VTLV – TRANG ĐẶC BIỆT MỪNG NGÀY TỪ PHỤ 2026. ĐỖ DUNG: Tùy Bút “Đỗ Gia Trang Trên Đồi Mê Linh.” Phương Hoa: THƠ CHÚC MỪNG NGÀY TỪ PHỤ. Phương Thúy: MỘT ĐỜI TẬN TỤY. Minh Thúy: THƠ & VĂN VỀ NGÀY LỄ CHA.

==

==

Đỗ Gia Trang Trên Đồi Mê Linh

Đỗ Dung kính nhớ Bố.

FATHER’S DAY 2026

Có những ngôi nhà biến mất khỏi mặt đất từ rất lâu nhưng vẫn còn nguyên trong ký ức.

Tôi nghĩ về điều đó vào một chiều cuối năm, khi ngồi bên cạnh Bố trong căn phòng nhỏ của viện dưỡng lão.

Ngoài cửa kính, trời mùa đông California xám đục. Mấy cành cây trơ lá run nhẹ trong gió. Chiếc tivi đặt ở góc phòng vẫn mở nhưng không có tiếng. Ánh sáng xanh nhấp nháy trên khuôn mặt đã hằn sâu những nếp thời gian.

Tôi cúi xuống hỏi:

“Bố có biết con là ai không?”

Ông ngẩng lên nhìn tôi. Đôi mắt đục mờ vì tuổi tác bỗng sáng ra một chút.

“Dung.”

Chỉ một tiếng gọi ấy thôi.

Bao nhiêu năm tháng bỗng quay về.

Tôi lại thấy mình đứng trong căn nhà cũ ở Mai Hắc Đế của Hà Nội ngày xưa. Những buổi sáng mùa đông, sương còn đọng trên mái ngói. Mùi hương trầm len lỏi trong từng gian nhà. Bộ sập gụ bóng màu thời gian nằm giữa phòng khách. Trên mặt tủ chè khảm xà cừ, những ông tiên trong tích Bát Tiên vẫn lấp lánh dưới ánh đèn vàng.

Đó là thế giới đầu tiên của tuổi thơ tôi.

Một thế giới có tiếng guốc của Mẹ đi trong sân. Có tiếng anh chị em gọi nhau í ới. Có mùi nước mắm chưng trên bếp. Và có tiếng chuông cơm của Bố.

Ba hồi dài.

Lúc nào cũng vậy.

Tiếng chuông vang lên là mọi cuộc chơi phải dừng lại.

Đứa ở sân trước chạy vào.

Đứa ở sân sau chạy lên.

Đứa còn đang đọc sách cũng phải gấp sách lại.

Cả nhà ngồi quanh mâm cơm như một nghi lễ không ai được phép vắng mặt.

Ngày ấy chúng tôi nghĩ đó là luật.

Nhiều năm sau mới hiểu đó là tình yêu.

Có những người cha thể hiện tình yêu bằng những lời âu yếm. Có người bằng những cái ôm. Bố tôi lại chọn cách riêng của ông: dựng nên một nếp nhà.

Ông vốn là người lính.

Người lính thường tin vào kỷ luật như tin vào xương sống của một đời người.

Khi gia đình chuyển vào Sài Gòn, căn nhà trên đường Thành Thái dần trở thành một thế giới riêng mang dấu ấn của ông. Chuông điện lớn được lắp ngay phòng khách. Mỗi người có một tín hiệu riêng. Phòng ngủ của mấy chị em được ông gọi bằng cái tên rất nhà binh: “Trại nữ binh”.

Mỗi lần nhớ lại, tôi vẫn bật cười.

Ngay cả tuổi thơ của chúng tôi cũng được tổ chức theo kiểu nhà binh.

Nhưng lạ thay, trong ký ức, tất cả đều ấm áp.

Kỷ luật của Bố chưa bao giờ làm người ta sợ.

Nó giống hàng rào quanh một khu vườn hơn.

Nhờ có nó mà những đứa trẻ được lớn lên trong an toàn.

Bên dưới vẻ nghiêm nghị ấy là một tâm hồn mềm đến không ngờ.

Ông mê nhạc tiền chiến.

Những đêm yên tĩnh, từ chiếc máy hát trong phòng khách vang lên Suối Mơ, Thiên Thai, Con Thuyền Không Bến. Có những bản nhạc tôi đã quên gần hết lời nhưng mỗi lần nghe lại vẫn thấy hiện lên bóng dáng Bố ngồi lặng lẽ bên tách trà.

Ông thích thơ.

Thích viết.

Thích những câu chữ đẹp.

Có lần tôi than phiền rằng hôm sau phải thuyết trình ở trường. Sáng dậy đã thấy trên bàn một bài viết hoàn chỉnh ông thức khuya chuẩn bị cho con gái.

Đến bây giờ tôi vẫn không biết trong đêm ấy ông đã thức đến mấy giờ.

Nhưng tôi biết chắc một điều:

Có những người cha không nói “Bố thương con”.

Họ dành cả cuộc đời để làm điều đó.

Nhà tôi đông con.

Đông đến mức người ngoài nhìn vào thường ngạc nhiên.

Vậy mà bằng một cách nào đó, Bố vẫn biết rõ từng đứa.

Biết đứa nào yếu đuối.

Biết đứa nào bướng bỉnh.

Biết đứa nào đang buồn.

Biết đứa nào cần được giúp đỡ.

Mỗi người nhận từ ông một tình thương khác nhau nhưng không ai thấy mình bị bỏ quên.

Có lẽ vì thế mà cho đến tận bây giờ, khi tóc đã điểm bạc, anh chị em chúng tôi vẫn nhắc về ông như nhắc về tâm điểm của một vòng tròn.

Rồi đất nước đổi thay.

Những cơn sóng lớn của lịch sử tràn qua từng mái nhà.

Gia đình tôi cũng không nằm ngoài dòng chảy ấy.

Một ngày, người cha vẫn đứng đầu bàn ăn bỗng phải rời khỏi nhà để bước vào những năm tháng cải tạo.

Khi ấy tôi còn trẻ.

Chưa đủ tuổi để hiểu hết nỗi đau của người lớn.

Nhưng tôi nhớ rất rõ khuôn mặt của Mẹ.

Nhớ những đêm đèn khuya.

Nhớ mùi nhang trên bàn thờ.

Nhớ sự chờ đợi kéo dài tưởng như không có điểm cuối.

Sau này đọc lại những dòng di bút của Bố, tôi mới hiểu phần nào sức mạnh đã giúp ông đi qua những năm tháng ấy.

Ông không viết về hận thù.

Ông viết về nhân cách.

Ông không nói đến thất bại.

Ông nói đến lòng tự trọng.

Có những con người càng ở trong nghịch cảnh càng hiện rõ phẩm giá của mình.

Bố thuộc về số ít những người như thế.

Ngày đoàn tụ ở San Francisco, tôi nhìn thấy một người đàn ông gầy hơn, già hơn, tóc bạc hơn.

Nhưng không phải là một người bị đánh gục.

Tôi nghĩ có những chiến thắng không ai nhìn thấy.

Đó là khi một con người vẫn giữ được phần tốt đẹp nhất của mình sau tất cả những gì đã xảy ra.

Những năm cuối đời, sức khỏe của ông yếu dần.

Bệnh tật đến như những cơn thủy triều không thể cưỡng lại.

Mẹ cũng già đi.

Hai người chậm rãi bước về phía bên kia cuộc đời.

Có lần nhìn họ ngồi cạnh nhau trong phòng bệnh, tôi chợt nghĩ đến hai ngọn đèn dầu đã cháy gần cạn.

Ánh sáng không còn mạnh.

Nhưng vẫn sáng.

Vẫn đủ để soi cho nhau.

Ngày ấy, Bố thường nói về một giấc mơ.

Ông gọi nó là Đỗ Gia Trang.

Một khu nhà trên đồi Mê Linh.

Một mặt hồ.

Một dãy nhà hình chữ U.

Ông bà ở giữa.

Con cháu quây quần xung quanh.

Ông còn vẽ sơ đồ bằng bút chì và ghi tên từng đứa con vào từng phòng.

Nhiều năm qua đi.

Giấc mơ ấy chưa bao giờ được xây dựng bằng gạch đá.

Nhưng càng sống lâu, tôi càng hiểu rằng Bố đã xây nó rồi.

Ông xây bằng một vật liệu bền hơn xi măng.

Ông xây bằng ký ức.

Bằng tiếng chuông cơm ba hồi.

Bằng những bài hát cũ.

Bằng những lời dạy đơn sơ.

Bằng những giọt nước mắt ngày tiễn con gái về nhà chồng.

Bằng khí phách của một người lính không chịu đánh mất mình.

Bằng tình yêu bền bỉ dành cho gia đình.

Cho nên hôm nay, khi nhìn lại, tôi không còn tiếc ngôi nhà trên đồi Mê Linh nữa.

Bởi vì Đỗ Gia Trang chưa bao giờ nằm ở một địa chỉ nào trên bản đồ.

Nó nằm trong chúng tôi.

Trong cách anh chị em vẫn tìm đến nhau.

Trong cách con cháu vẫn nhắc tên Ông Bà.

Trong cách một gia đình được nối tiếp qua nhiều thế hệ bằng lòng biết ơn và ký ức.

Chiều cuối năm ngoài cửa kính đã xuống hẳn.

Tôi ngồi bên cạnh Bố.

Nắm bàn tay gầy guộc của ông trong tay mình.

Bàn tay ấy đã đi qua chiến tranh, tù đày, ly biệt và đoàn tụ.

Bàn tay ấy đã dựng nên một mái nhà.

Và bỗng nhiên, từ rất xa trong ký ức, tôi lại nghe thấy tiếng chuông cơm năm nào.

Ba hồi dài.

Rõ ràng.

Ấm áp.

Như thể suốt cuộc đời này, Bố vẫn đang gọi chúng tôi trở về.

Đỗ Dung

==

MỘT ĐỜI TẬN TỤYTùy Bút Nguyễn Phương Thúy

Một Đời Tận Tụy

Nguyễn Phương Thúy

Bố Mẹ tôi di cư vào Nam lúc tôi mới được vài tháng. Thay tên đổi họ, Bố phải làm lại từ đầu mặc dù đã có bằng Diplome Pháp. Trước tiên là Bố thi Tiểu học, năm sau thi nhảy Tú tài I, rồi năm kế thi Tú tài II, sau đó thi vào ngạch Bộ Y tế. Bố vừa đi làm vừa lấy bằng cử nhân Luật trong bốn năm, rồi lại thi chuyển ngạch sang Bộ Ngoại giao. Ban ngày Bố đi làm, ban đêm chong đèn học khi các con đã đi ngủ hết. Bố học rất giỏi lại nhớ lâu, như một tủ sách biết đi.

Nhà đông con, cứ hai năm lại thêm một đứa, chỉ một mình Bố đi làm nuôi cả gia đình. Đời sống tuy chật vật, nhưng Bố lại không muốn Mẹ tôi phải tất bật phụ giúp việc mưu sinh vì Bố cho rằng việc chăm sóc và dậy dỗ con cái là tối quan trọng. Bố lo cho gia đình rất đầy đủ, cho chúng tôi được ăn học đàng hoàng nhưng bản than Bố rất cần kiệm, ăn uống rất giản dị, nhường cho vợ con ăn trước, rồi còn gì ăn nấy, nhiều khi nhâm nhi tí rượu với rau muống luộc cũng xong.

Bố Mẹ tôi có bảy người con, hai con trai đầu và cuối, ở giữa là năm cô con gái. Mỗi lần sanh, nghe bà đỡ reo lên “con gái” là Mẹ lại ớn đến phát rét, nhưng Bố thì rất thích, cho rằng:

“Con gái là con của ta,

Thương cha, thương mẹ, việc nhà đảm đang.”

Tôi là chị cả của đám con gái. Khỏi phải nói, tôi được hưởng nhiều quyền lợi hơn các em, cái gì cũng được ưu tiên, từ quần áo đến đồ chơi, nhưng ngược lại tôi phải phụ Mẹ tôi lo cho gia đình. Tôi đảm nhiệm vai trò của mình khá giỏi giang, lại hợp tính Bố, hay thủ thỉ tâm tình, nên Bố yêu thương tôi hơn cả. Những lúc lỡ tay làm vỡ chén bát, đồ đạc, tôi chỉ cần mau lẹ thú tội với Bố là Bố nhận hết tội dùm tôi; thế là tôi tránh được biết bao nhiêu cái roi vào đít.

Khi tôi lên chín, thì Bộ Y tế cho Bố đi tu nghiệp ở London sáu tháng. Tôi không bao giờ quên được hôm tiễn Bố ở phi trường Tân Sơn Nhất. Tôi cứ bịn rịn, quấn quanh chân Bố không muốn rời. Đến khi Bố đưa tay vẫy và khuất bóng sau cách cửa tàu bay thì tôi khóc nức nở, chỉ sợ Bố đi luôn, không về nữa. Mẹ phải trấn an và dỗ dành là Bố sẽ về và sẽ mua cho tôi nhiều đồ chơi thật đẹp.

Tôi nhớ Bố đến héo hon. Chiều nào cũng vậy, sau bữa cơm tối, chị Hai (người giúp việc) dẫn tôi ra đầu đường ngóng Bố. Tôi đứng ôm cột đèn, dõi mắt tìm Bố trong dòng người, dòng xe cộ tấp nập qua lại. Mãi đến khi phố lên đèn thì tôi mới lủi thủi đi về.

Sáu tháng dài dằng dặc rồi cũng qua. Ngày đón Bố về vui như hội. Tôi lăn xả vào lòng Bố, đòi Bố kể cho nghe những món quà đang nằm trong vali. Tôi nài nỉ, kì kèo cho mình được chọn quà trước và tôi đã dành được con búp bê đẹp nhất, tóc dài vàng óng, váy đỏ viền ren, biết nhắm mắt mở mắt. Các em tôi còn hậm hực, ấm ức mãi cho đến bây giờ.

Đời sống hạnh phúc, êm đềm trôi giữa những giao động của chiến tranh. Công việc của Bố ở bệnh viện Chợ Rẫy rất vững bền. Bố được cấp nhà cho ở gần đó và được mọi người kính nể, thương mến.

Năm 1968, Tết Mậu Thân, Việt cộng tấn công thủ đô và các vùng phụ cận. Gia đình tôi chứng kiến cảnh giết người ngay trước cửa nhà, trên đường Lê Đại Hành. Lần đâu tôi thấy Bố sợ hãi, như thể một cái gì thật khủng khiếp trong quá khứ bỗng dưng chổi dậy đe dọa phá vỡ những gì mà chúng tôi đang có, kể cả sinh mệnh.

Tôi lập cập chồng hai cái ghế vào nhau để Bố leo lên trần nhà trốn. Sự sợ hãi của Bố Mẹ bao trùm con cái, cả con chó cũng sợ lây. Tôi núp trong căn phòng nhỏ dưới chân cầu thang, siết chặt hai bàn tay cho cơ thể đỡ run rẩy; nhắm nghiền mắt cầu nguyện với niềm tin tuyệt đối vào sự cứu khổ và linh ứng của Phật Bà Quán Thế Âm.

Thật may mắn, bọn Việt cộng đã bỏ đi sau khi giết chết một người đàn ông vô tội. Bố vội vã đưa gia đình vào tạm trú trong nhà thương Chợ Rẫy. Đến khi bình yên trở về nhà, tôi thấy có những vết đạn loang lổ trên tường.

Từ đấy Bố tôi trở nên trầm tư, bi quan, và để ý theo dõi cuộc chiến mà mỗi ngày một thêm khốc liệt.

Rồi Bố nhất định bỏ hết những bổng lộc đang có, để thi chuyển ngạch vào Bộ Ngoại giao, mong muốn sẽ có cơ hội đem cả gia đình đi ngoại quốc. Bố am hiểu tình hình chính trị nước nhà và thế giới, đã tiên đoán được vận mệnh không may của đất nước sau này.

Rồi những ngày tháng của 1975 hoảng loạn, ai cũng tìm đường chạy, vòng trong và vòng ngoài phi trường Tân Sơn Nhất đầy xe và người. Bố liên lạc hàng tuần, dục Mẹ lên Bộ Ngoại giao xin visa qua Lào đoàn tụ gia đình, chuẩn bị hành lý, đốt những giấy tờ, hình ảnh không cần thiết. Nhờ có Bố mà chúng tôi đi được trót lọt, đáp chuyến bay cuối cùng qua Lào chỉ một tuần trước khi mất nước.

Đến Lào, sau vài hôm nghỉ ngơi, Bố lại dục chúng tôi “dọn nhà”, chuẩn bị sẵn sàng cho một cuộc ra đi khác.

Đúng như Bố dự đoán, 10:45 sáng ngày 30 tháng Tư, có tin Sài Gòn đã mất. Từ nhiệm sở về, Bố vội vã hối thúc mọi người ra xe thật nhanh vì Bố biết bọn Lào cộng sẽ kéo đến đây, bắt Bố là người tổ chức những chương trình kiều vận để lôi kéo đồng bào Việt về với quốc gia. Cả gia đình gồm chín người và hành lý không thể dồn hết vào chiếc xe Toyota. Bố Mẹ tôi và em gái phải ở lại chờ chuyến sau. Chú Lễ, nhân viên của Bố, chở chúng tôi về nhà chú gần đấy rồi quay trở lại ngay để đón Bố Mẹ và em tôi. Đúng đến lúc tôi tuyệt vọng, không thể chờ được nữa thì Bố Mẹ và em tôi về, cùng với ba chiếc taxi. Mọi người hối hả lên xe, chạy hết tốc lực về phía Thadeur là nơi giáp sông Mekong; từ đây chúng tôi hồi hộp vượt sông, lấy chuyến xe lửa tốc hành chạy suốt đêm đến Bangkok. Vừa đến đây lại được tin tòa Đại sứ VN đóng cửa, chúng tôi đành theo nhân viên tòa Đại sứ lên mấy chiếc xe bus trực chỉ căn cứ Mỹ Utapao. Cuộc trốn chạy bọn Lào cộng, tìm tự do của gia đình tôi từ Vientiane, qua sông Mekong, đến Bangkok, rồi đến Utapao có nhiều khó khăn và nguy hiểm, nhưng có Bố bên cạnh, tôi không thấy sợ hãi, chỉ thấy buồn thấm thía. Trong cái tai họa chung của dân tộc, mới thấy gia đình tôi thật là  quá may mắn.

Lại một lần nữa Bố tôi phải gầy dựng lại từ đầu, từ hai bàn tay trắng. Bố sẵn sàng làm bất cứ việc gì để nuôi gia đình và chỉ muốn Mẹ tôi tiếp tục quán xuyến việc nội trợ như xưa. Khi cầm cái paycheck đầu tiên, Bố đã bật khóc. Cái paycheck ấy đã đem lại sự sống, niềm hy vọng cho gia đình tôi, và cũng giúp Bố lấy lại lòng tự trọng và niềm tự hào khi tiếp tục hoàn thành bổn phận của một người cha và là trụ cột của gia đình.

Bố mua một chiếc station wagon để đưa đón chị em tôi đi học ở Ohio University, cách nhà hơn bốn tiếng lái xe.

Bố không quen lái đường xa, vẫn vui vẻ đón đưa con đi về vào kỳ nghỉ của trường dù tôi muốn tránh cho Bố việc lái xe nhọc nhằn, nguy hiểm bằng cách xin ở lại trong ký túc xá (dorm). Sự lo lắng của tôi đã thành sự thật.

Trên đường về, xe của Bố đâm xuống ruộng, may mà Bố chỉ bị thương nhẹ; nhưng cái xe thì hư hại hoàn toàn; bán cho tiệm xăng được 100 dollars thì tiền đi taxi về nhà hết 120 dollars.

Sau bao nhiêu năm vất vả, Bố đã hoàn thành mỹ mãn nhiệm vụ làm Cha. Các con đã trưởng thành, đã có nghề nghiệp vững chắc, và đã có tổ ấm riêng. Mỗi năm, từ mọi miền đất hứa, các con về thăm viếng, quây quần họp mặt tại nhà tôi vì Bố Mẹ đã chọn ở với gia đình tôi sau khi về hưu.

Vào dịp lễ thượng thọ, tôi làm hai câu đối này để tặng Bố, một người thương yêu gia đình rất mực, luôn tận tâm lo lắng và hy sinh tất cả cho vợ con:

Một đời tận tụy vì vợ vì con,

Hai phận vuông tròn làm Phu làm Phụ.

Quá 80 tuổi, Bố vẫn còn minh mẫn, vẫn còn nhớ ngày sinh nhật của đám con cháu – hơn 20 đứa, và còn giúp tôi những việc vặt trong nhà.

Ngoài những đau nhức phong thấp thường có ở tuổi già, Bố ít khi bị bệnh nặng.

Năm ngoái, Bố phải vào nằm nhà thương mấy hôm vì có sạn ở túi mật. Để tránh bị đau đớn lần nữa, bác sĩ đề nghị cắt bỏ, nhưng Bố không chịu, nói là chỉ còn sống thêm vài năm nữa, tội gì phải chịu mổ xẻ. Vì không muốn vào nhà thương và không muốn làm khổ con cháu, Bố bắt đầu ăn kiêng ngay từ hôm về lại nhà. Bố gầy yếu hẳn đi, nhưng tinh thần không bị dao động, không sợ hãi. Bố đã hiểu rõ chuyện sinh tử, luân hồi của đạo Phật từ lâu và đã sẵn sàng để “về”. Tôi hằng cầu nguyện:

Xin Trời lấy bớt tuổi đời,

Thêm vào Cha Mẹ sống thời bách niên.

Cho chúng con được đáp đền,

Công Cha, nghĩa Mẹ bách niên chưa vừa.”

Dù Bố có sống đến 100 năm hay không, tôi vẫn được an ủi rất nhiều vì tôi đã có được một phần thân thể của Bố và đã học được một phần những đức tính nhân hậu, tận tụy, hy sinh quý giá của Bố. Tình yêu của chúng tôi dành cho Bố tuy không biểu lộ qua lời nói thường xuyên nhưng lại vô cùng sâu đậm, mãi mãi với thời gian.

Nguyễn Phương Thúy, 5/20/2010

==

THƠ & VĂN VỀ NGÀY LỄ CHA_ MINH THÚY THÀNH NỘI

Hội Phụ Nữ Tổ Chức Lễ Cha 

Tình cha vỹ đại nói sao vừa 
Lặn lội thân mình hứng gió mưa 
Rường cột gia đình lo bạc tóc 
Công ơn dưỡng dục kể bằng thừa 

Một đời lam lũ bởi vì con 
Dạy dỗ lời êm tránh đánh đòn 
Vật lộn mưu sinh nuôi trẻ dại 
Thành nhân đỗ đạt dẫu thân mòn 

Can trường thời chiến với non sông 
Cha lính cộng hòa góp sức công 
Đội nắng phơi sương vì tổ quốc 
Tù lao vận nước đổi đau lòng 

Nơi miền đất Bắc phố Cali
Thung lũng hoa vàng hoạt động chi 
Phụ nữ chung tay cùng hội trưởng 
Mừng cha từ phụ chức cao kỳ 

Văn nghệ chung vui diễn đủ màn 
Tặng quà cắt bánh nhạc mừng vang 
Vinh danh Từ phụ thiêng liêng phút 
Nguyện sống vai trò hiếu tử mang 

Văn hóa giữ gìn đẹp sáng tươi 
Vườn hoa hiếu hạnh dạy con người 
Lễ Cha ý nghĩa ngày tham dự 
Hội Phụ Nữ xây những nụ cười 
Minh Thúy Thành Nội 
Happy Father’s Day 
…………………………………………………..

Lời Ba Muốn Nói – Minh Thúy Thành Nội

Mùa Hạ đã bắt đầu báo hiệu, các loài hoa thi đua nở đủ màu sắc tươi vui. Anh Quang bước ra sân theo tiếng gọi của vợ nhờ bưng phụ mấy chậu hoa quỳnh lên bệ cao, vì muốn ngắm nét đẹp của loài hoa trang đài đang nở hàng chục đóa hồng và vàng. Bé LiLy bước chân cao chân thấp đi theo cha cười hồn nhiên.

– Con tránh ra để ba phụ mẹ chút nha

Lily nghiêng đầu qua, nghiêng đầu về vẫn níu áo, anh đành dừng chân nói với vợ “chờ chút…con đang vui vẻ”. Anh gỡ nhẹ tay con dìu vào ghế dài dưới tàng cây phượng vàng nay đã tàn hoa, chỉ còn bóng lá xanh tỏa mát. Anh ôm con, đặt đầu LiLy áp vào ngực anh, nghe luồng tim đập ấm áp chứa tình thương bao la.

Nhìn con lòng anh như quên hết chuyện phiền não hôm qua.

Vợ chồng anh mua vé hai tháng trước cho chuyến bay qua Hawaii nghỉ mát như thường lệ. Đã làm thủ tục check-in và ký gởi hành lý xong xuôi, vợ chồng anh hân hoan xếp hàng, bỗng bé Lily ngồi sụp xuống, níu chân ba mẹ nhìn về hướng ngược, biểu hiện ý đòi trở lui. Anh dỗ con “Ngoan Lily nhé, con sẽ vui đùa tắm biển khi qua đó”. Bé hất tay anh ra, rồi nằm lăn dài khóc lóc. Anh chị thay phiên dỗ dành, dìu con lùi qua một bên nhường chỗ cho khách hàng đang bước từ từ lên. Thời gian như muốn đứng lại, Anh chị nhỏ nhẹ, vuốt ve con sau gần một tiếng đồng hồ, cháu vẫn la hét đến khàn cổ. Cuối cùng anh chị phải chiều ý con gọi Uber trở về nhà. Anh liên lạc với nhân viên Airlines báo cáo hủy chuyến bay dù hành lý đã gởi, và được cho biết sẽ nhận lại một tuần sau.

LiLy ngồi yên ép sát đầu vào ngực anh, trong khi chị nhổ cỏ dại mọc xen chung quanh các chậu hoa trong lúc chờ đợi anh giúp đỡ việc nặng.

Anh nhìn màu nắng rực rỡ, ký ức ùa về của khoảng thời gian gần 30 năm trước. Anh giật mình “thời gian trôi nhanh quá, mọi chuyện cứ ngỡ như mới đâu đây…” Anh để dòng sông êm ả trôi về miền kỷ niệm…

Sinh ra trong một gia đình có ba anh em, Anh là trai lớn, thủa nhỏ đi học luôn đoạt bằng khen, bằng danh dự. Theo gia đình vượt biên qua Mỹ, anh hội nhập mau chóng và tiến bộ trong lãnh vực học đường, suôn sẻ tốt nghiệp bằng kỹ sư. Anh làm việc đi qua nhiều hãng nổi tiếng, hiện tại làm cho hãng Cisco tọa lạc vùng San Jose, nhưng được làm việc ở nhà.

Anh nhớ một mùa hè năm đó…. trong vài buổi làm việc thiện nguyện tại San Francisco, Anh gặp Ái Thanh (vợ anh bây giờ) đang là sinh viên của trường San Jose State, nàng rất đẹp và xông xáo trong công việc. Anh đã bị hớp hồn ngay từ phút đầu và tìm cách làm quen, quyết chinh phục cho bằng được. Chị lúc ấy cũng mến anh, một kỹ sư có nét thanh tú với dáng cao và tánh tình hiền lành ít nói. Anh chờ chị tốt nghiệp bốn năm, chị có việc làm trong phòng thí nghiệm của trường Đại Học. Mọi việc đều vững vàng bảo đảm đời sống, vì anh đã mua nhà trước đó. Sau vài năm tìm hiểu, anh chị quyết định tiến tới hôn nhân và hiện là cư dân của vùng Milpitas.

Mọi sự đều chuẩn bị sẵn sàng, đứa con trai Robert đầu đời, Anh chị chào đón trong niềm hạnh phúc vô biên. Ba năm sau bé Lily được sinh ra, những giây phút chờ trông cháu Lily lật trở vui nhộn biết bò theo thứ tự bẩm sinh. Sau gần hai năm, theo dõi bước thay đổi và phát triển của con, chưa thấy bé Lily biết đứng, biết bập bẹ phát ra âm thanh của trẻ con, anh chị lo lắng đem con đi gặp bác sĩ và bệnh viện nhiều lần, kết quả bác sĩ cho biết cháu bình thường, hãy chờ đợi thêm thời gian nữa”. Anh chị bắt đầu sống trong tâm trạng lo âu hồi hộp vì chẳng có gì tiến triển, ngày tháng trôi qua trong mòn mỏi, nhìn con vẫn bò quanh nhà dù đã lên bốn, năm, sáu…tuổi.

Khi con đầu lòng chào đời, anh chị tìm được người trung niên độc thân tên Sâm, sinh hoạt các chùa (do bạn giới thiệu), sau thời gian quan sát tìm hiểu tánh tình chị Sâm này rất hiền từ nhân hậu. anh chị yên tâm để chị Sâm ở lại sáu ngày, cuối tuần về thăm nhà, vì vậy vợ chồng yên tâm cày cấy trang trải nhiều thứ nợ.

Trước đây chị Sâm trông nom em gái Natalie con anh kỹ sư Lâm. Chị kể lại: “Em gái này đã trên hai mươi tuổi, bị bệnh Autism (tự kỷ) rất hung dữ, qua nhiều người đến chăm sóc nhưng họ phải đầu hàng vì em không chịu ai cả. Có những lúc em bị kinh nguyệt, em vùng vằng không cho chị Sâm thay băng làm vệ sinh, cuối cùng anh Lâm phải tự tay làm công việc ấy cho con, bởi vợ chồng đã ly dị, mà anh là người nuôi con. Chị Sâm thương lắm cũng đành nghỉ việc, sau bà Nội đến ở lại chăm cháu. Thỉnh thoảng cuối tuần chị Sâm cũng ghé thăm vì thương những mảnh đời đau khổ, thương những đứa trẻ không được bình thường sống trong hoàn cảnh thật xót xa. Câu chuyện được kể khi chị Sâm chứng kiến bé Lily có nhiều dấu hiệu không được bình thường, nhưng chị Sâm may mắn trông cháu bền lâu vì tánh Lily hiền lành dễ chịu hơn.

Một hôm tình cờ xem hình cha con anh Lâm trong buổi tiệc gia đình có chị Sâm chụp chung, nhờ vậy anh Quang nhận ra người bạn học xưa. Họ liên lạc hỏi thăm, tâm tình tìm sự cảm thông nhau từ đó.

Một buổi hai anh hẹn gặp uống cà phê cuối tuần. Sự mệt mỏi hiện ra trên nét mặt, mỗi người như bị áp lực đè nặng trong công việc và con cái. Anh Quang kể về hãng Cisco, anh Lâm làm cho hãng IBM, trao đổi những mẫu chuyện về nghề nghiệp. Anh Quang hỏi thăm bệnh tình cháu Natalie.

– Cháu vẫn chơi và khỏe đó chứ?

– Càng ngày tâm tính cháu càng hung hăng chướng kỳ, giai đoạn này cháu không thích mặc quần áo, cởi bỏ hết đi khắp nhà. Bà nội không đủ sức mặc vào cho cháu, tôi phụ giúp thật khó khăn vì cháu vùng vẫy, phải cố gắng dùng sức mạnh kềm tay chân cháu. Mặc quần áo xong rồi tôi phát hiện có vết bầm trên cánh tay cháu, biết mình vô ý lỡ mạnh tay tôi thật đau lòng, hối hận muốn khóc vì thương con mình quá.

Anh Lâm kể lại với ánh mắt buồn bã. Biết hoàn cảnh bạn mình đã ly dị chịu cảnh gà trống nuôi con, anh Quang nhẹ nhàng:

– Ông cũng nên tìm người bạn mới cho khuây bớt

Anh Lâm lộ vẻ uể oải chậm rãi:

– Nói gì, tôi cũng có bạn gái chứ, tháng trước dẫn về chơi dò ý con, cháu Natalie lộ vẻ giận dữ hai mắt đỏ ngầu, tôi sợ quá nghĩ từ nay không đem về nhà nữa. Lòng tôi cũng chẳng hứng thú gì khi nghĩ đến con, chỉ muốn để mặc dòng đời trôi… Mỗi ngày đi làm về nhìn con, chơi với con bằng tình phụ tử thiêng liêng dậy lên những cảm xúc dạt dào khôn nguôi thật khó tả.

Một hôm người quen khuyên anh Quang xin tiền phúc lợi Social Security Disability Insurance (Bảo Hiểm Khuyết Tật An Sinh Xã Hội – SSDI). Anh gạt ngang nghĩ thầm “Làm gì có chuyện đó đối với anh, khi mức lương vợ chồng cao, lại đang làm chủ hai ngôi nhà, một ở và một cho thuê, trường hợp anh không thể được quyền hưởng phúc lợi”. Anh hoàn toàn không tin, nhưng nghe nhiều người bàn cãi quá, điện thoại hỏi bạn Lâm, bạn cũng không biết. Hai anh điền đơn thử thì được xác nhận: trẻ em bị bệnh tự kỷ được hưởng quyền lợi là đúng, dù cha mẹ có dư điều kiện tài chánh đi chăng nữa.

Anh Quang không thể ngờ được nước Mỹ có chính sách nhân đạo đến vậy. Chính phủ không quan tâm ai giàu hay ai lương cao việc lớn mà chỉ chú trọng việc chăm sóc, hỗ trợ cho trẻ em, nhất là các trẻ em đặc biệt. Chính phủ trả lương cho người chăm sóc bé Lily và được hưởng thêm quyền lợi bảo hiểm sức khỏe. Bé được đi trường học lớp đặc biệt có xe đưa đón tận nhà, được cô giáo người bản xứ về nhà dạy riêng hai tiếng ngoài giờ. Anh muốn hét to “American vĩ đại, nhân từ bậc nhất…” Cho dù lương của anh bị trừ thuế 40% vẫn xứng đáng, vui vẻ góp phần xây dựng đất nước này phát triển vững mạnh thêm.

Mùa đông đi qua, mùa xuân lại đến, mùa hè trở lại, mùa thu tuần tự. Anh chị vẫn sống bằng niềm hy vọng bệnh tình bé Lily có phần tiến bộ, dù đã qua mười hai năm cháu vẫn chưa biết nói, biết đứng dậy. Tới năm mười bốn tuổi, bỗng dưng cháu đứng dậy và từ từ bước tập tễnh, còn niềm vui nào lớn hơn. Anh chị đã ôm nhau khóc vì mừng rỡ, bám tiếp tục niềm hy vọng để sống.

