THƠ CAO MỴ NHÂN: LỜI NGỢI CA HIỀN HOÀ

LỜI NGỢI CA HIỀN HOÀ .    CAO MỴ NHÂN

Nữ sĩ Tuệ Nga cười vui

Thương Cao Mỵ Nhân ngậm ngùi 

Toàn làm thơ tình ảo mộng

Từ bao nhiêu năm nay rồi

*

Chị với em trong Quỳnh Dao

Hơn nửa thế kỷ nao nao

Sáu mươi tư xuân ngà ngọc

Hai không hai bốn đẹp sao

*

Chúng mình không ở cạnh nhau

Chị là con Phật đã lâu

Còn em ta bà mộ đạo

Thượng Đế cao vời xưa sau

*

Chị hiền như bà Quan Âm

Chan hoà  chân như thiện tâm

Em nặng lòng tin Đức Mẹ

Thủa này tới mãi xa xăm

*

Thời nào mình cũng yêu thơ

Những lời tình ảo mộng mơ

Đưa em tới gần cảm luỵ

Chị ơi, bát ngát mong chờ …

*

Hawthorne  13 – 7 – 2024

         CAO MỴ NHÂN




CAO MỴ NHÂN – MƯA XUÂN VÀ MẸ.

MƯA XUÂN VÀ MẸ. –  CAO MỴ NHÂN 

Con nói : ” Mẹ giờ quên mất hết

Đường hoa mẹ bảo dấu chân ai

Khói sương trước mặt, sao tìm kiếm

Hình ảnh nào xưa, mẹ nhớ hoài ” 

*

Chẳng có ai đâu, mưa lập xuân

Vương bay nhẹ thấm trên vai thầm

Tóc mây giờ đã đang cằn cỗi

Như sợi thời gian rối tháng năm…

*

Mẹ hỏi: ” Hoa chi rơi thế nhỉ

Cây lê hàng xóm nở sai mùa ” 

Con cười : ” Sao mẹ quên nhiều thế

Nụ trắng kia xen kẽ lá thưa…” 

*

Mẹ chẳng tin vì con giả vờ

Miễn sao lòng mẹ nở hoa thơ

Bởi chưng mẹ cũng vờ không biết

Sự thực thì ta ở cõi mơ…

*

CAO MỴ NHÂN (HNPD)

   11 – 5 – 2024




VĂN: MỘT HỒN SẦU NHỎ. CAO MỴ NHÂN

MỘT HỒN SẦU NHỎ.    CAO MỴ NHÂN

” Chúng tôi ” quen khá đông, có thể nói rất đông nữa, nhưng là để cho biết nhau thôi, chứ thân mật thì không đều khắp, ai có nhóm bạn nào hoặc rải rác vài ba ” vị “, thì tuỳ cách giao hảo của mỗi người .

Thế thì, nhân chuyện cô bạn PHƯƠNG HOA tôi mới hạnh ngộ mấy năm gần đây, nói rằng : ” Chị, là tôi, có nhiều mối tương giao thú vị quá …” khi tôi nhờ Phương Hoa ( PH ) đăng dùm tôi mấy bài thơ trong tập thơ ” NHỮNG VẦN THƠ MA ” của tôi điếu nhà văn bạn tên HỒ LINH vừa mãn phần.

Tôi có dịp trở lại một mối tương giao khác nữa, với 2 nhà thơ tên tuổi một thời trước năm 1975, kéo dài tiếng tăm trong giới thi ca trẻ, hồi đó, cho tới bây giờ .

Hôm nay tôi muốn nhắc tới tên tuổi 2 nhà thơ, mà thủa lớn lên ở Saigon cuối thập niên 50 & đầu thập niên 60 thế kỷ trước, nhị vị ấy là bạn thân của tôi :

VIÊN LINH , và TRẦN DẠ TỪ .

Trước hết, tôi xin khẳng định là tôi chỉ viết lại những kỷ niệm thơ thủa còn đi học, hay đúng ra thủa chúng tôi ở tuổi thiếu niên thôi.

VIÊN LINH tên thật NGUYỄN NAM, TRẦN DẠ TỪ tên thật LÊ HÀ VĨNH , những ngày mới từ miền Bắc di cư vô Nam, Trần Dạ Từ lấy bút hiệu HOÀI NAM .

Hai bạn thơ tôi bấy giờ sớm nghỉ học để đi làm báo cho thoả thích tính ” văn nghệ ” làm thơ, Viên Linh có viết thêm một số tác phẩm văn xuôi.

Ở số tuổi còn chưa 20 bấy giờ, Viên Linh, Trần Dạ Từ rất ngoan hiền trong cách viết, rất tiềm ẩn trong tình cảm phong phú, và thực sự ” tài hoa ” .

Ai trong quý vị và chúng tôi, khi thể hiện tác phẩm văn chương, nghệ thuật không … tài hoa chứ .

Nhưng sớm biểu lộ tài hoa văn chương, nghệ thuật, thì hình như không chú trọng đến chuyện lập thân trên đường khoa cử, hay nghề nghiệp chuyên ngành thực tế.

Tôi vẫn chỉ kể về bạn văn thơ Viên Linh, Trần Dạ Từ thôi, không nghĩ thêm về quý vị văn nghệ sĩ cùng thời khác, để tránh ngộ nhận hoặc hiểu lầm .

Ngay khi Viên Linh và Trần Dạ Từ quyết định làm văn thơ, làm báo, thì 2 bạn ấy thành công ngay .

Thoạt Viên Linh, Trần Dạ Từ là những cây bút tài tử cộng tác với các nhật báo, tuần báo, đặc san vv… ở Saigon đầu thập niên 60 thế kỷ trước, vì còn rất trẻ.

Sau Viên Linh, Trần Dạ Từ đã mau chóng giữ các chức vụ chủ bút, tổng thư ký, thi sĩ Viên Linh còn làm chủ báo nữa .

Khoảng đầu thập niên 60 đó, TRẦN DẠ TỪ còn dám lên tàu lửa xuyên việt ra Huế, đón Trần Thị Thu Vân vô Saigon lập nghiệp, với 2 bàn tay trắng, nhưng từ đó, Trần Thị Thu Vân đã trở thành NHÃ CA, nữ văn sĩ trẻ tuổi và thành công nhất giữa số đông bạn văn thơ còn mất thời gian lâu sau, mới nổi danh được, như quý vị

NGUYỄN THỊ THUỴ VŨ, TUÝ HỒNG, NGUYỄN THỊ HOÀNG vv…

   Khả năng và tài nghệ văn thơ NHÃ CA đã đành là thiên phú rồi, nhưng cũng phải công nhận là việc thúc đẩy và hỗ trợ thiết thực vẫn do TRẦN DẠ TỪ mong muốn như cái tên NHÃ CA, Từ đặt cho Thu Vân vậy .

Họ , Trần Dạ Từ & Nhã Ca mặc nhiên trở thành đôi uyên ương văn chương cho tới ngày nay, Trần Dạ Từ & Nhã Ca đã có với nhau nửa tá con, và riêng Nhã Ca đã có hàng chục tiểu thuyết ăn khách nhất thủa đó, đông thời tác phẩm ” GIẢI KHĂN SÔ CHO HUẾ ” của NHÃ CA đã vô hình chung đi vào văn học sử , thời đại Việt Cộng tổng công kích Tết Mậu Thân Huế 1968.

Trở lại VIÊN LINH ( VL ) TRẦN DẠ TỪ ( TDT ) , tôi vẫn nói về thủa thanh thiếu niên, ấy là Thơ của nhị vị này , và đây cũng không phải bài nhận định về Thơ kiểu ĐỌC THƠ , BÌNH THƠ như quý vị cầm bút viết báo đâu. Đó chỉ là những dấu tích một thời nào đó, ai muốn biết cho …vui đúng nghĩa.

Các nhà phê bình Thơ hay cảm nhận của bạn đọc thơ, thường nhận định làm THƠ LỤC BÁT không phải là dễ, thể thơ dễ với những vần điệu chuyên thơ của Thi Sĩ , nó không từa lưa như vè, đôi khi vè còn đúng vần điệu hay hơn thơ ghép 6 x 8 của các vị viết cho có viết thôi chẳng hạn.

Thời gian sơ khai với những cây viết mới, thường khiến một số ” Tiền Bối nghề nghiệp ” ngại ngùng lời thơ và ý tưởng.

Thí dụ có bài rất hay về lời lẽ, vần điệu, nhưng tìm ra ý, thì không  có gì đặc sắc hay ngược lại.

Thủa đó, Đại Thi Sĩ VŨ HOÀNG CHƯƠNG đã có biệt danh Thi Bá rồi, nghĩa là gần như nhất trên trời thơ ca, nhưng nghe một bạn văn thơ nào đó, đề cập tới Nhà Thơ trẻ Viên Linh, 

cụ VŨ còn như lững lờ, chưa niềm nở đón chào.

Tôi nhớ bài lục bát VIÊN LINH thế này :

            ( Tựa hình như là NGOẠI Ô )

Người đi phiến động chân trời

Nghe heo may lạnh lùa khơi chiếu nằm

Một hồn sầu nhỏ phân vân

Trời âm u thấp mời thân buồn phiền

Nửa đời đi kiếm bình yên

Thương yêu bỏ lại đôi miền tịch liêu

Bạn bè còn được bấy nhiêu

Người đi quên lãng thêm nhiều ưu tư

Rời vào thành phố phiêu du

Nỗi bao la đã ngoại ô dồn về…

            VIÊN LINH

VL tác giả nhiều tập văn, tập thơ đã phát hành trước 30 – 4 – 1975.

