CAO MỴ NHÂN: Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, VỊ “BẠI TƯỚNG”?
VỊ “BẠI TƯỚNG”? – CAO MY NHÂN
Không định ” thống kê ” xem có bao nhiêu phần trăm quý vị huynh đệ chi bính vẫn nể trọng vị ” tù binh ” cao cấp nhất QL.VNCH bị CSVN bắt ở mặt trận Phan Rang , kể như mặt trận cuối cùng của quân ta năm 1975 : Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi .
Viết về Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi , tôi rất hào hứng , vì có thời ông làm Tham Mưu Trưởng Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I / Quân Khu I , từ 6/1966 tới 7/ 1968 ở cấp đại tá .
Rồi về Trung ương , đi Sư đoàn 21 Bộ binh , giữ chức Tư lệnh , thăng cấp Chuẩn tường , và liên tiếp giữ các chức vụ quan trọng hơn , song song với việc được thăng cấp , đúng với tiêu chuẩn chiến trường .
Tất nhiên tôi chỉ viết về 2 năm đại tá Nguyễn Vĩnh Nghi ở miền địa đầu giới tuyến , tổng quát , hay trong doanh trại Nguyễn Tri Phương tức phạm vi Bộ Tư Lệnh QĐI/QKI .
Cùng những suy nghĩ thô thiển của tôi trong khi và sau khi ông bị VC bắt , đi tù cải tạo , trở về , qua Hoa Kỳ theo diện tị nạn .
Tôi đã nhiều lần nhắc tới vị đại tá Tham mưu trưởng QĐI/ QKI trong những bài viết về các nhân vật khác. Bởi vì tôi cứ định viết về đại tá Nguyễn Vĩnh Nghi , cấp bậc sau cùng là Trung tướng QL/ VNCH , với những điều ca tụng vì phẩm chất trong lúc bị gọi là ” bại tướng ” , mà có thể số ít quý vị nhà binh chúng ta không hài lòng với vài lý do sao đó , nhưng ông lại rất mã thượng .
Làm tướng thì từ đông sang tây , từ cổ chí kim, không ai muốn chiến bại , bị bắt , qui hàng vv, nên sự kiện Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi bị bắt ở mặt trận Phan Rang , cùng với chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang Không Quân , và một nhân vật Mỹ thuộc cơ quan DAO, đã khiến có lúc ông không muốn nhắc lại ” đoạn phim ” mà ông nghĩ là nó khiến ông oán trách với chính ông thôi .
Ngoài ra với thực trạng để bị bắt hồi đó 1975 , thì ai là lính cũng biết rồi , làm gì còn phương tiện , cả nhân lực lẫn súng đạn như đếm trên đầu ngón tay .
Thế nên , tôi có thể khởi sự câu chuyện về …tiền thân của Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi , là đại tá Tham Mưu Trưởng QĐI/QKI của …tôi , vì tôi là một trưởng phòng trong Bộ tham mưu đó .
Sinh trưởng tại Gia Định năm1932 , nên khi giữ chức Tham Mưu TrưởngQĐI/QKI năm 1966 , ở cấp đại tá , 34 tuổi , mà mặt lúc nào cũng lạnh như …tiền .
Các đơn vị trưởng và trưởng phòng , ban đối với ông có một khoảng cách rõ rệt , không có một câu nói đùa , tất cả chỉ có nhận chỉ thị và báo cáo công tác .
Không giống quý vị gốc người Nam khác ,đại tá Nguyễn Vĩnh Nghi đánh giá rất cao về quân phong , quân kỷ , đơn cử là rất thận trọng về lời ăn tiếng nói , không buông tuồng .
Quân phục chỉnh tề đến nỗi lính nào cũng nhận định ông thật đáng nể trọng , khiến mọi người trong doanh trại cũng phải quân phục chỉnh tề …theo Tham Mưu trưởng .
Thời gian đó , phu nhân Trung tướng Hoàng Xuân Lãm , là Hội trưởng Hội bảo trợ Gia đình binh sĩ Quân Khu I , thì phu nhân đại tá Nguyễn Vĩnh Nghi sẽ là Phó hội trưởng , hay Tổng thư ký ,quý vị phu nhân khác là những hội viên .
Khác với một số quý vị đơn vị trưởng , thích giúp đỡ quý phu nhân tham gia hội hè ,đại tá Nguyễn Vĩnh Nghi có lẽ không ngó tới một chữ văn bản ,nội quy hội của quý bà , tôi được văn phòng Tham Mưu Trưởng kêu lên trình diện đại tá .
Đại tá Nguyễn Vĩnh Nghi mặt vẫn lạnh như …tiền , ông nói : ” Bà vợ tôi vừa từ Saigon ra ,cô tới cho bà hỏi thăm chuyện hội gì đó ” .
Tôi tới tư dinh Đại tá Tham Mưu Trưởng .
Vừa bước vô phòng khách , phu nhân đại tá Nguyễn Vĩnh Nghi tươi cười hỏi thăm:
“ Cô là Cao Mỵ Nhân à ? Tôi tưởng cô là người già tuổi rồi chớ , vì cô đăng thơ ở tờ Phụ Nữ Diễn Đàn từ năm 1954 tới nay . Báo đó là của gia đình tôi . Tôi là Kim Tuyết , người đăng thơ cho cô là chị Kim Châu “ .
Ngay từ khi đi cư vô Nam năm 1954, mới học lớp đệ ngũ trường nữ trung học Trưng Vương, tôi đã làm thơ đều tay, và hằng tuần gởi thơ tới tuần báo Phụ Nữ Diễn Đàn đó, để được đăng như một cộng tác viên kỳ cựu rồi.
Trời đất , chẳng lẽ tôi lại thưa với quý vị rằng : chính thơ thất ngôn trường thiên của tôi , đã giữ được luật thơ 7 chữ , là do ” chị Kim Châu ” ở Tuần báo Phụ Nữ Diễn Đàn vừa phê bình , vừa khuyến khích tôi , đồng thời tôi là người đăng thơ đều tay nhất ở tờ báo đó , vì tuần nào tôi cũng có thơ trên “ Phụ nữ Diễn đàn “ .
Bà còn hẹn tôi về Saigon thì ghé toà soạn thăm bà Kim Châu .
Câu chuyện Hội Bảo Trợ GĐBS chỉ để cho biết , chứ bà Kim Tuyết Phu Nhân đại tá Nguyễn Vĩnh Nghi chỉ ra thăm ông thôi , gia đình hồi nào vẫn ở Đô thành Saigon Chợ Lớn .
Do thế ,tôi mới biết đại tá Tham Mưu Trưởng QĐI/ QKI là bậc công tử con nhà giầu , đối với ông chuyện “ tham nhũng ” có lẽ hơi lạ, nhất là ông chẳng hề quan tâm đến vật chất, có lẽ đúng ra ông không phải lo, với một gia đình bề thế như quý cụ Bút Trà chủ báo Phụ Nữ Diễn Đàn ở miền Nam thủa ấy ,vốn là nhạc phụ, nhạc mẫu của Đại Tá Nguyễn Vĩnh Nghi, sau vinh thăng Trung Tướng tới ngày tan hàng 30 – 4 – 1975 .
Một vị đại tá hồi đó mới ngoài ba mươi tuổi , con nhà giàu , chưa kể nhân dáng hào hoa phong nhã , thì chuyện đi lính phải là lý tưởng của ông.
Cũng có thể nghĩ : ông trọng cái danh , chứ lợi quả là thứ yếu .
Thế rồi thì đổi đời 1975 , sau những chuyến trở về từ trại tù cải tạo , tôi đã được nghe không ít bạn tù , và ngay cả những kẻ ở Bên Cướp Cuộc cũng nể cái thái độ của Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, vị bại tướng ở Phan Rang, ngay trên phần đất quê hương của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đệ nhị Cộng Hoà VN.
13 vị tướng QL/ VNCH cũng đã phải đi tù cải tạo . Nhưng 2 vị tướng bị bắt tại mặt trận cuối cùng , là trong tình trạng khác hoàn toàn .
Ai vô tù cũng phải khai báo theo cung cách của đối phương , Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi khai như thế nào, thì quý vị cứ đọc , nên đọc ở nhiều báo thực , báo ảo vv. của cả phe ta lẫn địch là rõ nhất.
Riêng tôi , tôi rất kính nể ông , những gì Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi nói hay là khai về Tông Tông …tôi , cũng do một vị “ tá 6 “ vô tình nhắc lại sinh hoạt thời ông làm việc dưới quyền Tông Tông … tôi, tướng Nghi bị bắt ở chiến trường Phan Rang trước 30 – 4 – 1975, rồi bị quân “ giải phóng đưa ra Bắc .
Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi dứt khoát không khai báo những gì địch bắt ông khai báo .
Sau họ phải đưa một đồng cấp tới “ nói chuyện “ với ông, tướng Nghi, họ chỉ muốn ông nói về Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đối với cá nhân Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi như thế nào .
Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi suy nghĩ trả lời họ về Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu 2 điều như sau :
1/ Tống thống Thiệu không bức bách ông qua những thuyên chuyển , mà
bổ dụng theo khả năng tác chiến với nhu cầu chiến trường .
2/ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu là vị tướng đa năng, người có thể kết hợp
các vị tướng lãnh VNCH một cách hòa đồng,hợp lý, nên tất cả đều phục
vụ tích cực, đoàn kết trong QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ .
CAO MỴ NHÂN
Thân tặng PHAN ANH DŨNG.
Bài viết về Trung Tưỡng NGUYỄN VĨNH NGHI mới mãn phần Oct 31 , 2024 mà báo chí miền đông đăng tin mấy hôm nay. Thân. Chị MỴ
Trang Đặc Biệt VTLV MỪNG THANKSGIVING 2024 – KQ LÊ VĂN HẢI. CÁC SÁNG TÁC: Yên Sơn – Đông Ry Nguyễn – Đỗ Dung – Cao Mỵ Nhân – Kiều Mỹ Duyên – Phương Hoa – Mỹ Hoàn – Thái Nữ Lan – Minh Thúy. Trang Nhà Thân Hữu: Long Hồ Vĩnh Long
VĂN THƠ LẠC VIỆT CHÚC MỪNG MÙA LỄ TẠ ƠN
Trong Tình Yêu Thương,
Đại diện Gia Đình Văn Thơ Lạc Việt,
Xin Thân Kính Chúc Quý Hội Viên, Quý Anh Chị Văn Thi Hữu, Quý Bạn Bè, Thân Hữu và toàn thể Quý Quyến,
Một Mùa Lễ Tạ Ơn đầy ơn phước lành tuôn đổ từ Trời Cao, Vui Vẻ, Mạnh Khỏe, Hạnh Phúc, Thành Công, đạt được mọi ước muốn trong cuộc sống!
Tạ Ơn Trời, Tạ Ơn Đời, Tạ Ơn Người!
Happy Thanksgiving 2024!
Thật là quý báu, sau 75, chỉ còn vài tháng nữa, là nửa thế kỷ! mất Quê Hương, là chúng ta mất hết! nhưng cám ơn Trời, chúng ta…vẫn còn có nhau! Cùng có duyên gặp gỡ, để chung tay hoạt động trên 30 năm nay! bồi đắp, giữ gìn Tiếng Mẹ. Tình này thật là ơn phước! Không gì có thể đánh đổi được! Nhất là thời gian gần đây, Hội có những hoạt động rất ý nghĩa, sôi nổi và rất thành công! thêm nhiều thành viên! Những thành quả đạt được, là nhờ chúng ta chung một tấm lòng!
Một lần nữa xin được gởi lời Cảm Tạ đến với tất cả Quý Vị.
VTLV Không Quân Lê Văn Hải
TẠ ƠN TRỜI TẠ ƠN NGƯỜI
Tạ ơn đất
Tạ ơn trời
Tạ ơn cha mẹ một đời nuôi con
Tạ ơn em tấm lòng son
Tạ ơn bằng hữu vẹn toàn trước sau
Tạ ơn cuộc sống nhiệm mầu
Đã ban hạnh phúc khổ đau kiếp người
Dẫu là nước mắt, niềm vui
Thành tâm nhận lấy ơn đời cưu mang
Mai sau địa ngục, thiên đàng
Nguyền xin trở lại trần gian đáp đền!
-Chàng Đông Ry Nguyễn.
***
Thanksgiving Day
*
Gia đình mừng Lễ Tạ Ơn
Vui vầy sum họp biết ơn Hoa Kỳ
Nương thân xứ sở nhất, nhì
An cư lạc nghiệp còn gì sánh so
Sống trong không khí tự do
Việc làm ổn định hết lo cuộc đời
Đường đi hoa nở sáng ngời
Đêm nay hội tụ vui vời hát ca
Rượu nho, bánh trái, nướng gà
Tạ ơn nước Mỹ chúng ta quây quần
Tạ ơn trời đất thánh thần
Chúng con được hưởng vô ngần “Tạ Ơn “
Minh Thúy Thành Nội
Tháng 11/28/2024
TẠ ƠN
Tạ ơn đời cho tôi cuộc sống
Tạ ơn người cho tôi tình thương
Tạ ơn cha mẹTạ ơn quê hương…
và tạ ơn những người thân thuộc
Yên Sơn
CHÚC MỪNG DẠ TIỆC TẠ ƠN KHÔNG GIAN HỘI NGỘ
Chúc mừng “Hội Ngộ” thăng hoa
“Tạ Ơn” buổi lễ cả nhà Không Quân
Về đây bốn bể họp quần
Nâng ly giữ vững tinh thần cùng nhau
*
Người đến trước kẻ đến sau
Áo bay nón kết đượm màu oai phong
“Dạ Tiệc Không Gian” bềnh bồng
Dưới cờ Tổ Quốc cả phòng rộn vui
*
Nhớ xưa lòng những ngậm ngùi
Đại bàng tung cánh khắp trời Việt Nam
Khách xem cảm động vô vàn
Giữa phòng để trống 1 bàn vinh danh
*
Những “Cánh Bằng” đã hy sinh
Mời về tham dự tâm tình với nghe!
“Không Bỏ Anh Em, Bạn Bè”
Dù bao nguy hiểm cận kề đỡ nâng
*
Yêu Tổ Quốc, thời “Trấn Không”
Chàng Pilot quý trong lòng dân Nam.
Dù nay bình vỡ gương tan
Tấm gương anh dũng lừng vang một thời
*
Đại Bàng xếp cánh buồn ơi!
Sử xanh ghi chép cuộc đời thăng hoa
“KHÔNG LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA”
Con yêu Tổ Quốc nhà nhà tri ân.
*
Phương Hoa – NOV 24,2024
MỪNG LỄ TẠ ƠN
MỪNG LỄ TẠ ƠN kính chút quà
MỪNG bao Tiệc Lớn xứ Cờ Hoa
MỪNG mong hạnh phúc vô đầy cửa
MỪNG ước bình an đến ngập nhà
MỪNG chữ Ông Cha lan biển rộng
MỪNG văn hóa Việt trải trời xa
MỪNG chung LẠC VIỆT VĂN THƠ tỏa
MỪNG LỄ TẠ ƠN kính chút quà.
Phương Hoa – Thanksgiving, 2024
VĂN:Muà Lễ Tạ Ơn
Đỗ Dung
Bước sang Tháng Mười Một, trời miền bắc Cali bắt đầu trở lạnh. Gần 10 giờ sáng mà ông mặt trời vẫn còn như ngủ muộn, chưa chịu chui ra khỏi những tảng mây xám và màn sương như trải tấm lụa mỏng che phủ cảnh vật. Không gian ủ ê, xám buồn. Cali mới chớm thu, lá còn xanh. Qua internet gần như khắp nơi, đặc biệt ở Canada và bên miền đông Hoa Kỳ lá đã đổi mầu. Thiên nhiên đẹp như tranh vẽ với màu sắc tươi sáng hài hòa, những rặng cây đỏ thắm, vàng tươi, vàng mơ đua nhau khoe sắc. Lá vàng, lá đỏ rụng xuống dệt thành những tấm thảm dầy bao phủ mặt đất, thỉnh thoảng những chiếc lá khô cũng xào xạc bay theo gió hay vỡ vụn dưới chân. Sắc Thu rực rỡ nên mùa Thu quyến rũ khiến người ta ngất ngây.
Sang Tháng 11 cũng bắt đầu mùa Lễ Tạ Ơn. Theo truyền thống của đại gia đình họ Đỗ chúng tôi, Thanksgiving là ngày “Family Reunion”, tất cả con cháu sẽ tụ tập tại Đỗ Gia Trang từ Thứ Năm đến Chủ Nhật mới chia tay. Năm ngoái, năm 2020, tuy bị nạn dịch Covid-19 ngăn trở, Đỗ Family Reunion vẫn được tiến hành qua Zoom, tuy không được cận kề bên nhau, nhưng chúng tôi vẫn rất nô nức mong chờ.
Nạn dịch kéo dài không biết đến bao giờ mới dứt, thêm những rắc rối, hỗn loạn của mùa bầu cử, ngồi ngoài vườn, ngước lên trời tìm mây, dõi theo những cụm mây xám lờ lững bay mà tôi thở dài. Tôi mong thời gian mau qua để nhìn thấy quê hương thứ hai của tôi trở lại thanh bình, vĩ đại, tốt đẹp như cũ. Hoa Kỳ sẽ lấy lại được sự kính trọng, mơ ước của mọi người trên thế giới. Một “promised land”cho những người đã phải bỏ quê hương mà đi.
Vì nạn dịch, mọi người phải giới hạn những cuộc gặp gỡ, hội họp, nhưng chị em chúng tôi vẫn “zoom meeting” hàng tháng và “face time” với con cháu thường xuyên. Vì ảnh hưởng của TT Trump, dân Mỹ chia rẽ thành hai phe rõ rệt, bên bênh, bên chống, gây ảnh hưởng rất tai hại vào sinh hoạt của các hội đoàn, và ngay cả trong rất nhiều gia đình. Ngày trước bạn bè gặp nhau mừng rỡ, đồng đội xa cách thì thấy nhớ, thấy thương. Bây giờ tự dưng vì bất đồng chính kiến mà sự chia rẽ trầm trọng, ghét bỏ nhau, chửi bới nhau nặng nề hơn cả đối với cựu thù! Vì đâu nên nỗi!? May mắn thay, gia đình chúng tôi không vướng mắc phải cái nạn đau thương đó. Từ thế hệ chúng tôi đến hàng con, hàng cháu đều vì nhớ lời dạy dỗ của cha mẹ tôi là các con phải đoàn kết, thương yêu, đùm bọc nhau và bao giờ cũng phải giữ một cuộc sống có ĐẠO ĐỨC, LƯƠNG TÂM và TRÁCH NHỊÊM nên nếp suy nghĩ tương đối cũng gần giống nhau và không đưa đến bất đồng trong sự lựa chọn Tổng Thống của kỳ bầu cử lần này.
Từ trước 1975, với bầy con 12 đứa, cha mẹ tôi đã ấp ủ có một Đỗ Gia Trang, một dẫy nhà hình chữ U gồm 13 phòng lớn. Ông bà một phòng và mỗi gia đình con một giang sơn nhỏ để khi ông bà về hưu thì gia trang này sẽ là nơi con cháu tụ họp vào những ngày Tết Nguyên Đán, ngày giỗ hay dịp nghỉ hè. Ông sẽ cầm cây gậy chỉ huy của Ông để chỉ huy lũ cháu chắt. Cả một gia trang sẽ rộn rã tiếng cười… Cha mẹ chúng tôi đã mua sẵn mấy mẫu đất trên sườn đồi khu Mê Linh, Đà Lạt, trông ngay ra mặt hồ, phong cảnh thật hữu tình, nên thơ để thực hiện giấc mơ đó. Nhưng ai ngờ, đến ngày 30 Tháng Tư 1975 oan nghiệt! Tất cả các mộng ước của ông bà đều vỡ tan. Nhà đã vẽ nhưng chưa kịp xây thì cha tôi, một sĩ quan cấp tá của Quân Đội VNCH đã phải khăn gói đi tù cải tạo. Hơn mười năm cha tôi đã nhục nhằn trong vòng khổ ải từ trại Long Giao trong nam đến Hà Sơn Bình ngoài bắc, đến khi được ra tù thì đã sức tàn, lực kiệt.
Mẹ tôi rất giỏi dang, chịu thương chịu khó, cả đời buôn bán chắt chiu, cùng với cha tôi gây dựng cơ nghiệp và nuôi dậy cho anh chị em chúng tôi được nên người. Sau năm 1975, trong khi cha tôi phải đi tù, mẹ tôi đã phải chịu đựng lam lũ để kiếm sống và chăm lo cho các con. Đến năm 1978 nhà mẹ tôi bị đánh tư sản, đồ đạc trong nhà bị kiểm kê, tài sản mất hết! Biết là không sống được với chế độ này, lần lượt mẹ tung các con, từng đứa, từng đứa tìm đường vượt biển, chỉ còn giữ cô út ở nhà với mẹ để chờ bố. Cuối cùng, 11 anh em chúng tôi cũng đoàn tụ trên đất Mỹ, lần lượt lập gia đình và sống rải rác tại hai tiểu bang Texas và Cali.
Mãi đến ngày 20 Tháng Tư năm 1990, một bầy con cháu ra phi trường San Francisco để đón ông bà và dì út từ Việt Nam sang đoàn tụ. Sau bao nhiêu năm chờ đợi, đến tuổi bẩy mươi ông bà mới được gặp đầy đủ các con, thêm dâu rể và mười hai đứa cháu. Tổng cộng nhân số đại gia đình lúc bấy giờ đã lên gần bốn mươi người. Cha mẹ tôi vẫn luôn mong muốn mỗi năm con cháu phải có một ngày họp mặt đông đủ, cả nhà quây quần với nhau như mộng ước của ông bà ngày trước. Từ khi chúng tôi còn nhỏ, anh con trưởng được cha tôi đặc biệt dạy dỗ và khi anh đi du học thì tôi là con gái lớn được ông coi như cái đầu tầu cuả đoàn xe lửa nhiều toa của ông. Quan niệm của cha tôi là anh em, con cháu phải giữ sợi dây liên lạc chặt chẽ và phải sống đoàn kết, thương yêu, đùm bọc nhau.
Chúng tôi quyết định chọn ngày Thanksgiving, dịp mà mọi người đều được nghỉ và có một “long weekend” làm ngày họp mặt hàng năm của đại gia đình. Những năm đầu, chúng tôi đã mướn một ngôi nhà thật lớn ở Lake Tahoe để cùng nhau đoàn tụ, chung sống dưới cùng một mái nhà. Cứ thế, như một truyền thống, không cần nhắc nhở mà cứ sau ngày Halloween là từ già đến trẻ, từ lớn đến bé đều kêu gọi nhau và ríu rít bàn về chương trình ngày “reunion”. Cô em thứ mười quen sinh hoạt Hướng Đạo, được giao vai trò trưởng ban tổ chức. Lịch trình sinh hoạt, thực đơn ăn uống và bảng phân công nhiệm vụ được niêm yết rõ ràng. Ngoại trừ các vị “bô lão”, tất cả mấy chục thành viên từ lớn đến nhỏ đều được giao việc hẳn hoi. Cô em út rất chu đáo trong việc sắp xếp nơi ăn, chốn ở cho tất cả mọi người.
Những năm đầu tiên các cháu còn nhỏ nên dù đông nhưng cả đại gia đình vẫn có thể ở chung trong một căn nhà rộng bẩy hoặc tám phòng. Đám chaú choai choai mỗi đứa một cái “sleeping bag”, nằm ngổn ngang ngoài phòng khách, cười đùa rúc rích với nhau. Cha mẹ tôi rất vui sướng trong những ngày có con cháu sum họp đông đủ.
Tôi vẫn nhớ hình ảnh ông cụ mặc bộ pyjama trắng, đầu tóc bạc phơ ngồi bệ vệ trong chiếc ghế bành bên lò sưởi ngắm ba thế hệ con – cháu – chắt chơi đùa, bà ngồi trên thảm chơi với những đứa bé bò lổm ngổm xung quanh. Ông bà ngắm nhìn con cháu với nụ cười mãn nguyện và hạnh phúc. Ông luôn nhắc nhở con cháu phải nhớ đến cội nguồn và phải nói tiếng Việt với nhau, đứa nào nói tiếng Anh ông vờ như không hiểu để cháu phải nói lại bằng tiếng mẹ đẻ. Tôi nhớ có lần cả đám trẻ đang ngồi chơi, líu lo tiếng Mỹ, ông bác cả ra nhắc to: “Speak Vietnamese only!” thì thằng cháu con của một cô em tôi khi đó mới khoảng mười tuổi đứng ngay lên, tay chỉ vào đám “cousins”: “Người Vịt phải nói tiếng Vịt!” làm cả nhà cười bò, ông cụ quay qua nói với ông anh tôi: “Đúng là ông bác gà tồ!” và phì cười vì bác nhắc cháu mà chính bác lại nói tiếng Anh. “Gà Tồ” là bí danh của ông anh cả khi còn nhỏ.
Cha tôi rất quan tâm về học vấn và luôn nhắc nhở chúng tôi “tiên học lễ, hậu học văn”. Nhà đông con, lại là một bầy nhiều con gái, cha tôi muốn các con của ông phải tốt nghiệp đại học để có thể tự lập về tài chánh, sau này khi lập gia đình không phải quá lệ thuộc vào nhà chồng. Về nghề nghiệp ông cũng cho các con tự do lựa chọn theo ý thích để trong tương lai anh em sẽ họp thành một xã hội nhỏ với đủ ngành nghề hầu có thể hỗ trợ cho nhau. Ông luôn nhắc nhở con cháu là con người phải sống có đạo đức, lương tâm và trách nhiệm. Những lời giảng dậy của ông như in vào tâm trí chúng tôi.
Cứ thế, mỗi năm chúng tôi sống với nhau dưới một mái nhà ba ngày liền tại Lake Tahoe. Ngoài bữa “Thanksgiving Dinner” chính với đầy đủ những món ăn đặc biệt cho ngày lễ: gà tây, thịt nguội, roast beef, khoai nghiền, đậu ve, cranberry sauce, salad, pumkin pie… nhà lúc nào cũng có một nồi phở thật lớn trên bếp và đồ ăn, bánh trái ê hề.
Sau mỗi bữa ăn, anh chị em quây quần quanh chiếc bàn dài chuyện trò, tán dóc như ngày xưa còn bé. Có những năm tuyết trắng xóa, cả nhà ngồi bên lò sưởi bập bùng, ngắm tuyết rơi… không ngờ có ngày mình đã được sống trong cảnh thần tiên như thế.
Đến năm 2014, vì duyên may, cô em út của chúng tôi thấy một toà nhà lớn ở Colfax, miền bắc Cali quảng cáo “on sale”, nhà hai tầng rộng 9,000 square feet, có 15 phòng ngủ với nhà vệ sinh tiện nghi, nhà bếp và phòng ăn rộng rãi thoáng mát chứa được năm đến sáu chục người, toạ lạc trên một khu đất rộng hơn mười mẫu mà ngày trước từng là một “senior – home”. Nghĩ tới Đỗ Gia Trang, nhớ đến nguyện ước của bố, cô Út đã mua và đem hết “saving” ra tân trang thành một căn “vacation home” có một không hai và hãnh diện vẽ bảng “Đỗ Gia Trang” treo ngay lên cổng vào tòa nhà. Thế là từ đó, Đỗ gia Trang- Colfax đã trở thành nơi tụ họp cố định coi như nhà tổ để cứ mỗi muà Thanksgiving là con cháu Đỗ Gia từ khắp mọi nơi lại “tung cánh chim tìm về tổ ấm”.
Theo thời gian cha mẹ tôi lần lượt quy tiên, ông anh cả và một cô em gái cũng đã ra người thiên cổ. Thế nhưng, tre già thì măng mọc, lá vàng rơi thì cây non lại đâm chồi. Mỗi năm lại thêm mấy đứa bé ra đời, Đỗ Family ngày càng thêm đông. Đến nay tổng cộng đã hơn 60 thành viên. Mấy cô em tôi phải vẽ ra một “Family Tree” để mỗi khi gặp nhau lại đem ra làm màn đố vui cho bọn trẻ biết đến liên hệ họ hàng.
Ngày họp mặt Thanksgiving mỗi năm chúng tôi lại nhắc nhở và tri ân ông bà. Ông Bà như tổ tiên của dòng họ Đỗ trên miền đất mới. Nhờ ông bà khuyến khích mà con cháu giữ được ngày truyền thống đáng quý này. Cám ơn đất nước Hoa Kỳ, quê hương thứ hai đã cưu mang chúng tôi và cho chúng tôi cơ hội vươn lên, thành đạt, có một cuộc sống an bình, một tương lai phơi phới. Chúng tôi nhắc đến những người đã khuất, thêm tên thành viên mới. Xem lại những kỷ niệm cũ qua những hình ảnh, video để các người mới gia nhập vào đại gia đình như các cháu dâu, cháu rể và các chắt của ông bà biết về nguồn cội. Ban ngày thì từng nhóm có những sinh hoạt phù hợp với lứa tuổi. Tối đến có màn văn nghệ cho mọi người thi thố tài năng và sau đó lập sòng tại chỗ cho mấy người lớn sát phạt nhau, dù ăn thua chỉ vài chục bạc nhưng lọt sàng xuống nia, ở nhà vui cười, đùa giỡn với nhau chứ không đi cúng cho casino bên ngoài!
Thấm thoắt thế là một năm đã trôi qua, bây giờ đã bước sang Tháng Mười Một của năm 2021 chị em chúng tôi lại bàn nhau cho Thanksgiving năm nay. Chúng mình có rủ nhau về tụ họp ở Đỗ Gia Trang không?
Những người lớn đã chích ngừa Coronavirus đủ ba lần, tất cả đã chích ngừa cúm, chỉ còn trẻ con dưới 12 chưa được chích ngừa SARS-CoV2. Sự đe dọa của Covid khiến mọi người vẫn ngơm ngớp lo lắng, lại thêm những biến thể nguy hiểm của con vi khuẩn khiến còn những ngại ngùng.
Bạn tôi có một ông bác năm nay sinh nhật 110 tuổi vào Tháng Sáu, lúc cơn dịch đã giảm và mọi người đã được chích ngừa đủ hai mũi vaccine, sự đi lại cũng được nới lỏng nên con cháu từ khắp các tiểu bang quyết định cùng về thăm cụ để chúc mừng Đại Thọ. Nào ngờ sau cuộc họp mặt hơn bốn mươi người đó khi về lại nhà thì 12 người bị dương tính với Coronavirus kể cả cụ ông. May mắn là cụ ông bị nhẹ nhất nên chỉ bị cách ly tại nhà còn những người kia phải uống thuốc và sau hai tuần cũng mạnh khỏe và bình phục hoàn toàn. Nghe chuyện cũng ớn quá!
Hơn 4 giờ chiều trời vẫn xám buồn, những vạt nắng vàng hanh còn đi trốn. Tôi ngồi đây bâng khuâng thả hồn về ngày tháng cũ. Nhớ lại những ngày đầu mùa dịch. Khi có lệnh giới nghiêm mọi người phải ở yên trong nhà, không khí thê lương, hoảng sợ bao trùm. Nhìn đâu cũng như thấy những con vi khuẩn lơ lửng bay. Ở trong nhà mà ngày nào tôi cũng lấy Clorox lau chùi cẩn thận từ cái chốt nắm tay cửa đến mặt bàn và hễ cứ ra vào là phải rửa tay thật kỹ bằng thuốc sát trùng.
Sau vài tháng không ra tới cửa nên gần như ai cũng biếng để ý tới dung nhan, tóc tai lởm chởm nửa trắng nửa đen, quần áo lôi thôi, lếch thếch. May là còn phone, còn internet nên bạn bè vẫn còn liên lạc tán dóc với nhau. Một ngày tôi còn cuộn mình trong chăn, giường gối còn bừa bộn ngổn ngang thì một bà bạn bên Texas gọi phone, chả biết sao đụng nhầm nút facetime, cả hai đứa cùng rú lên rồi cười khanh khách khi thấy hai mụ già đối diện nhau… hahaha… tao nhìn mày tao mới thấy tao! Sao mình già thế!
Cô con gái phone hẹn sang đưa mẹ mấy cái khẩu trang đẹp mà một người bạn mới tặng, vài món thịt cá và rau tươi mới đi chợ về, vừa mở cửa ra cô đã thốt lên:
_ Sao tóc mẹ bạc phơ thế, mẹ ăn mặc bê bối quá trông mẹ già sộc hẳn đi. Mẹ chịu khó nhuộm tóc, ăn mặc đàng hoàng như mọi khi đi.
Vào tự nhìn mình trong gương cũng thấy dung nhan sầu thảm thật. Mình tự nghĩ cả ngày ở nhà có đi đâu mà phải sửa soạn, quanh qua nhìn lại cũng chỉ có hai ông bà già nhìn nhau.
Thằng con Út mới khôi hài, cháu mới ra trường đang tìm việc làm, text cho cả nhà khoe hôm nay interview online, nửa trên bảnh chọe còn khi đứng lên thì nửa dưới chàng vẫn để nguyên cái quần xà lỏn!
Ngoài những điều không vui về muà dịch cũng có những khía cạnh lạc quan. Gia đình gần gũi nhau hơn, có nhiều thì giờ với nhau hơn, có những bữa cơm gia đình cả nhà quây quần và mấy bà mẹ trẻ chịu khó nấu nướng hơn. Bọn già chúng tôi thì bầy nhau ủ giá, tráng bánh cuốn, đổ bánh xèo, làm bánh dầy, bánh rợm… Con cháu không dám sang nhà ông bà thì bà chỉ gọi cho biết rồi nói sang nhà bà lấy, bà để sẵn trước cửa.
+++
Hai ngày vừa qua mưa gió lê thê. Hôm nay bầu trời sáng, những vạt nắng vàng hanh bao phủ cảnh vật đem tươi vui đến muôn loài, tôi khoác chiếc áo len mỏng ra sân sau hưởng chút nắng ấm. Dạo này buổi sáng tôi thường nghe một buổi nói chuyện của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc hoặc một buổi pháp thoại của Thầy Pháp Hòa, tôi thấy tâm thật thanh thản an bình. Tôi nhớ nhiều đến những lời dặn dò của cha tôi khi chúng tôi mới lớn “ Hãy là một viên gạch tốt. Mỗi đơn vị gia đình của các con hãy cố gắng là một viên gạch tốt, tất cả đều là gạch tốt thì xã hội, quốc gia sẽ là một ngôi nhà vững bền, đẹp đẽ, hoàn hảo”
Tôi nhớ, thật nhớ đến những ngày Thanksgiving tụ họp đại gia đình. Ước mong sao năm nay chúng tôi có thể tụ về đông vui được như những năm trước. Từng khuôn mặt các em, các con, các cháu hiện lên rõ nét. Cô em thứ mười của tôi với chương trình “Ước Mơ Việt” nếu gặp được các cháu, học trò của bà trẻ bằng xương bằng thịt mà khảo bài thay vì qua zoom thì vui biết mấy. Cô em thứ tám đang vui với buổi văn nghệ “Muà Thu Cho Em” thành công rực rỡ dù nạn dịch chưa hết có thể gặp chị em mà kể những kỷ niệm đằng sau hậu trường thì chị em lại ríu rít với nhau. Chồng của cô em kế tiếp tôi, chủ tịch Hội CVA miền bắc Cali cũng đang vui với sự thành công của ĐHCVA toàn cầu năm nay được tổ chức tại San Jose có dịp chia sẻ niềm vui trực tiếp với cả đại gia đình…
Thanksgiving là mở đầu cho mùa lễ hội, mùa của tình yêu thương và sự chia sẻ. Xin mọi người hãy dừng lại, hãy nhìn vào bản thiện và lòng nhân trong mỗi chúng ta để khép lại những hỉ nộ ái ố của năm, tháng vừa qua. Hãy hàn gắn những rạn nứt trong tình cảm gia đình, bạn bè… nếu đã lỡ xảy ra, trước khi quá muộn. Hãy cùng người thân hưởng thụ một mùa lễ Tạ Ơn thật đúng nghĩa dù vẫn còn trong hoàn cảnh khó khăn vì đại dịch. Happy Thanksgiving đến tất cả mọi người, mọi nhà!