Nghĩ đến vợ, anh cảm thấy thường quý vô cùng. Nàng nấu ăn rất ngon, dù có chị Sâm trong nhà, nhưng bà xã chỉ muốn tự tay nấu những món ngon cho chồng con ăn vừa ý. Sau giờ làm vợ tất bật về nhà đứng mấy tiếng đồng hồ trong bếp, tối dành thì giờ chơi với con. Bé Lily rất kén ăn, nàng theo chiều con sát nút. Có điều đối với chị Sâm, bé dễ chịu vui vẻ, nhưng khi vợ anh về là bé chướng hết cỡ, đòi lung tung đủ thứ, bắt nàng bồng bế dù LiLy rất nặng ký. Bé có dấu hiệu: thích ngồi một mình, sợ người đông và sợ âm thanh mở lớn. Khi vui bé ngồi cười một mình xoay đầu liên tục, cô giáo có kỹ thuật chuyên môn dạy cháu chơi game để phát triển não bộ, cháu biết mở ipad và biết nhiều trò chơi trong máy khiến anh chị thấy phấn khởi vô cùng.

Anh chị ngoài thì giờ sinh hoạt, cũng tìm đọc các trang mạng về bệnh tự kỷ để hiểu thêm tâm lý. Chị là người mẹ rất tuyệt vời, luôn dặn anh “đừng bao giờ lộ nét mặt buồn giận con, mà phải cố gắng tạo nét mặt vui vẻ, ánh mắt trao nhìn con thật trìu mến”. Anh nhớ bao nhiêu năm, vợ luôn đè nén những ước mơ riêng tư, chịu đựng hy sinh cho con hết mực, những khi cháu nổi cơn bất thình lình. Như lần qua Florida ăn cưới cháu, trong buổi tiệc Lily nằm dài la hét làm anh chị không dự được phải ẵm con về khách sạn sớm; lần đi máy bay qua Nhật, cháu nằm lăn trên sàn khóc lóc lăn lộn, hành khách thật lịch sự ngồi yên như không có chuyện gì xảy ra dù cháu quậy rất ồn ào; lần qua đảo Big Island bên Hawaii, Lily cũng nằm vạ trên lối chờ vào máy bay, hôm đó tình cờ một viên phi công đi ngang qua, cúi xuống cầm tay em dẫn đi vào máy bay, cháu ngưng tiếng khóc bước theo, may mắn chuyến đó anh chị được thoát nạn; mỗi khi đến nhà ai hoặc ra ngoài công viên dự tiệc, thường chỉ có mình anh đi dự, họa hoằn đôi bữa có chị nhưng chị cũng nửa chừng bỏ cuộc.

Tiếng chị đánh thức anh về vùng hiện tại:

– Anh để con chơi, phụ em cho xong việc, em còn đi chợ vì tủ lạnh trống trơn rồi

– Được em! 

Anh đẩy nhẹ Lily ra khỏi vòng tay.

– Con dạo ngắm hoa đi nhé, con có thấy hoa nở đẹp không?

Bé buông tay anh bước chậm nhìn hoa, không biết con có hiểu lời anh nói!!??

Sau một hồi phụ vợ các việc nặng, anh ngồi nhìn con chơi trong sân. Robert, anh Hai của LiLy đã tốt nghiệp Đại Học và có việc làm nơi xa. Anh chị vẫn tựa vào niềm hy vọng một ngày được nghe con gái nói, dù tiếng nói bằng ngôn, anh chị ngữ riêng cũng tốt. Năm nay quỹ An Sinh Xã Hội cắt giảm tài trợ việc cô giáo đến nhà bày vẽ chơi game cùng Lily hai tiếng mỗi ngày. Nhưng không hề gì, anh chị vẫn tiếp tục trả lương cho cô giáo, để cô hướng dẫn dưới hình thức chơi game bằng phương pháp trị liệu tâm lý và khai triển bộ óc.

Lily quay nhìn anh, cười tươi tắn, trở lại ôm anh sờ ngực, sờ áo. Anh vuốt tóc con thì thầm “Lời ba muốn nói với con, là ba mẹ yêu con nhất trên đời. Con là hơi thở, là sự sống của ba mẹ. Dù sao con cũng được sinh ra trên nước Mỹ, một đất nước nhân bản, có nhân đạo luôn đặt quyền lợi các trẻ em bị bệnh lên ưu tiên hàng đầu”.

Năm nay LiLy đã hai mươi tuổi. Tuần trước anh chị định dẫn bé đi chơi xa như món quà sinh nhật, vì anh chị thấy cháu rất thích chơi đùa với sóng biển, thích tắm nơi bờ biển vắng người, nhưng chuyến này không may nên bất thành. Con bé cao giống anh, khuôn mặt trái soan, nét mặt giống chị. LiLy sinh ra đời được bao nhiêu người yêu thương ngoài ba mẹ, hai bên nội ngoại, chị Sâm, người quen và nhất là anh Hai Robert của bé, cũng biết dỗ dành, chiều chuộng, đút cơm hoặc thay tả cho em mình.

Đã vào tháng Sáu, ngày Chủ Nhật đẹp trời. Anh chị tổ chức sinh nhật cho LiLy ngoài park gần nhà. Mùa hè đến, cây cỏ xanh um, quang cảnh mang bộ mặt tươi vui đầy sức sống. Bà con đến đông chúc mừng quà cho cháu. Tuần trước bé không vui cản trở chuyến đi chơi, hôm nay bé vui, ngồi yên cho mọi người chuyện trò ăn uống khiến anh chị mừng lắm.

Chiều dần xuống Lily chỉ về hướng xa vắng người, nắm tay ba kéo đi. Anh nhờ chị tiếp khách, hai ba con bước tới những mô đá bên kia đường, bé ngừng lại muốn ngồi xuống. Anh cũng ngồi theo bé nhìn bóng chiều lung linh hoa nắng nhảy múa trên vạt cỏ. LiLy nhìn quanh quẩn lộ nét mặt dễ chịu nơi có không khí yên tĩnh thoáng đạt. Mặc bên kia mọi người rôm rả nói chuyện, ăn uống tiếp tục, anh vẫn lặng lẽ ngồi bên con cả tiếng đồng hồ, nhìn mây trời trôi lãng đãng, nghĩ đến những mảnh đời khác nhau biến chuyển theo cuộc sống.

“Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh”, nghĩ người bạn có con bị bệnh giống Lily, anh thấy mình được may mắn hơn, vì còn có đứa con trai thành đạt, có vợ bên cạnh chung nhau chăm sóc Lily. Anh nhớ điều đã đọc trong tài liệu về phương thuốc chữa bệnh Tự Kỷ Tâm Lý: “Tình yêu thương của người thân chính là phương thuốc hữu hiệu nhất cho người bị tự kỷ. Nên trò chuyện với họ nhiều hơn để tinh thần được thoải mái”.

Anh lẩm bẩm “Nhất định xóa tan đau khổ, thất vọng, chống phá căn bệnh trầm cảm chen vào. Con là giọt máu, là tình yêu thương lớn nhất trên đời. Ba Mẹ sẽ chiều ý con, dù lúc con vui hay khi con nổi chướng, miễn Ba Mẹ được sống bên con gái yêu quý …”

Minh Thúy Thành Nội 

Mùa Lễ Cha 

==

ĐỌC TRUYỆN THỦY NHƯ: THỬ THÁCH ĐẦU ĐỜIDiễn Đọc Thảo Mi

==

Thử Thách Đầu Đời

Tiếng súng nổ vang dội lấn át giọng nói của người cha vừa vẫy tay tạm biệt cậu
con trai vừa bước lui về phía chiến trường đầy khói. Cậu bé thét gào lên, “Ba ơi!
Ba ơi! Tại sao ba phải đi?” “Ba phải đi. Ba thương con vô cùng…” Giọng người
cha xa dần và cậu bé giật mình thức giấc. Cậu nhận ra là mình đang khóc trong
mơ và miệng vẫn còn lẩm nhẩm, “Tại sao ba phải đi?”

Đó là một đoạn trong vở kịch truyền thanh “The Price of Freedom” do Focus On
The Family phát hành mà má chồng tôi đã mua tặng cho các con tôi. Bà mua một
loạt những vở kịch Adventures in Odyssey truyền thanh như vậy để chúng nghe
mỗi khi chúng tôi ngồi trên xe. Hôm đó tôi và hai cậu con trai nhỏ đang lắng nghe
vở kịch “The Price of Freedom” trên đường lái xe đến thăm ba mẹ tôi lúc bấy giờ
đang ở Redlands. Nhìn qua kiếng chiếu hậu, tôi thấy mắt hai cậu con trai tôi ngấn
nước. Tôi nhấn nút dừng vở kịch và hỏi chúng với giọng cũng nghẹn ngào. “Các
con có sợ khi nghe vở kịch này không? Mẹ tắt nhé!” Cậu con trai lớn 8 tuổi của tôi
trả lời với giọng mếu máo, “Không. Con muốn nghe tiếp.” Cậu nhỏ tôi tiếp theo
anh nó. “Con cũng muốn nghe nữa.”

Tôi nhấn nút tiếp tục vở kịch. Đó là câu chuyện về câu chuyện về cậu bé Kirk
McGinty có ba đã tử trận trong chiến tranh Việt nam. Mẹ của Kirk cũng sang Việt
nam làm việc và gặp ba cậu nơi đó. Họ làm đám cưới ở Việt nam và có những
ngày hạnh phúc ngắn ngủi với nhau. Sau đó Mỹ quyết định rút quân khỏi Việt nam
và mẹ cậu trở về Mỹ với bào thai, là Kirk, trong bụng mà chưa kịp báo cho người
chồng còn ở lại. Và ông đã vĩnh viễn nằm xuống tại chiến trường Việt nam những
ngày sau đó. Với phong trào phản chiến leo thang, bà McGinty đã đem con rời
thành phố về sống tại một miền đồng quê để tránh cho con khỏi nghe những lời chỉ
trích và chửi bới độc địa về những người lính tham chiến tại Việt nam.

Có lẽ bà McGinty đã kể lại cho con trai rất nhiều hình ảnh oai hùng của chồng bà,
là ba của Kirk, nên cậu bé rất thích những ý tưởng về những cuộc chiến thắng,
chinh phục và chiến lược binh trận. Kirk ngưỡng mộ ba mình biết bao nhiêu thì
cậu cảm thấy sụp đổ đau đớn bấy nhiêu khi trong giờ học lịch sử, thầy giáo Altman
đã gọi cuộc chiến Việt nam là một cuộc chiến vô nghĩa. Cậu đã nán lại sau giờ học
để hỏi thầy giáo những cảm nghĩ của ông về những người lính tham chiến tại Việt
nam. Thầy Altman khẳng định lại lập trường của mình rằng chiến tranh Việt nam
là vô nghiã và cái chết của những người lính Mỹ cũng vô nghĩa như vậy. Ông còn

cho cậu bé mượn một cuốn sách trong đó tác giả mô tả những người lính Mỹ ở
chiến trường Việt nam là những kẻ giết người một cách tàn bạo.
Kirk đau đớn khi nghe những nhận xét của thầy giáo. Cậu giống như bị quật một
trận nên thân, biếng ăn, mất ngủ và không còn là một cậu bé vui tươi hiếu động
nữa. Thần tượng của cậu là người cha đã hoàn toàn sụp đổ sau những lời nói của
ông thầy dạy Sử. Ba của cậu không còn là một anh hùng mà là một tội đồ. May
mắn thay, Whit, một ông già trong phố đã nhận ra sự thay đổi của Kirk. Ông đã
tìm hiểu và đến nói chuyện với thầy giáo về ba của Kirk, một quân nhân đã tử trận
trong chiến tranh Việt nam. Thầy giáo đã nhận ra rằng ông đã quá lời.

Mẹ của Kirk cũng đau lòng khi thấy tinh thần con suy sụp. Với sự sắp xếp của ông
Whit, bà được mời phát biểu trong buổi lễ Memorial của thành phố. Hôm đó bà đã
đọc lá thư cuối cùng của chồng. Sau khi nghe lá thư của ba, Kirk đã lấy lại niềm
tin của mình, rằng ba cậu đã chiến đấu cho một lý tưởng cao đẹp và đã hy sinh thân
mình cho một sứ mạng mà đất nước đã giao phó.

Mẹ con tôi sụt sùi khi nghe câu chuyện đó. Có lẽ tôi quên nhiều chi tiết trong vở
kịch nhưng có một câu nói của người mẹ làm tôi nhớ hoài. “I’m sorry that your
father was your first test.” (Mẹ lấy làm tiếc rằng ba là thử thách đầu đời của con.)
Trong nước mắt, tôi cũng đã nói với các con tôi giống như vậy sau khi nghe xong
vở kịch. “Mẹ cũng rất lấy làm tiếc là ông ngoại cũng đã là thử thách đầu đời của
mẹ và các cậu dì, là chị em của mẹ.” Tôi đã kể cho các con tôi về những cảm nghĩ
của tôi về ba ngày ấy.

Sau năm 75, ba tôi vì đã làm việc cho chế độ miền Nam Việt nam nên ông bị bắt
giam trong tù cộng sản. Thương mẹ ngày ấy phải một mình chống chọi với đủ mọi
áp lực để nuôi đàn con thơ dại khờ. Chị em chúng tôi còn quá nhỏ để có thể sẻ
chia với mẹ những sợ hãi, gánh nặng trên thể xác cũng như tinh thần thời đó. Mẹ
mong chờ ba trở về để cất bớt gánh nặng. Mỗi lần chúng tôi ước một điều gì đó,
mẹ nói. “Khi nào ba về, thì ba sẽ làm cho con.” Tôi đặt bao nhiêu hy vọng vào ba.
Tôi tin rằng khi ba về, nhà tôi sẽ khá hơn và tôi cũng sẽ được ngẩng cao đầu với bè
bạn.

Cũng giống như cậu bé trong truyện, tôi đã nhiều lần nghi ngờ rằng có thực là ba
tôi là một người tử tế không. Hay là ba thật sự là một trong những “tên ác ôn có
nợ máu với nhân dân” như cách nói của chính quyền cộng sản. Tôi thích nhớ ba tôi thật oai trước năm 75 dẫu hồi đó tôi còn rất bé. Ba tôi trở về nhà sau những đợt công cán dài ngày và tôi ngồi dưới chân ba nhổ những bông cỏ mây bám vào vớ và ống quần khi ba đi qua vạt cỏ đến máy bay đậu trên đồng để bay về nhà. Nhưng ba tôi trông thật xơ xác khi tôi đi với mẹ thăm ba trong trại tù. Ba trông hốc hác, tiều tuỵ, yếu ớt, khác rất nhiều so với những gì tôi nhớ về ba. Mẹ bảo, “Ở tù mà con.”

Tôi nhớ hồi đó có bộ phim gì tôi không nhớ tên (mà bây giờ cũng không muốn
kiếm,) nhưng nhớ tên bài hát trong phim, “Em sẽ là hoa hồng nhỏ.” Trong phim
đó, ba của cô bé cũng như ba tôi đang ở tù. Ông đã nhận ra những điều sai trái đã
làm trong chính quyền miền Nam và đã giác ngộ. Nhà nước đã mau chóng khoan
hồng cho ông trở về sum họp với gia đình. Tôi đã ngây thơ viết thư cho ba sau khi
đi xem phim về, mong rằng ba cũng làm như ông đó để ba được chóng về với mẹ
và chị em chúng tôi. Lá thư đó có lẽ đã bị quẳng vào thùng rác, chẳng đến tay ba,
nên ba tôi đi tù đến 7 năm – một thời gian dài đủ để tôi, từ một con bé hỉ mũi chưa
sạch thành một cô bé tuổi thiếu niên với bao mơ ước.

Khi ba tôi về, gia đình tôi không khá hơn mà còn tệ hơn. Chính quyền không cho
ba tôi về ở nhà tôi nhưng bắt phải về trên quê cách chỗ chúng tôi 20 km. Nhà tôi
hồi đó chỉ có một chiếc xe đạp cho mẹ đi buôn bán. Ba không làm được việc gì cả
vì không có hộ khẩu nên không có chỗ ở. Không thể hiểu nổi cái lý luận lòng vòng
của chính quyền về cái tờ hộ khẩu, hậu khổ, tai quái đó.

Ba tôi bị bắt đi tù trước khi cái tờ hộ khẩu quái đản đó được ban hành và dĩ nhiên
là tên ông không có trong tờ hộ khẩu của nhà tôi. Họ bảo rằng ba bị bắt ở trên quê
nên khi ra tù phải về trên quê, nơi mà ba tôi không có một mảnh đất để làm nhà.
Trong khi đó cái nhà do ba tôi xây ra ở dưới thị xã, nơi mẹ con tôi đang trú ngụ thì
ba lại không được ở. Không biết là chính quyền không hiểu hay là không chịu
nghe để mà hiểu, nên cứ bắt ba tôi về quê. Công an đến soát nhà tôi mỗi đêm để
tìm bắt ba tôi vì cư ngụ bất hợp pháp. Điều trớ trêu là nhà tôi có rất nhiều người ở
trên quê xuống tạm trú. Anh chị em họ ở trọ để đi học, đi họp. Bác cậu mợ cô chú
thím dì dượng ở nhờ nhà tôi để chữa bịnh dài lâu. Chính quyền không bắt ai cả,
mà chỉ tìm bắt mỗi ba tôi. Mỗi đêm xuống là chúng tôi lo sợ. Gia đình chúng tôi
sống trong căng thẳng, sợ hãi và lo âu. Cái lo sợ đã làm mặt mày tôi lúc nào cũng
nhăn nhó, đau khổ nên bạn bè có đứa gọi tôi là bà già khắc khổ. Tôi nhiều lần ước
chi ba còn ở trong tù để cho chị em chúng tôi không bị khổ sở về tinh thần.

Có người bảo ba mẹ tôi đấm vào mõm họ … một ít tiền là xong. Ước gì nhà tôi có
tiền để làm điều đó. Mẹ lên kế hoạch dài lâu. Đem thiến hai con gà trống trong
đám gà nhà. Rồi vỗ béo và đem hiến cho họ, giống như tống cho đám quỷ sứ,
giống như là “con gà trống thiến để riêng cho thầy …” Kế hoạch thành công! Với
bao đêm ba tôi phải leo lên mái nhà để trốn mỗi khi công an đến soát nhà và chị
em tôi nín thở giả vờ ngủ, mấy tháng sau đó nhà tôi có được hai con gà trống thiến
mập mạp. Chị em tôi hí hửng. Thí cho họ một con. Còn một con, chị em tôi
mong được ăn thử thịt gà trống thiến xem nó ngon cỡ nào. Có lẽ thịt gì chúng tôi
cũng cho là ngon hết, bởi mỗi năm chúng tôi chỉ được ăn thịt một, hai lần.
Vậy mà đến Tết, ba bảo phải biếu cả hai con gà trống thiến. Một con cho ông công
an xã trên quê để ổng ký giấy cho đi và con kia cho ông công an khu vực chỗ nhà
tôi để ổng cho ba tôi ở. Chị em tôi thất vọng hết sức. Chúng tôi chẳng được ăn
thịt gà trống thiến như mong đợi. Hai con gà ra đi. Ba vẫn không được về ở nhà
chúng tôi. Đám quỷ sứ đông quá! Nhà tôi không nuôi kịp gà để … đấm vào mõm
họ. Ba bực mình bỏ Tam kỳ vào Mỹ xuân lập nghiệp.

Ba đi được vài tháng rồi gởi thư về bảo mẹ đem cậu em trai đang chuẩn bị lên lớp
6 vào ở với ba. Tôi chuẩn bị lên lớp 12 và sẽ vào ở với ba sau khi tốt nghiệp. Mẹ
sẽ ở lại Tam kỳ với cô em gái cho đến khi em học xong lớp 12 vì chỗ ba ở không
có trường cấp ba. Chị tôi chuẩn bị đi lấy chồng nên ba mẹ khỏi phải lo. Mẹ dẫn
cậu em vào với ba và khi về, mẹ kể chuyện nơi ba đến lập nghiệp. Tôi nghe mẹ kể
về miền đất ba vào sinh sống với bao háo hức. Nhà có vườn và ao nuôi cá, có
ruộng để trồng lúa đủ ăn, có đất để trồng rau và hoa quả. Người ta vào tận nhà để
mua cây trái hoa lá trong vườn, mình không phải đem ra chợ bán. Đặc biệt là vườn
có những cây xoài tượng cho trái ngọt lịm… Tôi tưởng tượng ra một cuộc sống
yên bình no đủ đang chờ đón tôi nơi miền Nam hiền hoà như tôi đã đọc trong
truyện.

Tôi đã thất vọng tràn trề khi tôi vào đến nhà ở Mỹ xuân vào tháng 6 năm 1985. Đó
là mùa mưa của miền Nam. Chiều nào trời cũng mưa. Nhà ba mua nằm trên vạc
đất thấp của khu vườn nên nước thấm vào nền nhà bằng đất, làm nền nhà trông
nhớp nháp. Căn nhà lợp lá dừa phía trong nhìn đẹp nhưng phía ngoài trông thật
xấu xí. Tường nhà thì bằng đất nhồi rơm. Mưa đổ xuống, nhà dột lung tung và
nước tạt vào tường làm ướt đồ đạc nằm sát vách. Mùa mưa cây cỏ xanh tốt vượt
lên che phủ mọi thứ làm cho căn nhà của chúng tôi trông như một cái chòi giữa

rừng hoang. Buổi tối còn thảm hơn với ngọn đèn dầu le lói trông thật buồn. Cái
cảnh đìu hiu trong rừng vắng đó làm tôi nhớ Tam kỳ đến cháy người.
Nhưng điều kinh khủng hơn cả là không có bạn bè. Tôi ngày ngày ra vườn nhổ
đậu, trồng khoai, cấy lúa, hái điều…Tối về đọc đi đọc lại vài cuốn sách tôi có
được. Đọc đi đọc lại mãi phát chán nhưng cũng phải đọc vì không có gì để giải trí.
Tôi ước mong có một người đến thăm nhưng điều tôi mơ ước là không tưởng bởi
nhà tôi ở xa đường lộ, không địa chỉ. Thư từ thì cả tháng mới tới mà cũng không
có tiền mua tem để gởi thư. Tôi và ba chỉ biết làm ruộng rẫy mà không biết tính
toán buôn bán, thành ra cuộc sống rất là chật vật. Những ngày giáp hạt, nhà không
có gạo ăn. Ba phải đạp xe đi 20 km mượn lúa của một người bà con xa. Đem lúa
về, thì lại không có tiền đi xay thành gạo. Mang xuống nhà máy xay xong, họ lấy
lại một ít gạo để trừ tiền xay.

Vài tháng sau đó, ba tôi dắt cậu em về Tam kỳ chịu tang ông nội mấy tuần. Tôi ở
một mình giữa cánh đồng hoang, xa xa mới có một hàng xóm và nhà họ lúc nào
cũng đóng cửa. Tôi thường nói chuyện một mình trong cái cô đơn tột cùng. Đó là
những ngày kinh khủng của đời tôi. Không dám bạo dạn như Scarlett thề trong
truyện “Cuốn theo chiều gió” “I’ll never be hungry again.” khi bị lâm vào cảnh đói
nghèo, tôi chỉ dám than khóc với Chúa. “…Con không muốn rơi vào cảnh đói
nghèo cô đơn này một lần nào nữa…” Và tôi cũng hát đi hát lại câu hát của Vũ
Thành An. “Về sau, và nhiều năm sau nữa, có buồn nhưng vẫn chưa bao giờ bằng
hôm nay.” Chẳng phải buồn tình nhưng buồn tủi vì nhà nghèo không đủ ăn.
Vở kịch “The Price of Freedom” này được phát thanh lần đầu tiên vào tháng 5
nhằm dịp lễ Memorial vào năm 1988. Ông xã tôi bảo lúc bấy giờ nước Mỹ đã hầu
như không còn nhớ đến chiến tranh Việt nam. Nhưng ở bên kia bờ Thái Bình
Dương, cộng sản Việt nam vẫn không hề ngơi phân biệt đối xử với những người
như gia đình chúng tôi. Lúc đó cô em của tôi vừa tốt nghiệp lớp 12 và em không
muốn rời miền Trung. Em không nộp đơn thi đại học mà chỉ nộp đơn thi vào Cao
đẳng Sư phạm Anh văn – Đà nẵng với hy vọng trường thấp hơn thì sẽ được họ cho
đi học. Em đã không có được cơ hội để đi thi chứ đừng nói gì đến chuyện đi học.
Họ đã bác đơn xin dự thi của em tôi. Tôi nghe tin và cầu nguyện để em không bị
trầm cảm bế tắc như chị họ tôi trong truyện Niềm nhớ. Dù luyến tiếc Tam kỳ
nhưng cô em tôi cũng phải theo mẹ vào ở với ba. Căn nhà ở Tam kỳ giao lại cho
chị tôi. Gia đình đoàn tụ. Ba mẹ tôi tin Chúa và cả gia đình tôi cùng đi thờ phượng Chúa ở hội thánh Phước thái gần nhà. Chúa cho gia đình tôi được thảnh thơi hơn và có bạn bè trong hội thánh đến thăm chơi. Năm sau đó, cô em tôi cũng đi học Cao đẳng Biên hoà như tôi trước đó. Mẹ mỗi ngày mang hoa quả rau củ trong vườn ra chợ bán. Mẹ đã làm cho khu vườn giống như những gì mẹ tả cho tôi
nghe trước khi tôi rời Tam kỳ. Cuộc sống của gia đình tôi khá tươm tất. Chúng tôi tưởng cuộc đời của gia đình tôi đã an bài nơi xã Mỹ xuân ven lộ 51.

Những năm 90, chương trình H.O. nở rộ nhưng ba tôi không muốn đi. Gia đình tôi
đang sống ổn định trên mảnh đất ba mua. Ba đã gần 60 tuổi nên không muốn làm
lại cuộc đời nơi xứ người, nơi mà ngôn ngữ và văn hoá quá xa lạ với một ông già
như ba để làm quen. Nhưng có lẽ cái ngại ngùng của ba là chuyện lo giấy tờ để
nộp đơn cho chương trình H.O.. Ba không muốn về Trung làm giấy tờ bởi cái ám
ảnh ghê sợ của những ngày ở tù và bị bắt bớ khi ra tù. Hồi đó tôi không hiểu
những lo âu của ba nhưng bây giờ, khi đã thấm mùi đời, tôi nhận ra những lo âu đó
là đúng.

Rồi cuối cùng gia đình tôi cũng đến được nước Mỹ , chứ không phải xã Mỹ …
xuân lèo tèo ngày xưa. Lúc tôi hai mươi mấy, tôi nghe một người nói đại loại như
thế này. “Từ nhỏ cho tới 10 tuổi, mình thấy ba giỏi quá, cái gì cũng biết. Từ 10
tuổi cho đến 18 tuổi, mình thấy ba không biết gì mấy. Từ 18 – 30 tuổi, mình thấy
ba không biết gì hết trơn. Từ 30 – 40 tuổi, mình thấy ba nói nhiều điều đúng. Hơn
40 tuổi, mình thấy ba là anh hùng.” Ngày đó tôi cười khi nghe những lời đó, nhưng
bây giờ tôi thấy quá chính xác.

Ba tôi năm nay đã ngót nghét 90 tuổi. Ông vẫn mỗi ngày lái xe chở mẹ tôi đi dạo
bờ biển thật đẹp ở Navarre, FL. Những đứa cháu nội ngoại của ba, đa số là sinh ra
ở Mỹ, có đứa nói được tiếng Việt, có đưá lọng ngọng, có đứa không nói được chữ
nào, nhưng chúng đều yêu quý ông nội/ngoại. Thằng cháu nội đích tôn nói tiếng
Việt hơi thiếu dấu nhưng thương ông nội nhất trong đám cháu. Lâu lâu nó xin ba
mẹ nó được qua ngủ với ông nội một đêm. Thằng bé nằm kế bên ông nội, kéo da
tay ông lên và nói, “Ông nội ốm quá! Chỉ có xương và da thôi. Ông nội phải ăn
nhiều lên…” Ba tôi xoa đầu cháu và chảy nước mắt.

Lúc này tôi thấy mình hay lục tìm quá khứ. Đọc những dòng nhật ký viết về ba
những ngày tháng kinh khủng ở Việt nam, đã có lúc tôi tưởng, vì ba mà đời tôi bị
dìm xuống. Tôi cũng như cậu bé Kirk trong vở kịch “The Price of Freedom”, tôi
đã ngờ vực về ba, không phải chỉ trong mấy mươi phút như trong vở kịch mà rất nhiều năm. Không biết tôi có hành xử được như ba hay không nếu tôi bị cô thế, bị bắt phải tù tội, bị bắt bớ khi ra tù, rồi lạc đến một nơi không cùng ngôn ngữ khi tuổi đã về chiều. Bây giờ nhìn thấy ba mẹ tôi sống an bình, tôi ước ngày về hưu tôi cũng được sống như vậy. Bây giờ tôi lại nhìn lên mẫu mực của ba mẹ như tôi đã nhìn ba mẹ trước năm 75 khi tôi còn bé tí. Bây giờ tôi nghiệm ra rằng thử thách đầu đời ấy đã giúp tôi khẳng định niềm tin về ba, tự hào về ba, người tôi đã kính nể lúc nhỏ và cho đến bây giờ.

Viết cho Tháng Tư!
2025
Thuỷ Như

==

TRUYỆN SỎI NGOC

Khóc Cha

Biết bao nhiêu bài viết về Mẹ, công ơn sinh thành, hy sinh của người Mẹ vào ngày lễ Mẹ, nhưng hôm nay là ngày Father’s Day, ngày của CHA, tôi phải lợi dụng ngày này để viết lên công trạng của cha không kém gì MẸ, ngược lại vai trò người cha trong gia đình tôi là điểm đặc biệt quan trọng mà những chị em gái chúng tôi không thể nào quên.

Người cha ngoài công lao dưỡng dục, mặc dù không là người trực tiếp mang nặng đẻ đau như người mẹ, nhưng người cha đổ rất nhiều công lao như đi làm kiếm tiền trang trải cuộc sống, gánh vác cả gia đình; cuộc sống có tốt đẹp, ấm no, con cái có học hành, phẩm hạnh đạo đức không, chính nhờ phần lớn mồ hôi, công sức nuôi dậy của người CHA.

Tôi là đứa con trai giữa trong gia đình năm chị em, ba gái đầu liên tiếp và hai trai sau, mà tôi là người anh đầu. Lẽ ra ba chỉ muốn có hai người con, một trai và một gái thôi, hoặc ba người là nhiều rồi, vì ba bảo có nhiều con vui thật nhưng trách nhiệm nặng nề, phải nuôi con đến nơi đến chốn, cho ăn học và đến khi chúng lập gia đình mình cũng còn phải lo!

Mỗi lần mẹ mang bầu là mỗi lần ba đặt nhiều hy vọng, mong một thằng cu! Ba hay kể với bác Tư, bạn thân của gia đình là ba cảm thấy rất phấn khích, khỏe mạnh khi “gần” mẹ, chắc chắn kỳ này phải là đứa con trai. Thế nhưng kết quả là… người chị cả ra đời!

Ba tự an ủi, nói với ông bà Nội rằng:

-Không sao, đứa đầu lòng là gái hay trai cũng được, là con gái thì sau này nó dậy dỗ trông nom em càng tốt hơn nữa, nhất là chỉ bảo em trai thì tốt đẹp biết bao.

Hai năm sau, mẹ mang bầu, ba đặt tất cả kỳ vọng vào cái bầu tròn căng vượt mặt của mẹ. Thuở ấy chưa có siêu âm ở những vùng tỉnh nhỏ, nên chỉ nhìn dáng bụng thì suy đoán là trai hay gái mà thôi; ông bà nội với nhiều kinh nghiệm, ngắm cái bầu của mẹ khi lên Dalat thăm gia đình nhỏ của chúng tôi:

-Nhìn cái bầu tròn như thế thì 80% là con gái rồi!

Ba cố chống đối:

-Nhưng sao kỳ này mẹ chúng nó lại thích ăn ngọt chứ không thích ăn chua như lần mang bầu đầu tiên, có thể nào là con …trai?

Đứa con gái thứ hai ra đời, ba có hơi thất vọng.

Đến ba năm sau, ba lại nhất định “thua keo này ta bầy keo khác”, không chịu thua số phận, hy vọng tăng trội hơn khi thấy khuôn bụng của mẹ nhỏ gọn hơn hai lần trước.

Ngày mẹ đi sanh chỉ có ông bà ngoại bên cạnh vì ba phải đi làm xa, ở Liên Khương, ba phone về thấp thỏm hỏi ông bà ngoại:

-Vợ con sanh có tốt không bố? Baby sinh ra có khỏe không? và có phải là con… trai?

Ông ngoại ái ngại, không dám trả lời liền, ngần ngừ:

-…Ưm… nhờ Trời thương mẹ tròn con vuông!… Con bé khỏe mạnh!

Ba thốt lên một cách thất vọng:

– …Lại là con gái ư?!

Một khoảng thời gian yên lặng, rồi ba nói tiếp :

-Con nhờ ông ngoại đặt tên cháu nhé.

-…Ừ được rồi, nhưng con bé này rất kháu khỉnh, có cặp mắt tròn to, da trắng và rất nhiều tóc!

-Vâng! Ông cứ đặt tên cho cháu đi nhé, con cám ơn ông bà Ngoại giúp con nuôi vợ con và các cháu nhé; con phải làm đến hết tuần này mới về nhà được ạ.

-Được rồi, con cứ an tâm đi.

Chỉ nói thế thôi, ba cúp phone tiếp tục làm việc.

Ông Ngoại trầm ngâm suy nghĩ, biết ba đã « ngán » con gái lắm rồi, nếu mẹ cứ tiếp tục cái đà này thì chắc ba ở luôn trên Liên Khương làm việc!

Ba chị gái đầu ra đời làm ba tôi chán quá, đổi nhà về Saigon làm việc để có thể thay đổi không khí, thay đổi sinh hoạt, biết đâu….

Lần thứ tư mang bầu, mẹ tôi chẳng thèm kiêng cữ gì như ba lần trước, bà ăn uống xả láng vì cảm thấy lúc nào cũng đói, nhất là rất thích ăn kem, ăn đồ lạnh.

Ngày mẹ đau bụng, mới đến nhà thương, chưa kịp vào phòng sanh, đứa trẻ đã muốn lọt ra ngoài, họ vội vàng đẩy mẹ vào phòng ngay; ba đứng bên ngoài chờ cho mọi chuyện êm thắm một chút, định bỏ về đi làm thì nghe tiếng khóc thé của tôi vọng ra; ba đã biết đó là thằng con trai!

Ba đã mừng đến rơi nước mắt và đã chắp tay cảm ơn Trời Phật ngay tại trước phòng sanh của mẹ!

Tôi được cưng chiều đến nỗi chỉ một tiếng khóc nhỏ cũng được chị vú ẵm bồng, dỗ dành.

Mỗi buổi chiều đi làm về, ba đều vào thăm thằng cu Thơm, vì hồi bé tôi thơm mùi sữa, mùi phấn lắm nên được đặt tên ở nhà là cu Thơm, ba mua đồ chơi, hôn hít, bồng bế tôi. Tôi đem niềm may mắn đến cho gia đình, ba được thăng chức, được chính phủ cấp cho nhà rộng to, rất đẹp.

