GIỌNG BUỒN THỔ NGỮ – Văn – Cao Mỵ Nhân

GIỌNG BUỒN THỔ NGỮ.     CAO MỴ NHÂN 

Khi gặp anh …mình thấy ngay cái bóng dáng đàn ông Huế . 

Cái bóng dáng đàn ông Huế đó, không trộn vào đâu được, dẫu trong đám đông, hay ngoài đời …đơn lẻ .

Anh lắc đầu, bật cười : ” Nếu tui không Huế, thì có định quen tui không, răng đưa hình ảnh Huế ra chi rứa, có điều muốn nói điều khen, chê thì phải rõ ràng, không trúng sẽ giận đó nghe…” 

Ô chưa chi đã hăm vậy, ai còn dám sơ rơ nữa hà . Tôi vô chuyện ngay tề . 

Ngày xưa lâu rồi, vị đại tá tỉnh trưởng Đà Nẵng, Nguyễn Văn Thiện  (  1928 –  1970 ), mỗi lần xuất hiện ở đâu, dáng dấp như một công tử, bình lặng nhưng bay bướm …

Quan 6 gốc Thừa Thiên, xuất thân từ binh chủng Thiết Giáp, đi từ Trung đội trưởng Thiết Giáp, lên Chi đoàn trưởng Thiết giáp , rồi vv chức vụ khác, để sau chót là Chỉ Huy Trường binh chủng  Thiết Giáp, mới ra ngành đi các đơn vị có tính cách tham mưu, hành chánh vv…

Với những buổi lễ đặc biệt, phải có sự hiện diện của tỉnh thị trưởng, thí dụ lần đầu tiên Hội Quả Phụ Tử Sĩ trên danh nghĩa các đấng chinh phu đã qua đời, bất kỳ tử trận hay lý do bịnh hoạn gì. 

 Trước một rừng khăn trắng thê lương như vậy , Đại tá Nguyễn Văn Thiện nguyên Tỉnh Trưởng Đà Nẵng với dáng dấp một tài tử văn nhân, hào hoa, mã thượng đến dự lễ nêu trên. 

Ông chỉ nói ít câu thôi, mà quý phu nhân của những vị quá

cố đã thổn thức, nghẹn ngào …

Quý vị có nghĩ rằng: lấy được nụ cười của tha nhân đã khó, mà lấy được nước mắt thiên hạ còn khó hơn không ? 

Trong buổi lễ nêu trên, tôi cũng thấp thoáng…bâng khuâng . 

Tôi chợt nhận ra : ” đâu phải chỉ ngôn ngữ Bắc kỳ cũ , một giọng Bắc thoát thai từ lớp trí thức, tiểu tư sản Hà Nội xưa, mới quyến rũ từ trên quan quyền, xuống dưới bình  dân …

Mà, giọng nam dịu ngọt, ân cần, cũng đầy …thuyết phục .

 Tới giọng miền Trung, nói chung đầy thổ ngữ  địa phương, như nhận định của Nhị ca Lính Dù phân tích hôm xưa , cái giọng đặc biệt Huế , nói riêng, thì chao ơi, cứ như là rót mật vào lòng …vậy . 

Ấy tôi phải …thú nhận ngay , không có thể quý vị lại cười mỉm : ” Khi thương thì trái ấu cũng tròn , cha ơi , nội 2 cái dấu hỏi ( ? ) và dấu năng( . ) đã khiến người ta nhức đầu rồi, nay đọc y toàn bộ một bài diễn văn , thì tui nghe được , xin chào thua quý vị đó …” 

Do đó, tôi chẳng lấy làm lạ, tại sao hầu hết ca sĩ 3 miền, bất kể nữ nam, cứ giọng Bắc trực chỉ hát lên, là  trở thành một giọng vừa chuẩn, vừa hay, chịu không nổi …Hoàng Oanh, Hương Lan chẳng hạn . 

Thế thì, tôi phải đơn cử ra cái chất giọng, mà Nhị ca Lính Dù cứ phải phân tích, để tôi không có ý …địa phương hoá, ông bảo : 

” Tất cả đều từ miền Bắc vô Nam thôi,  chẳng qua thổ nhưỡng nó tạo ra điều ngăn sông, cách núi …” 

Tôi cười, kể cho Nhị ca Lính Dù hay , là hôm tôi ra mắt tập thơ tình mới đây ở trung tâm Minh Đức Westminster, có một cô bé độ ngoài 20 tuổi, đã dụt dè hỏi tôi : ” Cô cho em hỏi:  có phải cô người Quảng Nam không  ? ” . 

Tôi biết ngay là rất thường xuyên quý vị đọc ” tôi “, đã nhất định nghĩ tôi ” không Huế, cũng Quảng Nam ” , lý do tôi cứ viết về miền Trung đẹp tươi của …tôi , mà Đà Nẵng là nơi biến tôi thành dân Quảng tự bao giờ . 

Tuy nhiên tôi Quảng Nam thiệt quý vị ạ, vì số người quen biết tôi luôn luôn gặp tôi trên các phần đất ấy, cả ở ngoài đời, lẫn trong viết lách . 

Thế nên, hình ảnh người đàn ông Huế, đã vô hình chung đi vào tâm tư tình cảm tôi tự bao giờ . 

Thật vậy , tôi gốc Bắc ở thượng nguồn Chapa, nay họ đổi là Sa Pa, via Hải Phòng mấy năm, rồi lớn lên ở Saigon, đoạn ra Trung trưởng thành …

Sau khi xong tù cải tạo, tôi có thời làm Huấn luyện viên dưỡng sinh, kiêm nhiệm cái việc điều hành văn nghệ ” phục vụ quý vị cao niên và  bịnh nhân an dưỡng ” vào mỗi sáng thứ tư, gọi là sinh hoạt câu lạc bộ Dưỡng sinh…thuộc Viện Y Dược Học Dân Tộc ở Saigon, sau 1975. 

Một buổi kia, lên trình bầy bài thơ Ngậm Ngùi của Huy Cận, rõ ràng tôi ngâm kiểu Bắc kỳ , vậy mà lúc xuống , nhị vị học viên là cựu đại tá VNCH Khâu Đức Hùng, cũng vừa tù cải tạo về, cùng một huynh đệ chi binh cười lớn : ” thấy chưa , khi Cao Mỵ Nhân ngâm thơ, mới lòi giọng Huế ra ” . 