Đỗ Dung
Thanksgiving 2021
*****************
THƠ TẠ ƠN – CAO MỴ NHÂN
TẠ ƠN VIỄN XỨ. CAO MỴ NHÂN
Tạ ơn nước Mỹ bao la
Từ khi rời bỏ sơn hà tới đây
Đại bàng xoải cánh mây bay
Cú kêu vang nối đông tây địa cầu
*
Tạ ơn U S muôn mầu
Đã trang trải nỗi muộn sầu lưu vong
Đất này quá rộng mênh mông
Nhìn lên cao ngất cõi không bạt ngàn
*
Nửa vòng thiên hạ gian nan
Cho ta thấy được thiên san vạn trùng
Tạ ơn tất cả vô cùng
Xa xôi hồn lạc bão bùng khí thiêng
*
Nơi này dạ ấm lòng yên
Muôn dân vạn sắc ưu phiền tạm quên
Tạ ơn người muốn gọi tên
Bốn phương hoa nở êm đềm viễn cư …
Hawthorne 18 – 11 – 2024 CAO MỴ NHÂN
**
CHÀO LỄ TẠ ƠN. CAO MỴ NHÂN
Mười lăm năm ấy bên trời
Tạ ơn người, tạ ơn đời mênh mông
Như hoa cỏ nội hương đồng
Khi bình minh toả rạng đông chan hoà
*
Mười lăm năm ấy chúng ta
Gian truân cũng có, hoan ca cũng từng
Tạ ơn nhân ái, vui mừng
Đã qua vấn nạn, không dừng tiến lên
*
Mười lăm năm ấy luân phiên
Mồ hôi nước mắt đôi phen khóc cười
Tạ ơn tình nghĩa bao lời
Tạ tình tri kỷ, tuyệt vời tri âm
*
Mười lăm năm ấy tha nhân
Bỗng thân thương tựa cố nhân đi về
Tạ lòng bóng ngựa, nồi kê
Giấc công danh đã não nề, xôn xao
*
Tạ ơn năm tháng mời nhau
Hoàng hoa cạn chén gạt sầu muộn xưa
Mười lăm năm sớm hay trưa
Đời sau kiếp trước tưởng chưa muộn màng …
CAO MỴ NHÂN
**
TẠ ƠN THƯỢNG ĐẾ. CAO MỴ NHÂN
Tạ ơn trời rộng mênh mông
Tạ ơn đất nở hoa lòng bao la
Tạ ơn thế giới chúng ta
Vẫn đang tồn tại gần xa nhân loài
*
Tạ ơn tháng kéo ngày dài
Cho năm nhuận sắc tương lai duy trì
Không còn sáng ở, chiều đi
Phút giây huyễn cảm từ ly cõi này
*
Tạ ơn nối kết xưa nay
Bao nhiêu thế hệ đắm say yêu đời
Tạ ơn đất nước tuyệt vời
Còn trong tư tưởng những người Việt Nam
*
Tạ ơn xứ sở bình an
Lưu dân tránh cảnh điêu tàn suy vong
Tạ ơn dĩ vãng kiêu hùng
Làm nền cho thực tại vùng vẫy lên … CAO MỴ NHÂN
**
TẠ ƠN MỘNG MỊ BÊN TRỜI. CAO MỴ NHÂN
Tạ ơn chim hót trên cành
Bướm bay trước ngõ, hoa thanh sắc chào
Tạ ơn mây lượn nơi cao
Cùng em say đắm lối vào thiên thai
*
Tạ ơn đồng rộng, sông dài
Rừng sâu, núi thẳm, đất đai bên nhà
Tạ ơn trời trải bao la
Bao nhiêu tình mộng đem ra tặng đời
*
Tạ ơn anh bát ngát lời
Miên man mộng mị, tuyệt vời nhớ nhung
Tạ ơn năm tháng chờ trông
Xuân thu ấm áp, hạ đông nồng nàn
*
Tạ ơn, ôi rất vô vàn
Thân thương kính trọng quan san, cận kề
Tưởng là cách biệt sơn khê
Thưa không, yêu mến si mê vô cùng … CAO MỴ NHÂN
**
Bữa Tiệc Gà Tây Của Người Đãi Vàng
Truyện Phương Hoa
Hằng năm tới mùa lễ Tạ Ơn, khi nào các siêu thị Mỹ bán gà Tây giá rẻ đặc biệt thì thế nào tôi cũng đến bê về một con. Những ngày sale ấy phải nói là giá rất rẻ, chỉ chưa tới 30 xu một cân Anh, trong khi ngày thường cũng phải đến mấy đồng. Năm nào tôi cũng nướng một con to vừa phải rồi kêu mấy đứa con dẫn tụi nhóc cháu về cùng chung vui. Nhưng năm đó mấy đứa con báo trước là không về trong ngày Lễ Tạ Ợn được vì anh chị em chúng nó rủ nhau đi vacation nên tôi không nướng gà Tây. Tôi chờ tới gần ngày lễ mua một con về để lọc thịt làm chả. Chả làm bằng gà Tây cũng dai và thơm ngon không kém gì chả cá, ăn lại không sợ cholesterol dù ăn nhiều vì thịt gà Tây không có mỡ. Tôi thường làm chả gà Tây trộn với chả cá và khi chiên lên ăn không ai biết trong đó có thịt gà.
Hôm ấy đến chợ Safeway tôi vào chỗ tủ lạnh lựa gà. Tôi cố moi móc xốc xổ từ dưới lên trên, lật những con gà nặng trình trịch qua một bên và cuối cùng tôi tìm thấy một con thật bự, bự nhất của đống gà trong tủ, để về lọc cho được nhiều thịt. Mừng quá tôi vừa thò tay định lôi nó lên, thì một bàn tay phụ nữ trắng trẻo mang bộ móng giả thật dài có vẽ trang trí đủ màu lá úa cho mùa lễ Thanksgiving thò vào chộp con gà bự của tôi lên một cái rẹt nhẹ nhàng. Tôi giật mình ngước nhìn người phỏng tay trên con gà của tôi. Thấy tôi nhìn bà vội bỏ xuống:
– Ồ, tôi xin lỗi! Bà ta nói. – Chị đã chọn con gà này hả?
Tôi chợt nhận ra đó là bà Rachel, người bạn Mỹ hàng xóm thường cùng chồng là ông Peter đi câu cá salmon trên sông Yuba vào cuối tuần với vợ chồng tôi. Nhưng họ đi câu cá là phụ, che mắt cảnh sát, còn chuyện chính là lảng vảng ngoài bờ sông để đãi vàng.
– Ô Rachel! Tôi reo lên. – Chị cũng đi mua gà Tây sao? Con gà này lớn nhất trong tủ đấy! Bộ năm này chị định nướng con gà bự này hả? Vậy thì chị hãy lấy đi!
Rachel cũng kêu lên ngạc nhiên khi thấy tôi. Bà chào tôi rồi nói với giọng đầy hào hứng: – Vâng! Năm này tôi phải nướng một con gà thật to để ăn mừng vì chúng tôi vừa…trúng mánh!
– Vậy sao? Tôi kêu lên. – Có phải trúng độc đắc lô tô không?
– No! Tôi trúng… vàng!
– “Are you kidding?” Chị không đùa đấy chứ? Tôi nói mà chân lông dựng cả lên.
Hỏi thì hỏi vậy, chứ tôi tin là Rachel nói thật. Lâu nay vợ chồng bà đã bỏ nhiều thời gian miệt mài đãi vàng kiểu thủ công dọc theo bờ sông Yuba. Sông Yuba là một trong những dòng sông có vàng của California. Nó là một nhánh chính từ sông Feather River, là dòng sông có mỏ vàng rất nổi tiếng, chảy qua thung lũng Sacramento, miền Bắc California.
Sau khi dọn đến thành phố này một thời gian, tôi biết được những dòng sông như Feather River và Yuba River có mỏ vàng rất lớn trên mấy trăm năm tuổi, nên hào hứng tìm hiểu. Tôi đi gom góp thông tin từ các thư viện, bảo tàng địa phương, các chứng tích như máy lọc vàng khổng lồ cũ kỹ hoen rỉ nằm trên công viên thành phố cho du khách ngắm, và từ mạng internet. Tôi được biết, cuối những năm 1840 là thời kỳ cao điểm đào vàng ở California. Những người châu u đầu tiên đến định cư dọc theo bờ sông Yuba này để khai thác mỏ vàng trên sông.
Theo những bậc lão niên thành phố Marysville, thì thuở còn hoang sơ các thợ mỏ vàng đầu tiên đến Yuba hầu hết sử dụng hộp rocker và chảo cạn để đãi vàng từ sỏi của dòng sông này. Dù là những phương pháp đơn giản, họ cũng đã thu được một số lượng lớn tấn vàng, trước khi các dụng cụ máy móc hiện đại xuất hiện. Sau đó phong trào đào vàng phát triển mạnh, các công ty kéo tới máy móc đào bới cả ngày lẫn đêm chở đi không biết bao nhiêu là vàng. Hậu quả của sự đào bới và lọc cát tìm vàng trên sông lâu ngày số cát đất đào lên đã nâng cao đáy sông làm xảy ra nhiều trận lụt lớn tràn ngập cả thành phố Marysville. Chính quyền thành phố đã phải tốn thật nhiều kinh phí xây một con đê dài bao bọc quanh thành phố để chống lụt.
Tuy việc khai thác vàng ở dòng sông Yuba đã dừng từ lâu, ngày nay người đi câu cá salmon trên sông vẫn thường gặp những cá nhân đi kiếm vận may. Họ thường len lỏi theo bờ sông trong những ngày cuối tuần khi mà các cơ quan chính phủ đóng cửa, để đãi vàng, sẽ không bị những người có chức năng tuần tra trên sông “hỏi thăm sức khỏe”. Đặc biệt nhất là sau những cơn lũ lụt, người dân ở đây thường đi dọc hai bên bờ sông để tìm những viên đá vàng bị nước xoáy đẩy trồi lên và tấp vào bờ. Đã từng có nhiều du khách dạo chơi bờ sông Yuba may mắn lượm được những cục vàng “nuggets” rất giá trị.
– Anh chị trúng ở chỗ bờ sông, gần khu rừng chúng ta thường câu cá đấy hả? Trúng đậm không? Tôi hỏi bằng một giọng đầy kích thích.
– Không nhiều lắm! Rachel nói xong cười ha hả một cách vui sướng. Đúng là người Mỹ thật thà, không ích kỷ dấu diếm để dành cho riêng mình. – Nhưng cũng đủ làm một bữa tiệc Tạ Ơn thật oách cho năm này! Chúng tôi đã gặp may, sau cơn lụt nước vừa rút đi là Peter chạy ra bờ sông ngay và “hit” (vớ được) một “nugget” (vàng cục).
– Wow! Thế thì ít nhất nó cũng nặng cỡ mấy ounce rồi còn gì! Chúc mừng chị nhé!
– Đó là công lớn của Peter.
– Trời đất ơi! Thích quá! Tôi lại kêu lên, nhưng trong bụng tiếc thầm. Phải chi ngày đó sau cơn lụt chúng tôi chịu khó ra bờ sông đi vòng vòng biết đâu cũng đã “vô mánh” như họ. Thật ra thì tôi cũng đã từng thử đi…tìm vàng đó chứ! Mỗi khi nhà tôi ngồi câu, tôi không đủ kiên nhẫn ngồi yên một chỗ nên thường đi lang thang vào khu rừng thấp dọc bờ sông tìm hoa dại chụp hình. Thấy nhiều người dò dẫm tìm vàng và thỉnh thoảng có người may mắn, tôi cũng xuống mé nước lượm những viên sỏi sáng bóng lóng lánh đem về. Nhưng rồi vác búa ra đập đến chát tay vàng đâu không thấy, chỉ thấy cái cổ tay muốn sụm bà chè, nên đem bỏ chúng vào các chậu hoa. Thấy bà Rachel chăm chú đãi và lâu lâu tìm được chút ít vàng vảy, vài lần tôi cũng hốt một bao nilon cát ở mé nước, nơi có ánh vàng lấp lánh rực rỡ dưới ánh mặt trời, đem về nhà rồi lôi cái nắp nồi ra đãi như đãi gạo sạn, nhưng cũng chỉ thấy toàn là cát với cát. Ông Peter là một cựu chiến binh, bị thương tật chân đi cà thọt, hiện là người giúp đánh chuông cho nhà thờ. Chiều Chúa Nhật nào làm xong việc Chúa ông đều cà nhắt ra bờ sông cùng vợ câu cá và đãi vàng. – Có lẽ nhờ Peter làm việc Chúa nên được Ngài ban phước cho đó! Tôi nói với Rachel.
Trước khi chia tay đi mua các thứ để nướng con gà Tây, Rachel mời tôi nhất định phải đến chung vui tiệc gà Tây “Potluck” tại nhà mẹ bà trong ngày Lễ Tạ Ơn. “Vì hôm đó cũng sẽ có mặt nhiều bạn già của mẹ tôi cho chị tha hồ mà tìm kiếm thông tin để viết, và nếu chị muốn hỏi kỹ Peter về…cục vàng ông nhặt được.” Bà nói và cười vui vẻ.
Tôi thật cảm động. Rachek biết tôi thường gom góp những câu chuyện và thông tin cho việc viết lách. Vợ chồng bà đã đọc những tác phẩm của tôi đăng trên Việt Báo được tôi dịch ra tiếng Anh, như bài “Bảo Tàng Của Người Chiến Sĩ Bị Bỏ Quên” đăng trên trang nhà của Viện Bảo Tàng Chiến Tranh Việt Nam Marysville, và mấy bài khác viết về những người bạn Mỹ của chúng tôi. Vợ chồng tôi cũng quen thân bà Macey mẹ của Rachel. Bà sống một mình trong căn nhà di động ở “Mobile Home Park” rất gần nhà tôi, và tôi thường đem đến chia xẻ các món ăn Việt Nam mỗi lần có vợ chồng con gái Rachel đến thăm mẹ.
Vì năm này nhà tôi không tổ chức mừng lễ, nên tôi nhận lời bà Rachel. Buổi chiều ngày Lễ Tạ Ơn tôi làm một khay chả giò năm chục cuốn, “món ruột” của tôi mỗi khi đi dự tiệc cùng những người bạn Mỹ ở đây. Ai nấy đều thích cái món ăn béo ngậy giòn rụm này, riết rồi chúng tôi “nổi tiếng” trong thành phố, đi đâu gặp người quen họ đều chào, “Hey! Eggroll friends!” Chào các bạn chả giò! Có nhiều người tuổi nhỏ hơn nhà tôi, mà họ gọi chúng tôi là, “Eggroll kids” Những đứa nhỏ chả giò! Làm chúng tôi chỉ biết cười trừ.
Căn Mobile Home có ba phòng ngủ nhỏ, nhưng phòng khách tương đối khá rộng rãi. Vợ chồng tôi đến hơi sớm. Rachel chạy ra tiếp khay chả giò trên tay tôi, miệng trầm trồ không ngớt:
– Wow! Wow! Eggrolls của chị thơm quá! Tôi ăn mà nhớ hoài! Cho tôi thử trước một cái nhé! Xin lỗi, tôi không chờ được! Nói xong bà nhón một cái vừa cắn vừa bưng đem để trên bàn.
Lát sau bạn bè của gia đình lần lượt đến, mỗi người mang theo một khay thức ăn. Tiệc “Potluck” hổn hợp của người Mỹ vậy mà hay. Để đỡ cực nhọc cho một người, thực khách mang tới mỗi người một món khác nhau là đầy đủ và đa dạng. Không có món nào giống nhau, có lẽ người ta đã nói trước với gia chủ.
Bà Macey giới thiệu chúng tôi với ông Tom Mỹ Trắng, là cựu chiến binh Việt Nam ngày trước, cũng là bạn của người chồng quá cố của bà. Hai chị em bà Mỹ Kathy và Kallen ở nhà bên cạnh. Ông Richard cũng là hàng xóm, đến sau cùng mang theo khay thịt Ham hun khói được hầm nhừ với đậu và cần tây trông vô cùng hấp dẫn.
Bà Macey tuy sức khỏe không được tốt phải mang ống thở oxy dây nhợ nhùng nhằng kéo theo sau mỗi bước chân, bà vẫn ăn diện thật đẹp đúng phong cách người Mỹ “chết cũng phải nhìn cho đẹp.” Chiếc áo đầm dài của bà rực rỡ với màu đỏ lá phong lấp lánh kim tuyến mùa Tạ Ơn. Trang sức trên người cũng phù hợp với chiếc áo đầm làm cho bà nhìn rất trang nhã. Bà đi đứng khó khăn, phải dùng chiếc xe đẩy mỗi khi di chuyển.
Rachel cùng phụ chồng nướng con gà Tây, món chính họ làm hôm nay cùng vài món rau củ. Bữa tối của Lễ Tạ Ơn là sự kiện ăn uống lớn nhất của người Mỹ, chuẩn bị nấu nướng rất vất vả, nên mấy ông chồng, nhất là mấy ông ở tỉnh lẻ, đều ra tay giúp vợ lãnh phần trong bếp.
Khi gà Tây sắp chín, ông Peter “đuổi” vợ ra phòng ăn để chuẩn bị các thứ. Tôi để ông xã ngồi tán chuyện với ông Tom cựu chiến binh Việt Nam, còn tôi đến phụ giúp Rachel bày bàn.
Phải nói là từ trước tới nay tôi từng dự nhiều bữa tiệc tối Lễ Tạ Ơn, của gia đình, bạn bè Việt và cả bạn bè Mỹ, nhưng bữa tiệc hôm nay là tiệc “Potluck” nên đã quy tụ thật đầy đủ các món ăn truyền thống cho ngày này. Thịt heo hun khói Ham, bánh mì tròn, bột khoai tây trộn bơ, trái ô liu chua, nước sốt cranberry, kem măng tây, bắp trái với cà rốt nướng, bánh bí ngô và bánh táo… còn rất nhiều món salad và rau trộn khác, chưa kể món chả giò Á Châu của chúng tôi!
Ngày xưa bà Macey từng là một người sành điệu, nên nhà bà có đầy đủ các đồ vật trang trí bàn tiệc cho ngày lễ. Từ khăn trải bàn, đĩa muổng, hoa khô, đèn cầy, những chiếc nơ để gắn lên cổ các chai rượu vang…đều đồng nhất một màu vàng đỏ có hình lá phong. Bà kêu con gái Rachel đi mở tủ lấy ra xấp khăn ăn có hoa văn gà tây đem ra để cuộn muổng nỉa vào bên trong rồi đặt lên những chiếc đĩa ăn to tướng.
– Tôi có thể giúp gấp số khăn ăn này thành những con gà Tây cho phù hợp với buổi lễ và những vật dụng trên bàn không?
Tôi nói với Rachel, vì chợt nhớ lại những con gà tây bằng khăn giấy tôi thường dạy đám học trò nhỏ của tôi xếp khi còn đi dạy.
– Tuyệt vời! Bà Rachel nói với nét mặt rạng rỡ. – Chị biết không? Mẹ tôi rất yêu sự trang trí xứng hợp trong ngày lễ. Bà sẽ vui lắm khi thấy đám gà Tây nằm trên những cái đĩa này. Mỗi mùa lễ mẹ tôi đều có một bộ bát đĩa và vật trang trí đặc biệt trên bàn ăn khi đãi tiệc bạn bè. Nhưng nhiều năm rồi mẹ không còn khỏe để chuẩn bị một bữa tiệc linh đình. Chúng tôi đã về hưu, tiền bạc eo hẹp cố định nên lâu nay cũng không thể tổ chức Lễ Tạ Ơn nào cho ra hồn. Đây là dịp may cho chúng tôi làm buổi tiệc này giúp mẹ vui.
Khi ông Peter khệ nệ bê con gà Tây ra bàn thì mọi thứ đã được tôi và Rachel sắp xếp đâu vào đấy. Mọi người trầm trồ liền miệng, vì thấy con gà Tây to quá cỡ bụng nhồi căng cứng được phủ kín bằng những lát thịt ba chỉ mỏng tanh lớn bằng hai ngón tay, đan lồng vào nhau như một tấm phên tre, được nướng chín vàng lườm và chảy hết mỡ. Chỉ nhìn thôi cũng biết là những miếng thịt ba chỉ này khi bỏ vào miệng chúng sẽ giòn rụm và béo ngậy. Những nhành lá thơm Rosemary chín vàng trang trí trên đĩa gà tỏa hương thơm ngát. Và vô số trái cà nút đủ màu đỏ, tím, vàng, nằm xung quanh đĩa nhìn như chú gà đang ấp những quả trứng màu trông hấp dẫn vô cùng. Quả thật ông Peter nướng và trình bày con gà tây chuyên nghiệp còn hơn cả nhà hàng.
Bà Macey nét mặt không dấu vẻ hân hoan và hãnh diện khi thấy thành quả của chàng rể. Xoay qua những con “gà tây khăn ăn” được tôi gấp thành với đầy đủ mũi mỏ, cặp mắt xanh đen, và bộ cánh với cái đuôi xòe to tròn nằm kiểu ấp trứng bên cạnh bộ dao nỉa sáng choang, bà đưa tay đè lên ngực và nói với vẻ xúc động:
– Oh My God! Trời ơi! Đẹp quá! Tay nghề của chị thật tuyệt vời!
Tôi thấy hạnh phúc vì đã làm được một chuyện, dù là nhỏ xíu, cho bà Macey vui. Sức khỏe bà trông yếu quá, mỗi khi bà nói sợi dây oxy nơi mũi bà giật giật như thể báo hiệu bà là sắp hụt hơi. Vậy mà bà đã vui vẻ nói chuyện liên tục suốt buổi tiệc.
Ông Peter mời khách vào bàn và dùng dao cắt từng lát thịt lớn bỏ vào mỗi chiếc đĩa. Ông khui chai rượu vang đỏ rót cho mỗi người một ly, xong nâng ly chúc mừng lễ Tạ Ơn đến tất cả và mời nhập tiệc. Chưa ai đụng đến miếng thịt gà, vì món chả giò Việt Nam của tôi đã được họ “mở hàng” chiếu cố đầu tiên. Nhìn quanh bàn tiệc, tôi rất vui vì thấy đĩa của ai cũng có từ một đến hai cuốn chả giò. Rượu vào có chút hơi men, mọi người bắt đầu tán chuyện.
Giữa tiếng nhai chả giò giòn rụm của mọi người, ông Tom đột nhiên lên tiếng:
– Món chả giò tuyệt quá! Ăn chung với thịt gà Tây và trái ô liu chua thật là hoàn hảo. Ông cười lớn và đùa: – Từ nay chúng ta phải thêm món eggrolls này vào thực đơn các món phụ truyền thống của bữa tiệc gà Tây trong Lễ Tạ Ơn mới được!
– Ngày nay, với đà phát triển văn minh của xã hội, chúng ta đã bị làm hư, (spoiled) vì thứ gì cũng có thể mua dễ dàng ngoài chợ. Bà Macey nói. – Nhớ lại hồi tôi còn nhỏ, mỗi khi đến các ngày lễ là mẹ và bà tôi đều phải tự tay nấu tất cả các thứ. Muốn làm một món gì đó thì phải học và mua tùm lum nguyên liệu. Ngày nay chỉ cần ra chợ là có cả. Tôi đã từng mua loại eggrolls làm sẵn đem về chiên, tuy không ngon như những cuộn eggrolls ở đây, nhưng ăn cũng tạm được.
– Đúng rồi đó mẹ! Peter tán đồng. – Con cũng rất thích món này, hầu hết các nhà hàng của người Á Châu đều có tuy mỗi nơi một kiểu và rất mắc. May mắn là các chợ đều có bán eggrolls làm sẵn, ta chỉ cần mua về rồi tự chiên lấy.
Ai nấy đều đồng ý với Peter.
Đang ăn, ông Tom bỗng xoay qua Peter:
– Hey, Peter! Giờ đến lượt anh chị kể cho mọi người nghe về chuyện nhặt được vàng đi. Nhiều năm qua chúng ta chưa có dịp họp nhau trong những ngày lễ lớn. Nhờ chuyện may mắn của các bạn mà hôm nay chúng ta mới có một bữa tiệc vui như vậy.
Peter cười, đưa tay gãi gãi cái đầu hói của anh ta rồi bắt đầu kể về chuyện tìm vàng:
– Hôm đó là buổi chiều sau khi cơn lụt lớn rút đi, từ chỗ trọ tạm di tản theo lệnh của thành phố tôi trở về và đến nhà thờ phụ giúp. Chúa ơi! Mọi thứ bên trong đều bị ướt nhẹp vì nước tràn vào, dù vùng đất nhà thờ ở trên một dải đất cao và nền móng nhà thờ cũng được xây cách mặt đất đến mấy tấc. May mắn là khi mực nước lên cao nhất mới bò vô tới bên trong nhà thờ và nước rút ngay sau đó, nên mọi thứ không bị hư hao nhiều. Phụ cùng mọi người dọn dẹp bùn đất xong, tôi sực nhớ chuyện cũ nên vội vã chạy ra khu vực bên kia sông, gần chỗ đầu cầu. Năm nào sau cơn lũ lụt đều có người ra đây để tìm vận may.
Những lời ông Peter làm tôi nhớ lại. Chỗ đầu cầu gần xa lộ 70 là nơi ông xã và tôi thường ra câu salmon. Đó cũng là nơi vợ chồng bà Rachel câu cá cùng chúng tôi. Hai ông bà sau khi cắm mấy cần câu xuống bờ sông là thường lảng ra xa gần mặt nước dùng tay hốt cát và đãi bằng cái chảo cạn có cái núm sâu chính giữa. Sau khi cả hai đều nghỉ hưu, họ miệt mài tìm kiếm, săn lùng vàng, nhưng cũng chỉ kiếm được chút đỉnh vàng vảy, chẳng được là bao. Hy vọng nhất là mùa mưa, có nhiều người may mắn kiếm được của trời cho từ dòng sông này.
Khi dòng nước lũ từ “sông mẹ” Feather River đổ về mang theo những mảnh vàng đã già hơn 200 năm tuổi, có khi vàng cục hoặc kim cương. Những mảnh vàng này rơi ra từ các mỏ vàng ở khu vực thượng lưu rồi trôi theo dòng lũ về đây tấp vào bờ. Nhiều lúc nghe tin báo đăng có du khách may mắn lượm được vàng ở bờ sông Yuba, Rachel hậm hực, càm ràm, “Tụi mình sống trên mỏ vàng mà tìm hoài chẳng kiếm được món bở nào, trong khi người ta từ xa đến chơi lại gặp may.”
– Khi ấy trời cũng đã gần tối. Ông Peter kể tiếp. – Sau cơn bão lụt không khí càng mờ mịt nhìn không rõ lắm. Lang thang dọc bờ sông một hồi, tôi nhặt được ở chỗ hốc đá một viên đá vấy bùn nhem nhuốc mà sức nặng khá lạ thường so với một viên đá cỡ đó, lại có hình thù kỳ dị, nên tôi nhét đại vào túi đem về. Không ngờ sau khi chùi rửa sạch sẽ, tôi thấy cục đá sần sùi hình thù như một quả lê dẹp, lại lấp lánh vàng dưới ánh đèn. Tôi la lên kêu Rachel chạy tới coi. Và suốt đêm đó chúng tôi không ngủ!
Sự nhẫn nại và cố gắng của Peter và Rachel cuối cùng đã có kết quả. Chuyện về mỏ vàng trên sông lại tiếp tục nổ ra trên bàn ăn. Bà Macey và hai chị em bà Kathy, Kallen sống ở thành phố này từ nhỏ. Họ kể về chuyện năm kia sau một cơn lũ lụt, nhiều người dân địa phương đã đãi được vô số vảy vàng nhờ mưa lớn xói mòn đá làm cho vàng tróc ra chảy theo dòng nước. Có người may mắn đã nhặt được một viên kim cương rất to, giá trị cũng gần nửa triệu đô la làm xôn xao cộng đồng một dạo.
Về chuyện “Gold Rush” ngày xưa, bà Macey còn kể nhiều chi tiết thật là lý thú. Bà cho biết tại thành phố nhỏ Marysville này, vùng có mỏ vàng đậm nhất là thung lũng nằm dọc hai bên bờ sông Yuba River, rộng trên hàng chục nghìn mẫu. Nơi đây ngày trước có rất nhiều loài thú hoang dã sinh sống như gà tây, nai, vịt trời, đặc biệt là chim đại bàng sói đầu, một loài chim trong danh sách thú quý kiếm cần bảo vệ. Vùng phía Bắc sông Yuba còn có một loài sư tử núi đã chọn cánh đồng vàng này là nhà. Thời gian đó vì dịch đào vàng phát triển rộng, những người thợ mỏ tìm tới thành phố rất đông, dân số tăng lên vùn vụt. Nhưng sau ba mươi mấy năm đào bới đãi vàng, người ta đã tàn phá môi trường ở đây, gây nên nhiều trận lũ lụt lớn. Khi các mỏ vàng vùng này đã cạn kiệt và có lệnh cấm đào vàng, thì người ta dời đi hết. Dân số ở cái thành phố cổ nhất, nhỏ nhất California này cũng tụt xuống dưới mức mười hai nghìn người, cho đến tận bây giờ.
Bà Macey đột nhiên ngừng nói, vì ngoài trời đổ cơn mưa lớn. Mọi người đang chăm chú mê mãi dõi theo từng lời về “miền đất vàng” của bà bỗng như hụt hẩng. Câu chuyện chấm dứt, cũng là lúc trên bàn tiệc thức ăn gần cạn. Hai chai rượu vang đỏ cũng đã hết sạch. Bánh bí đỏ (Pumpkin Pie) và bánh táo (Apple Pie) được cắt ra.
Mọi người ngồi nhâm nhi bánh ngọt với ánh mắt mơ màng, giữa tiếng mưa rơi rào rào bên cửa sổ. Dường như câu chuyện tìm vàng còn vang vọng bên tai.
– Nếu tối nay mà trời đổ một cơn lũ lụt, ngày mai tôi sẽ là người ra bờ sông sớm nhất!
Ông Tom nói xong cười lớn.
Trước khi chia tay, bà Macey ôm mỗi người khách một cái. Bà quay sang ôm chặt lấy con gái Rachel và chàng rể Peter:
– Mẹ rất cám ơn hai con! Bà nói bằng giọng rưng rưng. – Đây là bữa tiệc Thanksgiving to nhất, vui nhất, hạnh phúc nhất trong cuộc đời của mẹ. Cám ơn Chúa đã ban phước cho chúng ta có được bữa tiệc này! Giá như bây giờ Chúa có gọi mẹ về mẹ cũng sẽ vui lòng.
Lễ Tạ Ơn 2017.
Phương Hoa
THƠ MỸ HOÀN
LỄ TA ƠN NHÀ CHỊ TÔI
( Thơ Họa )
Tháng Mười Một lễ Tạ Ơn về
Khắp nẻo thị thành đến chốn quê
Rộn rã cháu con về khắp lối
Lu bu người chị chạy trăm bề
Gà Tây vàng rụm nhìn sao đã
Bàn tiệc sắc mầu thấy quá mê
Tụ họp cùng cảm lòng nước Mỹ
Chuyện trò êm ấm thật là phê.
Lê Mỹ Hoàn
11/2024
HAI MÙA MƯA NẮNG
Hôm trời mùa hạ còn hong nắng
Cơn sốt hè luẩn quẩn trong ta
Nghe như hoang tưởng hai mùa cũ
Mưa nắng quê nhà đã rất xa
Nghe thổn thức mưa rơi tầm tã
Giọt nước bên hiên tạt ướt hồn
Cơn sốt sao như dòng lệ chảy
Khắp châu thân bì bõm trong ta
Ta ở giữa hai mùa mưa nắng
Nửa ở bên này nửa bên kia
Mưa đã qua thu về không nhỉ
Cơn sốt ta vàng cả sân nhà
Đã có hạt mưa trên khóe mắt
Có sợi buồn rơi xuống chơi vơi
Nắng lại lên soi hồng mái ngói
Con xóm lao xao những nụ cười.
Lê Mỹ Hoàn
10/2024
VĂN: Những Tấm Lòng Vàng
Thái Nữ Lan
Trong cuộc đời của mỗi người, bất kỳ ở nơi nào trên thế giới, từ khi có trí khôn, là ta đã mang nợ và phải biết ơn nhiều người- từ Tổ Tiên Ông Bà, người làm ra hạt gạo nuôi ta, Đấng Sinh Thành, đến những Thầy Cô dẫn dắt ta, các cô chú Thương Phế Binh đã bảo vệ chúng ta bằng chính cuộc đời họ, đến bạn bè, người quản lý và giám đốc nơi ta làm việc, đồng nghiệp… người quen người lạ…tất cả mọi người chung quanh, ta đều mang ơn họ, không nhiều thì ít…- Và riêng đối với những người được định cư ở quê hương thứ hai, ta còn phải mắc nợ thêm bao nhiêu là người nữa- từ chính phủ, những vị tổng thống, từ những vị giúp những chương trình tái định cư -HO, ODP,…đến những vị ân nhân bảo lãnh..v.v…trái tim nhân ái của họ bao la vô cùng… Kể ra tất cả những người làm ơn cho ta sẽ không hết – ở đây tôi chỉ xin đơn cử một vài việc rất gần đối với gia đình tôi, với đất nước Cờ Hoa đầy tình người này-
Sở hữu gia tài do thế hệ cha ông để lại, hoặc tự mình vươn lên bằng đôi tay và khối óc là những điều may mắn mà không phải ai cũng gặp được. Nhưng sử dụng vốn liếng trời cho ấy cho đúng với lương tâm lại là một điều không dễ thực hiện. Bao nhiêu cạm bẫy vật chất, bao nhiêu cảnh đời trong phút chốc lại trắng tay. . . Nếu những người ấy biết dùng sự may mắn để tạo phước đức cho đời này và các thế hệ con cháu, vừa giúp người, vừa giúp mình có một cuộc sống hữu ích, có lẽ cuộc đời sẽ có được bao nhiêu bông hoa. . . Và nơi cần sự giúp đỡ ấy nhất có lẽ là những nhà cứu người được những người có điều kiện và lòng thiện nguyện giúp người góp một bàn tay không nhỏ. Những mảnh đời không may phải mang bệnh tật, nếu không có những tấm lòng nhân ái thì sẽ ra sao? Thời gian gần đây, gia đình tôi đã được tiếp cận và mang ơn những bàn tay ấy đến muôn đời. Cầu xin Ơn Trên gia hộ cho những Tấm Lòng Vàng ấy luôn gặp phước. Xin gởi đến quý vị hai câu chuyện về gia đình của tôi.
***1/- Ở xứ Cờ Hoa, những trái tim ấy đã rải tình thương đi cùng khắp-có những bệnh viện chữa bệnh nan y, bệnh nhân không phải trả bất kỳ một chi phí nào, mà đúng ra rất cao để trang trãi bao nhiêu là điều kiện để có được những cuộc phẫu thuật, phòng ốc, nhân viên. . .Bệnh viện Nhi, nơi cháu tôi vừa mới chào đời, niềm vui chưa trọn thì qua kiểm tra được biết cháu mang căn bệnh rất hiếm ở các bé, khối nước trên não, chỉ xảy ra 0,15% trường hợp. . . Mới được nhìn thấy ánh sáng mặt trời chưa tới một tuần, bé đã phải trải qua phẫu thuật não. Tin như sét đánh! Tại sao? Và tại sao lại là cháu yêu thương của tôi? Bé còn nhỏ quá, sức của bé có thể chịu đựng để vượt qua không? Các bác sĩ với lương tâm nghề nghiệp thật đáng trân trọng vừa muốn cứu chữa bé, vừa muốn học hỏi thêm để đối phó với bao nhiêu căn bệnh nan y khác, hàng ngày đến phòng cháu rất nhiều. . .và trước hôm phẫu thuật, khoảng 20 bác sĩ đến để kiểm tra mắt, tim, phổi. . .mỗi vị chuyên môn về một ngành. Cuộc phẫu thuật kéo dài 9 giờ rưỡi thay vì 6 giờ như dự định. . .Từng phút giây nặng nề trôi qua. . . Nhưng Trời xót thương chúng tôi đã gởi đến cho gia đình chúng tôi những vị có lương tâm và tay nghề rất cao nên mọi việc đã thành công. Giờ đây bé đang hồi sức trong ít lâu, để rồi lại chịu hóa trị, xạ trị. . .Điều làm cho chúng tôi rất ấm lòng trong nỗi đau khôn cùng là ngoài sự giúp đỡ về viện phí của các nhà hảo tâm, còn có bao nhiêu cơ quan đoàn thể đến để giúp ba mẹ cháu làm đơn xin trợ giúp về y tế (Medicaid), trợ giúp về phương tiện đi lại (thẻ để đổ xăng. . . những chi tiết nhỏ trong đời sống hàng ngày. . .), những bữa ăn của bệnh viện cho mẹ cháu. . .và vô vàn những ân cần chăm sóc của những bàn tay thiện nguyện. . .