Dù ba cưng chiều tôi nhất nhà, nhưng ba chị của tôi cũng được ba chăm sóc, lo lắng cho từng người. Tôi nhớ chị lớn nhất của tôi đến tuổi có bạn trai, mỗi lần anh ấy đến, ba đều hỏi gia cảnh nhà anh ấy tưởng chừng như cảnh sát hỏi cung phạm nhân vậy, đến nỗi anh ấy không dám vào nhà nữa mà hẹn chị ở góc đường, ba nói :

-Đứa nào có can đảm đối đầu được với ba thì mới xứng đáng làm con rể của ba!

Mỗi lần tôi bị bệnh thì khỏi nói rồi, ba thức đêm lo cho tôi uống thuốc đúng giờ thay vì là mẹ, ba cẩn thận đến nỗi sợ mẹ mệt ngủ quên nên ba để đồng hồ báo thức dậy đúng giờ đó, và tự tay cho tôi uống thuốc.

Sau tôi, em trai ra đời, ba rất vui mừng và ngưng tại đây.

***

Những ngày vui hạnh phúc chưa được bao nhiêu thì miền Nam bị nhuộm đỏ, công việc dưới chính quyền cũ không còn nữa, ba phải cơ cực làm những công việc chẳng phải là chuyên môn của mình, hy sinh tất cả cho các con từ hạt cơm bo bo đến miếng thịt heo cả tháng mới mua được một lần ở hợp tác xã.

Sau đó là những lần vượt biên không thành, ba bán dần dần những đồ đạc trong nhà, ba ít nói hơn, mái tóc bất ngờ chuyển màu trắng toát chỉ qua vài đêm, ngồi yên nhìn vào khoảng trống như suy tính mọi cách làm sao cho con cái thoát thân trước, rồi ba mẹ mới là người cuối cùng.

May mắn làm sao đúng vào lúc gia đình cạn kiệt nguồn vốn để dành bao lâu nay, giấy tờ bảo lãnh của người thân bên Canada về đúng lúc, chúng tôi sửa soạn rời xa quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn đến một xứ sở thứ hai với hai bàn tay trắng, tương lai mịt mờ, chỉ còn mỗi niềm hy vọng mong manh trong tim.

***

Ba mươi năm sống ở xứ Canada lạnh giá, 15 năm đầu ở Montreal, ba đã bỏ cả tự ái, quên đi cái chức giám đốc nha hỏa xa, xưa kia ở Saigon, một thời cai quản hơn cả mấy chục nhân viên dưới quyền, ba đã phải làm công nhân với mức lương 4$/ giờ trong hãng làm giầy da, sáng sớm dậy chờ bus lạnh lẽo ở đầu đường, làm cho đến chiều 5 :00 về nhà mệt nhoài. Với số tuổi không còn trẻ, 55, Ba cố gắng quên mình, bỏ tự ái để đi làm công việc tay chân với một mức lương tối thiểu mà không hề than trách, để cho chị em chúng tôi đừng bị dang dở việc học.

Vài ba năm sau, năm 1990 dù lớn tuổi, ba vẫn lấy thêm chứng chỉ học ban đêm, mỗi tối cả nhà chúng tôi đều yên lặng, ai nấy đều gục đầu vào quyển sách, chỉ nghe tiếng trang sách lật; ba thi vào một chức vụ hành chính về quyền con người của cấp thành phố Montreal, tỉnh Quebec nơi chúng tôi đang cư ngụ, chức vụ này có đến trên 10 người thi vào, chỉ một mình ba là người Việt tỵ nạn đến Quebec được ba năm rưỡi, còn những kia toàn là dân bản xứ, họ thi lên ngạch, làm lâu năm và có kinh nghiệm cả chục năm trong guồng máy hành chính này. Ba nói với chúng tôi :

-Cứ thử sức xem sao, không mất mát gì cả, nếu đậu thì cả nhà chúng ta sẽ được thay đổi đời sống, mâm cơm sẽ khác hơn, sẽ có xe đi và chỗ ở tốt hơn; nếu không được thì mình cũng học cho có thêm sự hiểu biết về luật pháp của Canada, không có gì mất công hết!

Chúng tôi rất cảm động vì thấy tuổi ba đã lớn, trên 55 mới bắt đầu học lại, ba không muốn cho mẹ phải đi làm, không muốn thấy chúng tôi phải bỏ học ngang để đi làm kiếm tiền, ba lúc nào cũng tự cho mình phải mang trách nhiệm này đối với gia đình.

Nhiều đêm thấy ba đọc sách mà quyển sách đã tự rơi xuống đất vì buồn ngủ và mệt quá, ban ngày đi làm từ sáng sớm, tối thức khuya đến 12 :00 đêm làm sao sức nào chịu nổi, tôi thương ba vô cùng, tự hứa với lòng sẽ ráng học ra trường kỹ sư để ba hài lòng.

Rồi một ngày, ba về nhà mang trên tay bao nhiêu giỏ xách, ba hớn hở nói như reo, lần đầu tiên tôi thấy ba vui như thế :

-Mẹ chúng nó này! Tôi đã… thắng rồi nhé, tôi được chọn vào làm văn phòng của chính  phủ rồi, thứ hai tới này tôi đi làm công sở mới!

Lúc ấy ở nhà chỉ còn hai anh em trai chúng tôi thôi, ba chị lớn đã lần lượt đi lấy chồng sau khi ba mẹ tôi sang được một năm, tôi và em trai đã chạy ra ôm lấy ba, chúc mừng :

-Ba giỏi quá! Chúng con phải noi theo gương ba!… Hôm ba đi thi có đông người phỏng vấn ba không?

-Cả một phái đoàn 6 người, mỗi người hỏi một vấn đề, người thì hỏi về luật lệ Canada, kẻ thì đưa ra những tình huống xem mình giải quyết thế nào, còn người thì hỏi về học vấn và công việc trong quá khứ của mình ra sao…rất stress lắm, mỗi thí sinh phải qua cả tiếng đồng hồ với họ đấy chứ không dễ ăn đâu!

-Chúng con rất hãnh diện về ba, ba giỏi quá, ba làm gương cho chúng con noi theo đó!

-Vậy mấy người kia thì sao hả ba? Họ trả lời không được hay sao?

-Họ không đủ kinh nghiệm sống và có người chưa làm qua chức vụ đó thì làm sao trả lời được, còn ba thì đã làm mấy năm giám đốc hỏa xa, lại đi tu nghiệp ở Mỹ, Pháp về thành ra đối với ba không là vấn đề gì to tát, chỉ có cái mình nói chuyện bằng ngôn ngữ của họ không nhanh bằng họ thôi, mình viết giỏi, nhưng nói thì chưa lưu loát lắm.

-Bõ công ba học hành từ cả mấy tháng nay! Đây là món quà thật xứng đáng của ba!

-Cái gì cũng phải nỗ lực để đạt được, các con nhớ nhé, muốn gì phải đạt được bằng tất cả khả năng của mình, đừng từ bỏ, hãy theo đuổi mộng ước của mình đến cùng vì mình chỉ khổ vài năm thôi mà được hưởng cả đời.

Mẹ tôi chen vào:

-Ba nó mua nhiều thịt heo, thịt vịt quay quá, hôm nay tha hồ mà ba bố con nhậu với nhau!

***

Ba làm cho công sở cấp thành phố, tiểu bang Quebec này được 10 năm, đúng 65 ba về hưu, mọi người trong sở ai cũng quý mến ba, ba được thưởng bonus và được tiền hưu cao. Lúc ấy tôi và em trai đã tìm được một công việc khá ở Toronto về kỹ sư điện tử đã được trên sáu năm và cũng đã lập gia đình; ba mẹ muốn về gần con trai và các cháu nhỏ, nên đã từ giã Montreal, không muốn ở chung với các con, mà muốn ở riêng và thỉnh thoảng chúng tôi đến thăm.

Mẹ mất khi 70 tuổi, sự ra đi nhanh chóng của mẹ làm cuộc sống của ba bị mất thăng bằng, ba không còn thấy vui sống nữa, nhưng vẫn cố gắng giữ nụ cười khi gặp con cháu. Ba cố gắng tự mình di chuyển bằng xe đạp, bằng phương tiện giao thông công cộng như bus hay metro để đừng phiền đến ai, ba cũng tự học làm cơm mà từ trước đến nay ba chẳng bao giờ đụng đến bếp núc mà chỉ lo kiếm tiền cho gia đình mà thôi, ba ăn uống qua loa…Vì thế nên ba ngày càng gầy đi, mỗi lần gặp chúng tôi ba đều cố vui để chúng tôi đừng lo lắng, đừng mất công làm cơm đem đến cho ba:

-Ba khỏe mạnh lắm, không bệnh hoạn gì hết, các con cứ lo đi làm, lo cho các cháu là được rồi, đừng mất công đem gì đến cho ba, ba đặt đồ ăn ở gần đây, họ làm ngon lắm.

Đến một ngày, tôi nhận được phone của ba từ nhà thương, ba cố nói với giọng vui vẻ:

-Ba đã xin được một chỗ ở đây rất tốt, phải chờ đợi lâu lắm mới được chỗ này đó, họ làm cơm cho mình ngày ba bữa, nơi đây vừa gần chỗ các con ở, vừa gần …nhà quàn…

-Ba! Cái gì vậy? Tại sao ba lại vào nhà thương ở? Chỗ đó đâu phải….Sao ba không bàn gì với chúng con? Cancer phổi của ba các bác sĩ nói vẫn được theo dõi ok mà? Ba có bị đau đớn không? Ba có buồn giận gì chúng con không?

-Không đâu, chính ba là người quyết định, các con không có lỗi gì ở đây cả! đời người cũng phải có cái hạn mà con, ba đã sống hết đời rồi; từ ngày mẹ con qua đời đến giờ ba sống thật bấp bênh, thấy thiếu thốn một cái gì đó, cuộc sống không còn vui, không còn chất lượng nữa… Ba muốn…đi gặp Mẹ! Tuy nhiên, ba rất vui thấy các con đã thành công, tự lực, nuôi nấng và giáo dục các cháu rất tốt, đó là điều mà ba thấy hạnh phúc nhất. Ba thấy mình đã thực hiện được ước mơ, trách nhiệm đã xong, sống lâu quá chỉ làm phiền các con cháu mà thôi, ba chọn cách ra đi nhẹ nhàng nên mới vào nhà thương này….

Ba phone đến các chị lớn để “trăn trối”, dặn các chị phải làm gì sau khi ba ra đi, ba muốn được thiêu, tro của ba hãy để vào chùa, chỗ bên cạnh mẹ mà ba mẹ đã chọn mua, ba để lại gia tài cho đứa nào cái gì…

Chúng tôi chỉ yên lặng nghe quyết định của ba mà trái tim tan nát, nước mắt rơi không ngừng, không nói được điều gì khi thấy ba đã suy nghĩ, đã sắp xếp cho chuyến đi xa của ba được toàn vẹn. Các chị tôi lúc nào cũng túc trực bên cạnh nhà thương; khi vào thăm ba, thấy ba còn mạnh khỏe, vẫn tự mình làm vệ sinh cá nhân, ăn uống ngon miệng đồ ăn của nhà thương, nơi đây là chỗ để cho những người bệnh già ở, không bị bệnh nặng lắm, có những người ở đây đến hai năm vẫn chưa ra đi.

Chúng tôi nhắc lại những kỷ niệm xưa với ba, nói những chuyện vui để ba có thể quên đi cái thực trạng bệnh hoạn, ba chỉ cười mỉm và lúc nào cũng nhắc nhở chúng tôi:

-Nhớ trông nom các em, các cháu cho tốt nhé, ba ra đi sẽ phò hộ cho các con!

-Ba ơi, ba hãy đi đầu thai, hãy làm việc của ba, đừng vì chúng con nữa ba nhé, ba đã cho chúng con một đời này là được rồi ạ!

Đến tháng thứ hai ở nhà thương, lúc 3:00 sáng, tôi nhận được cái phone định mệnh reng lên giữa đêm, họ nói ba đã từ chối ăn uống, cũng như uống thuốc từ hai hôm nay, để được thảnh thơi ra đi…Ba tôi hưởng thọ 86 tuổi!

Cha đi, bóng xế bên thềm,
Lá rơi theo gió, nỗi niềm rụng theo.
Lặng thầm lệ ướt khăn treo,
Con ngồi thổn thức giữa chiều buốt tim.

Một đời cha gánh nổi chìm,
Cho con nắng ấm, cho tim yên bình.
Giờ đây trời đất lặng thinh,
Cha ơi… tiếng gọi chỉ mình con nghe.

Sỏi Ngọc

Montreal June’25

==

==

Năm 1975, khi MNVNCH rơi vào tay cộng nô … Cha của Tôi ông rất đau buồn …Cha thương nhớ các con bị tù đày và mất xác trong chiến tranh …Ngày đêm cha đau khổ trầm ngâm…Bỗng một hôm Cha đóng cửa phòng và ở mất trong phòng hết mấy hôm …Cha chỉ ra ăn cơm và trở vào phòng không nói gì cả …sau đó Cha khăn áo ra phố và rồi trở về với nhiều thứ lĩnh kỉnh trên tay …Nào là những tấm thiết  mỏng ,những lon sơn đỏ vàng …và nhiều thứ nữa …sau đó Cha bắt tay vào việc …Cha đưa cho Tôi bản vẽ và nhờ Tôi vẽ lên những tấm thiết mõng …Tôi ngỡ ngàng khi thấy mẫu Thuyền mà Cha đã nhốt mình mấy ngày trong phòng âm thầm vẽ …hai Cha yên lặng bên nhau làm việc …Hì hà hì hục sơn sơn vẽ vẽ …hàn dũa cả tháng trời mới làm xong một số thuyền nhỏ chạy bằng dầu …Lúc Cha hàn, Cha cắt, Cha ghép từng mãnh thép thành những chiếcthuyền. Cha nói xa xăm …Cha nói bóng gió …Cha như truyền hết tâm huyết của mình vào những cánh buồm nho nhỏ  …Cha tâm sự với con gái, mà như nói với chính Cha trong suốt thời gian thực hiện tâm huyết của mình …Sau khi những chiếc thuyền nhỏ chạy bằng dầu đã hoành thành …Cha cùng con gái mang ra phố rao bán THUYỀN …hai Cha con trãi một tấm khăn màu xanh (mà Cha ám chỉ là Đại dương) … sắp xếp những chiếc thuyền sơn màu vàng và có những vạch thẳng màu đỏ hai bên hông thuyền …Mới thoạt nhìn không ai để ý thì sẽ không biết đó là biểu tượng của Cờ Vàng 3 Sọc Đỏ mà Cha Tôi đã khéo léo gởi gấm tâm nguyện của mình …Cha để một chậu nước cùng vài ba chiếc thuyền nổ phành phạch chạy vòng vòng, Hai Cha con tôi cùng phụ họa rao bán …

THUYỀN RA KHƠI ĐÂY ….VÀNG VÀNG ĐỎ ĐỎ MUA VỀ CHO CON TRẺ RA KHƠI CHO VUI CỬA VUI NHÀ …(viết đến đây nước mắt của tôi đã ràn rụa …)

Ý Cha tôi muốn NHẮN GỞI VỚI THẾ HỆ HẬU DUỆ HÃY RA KHƠI VƯỢT BIỄN TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC …

Lúc đó tôi đã hiểu được tâm huyết của Cha nên cũng chẵng còn mắc cở gì cả (dầu gì đi nữa khi chưa mất nước Tôi cũng là một tiểu thư …) Tôi cùng Cha rao bán với một giọng rao hàng rất tự hào …
Sau đó bạn bè của Cha tôi có đến nhà và thân tình hỏi nếu Cha tôi cần tiền họ sẽ giúp chứ tại sao ra chợ rao bán từng chiếc thuyền con làm khổ thân như thế …(Tôi biết Cha tôi không thiếu tiền …)Tôi nhớ có ông Bác Sĩ TênTrần văn Cát là bạn rất thân với Cha đã thì thầm to nhỏ với Cha hàng giờ…trước khi ra về còn căn dặn Cha tôi :
*Hòa ơi, nếu có cần gì hãy đến gặp tôi ( Hòa tên Cha tôi)
Sau đó Cha tôi ngã bịnh …một vài năm sau khi tất cả các anh tôi chưa ra khỏi tù đày của bọn cộng sản và xác thân của một người anh ruột và một người anh rễ chưa tìm ra thì Cha tôi đã bỏ lại me con tôi ra đi …sau hai cơn nhồi máu cơ tim …
Lúc đó tôi đang ở xứ người xa xăm hay tin Cha mất tim can tôi tan nát như có ngàn kim châm…hiện giờ tôi đang có chung căn bệnh Tim với Cha.
Mỗi lần cơn đau tim rủ nhau về Tôi thấy như gần gủi bên Cha của mình hơn…

==

==

=

Năm ấy chị Vân từ Mỹ gọi điện thoại cho tôi:

–        Loan ơi, còn nhớ anh “Hùng Từ” không?

–         Nhớ chứ, anh Hùng Từ… lừ đừ như ông Từ vào đền chứ gì. Chính nhóm tụi em đặt tên “Hùng Từ” cho anh ấy mà. Ủa, sao bỗng dưng chị lại nhắc đến anh Hùng? Lúc em lên đường đi Canada, chưa kịp viết thư về trại thì vài tuần sau anh ấy cũng đi Mỹ, nên mất liên lạc luôn từ đó.

–          Chị và anh Hùng ở cùng tiểu bang Florida mà hồi nào giờ có biết đâu. Tuần trước chị tình cờ gặp một người bạn trại tị nạn Thailand, được biết anh Hùng đang buồn lắm, trầm cảm sắp… tâm thần rồi kìa.

Tôi hốt hoảng:

–        Trời ơi, chuyện gì vậy? Bao lâu nay mới nghe tin anh Hùng lại là tin không vui.

–          Bé Ngân con gái anh bị chết đuối khi đi tắm biển. Anh tự trách tự giày vò, vì cái chết của con ngay trước mắt mà không cứu được nó và vì anh mang con đi tắm biển mới ra nông nỗi. Bạn bè thân quen đã an ủi khuyên nhủ mà anh vẫn sầu u không nguôi và rồi anh cắt liên lạc, tự cô lập, không tiếp chuyện với ai. Chị cố gọi mấy lần anh vẫn không bắt máy dù đã để lại lời nhắn là bạn chung phòng Cao Ủy Thailand với anh.

Chị Vân thúc giục tôi:

–        Loan gọi anh ấy đi, hồi đó Loan và anh Hùng thân nhau, Loan còn là “đồng minh” giúp anh ấy mà, chị tin là anh Hùng sẽ tiếp chuyện và nghe lời khuyên của Loan.

……………………………………………………..

Anh Hùng mà chúng tôi gọi anh là “Hùng Từ” vì anh hiền hòa như ông Từ trông đền, sống ở trại anh thân thiện với mọi người xung quanh, chẳng kiêu căng dù anh là thông dịch viên giỏi nhất nhì phòng Cao Ủy, cũng chẳng xích mích với ai, nên được nhiều người quý mến.

Anh vượt biên đến Thailand cùng đứa con gái 6 tuổi, để lại vợ và đứa con trai ở quê nhà.  Bé Ngân thông minh lanh lợi luôn quấn quýt bố. Ngân lớn thêm 3 tuổi nữa theo thời gian ở trại vì đợi chờ thanh lọc. Tôi thân với cả hai bố con, vì ở phòng Cao Ủy tôi và anh Hùng là đồng nghiệp, ở trường Việt Ngữ tôi là cô giáo của bé Ngân, và tôi ở chung nhà với 3 cô bạn gái là thành viên ca đoàn Nhà Thờ, phụ trách các em Thiếu Nhi Thánh Thể mà bé Ngân cũng là một bé ngoan của Thiếu Nhi Thánh Thể.

Rồi bỗng một ngày, anh Hùng có… người yêu, là chị Hương y tá bệnh viện trại. Anh Hùng tâm sự với tôi, em biết rồi đấy, chuyện tình yêu khó nói lắm, cả anh chị đều có gia đình ở Việt Nam, cuộc tình này là sai trái, nhưng lý trí phải chịu thua lý lẽ của con tim rung động, dù biết trước không lối thoát, không có đoạn kết trọn vẹn.

Cuộc tình này đã bị bé Ngân phản đối quyết liệt. Anh Hùng mỗi sáng đi làm, gặp tôi rầu rĩ:

–        Hễ mỗi lần Hương đến chơi nhà, là bé Ngân sưng sỉa ra mặt, hỏi gì cũng chẳng trả lời, cứ kè kè kế bên anh, ôm cổ ôm vai anh trước mặt Hương, tụi anh có nói chuyện được gì đâu.

Có lần anh đưa tôi lá thư:

–        Chút xong việc, em chuyển thư này cho Hương giùm anh nhe!

–        Trời, trại tỵ nạn bé tí, có ngăn sông cách núi gì đâu, mà phải thư với từ?

–        Em không biết đấy thôi, bé Ngân không cho anh một phút rảnh rỗi một mình, lúc sáng nó đi học Việt Ngữ lớp em dạy thì anh cũng đến mở cửa văn phòng sớm, trưa anh về lo cơm nước hai bố con, rồi lại đi làm, chiều về ăn cơm xong, hai bố con đi lễ, cứ thế nó bám anh cả ngày lẫn đêm. Chưa hết, từ ngày anh quen Hương, thỉnh thoảng nó chạy qua văn phòng để… chơi với bố mà thực ra là để canh chừng, nếu không thấy bố trong phòng Cao Ủy là về nhà nói hạch hỏi đủ điều …

–        Vụ này căng quá anh nhỉ! À, em có tin vui nè, Cha mới thông báo thành lập phong trào Thiếu Nhi Thánh Thể, mỗi tuần hai lần, sau giờ Lễ, các em ở lại sinh hoạt một tiếng, anh đưa Ngân đến ghi danh nhe, coi như anh có hai lần trong tuần tự do hẹn hò.

Nói xong, tôi thấy mình thật vô duyên, đã ngầm “vẽ đường cho hươu chạy”, ủng hộ mối quan hệ sai trái này, mà thực tình là tôi chỉ nghĩ đến bé Ngân, muốn cho Ngân có dịp vui chơi với các bạn . Cũng có lúc tôi từng nghĩ đến việc góp ý khuyên anh Hùng dừng chuyện “con tim”, nhưng tôi có tư cách gì? Anh lớn tuổi hơn tôi cả hơn một con giáp, khi Sài Gòn sụp đổ năm 75 anh cũng mới ra trường Quốc Gia Hành Chánh, tài giỏi khôn ngoan như thế, đâu cần tôi khuyên với bảo.

Dù sao Ngân cũng chỉ là đứa bé 9 tuổi, ham vui, nên mau chóng gật đầu tham gia nhóm Thiếu Nhi Thánh Thể của Nhà Thờ, nhưng đến ngày sinh hoạt là nó dặn, bố không được đi đâu đấy nhé, con mà biết bố đi gặp cô Hương là con giận bố luôn đấy.

Được vài tuần, anh Hùng lại than thở:

–        Mệt quá Loan ơi, những lần hẹn hò chỉ được một tiếng, đi dạo, vào quán cafe là đã gần hết giờ, anh lại sợ bé Ngân kiểm tra đột xuất nên anh luôn về nhà sớm 15 phút, thật đúng là “vội vàng thay những phút yêu người”, thì Hương lại giận hờn, bảo anh sợ con hơn là yêu cô ấy, rồi có hôm Hương không thèm ra chỗ hẹn, anh ở giữa hai bên, khổ thiệt.

Tôi được dịp cười chọc quê anh:

–        Thì tự anh đâm đầu vào “thú đau thương” thì ráng mà chịu, có ai ép uổng gì đâu nà!

Rồi một ngày, anh Hùng qua bàn làm việc của tôi, thỏ thẻ:

–        Loan à, ngày mai cuối tuần, anh được mời đi dự tiệc tiễn người bạn chuyển trại đi định cư, Hương cũng được mời, anh sợ bé Ngân đòi đi theo, nên anh nhờ Loan cầm số tiền này, chiều mai hai cô cháu đi ăn hủ tíu, đi chơi vòng vòng trong trại để anh thoải mái đi tiệc, sau đó sẽ đi chơi riêng với Hương, tổng cộng khoảng …ba tiếng, được không em?

Tôi trố mắt nhìn, anh vội giải thích:

–        Anh biết Ngân thương và nể em lắm, anh muốn em lựa lời nói chuyện với nó, cho nó bớt… căng thẳng, bớt ngăn cấm bố.

–        Trời đất! Anh sai rành rành mà biểu em nói gì với Ngân, hơn nữa, anh đang đưa em vào tội “đồng lõa” đấy!

–        Anh năn nỉ em đó Loan, anh hứa chỉ một lần này thôi, vì Hương sắp có kết quả thanh lọc rồi.

Cuối cùng, anh Hùng và tôi cũng tìm được lý do để anh được đi tiệc một mình, và tôi dẫn bé Ngân đi ăn hủ tíu. Trong lúc ngồi ăn, trời tối gió mát rượi, tôi thấy Ngân vui nên hỏi nó nghĩ sao về chuyện bố quen cô Hương, nó nói:

–        Con thương bố, con thương mẹ, không muốn mẹ buồn.

Tôi bào chữa:

–        Ở trại, đôi khi có những tình cảm đồng nghiệp thân thiết, rủ nhau đi uống cafe, đến nhà nhau ăn cơm là chuyện bình thường.

–        Nhưng nếu bố đi với nhiều người thì không sao, mà đi riêng với cô Hương thì con không chịu.

Ăn xong hủ tíu, tôi ráng “câu giờ” ngồi lại, kêu thêm hai ly chè đậu xanh, hai cô cháu nhâm nhi chè, ngắm thiên hạ đi qua đi lại, vẫn chưa đủ ba tiếng như giao hẹn với anh Hùng. Tôi đưa bé Ngân đi dạo vòng quanh trại để… tập thể dục, nó than mỏi chân, tôi rủ nó về nhà, nơi tôi ở với mấy cô bạn thân đi chung chuyến tàu vượt biên. Nhóm bạn này chẳng lạ gì bé Ngân vì họ là các “Trưởng” trong Đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể. Vì đã được tôi báo trước sự tình nên họ rủ thêm vài em nhỏ khác, tôi mua một ít bánh kẹo, chúng tôi bày ra trò chơi ca hát, đố vui đủ kiểu, khiến Ngân thích thú, quên cả chuyện canh chừng bố.

Anh Hùng đã nói đúng, sau đó ít lâu, Hương nhận kết quả rớt thanh lọc, rồi đăng ký hồi hương, chị ấy không muốn tái thanh lọc, kéo dài thời gian vô ích ở trại. Buổi sáng tiễn đoàn xe hồi hương ra phi trường Bangkok xong, tôi và anh Hùng đi dạo ngoài bãi đá, tôi nói:

–        Thôi duyên phận anh và chị Hương đến đây là hết, cũng như nhiều cuộc tình nơi trại tạm dung này, coi như là kỷ niệm “người đi qua đời tôi!”.

Anh Hùng cười buồn:

–        Tụi anh đã biết trước ngày này, nhưng vẫn thấy buồn và thật buồn.

Tôi phá tan bầu khí nặng nề:

–        Từ nay bé Ngân yên tâm rồi nhé.

Anh thú tội:

–        Anh chưa kể em nghe, tuần trước Hương bị cảm, anh không biết tìm cách nào đến thăm Hương, chả lẽ lại nhờ vả em nữa, nên anh chờ buổi tối Ngân ngủ say, anh lén chạy qua nhà Hương, ai dè lúc gần sáng quay về không thấy Ngân trong mùng, thì ra nó tỉnh giấc không thấy anh nên chạy đi tìm. Nó khóc quá chừng, từ đó đến nay tối nào ngủ cũng ôm bố thật chặt.

–        Anh hư thật đấy!

–        Sáng nay anh nói với nó, chút bố tiễn cô Hương về Việt Nam, con không cần ôm bố ngủ nữa nha, em biết nó nói sao không?

–        Sao hả anh?

–        Nó ngúng nguẩy bảo, con vẫn cứ ôm bố ngủ, vì sợ bố lại có… cô khác, con chỉ muốn bố là của con thôi.

–        Ôi dào cái con bé này, cứ làm như bố nó là vàng bạc châu báu không bằng á!

Vậy đó, bao nhiêu kỷ ức với anh Hùng và bé Ngân lần lượt quay về làm tay tôi run run khi cầm tờ giấy ghi số phone anh Hùng mà chị Vân vừa đọc cho tôi. Tôi bấm số, tim đập nhanh vì hồi hộp, bởi chị Vân nói, Ngân mới mất một hai tháng, anh ấy vẫn còn đớn đau day dứt, không tiếp chuyện bất cứ ai nhất là những người chung trại tị nạn cũ . Bỗng có tiếng “A lô, ai đó?” làm tôi giật mình:

–        Anh Hùng ơi, Loan đây, Loan Bưu Điện Loan Cao Ủy ở trại đây!

–        Ồ…Loan! Có gì không em?

Tôi nói nhanh:

–        Anh ơi, đừng cúp phone em nhé, em biết hết rồi, em đau lòng và thương Ngân lắm, nên muốn chia sẻ nỗi đau này cùng anh …

Anh vẫn im lặng, tôi vội nói tiếp:

–        Mong anh đừng quá đau khổ, cầu xin Chúa thương linh hồn bé Ngân, và thời gian sẽ chữa lành vết thương lòng của anh.

Anh bất ngờ bật khóc:

–        Loan ơi, anh đã giết con anh!

–        Sao anh lại nói thế?

–        Bố con anh vừa bảo lãnh vợ và con trai anh qua một thời gian, anh sắp xếp chuyến đi biển cho cả nhà, đến gần ngày đi, Ngân bảo bận chút việc học muốn dời ngày khác, nhưng anh bảo bố đã chuẩn bị hết rồi, đã xin nghỉ phép mấy ngày, thế là Ngân vâng lời đi theo. Có ngờ đâu, Ngân đang tắm biển bị sóng đánh ra xa, đưa tay cầu cứu anh nhưng đã không kịp, anh đã giết con anh rồi Loan ơi!!

Tôi chỉ biết im lặng, thổn thức cùng anh, anh vẫn khóc:

–        Ngân không những là con gái, mà còn là người bạn, nó hiểu anh nhiều lắm. Chúa đã trừng phạt anh phải không em, vì tội lỗi của anh ở trại, nên Chúa lấy đi đứa con yêu quý của anh.

–        Chuyện đã lỡ rồi, chẳng ai có tội lỗi gì cả, số phận đã thế, anh đừng tự dằn vặt mình nữa.

Anh còn nói thêm vài câu buồn bã, rồi bảo tôi từ nay đừng gọi, anh sẽ đổi số phone, tôi cố vớt vát:

–        Anh Hùng, xin anh đừng nghĩ quẩn và em tin rằng anh sẽ vượt qua nỗi đau này.

………………………………………………………………………………………………

Thế rồi một hôm, sau mười lăm năm kể từ lần gọi phone ấy, tôi bỗng nhận được một cú phone lạ, lẽ ra tôi đã không trả lời vì ngại gặp quảng cáo hoặc bẫy lừa tiền, nhưng như có điều gì thúc đẩy, tôi đã nghe phone:

–        Có phải Loan không, anh Hùng Từ đây!

Tôi vui sướng reo lên:

–        Anh Hùng Từ! Anh Hùng Từ… Sao bây giờ anh mới gọi cho em?

–        Anh tìm kiếm số phone của em mãi mới được đấy, đừng giận anh nhe!

Thế là, anh vẫn là anh Hùng Từ của ngày xưa, giọng nói từ tốn ấm áp, kể cho tôi nghe về khoảng thời gian đã qua. Anh vật lộn, chữa bệnh trầm cảm suốt 6 năm trời, bên cạnh bác sĩ tâm lý, uống thuốc theo toa, là sự chăm sóc đầy kiên nhẫn yêu thương của vợ hiền và con trai, cũng như sự khuyến khích từ các đồng nghiệp thân thiết nơi công ty anh làm việc. Có khi, nhớ lại lỗi lầm ở trại tị nạn, anh muốn tâm sự với vợ, nhưng nghĩ đến bé Ngân, anh lại thôi.

Khi hai bố con qua Mỹ định cư, bé Ngân vừa đi học vừa phụ giúp anh chuyện cơm nước, nhà cửa để anh yên tâm đi làm, hai bố con gắn bó như hai người bạn. Khi vợ và con trai đến Mỹ đoàn tụ là lúc bé Ngân ở tuổi 15, con rất khéo léo, không bao giờ nhắc lại chuyện ở trại, luôn chuyển qua đề tài khác, để anh đỡ áy náy bối rối trước mặt vợ. Dù anh không dặn dò, bé Ngân vẫn không kể tội của anh cho vợ anh biết. Những lúc có riêng hai bố con, Ngân còn ngầm nhắn nhủ anh, bố hãy quên đi dĩ vãng ấy, để gia đình chúng ta bình yên hạnh phúc.

Sau khi vượt qua căn bệnh trầm cảm, anh trở lại đi làm full-time cho đến khi anh và vợ nghỉ hưu, sống gần nhà vợ chồng con trai để phụ trông chừng đứa cháu nội, niềm vui đơn giản của tuổi xế chiều.

Chúng tôi cùng hồi tưởng về thời gian ở trại với nhiều kỷ niệm của bé Ngân. Anh vui vẻ khoe:

–        Anh rất thích tấm hình hai bố con anh chụp trước văn phòng Cao Ủy bên giàn hoa giấy đỏ trong một bữa tiệc, anh không nhớ hôm ấy là tiệc gì, nhưng anh nhớ bữa đó bà trưởng Cao Ủy người Thái nhờ tụi em nấu nồi bò kho ăn với bánh mì.

–        Ôi, em nhớ rồi, đó là tiệc nhân dịp Sinh Nhật Đức Vua Thái. Hôm ấy Ngân mặc áo đầm màu xanh, tụi em chải tóc và thắt nơ cho bé Ngân chớ ai!

–        Đúng rồi! Anh đã phóng to tấm hình ấy, treo ở ngoài phòng khách nhà anh nè. Ngân cười rất xinh đẹp.

Rồi chúng tôi lại lan man, nhớ đến những bạn bè chung phòng Cao Ủy, những kỷ niệm của mấy năm dài nơi trại tạm dung thật khó quên, và anh Hùng nhắc đến chị Hương:

–        Khi Hương về Việt Nam tụi anh cắt đứt liên lạc từ ngày ấy, nhưng anh có nghe nói, cuộc sống của Hương bên quê nhà cũng khấm khá. Hai vợ chồng Hương có một xưởng gỗ ở Thủ Đức, vợ chồng, con, cháu sum vầy bình yên.

–        Vậy em mừng cho chị ấy.