Huế làm sao được chứ, muốn bắt chước lâu rồi , mà chưa được đấy . 

Nhà báo tên tuổi Lê Ngộ  Châu ở miền Nam, cùng đại tá công binh VNCH Lê Mộng Châu, cũng từ tù cải tạo ra , ngó tôi rồi nhị vị cười: Cao Mỵ Nhân không giống …ai, vì rất hoà đồng với …địa phương nào cũng được , này cô nói đi : người Bắc hay …Huế, cho biết đi, mới …ác chứ . 

Sau đó thì 2 ông ” quá hào hoa phong nhã ” này, người xuất cảnh, ở Hoa Kỳ ít năm, người đi Mỹ rồi về lại VN,  cả hai đều đã mãn  phần . 

Tôi vốn được may mắn quen biết quý vị qua câu lạc bộ Dưỡng Sinh ấy …nên quý ông quý bà chế độ cũ , VNCH, rất an lòng khi gặp tôi, như gặp lại người trong nhà …

Sự kiện dung hoà tình cảm của tôi, đã khiến tôi có bạn bè nhiều hơn …

Một lần tự ngâm bài thơ của mình diễn tả về khoa học Dưỡng Sinh sau 1975 ở Saigon, tôi ngó xuống hội trường , thấy một bậc nữ lưu còn giữ được vẻ quý phái, cười vui nhưng cứ giơ ngón tay lên chỉ chỉ như ngầm ngăn điều gì đó.

Lúc hết bài ngâm, tôi đến ngay ngồi cạnh bà, bà tự giới thiệu là phu nhân của nhà thơ, nhà báo Phạm Hải Hồ , cũng khá tên tuổi ở miền Nam, trước 30 – 4 -1975,  hiện nay định cư ở San Jose. 

Tôi chỉ muốn chứng minh về …thổ ngữ như Nhị ca Lính Dù nói thôi , song bất ngờ hình ảnh vị đại tá VNCH Nguyễn Văn Thiện, nguyên thị trưởng Đà Nẵng , sau là Chỉ huy trưởng Đặc khu Quảng Đà , ông cùng đại tá cũng gốc Thiết Giáp Nguyễn Văn Toàn , bấy giờ là Tư lệnh Sư Đoàn 2 Bộ binh đồn trú ở Quảng  Ngãi, được thăng cấp chuẩn tướng một lần . 

 Nhưng nhị vị đại tá mỗi người một máy bay A37 về Sai gon lãnh cấp bậc tướng, thì chỉ có đại tá Nguyễn Văn Toàn tới nơi , còn A37 chở đại tá Nguyễn Văn Thiện lại lạc hướng mô, chẳng biết,  người bao lần được tìm kiếm, mà vẫn biệt tin, vô vọng . 

 Cố chuẩn tướng Nguyễn Văn Thiện mất tích ở tuổi 42 , cái tuổi mà chưa hết hạng trung niên , người ta đã nhìn ông như đại quan già dặn, bởi cái địa vị nó khiến người ta phải cộng thêm cả chục tuổi, và phải sống như bậc ” Lão phu ” trong Văn chương VN . 

Người đàn ông Huế như đại tá Nguyễn Văn Thiện , hay như hàng loạt quý vị nam nhi chi chí, có một phong cách cư xử, khiến kẻ bàng quang như …tôi, không đơn giản đoán được quý vị ấy ” nội tâm ” thế nào . 

Vì ngay cả trong tình nghĩa phu thê, phụ tử họ vẫn giữ một vẻ gọi là đạo nghĩa riêng, mới đáng nể . 

Thí dụ bản thân tôi lấy chồng Huế, đố ai biết được nỗi tức của tôi, ấy là lúc nào ” xã ” tôi, cũng ” anh em ” cả khi đang bất đồng ý kiến, mà lẽ ra chồng Bắc sẽ xưng 

” ông ” ngay lập tức , bạn miền Nam thì sẵn sàng ” tôi bà, tao mày ” chết bỏ, nếu có dịp bất hoà nặng.

Ôi chao , có lần tôi sắp sửa giận đến phải thề bồi, thì khách tới chơi, lập tức tôi nghe ” xã ” tôi tằng hắng kêu ngọt sớt: “Mỵ ơi , có khách này , thôi ông hay bà , anh hay chị, ngồi chơi nhé , xin lỗi , tôi , là ông xã tôi, có việc phải đi ” . 

Tôi tiếp bạn mà nước mắt cứ trào ra, vì nỗi tức chưa được giải toả, song lẽ nào , ông ấy ngọt như mía lùi , mà mình lại hàm hồ , nên cũng đành tiếp khách theo dòng ” chảy  ” cho hợp lý, gọi là phải giữ thể diện đó mà. 

Tất cả mọi sự việc như những trang đời, dù muốn hay không, cũng phải lật qua …

Những quý vị trượng phu Huế đã đi năm châu, bốn bể…còn giữ được giọng Huế, tất nhiên quý vị nữ lưu Huế cũng vậy, ở bất cứ nơi nào, trên thế giới , khi quý vị cất giọng lên, là một trời dĩ vãng đong đưa , con sông Hương dịu dàng nước mát , chùa Linh Mụ riêng một không gian …

 Ôi thổ nhưỡng , mà trong một ca khúc được viết sau 1975 , tác giả khẳng định những gì ở Huế là ” không nơi nào có được “, dù ở quê hương , hay khắp trời hải ngoại …

 Đến nỗi, ở thủ đô tị nạn Bolsa, đã có một nhà hàng dùng bảng hiệu ” Huế Ơi ” cho thoả lòng thương nhớ đó …kìa …

          CAO MỴ NHÂN 




THƠ Xướng Họa: TẶNG PHẨM & TRĂNG VỠ & ANH LÀ THƠ – Cao Mỵ Nhân + Phương Hoa + Minh Thúy




THƠ: GIỜ ĐÃ ĐIỂM – MAU VƯỢT LÊN- Hình Ảnh – Hoàng Mai Nhất & Cao Mỵ Nhân – Lê Văn Hải

Hòa cùng nhịp đập! 