Nỗi đau khi nhìn thấy bao nhiêu trẻ con nô đùa, tại sao cháu mình lại không được như chúng . . .được vơi đi phần nào khi nhận được tình cảm từ những trái tim yêu thương như thế. . . Cám ơn xứ Tràn Đầy Tình Người Cám ơn những Tấm Lòng Vàng Xin ghi lòng tạc dạ những sự tận tâm của quý vị bác sĩ y tá, nhân viên của bệnh viện Children’s Health, Dallas, Texas Xin đa tạ các Mạnh thường quân- Và ngẫm nghĩ về Đất Mẹ, nơi các đại gia xây mọi thứ bằng vàng, vung tiền không gớm tay. . .thay vì giúp những bệnh nhân khỏi phải đau xót. . . ??!! Mỗi bệnh nhân cho dù vào Cấp Cứu, cũng phải bì thư lớn nhỏ thì mới được chữa trị. . . Tình người của họ ở đâu? Lương Y Như Từ Mẫu. . .đâu rồi? Lời thề Hippocrate . . .: tôi sẽ tránh mọi điều xấu và bất công! Chắc họ không cần biết đến lương tâm và việc để lại phước đức cho con cháu. . . Đau đớn thay!
*** 2/- Lúc gia đình tôi mới được thở không khí tự do ở đất nước yêu thương này- sau nhiều chục năm sống với “Bác và Đảng ta”… đến đây rất trễ, so với nhiều gia đình (sau năm 2000), nhưng vẫn còn may mắn hơn những máu mủ ruột thịt còn đau thương ở Đất Mẹ- có một mùa hè tôi qua Cali thăm Mẹ và các em tôi. Một ngày thật đẹp, đi biển Newport, tôi vốn rất mê những con sóng, mê ánh trăng , hoàng hôn, bình mình trên nền trời cũng như đại dương xanh thẫm…- Mùa hè nên biển rất đông người, tôi đi với gia đình hai em tôi; đến nơi hai em bơi ra xa, còn tôi ở gần bờ hơn, tuy vậy mực nước cũng khá sâu. Nước thật trong mát, nhìn ra xa vài con thuyền hoặc ván lướt sóng của các bạn trẻ làm nước bắn tung tóe thật là đẹp mắt và cảnh vật sao thanh bình quá! Tôi nhắm mắt tận hưởng mùi gió biển, mùi cát mặn, mùi không khí yên bình, vừa thân thương vừa lãng mạn, đất trời bao là đẹp quá… và ước gì ngay bây giờ có một người rất gần gũi đang ở đây, ngay bên tôi, vẫy nước tóe vào nhau như chúng tôi vẫn thích nô đùa như trẻ con mỗi khi ra biển… mơ màng trong niềm vui hư ảo… Bỗng dưng có con sóng thật mạnh, xoáy vào bên dưới lòng nước, cuốn tôi xuống…thật nhanh, tôi không kịp phản ứng, không còn biết mình phải quẩy chân lên hay la cầu cứu, tôi ú ớ không biết làm thế nào vì kêu không ra tiếng… Trong phút giây ấy, hình ảnh bao nhiêu người thân hiện lên trong trí, Cha Mẹ anh chị em, con cháu… ôi chắc tôi không kịp nói lời giã từ… May sao có một chị người Mễ bơi gần đó chạy lên gọi người canh gác bãi biển (safeguard)- người ấy chạy đến ngay và mang tôi lên bờ, làm hô hấp ..và gì nữa… Tôi thiếp đi… khi tỉnh dậy thấy mình nằm trên giường bệnh viện Cấp cứu, lúc đó người em kế tôi đang đứng bên cạnh giường – và kể mọi việc- “…Chỉ một giây nữa thôi, nếu chị người Mễ ấy không nhìn thấy, thì giờ này chị đang nằm trong một hộp sắt của ngăn phòng lạnh, im hơi, cùng với bao nhiêu người khác – được kéo ra kéo vô để em và mọi người nhìn thăm chị, chị ơi…!” Vài ngày sau đó, tôi được về nhà , rồi về lại xứ Cao Bồi Texas của tôi… Nhiều ngày sau, là giấy đòi nợ (bills): #$7,000! Lạy Trời ơi! gia đình tôi qua đây rất trễ – hai con trai lớn trên 21t đã phải du học bên nước Úc – chỉ có hai gái út còn học high school, Bố chúng cũng phải đi cày, phần tôi đi dạy tiếng Pháp và làm thêm 4 jobs part time – thì ngoài những bills hàng tháng cho mọi sinh hoạt, làm sao có được một vài trăm để gởi dần dà cho khoản nợ kếch xù này đây? Trời đất quay cuồng.. (thêm nữa, bên Cali mọi thứ đều đắt đỏ hơn ta nhiều so với xứ sa mạc này) Tôi lo canh cánh trong lòng suốt nhiều ngày- vì mới qua nên không biết rằng ở đây ai cũng phải mắc nợ- từ cô cậu sinh viên cho tới những người có cơ sở làm ăn tiểu thương hoặc đại thương gia- khi nghe người thân và bạn bè cho biết điều ấy, tôi cũng đỡ lo, nhưng cũng phải nghĩ đến việc trả dần món nợ- thế là mỗi tháng gởi tạm bên bệnh viện Newport vài chục, một trăm đồng thời làm đơn để được chứng minh là Thu nhập thấp , mong họ bớt phần nào món nợ ấy . . . Vài tháng trôi qua, tôi đã gởi những giấy tờ cần thiết qua Cali, mà vẫn trả nợ vài phần trăm của số tiền ấy… Đến một ngày- thật là một ngày đẹp trời mùa Xuân- theo như người bản địa các đồng nghiệp thường nói khi họ có một việc rất vui mừng : “You made my day!” Ngày hôm nay tôi thật sự vui mừng quá: đó là ngày nhận được thư của bệnh viện bên Cali, ghi rằng: tôi không còn nợ họ đồng xu cắc bạc nào nữa cả- và lại còn được hoàn trả lại toàn bộ số tiền mà tôi đã chắt chiu hàng tháng để trả nợ- khoảng vài trăm đồng..! Thật sự là Lạy Trời ơi! Thật không ngờ một đất nước quá sức Giàu lòng Nhân Ái, thấu hiểu nhưng nỗi khổ của người “lao động cật lực””- Tình người bao la, thế nên Đất nước họ Giàu Mạnh là phải, vì được Trời thương! Những mẩu chuyện trên đây, có lẽ và chắc chắn đối với những người định cư nơi này rất lâu, hoặc đối với người dân bản xứ là điều bình thường, nhưng đối với gia đình tôi, mới được vớt lên từ hố sâu thẳm của khổ ải với thực tế quá phũ phàng của bên gọi là thắng cuộc, với bao nhiêu là đắng cay tủi nhục- bất kỳ nỗi đau cũng cần phải có bao thơ, thì những sự việc cỏn con này là niềm hạnh phúc vô biên-
Một lần nữa, xin cảm ơn Nước Mỹ, cảm ơn dân Mỹ và chính quyền Mỹ nói chung, và xin cảm ơn những vị ân nhân- Cầu xin Ơn trên luôn ban Bình An đến gia đình họ-
Xin TẠ ƠN TRỜI
—Mùa Tạ Ơn, xứ Cao Bồi Texas-(tháinữlan)- phannữlan
-Nhớ và thương những Mảnh Da Vàng * còn khổ đau trăm bề ở Quế Hương yêu dấu, không còn “Bệnh viện Vì Dân của phu nhân Tổng thống Nguyễn văn Thiệu nữa Xin kính tri ân những vị trong chính quyền, hoặc những vị luôn đau cùng Da Vàng- nhiều lắm… như chị Khúc Minh Thơ-(chị vừa mới được Thượng Viện Quốc Hội bên Cali Vinh Danh ngày 13/10/2024 vừa qua) – cho dù gia đình tôi không theo diện HO, nhưng luôn kính phục chị.– như Trung tá Hạnh Nhơn, Nữ Thiếu Tá Thanh Thủy ( Biệt Đội Trưởng Biệt Đội Thiên Nga)… và nhiều nữa ….
*Tác phẩm của đạo diễn Chu Lynh- Việt Nam Film Club- với bộ Phim Miền Nam Của Tôi (My South Việt Nam)
Hãy tận hưởng những điều nhỏ nhặt, bởi vì biết đâu một ngày nào đó bạn nhìn lại những việc đã qua và nhận ra chúng là những điều vô cùng lớn lao. ROBERT BAULT- TL dich
VĂN: Lễ Cựu Chiến Binh và Lễ Tạ Ơn
Minh Thúy Thành Nội
Tôi thức dậy từ 6 giờ sáng lo những việc cá nhân lẹ làng, sau đó thay bộ áo dài cờ vàng lái xe lên San Jose, đến điểm tập họp trước “parking” của Walmart nằm trên đường Story.
Vì câu nói của em trai Minh Huy trưởng đoàn Hậu Duệ Việt Nam Cộng Hòa, khi Hoa Nguyễn mời, tôi đã ngại ngùng nói ”Chị già rồi không phù hợp với tuổi trẻ, đường xá xa xôi, vấn đề lái xe trở ngại, chỉ có thể đi tham dự hạn chế”. Minh Huy thưa ”Chị ơi! chúng em rất cần ba thế hệ một tấm lòng …”. câu nói lễ phép với cả chân tình của tuổi trẻ đầy tha thiết đã động vào trái tim mình, nên tôi quên mất tuổi già không đủ sức khỏe tốt, vượt đường xa mưa gió góp mặt cùng nhóm hậu duệ đi diễn hành Lễ Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ.
Đến nơi tôi thấy các anh chị của hội AVVA (Hội Ái Hữu Cựu Chiến Sĩ Hoa Kỳ Tham Chiến Tại Việt Nam Chapter 20) tập trung thật đông. Cũng cần nói thêm nhân duyên đưa tôi đến với sinh hoạt của nhóm “Hậu Duệ Việt Nam Cộng Hoà” là từ em Nguyễn Hoa, người năng nỗ sinh hoạt bất cứ việc gì trong Cộng Đồng. Nguyễn Hoa có sinh hoạt chính là “Hội Ái Hữu Cựu Chiến Sĩ Hoa Kỳ Tham Chiến Tại Việt Nam Chapter 201”, (gọi tắt là AVVA). Được biết hội AVVA có sinh hoạt như: Mỗi năm đi thăm hai Quân Y Viện Menlo Park / VA Medical Center, Palo Alto Medical và phát quà thăm hỏi những Thương Bệnh Binh, Cựu Quân Nhân Hoa Kỳ. Vào dịp lễ Memorial Day, hội AVVA tham dự tại Oak Hill Memorial Park, được mời lên đồi danh dự bắn 21 phát súng, sau đó dâng hoa đài tưởng niệm, làm lễ cùng cựu quân nhân Hoa Kỳ. Lễ Veterans Day, hội tham dự diễn hành cầm cờ Mỹ, đoàn Hậu Duệ cầm cờ vàng nối theo. Trước đây hội còn lo công việc chôn cất những người mất không có thân nữa.
Chúng tôi dồn vào những xe trống người, được chở đến khu tập trung của downtown San Jose. Trời mưa lâm râm, sau khi tập họp do em Nguyễn Hoa điều hành dặn dò cách thức, xe các anh chị hội AVVA chở thức ăn sáng, sắp xếp sẵn mỗi bao gồm các thứ bánh mì, xôi cúc, bánh Pateso, chuối, nước lọc phân phát cho mọi người ăn sáng, ngoài ra còn có cà phê nóng nữa.
Sau đó trời đổ mưa lớn nặng hạt, mọi người vào xe ngồi uống cà phê, mùi thơm bốc bay trong xe, các anh nói chuyện ngày trước, chuyện tù cải tạo, chuyện hôm nay, chuyện Cộng Đồng.Tôi dâng lên niềm cảm kích quý mến vì anh nào cũng kê tuổi trên dưới 90, toàn là những người lính Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) năm xưa, dù mưa gió lạnh lẽo họ cũng cố gắng lái xe đến dự. Tôi còn thấy nhà thơ Ngọc Bích (Hội Trưởng hội Người Già), và chị Hương (vợ ông Lê Đình Vọng một thời làm hội trưởng hội Thương Phế Binh tại miền Bắc Cali, nay đã mất). Hai chị thọ lên tới 93 tuổi, là hội viên AVVA, nhưng còn sinh hoạt rất mạnh mẽ trong Cộng Đồng.
Trời mưa tầm tã, mưa ướt quần áo, ướt đôi vớ thấm vào người lạnh run hơn. Các chị em yếu lạnh than thở, còn các anh nét mặt vẫn bình thản, có lẽ họ thấm nồng tình nghĩa những người bạn đồng minh Hoa Kỳ đã tham chiến tại Việt Nam với sự hy sinh vĩ đại, ngày lễ Cựu Chiến Binh này đã sưởi ấm trái tim họ, nên họ không thấy lạnh chăng?!! Họ vẫn nói chuyện, tôi lắng tai nghe trong sự học hỏi, trong niềm thương cảm những người lính VNCH.
Theo dự báo thời tiết thì lúc 2 giờ sẽ tạnh mưa và có nắng lên. Cuộc diễn hành dời giờ xuống trễ. Nhìn em Nguyễn Hoa lãnh đạo việc từ đầu đến cuối, bên hông mang cái máy lớn bỏ nhạc đấu tranh, em cầm cái loa miệng hô tay vẫy tập họp, sắp xếp đội ngũ cầm cờ, chạy lui chạy tới nhanh nhẹn huy động lực lượng diễn hành, đi bên ngoài hô to khẩu hiệu “AVVA – We love Veterans Day”, mở nhạc hát bài “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ.”
Các anh chị hội AVVA cùng hội Hậu Duệ Việt Nam Cộng Hòa chung tay cầm lá Đại Kỳ Hoa Kỳ và lá Đại Kỳ Việt Nam Cộng Hòa, diễn hành qua các đường phố chào lại khán giả hai bên đường đủ sắc dân tươi cười nhìn vẫy tay cổ động. Hai lá cờ thấm nước nặng trĩu nhưng thật hãnh diện được cầm mười người một cờ. Ngang khán đài đồng loạt nghiêng cờ bên phải xuống cúi đầu chào trang trọng. Hình như không còn ai biết lạnh, tất cả đều hát to bài “Cờ Bay” vang lên, những đôi chân mạnh mẽ bước đều trong niềm hân hoan khó tả. Nắng đã vươn lên khắp nơi, nắng chiếu trên mặt đường còn ướt nhẹp nước mưa trơn trợt, những khuôn mặt rạng rỡ, lòng tôi cũng rộn ràng không kém.
Ôi ngày nhắc nhở mọi người đang
Cầu nguyện anh linh dưới suối vàng
Tạc dạ ghi ơn người chiến sĩ
Quên mình góp nghĩa vụ hiên ngang
Hợp Chủng Hoa Kỳ đủ sắc dân
Đi qua đường phố đẹp vô ngần
Trống kèn vang dội quân hành khúc
Lễ Cựu Chiến Binh bước lớp tầng.
MTTN (trích trong bài thơ “Lễ Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ”)
Tới điểm tập trung chờ xe đón về lại nơi tụ họp đầu tiên, Nguyễn Hoa vẫn ở cho đến giờ phút chót khi không còn một ai đứng lại mới yên tâm ra về. Đã xong đâu, về nhà em gom hai lá cờ và các thứ linh tinh giặt sấy liền. Em nhắn qua phôn rằng: đã tắt tiếng, tứ chi nhức mỏi rã rời nhưng tinh thần rất phấn chấn vì vai trò đảm nhiệm thành công tốt đẹp.
Em như trăng sáng gương lồng
Dẫu là phụ nữ má hồng chẳng thua
Đấu tranh ý chí vượt đua
Cháu con Trưng Triệu quyết xua quân tà
Hương thơm bay tỏa dần dà
Hương ngời chính nghĩa bài ca đẹp màn
Lưu vong quyết giữ cờ vàng
Hải ngoại đoàn kết mây ngàn nở hoa.
MTTN (trích trong bài thơ “Nữ Lưu Nguyễn Hoa”)
Còn gì sung sướng hơn khi lá Cờ Vàng được đồng hương tỵ nạn trên toàn thế giới vận động, đã được các nước công nhận vinh danh lá cờ của tự do chính nghĩa. “Ăn cây nào rào cây ấy”, chúng tôi rời bỏ quê hương làm người lưu vong trên đất nước Hoa Kỳ, các anh diện HO lại được Mỹ cứu vớt đem qua, thì không thể nào chúng tôi có thể quên “cái ơn “lớn như thế. Vì vậy hội AVVA được gọi là “Hội Ái Hữu Cựu Chiến Sĩ Hoa Kỳ Tham Chiến Tại Việt Nam Chapter 201” đã thành lập ra đời cũng vì lý do đó. Họ gồm đủ mọi lứa tuổi từ các bác, các cô chú, các anh chị em, đa số là các cựu quân nhân VNCH mang nghĩa cử thân ái cao đẹp, gần gũi cựu chiến sĩ Hoa Kỳ, các bạn đồng minh đã một thời sát cánh chiến đấu nơi trận mạc miền Nam, những cựu quân nhân VNCH muốn sinh hoạt chung bày tỏ lòng biết ơn sâu xa của người Việt Nam. Một sự hy sinh quá lớn, được biết “đã có 2 triệu 700 trăm nghìn lính Mỹ phục vụ tại Việt Nam, gần 60 nghìn hy sinh và hàng trăm nghìn bị thương”. (theo tài liệu Bùi văn Phú Website bbc.com). Hiện nay những người lính Mỹ đã hy sinh nơi chiến trường Việt Nam được khắc tên trên Bức Tường Đá Đen nằm trong National Mall thuộc thủ đô Washington và tượng đài Vietnam Veterans Memorial.
Ra về dầu quần áo còn ướt nhẹp, nhưng mọi người đều mang tâm trạng vui tươi phấn khởi. Thương em Cao Trang (con cựu Thiếu Tá Cao Yết, Giám Học Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt) bị cảm cúm tắt tiếng vẫn lết đi diễn hành. Em là hội phó của Hậu Duệ VNCH từ khi thành lập cho đến giờ, bao nhiêu năm vẫn miệt mài trong đội ngũ cầm cờ vàng tham dự các hội đoàn chống Cộng. Em hiểu chuyện ngày miền Nam mất, hiểu sự tù tội của người cha dài năm, hiểu rõ sự cơ cực của người mẹ lúc cha đi “cải tạo”, và hơn nữa là nếm trải sự đói kém khốn khó của gia đình sau 1975, em thấm được ý nghĩa lá cờ vàng và quyết chung tay gìn giữ lá cờ thân yêu nơi đất khách quê người.Tôi cũng biết thêm em Đặng Nga trong nhóm Hậu Duệ: suốt những năm tháng dài đã ngày đêm miệt mài may khăn choàng cổ mẫu hai lá cờ Việt-Mỹ, tặng tất cả mọi người không kể lạ quen. Tấm lòng của em thể hiện tình yêu quê hương, đặt lá cờ tổ quốc thân yêu trong trái tim ấm áp nuôi dưỡng niềm hy vọng cho ngày mai.
Suốt đêm tôi cứ thao thức mãi, suy nghĩ về những nhân vật đặc biệt một lòng hướng về đất nước thân yêu bên kia bờ đại dương, góp công của trong những sinh hoạt tốt đẹp cho Cộng Đồng, sinh hoạt chung với đất nước Mỹ, và đặc biệt nhất là với những cựu chiến binh Hoa Kỳ. Niềm hạnh phúc dâng lên sau cuộc diễn hành mang ý nghĩa cao cả của đất nước Hoa Kỳ. Quý mến các chú bác HO, anh chị em AVVA và đoàn hậu duệ VNCH kết đoàn đi diễn hành chung. Quý mến các chị nhóm AVVA nhiệt tình lo những món ăn cho mọi người, quan tâm khoác áo mưa hay bao ni lông trùm lên người các em đầy tình thương yêu lo lắng.
Đêm khó ngủ suy nghĩ miên man, lặn hụp trong niềm vui giữa “tình người” thân ái chung hoà, tôi ngồi dậy gỏ phím ghi lại những cảm nghĩ chân thành của buổi Veterans Day Parade.
*
Biết trước sắp đến Lễ Tạ Ơn, nên tôi đi chợ mua sớm thực phẩm về để vào ngăn frozen, nhưng cũng thật vất vả vì chợ nào cũng đông người, nhất là tại cửa hàng Costco. Dù đi ngày trong tuần nhưng người vẫn đông nghẹt, chen chúc đụng nhau đã đành, xếp hàng trả tiền lại mệt hơn vì xe nào xe nấy chất đầy ngập, phải đứng chờ hơi lâu. Tôi đoán hình như họ sợ hết hàng nên lo xa, mua trước cho lễ Noel các thứ bánh kẹo, “Chocolates”, rượu nho, áo quần ấm, còn thức ăn thì khỏi nói đủ thứ. Ai cũng than thở kinh tế xuống, vật giá leo thang đắt đỏ, nhưng sao người mua sắm thế kia?!!! Có lẽ họ quan niệm nhịn lúc nào chứ dịp lễ quan trọng, thiêng liêng trời đất phải cảm tạ, phải vui mừng ăn lễ lớn.
Ba chữ “Lễ Tạ Ơn” của hằng năm lòng tôi không tránh được sự bùi ngùi ôn lại ký ức. Tuổi già hay quên việc hiện tại, nhưng lại nhớ rất rõ quá khứ, hình ảnh lần lượt hiện ra trong đầu óc như mới đâu đây, nhiều vô kể…
Lên năm tuổi, đau suyễn mẹ ẵm tới bác sĩ, y tá dụ chích bằng cách cho những vỏ hộp thuốc, tôi thích thú ôm hết nhưng sau đó vẫn la khóc vì bị chích đau, mẹ ôm vào lòng dỗ dành, hứa trên đường về mua kẹo cho ăn. Lên sáu tuổi mẹ dẫn đi học trường Trần Cao Vân, mỗi sáng đều mua ổ bánh mì chan nước thịt cho tôi ăn. Cha là lính đổi đi làm xa ở tận Quy Nhơn thỉnh thoảng về, những sớm mai trời mưa cũng chở tôi đến trường bằng chiếc xe đạp. Tôi lớn dần theo thời gian bên cạnh người mẹ tảo tần buôn bán nuôi con. Lúc đó tôi thật vô tư, đi học gần thầy cô, gần bạn bè có nhiều niềm vui, chỉ biết thần tượng, tôn thờ cô giáo mình. Cô sai đến nhà ôm phụ chồng sách thì như niềm hãnh diện lớn nhất trong đời, nhanh tay lẹ chân thi hành.
Trở thành thiếu nữ trong thời chiến, mê hình ảnh oai hùng người lính VNCH. Hằng ngày nghe tin anh này mất, anh kia tử trận thấm được nỗi buồn chiến tranh. Có một lần tôi nhớ mãi …bạn bè rủ nhau tới nhà đang có đám tang anh thiếu úy nọ bị tử trận, ba đứa ôm song cửa sổ nhìn vào, thấy chiếc hòm để ánh nến lung linh, gia đình khóc lóc kể lể, chúng tôi nước mắt ràn rụa. Bỗng đâu mẹ của bạn đến thăm đám thắp nhang xong, lúc quay lưng trở ra thấy ba đứa cặp mắt đỏ hoe sưng húp, bà nhẹ nhàng ra dấu đi về. Đến ngõ bà mắng “Tụi bây hết sức nói, ai đời con gái chưa chồng đứng đu cửa sổ khóc như mưa như gió, không sợ người ta nghĩ ba đứa mê anh V hay sao?, chỉ có vợ người ta mới khóc như vậy”. Cả bọn nghe la mới sực nhớ “Ừ, mình vô duyên thật”. Nhưng rồi tôi vẫn khóc lặng lẽ mỗi khi nghe ca sĩ Thanh Lan hát:
Em không nhìn được xác chồng
Anh lên lon giữa hai hàng nến trong
Mùi hương cứ tưởng hơi chồng
Ôm mồ cứ tưởng ôm vòng người yêu
(nhạc Phạm Duy- thơ Lê thị Ý “Tưởng Như Còn Người Yêu”
Đất nước mất, đời đứt ngang rồi bao nhiêu mộng ước, đời sống tối tăm cơ cực, sự tự do không còn, bất mãn quá nhiều điều chế độ mới cai trị. Thế rồi tôi tìm đường vượt biên nhờ sự giúp đỡ của gia đình người bạn đời hiện tại, trải bao gian nan, vất vả ra tù vào tội vượt biên. Nhờ mẹ ăn chay nguyện cầu, nhờ Trời Phật che chở tôi đã đến bến bờ tự do sau gần 6 năm đeo đuổi chuyện trốn thoát. Qua Mỹ tôi muốn tìm đến ngôi chùa để lắng đọng tin tưởng về mặt tâm linh, lạy tạ Trời Phật còn được sống sót. Muốn gần bạn thiện hữu tri thức, gần Thầy học hỏi những điều hay cũng như học Phật Pháp tu dưỡng đời sống, và may mắn có ngôi chùa Phổ Từ được xây cất lên trong vùng Hayward cho tôi sinh hoạt mỗi cuối tuần.
Cuộc sống bình an bên người chồng hiền lành nhân đức, cả hai đều có việc làm ổn định bền bỉ. Tôi được may mắn làm tại Company Kyle Design mấy chục năm với công việc mình yêu thích, gặp được “Boss” sống tình cảm luôn nâng đỡ ưu ái xem như người một nhà. Vật chất đầy đủ, có siêng năng làm việc là có tất cả từ xe cộ đến nhà cửa nếu biệt tằn tiện tiêu pha. Hưởng đời sống thoải mái tiện nghi, lòng lại càng ghi ơn đất nước Hoa Kỳ cứu vớt dung dưỡng tạo đời sống tốt đẹp, có điều kiện giúp gia đình người thân và hành thiện. Xem như hai phần ba cuộc đời tôi được nương tựa nơi miền đất hứa, nơi được tự do hít thở và mở mang kiến thức. Tôi luôn mãn nguyện đời sống hiện tại cho tôi quá nhiều thứ, cái ơn rất lớn trong cuộc đời tôi.
Gần Lễ Tạ Ơn, thiên hạ xôn xao, lòng tôi nao nao với cảm giác hạnh phúc được mang quốc tịch Hoa Kỳ. Tôi cũng sẽ bắt chước người ta chen chân cửa hàng Costco mua thêm vài món quà trao đến những người mình mang ơn, chuẩn bị nấu món bún bò Huế mà gia đình “Boss” Kyle rất thích, giờ đây tuy đã nghỉ hưu 4 năm rồi, nhưng mỗi mùa lễ này tôi vẫn bới xách đem lên.
Biết nghĩ thì phải biết thực hành, nghiệm lại gần 40 năm qua, dù tôi không gần cha mẹ để chăm sóc tuổi già, nhưng đã nuôi dưỡng bằng vật chất chu cấp đều đặn cho đến ngày phụ mẫu qua đời. Thỉnh thoảng góp tay chung “group” trường học quà cáp các cô thầy già yếu, bệnh tật bên quê nhà hoặc sau cơn lũ lụt ở Huế. Tiện tặn bỏ ống dành cho Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hoà chính đáng, cùng vài việc phước thiện. Mỗi đầu xuân viếng vài Chùa chúc Tết quý sư Cô, quý Thầy. Hàng tháng góp chung điện nước ngôi chùa chính Phổ Từ cùng quý đạo hữu.
Sáng nay vợ chồng tôi ngồi soạn các địa chỉ nhà thờ Mỹ chuyên nấu ăn phát người vô gia cư, cùng Mõ Nhân Ái của ông Lê văn Hải chuyên đi phát quà, tiền và thức ăn cho Homeless. Hai nơi Wounded Warrior Project (thương binh Mỹ chiến đấu trên thế giới) và Veterans OF Foreign Wars OF The United States (Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ). Lòng chúng tôi nhẹ nhàng thoải mái, khi đã thực hiện được việc Homeless, việc lính Mỹ hằng năm vào dịp Lễ Tạ Ơn, tuy đồng tiền chỉ như hạt cát nhỏ nhoi nhưng có thể hiện được sự mang ơn đối với nước Mỹ. Người ta thường nói có năm điều đừng kể:
1/ Thu nhập thực sự của bạn
2/ Kế hoạch dài hạn của bạn
3/ Nỗi sợ lớn nhất của bạn
4/ Khoe làm từ thiện với người khác
5/ Các vấn đề trong gia đình
Đối với tôi điều 4 rất lợi lạc, chị bạn SL trong hội CGV nhờ kể mà kéo theo số đông làm từ thiện mấy năm nay (chỗ đáng tin cậy có hình ảnh biên nhận rõ ràng). Bản thân tôi cũng nhờ gần bạn thiện hữu tri thức, chị QA từng san sẻ tâm tư “Em ơi học Phật thì hiểu đời Sắc Không, không có gì là của mình, chết chỉ hai bàn tay trắng. Mọi người chỉ đưa mình tới cổng nghĩa địa, sau đó chỉ có công đức mang theo nếu mình biết tạo lúc sống. Đừng nói phải dư tiền lắm bạc mới hành thiện được, em có đọc câu chuyện bà cụ nhà nghèo được Phật chứng ngọn đèn dầu của bà sáng mãi không tắt đó. Mình có tâm thương người rất tốt, ngoài ra mình còn biết ơn đất nước Hoa Kỳ đã cưu mang, nên mỗi Lễ Tạ Ơn nên làm việc nhỏ lớn tuỳ khả năng, ví dụ gặp Homeless dúi vào tay họ $2, $3 đồng bạc, có khả năng hơn gởi đến các Chùa, các nhà Thờ chuyên lo người vô gia cư, cao hơn nữa nghĩ đến Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ chẳng hạn… Khi thực hiện điều gì tốt, em nên chia sẻ cho bạn bè biết để việc lợi, việc tốt được nhân lên nhiều hơn, và sẽ chung tay cùng nhau trồng hoa cho cuộc đời tươi đẹp. Thật ra ai cũng có lòng từ bi bác ái, chỉ là họ quá bận rộn công việc đôi khi quên, hoặc muốn gởi nhưng không biết gởi đâu, mình cứ việc loan truyền …”
Lời chị bạn như vàng ngọc châu báu đã ăn nhập vào tâm hồn tôi thấm đậm. Từ đó tôi học theo chị làm là nói, và từ lâu bạn bè đã tin tưởng góp tay thực hiện nhiều việc lớn tốt đẹp. Mỗi mùa Lễ Tạ Ơn lại nhớ chị QA nhiều hơn, tôi tin các bạn cũng nhớ và đã làm một việc nhỏ như tôi đối với đất nước Hoa Kỳ rồi phải không.
Về mặt tinh thần tôi tạ ơn những bậc thầy đã dạy các luật thơ, kể cả loại thơ khó nhất Đường Luật để tôi áp dụng tập làm. Tạ ơn sư phụ BT dẫn dắt tôi bước đầu vào diễn đàn TNS, giúp tôi layout những tập thơ, tập truyện, làm tranh thơ. Tạ ơn chị bạn PH ép buộc thúc đẩy tôi viết văn, nhờ vậy tôi có cơ hội làm việc bằng trí não giảm bớt bệnh Alzheimer’s.Tạ ơn thầy nhạc sĩ LHN dạy cách viết lyric bản nhạc, cho tôi hưởng ké tiếng tăm. Tạ ơn các nhạc sĩ MĐ, TP, TĐB, MHT, và giáo sư âm nhạc PĐH đã ưu ái phổ nhạc từ thơ của tôi. Tạ ơn các hội thơ văn đã mời vào trang nhà sinh hoạt, cho tôi có cơ hội học hỏi thêm các bậc đàn anh đàn chị giỏi dang, cho tôi niềm vui được góp chung bài vở in tuyển tập, được san sẻ thơ văn và ngược lại đọc những mẩu chuyện hay từ thi nhân văn sĩ. Nhất là hai hội phụ nữ luôn đối xử thân mật, yêu thương hoà thuận, cùng nhau tu tập, cùng nhau nói lời ái ngữ và kể chuyện tếu hàng ngày rộn ràng như mùa xuân. Tạ ơn cơ sở VTLV sinh hoạt tại San Jose cho tôi hưởng quá nhiều niềm vui, nhiều quà từ những buổi tiệc, sinh nhật, thưởng thức văn nghệ theo từng chủ đề :30/ Tháng Tư, Khúc Tình Ca Của Lính, Chiều Nhạc Mùa Thu, Một Mùa Xuân Mới do nhà báo hội trưởng Lê văn Hải hào hoa tổ chức.
Tạ ơn những trang website của hội đã giữ gìn thơ văn chung, nhờ vậy độc giả đã mang đi xa hơn qua Úc, qua Pháp, gần hơn được đưa vào hội Y Khoa Hải Quân, hội Y Khoa bác sĩ Vĩnh Chánh, hội Võ Bị Đà Lạt, hội Sư Phạm Đại Học Huế…v..v… mà tôi được biết nhờ có người quen chuyển lại. Bất ngờ hơn nữa được Website Dòng Sông Cũ, Việt Nam Thư Quán, Hợp Âm Việt đăng tải, đặc biệt Việt Nam Văn Hiến (lập riêng trang cho tôi rất nhiều bài viết và thơ). Tạ ơn KO luôn đưa vào trang Long Hồ Vĩnh Long. Tạ ơn mục đọc truyện của NH, ưu ái đọc nhiều bài viết của tôi.
Sau nữa là Tạ ơn Việt Báo mục Viết Về Nước Mỹ, nơi có số độc giả đọc nhiều nhất. Nơi này khuyến khích mọi người hãy cầm bút viết lên sinh hoạt đời sống trên nước Mỹ, với chủ trương cùng nhau giữ gìn tiếng Việt, khích lệ ngòi bút bằng cách hai năm tổ chức lễ phát giải thưởng, không nề hà việc tốn kém chi phí.
Hiện tại văn thơ nhạc là niềm vui lớn nhất của tôi, là niềm an ủi tuổi già đang chập chững học hỏi bằng tất cả đam mê. Tôi xin kể ra đây những diễn đàn với sự trân trọng kính mến, mà tôi đã tham gia về văn chương thi phú: Văn Bút vùng Đông Bắc Hoa Kỳ; Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt; Diễn Đàn Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ; Diễn Đàn Tình Bằng Hữu; Hội Thơ Đường Luật Hoàng Gia; Vườn Hoa Thơ Duyên; Minh Châu Trời Đông; Cô Gái Việt; Việt Bút; Trang Văn Học Cỏ Thơm; Thế Hữu Văn Đàn; Văn Bút Tao Đàn.
Tạ ơn cha mẹ sinh ra và nuôi nấng con nên người. Tạ ơn cô thầy dạy dỗ mở mang kiến thức làm hành trang vào đời. Tạ ơn các anh lính Việt Nam Cộng Hoà, lính đồng minh Hoa Kỳ hy sinh chiến đấu 20 năm trời cho người dân được sống yên bình. Tạ ơn những ngôi Chùa tâm linh tôi thường sinh hoạt để biết quý trọng, ý thức niềm vui trong hiện tại ”Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy. Ta có thêm ngày nữa để yêu thương”. Cảm tạ “Boss” Kyle cho tôi được “an cư lạc nghiệp”. Cám tạ đất trời thiêng liêng cho con sự sống leo tới tuổi thất thập cổ lai hy. Cuối cùng là cảm tạ đất nước Hoa Kỳ đầy lòng nhân ái cho tôi nương tựa gần 40 năm qua trong niềm thỏa mãn vô biên.
Buổi họp mặt đại gia đình, tôi sẽ đọc lại những lời cảm tạ này trong đêm lễ chính Thanksgiving để bày tỏ sự liêng thiêng cao quý với trời đất.
Minh Thúy Thành Nội
Mùa Lễ Tạ Ơn 2024
TRANG NHÀ THÂN HỮU: LONG HỒ VĨNH LONG:
Trang Long Hồ Vĩnh Long xin chia sẻ những sáng tác nhân dịp này cùng vui thưởng thức..