Sau này di tản qua Hoa Kỳ , Nhà Thơ VIÊN LINH có thời giữ chức vụ CHỦ TỊCH TRUNG TÂM VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI khoảng đầu và giữa thập niên 90 Thế kỷ trước, 1993- 1995.

Ông cũng là Trưởng Đoàn Văn Bút VNHN đi dự đại hội VĂN BÚT THẾ GIỚI KỲ THỨ 61 ở PRAHA TIỆP KHẮC 11/ 1994,  với các thành viên sau :

 Thi Sĩ Viên Linh. Chủ tịch , trưởng đoàn.

 Thi sĩ Giáo Sư Nguyễn Sỹ Tế, phụ tá.

 Nhà báo Giáo Sư Phạm Việt Tuyền

Thi sĩ Cung Trầm Tưởng.  ( phát ngôn viên Pháp ngữ )

Nhà văn Trần Ngọc Nhuận ( phát ngôn viên Anh ngữ )

Thi sĩ Tô Thuỳ Yên

Cao Mỵ Nhân ( nhà thơ )

Theo danh sách nêu trên, thì quý Thi Văn sĩ, Giáo sư : Nguyễn Sỹ Tế, Phạm Việt Tuyền, Cung Trầm Tưởng, Trần Ngọc Nhuận, Tô Thuỳ Yên đã chung cuộc, hiện còn Viên Linh và Cao Mỵ Nhân tại thế .

Đôi bạn uyên ương văn thơ NHÃ CA & TRẦN DẠ TỪ , qua những cơn sóng gió thời đại, sau này , cho tới bây giờ vẫn đang xuất bản nhật báo ” VIỆT BÁO ” ở Hoa Kỳ , và đặc biệt là tổ chức được hằng năm các giải thưởng văn chương, văn hoá VN một chương trình lâu dài : Viết VỀ NƯỚC MỸ , dành cho tất cả quý vị đã tới nước Mỹ tị nạn, lưu vong, tha hương, đã và đang SỐNG TRÊN ĐẤT MỸ .

Thấm thoắt đã cả nửa thế kỷ trôi qua, nhớ lại hồi tôi còn  chưa có bằng trung học đệ nhất cấp, với áo dài trắng, tóc đuôi gà, đi xe đạp đến thăm VIÊN LINH trọ học ở chùa Phú Thạnh Phú Nhuận, TRẦN DẠ TỪ thuê nhà gần chùa Vĩnh Nghiêm để bạn ta được chung vui với các bạn khác cùng thích văn thơ, như ĐỖ QUÝ TOÀN ( nay còn tên NGÔ NHÂN DỤNG, PHẠM HOÁN ( em hoạ sĩ PHẠM TĂNG ) vv…

Còn tôi vẫn ở với cha mẹ nơi cư xá HÀNG KHÔNG TÂN SƠN NHẤT, và cũng là nơi 2 bạn thơ quý VIÊN LINH , TRẦN DẠ TỪ năng lui tới thăm chơi cùng ” thông tin văn hoá …học sinh “

trong sáng tuổi 15  hân hoan, tươi trẻ…

Thời gian trôi qua, đã già nửa thế kỷ, VIÊN LINH, TRẦN DẠ TỪ

vẫn sinh hoạt bình thường trong văn giới, dù thay đổi không gian ( từ VN ra hải ngoại ) kể từ sau chính biến 1975.

VIÊN LINH không bỏ nghề cầm bút, VIÊN LINH vẫn tiếp tục xuất bản báo Thời Tập thân quen, đã có từ trước 1975 lưu hành ở miền nam Việt Nam .

Bên cạnh đó, là điều hành một cơ sở in ấn, cộng tác báo bạn ,

xuất bản sách cho bạn bè văn chương … đang tị nạn, tha hương ở các nơi tái định cư, đa phần ở Hoa Kỳ.

Với hành trình thơ văn không tách rời ” thân phận “, và thân thế cũng không vượt được những mùa xuân miên viễn ở thế gian khi bước vào lão tuế, VIÊN LINH hay ai chăng nữa, cũng ra đi về chốn vô cùng thôi.

Được tin ngày 28 tháng 3 năm 2024, Thi Sĩ VIÊN LINH đã giã từ cõi nhân sinh ở miền đông Hoa Kỳ, sau 86 năm rong chơi nơi trần gian đầy hương sắc vui buồn, nhưng lúc nào ông cũng an nhiên, thanh thản .

Mong hồn thơ ông sớm phiêu diêu miền cực lạc, để vỗ về chữ nghĩa còn để lại cho con cháu, bạn bè thân thiết xưa nay.

         Rancho Palos Verdes   1 – 4 – 2024

                    CAO MỴ NHÂN




TRANG ĐẶC BIỆT NGÀY TỪ PHỤ – FATHER’S DAY 2022 – VTLV VÀ THI VĂN THÂN HỮU

MỪNG NGÀY TỪ PHỤ

             (Dĩ đề vi thủ)

MỪNG lễ Father quý bậc Cha

NGÀY vui trọn vẹn khắp muôn nhà

TỪ Nghiêm nghĩa cả luôn trân giữ

PHỤ Tử tình thâm chẳng thể nhoà

VĂN tải lời thành mong phúc thọ

THƠ nương câu kính nguyện an hoà

CẦU cho phúc lộc tài toàn hảo

CHÚC hết người người bách tuế qua

     Phương Hoa – Father’s Day

BÓ HOA “FATHER’S DAY ”     CAO MỴ NHÂN 

Có tiếng gõ cửa nhẹ nhàng…

Con chó Minet nhà tôi gầm lên, chạy ra nhà trước, nó hửi hửi bên trong cánh cửa, coi thử phải người quen không. 

Tôi cũng ngạc nhiên, ở Hoa Kỳ từ 1/4 thế kỷ nay, chưa thấy ai tới nhà mà không hẹn trước. 

Tôi lén xuống bếp, từ cái view ngó ra cửa sổ, thấy một bà Mỹ trắng ôm bó hoa đẹp lắm, đủ mọi thứ hoa, nhưng toàn thể mầu vàng đủ độ đậm lạt …

Phân vân vài phút, tôi mở cửa gỗ lớn, nói qua cửa lưới sắt hỏi bà tìm ai, nếu tôi có thể giúp bà. 

Bà Mỹ cũng thuộc giới cao niên, nhưng khá duyên dáng, trang điểm tương đối kỹ càng . 

Bà nói: ” Con gái tôi nhờ tôi mang hoa tới đây, trao cho  Mr. Don, tôi muốn gặp ông Don, please…” 

Tôi ngạc nhiên quá, nhà tôi có ai tên Don, gọi là Mr. Don, ông Đông, ôi có phải ông ” sông Đông êm đềm ” không đây ? 

Don hay Đông đều không có ở đây, chưa nghe ai nói tới tên đó, ở đây . 

Tôi xin lỗi trả lời bà lầm nhà, nhà tôi toàn người VN, không có ai tên Don cả. 

Bà Mỹ lại giới thiệu thêm:” Tôi tên Nancy, hàng xóm nhà này, bà giơ tay chỉ về phía đầu đường Gerkin. 

Rồi tiếp lời : con gái tôi mở tiệm hoa trên down town, hình như mấy lâu nay, vẫn có ai đặt bông như thế này, bà cúi xuống bó hoa vàng tuyệt đẹp, rồi nhỏ giọng hơn : Hay là bà cứ nhận dùm, chắc người nhà đặt mua, ghi đúng địa chỉ đây.

Không, tôi không dám nhận, bà nên mang về trả con gái bà, cô ấy sẽ hiểu mọi chuyện thôi. 

Bà Mỹ đành phải ra xe, sau khi đưa cho tôi tấm card nhỏ của tiệm hoa ở tận đường ” Mặt trời mọc ” Los Angeles. 

Tôi bâng khuâng với chuyện lạ, và cái tên ông Don nào đó . 

Hôm nay, lại cũng đúng giờ đó, 11:00 am, lại có tiếng gõ cửa, tôi lại làm đúng những cử chỉ sáng qua. 

Lần này không phải bà Mỹ trắng nữa, mà là một phụ nữ chắc phải 30 tuổi rồi. 

Tôi mở cửa : ” Vẫn lại bó hoa à ? Sao cứ tới nhà tôi ? ” 

Cô gái xưng tên, rồi nói: ” Bởi vì có lời hứa, là mỗi dịp Father’s

day, cô ấy sẽ tặng cho ông Don một bó hoa mầu vàng thế này ” . 

Nói rồi , cô Hanna mở cái điện thoại ra, cho tôi coi tấm hình người đàn ông châu Á đứng trước tiệm hoa, cô ngần ngừ : “Mr . Don đã liên tiếp mua hoa ở tiệm cô từ hơn 10 năm trước, trả hết tiền rồi, năm nay là năm thứ 10, không thấy ông Don đến , nên cô có ý đưa hoa tới tận nhà, cho ông ngạc nhiên ” . 

Tôi chẳng biết Mr.Don nào ngạc nhiên, mà chính tôi đang ngạc nhiên. Ông Don châu Á, lại lấy địa chỉ nhà này là sao ? 

Tôi xin lỗi cô Hanna đó, và xin được coi lại tấm hình . 

Cô bán hoa có vẻ mừng, cho tôi xem lại ông Đông ba vạ nào chẳng biết. 

