’s chubby, sweet, and calm—not mischievous like his sister. She’s the bossy one, and he’s always tagging behind.

When he was about to be born, his parents frantically searched for a name. Though they use English names, their Vietnamese names are still on the birth certificates. His parents—Khôi and Linh—wanted their kids’ names to spell out L.U.C.K. Michelle’s Vietnamese name is Minh Uyên. So, Grandpa suggested a “C” name. Jokingly, the father said: “C? Like Cục (chunk)?” In the end, Grandpa named him Khiêm Cung, and the whole family agreed: if there’s a third child, the names would be Thiên Ý for a boy and Minh Yến for a girl—completing the word L.U.C.K.Y.

Speaking of our first grandchild, I must talk about Kobe – Minh Kha. I was in the delivery room with his mom, and I was the first to hold him. It was a sacred, magical moment. He was a big baby—over nine pounds. His mom is petite and exhausted after labor, so her husband had to care for her. I stayed with the baby, afraid he’d get switched at the hospital. Looking at him, I felt a deep emotional bond—an invisible thread connecting us. I loved him immensely, missed him constantly.

When he was just babbling and clapping while talking to me on the phone, I recorded that moment and kept the tape forever—I could listen to it endlessly without tiring.

Carter – Bảo Đăng is two years younger than his brother. He’s tall, slender, good-looking, clever, and Grandpa’s pet. They’re a perfect pair. He understands everything Grandpa says, flatters him, and is sweet to Grandma too. But he’s a very picky eater. Meals can drag on forever unless he’s constantly reminded. Outside, he’s quick-witted, always asking questions, trying to outsmart his older brother who’s big but slow like a goofy chicken.

He used to be fluent in Vietnamese when living with us, but now that he’s in second grade, he’s forgotten most of it—“sent it off with the wind.”

Little Logi – Minh Khang, our youngest grandson, is charming with dimples that show even with a tiny smile. His parents had hoped for a girl after two boys but ended up with another boy. Though he’s just started talking, if you ask “Do you love Grandma and Grandpa?” he’ll beam and shout: “Dạ tó!” (Yes!).

The older two are tall, and he’s the small one, so Grandpa calls him our little duck. We try everything—Pediasure, grinding, blending, coaxing, clowning, flying spoons—to feed him, but he’s still growing slowly. Kenneth, on the other hand, eats like a lion and grows like a weed.

Our daughter teased me, “Grandma! Why is Kenneth’s grandma raising him so big, but our grandma’s raising a skinny boy? Our grandma’s no good!”

This past summer, Michelle’s grandma went back to Vietnam for over a month. My husband and I were run ragged from morning to night with the grandkids. Mornings were filled with diaper changes for the three little ones and meal prep for the whole gang. After eating, Grandpa played soccer with the older boys while Grandma made up games for the younger ones.

The house was full of toys, yet somehow all three would want the same thing and fight over it. I remembered my childhood home and my grandmother constantly saying: “Let your sibling have it” and making the older one give in. I was always the older one—always had to sacrifice. Now history repeats itself—I’m the grandma, and Michelle is the oldest just like I was.

Look away for a second, and all three kids are in the kitchen, banging pots and pans, raiding drawers, throwing onions and garlic on the floor. Grandpa comes in yelling like a train whistle. Grandma scrambles to clean up and herd them into the family room, putting on a dancing cartoon.

Then it’s like a kiddie pop concert—the three of them jumping and spinning together. Logi is the king of chaos—any button he sees, he presses like mad. Any remote he touches—gone!

My husband, who never changed a diaper or made a bottle when our kids were little, is now a pro grandpa. Out of love for me, he pitches in—makes bottles, feeds babies, burps them… he’s become surprisingly good at it. If my mother-in-law were still alive, she’d never believe it!

Lunchtime and dinner are the real battle: five kids, five appetites. The oldest is already almost as tall as me and weighs nearly the same. His parents want him on a diet—but he’s always hungry. The second is skinny and a picky eater, so Grandpa must beg and yell. The two little ones are a tag team—you can’t even finish feeding the skinny one before the chubby one is already mouth open, ready. Michelle is the only easy one—feeds herself unless it’s something she dislikes, then she flat out refuses.

Weekends are Grandma’s moments…
On peaceful afternoons, I recline on the swing chair under the shady garden trees. Autumn sunshine is golden and soft, the sky a clear blue with wisps of clouds drifting by. The gentle scent of magnolia lingers on the breeze, brushing my senses and carrying me back into the past…

I remember my own grandmother, and I miss her deeply. When I was Michelle’s age, I already had two younger siblings—Minh Thuận and Vân Hạnh. Our toys were simple: plastic dolls, stuffed animals. When my siblings wanted to play, Grandma made me give them my toys. But when I pouted, she’d go out and buy me a hot sticky rice cake to make it up to me.

When I was three, I started kindergarten at Hồng Bàng school, behind Hàng Da market. Grandma took me to class, and I made her wait at the door. She promised she’d sit at the snack stall outside the gate but would sneak home and return in time for pick-up.

One day she sent my aunt Nga to get me, and though I said nothing at first, I burst into tears when I got home, demanding Grandma come herself. I cried so hard she had to bring my aunt back to the school gate and pick me up again. I don’t know why my mom and grandma spoiled me so much, but they always recalled this story and said I was sharp-witted.

My mom had a baby every two years, breastfeeding each one. Every time she had a newborn, the recently weaned child was sent to sleep with Grandma. When Tuấn was born, Thuận and Hạnh slept tucked beside Grandma, and I had to sleep sideways at her feet. Every now and then, she’d gently stroke my back with her foot. On summer nights, she’d fan us and comfort me with a breeze from time to time.

Each evening, she made us wash up, change into clean clothes, and sit in line behind her while she chanted scriptures. Afterward, we’d crawl into the mosquito net and listen to fairy tales—Tấm Cám, Thạch Sanh, The Lady of the Temples, Quan Âm Thị Kính…

When I turned ten, with five younger siblings, I became the big sister. Grandma started teaching me how to shop and cook—how to pick the best chicken, the fattest duck, the freshest vegetables.

At home, Grandma wore black satin pants and a white silk blouse, with a velvet scarf on her head. When going out, she wore a brown áo dài embroidered with tiny yellow daisies. She loved magnolias and never wore makeup—just tucked a fresh magnolia flower into her scarf when going to the temple or leaving the house.