KHAY TẶNG PHẨM: NHỮNG MÓN QUÀ THƠ Của Văn Thi Sĩ CAO MỴ NHÂN
KHAY TẶNG PHẨM. – CAO MỴ NHÂN
Loanh quanh trong cõi sống này
Đợi anh mang đến một khay tình buồn
Khay tình không có cao lương
Chỉ toàn mỹ vị thơ vương vấn đầy
*
Hóa ra tình cũng tỉnh say
Như ta huyễn mộng tháng ngày hư danh
Anh cười đừng thiết tha anh
Vì em mang nặng quách thành ngả nghiêng
*
Bao nhiêu mộng mị ưu phiền
Bấy nhiêu thiên hạ đã nguyền rủa nhau
Tình trường khổ lụy xưa sau
Em ơi, cuối biển sông đầu còn ta
*
Người về ngó núi xuân xa
Rẽ từng sợi tóc yêu ma tội tình
Mai sau khay đựng thơ mình
Tiệc vui chất chứa ảnh hình thăng hoa …
Rancho Palos Verdes 4 – 11 – 2024
CAO MỴ NHÂN (HNPD
**
CHUYẾN VỀ “ GA XÉP “. CAO MỴ NHÂN
Tóc trắng rồi ư tựa sóng mây
Ta đem thương nhớ gửi nơi này
Hong khô kỷ niệm về hư ảo
Biết tự phương nào sương khói bay
*
Em hỡi em yêu sắc cỏ hoa
Mịt mù huyễn ảnh đã ngang qua
Một trời dĩ vãng chưa hề khuất
Trên chuyến tầu đời lặng lẽ qua
*
Vẫn đoạn đường chuyên chở cuộc tình
Giữ người trong khoảnh khắc phiêu linh
Ta vừa thấy được em yêu dấu
Ôi nỗi buồn hoang vắng của mình
*
Tầu chạy ngang sông, ngang núi xưa
Áo xanh như mắt biếc đong đưa
Tiếng ai thầm gọi người mơ ngủ
“ Ga xép “ đây rồi, tỉnh giấc chưa …
Hawthorne 3 – 11 – 2024- CAO MỴ NHÂN
**
CAO MỴ NHÂN THAO THỨC . CAO MỴ NHÂN
Những viên thuốc ngủ nhỏ
Chúng tàn phá đời anh
Rất lâu rồi, không nhớ
Từ thủa còn chiến tranh
*
Bấy giờ nghe tiếng súng
Anh tưởng pháo trong mơ
Cả núi rừng chuyển động
Cho riêng một mầu cờ
*
Lửa vàng lùa phòng tuyến
Đẩy lùi giặc chạy xa
Chim tắt lời cầu nguyện
Quả đạn đồng bay ra
*
Thế rồi thì thuốc ngủ
Lấn chiếm những đêm vơi
Nửa trăm năm khốn khổ
Thao thức suốt canh đời …
CAO MỴ NHÂN
**
MỘT NGÀY Ở BIỂN. CAO MỴ NHÂN
Buổi sáng lên núi mùa Xuân
Biết anh đã đợi từ luân hồi rồi
Mười năm chưa ngỏ một lời
Bè mây thả nổi tuyệt vời yêu thương
*
Buổi trưa ngó ra đại dương
Hải âu cũng muốn tìm đường bay xa
Hồn buồn trải rộng bao la
Từ đây tủi phận sơn hà lưu vong
*
Buổi chiều ôm ấp vòng không
Đôi tay đã mỏi nỗi lòng tả tơi
Cánh thơ chất ngất, chơi vơi
Giang san chỉ một, đất trời đông tây
*
Biết nhau tuổi cạn tình say
Vẫn như tròn vẹn tháng ngày yêu em
Đêm rơi từng giọt trăng mềm
Non cao nước thẳm đắm chìm mộng mơ…
Rancho Palos Verdes 9 – 11 – 2024
CAO MỴ NHÂN
**
QUÊN. CAO MỴ NHÂN
Tìm hoài, hay lỡ bỏ quên
Ô hay, thơ gởi cho ” em ” đâu rồi
Nhìn theo xa tít đường đời
Làm sao xuống núi, để vui hẹn hò
*
Anh về, chắc hẳn âu lo
Lời ai âu yếm dặn dò sau lưng
Gặp ” em ” tưởng sẽ …reo mừng
Như chim xao xác bỏ rừng xanh kia
*
Đâu ngờ, ta lại cách chia
Sợ càng chia cách, xa lìa có khi
Túi thơ nhẹ bỗng từ ly
Tan theo nước mắt, còn chi điệu vần
*
Vâng thì tất cả phù vân
Lá trầu cay đã mấy lần che môi
Bây giờ …chắc một mình thôi
Bởi bao giờ cũng chơi vơi …một mình …
CAO MỴ NHÂN
**
GA CUỐI TÀU ĐỜI. CAO MỴ NHÂN
Đường qua nước thủy non chung
Nối không gian lại giữa trùng quan xa
Anh về sống với người ta
Bỏ em ở lại sơn hà quạnh hiu
*
Tình buồn chiu chắt thương yêu
Sương pha từng sợi tóc chiều trắng mây
Từ đi tiếc nuối nơi này
Đem nguyên tâm sự chất đầy mộng mơ
*
Núi mùa xuân biếc trong thơ
Nhớ anh nhện thả màn tơ chập chờn
Gió thì thào gọi van lơn
Hỡi người yêu dấu, em hờn giận anh
*
Tàu đi cuối tỉnh đầu thành
Qua bao phố thị đồng xanh mịt mù
Tàu dừng ga cuối thiên thu
Mai sau em đợi anh ru biệt đời …
Rancho Palos Verdes 10 – 11 – 2024
CAO MỴ NHÂN
CHÙM THƠ HALLOWEEN – CAO MỴ NHÂN
HỘI MA HALLOWEEN. CAO MỴ NHÂN
*
Theo anh đi dự hội Ma
Tháng Mười buổi tối ngày Ba Mốt này
Áo em trắng khói sương bay
Tóc anh cũng trắng như mây lạnh buồn
*
Dọc đường từ lúc hoàng hôn
Đã nghe tiếng hét Ma còn cười vui
Hoá trang trong nỗi ngậm ngùi
Khăn che nửa mặt, tình vùi mộng mơ
*
Đèn nhà thiên hạ toả mờ
Đưa tay lên gõ cửa chờ tha nhân
Kẹo ư ? Nào có khó khăn
Vãi rơi từng gói băn khoăn xứ người
*
Quê nhà Covid khắp nơi
Saigon phong toả, nửa vời tung hê
Ma đang đuổi bắt tứ bề
Khôi hài lời chúc ” Happy Halloween ” này …
CAO MỴ NHÂN
*
DỰ HỘI THAO. – CAO MỴ NHÂN
Còn ba tháng nữa hội thao
Lòng buồn rười rượi, xuyến xao lạ lùng
Lâm Viên sương khói mịt mùng
Đại ngàn thủa ấy tận cùng nỗi đau
*
Anh về, có thật xưa sau
Vẫn nguyên binh lửa thời nào dọc ngang
Từ đi sông núi lỡ làng
Quyên kêu tuyệt vọng mênh mang đỉnh trời
*
Hồn buồn quá thủ khoa ơi
Tóc anh trắng bạch mây trời xót xa
Kiếm rơi một thủa sơn hà
Gươm thiêng ái quốc, mặn mà tình em
*
Nhung y, trận mạc nào quên
Cung dâu vẫn vượt trên yên ngựa vàng
” Mai ta đi dọc Việt Nam
Tìm tên chiến hữu viết tràn non cao …”
(kỷ niệm Thủ khoa K.14- NCĐ)
Hawthorne 17 – 3 – 2024
CAO MỴ NHÂN (HNPD)
23 – 10 – 2024
*
TRĂNG HALLOWEEN. CAO MỴ NHÂN
Có vẻ là ta chửa tạ nhau
Nên mây dừng lại chốn giang đầu
Khi trăng nấn ná chờ chia biệt
Anh bảo em về đợi kiếp sau
*
Vẫn biết ngày mai sẽ ngại ngùng
Cần chi phải trốn xuân sau lưng
Em tìm đôi chút thân quen cũ
Ánh mắt anh nhìn, ôi dửng dưng
*
Chợt hỏi còn quên nỗi nhớ nào
Ô hay vương vấn phải ngờ sao
Vẫn anh, nhưng thấy không anh nữa
Thấp thoáng hình ma trước cửa chao
*
Lạnh buốt vai thơ, tóc rối bởi
Hạ tuần trăng vãn cả đôi nơi
Tạ ơn nhân ảnh người yêu dấu
Đã xót xa em suốt cuộc đời …
CAO MỴ NHÂN
*
LÚC SỢ MA. CAO MỴ NHÂN
Ta nghe ở đầu hồi
Tiếng quỷ ma réo gọi
Ta thấy ở đâu rồi
Bóng hình ai hấp hối
*
Nhìn ra bầu trời tối
Những đốm trắng chơi vơi
Trên vòm cây quạ đợi
Ánh dương lên cuối trời
*
Ta hốt hoảng kêu người
Hơi thở dài hiu quạnh
Có thật không cuộc đời
Đang rơi vào bất hạnh
*
Mặt trời xa lấp lánh
Tia sáng loé chân mây
Đưa bình an tới đây
Nỗi kinh hoàng biến mất…
Hawthorne 17 – 7 – 2024
CAO MỴ NHÂN
*
HOANG ĐƯỜNG . CAO MỴ NHÂN
Trên ngọn tình sầu vườn xưa
Có con chim buồn lữ thứ
Đang chờ bóng trăng tan vỡ
Để than van gọi mặt trời
*
Trên mịt mù mây trong đời
Có ai như vừa thổ lộ
Rằng sao cuộc tình lỡ dở
Để thơ khóc giữa mênh mông
*
Em ngồi đợi ở cõi không
Chờ anh, chưa hề thức muộn
Ngày đang bắt đầu tới sớm
Nắng sẽ chan hoà yêu đương
*
Cuối tuần anh có vương thương
Một lần nghe xa tiếng mõ
Hồi chuông cũng vừa vang đó
Chúa ôi, lòng bỗng …hoang đường…
CAO MỴ NHÂN
*
CÕI KHÔNG. CAO MỴ NHÂN
Em vẫn bên anh, yêu thiết tha
Vạt mây vương vấn sắp rời xa
Bao nhiêu hoa nở thơm làn tóc
Tiếng sáo thênh thang quyện khói trà
*
Vượt khỏi vòng tay lỏng buổi nào
Dáng xuân dừng lại đón trăng sao
Em chờ anh thắp hương cầu nguyện
Sưởi ấm lòng em, xoá muộn sầu
*
Bến giác, bờ mê, đã lạc dòng
Chỉ còn lưu thuỷ giữa mênh mông
Một lần đứng cạnh nhau từ biệt
Để mãi như là ở cõi không
*
Anh hỡi, ai quên, ai nhớ nhiều
Ai đang chiu chắt nghĩa thương yêu
Và ai muốn hỏi ai hờ hững
Ôi, lại buồn tênh giữa quạnh hiu…
CAO MỴ NHÂN
VĂN -THƠ: CAO MỴ NHÂN
CÙNG BIẾT THU VỀ
Quả là mùa thu đến thực rồi, nhưng để làm gì đối với một hoàn cảnh đất nước buồn tênh. Đưa tiêu để thật già lão: “Thu ẩm Hoàng Hoa Tửu” ra, để nói về “Mùa thu… chết” thì thật là tương phản. Nhân tiết thu thanh tao, mát mẻ, quý cụ, đôi khi có cả các vị trung niên, gặp gỡ chỉ để thưởng thức rượu cúc mùa thu.
Rượu cúc mùa thu tinh chế bằng hương cúc quý, hoa của mùa thu, đặc biệt đã ủ trong thơ thưởng ngoạn bốn mùa của Thôi Hiệu (704-754), đã được diễn âm quen thuộc trong văn chương VN từ xưa lắm rồi:
Xuân du phương thảo địa
Hạ thưởng lục hà trì
Thu ẩm hoàng hoa tửu
Đông ngâm bạch tuyết thi
Thành ra hình ảnh quý vị tao nhân mặc khách, quí vị kẻ sĩ, chinh phu… thậm chí cả những khách rượu dân gian, tất cả đều có thể say men hoàng hoa tửu, đón thu trở về cõi thế…
Chỉ với bầu rượu cúc, đấng mày râu lãng đãng bên trời, đã cho thiên hạ cùng biết mùa thu sương khói quanh đây.
…
Song có cần chi phải vận dụng rượu cúc với khách tài hoa hiện diện giữa đất trời này, mới hay thu đến, mà chỉ cần một chiếc lá rơi rất bình thường thôi, đã thấy vàng võ cả khung thu ảm đạm rồi:
Ngô đồng nhất diệp lạc
Thiên hạ cộng tri thu
Cái điển cổ, điển tích lẫn trong thơ cổ VN, giãi bày ra lời ví von thường nhật, dân tộc ta hầu như thân thuộc hình ảnh lá ngô đồng…
Tất nhiên không phải chỉ ở bên Tàu, mới có ngô đồng, tức cây phong, cây cao, mùa thu thoạt thì lá vàng rực rỡ, rồi lá đỏ sậm đi, lá sẽ khô, rụng xuống…
Thủa nữ sĩ Mộng Tuyết Tiểu Muội còn sinh thời. Tôi hay tới biệt thự Úc Viên ở Sài Gòn để… xướng họa thi ca Đường Luật, một hôm nghe như trời se lanh, bất giác tôi nhớ… tích cũ, đọc khẽ câu:
Ngô đồng nhất diệp lạc
Thiên hạ cộng tri thu…
Còn cao hứng nói: “Mùa đã vào thu rồi đại tỷ ạ…”
Đại Tỷ Mộng Tuyết, niên trưởng hội thơ Quỳnh Dao của chúng tôi chợt mỉm cười:
“Sao biết mùa thu đã về, ở miền Nam này, chỉ có hai mùa mưa nắng thôi? Và có biết cây ngô đồng, chú vừa nói đó như thế nào không?”
Tôi là em út của quý nữ sĩ Quỳnh Dao, chuyên biệt thể thơ thất ngôn bát cú, nên niên trưởng Mộng Tuyết thường kêu rỡn tôi bằng “chú”, tức chú tiểu đồng.
Tôi ngần ngại trả lời: số là những ngày ở ngoài Trung, em có nghe ngay trong đại nội Huế, có mấy cây ngô đồng, từ thời vua Minh Mạng đưa từ Trung Quốc về.
Rồi em có nghe, người ta nói cây ngô đồng chính là cây vông đồng, lá để gói nem phải không đại tỷ?
Nữ sĩ Mộng Tuyết cười thật kẻ cả nhưng hiền hậu vô cùng, bà vốn cao lớn, mập mạp, người thích hoa cúc mỗi khi mua hoa ngày Tết Nguyên Đán, nên tôi vẫn duy nhất, là người đùa tặng bà danh hiệu “Cúc đại đóa”. Bà vô thư phòng, lật một cuốn sách thật dầy, lấy chiếc lá màu đỏ bầm, trao cho tôi, bảo rằng:
Này là chiếc lá phong, tức ngô đồng ở Đài Loan, hôm xưa đi họp Văn Bút bên đó, ép mấy lá đem về, tặng chú một lá cho biết nhé.
Sau này khi đến Hoa Kỳ, đi chơi mấy tiểu bang ở Đông Bắc Mỹ, đã thấy những rừng lá phong, mới hiu hắt nhớ những câu thơ Đoạn Trường Tân Thanh của thi hào Nguyễn Du:
Rừng thu tầng biếc chen hồng
Nghe chim như giục tấm lòng thần hôn
(Nguyễn Du)
Đó là hình ảnh tầng lớp lá phong ngả sang màu đỏ, còn đầy trên vòm cao, chưa kịp rụng. Mùa thu vốn võ vàng, quạnh vắng, buồn chơi vơi…
Nỗi buồn mùa thu là nỗi buồn lãng mạn, trữ tình, không cần phải có đối tượng mới thở than.
Người yêu thu, thương lá vàng rơi rụng, vẫn có thể thiết tha buồn thảm vì cảnh vật mơ hồ sầu muộn, nên, Guillaume Apo-llinaire (1980-1981) mới viết nên bài thơ Vĩnh Biệt gởi lại người đời… L’adieu…
Nhà thơ Bùi Giáng dịch là Lời Vĩnh Biệt, nhạc sĩ Phạm Duy phổ thơ thành Mùa Thu Chết.
Mùa thu chết còn được gọi là “Hoa thạch thảo”, bởi vì loài ấy, cũng có dáng dấp hoa cúc, màu sắc cúc… mà nếu bàn tới thì cũng có thể cả ngàn chương…
Chỉ cần bàn về hoa cúc, hoa thạch thảo mùa thu, lập tức quý vị sẽ có hàng loạt đề tài…
Nhưng tôi chỉ định… sơ qua một chút sao lại “Mùa thu chết”, cái điều so sánh: uống rượu cúc mùa thu, và ngắt đóa cúc “thạch thảo “để nhắc nhau mùa thu đã chết.
Mùa thu phải sống mãi để năm năm mời nhau uống rượu cúc chứ, song le mùa thu đã chết thực rồi vì đóa cúc thạch thảo trên tay… không còn nữa, như chính chúng ta, từ đây mãi mãi không thấy nhau, từ đây mãi mãi không thấy nhau…
Năm 1965 đó, nhạc sĩ Phạm Duy hoàn toàn cảm hứng bài thơ L’ Adieu của thi sĩ Guillaume Apollinaire, bên cạnh đó là Lời Vĩnh Biệt do thi sĩ Bùi Giáng dịch.
Nhưng độc giả và thính giả, lai cứ kéo ông vào chính trường thơ nhặc, rằng Mùa Thu Chết là nhạc sĩ Phạm Duy khẳng định cái mùa thu 1948 của ông ngoài kháng chiến chết rồi, chết thật rồi.
Mùa thu mà “nhạc tuổi xanh” với câu mở đầu: “Một mùa thu năm xưa cách mạng tiến ra đất Việt…” Đâu phải là câu trả lời, lỡ có ai hỏi nhạc sĩ còn cảm giác gì với cái mùa thu thanh niên Hà Nội rời năm cửa ô, ra đi chống Pháp, kiểu Tây Tiến của Quang Dũng cùng thời:
Sông Mã xa rồi Tây tiến ơi
Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi…
(Quang Dũng)
Rồi 3 năm sau, 1968, Việt Cộng tấn kích Tết Mậu Thân, lạc lõng trong đô thành Sài Gòn Chợ Lớn, lại cứ bảo (đoán mò) có ai đó vô tận tư thất nhạc sĩ Phạm Duy, hỏi xem âm hưởng mùa thu xưa còn chút gì vẳng vọng, nhạc sĩ bèn trả lời “Mùa thu đó đã chết rồi”
Thật là hay, và cũng thật là ảo vọng.
Tuy nhiên cho dẫu thi ca, âm nhạc có chuyển tải được tư tưởng đó, cũng là điều quý giá.
Trở lại với mùa thu chân nguyên, trong sáng…
Đã qua cảnh nóng nực của mùa hè, chuẩn bị áo lạnh khăn len cho mùa đông để chờ xuân sang ấm áp… thì mùa thu là mùa thư giãn, nghỉ ngơi…
Là mùa của khoan dung, hoan hỉ đợi người về, đón chờ người tới, và tiễn biệt ai đi, tất cả đều… chìm đắm trong khung thơ mơ mộng, an bình, hiếu hỉ từ gia đình đến ngoài thiên hạ…
Cái thế hệ ” Chiều vàng ” của chúng tôi, đang lần lượt bước qua lằn ranh quá khứ. Tôi chưa kịp nói hết câu mở đầu, rằng ông trở lại với khán thính giả muốn nghe kỹ hơn về trận chiến Hoàng Sa ngày 19 – 1- 1974.
Vị Thiếu tá bộ binh Ban Lãnh Thổ thuộc Phòng 3 Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I/ Quân Khu I, tên bình thường là Phạm Văn Hồng, đã mặc nhiên có tên trong Quân Sử VNCH một cách đương nhiên phải thế.
Cách đây ít năm, một cơ quan truyền thông đã phỏng vấn Thiếu Tá Phạm Văn Hồng, trưởng phái đoàn tù binh VNCH bị quân Trung Cộng đánh chiếm đảo Hoàng Sa bắt, vào giáp tết nguyên đán ngày 19 – 1 – 1974 .
Nhưng trong cuộc phỏng vấn chớp nhoáng ấy còn nhiều hạn chế về thời gian, cả quý vị hỏi lẫn khách trả lời, nhất là Thiếu tá đương sự, còn chưa hết bâng khuâng, căm hận khi nhớ lại tình huống Quân ta bị bắt như có bàn tay ” thế sự ” xếp đặt.
Nên chi cuộc phỏng vấn mới nhất này, của một nhóm có thể là biết tình thế thời sự Hoàng Sa chi tiết hơn.
Tất nhiên, Thiếu tá Phạm Văn Hồng mở rộng tầm nhìn thật chính xác về một Hoàng Sa bị đánh cướp như thế nào .
Trước tiên, tôi lại xin phép quý vị là trong bài viết này, tôi chỉ kể chuyện ” cũ “, nên không phải là điều nhận định như quý vị thường tìm thấy ở các cây bút ” tham luận ” .
Lý do rất dản dị, là Thiếu tá Phạm Văn Hồng với tôi cùng phục vụ tại Bộ Tư Lệnh QĐI/QKI.
Kế tới, sau khi Thiếu tá Hồng và đoàn ta bị Trung Cộng bắt ở ngay Hoàng Sa, nơi ông phải thực hiện chuyến công tác vào trung tuần tháng Jan / 1974, Phòng Xã Hội QĐI/QKI đã đi thăm viếng, yểm trợ tinh thần gia đình ông gồm phu nhân ông và con cái.
Sau cùng, Thiếu tá Phạm Văn Hồng đã từ bên kia bức màn sắt của Trung Cộng trở về VN, cùng với mấy chục bạn tù hiện diện ở trận Hoàng Sa. ..ông đã viết một tập hồi ký, kèm hình ảnh, với tựa đề : ” Người về từ Trung Cộng.”
Ông có nhờ tôi làm sao để phổ biến trong hàng ngũ huynh đệ chi binh bấy giờ, chứ không phải tham vọng muốn làm nhà văn, nhà viết gì cả.
Và chính yếu tố thứ 3 này, hôm nay tôi mạo muội kể lại quý vị lính nghe.
Từ Phòng 3 QĐI/QKI, Thiếu tá Phạm Văn Hồng xuống Phòng Xã hội QĐI/QKI với tập bản thảo được đánh máy ( kiểu thủ công ngày xưa trước 1975 ), có kèm một số hình ảnh mà lúc ở trại tù bên Quảng Châu do ông thu nhặt được.
Thí dụ : Đại trại , đại khánh, kịch văn công vv…
Tôi rất hào hứng, không phải việc làm của Thiếu tá Hồng có ý gì khác, ngoài ý muốn để người dân miền nam hiểu thực tế cái xã hội Trung Cộng như thế nào.
Tôi thoáng nghĩ tới cụ nhà văn danh tiếng, hàng xóm nhà ba tôi ở hẻm đầu tiên cư xá Chu Mạnh Trinh Phú Nhuận.
Cư xá có những quý vị tên tuổi ở xã hội miền nam như: nhạc sĩ Phạm Duy, nhạc sĩ Tuấn Khanh, nhà văn Duyên Anh vv…, và cụ nhà văn Nguyễn Mạnh Côn.
Chính là tôi điếc không sợ súng, tôi viết thư gởi cụ lão thành trong nghề báo chí, văn chương là cụ nhà văn Nguyễn Mạnh Côn nêu trên, coi và cho ý kiến phổ biến sách đó.
Thế là Phạm Văn Hồng hăm hở đi Saigon với mong muốn được in ấn, phát hành cuốn hồi ký : ” Người về từ Trung Cộng” của ông.
Mấy ngày sau, Thiếu tá Phạm Văn Hồng về lại Đà Nẵng, nơi Bộ Tư Lệnh QĐI/QKI đồn trú.
Tất nhiên Thiếu tá Hồng không ôm tập bản thảo đó xuống gặp tôi, ông ta đi tay không, thong thả và cười một cách rất lính, rồi nói : ” Cao Mỵ Nhân ạ, cụ ấy sợ gì chẳng rõ, cụ ấy bảo in ra, phát hành không có lợi …” .
Tôi cắt ngang:” Lợi cái gì chứ, sao lại không có lợi ? “.
Thiếu tá Hồng thốt ngắn gọn : ” Thì thôi, không cần, tôi có muốn làm văn sĩ đâu .”
Sau này tôi mới tiếc , là vì Cục Tâm Lý Chiến có cả một nhà in riêng. Tôi bận rộn và có chút tự ái, không muốn in thơ ở đó, nhưng hồi ký quân sự và chính trị ” Người về từ Trung Cộng ” của Thiếu tá Phạm Văn Hồng, thì tại sao tôi không nhớ ra, là trong huynh đệ chi binh có đủ phương tiện, sao tôi không thân chinh cùng Thiếu tá Phạm Văn Hồng đi gặp vị Cục Trưởng Cục Tâm Lý Chiến, là Đại Tá Hoàng Ngọc Tiếu, tức thi sĩ Cao Tiêu, đại tá sẽ giúp đỡ ngay.
Bởi vì hồi đó, tôi quá thần phục quý vị văn nghệ sĩ dân sự. Tôi đã để lỡ một dịp may cho người bạn cùng đơn vị.
Lẽ ra tôi phải hiểu là Thiếu tá Phạm Văn Hồng có nhiều đặc điểm, một sĩ quan cấp tá xuất thân từ Võ Bị Đà Lạt, một Đại đội trưởng Biệt Kích, đã bị thương trong mặt trận Quảng Trị, rồi mới được về Phòng 3 Quân Đoàn. Lại bị tù bên Trung cộng, vv…
Hôm nay nghe cuộc phỏng vấn mới về trận chiến Hoàng Sa
ngày 19 -1 -1974, thấy Thiếu tá Khoá 20 Võ Bị Đà Lạt vẫn phong độ trong cung cách riêng của quân nhân các cấp Quân Lực VNCH.
Tôi vẫn kính phục ông, như kính phục huynh đệ chi binh khác, và có chút ân hận là không giúp được ông chuyển tải những gì ông thấy ở trong cũng như ở ngoài phạm vi Quân Lực VNCH, nhất là chuyện phải đi tù ở Trung Cộng, quan thày của Cộng sán bắc việt nói riêng và csvn nói chung .
Tôi liên tưởng tới câu nói của bí thư nào đó đảng Cộng Sản Bắc việt xưa: ” Chúng ta đánh Mỹ là đánh cho Nga Tàu ” mà khinh miệt đám người vong bản đó, csvn, từ trong trứng nước cái tư tưởng nô lệ một đại cái bang, tập đoàn bành trướng Bắc Kinh vô thần, vô tổ quốc, vô gia đình …
Thiếu tá Phạm Văn Hồng chắc đã hiểu rằng bây giờ cả Thế giới đã đổi khác, bây giờ có computer, internet…không cần phải ky cóp đánh máy như ông làm cái hồi ký khốn khổ hồi đó nữa…
Thế nên thời nay mọi người đều biết , mọi sự đều được phơi bày nơi truyền thông, báo chí …Những người ở bên kia bức màn sắt, đã đang và sẽ được hiểu biết những gì trên thế giới trong phạm vi sinh hoạt hôm nay…
Những cái mốc lịch sử đã khiến người ta trong hay ngoài cuộc, tự nhiên phải nhớ …để đời.
Tôi được mấy người bạn lính gởi cho cái ” you tube ” giới thiệu cuộc phỏng vấn thiếu tá Phạm Văn Hồng,nhân kỷ niệm cuộc hải chiến Hoàng Sa 19- 1 – 1974.
Nghe lại Thiếu tá Phạm Văn Hồng ở kỳ phỏng vấn này, tôi thấy rõ ràng hơn, đầy đủ hơn, ông quả là một sĩ quan Phòng3 phân tách kỹ, cung cấp đầy đủ những điều mà nếu xem thường sẽ rơi vào khuyết điểm, mặc dù trình bầy sự thật …
Tôi nói với ông là mỗi năm tôi chỉ gặp lại ông vào ngày kỷ niệm trận chiến buồn đó. Và rất tình cờ mỗi lần điện đàm, là một lần nghe ông thông báo một chút về thế hệ ” Chiều vàng” ở Đà Nẵng xưa.
Lần này gặp qua phone, ông thông báo đang thăm người bạn đồng cấp, nguyên là Chánh văn phòng Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn mang số một La Mã mầu đỏ của …tôi.
Người bạn này đang ở giờ thứ 25, Thiếu tá Hoàng Xuân Đạm, thật là buồn, ôi cái thế hệ ” Chiều vàng “, héo hắt những tàn lá mùa thu vàng võ … buồn thiu …lần lượt bay đi mất hút…
CAO MỴ NHÂN
**
ĐÁM MÂY VÀNG. CAO MỴ NHÂN
Buổi sáng ở Denver Colorado, tôi theo gia đình chị Nhàn,nguyên chị là một nữ tiếp viên hàng không, của hãng Hàng Không Việt Nam ( Air Vietnam ) thời đệ nhị Cộng Hoà( Việt Nam Cộng Hoà ) lên ngọn núi danh tiếng sát ngay thành phố đá đó để ngoạn cảnh.
Trên đỉnh ngọn núi này, có một ” đại hí trường ” có thể chứa hàng chục ngàn tân khách.
Chung quanh đại sảnh trường đó, toàn là vách đá dựng cao ngất, nhưng lòng động lại mái trống, lộ thiên .
Gia đình chị Nhàn đông đủ dâu rể cháu nội ngoại, tất cả đều tỏ ra thân quen với lâu đài hí trường khổng lồ đó .
Nghe tiếng gió từ bốn phương đổ về, chị Nhàn nói với tôi một cách trân trọng lắm : ” Mỵ ạ, nơi đây người ta còn gọi là Chiếc đàn ” Phong cầm gió ” vĩ đại nữa đấy .
Tôi chỉ biết ngưỡng mộ và thán phục thiên nhiên, Đấng Tạo Hoá đã cho nhân thế này bao nhiêu là công trình tuyệt tác.
Đang lúc mọi người trầm trồ khen ngợi vũ đình trường gió mưa sương gió thiên nhiên, tự đến, tự đi tới cái động to lớn mịt mù đó, thì nóc động hửng lên một khung nắng rỡ ràng..
Một đám mây mầu vàng mỡ gà lững thững bay qua, tưởng như tà áo của thiếu nữ nào rơi trên mái động …
Chị Nhàn và tôi đều sững sờ thốt :
” Mây vàng Hà Nội ” .
Tại sao mây Hà Nội mầu vàng ?
Ôi phải rất nhiều lời , hay rất nhiều thì giờ mới giải thích được điều thơ mộng đó, chỉ biết rằng nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh ngày xưa, đã mang mây vàng từ trung nguyên về Hà Nội.
Và gần nhất với tôi thủa là thiếu nữ ở Saigon, đã có một nhà thơ tài tử, Nhị Thu viết cuốn thơ ” Mây Hà Nội ” , năm 1961, cùng lượt với cuốn ” Thơ Mỵ 1961 ” của tôi.
Tất nhiên tôi chỉ nêu ra hình ảnh mây vàng Hà Nội dĩ vãng , nghĩa là trước 20 – 7 – 1954, hay trước khi chúng tôi di cư vào Nam thời sông Bến Hải chia đôi đất nước .
Đám mây vàng lặng lẽ rời khỏi nóc vũ đình trường đá đó, nắng còn ở lại cửa động lộ thiên một thoáng, cả chị Nhàn và tôi đều như có chút buồn phảng phất .
Tôi hỏi chị một cách nhớ nhung rằng :
” Chị ơi, ngày di cư, em ở tuổi vài năm ” teen ” đầu, chị gần gấp đôi tuổi em, thủa đó, chị có may áo dài lụa mầu vàng mơ, và nhất là, chị có may áo ” vest ” mầu mơ chín ở phố Nhà Thờ Hà Nội không ? “
Chị Nhàn cười xa vắng :
” Thế Mỵ. cũng biết tiệm chuyên may áo vest ở phố Hàm Long đó à ? “
Bỗng lòng tôi chùng xuống chi lạ, ba tôi có lần đã cho mấy chị em tôi từ Hải Phòng về Hà Nội để may cho mỗi đứa một áo vest mầu vàng mơ tuỳ theo sở thích, hoặc mơ non, mơ chín, mơ sậm, mơ lạt vv…
Và chính buổi đi may áo dài, áo vest ở hiệu may danh tiếng phố Hàm Long xa xưa ấy, mà tôi nhớ mãi mầu mây thu Hà Nội . Ôi, có thể nói, ngoài mây thu vàng ở cái nơi tôi chỉ thấy đẹp thủa ấu thơ và thiếu niên ra, tôi không còn thấy thêm cái chất Hà Thành thanh lịch trong văn chương tiền chiến nữa .
Thế nhưng hôm nay, tôi muốn nhắc tới một mầu mây Hà Nội rất kinh điển, chính mầu mây vàng lợt thôi, nhẹ nhàng , thơ mộng mà những người đã một thời say đắm nó, mây Hà Nội, như nhà thơ Nhị Thu, hay sau này , khi tôi lớn lên, trưởng thành rồi già đi như bây giờ, sắc mây vàng mỡ gà, vừa rực rỡ, vừa hoang mê, vừa thần thoại, chỉ còn trong cổ tích mất mát thôi.
Ngay tức khắc tôi nhớ tới quý vị sĩ quan Quân Lực VNCHdanh tiếng thơ văn lẫy lừng thuộc Cục Tâm Lý Chiến, không thể nào không nhắc tới mây vàng cố đô Thăng Long, là các vị người Bắc di cư năm 1954.
Để rồi tôi ngồi một mình xót xa, bây giờ ” điểm danh lại ” thì số quý vị đó đã không còn trên trái đất : Thi sĩ đại tá Cao Tiêu, Thi sĩ, Hoạ sĩ Tạ Tỵ , Nhà văn Trung tá Hà Thượng Nhân, Nhà văn Trung tá Phan Lạc Phúc, Nhà văn Thiếu tá Đặng Trần Huân, Nhà văn Thiếu tá Phạm Huấn , Thi sĩ Đại uý Du Tử Lê, Thi sĩ Trung uý Thanh Tâm Tuyền .
Thưa , rất nhiều văn nghệ sĩ quân đội, gốc Hà Nội, nhưng ở các đơn vị khác, chẳng hạn Nhà văn Trung tá Duy Lam ở QĐI/ QKI, Nhà thơ Trung tá Cung Trầm Tưởng ở Bộ Tư Lệnh Không Quân VNCH, Nhà thơ Trung tá Hoàng Ngọc Liên ở Binh Chủng Nhảy Dù VNCH.
Hay, Thi sĩ Thiếu tá Tô Thuỳ Yên Trưởng phòng Văn Nghệ Cục Tâm Lý Chiến VNCH, nhưng ,không gốc Hà Nội .
Tôi chỉ đan cử hôm nay về quý vị Sĩ quan QLVNCH gốc Bắc di cư đã mãn phần , và ít nhiều một thời gắn bó tới mầu mây vàng Hà Nội thôi.
Bởi vì quý vị nêu trên đã mang theo sắc mây vàng quá khứ ra đi. Và , thực sự tôi muốn hoài niệm hình ảnh Thi Sĩ đại tá Cao Tiêu cùng phu nhân đã thưởng lãm mầu mây vàng Hà Nội ở Hồ Gươm, trước khi Thi Sĩ Cao Tiêu tức cựu Đại tá Hoàng Ngọc Tiếu nhập ngũ .
Một bức ảnh đen trắng xưa, trên một ghế đá ở bờ hồ Gươm Hà Nội, Thi sĩ và phu nhân ngồi ngắm mây thu lượn quanh thành phố được tiếng là thanh lịch từ các thế kỷ trước .
Buổi tôi hướng dẫn các động tác tập thể dục Dưỡng Sinh cho quý cụ cao niên, bịnh hoạn ở Câu Lạc Bộ Dưỡng Sinh Saigon , sau khi tôi ra tù cải tạo.
Tôi tiếp chuyện một vị rất trưởng thượng quen quen .
Cụ cho tôi coi một bao hình nhỏ, cụ đưa tôi bức hình vừa nêu, cụ hỏi :
” Cô có biết Đại tá Hoàng Ngọc Tiếu không, Thi sĩ đấy …”
Tôi thưa với cụ là Thi sĩ Đại tá Cao Tiêu .
Cụ gật đầu : ” Ông ấy là em ruột tôi ” .
Tôi a lên mừng rỡ , cụ tiếp ” Tôi là Hoàng Mai Đạt ” .
Cụ Hoàng Mai Đạt nghệ sĩ hơn Đại tá Cao Tiêu, cụ vẫn vui vẻ thơ ca ở Câu lạc bộ Dưỡng Sinh trước khi qua Hoa Kỳ sau đó ít lâu .
Lại một câu chuyện về mây thu Hà Nội, cụ Hoàng Mai Đạt kể : ” Tôi biết cô không ở Hà Nội nhiều như chúng tôi, cái thế hệ mà thanh niên của thành phố có nhiều hồ, nhiều hơi thu lành lạnh, những đám mây vàng nhẹ như mối tơ vương sắc vàng rơi lững lờ trên thành phố thơ mộng từ ngõ hẻm ra đại lộ .