Tôi cứ nhìn và nhìn mãi, vì tấm hình trong Iphone cô ấy rất mờ, có lẽ là hình chụp lại từ một tấm hình ở ngoài . 

Cô ấy cứ quan sát tôi, và tôi cứ nhận ra từ từ …

Tôi nhìn lại cô Hanna, như cố nén tiếng thở dài : 

” Tôi thấy có vẻ quen quen người này ” 

Cô Hanna hét lên mừng rỡ : 

Bà biết ông Don này chứ, ông ấy ở căn nhà này, mỗi sáng đi bộ ngang qua nhà chúng tôi, để ra cái tiệm cafe Starbucks ngoài ngã tư kia . 

Một dịp tình cờ vào ngày Father’ s day năm đó, tôi gặp ông ở Starbucks down town, tôi thấy ông buồn buồn, thì ra ông ở Mỹ mấy chục năm, mà chưa hưởng được một ngày Father’ s day, ông muốn có cảm giác ấy. 

Sẵn gia đình tôi mở tiệm hoa, nên tôi có vẻ thích cái cảm giác được tặng hoa cho một người đang ao ước có kỷ niệm về  

Father’ s day. 

Sau đó không gặp ông, nhưng mỗi năm vẫn có người tới lấy hoa về cho Mr. Don , 

Năm ngoái không thấy ai tới nhận hoa. 

Năm nay chúng tôi thử đi tìm xem Mr.Don đang thế nào ? Đúng lúc 2 hôm nay bà đã thấy chuyện đó . 

Tôi cười hiu hắt : 

” Quả là ông Đông ấy ở nhà tôi, nhưng ông đã mất 10 năm nay rồi . ” 

Hanna lại hét vừa đủ cho cô và tôi kinh ngạc : 

Trời , hoá ra Mr. Don không còn nữa, thế mà chúng tôi không được biết .

Thì chúng tôi, là tôi đây, không biết chuyện ông Đông tự đặt tiền mua hoa đó cho ông.

Thôi xin lỗi, cho tôi nhận bó hoa này . 

Tôi thấy hình như cô Hanna đó khóc, nước mắt chảy ra . 

Cô lắc đầu, rồi vùng ôm bó hoa phiêu lưu 2 ngày vừa qua, lủi thủi ra xe cô đậu ở sát lề nhà tôi . 

Tôi không biết nói gì hơn, ngày Father’s day cuối cùng năm 2006, ông xã tôi có ăn bữa ” Ngày của cha ” lần …sau chót ở nhà cùng với chúng tôi . 

Thì ra, ông Mr. Don đó là ông D . Cũng tên vần D, nên đã phiên âm cho bà Nancy và cô Hanna là Don cho tiện . 

Ông xã tôi có thói quen ít nói, và rất nhiều tình sử, nên tôi không lạ khi tình cờ được nghe hay được thấy một nghịch cảnh nào, nó có vẻ như chuyện ở ngoài đường, không liên hệ tới mình mới lạ. 

Song, làm sao biết được những gì xẩy ra trong câu chuyện đã kể đâu đó, hoặc vừa đây. 

Điều chỉ biết đối với tôi, từ xưa rồi, không phải mới hôm nay, 

là tôi luôn luôn được đặt trước một hoàn cảnh vô cùng lãng mạn, trữ tình …

Hay có thể nói là những cuộc tình thơ đẹp lạ lùng, có thể anh không chấp nhận sự nhẹ dạ, mơ mộng, nhưng chính anh huyễn hoặc, cũng như Mr. Don, đã từng thấy tôi tiếc nuối nhưng không than van bao giờ . 

Và nhất là, phải có anh cho tôi thổ lộ …tâm tình huyễn ảo của mình. 

Anh mỉm cười lạ lắm, giống như nụ cười của người vô rừng hoang dã, chợt thấy một bông ngải trầm, rất đẹp, rất thơm, nhưng lại sợ hương độc của loài hoa nha phiến nào đó chưa được khám phá …

               CAO MỴ NHÂN 

BÀI SƯU TẦM TRÊN NET

Ba Tôi! Người Đánh Máy Mướn!

Đoàn Xuân Thu

Năm 1961, thằng em thứ sáu, vừa lên 5 của tôi, bị viêm màng não rồi chết. Thân phụ tôi đang làm Trưởng Ty Bưu Điện Rạch Giá buồn bã quá, xin đổi về Sài Gòn làm ở Bưu Điện Trung Tâm gần Vương Cung Thánh Đường dắt cả gia đình chạy trốn một kỷ niệm buồn đau! Nhà thì chính phủ cho một căn, ở lầu hai cư xá Bưu Điện trên đường Hai Bà Trưng, nằm trong con hẻm lớn, đối diện nhà thờ Tân Định.

Rồi năm 63, cuộc đảo chánh 1/11 của các tướng lãnh. Tổng Thống Ngô Đình Diệm và bào đệ là Cố Vấn Ngô Đình Nhu bị giết. Cái chết của Tổng Thống Diệm đã chấm dứt luôn cuộc sống tương đối dể thở của các công chức bậc trung.

Nhà đông con, vật giá ngày một tăng, con cái ngày một lớn, tiền ăn, tiền quần áo, tiền trường đè nặng lên vai Ba. Nên Ba phải làm thêm ‘job’ nữa. Đánh máy mướn!

Vốn xuất thân từ thư ký, sau vừa làm, vừa học, thi đậu cải ngạch thành Cán Sự Bưu Điện, nên Ba đánh máy rất nhanh, chỉ nhìn vào văn bản mà không cần nhìn vào bàn phím chữ. Đánh bằng mười ngón, tốc độ nhanh, nghe như tiếng rào rào đổ trên mái tôn. Mưa!

Cuối đường Phan Đình Phùng, đi về phía Chợ Lớn, rồi quẹo tay phải sang đường Lý Thái Tổ có rất nhiều tiệm Ronéo. Trong tiệm, ngoài giàn máy Ronéo, còn có vài cái máy đánh chữ, bàn ghế ngồi do chủ tiệm cung cấp. Làm ăn chia, tứ lục, 6/4.

Muốn in Ronéo, phải đánh trên giấy ‘stencil’. Đó là loại giấy có tráng sáp để khi đánh, chữ sẽ khắc dấu trên sáp; rồi khi đưa vào máy, mực sẽ tràn ra phủ đầy trên những dấu lõm. Dán stencil vào máy, rồi quay bằng tay hay bằng điện. Bài viết sẽ lần lượt được in ra.

Khách hàng đến là các giáo sư, mướn đánh máy bài giảng ở trường đại học, bán ‘cours’ cho sinh viên. Khách hàng cũng có thể là các nhà văn chuyên viết truyện dài đăng trên báo hằng ngày mà Miền Nam lúc bấy giờ gọi là viết “feuilleton” như Dương Hà, An Khê, Ngọc Linh, Sơn Nam… Họ mang những bản thảo viết tay, thường là khó đọc, đến mướn đánh máy cho rõ ràng để thợ sắp chữ nhà in dễ đọc, dễ sắp chữ trên bản kẽm rồi in ra thành tiểu thuyết. Giá cả có khác nhau tùy theo khách hàng thường xuyên như các giáo sư hay các nhà văn. Ngoài ra cũng có nhận đánh đơn từ các loại.

danh-may-muon-4Mỗi ngày, Ba cỡi chiếc xe đạp đòn dông, đi làm theo giờ hành chánh từ 7 giờ sáng đến 5 giờ chiều. Tan sở lại phải chạy xuống tiệm Toàn Thắng ở cuối đường Phan Đình Phùng để làm cái ‘job’ thứ hai. Khoảng 9, 10 giờ đêm, mệt mỏi, rã rời sau 16 tiếng đồng hồ làm việc, Ba mới theo đường Phan Thanh Giản, chỉ cho chạy một chiều, để quay trở về Hai Bà Trưng, Tân Định.

Má vẫn thường chờ Ba cơm tối; nhưng 8 anh em tôi thì đã đi ngủ mất rồi. Hôm nào được lãnh lương hoặc đánh máy có tiền nhiều, Ba vẫn thường ghé qua xe bán bánh mì Tám Cẩu ở ngã tư Cao Thắng và Phan Thanh Giản, gần rạp hát Đại Đồng, mua vài ổ bánh mì về cho con. Về nhà Ba vô giường, bế từng đứa dậy, đặt ngồi ngoài bàn, rồi bảo: “Ăn đi con!”. Ăn thì khoái thiệt nhưng ‘bù ngủ’ híp con mắt luôn! Em gái tôi cắn miếng bánh mì nhai, chưa kịp nuốt thì gục xuống bàn… ngủ tiếp. Ba lại bế từng đứa, cho vào giường ngủ.

Người ta thường bảo người mẹ như cánh cò. Cánh cò lặn lội bờ sông… Ba tôi không phải là cánh cò, Ba tôi là đại bàng nhưng con đông quá, bám vào đôi cánh của Ba nặng trĩu. Ba không bay cao, bay xa được mà chỉ bay là đà; nhưng vẫn phải rán mà bay để tìm mồi về cho vợ và con trong thời khốn khó! Ba chưa từng bao giờ từ bỏ ước vọng là con mình sẽ được ăn học đàng hoàng, tới nơi tới chốn để cuộc đời không phải vất vả như ba!

Bước ra đời, nếu mình có thành công, có giỏi hơn người khác thường là bị dèm pha, xúc xiểm, ganh tị… nhưng mỗi thành công dù rất nhỏ trên trường đời của con thì Ba lại tự hào, hãnh diện coi thành công đó là rất lớn và là chính của Ba luôn?

