VĂN: BAY ĐƠN- Cao Mỵ Nhân

BAY ĐƠN

Trong Quân lực VNCH, chuyện đoàn trực thăng bay nhiều chiếc, nhiều chuyến là rất bình thường vì công tác chuyển quân của các đơn vị ra chiến trường.

Còn chuồn chuồn cánh quạt bay đơn hay bay đôi chỉ xảy ra nơi những công tác hằng ngày của quan chức tư lệnh hay yếu nhân đi thị sát mặt trận, di chuyển cần thiết khắp lãnh thổ trách nhiệm hoặc các phái đoàn đi công tác không có tính cách tác chiến.

Những chuyến bay đơn như máy bay loại nhỏ L19, L20, Cessna, H34, HUIB gì đó thì ai trong chúng tôi thời chiến đi công tác đều có thể xin phi vụ hay theo phi vụ bay tới các vùng trời thân quen hoặc xa lạ để làm nhiệm vụ.

Những chiếc máy bay nhỏ này có khi bay đơn, có khi bay đôi tuỳ theo giới chức xin phương tiện di chuyển.

Tôi nhớ khoảng giữa thập niên 60 thế kỷ trước, vì nhu cầu công tác xã hội ở vùng hỏa tuyến quá bộn bề, chúng tôi buộc phải di chuyển ngang vùng địch chiếm bằng máy bay các loại nhỏ như Cessna hay trực thăng.

Cũng khoảng thời gian giữa thập niên 60 đó, Bộ Tư lệnh SĐ2BB phải di chuyển từ An Hải, Đà Nẵng vô Quảng Ngãi để nhường cơ sở doanh trại cho Quân đoàn 24 Hoa Kỳ trú đóng.

Bấy giờ tôi đang phụ trách phòng Xã hội SĐ2BB nhưng mới thuyên chuyển từ SĐ9BB Sa Đéc về nên không thể sắp xếp gia đình được, đành phải đi đi về về Đà Nẵng – Quảng Ngãi như… cơm bữa. Đúng ra không phải hằng ngày mà hằng tuần.

Cứ mỗi cuối tuần là tôi ra sân bay Quảng Ngãi ngồi chầu rìa ở trạm tiếp liên chờ máy bay nào đó về Đà Nẵng xin quá giang ngon lành. Đi miết trở thành khách lính quen.

Thế là thay vì lên trực thăng cùng bốn, năm người khác, có khi may mắn lại được ngồi Cessna sang trọng, không bị ngồi cạnh cửa trực thăng lúc nào cũng trống toác, gió phần phật khiếp đảm.

Cũng nhờ đi trực thăng nhiều mà đã mấy lần tận mắt thấy ông súng máy khạc trọn dây đạn xuống vũng lầy, đồng cát trên đường trường vì nghi ngờ địch sắp ngẩng mặt lên ngắm chuồn chuồn…

Rồi cuối ngày Chủ Nhật hay chậm lắm là sớm tinh sương thứ Hai đầu tuần lại kiếm đường bay nào có pilot hay copilot hào hoa cho ké vô tàu rời đô thị lớn về tỉnh lỵ buồn tênh với sông Trà, núi Ấn. Miệt mài công tác cả tuần năm này tháng khác y như thế.

Do đó tôi biết được hằng ngày xuất phát từ Đà Nẵng bay đi có chuyến bay dành cho việc rải truyền đơn của quân ta vào vùng địch.

Công việc đó của phần hành Tâm lý chiến và Thông tin Chiêu hồi. Tôi vốn là bạn khá thân của quý vị binh vận dân vận vừa nêu nên sau là khách bay của bóng dáng L.19, L.20, hình như thời Pháp còn gọi là máy bay bà già, hay máy bay do thám.

Những chiếc L này đừng tưởng là cô đơn lò dò bay nhé. Quý L mà phát hiện được dấu địch ở đâu là lập tức trình báo quý đấng thẩm quyền rót pháo ngay đúng hướng chẳng chơi…

Một lần tôi lên L.20, ông pilot ngồi ghế bay quay cổ xuống nói: Hôm nay vô trong xa đấy, độ nửa giờ thôi. Ông này là phần hành thả truyền đơn, thả hết cái mớ giấy kia xuống xong là có thể về Quảng Ngãi ăn sáng. Thằng U nó đợi tôi. Cô rảnh thì đi theo điểm tâm rồi về chào cờ cũng không muộn.

Tôi im lặng vì chỉ muốn vô Quảng Ngãi cho yên chuyện đi mây về gió Đà Nẵng thăm con còn trứng nước.

Ông bay nghĩ tôi ừ cả làng, lượn vút lên không, cứ bay theo… quán tính, người thả truyền đơn cứ thả để VC tìm về tổ ấm VNCH xong là rời không phận Ba Tơ, Trà Bồng đi Quảng Ngãi.

Bạn ông bay đã ngồi ghế lái xe Jeep chờ sẵn. Tôi nhanh mắt nhìn thấy chiếc H34 vừa đậu, đại uý trưởng phòng ANQĐ SĐ2BB với cặp mắt kiếng đen quen thuộc cũng hướng về hướng tôi đứng.

Tôi nói với ông bay L.20 hẹn ăn sáng ngày khác, bây giờ tôi theo xe sư đoàn về làm việc thôi. Thế là hợp lý quá, lại chẳng mất lòng ai, lại đúng ý mình, an tâm làm việc tới cuối tuần.

Trên xe jeep, đại uý Đoàn M. hỏi: Mỗi tuần Cao Mỵ Nhân mỗi về Đà Nẵng hả?

Tôi trả lời thật lòng: Mới đổi về Sư đoàn, chưa biết tính sao nữa, vả lại tiện dịp thì về thăm nhà thôi ạ.

Tất nhiên đại uý ANQĐ chả bao giờ tin ai ngay, nhưng ANQĐ với tôi lại thân thiện thì cứ như thăm hỏi xã giao vui vẻ.

Đại uý Đoàn M. chẳng hề bỏ mắt kiếng đen ra bao giờ. Ông nói ông quen một vài pilot có gia đình ở Đà Nẵng như ông với tôi, nếu tôi cần ra vô Đà Nẵng – Quảng Ngãi thì nói với ông, ông sẽ nhờ máy bay trực thăng đó cho.

Bay đơn nếu bình thường thì như chim được cất cánh, nhất là bay những đường gần.

Có lần phái đoàn gọi là CTCT, nhưng thành phần chỉ có ba người: trung tá Trần Hữu Phước trưởng phòng Chính huấn, tôi trưởng phòng Xã hội và một cô nhân viên xã hội, đi từ Đà Nẵng vô Quảng Tín (Tam Kỳ) bằng chiếc Cessna.

Máy bay như du lịch, chỉ có một pilot là thiếu tá Không quân tên Th. Tôi đã đổi về QĐI/QKI rồi, đây là đi công tác.

Hôm đó bầu trời quang đãng, rất đẹp, nắng thật vàng rực rỡ.

Thường làm việc với nhau lâu biết hết tính nhau luôn là trung tá Trần Hữu Phước chỉ dã ngoại khi trời trong sáng như pha lê. Ông vốn có tiệm may Tây lớn ở Đà Nẵng xưa, tới khi bận việc quân cơ, ông cho dẹp lâu rồi.

Nhưng trời sanh ra ai có năng khiếu hay khả năng gì thì thường méo mó nghề nghiệp, nên chi cứ nhìn vào quân phục là biết ngay ông chăm chút quân trang super 100%.

Điều quân phục thẳng nếp đến không thể bẻ gẫy được một ly đã khiến quan tư Không quân xốn mắt.

Lượt vô thì vì thể diện quốc gia, quan tá tư để quan tá năm ngay ngắn đứng trước ba quân nói nói năng năng rất là thơm phưng phức.

Tới lượt về, cha ơi, máy bay chuyển dạ. Cessna cứ hết nhịp ba lại tới nhịp bảy lướt ngang, lượn dọc, cứ như cô Kiều gảy đàn: Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày…

Quan năm Trần Hữu Phước thoạt thì ngỡ ngàng sau sinh bẳn gắt, vài sợi gió chiều loáng thoáng đong đưa lá cành, chứ có phải dông gió lên khơi đâu.

Song tới Đà Thành là vừa kịp trang sách Buồn nôn của Jean Paul Sartre (1905 – 1980) khép lại âm thầm.

Bay đơn, có lẽ theo tôi chỉ có những phi vụ tưởng là thường nhật của trung tướng Ngô Quang Trưởng tư lệnh Quân đoàn I / Quân khu I đi thị sát chiến trường do đại uý pilot Kim cùng chiếc trực thăng không đẹp không xấu nhưng chắc phải tốt là ý nghĩa vô cùng.

Vị tướng lúc nào nhân diện cũng trầm tư, lênh bênh trên lãnh thổ miền Trung, tình cảm hướng về Trị Thiên như một tri âm tri kỷ, còn người pilot thì mến thương kính trọng tướng nên cũng lặng lẽ, bâng khuâng…

CAO MỴ NHÂN




THƠ ĐƯỜNG XƯỚNG HỌA MỪNG XUÂN: Ban Biên Tập VTLV, Cùng Các Thi Thân Hữu: Minh Thúy, Cao Mỵ Nhân, Như Thu, Thái Huy, Cao Bồi Già, Thanh Hòa, Phương Hoa, và Nguyễn Huy Khôi.




THƠ: Mùa Xuân Đi Rất Vội – CHIA TAY MÙA XUÂN – Cao Mỵ Nhân

MÙA XUÂN ĐI RẤT VỘI.   CAO MỴ NHÂN 

*

Xoá mờ đi tất cả 

Nỗi buồn của hôm nay 

Để ngày mai hoa lá 

Tươi mát giữa heo may

*

Mùa xuân mới bắt đầu 

Mùa xuân không ở lâu

Lá hoa kia sẽ héo 

Theo gió gọi đi đâu

*

Anh xa em hôm qua

Một ngày dài chờ đợi

Lá rì rào hỏi hoa

Bao giờ anh về tới

*

Nhưng khi anh về tới 

Lại không hề thăm em

Mùa xuân đi rất vội 

Hoa lá rụng ưu phiền …

*

  CAO MỴ NHÂN 

*

CHIA TAY MÙA XUÂN.   CAO MỴ NHÂN 

*

Khi chia tay mùa xuân

Hoa rơi đầy thảm cỏ

Nhặt cánh sầu bỡ ngỡ 

Ép vào lòng bâng khuâng

*

Lối cỏ vàng sắc hoa

Mùa xuân không trở lại

Tình nhân buồn ái ngại

Cánh chim bỏ về xa

*

Lang thang khói trắng bay

Tưởng mùa xuân thay áo

Mầu tương tư huyễn ảo

Trời thả lỏng vạt mây

*

Mùa xuân đi thật rồi

Đường dài thêm nỗi nhớ

Anh nghe em thổ lộ 

Thương tiếc buổi chia phôi…

*

   CAO MỴ NHÂN 




VĂN – Chiêm Bao Xuân – CAO MỴ NHÂN

CHIÊM BAO XUÂN

*

Vừa ca tụng thu hôm nào, tuy mới thoáng sương bay thôi, mà sao chẳng thấy heo may, lá vàng . 

Vốn từ xưa mình không thích mùa thu buồn…trong lòng đã không vui rồi, dan díu nỗi buồn làm chi, nhất là có năm nhuận 2 tháng sáu âm lịch, sắc hạ chưa phai trên môi thắm, thu cứ việc chậm về . 

Anh lững lờ như một cánh chim rời tổ ấm, đi tìm địa đàng, 

Rồi lại rời địa đàng, tìm về tổ ấm, hơn 3 tháng rồi, e gần 4 tháng, mà cánh dù cứ tít tắp bay xa…

Mình buộc phải thân thiết với thơ, nói chuyện thì thầm với thơ cho vơi niềm thương nhớ …

Ố ô, bây giờ mình …hết cả giai đoạn nhớ nhung một hiện trạng rõ rệt, như là nhớ quê hương, nhớ gia đình, nhớ học đường, hay nhớ  công ăn, việc làm như ngày xưa, thủa mới lớn, nhớ một hình ảnh ai đâu đó  vv…

Bây giờ mình nhớ tổng quát, nhớ ôm đồm. Sư kiện gì, nhân vật nào hay ho, mình cũng có thể nhớ, hay là nhớ kiểu nhớ  …

chùa.   