Tôi lắc đầu, ” cháu không phải người Hà Nội của các cụ nhìn đâu cũng thấy chút gì vừa thân mật vừa kín đáo . Cháu lớn lên ở Saigon. Khung trời rộng quá, hầu hết mây trắng 4 mùa, nếu mây xám là sắp mưa…đơn giản, mau chóng như những cơn mưa rào, thật nhanh và chưa kịp lạnh cụ ạ .
Thế rồi thì mỗi người mỗi chạy theo cái dòng chảy không riêng lẻ, nên chẳng thấy cô đơn lắm.
Tôi qua Hoa Kỳ theo diện tị nạn, lại càng chẳng bao giờ nhớ cái mùa thu mây vàng như trong văn chương thơ nhạc tiền chiến, hay trước ngày đất nước qua phân .
Tôi cũng không về Bắc sau khi mọi người bảo là ” thống nhất ” . Tôi không nhớ nhung gì hết phần đất bên kia sông Bến Hải, dù tôi rất nhiều lần đứng bên cầu Hiền Lương do công tác xã hội tôi phục vụ trong Quân Lực VNCH, suốt cả chiều dài lãnh thổ từ Bến Hải tới Sa Huỳnh, cận nam Quảng Ngãi .
Cũng có lúc tôi buồn nhìn mây bay, nghe gió thổi ở miền địa đầu giới tuyến, nhưng quả thực, không thấy lại mây mầu vàng mỡ gà mà thuở thiếu niên ba tôi cho về Hà Nội, để may áo vest ở phố Hàm Long, e chỉ còn trong ký ức rất xa xăm.
Và hôm theo gia đình chị Nhàn lên núi nghe gió hú trong đại hí trường, có một làn mây vàng ấm áp nhưng mong manh bay ngang đỉnh động đá khối khổng lồ, lộ thiên năm 1996.
Mầu mây vàng bất ngờ, khiến tôi nhắc đến hằng loạt tên tuổi những nhà thơ văn xuất thân ở Hà Thành thanh lịch, đã một thời hội tụ ở khuôn viên Cục Tâm Lý Chiến VNCH, rồi lưu vong, thả mây thu Hà Nội đi bát ngát, mênh mông…
Quý vị ấy không ai gặp ai nữa, kể cả những đám mây vàng tan loãng, hay đổi mầu trong không gian vô cùng mịt mù ngoài vũ trụ mênh mông…
Hawthorne 10 – 6 – 2021
CAO MỴ NHÂN
**
CHIẾC LÁ PHONG. CAO MỴ NHÂN
” Mùa đã vàng chưa sắc lá thu ?”
Đã sang thu rồi mà mình còn tiếp tục dậy sớm, bởi vì mình muốn gặp anh trong nỗi nhớ nhung tuyệt vời, chỉ khoảnh khắc thời gian âm dương chuyển dịch đó, đêm sắp tan ra và ngày sẽ đưa mặt trời trở lại thế gian này, mình mới quên đi nỗi nhớ.
Anh khuyên mình nên sống vô tư, hồn nhiên theo ý Chúa.
Không. Mình sẽ chẳng bao giờ theo ý Chúa khi mùa thu vàng lá chờ mong, khi anh còn cách biệt mình cả một đại dương thầm kín tình buồn .
Hỡi anh ” Yêu Quí ” ơi, anh có biết hôm nay mình khóc sớm hơn hôm qua, và những hôm qua, mình khóc sớm hơn những hôm kia không?
Anh không thực sự hay giả bộ lơ là với nỗi ” Tình Thu ” của đất trời chung và của mình riêng đâu.
” Tại sao phải lơ là, dù tôi không là thi sĩ, nhưng lòng dạ vẫn mang mang mầu mây biếc ở thành San đấy chứ …”
Thế sao anh không mang mùa thu đến sớm cho mình …buồn .
Ố ô, dại quá Mỵ ơi, dẫu :
Ngô đồng nhất diệp lạc
Thiên hạ cộng tri thu…
Một cánh lá phong rơi, vàng võ cả không gian, nhân gian đều đón đợi thu về, sao phải buồn thế chứ .
Hỡi anh ” yêu quí “, sao cứ gọi tên anh hoài, anh đang muốn trốn mình trong những vách núi thành San, để đọc lại bài thơ ” Thành San thu biếc ” của người tình lỡ trăm năm, nhưng vĩnh cửu ngàn năm không phai tàn sắc lá …thu vàng .
Ố ô, lại ” Ố ô” , tiếng reo vui của một cuộc tình không bao giờ chấm dứt .
Anh hỏi sao chưa chán mùa thu ư, mà cứ thích nhìn sắc mầu thương nhớ thế, anh sẽ hiện diện nơi thơ như một dấu tích hằn sâu nỗi nhớ nhung, người thơ thường ghi lại trong mỗi bài tình thơ đầy khói sương bao phủ, để chiếc lá vàng kia lẫn vào sắc lá huyền mơ tuyệt vời hư huyễn.
” Mùa đã vàng chưa sắc lá thu ”
Mình đã đến tận Colorado, lên tới Minnesota…chỉ vì hình ảnh những cây phong chan chứa sắc thu vàng, những năm khí núi hơi rừng huyền hoặc tình thơ, không sao xoá nổi mặt trởi ủ rũ nét u sầu .
Mình chưa kể cho anh nghe, vì anh chẳng khi nào thích nghe chuyện hão huyền, còn mình thì lại vô cùng huyễn ảo.
Rằng ngày xưa mới đó, nhưng nay khách văn chương đã trở thành người thiên cổ.
Khi còn học trung học, cô giáo Ninh dạy Việt văn ( xưa còn kêu là Giảng văn ) cho phân tích đoạn văn ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH của cụ NGUYỄN DU, bậc thi hào có lẽ chưa ai thay thế được, đoạn thơ có cảnh rừng phong :
Người lên ngựa, kẻ chia bào
Rừng phong thu đã nhuốm mầu quan san
Dặm hồng bụi cuốn chinh an
Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh
Người về chiếc bóng năm canh
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi
Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường …
( Đoạn Trường Tân Thanh – Nguyễn Du )
Điều tôi muồn kể quý vị và anh nghe, là cây phong lá vàng trong thơ cụ Nguyễn Du, dấu tích cuộc chia tay, Thúc Sinh và Thuý Kiều, cuộc chia tay tình nghĩa nhất của Thuý Kiều .
Cây phong mà văn chương Trung Hoa phong kiến xưa gọi cây ngô đồng, mọc đầy rẫy ở Hoa Kỳ hiện nay vậy.
Thế thì, khi cây phong rụng chiếc lá vàng đầu tiên, cả thiên hạ đã biết mùa thu đang về .
Khi mới học và đọc :
Ngô đồng nhất diệp lạc
Thiên hạ cộng tri thu…
Tôi ngập ngừng trước bài viết của vị nào đó về cây ngô đồng là cây ” vông đồng ” có lá gói nem chua ở miền nam.
Tôi còn khờ đến nỗi tưởng chiếc lá ngô của cây bắp vẫn cho trái bắp luộc, bắp nướng như ở Dalat .
Tuy nhiên tôi cũng tự hiểu là chiếc lá ngô bắp dài thoong bao bọc cây bắp đó làm sao rụng được, vì khi muốn bỏ lá bắp ấy , người ta phải tước ra .
Thế thì một ngày kia, không khí Saigon gần Noel, trời cũng se lạnh. Tôi tới Úc Viên thăm Nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội , tôi cũng giả bộ đọc :
” Ngô đồng nhất diệp lạc
Thiên hạ cộng tri thu…”
Nữ sĩ Mộng Tuyết hỏi tôi:
Cao Mỵ Nhân biết lá ngô đồng như thế nào chưa ?
Tôi lặng thinh, vì …cả đời tôi đã biết ” cây ngô đồng ” đâu . Nữ sĩ Mộng Tuyết lẳng lặng mở tủ sách nơi phòng khách lớn , bà rút một cuốn sách dày. Đoạn bà mở một trang sách mà Nữ sĩ Mộng Tuyết đã ép mấy chiếc lá phong vàng ở Đài Loan trong dịp Nữ sĩ Mộng Tuyết đi họp Văn Bút Thế Giới năm nào đó, và trao cho tôi, bà nói :
” Để Cao Mỵ Nhân biết lá ngô đồng mùa thu đó nghe ”
Thế rồi thì một phần dân tộc theo đông tiến sau 30 -4 – 1975. Tôi đã tận mắt thấy từng loạt lá ngô đồng rụng như mưa rơi , không còn huyền thoại nữa .
Nhưng với tôi, tôi đến Hoa Kỳ trong mùa lá rụng, và gặp anh trong mùa lá rụng sau này .
Thế ư ? Anh có là Thúc Sinh đâu, và mình càng chẳng phải Thuý Kiều chứ, song tuổi tác đã thu phong lá vàng, nào có cần chi phải thấy một chiếc lá phong bay trước mặt, để thấy mùa thơ mộng nhất trong mỗi năm đã trở về .
Chính mình dẫu có anh hay không, mùa thu đã sẵn trong tâm hồn chứa chan sắc lá …văn chương đó rồi .. .
CAO MỴ NHÂN
**
THƠ – CAO MỴ NHÂN
THẢ NHẸ TIẾNG BUỒN. – CAO MỴ NHÂN
Mỗi lần anh đọc thơ em
Là tình yêu trải đầy thềm nhớ nhung
Tiếng buồn thao thức bên lưng
Khiến anh nhìn lại, bâng khuâng nụ cười
*
Em không thốt được một lời
Tiếng buồn thả nhẹ lên trời,bay cao
Mai đây dẫu ở phương nào
Sau lưng vẫn tiếng thì thào của anh
*
Quan san từ thủa tóc xanh
Đến nay nụ trắng trên cành sương hoa
Thơ em ướt giọt châu sa
Cuộc tình dịu ngọt như là quả non
*
Cần chi lòng dạ sắt son
Trái tương tư vẫn đang còn đong đưa
Tiếng buồn phảng phất hương xưa
Quả non chín đỏ môi chưa hẹn hò …
CAO MỴ NHÂN (HNPD)
29 – 9 – 2024
LÁ THU. CAO MỴ NHÂN
Anh về hái lá thu xanh
Đã phai sắc mộng biến thành huyền mơ
Lá phong vội đổi vàng tơ
Lẫn trong mầu nắng hoang sơ đẹp buồn
Tuổi mình vướng bận hoàng hôn
Thắm hương tri kỷ tâm hồn lãng du
Ngô đồng rụng chiếc lá thu
Bay theo bóng nhỏ mịt mù nhớ thương
Sao thu không thả màn sương
Lại hong ánh lửa cuối đường heo may
Hắt hiu chiếc lá trên tay
Phải bao nhiêu lá mới đầy tình em
Ô hay, lá rụng vàng thêm
Bâng quơ câu hỏi vương thềm thu ơi
Áo thay khi thấy mây trời
Cũng vàng như lá tuyệt vời ý thu …
CAO MỴ NHÂN
***
GỌI THU VÀNG. CAO MỴ NHÂN
Đã đến, đã đi, và đã nhớ
Một thời thu bắc khứ Hoa Kỳ
Lá vàng rực rỡ mầu xa xứ
Chan chứa vàng thu sắc đắm si
*
Lạ quá, có gì mà quyến rũ
Hồn em, không , chỉ có thơ thôi
Thơ ư , tất cả toàn con chữ
Anh ở đâu, em nhớ tuyệt vời
*
Sao không mơ mộng mà thương nhớ
Tại lá vàng theo bướm vàng ư
Cả một trời vàng , mây giống lá
Bay vào vũ trụ , gọi là thu
*
Vậy anh có đến xem thu mãn
Thu thịnh , thu khai, thu vãn buồn
Đang gọi nhau về , vàng lá vãng
Rụng tràn xuống cỏ, đẫm thu chôn…
Los Angeles 25 – 9 – 2021
CAO MỴ NHÂN
**
TƯỞNG MÙA THU. CAO MỴ NHÂN
Hôm đó tưởng mùa thu
Em đưa hết sương mù
Trên tay cho anh giữ
Rồi khóc thầm trong thơ
*
Nhưng anh xua lá vàng
Gọi nắng về chứa chan
Trao em nguồn hy vọng
Giữa chiều buồn mênh mang
*
Em hỏi anh thu chưa
Hình như mây lưa thưa
Chút mông lung hò hẹn
Trên đỉnh núi sắp mưa
*
Khói trắng vờn tóc xanh
Cuộc tình sau mong manh
Không còn chi giữ lại
Cả giọt sương long lanh…
CAO MỴ NHÂN
**
TIẾNG QUỐC KÊU THU. CAO MỴ NHÂN
Thưa anh, mùa thực sự buồn
Mây vừa chở nắng đi luôn không về
Hoàng hoa nở tự trong mê
Tràn ra đường vắng lê thê thu vàng
*
Mấy vần lục bát sang trang
Thơ mang hồn mộng dở dang chuyện mình
Ô hay thời tiết đoan trinh
Trăm năm vẫn một cuộc tình chúng ta
*
Thưa anh, sương khói đang sa
Mầu vương sắc tím quê nhà lối xưa
Này em gió mới lưa thưa
Tóc bay, anh tưởng ta chưa hẹn hò
*
Bên sông bụi trắng mơ hồ
Nước tan sóng vỡ vi lô bạt ngàn
Chẳng còn dấu tích giang san
Cô đơn tiếng quốc gọi đàn hồi quy…
CAO MỴ NHÂN
**
TUỔI VÀO THU. CAO MỴ NHÂN
Tuổi vào thu, hẳn đời tươi mát lắm
Vì nước xanh và mây lặng lờ trôi
Vì khói lam và sương êm ả thôi
Nhưng hoa nở thì vàng chan chứa nắng
*
Hoa nở nhiều, nên càng nhiều cánh bướm
Bướm lượn vòng như đuổi bắt thời gian
Tuổi vào thu, thời gian càng vấn vương
Từng sợi tóc phai dần mầu đấy nhé
*
Ô, có gì phải ưu tư đâu nhỉ
Tuổi vào thu là tuổi đẹp nhất đời
Phải không anh, soi ngắm thử nụ cười
Suy ngẫm thử tháng năm xa bát ngát
*
Anh sẽ thấy những gì viên mãn nhất
Có hay không trong thời điểm này đây
Được hay thua như một thoáng hơi say
Rồi đọng lại tuổi vào thu chất ngất …
CAO MỴ NHÂN
***
THƠ ĐƯỜNG XƯỚNG HỌA: LỜI BÀN THI SĨ -Thơ CAO MỴ NHÂN và Thơ Họa của Các Thi Sĩ Thân Hữu.
Ngày ngày tháng tháng nghiệp nghề truân chiên (cd).
Nguồn tham khảo: Từ điển – Nguyễn Lân.
NỖI LÒNG NGƯỜI ĐI
Thời gian chớp mắt đã thêm tuần
Lưu lạc sông hồ lắm nỗi truân
Rảo khắp trời Nam rồi xuất ngoại
Hoa Kỳ trú ngụ ngóng tin xuân
——-
Đất nước giàu sang tình chẳng hẹp
Xuân về hoa bướm rạng ngời cây
Tấm lòng rộng mở luôn vui đẹp
Thế giới mê say nhập chốn này
——-
Niềm vui hẳn phải vui cùng chứ
Sao lại thẩn thờ mãi quẩn quơ
Chỉ tại nơi đây luôn thiếu thứ
Tình quê nghĩa xóm mới ngu ngơ
——
Cố hương luyến nhớ tự lòng phê
Xót nghĩ ưu tư lại chán chề
Thả lỏng vui đời thêm sức sống
Lo chi lão hạc cứ hà hê
——
Bên hiên phảng phất mùi Chi tử
Trong trắng gợi hồn thảo vội chương
Tức cảnh sinh tình ngâm hát thử
Bài thơ lục bát ngọt như đường
——
Bạn bè xa vắng thêm buồn nản
Vất vưởng ngày qua giữa cõi đời
Ai thắng ai thua giờ đếch cản
Từng người vội bỏ chẳng thèm chơi
Hưng Quốc
Texas 9-14-2024
***
HƯƠNG YÊU CUỐI TUẦN
Không mong, chẳng đợi lướt qua tuần
Gậm nhấm bên lòng những nỗi truân
Một thủa lao đao thầm quyết chiến
Đêm buồn vượt biển giữa mùa xuân
*
Người ta tấp nập đông đường phố
Vạn vật tô bồi lá thắm cây
Có biết mình ai đang lặng lẽ
Quay lưng chối bỏ cảnh nơi này
*
Quê hương phải kiếm nơi nào nhỉ
Mắt nhuộm u hoài bám víu quơ
Hà Nội mơ hồ qua sách vở
Hoàng Thành khắc đậm phải làm ngơ
*
Khơi dòng kỷ niệm tách cà phê
Thứ bảy nhàn ru ký ức về
Trí não thênh thang trầm biển phú
Say mềm chữ nghĩa thả tung hê
*
Đinh Hùng, Quang Dũng thơ nồng thắm
Nhật Tiến, Tuý Hồng tuyệt lắm chương
“Hồn bướm mơ tiên” tình hướng đạo
Văn thơ tuyệt tác mở con đường
*
Trầm mình thế giới đầy hoa mộng
Tóc nhuộm màu sương, nhuộm cuộc đời
Níu hái mây trời đan nắng lụa
Cuối tuần một cõi thỏa vườn chơi
Minh Thúy Thành Nội
Tháng 9/16/2024
***
LỐI VÀO ĐỜI
thơ thẩn tìm vui..cũng hết tuần
cuộc đời chẳng đổi mãi chuyên truân
từ khi còn bé đà gian khó
ước mộng mơ hoài…chẳng bóng xuân
*
trần gian rộng thế mà vẫn hẹp…
đi khắp phương trời mãi thiếu cây..
…bóng mát ,nơi đâu là điểm tựa ?
cho ta núp bóng nắng mưa này !
*
được vậy , lòng đây mừng lắm chứ !
không còn lo nghĩ chuyện vu vơ
cứ xem như được trò tiêu khiển
và nghĩ rằng ta hết ngẩn ngơ
*
thời gian ấy thế vậy mà phê !
Lối sống xem ra chẳng chán chề
đừng đứng núi nầy mơ núi nọ
yên lòng chớ cậy kẻ tung hê !
*
vui với kiếp người thân lãng tử
rày đây mai đó chút văn chương
bạn bè bốn biển cùng suy thử…
tiến bước đi qua mọi nẻo đường
*
bền bỉ luyện rèn đừng chí nản
hành trang nhẹ gánh bước vào đời
ung dung tự tại…ai truy cản
bốn phía là nhà …mặc sức chơi !
Songquang
20240916
***
ĐÓNG CỔNG CHƠI ,
Mới đó loay hoay hết một tuần
Tháng ngày lọng cọng gánh gian truân
Thời kỳ mờ mịt lùi hay tiến
Đến lúc yên bình ,biệt dấu xuân
*
Khép kín tâm hồn sau cửa hẹp
Quanh mình là bóng phủ hàng cây
Đâu còn hình dáng khung trời đẹp
Chỉ thấy tối tăm cõi tạm này !
*
Vẫn ước xuân về đây đấy chứ
Để người phấn khởi hết sầu quơ
Những mong chờ nốt đô rê thứ
Buồn sẽ xa dần , xua ngẩn ngơ
*
Có chặng nào đời sống phủ phê
Để thôi dồn nén những tê chề
Đón mùi hạnh phúc lòng thư thả
Và lại rong chơi thấy đã hê ,
*
Tập tễnh thơ khi còn sĩ tử
Nhờ luôn tìm hiểu ,thích từng chương
Rồi thêm mài miệt ,hay làm thử
Rốt cuộc vần êm ,chẳng lệch đường
*
Thầm nhủ đừng bao giờ chán nản
Đừng nên nhụt chí khi vào đời
Đến hồi giã biệt ,không rào cản
Cứ thế mà đi ,đóng cổng chơi !
PHƯỢNG HỒNG
***
CUỐI TUẦN THƯ GIÃN
Ngày lại ngày qua ngóng hết tuần
Một tuần bận bịu thật đa truân
Chỉ mong thư giãn cho vơi bớt
Một chút ưu phiền giữa nắng xuân
*
Bạn hữu quanh ta tình rộng mở
Nói cười nghe rộn rã ngàn cây
Gặp nhau tâm sự mà như đã
Quên hết âu lo thế giới này
*
Bao nhiêu thế sự không màng tới
Tạm gác một bên không quẩn quơ
Rôm rả chuyện trò như trẻ nhỏ
Thời gian một thoáng chốc ngu ngơ
*
Nhâm nhi một chút vị cà phê
Giọt đắng cho tan nỗi chán chề
Bạn đốt cuộc đời qua khói thuốc
Bất cần mọi chuyện muốn tung hê
*
Lý sự tưởng như mình Lão Tử
Luận bàn thi phú với văn chương
Hả hê cất tiếng cười ròn rã
Tri kỷ là đây đã cuối đường
*
Hãy nhắn nhủ nhau đừng có nản
Cứ vui cho trọn giữa cung đời
Ung dung tự tại ngày nhàn tản
Chờ đợi một chiều ta nghỉ chơi
Toàn Như
***
BÓNG THỜI GIAN…
Thời gian chóng vánh đã qua tuần
Cuốn lịch gở dần máy chuyển truân
Cải tạo rừng thiêng xong xuất cảnh
Máy bay hạ cánh một trời xuân
*
Hoa Kỳ Hợp Chủng… lòng không hẹp…
Hiếu khách cưu mang, đủ loại cây
Mở rộng vòng tay cười thật đẹp
Chung cư giá rẽ ở nơi này…
*
An cư lạc nghiệp, vui lòng chứ…?
Trước lạ, sau quen hết quẩn quơ…
Thử thách ban đầu người lữ thứ…
Tình làng nghĩa xóm nhớ ngu ngơ…
*
Trung nguyên Đà Lạt, xứ cà phê
Mùi vị khác nhau rõ ế chề
Hợp Chủng Hoa Kỳ ta thả lỏng
Màu cờ sắc áo cứ tung hê
*
Du lịch khắp nơi đời lãng tử
Phong sương tuyết nguyệt nợ văn chương
Thất ngôn, bát cú thường ngâm thử
Đắc chí nghêu ngao khắp nẻo đường
*
Vạn sự khởi đầu nan chớ nản
Một lòng gắng sức, sống trên đời
Gian nan chẳng ngại ai ngăn cản
Cần kiệm nghỉ hưu thoải mái chơi…!
MAI XUÂN THANH
Silicone Valley, 9/20/2024
TRANG THƠ CAO MỴ NHÂN:
THU ĐÊM 11 tháng 9. CAO MỴ NHÂN
Đêm thu rồi, trăng sương buồn bã lắm
Rớt trên cây, từng cánh lá mong manh
Những giọt thu ướt át áo em xanh
Anh giả bộ vờ không hề ngó thấy
*
Đêm cũng xanh như áo em mặc đấy
Phải trăng thu hay rừng biếc mùa hoang
Phải sương thu hay một chút mơ màng
Em cứ tưởng người ta cùng luyến tiếc
Ô, đúng rồi lá đang rơi từng chiếc
Rất dịu dàng trăng đếm nỗi đam mê
Rất muộn màng em đón bước anh về
Nhưng chắc hẳn đợi mai kia thu vãn
Hỡi tình ơi, cứ lênh đênh, lãng đãng
Hết thu này, thu khác, vẫn bâng quơ
Hết thu này, thu khác, vẫn trông chờ
Thôi khép lại ngàn năm sau hạnh ngộ …
CAO MỴ NHÂN
**
MỘT BÀI THƠ. – CAO MỴ NHÂN
Một bài thơ, phải thế nào
Gói tròn thương nhớ vào hào khí xưa
Giờ thì ngày nắng, đêm mưa
Non sông gió gọi hồn chưa nhập thần
*
Tôi ngồi ôm cả phù vân
Đầy lòng khắc khoải những vần điệu xa
Một bài thơ của chúng ta
Đã bay trên nửa sơn hà lưu vong
*
Xuân ơi, buồn thật mênh mông
Chắt chiu từng ổ pháo hồng hôm nay
Tặng người tất cả ngày mai
Trở về xây dựng tương lai huy hoàng
*
Trọn đời hai chữ Việt Nam
Cờ vàng rực rỡ không gian trong lành
Một bài thơ cuối tặng anh
Chuỗi tâm tư sáng long lanh chan hoà…
CAO MỴ NHÂN (HNPD)
9 – 9 – 202
**
MỘT NGÀY THỨ SÁU 13. CAO MỴ NHÂN
*
Ôi, u tối , đen tối
Ngày thứ sáu mười ba
Em không là Eva
Anh không hề tội lỗi
*
Buổi tiệc cuối cùng nào
Của tất cả chúng ta
Những người vác thánh giá
Đi vào cõi mênh mông
*
Sao anh phủ nhận rằng không
Lời phúc âm sai
Nụ hôn của Judas
Muôn năm vẫn là phản bội
*
Thánh Đường chật người tới hội
Em đứng bơ vơ, chờ đợi
Cuộc tình buồn thống hối
Năm sau, mai sau, muôn sau thương đau…
Rancho Palos Verdes 6/13 .
CAO MỴ NHÂN
**
BÓNG THỜI GIAN. CAO MỴ NHÂN
Vừa thấy bóng thời gian đua ngoài cửa
Tung bụi mù trong khoảnh khắc hoang mê
Đoàn xích thố cuồng phi ngang biển lửa
Nhưng ngựa anh vĩnh viễn quên đường về
*
Người yêu hỡi tháng năm qua lãng đãng
Con đò tình thủa đó trôi lang thang
Sa trường nào xô anh vào dĩ vãng
Để hồn thơ em xa xót điêu tàn
*
Như điệp khúc tuyệt tình ca bất tận
Rượu hoàng hoa thấm ướt đất trời này
Non sông nào gầm lên câu uất hận
Nỗi kinh hoàng khổ lụy tựa cơn say
*
Rồi tất cả biến tan vào hiu quạnh
Những lời câm hoang phế huyễn hư trào
Bầy ngựa chiến ngủ yên ngoài đất lạnh
Thời gian nằm thổn thức khóc chiêm bao . ..
Hawthorne 7 – 9 – 2024
CAO MỴ NHÂN
**
HƠI GIÓ THÌ THẦM. CAO MỴ NHÂN
Mỗi ngày anh gọi tên em
Một lần, rồi cũng anh quên nhiều lần
Bởi vì danh tính phù vân
Nghe như hơi gió thì thầm bên tai
*
Thôi thì địa ngục, thiên thai
Kêu tên thay tiếng thở dài, thưa anh
Mỗi ngày tình muộn mong manh
Gió lên, mây nổi cuốn thành biển khơi
*
Tháng ngày cõi thế rong chơi
Có anh, nên đất với trời dửng dưng
Hồn chơi vơi giữa núi rừng
Lòng hoang liêu giữa đón mừng, chia phôi
*
Mỗi ngày anh hỡi chung đôi
Mà sao sương khói đơn côi đi về
Thở than hay tự vỗ về
Thiên thai, địa ngục cận kề tình ơi …
Hawthorne 9 – 9- 2024
CAO MỴ NHÂN
**
NỖI NHỚ THIẾU ANH. CAO MỴ NHÂN
Ba mươi hai năm trước
Em đến Chămpasak
Ngắm Wat Phou trong vắt
Bầu trời xanh bát ngát
*
Suối Tạc Phan xã Ba Chiêng
Rừng cà pha Paksong, vườn sầu riêng
Một con chim lạ to bè bay lạc
Người ta bảo loài chim thiêng
*
Chim đó lượn quanh dòng nước thẳng
Rồi tự ngã xuống chân thác phẳng
Nếu tiếp tục đi về hướng tây
Sẽ nghe sóng sông Mê Koong cuồng say
*
Tưởng Nam Lào bé nhỏ
Hoá ra trái đất nơi nào cũng rộng mở
Như cánh tay Thượng Đế dang ra
Em lọt thỏm giữa bao la
*
Ngày sau về lại Saigon
Hay ngày mai sang Thái
Nhìn giọt nước mắt rơi hôm xưa đó
Không có anh cho em chờ đợi…
CAO MỴ NHÂN
Bài Viết Của Văn Thi SĨ CAO MỴ NHÂN Về Nhà Thơ Cung Trầm Tưởng:
TRỜI SÁNG HẲN . CAO MỴ NHÂN
Ông và tôi thức trắng một đêm khoảng cuối tháng 11/1994 , ở phòng khách tư thất vị chủ tịch Cộng đồng VN ở Tây Bá Linh , khi đó bức tường Ô nhục giữa đông tây Đức vừa được phá sập .
Chúng tôi đi xe lửa xuyên ngang nước Đức , từ Dortmund Germany tới Berlin Germany , thì trời đã qua chiều , gần tối , dù đi từ sớm .
Buổi chiều tối hôm đó , chúng tôi được gặp gỡ đồng hương ở ” Nhà Việt Nam ”
Đó là phái đoàn trung tâm Văn Bút VNHN đi hội Văn Bút Quốc Tế kỳ thứ 61 họp ở Praha Tiệp Khắc 11/1994 , do thi sĩ Viên Linh trưởng đoàn , cùng các thành viên Văn Bút VNHN , gồm : nhà thơ giáo sư Nguyễn Sỹ Tế , nhà báo giáo sư Phạm Việt Tuyền , thi sĩ Trung tá Cung Trầm Tưởng , nhà văn Trung tá Trần Ngọc Nhuận , thi sĩ thiếu tá Tô Thuỳ Yên ( vừa từ VN qua Hoa Kỳ , chưa có thẻ xanh , nên phải hoãn chuyến đi ) , và tôi , sau thêm thi sĩ Đỗ KH , và Nguyễn Minh Nguyệt , bạn của Cao Mỵ Nhân , làm thơ .
Sau khi hoàn tất công tác “đại hội Văn Bút Quốc Tế” , kỳ thứ 61, tại Praha Tiệp Khắc tháng 11 năm 1994, chúng tôi được Cộng đồng người Việt tị nạn CS ở Đức ( mới thống nhất ) mời qua Dortmund và Berlin nói chuyện về Dòng Thơ Trong Tù .
Thi sĩ Viên Linh đã kịp thời in tặng thi sĩ Cung Trầm Tưởng tập thơ ” Lời Viết Hai Tay ” , thơ Cung Trầm Tưởng viết ở trong tù , quý vị khác tự mang sách truyện đến đại hội giới thiệu nếu muốn .
Riêng Cao Mỵ Nhân tôi, thì mới được Nhà Xuất Bản Sông Thu của Thi Sĩ Thái Tú Hạp, giám đốc tuần báo Saigontimes ở Mỹ xuất bản cho tập truyện Chốn Bụi Hồng đầu tiên trước đó mấy tháng ( 7/ 1994 ), nên mang CHỐN BỤI HỒNG Tập 1 qua Tiệp Khắc và Đức , Pháp giới thiệu luôn.
Do đó , buổi tối sau cùng của chương trình hàn huyên văn thơ , chúng tôi nghỉ lại nhà vị chủ tịch Cộng đồng VN ở Berlin , để sẽ về Dortmund lại , rồi đi Frankfurt ,trở về Hoa Kỳ .
Buổi tối đó , đang là mùa thu Châu Âu , căn phòng rộng đã được xếp lớp cho cả đoàn , cứ mỗi người một nệm ” tá túc ” qua đêm , chứ tiền đâu cho cả đoàn vô khách sạn ngơi nghỉ .
Thế thì có ngay , tôi cũng chẳng thiết ngủ , hơn nữa biết còn cơ hội nào gặp nhau , tôi bèn đối ẩm cùng ông , uống nước Trà suốt đêm , để chỉ nghe ông nói , không cần đàm thoại .
Nhà thơ thấy có người chịu ngồi nghe lời lời châu ngọc , hàng hàng gấm thêu cùa mình , thì nhất định là vừa ý rồi .
Trong cái phòng ngủ dã chiến , tất cả các tiếng ngáy đã được thử giọng , lên bổng xuống trầm , tưởng đâu ra đấy như một ban nhạc tự nhiên .
Nhà thơ và nhà binh , đàn anh tôi không hề ngáp vặt , rất tinh tấn , thơ Tàu cổ , thơ Tây , từ Lamartine tới Jacques Prevert .
Thi sĩ Trung tá Không Quân một thời với ca khúc lừng danh :
Lên xe , tiễn em đi
Chưa bao giờ buồn thế
Trời mùa đông Paris
Suốt đời làm chia ly …
( thơ Cung Trầm Tưởng – nhạc Phạm Duy )
Cứ với giọng trầm mà không buồn , thi sĩ Cung Trầm Tưởng sau buổi tối ” trắng đêm không ngủ ” nói được gần hết ý mình .
Bởi vì có nói như Tô Tần đi nữa , thì cũng vẫn chưa nói được hết , tôi quan niệm chắc ai trên đời cũng có chút gì không muốn nói ra , nên tôi mỉm cười , chắc là hơi méo mó , tôi nói với bậc đàn anh tôi rằng :
Anh đúng là một ” thi bá ” , vì những nhận xét về thơ , thao thức về thơ , vân vân thơ, ít ai kỹ càng và tỉ mỉ như anh .
Thưa anh , có lẽ quý vị làm thơ nên nghĩ có một đạo , là ” Đạo Thơ ” hay ” Tôn Giáo Thơ ” .
Tới lượt tôi cũng say mê Thơ , cũng sắp sửa …hùng hồn ca tụng Thơ , thì Trời sáng hẳn …
Hai chiếc ghế salon chắc cùng nóng lên tới 100 độ , vì cả hai. ” Thi Bá ” và tôi đều không rời khỏi chỗ ngồi cả đêm .
Mặt trời đã lên tới khung kính cửa sổ phòng khách đại sảnh ( trên lầu ) tư thất vị chủ tịch Cộng đồng VN ở Berlin . ” Cung thì bá ” không hề mệt mỏi , chắc tôi hốc hác lắm , vì chăm chú nghe giáo điều Thơ của ” Đạo Thơ ” , nên tôi thốt :
Thưa ” Thi Bá ” , Mặt trời đã lên 2 con sào , vậy chuyện thơ tạm kết thúc ở đây , bây giờ anh dùng Trà hay cafe , để em pha .
” Thi bá ” Cung Trầm Tưởng cười xoà : ” cô em ơi , cho anh ly cafe đi , ban ngày rồi , cần phải thức , để đi nốt đường đời của mình . Vui nhá …”
Về lại Hoa Kỳ . Tám năm sau tôi mới có dịp lên Twin cities Minnesota để ra mắt 2 tập thơ : ” Đưa Người Tình Đi Tu , và Lãng Đãng Vào Thu ” .
Mừng nhất là được tái ngộ ” Thi Bá ” của …tôi . Năm ấy thi sĩ Cung Trầm Tưởng đã chẵn 70 tuổi , mái tóc trắng bạch hoàn toàn . Ông vẫn tinh tấn , vui tươi , ông là một trong những diễn giả ” nói về thơ chung chung và thơ Cao Mỵ Nhân ” .
Nhưng trong phạm vi nói chuyện ở buổi ra mắt sách , nên vị ” Thi bá ” năm xưa nơi Berlin thức trắng đêm với những truyền thuyết thơ , đã tự thu gọn ý tưởng trong 20 phút .
Sự kiện khiến tôi nhớ lại mùa thu ở Đức cùng những lời hoa gấm mà hiểu rằng : Thời gian không đợi ai , nên thơ cũng phải …chạy như ma đuổi , để giữ lại cho mình những ngôn từ bay bổng , rồi mươi , mười lăm năm sau , thơ đắm chìm trong tiếc nuối mênh mông …
Năm nay ” Thi Bá ” 84 tuổi rồi ( 2016 ) mầu tóc lẫn với sắc mây mùa hạ , chưa có không gian nào phiêu bạt thêm một lần lãng đãng vào thơ nữa …
Thời gian tại thế của Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng :
Sinh ngày 28 – 2 – 1932. Miền Bắc VN .
Mất ngày 9 – 10 – 2022 tại Minnesota USA .
CAO MỴ NHÂN
THƠ CAO MỴ NHÂN: LỜI NGỢI CA HIỀN HOÀ
LỜI NGỢI CA HIỀN HOÀ . CAO MỴ NHÂN
Nữ sĩ Tuệ Nga cười vui
Thương Cao Mỵ Nhân ngậm ngùi
Toàn làm thơ tình ảo mộng
Từ bao nhiêu năm nay rồi
*
Chị với em trong Quỳnh Dao
Hơn nửa thế kỷ nao nao
Sáu mươi tư xuân ngà ngọc
Hai không hai bốn đẹp sao
*
Chúng mình không ở cạnh nhau
Chị là con Phật đã lâu
Còn em ta bà mộ đạo
Thượng Đế cao vời xưa sau
*
Chị hiền như bà Quan Âm
Chan hoà chân như thiện tâm
Em nặng lòng tin Đức Mẹ
Thủa này tới mãi xa xăm
*
Thời nào mình cũng yêu thơ
Những lời tình ảo mộng mơ
Đưa em tới gần cảm luỵ
Chị ơi, bát ngát mong chờ …
*
Hawthorne 13 – 7 – 2024
CAO MỴ NHÂN
CAO MỴ NHÂN – MƯA XUÂN VÀ MẸ.