Cuộc nói chuyện dài hơn hai tiếng. Cúp phone xong, lòng tôi lâng lâng niềm vui rộn ràng, khi nhớ lại câu kết của anh Hùng:

–        Loan biết không, thỉnh thoảng nhìn lên tấm hình hai bố con treo trên tường, anh vẫn thì thầm với Ngân: “Con gái bé bỏng của bố ơi! Cám ơn con đã đến với cuộc đời bố, để yêu thương, cảm thông và tha thứ những sai lầm của bố. Hồi ấy con sợ mất bố, nhưng rồi bố lại mất con. Hãy giữ nụ cười tươi xinh như thế trên nước Thiên Đàng con nhé, và đừng quên rằng, bố vẫn mãi là của con!”

Edmonton, Fathers Day 2026

=

KIM LOAN

THÁNG SÁU

Tháng Sáu lòng ngẩn ngơ

Nhớ cơn mưa mùa hạ

Cành hoa ép trong vở

Ngày chúng mình cách xa

*

Người chung trường khác lớp

Cho tôi biết mộng mơ

Buổi học cuối man mác

Giã từ tuổi ngây thơ

*

Nhìn nhau một lần nữa

Ve sầu kêu bơ vơ

Sân trường buồn nức nở

Giờ biệt ly, ai ngờ!

*

Màu phượng đỏ tươi thắm

Mênh mông một góc trời

Cành rung rinh trong nắng

Để tim ai rối bời

*

Cô bé tôi đang khóc

Thương nhớ tuổi học trò

Bạn bè và sách vở

Những khuôn mặt Thầy, Cô

*

Và ánh mắt người nữa

Nụ cười hiền chơi vơi

Những buổi chiều tan học

Theo bước tôi, lá rơi

*

Hạt mưa bay nhè nhẹ

Vương vấn cả con đường

Lòng tôi thầm van khẽ

Đừng ướt áo người thương

*

Xin đường về dài mãi

Xao xuyến với bâng khuâng

Có ai mong hè đến

Có ai buồn lắm không?

*

Phút chia tay lưu luyến

Kỷ niệm bao ngày qua

Mây lưng trời giăng kín

Che mắt buồn thiết tha

*

Mình xa nhau từ đấy

Trách chi thuở dại khờ

Nghìn trùng xa biết mấy

Thời gian trôi hững hờ

*

Để hôm nay tôi nhớ

Tháng Sáu về trời mưa

Hoa phượng xưa rực rỡ

Tôi chép vội bài Thơ!

KIM LOAN

(Trời không mưa, anh có lạy trời mưa 🎶😱??)

==

NGÀY TỪ PHỤTHƠ HỒ DUY HẠ

*

Dâng lên Ba nhân ngày Lễ Từ Phụ
Cảm xúc này xin báo đáp đền ơn
Công cha cao như ngọn núi Thái sơn
Luôn dưỡng dục đàn con hiền thơ dại

*

Dầu gian khổ Ba chẳng hề quản ngại
Vì đàn con Ba chia xẻ yêu thương
Dạy dỗ con nên phấn đấu kiên cường
Luôn đứng vững trên đường đời chớ ngã

*

Phải hy sinh với nụ cười buông thả
Và Đức Tin Trông Cậy Đấng Quyền Năng
Công ơn Ba nuôi nấng con trưởng thành
Giờ khôn lớn tình Ba luôn cao quý

*

Ngày Lễ Cha con tâm tình thủ thỉ
Mong Ba hiền sống khỏe với đàn con
Để chúng con phụng dưỡng cho đạo tròn
Về sum họp làm quả dâng Từ Phụ

Xin gởi đến những người Cha

HAPPY FATHER’S DAY
Hồ Duy Hạ

*

KHÓC BAHỒ DUY HẠ

*

Duy nhất Ba ơi niềm tâm sự
Nỗi lòng thân phụ con cưu mang
Gần Ba cuối đời không là mấy
Thương tiếc Ba yêu lệ tuôn tràn.

*

Khóc Ba thương nhớ ôn kỷ niệm
Công lao dưỡng dục nuôi đàn con
Mất Ba bây giờ con nuối tiếc
Cứ tưởng bên con Ba vẫn còn…

*

Kỷ niệm luôn mãi tình Ba Mẹ
Nay đã đoàn viên nơi suối vàng
Ảnh hình ghi lại buồn muôn thuở
Thương lắm Song Thân lòng chứa chan

*

Ước nguyện con chưa được hoàn thành
Ba ơi sao lại đi quá nhanh
Bao nhiêu công việc chưa hoàn tất
Đè nén đau thương buồn bao quanh.

*

Nghẹn lòng không thể nào con tưởng
Hình ảnh xưa nay cứ xuyến xao
Gợi về ký ức chan dòng lệ
Gọi Ba nhớ Mẹ khóc nghẹn ngào.

Father’s Day nhớ Ba rất nhiều.
San Jose June 2026
Hồ Duy Hạ.




VTLV: TRANG ĐẶC BIỆT TƯỞNG NIỆM NGÀY QLVNCH 19/06. CAO MỴ NHÂN: CHÙM THƠ Về QUÂN LỰC VNCH

TS MAI THANH TRUYẾT: Hằng năm vào khoảng 19 Tháng 6, có nhiều tổ chức thuộc Quân Lực VNCH  ở hải ngoại tổ chức Lễ kỷ niệm Ngày Quân Lực. Năm nay là năm thứ 43.

Ngày 19 Tháng 6, được coi là Ngày Quân Lực VNCH là vì sau đảo chánh lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm năm 1963, Chính quyền và Quân Đội  VNCH bị suy yếu trầm trọng bởi tình trạng chỉnh lý, tranh giành quyền lực liên tục giữa các tướng lãnh trong QLVNCH . Tình trạng chính trị , quân sự cũng như kinh tế của Miền Nam lúc đó thật bi đát.

Lợi dụng tình thế bất ổn này, quân chính quy CS Bắc Việt ồ ạt xâm nhập vào Miền Nam. Trước tình trạng khẩn trương, nguy ngập đó Chính phủ dân sự Phan Khắc Sửu quyết định trao trách nhiệm và quyền hành lãnh đạo Quốc Gia cho Quân Lực VNCH.

Một buổi lễ ra mắt Ủy ban Lãnh Đạo Quốc Gia và Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương được long trọng tổ chức tại Thủ Đô Saigon vào ngày 19 Tháng 6, 1965. Hai Ủy ban này đã  tuyên thệ trung thành với Tổ Quốc, nhận trách nhiệm chỉ huy QLVNCH trong việc bảo vệ đất nuớc, quê hương.

Từ đó ngày 19 Tháng 6 là một ngày lịch sử, có tên là “Ngày Quân Lực VNCH”. Sau đó hằng năm ngày Quân Lực 19 Tháng 6 được cử hành rất trọng thể với sự tham gia các đơn vị của các quân binh chủng trong QLVNCH, để biểu dương sức mạnh và ý chí đoàn kết, quật khởi của toàn quân, toàn dân  Miền Nam, quyềt chiến đấu chống CS xâm lược Miền Bắc.

Ngày nay, Quân Lực VNCH không còn nhưng người quân nhân VNCH vẫn không ngừng chiến đấu cho Tự Do, Dân Chủ, Nhân quyền  và sự vẹn toàn lãnh thổ. Tập thể Chiến Sĩ VNCH đã được hình thành để nâng nỗ lực đấu tranh lên tầm mức cao hơn, mạnh mẽ  hơn.

Người chiến sĩ VNCH và đồng bào ỏ hải ngoại hôm nay  không có vũ khí trong tay để anh dũng chiến đấu trên chiến trường như ba mươi ba năm trước đây, nhưng với ý chí kiên cường, bất khuất,  người chiếnsĩ VNCH và đồng bào hải ngoại vẫn tiếp tục đấu tranh đem lại nhiều  thắng lợi trên  Bình diện chính trị. Chắc chắn ngày tự do và hạnh phúc cho toàn dân Việt Nam khắp mọi miền đất nước không còn bao xa.

Dưới bất cứ hoàn cảnh nào, nơi đâu,  tôn chỉ của người quân nhân vẫn là Danh Dự – Tổ Quốc – Trách Nhiệm.

Mai Thanh Truyết

==

CHÙM THƠ 19/06 – CAO MỴ NHÂN

==

CÙNG NHAU HÁT TIẾP KHÚC QUÂN HÀNH.     CAO MỴ NHÂN

Trời chưa sáng đã nghe hồi trống lệnh

Anh lạnh lùng thức dậy, chúng ta đi

Vào  chiến cuộc, bao người đang đến hẹn

Một lòng tin phơi phới: các anh về

*

Cờ vàng đã tung bay trên khắp ngả

Trăng hạ huyền lãng đãng báo tin Xuân

Nền Cộng Hoà thao thức đợi chinh nhân

Rồi từ đó, ta gọi hồn đất cũ

*

Những con đường đã xua mây viễn xứ

Để cho người gặp gỡ người xa xưa

Để cho anh tha thiết gọi hồn thơ

Cho em viết chan hòa lời non nướ

*

Rằng : lý tưởng vẫn bền lòng phục quốc

Dân tộc ơi,  ngàn vạn nét đan thanh

Ôi sung sướng trọn đời ta mong ước

Hãy cùng nhau hát tiếp Khúc quân hành

    Rancho Palos Verdes  9 – 6 – 2026

                 CAO MỴ NHÂN

==

TẶNG ANH.      CAO MỴ NHÂN

Chỉ cần nghe hơi hướng

Tuổi trẻ ở đôi tay

Mới biết mình sung sướng

Sức khỏe còn trên vai

*

Nên mời anh gánh vác

Càn khôn vũ trụ này

Đất trời không xa lắm

Tất cả đều quanh đây

*

Hôm qua là dĩ vãng

Ngày mai đó tương lai

Còn hôm nay hiện tại

Tinh thần phải hăng say

*

Muốn làm nên nghiệp lớn

Hãy đo sức nhân gian

Coi thử hạt bụi vướng

Nghĩ to như thái sơn

*

Khi ta còn tuổi trẻ

Phải tiết kiệm phút giây

Để không buồn tiếc rẻ

Trôi qua những tháng ngày …

Rancho Palos Verdes.   8 – 6 – 2026

         CAO MỴ NHÂN

==

Em GÁI HẬU PHƯƠNG.     CAO MỴ NHÂN

Kích giặc xong rồi, về phố thị

Thong dong đi dạo chợ  Sài Gòn

Ngó cô bán bánh, chào thơm phức

Mời lính biên phòng thử bánh ngon

*

Anh không mắc cở mà đùa rỡn

Cô muốn tôi mua loại bánh nào

Chính chiến mịt mù, nay mới hưỡn

Hậu phương chỉ có bánh thôi sao

*

Cô bé nhìn anh cười, đỏ mặt

Em không biết nữa, anh qua bên

Chị kia chắc có nhiều quà khác

Anh lắc đầu , anh muốn cạnh em

*

Thế rồi, vài tháng sau là vợ

Anh vẫn biên phòng, thương nhớ thêm

Cô bé để rơi dòng lệ tủi

Năm sau, em quả phụ ưu phiền …

(Chuyện một cô bé hậu phương, sau một năm là quả phụ tử sĩ  VNCH )

Rancho Palos Verdes   28 – 5 – 2026

               CAO MỴ NHÂN 

==

VỀ THĂM ĐƯỜNG 9.     CAO MỴ NHÂN

Ôi nhớ quá tiếng xe tăng cày đất

Xẻ sa trường đôi vạt sóng thiên thu

Bạn anh đấy khép hờ đôi mắt sắt

Yên phận nằm nghe gió bão biên khu

*

Anh trở lại Đông Hà qua đường 9

Cây Nhân Sinh từng lớp mọc hoang đường

Đồi 31 còn cuộn dòng uất nghẹn

Bạn anh nhìn pháo lịm bặt bi thương

*

Nửa trăm năm vẫn tanh mùi máu lửa

Ngậm ngùi nhìn dấu vết tiểu đoàn xưa

Anh cứ đứng chôn chân trong nỗi nhớ

Trận chiến nào em khóc sau giông mưa

*

Thôi ta về, chuyến tầu đêm hun hút

Như gọi hồn tử sĩ vọng trời xanh

Không còn ánh hỏa châu soi sáng khắp

Trở về thăm mặt trận vỡ trên thành …

Hawthorne  26 – 5 – 2026

        CAO MỴ NHÂN

==

NỬA TRĂM NĂM GẶP LẠI.     CAO MỴ NHÂN

Nửa trăm năm đã vụt trôi qua

Trông đợi người đi lệ thấm nhòa

Chạnh nhớ ngày xưa khi kích giặc

 Bên nhau nào biết sẽ chia xa

Đồng hoang cỏ cháy nối thương đau

Người với ta chung một nỗi sầu

Cơm xấy sau mưa tràn bếp ngập

Bên trời tên lửa gọi cung dâu 

*

Hẹn hò chớp mắt như tan biến

Kinh rạch đò ngoan vẫn thả chèo

Sóng vỗ ngoài xa nơi đất biển

Hành quân ổn định xóm thôn nghèo

*

Đông Hà, cửa Việt  sương giăng tối

Sao trách ai quên chẳng ngó ngàng

Đành đợi hoả  châu soi sáng lối

Người ôm hoài bão chẳng than van

*

Giờ đây nhịp đập tim đau nhói

Ta hỏi người khi mặt trận tàn

Hoài niệm tình vương theo đạn khói

Có còn chăng, dấu tích tan hoang

*

Người ơi bi lụy càng ngây ngất

Trong nỗi ưu tư liệm mảnh hồn

Thương nhớ dặm về buồn héo hắt

Bên nhau tâm sự não nề tuôn …

         Hawthorne.   9 – 5 – 2026

( Họa Thơ. Nhật Hồng. Nguyễn Thanh Vân  )

                   CAO MỴ NHÂN 

==

DƯỚI CỜ VÀNG.       CAO MỴ NHÂN

Sáng ra chào lá cờ vàng

Tung bay trong nắng huy hoàng mùa xuân

Thấy như gặp lại cố nhân

“Giày saul nón sắt ” tháng năm thủa nào

*

Em nhìn lên tít trời cao

Mây pha sắc áo bay vào sử xanh

Ngàn đời yêu dấu riêng anh

Sa trường sôi động, tan thành mộng mơ

*

Quân đi rầm rập  dưới cờ

Sáng tươi sông núi cùng thơ lên đường

Trăm phen hoa nở khói sương

Đạp lên nỗi chết biên phương hận thù

*

Bây giờ nói chuyện biên khu

Bâng khuâng âm hưởng thiên thu chiến hào

Đạn bay xé mảnh nhung bào

Trái tim thúc giục tuyến đầu ghi công …

            CAO MỴ NHÂN

==

NGANG TRỜI TIẾC THƯƠNG.        CAO MỴ NHÂN

Em về giữa buổi bình minh

Nắng  vừa soi tỏ bóng hình người xưa

Cả không gian bỗng tiễn đưa

Hồn chinh phu trải gió mưa nơi này

*

Chiến trường cạn chén riêng tây

Tình yêu nước đã khô bay mộ chàng 

Trao anh nguyên sắc cờ vàng

Này đây, tất cả lỡ làng quê ta

*

Em về câm nín xót xa

Sau lưng lạnh toát hồn ma tượng đài

Bó nhang chợt tắt u hoài

Nắng hong nỗi nhớ ngang trời Tiếc Thương

*

Thôi anh, tóc rối tơ vương

Vòng tay buông lỏng nghe hương khói tàn

Một mình hận tủi vô vàn

Buồn ơi mộng mị quan san bái từ …

            CAO MỴ NHÂN

==

LỜI MẶC NIỆM -Donry Nguyên

*

Hỡi oai linh núi sông hùng vĩ,

Đây cơ đồ xương máu tiền nhân.

Đây sự nghiệp, giang sơn gấm vóc,

Đã lưu truyền suốt bốn ngàn năm.

*

Đàn con Việt cúi đầu mặc niệm,

Tưởng nhớ về công khó cha ông.

Bao lớp người hy sinh nằm xuống,

Đem máu mình tô thắm non sông.

*

Hãy hát lên bài ca dựng nước,

Của giống nòi Đại Việt hiên ngang.

Tay vung gươm, tay cầm ngọn bút,

Giữ cõi bờ, chống bọn xâm lăng.

*

Xin nguyện cầu hồn thiêng sông núi,

Thắp sáng lòng con cháu Rồng Tiên.

Cùng hợp sức chung tay xây lại,

Ngọn cờ vàng tươi sáng Việt Nam!

-Donry Nguyễn.

==

BÀI TÌNH CA CỦA GÃ LÍNH GIÀ

*

Có người em hỏi, anh là lính,

Khi đất nước cần, dám đứng lên?

Giống thời trai trẻ, ta nào ngán,

Sẵn sàng giáp mặt với đao binh.

*

Ta gã lính già luôn mong ước,

Được đứng chào nghiêm dưới quốc kỳ.

Thẩm quyền nếu bảo, mai ra trận,

Ta sẽ chấp hành, cất bước đi.

*

Hề chi, ta lính còn quân số,

(Đâu có giấy tờ giải ngũ đâu?)

Tuy đã lâu rồi, lương chẳng nhận,

Bộ áo trây-di bạc thếch màu.

*

Ta chàng lính pháo chưa từng bại

(Kịp đánh đâu mà thắng với thua?)

Chẳng qua thế nước, cơn chìm nổi,

Tạm bước lưu vong, đợi buổi về.

*

Tuổi cao dù yếu, còn dư sức …

Ôm đàn hát lại bản tình ca.

Cho em biết được lòng ta vẫn,

Sau trước yêu em rất thật thà.

*

Em chớ trách hờn sao đi mãi

Chắc là quên mất nợ quê hương?

Thưa em, từ độ mùa xuân ấy …

Nặng trĩu trong ta, một chữ buồn!

*

Đợi giờ sông núi reo mùa mới,

Theo bước hùng binh lại trở về.

Xin hẹn cùng em mùa trẩy hội,

Hai đứa mình đi dưới bóng cờ.

-Donry Nguyễn.

==

THƠ LÊ MỸ HOÀN

==

THU ĐÔI MƯƠI – Lê Mỹ Hoàn

Những chiếc lá cuộn rơi bước chân ngày cũ

Trong vườn tao đàn thuở ấy tuổi đôi mươi

Áo thướt tha như cuộn áng mây trời

Khi những mùa thu về lá rơi ngập lối

Tao đàn lắng tiếng trở mình thức dậy

Còn mãi xa như gợn sóng thời gian

Khi những bài thơ ngàn xưa vang vọng

Vời vợi âm xa lũ lượt trở về

Trong cặp sách thư tình và bài học

Lẫn lộn trang vở những hồi hộp hôm qua

Còn dấu âm thầm tiếng ai hò hẹn

Màu áo anh còn đẫm gió quan hà

Có ánh mắt đêm dài miền đất đỏ

Anh mang về cát bụi chiến chinh xa

Anh mang về cùng với cả giấc mơ

Vườn hoa thơm ngát thanh bình muôn thuở

Cuộc tình năm xưa mùa lá đang rơi

Cùng đếm bước trên vỉa hè Lê Lợi

Những bước thì thầm còn lên tiếng gọi

Ta vẫn hẹn bao năm chờ đợi

Áo em thu vàng cùng với tuổi đôi mươi.

Lê Mỹ Hoàn – 6/2026

==

CHÂN TRẦN TRÊN ĐỒI CÁT

Ngày về thăm quê

Trùng dương bát ngát

Chân trần chạy trên đồi cát

Mượt mà như dải lụa quấn quanh

Chân trần chạy thẳng lên đồi

Tưởng như đến bên trời trước mắt

Gió cát quật vào mặt vào mắt

Mặt trời nghiêng và bóng đổ

Đồi cát chập chùng đôi cánh trắng

Gió thổi tung màn lụa phủ thân ta

Lòng cuộn theo cơn lốc

Bụi mờ vết chân qua

Quá khứ xa xôi

khung trời ẩn hiện

Đại bác nổ rền xé rách đêm thâu

Ánh hỏa châu soi sáng cát vô hồn

Lá cây gầy

lấp loáng giọt sương tuôn

Lòng mẹ mái tranh

nước mắt ru buồn

Bóng anh người lính chiến

Áo chinh nhân xuống biển lên ngàn

Lặng lẽ súng trên tay

Băng qua vùng lửa cháy

Đã một lần nơi đây

Em, anh và quê hương tan nát

Ôi chinh chiến điêu tàn

Tình yêu và biển mặn

Quê hương ước mơ ơi

Hôm nào đã mất

Một non sông và mối tình anh.

   Lê Mỹ Hoàn – 5/2020

==

BIỂN ĐÊM NHỚ SÀIGON

Biển đang dâng chén lưng sầu      

Núi cao mây lấp ngang đầu nỗi đau

Non xanh biển mộng là đâu

Sóng đâu phủ sóng tình sâu đáy lòng

*

Ra đi về hướng đại dương

Có loài rong biển vẫn thương đường về

Đêm nghe tiếng hát trầm mê

Biển còn đắm mộng lời thề vấn vương

*

Ta đi thấu suốt đoạn đường

Mà sao lòng vẫn nhớ thương Sàigon

Sàigon thuở ấy mưa luôn

Hàng me chua ngọt nắng luồn tóc em

 *               

Sóng dồn khát vọng bao đêm

Ai bơi qua mộng hão huyền bên kia

Để rồi năm tháng vô đề

Gót chân phiêu lãng hỏi về nơi đâu

*

Ngàn sao thắp lệ em sầu

Long lanh những ngọn đèn màu phố xưa

Tiếng chân nhịp bước mong chờ

Ngựa thồ cuối ngõ ngoại ô đêm buồn

*

Trưa hè phượng đỏ môi son

Màu son chưa nhạt mái trường năm xưa

Thế rồi sóng bấp bênh bờ

Nấm mồ hoa phượng tình thơ ngậm ngùi

*

Hồ Rùa phủ bóng lá rơi

Dọc đường Nguyễn Huệ từng đôi dập dìu

Ta về nắng gió Pleiku

Áo em gió lộng rừng thu quân hành   

*

Bến Thành quen mãi bước chân

Xuyên qua cửa Bắc lại gần cửa Tây

Mình tao ngộ ở nơi đây

Âm thanh biển bỗng gọi đầy nỗi vui             

*

Ơi! Dòng nước chảy chia hai

Nhà Bè bến nước, Đồng Nai ai về

Tiếng hò sóng nước đê mê

Thôi em, đã lỡ vụng về giấc mơ

*

Huy tà bóng lặng chơ vơ

Từ nghe cõi vọng mơ hồ về đâu

Địa đàng tỉnh giấc canh thâu

Cùng ta chuốc chén mộng sầu ly tan.

          Lê Mỹ Hoàn – 5/2019

==

==

Sau Tháng Tư Đen, những người chiến sĩ VNCH tị nạn CS tại khắp nơi trên thế giới đã sống những ngày tháng còn lại trong nuối tiếc, ngậm ngùi, và ân hận vì đã không làm tròn sứ mạng bảo vệ đất nước.

Món nợ non sông chưa trả đã dầy vò rất nhiều người, nhất là những chiến sĩ có tinh thần trách nhiệm cao đã không ở lại tử thủ khi Sài Gòn đổi chủ. Họ tìm đường sống, tiếp tục sống, tiếp tục theo đuổi và duy trì nhiệm vụ chống chế độ CS đã và đang làm băng hoại đất nước, dân tộc VN. Cuộc tranh đấu tiếp tục kéo dài, giấc mơ hồi hương vẫn xa vời vợi, mục đích vẫn chưa nằm trong tầm tay với. Tâm hồn người chiến sĩ mục rữa vì quá khứ ám ảnh, vì chờ đợi mỏi mòn. Trách nhiệm của người chiến sĩ vẫn đeo đẳng không nguôi mà tuổi già và bệnh tật đã dẫn đường cho thần chết tìm đến. Từng người một giã từ đồng đội, lúc lâm chung không muốn phủ lá Cờ Vàng vì nghĩ rằng mình đã không xứng đáng được hưởng danh dự này.

Cựu Tư lệnh Sư đoàn Nhảy Dù, Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng (1932-2005) đã nói : “Tôi làm Tướng không bảo vệ được nước. Khi nước mất tôi đã không dám chết theo nước nên khi tôi chết già, yêu cầu đừng phủ quốc kỳ lên quan tài tôi vì tôi tự biết mình không xứng đáng được hưởng lễ nghi nầy.

Xin mặc đồ đen, không mặc quân phục, nếu muốn đến tiễn đưa tôi lần chót.”

Cựu Trung tá Phi đoàn trưởng phi đoàn 239 Phạm Vương Thục (1942-2011) đã để di chúc :

“Không phủ cờ cho Anh vì Anh không đáng được phủ cờ. nếu BCH (Ban Chấp Hành) bắt buộc phải làm thì xin làm theo nghi thức thật bình thường …”

Tôi đọc những lời di chúc này mà ngẩn ngơ. Sao lại thế? Một lần gia nhập quân đội là trọn đời thuộc về quân đội. Dù quân đội đã tan hàng, buông súng nhưng làm sao xóa bỏ quá khứ, cái quá khứ đã làm nên hiện tại, con người ngày nay. Qua lá Cờ Vàng, người chiến sĩ vẫn thấy quê hương, vẫn kính cẩn chào trong những buổi lễ, vẫn còn thấy lòng rung động, vẫn còn thấy nỗi nhục nhằn, chua xót. Bao nhiêu năm sống đời lưu lạc, vẫn ấp ủ quê hương trong lòng, sao đến phút cuối lại tự mình cắt đứt?

Phủ Lá Cờ Vàng

Mai anh chết cờ vàng xin dâng phủ,

Như một lời được nhắn nhủ đến ai.

Dù chiến chinh đã tàn lụi lâu dài,

Dù gươm súng, chiến bào không còn nữa,

Dù chiến bại làm tâm hồn mục rữa,

Dù cuối đời khí phách tựa khói tan,

Cờ vàng kia, anh xứng đáng được quàng,

Để ghi nhận tháng ngày mang nợ nước,

Để cám ơn hy sinh không lường được,

Những hao mòn thân thể, nhược tâm tư,

Những máu xương đã đổ tại chiến khu…

Đâu phải chết mới đền bù nợ nước.

Xin vui nhận lá Cờ Vàng thuở trước,

Là hồn thiêng tổ quốc rước anh về.

Những người con vẫn anh dũng, uy nghi,

Vẫn kiên cường ngay cả khi chiến bại.

Trên quan tài lá Cờ ôm ưu ái,

Hãy trở về, mãi mãi với quê hương!

Nguyễn P. Thúy, 02/07/2012

==

Thơ rất thật viết từ hồn thổn thức,

Từ lòng đau bởi vận nước suy vong.

Thơ căm hờn lũ Cộng sản hại dân,

Thơ sỉ vả kẻ đảo dâng, đất bán.

Thơ cuồng nộ trước độc quyền ngu dốt,

Thơ ngậm ngùi bao uất ức, nổi trôi.

Thơ xót xa quê đói khổ, tả tơi,

Thơ khóc thuyền nhân chết nơi biển rộng.

Thơ uất hận những cùm gông địa ngục,

Thơ đớn đau trước vùi dập, tang thương.

Thơ vạch trần bao dối trá, phỉnh lừa,

Thơ nhạo báng cha, tiên, sư, giả mạo (*).

Thơ nhắc nhở những chiến công đã tạo,

Thơ hô hào vì Quốc đạo, tổ tiên.

Thơ thiết tha tình dân tộc ba miền,

Thơ thúc dục người hiên ngang đứng dậy.

Thơ: vũ khí, tràn đầy bao nung nấu,

Thơ bừng bừng, rực dấu lửa kết tinh.

Lửa Thiện Chân thắp sáng tỏa niềm tin,

Lửa bốc cao thành đuốc thiêng dân tộc.

Đốt cho hết những bạo tàn lũ Cộng,

Cháy ra tro quỷ đỏ đội lốt người.

Để mầm non còn có chỗ đâm chồi,

Vươn lớn mạnh đắp bồi cho đất mẹ.

Thơ reo vui khi Việt Nam trọn vẹn,

Có nhân quyền, đạo đức với tình người.

Một mai đây khi đất nước yên vui,

Thơ thắm thiết chuyện ngọt bùi, tình tự.

Thơ rất thật viết từ hồn hạnh phúc,

Từ lòng vui bởi vận nước phục hưng.

Nguyễn P. Thúy, 3/10/2008

(*) Cộnng Sản bắt dân thờ Hồ Chí Minh như Tiên Thánh và lập ra sư quốc doanh, cha

(linh mục) quốc doanh để chi phối tôn giáo.

**

NHỚ NGƯỜI CHIẾN SĨ VÔ DANH – NGUYỄN PHƯƠNG THÚY

Bao năm qua tôi vẫn nhớ đến anh,

Những người chiến sĩ vô danh, rất trẻ.

Hành trang gói theo: tình thương vỏn vẹn,

Vì non sông nguyện dâng hiến cuộc đời.

Vai ba lô trĩu nặng vội lên đường,

Dù biết trước hiểm nguy đương chờ đợi.

Nhịp quân tiến mù tung trong gió bụi,

Bao hiểm nguy vẫn thách thức tử thần.

Dẫu mai này có vị quốc vong thân,

Vẫn kiêu dũng tròn phận dân nước Việt.

Các chiến sĩ, những người trai tuấn kiệt,

Một ngày nào trả hết nghiệp binh đao.

Người về quê, máu đẫm ướt chiến bào,

Kẻ đất mẹ chôn sâu đời vĩnh viễn.

Thương binh tủi, ngậm ngùi sau cuộc chiến,

Đùm bọc nhau trong túng thiếu, lầm than.

Tháng Tư Đen, sụp đổ cả miền Nam,

Thân bại tướng, không hàng, đành tuẫn tiết.

Tù cải tạo cam chịu bao khắc nghiệt,

Đói triền miên và tật bệnh giết dần.

Nơi đất người, xây dựng lại từ đầu,

Đời no ấm vẫn thấy sầu ghê gớm.

Nỗi nhục nhã, không lúc nào nguôi hận,

Chí kiên cường theo ngày tháng lê thê.

Bao nhiêu năm, vẫn ấp ủ hẹn thề,

Sài Gòn hỡi, ngày về – Xuân Như Ý (*).

Chiến tranh cướp bao đời trai hao hủy,

Nghĩa trang buồn nơi an nghỉ nghìn thu.

Mộ bia anh, không nhang khói, trùng tu,

Dù khi thác vẫn là tù cấm cố.

Vì thương lính, rất hận loài Cộng đỏ,

Góp sức mình tiêu diệt lũ ác nhân.

Tiếp tục con đường anh đã âm thầm,

Quyết chiến đấu đến tận cùng sinh lực.

Ngày nào đó thế thời xoay mệnh nước,

Khi quê hương mạch sống được khơi mầm.

Sử Việt Nam xin trân trọng ghi ân,

Tôn vinh những anh hùng vô danh ấy…

Nguyễn P. Thúy

December 09, 2009

(*) Bài Xuân Như Ý trong thi tập Cõi Lòng của tác giả Vinh Nhất Tâm

==

==

=

-Ngày Quân Lực 19-6 là dịp để chúng ta tưởng nhớ và tri ân những người lính Việt Nam Cộng Hòa, đã một thời hiến dâng tuổi trẻ, máu xương và cả mạng sống của mình cho lý tưởng Tự Do, Dân Chủ và sự sống còn của dân tộc.

Trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt, khi miền Nam đứng trước hiểm họa mất nước, người lính Việt Nam Cộng Hòa đã can đảm đứng lên nhận lãnh trách nhiệm bảo vệ quê hương. Họ chiến đấu không vì quyền lợi riêng tư, mà vì sự bình an của đồng bào, vì tương lai của các thế hệ mai sau, với tinh thần cao đẹp: “Vì Nước quên mình, vì Dân phục vụ.”

Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ, nhưng những hy sinh của trên 300.000 chiến sĩ đã nằm xuống và hàng trăm ngàn thương phế binh còn mang thương tích suốt đời, vẫn là những trang sử hào hùng không thể nào quên. Dù thời gian trôi qua bao lâu đi nữa, lòng tri ân đối với những người đã vị quốc vong thân, vẫn còn nguyên vẹn trong lòng những người Việt yêu chuộng tự do.

Ngày hôm nay, chúng ta kính cẩn nghiêng mình trước anh linh các anh hùng tử sĩ, những người đã chọn hy sinh đời mình để bảo vệ chính nghĩa. Chúng ta cũng không quên những chiến hữu còn sống, những thương phế binh và gia đình quân nhân đã âm thầm chịu đựng biết bao mất mát trong suốt nhiều thập niên qua.

Ngày Quân Lực không chỉ là ngày tưởng niệm quá khứ, mà còn là ngày nhắc nhở chúng ta về những giá trị cao quý của trách nhiệm, danh dự, lòng yêu nước và tinh thần phục vụ tha nhân. Những giá trị cao đẹp ấy vẫn tiếp tục soi sáng con đường của người Việt hôm nay và mai sau.

Nguyện cầu hương linh các vị tướng lãnh, các chiến sĩ vị quốc vong thân và toàn thể quân dân đã hy sinh cho tự do được an nghỉ trong cõi vĩnh hằng. Xin cho thế hệ hôm nay luôn biết trân quý tự do, đoàn kết xây dựng tương lai và gìn giữ những lý tưởng cao đẹp mà các anh đã để lại.

Tinh thần Người Lính Việt Nam Cộng Hòa – Vì Dân mà chiến đấu, Vì Nước mà hy sinh – mãi mãi bất diệt!

Thứ Sáu, Đúng Ngày 19/6, Tại Vườn Truyền Thống Việt

Chút Quà Từ Ủy Ban Thúc Đẩy Xây Dựng Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ San Jose:

=

-Đặc Biệt Nhân Kỷ Niệm Ngày Quân Lực Và Kỷ Niệm 2 Năm Thành Lập Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ San Jose, Ủy Ban TĐXDTĐ, xin Kính tặng Quý Cựu Quân Nhân, một món quà nhỏ và một phong bao lì xì, như một lời cảm tạ và lời chúc sức khỏe!

=

=

=

-Có những người lính chiến thắng được dựng tượng đài bằng đá. Có những người lính thất trận, được dựng tượng đài trong lòng người.

Người lính Việt Nam Cộng Hòa thuộc về lớp người thứ hai!

Họ rời mái trường, gác lại tuổi thanh xuân, khoác lên mình màu áo trận để gìn giữ quê hương, trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt. Hai mươi năm dài, họ đi qua những cánh rừng, những dòng sông, những đồi cao đầy khói lửa, mang trên vai trách nhiệm bảo vệ sự bình yên cho hàng triệu người dân miền Nam.

Rồi chiến tranh khốc liệt kết thúc.

Không chỉ mất một cuộc chiến, họ còn mất quê hương, mất tương lai, mất cả quyền được nhắc đến bằng sự công bằng của lịch sử. Người sống bước vào lao tù, người chết nằm lại trong những nghĩa trang hoang phế. Những thương binh tàn tật sống âm thầm bên lề xã hội. Nhiều gia đình mang theo nỗi đau ấy qua nhiều thế hệ.