(Với những hình ảnh thê thảm đang diễn ra tại VN)

Danh ngôn đúng nhất tặng Nhà Cầm Quyền CSVN đang hành xử khốn nạn trong mùa dịch: “Kinh tởm nhất, đáng phỉ nhổ nhất, là hình ảnh những con kên kên, vẫn thản nhiên rỉa những bộ lông óng mượt của mình, sau những bữa ăn no nê, moi thây, ăn xác đồng loại của chính nó!”

Cảm tạ Thĩ sĩ Hoàng Mai Nhất, đã có những vần thơ “nổi lửa!” để mọi người cùng ý thức, phải chung tay, đốt sạch cái Đảng tham tàn, độc ác trên Quê Hương VN. Ngày ấy Quê Mẹ của chúng ta mới thực sự có Tự do, Dân chủ! Mong lắm thay!

LÊ VĂN HẢI

Bịnh viện tràn ngập xác chết, ngoài đường người dân ồ ạt di tản. Trẻ thơ 5 tháng tuổi, cũng lấm bụi đường! Đảng đâu? Sao không giúp? mà còn hành hạ, giết dân!

Ủa Thiên đàng XHCH, dưới sự cai trị vinh quang của “Đỉnh cao trí tuệ’ như vầy sao?

LÊ VĂN HẢI




THÀNH XÂY KHÓI BIẾC – NON PHƠI ÁNH VÀNG – Cao Mỵ Nhân




GỌI GIÓ VÀNG – Cao Mỵ Nhân

GỌI GIÓ VÀNG

Cao Mỵ Nhân

Thơ Đường qua thể loại thất ngôn bát cú thông thường, với hình thức một bài thơ gồm 8 câu, mỗi câu 7 chữ, 5 vần bằng  ở mỗi cuối câu: 1 2 4 6 8, cuối 3 câu: 3 5 7 thì tất nhiên là vần trắc rồi.

Nhưng không phải “chỉ có vậy.”  Nó, bài thơ thể loại này, còn bắt ta học gần nửa trăm quy luật: mà mỗi chữ, mỗi câu mang một nhiệm vụ riêng.

Các câu

1/ Phá đề

2/ Thừa đề

3+4 / Thực hay trạng: cặp đối thứ 1

5+6 / Luận: cặp đối thứ 2

7/ Chuyển

8 / Kết.

Xem ra quý vị cứ việc bám sát đề bài, với tinh thần nêu trên là qua cầu vui vẻ rồi.

Tôi nhớ cụ thi sĩ rất tên tuổi trong chiếu thơ Đường hàng chức sắc, nói với tôi rằng:

” Không phải cứ cặp đối 3+4 ( thực trạng ) với nội dung bài là đắc sách đâu, tất nhiên thực hay trạng của bài thơ Đường Luật là quan trọng rồi.

Nhưng, tôi nói cho Cao Mỵ Nhân biết, câu chuyển ( thứ 7 ), là đắt giá nhất, nó tóm gọn toàn bài trước khi kết thúc đấy .” ( Cụ Trình Xuyên ).

Sau khi tôi đã hoàn toàn chấm dứt cái nạn tù cải tạo do csvn áp đặt, đầu năm 1980, tôi bắt đầu sinh hoạt văn nghệ nơi các hội thơ, hội thảo thi ca cổ điển VN …xưa.

Tức là ngoài việc tôi gia nhập thi đàn Quỳnh Dao của quý vị nữ sĩ tên tuổi như Mộng Tuyết, Vân Nương, Quỳ Hương, Uyển Hương, Đinh thị Thục Oanh, Tuệ Mai vv…

Quý vị toàn gấp đôi, gấp rưỡi tuổi tôi, có vài vị nữ sĩ trẻ hơn các niên trưởng nêu trên, như Tuệ Nga, Tôn nữ Hỷ Khương, thì tôi trở thành ” Em út Quỳnh Dao “, có nghĩa là tuổi tác và sức khoẻ tôi còn xài được với thế hệ sau của quý niên trưởng chuyên xướng hoạ Thơ Đường.

Bên cạnh quý vị đương nêu, là quý thi khách Đường Thi như quý cụ Quách Tấn, Đông Hồ ( đã quá cố) , Giản Chi, Vũ Hoàng Chương,  Hà Thượng Nhân vv…cũng đã quá cố.

Song le, mỗi quý vị nữ sĩ Quỳnh Dao lại giao hảo với số khách Đường Thi riêng, mà khác đường lối chơi thơ cổ điển chung của thi đàn Quỳnh Dao, nên tôi vì là ” Em út Quỳnh Dao ” gần như tôi có bổn phận phải biết từng tích tắc khác biệt đó.

Thí dụ : Nữ sĩ Thu Nga thì thỉnh thoảng xướng hoạ với quý cụ thi sĩ Tế Nhị, Như Ý, Trình Xuyên, Linh Điểu vv…

Đại khái ” xã giao ” thơ, mà lại là thơ luật Đường , không phải đơn giản, chỉ 2 chữ ” Thôi, Xao ” của Giả Đảo đã là một thần thoại thích thú.

Nay, sau cuộc đổi đời 30 -4 -1975, sĩ khí người cầm bút đã gây nhiều mâu thuẫn thời thế, huống hồ chơi thơ luật, là các bậc thịnh Hán, túc Nho, có dịp biểu lộ tinh thần ” chi hồ giả dã ” thời đại ra, để khích bác điều bất như ý.

Do đó thế giới thơ của mỗi vị thì vô cùng …

Chuyện xướng hoạ thơ luật Đường vô hình chung cho ta cảm giác tôn ti trật tự của trước nhất là tuổi tác, các yếu tố khác như địa vị, gia thế vv…và nhất là thơ, có hay ho tới đâu, cũng phải qua ngưỡng cửa ” niên tuế ” khách thơ đang hiện diện ở hội thơ lúc đó.

Trong hội thơ Quỳnh Dao chúng tôi, kể từ ngày tôi tham dự , tôi luôn luôn là người giới thiệu chương trình hội thơ, thường thi đàn tổ chức thay phiên tại các tư gia của các nữ sĩ.