MƯA XUÂN VÀ MẸ. – CAO MỴ NHÂN
Con nói : ” Mẹ giờ quên mất hết
Đường hoa mẹ bảo dấu chân ai
Khói sương trước mặt, sao tìm kiếm
Hình ảnh nào xưa, mẹ nhớ hoài ”
*
Chẳng có ai đâu, mưa lập xuân
Vương bay nhẹ thấm trên vai thầm
Tóc mây giờ đã đang cằn cỗi
Như sợi thời gian rối tháng năm…
*
Mẹ hỏi: ” Hoa chi rơi thế nhỉ
Cây lê hàng xóm nở sai mùa ”
Con cười : ” Sao mẹ quên nhiều thế
Nụ trắng kia xen kẽ lá thưa…”
*
Mẹ chẳng tin vì con giả vờ
Miễn sao lòng mẹ nở hoa thơ
Bởi chưng mẹ cũng vờ không biết
Sự thực thì ta ở cõi mơ…
*
CAO MỴ NHÂN (HNPD)
11 – 5 – 2024
VĂN: MỘT HỒN SẦU NHỎ. CAO MỴ NHÂN
MỘT HỒN SẦU NHỎ. CAO MỴ NHÂN
” Chúng tôi ” quen khá đông, có thể nói rất đông nữa, nhưng là để cho biết nhau thôi, chứ thân mật thì không đều khắp, ai có nhóm bạn nào hoặc rải rác vài ba ” vị “, thì tuỳ cách giao hảo của mỗi người .
Thế thì, nhân chuyện cô bạn PHƯƠNG HOA tôi mới hạnh ngộ mấy năm gần đây, nói rằng : ” Chị, là tôi, có nhiều mối tương giao thú vị quá …” khi tôi nhờ Phương Hoa ( PH ) đăng dùm tôi mấy bài thơ trong tập thơ ” NHỮNG VẦN THƠ MA ” của tôi điếu nhà văn bạn tên HỒ LINH vừa mãn phần.
Tôi có dịp trở lại một mối tương giao khác nữa, với 2 nhà thơ tên tuổi một thời trước năm 1975, kéo dài tiếng tăm trong giới thi ca trẻ, hồi đó, cho tới bây giờ .
Hôm nay tôi muốn nhắc tới tên tuổi 2 nhà thơ, mà thủa lớn lên ở Saigon cuối thập niên 50 & đầu thập niên 60 thế kỷ trước, nhị vị ấy là bạn thân của tôi :
VIÊN LINH , và TRẦN DẠ TỪ .
Trước hết, tôi xin khẳng định là tôi chỉ viết lại những kỷ niệm thơ thủa còn đi học, hay đúng ra thủa chúng tôi ở tuổi thiếu niên thôi.
VIÊN LINH tên thật NGUYỄN NAM, TRẦN DẠ TỪ tên thật LÊ HÀ VĨNH , những ngày mới từ miền Bắc di cư vô Nam, Trần Dạ Từ lấy bút hiệu HOÀI NAM .
Hai bạn thơ tôi bấy giờ sớm nghỉ học để đi làm báo cho thoả thích tính ” văn nghệ ” làm thơ, Viên Linh có viết thêm một số tác phẩm văn xuôi.
Ở số tuổi còn chưa 20 bấy giờ, Viên Linh, Trần Dạ Từ rất ngoan hiền trong cách viết, rất tiềm ẩn trong tình cảm phong phú, và thực sự ” tài hoa ” .
Ai trong quý vị và chúng tôi, khi thể hiện tác phẩm văn chương, nghệ thuật không … tài hoa chứ .
Nhưng sớm biểu lộ tài hoa văn chương, nghệ thuật, thì hình như không chú trọng đến chuyện lập thân trên đường khoa cử, hay nghề nghiệp chuyên ngành thực tế.
Tôi vẫn chỉ kể về bạn văn thơ Viên Linh, Trần Dạ Từ thôi, không nghĩ thêm về quý vị văn nghệ sĩ cùng thời khác, để tránh ngộ nhận hoặc hiểu lầm .
Ngay khi Viên Linh và Trần Dạ Từ quyết định làm văn thơ, làm báo, thì 2 bạn ấy thành công ngay .
Thoạt Viên Linh, Trần Dạ Từ là những cây bút tài tử cộng tác với các nhật báo, tuần báo, đặc san vv… ở Saigon đầu thập niên 60 thế kỷ trước, vì còn rất trẻ.
Sau Viên Linh, Trần Dạ Từ đã mau chóng giữ các chức vụ chủ bút, tổng thư ký, thi sĩ Viên Linh còn làm chủ báo nữa .
Khoảng đầu thập niên 60 đó, TRẦN DẠ TỪ còn dám lên tàu lửa xuyên việt ra Huế, đón Trần Thị Thu Vân vô Saigon lập nghiệp, với 2 bàn tay trắng, nhưng từ đó, Trần Thị Thu Vân đã trở thành NHÃ CA, nữ văn sĩ trẻ tuổi và thành công nhất giữa số đông bạn văn thơ còn mất thời gian lâu sau, mới nổi danh được, như quý vị
NGUYỄN THỊ THUỴ VŨ, TUÝ HỒNG, NGUYỄN THỊ HOÀNG vv…
Khả năng và tài nghệ văn thơ NHÃ CA đã đành là thiên phú rồi, nhưng cũng phải công nhận là việc thúc đẩy và hỗ trợ thiết thực vẫn do TRẦN DẠ TỪ mong muốn như cái tên NHÃ CA, Từ đặt cho Thu Vân vậy .
Họ , Trần Dạ Từ & Nhã Ca mặc nhiên trở thành đôi uyên ương văn chương cho tới ngày nay, Trần Dạ Từ & Nhã Ca đã có với nhau nửa tá con, và riêng Nhã Ca đã có hàng chục tiểu thuyết ăn khách nhất thủa đó, đông thời tác phẩm ” GIẢI KHĂN SÔ CHO HUẾ ” của NHÃ CA đã vô hình chung đi vào văn học sử , thời đại Việt Cộng tổng công kích Tết Mậu Thân Huế 1968.
Trở lại VIÊN LINH ( VL ) TRẦN DẠ TỪ ( TDT ) , tôi vẫn nói về thủa thanh thiếu niên, ấy là Thơ của nhị vị này , và đây cũng không phải bài nhận định về Thơ kiểu ĐỌC THƠ , BÌNH THƠ như quý vị cầm bút viết báo đâu. Đó chỉ là những dấu tích một thời nào đó, ai muốn biết cho …vui đúng nghĩa.
Các nhà phê bình Thơ hay cảm nhận của bạn đọc thơ, thường nhận định làm THƠ LỤC BÁT không phải là dễ, thể thơ dễ với những vần điệu chuyên thơ của Thi Sĩ , nó không từa lưa như vè, đôi khi vè còn đúng vần điệu hay hơn thơ ghép 6 x 8 của các vị viết cho có viết thôi chẳng hạn.
Thời gian sơ khai với những cây viết mới, thường khiến một số ” Tiền Bối nghề nghiệp ” ngại ngùng lời thơ và ý tưởng.
Thí dụ có bài rất hay về lời lẽ, vần điệu, nhưng tìm ra ý, thì không có gì đặc sắc hay ngược lại.
Thủa đó, Đại Thi Sĩ VŨ HOÀNG CHƯƠNG đã có biệt danh Thi Bá rồi, nghĩa là gần như nhất trên trời thơ ca, nhưng nghe một bạn văn thơ nào đó, đề cập tới Nhà Thơ trẻ Viên Linh,
cụ VŨ còn như lững lờ, chưa niềm nở đón chào.
Tôi nhớ bài lục bát VIÊN LINH thế này :
( Tựa hình như là NGOẠI Ô )
Người đi phiến động chân trời
Nghe heo may lạnh lùa khơi chiếu nằm
Một hồn sầu nhỏ phân vân
Trời âm u thấp mời thân buồn phiền
Nửa đời đi kiếm bình yên
Thương yêu bỏ lại đôi miền tịch liêu
Bạn bè còn được bấy nhiêu
Người đi quên lãng thêm nhiều ưu tư
Rời vào thành phố phiêu du
Nỗi bao la đã ngoại ô dồn về…
VIÊN LINH
VL tác giả nhiều tập văn, tập thơ đã phát hành trước 30 – 4 – 1975.
Sau này di tản qua Hoa Kỳ , Nhà Thơ VIÊN LINH có thời giữ chức vụ CHỦ TỊCH TRUNG TÂM VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI khoảng đầu và giữa thập niên 90 Thế kỷ trước, 1993- 1995.
Ông cũng là Trưởng Đoàn Văn Bút VNHN đi dự đại hội VĂN BÚT THẾ GIỚI KỲ THỨ 61 ở PRAHA TIỆP KHẮC 11/ 1994, với các thành viên sau :
Thi Sĩ Viên Linh. Chủ tịch , trưởng đoàn.
Thi sĩ Giáo Sư Nguyễn Sỹ Tế, phụ tá.
Nhà báo Giáo Sư Phạm Việt Tuyền
Thi sĩ Cung Trầm Tưởng. ( phát ngôn viên Pháp ngữ )
Nhà văn Trần Ngọc Nhuận ( phát ngôn viên Anh ngữ )
Thi sĩ Tô Thuỳ Yên
Cao Mỵ Nhân ( nhà thơ )
Theo danh sách nêu trên, thì quý Thi Văn sĩ, Giáo sư : Nguyễn Sỹ Tế, Phạm Việt Tuyền, Cung Trầm Tưởng, Trần Ngọc Nhuận, Tô Thuỳ Yên đã chung cuộc, hiện còn Viên Linh và Cao Mỵ Nhân tại thế .
Đôi bạn uyên ương văn thơ NHÃ CA & TRẦN DẠ TỪ , qua những cơn sóng gió thời đại, sau này , cho tới bây giờ vẫn đang xuất bản nhật báo ” VIỆT BÁO ” ở Hoa Kỳ , và đặc biệt là tổ chức được hằng năm các giải thưởng văn chương, văn hoá VN một chương trình lâu dài : Viết VỀ NƯỚC MỸ , dành cho tất cả quý vị đã tới nước Mỹ tị nạn, lưu vong, tha hương, đã và đang SỐNG TRÊN ĐẤT MỸ .
Thấm thoắt đã cả nửa thế kỷ trôi qua, nhớ lại hồi tôi còn chưa có bằng trung học đệ nhất cấp, với áo dài trắng, tóc đuôi gà, đi xe đạp đến thăm VIÊN LINH trọ học ở chùa Phú Thạnh Phú Nhuận, TRẦN DẠ TỪ thuê nhà gần chùa Vĩnh Nghiêm để bạn ta được chung vui với các bạn khác cùng thích văn thơ, như ĐỖ QUÝ TOÀN ( nay còn tên NGÔ NHÂN DỤNG, PHẠM HOÁN ( em hoạ sĩ PHẠM TĂNG ) vv…
Còn tôi vẫn ở với cha mẹ nơi cư xá HÀNG KHÔNG TÂN SƠN NHẤT, và cũng là nơi 2 bạn thơ quý VIÊN LINH , TRẦN DẠ TỪ năng lui tới thăm chơi cùng ” thông tin văn hoá …học sinh “
trong sáng tuổi 15 hân hoan, tươi trẻ…
Thời gian trôi qua, đã già nửa thế kỷ, VIÊN LINH, TRẦN DẠ TỪ
vẫn sinh hoạt bình thường trong văn giới, dù thay đổi không gian ( từ VN ra hải ngoại ) kể từ sau chính biến 1975.
VIÊN LINH không bỏ nghề cầm bút, VIÊN LINH vẫn tiếp tục xuất bản báo Thời Tập thân quen, đã có từ trước 1975 lưu hành ở miền nam Việt Nam .
Bên cạnh đó, là điều hành một cơ sở in ấn, cộng tác báo bạn ,
xuất bản sách cho bạn bè văn chương … đang tị nạn, tha hương ở các nơi tái định cư, đa phần ở Hoa Kỳ.
Với hành trình thơ văn không tách rời ” thân phận “, và thân thế cũng không vượt được những mùa xuân miên viễn ở thế gian khi bước vào lão tuế, VIÊN LINH hay ai chăng nữa, cũng ra đi về chốn vô cùng thôi.
Được tin ngày 28 tháng 3 năm 2024, Thi Sĩ VIÊN LINH đã giã từ cõi nhân sinh ở miền đông Hoa Kỳ, sau 86 năm rong chơi nơi trần gian đầy hương sắc vui buồn, nhưng lúc nào ông cũng an nhiên, thanh thản .
Mong hồn thơ ông sớm phiêu diêu miền cực lạc, để vỗ về chữ nghĩa còn để lại cho con cháu, bạn bè thân thiết xưa nay.
Rancho Palos Verdes 1 – 4 – 2024
CAO MỴ NHÂN
TRANG ĐẶC BIỆT NGÀY TỪ PHỤ – FATHER’S DAY 2022 – VTLV VÀ THI VĂN THÂN HỮU
MỪNG NGÀY TỪ PHỤ
(Dĩ đề vi thủ)
MỪNG lễ Father quý bậc Cha
NGÀY vui trọn vẹn khắp muôn nhà
TỪ Nghiêm nghĩa cả luôn trân giữ
PHỤ Tử tình thâm chẳng thể nhoà
VĂN tải lời thành mong phúc thọ
THƠ nương câu kính nguyện an hoà
CẦU cho phúc lộc tài toàn hảo
CHÚC hết người người bách tuế qua
Phương Hoa – Father’s Day
BÓ HOA “FATHER’S DAY ” CAO MỴ NHÂN
Có tiếng gõ cửa nhẹ nhàng…
Con chó Minet nhà tôi gầm lên, chạy ra nhà trước, nó hửi hửi bên trong cánh cửa, coi thử phải người quen không.
Tôi cũng ngạc nhiên, ở Hoa Kỳ từ 1/4 thế kỷ nay, chưa thấy ai tới nhà mà không hẹn trước.
Tôi lén xuống bếp, từ cái view ngó ra cửa sổ, thấy một bà Mỹ trắng ôm bó hoa đẹp lắm, đủ mọi thứ hoa, nhưng toàn thể mầu vàng đủ độ đậm lạt …
Phân vân vài phút, tôi mở cửa gỗ lớn, nói qua cửa lưới sắt hỏi bà tìm ai, nếu tôi có thể giúp bà.
Bà Mỹ cũng thuộc giới cao niên, nhưng khá duyên dáng, trang điểm tương đối kỹ càng .
Bà nói: ” Con gái tôi nhờ tôi mang hoa tới đây, trao cho Mr. Don, tôi muốn gặp ông Don, please…”
Tôi ngạc nhiên quá, nhà tôi có ai tên Don, gọi là Mr. Don, ông Đông, ôi có phải ông ” sông Đông êm đềm ” không đây ?
Don hay Đông đều không có ở đây, chưa nghe ai nói tới tên đó, ở đây .
Tôi xin lỗi trả lời bà lầm nhà, nhà tôi toàn người VN, không có ai tên Don cả.
Bà Mỹ lại giới thiệu thêm:” Tôi tên Nancy, hàng xóm nhà này, bà giơ tay chỉ về phía đầu đường Gerkin.
Rồi tiếp lời : con gái tôi mở tiệm hoa trên down town, hình như mấy lâu nay, vẫn có ai đặt bông như thế này, bà cúi xuống bó hoa vàng tuyệt đẹp, rồi nhỏ giọng hơn : Hay là bà cứ nhận dùm, chắc người nhà đặt mua, ghi đúng địa chỉ đây.
Không, tôi không dám nhận, bà nên mang về trả con gái bà, cô ấy sẽ hiểu mọi chuyện thôi.
Bà Mỹ đành phải ra xe, sau khi đưa cho tôi tấm card nhỏ của tiệm hoa ở tận đường ” Mặt trời mọc ” Los Angeles.
Tôi bâng khuâng với chuyện lạ, và cái tên ông Don nào đó .
Hôm nay, lại cũng đúng giờ đó, 11:00 am, lại có tiếng gõ cửa, tôi lại làm đúng những cử chỉ sáng qua.
Lần này không phải bà Mỹ trắng nữa, mà là một phụ nữ chắc phải 30 tuổi rồi.
Tôi mở cửa : ” Vẫn lại bó hoa à ? Sao cứ tới nhà tôi ? ”
Cô gái xưng tên, rồi nói: ” Bởi vì có lời hứa, là mỗi dịp Father’s
day, cô ấy sẽ tặng cho ông Don một bó hoa mầu vàng thế này ” .
Nói rồi , cô Hanna mở cái điện thoại ra, cho tôi coi tấm hình người đàn ông châu Á đứng trước tiệm hoa, cô ngần ngừ : “Mr . Don đã liên tiếp mua hoa ở tiệm cô từ hơn 10 năm trước, trả hết tiền rồi, năm nay là năm thứ 10, không thấy ông Don đến , nên cô có ý đưa hoa tới tận nhà, cho ông ngạc nhiên ” .
Tôi chẳng biết Mr.Don nào ngạc nhiên, mà chính tôi đang ngạc nhiên. Ông Don châu Á, lại lấy địa chỉ nhà này là sao ?
Tôi xin lỗi cô Hanna đó, và xin được coi lại tấm hình .
Cô bán hoa có vẻ mừng, cho tôi xem lại ông Đông ba vạ nào chẳng biết.
Tôi cứ nhìn và nhìn mãi, vì tấm hình trong Iphone cô ấy rất mờ, có lẽ là hình chụp lại từ một tấm hình ở ngoài .
Cô ấy cứ quan sát tôi, và tôi cứ nhận ra từ từ …
Tôi nhìn lại cô Hanna, như cố nén tiếng thở dài :
” Tôi thấy có vẻ quen quen người này ”
Cô Hanna hét lên mừng rỡ :
Bà biết ông Don này chứ, ông ấy ở căn nhà này, mỗi sáng đi bộ ngang qua nhà chúng tôi, để ra cái tiệm cafe Starbucks ngoài ngã tư kia .
Một dịp tình cờ vào ngày Father’ s day năm đó, tôi gặp ông ở Starbucks down town, tôi thấy ông buồn buồn, thì ra ông ở Mỹ mấy chục năm, mà chưa hưởng được một ngày Father’ s day, ông muốn có cảm giác ấy.
Sẵn gia đình tôi mở tiệm hoa, nên tôi có vẻ thích cái cảm giác được tặng hoa cho một người đang ao ước có kỷ niệm về
Father’ s day.
Sau đó không gặp ông, nhưng mỗi năm vẫn có người tới lấy hoa về cho Mr. Don ,
Năm ngoái không thấy ai tới nhận hoa.
Năm nay chúng tôi thử đi tìm xem Mr.Don đang thế nào ? Đúng lúc 2 hôm nay bà đã thấy chuyện đó .
Tôi cười hiu hắt :
” Quả là ông Đông ấy ở nhà tôi, nhưng ông đã mất 10 năm nay rồi . ”
Hanna lại hét vừa đủ cho cô và tôi kinh ngạc :
Trời , hoá ra Mr. Don không còn nữa, thế mà chúng tôi không được biết .
Thì chúng tôi, là tôi đây, không biết chuyện ông Đông tự đặt tiền mua hoa đó cho ông.
Thôi xin lỗi, cho tôi nhận bó hoa này .
Tôi thấy hình như cô Hanna đó khóc, nước mắt chảy ra .
Cô lắc đầu, rồi vùng ôm bó hoa phiêu lưu 2 ngày vừa qua, lủi thủi ra xe cô đậu ở sát lề nhà tôi .
Tôi không biết nói gì hơn, ngày Father’s day cuối cùng năm 2006, ông xã tôi có ăn bữa ” Ngày của cha ” lần …sau chót ở nhà cùng với chúng tôi .
Thì ra, ông Mr. Don đó là ông D . Cũng tên vần D, nên đã phiên âm cho bà Nancy và cô Hanna là Don cho tiện .
Ông xã tôi có thói quen ít nói, và rất nhiều tình sử, nên tôi không lạ khi tình cờ được nghe hay được thấy một nghịch cảnh nào, nó có vẻ như chuyện ở ngoài đường, không liên hệ tới mình mới lạ.
Song, làm sao biết được những gì xẩy ra trong câu chuyện đã kể đâu đó, hoặc vừa đây.
Điều chỉ biết đối với tôi, từ xưa rồi, không phải mới hôm nay,
là tôi luôn luôn được đặt trước một hoàn cảnh vô cùng lãng mạn, trữ tình …
Hay có thể nói là những cuộc tình thơ đẹp lạ lùng, có thể anh không chấp nhận sự nhẹ dạ, mơ mộng, nhưng chính anh huyễn hoặc, cũng như Mr. Don, đã từng thấy tôi tiếc nuối nhưng không than van bao giờ .
Và nhất là, phải có anh cho tôi thổ lộ …tâm tình huyễn ảo của mình.
Anh mỉm cười lạ lắm, giống như nụ cười của người vô rừng hoang dã, chợt thấy một bông ngải trầm, rất đẹp, rất thơm, nhưng lại sợ hương độc của loài hoa nha phiến nào đó chưa được khám phá …
CAO MỴ NHÂN
BÀI SƯU TẦM TRÊN NET
Ba Tôi! Người Đánh Máy Mướn!
Đoàn Xuân Thu
Năm 1961, thằng em thứ sáu, vừa lên 5 của tôi, bị viêm màng não rồi chết. Thân phụ tôi đang làm Trưởng Ty Bưu Điện Rạch Giá buồn bã quá, xin đổi về Sài Gòn làm ở Bưu Điện Trung Tâm gần Vương Cung Thánh Đường dắt cả gia đình chạy trốn một kỷ niệm buồn đau! Nhà thì chính phủ cho một căn, ở lầu hai cư xá Bưu Điện trên đường Hai Bà Trưng, nằm trong con hẻm lớn, đối diện nhà thờ Tân Định.
Rồi năm 63, cuộc đảo chánh 1/11 của các tướng lãnh. Tổng Thống Ngô Đình Diệm và bào đệ là Cố Vấn Ngô Đình Nhu bị giết. Cái chết của Tổng Thống Diệm đã chấm dứt luôn cuộc sống tương đối dể thở của các công chức bậc trung.
Nhà đông con, vật giá ngày một tăng, con cái ngày một lớn, tiền ăn, tiền quần áo, tiền trường đè nặng lên vai Ba. Nên Ba phải làm thêm ‘job’ nữa. Đánh máy mướn!
Vốn xuất thân từ thư ký, sau vừa làm, vừa học, thi đậu cải ngạch thành Cán Sự Bưu Điện, nên Ba đánh máy rất nhanh, chỉ nhìn vào văn bản mà không cần nhìn vào bàn phím chữ. Đánh bằng mười ngón, tốc độ nhanh, nghe như tiếng rào rào đổ trên mái tôn. Mưa!
Cuối đường Phan Đình Phùng, đi về phía Chợ Lớn, rồi quẹo tay phải sang đường Lý Thái Tổ có rất nhiều tiệm Ronéo. Trong tiệm, ngoài giàn máy Ronéo, còn có vài cái máy đánh chữ, bàn ghế ngồi do chủ tiệm cung cấp. Làm ăn chia, tứ lục, 6/4.
Muốn in Ronéo, phải đánh trên giấy ‘stencil’. Đó là loại giấy có tráng sáp để khi đánh, chữ sẽ khắc dấu trên sáp; rồi khi đưa vào máy, mực sẽ tràn ra phủ đầy trên những dấu lõm. Dán stencil vào máy, rồi quay bằng tay hay bằng điện. Bài viết sẽ lần lượt được in ra.
Khách hàng đến là các giáo sư, mướn đánh máy bài giảng ở trường đại học, bán ‘cours’ cho sinh viên. Khách hàng cũng có thể là các nhà văn chuyên viết truyện dài đăng trên báo hằng ngày mà Miền Nam lúc bấy giờ gọi là viết “feuilleton” như Dương Hà, An Khê, Ngọc Linh, Sơn Nam… Họ mang những bản thảo viết tay, thường là khó đọc, đến mướn đánh máy cho rõ ràng để thợ sắp chữ nhà in dễ đọc, dễ sắp chữ trên bản kẽm rồi in ra thành tiểu thuyết. Giá cả có khác nhau tùy theo khách hàng thường xuyên như các giáo sư hay các nhà văn. Ngoài ra cũng có nhận đánh đơn từ các loại.
danh-may-muon-4Mỗi ngày, Ba cỡi chiếc xe đạp đòn dông, đi làm theo giờ hành chánh từ 7 giờ sáng đến 5 giờ chiều. Tan sở lại phải chạy xuống tiệm Toàn Thắng ở cuối đường Phan Đình Phùng để làm cái ‘job’ thứ hai. Khoảng 9, 10 giờ đêm, mệt mỏi, rã rời sau 16 tiếng đồng hồ làm việc, Ba mới theo đường Phan Thanh Giản, chỉ cho chạy một chiều, để quay trở về Hai Bà Trưng, Tân Định.
Má vẫn thường chờ Ba cơm tối; nhưng 8 anh em tôi thì đã đi ngủ mất rồi. Hôm nào được lãnh lương hoặc đánh máy có tiền nhiều, Ba vẫn thường ghé qua xe bán bánh mì Tám Cẩu ở ngã tư Cao Thắng và Phan Thanh Giản, gần rạp hát Đại Đồng, mua vài ổ bánh mì về cho con. Về nhà Ba vô giường, bế từng đứa dậy, đặt ngồi ngoài bàn, rồi bảo: “Ăn đi con!”. Ăn thì khoái thiệt nhưng ‘bù ngủ’ híp con mắt luôn! Em gái tôi cắn miếng bánh mì nhai, chưa kịp nuốt thì gục xuống bàn… ngủ tiếp. Ba lại bế từng đứa, cho vào giường ngủ.
Người ta thường bảo người mẹ như cánh cò. Cánh cò lặn lội bờ sông… Ba tôi không phải là cánh cò, Ba tôi là đại bàng nhưng con đông quá, bám vào đôi cánh của Ba nặng trĩu. Ba không bay cao, bay xa được mà chỉ bay là đà; nhưng vẫn phải rán mà bay để tìm mồi về cho vợ và con trong thời khốn khó! Ba chưa từng bao giờ từ bỏ ước vọng là con mình sẽ được ăn học đàng hoàng, tới nơi tới chốn để cuộc đời không phải vất vả như ba!
Bước ra đời, nếu mình có thành công, có giỏi hơn người khác thường là bị dèm pha, xúc xiểm, ganh tị… nhưng mỗi thành công dù rất nhỏ trên trường đời của con thì Ba lại tự hào, hãnh diện coi thành công đó là rất lớn và là chính của Ba luôn?
Năm 63, tôi thi đậu vào Petrus Ký. Đỡ cho Ba không phải lo tiền trường. Vì nếu rớt, phải đi học tư, tốn lắm! Việt Nam lúc đó đậu vào một trường công lập nổi tiếng như Petrus Trương Vĩnh Ký cho con trai hay Gia Long cho con gái là rất khó. Trường rất có kỷ luật nên học trò trường công không dám ‘cúp cua’ đi chơi nên thường học giỏi hơn học trò trường tư dù giáo sư trường tư lại nổi tiếng dạy hay hơn! Vì dạy hay hơn nên mới được chủ trường tư mời dạy!
Ngày coi kết quả thi vào Petrus Ký, trời đổ trận mưa to. Thầy Trường, dạy luyện thi đệ thất, có danh sách học trò thi đậu, báo tin vui cho Ba. Ba nhường áo mưa cho con, còn mình đội mưa đến. Thầy và Ba bắt tay nhau, hỉ hả cười rạng rỡ, dù nước mưa còn chảy ròng ròng trên má. Tôi thấy thương Ba quá trời! Sao mà khổ dữ vậy? Tôi thấy đậu vô đệ thất, cho dù là của một trường trung học nổi tiếng nhứt miền Nam đi chăng nữa, thì có gì là lớn đâu? Mấy thằng bạn học chung với tôi cũng thi đậu đó thôi!
Rồi khi thi đậu Tú tài một rồi hai, Ba cũng mừng như chính Ba thi đậu vậy! Khi vào đại học, Ba muốn con học Luật Khoa để trở thành Luật Sư chẳng hạn… Có lẽ đường hoạn lộ công danh của Ba đã từng bị áp bức, bị đối xử bất công quá hay chăng mà Ba không muốn con mình phải gánh chịu. Phải biết Luật để cho tụi nó sợ mà không dám áp bức lại mình?
Tôi thì thấy chồng ‘Cours’ là đã ‘ớn’. Lại phải tốn rất nhiều tiền để mua nên không muốn đi học Luật; dù trường đó, con đường Duy Tân đó, thơ mộng và có biết bao nhiêu là con gái, tiểu thơ con nhà giàu chưng diện, ẹo tới, ẹo lui?
Ba nói một, hai lần thì tôi vẫn giả bộ tảng lờ. Nhưng lần thứ ba thì con Ba, cái thằng bất hiếu, cứng đầu cãi lại: “Con là con ếch, con nhái mà Ba muốn con to bằng con bò! Không được đâu!”. Tôi đã nhẫn tâm làm tan nát niềm ước vọng của Ba tôi rồi; mà tôi cứ ‘thản nhiên’ như không? Trời ạ!
Sau nầy vào Đại học Sư phạm ra trường, đi dạy, một hôm Ba nói: “Thôi không làm luật sư; làm giáo sư cũng được!”. Dù tôi chỉ là Giáo Sư Trung học Đệ nhứt cấp ‘quèn’ mà thôi?!
***
danh-may-muon-5Rồi 75 đến, nhà tôi cũng sống lầm than mà cũng không nghe Ba một tiếng thở than? Đi tù cải tạo sáu tháng vì là viên chức ngụy quyền, cấp trưởng ty.
Trong tù, Ba tôi vẫn ăn mặc một cách đàng hoàng, tề chỉnh. Đêm trong trại, Ba xếp quần áo lại, lót dưới gối trên đầu nằm cho thẳng thớm. Sáng ra, mặc áo bỏ vô quần, mang giày như thuở còn đi làm; bị cán bộ phê bình là còn giữ tác phong ‘tiểu tư sản’?
Ra tù, Ba lại trở về Sài Gòn, ra Lý Thái Tổ ngồi đánh máy mướn để nuôi đàn con mà nhiều đứa em tôi vẫn còn thơ dại. Ba vẫn ăn mặc rất đàng hoàng, vẫn áo trắng bỏ vô quần, vẫn mang giày, dù cũ, ra đánh máy mướn, làm đơn cho bà con cô bác Sài Gòn đi thăm nuôi chồng, con đang ở tù cải tạo.
Bà con ở Hố Nai, có thời đi lính Liên Hiệp Pháp, xuống nhờ Ba đánh đơn gởi Tổng Thống François Mitterrand để xin đi định cư. Là người học chương trình Pháp, Ba viết thơ cảm động làm sao đến nỗi ông Chánh Văn Phòng của Tổng Thống hồi đáp ngay, rồi Ba dịch ra tiếng Việt cho bà con nghe là: “Tổng Thống Cộng Hòa Pháp đã nhận được thơ ông và chỉ thị cho bổn chức chuyển hồ sơ qua Bộ Ngoại Giao để làm các bước tiếp theo!”. Sau đó cũng có vài gia đình được đi Pháp định cư.
Có lần ông chủ một cây xăng ở Rạch Giá bị đánh tư sản, bị đuổi đi vùng kinh tế mới, khổ quá, ông trốn về Sài Gòn và gặp lại Ba. Ông vẫn còn gọi Ba là ông Trưởng Ty như ngày cũ?! Ông nói vì không có hộ khẩu nên không làm được thông hành và chiếu khán nhập cảnh Hoa Kỳ; dù con ông đã gởi đơn về bảo lãnh. Ba lại giúp ông làm đơn gởi cho bộ phận xuất nhập cảnh ở đường Nguyễn Trãi, Chợ Lớn và Tòa Đại Sứ Mỹ ở Bangkok, Thailand. Đơn thành công và ông được ra đi!
Trước ngày đi, bùi ngùi từ giã, ông nói: “Tôi đi rồi không biết chừng nào mới có dịp gặp lại ông Trưởng Ty” Rồi rưng rưng nước mắt, bắt tay chào vĩnh biệt!
Raoul Wallenberg (1912 –1947), nhà ngoại giao Thụy Điển, đã cứu hàng chục ngàn người Do Thái ở Hungary thoát khỏi Holocaust, lò hơi ngạt của Phát Xít Hitler trong Thế chiến thứ hai. Ông đã cấp những thông hành bảo vệ (Schutz-Pass) và cho những người Do Thái ẩn náu trong những tòa nhà thuộc tòa đại sứ Thụy Điển ở hải ngoại. Ngày 17.1.1945, Hồng quân Cộng Sản Liên Xô tiến vào Budapest, Hungary bắt ông giam cầm và ông chết ngày 17.7.1947 trong nhà tù Lubyanka ở Moskva. Trái tim vĩ đại của một con người nhân hậu đã mãi mãi thôi không đập nữa!
Dĩ nhiên thân phụ tôi không thể cứu được nhiều nạn nhân như ông Raoul Wallenberg đã từng làm; nhưng chí ít Ba tôi cũng đã giúp được một số người, dù con số đó rất nhỏ nhoi, được có một cuộc đời khả dĩ tốt đẹp như xưa.
Chỉ có một trái tim nhân đạo mới dám, mới làm được như thế! Ba từng nói: “Giúp được ai, dù là chuyện nhỏ, để làm cho họ bớt thống khổ hơn là điều phải làm con ơi!”
***
Năm 81, thằng em thứ 5 của tôi liều chết vượt biên đến được Pulau Bidong, Mã Lai. Về Adelaide, Nam Úc định cư, nó lần lượt lãnh Ba và các anh em qua. Rồi cả gia đình đoàn tụ!
Đêm nay, ngồi trước bàn phím computer, viết bài nầy nhân Father’s Day bên Mỹ, tôi lại nhớ đến cái bàn máy đánh chữ của Ba. Nhớ mười ngón tay xương xẩu, cong vòng của Ba, gõ trên bàn đánh máy mà ngày xưa người ta thường cảnh báo về già sẽ bị đau tim mà chết. Nhưng Ba không sợ! Mười ngón tay đó của Ba đã nuôi anh em con ăn học, đủ để sống sót và làm lại cuộc đời nơi đất lạ quê người. Tụi con xin cảm ơn Ba!
Ba bỏ tụi con đi, năm nay nữa là 20 năm chẵn. Tiếng gõ trên bàn máy chữ vẫn rào rào như tiếng mưa rơi… vẫn còn vang động đâu đây! Nhớ và thương vô cùng cái dáng của Ba còng lưng trên xe đạp trong những ngày ngược gió.
Nhớ bánh mì Tám Cẩu Ba mua; mà đút vào miệng chưa kịp nhai tụi con đã gục đầu xuống bàn… mà ngủ tiếp. Nhớ cái bắt tay của Ba với thầy Trường ngày con đậu vào đệ thất.
Người ta cần tới Father’s Day, Chúa Nhựt, tuần lễ thứ ba của tháng sáu như ở Hoa Kỳ hay Chúa Nhựt, tuần lễ thứ nhứt của tháng chín ở Úc để kỷ niệm ngày từ phụ, để nhớ tới phụ thân! Còn con, con nhớ Ba mỗi ngày, khi còn sống, cho đến lúc nào đó con sẽ được gặp lại Ba!
đoàn xuân thu
melbourne
CHÙM TÌNH THƠ CAO MỴ NHÂN & Bài Viêt “HUYỀN THOẠI 12 – 6” Của Nữ Sĩ.
MẦU DIỄM TUYỆT. CAO MỴ NHÂN
Hỡi em thơ, mầu yêu thương diễm tuyệt Đã trải vàng trên vạt cỏ mênh mông Từng cánh lá âm thầm chào giã biệt Tưởng tượng thôi, ta bước tới vô cùng
Em ngại ngùng ngó không gian mầu tím Khiến ngỡ ngàng tất cả nhớ nhung xa Thì vẫn thấy đất trời thường giấu giếm Những cuộc tình tươi thắm nở ngàn hoa
Dù thủa trước hay thời sau lỡ dở Vẫn cùng thơ tâm sự nỗi đau đầy Dù buồn nản, hay đôi khi hớn hở Vẫn cùng em thả chữ nghĩa trên tay
Vàng thu ơi, mây cũng vàng như áo Một lúc nào nín lặng chuỗi ngôn từ Bước chân em thoáng rộn ràng tiếng sáo Đang rơi vào quá khứ của mộng mơ…
CAO MỴ NHÂN (HNPD)
ANH TRỐN EM. CAO MỴ NHÂN
Kính bái Người vừa mệnh chung.