In 1965, my father was transferred to Thủ Đức, and we were given a lovely house with a big magnolia tree out front, full of blossoms. Grandma was thrilled. After bathing, she’d sit and let us pick her gray hairs, and always tucked a magnolia flower into her scarf when tying it back.

We had a trellis of night-blooming jasmine on the balcony, fragrant at night, but she didn’t like it—said it was too sharp. She loved the soft scent of magnolia. We would ask the gardener to climb up and cut branches for her to offer at the altar.

Thinking of Grandma, I always picture white magnolia blooms. And every time I see or smell a magnolia, I miss her. That year, she passed away… in August, in the autumn, while magnolias still bloomed quietly on the tree.

Now, I’m tending to a magnolia tree of my own. It’s hard to grow here. In winter, I have to wrap it in a shelter to protect it from frost. Each time it blooms, with just a dozen flowers, the fragrance gently drifts and takes me back in time…

And I wonder: One distant day in the future, when the tree is full of blossoms and its sweet scent spreads far and wide—will my dear grandchildren remember their Grandma the way I so tenderly remember mine?

—Đỗ Dung




VTLV TRANG ĐẶC BIỆT NGÀY CỦA MẸ. Thành Viên VTLV và Thân Hữu.

BÀI THƠ TẶNG MẸ.     CAO MỴ NHÂN

Tặng Mẹ bài thơ viết dở dang

Đèn trời thắp sáng cửa thiên đàng

Mẹ đi khi đó con ngơ ngác

Bà khóc lúc nào lệ chứa chan

Hơn nửa trăm năm rời đất Bắc

Đôi phần nhật nguyệt sống trong Nam

Chẳng bao giờ nghĩ về quê cũ 

Đốt nén hương xa thấy bẽ bàng

Ngày Lễ Mẹ  danh vang xứ người

Hoan ca phụ nữ đón hoa tươi

Bạch hồng đài các thơm vòng cổ

Hoàng cúc hồn nhiên thắm nụ cười

Không một niềm vui thêm kỷ niệm

Tròn nguyên nỗi khổ mãi trùng khơi

Kiếp sau hạnh ngộ làm con Mẹ 

Mẫu tử tình thâm suốt cuộc đời …

Rancho Palos Verdes  8 – 5 – 2025

           CAO MỴ NHÂN 

   11 -5 – 2025

NHỚ MẸ HIỀN – THƠ Trần Công/Tiền Giang Tử

Nhớ thương Mẹ lắm, Mẹ hiền ơi!

Mẹ đã xa con mãi mãi rồi

Đã mấy mươi năm con mất Mẹ

Mà lòng thương nhớ vẫn không nguôi.

       Mẹ đã đưa con đến với đời

       Khổ công dưỡng dục con nên người

       Đến ngày ly loạn con xa Mẹ

       Không gặp mẫu thân thưa mấy lời.

Ngày Mẹ bước lên tàu thiên cổ

Con đang lưu lạc ở quê người

Không về gặp Mẹ giờ phút cuối

Đau lòng con lắm, Mẹ hiền ơi!

   Nuôi con nhờ lúc tuổi về già

       Đến lúc Mẹ già, con bỏ đi

       Tích cốc phòng cơ, cơ bất cốc

       Dưỡng nhi đãi lão, lão vô nhi.

Hương lòng bốc khói tận trời xanh

Tưởng nhớ công ơn đấng sanh thành

Đã lỡ kiếp này con bất hiếu

Xin nguyền đáp nghĩa kiếp lai sanh.

                      Hoa Đô(Lockwood House)

                      Trần Công/Tiền Giang Tử.

CHÙM THƠ VỀ MẸ – ĐÔNG RY NGUYỄN

BÁNH XÈO CỦA MẸ NGÀY MƯA

*
Hôm nay được đãi bánh xèo
Mực cơm tôm thẻ nước lèo rau xanh
Ngồi ăn trong dạ chẳng đành
Bâng khuâng chống đũa nhớ hình ảnh xưa
Bánh xèo Mẹ đúc ngày mưa
Bột không với chút dầu dừa mà ngon!

*
Nhớ thuở xưa những ngày mưa lạnh lẽo
Cha thường kêu mẹ đúc bánh xèo
Thấy đàn con háo hức hò reo
Mẹ vui vẻ liền đi ngâm gạo
Sang hàng xóm xay nhờ bột nhão
Lục măng-rê tìm lại chén dầu dừa
Rau ngoài vườn đủ thứ chẳng cần mua
Thế là đủ cho khuôn tròn lên bếp nóng:

Củi riu riu
…lửa hồng lan sức ấm
Dầu dừa thơm
…réo gọi vị con tì
Tiếng xèo xèo
…bột chín nổ văng đi


  • Bánh nóng hổi
    …mẹ hớt vào lá chuối
    Chén mắm cái
    …đỏ au màu ớt tỏi
    Chấm vào nhai
    …tay quẹt mũi hít hà!
    Nhìn con ăn
    …ngấu nghiến mẹ cười xoà
    Niềm hạnh phúc
    …bừng lên bên ánh lửa
    Cuộc sống nghèo
    …nhưng nghĩa tình chan chứa
    Quên sao đành
    ….hình ảnh mẹ thân thương!

  • Xa rồi tổ ấm quê hương
    Giờ con chén đắng viễn phương một mình
    Chiều nay mưa bất thình lình
    Ngồi trong quán lạ nhớ hình ảnh xưa…

  • Bánh xèo mẹ đúc ngày mưa
    Bột không với chút dầu dừa mà ngon!

  • –Chàng Đông Ry Nguyễn.

Mẹ Ơi…!

Kiều My

Tháng Năm lại về, mang theo nắng nhẹ và hương thơm của những cành hoa mẫu đơn – loài hoa tượng trưng cho tình mẹ. Giữa cuộc sống nơi xứ người, lòng con luôn hướng về Mẹ – người đã âm thầm nuôi con khôn lớn bằng cả một đời hy sinh. Dù Mẹ còn hay đã khuất, Mẹ vẫn là hình ảnh thiêng liêng không gì sánh bằng, hình bóng Mẹ vẫn luôn là nơi bình yên nhất trong trái tim con.