Tức là nhớ đấy, nhưng không phải mất mát, không phải thiếu thốn, khốn khổ vì nhớ, vì tiếc, vì thương trời ạ, nói một cách văn chương bình dân học vụ của mình, thì nếu trong lòng thấy như trống vắng, thiết tha một …yếu tố gì đó,  kiếm cách giải tỏa được là OK liền à. 

Cái tính dễ dãi cho tình cảm bộc phát, mình thấy lúc này mình gần gụi thơ Bùi Giáng dễ sợ. 

Thí dụ như trưa nay, ngó về phương nam, nắng nồng nàn, chan chứa yêu thương, mình ngẫm nghĩ tới cái điều mình đang yêu thương gì đó nhất. 

Đơn giản, mình trả lời chính mình, yêu thương cuộc sống này . 

Nếu ai hỏi tại sao, cuộc sống này cũng bình thường, còn có thể tầm xoàng thế mà yêu với thương nỗi gì ? 

Thì mình sẽ trả lời là tại quý vị nào đó, nghĩ nó tầm xoàng thì xoàng xĩnh thôi. Chứ tôi vốn trân trọng nó, cái cuộc sống tầm xoàng của tôi, tôi yêu thương nó trên cả kim đá quý, thậm chí quên cả bổn mệnh nữa, dễ sợ chưa? 

Nếu ai đó hỏi gặng thêm: rằng hiểu vậy thôi, nhưng bên trong  cuộc sống ấy, nó có gì cụ thể mà người nào ngó thấy cũng phải gật đầu: ” Đúng quá !” 

Thì ra lại muốn chứng minh cái cuộc sống đẹp hay vừa ý của mình, ấy là mỗi ngày viết thư cho anh ít nhất một lần, dù vài dòng, và nghe thơ Bùi Giáng lúc nào cũng được, hân hoan, hồn nhiên: 

Xin chào nhau giữa con đường 

Mùa xuân phía trước, miên trường phía sau … ( Bùi Giáng ) 

Tôi nhớ cuối thập niên 60 thế kỷ trước, một sự tình cờ, ở đâu thì tôi quên bẵng, nhà thơ Viên Linh bảo rằng : ” Ở VN, tức miền nam, Văn thì chỉ cần ông Võ Phiến, Thơ thì Bùi Giáng là đủ ” . 

Như vậy, chứng tỏ một thi sĩ cũng khá tiếng tăm rồi, như Viên Linh, mà khen thơ một thi sĩ khác, và nhận định thơ Bùi Giáng là đã đủ cho nền thi ca VN . 

Ngay thời đó, tôi  mang một tập thơ Bùi Giáng từ Saigon về  Đà Nẵng, và thú thật, ngày ấy chắc tôi chưa đủ trình độ đánh giá được cái hay của thơ Bùi Giáng : 

Em sẽ bảo rằng anh say rượu quá

Anh say sưa từ bấy tới bây giờ 

Anh huậy mãi cuồng điên anh đập phá

Anh điên rồ anh có rõ hay không ? 

Anh đáp lại rằng anh rất say rượu 

Anh mê man chẳng rõ ràng rằng 

Từ vạn đại tới thiên thu bừng nở

Một mùa xuân thịnh vượng vốn thường hằng 

Đó là 2 đoạn thơ xem như tiêu biểu cuộc đối đáp giữa 2 người trong một cuộc nhậu, mà vẫn chỉ Bùi Giáng viết lại vào khoảng đầu thập niên 90 thế kỷ trước, khi ông đã thực  sự …điên rồi . 

Trong cơn say, khi điên, ông còn tỉnh táo viết một bài thơ 8 chữ dài trên một trăm câu, với 2 câu lục bát  làm lời kết: 

Tuyệt trù non biển vời trông

Tần thân thổ lộ vân mòng đã xa…

( Ghi rằng viết tại Lê gia trang  1991 )

Câu chuyện giữa một người được thi sĩ Bùi Giáng tôn phong là đại ca  Ngô Văn Tao, còn thi sĩ tự xưng là Bùi Văn Trẫm . 

Ngay trong cơn say, nhà thơ điên loạn vẫn có những câu thơ xuất thần và biểu lộ lòng chân thành với cuộc đời ông: 

Anh đã định sẽ yêu đời suốt kiếp

Suốt thiên từ vạn thuở phiêu bồng

Rồi anh chợt thấy mình luôn liên tiếp

Nửa điên cuồng nửa rồ dại bông lông 

            ( Bùi Giáng.   1991. ) 

Nghĩa là nhà thơ Bùi Giáng biết ông điên trong nỗi điên lạ kỳ, biết điên rồ, muốn tỉnh lại nhưng không tỉnh được  vì cuộc đời ông là những phiêu bồng, điên cuồng, rồ dại , bông lông. 

Trong thơ ca điên của Thi sĩ Bùi Giáng nó mang cái chất hay của điên, huống hồ bài thơ viết khi ông còn tỉnh táo, thì đúng là thi sĩ của cả miền nam thi sĩ cộng lại : 

Hỏi  rằng người ở quê đâu

Thưa rằng tôi ở rất lâu quê nhà . 

Đó là cái giọng văn, giọng thơ Bùi Giáng, không thể lẫn lộn với thơ ai được . 

Song không phải thơ Bùi Giáng đứng lại nơi thềm hoang toàn những ngữ ngôn ngô nghê, dân giã …như vậy. 

Thơ ông, Bùi Giáng, người thi sĩ tài hoa trong ngôi  đền văn chương, có những vần thơ hết sức truyền thuyết hoang đường, huyền thoại…Đan cử là bài thơ ” Chiêm bao” mà tôi đã nhắc nhở  tới nhiều lần…

Anh thân kính ơi, rõ ràng cuộc sống là cái mốc cho người đời chúng ta, hay là quý vị và chúng tôi, tìm thấy niềm vui ở  bất cứ lứa tuổi nào. Nó,cuộc sống, sẽ kèm theo hoài bão hay ước mơ của mỗi người dù tỉnh dù say .

Không phải là tham sinh uý tử, nhưng ngay từ lúc Thượng Đế 

sanh ra ta, Ngài có muốn chúng ta phải tự hủy diệt bao giờ. 

Vì thế cho nên dẫu có thể bất như ý tình cờ, thi sĩ Bùi Giáng vẫn là người yêu đời nhất,lạc quan tin vào cuộc sống

một cách … trầm mê, hồn nhiên tự tại …

Trong thơ thi sĩ Bùi Giáng  luôn chứa đựng mùa xuân và chiêm bao, với mình anh cũng là mùa xuân và chiêm bao, nên mình rất thích những huyễn ảo, hoang đường này …

                 CAO MỴ NHÂN 




THƠ XUÂN – CAO MỴ NHÂN –




CHÙM THƠ: Cao Mỵ Nhân

VỀ GỌI MÙA XUÂN .  –  CAO MỴ NHÂN

*

Em về cuốc núi trồng hoa

Lệ rơi thấm đá, rừng xa xót buồn

Tình anh chan chứa trong hồn

Ngẩng nhìn sương khói bay dồn lũng khơi

*

Đá trong tay, đá thay lời

Vàng hoa sẽ đổi sắc trời quê hương

Mình em hiu quạnh trên đường

Những nơi anh với sa trường dở dang

*

Trưa rồi , mây trắng lang thang

 Chiến hào xưa chất ngổn ngang muộn sầu

Em về mang nặng niềm đau

Bâng khuâng anh gởi tuyến đầu nhớ nhung

*

Núi ơi, đá mọc tuyệt cùng

Nguồn thương yêu xẻ thành sông êm đềm

Một rừng mai nở vàng thêm

Mùa xuân trở lại cho em hẹn hò …

*

CAO MỴ NHÂN (HNPD)

*

MỘT LẦN XUÂN GỌI – CAO MỴ NHÂN

*

Cành thay lá mới

Em đổi áo xanh

Rồi ngồi yên đợi

Sương rơi long lanh

*

Mùa xuân chưa tới

Nên anh chưa qua

Áo xanh như lưới

Nhện đang giăng tơ

*

Năm cùng tháng cuối

Tuổi vẫn mộng mơ

Tóc em như suối

Chảy trên dòng thơ

*

Hay là anh gọi

Mùa xuân sớm về

Để em thay áo

Mầu sắc đam mê

*

Em sẽ mời xuân

Nếu anh ở lại

Bên em một lần

Nhớ anh mãi mãi …

*

CAO MỴ NHÂN (HNPD)

*

MÙA XUÂN LỮ THỨ.     CAO MỴ NHÂN

*

Có người nói với em

Đã nằm chờ giấc ngủ

Thì đừng nghĩ gì thêm

Về anh, dù thương nhớ

*

Nhưng mùa xuân đến đó

Tình anh vẫn còn đầy

Làm sao em ngủ được

Khi vắng một vòng tay

*

Anh bảo rằng đắm say

Cho em nhiều thi tứ

Thì cứ thả thơ bay

Theo mùa xuân lữ thứ

*

Anh còn mải bâng khuâng

Giữa bao la tình tự

Tặng em những mùa xuân

Vạn đoá hoa rực rỡ

*

Em mang vào giấc ngủ

Một hình ảnh mơ hồ

Trong gối chăn ấp ủ

Nồng nàn xuân vẩn vơ…

*

  CAO MỴ NHÂN




VĂN – ĐỈNH HOA VÀNG – Cao Mỵ Nhân

ĐỈNH HOA VÀNG

Trong HNPD cả net lẫn com của quan Đồ Ngu tức nhà văn Nguyễn Trọng Hoàn của …tôi, tôi hay xí phần lắm, nếu điều gì đó phảng phất có tôi trong đó, có một bài viết về nhà thơ béo xụ, to ù Phạm Thiên Thư, với tuồng tích ” Ngày xưa Hoàng thị…”, có kèm hình ổng mới nhất, tuần trước.

Tôi vốn cũng không xa với nữ sĩ Tuệ Mai, người đưa ông lên đỉnh hoa vàng, xin lỗi tôi không xài danh xưng ” động hoa vàng ” như ai yêu thơ cũng theo dõi và biết phần nào.

Bài này đặc biệt chỉ kể về chuyện ở động hoa vàng thôi .

Ô mà với Phạm Thiên Thư thì có lẽ ” Động hoa vàng” là chính điểm cho bàn dân độc giả thơ mến mộ, chứ dẫu Thi sĩ Phạm Thiên Thư có lối hành văn thơ khá đặc biệt, nghĩa là có ngôn ngữ riêng, như kiểu lời nhạc đặc biệt Trịnh Công Sơn cùng thời, thí dụ:

Đoạn trường sổ gói tên hoa

Xưa là giọt lệ, nay là hạt châu …

( Đoạn trường vô thanh – Phạm Thiên Thư )

Lại cũng biện luận bằng câu: tiểu sử, thành tích, tác phẩm Thi sĩ Phạm Thiên Thư thì đã đầy trong sách báo đương thời, tôi chỉ lướt qua những kỷ niệm rất chân tình, còn nếu nói về mức độ đúng, sai…thì thưa quý vị, nó, kỷ niệm sắp đơn cử ra, thật đến độ quý vị có lòng, phải thẫn thờ buồn mãi …

Theo đề nghị của quý nữ sĩ trong thi đàn Quỳnh Dao, một hội thơ nữ lưu rất danh tiếng về mọi mặt, tôi đã nhận cái việc là sẽ tới lui chăm sóc cho nữ sĩ Tuệ Mai những ngày tháng sau cùng, khi bịnh ung thư của chị đã đến hồi bó tay, chỉ còn xài ” morphine” chế ngự các cơn đau dồn dập tới thôi.