Cũng từ đấy, tôi may mắn được diện kiến các bậc ” Đường thi khách ” lão luyện còn …sót lại, mà tôi rất kính phục như quý cụ Quách Tấn ( Nha Trang ), Bùi Khánh Đản ( Saigon ) Chánh Hà, và nhất là nữ sĩ tiền chiến Ngân Giang, các vị ở Hà Nội từ thủa còn được tôn phong là Hà Thành thanh lịch.

Tức là thời đệ nhất bán thế kỷ vừa qua, không phải mang cái mầu sắc Xã Hội chủ Nghĩa hay vô sản, quý vị vô thăm Saigon và miền nam sau 30 – 4 – 2020, tôi mới có cơ hội được gặp quý cụ ” Đường thi chuyên nghiệp “.

Ngoài việc nữ sĩ chủ nhà buổi hội thơ hôm đó, mời tiệc, hội có thể mời thêm dăm ba khách ” thời thế ” , không làm thơ, nhưng muốn thả hồn theo dòng suy nghĩ riêng tư, thể hiện nơi hội thơ hậu chiến .

Cũng chính vì thế, mà không khí loãng ở một vài hội thơ sau cuộc đổi đời nêu trên, đã có lúc được khách tham dự phải bỏ cuộc, để mau chóng ra về, cho khỏi mang hoạ ” chính trị ” vào thân, vì bị Công An rình mò, bắt bớ.

Thí dụ : Tại tư thất nhà thơ hoàng phái Vĩnh Mạnh Thường Quân vào mùa xuân năm 1982, buổi đó được giới thiệu là có 3 vị thi sĩ lão thành đại diện cho 3 miền, gồm :  cụ Vũ Đình Liên ( Bắc) tác giả bài thơ” Ông Đồ “, cụ Vân Giang ( Trung ) và cụ Trác Ngọc ( Nam ) ngồi phía đầu dãy chiếu hoa trải kín nền phòng khách Thạch Động, chủ toạ.

Chúng tôi ngồi chung quanh chu vi chiếu thơ mở rộng.

Sau tất cả các thủ tục ban đầu, gồm giới thiệu thi tướng, thi tài vv… là ai muốn trình bầy ý thơ gì, cứ việc ” phát biểu “.

Nhà thơ ” Đường thi tức vị ” theo thời thế cho yên thân, đã hỏi cụ Vũ Đình Liên rằng :

” Cụ là chứng nhân của 2 thời đại thơ như Ông Đồ trước khi đi …cách mạng, và bài thơ Ông Đồ csvn, bút sắt thay bút lông ngày xưa vốn hoa tay thảo những nét, như phượng múa, rồng bay. Nay, nói theo thời đại ” logic ” tình hình thơ chung và riêng của cụ thế nào ?

Chúng ” cháu ” đã mất hết cảm hứng khi đọc lại bài thơ Ông Đồ xưa của cụ . Và, tại sao các cụ vô đây, để làm cái việc cho xe ba gác chở tất cả thơ hay, thơ đúng nghĩa thơ, của các thi sĩ danh tiếng cả nước, như thơ Vũ Hoàng Chương, thơ Đinh Hùng vv…” đem đi thiêu huỷ ?

Câu hỏi được đặt ra, nhưng không cần chờ nghe câu trả lời, nhà thơ trẻ ( ngoài 30 tuổi, cái tuổi dễ bị bắt nhất ) đứng lên cáo từ, và đi như chạy ra khỏi hội thơ.

Như tôi đã có dịp trình bầy nhiều lần là: Thơ luật Đường Tống đã phổ biến trong xã hội VN từ nhiều đời . Nét tinh hoa của thể luật này, tưởng kết thúc ngay từ đầu thế kỷ 20 vừa qua, với 2 hồi chuông báo tử thất thanh, của quý vị thi sĩ lỗi lạc Đường luật là cụ Tú Xương qua nỗi buồn phải chấp nhận hoàn cảnh tây học :

” Ném bút lông đi, viết bút chì …”

Cùng một cuốn thơ tạ từ năm tháng cũ :

” Mùa Cổ Điển ” của cụ Quách Tấn .

Tôi vốn ưa những điều ” ham hố ” .

Sau đại nạn 30 – 4 – 1975, thay vì đi tìm một ngoại ngữ học để có thể kiếm sống, tôi lại rong chơi ” Thơ Đường “, học hỏi và đi sát quý cụ để thấy được những kỳ bí, mà có lẽ chỉ ở thể loại này, người ta mới dễ bày tỏ, hứa hẹn, dặn dò quyết liệt người được nhận, hay phải trả lời thơ trao, hoặc tặng.

Nghe tin tôi vừa từ trại tù cải tạo về. Thi sĩ danh tiếng Bùi Khánh Đản cùng thi sĩ Bàng Bá Lân ( viết thơ mới nhiều hơn ) đã mỗi cụ một xe đạp mi ni, ghé thăm tôi sức khoẻ và hồn thơ khoảng khoát thế nào.

Cụ Bùi Khánh Đản viết trên một tờ giấy mầu vàng, rộng bằng trang báo lớn, bài thơ tên Quang Vinh như sau:

  QUANG VINH 

(Bài xướng)

Xiết chặt vòng tay cùng chặn gió

Mở đường kiếm khí dậy hào quang

Nước mây sẽ ấm trời băng lạnh

Cây cỏ rồi thay sắc đoạn trường

Hương chính nghĩa tràn trên đỉnh mộng

Lửa kiêu hùng đốt sạch rừng hoang

Chúng ta bỗng bật tim thành tiếng

” Sử Việt từ nay đẹp chữ vàng  “.

          Saigon 7/1980   

         BÙI KHÁNH ĐẢN

Dù mới từ trại tù cải tạo về, tôi cũng quên béng thân phận sĩ quan chế độ VNCH, rất dễ tái tù, khó tránh .

Tôi kính hoạ thơ cụ Bùi Khánh Đản tặng tôi như sau :

          GỌI GIÓ VÀNG 

              (Bài hoạ)

Vẫn thả diều lên, tìm hướng gió

Những ngày xanh biếc bầu trời quang

Để xem bóng nắng bao hy vọng

Còn thấy hơi sương phủ dặm trường

Thật rất vô tình nghe nước chảy

Thà đừng cố ý bước chân hoang

Đôi phen tim thắt vì thương tủi

” Mộng với thơ ai chép sử vàng ? “.