“Tình Mẹ” thật thiêng liêng và sâu lắng! Có lẽ trên đời này, không có tình cảm nào dịu dàng, bền bỉ và bao la như tình mẹ. Dù ta lớn lên, đi xa hay trải qua bao sóng gió, thì vòng tay và trái tim của mẹ vẫn luôn là nơi chốn bình yên nhất.

Khi con lớn khôn rời xa vòng tay Mẹ, đi đến những chân trời xa lạ rộng mở, con cảm thấy thấm thía nỗi nhớ mỗi lần nghe giọng Mẹ qua điện thoại, mỗi lần thấy bóng dáng ai đó giống Mẹ giữa chợ đông người. Những lời Mẹ dặn con năm nào, giờ đây vang vọng mãi trong tâm hồn con, như ngọn hải đăng soi lối giữa giông tố cuộc đời. Mẹ ơi, nếu có điều gì con luôn muốn nói – ấy là: Con thương Mẹ và con biết ơn từng phút giây được làm con của Mẹ. Dù Mẹ đã ra đi, con vẫn tin rằng tình yêu của Mẹ  luôn dõi bước con đi trên đường đời đầy chông gai này và chở che con như thuở nào. Ngày Mother’s Day, con thầm nói: “Mẹ ơi… con thương Mẹ và nhớ Mẹ thật nhiều!”

Ngày Hiền Mẫu, để nhớ về người Mẹ đã ra đi trong nỗi ngậm ngùi– Người đã để lại trongcon một khoảng trống không gì lấp đầy; nhưng cũng là suối nguồn thương yêu bất tận, sống mãi trong tim con. Con nhận ra: Mẹ đã không còn nữa, Mẹ đã về cõi vĩnh hằng; nhưng tình yêu Mẹ để lại vẫn còn nguyên vẹn trong con như ngày nào. Con nhớ Mẹ  từng khoảnh khắc sống trong đời, là khi con nấu món canh chua Mẹ từng ưa thích, nghe bài hát Mẹ hay hát không trọn vẹn, hay những câu nói ví von của Mẹ… Những điều nhỏ bé ấy cứ âm thầm nhắc con về Mẹ – về một hình bóng dịu dàng, thân thương mà vĩnh viễn con không thể gặp lại lần nữa.

Có những nỗi nhớ không thể gọi thành tên, chỉ biết rằng từ thẳm sâu trong tâm hồn, con luôn có một chỗ dành cho Mẹ – không ai có thể thay thế. Và con tin, ở một nơi nào đó thật bình yên và thanh thản, Mẹ vẫn dõi theo con. Mỗi lần con vấp ngã, con vẫn cảm nhận được bàn tay Mẹ vô hình đỡ con dậy. Mỗi lần con làm được điều tốt, dường như có nụ cười của Mẹ thoáng hiện trên nền trời mây trắng.

Ngày Mother’s Day, con không thể tặng Mẹ một bó hoa, không thể ôm Mẹ thật chặt; nhưng con có thể thắp lên một ngọn nến, một nén nhang và thì thầm với trời xanh: Mẹ ơi, con nhớ Mẹ vô cùng… và con sẽ sống sao cho xứng đáng với tình yêu Mẹ dành cho con cả một đời.

Ngày Hiền Mẫu, tôi nhớ lại ngày tôi rời nhà, Mẹ không khóc trước mặt tôi, đôi mắt Mẹ đỏ hoe và Mẹ nắm chặt tay tôi hơn thường lệ. Mẹ dặn dò đủ thứ –“Qua đó nhớ giữ gìn sức khỏe và cẩn thận mọi sự việc nơi xứ lạ quê người, nghe con…”; rồi Mẹ gói ghém từ cái áo ấm đến thuốc cảm cúm đặt trong giỏ xách cho tôi.  Biết Mẹ lo, nhưng cũng biết Mẹ tự dặn lòng phải mạnh mẽ, để không làm tôi chùn bước. Mẹ tôi không biết nói những lời triết lý cao siêu, không giỏi thể hiện bằng những câu thơ văn, Mẹ chỉ lặng lẽ yêu thương bằng những chăm sóc chu đáo cho tôi. Tình Mẹ tưởng như giản dị mà hóa ra thiêng liêng vô cùng. Nhưng những ngày ấy đã lùi xa vào ký ức. Dù vậy, tôi biết tình mẹ chưa bao giờ xa tôi. Nó vẫn ở đây, trong từng nhịp thở, từng dòng chữ tôi viết, từng đêm trăn trở nhớ mẹ giữa mùa đông lạnh.

Ngày mẹ ngã bệnh, tôi đang ở xứ người và phải lo toan nhiều việc. Mẹ nói: “Đừng về vội, con à. Mẹ còn chịu được.” Tôi nghe mà nhói lòng, vì biết Mẹ  sợ tôi lo lắng và bận tâm. Tôi cứ ngỡ còn thời gian một tháng nữa, hai tháng nữa, hay lâu hơn nữa… Rồi bỗng một ngày điện thoại reo giữa đêm khuya… Tôi lặng người! Thời gian không chờ ai, và Mẹ tôi… đã không chờ đợi được nữa!

Chuyến bay trở về nhà  hôm ấy là chuyến đi dài nhất trong đời tôi. Không phải vì khoảng cách địa lý, mà vì lòng tôi nặng trĩu. Tôi không dám khóc giữa sân bay đông người, nhưng trong tim tôi, nước mắt đã chảy từ lâu – chảy từ khoảnh khắc tôi biết mình đã không kịp trở về, để nhìn Mẹ lần cuối và nghe Mẹ trối trăn!

Tôi đứng trước bàn thờ Mẹ, gục đầu, thì thầm: “Mẹ ơi, con về rồi đây… Nhưng muộn quá phảikhông Mẹ?” Mẹ lặng thinh! Chỉ có khói nhang bay lên di ảnh của Mẹ làm nhạt nhòe mắt Mẹ như ánh mắt Mẹ ngày tôi xa lìa gia đình. Từ ngày ấy, tôi sống với một vết thương không thể lành – vết thương của sự xa cách cuối cùng. Nhưng cũng từ đó, tôi hiểu sâu hơn về “tình mẹ”: đó là tình yêu không cần sự có mặt, vẫn âm thầm nâng đỡ tôi mỗi ngày, dù Mẹ đã đi xa. Giờ đây, mỗi khi nhìn lên bầu trời, tôi lại khẽ nói: “Mẹ ơi, con nhớ mẹ nhiều lắm.”Và tôi tin đâu đó, Mẹ vẫn mỉm cười nhẹ nhàng như những năm tháng xưa – khi Mẹ đứng trước cửa chờ tôi về, mái tóc bạc lấp lánh trong nắng chiều.