Năm 63, tôi thi đậu vào Petrus Ký. Đỡ cho Ba không phải lo tiền trường. Vì nếu rớt, phải đi học tư, tốn lắm! Việt Nam lúc đó đậu vào một trường công lập nổi tiếng như Petrus Trương Vĩnh Ký cho con trai hay Gia Long cho con gái là rất khó. Trường rất có kỷ luật nên học trò trường công không dám ‘cúp cua’ đi chơi nên thường học giỏi hơn học trò trường tư dù giáo sư trường tư lại nổi tiếng dạy hay hơn! Vì dạy hay hơn nên mới được chủ trường tư mời dạy!

Ngày coi kết quả thi vào Petrus Ký, trời đổ trận mưa to. Thầy Trường, dạy luyện thi đệ thất, có danh sách học trò thi đậu, báo tin vui cho Ba. Ba nhường áo mưa cho con, còn mình đội mưa đến. Thầy và Ba bắt tay nhau, hỉ hả cười rạng rỡ, dù nước mưa còn chảy ròng ròng trên má. Tôi thấy thương Ba quá trời! Sao mà khổ dữ vậy? Tôi thấy đậu vô đệ thất, cho dù là của một trường trung học nổi tiếng nhứt miền Nam đi chăng nữa, thì có gì là lớn đâu? Mấy thằng bạn học chung với tôi cũng thi đậu đó thôi!

Rồi khi thi đậu Tú tài một rồi hai, Ba cũng mừng như chính Ba thi đậu vậy! Khi vào đại học, Ba muốn con học Luật Khoa để trở thành Luật Sư chẳng hạn… Có lẽ đường hoạn lộ công danh của Ba đã từng bị áp bức, bị đối xử bất công quá hay chăng mà Ba không muốn con mình phải gánh chịu. Phải biết Luật để cho tụi nó sợ mà không dám áp bức lại mình?

Tôi thì thấy chồng ‘Cours’ là đã ‘ớn’. Lại phải tốn rất nhiều tiền để mua nên không muốn đi học Luật; dù trường đó, con đường Duy Tân đó, thơ mộng và có biết bao nhiêu là con gái, tiểu thơ con nhà giàu chưng diện, ẹo tới, ẹo lui?

Ba nói một, hai lần thì tôi vẫn giả bộ tảng lờ. Nhưng lần thứ ba thì con Ba, cái thằng bất hiếu, cứng đầu cãi lại: “Con là con ếch, con nhái mà Ba muốn con to bằng con bò! Không được đâu!”. Tôi đã nhẫn tâm làm tan nát niềm ước vọng của Ba tôi rồi; mà tôi cứ ‘thản nhiên’ như không? Trời ạ!

Sau nầy vào Đại học Sư phạm ra trường, đi dạy, một hôm Ba nói: “Thôi không làm luật sư; làm giáo sư cũng được!”. Dù tôi chỉ là Giáo Sư Trung học Đệ nhứt cấp ‘quèn’ mà thôi?!

                                                                             ***

danh-may-muon-5Rồi 75 đến, nhà tôi cũng sống lầm than mà cũng không nghe Ba một tiếng thở than? Đi tù cải tạo sáu tháng vì là viên chức ngụy quyền, cấp trưởng ty.

Trong tù, Ba tôi vẫn ăn mặc một cách đàng hoàng, tề chỉnh. Đêm trong trại, Ba xếp quần áo lại, lót dưới gối trên đầu nằm cho thẳng thớm. Sáng ra, mặc áo bỏ vô quần, mang giày như thuở còn đi làm; bị cán bộ phê bình là còn giữ tác phong ‘tiểu tư sản’?

Ra tù, Ba lại trở về Sài Gòn, ra Lý Thái Tổ ngồi đánh máy mướn để nuôi đàn con mà nhiều đứa em tôi vẫn còn thơ dại. Ba vẫn ăn mặc rất đàng hoàng, vẫn áo trắng bỏ vô quần, vẫn mang giày, dù cũ, ra đánh máy mướn, làm đơn cho bà con cô bác Sài Gòn đi thăm nuôi chồng, con đang ở tù cải tạo.

Bà con ở Hố Nai, có thời đi lính Liên Hiệp Pháp, xuống nhờ Ba đánh đơn gởi Tổng Thống François Mitterrand để xin đi định cư. Là người học chương trình Pháp, Ba viết thơ cảm động làm sao đến nỗi ông Chánh Văn Phòng của Tổng Thống hồi đáp ngay, rồi Ba dịch ra tiếng Việt cho bà con nghe là: “Tổng Thống Cộng Hòa Pháp đã nhận được thơ ông và chỉ thị cho bổn chức chuyển hồ sơ qua Bộ Ngoại Giao để làm các bước tiếp theo!”. Sau đó cũng có vài gia đình được đi Pháp định cư.

Có lần ông chủ một cây xăng ở Rạch Giá bị đánh tư sản, bị đuổi đi vùng kinh tế mới, khổ quá, ông trốn về Sài Gòn và gặp lại Ba. Ông vẫn còn gọi Ba là ông Trưởng Ty như ngày cũ?! Ông nói vì không có hộ khẩu nên không làm được thông hành và chiếu khán nhập cảnh Hoa Kỳ; dù con ông đã gởi đơn về bảo lãnh. Ba lại giúp ông làm đơn gởi cho bộ phận xuất nhập cảnh ở đường Nguyễn Trãi, Chợ Lớn và Tòa Đại Sứ Mỹ ở Bangkok, Thailand. Đơn thành công và ông được ra đi!

Trước ngày đi, bùi ngùi từ giã, ông nói: “Tôi đi rồi không biết chừng nào mới có dịp gặp lại ông Trưởng Ty” Rồi rưng rưng nước mắt, bắt tay chào vĩnh biệt!

Raoul Wallenberg (1912 –1947), nhà ngoại giao Thụy Điển, đã cứu hàng chục ngàn người Do Thái ở Hungary thoát khỏi Holocaust, lò hơi ngạt của Phát Xít Hitler trong Thế chiến thứ hai. Ông đã cấp những thông hành bảo vệ (Schutz-Pass) và cho những người Do Thái ẩn náu trong những tòa nhà thuộc tòa đại sứ Thụy Điển ở hải ngoại. Ngày 17.1.1945, Hồng quân Cộng Sản Liên Xô tiến vào Budapest, Hungary bắt ông giam cầm và ông chết ngày 17.7.1947 trong nhà tù Lubyanka ở Moskva. Trái tim vĩ đại của một con người nhân hậu đã mãi mãi thôi không đập nữa!

Dĩ nhiên thân phụ tôi không thể cứu được nhiều nạn nhân như ông Raoul Wallenberg đã từng làm; nhưng chí ít Ba tôi cũng đã giúp được một số người, dù con số đó rất nhỏ nhoi, được có một cuộc đời khả dĩ tốt đẹp như xưa.

Chỉ có một trái tim nhân đạo mới dám, mới làm được như thế! Ba từng nói: “Giúp được ai, dù là chuyện nhỏ, để làm cho họ bớt thống khổ hơn là điều phải làm con ơi!”

                                                                             ***

Năm 81, thằng em thứ 5 của tôi liều chết vượt biên đến được Pulau Bidong, Mã Lai. Về Adelaide, Nam Úc định cư, nó lần lượt lãnh Ba và các anh em qua. Rồi cả gia đình đoàn tụ!

Đêm nay, ngồi trước bàn phím computer, viết bài nầy nhân Father’s Day bên Mỹ, tôi lại nhớ đến cái bàn máy đánh chữ của Ba. Nhớ mười ngón tay xương xẩu, cong vòng của Ba, gõ trên bàn đánh máy mà ngày xưa người ta thường cảnh báo về già sẽ bị đau tim mà chết. Nhưng Ba không sợ! Mười ngón tay đó của Ba đã nuôi anh em con ăn học, đủ để sống sót và làm lại cuộc đời nơi đất lạ quê người. Tụi con xin cảm ơn Ba!

Ba bỏ tụi con đi, năm nay nữa là 20 năm chẵn. Tiếng gõ trên bàn máy chữ vẫn rào rào như tiếng mưa rơi… vẫn còn vang động đâu đây! Nhớ và thương vô cùng cái dáng của Ba còng lưng trên xe đạp trong những ngày ngược gió.

Nhớ bánh mì Tám Cẩu Ba mua; mà đút vào miệng chưa kịp nhai tụi con đã gục đầu xuống bàn… mà ngủ tiếp. Nhớ cái bắt tay của Ba với thầy Trường ngày con đậu vào đệ thất.

Người ta cần tới Father’s Day, Chúa Nhựt, tuần lễ thứ ba của tháng sáu như ở Hoa Kỳ hay Chúa Nhựt, tuần lễ thứ nhứt của tháng chín ở Úc để kỷ niệm ngày từ phụ, để nhớ tới phụ thân! Còn con, con nhớ Ba mỗi ngày, khi còn sống, cho đến lúc nào đó con sẽ được gặp lại Ba!

                                                                                        đoàn xuân thu

                                                                                              melbourne




CHÙM TÌNH THƠ CAO MỴ NHÂN & Bài Viêt “HUYỀN THOẠI 12 – 6” Của Nữ Sĩ.