        Saigon 11-8-1980  

          CAO MỴ NHÂN

Cụ Bùi Khánh Đản ( 2010 ) và cụ Đỗ Bằng Đoàn ( 1908 – 1986 ) là đồng tác giả cuốn ” Đường Thi Trích Dịch” in roneo 300 cuốn tại Saigon năm 1959, gồm 503 bài của 133 tác giả.

Mới đây tôi được nghe: nhà xuất bản Văn Học Hà Nội đã  in tái bản tác phẩm đồ sộ ” Đường Thi Trích Dịch ” của 2 cụ nêu trên, dày 1271 trang, năm 2006.

Mỗi lần nhật nguyệt lững lờ trôi trên biển trời, cả thế giới

” Đường Thi ” lại như vần vũ gió mưa.

Những thế hệ suy tụng Đường Thi không xếp nếp thời gian, hiện nay ở quốc nội lẫn Hải ngoại, đang vun vén cả rừng hoa tuy bình cũ, nhưng rượu mới, ý thơ bát ngát, thanh sắc lạ lùng, nhưng đầy hứng cảm. Khách yêu thơ cổ điển ưa chuộng những tinh hoa ẩn hiện, linh diệu.

Song cũng chỉ hợp với quý vị tồn cổ, mang cảm giác thầm lặng trước sóng gió phế hưng của thể loại thi ca…đầy nguyên tắc từ xưa tới nay này.

              CAO MỴ NHÂN




Văn: ĐẸP NHƯ SUỐI MƠ – Thơ Xướng Họa: XỎA TÓC GỌI THƠ – Cao Mỵ Nhân & Phương Hoa

ĐẸP NHƯ SUỐI MƠ

Có lẽ quý vị gốc Huế thuần thành chả bao giờ muốn rời cố đô đi mô hết. Bởi vì đất Thần Kinh có thung thổ đặc biệt, là đi xa hay ở gần, vẫn nhớ Huế mới lạ.

Như thế cũng có nghĩa là nếu đúng Huế chính tông, thì chẳng thể nào dứt bỏ một mảy may, một tích tắc chất Huế, nỗi Huế được.

Tôi hay kể chuyện Huế một cách …loanh quanh thôi. “Chớ răng tui có thể bước vô cái vòng Huế kiên cố, thâm cung đó được. Là ri, tui có sinh trưởng ở Huế mô, người ngoài đạo Huế mờ”.

Song tôi lại ở Huế tới mấy chục năm, quen thuộc cảnh vật, người ta, và những điều rị mọ suốt ngày, tôi cũng biến thành dân …lai Huế chút chút, chỉ dở một cái, là không bắt chước được giọng Huế.

Nên, cách nào tôi cũng là người xa lạ, có ưa thích Huế tới mấy, thiên hạ Huế cũng dửng dưng với tôi.

Nói thế chứ tôi “tiền hô hậu ủng” toàn bạn Huế đấy, quý vị khỏi cần thương hại tôi nha.

Trong khi tôi cứ mong nói được giọng Huế, thì bà mẹ chồng tôi lại nói toàn tiếng Bắc với tôi.

Có lẽ bà sợ tôi không hiểu bà nói chuyện gì, bà dùng ngôn ngữ bắc để khỏi phải nhắc lại việc bà vừa sai hay nhờ tôi làm, cho đúng và mau chóng.

Một hôm, mẹ chồng tôi dặn trước khi bà đi công việc gì đó, rằng tôi lấy gói bồ kết để trên nóc trạn, khui bếp tro ủ lửa suốt đêm ngày kia, thổi cho đỏ mấy miếng than, rồi nướng bồ kết.

Nướng bồ kết cháy vừa đủ thơm thôi, đập sơ cho rơi bụi than cháy ra. Xong bẻ những quả bồ kết đó vụn rồi bỏ chúng, những mảnh bồ kết mới nướng đó, vô một chậu nước lã, bưng chậu ra sân đang nắng phơi cho nóng lên, để gội đầu.

Tôi làm trong nháy mắt, là vì tôi đã thấy các bà, các cô thủa tôi còn bé, gội đầu bồ kết thế nào rồi.

Chậu nước bồ kết đó nóng vừa ấm tay, sủi bọt thơm dìu dịu, quý bà, quý cô muốn pha thêm nước nóng cũng được, rồi gội đầu bình thường, tóc chảy thật mướt xuống chậu hứng phía dưới, đẹp như …suối mơ.

Có khi khách gội còn vắt những nửa quả chanh bóp trên tóc, cho thơm thêm nữa.

…Mạ ơi, ông Chánh đòi hầu

    Mua chanh, bồ kết, gội đầu cho thơm…

             (ca dao )

Tôi không biết “ông Chánh” nào mà sướng thế chứ.

 Kêu người ta tới hầu chi chả biết. Và chắc ổng phải hào hoa, phong nhã lắm, mới được kẻ hầu ưng ý, đến nỗi phải mua chanh, bồ kết để gội đầu cho thiệt thơm tho, kẻo ông Chánh chê, mai mốt không chiếu cố nữa, thì lại tức.

Mấy lần nói chuyện xưa tích cũ, tôi định hỏi anh là thời anh ở Huế, anh có biết “ông Chánh” nớ không, thời đó thì anh còn nhỏ quá, mần răng biết được thế giới của ” ông Chánh ” trong ca dao Huế chớ.

Nhưng chưa hỏi, mình đã biết câu trả lời của anh rồi: “Thì tui là một… ông Chánh đây nì, hỏi chi xa rứa. Lâu ni, không thấy tui rất …ông Chánh, có điều ông chánh nì không cần đòi ai hầu, mà có người cứ tình nguyện tới đó tề”.

Ố ô, anh thì nguỵ rồi, rất tự tin, song tự trọng ghê hồn, lỡ ai vô phước nói hớ, hay tỏ vẻ không biết tới bản ngã đặc biệt của anh, là thôi, coi như đời sau cũng không gặp lại, chớ đừng nói kiếp ni nghe.