Đó là những tháng cuối năm 1981, qua đầu 1982.

Tuy bịnh nặng như thế, mà cũng còn những khoảnh khắc chị có thể tâm sự với tôi về hành trình viết lách chưa gọi là xong của chị .

Tất nhiên làm sao xong được với một cây bút còn đầy sức sống, chỉ có sức khỏe người cầm bút ấy bị hao hụt dần, nhất là không ai chia xẻ với mình về mặt tâm tư tình cảm đúng đắn , đối với một phụ nữ sắp sáu chục tuổi, đầy mơ mộng .

Tôi có lẽ may mắn là thủa đó, mấy năm đầu thập niên 80 thế kỷ trước, mới xong tù cải tạo và lao động nông trường về, đối với tôi cuộc sống là quý giá lắm, nên tôi thông cảm ngay .

Mỗi ngày, vào buổi trưa, trên căn gác nhỏ ngôi nhà số K8

Đường Nguyễn Chí Thanh, tên mới, tôi không để ý tên cũ là đường gì . Chị vẫn có thể cười nói rằng:

Này Cao Mỵ Nhân, đã gặp Phạm Thiên Thư chưa ?

Tôi lưỡng lự: ” Chưa chính thức gặp, nhưng em có thấy anh ấy ở đâu rồi ”

Nữ sĩ Tuệ Mai cứ lúc khép lúc mở mắt, có lẽ chị đang mơ mộng, với giọng đều đều :

Thư, là thi sĩ Phạm Thiên Thư, chị Tuệ Mai luôn kêu Phạm Thiên Thư là ” Thư ” thôi, khác với nữ văn sĩ Nguyễn Thị Vinh thì bao giờ cũng ” Anh Nhật” tức nhà văn, điêu khác gia Nguyễn Hữu Nhật .

Thư vui lắm em ạ, khi chị khám phá ra Thư là một thiên tài, mình, là nữ sĩ Tuệ Mai, nói Thư phải đưa các tác phẩm xuất sắc đó lên cao hơn, vì giá trị của lời thơ …

Cao Mỵ Nhân đọc hết các sách thơ của Phạm Thiên Thư chưa ?

Sự thực tôi chưa đọc hết, song nhìn chị Tuệ Mai gần đất xa trời quá rồi, tôi gật gật đầu : ” Em có đọc …”

Chị Tuệ Mai tiếp : Cơ duyên đã khiến chị gần Thư, sau khi Thư rời hẳn Chùa ra đời, Thư là con trai duy nhất của cụ bà Thư Lâm, chị đặt cho cụ phương danh này, thì cứ việc sống bình thường trong xã hội Saigon, ở Chùa làm chi, cho dẫu Thư có tâm tu đi nữa.

Thế rồi Thư có ý định thành hôn với chị ( Tuệ Mai ) là lúc chị đã 50 tuổi, còn Thư 32 tuổi, 1972, cùng lượt với nữ sĩ Nguyễn Thị Vinh ( 48 tuổi ) và nhà thơ họa sĩ điêu khắc gia Nguyễn Hữu Nhật ( 30 tuổi ) .

Chị Vinh thì mới mẻ, bạo dạn và lãng mạn hơn chị nhiều, chị Vinh luôn làm chủ cuộc đời chị ấy, chứ chị ( Tuệ Mai ) thì … ngại quá, chị còn cái đại gia đình nặng trĩu phong kiến, cụ thân sinh vẫn đang tại thế, tức thi sĩ quá lão thành Á Nam Trần Tuấn Khải.

Chị còn bầy em gái 5 cô con bà dì, chị có 2 Con gái nuôi là Thanh Nhu có gia đình rồi, đang tá túc với chị trên căn gác ấy, cô con nuôi thứ hai đã đi tản, ở Mỹ , và là người luôn quà cáp về VN cho chị sau này .

Nên, Thư cũng …ngần ngừ, rồi quyết định thưa với cụ thân mẫu Thư, đoạn, Cao Mỵ Nhân biết không, chính bên nhà Thư đã tiến hành cho chị một đám cưới đàng hoàng, bằng chính tiền để dành, em ạ , đập cái hũ vàng ra, để mà lo sính lễ đấy .

Tôi có biết gì về giai thoại này, hơn nữa trước 30-4-1975 tôi còn ở QĐI/QKI của…tôi, 1972 là cái tuyến lửa quân nhân các cấp VNCH đang tái chiếm cổ thành Quảng Trị, tôi đang phờ phạc về công tác xã hội hậu phương, thương binh tử sĩ ở các quân y viện Huế, Đà Nẵng, có thì giờ đâu theo dõi chuyện tình thành phố chứ, tôi ậm ừ: ” Thế ạ ” .

Sau khi cưới nhau chính thức, chị về nhà Thư là ngôi nhà giống như biệt thự, tức là có hoa lá cây cảnh ở con đường XXX bên Gia Định, tức Quận Bình Thạnh.

Nhưng vẫn đi đi về về nhà chị, số K8 đường nêu trên .

Vài năm sau, nữ sĩ Tuệ Mai nghĩ là: Thi sĩ Phạm Thiên Thư có trữ tình , lãng mạn đến mấy, cũng cần có con cháu để nối dõi tông đường, nên chính chị là người hỗ trợ thiết tha việc cưới cho thi sĩ Phạm Thiên Thư đệ nhị ái thê, nguyên là ái nữ của nhà văn Hoàng Ly, người chuyên viết chuyện đường rừng thượng du Bắc Việt xưa.

Buồn cười lắm Cao Mỵ Nhân ạ, bấy giờ chị chưa rời hẳn nhà Thư đâu, bởi vì nơi đó chính là cái động hoa vàng được hình thành, hoa cúc vàng, rồi mùa xuân thì những cành mai vàng nở rộ biết không?

Nữ sĩ Tuệ Mai, tác giả 7 tập thơ trước 1975, đang ấp ủ 2 cuốn truyện dài :

Lưu Bình, Dương Lễ và nàng Châu Long mới,

Huyền Trân Công chúa .

đã ngã bịnh …vô Bịnh viện Bình Dân, để rồi cay đắng biết mình sẽ từ giã cõi đời .

Ngày tôi từ nông trường về thành phố, là chị đã giải phẫu xong khá lâu, nhưng vẫn trong ưu tư không còn cơ hội viết 2 cuốn tiểu thuyết nếu trên .

Chị giao cho nữ sĩ Như Hiên cũng trong Hội thơ Quỳnh Dao viết ” Nàng Châu Long mới “, để làm sao đánh bật cái tư tưởng phụ nữ cao vời, chứ không phải được Quan xưa Dương Lễ ngoắc ra truyền lệnh cho đi nuôi Lưu Bình, vì Châu Long là vợ 3 của Dương Lễ.

Chị có nhã ý giao cho tôi viết tiếp mấy chương để kết thúc cuốn Huyền Trân Công Chúa, với ý đồ là tôi phải làm nổi bật được vai trò công chúa Huyền Trân vốn nhà họ Trần của chị : nữ sĩ Tuệ Mai Trần Thị Gia Mình.

Nhưng tôi bận lo chuyện cơm áo, rồi chuyện ra đi theo diện HO của …tôi sau này, tôi không nhớ mình đã xếp 2 chương bản thảo công chúa Huyền Trân của chị ở chỗ nào nữa .

Một ngày được tin thi sĩ Phạm Thiên Thư sẽ ghé thăm chị Tuệ Mai, chị thản nhiên như bạn tầm phơ, không nghĩ đã một thời chị cùng thi sĩ họ Phạm đó kết nghĩa tào khang.

Tôi loay hoay vì lo cái chuyện cách đó ít lâu, nhà thơ Trụ Vũ đã chở Honda tôi tới tiệm hớt tóc ở Lăng Cha Cả, giới thiệu tôi giả đò là cán bộ văn hoá từ Hanoi vô Saigon, để chờ đi Cote d’ Ivoire công tác . ..muốn làm quen thi sĩ nổi tiếng miền nam, mà nhà thơ Trụ Vũ cảm thấy chỉ có Phạm Thiên Thư là hay không tưởng được .

Dịp đó, Phạm Thiên Thư đã lấy làm hãnh diện, và còn muốn cũng được đi Phi Châu như tôi chứ.

Lý do thi sĩ Phạm Thiên Thư và tôi chưa hề diện kiến nhau, nên Trụ Vũ kêu tôi là ” chị Đỗ Mai A ” .

Nay thi sĩ Phạm Thiên Thư tới thăm nữ sĩ Tuệ Mai, thì thế nào đây ?

Phạm Thiên Thư đã lên thang gác, tôi quýnh quá, trốn ngay vào nhà tắm sát phòng chị Tuệ Mai.

Nhị vị thi sĩ tên tuổi ngó nhau nhiều hơn là phải nói, một lúc thấy lâu, chị Tuệ Mai kêu:

Cao Mỵ Nhân đâu rồi, ra đây chứ, Thư tới này .

Tôi đành phải ra chào, cười hoà hoãn, Thi sĩ Phạm Thiên Thư nhìn tôi, tay chỉ chỉ : ” Trời, dám cùng Trụ Vũ phá tôi hả ? ”

Thi sĩ Phạm Thiên Thư cáo biệt rồi, thấy chị có vẻ buồn xa vắng, tôi kể cho chị Tuệ Mai nghe chuyện nhà thơ Trụ Vũ đùa cợt xem thử Phạm Thiên Thư thế nao, khi Trụ Vũ ” phỏng vấn” Phạm Thiển Thư là : Nam thi sĩ miền nam nổi tiếng là Phạm Thiên Thư rồi, còn nữ thi sĩ nổi tiếng miền nam là ai, anh có thể cho chị Đỗ Mai A đây một ví dụ .

Phạm Thiên Thư cười cười không trả lời, Trụ Vũ hỏi tới luôn:

” Chớ anh nghĩ thế nào về nữ thi sĩ Tuệ Mai ? ”

Thì Phạm Thiên Thư im lặng .

Nhưng tôi không kể chi tiết này ra với chị, vì chị đang đau, mà thái độ của Thi sĩ Phạm Thiên Thư cũng chằng …hào hoa mã thượng gì .

Ít ngày sau, nữ sĩ Tuệ Mai mất. Chúng tôi có thông báo bằng hữu văn chương biết ngày tiễn nữ sĩ Tuệ Mai về cõi vô cùng. Chị mất chiều mùng một tết, đưa ma sáng mùng bốn tết âm lịch năm ấy( 1982) vừa đúng hoa giáp .

Song nhà thơ Phạm Thiên Thư không đến tiễn biệt nữ sĩ Tuệ Mai, người đã đưa ông lên đỉnh hoa vàng, trong lúc khá đông thi văn sĩ Saigon xưa tới chia buồn cùng hương linh chị.

Đáng ngợi ca nhất là nữ văn sĩ Nguyễn Thị Vinh đã xin để tang nữ sĩ Tuệ Mai, viết 4 câu thơ và yêu cầu tôi đốt trước quan tài nữ sĩ Tuệ Mai lúc ở hỏa tháp Thủ Đức.

Nhà văn Nguyễn Thị Vinh nói cho tôi hay rằng: trong nghĩa cử bạn bè văn nghệ, chị phải để tang 4 người, 2 vị kia tôi không quen biết, còn 2 nữ sĩ Quỳ Hương và Tuệ Mai trong hội thơ Quỳnh Dao, tôi là em út thi đàn này, tôi phải biết chuyện đó.

Nhà văn Nguyễn Thị Vinh còn thủ thỉ: ” Em ơi, chính Tuệ Mai giới thiệu anh Nhật cho chị đấy ” .

Tới chiều hôm sau, thi sĩ Phạm Thiên Thư mới ghé lại ngôi nhà có hình ảnh cuối cùng của nữ sĩ Tuệ Mai, ” Gã từ quan ”

ấy mới lấy làm tiếc là không kịp về đưa đám nữ sĩ Tuệ Mai .