Mẹ –là hình dáng của tình yêu vĩnh cửu. Trong dòng đời hối hả, có một điều luôn âm ỉ cháy không tàn, đó là “ tình yêu của mẹ.” Tình yêu ấy không cần lý do để bắt đầu, cũng không chờ điều kiện để tồn tại. Mẹ là tiếng gọi đầu tiên ta thốt lên, là bóng hình cuối cùng ta giữ mãi trong tim. Có nhiều đại văn hào trên thế giới cũng đã từng ca ngợi “Tình Mẹ” như Victor Hugo viết: “A mother’s arms are made of tenderness and children sleep soundly in them.”

 (Vòng tay mẹ được dệt bằng sự dịu dàng, và trong đó con trẻ ngủ giấc bình an.)

Mẹ không chỉ là người sinh ra ta — mà còn là người chắp cánh cho ước mơ, dạy ta biết yêu thương, biết vươn lên giữa giông bão. Dù thời gian có đưa Mẹ đi xa, thì tiếng gọi “Mẹ ơi” vẫn mãi là lời thì thầm thiêng liêng nhất đời người.

Plato đã từng nói: “There is no greater love than that of a mother.”

(Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của một người mẹ.)

Trong mắt Mẹ, ta luôn là đứa trẻ nhỏ cần được vỗ về, dù ta đã là người trưởng thành giữa cuộc đời. Mẹ âm thầm lo lắng khi ta đi xa, thầm lặng vui mừng mỗi lần ta trở về. Mẹ cười sau lưng những thành công của ta, và khóc lặng lẽ cho những tổn thương mà ta chẳng hay biết.

Có một câu nói khuyết danh, nhưng hàm chứa một chân lý sâu xa:

“God could not be everywhere, and therefore he made mothers.”

(Thượng đế không thể có mặt ở khắp nơi, vì thế Ngài đã tạo ra người mẹ.)

 Mother’s Day không chỉ là dịp để tặng hoa, gửi quà, mà là một khoảnh khắc để ta lắng động tâm hồn, gởi đến Mẹ một lời cảm tạ từ trái tim. Dù Mẹ còn trên đời hay đã về bên kia thế giới, tình mẹ vẫn là nơi ta hướng về, mỗi khi đời bão giông.

Abraham Lincoln đã nói:

“All that I am, or hope to be, I owe to my angel mother.”

(Tất cả những gì tôi có được, hay hy vọng đạt tới, tôi đều nhờ người mẹ thiên thần của tôi.)

Cùng một nỗi niềm chung về “Tình Mẹ”, ngay trong thế giới âm nhạc mênh mông không biên giới, cũng vẫn có chỗ cho những bài hát ca tụng “Tình Mẹ”. Như hai ca khúc tiêu biểu: Maman oh Maman và Lòng Mẹ – hai bản nhạc cảm động đến tận cùng trái tim, tuy đến từ hai nền văn hóa, địa ly khác nhau; nhưng lại cùng chan chứa một tình yêu vĩ đại; đó là: tình mẫu tử.

“MAMAN OH MAMAN” – LỜI GỌI TỪ TRÁI TIM

Maman oh Maman là một ca khúc Pháp nổi tiếng, một bản tình ca dành cho Mẹ với tất cả yêu thương và biết ơn. Giai điệu của bài hát mộc mạc, dịu dàng như lời thủ thỉ của một đứa con nói với mẹ, nhưng lại chứa đựng cả một trời yêu thương và khát khao. Ca khúc này vượt thời gian và biên giới vì nó chạm đến sợi dây thiêng liêng nhất của con người – đó là tình mẹ. Mỗi lần nghe, người ta như được trở về thuở ấu thơ, được nép vào vòng tay yêu thương nhất, nơi không có lo toan, chỉ có hơi ấm và tiếng ru ngọt ngào.

Maman oh Maman, toi qui m’as donné. Tant de tendresse depuis tant d’années

Tu le sais bien, quand je serai grand. Je penserai à toi, Maman

Maman oh Maman, le jour et la nuit. Je veillerai toujours sur ta vie

Je serai là à tout les instants. Pour te protéger, Maman…

LÒNG MẸ” – BẢN THÁNH CA CỦA TÌNH MẸ

Nếu Maman oh Maman là lời hát của đứa con dành cho mẹ, thì Lòng Mẹ – một ca khúc bất hủ của nhạc sĩ Y Vân – là khúc ngợi ca cao nhất tình mẹ Việt Nam: sâu như biển Thái Bình, bao la như trời lồng lộng. Với những hình ảnh ẩn dụ tuyệt đẹp:

“Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào

Tình Mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào…

“Lòng Mẹ thương con như vầng trăng tròn mùa thu

Tình Mẹ âu yếm như làn gió đùa mặt hồ…”

Bản nhạc Lòng Mẹ rất tha thiết, mỗi khi âm điệu của bản nhạc cất lên làm rung động cả con tim và giọt lệ chợt ứa trong khóe mắt. Tình Mẹ sao quá đỗi ngọt ngào, Mẹ hy sinh cả một đời cho con, Mẹ luôn là người duy nhất không bao giờ bỏ rơi con, dù con thành công hay thất bại, giàu sang hay nghèo khó. Giai điệu ca khúc nhẹ nhàng, da diết, tràn đầy cảm xúc như lời ru vọng lại từ ký ức; khiến không ít người khi cất lên bài hát này đã không thể cầm được nước mắt.

Dù khác ngôn ngữ, khác văn hóa, nhưng Maman oh Maman và Lòng Mẹ đều chạm đến sâu thẳm trái tim người nghe. Mama oh Maman – như tiếng con trẻ nói với  Mẹ với tất cả yêu thương hồn nhiên; Lòng Mẹ là tiếng hát thành kính, dạt dào như khúc thánh ca dâng lên người Mẹ hiền đã hy sinh cả cuộc đời cho con.