Hôm tê, mấy bà o ở Bên sông, phía Ngự Bình điện thoại viễn liên cho tôi, các o bảo: “Chớ răng mi, là tôi đó, chưa chịu về thăm tụi tau vậy ? Ít năm nữa cái lớp tau chết đi, không còn ai Huế thiệt nữa mô, không tin, mi về thử đi, toàn Huế…giả, ở mô chui ra lắm nợ…”

Tôi cũng đã nghe một phần như vậy lâu rồi.

Dẫu tôi không là con dân Huế, nhưng tôi cũng biết phân biệt Huế xưa đã dần dần đi khỏi thành phố cũ, nơi mà đàn bà con gái suốt ngày mượt áo dài, dù đi chân đất.

Mớ tóc thề thả ngang lưng dù gánh hàng quà rong trên đường mưa bụi bay.

Bỗng dưng tôi nhớ bài hát hồi mới có thành phần bên kia sông Bến Hải tràn vô, bài hát của một ” nữ cán bộ làm trưởng ban văn nghệ đài phát thanh thành Hồ ” bà ta viết nội dung là tất cả chỉ ở Huế, không nơi nào có được, đại khái thế.

Tới người cộng sản chủ trương san bằng giai cấp, mà cũng phải chào Huế mộng mơ, vẻ đẹp mà không đâu có được vậy.

Huế thật hay giả, vẫn hiển hiện sông Hương núi Ngự, có dập khuôn nhân dáng Huế, có tô vẽ dung nhan Huế, vẫn chỉ là Huế bên ngoài thôi.

Nói như anh nhận xét về thổ ngơi, thổ ngữ, thì giọng Huế rất khó đồng hoá, người giả bộ nói thế nào cũng lòi ra các lỗi vụng về, mà không phải họ không luyện kỹ hay tập chệu chạo dăm ba câu giả hò, giả hẹn cũng lộ liễu ngay.

Thế nhưng, có điều lạ là chính Huế, thì lại giả Hà Nội, Saigon in hệt.

Và để kết thúc bài này, tôi xin lỗi dẫn chứng chưa đúng, khiến anh sẽ cho điểm dưới trung bình, ấy là “ông Chảnh” chớ không phải ông chánh kiểu bắc kỳ quốc đâu.

Nói “ông chảnh” (dấu hỏi) phải hiểu chính là “ông chánh” (dấu sắc), ông chánh để ám chỉ những ngôi thứ nhất vừa thực tế, vừa mơ hồ.

Đồng thời ” ông chảnh “, cũng có nghĩa là ông ” chảnh ” với suy nghĩ ” bình dân học vụ ” của tôi, đừng giận nha quý ông …chánh thứ thiệt .

               Cao Mỵ Nhân




THƠ: Chào Mừng Ngày QL VNCH 19/6 Cao Mỵ Nhân + VĂN: Đám Mây Vàng – Cao Mỵ Nhân & Thơ Cảm Tác Phương Hoa + Chung Văn

ĐÁM MÂY VÀNG

Cao Mỵ Nhân

    Buổi sáng ở Denver Colorado, tôi theo gia đình chị Nhàn, nguyên chị là một nữ tiếp viên hàng không, của hãng Hàng Không Việt Nam ( Air Vietnam ) thời đệ nhị Cộng Hoà (Việt Nam Cộng Hoà ) lên ngọn núi danh tiếng sát ngay thành phố đá đó.

    Trên đỉnh ngọn núi này, có một “đại hí trường”  có thể chứa hàng chục ngàn tân khách.  Chung quanh đại sảnh trường đó, toàn là vách đá dựng cao ngất, nhưng lòng động lại mái trống, lộ thiên.

     Gia đình chị Nhàn đông đủ dâu rể cháu nội ngoại, tất cả đều tỏ ra thân quen với lâu đài hí trường khổng lồ đó .

     Nghe tiếng gió từ bốn phương đổ về, chị Nhàn nói với tôi một cách trân trọng lắm : “Mỵ ạ, nơi đây người ta còn gọi là Chiếc đàn  “Phong cầm gió” vĩ đại nữa đấy .

     Tôi chỉ biết ngưỡng mộ và thán phục thiên nhiên, Đấng Tạo Hoá đã cho nhân thế này bao nhiêu là công trình tuyệt tác.

     Đang lúc mọi người trầm trồ khen ngợi vũ đình trường gió mưa sương gió thiên nhiên, tự đến, tự đi tới cái động to lớn mịt mù đó, thì nóc động hửng lên một khung nắng rỡ ràng…

      Một đám mây mầu vàng mỡ gà lững thững bay qua, tưởng như tà áo của thiếu nữ nào rơi trên mái động …

      Chị Nhàn và tôi đều sững sờ thốt :

     ” Mây vàng Hà Nội ” .

      Tại sao mây Hà Nội mầu vàng ?

       Ôi phải rất nhiều lời , hay rất nhiều thì giờ mới giải thích được điều thơ mộng đó, chỉ biết rằng nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh ngày xưa, đã mang mây vàng từ trung nguyên về Hà Nội.

       Và gần nhất với tôi thủa là thiếu nữ ở Saigon, đã có một nhà thơ tài tử, Nhị Thu viết cuốn thơ  “Mây Hà Nội” , năm 1961, cùng lượt với cuốn “Thơ Mỵ 1961” của tôi.

      Tất nhiên tôi chỉ nêu ra hình ảnh mây vàng Hà Nội dĩ vãng, nghĩa là trước 20 – 7 – 1954, hay trước khi chúng tôi di cư vào Nam thời sông Bến Hải  chia đôi đất nước.

   Đám mây vàng lặng lẽ rời khỏi nóc vũ đình trường đá đó, nắng còn ở lại cửa động lộ thiên một thoáng, cả chị Nhàn và tôi đều như có chút buồn phảng phất .

   Tôi hỏi chị một cách nhớ nhung rằng:

  “Chị ơi, ngày di cư, em ở tuổi vài năm “teen” đầu, chị gần gấp đôi tuổi em, thủa đó, chị có may áo dài lụa mầu vàng mơ, và nhất là, chị có may áo “vest” mầu mơ chín ở phố Nhà Thờ Hà Nội không ?”

   Chị Nhàn cười xa vắng :

  “Thế Mỵ cũng biết tiệm chuyên may áo vest ở phố Hàm Long đó à?”