Buồn nhỉ, có lẽ nào như thế không ? Hình như câu ”

nghĩa tử là nghĩa tận ” đôi khi không được nhớ đến …

CAO MỴ NHÂN




THƠ – Vùng Ký Ức & Vẫy Gọi Bình Yên – CAO MỴ NHÂN




VĂN: Làm Giàu Cho Sách – CAO MỴ NHÂN

Làm giàu cho sách

Ông Khai Trí

Hồi đó vào khoảng đầu thập niên 80 thế kỷ trước, tôi đã gọi là xong hết mọi việc dính tới chuyện tù cải tạo nên thong dong đi chơi như bạn bè không thuộc nguỵ quân, nguỵ quyền Sài Gòn, tức là họ không phải đi tù tập trung như tôi.

Mỗi buổi sáng, tôi thường rời nhà ở khu nhà thờ Ba Chuông, đi bộ tà tà lên hướng Lăng Cha Cả trên con đường gọi là Trương Minh Ký, nối dài đường Trương Minh Giảng phía trên.

Tới ngã tư đường Thoại Ngọc Hầu thì rẽ phải đi một đoạn ngắn nữa, gặp đường nhỏ Nguyễn Minh Chiếu cắt ngang, rẽ trái đến số nhà 328 (gần cuối đường) bên tay mặt, tôi đứng trước cổng lớn của biệt thự Úc Viên.

Tôi đến chơi với nữ sĩ Mộng Tuyết – Thất Tiểu Muội như cơm bữa vì cũng chẳng có việc chi làm. Một hôm nghe tiếng chuông nhè nhẹ từ ngoài cổng biệt thự Úc Viên vọng vào.

Nữ sĩ Mộng Tuyết ngó đồng hồ rồi nói: Ông Khai Trí đến đó, đúng hẹn quá ha. Bà nói tôi ra mở cửa, đồng thời có định gặp ông Khai Trí thì bà giới thiệu…

Ông Khai Trí ở Sài Gòn trước 30 – 4 – 1975 ai mà không biết… Ông là giám đốc nhà sách Khai Trí ở đường Lê Lợi. Về sau ông vừa làm nhà xuất bản, tổng phát hành nên bộn bề công việc nhưng càng thêm uy tín và thân tình với đông đảo văn nghệ sĩ. Không ai không cảm phục ông về tấm lòng yêu quý sách từ thủa còn đi học.

Những hoạt động mua bán sách và giao tế tuyệt vời của ông với các tác giả cũng như khách hàng mà đa số là sinh viên học sinh thì khỏi nói.

Tôi chỉ đề cập tới một chuyện rất tầm thường nhưng lại… bất thường, chứ không nói tới chữ phi thường vì lớn lao và khôi hài quá!

Số là những ngày ông bị tập trung cải tạo ở Z30C Hàm Tân, cùng trại với anh rể tôi, trong vấn đề phân phối lao động…

Ai đã đi tù chính trị Cộng Sản đều biết cái điều mỗi lần chia tổ lao động,  đòi hỏi tự nguyện, rồi mới chỉ định.

Thế thì nhà tổng phát hành sách vở, chữ nghĩa cứ thơm phưng phức hàng ngày vui cùng thiên kinh, vạn quyển kia nay tự sung vào cái tổ gánh phân rồi hoà tan thành nước phân bón tưới các rẫy vườn rau, đậu ngoài trại ấy.

Làm như thế thì chỉ phải lao tác nửa ngày, còn nửa ngày cọ rửa cho thân thể sạch sẽ trở lại con người… nhân bản được chút nào hay chút nấy. Khốn nạn cho cái xã hội khốn cùng đó.

Ở ngoài Bắc, dù không đi tù cải tạo người ta vẫn làm cái việc phân bón… thiên nhiên này, đến nỗi cả người lớn lẫn trẻ em đều bị cái bệnh tệ hại nhất thế giới là những cái bụng sán lãi bự chảng, mặt mũi xanh lét.

Ông Khai Trí đã từ ngoài cổng Úc Viên vô tới nửa hành lang, tay dắt xe đạp, trên ghi đông xe đạp còn treo một cái bị cói hơi cũ đựng sách truyện và những thứ cần thiết…

Chẳng biết đường trường kách mệnh của Hồ lão tặc sẽ vượt lên thượng tầng kiến trúc thế nào, chứ cái màn khốn khổ khốn nạn XHCN diễn đi diễn lại khiến cho con người đang từ phong nhã, hào hoa trở thành bần hàn ti tiện làm sao.

Nhưng người lịch thiệp thì cho dẫu đã trở lại bước đường hoa gấm ngày xưa, ông Khai Trí vẫn nhẫn nhịn, hoà nhã, chịu đựng đến độ thành bụt lúc nào không hay.

Cơ ngơi tài sản ông mất nhiều, mất ít thì tôi không rõ, nhưng những năm tháng sau cùng ở Sài Gòn, ông vẫn đi xe đạp, treo giỏ cói ở ghi đông với một nụ cười mà không biết phải diễn tả thế nào mới đúng: hoà đồng, khổ luỵ, buồn thương, chán chường…

Song vẫn đầy nghị lực, vẫn mong ước, chờ đợi một ngân hàng sách, một hệ thống phát hành ở khắp nước Việt Nam để từ đó cái xã hội sách bất khả của họ tự giẫy chết trong nghĩa địa sách mà họ lầm tưởng là có thể để đời…

Tuy nhiên đầu thập niên 90 tiếp theo, ông vẫn đi Hoa Kỳ.

Mộng làm giàu cho sách, chứ không phải sách làm giàu cho ông, vì giai đoạn này các con ông đã nên danh phận và ông đã già (1926 – 2005).

Thế mà có một buổi trưa kia, trên chiếc xe buýt chuyển trạm đường Brookhurst, ông Khai Trí đã khệ nệ bước xuống với mấy bao, giỏ sách thật nặng nề vừa đeo trên vai, vừa ôm trước ngực, vừa… thở hổn hển, mà vẫn tươi cười.

Tôi hỏi sao ông di chuyển sách nặng làm gì khổ thế. Là vì ông phải đi từ Los Angeles xuống ga chuyển Fullerton, rồi từ Fullerton qua buýt khác xuống thủ đô tị nạn Bolsa mà tôi gặp đó, rồi ông sẽ đi một chuyến buýt thứ ba về nhà ông. Thật cực khổ. Năm đó 1993, ông đã gần bảy chục tuổi.

Vài năm sau, ông quyết định về Sài Gòn ở luôn. Sinh hoạt văn chương theo ý ông cùng các văn nghệ sĩ nửa cũ, nửa mới cho tới khi qua đời.

Thời gian ông Khai Trí xây dựng sự nghiệp sách khai phóng và điều hành cái cơ sở đồ sộ những chữ cùng… nghĩa, tôi nghĩ quý vị tác giả biết ông và thân tình với ông nhiều cách khác nhau…

Qua gần 10 năm, sau khi ông đi tù cải tạo về tới trước khi đi Mỹ, tôi được hân hạnh quen biết ông chững chạc hơn, trong giao lưu chưa thật hết văn hoá cũ đã phải tiếp nhận văn hoá mới.

Đó là cái xã hội miền Nam sau 30 – 4 – 1975, ô dề một cách hầm bà lằng…

Sự thực lớp người như ông Khai Trí chẳng… sợ ai gọi là ở chế độ mới. Chưa kể những người từ rừng về mang cảm giác thua kém trước… rừng sách, hay ít nhất một người đủ góc độ nói về văn hoá, văn học, cho nên ông vẫn được số đông người họ Mác, họ Lê, họ Hồ kính nể.

Mặt khác ông vẫn có ý giúp quý văn nghệ sĩ cũ bị kẹt lại hay đi tù cải tạo ra gặp hoàn cảnh khó khăn.

Ngày thi sĩ trung tá Hoàng Ngọc Liên từ  về, ông Khai Trí đã đeo vào ngón tay cho quan năm thất thế đó chiếc nhẫn một chỉ vàng 24 carat gọi là mừng bạn, chẳng lẽ nói để anh ăn bù thời gian đói khát tù đày vừa qua.

Buồn quá, mỗi lần một người quen mãn phần hay thất lộc thì bâng khuâng rồi, nhưng ông Khai Trí ra đi về cõi vĩnh hằng thì quả là giống như ai đang cầm cuốn sách hiếm quý bị người điên giật lấy rồi xé bỏ trước mặt họ…

CAO MỴ NHÂN




KHÉP MỘT CỬA SỔ – Nữ Sĩ Thụy An & Nữ Sĩ Mộng Tuyết – Cao Mỵ Nhân

Nữ Sĩ Thụy An

Buổi trưa hôm đó, khoảng mấy năm đầu thập niên 80 thế kỷ trước, nữ sĩ Mộng Tuyết nhắn tôi đến biệt thự Úc Viên tọa lạc cuối đường Nguyễn Minh Chiếu để ăn cơm với bà, nhân dịp có bà nữ sĩ tiền chiến ở ngoài Bắc mới vô.

Nữ sĩ tiền chiến quen biết nữ sĩ Mộng Tuyết thì nhiều lắm: Ngân Giang, Mai Đình, Anh Thơ, v.v…

Không chỉ nữ sĩ, các ông văn thi sĩ tiền chiến quen biết với ông bà từ trước 1954, đều liên tiếp từ ngoài Bắc vô thăm miền Nam cho tận mắt thấy sự văn minh, lớn mạnh ở phần đất Mỹ – Diệm, rồi Mỹ – Thiệu, tức VNCH này.

Tôi từ nhà ở khu nhà thờ Ba Chuông đi lên ngã tư đường Nguyễn Minh Chiếu và Phạm Văn Hai trước 12 giờ trưa để dự bữa trưa có việc đón bà nữ sĩ nào đó mà đại tỷ Mộng Tuyết dặn đừng trễ hẹn vì rất bổ ích cho tôi, nếu như muốn có dịp tổng hợp quý vị nữ sĩ tên tuổi đã hiện diện trong văn học sử Việt Nam. Tới Úc Viên, nữ sĩ Mộng Tuyết cười thú vị:

Biết ngay mà, cô em Bắc Kỳ thế nào cũng dzọt đến liền hà, đâu thử đoán coi ai sắp tới?

Tôi ngẫm nghĩ:

Các bà Anh Thơ, Mai Đình trong đội ngũ văn nghệ miền Bắc đã từng đến Úc viên nhiều lần. Nữ sĩ Ngân Giang không trong bộ máy bạo quyền, chuyên sáng tác thơ cổ điển, mình cũng gặp hai lần rồi. Hai bà Hằng Phương, Vân Đài chỉ gặp tên tuổi trên hình ảnh chứ cũng chưa hề đọc tác phẩm. Bà Mộng Sơn, Thuỵ An đã ở Hà Nội trước 1954, gọi là quý vị không di cư thủa ấy. Vậy là ai chứ.

Tôi bèn lắc đầu: Chịu, em chả biết, vì quý bà ấy thuộc hàng cô, dì với em, ai vậy đại tỷ?

Nữ sĩ Mộng Tuyết – Thất Tiểu Muội, một chỗ ngồi riêng trong các chiếu thơ Việt Nam từ thủa cuối thập niên 30 tới buổi đó năm 1983, là phu nhân thi sĩ giáo sư Hán học đại học Văn khoa Sài Gòn. Nhị vị Đông Hồ –Mộng Tuyết có cả một sự nghiệp văn chương ở Chiêu Anh Các, Hà Tiên, vân vân và vân vân.

Nữ sĩ Mộng Tuyết nghiêm mặt nhưng vẫn vui vẻ:

Phải biết chuyện này nghe cô em. Nữ sĩ Thuỵ An cũng bị trong vụ án Nhân Văn giai phẩm Hà Nội là người phụ nữ có lẽ duy nhất tự tay móc một con mắt, hỏi trên thế giới đã có ai vậy chưa?