Hai ca khúc – hai thế giới – nhưng chung một tình yêu: – đó là Tình Mẹ vĩnh cửu.

Happy Mother’s Day
DẤU CHÂN MẸ

Kiều My

      (Kính tặng những người Mẹ – còn đó hay đã xa…)

Trên đường đời con bước
Có dấu chân ai quen
Âm thầm như hơi thở
Nhưng ấm từng bước lên.

Có Mẹ là có nắng
Chợt một ngày đông tan
Có Mẹ  là tiếng hát
Ru con suốt tháng năm.

Mẹ xa rồi trăng khuyết
Hương bếp cũ mơ hồ
Bóng Mẹ như trong gió
Về bên cửa đợi chờ…

Con ngồi nghe mưa rớt
Trên mái nhớ ngày xưa
Từng bữa ăn đạm bạc
Mẹ nhường con hơn thừa.

Dẫu Mẹ còn hay khuất
Trong tim con vẫn đầy
Một vầng trăng không tắt
Dẫn con suốt tháng ngày…

Trong cuộc đời viễn xứ, đôi khi chúng ta không ngờ rằng giây phút chia xa cuối cùng với Mẹ lại đến quá đột ngột. Những dòng hồi tưởng này chan chứa nỗi ngậm ngùi của một người con sống xa quê nhà, mang trong tim nỗi ray rứt không thể ở cạnh Mẹ trong những ngày cuối đời của Mẹ. Nhưng cũng từ đó, ta nhận ra rằng tình mẹ vẫn luôn hiện hữu – âm thầm, bao la, và vĩnh viễn không rời xa. Dù Mẹ còn trên đời hay đã đi xa, tình mẹ vẫn luôn là ánh sáng dịu dàng dẫn lối  trong suốt hành trình của đời ta.

Kiều My

California, Mother’s Day 2025

Buồng chuối chín sau vườn
Lá vàng rụng con mương ngoài ngõ
Văng vẳng tiếng ầu ơ

Con chinh chiến chưa về
Đêm nghe gió đường quê mơ màng

Thấy Mẹ trong giấc mơ
Áo hoa con biếu Mẹ ngày nào
Che phủ tấm lưng cong

Ngày xưa một đóa hồng
Nay áo đẹp má hồng Mẹ phai

Vườn sau xanh bông cải
Mẹ thương con tháng ngày dầu dãi
Trông con đầu bạc trắng

Dạ con tấc lòng son
Đêm nhớ Mẹ mỏi mòn từng đêm

Hoa sứ nở đầy cành
Dây trầu xanh lá vẫn vấn quanh
Con ơi, sắp về chưa?

Dù đường đời trắc trở
Con sẽ về têm miếng trầu xanh

phamphanlang

Bài thơ mộc mạc ấy đã được hai nhạc sĩ tài hoa ưu ái phổ thành hai ca khúc sâu lắng và cảm động:

Nhân dịp Lễ Mẹ, PL xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến hai nhạc sĩ Vĩnh Điện, Mộc Thiêng và hai ca sĩ Diệu Hiền, Đông Nguyễn – những người đã thổi hồn vào bài thơ bằng giai điệu và giọng ca tuyệt vời, giúp bài thơ nhỏ bé này lan tỏa và chạm đến trái tim người nghe.

Xin kính mời quý vị cùng lắng nghe và tưởng nhớ những người Mẹ thân yêu trong mỗi chúng ta.

Kính chúc quý vị một mùa Lễ Mẹ an vui và tràn đầy yêu thương.

PLang

==

VÀ BÀI HÁT “NGÀY MẪU TỪ NHỚ MẸ“

NGÀY MẪU TỪ NHỚ MẸ

*

Từ xa con nhớ Mẹ nhiều

Mơ về cố quốc mỗi chiều quắt quay

Hoàng hôn bảng lảng vầng mây

Hạc vàng xoải cánh chở đầy yêu thương

*

Ngày con từ biệt quê hương

Mẹ già tóc bạc sầu vương chập chùng

Đông Tây sương khói mịt mùng

Bao năm chờ đợi tương phùng vấn an

*

Nhà đưa tin đến bàng hoàng

Đất trời chao đảo hoang mang vô bờ

Từng mong từng ước từng giờ

Ước mong gặp Mẹ cơn mơ ngập sầu

*

Ai làm biển cả ruộng dâu

Mẫu Từ vĩnh biệt lòng đau nghẹn ngào

Mộ phần hương khói ra sao

Đông tàn Xuân đến biết bao nỗi niềm

*

Chiều nay con nhớ Mẹ hiền

Từng cơn gió lượn ngoài hiên não nề

Gian nan đời Mẹ trăm bề

Vì con vất vả không hề trách than

*

Mẹ đà vĩnh biệt trần gian

Bước chân con vẫn lang thang cõi nào

Hoàng hôn thắm trải xôn xao

Nhưng lòng con trẻ dạt dào nhớ thương

*

Chiều về giọt nắng buồn vương

Cầu nơi Cực Lạc Mẹ nương phật đà

Thân con, bốn biển là nhà

Ngày Mẫu Từ, con nhớ Mẹ già…Mẹ ơi….

*

Phương Hoa – Ngày Mother’s Day, MAY 2025

===

MẸ TÔI

Năm lên sáu
Tôi đã thích đá banh
Một bó giẻ tròn
Mẹ tôi khâu kết
Một trái bưởi xanh
Mẹ hái sau vườn
Tôi mê chơi
Tới tắt mặt trời
Quên cả giờ cơm
Mẹ la, mẹ rầy

Năm mười sáu
Tôi đã biết hẹn hò
Ðèn sách biếng lười
Mẹ buồn, mẹ lo
Tương lai con
Không được bằng người

Năm hai mươi
Tôi lên đường
Ðáp lời sông núi
Mẹ không mấy vui
Sợ mình sẽ mất
Ðứa con trai
Ðộc nhất trên đời

Ðơn vị đóng đồn xa
Cả năm không về
Lòng mẹ xót xa
Từng ngày từng giờ
Thương con mình vất vả
Mũi tên hòn đạn
Biết đâu ngờ

Những ngày về phép
Ít khi gần gũi mẹ
Quen tính lang bạt
Tôi tìm lại bạn bè
Ðàn ca xướng hát
Nửa đêm mới về
Mẹ hỏi
Sao con không ở nhà với mẹ?
Tôi hôn trán mẹ, mỉm cười

Vận nước nổi trôi
Chí trai không tròn
Tôi đi tù
Mẹ già không ai nương tựa
Thương con – Nỗi nhớ – Hao mòn
Mẹ tôi mất
Sáu tháng mới nghe tin
Không cầm được nước mắt
Hồn đau – Vỡ nát con tim

Trong trại tù
Con thèm một tiếng rầy la
Con thèm một lời hờn dỗi
Con thèm một bàn tay trìu mến
Con thèm một điệu ru hời
Cuả mẹ ngày xưa
Ðưa con vào đời
Nhưng, nay còn đâu nữa
Mẹ ơi!