MẦU DIỄM TUYỆT.    CAO MỴ NHÂN
 
Hỡi em thơ, mầu yêu thương diễm tuyệt
Đã trải vàng trên vạt cỏ mênh mông
Từng cánh lá âm thầm chào giã biệt
Tưởng tượng thôi, ta bước tới vô cùng
 
Em ngại ngùng ngó không gian mầu tím
Khiến ngỡ ngàng tất cả nhớ nhung xa
Thì vẫn thấy đất trời thường giấu giếm
Những cuộc tình tươi thắm nở ngàn hoa
 
Dù thủa trước hay thời sau lỡ dở
Vẫn cùng thơ tâm sự nỗi đau đầy
Dù buồn nản, hay đôi khi hớn hở
Vẫn cùng em thả chữ nghĩa trên tay
 
Vàng thu ơi, mây cũng vàng như áo
Một lúc nào nín lặng chuỗi ngôn từ
Bước chân em thoáng rộn ràng tiếng sáo
Đang rơi vào quá khứ của mộng mơ…

CAO MỴ NHÂN (HNPD)

ANH TRỐN EM.    CAO MỴ NHÂN

Kính bái Người vừa mệnh chung. 

Anh trốn em mười năm tuổi mộng

Thôi đành rồi, cát bụi phù du

Tưởng lần nào gác bỏ thiên thu

Song lại thấy thơ là suối lệ

Anh trốn em mười năm tuổi lẻ

Giả vờ nhìn tháng lặng, ngày câm

Thực tình thì ân nghĩa phù vân

Nên chẳng muốn thiết tha thổ lộ

Anh trốn em mười năm hội ngộ

Mười năm chờ thập kỷ còn xa

Nụ tình buồn, chẳng thể tươi hoa

Thôi đấy nhé, không phiền khổ luỵ

Anh trốn em sầu chung, xót thuỷ

Không cần đâu kiếp tới phân bua

Anh đi nhé chín mươi xuân quý 

Đời trả cho tình thiệt, tuổi thua …

Hoa Thôn  22 – 5 – 2022.

        CAO MỴ NHÂN 

CHIM NGƯNG TIẾNG HÓT.    CAO MỴ NHÂN 

Chưa hết mùa xuân 

Sao trên đỉnh núi 

Có con chim nằm

Hót lời bối rối

*

Hạc không bay cao

Thân chim xà thấp 

Hoa cỏ xôn xao

Mùa xuân biến mất

*

Nắng giữa trời trưa 

Núi xanh mộng biếc

Nước mắt như mưa

Rơi hoài thảm thiết

*

Anh nói với em 

Chim ngưng tiếng hót

Anh cũng như chim

Hồn đau giá buốt…

     CAO MỴ NHÂN 

 NGHE CHIM KHUYÊN HÓT.     CAO MỴ NHÂN 

Anh giữ tiếng cho em

Giọng chim khuyên buồn tủi 

Nghe mê đắm lời tim 

Những giọt buồn thống hối 

*

Dẫu rằng anh không nói 

Mặt trời khóc trong mơ

Cả tuần em trông đợi 

Anh tới để làm thơ 

*

Làm thơ có gì vui 

Anh thương em ngậm ngùi 

Tình ơi, sao khắc nghiệt 

Si dại mãi không thôi

*

Chim vẫn hót chơi vơi

Trong bao la diễm tuyệt

Anh là cả bầu trời

Em tôn sùng quí mến … 

*

Đã xa rời khổ luỵ 

Dù nhịp tim vơi đầy 

Khi nghe vành khuyên hót

Em tỉnh giấc tình say…

    CAO MỴ NHÂN  

HUYỀN THOẠI  12-6.    CAO MỴ NHÂN 

     Có thể nói không bài thơ hay nào, không của một thi sĩ giỏi. 

Và, không thi sĩ giỏi nào không có một huyền thoại đẹp .

Thí dụ sáng giá nhất là huyền thoại ” Tố của Hoàng ơi ” của thi sĩ lãng mạn Vũ Hoàng Chương, nhà thơ tình cảm bão lũ mưa cuồng, thoạt nghe thì khó chịu như bị ” nội thương ngoại cảm “, nhưng đọc lâu rồi, có vẻ khách thơ cũng lặng yên, thở dài thương cho một mối tình tưởng thấp thoáng,  hoá trầm kha,  nan y chi lạ. 

Giai thoại thơ ” Tố của Hoàng ơi” có 2 bài chính:

1/ Mười Hai Tháng Sáu 

2/ Tố Của Hoàng Ơi. 

      Tìm một ý có vẻ giới thiệu cuộc tình thơ của thi sĩ Vũ Hoàng Chương, cứ như là giận lắm mối duyên gãy đổ của mình, nhà thơ viết : 

Năm mười hai tháng, ai không biết

Đã tháng nào không tháng sáu chưa? 

Đây là 2 câu trong một đoạn thơ ở bài sau, ” , Tố của Hoàng ơi ” tác giả viết năm 1972, và còn khẳng định thời gian đã trên 30 năm không có Tố, tức là khởi sự Tố với Hoàng kết thân khoảng từ 1950 đến 1952.

Bây giờ đi vào chi tiết . 

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương ( 5/5/1916 – 6/9/1976), cụ vừa xong hoa giáp thì ra đi vào cõi mịt mù, sau cũng cả năm trời bị CSVN nhốt trong khám Chí Hoà, vì là một nhà thơ trí thức tiểu tư sản, lẽ nào bạo quyền duy vật để cụ yên. 

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương cùng với Thi sĩ Đinh Hùng, 

( 1920- 1967 )  em cụ bà Vũ , là 2 nhà thơ lãng mạn nổi tiếng một lượt với  các thi sĩ tiền chiến Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, nhưng nhị vị thi sĩ đương nêu không theo cộng sản , hai thi sĩ đã đi cư vào nam năm 1954. 

Vô nam, thi sĩ Đinh Hùng thành lập ban Tao Đàn, tiếng nói thơ văn miền Tự do cùng với quý ông Thanh Nam, Văn Quang, Thái Thuỷ …

Thi si Vũ Hoàng Chương thì đi dạy học ở Saigon. 

Song có điều lạ, là các thi sĩ lớn ở đâu cũng vậy, người ta tức là đông đảo độc giả, thính giả thường ưa nghe huyền thoại của nhà thơ, hơn theo dõi hành trình thơ đã tiến tới đâu. 

Có khi những đoạn đời sau, cũng có những riêng tư đáng ngợi ca, nhưng độc giả vẫn cứ quen thuộc huyền thoại, đến không quên một chi tiết nhỏ. 

Thí dụ: khi nhắc tới thi sĩ Cung Trầm Tưởng, là lập tức khách thơ nói ngay : ” Lên xe tiễn em đi, chưa bao giờ buồn thế…” Nhắc tới thi sĩ Đinh Hùng, thì cứ ” đánh thức hồn mà dậy … ” 

Và ngay với cụ Vũ Hoàng Chương  còn: ” Chúng ta mất hết, chỉ còn nhau ” cũng khuôn vàng thước ngọc, mà xem ra thua kém ” Tố của Hoàng ơi” hẳn . 

Do đó huyền thoại này là bất biến với nhà thơ, “Tố của Hoàng ơi” , cứ lừng lững năm này qua năm khác đi vào những khúc quanh thơ ca Vũ Hoàng Chương . 

A / Mười Hai Tháng Sáu : 

Mở màn cho thiên hạ thấy tình sử, với 4 khổ thơ đầu, khổ nào cũng có ” Tố Của Hoàng Ơi” theo thứ tự:

1/ Tố của Hoàng ơi, hỡi nhớ thương…

2/Tố của Hoàng ơi, Tố của Anh…

3/Tố của Hoàng xưa, Tố của tôi…

4/ Tố của Hoàng nay, Tố của ai …

Tiếp tới 4 đoạn sau của bài thơ 8 khổ ấy, là chỉ toàn Hò,Xừ, Xang , Xế…với danh tính Kiều Thu . 

Vậy Kiều Thu là nhân vật nào nữa đây ? 

Xin thưa Kiều Thu lẫn lộn trong Hò, Xừ, Xang, Xế mà thôi : 

” Kiều Thu hề Tố em ơi ”  có nghĩa Kiều Thu chính là Tồ vậy . 

Kiều Thu hề  Tố em ơi

Ta đang lửa đốt tơi bời mái Tây

Hàm ca nhịp gõ khói bay

Hò , Xừ , Xang, Xế , bàn tay điên cuồng ..

          ( Vũ Hoàng Chương ) 

Nếu huyền thoại chỉ bấy nhiêu, thì thật quả câu chuyện chỉ là 

Trách móc, rồi dùng Hò, Xừ , Xang,Xế …xênh phách cho quên đời . 

Nhưng có một đoạn thơ như bật cái điều bí mật ra, thi sĩ Vũ Hoàng Chương nói thẳng cho những ai muốn biết:

” Huyền thoại Tố Của Hoàng ơi, chỉ là một cuộc tình cuồng, tình si, không hơn không kém, không vì một lý do to lớn nào, hay một chuyện tình lồng trong một sứ mệnh gì của Sơn Hà Xã Tắc chẳng hạn, chỉ là tình buồn, mãi mãi tình buồn …” 

Men khói đêm nay sầu dựng mộ

Bia đề tháng sáu, ghi mười hai

Tình ta ta tiếc, cuồng ta khóc

Tố của Hoàng nay Tố của ai  ?

          ( Vũ Hoàng Chương) 

B/ Tố Của Hoàng Ơi: 

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương với hơn 30 năm , nỗi oan hờn, ẩn  ức không thể một mình ấp ủ được mãi . 