Tôi nghe ù cả tai, sự thực mà nói ở cả hai chế độ Nam, Bắc Việt Nam, có lẽ chưa có phụ nữ thứ hai nào uất khí đến nỗi móc mắt mình ra để gọi là phản đối bạo quyền Cộng sản độc tài, tàn bạo.

Đúng lúc chuông reo, ngoài cổng đã có khách tới, nữ sĩ Mộng Tuyết ngó tôi cười: Nào, chúng ta ra đón nữ sĩ Thuỵ An.

Đi dọc theo hành lang, tôi thốt một câu vườn trưa nắng chiếu nhiều ghê lắm… Nữ sĩ Mộng Tuyết cười giòn giã:

Đúng là Cao Mỵ Nhân còn trẻ, hăm hở quá chớ: Đã nhiều còn lắm, nên ghê thật, chớ giỡn đâu.

Tôi đã kéo một bên cánh cửa, cửa Úc Viên rộng có thể chạy xe hơi ra vô được.

Nhân dáng một bậc nữ lưu trạc gần bảy chục tuổi thôi, được nữ sĩ Mộng Tuyết giới thiệu là nữ sĩ Thuỵ An, tên thật là Lưu Thị Yến (1916 – 1989), một nữ tù chính trị. Cộng sản Việt Nam đã kết án bà, bà đã tự chọc mù một mắt để phản đối chế độ vô nhân đạo đó.

Viết về nữ sĩ Thuỵ An thì… dài lắm, vì bà là một người phụ nữ hội đủ mọi lãnh vực văn học, xã hội, chính trị, kể cả mặt tình cảm riêng tư, nhưng tôi chỉ kể giai đoạn sau cuộc đổi đời khốn nạn 30 – 4 – 1975.

Nữ sĩ Thuỵ An mặc áo dài lụa tơ nội hoá, quần satin đen, mang đôi dép thấp, bới tóc gọn lên cao, nên chẳng khó khăn gì khi thấy trên dung nhan bà chỉ còn một con mắt thực sự, vì con mắt bà tự chọc thủng cho mù đã chỉ còn lớp da nhíu lại, trõm sâu.

Tuy nhiên, tôi cũng xin ghi nhận những dấu hiệu tàn tích của cái gọi là Cộng sản Việt Nam. Chúng đã bắt bà năm 1958, kêu án 1960, tới năm 1973 mới thả ra.

Nữ sĩ Thuỵ An vô Nam, thuê một căn nhà nhỏ ở trong hẻm ngay sau lưng biệt thự Úc Viên nên tôi có dịp ghé thăm bà đưa thư hay chuyển lời nhắn của nữ sĩ Mộng Tuyết thời gian sau buổi hạnh ngộ ấy.

Chúng tôi ăn bữa trưa trong nghẹn ngào nước mắt. Nữ sĩ Mộng Tuyết cứ ngừng lại như chính bà đang khổ tâm lắm. Tôi thì vừa xong chuyện tù cải tạo. Đặc biệt là nữ sĩ Thuỵ An không hề tỏ ra xúc động khi ôn lại cái quá trình mà bà bị khổ nhục trong suốt thời gian bà ở lại miền Bắc sau 20 – 7 – 1954.

Kể lại rồi bà lắc đầu, khinh thường bọn chính quyền ấu trĩ Hà Nội, thỉnh thoảng còn bật cười, thật là can đảm và nghị lực.

Bà không hỏi tôi đi tù ra sao, khi chính bà hiểu rằng tôi vẫn có vẻ tươi tắn, hồn nhiên, xem ra tôi mới ở dưới chế độ bà gọi là khốn nạn có 8 năm, bà phải ở tới 21 năm, mà hết 15 năm trong tù, dù bà đã tự hủy hoại một con mắt.

Hình ảnh nữ sĩ Thuỵ An thủa tôi được diện kiến bà lần đầu tiên ở Úc Viên tới sau này khi tôi được gặp nhà thơ ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện trong cuộc biểu tình thu nhỏ đi quanh Westminster Civic Center đầu năm 1996 thấy hao hao giống nhau.

Vì hình ảnh như đang ở cõi chết, sự khô héo, cằn cỗi và rất hận thù của những người bị tước bỏ hết cả nhân cách cuối cùng khiến không còn khả dĩ một đức tin tối thiểu ở đời nữa.

Chúng tôi lặng yên để nữ sĩ Thuỵ An có dịp trút hết nỗi bi thương, thù hận Cộng sản Việt Nam hay bọn cầm quyền ở Hà Nội ra…

Bà vẫn giữ tư thế lịch thiệp của người làm chính trị ngoại giao, còn là vị chủ báo tên tuổi tiền chiến với những sự kiện đáng nể như chủ nhiệm báo Đàn bà mới (Sài Gòn), Phụ nữ tân văn (Sài Gòn), Đàn bà (Hà Nội), từng làm giám đốc Việt tấn xã và phóng viên chiến trường, đủ biết có bao nhiêu… kẻ thù, cả trong và ngoài nghề nghiệp.

Nghe nữ sĩ Mộng Tuyết giới thiệu tôi ở trong quân đội VNCH, hay làm thơ, v.v. bà cười rất bao dung: Vậy em có biết gì về chị không?

Lại một câu hỏi như hôm trước nữ sĩ Ngân Giang cũng hỏi tôi vậy. Vì quý vị nghĩ là tôi ở thế hệ sau quý bà mấy chục năm. Tôi gật đầu, kể lại giai đoạn gia đình ba tôi còn chưa di cư vô Nam:

Thưa chị, khoảng thời gian 1954, các nhật báo Tia sáng, Giang sơn, Liên hiệp ở ngoài Bắc có đăng một tin thật lớn, chiếm luôn nửa trang nhất tờ báo luôn, có lẽ chỉ sau tin Điện Biên Phủ thất thủ, tin: Ai giết Đỗ Đình Đạo, Thuỵ An Hoàng Dân? Tin đó cho rằng chị là người liên hệ tới nội vụ, thậm chí có cả hình chị luôn.

Chị cười hiu hắt: Chứ ngoài ra em không tìm hiểu văn thơ chị à?

Tôi nhìn chị thật lâu, có lẽ nào mọi chuyện đơn giản thế, tôi trả lời vui vẻ: Có thưa chị, em đọc qua cuốn Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan, chị làm thơ và viết tiểu thuyết.

Có lẽ nữ sĩ Mộng Tuyết không thắc mắc lắm, vì trang lứa nữ sĩ Thuỵ An, nhưng tôi hơi tò mò:

Chắc chị bận rộn nhiều thứ việc quá nên đôi khi chưa có dịp nói ra những sự kiện chị đã và đang làm.

Nữ sĩ Thuỵ An gật đầu, vẻ xa vắng: Ồ, đã qua rồi. Cũng không quan trọng lắm. Thôi ăn đi chứ. Sao bà, nữ sĩ Mộng Tuyết, đãi tiệc mà cứ ngồi ngắm thôi à.

Người Bắc xưa cứ đi ăn cơm khách gọi là tiệc cho quan trọng, và ngắm là cứ nhìn hoài.

Sau đó thì chia tay, nữ sĩ Mộng Tuyết hơn nữ sĩ Thuỵ An độ vài tuổi, đã có sẵn quà tặng nữ sĩ Thuỵ An, nhưng quý vị niên trưởng lại từng khách khứa thời… phong lưu xưa nên nói tôi mang quà ấy và đưa nữ sĩ Thuỵ An về vì nhà nữ sĩ Thuỵ An đang ở rất gần nhà nữ sĩ Mộng Tuyết, như tôi trình bày trên.

Chuyện qua đi theo năm tháng…

Có đôi khi sự việc thật quan trọng đối với một nhân vật này nhưng lại không khiến thiên hạ lưu tâm nếu không phải bà con, họ hàng, tri âm, tri kỷ, v.v..

Còn đôi với tha nhân thì thật là khó nói, phải có một tình thương yêu ghê gớm, hay một tấm lòng tha thiết với xã hội cuộc đời, e mới thông cảm và thương cảm chân thành được.

Sau này qua Mỹ rồi, nhà văn Duy Lam gốc đảng phái… chuyên nghiệp mới vô tình nói về nữ sĩ Thuỵ An nhưng cũng trong giới hạn.

Tôi thầm tiếc là đã có dịp gặp gỡ nữ sĩ Thuỵ An mà không chịu thân hơn, để có dịp biết hơn về con người dũng cảm của bà, đồng thời bày tỏ nỗi bức bách tai nạn mà bà đã phải hy sinh một cửa sổ của tâm hồn như thế…

CAO MỴ NHÂN




Chùm Thơ Cao Mỵ Nhân




THƠ – Tuyết Giá – Khắp Trời Nở Hoa – CAO MỴ NHÂN




Chùm THƠ Giáng Sinh- Cao Mỵ Nhân: ĐÊM THÁNH VÔ CÙNG – ĐI LỄ NỬA ĐÊM – HÁT THÁNH CA -HÁT THÁNH CA

ĐÊM THÁNH VÔ CÙNG  

*

Đêm Thánh vô cùng trân quý ơi

Đoá hoa nhân ái nở bên trời 

Khát khao yêu mến người thiên hạ

Tất cả xin vào dự hội chơi

*

Ánh biếc vì sao lấp lánh xa

Tươi vui lửa ấm sưởi muôn nhà

Chúa ơi, Đêm Thánh vô cùng tận

Người với người thương ta với ta

*

Bạn với bè trên mỗi bước xuân

Hoan ca nơi khắp ngả dương trần

Mây vương sắc áo mầu nhân ảnh

Đêm Thánh vô cùng đẹp dấu chân.

*

Mãi mãi hoa thơ kết vạn lòng

Dâng lên Thiên Chúa mỗi mùa đông

Bình an dưới thế đêm vô tận

Chúa ở cùng anh chị em mong …

      CAO MỴ NHÂN

*

ĐI LỄ NỬA ĐÊM

*

Rằng em chưa hết yêu đâu

Chênh vênh anh đứng trên cầu nhân sinh

Chúa không ruồng bỏ chúng mình

Anh không từ tạ cuộc tình hồn nhiên

*

Merry Christmas bình yên

Đưa em đi lễ nửa đêm đón Người

Thiêng liêng ngự trị đời đời

Ba ngôi hiệp nhất khắp trời hoa đăng

*

Em thưa: Lòng Chúa mênh mang

Trái tim Thiên Chúa rỡ ràng bao la

Yêu từ trái đắng nở hoa

Thơ em phong tặng tình ca kiếp này

*

Lặng thầm dấu thánh in đầy

Merry Christmas đắm say nẻo về

Thiên đường lộng lẫy đam mê

Hồi chuông thức tỉnh hồn si cao vời …

       CAO MỴ NHÂN

Merry Christmas and Happy New Year 2022 greeting card. Vector illustration

*

HÁT THÁNH CA

Buổi sáng em ngồi hát thánh ca

Cả không gian sáng rỡ quanh nhà

Anh đang xa tít chân mây rộng

Em nguyện trời ân sủng chúng ta

*

Ôi, nguyện trời cao, tuyệt đỉnh cao

Giơ tay em với tới phương nào

Không gian vần vũ, anh yêu hỡi

Sương khói mơ hồ giữa ánh sao

*

Chúa ở cùng anh, Chúa bỏ em

Bâng khuâng hờn tủi những ưu phiền

Ngay khi anh đến, khi anh đến

Mang nỗi u hoài, trễ muộn thêm

*

Buổi tối thánh ca vẳng ngập ngừng

Chao ôi, có thật Chúa bên lưng

Đỡ em đi hết đường đau khổ

Dấu lệ yêu thương, đọc ” Kính mừng …”