                               NHƯ HOA

ANH NGỮ

MY MOTHER

When I was just a six-year-old boy
Iá began playing soccer to enjoỵ
A ball of rags my mother sewed around
A green pomelo picked from the rear ground.
I indulged in the matches forgetting to eat
Causing my mother to chide, nearly to beat.

When coming to the age of sixteen
I already became on dates keen.
I neglected my lessons to learn
Leading my mother to sadness and concern
That my future would be inferior to my peers’.

When I reached of age twenty years,
My country got in danger, I joined the army.
This position was not deemed balmy
But dangerous and made my mother fear
The loss of her only begotten son so dear.

My unit was stationed all year far away.
I had no home leave even for half a day.
It pained my mother again and again to regard
My trying conditions as too hard:
Exposed to arrows and bullets, who knows?

After surviving many deadly blows,
I obtained permission.  But, used to roaming,
I went with friends on carousing and foaming,
And only came home late at night
Allowing myself little time within her sight.
My mother asked why.  Fearing she got riled,
I kissed her on the forehead, and smiled.

The fortune of the country turned ill
From bad to worse against my he-man’s will.
I became a POW.
                           My mother had no help.
She loved me, missed me, but did not yelp.
I heard the sad news six months late
After she had pined away to fate.
I could not hold back and burst into tears;
I felt my heart broken for all my life’s years.
                             *
                          *    *
During my days  in the enemy’s jail,
How I wished I could hear at me you rail!
How I craved for your against-me grudge,
Your hand to move my mind hard-to-budge,
Your lullaby to raise my good-natured soul
Leading me into life, guiding me toward a goal:
But now I can’t about those myself bother
— Oh my dear mother!                                 

                       THANH-THANH

Hôm Nay Ngày Lễ Mẹ

Tôi muốn viết những vần thơ tặng Mẹ
Gửi lên trời nhờ mây gió mang đi
Mẹ ở trên cao ngàn thu cách biệt
Ngày lễ Mẹ, giọt lệ ướt trên mi.
Dâng lên Mẹ những vần thơ sầu muộn
Cách biệt thiên thu, hoài niệm quay về
Trên Thiên quốc nhìn về nơi trần thế
Hồn ca dao vang vọng gió hương quê.
Chiếc nôi êm ru con ngủ trưa hè
Lời Mẹ ru giọt mật thấm trong mê
Mẹ là dòng sông êm đềm xuôi bến
Tắm ướt hồn con soi sáng đường về.

Dòng sông ơi! Sóng vỗ về lưu luyến
Nhớ về Mẹ hồn đau nhói lệ rơi
Con ôm cả bó hồng dâng tặng Mẹ
Thắp nén nhang buồn khói toả chơi vơi.
Tế Luân

Tưởng nhớ đến Mẹ tôi

người đã yên nghỉ trên Thiên Đàng

Bó Hồng Tặng Mẹ

Con cung kính. Bó hồng riêng tặng mẹ

Cả tình thương, sâu thẳm của tâm hồn

Mẹ là suối nguồn, dòng chảy tinh khiết

Nuôi con một đời, đến tuổi lớn khôn.

Dâng lên Mẹ ngàn đóa hồng thắm đỏ

Dòng máu hồng. Mẹ trao tặng cho con

Ngày lễ Mẹ, bồi hồi thêm nỗi nhớ

Nhớ ơn người, nuôi nấng thuở măng non.

Tình yêu mẹ, dạt dào như sóng vỗ

Vỗ giấc bình yên, chăm sóc đời con

Viết về Mẹ, lời thơ đầy nước mắt

Vào nỗi buồn, tuổi xuân đã hao mòn.

Công ơn Mẹ, sánh núi cao, biển cả

Thấu trời xanh. Thượng Đế phải ngậm ngùi

Mẹ là thảo nguyên bao la bát ngát

Dòng suối nguồn, tuôn chảy những ngọt bùi.

Mẹ trên cao, như sao sáng trên trời

Mẹ hiền từ, ôm con cả một đời

Lời nguyện cầu, con ước mơ về mẹ

Tiếng mẹ dịu dàng, nhớ mãi không ngơi.

Tình yêu của mẹ bao la biết mấy

Sáng như mặt trời, đẹp như mây bay

Ai! Còn Mẹ, đừng làm Mẹ bật khóc

Đừng để buồn, giọt lệ ướt trên tay.

Xin gửi đến Mẹ, ngàn đóa hoa hồng

Thắm sương long lanh, ướt cả nỗi lòng

Lời nghẹn ngào, bài thơ ngày lễ mẹ

Buộc vào hoa, gửi mẹ những hoài mong.

Lê Tuấn

Vần thơ tưởng nhớ đến Mẹ.

Gửi đến Mẹ ngàn đóa hoa hồng,

Thấm ướt trên nhánh lá những giọt nước mắt long lanh

thương nhớ Mẹ hiền.

4 Ca Khúc Thơ & Nhạc Lê Tuấn – Hòa Âm & Trình Bày AI

https://cuocsongthica.blogspot.com/2025/05/ca-khuc-do-ai-hoa-am-va-trinh-bay-hen.html

===

Lịch Sử Ngày Lễ Hiền Mẫu, Mother’s Day!

-Ngày của Mẹ (Mother‘s Day) ấn định mừng vào ngày Chủ Nhật thứ nhì của tháng 5 hằng năm. Đây là ngày để tôn vinh các bà mẹ, bà nội, bà ngoại, vì những đóng góp to lớn của họ cho gia đình, cộng đồng và xã hội

Nguồn gốc ngày của Mẹ có từ rất lâu, vào thời kỳ cổ Hy Lạp và La Mã. Nhưng cái gốc lịch sử Ngày Của Mẹ, có thể tìm thấy ở Anh Quốc, nơi đó Chủ Nhật Ngày của Mẹ, đã được tổ chức tưng bừng, trước khi lễ mừng này được “di cư” thành hình, bên Hoa Kỳ.