Không lý chuyện riêng tình cảm mà bắt vợ con gia đình chia xẻ, nỗi đau trở thành mối thù ma quái, vì sự thực, Tố đó không chết, vẫn sống trong dằn vặt, oan khiên, cay đắng của nhà thơ lớn mà cứ phải lụy tình một người …

Nên tới năm 1972, đúng ngày 12 tháng 6 , cụ làm một bài thơ 7 khổ tứ tuyệt, lấy hẳn tựa đề : ” Tố Của Hoàng Ơi ” . 

Bài thơ này gần như bạch hoá mối tình cuồng si, mê loạn trong hơn 30 năm. 

Có thể trên cương vị một người làm thơ, dù mê đắm tới đâu, tôi nghĩ thời gian dài dằng dặc đó, hơn 30 năm với bao tang thương, tình cảm cũng đứng lại, dẫu Tố của Hoàng đẹp tới thế nào, cũng không là Tiên, là Phật trong tranh, để trẻ mãi không già. 

Bằng chứng là : Một dịp hội thơ đầu thập niên 80 thế kỷ trước, tại Uyển Đình, tư thất của nữ sĩ Uyển Hương. 

Cũng vào một ngày tháng 6 năm 1982 , vì tình cờ tôi lại ngồi cạnh nữ sĩ Đinh Thị Thục Oanh, là phu nhân của Thi sĩ đã quá cố Vũ Hoàng Chương, đồng thời là hiền tỷ Thi sĩ quá cố Đinh Hùng, nhị vị thi sĩ lớn quá, dễ gây ấn tượng .

Bất giác tôi ngó nữ sĩ Thục Oanh, mỉm cười : ” Tố của Hoàng ơi” đâu rồi chị ? 

Nữ sĩ Đinh Thị Thục Oanh cũng ” hài ” không kém, bà bèn đổi giọng nói kiểu …thơ: 

” Tố của Hoàng xưa, Tố đã già…” rồi . 

Mừng quá, tự dưng biết tin Tố của huyền thoại cụ Vũ, tôi ỡm ờ: ” Biết rồi, nhưng Tố ở đâu xa ? ” 

Tất nhiên, nữ sĩ Đinh Thị Thục Oanh cũng đẩy xa câu chuyện vào huyền thoại, cho đẹp mãi tình phu, nghĩa phụ cụ Vũ cùng Đinh nữ sĩ trong văn chương, ngoài cuộc sống bình thường vậy. 

Hoá cho nên, yêu đây là yêu cái dĩ vãng thôi, phải xoá trắng cái dĩ vãng, mới gọi là không còn dính líu tới nhau: 

Tháng có 30 ngày để giết

Ngày 12 vẫn sống như xưa

Hay:   

Còn đó 12, còn tháng 6

30 năm lẻ vẫn chưa vừa .. .

Đã đến lúc tình yêu thương, trở nên nghiệt ngã, hằn học, cực đoan …Thi sĩ Vũ Hoàng Chương trở thành độc đoán, dằn vặt giai nhân Tố :

Ngày mai, ngày mốt, anh nằm xuống

Ngọc đọng cơn sầu nửa kiếp thơ

Đập nát ra cho trời đất uống 

Thì em sẽ rụng khỏi đêm mờ …

          ( Vũ Hoàng Chương ) 

Đoạn trên , mới chỉ  khai vị, chưa uống được cái cơn say …tàn nhẫn hơn nữa, bởi vì bị khựng lại do trong tâm khảm người bị thất tình vẫn còn lại chút gì để tiếc nhớ. 

Tới giai đoạn những gì quý giá, ân tình nhất đã bị gạt đi, chỉ còn lại 2 sự kiện để chọn lựa là: hy sinh hay thù hận, mới quên được người tình hay cuộc tinh. 

Thi vương Vũ Hoang Chương, có lẽ vì mất mát tình cảm nhiều quá, nên thi sĩ không thể cho thêm, hay mất thêm: 

Mười hai tháng sáu,  cung Hồ, Xế

Một mối tình si, một mối thù

Giây phút cũng tan thành suối lệ

Trả cho cát bụi nhé Kiều Thu.

          ( Vũ Hoàng Chương ) 

Nghĩa là độc giả, thính giả tưởng rằng mối tình si, đã biến thành mối tình thù không sao gỡ đươc. 

Nhưng , như tôi đã trình bầy ở trên, sau 30 năm, nhà thơ vẫn có thể viết tiếp những vần điệu cũ để tô điểm thêm cho huyền thoại, tưởng như  thất thoát, mà cũng được 

đền bù: Huyền thoại ” Tố của Hoàng ơi ” , âm hưởng phảng phất những chuyện tình buồn trong cổ tích, ngoài dân gian ở

 bất cứ nơi đâu và thời gian nào …

               CAO MỴ NHÂN 




CHÙM THƠ & VĂN: CAO MỴ NHÂN 

LỜI KHUYA.    CAO MỴ NHÂN 

*

Phải khuya mới rõ lòng người

Hạ tuần mới rõ trăng cười mê hoang

Sương mờ phá sóng không gian

Con tàu định mệnh chở hoàng hôn xa

Phải khuya mới nhớ mái nhà

Bập bềnh trên bến phù sa mịt mù

Bên này sông nước thiên thu

Bên kia còn lại lời ru não nề

Phải khuya mới thấy ê chề

Kiếp lưu vong chán lối về dửng dưng

Làm sao cản bước trăng dừng

Hạ tuần diễu cợt mây đừng che xuân

Phải khuya trăng mới bâng khuâng

Thương ai đếm suốt trăm năm chung tình

Anh chờ tan lễ Phục Sinh

Đưa em qua khỏi hành trình thương đau…

      CAO MỴ NHÂN 

***

NGỦ GIẤC NGÀY.    CAO MỴ NHÂN 

*

Tôi đang muốn ngủ giấc ngày

Để quên tất cả nơi này, chốn kia

Để quên tình tự phân chia

Để không thấy cảnh biệt lìa xót xa

Sáng trời, không thấy người ta

Tiếng chim đơn độc vô ra tổ chờ

Không nhìn hoa bướm mộng mơ

Không cầm bút viết bài thơ cuối cùng

Hoang liêu trải rộng mịt mùng

Mầu xanh thiên lý, sắc hồng lửa hương

Đã như phai nhạt nửa đường

Cô đơn, mỏi mệt gọi thương nhớ về

Đêm qua mộng mị lê thê

Tôi thôi kéo nỗi đam mê về gần

Đất trời tiễn biệt mùa xuân 

Đưa tay tôi xoá trăm năm cuộc tình …

        CAO MỴ NHÂN

LỜI XÂM.    CAO MỴ NHÂN 

*

Một mình ngồi buồn xin xâm

Quẻ ra sấp ngửa, nỗi thầm lặng rơi

Đoán trong tâm tưởng, bao lời 

Cầu xin anh ở bên trời luôn vui

Hình như có chút ngậm ngùi 

Cho riêng mình thiếu vắng hồi bơ vơ

Xâm không hối hả đợi chờ 

Đồng xu sấp ngửa lững lờ được, thua

Từ lâu quên đến cửa chùa

Lắng nghe chuông mõ gỡ bùa tỉnh, mê

Bốn phương mù mịt nẻo về

Chân mây nào cũng lê thê muộn phiền 

Tình sầu tình lại cuồng điên

Làm sao biết được thủa tiền định kia

Mộ tình thơ vẽ trên bia

Hương tan, lửa tắt, cách chia kiếp này …

        CAO MỴ NHÂN 

***

VẮNG BÓNG.    CAO MỴ NHÂN

Trên nhiều tầng cao vút

Mây trắng xây lâu đài

Thắp tình nơi chót vót

Không thấy một bóng ai

Bay lên đôi cánh vàng

Chốn đó là thiên thai

Hay là mây hoang đàng

Không có một bóng ai

Thì đừng đăng cao nữa

Trên nhiều tầng mây bay

Lâu đài tình trống rỗng

Không gặp một bóng ai

Trở về nghìn trùng xa

Anh hay mái ấm nhà

Ô, chỉ là vạt khói

Thế gian còn đợi ta

Không thấy một bóng ai

Còn ai đâu tìm bóng

Cho hình ảnh thiên thai

Bạc trời mây nổi sóng … 

    CAO MỴ NHÂN

SUỐT THÁNG NĂM.   CAO MỴ NHÂN 

*

Trái đất không ngừng quay

Mây trời không ngừng bay

Nhưng tình yêu dừng lại 

Trong cõi nhớ thương này

Anh nói đang mùa xuân

Thì đừng vội bâng khuâng

Anh luôn luôn ở cạnh

Bên em suốt tháng năm

Vậy thời gian ngưng trôi 

Hoa nở khắp nơi nơi

Sao anh chưa thầm gọi 

Tên em, một lần thôi

Chao ôi, anh tịnh ngôn

Mây cứ bay chập chờn 

Trái đất chờ tan vỡ

Em giữ mãi nụ hôn …

   CAO MỴ NHÂN 

ĐOM ĐÓM DƯỚI TRĂNG.    CAO MỴ NHÂN 

*

Sân trăng một lúc si cuồng

Theo con đom đóm tìm nguồn nguyệt tan

Không gian chuyển tiết hoang tàn

Những con đom đóm gọi đàn quỷ ma

*

Nửa khuya, trăng bỗng nghiêng tà

Nguyệt mang lửa ngọn hằng nga về trần

Hằng nga ngần ngại gian truân

Sợ con đom đóm tới gần đắm mê

*

Cung thương giọt thả lê thê

Lưu Thần, Nguyễn Triệu tái tê đêm dài

Giật mình hồn đã Liêu Trai

Mái xưa tình tự đơn sai hẹn hò

*

Con đom đóm lạnh co ro

Nửa vầng nguyệt lãng đắn đo lượn vòng

Từ đi ngày tháng lưu vong

Đêm nay nguyệt thực đừng trông lửa vàng …

*

      CAO MỴ NHÂN 

CHIẾC BÓNG MỜ.   CAO MỴ NHÂN 

*

Bỗng một ngày không thấy 

Người quen đi ngang nhà

Nơi sân vườn nắng xấy

Khô cả vạt sương hoa

*

Chắc mùa xuân ấm áp

Người quen bỏ về xa

Nửa vòng tròn trái đất 

Che kín cuộc tình ta

*

Người về xa tít tắp 

Đôi bàn tay mở ra

Hứng từng giọt nươc mắt

 Đêm không ngủ bơ vơ

*

Ta xếp mau hồn mộng

Xuống đáy lòng hoang sơ

Thời gian như chiếc bóng 

Còn lại trong hồn thơ …

*

    CAO MỴ NHÂN 

 VÃNG LAI.   CAO MỴ NHÂN 

*

Sáng chủ nhật

Vô nghĩa trang ” Đồi Hồng ” 