Có lẽ đó là một trong những thân phận bi thương nhất của người lính trong lịch sử hiện đại: chiến đấu hết lòng cho lý tưởng mình tin tưởng, rồi phải sống những năm tháng còn lại trong lãng quên, lưu đày và mất mát.

Nhưng thời gian có thể làm phai mờ nhiều thứ, không thể xóa được lòng biết ơn.

Bởi sau tất cả, hình ảnh người lính Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn đó trong ký ức của đồng đội, trong những lá Cờ Vàng nơi đất khách, trong những tượng đài tưởng niệm được dựng lên khắp thế giới tự do, và trong trái tim của những người vẫn còn nhớ rằng, đã có một thế hệ thanh niên từng hiến dâng tuổi trẻ, máu xương và cả cuộc đời mình cho quê hương.

Xin thắp một nén hương lòng cho những người lính năm xưa.

Cho những người đã nằm xuống. Cho những người còn sống trong ký ức. Và cho những người, dù bị lịch sử bỏ quên một thời, vẫn không bao giờ bị lãng quên trong lòng dân tộc.

Tinh thần Huynh Đệ Chi Binh vẫn còn đó. Lý tưởng Tự Do vẫn còn đó. Cuộc đấu tranh cho một Việt Nam dân chủ, nhân quyền và không còn độc tài cộng sản vẫn còn đó.

Chúng tôi quyết tâm tiếp tục con đường mà những người lính Việt Nam Cộng Hòa đã chọn: Phụng sự Tổ quốc. Bảo vệ Dân tộc. Tranh đấu cho Tự do.

375bbcf9-7bba-4d29-bf24-3ed71a5efba9nknknknn;nk;.png

Cho đến ngày Việt Nam thật sự có Dân Chủ, Nhân Quyền và Tự Do.

Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm! Tổ Quốc Việt Nam Muôn Năm!




CGV NGUYỄN PHƯƠNG THÚY – Hà Xài

Hà Xài

Tác giả Giao Chỉ khi viết bài “Genève 54 Chia Cắt” có nhắc đến những thanh thiếu niên di cư vào Nam như nữ minh tinh Kiều Chinh lúc 15 tuổi, nữ ca sĩ Khánh Ly lúc 9 tuổi, và một số trẻ em di cư nổi tiếng khác. Thế mà ông không nhắc đến những đứa bé sơ sinh được cha mẹ bồng bế lên tàu há mồm hay máy bay vào Nam. Sao lại có sự sơ sót này hay là sự hiện diện của đám con nít miệng còn hôi sữa không nhiều, không đáng kể!

Tôi là một trong số trẻ sơ sinh ấy, đã lên máy bay vào Nam khi còn quấn tã. Lúc hiệp định Genève được ký kết giữa Anh, Pháp, Tàu, và CSVN vào ngày 20 tháng 7 năm 1954, chia đôi đất nước qua vĩ tuyến 17 thì Mẹ tôi đang mang cái bụng chửa to vượt mặt. Vài ngày sau tôi ra đời tại nhà hộ sinh nằm trên đường Quan Thánh, Hà Nội. 

Tôi, lớp gái Hà Nội cuối cùng, với “khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang”, có được xếp cùng hạng với những thiếu nữ Hà thành, những cô Bắc kỳ nho nhỏ đã một thời đi vào văn chương, thơ phú?

Tôi thắc mắc không biết mình có phải là con gái Hà Nội. Cái gốc Hà Nội nghìn năm văn vật có quyện vào người, có theo người vào Nam. Tôi đã có được bao nhiêu phần trăm cái cốt cách của các cô gái Hà Nội thanh lịch, kiêu sa, đài các ngày xưa. Tôi nghe những bài hát, văn thơ viết về Hà Nội đẹp đẽ với những di tích lịch sử, văn hóa, và con người Hà Nội mà thèm mà yêu. Những lời kể lể sao mà hay, mà văn hoa đến thế. Mẫu con gái Bắc kỳ kiểu cách, cong cớn, đanh đá, chua ngoa, sao mà dễ thương đến thế tuy thương không dễ. Các chàng biết yêu con gái Bắc là tự chuốc khổ vào thân nhưng lại cứ lao đầu vào vì đã lỡ bị cái thanh lịch, kiêu sa, đài các mê hoặc, đâm ra nghiền cái thú đau thương. Ôi, tôi thèm muốn được làm gái Bắc, gái Hà Nội quá trời. Cứ chong mắt nai và dỏng tai nghe người ta kể lể tâm tình thương yêu Hà Nội, vất vả vì gái Hà Nội mà không dám vỗ ngực xưng mình cũng là dân Hà Nội.

Tôi vẫn thương hoài Hà Nội ơi,

Kiêu sa, thanh lịch, đẹp bao thời,

Ra đi từ thuở còn đeo tã,

Có biết mình mang dấu đất trời?

Trong khi miền Nam bao dung, dễ chịu, cởi mở thì tôi được nuôi dưỡng theo gia phong của miền Bắc. Người Bắc có một lối sống phong kiến, tôn ti trật tự, xem trọng việc giáo dục, học ăn lịch sự, học nói lễ phép, học cách xưng hô, học cách ăn trông nồi ngồi trông hướng, học may vá, bếp núc, công dung, ngôn, hạnh… Ôi thôi, biết bao nhiêu cái phải học.

Chữ nghĩa, cách ăn nói là cả một vấn đề khó xử trong sự giao tiếp hàng ngày. Những chữ đặc địa phương Bắc Kỳ đã dần dà thay hình đổi dạng để thích ứng với sự hội nhập vào môi trường sinh sống mới, người mới, cách diễn tả mới, nhất là khi tôi bắt đầu cắp sách đến trường. Tự dưng nẩy ra một số chữ ghép để giải tỏa sự cách biệt về ngôn ngữ, phát triển cái ngọn Nam kỳ mà vẫn không quên cái gốc Bắc kỳ như: chén bát, ly cốc, la hét, kỳ cọ, té ngã, ốm đau, màn mùng, ngắt véo, bơi lội, mắng chửi, chai lọ, gầy ốm, ốm đau, thìa muỗng,sợ hãi, vồ chụp, che chắn, béo mập, bồng bế, …

Cách viết văn hoa, rườm rà, kiểu cọ, khách sáo cũng dần dà phôi pha, nhường chỗ cho lời nói giản dị, chân chất, thẳng thắn.

Lần đầu nghe hàng xóm chửi nhau ào ào, rất tục, tôi khó chịu, hỏi Mẹ: “Người Bắc chửi ra sao”. Mẹ tôi bảo: “Người Bắc chửi có bài bản, văn hoa, vần điệu, nhiếc móc, xỏ xiên, nói bóng gió, dông dài, lôi cả tam đại ba đời, chửi thâm độc từ ngày này sang ngày khác; nghe được nhưng không nên nghe con ạ.”

Khi tôi thi vào trung học, Bố tôi chọn trường Gia Long thay vì trường Trưng Vương vì trường Gia Long gần nhà và nổi tiếng về kỷ luật nghiêm minh, có quý bà Giám thị chuyên đi bắt những học sinh không mặc áo lót, vẽ lông mày, sơn móng tay, dồi phấn thoa son.   

Người bạn thân nhất của tôi trong suốt 7 năm lại là người miền Nam, quê ở Vĩnh Long.  Trong khi nó mảnh mai, khoan thai, dịu dàng như nàng Kiều của Nguyễn Du thì tôi to lớn, dềnh dàng, trực tính, nóng nẩy, hay gắt. Mẹ tôi bảo nó mới đúng là mẫu con gái Hà Nội thanh lịch, nết na. Trời ạ, cái bản chất của con gái Hà Nội là thế ư; tôi thật không chịu được cái chậm chạp, yểu điệu thục nữ của nó. Tôi gắt, tôi cằn nhằn, tôi nhăn nhó với nó hoài làm nó đau khổ không ít; thường than vãn với Mẹ tôi là tôi bắt nạt nó mỗi ngày.

Qua nhà nó chơi, tôi được ăn các món miền Nam. Từ đó tôi mê mắm nêm cũng như mê mắm tôm vậy; khi ăn phở, bún riêu, bún thang, bánh cuốn đều phải có giá sống mới thấy ngon.  Thịt kho nước dừa ăn với dưa giá hơi chua chua, có điểm những cọng hành xanh ngắt thì khỏi chê. Các món xôi chè có nước dừa đều hấp dẫn vô cùng. Còn nó, có mê các món ăn miền Bắc hay không thì tôi không biết vì Mẹ tôi cho nó ăn cái gì nó cũng khen ngon. Nhưng có một điều tôi biết chắc là nó mê ông anh tôi qua những cái liếc mắt long lanh.

Nó nhái giọng Bắc, gọi tôi là gái Hà Xài, dở dở ương ương. Có lẽ cái chất thanh lịch, kiêu sa, đài các của con gái Hà Nội trong tôi, nếu có, đã nhạt nhòa theo thời gian, đã hòa trộn với hương đồng gió nội miền Nam, với Sài Gòn bao dung, cởi mở; để tạo thành những cô gái Hà (Nội) Xài (Sài Gòn) thanh lịch, hiền lành, khôn khéo, chẳng đãi bôi, kênh kiệu, nhưng vẫn còn chút đanh đá, lém lỉnh và ngây thơ vô số tội. Theo tôi cái lớp người dở dở, ương ương Hà Xài ấy đã dung hợp được những ưu điểm của cả hai miền Nam Bắc.

Sau tháng Tư Đen, tôi tị nạn bên Mỹ, còn nó biệt vô âm tín. Tôi nhớ Sài Gòn nhiều hơn nhớ Hà Nội. Nhớ Hà Nội là nỗi nhớ mơ hồ, còn nhớ Sài Gòn là nỗi nhớ ray rứt, xót xa, tiếc nuối những năm tuyệt đẹp của thời thiếu nữ với bao kỷ niệm rõ nét, trong đó có nó.

Nguyễn P. Thúy

12/15/2011




NGUYỄN PHƯƠNG THÚY: Tôi Vẫn Đợi.

Kính mời quý độc giả đọc bài viết với những lập luận sắc bén và nhận định rất chính xác về cộng sản của con chim đầu đàn Cô Gái Việt, VTS Phương Thúy, sau khi cô xem đoạn phim giới thiệu sách (video book trailer) Hậu Kiếp Của Gã Hề Rách Rưới─tác giả Khánh Hà (The Afterrlife Of A Threadbare Jester─Author Khanh Ha), vị phu quân tài ba của cô, một nhà văn gốc Việt nhưng viết tiếng Anh truyện nào là thắng giải truyện nấy, vượt qua những nhà văn nổi tiếng của Mỹ.  VTLV cũng đã giới thiệu nhiều bài viết của Phương Hoa về việc thắng giải của Khánh Hà.

Video book trailer:

==

TÔI VẪN ĐỢI

Khi tôi xem đoạn phim giới thiệu sách (video book trailer) Hậu Kiếp Của Gã Hề Rách Rưới─tác giả Khánh Hà (The Afterrlife Of A Threadbare Jester─Author Khanh Ha), tôi đã bị cuốn hút và xúc động bởi những câu dẫn dụ, ngắn, nhưng gây ấn tượng và cảm xúc mạnh mẽ; đã nói lên được chủ đề, linh hồn của cuốn sách.

Là kẻ sống sót sau cuộc “nước mất, nhà tan” vào tháng Tư, 1975, tôi đã bật khóc khi xem; đồng thời bất bình và phẫn uất bởi sự thiển cận, tráo trở, và gian dối của các chủ thuyết sai lầm, không thiết thực. Những chủ thuyết này đã gây chiến tranh, đã tàn sát bao sinh mạng, đã hứa vàđã thất hứa. Đây là “nghịch lý vĩ đại” và “thảm họa kinh hoàng” của thế kỷ 20! Chủ thuyết này hứa hẹn rất nhiều nhưng chẳng đạt được bao nhiêu─hứa hẹn một xã hội bình đẳng, không giai cấp nhưng lại cố tình ém nhẹm, dấu diếm một “tầng lớp thượng lưu” phía sau, tóm trọn quyền lực và tài sản quốc gia; mà người dân không thể tranh cãi và thưa kiện!

Tôi muốn nói đến sự khác biệt giữa lý thuyết Mác-xít và “sự thật phũ phàng” khi phải đối diện với thực tại mà nó đã va chạm và bị “u đầu, sứt trán”. 

Ban đầu Karl Marx lập luận rằng sau một cuộc cách mạng, sẽ có một giai đoạn tạm thời được gọi là “chuyên chính vô sản. Sử dụng quyền lực nhà nước để xóa bỏ sở hữu tư nhân. Một khi các giai cấp biến mất, nhà nước sẽ “tàn lụi” vì sẽ không còn ai để đàn áp nữa. Nhưng trên thực tế nhà nước không “tàn lụi” mà còn có xu hướng phát triển. 

Vladimir Lenin đã bổ túc vào ý tưởng của Marx─công nhân sẽ không tự mình bắt đầu một cuộc cách mạng─họ cần những nhà cách mạng chuyên nghiệp để lãnh đạo họ. Điều này tạo ra một hệ thống phân cấp chặt chẽ, kỷ luật; trở thành chính phủ mới và trở thành một tầng lớp đặc quyền tư lợi, tự duy trì. 

Marx hứa hẹn một thế giới không có giai cấp, nhưng họ chưa bao giờ đạt được chốn không tưởng này; họ chỉ xây dựng một phiên bản khác, nơi Đảng (hoặc Điện Kremlin) vẫn là giai cấp điều hành (Chief Executive Officer─CEO) không thể tranh cãi của đất nước. Tầng lớp cầm quyền đã trờ thành giai cấp thống trị mới với đồng phục đẹp hơn, xa xỉ hơn, chức danh thay đổi để hòa đồng với các nước dân chủ khác. Họ chưa bao giờ đạt được xã hội không tưởng; họ chỉ xây dựng một phiên bản công nghệ cao của hệ thống cũ, nơi Đảng (hoặc Điện Kremlin) vẫn là CEO không thể tranh cãi của đất nước.

China, dưới thời Mao Trạch Đông, mục tiêu tối cao là bình đẳng triệt để qua nghèo đói. Dưới thời Đặng Tiểu Bình và những người kế nhiệm, mục tiêu được chuyển sang “Chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc”. Họ cần một nền kinh tế mạnh mẽ, với doanh nghiệp tư nhân và đầu tư nước ngoài. Chủ nghĩa này đã tạo ra “các nhà tư bản đỏ”─những tỷ phú và trùm công nghệ được phép làm giàu, miễn là họ trung thành với Đảng Cộng sản (ĐCSTQ). Mục tiêu “không giai cấp” đã được thay thế bằng mục tiêu “phục hưng dân tộc”; khá ngoạn mục như trò hề!

Russia ngày nay, thay vì theo lý tưởng Cộng sản như thời Liên Xô, đã theo khuynh hướng “chủ nghĩa dân tộc” và “chủ nghĩa bảo thủ”, với cấu trúc chính trị xoay quanh quyền lực tập trung của Tổng thống. Đây là một chiến lược thích nghi, một cách “thay màu đổi sắc” để duy trì sự ổn định và vị thế cường quốc. Họ đã nhấn mạnh đến “lòng tự tôn dân tộc” để tồn tại trong một thế giới, nơi mà những khẩu hiệu về một xã hội bình đẳng, không giai cấp… không còn nghĩa lý gì nữa. Cách này hiệu quả hơn nhiều để giữ rịt sự trung thành của dân, xóa bỏ lời hứa về một xã hội không giai cấp và không bao giờ thành hiện thực.

Đảng Cộng sản Liên bang Nga (KPRF) vẫn hoạt động và là một trong những đảng đối lập lớn nhất nhưng không nắm quyền điều hành chính phủ. Từ thập niên 90, Nga đã chuyển nền kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường. Mặc dù nhà nước vẫn nắm giữ quyền kiểm soát lớn trong các lĩnh vực chiến lược (như năng lượng và quốc phòng), nhưng phần lớn nền kinh tế là sở hữu tư nhân.

Các nước Cộng sản theo hệ tư tưởng Marx-Lenin: China, Cuba, North Korea, Vietnam, Lào như con tắc kè đã “thay màu đổi sắc” để tồn tại, cố gắng duy trì quyền lực, che đậy những vi phạm nhân quyền nghiêm trọng. Vietnam cũng thế, phủ nhận tội ác chiến tranh, phớt lờ những cáo buộc đàn áp các quyền tự do căn bản. Họ bắt chước China, phát huy tư tưởng về độc lập dân tộc, gắn liền với chủ nghĩa xã hội; nhằm giải phóng dân tộc, xóa bỏ giai cấp, và giải phóng con người.

Thật nực cười!

Tôi chán ghét sự “thay màu đổi sắc” đầy mập mờ, gian dối. Tôi muốn họ thẳng thắn, chấp nhận sai lầm và công khai thú nhận. “Có gan làm giặc thì có gan chịu đòn” hay “dám làm dám chịu”, chỉ cần một lời xin lỗi để giải tỏa bao oan khiên chồng chất suốt mấy chục năm qua, để bù đắp và an ủi những mất mát kinh khủng mà dân tộc đã gánh chịu. Vì tương lai và lợi ích chung của VN, đây là biểu tượng tiên quyết, phải làm để tái tạo đất nước.

==

 “Tôi Vẫn Đợi” là tiếng thét giữa lặng im. Là lời tuyên ngôn đòi nợ lịch sử.  Bài viết của Nguyễn Phương Thúy là một bản cáo trạng đanh thép và là tiếng thét xé lòng của cả một thế hệ, một dân tộc đã và đang gánh chịu vết thương rỉ máu dưới ách cộng sản. Bằng một nhãn quan lịch sử sắc bén và những kinh nghiệm đau thương của kẻ sống sót sau biến cố tháng Tư năm 1975, tác giả đã nêu lên rõ nét “trò hề đại thế kỷ” mang tên chủ thuyết Mác-Lênin. Đó là một thứ lý thuyết không tưởng, hứa hẹn một thiên đường mù để rồi dựng lên một địa ngục trần gian đầy rẫy bất công và dối trá.  Tác giả cho rằng thuyết cộng sản “Ở đời muôn sự của chung” là “Cú lừa thế kỷ.”

Nhận xét độc đáo nhất của bài viết nằm ở chỗ tác giả đã lột mặt nạ các thể chế cộng sản thông qua hình tượng “con tắc kè thay màu đổi sắc”. Từ Karl Marx đến Lenin, từ Mao Trạch Đông đến Đặng Tiểu Bình, và ngay cả Việt Nam hiện tại, cái gọi là “xã hội không giai cấp” thực chất chỉ là một bức bình phong công nghệ cao để che đậy một tầng lớp “vua tập thể” mới. Sự tráo trở của lý thuyết là hứa hẹn xóa bỏ giai cấp để rồi sinh ra một “tầng lớp thượng lưu đỏ” thao túng toàn bộ tài sản và quyền lực quốc gia, biến Đảng của họ thành một tập đoàn CEO quyền cao tối thượng.  Khi lý thuyết Mác-xít sụp đổ trước thực tế phũ phàng, họ sẵn sàng khoác lên mình chiếc áo “Phục hưng dân tộc”, nhưng bản chất không phải vì dân tộc, mà là để “giữ rịt sự trung thành”, duy trì quyền lực, và che đậy những vi phạm nhân quyền nghiêm trọng, theo lời tác giả. 

Đọc những dòng thơ và văn xuôi của Nguyễn Phương Thúy, người ta nghe thấy tiếng nấc nghẹn của hàng triệu người dân Nam đã và đang nếm trải bao cay đắng, lầm than, hoặc phải tù đày trên chính quê hương, hoặc phải lưu lạc xứ người.  Là tiếng kêu cứu loãng tan trong sóng dữ của những con người chấp nhận đánh cược mạng sống với đại dương trên những con thuyền mong manh để tìm tự do.  Là máu xương của những anh lính miền Nam chết trận không mồ mả, là sự tả tơi của các cựu chiến binh cộng sản khi nhận ra mình chỉ là quân cờ cho một chủ thuyết ngoại lai gieo rắc thống khổ cho dân. 

Cái hay và độc đáo nhất của tác phẩm là sự kiên nhẫn đến kiên cường đầy nhân văn: “Từ năm 2013, tôi vẫn đợi…”.  Cái đích cuối cùng mà tác giả thay người dân hướng tới không phải là lòng hận thù mù quáng, mà là sự sòng phẳng của lịch sử.  “Có gan làm giặc thì có gan chịu đòn”.  Kẻ cầm quyền nợ nhân dân một lời xin lỗi, để giải tỏa bao oan khiên chồng chất suốt mấy chục năm qua, an ủi những linh hồn vùi sâu dưới đáy biển lạnh hay những thể xác rã rời nơi đất mẹ.  Và đó chính là chìa khóa mệnh nước, là biểu tượng tiên quyết để san bằng mọi trở ngại, gắn kết lòng dân tạo thành sức mạnh dời non lấp biển chống lại họa xâm lăng hàng xóm cận kề sát nách. 

Và cũng theo lời tác giả Nguyễn Phương Thúy, chừng nào sự thật chưa được trả lại, chừng nào lời xin lỗi thành tâm chưa được thốt ra, thì những tiếng lòng uất nghẹn ấy sẽ vẫn cháy âm ỉ, chờ ngày bùng lên thành ngọn lửa thiêu rụi xiềng xích độc tài.

Tóm lại, bài viết của Nguyễn Phương Thúy là một tác phẩm chứa đựng năng lượng thức tỉnh mạnh mẽ. Nó nói giùm cho những người dân thấp cổ bé họng đang sống dưới sự kìm kẹp, là người dân không quên, lịch sử không quên.  Một tác phẩm đáng lưu lại cho các thế hệ con cháu, nhất là phái nữ, học hỏi.  VTLV xin trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả bốn phương.

VTLV




VTLV – TRANG ĐẶC BIỆT TƯỞNG NIỆM 51 NĂM THÁNG TƯ ĐEN.

*

=

TRANH THƠ NGUYỄN PHƯƠNG THÚY: “THÁNG TƯ VẪN NHỚ” THƠ PHẠM PHAN LANG

==

APRIL STILL REMAINS (BẢN TIẾNG VIỆT) THƠ PhamPhanLang -Lyrics: PhamPhanLang. MusicPrompts & Video: PhuongHoa USA. Vocals & Performance: Suno AI.

NGÀY ĐẦU THÁNG 4. 1975.  –   CAO MỴ NHÂN 

Ngày đầu tháng 4 năm 1975 ở Saigon

Tôi đi dạo một mình trên đường Lê Lợi 

Đại lộ chính từ trụ sở Quốc Hội 

Tới chợ Bến Thành …

*

Tôi thấy hình như 90% người dân miền Nam 

đang muốn rời xa đất nước

Để đi đâu không cần biết trước

Miễn tránh xa Cộng Sản Bắc Việt 

*

Cho dẫu là quân, dân cán chính VNCH

ở miền Trung, miền tây nam phần 

Hay ở giữa thủ đô – Bến Nghé xa xưa

Nước mắt họ chảy như mưa

*

Tôi mới từ Đà Nẵng chạy loạn vô hôm qua

Chẳng lẽ lại theo dân đi các nước 

Nhưng dân khắp nơi đã nhào ra không lùi bước

Thả mình xuống những dòng sông

*

Thả mình xuống nước mênh mông

Tràn ra đại dương ngập sóng

Tôi mới ở chuyến tàu bơi lết từ Tiên Sa 

Vào Khánh Hội hôm qua 

*

Người ta đã rớt từ sân tàu xuống biển 

Khi đứng nhìn cột buồm cao kéo cờ vàng 

Xếp lại cất trong hành trang 

Ngấn lệ khô không che nổi hận thù 

*

Tôi ngơ ngác hỏi lòng tôi 

Tại sao phải ra đi 

Tại sao không ở lại

Tại sao ư, chúng nó đang cướp … địa dư

*

Hôm đó tôi về hòa nước mắt làm thơ 

Hôm đó có bài ca lạc điệu 

Hát những lời bêu rếu, nghèo nàn

Thế là hết “ chính nghĩa Tự Do “ vinh quang …

Los Angeles  1 – 4 – 2026

( 51 năm Quốc hận  ) CAO MỴ NHÂN  ( HNPD )

==

****

BÀI THƠ MA THÁNG TƯ.       CAO MỴ NHÂN 

Nửa đêm, gió chuyển lên đồi

Vầng trăng hốt hoảng xa rời lũng ma

Trăng trôi trên trời bao la

Gió tìm trăng khắp sơn hà thân quen

*

Bỗng từ ký ức vươn lên

Rừng cây lá biếc già thêm mấy tầng

Trăng nhìn cây, chợt bâng khuâng

Gió vừa bắt kịp trăng, mừng rỡ reo

*

Ba vì sao đứng quạnh hiu

Ngắm soi chứng tích tình yêu nơi này

Cây rằng : họ chẳng đổi thay

Gió trăng, trăng gió lượn bay mịt mù

*

Cây rơi từng đợt lá khô

Mùa đang chuyển những tiếng ru vào lòng

Lời nào gởi lại non sông

Lời nào trăng gió bềnh bồng mang đi

*

Bóng hồ linh khuất sơn khê

Trăm năm sao lại tìm về , hỡi ôi

Tháng tư , trăng vỡ ngậm ngùi 

Gió ôm phiền muộn, lệ rơi tuyệt tình  …

     Utah, 25 năm sau  30- 4 – 1975            CAO MỴ NHÂN

==  

Ở PHƯƠNG NÀY.     CAO MỴ NHÂN 

Khi tôi mới tới phương này

Mặt trời còn trắng trong mây lạnh buồn

Tôi ngồi ôm nỗi cô đơn

Nhìn ra biển Thái  Bình Dương ưu phiền

*

Người đang tình tự thay phiên

Trái tim mang cả nỗi tiền vận đau

Mù sương phủ kín công hầu

Đỉnh thương nhớ đã nhạt màu trầm luân

*

Này là tuổi tác phù vân

Say mê sợi nắng tần ngần thả rơi

Chúng mình chung một khung trời

Mà như nghiêng lệch hẳn đời éo le

*

Chốn này chạnh nhớ nơi kia

Từ khi thân phận cách chia chập chờn

Mặt trời chiếu sáng càn khôn

Sao tâm tư vẫn gọi hồn nước xưa … 

Rancho Palos Verdes  11 – 4 – 2026          CAO MỴ NHÂN  

==

SAU CƠN ĐỊA CHẤN.     CAO MỴ NHÂN 

Chỉ còn là thân phận

Mỗi lần em gặp anh

Như một cơn địa chấn

Sau trận động đất nhanh

*

Anh mỉm cười : em yêu

Thì rõ ràng tiếng khóc 

Của tâm hồn quạnh hiu

Mơ hồ trong thao thức

*

Vẫn là anh khao khát

Mặt trời mọc chân mây

Em mang niềm mơ ước

Rực rỡ anh đầu ngày

*

Chúng mình cần sống ngay

Để lánh xa nỗi chết

Tình yêu phải vơi đầy 

Mới thăng hoa, thanh khiết…

Rancho Palos Verdes   12 – 4 – 2026       CAO MỴ NHÂN  

==

DẶM VỀ THÁNG TƯ .      CAO MỴ NHÂN 

Gởi em trọn vẹn nỗi lòng

Từ khi giã biệt phương đông, qua đoài

Từ khi tiếng quốc u hoài

Nghe trong thân phận lạc loài, xót xa

*

Năm châu thiên hạ bao la

Lòng thêm buồn tủi sơn hà hờn căm

Này đây gió thổi mê lầm

Lệ đang thả giọt âm thầm hoang liêu

*

Dặm về khói sớm , sương chiều 

Hồn nghe phiền muộn những điều trái ngang

Tháng tư phai sắc hoa vàng 

Đốt trầm lên, lạy dở dang mộ người 

*

Tháng tư hiu hắt bên trời

Níu chân bước lẻ trọn đời tiếc thương

Nén nhang thắp đã tàn hương

Biển dâu hay cả đại dương nghẹn ngào… 

              CAO MỴ NHÂN 

                18 – 4 – 2026

THÁNG TƯ NÀO.     CAO MỴ NHÂN 

Mỗi năm mất một tháng tư

Nên mình có vẻ bị hư hao đời

Mỗi năm dần mất nụ cười

Ba mươi tháng bốn từ hồi bảy lăm

*

Hơn nửa thế kỷ phù vân

Công danh, sự nghiệp, tuổi xuân điêu tàn

Nghe câu chính nghĩa Việt Nam

Đã bị Cộng thuyết phá tan giống nòi

*

Đưa dòng vô sản lên ngôi

Bắc Nam thống nhất tôi đòi Tàu Nga

Hãy nhìn thế giới người ta

Họ khinh miệt cảnh sơn hà lai căng

*

Đua đòi cải tổ nhân văn

Làm sao chen được gót chân Cộng Hoà

Tháng tư mất hết tinh hoa

 Chỉ còn quỷ đỏ phô ra lộng hành …

Hawthorne 18 – 4 – 2026         CAO  MỴ NHÂN  

===

CÙNG NIÊN KỶ KHÓC. – CAO MỴ NHÂN

Trăng lênh đênh trôi lãng đãng trở về

Cho thấy được cuộc đời là hư ảo

Mây lướt thướt bay chập chờn phiền não

Mới bình minh sao nhuốm vẻ hoàng hôn

*

Khói sương tan trong bát ngát linh hồn

Em mờ mịt tháng năm đầy quá khứ

Tuổi anh lỡ trải dài đường viễn xứ

Đừng nói thêm quê quán chốn hoang liêu

*

Biết đâu tìm ân nghĩa với thương yêu

Tình đã lạt phai tưởng lầm trễ hẹn

Không có gì sao thế gian bịn rịn

Chuyến đò vơi trăng cạn nỗi riêng tư

*

Quán thu phong hơi lạnh buốt bao giờ

Ai viết sử đang chờ người nhuận sắc 

Vách lá ẩm, ướt lời xưa mất mát 

Ta đang cùng niên kỷ khóc chơi vơi…

  CAO MỴ NHÂN ( HNPD )

18 – 4 – 2026

==

==

NGẮC NGOẢI ĐẾN BAO GIỜ

Nguyễn Phương Thúy

Ông Tô Lâm – Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch
nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (Ông cũng là Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Công an
Trung ương, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh, và Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về
phòng chống tham nhũng, tiêu cực. Còn chức nào ông chưa tóm? Đúng là độc tôn, độc trị!) đến
China từ ngày 14 đến 17 tháng 4 năm 2026. Đây là một bước đi ngoại giao đầy quan trọng – cấp
nhà nước, trên cương vị là lãnh đạo cao nhất của Việt Nam. Chuyến thăm này không chỉ dừng lại
ở những cái bắt tay xã giao; đó là một nỗ lực thúc đẩy thực hành nhanh chóng Chiến lược “3+3”
(*), nhằm củng cố “Cộng đồng chia sẻ tương lai” – một cách nói hoa mỹ để diễn tả việc họ đang
gắn kết nền kinh tế và an ninh của nhau chặt chẽ hơn bao giờ hết.
Tô Lâm trông có vẻ sung sướng, hãnh diện với sự đón tiếp long trọng của China. Các ông lớn
mặc âu phục, các bà lớn cũng mặc quốc phục hiện diện sát bên. Nội các China dàn hàng chào
danh dự. Tô Lâm bắt tay muốn rụng tay! Càng ngày hình thức ngoại giao càng giống các nước tự
do. Con tắc kè thay màu quá lẹ nhưng cái cốt lõi thì vẫn ẹ như xưa!
Việt Nam và China đã ký kết hơn 32 thỏa thuận vào ngày 15 tháng 4 năm 2026, tập trung vào
các lĩnh vực:

  • Hải quan & thương mại: Đây là một bước tiến vô cùng to lớn, bởi thương mại giữa hai quốc gia
    đã hơn 250 tỷ USD trong năm 2025. Hai bên cũng đang triển khai mô hình “cửa khẩu thông
    minh” nhằm đẩy nhanh tốc độ vận chuyển hàng hóa.
  • Cơ sở hạ tầng & đường rầy sắt: Trọng tâm phát triển đô thị và kết nối các tỉnh phía Bắc của
    Việt Nam với mạng lưới đường sắt cao tốc của China chính là một “con đường một chiều”. Một
    khi những đường rầy ấy đã được lắp đặt theo tiêu chuẩn của China, Việt Nam sẽ bị ràng buộc
    chặt chẽ về mặt vật lý với China trong suốt 50 năm.
    Trong nhiều thập kỷ, Việt Nam vẫn duy trì khổ đường rầy sắt khác biệt, nhằm ngăn chặn nguy cơ
    bị xâm lược dễ dàng. Bằng việc chuyển sang áp dụng các tiêu chuẩn của China, Việt Nam đang
    thực sự hội nhập về mặt vật lý vào hệ thống hậu cần (logistics) của China.
    Đây chính là sự thống trị mà không cần chiến tranh. Nếu China nắm quyền kiểm soát hệ thống
    đường rầy, công nghệ tín hiệu cũng như nguồn tài chính, họ sẽ nắm giữ chiếc “công tắc bật/tắt”
    đối với nền kinh tế xuất khẩu của Việt Nam.
  • An ninh chuỗi cung ứng: Nhằm bảo đảm các chuỗi cung ứng xuyên biên giới sẽ không bị gián
    đoạn bởi những biến động chính trị trên phạm vi toàn cầu.
  • Du lịch: Phát động chương trình “Năm Hợp tác Du lịch Việt Nam – China 2026-2027” với mục
    đích thu hút khách du lịch trở lại mức trước đại dịch.
    Những thỏa thuận này có ảnh hưởng to lớn không thể tránh khỏi như “Con ngựa thành Troy”
    trong lĩnh vực 5G (the fifth-generation technology standard for broadband cellular networks), dữ
    liệu lớn (big data) và trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence (AI)). Cơ sở hạ tầng kỹ thuật số luôn
    có những “cửa hậu” (backdoors). China sẽ nắm trong tay “chìa khóa” của chủ quyền kỹ thuật số,
    có khả năng giám sát sự di chuyển của con người, hàng hóa và thậm chí cả quân đội….

==

VIỆT NAM: A Nation Reborn – Created by Nguyễn Phương ThúyNhạc nền hòa tấu: “VIỆT NAM VIỆT NAM” Của Phạm Duy

DÂY MÀ ĐI GIỮ GIANG SAN -NGUYỄN PHƯƠNG THÚY CGV

==

Thơ: Nguyễn Phương Thúy – Nhạc: Phạm Trung – Trình bày: Bích Hiền

== THƠ 30 THÁNG THÁNG TƯ ANH & VIỆT – TRANH THƠ: NGUYỄN PHƯƠNG THÚY

==

==

*

Tùy Bút 30/4 CỦA 51 NĂM SAU

Sỏi Ngọc

Tàu Trường Xuân, thuyền trưởng: ông Phạm Ngọc Lũy

Từ trái sang phải: Đạo diễn: Robbie Hart; Bà Nguyễn Bùi thị Mùi; tác giả Sỏi Ngọc; cố vấn Phim: anh Khoa Phạm

Lại một tháng Tư đen

Quê người ta tạm trú

Bao giờ về cố thổ

Như máu chảy về tim?