Anh trốn em mười năm tuổi mộng
Thôi đành rồi, cát bụi phù du
Tưởng lần nào gác bỏ thiên thu
Song lại thấy thơ là suối lệ
Anh trốn em mười năm tuổi lẻ
Giả vờ nhìn tháng lặng, ngày câm
Thực tình thì ân nghĩa phù vân
Nên chẳng muốn thiết tha thổ lộ
Anh trốn em mười năm hội ngộ
Mười năm chờ thập kỷ còn xa
Nụ tình buồn, chẳng thể tươi hoa
Thôi đấy nhé, không phiền khổ luỵ
Anh trốn em sầu chung, xót thuỷ
Không cần đâu kiếp tới phân bua
Anh đi nhé chín mươi xuân quý
Đời trả cho tình thiệt, tuổi thua …
Hoa Thôn 22 – 5 – 2022.
CAO MỴ NHÂN
CHIM NGƯNG TIẾNG HÓT. CAO MỴ NHÂN
Chưa hết mùa xuân
Sao trên đỉnh núi
Có con chim nằm
Hót lời bối rối
*
Hạc không bay cao
Thân chim xà thấp
Hoa cỏ xôn xao
Mùa xuân biến mất
*
Nắng giữa trời trưa
Núi xanh mộng biếc
Nước mắt như mưa
Rơi hoài thảm thiết
*
Anh nói với em
Chim ngưng tiếng hót
Anh cũng như chim
Hồn đau giá buốt…
CAO MỴ NHÂN
NGHE CHIM KHUYÊN HÓT. CAO MỴ NHÂN
Anh giữ tiếng cho em
Giọng chim khuyên buồn tủi
Nghe mê đắm lời tim
Những giọt buồn thống hối
*
Dẫu rằng anh không nói
Mặt trời khóc trong mơ
Cả tuần em trông đợi
Anh tới để làm thơ
*
Làm thơ có gì vui
Anh thương em ngậm ngùi
Tình ơi, sao khắc nghiệt
Si dại mãi không thôi
*
Chim vẫn hót chơi vơi
Trong bao la diễm tuyệt
Anh là cả bầu trời
Em tôn sùng quí mến …
*
Đã xa rời khổ luỵ
Dù nhịp tim vơi đầy
Khi nghe vành khuyên hót
Em tỉnh giấc tình say…
CAO MỴ NHÂN
HUYỀN THOẠI 12-6. CAO MỴ NHÂN
Có thể nói không bài thơ hay nào, không của một thi sĩ giỏi.
Và, không thi sĩ giỏi nào không có một huyền thoại đẹp .
Thí dụ sáng giá nhất là huyền thoại ” Tố của Hoàng ơi ” của thi sĩ lãng mạn Vũ Hoàng Chương, nhà thơ tình cảm bão lũ mưa cuồng, thoạt nghe thì khó chịu như bị ” nội thương ngoại cảm “, nhưng đọc lâu rồi, có vẻ khách thơ cũng lặng yên, thở dài thương cho một mối tình tưởng thấp thoáng, hoá trầm kha, nan y chi lạ.
Giai thoại thơ ” Tố của Hoàng ơi” có 2 bài chính:
1/ Mười Hai Tháng Sáu
2/ Tố Của Hoàng Ơi.
Tìm một ý có vẻ giới thiệu cuộc tình thơ của thi sĩ Vũ Hoàng Chương, cứ như là giận lắm mối duyên gãy đổ của mình, nhà thơ viết :
Năm mười hai tháng, ai không biết
Đã tháng nào không tháng sáu chưa?
Đây là 2 câu trong một đoạn thơ ở bài sau, ” , Tố của Hoàng ơi ” tác giả viết năm 1972, và còn khẳng định thời gian đã trên 30 năm không có Tố, tức là khởi sự Tố với Hoàng kết thân khoảng từ 1950 đến 1952.
Bây giờ đi vào chi tiết .
Thi sĩ Vũ Hoàng Chương ( 5/5/1916 – 6/9/1976), cụ vừa xong hoa giáp thì ra đi vào cõi mịt mù, sau cũng cả năm trời bị CSVN nhốt trong khám Chí Hoà, vì là một nhà thơ trí thức tiểu tư sản, lẽ nào bạo quyền duy vật để cụ yên.
Thi sĩ Vũ Hoàng Chương cùng với Thi sĩ Đinh Hùng,
( 1920- 1967 ) em cụ bà Vũ , là 2 nhà thơ lãng mạn nổi tiếng một lượt với các thi sĩ tiền chiến Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, nhưng nhị vị thi sĩ đương nêu không theo cộng sản , hai thi sĩ đã đi cư vào nam năm 1954.
Vô nam, thi sĩ Đinh Hùng thành lập ban Tao Đàn, tiếng nói thơ văn miền Tự do cùng với quý ông Thanh Nam, Văn Quang, Thái Thuỷ …
Thi si Vũ Hoàng Chương thì đi dạy học ở Saigon.
Song có điều lạ, là các thi sĩ lớn ở đâu cũng vậy, người ta tức là đông đảo độc giả, thính giả thường ưa nghe huyền thoại của nhà thơ, hơn theo dõi hành trình thơ đã tiến tới đâu.
Có khi những đoạn đời sau, cũng có những riêng tư đáng ngợi ca, nhưng độc giả vẫn cứ quen thuộc huyền thoại, đến không quên một chi tiết nhỏ.
Thí dụ: khi nhắc tới thi sĩ Cung Trầm Tưởng, là lập tức khách thơ nói ngay : ” Lên xe tiễn em đi, chưa bao giờ buồn thế…” Nhắc tới thi sĩ Đinh Hùng, thì cứ ” đánh thức hồn mà dậy … ”
Và ngay với cụ Vũ Hoàng Chương còn: ” Chúng ta mất hết, chỉ còn nhau ” cũng khuôn vàng thước ngọc, mà xem ra thua kém ” Tố của Hoàng ơi” hẳn .
Do đó huyền thoại này là bất biến với nhà thơ, “Tố của Hoàng ơi” , cứ lừng lững năm này qua năm khác đi vào những khúc quanh thơ ca Vũ Hoàng Chương .
A / Mười Hai Tháng Sáu :
Mở màn cho thiên hạ thấy tình sử, với 4 khổ thơ đầu, khổ nào cũng có ” Tố Của Hoàng Ơi” theo thứ tự:
1/ Tố của Hoàng ơi, hỡi nhớ thương…
2/Tố của Hoàng ơi, Tố của Anh…
3/Tố của Hoàng xưa, Tố của tôi…
4/ Tố của Hoàng nay, Tố của ai …
Tiếp tới 4 đoạn sau của bài thơ 8 khổ ấy, là chỉ toàn Hò,Xừ, Xang , Xế…với danh tính Kiều Thu .
Vậy Kiều Thu là nhân vật nào nữa đây ?
Xin thưa Kiều Thu lẫn lộn trong Hò, Xừ, Xang, Xế mà thôi :
” Kiều Thu hề Tố em ơi ” có nghĩa Kiều Thu chính là Tồ vậy .
Kiều Thu hề Tố em ơi
Ta đang lửa đốt tơi bời mái Tây
Hàm ca nhịp gõ khói bay
Hò , Xừ , Xang, Xế , bàn tay điên cuồng ..
( Vũ Hoàng Chương )
Nếu huyền thoại chỉ bấy nhiêu, thì thật quả câu chuyện chỉ là
Trách móc, rồi dùng Hò, Xừ , Xang,Xế …xênh phách cho quên đời .
Nhưng có một đoạn thơ như bật cái điều bí mật ra, thi sĩ Vũ Hoàng Chương nói thẳng cho những ai muốn biết:
” Huyền thoại Tố Của Hoàng ơi, chỉ là một cuộc tình cuồng, tình si, không hơn không kém, không vì một lý do to lớn nào, hay một chuyện tình lồng trong một sứ mệnh gì của Sơn Hà Xã Tắc chẳng hạn, chỉ là tình buồn, mãi mãi tình buồn …”
Men khói đêm nay sầu dựng mộ
Bia đề tháng sáu, ghi mười hai
Tình ta ta tiếc, cuồng ta khóc
Tố của Hoàng nay Tố của ai ?
( Vũ Hoàng Chương)
B/ Tố Của Hoàng Ơi:
Thi sĩ Vũ Hoàng Chương với hơn 30 năm , nỗi oan hờn, ẩn ức không thể một mình ấp ủ được mãi .
Không lý chuyện riêng tình cảm mà bắt vợ con gia đình chia xẻ, nỗi đau trở thành mối thù ma quái, vì sự thực, Tố đó không chết, vẫn sống trong dằn vặt, oan khiên, cay đắng của nhà thơ lớn mà cứ phải lụy tình một người …
Nên tới năm 1972, đúng ngày 12 tháng 6 , cụ làm một bài thơ 7 khổ tứ tuyệt, lấy hẳn tựa đề : ” Tố Của Hoàng Ơi ” .
Bài thơ này gần như bạch hoá mối tình cuồng si, mê loạn trong hơn 30 năm.
Có thể trên cương vị một người làm thơ, dù mê đắm tới đâu, tôi nghĩ thời gian dài dằng dặc đó, hơn 30 năm với bao tang thương, tình cảm cũng đứng lại, dẫu Tố của Hoàng đẹp tới thế nào, cũng không là Tiên, là Phật trong tranh, để trẻ mãi không già.
Bằng chứng là : Một dịp hội thơ đầu thập niên 80 thế kỷ trước, tại Uyển Đình, tư thất của nữ sĩ Uyển Hương.
Cũng vào một ngày tháng 6 năm 1982 , vì tình cờ tôi lại ngồi cạnh nữ sĩ Đinh Thị Thục Oanh, là phu nhân của Thi sĩ đã quá cố Vũ Hoàng Chương, đồng thời là hiền tỷ Thi sĩ quá cố Đinh Hùng, nhị vị thi sĩ lớn quá, dễ gây ấn tượng .
Bất giác tôi ngó nữ sĩ Thục Oanh, mỉm cười : ” Tố của Hoàng ơi” đâu rồi chị ?
Nữ sĩ Đinh Thị Thục Oanh cũng ” hài ” không kém, bà bèn đổi giọng nói kiểu …thơ:
” Tố của Hoàng xưa, Tố đã già…” rồi .
Mừng quá, tự dưng biết tin Tố của huyền thoại cụ Vũ, tôi ỡm ờ: ” Biết rồi, nhưng Tố ở đâu xa ? ”
Tất nhiên, nữ sĩ Đinh Thị Thục Oanh cũng đẩy xa câu chuyện vào huyền thoại, cho đẹp mãi tình phu, nghĩa phụ cụ Vũ cùng Đinh nữ sĩ trong văn chương, ngoài cuộc sống bình thường vậy.
Hoá cho nên, yêu đây là yêu cái dĩ vãng thôi, phải xoá trắng cái dĩ vãng, mới gọi là không còn dính líu tới nhau:
Tháng có 30 ngày để giết
Ngày 12 vẫn sống như xưa
Hay:
Còn đó 12, còn tháng 6
30 năm lẻ vẫn chưa vừa .. .
Đã đến lúc tình yêu thương, trở nên nghiệt ngã, hằn học, cực đoan …Thi sĩ Vũ Hoàng Chương trở thành độc đoán, dằn vặt giai nhân Tố :
Ngày mai, ngày mốt, anh nằm xuống
Ngọc đọng cơn sầu nửa kiếp thơ
Đập nát ra cho trời đất uống
Thì em sẽ rụng khỏi đêm mờ …
( Vũ Hoàng Chương )
Đoạn trên , mới chỉ khai vị, chưa uống được cái cơn say …tàn nhẫn hơn nữa, bởi vì bị khựng lại do trong tâm khảm người bị thất tình vẫn còn lại chút gì để tiếc nhớ.
Tới giai đoạn những gì quý giá, ân tình nhất đã bị gạt đi, chỉ còn lại 2 sự kiện để chọn lựa là: hy sinh hay thù hận, mới quên được người tình hay cuộc tinh.
Thi vương Vũ Hoang Chương, có lẽ vì mất mát tình cảm nhiều quá, nên thi sĩ không thể cho thêm, hay mất thêm:
Mười hai tháng sáu, cung Hồ, Xế
Một mối tình si, một mối thù
Giây phút cũng tan thành suối lệ
Trả cho cát bụi nhé Kiều Thu.
( Vũ Hoàng Chương )
Nghĩa là độc giả, thính giả tưởng rằng mối tình si, đã biến thành mối tình thù không sao gỡ đươc.
Nhưng , như tôi đã trình bầy ở trên, sau 30 năm, nhà thơ vẫn có thể viết tiếp những vần điệu cũ để tô điểm thêm cho huyền thoại, tưởng như thất thoát, mà cũng được
đền bù: Huyền thoại ” Tố của Hoàng ơi ” , âm hưởng phảng phất những chuyện tình buồn trong cổ tích, ngoài dân gian ở
bất cứ nơi đâu và thời gian nào …
CAO MỴ NHÂN
CHÙM THƠ & VĂN: CAO MỴ NHÂN
LỜI KHUYA. CAO MỴ NHÂN
*
Phải khuya mới rõ lòng người
Hạ tuần mới rõ trăng cười mê hoang
Sương mờ phá sóng không gian
Con tàu định mệnh chở hoàng hôn xa
Phải khuya mới nhớ mái nhà
Bập bềnh trên bến phù sa mịt mù
Bên này sông nước thiên thu
Bên kia còn lại lời ru não nề
Phải khuya mới thấy ê chề
Kiếp lưu vong chán lối về dửng dưng
Làm sao cản bước trăng dừng
Hạ tuần diễu cợt mây đừng che xuân
Phải khuya trăng mới bâng khuâng
Thương ai đếm suốt trăm năm chung tình
Anh chờ tan lễ Phục Sinh
Đưa em qua khỏi hành trình thương đau…
CAO MỴ NHÂN
***
NGỦ GIẤC NGÀY. CAO MỴ NHÂN
*
Tôi đang muốn ngủ giấc ngày
Để quên tất cả nơi này, chốn kia
Để quên tình tự phân chia
Để không thấy cảnh biệt lìa xót xa
Sáng trời, không thấy người ta
Tiếng chim đơn độc vô ra tổ chờ
Không nhìn hoa bướm mộng mơ
Không cầm bút viết bài thơ cuối cùng
Hoang liêu trải rộng mịt mùng
Mầu xanh thiên lý, sắc hồng lửa hương
Đã như phai nhạt nửa đường
Cô đơn, mỏi mệt gọi thương nhớ về
Đêm qua mộng mị lê thê
Tôi thôi kéo nỗi đam mê về gần
Đất trời tiễn biệt mùa xuân
Đưa tay tôi xoá trăm năm cuộc tình …
CAO MỴ NHÂN
LỜI XÂM. CAO MỴ NHÂN
*
Một mình ngồi buồn xin xâm
Quẻ ra sấp ngửa, nỗi thầm lặng rơi
Đoán trong tâm tưởng, bao lời
Cầu xin anh ở bên trời luôn vui
Hình như có chút ngậm ngùi
Cho riêng mình thiếu vắng hồi bơ vơ
Xâm không hối hả đợi chờ
Đồng xu sấp ngửa lững lờ được, thua
Từ lâu quên đến cửa chùa
Lắng nghe chuông mõ gỡ bùa tỉnh, mê
Bốn phương mù mịt nẻo về
Chân mây nào cũng lê thê muộn phiền
Tình sầu tình lại cuồng điên
Làm sao biết được thủa tiền định kia
Mộ tình thơ vẽ trên bia
Hương tan, lửa tắt, cách chia kiếp này …
CAO MỴ NHÂN
***
VẮNG BÓNG. CAO MỴ NHÂN
Trên nhiều tầng cao vút
Mây trắng xây lâu đài
Thắp tình nơi chót vót
Không thấy một bóng ai
Bay lên đôi cánh vàng
Chốn đó là thiên thai
Hay là mây hoang đàng
Không có một bóng ai
Thì đừng đăng cao nữa
Trên nhiều tầng mây bay
Lâu đài tình trống rỗng
Không gặp một bóng ai
Trở về nghìn trùng xa
Anh hay mái ấm nhà
Ô, chỉ là vạt khói
Thế gian còn đợi ta
Không thấy một bóng ai
Còn ai đâu tìm bóng
Cho hình ảnh thiên thai
Bạc trời mây nổi sóng …
CAO MỴ NHÂN
SUỐT THÁNG NĂM. CAO MỴ NHÂN
*
Trái đất không ngừng quay
Mây trời không ngừng bay
Nhưng tình yêu dừng lại
Trong cõi nhớ thương này
Anh nói đang mùa xuân
Thì đừng vội bâng khuâng
Anh luôn luôn ở cạnh
Bên em suốt tháng năm
Vậy thời gian ngưng trôi
Hoa nở khắp nơi nơi
Sao anh chưa thầm gọi
Tên em, một lần thôi
Chao ôi, anh tịnh ngôn
Mây cứ bay chập chờn
Trái đất chờ tan vỡ
Em giữ mãi nụ hôn …
CAO MỴ NHÂN
ĐOM ĐÓM DƯỚI TRĂNG. CAO MỴ NHÂN
*
Sân trăng một lúc si cuồng
Theo con đom đóm tìm nguồn nguyệt tan
Không gian chuyển tiết hoang tàn
Những con đom đóm gọi đàn quỷ ma
*
Nửa khuya, trăng bỗng nghiêng tà
Nguyệt mang lửa ngọn hằng nga về trần
Hằng nga ngần ngại gian truân
Sợ con đom đóm tới gần đắm mê
*
Cung thương giọt thả lê thê
Lưu Thần, Nguyễn Triệu tái tê đêm dài
Giật mình hồn đã Liêu Trai
Mái xưa tình tự đơn sai hẹn hò
*
Con đom đóm lạnh co ro
Nửa vầng nguyệt lãng đắn đo lượn vòng
Từ đi ngày tháng lưu vong
Đêm nay nguyệt thực đừng trông lửa vàng …
*
CAO MỴ NHÂN
CHIẾC BÓNG MỜ. CAO MỴ NHÂN
*
Bỗng một ngày không thấy
Người quen đi ngang nhà
Nơi sân vườn nắng xấy
Khô cả vạt sương hoa
*
Chắc mùa xuân ấm áp
Người quen bỏ về xa
Nửa vòng tròn trái đất
Che kín cuộc tình ta
*
Người về xa tít tắp
Đôi bàn tay mở ra
Hứng từng giọt nươc mắt
Đêm không ngủ bơ vơ
*
Ta xếp mau hồn mộng
Xuống đáy lòng hoang sơ
Thời gian như chiếc bóng
Còn lại trong hồn thơ …
*
CAO MỴ NHÂN
VÃNG LAI. CAO MỴ NHÂN
*
Sáng chủ nhật
Vô nghĩa trang ” Đồi Hồng ”
Để đọc lại tấm bia lạ lùng :
” Nơi an nghỉ của một người
chết trong tuyệt vọng …”
*
Tấm bia dựng từ cách đây 60 năm
Tên người bạc phận bị mờ phai
Vì sóng gió hay vì ai đục mất
Chắc vì hồn thiêng lẩn khuất
Khiến người bị chết lần thứ hai…
*
Khách đứng trầm ngâm nhìn dòng chữ
Như có câu thơ viết trong nỗi nhớ
” Nơi đây sương ủ hình hài
Em đi về nẻo Thiên Thai xa mờ
Trọn đời sống với mộng mơ …”
*
Trước mặt, sau lưng, chung quanh mộ thơ
Nụ hồng nhỏ xíu
Hoa hồng nở to
” Em đi vào cõi hư vô
60 năm có một giờ vãng lai…”
*
CAO MỴ NHÂN
BÊN THỀM ĐỜI . CAO MỴ NHÂN.
*
Anh ta bây giờ đã ngoài bảy chục tuổi, nên tôi phải gọi ảnh bằng ” ông ” cho có vẻ trân trọng và nhất là …đứng đắn .
Ố ô, rứa chẳng lẽ kêu ” anh” là không …đứng đắn hay sao ?
Số là anh ta, ý quên ổng ta sắp tới ngày sinh nhật đó nờ , 19/6 dương lịch, một ngày kỷ niệm trọng đại, mà cả đại tộc KaKi chúng tôi, đều nhớ, bởi tính chất …lịch sử của sự kiện , Ngày Quân Lực VNCH trời ạ .
19/6 Ngày Quân Lực VNCH hình như mỗi lúc mỗi phôi pha đi hay sao ấy, ông ta đã cười nụ một mình tự nhủ :
” Điều gì rồi cũng lạt phai, làm sao tươi thắm mãi được …”
Ông xuất thân từ quân trường danh tiếng X Khoá K, tôi gọi thế, đầy phẩm cách dũng cảm mà vẫn trẻ trung .
Ôi chao, có Khoá học nào, sinh viên sĩ quan Võ Bị nào không hội đủ 2 yếu tố ấy : anh hùng mã thượng, mà vẫn hào hoa phong nhã chứ .
Thôi đi, ” bà ” mê lính quá, lúc nào cũng thần tượng những chàng trai anh dũng, xuân tình .
Ông nhìn vọng ra xa, thật xa … cả một quá khứ hiện về .
Tôi bấm chuông ở cửa nhà ông lâu quá, đã bắt đầu đổ giận .
Ông làm cái gì trỏng mà không ra mở cửa chớ ?
Đã hẹn từ tuần trước, lại mới điện thoại hôm qua, cả hai thời hẹn, ông đều khẳng định rằng :
” Chừ tui không đi mô hết, ở nhà chờ cô thôi .”
Tôi cười hỏi đùa : ” Cô nào ? Chả lẽ tôi à ? Tôi bây chừ
Lão bà bà, chứ cô cái nỗi gì nữa ? ”
Thì với tôi, ông nói, cô lúc nào cũng là ” cô “, đơn giản, tôi đang sống lại kiếp trước của mình mà . Sao, có gì lạ muốn nói với tôi ?
Cũng có, tôi chậm rãi trả lời : ” Mấy ông xưa nhờ tôi mời ông bà đi ăn ” cơm tù ” một bữa đấy ” .
Cơm tù? Sao lại cơm tù chớ, ai lo chuyện này vậy, “mục đích yêu cầu ” dở hơi vậy ?
Chúng ta đang tự do như bướm, lại nhớ tù với tội là cái quái gì, chưa chắc tôi nhận lời ạ .
Thì tuỳ ông thôi, chúng tôi muốn thông báo cho ông hay, chớ chẳng vì sao, chẳng tại răng cả .
Ông gật gù : ” Để coi hôm đó tôi có trở ngại gì không đã, cô cứ nói với quý vị ấy là tôi nhận lời trên nguyên tắc hạ hồi phân giải nha ” .
Sao cũng được, miễn ông đi thôi .
Chuyện ” chung ” đã xong, giờ tới chuyện ” riêng ” .
Là không phải chuyện riêng tư tình cảm gì đâu, mà là chuyện không dính dáng tới ” bữa cơm tù ” vừa nêu.
À ra thế .
Chúng tôi vừa đi dự một cái ” lễ vàng “, ông nói .
Tôi mắc lo ra trả lời ừ hữ , không mấy hứng cảm.
Ông đó cũng khoá K với tôi. Cha đám cưới năm 1969 biết không, ở Huế đó .
Tôi vẫn chưa bắt nhịp được cái bản nhạc tình ông đang bắt đầu chờ dạo .
Ông nhìn tôi : ” Răng cô không hứng thú nghe tui kể chuyện vậy ? ”
Rồi, ” lễ vàng ” làm sao ?
Tôi thấy ” tình trường lão ta chẳng có gì đặc biệt, mà vàng với bạc làm chi cho mệt chứ …”
Nhưng nhà ông đó có mệt không về việc làm ” lễ vàng “, chứ chỉ nghe ông mệt thôi.
À , tôi nhìn thấy cái mệt trong chuyện ” lễ vàng ” của họ .
Họ đang sung sướng về việc làm đó, kỷ niệm 50 năm đám cưới, còn ông ở ngoài mà than là sao nhỉ ?
Ông cười xoà : ” Thì ở không nên lắm chuyện ấy mà . ”
Nghe tôi nói nè, cuộc đời thật là phức tạp quá chứ .
Như thế nào ?
Lão cùng đi tù với tôi về. Vợ lão chắc trẻ quá, thêm chút hoàn cảnh gia đình, tự ý không đợi chờ …
Thôi tôi không muốn nghe đâu, mai mốt gặp lại ở ” Bữa cơm tù ” nhé, tôi xin phép về .
Nhưng cô phải nghe đoạn này : Biết vậy, lão cũng trả thù đời, là tự ý lấy vợ hai, ngay sau ngày ” ra trại “.
Thì có gì đâu, đó là nguyên tắc tương đối thôi.
Nhưng khi đi HO qua đây, lão lại mang cái bà đầu có giấy tờ hợp lệ đi, bởi vì cái bà sau không chịu đi .
Thì là lẽ tương đối tiếp theo.
Rồi lão lại ly dị bà vợ đầu này, vì không quên giai đoạn hậu tù cải tạo của lão .
Và cũng để có dịp biểu lộ với phòng nhì, là lão vẫn dành cho bà hai này những yếu tố khách quan rằng đã lấy chồng thì cũng có dịp ” võng anh đi trước, võng nàng theo sau ” .
Chao ôi, tôi phụ hoạ: lại cũng là luật chơi tương đối, chẳng ai bị thiệt ở đời vậy .
Biết rồi, song le, cuộc đời vẫn có những phút giây cuối cùng như một bản cáo trạng của trời đất, dành cho loài người mà Chúa đã tạo ra .
Bà vợ sau của lão được hưởng hết cái hạnh phúc bất ngờ khi một người tù phá sản tình cảm vốn có sẵn tràn trề, kèm sự tức bực cho là bị phản bội, đồng thời lão vẫn thèm khát thứ hạnh phúc nguyên vẹn, lão đã dành tất cả mọi ưu ái cho đệ nhị phu nhân ấy.
Nhưng chỉ 10 năm sau, lão đã lên đường quy Mã .
Tới khi bà vợ sau của lão được lão lo cho đủ điều kiện ra đi đoàn tụ với lão, cũng là lúc bịnh trầm kha của bà ta, tiễn bà ta vĩnh viễn rời bỏ cuộc đời vốn hư huyễn này.
Tôi bâng khuâng: ” Chẳng lẽ cũng lại là điều tương đối nữa sao ? ”
Lão trở về trạng thái ban đầu, nhưng không rõ nét hạnh phúc .
Đó là đang ở chung một thành phố với bà vợ trước đã ly dị, trên thiên đường nơi hạ giới này . Nhưng vẫn mơ màng nhớ bà vợ sau đã yên thân nơi huyệt mộ bên cố xứ quê xa…
Tôi bắt đầu nghe ù cả tai, nhưng, chưa muốn về , vì muồn biết hồi kết của câu chuyện ” Lễ vàng ” .
Ông cười khẩy : ” Có phải cô muốn biết đoạn kết của cái lễ vàng đó không ? “
Thế này, bà vợ đầu ức lòng vì bị ly dị sau khi chỉ có 5 năm sống với lão, trước thời lão đi tù cải tạo đó .
Lão có yêu thương gì vợ trước cũng không bằng lão đi ban phát tình yêu cho bà vợ sau .
Nên bây giờ bà vợ trước đó, buộc lão trở về hoàn cảnh đầu tiên, tức là hồi 2 ông bà mới thành hôn, dù khi cả hai bà ta và lão đã lấm lem cuộc đời thời gian lão chia đôi cho mỗi người vợ một nửa số con bằng nhau.
Bằng một cái ” lễ vàng ” là chỉ có hình thức để có vẻ yêu đời hết xẩy, không có gì quan trọng , nếu xét qua các tiết mục, thì chẳng có mục nào thể hiện đúng cái ý nghĩa của nó cả .
Vâng, cám ơn ông, tôi cũng như ông, nghe chuyện tà la đã mệt rồi .
Ưng thay là người trong cuộc, thì buồn chán tới đâu ấy chứ .
Có lẽ cuộc đời ” nó ” vậy .
Thôi , tôi xin phép về nha. Cám ơn ông đã cho nghe chuyện đầy mầu sắc tương đối vừa qua.
CAO MỴ NHÂN
( CHỐN BỤI HỒNG )
MỘT NGÀY HÈ. CAO MỴ NHÂN
Quý vị tu sĩ mang tất cả tấm chân tình trải trước lòng dạ người dân lành …vô tội . Tôi cứ nghĩ mãi khi đặt bút viết câu này, mở đầu bài ” luận văn ” tự nguyện, gởi đến một bậc chân tu .
Nhưng khi bậc chân tu ấy hỏi rằng có biết gì về tấm chân tình của quý ngài, thì thật quả tôi bị lúng túng trong giải thích …rất đạo, là sự dâng hiến cả đời ngài cho Đấng tối cao, rao truyền chân lý sống ở đời để làm gì, theo ý Chúa.
Đó là những năm hậu tù cải tạo, tôi đã về lại thành phố Saigon, khoảng đầu thập niên 80 thế kỷ trước .
Người nhà kể rằng: gia đình chú tài xế của tôi xưa, hiện lập nghiệp ở đồng rẫy Trảng Bom, đã đến nhà chị tôi nhắn: nếu tôi đi tù về, chưa có việc làm, thì hãy lên chợ Trảng Bom kiếm nhà chú ấy .
Tôi không biết chú tài xế gốc hạ sĩ nhất QL. VNCH cùng gia đình đang sinh sống thế nào sau cuộc đổi đời 1975, vì trước đó, chú lái xe cho Phòng Xã Hội của tôi ở Bộ Tư Lệnh QĐI/QKI ngoài Đà Nẵng .
Xem ra hoạt cảnh cũng nhuốm vẻ khôi hài, chẳng lẽ chú ta là VC nằm vùng, giờ lộ mặt phất lên, có cơ ngơi chính trị, muốn giúp lại tôi chăng ?
Hay trời cho, chú trúng số độc đắc, đã có điền sản sau 5 năm rời giáo xứ Thanh Bồ Đà Nẵng, đã ổn định cuộc sống …mới ?
Bấy giờ nhà văn Thế Phong đang làm ” nhân viên chấp pháp” cho hãng xe bus, kiêm ” lơ xe ” bus tuyến đường Saigon Thủ Đức .
Ông ta đã bốn mươi mấy tuổi, nhưng rất khoẻ mạnh, lạc quan, tháo vát một cách lao động chuyên chính luôn, ông đề nghị tôi nên đi coi ” sự nghiệp ” sau 30-4-1975 của người tài xế như thế nào .
Chúng tôi đi xe lam từ sớm. Thế Phong trong phong cách ” lơ xe ” chuyên nghiệp, ngồi nghênh ngang chặn cửa xe, cứ nói một mình những điều gì đó một cách ” coi trời bằng vung “, vì sự thực ông ấy có sợ ai bao giờ đâu.
Điều đó khiến tôi yên tâm sau cái nhãn ” sĩ quan cải tạo ” về, hồn nhiên đón nhận những luồng gió mát mẻ của một buổi sớm mùa hè ở miền Nam .
Rồi 40 cây số cũng trôi qua, chợ Trảng Bom hiện ra trước mắt, với những mái tranh nghèo đúng nghĩa, nhưng hàng quán lại đông đảo .
Trong khi ăn sáng bằng tô phở, quanh cái xe phở, mà chỉ những ai đã từng thưởng thức món phở đặc trưng Bắc kỳ cũ, mới thấy nó …phở như thế nào .
Chúng tôi nhanh chóng hỏi thăm nhà chú tài xế tên Nguyễn Trọng Bảo, mới nhập cư mấy năm, thì có một người gật đầu, nói sẽ dẫn đường đến tận nhà chú Bảo ngay .
Nếu trước 1975, chúng tôi, Phòng xã hội QĐI/QKI đã từng mỗi năm một dịp tới nhà chú, ở Khu công giáo Thanh Bồ dự tiệc Nửa Đêm sau khi mừng Chúa Cứu Thế đến, dư dả thế nào, thì nay nhà chú vẫn giữ nguyên mầu sắc cũ .
Trong lúc cách đó mới mấy năm, chính tôi đưa vợ con chú di tản từ Đà Nẵng vô Saigon, chú ở lại với cái xác nhà và y nguyên đồ đạc cùng bầy heo cả chục con, bầy gà vịt cả trăm con …vv, kể như đã bỏ hết.
Sao nay đầy đủ, dư thừa thế ?
Tấm ảnh ” Bữa tiệc cuối cùng ” với cả bức tượng hình Chúa Jesus gắn trên vách lớn căn nhà, cụ bà mẹ chú, chú và toàn bộ gia đình, không thiếu một ai …quây quần nơi xóm đạo mới .
Cả nhà vui vẻ ra gọi là ” chào đón ” chúng tôi, cầu xin cho cá nhân tôi và gia đình sớm được bình an trong ơn Chúa .
Bữa ăn trưa với đầy đủ gà vịt nấu như ăn cỗ, đặc biệt là không phải một liễn nhỏ, mà một thúng rượu nếp làm theo kiểu Bắc kỳ xưa, gạo nếp sụng tức say, thơm ngát, được bới ra mỗi người một chén để tráng miệng, mới …giang hồ khí cốt chứ .
Qua cỗ bàn rồi, giờ đi vào thực tế, cựu hạ sĩ I Bảo ngập ngừng nói là, nếu gia đình tôi không quản ngại …lầm than một chút, thì xin mời chị cùng các cháu tạm nhờ Cha, nhận một khoảnh đất trong vùng, rồi canh tác, chăn nuôi, không lâu, sẽ có một cơ ngơi tương đối, bằng hoặc có khi hơn nhà chú ấy nữa.
Thoáng thấy nhà văn Thế Phong mỉm cười vẻ hơi châm biếm, có lẽ ông nghĩ tới sự đổi thay 180 độ đối với tôi, đã mất hết nhà cửa, tiền tài, địa vị, giờ còn chút thể diện nhân thân cũng lu mờ …
Nhưng tôi vốn từng trải công tác xã hội quá rồi, chạnh nghĩ mình cũng có là quái gì mà chê bai hoàn cảnh trước mặt, nên tôi vui vẻ trả lời :
” Mới ra khỏi trại cải tạo thôi , hãy để nghỉ ngơi một chút, mai mốt nếu cần, sẽ lên nhờ chú dẫn đi gặp Cha .
Trên đường về, chúng tôi tự động đi gặp Cha ở nhà thờ X. Trảng Bom .
Cha hân hoan ghi nhận điều thăm hỏi, và đồng thời khuyến khích tôi nên xây dựng Đức tin vững vàng, để cùng con cái được hưởng ân sủng Thiên Chúa ban cho .
Cha nói nội khu rẫy Trảng Bom có tới 3 nhà thờ vì mỗi khu làng tân lập đông đúc dân chúa, chưa có Cha khác về thêm, nên Cha phải đi làm Lễ cho cả 3 nhà thờ, thay phiên giờ, bằng xe đạp …mỗi sáng Chúa Nhật .
Trong câu chuyện,có một điều tôi nhớ nhất,
là khi tôi hỏi thăm Cha :
“Thưa Cha, có thoải mái trong sinh hoạt mới không ? Chế độ rao giảng không như ngày xưa”.
Cha ngẫm nghĩ:” Chế độ rao giảng sao lại thay đổi, tất cả mọi chuyện đều là phương tiện thôi, cứu cánh ấy là Chúa Trời mà”.
Nên, đôi khi tôn giáo phải bao trùm tất cả, chính trị chỉ là một phần …nghiệp tu, những bậc chân tu không cần phải đề phòng, mà vâng lời Chúa trong mọi hoàn cảnh …
Tôi ngập ngừng : Thưa Cha , kể cả …
Cha cười hồn nhiên , nhưng quả cảm …kể cả sự chết .
CAO MỴ NHÂN
HÀNH TRÌNH CUỘC ĐỜI
CAO MỴ NHÂN
Nếu quý vị chỉ quen biết nhau có một thời, như là thủa ấu thơ, thiếu niên ở cùng xóm, cùng khu phố .