 Bỗng lòng tôi chùng xuống chi lạ, ba tôi có lần đã cho mấy chị em tôi từ Hải Phòng về Hà Nội để may cho mỗi đứa một áo vest mầu vàng mơ tuỳ theo sở thích, hoặc mơ non, mơ chín, mơ sậm, mơ lạt v.v…

  Và chính buổi đi may áo dài, áo vest ở hiệu may danh tiếng phố Hàm Long xa xưa ấy, mà tôi nhớ mãi mầu mây thu Hà Nội. Ôi, có thể nói, ngoài mây thu vàng ở cái nơi tôi chỉ thấy đẹp thủa ấu thơ và thiếu niên ra, tôi không còn thấy thêm cái chất Hà Thành thanh lịch trong văn chương tiền chiến nữa.

    Thế nhưng hôm nay, tôi muốn nhắc tới một mầu mây Hà Nội rất kinh điển, chính mầu mây vàng lợt thôi, nhẹ nhàng , thơ mộng mà những người đã một thời say đắm nó, mây Hà Nội, như nhà thơ Nhị Thu, hay sau này, khi tôi lớn lên, trưởng thành rồi già đi như bây giờ, sắc mây vàng mỡ gà, vừa rực rỡ, vừa hoang mê, vừa thần thoại, chỉ còn trong cổ tích mất mát thôi.

    Ngay tức khắc tôi nhớ tới quý vị sĩ quan Quân Lực VNCH danh tiếng thơ ca lẫy lừng trong Cục Tâm Lý Chiến, mà không thể nào không nhắc tới mây vàng cố đô Thăng Long, là các vị người Bắc di cư năm 1954.

     Để rồi tôi ngồi một mình xót xa, bây giờ “điểm danh lại” thì số quý vị đó đã không còn trên trái đất: Thi sĩ đại tá Cao Tiêu, Thi sĩ, Hoạ sĩ Tạ Tỵ, Nhà văn Trung tá Hà Thượng Nhân, Nhà văn Trung tá Phan Lạc Phúc, Nhà văn Thiếu tá Đặng Trần Huân, Nhà văn Thiếu tá Phạm Huấn, Thi sĩ Đại uý Du Tử Lê, Thi sĩ Trung uý Thanh Tâm Tuyền.

   Thưa, rất nhiều văn nghệ sĩ quân đội nhưng ở các đơn vị khác, chẳng hạn Nhà văn Trung tá Duy Lam ở QĐI/ QKI.

    Hay, Thi sĩ Thiếu tá Tô Thuỳ Yên Trưởng phòng Văn Nghệ Cục Tâm Lý Chiến VNCH, nhưng, không gốc Hà Nội.

     Tôi chỉ đan cử hôm nay về quý vị Sĩ quan QLVNCH gốc Bắc di cư đã mãn phần, và ít nhiều một thời gắn bó tới mầu mây vàng Hà Nội thôi.

  Bởi vì quý vị nêu trên đã mang theo sắc mây vàng quá khứ ra đi. Và, thực sự tôi muốn hoài niệm hình ảnh Thi Sĩ đại tá Cao Tiêu cùng phu nhân đã thưởng lãm mầu mây vàng Hà Nội ở Hồ Gươm, trước khi Thi Sĩ Cao Tiêu tức cựu Đại tá Hoàng Ngọc Tiếu nhập ngũ.

    Một bức ảnh đen trắng xưa thôi, trên một ghế đá ở bờ hồ Gươm Hà Nội, Thi sĩ và phu nhân ngồi ngắm mây thu lượn quanh thành phố được tiếng là thanh lịch từ các thế kỷ trước.

   Buổi tôi hướng dẫn các động tác tập thể dục Dưỡng Sinh cho quý cụ cao niên, bịnh hoạn ở Câu Lạc Bộ Dưỡng Sinh Saigon, sau khi tôi ra tù cải tạo.

   Tôi tiếp chuyện một vị rất trưởng thượng quen quen.

    Cụ cho tôi coi một bao hình nhỏ, cụ đưa tôi bức hình vừa nêu, cụ hỏi:

“Cô có biết Đại tá Hoàng Ngọc Tiếu không, Thi sĩ đấy …”

   Tôi thưa với cụ là Thi sĩ Đại tá Cao Tiêu.

    Cụ gật đầu : “Ông ấy là em ruột tôi”.

    Tôi a  lên mừng rỡ, cụ tiếp “Tôi là Hoàng Mai Đạt”.

    Cụ Hoàng Mai Đạt nghệ sĩ hơn Đại tá Cao Tiêu, cụ vẫn vui vẻ thơ ca ở Câu lạc bộ Dưỡng Sinh trước khi qua Hoa Kỳ sau đó ít lâu.

    Lại một câu  chuyện về mây thu Hà Nội, cụ Hoàng Mai Đạt kể: “Tôi biết cô không có ở Hà Nội nhiều như chúng tôi, cái thế hệ mà thanh niên của thành phố có nhiều hồ, nhiều hơi thu lành lạnh, những đám mây vàng nhẹ như mối tơ vương sắc vàng rơi lững lờ trên thành phố thơ mộng từ ngõ hẻm ra đại lộ.

   Tôi lắc đầu, “Cháu không phải người Hà Nội của các cụ nhìn đâu cũng thấy chút gì vừa thân mật vừa kín đáo. Cháu lớn lên ở Saigon. Khung trời rộng quá, hầu hết mây trắng 4 mùa, nếu mây xám là sắp mưa…đơn giản, mau chóng như những cơn mưa rào, thật nhanh và chưa kịp lạnh cụ ạ.

     Thế rồi thì mỗi người mỗi chạy theo cái dòng chảy không riêng lẻ, nên chẳng thấy cô đơn lắm.

    Tôi qua Hoa Kỳ giống như quý vị tị nạn, lại càng chẳng bao giờ nhớ cái mùa thu mây vàng như trong văn chương thơ nhạc tiền chiến, hay trước ngày đất nước qua phân.

   Tôi cũng không về Bắc sau khi mọi người bảo là “thống nhất”. Tôi không nhớ nhung gì hết phần đất bên kia sông Bến Hải, dù tôi rất nhiều lần đứng bên cầu Hiền Lương do công tác xã hội tôi phục vụ trong Quân Lực VNCH, suốt cả chiều dài lãnh thổ từ Bến Hải tới Sa Huỳnh, cận nam Quảng Ngãi.