Cuộc chiến đã qua lâu

Lòng ta còn hậu chấn

Hỡi ơi ! Trời biển rộng

Dằng dặc một cơn sầu.  (Hoàng Song Liêm)

Tháng Tư vừa mới chớm, trái tim của những người con Việt hải ngoại không ngớt rỉ máu, vết thương của 51 năm qua vẫn mãi chưa bao giờ lành, một khi quê hương đất mẹ vẫn đang bị cầy xéo, dân vẫn khốn đốn, nền tự do dân quyền không có, những cựu chiến binh VNCH với thân hình còi rọc, như những phế nhân lầm lũi sống ở tận đáy xã hội của đất nước nơi mình được sanh ra; họ là những minh chứng sống cho thấy dưới chế độ xã hội chủ nghĩa Cộng Sản sau 51 năm, đời sống không khả quan hơn, vẫn đói khát, bị vùi dập, kiểm soát, bị trả thù đến bao nhiêu kiếp đời.

Tưởng niệm tháng Tư, phim Shining light, một phim tài liệu “ánh sáng tỏa rạng” được trình chiếu tại một trường tư thục, trung học Marianopolis college cho tất cả mọi người, kể cả những em học sinh, tham dự để hiểu về cội nguồn của những người Việt tỵ nạn tại Canada nói riêng và thế giới nói chung.

Phim tài liệu này chỉ dài 30 phút, do nhà sản xuất phim: Peter Raymont, đạo diễn: Robbie Hart, nhân viên Cao Ủy Liên Hiệp Quốc tại Canada: Tracey Maulfair, đồng sản xuất phim và cựu Đại xứ Canada: Gary Smith, cố vấn phim: Khoa Phạm.

Đã được trình chiếu nhiều lần tại Vancouver, Toronto, Montreal, hôm nay được chiếu lại nhưng đặc biệt có sự góp mặt của nhân vật chính, bà Bùi Nguyễn thị Mùi, bà là người mẹ đã mang bầu được 9 tháng vào ngày 30/4/75, biết rằng tánh mạng rất mong manh nếu bà lên tàu Trường Xuân bỏ xứ lánh nạn Cộng Sản thời bấy giờ, nhưng nỗi sợ hãi bị trả thù, cuộc sống đọa đầy sau ngày mà bọn chiến thắng luôn rêu rao là “nền độc lập tự do dân chủ”, trong khi chúng bắt bớ những  cựu sĩ quan, lính VNCH bỏ tù, nằm gai nếm mật, trong đó có chồng bà… Bà đã hy sinh mạng sống của chính mình và đứa con trong bụng, ôm bụng bầu sát ngày sanh nở, cùng với con trai nhỏ 2 tuổi, lên chiếc tàu định mệnh cuối cùng vào trưa ngày 30/4 để trốn chạy; đến ngày 2 tháng 5 năm 1975 bụng quặn thắt, và đứa con gái đã chào đời trên tàu Trường Xuân, giữa lòng đại dương mênh mông, với 3600 người tỵ nạn vây quanh, đứa bé gái được đặt tên là Chiêu Anh,  ánh sáng rạng rỡ, hy vọng  mở ra cho bà một tương lai mới!

Bà Bùi Nguyễn thị Mùi mới sanh cháu Chiêu Anh trên tàu Trường Xuân

Chiêu Anh- cô gái được sanh trên biển cả của ngày hôm nay

Bà Bùi Nguyễn thị Mùi, đạo diễn: Robbie Hart tại trường Marianopolis college

Sau đó, ngày 4/5/1975 tàu Trường Xuân được tàu chở hàng Maersk line của Hong Kong vớt, mẹ con cô được chở vào nhà thương.

Mọi người yên lặng theo dõi bộ phim thật cảm động, tại ngôi trường mà Chiêu Anh đã từng theo học và tốt nghiệp; thỉnh thoảng có tiếng thở dài não ruột, tiếng sụt sùi trong hàng ghế của những người lớn tuổi, cũng có những cái nắm tay thầm lặng chia sẻ nỗi buồn, sự cảm thông của thế hệ trẻ đối với tiền bối.

Phim chấm dứt, ánh đèn sáng lên, bà Bùi ngồi lặng yên trên chiếc ghế ở khán đài, cùng với đạo diễn Robbie Hart, sẵn sàng trả lời những thắc mắc của tất cả mọi người, có cậu bé nói:

– “Tại sao chiến tranh VN đã trải qua 51 năm, đã thống nhất độc lập rồi, mà vẫn còn có người bỏ nước ra đi, còn nghe nói đến sự trốn chạy tìm tự do, tìm nguồn sống mới; họ không chịu nổi áp lực của nhà cầm quyền Cộng Sản?”

Một người khác góp ý:

– “Vào lúc 30 tháng Tư, bọn cộng sản đối với chúng tôi là một điều rất mới mẻ, nhưng kinh nghiệm của thời cải cách ruộng đất thời 1953-1956, chúng đã giết, treo cổ thẳng tay những người họ gọi là “địa chủ”, “tư sản”, tưởng tượng họ cũng đối xử, trả thù những người dân quân miền Nam đã sống, làm việc dưới chính quyền mà họ cho là Mỹ ngụy thì làm sao chịu nổi, vì lý do đó mà nhiều người thà bỏ mạng ngoài đại dương hơn là sống dưới gông cùm của chế độ Cộng Sản.”

Đạo diễn Robbie nói:

– “Chúng tôi dự định sẽ về thăm Việt Nam một chuyến, có dịp sẽ quay những thước phim về những biến cố lịch sử đã xảy ra tại đó cách đây 51 năm, và sự khác biệt với đời sống hôm nay.”

Một khán giả trong phòng thêm ý kiến:

– “Chúng tôi rất mong được các ông làm phim về những người lính VNCH, những người cựu chiến binh, những thương phế binh của chế độ trước bây giờ họ sống ra sao? Con cái họ thế nào? Có được sống như những người dân bình thường hay họ vẫn mãi mãi bị mang lý lịch xấu không thể ngóc đầu lên được, tâm lý sau cuộc chiến bị thất bại, họ mất tất cả, chỉ còn hai bàn tay trắng, lại thêm tù tội cả chục năm, cuộc đời của chính bản thân và con cái có được thành công ở chính quê hương nơi họ sanh ra không? Cộng Sản, những kẻ chiến thắng sau cái mốc định mệnh 30/4 có thật sự như họ đã nói “theo chính sách khoan hồng” giúp đỡ cho kẻ “lầm đường lạc lối” đi đúng hướng, sao chỉ thấy toàn những hình ảnh đói khát ở vùng kinh tế mới với những căn nhà mái lợp bằng lá, mùa mưa thì dột, mùa nắng thì thiêu đốt… Sự trừng phạt hăng máu của kẻ chiến thắng đến bao giờ mới ngừng tay?!”

Hình ảnh của con gái Chiêu Anh cùng với mẹ đi dạo trong một công viên ở Montreal, thanh bình và nhàn nhã, có ai biết quá khứ của họ trắc trở đầy thử thách!

Chiêu Anh chính là Shining Light của bà Mùi, cô là ngọn đèn tỏa sáng trong màn đêm tăm tối, là niềm hy vọng cho cả gia đình sống và phấn đấu, bà Nguyễn Bùi thị Mùi là một dược sĩ có tiếng tại Montreal, Quebec, giúp đỡ cho rất nhiều đồng hương trong thời gian covid.

Bà luôn dậy con gái “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, cô tìm lại được thuyền trưởng của tàu Trường Xuân năm xưa là ông Phạm Ngọc Lũy, đã đến mừng sinh nhật thượng thọ thứ 95 của ông,

Cô gái Trường Xuân năm nào, tưởng đã không thể nào sống nổi, nay thành công rực rỡ trong ngành thiết kế thời trang,  cô ra trường ngành thiết kế thời trang ở NewYork, được nhiều giải thưởng danh giá.

Xin gửi lời cảm ơn trân trọng đến đạo diễn Robbie Hart, đến anh cố vấn Khoa Phạm đã tìm lại nhân chứng sống bà Nguyễn Bùi thị Mùi của tàu Trường Xuân sau 51 năm để cùng ngồi lại nơi đây, ôn lại câu chuyện lịch sử, không thể nào quên; câu chuyện của bà là một trong hàng ngàn những câu chuyện hy hữu của những người vượt biển sống sót, may mắn đến bến bờ tự do, sống, làm việc và thành công, như một tấm gương sáng cho thế hệ tương lai.

Chúng tôi ra về với dư âm của chiếc tàu Trường Xuân còn vương vấn, dáng bé nhỏ mảnh khảnh của bà Nguyễn Bùi thị Mùi, với nụ cười ấm áp, ánh mắt chứa chan niềm thân thiện, bà đã sống và cống hiến hơn nửa cuộc đời từ cái mốc 30/4 đến nay cho ngành thuốc, giúp tư vấn cho người bệnh, chích, bán và nhiều khi biếu thuốc cho những hoàn cảnh khó khăn, bà đúng với câu « lương y như từ mẫu », bà tâm sự riêng với tôi :

– “Mình thật may mắn đã được Canada giang tay đón nhận, thì mình phải sống sao cho xứng đáng, trả ơn cho đất nước đã cưu mang và góp phần xây dựng cho tương lai của thế hệ trẻ sau này.”

Tại ai mà mỗi tháng tư, tâm tư của hơn 1,5 triệu người sống xa quê hương có cùng một tâm trạng:

Tháng Tư về, gió chạm hư vô

Ký ức cũ rơi rụng không bờ

Người ở lại quen dần im lặng

Kẻ ra đi mang nặng giấc mơ

Một dòng sông chia hai bờ nhớ

Nửa quê hương trôi dạt phương nào

Hơn nửa thế kỷ rồi vẫn hỏi

Mất gì đây… mà đau đến nao lòng.

Sỏi Ngọc

Montreal 4/4/2026

*

THÁNG TÁM, THÁNG TƯ

Vốn rằng ghi rõ tự Thiên Thư

Cộng sản gian tà từ…”dịch Thu.”

“Cải Cách” lừa bần nông, đấu tố,

“Nhân Văn” phỉnh kẻ sĩ, giam tù.

Rồi đây, nổi giận, dân băm nát

Sắp tới, phân minh, Trời nghiến nhừ

Hậu quả khôn lường đang dần đến

Chúng bây sẽ trả nợ…công, tư.

         Bảo Trâm

Chú thích:

“Dich Thu”: Cách mạng tháng tám” năm 1945 của lũ cướp cộng sản.

“Cải Cách”: Cải cách ruộng đất” của Công sản Bắc Việt, từ 1953 đến 1956 , giết hàng chục ngàn nông dân ở miền Bắc.

“Nhăn Văn”: Cộng sản bày ra vụ “Nhân Văn Giai Phẩm” từ 1955-1959, để giết và giam tù, bó đói hằng trăm Văn Nghệ sĩ ở Miền Bắc.

==

CHÙM THƠ NHƯ THU

THÁNG TƯ MÃI NHỚ 

Tháng tư nặng mối ưu hoài 

Làng xưa biền biệt đắng cay nỗi lòng!

Phương trời xứ lạ thầm mong

Tàn canh thức trắng chờ trông mỏi mòn

*

Tháng tư giữ dạ sắt son 

Đêm dài dỗ giấc trăng tròn xót xa 

Vì đâu mãi nhớ thương nhà?

Người ơi gắng đợi cùng ta trở về! 

*

Tháng tư nghĩa xóm tình quê 

Chân thành đối đãi vẹn bề giúp nhau

Chiều qua gặp gỡ vui chào

Cười tươi hớn hở xôn xao chuyện trò 

*

Tháng tư ấp ủ buồn lo

Yêu bầy trẻ dại nằm co dọc đường 

Màn trời chiếu đất cảm thương 

Bao người khốn khổ muôn phương vội vàng 

*

Tháng tư mộng ước hoài mang

Trời Nam, biển Bắc tỏa lan đượm tình 

Mây chào rạng ánh bình minh 

Sau này hứa hẹn đăng trình chẳng lơi!

*

Tháng tư ngỡ tựa đang mời 

Buồm giăng bến gọi chửa ngơi bao giờ 

Sum vầy thỏa lắm niềm mơ 

Nắng hồng giục giã đôi bờ kết giao.

Như Thu

04/18/2026

**

QUÊ HƯƠNG DẤU YÊU! 

Từng nghe nước Việt sẽ dâng Tầu

Có phải quan thầy giấu nhẹm lâu?

Phương Bắc xe vào tim hụt hẫng

Miền Nam giặc đến kẻ u sầu!

Dân hờn bấy nỗi đành im tiếng     

Ruột thắt bao lần lại đẫm châu

Ướm hỏi người ơi nhờ tỏ thật…

Vì sao sự thể quá cơ cầu?

Như Thu

04/21/2026

**

THÁNG TƯ ƠI!

Lại tháng tư đen sắp trở về

Bao trùm phố thị cả làng quê!

Mậu Thân súng nổ rền muôn hướng

Bính Ngọ lời than trỗi tứ bề

Non nước căm hờn luôn mải giận

Dân tình bực tức chẳng còn mê

Vùng lên tranh đấu nào suy nghĩ

Nhất dạ đồng tâm giữ vẹn thề!

Như Thu

04/21/2026

==

*

CHO NHỮNG NGƯỜI NẰM XUỐNG
VÀ NHỮNG NGƯỜI CÒN LẠI

Tháng tư, từ giã mùa chinh chiến.
Ta về, đi giữa bóng hoàng hôn…
Tay mẹ gầy còm ôm ta khóc,
Cạnh đám em thơ nghẹn tủi hờn.

*

Bạn ta nhiều đứa không về nữa,
Đem máu xương mình hiến núi sông.
Để người sương phụ chia dòng lệ
Nửa chịu tang cha, nửa khóc chồng.

*

Rượu không đủ uống ngày thua trận
Ta ngước cười khan với đất trời,
Trời đã không dung người thất thế,
Sá gì thù vặt ngọn đòn roi.

*

Năm xưa vào lính mình ta tiễn,
Nay bước lao tù cũng một thân.
Mẹ đã tảo tần nuôi ta lớn,
Nay còn đội gạo mà thăm con.

*

May lúc lên đường chưa cưới vợ,
Nên chẳng dùng dằng vướng nợ ai.
Nếu không cũng xót thời son trẻ,
Vì chồng nhan sắc em tàn phai.

*

Trong tù ta có thêm bầu bạn,
Sáng chiều chia nửa củ khoai lang
Ngoài kia hợp tác toàn dân đói,
Xã nghĩa thiên đường ráng tiến lên.

*

Trong tù ta sống lòng thanh thản
Gánh rổ khoai mì đi rong chơi.
Cuốc đất đau lưng mà trí nhẹ
Không thành công, ta cũng thành người.


Nửa đêm tiếng hát từ song sắt,
Cao vút ngân lên đụng đỉnh trời.
Nhìn gã cai tù đang cúi mặt
Ta biết cuối cùng … ai thắng ai!

-Trại tù A30-1977.
Donry Nguyễn

**

TRẢ LỜI
CÂU HỎI CỦA EM.

“Ta làm chiến binh
Sống không bằng chết,
Được mất gì mà vỗ ngực xưng tên!”*


Người hỏi tôi là lính hay quan,
Hỏi chi thân thế lúc suy tàn.
Mang danh phận lính không tròn phận,
Há dám xưng hùng nhận chức quan.

*

Giữ nước sa cơ đành bỏ nước
Coi nhà thất thế phải tòng vong.
Cho dẫu chỉ là anh lính nhỏ,
Lẽ nào trách nhiệm chẳng lo chung.

*

Ngày nay trên bước đường lưu lạc,
Món nợ tang bồng lụy áo cơm.
Tha phương chén rượu sầu ngơ ngác,
Ai chẳng mộng ngày … quy cố hương.

*

Em đừng trách móc sao lần lữa,
Chưa về thăm lại mẹ già nua.
Lòng riêng ngui ngút niềm thương nhớ
Nhỏ lệ âm thầm giữa gác khuya.

*

Ra đi từ bữa hờn sông núi,
Lời thề ghi khắc trái tim côi.
Mai sẽ trùng tu ngày hội lớn
Dựng mái nhà xưa phụng dưỡng người.

*

Nửa thế kỷ qua ngùi đau xót,
Bạc màu áo cũ vẫn chờ mong.
Lỡ mai tôi chết không về kịp …
Chắc gởi tro tàn xuống biển đông.

*

Món nợ ân tình chưa báo đáp
Đối mặt quê hương nghĩ thẹn lòng.

-Donry Nguyễn-

* (Trích bài hành Tự Chuốc Rượu của người lính Lôi Hổ Hoàng Hoa Thương)

*

Tưởng nhớ Tr/u Liễu Tông Trung cùng đồng đội đã nằm lại rừng núi Kon Tum, tháng ba 1975.

Ngày 14/3/1975 anh theo xe tiếp tế lương thực cho đại đội đang đóng ở Đồi Ba Chấm, vị trí này là nơi đơn vị anh lui lại sau khi tản hàng phải rời bỏ căn cứ Kon Sơn Lũ cách đó vài cây số vào năm ngoái.

Lần này anh mang theo cả ba lô súng đạn để tham dự hành quân mặc dù nhiệm vụ của hạ sĩ quan tiếp liệu là ở hậu cứ lo việc quân lương.
Lý do: lè phè, ham chơi, đến giờ tiếp tế, tiểu đoàn phải cho người ra phố gọi về.

Sau khi nhận lương thực xong, đại đội được lệnh tiến sâu vào rừng, anh cũng mang súng lầm lũi bước theo. Đi được vài chục thước thì bỗng nhiên vị trung úy Trung đội trưởng ngoắc tay bảo anh:

-Thôi về đi, cảnh cáo lần này, nhớ không tái phạm nghe chưa.

Mừng rỡ bạn tôi chỉ kịp đưa tay chào ông rổi vội vã chạy ngược lại để đuổi kịp chiếc GMC đang lăn bánh.
Về tới trại B12 buổi chiều thì tối đó, toàn bộ hậu cứ được lệnh tiêu hủy vũ khí nặng và tất cả giấy tờ tài liệu để gọn gàng lên xe di tản. Nghe lệnh anh bàng hoàng xúc động, nghĩ đến những bạn bè chiến hữu giờ này đang tiến sâu vào rừng, không hay biết gì cả khiến anh chết lặng trong lòng. Hồi trưa nếu đại đội trưởng không cho về thì giờ này anh cũng chung số phận với mọi người rồi.

Suốt đường lui binh, không khi nào anh không nghĩ đến những người bạn cùng đơn vị giờ đây đơn độc giữa rừng sâu trong vòng vây của địch. Nỗi buồn và niềm chua xót nghẹn ứ trong trái tim người lính bất lực trước sự phũ phàng tàn nhẫn của chiến tranh.

Đoàn xe di tản của anh đi đầu, giữ được yếu tố bất ngờ nên không bị tấn công như khúc sau, đến bến đò Thạnh Hội xe lội qua sông Ba nhờ dòng nước lúc này chưa dâng cao. Nhưng khi cách Tuy Hòa khoảng 10 cây số, một quả đạn pháo kích nổ sát sườn xe làm người lính tên Tân là phụ tá tiếp liệu cho anh đứt ngang cổ họng, chết liền tại chỗ. Anh chỉ kịp ngoái lại nhìn xác nó loang máu nằm gục bên vệ đường nói lời vĩnh biệt rồi tiếp tục lao đi.
Anh về tới nhà an toàn, ở lại Tuy Hòa mấy hôm chờ đợi tin tức đơn vị nhưng không gặp lại ai, cũng không biết đích xác đại đội của anh thế nào. Sau đó cùng gia đình theo đoàn xe xuôi Nam, đến Nha Trang, nghe ngóng tình hình, thấy tin tức chiến sự hoàn toàn bất lợi, cha mẹ anh quyết định trở về và cho phép anh theo đơn vị. Không thể bỏ cha già mẹ yếu với đám em thơ giữa cuộc ly loạn, anh ở lại Nha Trang cùng gia đình chờ yên ổn trở lại Tuy Hòa.

Lúc ra trình diện ủy ban quân quản thành phố, tình cờ gặp lại một đồng đội cũ. Vui mừng hai người kéo nhau ra một góc vắng thăm hỏi. Người bạn cho biết vắn tắt: đại đội đã chiến đấu cho tới viên đạn và bịch gạo sấy cuối cùng. Không nhận được tiếp tế, cũng không thể liên lạc về bộ chỉ huy nên tự giải tán, mạnh ai nấy tìm đường thoát hiểm, thành ra không ai biết ai thế nào.
Nghe xong bạn tôi thở dài nuốt nước mắt vào lòng. Tiếc thương đồng đội cũ trong đó có Tr/u Liễu Tông Trung, đại đội trưởng của anh, là một sĩ quan can trường, tốt nghiệp Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, ông đã cống hiến tuổi trẻ và tâm huyết của mình cho đất nước, cuối cùng đã bị bỏ rơi giữa núi rừng Kon-Tum khi gần tàn cuộc chiến.

Từ đó đến nay tôi vẫn thường hỏi thăm nhiều nơi, gặp nhiều chiến binh Biệt Động để ngóng tin tức giùm bạn tôi mà không ai biết. Duy chỉ một lần tình cờ gặp Đ/u Nguyễn Văn Hồng, người cùng khóa Sĩ Quan Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt với Tr/u Liễu Tông Trung, anh cũng thừa nhận là sau tháng tư 75, được anh em cùng khóa báo cho biết là Liễu Tông Trung mất tích…

Hôm nay nhân mùa Quốc biến, thay mặt bạn mình tôi viết bài thơ tưởng nhớ đến ông và tất cả các chiến sĩ BĐQ đã nằm xuống trên khắp đất nước để bảo vệ Miền Nam Tự Do.

BÀI CA
ĐỒI BA CHẤM

Lệnh di tản ban hành trong đêm lạnh,
Ta bàng hoàng khi nhận được hung tin.
Đại đội ta đóng quân đồi Ba Chấm
Mới ban trưa này còn được lệnh hành quân.

Giờ bỗng chốc chẳng khác gì ác mộng,
Họ trở thành chốt chặn ngựa qua sông.
Ta vơ vội áo quần, ôm cây súng,
Giờ ra đi nghe muối xát vào lòng.

Người ở lại âm thầm ngăn bước giặc,
Người lên đường lặng lẽ rút nhau đi.
Thương đồng đội ta cũng đành bất lực,
Bí mật quân cơ đâu thể nói năng gì.

Trời cao nguyên đêm nay buồn ảm đạm,
Cơn gió nào thổi vọng đến đồi cao.
Nơi bạn ta vẫn tay ghìm họng súng,
Giữa rừng khuya cố thủ dưới thông hào.

Thẩm quyền ta, người sĩ quan Võ Bị,
Cái ngoắc tay cho ta sống trở về.
Nhưng chính ông lại lọt vào tuyệt lộ,
Thế trận tàn Hùm dữ cũng sa cơ.

Đường lui binh nhiều lần ta bật khóc,
Ôi đâu rồi khí phách một đoàn quân.
Đánh trăm trận khiến quân thù tan tác,
Giữ non sông từng tấc đất tấc vàng.

Nay chạy trốn để mong cầu sự sống,
Lòng ta đau tan nát tựa dao đâm.
Giặc pháo theo bạn ta vừa ngã xuống,
Máu loang hồng theo vết bánh xe lăn.

Về duyên hải chờ lâu tin không thấy,
Lại lên đường tiếp tục tiến về Nam.
Gặp đồng đội sụt sùi nghe kể lại:
Lính bọn mình đã chiến đấu hiên ngang.

Giây phút cuối không còn quân tiếp viện,
Đạn vơi dần, gạo sấy chỉ cầm hơi.
Tiếng súng giặc bao trùm lên trận tuyến,
Sóng truyền tin không nghe tiếng trả lời.

Tự tan hàng khi thế cùng lực kiệt,
Xé đường rừng tìm lối thoát mưu sinh.
Người thương tích chờ quân thù bắn giết,
Người ngậm ngùi mang thân phận tù binh.

Ta từ giã chiến tranh từ thuở ấy,
Mà vết thương còn nhức nhối trong tim.
Nửa thế kỷ, ta thấy mình còn nợ,
Những anh em ở lại phút sau cùng.

Ai ra lệnh phũ phàng đem con bỏ?
Ai chọn đường hoang phế để lui quân?
Nửa thế kỷ nỗi buồn đau còn đó,
Người vọng phu hóa đá đứng trông chồng…

Ta may mắn xác thân còn nguyên vẹn,
Nhưng tâm hồn vĩnh viễn gởi rừng sâu,
Nơi bạn ta đã âm thầm ngã xuống,
Máu xương đem phân bón cỏ xanh màu.

-Donry Nguyễn-
California April 15,2026.

==

==

==

Tháng Tư trở về không còn là tên của một tháng, mà là một vết cắt hằn sâu trong thân phận.
Tháng Tư của một thời đã xa, vừa ập tới như cơn hồng thủy hỗn mang, cuốn phăng mọi trật tự vốn dĩ của đời người. 

Không một lời báo trước, không kịp chuẩn bị, chỉ còn hoảng loạn và chia lìa.

Gia đình tan tác. Bè bạn lạc nhau. Quê hương bỏ lại.
Tất cả như một đàn chim đang yên ổn giữa trời bỗng bị giông bão xé tung, mỗi con bay về một hướng, không biết có còn ngày gặp lại.
Trong cơn cuồng phong ấy, mỗi con người chỉ còn là một hạt bụi nhỏ nhoi, như chiếc lá cuốn theo dòng nước, bị đẩy trôi mà không thể cưỡng lại.

Mọi thứ diễn ra quá nhanh. Những quyết định không còn là lựa chọn, mà chỉ là phản xạ sinh tồn.
Giữa trăm mối hỗn độn, người ta chỉ còn biết chạy, chạy trốn khỏi đổ vỡ, chạy về phía một miền đất tự do, dù biết rắng nó rất mơ hồ.
Có những điều, khi xảy ra, ta tưởng là bất khả kháng. Nhưng thời gian không xóa đi, nó chỉ làm rõ hơn những khoảng trống trong lòng. 

Khi mọi thứ lắng xuống, khi đời sống dần tìm lại nhịp thở, thì ký ức lại dâng lên như một cơn sóng khác, âm thầm mà dữ dội.

Tôi đã không kịp đến.
Không một nén hương.
Không một lời giã biệt.

Nỗi oan ấy ở lại, không ồn ào, nhưng dai dẳng. Không trách móc, mà lặng lẽ khắc sâu, khiến lòng người không thể nguôi quên.
Tháng Tư, vì thế, không chỉ là tháng của biến động.
Nó là tháng của những điều chưa kịp làm.
Của những lời chưa kịp nói.
Và của những cuộc chia ly không có lần sau để sửa lại.

Le Tuan

==

TẠ LỖI

Hãy tha thứ cho anh
Giữa chuyển dời nghiêng ngả
Bước chân đi vội vã
Lạc mất lối quay về.

*

Hãy tha thứ cho anh
Một lần buông rơi tất cả
Không một lời tiễn biệt
Cuối Tháng Tư não nề.

*

Hãy tha thứ cho anh
Ngôi mộ buồn lặng lẽ
Không khói hương sớm chiều
Không một nén phân ưu.

*

Hãy tha thứ cho anh
Những tháng năm xa xứ
Mỗi lần nhớ đến em
Là một lần ray rứt.

*

Hãy tha thứ cho anh
Nếu tình còn mắc nợ
Xin gửi về quê hương
Một giọt buồn quốc hận.

Tế Luân

==

Tháng Tư 

Khúc Tưởng Niệm Sài Gòn 30.4.1975 – TẾ LUÂN

Tháng Tư trở về, không ồn ào, không gọi tên, mà lặng lẽ len vào ký ức như một làn sương mỏng.
Có những khoảnh khắc của đời người, tưởng đã trôi qua, nhưng thực ra chỉ đang ẩn mình đâu đó,
chờ một ngày thức dậy trong nỗi nhớ. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày Sài Gòn đổi thay, là một khoảnh khắc như thế: 
vừa hữu hạn trong thời gian, vừa vô hạn trong lòng người.

Trong cõi vô thường, thời gian như cất lên một tiếng gọi đau thương từ tháng Tư. Tiếng gọi ấy không chỉ vang lên từ ký ức con người, mà còn dội về từ đại ngàn xanh thẫm, từ bầu trời tím ngắt cuối ngày, từ những con đường Sài Gòn xưa cũ. Những chiếc lá trong thành phố dường như cũng cảm nhận được điều gì đó, húng vàng đi sớm hơn thường lệ, chen lẫn vào những chiếc lá đỏ, tạo thành một bức tranh chao nghiêng, ảm đạm của những ngày cuối tháng Tư.

Đất trời như chuyển mình trong một khúc giao hưởng kỳ lạ. Biển xanh không còn hiền hòa, mà dâng lên những cơn sóng giông bão, gào thét vào bờ cát phơi lưng, như muốn kể lại những biến động của một thời khắc lịch sử, của câu truyện thương tâm từ những thuyền nhân. Đó không chỉ là âm thanh của chiến tranh, mà còn là tiếng lòng của một dân tộc, của Mẹ Việt Nam, vừa đau thương, vừa kiên cường, vừa chịu đựng, vừa bao dung.

Và giữa những biến động ấy, vẫn còn đó hương thơm của ruộng đồng, mùi lúa mới lan tỏa như một lời nhắc nhở rằng sự sống vẫn tiếp diễn. Từ bùn đất, từ mồ hôi, từ nước mắt, con người vẫn đứng dậy, vẫn gieo trồng, vẫn hy vọng. Một bài ca dao âm thầm cất lên, không phải để ca ngợi chiến thắng hay thất bại, mà để chiêm nghiệm về một cuộc đổi dời kỳ lạ của vận mệnh.

Năm mươi mốt năm đã trôi qua. Tháng Tư hôm nay không còn khói lửa, nhưng dư âm của nó vẫn còn đó, âm ỉ, sâu lắng, như một dòng chảy ngầm trong tâm thức mỗi người Việt. Nỗi đau không biến mất, mà chỉ lặng lẽ chuyển hóa, trú ngụ trong ký ức, trong những câu chuyện chưa kể hết, trong những giọt nước mắt không rơi thành lời.

Tháng Tư không chỉ là một mốc thời gian. Đó là một miền ký ức. Một vết hằn của lịch sử. Một lời nhắc nhở về sự mong manh của phận người và sự khắc nghiệt của thời cuộc. Nhưng trên tất cả, đó cũng là lời mời gọi con người biết nhìn lại, biết lắng nghe, và biết cảm thông, 

để từ đó, học cách sống sâu hơn, bao dung hơn, và gìn giữ hòa bình như một điều quý giá nhất.
Tháng Tư vẫn còn đó. Không mất đi. Không phai nhạt. Chỉ là… đã đi vào lòng người.

Tháng Tư
Bài Thơ Còn Lại

Tháng Tư về không gọi tên nỗi nhớ
Chỉ gió buồn lặng lẽ bước qua tim
Sài Gòn đó, một thời như giấc mộng
Vỡ âm thầm như lá rụng im lìm.

Có phải trời hôm ấy nhuộm màu tím
Màu ly biệt, hoàng hôn về rất lạ
Những con phố bỗng dưng thành xa lạ
Người đi rồi… không hẹn một ngày về.

Màu cờ đỏ, mưa rơi như dòng máu
Lũ giặc tràn vào, tiếng thét thất thanh
Thành phố đêm bỗng rùng mình chết lặng
Vạn nỗi đau không cất nổi thành lời.

Biển vẫn xanh mà giông bão không nguôi
Sóng gào thét như linh hồn đất nước
Khúc giao hưởng của một thời xuôi ngược
Viết bằng đời, bằng nước mắt Mẹ thôi.

Từ đại ngàn xanh thẳm đến ruộng đồng
Hương lúa mới vẫn âm thầm lan tỏa
Giữa đổ nát vẫn nhen lên mầm sống
Một câu ca dao, âm hưởng Mẹ hiền.

Năm mươi mốt năm… tháng Tư còn đó
Không mất đi, chỉ chìm vào ký ức
Để đôi lúc trong đêm dài thao thức
Nỗi đau xưa trở lại rất con người.

Tháng Tư ơi, khơi lại những cội nguồn
Hãy ở lại như một lời nhắc nhở
Rằng lịch sử không bao giờ khép cửa
Và lòng người còn mãi những chia ly.

Tế Luân

==

THƠ THÁNG TƯ XƯỚNG HỌA – CAO MỴ NHÂN VÀ THI HỮU

(Thất ngôn bát cú – Chữ T – Điệp tự áp cú)

TÔI thấy tháng Tư thật tả tơi

Tả tơi tan tác toé tung tời

Tung tời tự thủa tang thương thế

Thương thế tới tình tưởng tiếc thời

Thời tiếc tóc tơ tàn tuổi trẻ

Trẻ tung tâm tính trổ tra trời 

Tra* trời tích tụ tàng thiên tuế

Thiên tuế tạ từ thê thiếp thôi … 

                 CAO MỴ NHÂN  

      Hawthorne. 18 – 4 – 2026

*Tra là Già 

=

THÁNG TƯ CẢM THÁNPHƯƠNG HOA

          (Họa 4 vần – áp cú)

Quốc phá gia tàn đã xé tơi

Tơi tơ đứt sợi nghẹn không lời

Lời câm ẩn nhẫn nương phù thế

Thế buộc đành cam chịu thúc thời

Thời vận nhà Nam người cuối bể

Bể dâu đất Việt kẻ chân trời

Trời Tây kết nối chung lòng đợi

 Đợi lúc khải hoàn trở lại thôi…

      Phương Hoa – Tháng Tư, 2026

**

THÁNG TƯ ĐỢI CHỜ

(Họa 4 vần) 

Nghe niềm uất nghẹn hẳn đà tơi!

Tơi nát làm hoen vạn mảnh đời! 

Đời chuyển bao vùng quanh chiến cuộc 

Cuộc lan bấy chốn giữa đương thời

Thời yêu đất mẹ quay cuồng nỗi

Nỗi nhớ làng quê thỉnh nguyện trời

Trời đã thương tình nên hứa hẹn 

Hẹn đàn trỗi nhịp khúc hòa thôi!

Như Thu – 04/22/2026

==

KÝ ỨC THÁNG TƯ – MINH THÚY THÀNH NỘI

(họa 4 vần

Ngẫm tháng tư về dạ nát tơi

Tơi sâu quốc hận chuyện di dời 

Dời chân trốn thoát vì thay đổi 

Đổi ý ra đi bởi xáo thời 

Thời đảo lo căng cầu nguyện lúc

Lúc xoay khiếp hãi cúi xin trời 

Trời cao có thấu người tù tội 

Tội biển tràn đầy xác chết thôi.