           CAO MỴ NHÂN

*

TRƯỚC LỄ GIÁNG SINH

*

Chúa ơi, con chẳng còn nao nức

Nghe tiếng chuông, chờ Lễ Nửa Đêm

Con thấy lòng con yên lặng quá

Thản nhiên vào giấc ngủ êm đềm

*

Bao nhiêu bạn trẻ đã ra đường

Phải họ đi tìm Chúa mến thương

Hay họ chỉ đi tìm bóng họ

Bên nhau, mai mốt lại muôn phương

*

Ở đây, cạnh Chúa vẫn cô đơn

Ngửa mặt nhìn sao, nén tủi hờn

Con muốn lênh đênh trên biển cả

Một lần sóng gió, Chúa gần hơn

*

Chúa ơi, Chúa đến làm chi nhỉ

Con khóc như mưa, Chúa lại …cười

Con khổ sở hoài, xin Chúa giúp

Chúa kêu thử thách với con thôi

*

Con vừa cầu nguyện gởi cho ai

Thôi nhé, Noel này lạc loài

Con viết thơ buồn trên giá thánh

Ngày mai thức giấc, chắc sầu vơi…        

*

CAO MỴ NHÂN




THƠ: NGƯỜI ĐI MÙA X-MAS – HOÀNG HÔN XANH – Cao Mỵ Nhân




Thơ – Tháng Chạp Buồn & Cuộc Tình Này

THÁNG CHẠP BUỒN    

Bông hoa đại vàng

Sao nở về đêm

Yêu anh muộn màng

Trong nỗi cuồng điên 

Tháng chạp mong chờ 

Chúa đến trần gian

Em đi nhà thờ 

Van vỉ miên man

Anh ở phương nao 

Dấu thương yêu tàn 

Trên tầng mây cao

Gió gọi mơ màng

Tháng chạp bâng khuâng

Thánh giá lặng thầm

Trên đỉnh mùa xuân

Em vác mê lầm…

 CAO MỴ NHÂN 

CUỘC TÌNH NÀY  

Ta chôn cuộc tình này

Trong vòng tay người đợi 

Người xót xa mời gọi 

Trong tĩnh lặng chơi vơi

Mười lăm năm rong chơi

Giữa thiên thu cách trở

Cuộc tình đầy lỡ dở

Có chi mà luyến tiếc 

Tháng chạp còn tha thiết

Năm sắp sửa trôi qua

Cánh hạc vàng đang sa 

Về mênh mông vô tận 

Anh cũng như người hận

Em giống anh u buồn

Đời sắp sửa hoàng hôn 

Chân mây tàn ánh lửa…

    CAO MỴ NHÂN




THƠ Cao Mỵ Nhân – ĐƠN ĐIỆU -THÁNG CHẠP BUỒN -CUỘC TÌNH NÀY




THƠ TẠ ƠN – Cao Mỵ Nhân




TẠ ƠN ĐẤT HỨA

    CAO MỴ NHÂN 

Khi còn ở quê hương VN xa vời, tôi thường nhận được những tấm thiệp hoa, cùng hình ảnh người thân, bạn hữu ở Mỹ gởi về, viết là : ” Ngày lễ Tạ Ơn, đang vui sum họp ” . 

Bấy giờ tôi chưa hiểu được toàn vẹn danh nghĩa ngày lễ Tạ Ơn ngoài dòng chữ rất đẹp :” Thanksgiving Day ” . 

Tất nhiên đó là một ngày lễ Tạ Ơn rồi . Nhưng lịch sử và sinh hoạt nó như thế nào chứ ? 

Song cũng không phải là điều bức thiết khiến tôi phải tìm hiểu ngay, giữa chuỗi ngày cứ chất chồng lên nhau : 

Sống lam lũ , tối tăm, u uất ở xã hội cộng sản vô thần, vô sản, vô tâm, vô ý thức . 

Và mơ ước được sống trong không khí giàu sang, cơm ăn áo mặc dư thừa, tinh thần thoải mái, thanh cao, đức tin chan hoà sùng thượng …

Tất nhiên là thoát khổ, thoát nghèo rồi . 

Cho tới một ngày, chương trình HO mở rộng, gia đình tôi đã đến được Hoa Kỳ vào đầu thập niên cuối thế kỷ vừa qua, chúng tôi đã được hưởng một ngày lễ Tạ Ơn của USA  bao hàm ý nghĩa …cảm tạ trời đất vv…

Có thể hiểu từ những năm 1621 xa xưa, tới khi tôi biết được sự trù phú lương nông, hoa màu sơ khởi đã trải qua bao thời kỳ khai phá, để hình thành nên một xã hội trù phú, tân tiến như  thủa nay, hỏi sao không cám ơn Thượng Đế đã khiến trời đất nở hoa chứ . 

Gia đình tôi được sống trong ân sủng của Đấng Tối Cao, Tối Đại vô cùng, kể từ mùa Lễ Tạ Ơn năm 1991 ấy . Chắc đó cũng là dịp chúng tôi cảm tạ tất cả những gì liên hệ tới cuộc sống tôi ở xứ xở lưu vong này . 

Không biết quý vị trưởng thượng, cao niên từ nơi quý tộc tới chốn bình dân có khái niệm gì về chú gà tây, chứ tôi xin thú thực rằng hồi ở quê hương ” nghèo nàn lạc hậu ” , chưa bao giờ tôi nghĩ mình có thể xơi một miếng gà tây.

Trước hết cái gì bé nhỏ, vừa phải thôi, thì luôn luôn được ưu ái là ” ta, của ta ” thí dụ gà ta, vẫn thả rong ngoài sân vườn mỗi nhà nếu có.

Cái gì to lớn, lạ lùng hơn là có  chữ ” tây ” kèm theo ngay, như ” Gà tây ” chẳng hạn . 

Bên cạnh đó thì có : hành tây, tỏi tây, khoai tây …vv…

Thế nên , sự việc làm một con gà tây đã có vẻ kỳ lạ, mà ăn thịt nó thì chu choa, đơn đớn thế nào . 

Tôi vẫn xin thưa là theo cách nhìn quê mùa của tôi thôi. 

Do đó, cái cảnh ở chợ Mỹ kia, đã đến năm thứ ba, nghe rộn ràng ngày lễ Thanksgiving, tôi vẫn không hề nôn nao chuyện gà tây, gà tồ…

Bà chủ nhà kêu tôi chuẩn bị ra chợ Vons xếp hàng, để được chợ tặng không cho một con gà tây ăn mừng lễ Tạ Ơn . 

Nhưng tôi chỉ đi theo Julie cho biết . 

Bà ta bảo là cứ nhận con gà tây đã làm sẵn sạch sẽ đó, bà sẽ  tặng lại vợ chồng người Mễ nghèo khổ, đông con trong khu nhà tôi đang ở. 

Mãi tới 8 giờ sáng, tôi mới ôm được cái thùng carton đựng con gà tây, biểu tượng cho lòng nhiệt thành của người Mỹ Hợp Chủng Quôc , hậu thân của nhiều lớp di cư tự phát từ châu Âu đi tìm đường sinh sống . 

Bà Julie tươi cười : ” Không sao, không hầm kiểu văn hoá Mỹ , thì cứ nấu nướng kiểu gà thường VN, có sao đâu. Nấu khéo cũng ngon lắm đấy.” 

Cũng dịp đó, tôi đang làm thư ký văn phòng cho trường thẩm mỹ Redondo Beach, không khí trường lớp  có vẻ vui tươi, hồn nhiên, có lẽ tâm tính ” gà tây ” vốn cũng vui vẻ, hoan ca như vậy . 

Bà Julie lại là một giáo viên dạy Nail tóc cho trường, bà bắt đầu phụ bà giám đốc công việc buổi chiều lẽ Thanksgiving năm đó, 1993 . 

Mỗi nhân viên và học viên được tặng một phần quà , gồm một con gà tây đã làm sẵn và một chai rượu vang đỏ bự chát, e phải nặng 2 lít . 

Tất nhiên tôi cũng được, và chẳng lẽ không nhận, mất vui . 

Bà giám đốc là phu nhân một vị Thiếu tá Quân Cảnh, gốc Võ bị Quốc Gia Đà Lạt. 

Vị quan tư Quân Cảnh nêu trên là chỉ huy trưởng Trại Giam Tù binh Cộng Sản Non Nước, thuộc QDI/ QKI của …tôi , nên tôi quen từ trước 30-4-1975, ông bà đã giúp tôi việc làm thư ký trường thẩm mỹ này . 

Tôi có vẻ ngần ngừ không muốn nhận quà Thanksgiving rắc rối ấy. Phu nhân Thiếu tá Quân cảnh nói cũng tếu như chúng tôi : ” Anh, là tôi đấy, người Bắc Kỳ quốc xưa cứ hay gọi bạn gái là anh cho thân thiện , có biết từ thủa 1975, tôi, là bà ấy, sang Mỹ, thú thiệt tôi chả hề nấu cái con gà tây này đâu, nhưng hay đi ăn Thanksgiving ở nhà bạn bè ” 

Tôi tần ngần : ” Thế thì bà cho tôi làm gì chứ ? ” 

Bà cười : ” Để anh thấy ngày lễ của con gà tây, mà này hồi chúng tôi mới sang đây, người Mỹ ở miền đông tôi ở trước , gia đình tôi lại đi nhà thờ nữa, họ welcome lắm, họ bảo mấy người đã đến Đất Hứa, hãy cám ơn Thượng Đế  ” . 

Rút cuộc tôi cũng mang gà tây và rượu vang đỏ về nhà . 

Rượu vang đỏ thì cứ lâu lâu xài nó một lần trong bếp núc . 

Còn con gà tây ngồi làm cảnh trong tủ lạnh vài tuần,chẳng ai thèm xin, nên sau thời gian đó, tôi tống tiễn nó vô túi rác, gởi thùng rác cho nó đi xa. 

Sau này thì dần dà chuyện gà tây ở Hoa Kỳ trong mùa lễ Tạ Ơn Trời Đất cảnh vật mùa màng lương thực, với những người di dân từ nhiều nơi trên thế giới tới, đã trở nên quen thuộc . 

Đôi khi Thanksgiving  Day còn như một nét đan thanh của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, các sắc tộc hiện diện khắp USA , như muốn làm dáng thêm cho cuộc sống tha hương thêm phong phú, ý nhị và nhất là hoà đồng, để không còn cảm giác riêng lẻ bơ vơ nơi quê hương mới, nơi Thượng Đế đã dành cho bất cứ ai tìm tới Ngài. 

Tức là Thượng Đế đã quan phòng và biết chắc bất cứ ai đó tìm về, chạy tới, muốn được và đã hưởng lẽ sống  tự nhiên, bình đẳng của mỗi người ta ở trái đất này. 