   Cũng có lúc tôi buồn nhìn mây bay, nghe gió thổi ở miền địa đầu giới tuyến, nhưng quả thực, không thấy lại mây mầu vàng mỡ gà mà thuở thiếu niên ba tôi cho về Hà Nội, để may áo vest phố Hàm Long chỉ còn trong ký ức.

   Và hôm theo gia đình chị Nhàn lên núi nghe gió hú trong đại hí trường, có một làn mây vàng ấm áp nhưng mong manh bay ngang đỉnh động đá khối khổng lồ, lộ thiên năm 1996.

Mầu mây vàng bất ngờ, khiến tôi nhắc đến hằng loạt tên tuổi những nhà thơ văn xuất thân ở Hà Thành thanh lịch, đã một thời hội tụ ở khuôn viên Cục Tâm Lý Chiến VNCH, rồi lưu vong, thả mây thu Hà Nội đi bát ngát, mênh mông…

Quý vị ấy không ai gặp ai nữa, kể cả những đám mây vàng tan loãng, hay đổi mầu trong không gian vô cùng mịt mù ngoài vũ trụ càn khôn…

    Hawthorne  10 – 6 – 2021

           CAO MỴ NHÂN

ĐÁM MÂY VÀNG

(Cảm tác từ bài viết “Đám Mây Vàng” của nữ sĩ Cao Mỵ Nhân)

Tha hương hạnh ngộ đám mây vàng

Mây-của-Hà-Thành, tâm dội vang

Ngắm núi bâng khuâng đôi mắt lạc

Nhìn trời xao xuyến mảnh hồn hoang

“Phong cầm gió” quyện âm lung luyến

“Đại hí trường” vương nắng loáng loang

Cảnh sắc thiên nhiên ôi tuyệt diệu

Bút nâng ghi lại phút huy hoàng

Phương Hoa – JUN 10th 2021

**

NHỮNG ĐÁM MÂY
(Cảm tác sau khi đọc “Đám Mây Vàng của CAO MỴ NHÂN)

Mây Hà- Nội, mây Sài- gòn, hoa cúc
Rồi thăm mây tận đỉnh Co-lo-ra-do
Nhịp gió reo nơi Đại hý trường Denver
Thành cây đàn “đại phong cầm” cao ngất

*
Tôi cũng có đám mây vàng trong mắt
Khi heo may xào xạc đón thu về
Phố Hàng Đào, em áo dài vàng huê
Gã lãng tử tưởng mây vàng trước gió

*
Nước Hồ Gươm xanh rêu màu Tháp cũ
Ngõ Gia Ngư họp chợ Lụa Hà Đông
Để em đi mặc tấm áo phiêu bồng
Cho nhà thơ tưởng đến màu hoa cúc

*
Người nhạc sĩ thấy thu vàng nước Úc
Còn nhà thơ cảm giác mái Denver
Một màu vàng rực rỡ rất là thơ
Hôm nay chợt nảy sinh trong tâm thức

Chung Văn – 10/06/202




TRÁI MỒNG TƠI – THƠ Xướng Họa CAO MỴ NHÂN + PHƯƠNG HOA + MINH THÚY & Loài Hoa Mắc Cỡ – LÊ TUẤN

TRÁI MỒNG TƠI

Cao Mỵ Nhân

*

Quán đẫm sương thu buồn rỉ rả

Mồng tơi ai nhuộm má môi em

Chiều hoang sắc tím trên tầng lá

Không lỗi lầm sao vẫn lấm lem

*

Anh hỏi thơ xưa anh viết tặng

Giấy vàng mực tím có còn nguyên

Em cười: lời đã dần xa vắng

Nên chữ hình như cũng nhạt thêm

*

Tơ trắng thu vương càng chất ngất

Mùa mưa vãn hạ, chớm heo may

Lá rơi theo gió bay đi mất

Ngõ vắng, hồn thơ bỗng đắm say

*

Nhấm thử mồng tơi, e hoá dại

Tay anh hoen tím cả trang thơ

Thương em ưa chuốc sầu quan tái

Ngay lúc đường quen vẫn đợi chờ …

CAO MỴ NHÂN (HNPD)

MoMonMongMonMoM

TÍM MỰC MỒNG TƠI

(Kính họa)

*

Ngày xưa bờ giậu xanh rôm rả

Tím ngát chùm chùm ửng má em

Bướm chập chờn đùa vờn nhánh lạ

Nhập nhoè hạt chín mực màu lem

*

Lá tre bút viết lời trao tặng

Tím cả tình yêu nét tím nguyên

Môi mắt ngọt ngào tim rộn lắng

Nụ cười hạnh phúc má hồng thêm

*

Chữ màu tim tím hồn ngây ngất

Xuân đến hạ về lẫn chớm may

Vết mực xưa nhoà buồn chứa chất

Đêm tàn loang loáng giấc mơ say

*

Tình mực mồng tơi thời tuổi dại

Tím còn in đậm sẫm lời thơ

Muốn tìm kỷ niệm nhưng lòng ngại

Biết nửa hồn kia có mãi chờ?

Phương Hoa – MAY 28th 2021

***

GIẬU MỒNG TƠI

*

Nhớ chuyện ngày xưa lòng rộn rả

Vui buồn một thủa sống trong em

Mồng tơi giậu sát tường xanh thắm

Vặt trái đùa chơi mực tím lem

*

Tập vẽ bôi màu trang giấy tặng

Trao người bức ảnh cảnh đào nguyên

Là khơi ý tưởng thời mơ mộng

Có lúc run làm xáo trộn thêm

*

Kỷ niệm êm đềm tim cảm ngất

Sương tàn khoát nhẹ bóng trăng lay

Mồng tơi vẫn mãi khơi nguồn cảm

Góc bể chân trời gối mộng say

*

Khó ngỡ hành trang thời trẻ dại

Tâm hồn vướng víu thả dòng thơ

Soi vùng ký ức câu vần quyện

Chén nguyệt từng đêm rũ rượi chờ

             Minh Thuý (Thành Nội)

                 Tháng 5/30/2021