Minh Thúy Thành Nội 

Tháng 4/2026

==

NGẪM ĐỜI – SÔNG THU

Ngẫm cuộc đời mình sao rách tơi

Rách tơi thành đám bụi tro tời

Tro tời tung xuống trên phần số

Phần số cuồng quay trước thế thời

Thời thế đổi thay dường giấc mộng

Mộng mơ biến hóa tựa mây trời

Trời cao vời vợi khôn nhìn thấu

Thấu phận con người thảm quá thôi!

Sông Thu

( 24/04/2026 )

Cuối tháng tư nghe những cơn địa chấn

Rất lặng thầm nhưng bỗng chuyển cuồng điên

Anh ở đâu, bỏ lại nỗi ưu phiền

Cho em giữ một mình Dòng nhiễu loạn

*

Sông núi vọng âm vang lời trận mạc

Hỏi  AI  đang  thét gọi sau lưng em 

Trao cho nhau chút thương nhớ êm đềm

Rồi tắt lửa vàng bay vào vũ trụ 

*

Anh đâu rồi ánh hào quang rực rỡ

Hiển thị kiếp này ký ức đời xưa

Cơn địa chấn chẳng yên trời vần vũ 

Hay dung nham  đổ trận Điện mây mưa

*

Đợi bao giờ núi phủ sập hoang sơ

Trái đất thủa hồng hoang thời hiện đại

Em sẽ mang bao nồng nàn dấu ái

Tặng riêng anh Mã Số của Tình Yêu …

Rancho Palos Verdes  23 – 4 – 2026CAO MỴ NHÂN ( HNPD )

 24 – 4 – 2026

==

THÁNG TƯ HẬN, THÁNG TƯ ĐAUYÊN SƠN
(Viết cho mình, viết giùm cho người)

Tháng Tư lại về.
Không cần ai nhắc, không cần một dấu hiệu rõ ràng nào, chỉ cần những dư âm Tết nơi xứ người bắt đầu phai nhạt, hay một buổi chiều xuân nhạt nắng rơi xuống sân vườn cô tịch là lòng tôi đã chùng xuống. Nhớ về…
Có những tháng trôi qua như một con số. Có những tháng đi qua như một thói quen. Nhưng cũng có những tháng không bao giờ rời khỏi đời người. Đó là Tháng Tư. Tháng Tư, đối với tôi, không phải là ngày tháng bình thường của thời gian. Nó là một dấu mốc thời gian in hằn trong tâm khảm, là một nỗi đau, một vết cứa sâu trong tâm hồn, một nơi mà ký ức dừng lại, xoáy xuống, rồi lan ra, phủ kín cả tâm can.
Có những nỗi đau không có âm thanh, không có tiếng khóc. Không thường có những lời than vãn. Nó nằm im, rất sâu, rất lâu, như một mảnh kim loại nhỏ găm trong da thịt. Mảnh kim loại không đủ nguy hại có thể chết người, nhưng đủ để nhói lên mỗi khi cử động. Và Tháng Tư chính là lúc mảnh kim loại ấy trở mình.
Đêm hai mươi chín tháng Tư năm ấy, tôi vẫn còn là một người lính.
Không phải hình ảnh một người lính trong sách vở, với chiến tuyến rõ ràng và mệnh lệnh rành rọt, mà là một con người đứng giữa một thực tại đang rạn vỡ. Ở phía tây Sài Gòn, quanh vòng đai phi trường Tân Sơn Nhứt… chúng tôi còn chiến đấu. Chiến đấu không phải vì hy vọng chiến thắng, mà vì không thể buông. Không thể đầu hàng.
Có những thứ, một khi đã thấm vào máu như danh dự, trách nhiệm, lời thề… thì không dễ gì đặt xuống, không thể buông bỏ, ngay cả khi biết rằng tất cả đang trượt khỏi tầm tay.
Chiến tranh trong những giờ phút cuối không còn là chiến tranh theo nghĩa quen thuộc. Nó không còn là một ván cờ. Nó trở thành một cơn sóng lớn. Và chúng tôi là những con người đứng trước làn sóng hung bạo ấy, cố giữ thăng bằng trên những mảnh vỡ còn sót lại.
Tiếng súng vẫn nổ. Nhưng không còn nhịp điệu của chiến thuật. Nó dồn dập như nhịp tim của một cơ thể kiệt sức. Mỗi phát súng không còn nhắm đến chiến thắng, mà như một cách níu giữ một hy vọng mong manh dù biết hy vọng ấy gần như không còn.
Nhưng cũng không thể bắn bừa. Đạn dược đã cạn. Mỗi viên đạn được đếm như giọt máu cuối cùng. Trong khi đó, đối phương được che chở bởi những tầng phòng không dày đặc. Chúng tôi chiến đấu trong thiếu thốn, trong bị động, trong một thế trận mà phần thua đã hiện rõ.
Người Mỹ đã quay lưng. Người Mỹ đã bỏ rơi chúng tôi, bỏ rơi cái tiền đồn mà họ đã từng dùng chúng tôi để ngăn cản sự thống trị của triết thuyết Cộng Sản. Nhưng chúng tôi vẫn phải chiến đấu để bảo vệ nền tự do dân chủ cho người dân chúng tôi, cho đất nước chúng tôi.
Anh em vẫn thay nhau bay. Bay trong những điều kiện khắc nghiệt, bay như những võ sĩ bị trói tay chân, ném lên võ đài trước một địch thủ hung tàn. Người này hết giờ, người khác lên. Không ai nói nhưng ai cũng hiểu… chúng tôi đang ở trong một hoàn cảnh vô vọng. Còn nỗi bi thương nào hơn thế không?
Tôi còn nhớ những ánh mắt đêm ấy. Không ai nói với ai một lời gì ngoài những thao tác quen thuộc, ngôn ngữ chiến trận quen thuộc. Những ánh mắt gặp nhau giữa ánh chớp và bóng tối chỉ để xác nhận một điều, chúng tôi vẫn còn có nhau như đã từng mỗi khi xông vào lửa đạn, đánh cược với tử sinh.
Và cũng không ai nói với ai đó là đêm cuối. Nhưng ai cũng cảm thấy sự bất lực qua từng viên đạn bắn ra. Nhưng ai cũng biết một điều gì đó đang đến hồi kết thúc. Không phải chỉ là một trận đánh mà là cả một thời đại.
Viết đến đây, mắt tôi lại nhòe đi. Tôi đứng dậy, bước ra sau vườn, châm một điếu thuốc. Gió thổi qua hàng chuông gió, những tiếng leng keng như tiếng gọi từ một cõi nào xa lắm. Tôi hít sâu. Thở mạnh. Rồi quay vào, tiếp tục viết.
Chuyến bay khuya hôm đó… sau khi bàn giao vùng trách nhiệm, tôi trở về cư xá. Hai đứa học trò nhỏ tôi mang về từ trưa hôm trước vẫn còn thức. Hai đứa, như tôi vẫn nói đùa, “trói gà không chặt”. Chúng tôi vừa nằm xuống thì nghe pháo kích dữ dội vào phi trường. Rồi một tiếng rít xé tai – hoả tiễn 122 ly. Nhưng… không nghe tiếng nổ. Cho đến sáng hôm sau, mọi người trong cư xá mới biết là đã thoát chết giữa đêm qua khi nhìn thấy phần đuôi của chiếc hoả tiễn đang cắm sâu vào lòng đất bên cạnh cư xá độc thân.
Buổi sáng hôm ấy đã không phải là một buổi sáng bình thường, khi thấy chiếc Tinh Long 7 của phi đoàn tôi bị bắn rơi ngoài vòng đai phi trường, trước nhưng đôi mắt hoảng loạn của anh em. Đó là giọt nước làm tràn ly, không ai nói với ai lời nào, mỗi người chạy đi một ngả.
Tôi cùng hai chú em đèo nhau lên chiếc Lambretite, chạy khắp các bãi đậu tìm phi cơ thoát thân. Nhưng những chiếc còn bay được đã bay đi đâu hết. Đang đứng ngơ ngác thì được một niên trưởng kéo tôi chạy theo đến một chiếc C-130 không còn nguyên vẹn, để làm phận sự phi công phụ.
Chiếc phi cơ cất cánh từ cuối đường băng. Không đủ tốc độ. Không đủ điều kiện. Nhưng vẫn phải bốc mình lên nhờ vào bốn động cơ bán phản lực. Chiếc máy bay gượng lên, nhắm hướng Vũng Tàu rồi… trực chỉ Utapao, Thái Lan mang theo 115 con người không biết họ đã lên bằng cách nào.
Chiều hôm đó, 29 tháng 4 năm 1975, tôi và một số anh em trong phi hành đoàn đã sững sờ rơi nước mắt khi thấy một đội ngũ quân nhân người Mỹ bắc thang lên thân máy bay sơn bỏ huy hiệu Không Quân VNCH, sau khi mọi người bị tước khí giới trước khi bước ra khỏi thân phi cơ.
là tôi đã buộc phải rời khỏi đất nước trong bàng hoàng, trong vô thức, không kịp biết được tin cha mẹ anh chị em đã bị thất lạc phương nào mấy tháng qua trong chiến tranh. Không kịp báo tin với người vợ sắp cưới chỉ ở cách phi trường khoảng 6 cây số! Và cứ thế, bị đưa đẩy dọc theo hành trình trở lại đất nước nầy với thân phận vô gia đình, vô tổ quốc. Mãi đến vài năm sau mới liên lạc lại được!
Cho đến bây giờ, sau hơn nửa thế kỷ, cái “không kịp” ấy vẫn còn nguyên vẹn trong tôi, như một khoảng trống không bao giờ có thể lấp đầy. Không kịp nhìn cha mẹ lần cuối. Không kịp nói một lời từ biệt với bất cứ người thân yêu nào. Không kịp khép lại một cánh cửa đời quân ngũ theo cách mà một con người lính bình thường đáng được có.
Có những cuộc chia ly không có lời từ biệt, và chính vì thế, chúng không bao giờ kết thúc.
Tôi ra đi trong một trạng thái không hoàn toàn tỉnh táo. Không phải chỉ hoảng loạn mà là tê điếng. Mọi thứ diễn ra quá sức nhanh, quá sức bất ngờ, con người tôi không còn cảm xúc rõ ràng. Chỉ còn hành động. Chỉ còn bản năng. Tôi ra đi, như một người bị đẩy ra khỏi chính cuộc đời mình trong khi trong lòng vẫn còn một niềm tin rất mong manh rằng đây chỉ là tạm thời. Rằng rồi sẽ có ngày trở lại. Rằng quê hương không thể biến mất chỉ qua một đêm. Rằng những gì đã xây dựng, đã sống, đã yêu, không thể bị xóa đi dễ dàng như vậy.
Có nhiều lần tôi nghĩ, sự ra đi bất chợt của tôi sẽ không nhiều hối tiếc, nhiều đớn đau nếu dân tộc tôi được tự do hạnh phúc hơn, đất nước tôi trở nên thanh bình, vươn lên oai nghi, dũng mãnh như con rồng, con hổ. Nhưng rất tiếc! Rất tiếc!
Thời gian, bằng sự im lặng kéo dài của nó, đã dần dần dạy tôi hiểu. Không có ngày trở lại như tôi từng mong đợi. Không phải vì không muốn, mà vì con đường đã khép lại từ lúc Việt cộng xâm chiếm miền Nam; chúng đã và đang gây ra bao nhiêu đau thương cho nòi giống, cho mảnh giang sơn gấm vóc của ông bà, tiên tổ.
Mất quê hương không phải là một biến cố xảy ra trong một ngày. Nó là một quá trình. Ban đầu là sự bàng hoàng. Sau đó là niềm hy vọng. Rồi niềm hy vọng mỏng dần đi theo ngày tháng. Và cuối cùng là một sự chấp nhận trong im lặng. Không phải chấp nhận vì đồng ý mà vì dường như không còn cách nào khác.
Những năm đầu nơi quê hương thứ hai nầy, mọi thứ đều xa lạ. Ngôn ngữ, phong tục, con người, đời sống. Tôi đã học tái sinh trước khi học cách tồn tại. Học cách hiểu người khác, trước khi có thể nói cho người khác hiểu mình. Học cách đứng vững trên chính đôi chân mình khi trong thâm tâm vẫn không ngớt đợi chờ một phép lạ, một ánh sáng nhỏ nhoi ở cuối đường hầm.
Người ta có thể quen với nhiều thứ. Quen với thời tiết khác, quen với nhiều món ăn lạ, quen với nhịp sống của một dân tộc khác. Nhưng có một thứ không thể làm quen đó là tình tự quê hương đã mất.
Quê hương không chỉ là nơi mình sinh ra. Nó là nơi mà mọi thứ đều có ý nghĩa mà không cần rao giảng. Một con đường, một góc phố, một tiếng rao, một mùi hương… tất cả đều mang theo một phần đời. Khi mất đi, không chỉ là mất một nơi chốn, mà là mất cả một hệ ký ức, một cấu trúc của đời sống con người.
Có những buổi sáng, tôi tỉnh dậy và trong một khoảnh khắc rất ngắn, tôi quên mất mình đang ở đâu. Trong khoảnh khắc đó, tôi vẫn là con người của ngày xưa, sống trong một thành phố quen thuộc, những đường bay dọc ngang trên bầu trời miền Nam nước Việt mà tôi đã thuộc lòng. Nhưng rồi thực tại trở về, không ồn ào, nhưng dứt khoát, như một bàn tay ai đó đặt nhẹ nhàng lên vai, nhắc tôi rằng tất cả đã trở thành dĩ vãng.
Có nhiều lúc tôi thảng thốt nghĩ rằng:
Sợ một mai thân nằm yên lòng đất
Hồn lẻ loi tìm không thấy quê nhà
Năm mươi mốt năm trôi qua.
Một đời người có thể chứa đựng bao nhiêu ký ức? Có thể chịu đựng bao nhiêu mất mát? Có thể giữ lại được bao nhiêu điều mà không đánh mất chính mình?
Tôi đã sống. Đã làm việc. Đã xây dựng lại cuộc đời. Đã có những niềm vui, những thành tựu, những mối quan hệ xã hội rất tốt. Nhưng tất cả những điều đó, dù có thật, dù có ý nghĩa, vẫn không thể thay thế được những gì đã mất.
Tôi nhớ những ngày tháng trước năm 1975. Không phải vì chúng hoàn hảo, mà vì chúng là một phần đời quan trọng của tôi. Những sáng nắng chiều mưa, những ngày lộng gió, những đường bay quen thuộc, những khung trời bao la, những sinh tử cận kề, những cuộc gặp gỡ, những câu chuyện, những ước mơ chưa kịp thành hình. Một đời sống bình thường như thế nhưng khi mất đi, tôi mới hiểu giá trị của nó sẽ không bao giờ có thể thay thế được.
Ký ức, theo thời gian, không phai nhạt đi như người ta tưởng. Nó được chắt lọc. Những gì không quan trọng sẽ rơi rụng tự nhiên. Những gì còn lại sẽ trở nên rõ nét hơn, tinh khiết hơn, và vì thế, cũng đau xót hơn.
Và tôi mang trong mình một nỗi hận. Nhưng không phải là một nỗi hận đơn giản. Nó không hướng về những con người bình thường. Tôi không hận người dân Mỹ mà tôi đã gặp, đã sống cùng, đã nhận được sự giúp đỡ của họ để xây dựng lại cuộc đời. Tôi hiểu rằng con người, ở đâu cũng có những điểm tương đồng giữa thiện và ác, hiểu biết và giới hạn.
Nhưng tôi không thể không nghĩ đến những quyết định sai lầm của hệ thống cầm quyền chính phủ Mỹ và đồng minh, những phong trào phản chiến ngu xuẩn, những cơ quan truyền thông dối trá, lừa gạt dư luận. Những điều nầy đã góp phần làm thay đổi số phận của những quốc gia nhỏ bé, chậm tiến như Miền Nam Việt Nam của tôi. Một cuộc chiến không chỉ được quyết định bởi những gì xảy ra trên chiến trường mà nó được quyết định bởi những gì xảy ra trong lòng xã hội, qua truyền thông, trên trường chính trị.
Khi một bên không còn được thế giới ủng hộ, không còn được bạn bè tin tưởng thì dù còn đầy đủ vũ khí cũng không thể giữ được, huống chi… chúng tôi đã phải chiến đấu với cả một thế lực cộng sản quốc tế hùng mạnh khi vũ khí đã bị chính những người bạn đồng minh tước bỏ đi.
Nỗi hận của tôi không phải để nuôi dưỡng oán thù mà là để nhắc nhớ cho chính mình, nhắc nhở con cháu đời sau những gì đã xảy ra cho quê hương, dân tộc tôi không bị đi vào quên lãng.
Sau tất cả, điều còn lại trong tôi không chỉ là nỗi đau. Mà là một ước vọng. Ước mong một ngày nào đó, được trở về trong tự do, trong danh dự. Không phải để bắt đầu lại, mà chỉ để nhìn lại. Để bước trên những con đường cũ dù chúng đã bị thay tên đổi họ một thời. Để nghe lại những âm thanh, những tiếng nói quen thuộc ở khắp mọi nơi. Để thấy lại một quê hương bừng sáng, một xã hội văn minh trong tình người. Được thật sự hãnh diện với 4 chữ Con Rồng Cháu Tiên.
Ở tuổi này, tôi không còn sợ nhiều điều. Không còn sợ mất mát vì đã mất mát quá nhiều. Không còn sợ thay đổi vì đã sống qua những thay đổi to lớn mà chỉ sợ rằng mình sẽ không còn đủ thời gian. Không đủ thời gian để thấy ngày ấy. Không đủ thời gian để chứng kiến một kết thúc tốt đẹp như thế cho quê hương dân tộc mình; để biết rằng những nghiệt ngã mình đã trải qua trong đời không trở nên vô nghĩa.
Sự chờ đợi nào cũng không mấy dễ dàng. Khi còn trẻ thì có dễ dàng hơn, nhưng khi thời gian không còn nhiều, mỗi ngày trôi qua đều mang theo một cảm giác bồn chồn, lo sợ. Không phải vì muốn đạt được điều gì, mà vì sợ không còn cơ hội ấy.
Tháng Tư lại đến.
Vẫn là những cơn mưa nhẹ buổi sáng, những đám mây trắng bềnh bồng ở buổi chiều dài, những khoảng lặng khó gọi tên… Những ghi nhận nầy không phải để làm thơ, khp6ng phải là thời tiết mà là một phần của đời sống nội tâm, một vùng ký ức mà mỗi năm, vào đúng thời điểm này, lại mở ra trong tôi.
Tháng Tư hận.
Tháng Tư đau.
Mỗi năm vẫn cứ theo nhau trở về
Nhưng nếu chỉ có hận và đau, con người đã không thể đi qua hơn nửa thế kỷ. Vì ở đâu đó, rất sâu, rất nhỏ, vẫn còn một thứ khác. Một thứ không sôi nổi lắm, không mạnh mẽ nhiều nhưng bền bỉ. Đó là niềm hy vọng.
Hy vọng rằng một ngày nào đó, dù mình còn hay không, trên mảnh đất hình cong chữ S ấy, người dân sẽ được sống an bình, hạnh phúc mà không phải cúi đầu, lo sợ. Sẽ có những tiếng nói không bị bóp nghẹt. Sẽ có những giấc mơ không bị dập tắt. Và khi ngày đó đến, có thể, ở một nơi nào đó rất xa, những người đã ngậm ngùi nằm xuống sẽ mỉm cười. Dù muộn màng nhưng cũng có thể sẽ che giấu được những niềm đau, nỗi hận trong lòng của những người võ sĩ bị ném lên đấu trường sanh tử với tay chân bị trói chặt.

GIỚI THIỆU TRANG NHÀ: 
http://thovanyenson.com
http://www.thanphongmartialarts.com

==

Xin mời qúy vị thưởng thức vài nhạc phẩm của tôi đã viết.

Quê Hương Trong Ta.

Bóng Xưa Chiều Ấy.

Vụng  Dại Những Chiều

Ns. Nguyễn Đình Hòa.

==

THÁNG TƯ NHỚ EM – MỸ HOÀN

Em đã về đây mỗi tháng Tư

Về quê ngồi lại giữa sương mơ

Có nghe sương rớt bờ vai cũ

Bơ vơ mộng mị chốn xa mờ

*

Để tháng Tư như dòng nước chảy

Bôn ba năm tháng nước về đâu

Ta gục xuống đôi bàn tay lạnh

Lòng nghe rơi rớt ánh tinh cầu

*

Ta nghe mãi bên bờ sông vỗ

Những lời buồn của tháng trôi qua

Lời tình như sóng dòng sông cuộn

Nước mắt nào còn mãi mưa sa

*

Em ôm trái tim nào đã lỡ

Một lời thề mộng ước mai sau

Một nụ cười như vừa nở lại

Cho ta êm ái mối tình sầu

*

Em đã về đây mỗi tháng Tư

Về đây ta kể một lời thơ

Em mặc áo dài hoa cúc nở

Cùng ta đi suốt một nẻo bờ

*

Rồi em cảm động từng cơn khóc

Vạt tóc nào đẫm lệ quê hương

Tổ tiên ta đã từng hơi thở

Dựng Sơn hà một giấc như mơ

*

Nhớ trong tâm tưởng ngày hoa gấm

Nụ môi thơm khép nép hải đường

Ta muốn mở lòng bao câu nói

Lời yêu kia còn mãi vấn vương.

Lê Mỹ Hoàn

2/2025

**

NẮNG HẠN THÁNG TƯ

Tiếng kêu tha thiết gọi đàn

Những ngày nắng hạn đâu tàn trú thân

Lòng ta như thể nắng ran

Thu Đông tan tác, Hạ hoang mang về

Nơi đây đâu phải chốn quê

Cho nên nắng hạn lê thê mỏi mòn

Khô đi những giọt máu hồng

Dần dà cạn hết giấc nồng trong tim

Đôi môi khao khát đi tìm

Tiếng kêu mòn mỏi đắm chìm nơi đâu

Quê hương mấy cuộc bể dâu

Trong ta một nỗi u sầu chưa tan

Thời gian lặng lẽ lướt nhanh

Làm thêm héo nụ cười xanh thuở nào

Ôi cơn nắng hạn lao đao

Hồn ta nứt nẻ ngày vào thángTư.

Lê Mỹ Hoàn

4/20/1990

==

ĐỢT NẮNG THÁNG TƯ

Đông vừa qua ở cuối đoạn đường

Xuân đến những ngày nắng ấm hơn

Tưởng như mùa Hạ nhưng bất chợt

Lạnh lại về cơn sốt miên man

*

Cơn sốt cao, đầu như bổ củi

Như nặng lòng đợt nắng tháng Tư

Vàng sốt bủa vây ngày trốn chạy

Qua cánh đồng nắng trải như phơi

*

Cơn sốt lên cơn mơ lại đến

Chạy vòng quanh chạy đến chân tường

Nghe mơ hồ ai đang hạch hỏi

Bao người ngồi bó gối như ta

*

Rồi tự nhiên nghe mùi muối mặn

Đang lênh đênh trên biển xuôi dòng

Chợt thét gào như cơn thịnh nộ

Biển trời đang cuộn một cơn dông

*

Ta bên nhau thì thầm cầu nguyện

Xin trời cho gió lặng sóng êm

Bỗng mở mắt dường như im lặng

Tự Do đang cười với gió Xuân.

Lê Mỹ Hoàn

3/26/2025

==

Tháng Tư cảm tác

Tha hương mái tóc của ngày xanh

Năm tháng bạc màu trán vết nhăn

Canh cánh bên lòng bao nuối tiếc

Bâng khuâng tấc dạ những ăn năn

Non sông biến dạng người xa cội

Đất khách dung thân kẻ rã hàng

Nặng trĩu tâm tư đời viễn xứ

“Nỗi buồn nhược tiểu” mãi âm vang.

          Trần cẩm Thành- 4/2026.

**

==

Máu ai tuôn chảy nơi góc phố?!
Chốt thí làm sao chống sơn hà!?
Tiếng hờn vọng mãi vào thiên cổ
Một trang Hận Sử, mấy Hùng Ca?!

*

Cuối Xuân cuồng lũ dâng hồng thủy
Đành buông nợ Nước, phụ tình Nhà!
Sông núi điêu linh vì ngạ quỷ
Bao giờ yên sóng, lắng phong ba?

*

Ngồi đây mà nhớ thời chiến quốc
Một thuở bi hùng lúc dọc ngang
Chớp mắt thấy sương pha màu tóc
Một tiếng than ôi! Lệ ứa tràn.

*

Nửa đời chìm nổi nơi đất khách
Mỗi năm thêm một tháng Tư qua
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch (*)
Thế sự du du nại lão hà.
HUY VĂN

*
(*)THUẬT HOÀI
Thế sự du du nại lão hà?
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.
Thời lai đồ điếu thành công dị,
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.
Trí chủ hữu hoài phù địa trục,
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,
Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma.

ĐẶNG DUNG

*
Bản dịch của Tản Đà:

Việc đời man mác, tuổi già thôi!
Đất rộng trời cao chén ngậm ngùi.
Gặp gỡ thời cơ may những kẻ,
Tan tành sự thế luống cay ai!
Phò vua bụng những mong xoay đất,
Gột giáp sông kia khó vạch trời.
Đầu bạc giang san thù chưa trả,
Long tuyền mấy độ bóng trăng soi.

==

==

==

==

==

HỒI KÝ ĐẦY KINH HOÀNG CỦA TS NGUYỄN HỒNG DŨNG

KÝ ỨC VỀ ĐÊM KINH HOÀNG CHẠY GIẶC

NGUYỄN HỒNG DŨNG

Quê hương tôi là Quảng Ngãi, nơi có Núi Ấn soi bóng xuống Sông Trà Khúc hiền hòa. Dù xa quê từ thuở bé, hình ảnh ấy vẫn in sâu trong tâm khảm như một phần máu thịt không thể tách rời.

Từ nhỏ, tôi theo người bác ruột vào sống tại Đà Lạt, ở vùng Trại Mát, nơi bác hành nghề Đông y. Cuộc sống nơi cao nguyên yên tĩnh phần nào giúp tôi quên đi những biến động của quê nhà, cho đến khi chiến sự lan rộng khắp miền Trung vào đầu năm 1975.

Ngày 21 tháng 3 năm 1975, khi tình hình các tỉnh Tây Nguyên trở nên rối ren, tôi quyết định trở về Quảng Ngãi chỉ với một mong muốn giản dị là thăm mẹ đang lâm bệnh. Khi ấy tôi vẫn còn là một học sinh, chưa hiểu hết thế nào là chiến tranh, nhưng nỗi lo sợ thì hiện rõ trong từng hơi thở. Người ta truyền tai nhau rằng ban đêm, Việt Cộng thường lén xuống các quận gài mìn, khiến ai nấy đều sống trong cảnh phập phồng, bất an.

Gia đình tôi lại có nhiều người liên quan đến Việt Nam Quốc Dân Đảng; từ bác, chú cho đến ông Sáu, nên sự lo lắng càng chồng chất. Cứ mỗi khi màn đêm buông xuống, các chú, các bác lại âm thầm đạp xe vào thành phố để ngủ nhờ, tránh những hiểm nguy có thể ập đến bất cứ lúc nào.

Đêm 22 và 23 tháng 3 năm ấy, tôi ngủ bên mẹ tại vùng phía tây quận Tư Nghĩa. Nhưng đó không còn là những đêm bình yên. Tiếng súng, tiếng pháo kích vang lên liên hồi, dội vào lòng người những cơn run sợ. Mỗi tiếng nổ như xé toạc màn đêm, khiến tôi, một đứa học trò, chỉ biết nằm im, tim đập dồn dập, cầu mong cho trời mau sáng.

Sáng ngày 24 tháng 3 năm 1975, không chịu nổi sự bất an, tôi cùng mẹ rời nhà, tìm đến tá túc tại nhà ông Sáu ở khu vực Thị xã Cẩm Thành, Quảng Ngãi, trung tâm của tỉnh. Đó là một quyết định đầy lo âu nhưng cần thiết, bởi lúc ấy, chiến tranh đã thực sự chạm đến từng mái nhà, từng con người.

Những ngày tháng ấy, tôi không chỉ chứng kiến sự biến động của đất nước, mà còn cảm nhận rõ sự mong manh của đời người, của tình thân trong cơn binh lửa vì anh tôi đã mất trước đó vài tháng tại Pleiku, cậu Tư cũng tử trận tại An Lộc, và người hàng xóm tại Đa lạt cũng bị tử  vong bởi  pháo kích tận vùng I chiến thuật mà chưa kịp mang xác về chôn,. Dù chỉ là một học sinh, tôi đã sớm hiểu rằng quê hương không chỉ là nơi chôn nhau cắt rốn, mà còn là nơi gắn liền với ký ức, bà con xóm giềng, với yêu thương, và cả những nỗi đau không bao giờ quên.

Chiều ngày 25 tháng 3 năm 1975, trước nhà ông Sáu là nơi có tiểu khu của binh lính Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, mọi sinh hoạt ban đầu vẫn diễn ra như thường lệ. Những người lính Sư Đoàn II Bô Binh vẫn qua lại, vẫn giữ nhịp sống quen thuộc như chưa có điều gì sắp sửa đổi thay. Nhưng đến xế chiều, không khí bỗng chùng xuống. Tôi thấy từng chiếc xe Jeep, xe nhà binh chở đầy binh sĩ nối nhau rời đi, hướng về phía Đà Nẵng. Một linh cảm bất an dâng lên trong lòng, dù khi đó tôi vẫn chưa hiểu hết ý nghĩa của những chuyển động ấy.

Tin đồn bắt đầu lan nhanh trong xóm. Người này truyền cho người kia, không ai biết thực hư ra sao. Có người nói phải “ăn vội rồi đi ngay”, có người bảo phải gom đồ đạc mà chạy, vì chiến sự đã quá gần. Người ta nhắc đến Ông Ngô Quang Trưởng, vị tướng đang cố gắng chống lại làn sóng tiến công từ phía Việt Cộng. Nhưng tất cả chỉ là những lời nghe lại, không kiểm chứng, không rõ nguồn. Trong hoàn cảnh ấy, sự thật không còn quan trọng bằng nỗi sợ.

Gia đình tôi cũng hoang mang như bao gia đình khác. Bữa cơm chiều hôm đó vắng lặng lạ thường. Tôi không thấy các chú, các bác, và cả ông Sáu trở về. Có lẽ họ đã đi đâu đó, hoặc đã nghe được điều gì khẩn cấp hơn mà chúng tôi không biết. Chỉ có Dượng Tám mỗi sáng vẫn thường mở chiếc radio Sony nhỏ, nghe đài BBC rồi kể lại tình hình. Nhưng những mẩu tin rời rạc ấy cũng không đủ giúp chúng tôi hiểu rõ chuyện gì đang xảy ra, chỉ càng làm lòng người thêm rối bời.

Mẹ tôi đang bệnh nặng, không thể ăn uống gì. Tôi nhìn tô cháo bà để lại, lòng nghẹn lại. Không còn thời gian để nghĩ nhiều, tôi húp vội những muỗng cháo nguội để dằn bụng. Đó không phải là một bữa ăn, mà là sự chuẩn bị cho một cuộc chạy trốn không biết ngày về.

Bên ngoài, dòng người đã bắt đầu đổ ra Quốc lộ 1, hướng về phía Đà Nẵng. Tiếng gọi nhau í ới, tiếng bước chân vội vã, tiếng xe cộ lẫn trong sự hỗn loạn. Tôi biết mình phải đi, dù lòng còn nặng trĩu.

Mẹ tôi không đi nổi. Bà nhìn tôi, ánh mắt vừa lo lắng vừa đau đớn. Bà bảo tôi cứ theo hàng xóm mà đi, đừng chần chừ. Lời nói ấy như một nhát dao cắt vào tim. Tôi đứng đó, giữa giây phút chia ly, không biết phải nói gì hơn ngoài một lời từ biệt nghẹn ngào.

Tôi quay đi, hòa vào dòng người chạy loạn, mà phía sau là bóng mẹ tôi đang dần khuất. Trong khoảnh khắc ấy, tôi hiểu rằng mình đã bước sang một ngã rẽ khác của cuộc đời, nơi mà tuổi học trò khép lại, nhường chỗ cho những tháng ngày lưu lạc, và nỗi nhớ quê nhà, nhớ mẹ, sẽ theo tôi suốt cả cuộc đời.

Đêm 25 rạng ngày 26 tháng 3 năm 1975 là một ký ức không bao giờ phai mờ trong cuộc đời này, một ngày mà ranh giới giữa sống và chết mong manh như sợi chỉ. Khi đó, cuộc chiến đã lan rộng khắp miền Trung, và những vùng như Quảng Ngãi đã lần lượt rơi vào tay Việt Cộng trước khi Sài Gòn sụp đổ không lâu sau đó.

Đêm ấy, tôi cùng dòng người hoảng loạn tìm đường chạy giặc. Không còn ai nghĩ đến tài sản hay tương lai, chỉ còn một ý niệm duy nhất là phải sống. Tôi theo dòng người băng qua con dốc Bình Liên, thuộc quận Bình Sơn. Con dốc ngày thường vốn hiền hòa, nhưng hôm đó trở thành một địa ngục trần gian.

Tiếng pháo kích bất ngờ dội xuống. Những tiếng nổ chát chúa xé toạc không gian, đất đá tung lên mù mịt. Người ngã xuống từng loạt. Có người trúng đạn, có người bị mảnh pháo xé thân, có người chỉ vì quá hoảng loạn mà bị dẫm đạp trong dòng người tháo chạy. Tiếng khóc, tiếng la hét, tiếng gọi nhau trong tuyệt vọng hòa lẫn vào nhau, tạo thành một âm thanh kinh hoàng mà đến nay tôi vẫn còn nghe vang vọng trong tâm trí.

Tôi không còn nhớ mình đã chạy như thế nào, chỉ biết bản năng sinh tồn đã đẩy tôi lao xuống một bờ ruộng bên đường. Chính quyết định trong tích tắc ấy đã cứu mạng tôi. Nằm sát mặt đất, tim đập dồn dập, tôi nghe rõ từng tiếng nổ, từng bước chân dẫm đạp phía trên. Mùi khói, mùi đất, và cả mùi tử khí lan trong không khí khiến tôi rùng mình.

Khi cơn pháo kích tạm lắng, tôi mới dám ngẩng đầu lên. Trước mắt là một cảnh tượng không thể diễn tả hết bằng lời: người nằm la liệt, kẻ sống sót thì thất thần, ánh mắt vô hồn. Con đường chạy loạn giờ đây phủ đầy máu và nước mắt

Tôi tiếp tục hòa vào những người còn sống, lặng lẽ đi trong đêm tối, không còn sức để khóc hay nói. Sáng hôm sau, khi ánh bình minh le lói, tôi lần bước ra được thị trấn Châu Ổ, rồi từ đó tiếp tục hướng về Chu Lai. Đó là một hành trình đi bộ đầy gian nan, nhưng ít nhất, tôi biết mình vẫn còn sống.