          CAO MỴ NHÂN 




MỘT BÀI TẠ ƠN

Tạ ơn đất nước xa khơi 

Một ngày là nghĩa, một đời là ân 

Tạ ơn sông núi, tha nhân

Chén cơm quê mẹ, bao năm no đầy 

Tạ ơn xứ sở bên này 

Đại dương bát ngát hồn say thái bình

Tạ ơn huynh đệ chi binh

Từ đi bỏ lại những hình bóng quen

Tạ ơn cha mẹ anh em 

Người thân và cả nhà bên láng giềng 

Giờ thì tạm lắng ưu phiền 

Tạ ơn chiến hữu khắp miền hành quân

Tạ ơn ngào ngạt hương xuân 

Xoá đi tất cả phù vân mơ hồ 

Thủa này cho tới muôn thu

Tạ ơn anh ở hồn thơ của mình …

      CAO MỴ NHÂN 

25 – 11 – 2021




THƠ NGHĨA DŨNG ĐÀI & TƯỢNG ĐÀI THƯƠNG TIẾC – Cao Mỵ Nhân

NƠI NGHĨA DŨNG ĐÀI   –   CAO MỴ NHÂN 
 
Em về tìm lối đi xưa 
Nắng tơ vương nhẹ lưa thưa mặt đường 
Ngày đi khói quyện tà sương 
Áo em lạnh giá niềm thương tiếc này 
 
Sắc cờ vàng võ hồn bay 
Đèn hoa  rờn rợn trên tay lửa chiều 
Nén nhang vừa đốt men yêu 
Thấy như người đứng đăm chiêu nỗi buồn 
 
Vành Khăn Tang chửa vẹn tròn 
Nơi Đài Nghĩa Dũng vẫn còn  xác thơ 
Mỗi vần là một ngẩn ngơ 
Mấy mươi năm vẫn bơ vơ nhớ người 
 
Hỡi anh chiến sĩ bên trời
Sống đầy khí phách, thác thời hiển linh
Vẫn còn huynh đệ chi binh
Giữ nguyên ước thệ đăng trình phục hưng …

****

CAO MỴ NHÂN (HNPD)

TƯỢNG ĐÀI THƯƠNG TIẾC.  –  CAO MỴ NHÂN 
 
Dưới chân Tượng Đài ” Thương Tiếc “
Anh trên bệ cao trầm tư
Dĩ vãng không bao giờ hết
Buồn nào hơn buồn thiên thu
 
Bốn bề sương bay lãng đãng 
Thẻ nhang đốt cháy cuối ngày 
Tượng Đài hiển linh quá vãng 
Anh hùng bỏ lại đường mây
 
Mùa chưa thu, còn tiếc hạ 
Nên tà dương thật võ vàng 
Hương bay theo tàn lửa lạ 
Nắng chờ ai ở đò ngang
 
Qua sông, sóng còn lẩn khuất 
Em về thắp nến, chưng hoa
Tượng Đài tiếc thương chất ngất 
Tình sầu thấp thoáng trôi qua…

CAO MỴ NHÂN (HNPD)




THƠ: Đổi Giờ – VĂN: TRONG CUỐN SÁCH – Cao Mỵ Nhân

ĐỔI GIỜ .    CAO MỴ NHÂN 

Đêm chi dài thế hở trời 

Ngày chi nắng sáng chưa tươi đã rầu

Người chi chẳng thấy anh đâu

Buồn chi kéo mãi cơn sầu ra thôi

*

Đổi giờ, biết tự lâu rồi 

Thời gian thay đổi như tôi đây này

Tình chi vừa ở trong tay

Chưa ôm cho chặt, đã đầy tối câm

*

Cali 6 tháng âm thầm 

Los Angeles cứ lầm Utah

Chưa gần, anh đã vội xa

Thì thôi, cuối biển em ra Đan Hồ

*

Hải âu bỏ xứ điên rồ 

Nhớ anh, cứ phải làm thơ một mình 

Chờ xuân rực nắng hồi sinh

Mới mong ấm lại cuộc tình của em …

*

         CAO MỴ NHÂN 

*******

TRONG CUỐN SÁCH.     CAO MỴ NHÂN 

Trong một cuốn sách mà tôi đọc được ở chỗ kia, khi tôi đang ngồi đợi anh, dù chẳng hẹn hò…

Anh cười phát sặc, hỏi mình : ” Đang đọc truyện gì đó, không bắt đền tui chớ, có hẹn nhau mô, răng cứ chờ tui hoài rứa?  

Rồi, sẽ suốt trăm năm, chúng mình chẳng hề dặn dò nhau một lời, sao mình ngồi đợi quên cả ngày tháng, và chờ giờ kết thúc cuộc tình thơ mơ mộng, mong manh. 

Biết thế, nhưng sao anh với mình có vẻ như cùng đợi…

Mình cho anh biết cuốn truyện này của một tác giả ngoại quốc, hình như đã được dựng thành phim. 

Truyện mô tả một thanh niên đã tự buồn, tự khổ vì nhận diện ra thanh niên đó, không thích hợp với thời đại đang sống, mà lúc đầu thanh niên đó nghĩ cuộc sống chung quanh không thích hợp với chàng ta …

Anh trầm tư, xem mình định nói gì, hay muốn gài điều gì vào sự liên hệ giữa anh với mình. 

Mình lắc đầu, giữa anh với mình chẳng có điều gì mâu thuẫn cả. 

Chưa kể sự liên hệ của mình với anh rất hài hoà, csvn gọi là tâm đắc, mình ghét cái tiếng ” tâm đắc”, nó là sự đảo lộn của 2 chữ ” được lòng “, thì sao không nói thẳng ra 

“được lòng”, vừa trong sáng, vừa chính xác  ? 

Nhân vật thanh niên trong cuốn sách truyện ấy bực mình quá, đã mấy lần muốn huỷ hoại thân xác, nhưng chàng ta, thanh niên trong truyện lại rất tôn sùng Thượng Đế, không muốn từ chối công ơn Thượng Đế đã tạo dựng ra mình, nên vẫn hiện diện trong cuộc đời mà thanh niên ấy ghét cay, ghét đắng.

Đó là cuốn tiểu thuyết ” luận đề ” về cuộc sống, nó, cuốn sách bị thanh niên dằn vặt trong mọi lúc khác nhau, cả khi ăn lẫn lúc vào giấc ngủ …

Mẹ chàng ta bảo rằng: ” Con hãy không nghĩ tới, dứt khoát không để tâm vào nó nữa, một thời gian con sẽ quên thôi.”  

Đúng rồi, không nghĩ tới, sẽ quên thôi. 

Nhưng thanh niên không thể không nghĩ tới sự hiện diện của mình trong cuộc sống, vì thanh niên  vẫn sinh hoạt kiểu tối thiểu nhất, là ăn uống vv…để duy trì cuộc sống…bình thường như mọi người. 

Đồng thời với sự việc nêu trên, thì chàng ta bắt đầu hư hao sức khoẻ, tâm tình khó chịu, ngay với mẹ cậu, thanh niên nói : 

” Tại mẹ sanh ra con, lẽ ra mẹ đừng sanh ra con thì không có hoàn cảnh này, con rất tiếc là để mẹ phải buồn, con muốn hoàn toàn không có mặt của con trên cõi đời này, để mẹ không phải yêu thương.” 

Người mẹ ” tiếu lâm ” không kém, cười nụ : 

” Con an tâm đi, từ nay chúng mình không liên quan nhau nữa, lỡ có ở chung một nhà, cũng coi như xa lạ…” 

Anh lặng lẽ hỏi mình : ” Thế Bạn muốn thế nào ? ” 

Chẳng lẽ mình trả lời như thanh niên nêu trên, một thứ khùng trí thức : 

” Muốn mình không có anh, để không phải si cuồng mê đắm, vì chung quanh không phải của mình, mà anh lại là một nhân tố thiết thực của chung quanh, đám đông, thời đại” .

Ố ô, mình đâu dại thế, mà không phải là dại nữa. Mình là người quanh quẩn trong đám đông, mình thích cái xã hội chung quanh kìa, không hề chán ghét như thanh niên sầu tư hận đời nơi truyện kể, mình lại còn hăm hở, chan hoà sống giữa thiên hạ vv…

Thế có phải mình đã kéo anh ra khỏi đám đông, như con trăn gió ở rừng Phú Quốc xưa, hồi ba mình đi thành lập phi trường Dương Đông từ vài năm sau cuộc di cư 1954. 

Mình hết hồn khi thấy con trăn quấn chặt một thân cây, tới chán nó mới rời thân cây, rồi quất vô sâu thẳm rừng hoang. 

Anh cười : ” Đó thấy chưa, đừng đổ hô cho tui nha, tui thánh thiện đến tận cùng bằng số …”

Anh như thân cây cao ngất từng xanh, đôi khi mình chỉ là con rắn nước, lặng lẽ bò lên bờ, loanh quanh gốc cây,  trời khô hạn quá, lại quay về thuỷ cung lạnh lẽo, chơi vơi…

Thượng Đế quyền phép tối cao, ngài đã sinh ra muôn muôn vàn vàn sinh linh, nhưng không có nghĩa là kẻ trọng, người khinh, để khiến phải ưu tư, ẩn ức, từ chối cuộc sinh tồn mà  Thượng Đế đã an bài cho mỗi phần số cuộc đời. 

Tha thiết với cuộc đời, lẽ sống quá, đôi khi cũng khiến chúng bạn xem thường, cho là mình dễ dãi chấp nhận.

Mình cảm thấy buồn cười chi lạ, xưa đã làm công tác xã hội ở 1/4 lãnh thổ miền nam , không trải lòng ra… thì làm sao giúp đỡ ai được . Song cũng đừng thái quá thân tình, lại mang hoạ vào thân … 

Anh sắp đi xa rồi, con trăn gió vô hình,  nó sẽ cuốn không gian lại, nghe hơi thở nóng một hồi, rồi tự quất về đâu…

Kiếp đời này, rồi kiếp đời khác …chàng thanh niên trong cuốn 

sách, không thả mình vào mùa xuân tuổi trẻ, không cảm nhận những yêu thương của nhân thế, thì dẫu có từ chối kiếp nhân sinh này, cũng chẳng vui tươi hân hoan gì nơi  cõi đời khác được …

Nên chi đối với mình, tất cả sự việc cứ để xẩy ra, cho dẫu là con trăn gió cuốn mình trong không gian, mê đắm nhiệt tình, rồi cũng phải bỏ đi nơi khác, vì nó, con trăn, cũng có lúc nó phải thả dài thân xác nghỉ ngơi, chuẩn bị cho cuộc lột xác hay chết đi … như bất cứ một sinh vật nào … 

              CAO MỴ NHÂN 




NGƯỜI TÌNH CỦA CHAPA.

CAO MỴ NHÂN 

Mới sáng ngày ra, tôi đã nghe thấy tiếng réo gọi từ thâm tâm, chàng A Phủ muôn đời ở Chapa xưa, mà tôi không thể nào quên được dáng hình thô kệch, ngốc nghếch, ngơ ngác …bên tai, cùng tiếng gió hú nhẹ thôi, lẫn trong hơi thở dài toàn mùi thuốc lá rừng . 

Tôi tung mền ngồi dậy, nhìn ra cửa sổ, mặt trời hôm nay mầu vàng, không thật đỏ thắm như mấy tuần trước đây, có nghĩa là khí lạnh của sương đêm còn bao phủ . 

Đó là mầu mặt trời ở lâm nguyên nhiều cây cao và ghê hồn như lúc nào cũng có ma đứng cạnh …

Và đó cũng là mầu mặt trời đẹp nhất, vào những ngày trong sáng nhất, ấm áp nhất ở nơi tôi đã được sinh ra, CHAPA, vâng , tôi muốn kể hay chỉ cần nhắc lại thời thơ ấu, niên thiếu, quanh ngôi nhà có 3 mặt tường là kiến thật dày, còn vách tường phía sau đã áp vô đá núi . 

Đó là hình ảnh đầu tiên tôi thường thấy mỗi năm vào dịp xuân về, cùng hình ảnh chàng a phủ bất biến trong tâm tư tôi, mỗi mùa xuân tôi trở lại gặp chàng, người tình cổ quái của Chapa thủa đệ nhất bán thế kỷ 20 vừa qua, nghĩa là trước cái năm đất nước VIỆT NAM chia đôi,  1954.

Tôi phải dựa vào chàng ta, một nhân vật thực hư ẩn hiện trong ký ức 70 năm qua. 

Ông này, chàng a phủ bây giờ rất buồn, và rất nhiều năm rồi đã rất buồn mỗi lần người mán mường ấy cô đơn đi trên con đường không còn một dấu vết cũ .

Chàng a phủ Chapa, phải chỉ danh rõ ràng là người Mèo mới đúng. Cho dẫu sau này , tôi được biết không còn danh xưng Mèo nữa , mà nào là H ‘Mong, nào Miêu, Dao,thậm chí còn kêu chàng là Miu gì đó …

Nhưng là chi thì là, với tôi thủa ở Chapa trước khi phải về châu thổ sông Hồng Hà, tôi vẫn thấy dân chúng sinh sống ở lâm nguyên này, vẫn chỉ nói với nhau 2 chữ : người Mèo . 

Thế thì đã hơn một lần tôi kể với quý vị là người Mèo, mà trong đó có chàng a phủ chung chung kia, cư ngụ trên những vạt núi cao nhất, phía tầng thấp hơn của núi non là xã hội của người Mán . 