Dầu vậy, việc ăn mừng liên quan của ngày này, lại được coi là một hiện tượng, chỉ mới gần đây, mới hơn một trăm năm.

Thật ra, phải cảm tạ công khó của những phụ nữ tiền phong, như Julia Ward Howe và Anna Jarvis, mà “ngày này” mới được chính thức thành hình.

Ngày nay, việc tổ chức, tiệc mừng cho Ngày của Mẹ, đã được trên 50 quốc gia của thế giới công nhận. (Mặc dầu vào những ngày khác nhau) Trở thành những Ngày Lễ ý nghĩa, mà mọi người yêu thích nhất! Hàng triệu người trên khắp thế giới, dùng cơ hội này để nhớ đến, kiếm cách trả ơn bà mẹ của mình, tri ân họ về việc sanh thành, dưỡng dục, để họ thành người.

Ngày của Mẹ, được tổ chức tưng bừng nhất ở những quốc gia như: Mỹ, Nga, Anh Quốc, Ấn Độ, Đan Mạch, Phần Lan, Ý, Thổ Nhỉ Kỳ, Úc Đại Lợi, Mễ Tây Cơ, Gia Nã Đại, Trung Hoa, Nhật Bản, và Bỉ. Người ta dùng cơ hội của ngày này, để tỏ lòng tôn kính mẹ của mình và tri ân họ về tình yêu thương, sự nâng đỡ của Mẹ trong đời sống.

Nhưng ngày này, càng ngày càng phai mờ ý nghĩa, vì bị thương mại hóa. Đường dây điện thoại thì bận rộn, kẹt cứng nhất trong năm. Tiêu thụ hoa, quà, card, nhiều nhất! Nhà hàng cũng có khách đông nhất vào ngày lễ này. Ngày của Mẹ trở thành ngày làm ăn hốt bạc, cho những tiệm cắm hoa, những nhà làm thiệp và người bán quà tặng, cho cả dịch vu du lịch. Cơ hội hiếm có để kiếm tiền trong ngày này. Bằng chứng qua những cuộc quảng cáo quy mô, trước đó vài ba tháng, để thu hút khách hàng.

Thật là tiếc để ghi nhận rằng, bà Anna Jarvis đã bỏ hết cuộc đời, cho việc vinh danh ý nghĩa cao đẹp ngày của Mẹ. Giờ chỉ còn là dịp để vui chơi, quà cáp, ăn uống, trong ngày lễ. Những bà mẹ già, vẫn cô đơn mừng ngày này, trong các viện dưỡng lão. Trong khi các con của mình, tưng bừng hội hè ăn chơi phía ngoài, chẳng còn nhớ gì đến Mẹ của mình cả. Thật chua xót về tính cách thương mại hóa của ngày này. Mà đâu phải một lễ này đâu, lễ nào trên đất Mỹ này cũng thế!

 y89hy8ohiohipjhopjhopjo.jpg

Những câu danh ngôn về Mẹ nổi tiếng và ý nghĩa nhất

1. Với mẹ, dù lớn bao nhiêu, con mãi là một đứa trẻ! trong trái tim mình.

(Khuyết danh)

2. Chúa không thể ở khắp mọi nơi, để ban tình thương, ơn lành, nên Ngài sinh, tạo ra người mẹ!

(Proverbe Yiddish)

3. Khi bạn nhìn vào mắt của một người mẹ, bạn sẽ nhận biết được, tình yêu tinh khiết nhất, tuyệt vời nhất, mà bạn có thể tìm thấy trên trái đất.

(Mitch Albom)

4. Mẹ là người có thể thay thế bất kỳ ai khác, nhưng không ai có thể thay thế được mẹ.

(Gaspard Mermillod)

5. Tương lai của đứa con, luôn là công trình, tuyệt phẩm! hãnh diện nhất của người mẹ.

(Napoleon)

6. Tình thương của người mẹ, không bao giờ bị già nua, khi năm tháng trôi qua.

(Tục ngữ Đức)

7. Vũ trụ có nhiều kỳ quan, nhưng kỳ quan tuyệt diệu, quý báu nhất, là trái tim người mẹ!

(Bernard Shaw)

8. Không tình yêu nào vĩ đại, như tình yêu của người mẹ, dành cho đứa con của mình.

(Khuyết danh)

9. Người mẹ thật sự chẳng bao giờ rảnh rỗi, hình bóng con, luôn luôn hiện diện trong đầu và trái tim của Bà suốt cả đời!

(Balzac)

10. Tình yêu của người mẹ là yên bình, bình đẳng. Nó không cần bạn phải thông minh, đẹp đẽ, giỏi giang. Nó không cần bạn phải xứng đáng hay không! Nhiều khi khuyết tật, bạn còn nhận được nhiều hơn nữa!

(Erich Fromm)

11. Mẹ hiền sinh con ngoan, cây tốt sinh trái ngọt, lúa tốt cho gạo ngon.

(Ngạn ngữ Trung Quốc)

12. Người ta không bao giờ hiểu hết, nói hết về Thượng Đế, cũng như nói hết về người Mẹ.

(Ngạn ngữ Ấn Độ)

13. Mẹ nuôi con biển bờ lai láng, con nuôi mẹ kể tháng kể ngày.

(Tục ngữ Việt Nam)

14. Con đi ngàn dặm mẹ lo âu, Mẹ đi ngàn dặm con chẳng sầu.

(Ngạn ngữ Trung Quốc)

15. Khi bạn là một người mẹ, bạn không bao giờ thực sự cô độc trong suy nghĩ của mình. Một người mẹ luôn phải nghĩ hai lần, một lần cho bản thân và một lần cho con cái.

(Sophia Loren)

16. Một người mẹ vẫn mãi là một người mẹ, luôn luôn quan tâm đến những đứa con. Cho dù những đứa con đó đã lớn lên, vẫn là những đứa trẻ của riêng mình.