Để đọc lại tấm bia lạ lùng :

” Nơi an nghỉ của một người 

   chết trong tuyệt vọng …”

*

Tấm bia dựng từ cách đây 60 năm 

Tên người bạc phận bị mờ phai

Vì sóng gió hay vì ai đục mất

Chắc vì hồn thiêng lẩn khuất

Khiến người bị chết lần thứ hai…

*

Khách đứng trầm ngâm nhìn dòng chữ

Như có câu thơ viết trong nỗi nhớ 

” Nơi đây sương ủ hình hài 

Em đi về nẻo Thiên Thai xa mờ

Trọn đời sống với mộng mơ …” 

*

Trước mặt, sau lưng, chung quanh mộ thơ 

Nụ hồng nhỏ xíu

Hoa hồng nở to

” Em đi vào cõi hư vô

60 năm có một giờ vãng lai…” 

*

          CAO MỴ NHÂN 

BÊN THỀM ĐỜI .    CAO MỴ NHÂN.

*

Anh ta bây giờ đã ngoài bảy chục tuổi, nên tôi phải gọi ảnh bằng ” ông ” cho có vẻ trân trọng và nhất là …đứng đắn . 

Ố ô, rứa chẳng lẽ kêu ” anh” là không …đứng đắn hay sao ? 

Số là anh ta, ý quên ổng ta sắp tới ngày sinh nhật đó nờ , 19/6 dương lịch, một ngày kỷ niệm trọng đại, mà cả đại tộc KaKi chúng tôi, đều nhớ, bởi tính chất …lịch sử của sự kiện , Ngày Quân Lực VNCH trời ạ . 

19/6 Ngày Quân Lực VNCH hình như mỗi lúc mỗi phôi pha đi hay sao ấy, ông ta đã cười nụ một mình tự nhủ : 

” Điều gì rồi cũng lạt phai, làm sao tươi thắm mãi được …”

Ông xuất thân từ quân trường danh tiếng X Khoá K, tôi gọi thế, đầy phẩm cách dũng cảm mà vẫn trẻ trung . 

Ôi chao, có Khoá học nào, sinh viên sĩ quan Võ Bị nào không hội đủ 2 yếu tố ấy : anh hùng mã thượng, mà vẫn hào hoa phong nhã chứ . 

Thôi đi, ” bà ” mê lính quá, lúc nào cũng thần tượng những chàng trai anh dũng, xuân tình . 

Ông nhìn vọng ra xa, thật xa … cả một quá khứ hiện về . 

Tôi bấm chuông ở cửa nhà ông lâu quá, đã bắt đầu đổ giận . 

Ông làm cái gì trỏng mà không ra mở cửa chớ  ? 

Đã hẹn từ tuần trước, lại mới điện thoại hôm qua, cả hai thời hẹn, ông đều khẳng định rằng : 

” Chừ tui không đi mô hết, ở nhà chờ cô thôi .” 

Tôi cười hỏi đùa : ” Cô nào ? Chả lẽ tôi à ? Tôi bây chừ 

Lão bà bà, chứ cô cái nỗi gì nữa  ? ” 

Thì với tôi, ông nói, cô lúc nào cũng là ” cô “, đơn giản, tôi đang sống lại kiếp trước của mình mà . Sao, có gì lạ muốn nói với tôi ? 

Cũng có, tôi chậm rãi trả lời : ” Mấy ông xưa nhờ tôi mời ông bà đi ăn ” cơm tù ” một bữa đấy ” . 

Cơm tù?  Sao lại cơm tù chớ, ai lo chuyện này vậy, “mục đích yêu cầu ” dở hơi vậy ? 

Chúng ta đang tự do như bướm, lại nhớ tù với tội là cái quái gì, chưa chắc tôi nhận lời ạ . 

Thì tuỳ ông thôi, chúng tôi muốn thông báo cho ông hay, chớ chẳng vì sao, chẳng tại răng cả . 

Ông gật gù : ” Để coi hôm đó tôi có trở ngại gì không đã, cô cứ nói với quý vị ấy là tôi nhận lời trên nguyên tắc hạ hồi phân giải nha ” . 

Sao cũng được, miễn ông đi thôi .

Chuyện ” chung ” đã xong, giờ tới chuyện ” riêng ” . 

Là không phải chuyện riêng tư tình cảm gì đâu, mà là chuyện không dính dáng tới ” bữa cơm tù ” vừa nêu.

À ra thế . 

Chúng tôi vừa đi dự một cái ” lễ vàng “, ông nói . 

Tôi mắc lo ra trả lời ừ hữ , không mấy hứng cảm.

Ông đó cũng khoá K với tôi. Cha đám cưới năm 1969  biết không, ở Huế đó . 

Tôi vẫn chưa bắt nhịp được cái bản nhạc tình ông đang bắt đầu chờ dạo . 

Ông nhìn tôi : ” Răng cô không hứng thú nghe tui kể chuyện vậy ? ” 

Rồi, ” lễ vàng ” làm sao ? 

Tôi thấy ” tình trường lão ta chẳng có gì đặc biệt, mà vàng với bạc làm chi cho mệt chứ …” 

Nhưng nhà ông đó có mệt không về việc làm ” lễ vàng “, chứ chỉ nghe ông mệt thôi. 

À , tôi nhìn thấy cái mệt trong chuyện ” lễ vàng ” của họ . 

Họ đang sung sướng về việc làm đó, kỷ niệm 50 năm đám cưới, còn ông ở ngoài mà than là sao nhỉ ? 

Ông cười xoà : ” Thì ở không nên lắm chuyện ấy mà . ” 

Nghe tôi nói nè, cuộc đời thật là phức tạp quá chứ . 

Như thế nào ? 

Lão cùng đi tù với tôi về. Vợ lão chắc trẻ quá, thêm chút hoàn cảnh gia đình, tự ý không đợi chờ …

Thôi tôi không muốn nghe đâu, mai mốt gặp lại ở ” Bữa cơm tù ” nhé, tôi xin phép về . 

Nhưng cô phải nghe đoạn này : Biết vậy, lão cũng trả thù đời, là tự ý lấy vợ hai, ngay sau ngày ” ra trại “.

Thì có gì đâu, đó là nguyên tắc tương đối thôi. 

Nhưng khi đi HO qua đây, lão lại mang cái bà đầu có giấy tờ hợp lệ đi, bởi vì cái bà sau không chịu đi . 

Thì là lẽ tương đối tiếp theo. 

Rồi lão lại ly dị bà vợ đầu này,  vì không quên giai đoạn hậu tù cải tạo của lão . 

Và cũng để có dịp biểu lộ với phòng nhì, là lão vẫn dành cho bà hai này những yếu tố khách quan rằng đã lấy chồng thì cũng có dịp ” võng anh đi trước, võng nàng theo sau ” . 

Chao ôi, tôi phụ hoạ: lại cũng là luật chơi tương đối, chẳng ai bị thiệt ở đời vậy . 

Biết rồi, song le, cuộc đời vẫn có những phút giây cuối cùng như một bản cáo trạng của trời đất, dành cho loài người mà Chúa đã tạo ra . 

Bà vợ sau của lão được hưởng hết cái hạnh phúc bất ngờ khi một người tù phá sản tình cảm vốn có sẵn tràn trề, kèm sự tức bực cho là bị phản bội, đồng thời lão vẫn thèm khát thứ hạnh phúc nguyên vẹn, lão đã dành tất cả mọi ưu ái cho đệ nhị phu nhân ấy. 

Nhưng chỉ 10 năm sau, lão đã lên đường quy Mã . 

Tới khi bà vợ sau của lão được lão lo cho đủ điều kiện ra đi đoàn tụ với lão, cũng là lúc bịnh trầm kha của bà ta, tiễn bà ta vĩnh viễn rời bỏ cuộc đời vốn hư huyễn này.

Tôi bâng khuâng: ” Chẳng lẽ cũng lại là điều tương đối nữa sao ? ” 

Lão trở về trạng thái ban đầu, nhưng không rõ nét hạnh phúc . 