Ngày 26 tháng 3 năm ấy không chỉ là một ngày chạy loạn. Đó là một vết hằn lịch sử trong đời tôi, một minh chứng cho sự tàn khốc của chiến tranh và sự mong manh của kiếp người. Tôi sống sót, nhưng ký ức ấy mãi mãi ở lại, như một lời nhắc nhở rằng cuộc sống hôm nay đã được trả giá bằng biết bao sinh mạng và nước mắt.

Viết trong niềm nhớ 51 năm của tháng Tư Đen 2026.

Nguyễn Hồng Dũng

==

==

THÁNG TƯ ĐENHuu-Thien Paul Pham

” Này em có nhớ, rồi tình bỗng cách xa

Khi đất nước ngập tràn trong khói lửa

Tháng Tư đen, đã chia đời đôi lứa

Kẻ đi tù, người bay bổng nơi đâu. “

HVLN

– – – –

Tháng Tư Đen ..

Em nhớ lắm, cuộc tình ta xa cách

Trong đau thương : biến cố Tháng Tư Đen

Ba anh tù : vì thù hận ác hèn .

Nên Mẹ anh , gia đình đau khổ sống .

*

Oan nghiệt quá : Ba em lầm, theo cộng .

Coi trại tù , đã hành hạ Ba anh

Với tháng năm , kiệt thân sức , tan tành

Rồi gục chết trong ngục hình đen tối .

*

Đời em lạnh : với chuỗi ngày sám hối ..

Đến xin anh , vài xúc cảm khoan dung ..

Lặng nhìn anh, trong đau đớn tột cùng .

Khóc , khóc, khóc , em chỉ còn biết khóc .

* * *

Thấy những cảnh đau thương đầy tủi hận

Phải làm sao cho nước Việt oai hùng

Được tự do , dân chủ , sống ung dung

Và hạnh phúc , vinh quang cùng thịnh vượng.

Huu-Thien Paul Pham 

==

CHIẾN TRANH & HÒA BÌNHHuu-Thien Paul Pham 

Chinh chiến tràn lan , khổ kiếp người

Tạo bao đau đớn, hận khôn nguôi

Sta-lin , Mao Trạch , thêm Hồ Chí

Gây họa dân oan , tội ngập trời .

*

Tháng Tư năm đó , triệu người vui

Nhưng triệu người kia , phận khổ xui

Vượt biển , tội tù, bao biến cố

Với nhiều thảm cảnh , dạ bùi ngùi .

*

Câu chuyện quê hương, câu chuyện buồn

Chiến tranh tan tác , lạnh lòng tuôn

Phũ phàng cảnh huống, hồn tê tái

Mang nặng sầu thương , dậy tủi hờn .

*

Câu chuyện văn chương, cũng đoạn trường

Nhớ Thầy, thi sĩ Vũ Hoàng Chương

Sau khi giải phóng vào tù tội

Chết một năm sau (1976) , quá tiếc thương .

*

Trong khi làm việc ở Âu châu

Vận nước khó khăn , khá đậm sâu

Hai đứa con thơ còn kẹt lại

Mỗi lần nghĩ đến , lệ buồn đau .

*

Năm đó (1975) , con trai bốn tuổi thôi

Theo người vượt biển , tạ ơn trời

Nhưng cô bé gái , đau buồn đợi

Đợi đến hai năm (1977) , mới lọt xuôi.

Huu-Thien Paul Pham 

==

KHÁT VỌNG

(thơ xuôi tổng hợp)

Ba mươi năm ấy miệt-mài,

Ai gieo tang tóc phí hoài máu xương?

Bảy lăm lại đến đau thương,

Nhà tan, nước mất, bốn phương lưu đầy.

Cơ-đồ nát bấy, bấy nay,

Buôn dân, bán nước, tội này của ai? 

-I-

Niềm khát-vọng ngùn-ngụt vút lên cao, mải-miết tìm Trăng hiền-hoà khả-ái. Trăng vẫn còn gục ngủ trong thành đêm sừng-sững âm-u.

Những vệt sáng đèn pha vẫn lia-lịa quét không-trung, nào đã thấy muôn vì sao đang trốn lủi? Mắt lệ mờ nhìn những trái hoả-châu nối tiếp nhau mưa sáng rực cháy bốn phương trời, lòng rạo-rực, mơ Thanh-Bình, mãi tưởng chừng đây dạ-hội hoa-đăng.

Những tiếng phi-cơ ì-ầm sấm động, những chùm đại-bác bạt núi long trời, những tràng liên-thanh nổ tan ròn-rã, xé không-gian, khua giấc ngủ rừng khuya, dậy thôn xóm tiêu-điều, lòng rạo-rực, mơ Thanh-Bình, mãi tưởng chừng đây tưng-bừng dạ-khúc đón xuân sang.

Rồi khi thôn rừng ngừng im tiếng súng, khi hoả-châu tắt sáng, khi những đốm lửa đạn không còn vun-vút đuổi nhau như sao trời đổi hướng, đêm tối vẫn không lùi bước, thành đêm vẫn sừng-sững âm-u, quanh đâu đây nghe khắc-khoải lòng đêm đang thổn-thức, cây lá thở dài, dế khóc nỉ-non, sương đêm sụt-sịt, lòng rạo-rực, mơ Thanh-Bình, nghe thấm buồn như lời kể-lể của những người cô-phụ bi-thương:

Ðằng-đẵng bao năm trường chinh-chiến, tím chiều ngập phủ khắp quê hương. Bom đào ao, đạn cầy ruộng, ruộng xanh um cỏ dại, ao đầy ắp thịt xương.

Hận thù bão táp, mã-tấu tung bay, đau-đớn ngả-nghiêng, bao thôn tre quằn-quại trong rên xiết.

Hận-thù bão táp, máu thắm loang trời, đau-đớn ngả-nghiêng, bao thôn dừa ngã gục, trùng-dương cuộn sóng, lồng-lộn thét vang niệm khát-vọng, lòng rạo-rực, mơ Thanh-Bình, nghe ngậm-ngùi tê-tái như đêm trường giá buốt thê-lương.

Việt-Nam ơi! thân mòn sức kiệt, mảnh hình-hài tan nát tả-tơi. Chúa ơi, Mẹ ơi! Người ở đâu, sao thành đêm vẫn âm-u sừng-sững? Tôi “thắp nến nguyện cầu, đâu dám rủa nguyền bóng tối” (*). Hồn tôi đây, trí tôi đây, hỡi gió ngàn lồng-lộng! Kéo bổng lên cho Người thấu nghe niềm khát-vọng, lòng rạo-rực, mơ Thanh-Bình, sao Trăng hiền vẫn gục ngủ trong thành đêm sừng-sững âm-u?

-II-

Ðêm âm-u, gió mát vi-vu, dù cho dịu-dàng mơn trớn thiết-tha, vẫn chẳng ru ngon giấc ngủ cô-đơn chập-chờn thao-thức. Tiếng chó tru ghê hồn không át nổi tiếng đại-bác rền vang.

Rồi một sáng xuân mờ sương xốn-xang, phố phường ngổn-ngang quân-trang binh-khí, liệng bỏ hết cho một nhà thuận-hoà, hoan-hỉ, cho chiến-trường dai-dẳng bặt tiếng im hơi. Giáo-đường khắp nơi không ngơi lời kinh tiếng hát: “Kinh Cầu Hoà-Bình” dập tắt chiến-chinh. Thành phố bỗng giật mình ngơ-ngác, thôn ấp chợt sửng-sốt bàng-hoàng. Lạ kìa! màu cờ sao ướt đẵm màu máu thắm loang? 

Biển Ðông vẫy sóng trường-giang,

Biệt-ly nước mắt nặng mang ân-tình.

Nghẹn-ngào Mẹ đứng lặng thinh,

Nhìn con dặn với: “Nhớ tình cố-hương!”

Mẹ về chăm giữ đồng nương,

Cho vàng bông lúa ngát hương thôn làng.

Giờ thì mất cả nương đồng,

Thôi đành phó mặc, chẳng màng “vinh-quang”.

Ngày đêm nghe réo loa vang:

“Hoà-bình công-bố, xoá tan hận-thù.”

Hoà-bình lại ở chiến-khu,

Hận-thù mau gót lù-lù về đây.

Ô hay! Lành-lạnh heo may, ùn-ùn mây bay. Sao Trăng gầy đã vội đuổi ngay ngày xanh non-nớt. Mặt trời trốn mất, chẳng để lại chút nóng hâm nóng tình thương. Bóng đêm âm-u gian dối đồng-loã gạt lường. Trùng-dương lại lồng-lộn thét gào khóc thương tương-tàn cốt nhục:

Núi rừng địa ngục,

Tủi nhục xót-xa,

Thân người: xác vật thây ma,

Lìa con, lìa vợ, lìa cha, lìa chồng.

Mồ-hôi tưới ướt ruộng đồng,

Lúa vàng đâu thấy? Thấy hồng máu loang:

Chàng đi “học-tập” ngút ngàn,

Ở nhà thiếp chít khăn tang mãn đời.

Tấm thân trâu ngựa rã-rời:

“Anh-hùng lao-động”, thấu trời than van.

Giành nhau từng dái khoai lang,

Giành nhau chỗ đứng xếp hàng nối đuôi.

Con thuyền ngược sóng ra khơi,

Ruột se bụng thắt, sao tươi nụ cười?

Ôi, nụ cười nước mắt! Đắng cay chua-chát!

Ôi, cơ-đồ sụp nát, nhân-tình đảo-điên!

Biển Ðông đầy ắp oan-khiên,

Quặn đau vĩnh-biệt Mẹ hiền thân yêu. 

Mẹ Việt-Nam truân-chuyên. Mẹ Việt-Nam u-uất. Mẹ nhắm nghiền đôi mắt. Mẹ lắng nghe trong bóng đêm hiền-hoà giả dối, tiếng đàn con nỉ-non da-diết niềm khát vọng tha-thiết vô biên. Khát vọng bình-yên. Khát vọng triền-miên. Sao trăng hiền vẫn biền-biệt cho đêm tối bao vây? 

Các con Mẹ đâu rồi?

Mẹ mỏi-mắt trông vời.

Mẹ đứng đây, Mẹ giang tay thành-khẩn:

Hãy nhìn xem, nước Việt-Nam u-ẩn!

Hãy nhìn xem, đồng-bào Việt kiên-nhẫn đau thương!

Bao giờ hết đổ máu xương?

Bao giờ tiếng hát giáo-đường ngân-nga ?

Bao giờ nước Việt thái-hoà,

Tự-do công-chính, nhà nhà an vui?

(*) cách-ngôn Tây:”Thà thắp lên một ngọn nến, còn hơn ngồi nguyền rủa bóng tối”

(Nguồn: Thi Phẩm “VỀ NGUỒN”, Đỗ Quang-Vinh, Toronto, 1995)

. . .

==

BÀI VIẾT CỦA TÁC GIẢ BẢO TRÂM

Có Nên Bàn Thảo Với Cộng Sản?

Đất nước Việt Nam đang bị đảng cộng sản cai trị bằng bạo lực.

Bọn cộng sản Việt Nam chỉ là một bọn cướp, may mắn chiếm được nước Việt do các thế lực quốc tế tranh nhau trên bàn cờ thế giới.  Chúng không phải là một chính quyền đúng nghĩa!

Chúng ta không biết thế giới có nước nào hiểu rõ bọn cộng sản đang lừa họ hay không?

Nhưng chúng ta biết rõ một điều: nước nào cũng vì lợi cho nước họ trước hết, không nước nào hy sinh cho dân Việt chúng ta. Vì vậy, vận mệnh nước Việt vẫn phải do người Việt hành động, nếu dân ta thực sự muốn cứu lấy dân tộc Việt Nam.

Bọn cầm quyền cộng sản ở Việt Nam chỉ muốn một điều: dân VN càng ngu càng dễ cho chúng nắm đầu. Chúng không hề có ý giúp cho dân giàu, nước mạnh.

Đối với chúng, cộng sản chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa, không có gì quan trọng cả. Chúng sẽ đi theo và áp dụng bất cứ thứ gì mà chúng có thể dựa vào để tồn tại, như cộng sản Nga, Tàu đã giúp chúng có cơ hội đó thì chúng theo ngay. 

Nếu trong tương lai, Mỹ hay bất cứ nước Tây Âu nào cho chúng có cơ hội để tiếp tục việc chúng đang làm thì chúng sẽ gọi Mỹ và nước đó là ông Nội ngay.

Và sau đó chúng sẽ tuyên truyền là “quốc gia” hơn những người quốc gia hiện tại nữa. 

Chắc Quý Vị thừa biết hiện nay ở Mỹ và có thể ở bất cứ nước nào trên thế giới, con cháu bọn cướp này mở tiệm buôn bán, chợ búa, thậm chí lập Chùa, hay lập Nhà Thờ…. đều sẵn sàng treo cờ Vàng Ba Sọc Đỏ nơi trang trọng nhất, để câu khách, để chúng có cớ rửa tiền…   

Cho rằng chúng là phe cờ đỏ, cờ hồng thì vô tình chấp nhận chính danh của bọn cướp này. 

Những bài viết gợi ý, cầu xin, đề nghị hay lên mặt dạy dỗ cho chúng khôn khéo hơn về chính trị và kinh tế, chính là giúp chúng học thêm nhiều bài học để ngày càng tinh vi trong việc cướp sạch đất nước VN nhiều hơn và nhanh hơn. 

Xin quý vị thức giả, quý vị còn có lòng tranh đấu cho một nước Việt Nam được Tự Do, Dân Chủ thì hãy hướng trọng tâm vào việc làm sao xóa bỏ bọn cướp ấy.

Việc đó hiện giờ phải nói là rất khó, vì sau lưng bọn cướp này còn có bọn cướp mạnh gấp bội là bọn Nga, Tàu, mà không chừng còn có các nước tư bản giàu có lợi dụng vào sự tồn tại của bọn cướp này

Vì vậy, nếu dân tộc VN chúng ta chưa có cơ hội xóa bỏ bọn chúng thì xin đừng bày thêm nhiều điều tinh khôn để biến thành mưu ma chước quỷ của chúng. Đừng hy vọng chúng sẽ giúp dân VN giàu mạnh, thông minh hơn hay hy vọng chúng sẽ xỏa bỏ lằn ranh gì đó là sai vì chúng đâu có lằn ranh nào để xóa.

Van xin bọn cướp đang ở trong nhà chúng ta, hãy nới lỏng cho chúng ta vươn lên sống bằng nhà của xóm khác… chưa bị cướp là một ý tưởng hão huyền.

Vấn đề là dân Việt Nam đã tỉnh ngộ chưa, đã quyết một lòng để xóa bỏ bọn cướp này hay chưa? 

Và Quý Vị, những tinh anh của tộc Việt, xin làm thế nào để giúp dân Việt Nam cùng một lòng tiến tới để xóa sạch bọn chúng?

         Bảo Trâm

      ·       Sẵn Sàng Quên?

Chỉ còn vài ngày nữa

“Năm Mốt năm” sẽ sang

Chúng ta luôn chuẩn bị

Chúng tôi cũng sẵn sàng.

Sẵn sàng để chiến đấu

Với bọn quỷ tràn lan

Với thói hư tật xấu

Với những kẻ tham tàn.

Không thể sống yên thân

Không thể quên quá khứ

Khi Cộng ác, vô thần 

Đày đọa dân Tộc Việt.

Chúng ta phải tự biết

Nếu quyết sống vô tư

Không màng chi thế sự

Tương lai nào an cư?

                       Bảo Trâm

Ách Ác Cộng

Do đâu đến nỗi thế này đây,

Dân tộc Việt Nam khổ mỗi ngày.

Bọn cướp may thời tràn khắp chốn,

Quân gian được thế ló ra đầy.

Toàn dân đau đớn đời nô lệ,

Cả nước chông chênh kiếp dạc dày.

Còn giữ hỡi ai lòng hận giặc,

Xin vì chính nghĩa, hãy ra tay.

Bảo Trâm 

==

MÁI TÓC
NGƯỜI NỮ TÙ

Chuyện bắt đầu đã hơn bốn mươi năm,
Thuở nhà tù mọc đầy trên cả nước.
Một buổi chiều trong sân sau nhà bếp,
Tôi cùng bạn uống trà nhìn nắng hắt qua sông.

Bên kia rào lạnh lẽo bóng chòi canh,
Tay lính gác gườm gườm lia họng súng.
Đoàn tù nữ trên đường ra bến tắm,
Sau một ngày dài khổ nhọc kiếp tù sai.

Một nữ tù mái tóc xõa bờ vai,
Tia nắng chiếu chảy dài trên tóc rối.
Những sợi tóc bay trong chiều nắng vợi,
Dưới tháp canh tù hút lấy cả hồn tôi.

Nhìn tóc em tôi cảm thấy bồi hồi,
Sao giữa cảnh ngục tù có nàng tiên xinh thế.
Nét tương phản giữa màu đen đáng sợ
Với tóc em dài mang vẻ đẹp hồn nhiên.

Tuổi của em phải khoác áo sinh viên,
Ôm sách vở vào giảng đường đại học.
Sao đến nỗi?…tôi thấy mình cay mắt,
Trên đất nước này em đã mất quê hương!

Tìm tự do em phải đổi gông xiềng,
Thân giam hãm giữa ngục tù gian khổ.
Gạo thăm nuôi gặm mòn đôi dép mẹ,
Đường trở về thành phố quá xa xăm.

Người yêu em mang bản án tử hình,
Khi vượt ngục cùng bạn tù cướp súng.
Hôm áp giải ra pháp trường xử bắn,
Em gục đầu giấu giọt lệ đang lăn.

Đất nước buồn sau một chín bảy lăm,
Cả miền nam biến thành nhà lao lớn.
Người lính cũ, kẻ tìm phương vượt biển,
Đều bị giam chung trong một trại tù.

Em bị bắt khi nào, ở đã bao lâu?
Nội quy cấm không dễ gì trao đổi.
Dưới chòi canh gió chiều xơ xác thổi,
Nắng úa vàng lên mái tóc em xanh.

o0o

Bao đổi dời sau hơn bốn mươi năm,
Rồi một buổi tình cờ nơi đất khách.
Lần giáp tết cựu tù nhân họp mặt,
Những bạn tù gặp lại ấm vòng tay.

Giới thiệu mình: “em Thuận tóc dài” đây,
Tôi mới nhận ra em, vì rất khác.
Nay tóc ngắn lại thêm nhiều sợi bạc,
Nhắc chuyện xưa hiu hắt nụ cười buồn.

Nửa cuộc đời lưu lạc kiếp tha phương,
Tôi vẫn nhớ cảnh chòi canh thuở nọ.
Tóc em dài rợp trời bay trong gió,
Nuôi khát khao vươn đến một chân trời.

Những nhà tù dù vây bủa khắp nơi,
Không ngăn được bước chân người quyết chí,
Tôi mừng em tự do trên đất Mỹ,
Sống làm người đúng nghĩa giấc mơ xưa.

-Donry Nguyễn.

==

VẾT THƯƠNG
CÒN MƯNG MỦ

Có một ngày muốn quên, mà vẫn nhớ …
Như kim châm, như muối xát vào lòng
Ngày nối liền Nam-Bắc một hình cong,
Nhưng nửa nước, đau buồn cơn quốc biến!

Người lính vốn, không gây ra cuộc chiến
Chế độ nào, bổn phận phải tuân theo
Mực chưa khô màu hiệp định Giơ-neo…
Vượt giới tuyến đưa quân vào bắn phá.

Người dân Nam phải đứng lên bảo vệ
Vì tự do chống chủ nghĩa độc tài
Đã bần cùng còn giải phóng cho ai?
Lời ma mị tuyên truyền chuyên dối gạt.

Miền Nam thua vì đã không tàn ác
Không nhẫn tâm khát máu với đồng bào.
Hai mươi năm sức lực đã tiêu hao
Bên nào chết cũng đau lòng mẹ Việt!

Ngày thống nhất, tưởng tang thương chấm hết
Nào hay đâu kẻ thắng quá đê hèn
Trút thù hằn vào phận lính nhỏ nhen
Đày ải họ chốn rừng thiêng nước độc.

Tước nhà cửa, bắt vợ con nheo nhóc,
Lùa lên vùng kinh tế mới khai hoang
Lịch sử xưa nay, bạo chúa hung tàn …
Chưa ai ác bằng vô thần cộng sản.

Nửa thế kỷ, hết bom rền lửa đạn
Sao mối hờn vết sẹo chẳng liền da
Người anh em cùng một mẹ sinh ra
Vẫn ngoan cố chia lìa tình cốt nhục!

Nền độc lập đâu ngọn cờ dân tộc
Oai linh không hoá giải nỗi hiềm thù
Để đoàn người lưu lạc khắp năm châu,
Về mang những tài hoa xây cố quốc.

Năm mươi năm, lòng dân còn chia cắt,
Xã hội còn đầy dẫy cảnh bất công …
Tiếng oán hờn rên siết khắp non sông,
Ngày tưởng niệm vết thương còn mưng mủ!

-Donry Nguyễn.

VIẾT TRONG NGÀY
TANG CHẾ.

Từ máu lệ âm vang mùa quốc biến,
Cả non sông quằn quại dưới chân thù.
Lệnh sai lầm khi rút bỏ quân khu,
Quân triệt thoái kinh thành trao tay giặc.

Hai mươi năm từng kiên gan giữ đất,
Phút sa cơ hối tiếc quá muộn màng.
Bao hùng binh buộc xếp giáp quy hàng,
Buông khí giới mím môi hờn phẫn uất.

Người chiến đấu phút cuối cùng tự sát,
Người lao mình ra chiến hạm khơi xa.
Lửa ngập trời lấp ló bóng yêu ma,
Nghe việt cộng vào Sài Gòn thảy đều kinh hãi.

Năm mươi mốt năm trang sử buồn lật lại,
Khóc non sông phủ trắng một màu tang.
Nguyện oan hồn bao nhiêu triệu dân Nam,
Nguyện hương linh những anh hùng tử sĩ.

Dưới mồ sâu được nguôi lòng yên nghỉ,
Và linh hồn bay đến cõi trời xa.
Thời tối tăm rồi cũng sẽ trôi qua,
Loài bạo ngược sẽ đến giờ đền tội.

Người lưu lạc từ năm châu bốn bể,
Sẽ quay về xây dựng lại quê hương.
Biến Việt Nam thành đất nước thịnh cường,
Trong sắc áo màu cờ Tự Do-Dân Chủ.

-Donry Nguyễn-
(30-4-2026)

==

THƠ HOÀNG THỤC UYÊN

=

BIỂN ĐỘNG VƯỢT SÓNG
TRÊN ĐẠI DƯƠNG
           
Biển Đông giông tố sóng bạc đầu
Mưa bão bất ngờ đổ xuống mau
Mây đen trời tối biển mờ lối
Gió rít từng cơn mưa đổ mau

Vượt biển trùng dương, sóng dâng trào
Thuyền như lá úa vượt biển sâu
Dào dạt sóng xô thuyền ngàn hướng
Bềnh bồng, thuyền dạt khắp muôn phương

Biển động vượt sóng trên đại dương
Ào ạt mưa rơi nhòa trùng dương
Bềnh bồng thuyền trôi theo ngàn hướng
Gió lộng biển động thuyền mờ sương

Tháng 4, mang nặng một nỗi niềm
Chinh chiến ba miền nát quê hương
Nhìn về quê mẹ, thương sầu nhớ
Ngày ấy ra đi, ngàn vấn vương

Chiến tranh tan nát bởi vì đâu ?
Ba miền đất nước ngập sóng sầu !
Quê hương điêu linh trong khói lửa
Dân lành nghèo đói sống khổ đau .

Ai gây chính chiến nát quê hương ?
Ai gây thù oán cảnh đoạn trường ?
Chiến tranh không cùng ý thức hệ
Tuổi xanh ba miền ngập sầu thương

Người ở người đi thật đau lòng
Thương nhà nhớ nước, khóc non sông
Người bỏ quê hương, người tù tội.
Người tìm tư do, chết biển đông !

Gió lộng biển động sóng hợp tan
Thuyền trôi vượt sóng lướt gió ngàn
Thuyền xuôi vững lái tìm bến đậu.
Bến đục bến trong thuyền về đâu ?

Biển rộng mênh mông sóng ngập trời
Dù trong biển động thuyền ngược xuôi
Vững Tâm thuận lái theo chiều gió
Gió lặng sóng tan, thuyền thảnh thơi ...

          Hoàng Thục Uyên
     Tháng 4 Đen, 1975--2026
🌱🌱🌱🌱🌱🌱

==

CA KHÚC THÀ  NHƯ – THƠ MẶC KHÁCH – NHẠC VĨNH ĐIỆN- TIẾNG HÁT  HÀ THANH

==

THƠ CỦA THI SĨ TRẦN QUỐC BẢO & NHỮNG BÀI HÁT NÓI CỦA NGHỆ SĨ ĐỨC HÙNG

Tháng Tư, tường đá còn thao thức!

Tôi gọi tên anh có tiếng vang

Trong lòng đá xôn xao ký ức,

Đoàn hùng binh, uy dũng hiên ngang!

*

Tháng Tư, tôi đứng bên tường đá,

Chiến trường xưa thấp thoáng hiện sinh,

Ánh hỏa châu, Pleiku, Bình Giã,

Pháo mịt mù, Đồng Xoài, Tây Ninh!

*

Anh hiện diện khắp nơi tất cả,

Từ hậu phương, đến tuyến địa đầu.

Yểm trợ chúng tôi, anh gục ngã!

Tình đồng minh ơn trọng, nghĩa sâu.

*

Tháng Tư hồn vẫn chưa yên giấc,

Trătrở ngàn năm, chuyện thắng thua.

Tâm sự buồn, như mây u ut,

Xót xa gió thở i đêm khuya

*

Lòng đá chợt quặn đau, rên xiết!

Hỏi sao kết cục Tháng Tư Đen?

Sớm ri chiến trường anh không biết, (*)

Bọn chính trị, đốn mạt đê hèn!

*

Chính lúc chiến trưng đang mạnh thế,

Chúng phản đồng minh! Bán các anh!

Cúp viện trợ… cun cờ tồi tệ!

Tháng Tư uất hận ghi sử xanh.

*

Tường đá lưu danh, anh còn đó,

Phấp phới Cờ Hoa, Hồn hiển linh!

Tình chiến hữu chúng mình gắn bó,

Đã một thời huynh đệ chi binh.

*

Tháng Tư. Tôi đến hôn tường đá,

Thấy bạn bè xưa, quen thật quen.

Từng giọt máu chiến trường, vô giá!

Mà sao rốt cuộc Tháng Tư đen! (?) 

           Trần Quốc Bảo

                   Richmond, Virginia

             Địa chỉ điện thư của tác giả:

           quocbao_30@yahoo.com

(*)Trong chiến cuộc Việt Nam, có 58,281 chiến binh Hoa Kỳ đã hy sinh, chết và mất tích, trước ngày 30 Tháng 4,1975.

    Toàn thể, được ghi tên, trên Bức Tường Đá Đen, tai Thủ Đô Hoa Kỳ.

Ứng Đáp Nhanh Chóng!|
(Bài Hát Nói cảm ơn và đáp lễ hồi âm của Đại Lão Thi Nhân Trần Quốc Bảo. Tựa đề bài Hát Nói này trích từ hồi âm của ĐLTN/TQB.)

Ứng đáp nhanh chóng!
Hồi âm như đang lướt sóng, chèo thuyền!

Dù tuổi đời nay đã “rất cao niên”
Vẫn phong độ, sáng suốt, thung dung như “Ông Tiên” tại thế!

Ứng ngay! Lập tức! Ngày đang xế!
Đáp lại! Mau lên! Tháng đã qua!
Tốc độ cao gây ra sức mạnh “dời non, lấp biển”! Như cơn phong ba!

Lòng người hoan hỉ, hài hòa! Giải quyết, thông qua, vui vẻ!

Nhân loại đã tiến bộ vượt bậc! Máy móc tối tân chia sẻ!
Xa xôi mà gần gũi! Trao đổi mọi hay đẹp! Và sức khỏe, thơ, nhạc, gia đình . . . !
Cảm ơn Đại Lão Tiên Sinh!
Đức Hùng
Sydney, Úc Châu, 28/04/2026

Xin ghi nhận và cảm tạ sự đồng cảm, giữa bài “Bức Tường Đá Đen” và bài “Hát Nói 657” dành cho Ngày Quốc Hận 30/4.   –  Rất phục tài ứng đáp nhanh chóng và tuyệt vời của anh.

        TQB

On Monday, April 27, 2026 at 02:27:43 AM EDT, Duc Hung Bui <duchungbui@bigpond.com> wrote:

“Từng Giọt Máu Chiến Trường Vô Giá! Sao Tháng Tư Đen?”
(Bài Hát Nói cảm ơn và đáp lễ Đại Lão Thi Nhân Trần Quốc Bảo (ĐLTN/TQB) đã chuyển đến bài thơ tuyệt bút nhân Mùa Quốc Hận Tháng Tư Đen 30/04/1975 – 30/04/2026.
Tựa đề bài Hát Nói này trích từ bài thơ đó của ĐLTN/TQB. 
Kính mời Quý Thi Hữu họa lại bài Hát Nói này.)

Từng tấc đất nhuộm máu! Cổ Thành Quảng Trị!
Giọt sầu tuôn cuồn cuộn! Bản Mê Thuột ra đi! Thế trận tràn mây cuốn! Phòng bị được những gì?
Máu Tân Cảnh, Quảng Đức! Lê Đức Đạt gan lì! Huế quặn mình đau nhức! Vùng Hai đã lâm nguy!
Chiến đấu có ai bì? Vận Nước thịnh hay suy? Tuyến Phan Rang gắng gượng!

Trường đồ! Mã lực phi khoan nhượng!
 ích! Nhân tâm bỗng thoái lui!
Giá Súng nay trống rỗng! Kho Đạn cũng ngậm ngùi! Cạn dần! Đành để trống! Tiến chẳng được! Phải lùi!
Sao anh hùng, thanh khiết! Cùng chia ngọt, sẻ bùi! Nguyễn Khoa Nam tuẫn tiết!

Tháng này, Trần Văn Hai! Chuẩn Tướng Lê Nguyên VỹPhạm Văn Phú hỏi hoài!  Lê Văn Hưng đà biết!
Tư duy Trang Sử Việt! Thắng bại bốn ngàn năm! Trụ chiết, Giao Chỉ diệt! Ngùn ngụt  Khí Hờn Căm!
Đen rồi! Sẽ trắng! Bao năm?
Đức Hùng
Sydney, Úc Châu, 27/04/2026
11 Tháng Ba (Đủ) Âm Lịch Năm Bính Ngọ, Ngày Tân Mùi : Hành Thổ, Trực Bình, Sao Trương. Cát Thần : Đại Minh, Chúa Là, Hoạt Diệu.

Bạn hữu chân thành thường vắng ngắt!
Hiền nhân thật sự vẫn lưa thưa!

Nhiều khi Bạn Vong Niên mà hợp nhau ở mức thượng thừa!
Như Hoàng Dược Sư với Dương Qua! Tuổi là Cha, Con! Gặp nhau chưa say chưa tâm sự!

Xin cảm ơn Đại Lão Thi Nhân Trần Quốc Bảo! Tấm thịnh tình! Nhiều tư lự!
Kính chúc Cụ luôn mạnh khỏe, an khang, hạnh phúc! Vui văn tự! Sính thơ, ca!
Yêu Dân, quý Nước, thương Nhà!
Đức Hùng
Sydney, Úc Châu, 28/04/2026

==

Thư pháp trên: Thơ Ngữ An (Tháng 3 bỏ Huế)

*

Một đời vì nước quên mình

Xương tan / thịt nát. Mộ phần có / không

Vật vờ lau lách ven sông

Sáng se gió thổi chiều lồng sương tuôn

Phải trong nắm bụi bên cồn

Có người tử sĩ gởi hồn cỏ hoa

*

Chiến tranh rồi cũng đi qua

Còn kia là ánh trăng tà mộ hoang

Hồn nương theo bóng mây vàng

Vô danh nào có mấy hàng chữ bia?!

Quang Hà

==


Long Hồ Vĩnh Long: Em Đến Thăm Anh Lần Cuối – Thơ: Trần Công Tiền Giang Tử – Nhạc: Nguyễn Tuấn

Long Hồ Vĩnh Long: Anh Lính Năm Xưa – Tạ Quang Tuấn

Long Hồ Vĩnh Long: Tháng Tư Sầu Nghẹn Đong Đầy – Phương Hoa

Long Hồ Vĩnh Long: Tưởng Đâu Đó Thân Bồng Bềnh Phiêu Lãng – Nguyễn Phan Ngọc An

Long Hồ Vĩnh Long: Một Ngày Tháng Tư – Đỗ Dung

Long Hồ Vĩnh Long: Ngàn Dặm Ra Đi – Lê Mỹ Hoàn

Long Hồ Vĩnh Long: Cánh Nhạn Về Đâu – Thơ: Phương Hoa – Nhạc: Trần Đại Bản

Long Hồ Vĩnh Long: Tháng Tư Và Tự Do – Hồng Vân

Long Hồ Vĩnh Long: Chiều Tháng Tư Trên Sông Sài Gòn – Lê Tuấn

Long Hồ Vĩnh Long: Tháng Tư Nhớ Người Khôn Nguôi – Tiểu Lục Thần Phong

Long Hồ Vĩnh Long: Thêm Một Tháng Tư Qua – Thơ: Huy Văn – Nhạc Nguyễn Tuấn – AI cover Siliconband

Long Hồ Vĩnh Long: Tiểu Thư Thời Bao Cấp – Nguyễn Thị Thanh Dương

Long Hồ Vĩnh Long: Đêm Trăng Ở San Francisco – Hồng ThủyLong Hồ Vĩnh Long: Cuối Bờ Tình Ca – Luân Tâm

Long Hồ Vĩnh Long: Tinh Thần Văn Bút Miền Đông (VBVNHN VĐBHK) – Dương Việt Chỉnh

Long Hồ Vĩnh Long: Tranh Dệt Bằng Len Của Tuyết Phan Được Chọn Triển Lãm

Long Hồ Vĩnh Long: Cho Tôi Xin Từ Nỗi Nhớ – Dương Việt Chỉnh

Long Hồ Vĩnh Long: Danh Sách Schindler- Steven Spielberg – Thái Lan Sưu Tầm & Dich

Long Hồ Vĩnh Long: Những Cơn Mưa – Ý Nhi

Long Hồ Vĩnh Long: Đất Khách Làm Thơ – Tạ Quang Tuấn

Long Hồ Vĩnh Long: Chân Nguyên Vũ Trụ – Thơ: Hoàng Thục Uyên – Nhạc: Nguyễn Tuấn

Long Hồ Vĩnh Long: Ân Tình Thiên Thu… – Luân Tâm..

Long Hồ Vĩnh Long: Tạc Dạ Nghìn Sau..- Kim Oanh

Kim Oanh