Rồi cứ như thế, càng gần thế giới người Kinh, tức Việt tộc văn minh, tiện nghi là các sắc tộc cơ bản như : Mường, Tày , Nùng ( còn gọi là Nông ? ) , Sáng sủa đẹp mắt vẫn là người Thái ( Thái trắng, Thái đen ) . 

Trở lại Chapa như tôi muốn kể  hôm nay về chàng a phủ cùng những gì chung quanh chàng ta…

Sáng nay A Phủ nhắc rằng : ” Có thấy mùa xuân sắp về không , cho dẫu còn mùa trăng đông rét mướt nữa , nhưng trong khắp các buôn bản, nhất là ở lũng Mường Hoa, không khí sinh tồn rất lạ . ” 

Còn những hơn trăm ngày nữa mới thấy mặt mùa xuân, sao bản Mường Hoa mừng rỡ điều chi vậy chứ ? ” 

À, họ ra sức thay đổi những luống hoa, họ ra sức dệt thổ cẩm đủ mầu như sắc hoa ngoài trời , nhất là họ tự may những xiêm y sặc sỡ , không phân biệt tuổi tác, họ thảnh thơi sống giữa thiên nhiên …

Thì vốn từ xưa vậy rồi, có chi khác hơn đâu ? 

Hơn chứ, hơn nhiều lắm , dù không phải hơn theo tiếng hú vượn xa, tiếng chim gần nhà vv… mà chúng ta không thể tìm thấy một Chapa thơ mộng, thần thoại nữa . 

Tôi rời Chapa đi lâu quá rồi, tôi không hiểu những điều bạn nói a phủ à. 

Thế này nhé, chữ CHAPA, đã chỉ còn trong ký ức những ai sống ở đó mấy chục năm xưa rất xưa thôi. Chapa nay kêu là SA PA, vâng SA PÁ , chính là Sa PÁ nguyên bản của H’ MONG đấy, người Trung Hoa lại làm rõ nghĩa ra SA PA là Bãi Cát . 

Thế thì từ đây, chúng mình cứ kêu BÃI CÁT cho hiểu ngay nha. 

Được, cũng có nghĩa là ngày xưa, tôi được sinh ra nơi Bãi Cát ư ? Thì có sao đâu.

Đừng liên tưởng máy móc vậy, bạn vừa nói ngôi nhà thủa bé thơ bạn ở với cha mẹ, là ngôi nhà ” thần thoại ” toàn vách tường bằng kiến cơ mà, ô nhà như các lâu đài trong chuyện cổ tích vậy nhỉ ? 

A , đó chỉ là ” Nhà chức vụ ” ba tôi được cấp từ thời Tây, ba tôi không làm công việc giám đốc sở máy điện kiêm sở máy nước Chapa, sẽ không được ở nhà đó nữa . 

Một loạt những vị công chức cao cấp ở Chapa thời đó như ba tôi, đều có nhà ở như vậy , bởi lẽ Chapa là làng nghỉ mát của những ông tây bà đầm người Pháp sống trên toàn cõi Đông Dương thời Pháp thuộc, nên không lạ khi Chapa mang mầu sắc Âu Châu từ buổi đầu tiên khai sáng, đầu thế kỷ 20 vừa qua. 

Đứng trước một rừng đào cánh kép tươi vui, rực rỡ, người ta dễ quên đi những bộn bề ý thức, tư duy mà sau này  có thể hiểu  phạm trù ý thức hệ, thì Chapa thủa đó chính là ngưỡng cửa của thiên đường nơi hạ giới Việt Miên Lèo, mà thực dân Pháp tóm gọn trong 2 chữ Đông Dương quen tai. 

Và nếu quý vị cần biết chi tiết về một SA PA, hậu thân của CHAPA xưa, lập tức có hằng trăm phương tiện giúp quý vị đi tới một SA PA, không phải CHAPA, nơi sanh quán của tôi. 

Do đó tôi không tổng hợp công việc của một hướng dẫn viên du lịch, tôi lại thầm thì với chàng a phủ già nua, hay có thể gọi là lão phu miền núi Fan Si Pan, tiếng Mèo là Hua Si Pan, được hiểu là Núi Đá Khổng Lồ , cao 3143 m, coi như cao nhất Đông Dương đấy . 

Nhưng với a phủ lỗi thời, thì hàng loạt a phủ hiện đại với quần jean, áo khoác da bò, hút thuốc Ăng Lê 3 số 5 , túi thổ cẩm để làm dáng với các cô gái thị thành từ nam ra bắc, quý vị sẽ không thể thấy được những đoạn đường rừng lá to bản , có ngàn loài hoa hiếm, độc, mà sắc hoa anh túc tuyệt vời tự nó thích hợp với cảm quan khách mộ điệu : không giới hạn mầu sắc, và không bó buộc hình thể. 

Bởi đó là loài hoa làm say đắm, huyễn hoặc …lòng người , hoa nha phiến, hay hoa thuốc phiện vậy . 

Lớp a phủ xa xưa không bị loài hoa trên làm đắm chìm cuộc sống, vì một lý do rất dản dị, nó từ cây độc nở ra, nhưng nó chỉ ví như hoa dại ở núi cao, rừng thẳm.

Nếu không có ánh sáng văn minh, không có phong thái huyễn hư, nha phiến hoa không được biết đến . 

Song khi loài hoa anh túc đó được thế nhân chính thức đánh giá về sắc mầu hoa bướm  thiên nhiên, hoa thuốc phiện mới xứng danh là hoa khôi thẩm mỹ . 

Có ai mang nó về nhà làm tươi đẹp khuôn viên, sảnh đường không ? Nó, hoa anh túc ấy, lại bị lẫn lộn với hoa phù dung ở các vùng đồng bằng . 

Hoá cho nên người ta chỉ mượn một chút danh nghĩa ” phù dung ” nơi các bàn đèn thuốc phiện : Khói phù dung. 

Cái chất khói phù dung này đã quấn quýt, vấn vương không ít những thi sĩ, chính khách đi tìm một thế giới hoang tưởng . 

Người a phủ cuối cùng, có lẽ vậy thật, vì lớp tuổi ông ta trẻ nhất đã sắp tròn trăm năm, ông ta thở dài chỉ cho tôi cái biên giới hoa đào dù đẹp thế , từ Lai Châu tới Cao Bằng cả trăm năm trước, nhất là từ nửa thế kỷ nay, đã phạt ngang . 

Việt Nam là Việt Nam, Vân Nam là Trung quốc , không phải vì hoa mà chín bỏ làm mười , người ta đã thực sự không thương tiếc mầu hoa đỏ như ánh rạng đông nữa . 

Biên giới hoa đào đã lở loét trầm kha . 

Bên này vực hào sâu là cây gỗ lớn, để thay thế mỗi 5 hay 10 năm sinh lợi. 

Đôi nơi còn trải thảm hoa trắng xoá, đó là hoa ban dưới trạm đường vô định ở chân núi Hoàng Liên . 

Cũng ở dưới lớp hoa ban trắng mầu tang đó, là những nấm mồ sĩ quan VIỆT NAM CỘNG HOÀ bị đi tù tập trung cải tạo, bị chôn vùi nông cạn, không có giọt nước mắt thân nhân rớt thấm ướt thân tàn, vì đường trường cách trở . 

Nghĩ cho cùng, SA PA  hay SA PÁ bây giờ, đã qua thế kỷ mới , 1/5 của kiếp người xa lạ, còn gì nơi ngưỡng cửa thiên đường đông nam châu Á nhỉ . 

Chứ nếu không quý vị sẽ hỏi là, nếu cái BÃI CÁT  Sa Pa đó cứ mặc nhiên trước thăng trầm xã hội, qua những biến thiên lịch sử, thì chúng ta có gì hay tìm gì nơi Làng Chapa ( Village Chapa ) còn được dịch ra là Xã Xuân Viên, huyện Chapa

 Tỉnh Laokay, bây giờ gọi là thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai đó . 

Như vậy, làm thế nào dịch sát tên cái Bãi Cát SA PA thuộc Phố Cổ ( Lao Cai tiếng Hoa là Lão Nhai , để nam thanh nữ tú ra Chợ Tình gặp gỡ, hẹn hò, nên duyên chồng vợ .

Ngoài rặng núi Fan Si Pan cao ngất ngưởng mà đa số dân sắc tộc quanh vùng tây bắc kêu là ” Tảng  Đá Khổng Lồ, 

hiện nay người ta khai thác thành những điểm du lịch được xếp vào hạng nhất VN, trên đó có đỉnh Hàm Rồng, sân Ngắm , sân Mây vv…

Cùng những khoanh ruộng xanh mướt bò vòng quanh sườn núi cũ, tôi tìm thấy được một chút xíu vùng Cát Cát xưa, đoạn đường đèo không dài lắm . 

Sương mù không đặc lắm, nên pha ánh nắng có chỗ  mầu hồng lạt,  có chỗ lại vàng anh như mầu mật ong. 

Tôi nói với a phủ, ngày tôi còn bé, mẹ tôi cho đi chơi Cát Cát để mua rau gì đó, cùng những trái bắp to hột mầu vàng, nhưng luộc thì mềm và bở ra, ăn thật  ngọt và bùi lắm .

A phủ lắc đầu: ” Bây giờ không có và không cần nữa, người ta thích những cái khác, người ta muốn mầu sắc Hanoi, Saigon, và cả bên Mỹ ” .

Tôi có vẻ như đi tìm một cái bóng của mình. 

Tôi thấy tôi không giống ngày xưa, và càng không giống bây giờ, buông tiếng thở dài nhẫn nhịn, a phủ ngô nghê thế mà cũng hiểu ra điều khó diễn tả của tôi. 

Cũng chẳng nên buồn, vì thời gian là cái thước đo đúng nhất, và còn là gói thuốc nhuộm muôn mầu . 

Không phải như thời đệ nhất bán thế kỷ trước, người Mèo 

dệt  thổ cẩm là để bán cho du khách, cho nghệ sĩ trình diễn, người bản địa này thích mặc đồ thời đại như quần bò, áo thung có chữ Mỹ ghi dưới  hững hình ảnh rất tây phương cơ. 

Chúng tôi trở lại thành phố, để đi đúng con đường thủa ấu thơ, từ dưới dốc lên cao, dãy nhà 2 bên đường đổi thay hoàn toan, nhưng điều may mắn nhất, là khu nhà thờ đá vẫn hình thức vậy,  chung quanh làm thêm cơ ngơi khác. 

 Khách quan thì Nhà Thờ Đá Sa Pa là điểm du lịch nặng ký nhất . 

Chị MỸ tôi, khi mới 4 tuổi đã được cha xứ làm lễ rửa tội ở nhà thờ đá này . 

Nhà Thờ Đá ở down town Sa Pa bây giờ là viên ngọc quý, là tài sản …duy nhất của xưa thì kêu Làng, nay kêu Phường Sa Pa , thuộc Thị xã Sa Pa, tỉnh Lao Cai, nơi chỉ rộng 9274 m vuông với dân số cơ bản là 8975 người, thống kê năm 2009 , không kể du khách thay đổi thường ngày . 

Vẫn đứng ở khu Nhà Thờ Đá SA PA, tôi ngó lên cái dốc trước mặt, lưng chừng độ 2/3 con dốc là nhà ba tôi xưa, 1/3 lên đỉnh núi, và tất cả phần đất chung quanh núi là khu rừng đào cánh kép, mùa xuân hoa nở bạt ngàn như xác pháo toàn hồng ở miền suôi. 

Ngoài cửa lớn từ đường đi vào lòng nhà thờ là cội đào cố hữu , hay cây đào cựu cảm , bởi chưng ai biết Sa Pa  rành rẽ cho bằng A Phủ, người tình vĩnh cửu của CHAPA trong rất xa xăm huyền thoại bản Mèo thân quen, đã mất hút…

            CAO MỴ NHÂN