Đó là đang ở chung một thành phố với bà vợ trước đã ly dị, trên thiên đường nơi hạ giới này . Nhưng vẫn mơ màng nhớ bà vợ sau đã yên thân nơi huyệt mộ bên cố xứ quê xa… 

Tôi bắt đầu nghe ù cả tai, nhưng, chưa muốn về , vì muồn biết hồi kết của câu chuyện ” Lễ vàng ” . 

Ông cười khẩy : ” Có phải cô muốn biết đoạn kết của cái lễ vàng đó không ? “

Thế này, bà vợ đầu ức lòng vì bị ly dị sau khi chỉ có 5 năm sống với lão, trước thời lão đi tù cải tạo đó . 

Lão có yêu thương gì vợ trước cũng không bằng lão đi ban phát tình yêu cho bà vợ sau . 

Nên bây giờ bà vợ trước đó, buộc lão trở về hoàn cảnh đầu tiên, tức là hồi 2 ông bà mới thành hôn, dù khi cả hai bà ta và lão đã lấm lem cuộc đời thời gian lão chia đôi cho mỗi người vợ một nửa số con bằng nhau. 

Bằng một cái ” lễ vàng ” là chỉ có hình thức để có vẻ yêu đời hết xẩy, không có gì quan trọng , nếu xét qua các tiết mục, thì chẳng có mục nào thể hiện đúng cái ý nghĩa của nó cả . 

Vâng, cám ơn ông, tôi cũng như ông, nghe chuyện tà la đã mệt rồi . 

Ưng thay là người trong cuộc, thì buồn chán tới đâu ấy chứ . 

Có lẽ cuộc đời ” nó ” vậy . 

Thôi , tôi xin phép về nha. Cám ơn ông đã cho nghe chuyện đầy mầu sắc tương đối vừa qua. 

                CAO MỴ NHÂN 

                    ( CHỐN BỤI HỒNG )

MỘT NGÀY HÈ.    CAO MỴ NHÂN 

Quý vị tu sĩ mang tất cả tấm chân tình trải trước lòng dạ người dân lành …vô tội . Tôi cứ nghĩ mãi khi đặt bút viết câu này, mở đầu bài ” luận văn ” tự nguyện, gởi đến một bậc chân tu . 

Nhưng khi bậc chân tu ấy hỏi rằng có biết gì về tấm chân tình của quý ngài, thì thật quả tôi bị lúng túng trong giải thích …rất đạo, là sự dâng hiến cả đời ngài cho Đấng tối cao, rao truyền chân lý sống ở đời để làm gì, theo ý Chúa.

Đó là những năm hậu tù cải tạo, tôi đã về lại thành phố Saigon, khoảng đầu thập niên 80 thế kỷ trước . 

Người nhà kể rằng: gia đình chú tài xế của tôi xưa, hiện lập nghiệp ở đồng rẫy Trảng Bom, đã đến nhà chị tôi nhắn: nếu tôi đi tù về, chưa có việc làm, thì hãy lên chợ Trảng Bom kiếm nhà chú ấy . 

Tôi không biết chú tài xế gốc hạ sĩ nhất QL. VNCH cùng gia đình đang sinh sống thế nào sau cuộc đổi đời 1975, vì trước đó, chú lái xe cho Phòng Xã Hội của tôi ở Bộ Tư Lệnh QĐI/QKI ngoài Đà Nẵng . 

Xem ra hoạt cảnh cũng nhuốm vẻ khôi hài, chẳng lẽ chú ta là VC nằm vùng, giờ lộ mặt phất lên, có cơ ngơi chính trị, muốn giúp lại tôi chăng ? 

Hay trời cho, chú trúng số độc đắc, đã có điền sản sau 5 năm rời giáo xứ Thanh Bồ Đà Nẵng, đã ổn định cuộc sống …mới  ? 

Bấy giờ nhà văn Thế Phong đang làm ” nhân viên chấp pháp” cho hãng xe bus, kiêm ” lơ xe ” bus tuyến đường Saigon Thủ Đức .

 Ông ta đã bốn mươi mấy tuổi, nhưng rất khoẻ mạnh, lạc quan, tháo vát một cách lao động chuyên chính luôn, ông đề nghị tôi nên đi coi ” sự nghiệp ” sau 30-4-1975 của người  tài xế như thế nào . 

Chúng tôi đi xe lam từ sớm. Thế Phong trong phong cách ” lơ xe ” chuyên nghiệp, ngồi nghênh ngang chặn cửa xe, cứ nói một mình những điều gì đó một cách ” coi trời bằng vung “, vì sự thực ông ấy có sợ ai bao giờ đâu.

Điều đó khiến tôi yên tâm sau cái nhãn ” sĩ quan cải tạo ” về, hồn nhiên đón nhận những luồng gió mát mẻ của một buổi sớm mùa hè ở miền Nam . 

Rồi 40  cây số cũng trôi qua, chợ Trảng Bom hiện ra trước mắt, với những mái tranh nghèo đúng nghĩa, nhưng hàng quán lại  đông đảo . 

Trong khi ăn sáng bằng tô phở, quanh cái xe phở, mà chỉ những ai đã từng thưởng thức món phở đặc trưng Bắc kỳ cũ,  mới thấy nó …phở như thế nào .

Chúng tôi nhanh chóng hỏi thăm nhà chú tài xế tên Nguyễn Trọng Bảo, mới nhập cư mấy năm, thì có một người gật đầu, nói sẽ dẫn đường đến tận nhà chú Bảo ngay . 

Nếu trước 1975, chúng tôi, Phòng xã hội QĐI/QKI đã từng mỗi năm một dịp tới nhà chú, ở Khu công giáo Thanh Bồ dự tiệc Nửa Đêm sau khi mừng Chúa Cứu Thế đến, dư dả thế nào, thì nay nhà chú vẫn giữ nguyên mầu sắc cũ . 

Trong lúc cách đó mới mấy năm, chính tôi đưa vợ con chú di tản từ Đà Nẵng vô Saigon, chú ở lại với cái xác nhà và y nguyên đồ đạc cùng bầy heo cả chục con, bầy gà vịt cả trăm con …vv, kể như đã bỏ hết.

Sao nay đầy đủ, dư thừa thế  ? 

Tấm ảnh ” Bữa tiệc cuối cùng ” với cả bức tượng hình Chúa Jesus gắn trên vách lớn căn nhà, cụ bà mẹ chú, chú và toàn bộ gia đình, không thiếu một ai …quây quần nơi xóm đạo mới . 

Cả nhà vui vẻ ra gọi là ” chào đón ” chúng tôi, cầu xin cho cá nhân tôi và gia đình sớm được bình an trong ơn Chúa . 

Bữa ăn trưa với đầy đủ gà vịt nấu như ăn cỗ, đặc biệt là không phải một liễn nhỏ, mà một thúng rượu nếp làm theo kiểu Bắc kỳ xưa, gạo nếp sụng  tức say, thơm ngát, được bới ra mỗi người một chén để tráng miệng, mới …giang hồ khí cốt chứ . 

Qua cỗ bàn rồi, giờ đi vào thực tế, cựu hạ sĩ I  Bảo ngập ngừng nói là, nếu gia đình tôi không quản ngại …lầm than một chút, thì xin mời chị cùng các cháu tạm nhờ Cha, nhận một khoảnh đất trong vùng, rồi canh tác, chăn nuôi, không lâu, sẽ có một cơ ngơi tương đối, bằng hoặc có khi hơn nhà chú ấy nữa. 

Thoáng thấy nhà văn Thế Phong mỉm cười vẻ hơi châm biếm, có lẽ ông nghĩ tới sự đổi thay 180 độ đối với tôi, đã mất hết nhà cửa, tiền tài, địa vị, giờ còn chút thể diện nhân thân cũng lu mờ …

Nhưng tôi vốn từng trải công tác xã hội quá rồi, chạnh nghĩ mình cũng có là quái gì mà chê bai hoàn cảnh trước mặt, nên tôi vui vẻ trả lời : 

” Mới ra khỏi trại cải tạo thôi , hãy để nghỉ ngơi một chút, mai  mốt nếu cần, sẽ lên nhờ chú dẫn đi gặp Cha . 

Trên đường về, chúng tôi tự động đi gặp Cha ở nhà thờ X. Trảng Bom . 

Cha hân hoan ghi nhận điều thăm hỏi, và đồng thời khuyến khích tôi nên xây dựng Đức tin vững vàng, để cùng con cái được hưởng ân sủng Thiên Chúa ban cho . 

Cha nói nội khu rẫy Trảng Bom có tới 3 nhà thờ vì mỗi khu làng tân lập đông đúc dân chúa, chưa có Cha khác về thêm, nên Cha phải đi làm Lễ cho cả 3 nhà thờ, thay phiên giờ, bằng xe đạp …mỗi sáng Chúa Nhật . 

Trong câu chuyện,có một điều tôi nhớ nhất,  

là khi tôi hỏi thăm Cha : 

“Thưa Cha, có thoải mái trong sinh hoạt mới không ? Chế độ rao giảng không như ngày xưa”. 

Cha ngẫm nghĩ:” Chế độ rao giảng sao lại thay đổi, tất cả mọi chuyện đều là phương tiện thôi, cứu cánh ấy là Chúa Trời  mà”.

Nên, đôi khi tôn giáo phải bao trùm tất cả, chính trị chỉ là một phần …nghiệp tu, những bậc chân tu không cần phải đề phòng, mà vâng lời Chúa trong mọi hoàn cảnh …

Tôi ngập ngừng : Thưa Cha , kể cả …

Cha cười hồn nhiên , nhưng quả cảm …kể cả sự chết .

         CAO MỴ NHÂN