(Khuyết danh)

17. Trái tim của người mẹ là vực sâu muôn trượng, mà ở dưới đáy, bạn sẽ luôn tìm thấy sự tha thứ.

(Balzac)

18. Làm mẹ là một thái độ sống, thiêng liêng, không chỉ là mối liên hệ về sinh học.

(Robert A Heinlein)

 jkmjopjopookkokk.jpg

Phong tục “Happy Mother’s Day!” tại các nước trên thế giới

-Đa số các quốc gia trên thế giới ngày nay, ăn mừng Ngày của Mẹ, với các phong tục bắt nguồn từ Bắc Mỹ và Châu Âu. Khi được phổ biến tại các nước khác, ngày của mẹ đôi khi được thay đổi đôi chút, để phản ảnh nền văn hóa từng nơi. Một số nước để hợp nhất ngày lễ này, với những sự kiện quan trọng của nhiều phong tục bản xứ (ví dụ như tôn giáo, lịch sử, và truyền thuyết)hh8hhiohijhijhiji.jpg

*Ngày của mẹ ở Anh

Ngày của mẹ ở Anh cũng trùng vào ngày Chủ Nhật, bởi vậy mọi người thường tới nhà thờ làm lễ, sau đó mới trở về nhà của mình. Các thành viên trong gia đình, dù ở xa cũng sẽ cố gắng họp mặt đông đủ trong ngôi nhà của cha mẹ. Họ thường tổ chức một buổi tiệc có thiệp mừng, bánh gato, hoa quả, rượu và tặng quà cho những người mẹ.hhjh9j9j9pjopjopjo.jpg

*Ngày của mẹ ở Mỹ

Ngày của mẹ được khởi xướng trở lại sau thế chiến thứ hai tại Mỹ, do bà Anna Marie Jarvis đấu tranh xác lập, tại phố Grafton, tiểu bang Tây Virginia, Hoa Kỳ. Bà Anna Marie Jarvis quyết tâm thực hiện di nguyện của người mẹ quá cố. Người mẹ của bà Anna khi còn sống là một nhân viên an sinh, luôn đấu tranh không ngừng để làm rạng danh các bà mẹ, tri ân công sức của họ trong đời sống và vì hòa bình. Sau khi người mẹ mất, cộng thêm thái độ thờ ơ lãnh đạm của người dân Hoa Kỳ với thân mẫu của mình, càng thôi thúc quyết tâm của bà. Sau nhiều năm đấu tranh quyết liệt, vào năm 1911, Ngày Của Mẹ được tổ chức ở hầu hết các tiểu bang ở Mỹ. Vào ngày 8/5/1914, tổng thống Mỹ đã ký quyết định ấn định ngày Chủ nhật thứ hai của tháng Năm hàng năm là Ngày của Mẹ. Dần dần trở thành, một trong những ngày lễ được yêu thích nhất. Tiệc tùng cũng linh đình nhất!hioh8h8ohhiohiohio.jpg

*Ngày của mẹ ở Ấn Độ

Người Ấn Độ gọi ngày của mẹ là Durga Puja, trong đó “Durga” là tên của một nữ thần bảo vệ cho người dân Ấn Độ, khỏi mọi nguy hiểm trong cuộc sống. Họ tổ chức Ngày của mẹ như một lễ hội lớn vào tháng Mười, trong vòng… mười ngày! Đồng thời, với những người mẹ thật sự trong cuộc sống, mang nặng đẻ đau 9 tháng 10 ngày, cũng sẽ được người con vào bếp trổ tài nấu ăn và tặng quà cho mẹ.pvfyyffgyggugugu.jpg

*Ngày của mẹ ở Tây Ban Nha

Ngày của Mẹ được tổ chức vào ngày Chủ Nhật đầu tiên của tháng năm ở Tây Ban Nha. Người lớn thường tặng mẹ sôcôla, thiệp chúc mừng hay một số món quà ý nghĩa khác. Còn trẻ em thì tự tay làm tặng mẹ những tấm thiệp, hoặc làm món quà đơn giản.i0-jjjipjpjopjkopjph8.jpg

*Ngày của mẹ ở Nhật Bản

Trong ngày của mẹ, trẻ em sẽ vẽ những bức tranh dành tặng cho mẹ của mình và tập hợp những bức ảnh đó thành một cuộc triển lãm nhỏ, với chủ đề tình cảm mẹ con và sự hi sinh thầm lặng của các bà mẹ Nhật.ik0jopjopjopjopjopjkop.jpg

*Ngày của mẹ ở Úc

Hoa cẩm chướng là loài hoa biểu trưng cho ngày của mẹ ở Úc. Bông hoa cẩm chướng vàng dùng để tặng người mẹ đang còn sống. Còn hoa cẩm chướng trắng được dành tặng một người mẹ đã quá cố. Vào ngày này, trẻ em thường dậy sớm, làm tặng mẹ đồ ăn sáng và mang đến bên giường ngủ, để mẹ thức dậy và thưởng thức.

 

jojjjpjopjojojj.jpg

Con Xin Hôn Mẹ!

(Thơ Trần Quốc Bảo)hiojhiojiopjojojkok[kp[.jpg

-Con quí trọng vết nhăn trên mặt Mẹ,

Lớp da chập chùng như sóng đại dương!

Ấp ủ muôn trùng, lòng Mẹ yêu thương,

Muôn trùng hi sinh! – Muôn trùng đau đớn!

Để con sinh ra, để con khôn lớn.

Để hôm nay, con hiện diện giữa đời.

Me dạy con sống trọn đạo với Trời!

Và yêu người, như chính mình ta vậy.

Con không bao giờ quên lời Mẹ dạy,

Yêu Quê hương, yêu Tổ Quốc, giống nòi.

Mẹ đã dạy con: Thất bại mỉm cười…

Vịn lời Mẹ mà đứng lên can đảm!

         Lời Mẹ dạy con: Thành công điềm đạm,       

Mở rộng vòng tay giúp đỡ tha nhân.

Mẹ đã về Trời, xa cõi trầm luân…

Con vẫn yêu Mẹ như xưa còn bé.

Vì trong tim con, đậm hình bóng Mẹ!

Kỷ niệm tràn đầy như sóng đại dương.

Lòng Mẹ dạt dào, biển cả yêu thương.

Con xin hôn lớp nhăn trên mặt Mẹ!