Thủa thanh niên, cùng đi học, đi chơi, đi hội đoàn, đi làm hay đi buôn bán vv…
Tới thủa cao niên thì đi thăm hỏi, lễ lạc vv…
Tất cả đều bình thường, có gặp lại hay không cũng chẳng thành vấn đề …
Song nếu quý vị quen biết nhau suốt hành trình cuộc đời , nghĩa là từ tấm bé đi lên tới cõi già nua, thì thật có lúc buồn ghê lắm, ấy là ta thấy rõ đời nhau, những thăng trầm, không suông sẻ, thậm chí còn đau khổ, thất bại vv…
Và cái điều không tránh khỏi là cả 2 cùng thấy nỗi bâng khuâng, tàn tạ của nhau lúc về già …
Không phải là người ta sợ già, chán già, vì già thì không còn đẹp đẽ, không còn tươi vui, mà người ta kịp nhận ra rằng chẳng còn bao lâu nữa, mọi người sẽ từ từ khuất mặt ở thế gian này vậy thôi.
Như trên tôi đã trình bầy, thủa thanh thiếu niên, ngoài việc đi học, tôi tham gia rất nhiều hội đoàn …Thoạt thì đi Phật Tử từ tuổi oanh vũ ở Hải Phòng, sau đi Hướng Đạo ở Saigon, rồi vô Caritas, theo đoàn Hội Con Đức Mẹ đi tới các nhà thương chăm sóc bệnh nhân .
Chót hết là tham gia Quân Đội VNCH, trong ngành Công tác Xã hội …
Chưa kể các nhóm nhỏ, hội lớn vv…tôi đều có mặt .
Như vậy, cứ nhìn vào sinh hoạt của tôi, quý vị cũng thấy là tôi sống chan hoà thế, thì số lượng bạn bè …đông đảo lắm chứ .
Do đó, kể từng giai đoạn lui tới bạn bè, hẳn tôi …ôm đồm quá , nên mệt quá, ấy thế mà tôi …thú vị vô cùng trời ạ.
Và vì thế, tôi mới có dịp chứng kiến những phút giây vinh quang cũng như tủi nhục của kiếp người, nhất là thời gian tôi sống trong đại tộc KaKi của…tôi.
Tôi thuộc lòng từng chi tiết một những gì xẩy ra với mỗi cá nhân đặc biệt, hay từng đơn vị nhỏ mà tôi mặc nhiên hiện diện, ở gia đình quân nhân các cấp trong thành phố, ngoài các trại gia binh, hay tới tận cùng núi non, sông biển, đất lở, đồng lụt vv…
Đôi khi không muốn nhớ lại, nhưng những sự việc chưa rời xa lắm, lại hiển hiện trước mắt …cả một quá khứ miên man tiếp nối …cứ khiến mình nhớ thương vời vợi.
Hình như trong lòng tôi, tôi chưa muốn ai phải từ giã cõi đời, nếu như lý luận của quý cụ bị phiền hà, bực bội, thì mỗi lần tôi tỏ vẻ tiếc thương bạn văn cũng như bạn …võ , quý cụ lại chép miệng :
” Chết phải rồi, nếu ai cũng sống, đất đâu mà chứa …”
Sau khi đi tù cải tạo về, tôi tiếp tục lối sinh hoạt của tôi, chỉ có thay đổi nghề nghiệp cũ, là không còn đại tộc KaKi cho tôi bay nhẩy như thủa phục vụ ở Bộ Tư Lệnh QĐI/ QKI.
Nhưng tôi vẫn nay thăm nhà này, mai thăm nhà khác, những gia đình quân nhân các cấp mà tôi được hân hạnh quen biết trước cuộc đổi đời 30-4 -1975.
Đến nỗi tôi chưa cảm thấy đói, lại còn được huynh đệ chi binh hỏi thăm xem tôi đang sống cách nào, mà cứ lạc quan , mặc dầu ông xã tôi qua Mỹ đã ” biệt vô âm tín “.
Tôi và 4 con tôi không thể kể khổ than nghèo được, khi ai cũng biết : ” nhà đó có chồng ở Mỹ, tụi nhỏ có cha ở Mỹ, thì làm sao thiếu thốn được chứ ” .
Rồi đào lý bốn phương, chi lan tỷ muội, tức là bạn văn của tôi, cũng luôn chứng tỏ thơ phú tri âm tri kỷ thân tình …
Tôi than là than theo cái kiểu bình thường, làm lụng nhiều quá thì kêu mệt, tôi khóc là vì bằng hữu hay hỏi thăm những chuyện …bá vơ.
Thế nên tôi bỗng giận ông Thiên quá, ông không để huynh đệ chi binh, đào lý bốn phương tôi được sống an bình, ít nhất mỗi người đủ 100 năm cho đúng tiêu chuẩn ngài Thiên đã ấn định, ông Thiên lại cứ bớt xén một số tuổi tác, bởi cảnh cơ khổ, hoặc bất trắc vì bịnh hoạn hay tai nạn xẩy ra.
Khi tôi 40 tuổi thì quý nữ sĩ trong hội thơ Quỳnh Dao đã gấp rưỡi hay gấp đôi số niên tuế của tôi rồi …
Tôi luôn là cây gậy của nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội khi bà còn ở Úc Viên Saigon. Tôi theo bà đi thăm vị này,vị nọ như quý cụ Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê, Đông Xuyên, Bàng Bá Lân …vv.
Tôi không biết thủa ” phương phì ” ( đương thì ) của quý khách Úc Viên xưa thế nào, chứ thực tại hồi đó, quý vị đã là những lão ông, người thì lụm khụm, người còn phi xe đạp tới nhà nhau bình văn thiên hạ .
Và rồi lần lượt ra đi Tây Trúc khói sương. ..
Nữ sĩ Mộng Tuyết mở album ra, hình ảnh cũ, có cụ Đông Hồ, và vài vị tên tuổi, vẫn còn phong thái ung dung… đã mãn phần.
Nơi album của nữ sĩ Vân Nương hồi đám cưới, chú rề là luật sư Lê Ngọc Chấn tri phủ, sau này làm đại sứ VNCH ở Luân Đôn và Tunisie, nhị vị phù rể là 2 thi sĩ danh tiếng thời tiền chiến: Huy Cận, Xuân Diệu .
Tôi kéo thời gian lùi về hiện đại một thế hệ ( 10-15 năm ), tôi bắt gặp một album của anh họ tôi, đại tá Biệt Động Quân Cao Văn Uỷ, thì nhị vị phù rể là 2 nhạc sĩ ; Nguyễn Hiền và Nhật Bằng tên tuổi ở 2 thời đệ nhất và đệ nhị Cộng Hoà, tới cả khi cùng đi tị nạn ở Hoa Kỳ đầu thập niên 90 thế kỷ trước , anh tôi đại tá Cao Văn Uỷ thì ở Úc .
Nay thì chẳng còn ai trong số quý vị vừa nêu trên … ở cõi đời này nữa.
Tất nhiên rồi, làm sao sống mãi được… vì quý vị đã trên tám , chín mươi trở đi.
Song kể như thế vẫn chưa rõ ý, điều tôi nêu ra, phải có một hình ảnh cụ thể cơ.
Một người lạ, không quen , chỉ biết thôi, vì nếu không biết thì làm sao kể nhỉ ?
Chuyện nhà thơ trung tá Hoàng Ngọc Liên, đối với tôi, thì rõ quá rồi, nhưng khi ông 30, tôi còn mấy năm nữa mới 20 .
Trong suốt thời gian trung niên của thi sĩ Hoàng Ngọc Liên, cùng một loạt văn thi sĩ khác, tôi thấy quý ông hào hoa phong nhã … không kịp thở nữa .
Quý vị ấy cũng sống bận rộn hết mình kiểu như tôi, nhưng sự kiện khác, như Thế Hoài, Hoàng Ngọc Liên bận rộn nơi đoàn quân Mũ Đỏ, rồi văn nghệ lai rai…
Sau 1975 cộng thêm mỗi người 12 năm tù cải tạo. Khi trở về thành phố, mỗi thi sĩ ” lớn” một xe đạp cao hay mini, tuỳ theo gia đình có xe chi thì xài xe đó, nhị vị tới tìm tôi ở Câu lạc bộ Dưỡng sinh… vì tôi về sớm nên đã kiếm ra việc làm huấn luyện viên Dưỡng Sinh rồi .
Thế là chúng tôi đi xơi canh bún bình dân ở vệ đường, vậy mà tôi đòi trả tiền, quý vị không cho …2 thi sĩ tá 5 trước mặt tôi đã bị CSVN bóc hết những gì gọi là phong cách cũ …ngó tội nghiệp lắm .
Nhưng chúng tôi gặp lại nhau, thì tưởng như người nhà thất lạc đã về, nên niềm vui cứ chan hoà .
Như tôi trình bầy trên, ông Thiên chẳng có thì giờ ngó ngàng đến 2 vị thi sĩ đàn anh của tôi, thời gian sau thì Thế Hoài thất lộc bên quê nhà, Hoàng Ngọc Liên qua Mỹ theo diện HO .
Trung tá Hoàng Ngọc Liên lênh đênh trên vài tiểu bang miền đông, rồi qua Sacto lưu lại cũng khá nhiều năm, nay diện bích ở Oregon, với gia đình một trong 2 cô con gái mà ông mang theo được, ông đã bước gần tới cửa thiên đường .
Chao ơi, viết riêng về nhà thơ trung tá Hoàng Ngọc Liên toàn cảnh cuộc đời thì phải …3 tập, 2 cho nhị vị phu nhân, còn 1 cho tất cả hoa hoa bướm bướm quanh ông, cả lúc đương thời danh vọng lẫn khi thất thế .
Mỗi lần kể chuyện đào lý chi lan, tôi thường đi lạc, anh Thân Kính của tôi là một hình ảnh tổng hợp nhiều kiếp nhân sinh gộp lại, khiến tôi không muốn để một kẽ hở nào cho việc than trách sự trống vắng hay thiếu sót bóng dáng những nhân vật, đã có dịp thân thiết trong văn chương hay ngoài cuộc đời mình.
Cuối cùng , tôi có được vốn liếng về thế thái nhân tình ngày nay, là điều tôi rất vui mừng, hạnh phúc, bởi tôi .đã chắt chiu tình cảm của anh trong nhiều hoàn cảnh cuộc đời …tôi giữ lại mãi mãi tình thân thương hiếm quý này …
CAO MỴ NHÂN
THƠ XƯỚNG HỌA LỤC CÚ: Khách Giữa Trời – CAO MỴ NHÂN Và Thi Hữu & THƠ THỔ NGỮ Cao Mỵ Nhân
THƠ LỤC CÚ XƯỚNG HỌA
KHÁCH GIỮA TRỜI
(Xướng)
*
Chim bay sao cánh lại buông lơi Nghe tự thâm tâm giấu những lời Tha thiết, thầm thì, thao thức thiệt Thật thà, thủ thỉ, tưởng tượng thôi Mây đang lãng đãng về xa thẳm Ta cũng như đôi khách giữa trời…
CAO MỴ NHÂN
***
CÁC BÀI HỌA
CHIM TRỜI
*
Chim tạo điệu bay tránh lả lơi Thân hình nhẹ nhõm nói muôn lời Lượn qua lượn lại trông nhàn nhã Xuống thấp lên cao thấy thảnh thơi Bầu bạn không gian luôn khắng khít Tự do tung cánh khắp bầu trời.
MAI HUYỀN NGA
***
HẸN ƯỚC TRĂNG SAO
*
Ngày ấy, câu hò, giọng lả lơi Tiếng ca văng vẳng chưa nhiều lời Bon chen kiếp sống vươn lên nữa Vất vả đời người tránh thiệt thôi Đã hẹn gặp nhau nơi góc biển Mà đi mất biệt chốn phương trời.
TRỊNH CƠ
***
ĐỨNG KÊU TRỜI
*
Hụt hẫng chim về cánh mỏi lơi Mây ra biển đắm bặt im lời Bốn phương gió lộng miền tâm tưởng Một nẻo quê mờ phía núi thôi Sóng dạt năm châu, thuyền cặp bến Không chân trụ điện đứng kêu trời.
LÝ ĐỨC QUỲNH
***
PHÚT CHIA LY
(Lục vỹ đồng âm)
* Đôi chim quạt cánh chập chùng lơi
Đón phút chia ly mới nghẹn lời
Tức tưởi, tình tan, tiều tụy tới
Tái tê, tụ tán, thảm thương thôi
Gió chia đồng cảm ngừng không thổi
Nắng loé buồn che một góc trời
* Phương Hoa
THƠ THỔ NGỮ. – CAO MỴ NHÂN
*
Cả nước là thi sĩ
Nên em cũng làm thơ
Có chi mà ngại nhỉ
Chỉ cần chút mộng mơ
*
Từ thôn quê ra tỉnh
Từ đồng bằng lên non
Tưởng ngôn từ lỉnh kỉnh
Hoá chữ nghĩa dập dồn
*
Anh bảo rằng thổ ngữ
Đẹp như núi, như sông
Người ở hai thành phố
Đọc thơ nghe mênh mông
*
Bao nhiêu câu vần điệu
Em đã viết ra lời
Nhưng vẫn còn túng thiếu
Giọng nói, nàng thơ thôi
*
Ông bà xưa la mắng
Bằng ví von ca dao
Dân tộc ta không vắng
Lời hò hẹn xôn xao
*
Thế nên …toàn thi sĩ
Trong nhà, hay ngoài đường
Dẫu nam nữ già trẻ
Thốt ra đều vấn vương…
*
CAO MỴ NHÂN (HNPD)
CHÙM TÌNH THƠ Cao Mỵ Nhân & Bài Viết “Ở MỘT GÓC PHỐ”
PHÚT TỪ LY CỦA XÃ ĐOÀI. CAO MỴ NHÂN
*
Tôi còn nhớ
Ngày Xã Đoài về phương tây
Có con chim cú mầu hoàng kim rực rỡ
Đậu trên ngọn cây
Thả rơi tiếng kêu
Xót thương người tình lỡ
*
Một bầy quạ mặc áo choàng đen
Hót lên lời sầu muộn
Sau lễ nửa đêm
Xã nằm cô đơn nghe chuông cầu nguyện
Không có ai thân quyến
Không có ai bạn bè*
*
Giờ khắc tử sinh
Tôi co mình trong mộng mị
Xã nhớ tôi không nhỉ
Chắc chắn gọi tên ” Mỵ ”
( Em ở đâu
Sao không đến bên nhau )
*
Ôi, ” mối tình đầu “
Hay giây phút cuối
Lỡ cuộc tình sau
Say mê, đắm đuối
Xã Đoài về phương tây
Đôi mi khép che nỗi buồn tiếc nuối …
*
Hawthorne 22 – 4 – 2022
CAO MỴ NHÂN
BẤY NHIÊU THÔI. CAO MỴ NHÂN
*
Mới sớm tinh mơ
Bầy chim sẻ ngủ ở đầu hồi đêm qua
chưa thức giấc
Vị sư công phu đã lên đường đi hành khất
Trên bình bát để cuốn pháp ký
” Có bấy nhiêu thôi “
Của Ngài Kim Triệu Khippapanono.
*
Tôi là một Phật Tử tình cờ
Chưa bao giờ tụng hết một cuốn kinh mỏng
Chỉ chúi đầu vào những tập tình thơ
Nên cứ băn khoăn dòng chữ :
” I will go with you ” cả đời tôi đơn lẻ
Làm sao có chuyện đồng hành
Nên chỉ muốn đi bên cạnh anh
*
Đi bên cạnh anh
Nhưng anh đang định đi tu
Thì anh cứ việc đi tu
Cứ suy nghiệm bao lý đạo, tình đời
Anh đã có pháp danh là ” Thích Tuyệt Vời ”
*
Tôi rời khỏi đường tu
Nơi trồng toàn hoa vô ưu tưởng tượng
Ngắt đọt lá xanh rờn
dưới tàng cây cao ngất
Nghe lời kệ ” Có bấy nhiêu thôi ”
Vâng, tôi cũng chỉ viết được
Có bấy nhiêu thôi …
*
CAO MỴ NHÂN
KHI HOA ĐÀM NỞ. CAO MỴ NHÂN
*
Bao giờ khói tản đồi mơ
Sương tan dưới lũng, cho thơ mộng về
Tình rồi cũng hết u mê
Gió tha phương cuốn lời thề lên cao
*
Bấy giờ trăng bỏ muôn sao
Cô đơn trôi giữa chiêm bao đất trời
Cây trường sinh suốt cuộc đời
Không hề rụng lá, hoa vời nguyệt tan
*
Thế rồi hồn lịm than van
Thoắt chơi vơi giữa hoang tàn mênh mông
Sô tang gói chặt phiêu bồng
Đưa chân tri kỷ, tiễn hồng nhan đi
*
Ôi chao tử biệt, sinh ly
Là thôi, trả lại từ bi cho người
Ma ma Phật Phật, nụ cười
Đoá ưu đàm nở trên môi muộn màng …
*
CAO MỴ NHÂN
Ở MỘT GÓC PHỐ. CAO MỴ NHÂN
Ông với tôi đúng là một cặp chị em không biên giới, bởi vì nếu đem 2 tờ giấy khai sinh ra đo, rõ ràng chúng tôi không cùng cha mẹ, ông họ Nguyễn, tôi họ Lê, tôi tên Lê Thanh Quỳnh Phương, tạm gọi thế.
Ông nhỏ thua tôi mấy tuổi chả biết, song chẳng cần nhỏ lớn, xã giao thôi, tôi đã giữ vai chị là cái chắc rồi .
Nhưng ngoài những điều nêu trên, đứng giữa cuộc đời, tôi chẳng thể nào làm chị ông được.
Chỉ cần nhận định một số việc từ đơn giản đến phức tạp, ông đã chẳng ngang hàng, mà vượt lên cao, có lẽ gấp …nhiều lần tôi lắm, trong tất cả mọi vấn đề .
Sự kiện không khiến tôi mắc cở, ganh ghét hay vân vân gì khác, mà tôi còn cảm thấy hãnh diện là khác.
Nếu trong võ lâm cổ điển, tôi sẽ xưng tụng ông là ” hiền đệ ” để xoa dịu tự ái của cả hai “chị em” , nhưng đang trong thế giới văn minh, khoa học thế này, rõ ràng ông đáng bậc thầy tôi về kiến thức và phẩm chất phong thái, tính tình .
Nên nếu đúng ra mà nói ông có tư cách của một người …chủ soái .
Song đôi khi tôi mến mộ ông quá, lại gây cho ông những phiền toái tầm thường, mới đáng tiếc.
Và tôi sợ hãi không dám nghĩ thêm, đừng nói viết thêm .
Tôi đã thực sự mất hút một cánh chim trời viễn mộng lâu năm, tôi bỗng giận tôi ghê gớm.
Chao ôi hình ảnh con gà nuốt giây thung là tôi, cảm giác tự mình bức hại mình dù vô tình.
Tôi tìm hũ đậu vàng mà thủa tôi hạnh ngộ nhà báo, bình luận gia tên tuổi lão thành Như Phong Lê Văn Tiến vừa xong tù cải tạo chính trị ở vncs, qua Hoa Kỳ năm 1994, tặng cho tôi.
Sau khi nhà báo lịch duyệt trên, hỗ trợ tôi một vòng đi nói chuyện về ” Dòng Thơ Trong Tù ” nhân dịp bạn lính Cao Mỵ Nhân ra mắt cuốn tạp ghi ” CHỐN BỤI HỒNG ” vào mùa hạ năm 1994 ở San Jose và San Diego .
Hũ đậu vàng đơn điệu, mỗi ngày tôi bỏ vô hũ một hột đậu vàng, kiểu 2 hũ đậu trắng, đen mà người xưa khuyên : Mỗi ngày bỏ vô hũ một hột đậu trắng là đã làm được việc tốt, bỏ vô hũ một hột đậu đen là lỡ làm chuyện xấu .
Cứ ngó vào số đậu trong hũ là rõ mình trắng đen ra sao .
Nhà báo quá cố đó dặn tôi : Nếu chơi hai mầu đen trắng, vẫn có thể gian dối với mọi người và ngay với chính mình .
Còn hũ đậu vàng thôi, như là tự chế ngự nếu đầu óc manh nha làm điều không tốt, hoặc hạn chế những điều không tốt ấy , đánh giá theo yếu tố thời gian.
Như vậy phải bao lâu mới đầy hũ đậu vàng chứ .
Song le, nào có cần chế ngự vv…đâu, khi được thoải mái tự do, con người ta dễ tha thứ cho mình lắm.
Tôi đã bỏ quên hũ đậu vàng quá lâu, nên hôm nay tìm thấy, tất cả hũ đậu đã mọt, tôi đổ vô thùng rác .
Ngồi buồn lại mở báo chí gần xa ra đọc. Không biết ai đã viết vào sổ ghi chép của tôi câu ” Loạn độc thư cao ” .
Thì đúng rồi thời loạn mà đọc sách thì cao giá trị con người ,
” Vạn ban giai hạ phẩm, duy hữu độc thư cao ” .
Chu choa, mọi sự đều thấp kém, chỉ có đọc sách mới cao thượng.
Ông có cách xử thế bình tĩnh, đầy sức ” thuyết phục “, chẳng có chi làm khó bà chị cả …
Đó chỉ là công chuyện bình thường, cần và nên thay đổi chút cho sự việc ở đời lúc nào cũng mới mẻ, tân tiến dễ thành công.
Thay vì làm chị thân thương trong đại tộc nào đó, cũng đòi hỏi lòng vị tha, mới có thể em em, chị chị được chứ .
Tôi có vẻ không vui lắm, tai bỗng ù lên, loáng thoáng nghe được câu : ” chị nói như dỗi ” . Đúng rồi, rõ ràng tôi ru tôi vào cảnh dỗi hờn vô lý nhất .
Chẳng có gì lạ, đối với phụ nữ, thiếu nữ thì đã đành, phụ lão có lúc cũng như trẻ con, tôi ngồi thừ khi ” người em ” đã biến dạng trên đường giây đàm thoại.
Tại sao tôi dở thế ? Không phải dở đâu, mà vì được ưu đãi quá, nay bị hụt hẫng một chút thôi, cứ nghĩ là không vẹn tròn .
Vài hôm sau tôi bình tĩnh lại, tôi lên một cơn cười thú vị, tôi vui tươi thực sự, bình thản thực lòng , tôi viết thư cho người bạn ở xa tít mù xa .
Người bạn xa tít mù xa của tôi lúc nào cũng lặng lẽ, nhưng ông ta sẽ xử dụng ” văn chương ” hồi âm tư tưởng hay là suy nghĩ của tôi thì đúng hơn .
Vị bạn võ lâm trong phong cách tiêu dao đã lần lần kéo tôi ra khỏi đám mù sương, khiến tôi phục quá .
Có phải chúng ta lớn quá rồi , như trái chín sắp vỡ, hay sắp rụng, chúng ta chỉ còn thì giờ ngắm …thành quả thôi, không nên gọi gió lớn gây mưa bão .
Tôi sợ quá, sợ thực sự thời gian dồn dập đến, không còn kịp nở nụ cười bầy tỏ lòng thương yêu chân chính, thành thật .
Nỗi khó không phải ở tha nhân nhìn về, mà khó vô cùng từ chính chúng ta không hiểu rõ chúng ta, rất hồn nhiên, vô tư .
Tôi thầm lặng nhớ nhung anh, và thiếp đi trong giấc ngủ vừa kịp tới .
CAO MỴ NHÂN
THƠ: XOÁ HẾT QUAN SAN – CHỦ NHẬT- KIẾP NÀY – MÙA NÀY – Cao Mỵ Nhân
XOÁ HẾT QUAN SAN. CAO MỴ NHÂN
*
Cuối tuần, em đi tìm anh
Không gian mở rộng, trời xanh, mây vàng
Tháng ngày tình tự mơ màng
Bước chân trên những lỡ làng, lẻ loi
*
Bao la trước mặt núi đồi
Mênh mông biển nghiệp luân hồi sau lưng
Chuông vang âm vọng ngập ngừng
Cánh chim bay chậm, thả từng tiếng rơi
*
Trái tim đập nhịp tuyệt vời
Tìm anh tận cuối phương trời này sao
Nhưng thơ chưa viết nghẹn ngào
Thì anh đã tới, lời chào đắm say
*
Cuối tuần vui trọn hôm nay
Hoa nhung nhớ nở trên tay chưa tàn
Anh cười xoá hết quan san
Trao em tất cả muộn màng yêu thương…
*
CAO MỴ NHÂN
*
CHỦ NHẬT. CAO MỴ NHÂN
*
Anh hỏi một câu nghe rất lạ
” Thăm em, Chủ Nhật, có nên không ? “
Đường đi chắc hẳn chưa xa quá
Thì chớ hồ nghi khách má hồng
*
Tuần trước, tại em cho lỡ hẹn
Tuần này anh giữ vẻ phân vân
Tuỳ anh, muốn đến hay không đến
Hay muốn từ đây thành cố nhân
*
Cũng được, bởi vì em đã nói
” Nếu không thích nữa, sẽ chia xa ”
Có chi ràng buộc mà anh ngại
Chủ nhật này, em lại vắng nhà …
*
CAO MỴ NHÂN
**
KIẾP NÀY. CAO MỴ NHÂN
*
Anh nói với em :
” Cho xong một kiếp người ”
Vâng, cho xong đi nhé
Đời sau mình rong chơi
*
Em đã khóc nấc lên
Đời này chưa tròn vẹn
Kiếp khác làm sao quên
Anh ngập ngừng gọi khẽ : ” Em ”
*
Dặn dò rồi như thế
Hẹn hò có chi hơn
Vẫn thở dài, nước mắt
Vẫn u sầu, van lơn
*
” Anh đừng nói gì trơn
Em quê mùa, dốt nát …”
Em không cần đời khác
Kiếp này thôi, yêu em …
*
CAO MỴ NHÂN
**
MÙA NÀY. CAO MỴ NHÂN
*
Mùa này trời sáng lâu
Không phải mùa lâu sáng
Anh bây giờ ở đâu
Đầy trời mây lãng đãng
*
Em ngó về phương nam
Đan Hồ vương khói biếc
Thấy cánh chim lang thang
Bay ngang rừng hoa tím
*
Nhưng thu còn ở xa
Đợi người tình không đến
Lá chưa vàng bao la
Rơi trên đường đưa tiễn
*
Mùa này trước bình minh
Bầy quạ đen thức giấc
Chúng kêu lên rối tinh
Họp đàn rồi bay mất
*
Mùa này anh và em
Mỗi người một thiếu thất
Cùng chờ mặt trời lên
Cùng cô đơn chất ngất …
*
CAO MỴ NHÂN
**
Mừng Lễ Phục Sinh 2022! (Happy Easter!) LÊ VĂN HẢI – VAI NẶNG TÌNH ĐỜI . Thơ: CAO MỴ NHÂN – Lê Tuấn
Chủ Nhật Tuần Này: Mừng Lễ Phục Sinh 2022! (Happy Easter!)
Niềm Tin Phục Sinh Công Giáo:
Giáo Hội Công Giáo, Chủ Nhật tuần này, là (Easter Sunday!) tất cả Con Chiên của Chúa khắp nơi trên toàn trái địa cầu, hân hoan cử hành Mầu nhiệm Phục Sinh. Phép lạ Phục Sinh của Đức Kitô là Tín Lý, nền tảng và cao cả nhất của Đức Tin người Kitô Hữu. Nếu Chúa không Phục Sinh, tất cả niềm tin khác trở thành vô nghĩa.
Đối với tất cả con người trần thế, thì ngôi mộ là điểm tận cùng của một kiếp người. “Tro bụi sẽ trở về bụi tro!” Nơi đây, dưới ba tất đất, vua cũng như dân, bậc anh hùng cũng như kẻ cướp, người hiền cũng như người ác, quyền quý cũng như kẻ nghèo khó, tất cả đều phải vùi mình xuống, mục nát thối đi và trở về với đất! Thần chết sẽ là vua tất cả!
Nhưng người Công Giáo tin rằng: Bằng cuộc Vượt Qua của chính mình, Chúa Giêsu đã bật tung cửa mồ sống lại! Người độc nhất, đẩy lùi quyền lực sự chết đã và đang bao trùm thế giới.
Người biến ngôi mộ là điểm cuối của đời người, trở thành cửa ngõ dẫn vào cõi trường sinh! Biến đau thương của sự chết, thành niềm hoan lạc của ngày Phục Sinh! Để khi chấm dứt đời sống trên trần thế, cùng “hẹn nhau trên nước Trời!” Biến ngày cuối của kiếp sống trần gian, trở thành ngày thứ nhất hưởng niềm hoan lạc trong đời sống mới.
Như vậy, để có được sự sống mới, chúng ta phải dứt khoát từ bỏ con người tội lỗi cũ, để trở thành (phục sinh) con người mới với tâm hồn thanh sạch thực thụ. Muốn thế, phải “bỏ hết mọi sự, vác Thánh giá mà theo Ta!” Có như vậy mới xứng đáng là Môn Đệ của Người.
Người Công Giáo mừng Đại lễ Phục Sinh hôm nay, để cùng dâng lên Thiên Chúa lời chúc tụng, ngợi khen và cảm tạ vì tình yêu vô biên của Thiên Chúa. Ngài là Vua của Tình Yêu, đã ban cho con người Đứa Con duy nhất Chí Ái của Ngài, chịu chết, đóng đinh trên cây Thập Giá để cứu độ trần gian.
Đồng thời, xin Thiên Chúa củng cố đức tin con cái Chúa trong đêm Canh thức Vượt Qua, để mọi người nhận ra sự đau khổ ở đời này, có giá trị thanh luyện và chuẩn bị cho đời sống vĩnh cửu với Ngài mai sau.
Trong niềm tin “xin thì sẽ được, gõ thì sẽ mở!” những người con của Chúa cầu xin:
-Đức Kitô sống lại đã chứng tỏ tình yêu mạnh hơn sự chết. Nơi nào có tình yêu, nơi đó có Thiên Chúa! Đại lễ Phục Sinh như một lời nhắc nhở con người chúng ta hãy vững tin vào quyền năng của Thiên Chúa. Nhất là trong hoàn cảnh hiện nay, khi nhân loại đang phải đối mặt với cơn đại dịch toàn cầu, chiến tranh có nguy cơ bùng nổ tàn phá khắp nơi. Đời sống văn minh, khoa học tân tiến, đòi thay quyền tạo hóa, bóp chết sự sống (phá thai), đang làm nhiều người quên hẳn hình ảnh Ngài. Gạt Ngài ra khỏi đời sống, chối bỏ Ngài!
-Nhưng con cái của Chúa tin rằng, tai ương dịch bệnh, thảm họa thiên tai, chiến tranh chết chóc, đau thương khốn khổ, những thứ đó giúp con người nhận ra giá trị cao quý của tình yêu tha nhân, là hình ảnh của Thiên Chúa.
Xin Chúa ban ơn lòng ngay, thiện tâm, luôn có lòng nhân từ, quảng đại, sẵn sàng chia sẻ cơm áo và đóng góp một phần trách nhiệm giúp tha nhân trong lúc khó khăn hoạn nạn, nhất là những nạn nhân chiến tranh Ukraine trong những ngày gần đây.
Để Mùa Phục Sinh năm nay trở nên có ý nghĩa hơn bao giờ hết. Như giới răn ngài dạy: “Kính Chúa, Yêu Người!” Thật ra chỉ là một! Đó mới chính là ơn cứu độ, ý nghĩa trong Ngày Lễ Phục Sinh 2022!
Nhóm Mõ Nhân Ái Và Đoàn Du Ca Bắc Cali Mang Không Khí Mừng Lễ Phục Sinh 2022 Đến Với Khách Không Nhà! (Homeless!)
Tuần này, Chủ Nhật, ngày 17 tháng 4, là Ngày Lễ Phục Sinh. Lễ này của người Công Giáo, tưởng niệm Chúa chịu chết và mừng Chúa sống lại. Nhưng nay lễ này, đã được mở rộng, ra khỏi phạm vi tôn giáo, ai cũng có thể mừng. Giống như ngày Lễ Giáng Sinh.
Trong tinh thần coi những người Không Nhà như người trong Gia Đình. Thực hiện lời của Chúa: “Phúc thay cho những ai, Ta đói đã cho Ta ăn! Ta khát đã cho Ta uống, Ta trần truồng đã cho áo mặc!” Sáng Thứ Sáu vừa qua, ngày 8 tháng 4 năm 2022. Trong bữa cơm phục vụ 2 ngày trong tuần. Sau khi Khách đã thưởng thức dĩa cơm kho gà cà rị nóng hổi, với ly trà, ly cà phê ấm buổi sáng xong. Người Homeless còn được hưởng không khí một sinh hoạt vui chơi độc đáo mừng Lễ Phục Sinh! Mang nặng ý nghĩa Bác Ái “thương người như chính thân mình!” như lời Chúa dậy.
Khách không nhà lộ vẻ vui mừng thấy rõ trên từng khuôn mặt, khi nhìn thấy không khí sửa soạn bữa cơm khác với những ngày thường. Khăn bàn bày thức ăn, hôm nay được phủ mầu đỏ vui tươi. Trong khi dùng bữa, khách còn được thưởng thức những bài ca rộn ràng, vui tươi đầy tình người. Do các Anh Chị trong Đoàn Du Ca Bắc Cali giúp vui. Hàng chục Anh Chị mặc đồng phục trang trọng, tiếng đàn tiếng hát, rạo rực lòng người! Rất nhiều Khách lộ vẻ ngạc nhiên: “Tôi chưa bao giờ nghe những bài hợp ca hay như thế! Ban hợp ca tuyệt vời quá!”
Sau bữa ăn, Khách đứng thành hàng dài, để lãnh thực phẩm khô và ít vật dụng mang về, ai cũng được các Anh Chị trong đoàn Du Ca tặng thêm 4 trái trứng Phục Sinh! tượng trưng cho ngày lễ. Biết trong mỗi trái trứng có tiền mặt, ai cũng vui mừng!
Không khí trở lên sôi động thấy rõ, với 10 phần thưởng, cho tiết mục Xổ Số lấy hên. Vì mục này chơi nhiều lần, ai cũng biết người trúng, ngoài phần quà, còn có kèm theo một số tiền mặt khá lớn! Nên ai cũng háo hức, cầu mong mình là người may mắn.
Một người trúng số, đã ôm anh Hải, trưởng nhóm, tâm sự: “Chỉ có Nhóm Mõ Nhân Ái mới thương những người Homeless chúng tôi như thế. Không có nhóm nào có những tình cảm thân thiện, đầy tình người như vậy cả. Mang cho chúng tôi, không bao giờ thiếu không khí vui mừng an ủi bất cứ ngày Lễ đặc biệt nào trong năm. Mà đâu phải một năm không thôi, kéo dài biết bao nhiêu năm nay. Chúng tôi rất vui sướng hạnh phúc khi có các Anh Chị luôn luôn ở bên. Happy Easter Day!”
Được biết, Nhóm Mõ Nhân Ái, là Nhóm vui buồn, sống chết với người Homeless bền bỉ nhất trong vùng San jose. Trong tinh thần chỉ biết hăng say phụng sự, năm nay đánh dấu năm thứ 28! Điều đặc biệt hơn nữa, Nhóm không nhận bất cứ một cắc nào tài trợ từ chính phủ. Tất cả đoạn đường 28 năm, đi được là nhờ từ những tấm lòng giúp đỡ của Quý Ân Nhân và Quý Hội Đòan trong vùng tiếp tay mà thôi.
“Bình an dưới thế cho người thiện tâm!” Chính vị mục đích vô vị lợi, “chia cơm, sẻ áo” với những người xấu số! bất kể sắc tộc, mầu da! Nên đã được rất nhiều Quý Ân Nhân ẩn danh giúp quỹ, nên không bao giờ thiếu tài chánh phục vụ cả! Cứ hết thì…lại có! Mà đâu phải một năm, mà kéo dài đến…mấy chục năm nay!
Đây cũng là một phép lạ! (Như phép lạ, 5 cái bánh và 3 con cá, mà Chúa chúa đã làm) Không ai nghĩ là có thể thực hiện được và kéo dài như thế!
Nhân Lễ Phục Sinh, kính chúc Quý Ân Nhân đã góp tay quý báu, để chương trình giúp đỡ Homeless trường tồn. Được mọi Ơn Lành từ Trời Cao. Thượng Đế sẽ không quên những hành động cao đẹp của Quý Vị, giúp đỡ những mảnh đời khốn khổ, không may. Như Người đã hứa “dù tặng một cốc nước cho những người đói khổ hèn mọn, thì cũng đã được ghi công!”
Thay mặt những người Homeless được giúp đỡ, Xin chắp tay Chân Thành Cảm Tạ.
Chúc Mừng Lễ Phục Sinh 2022!
VAI NẶNG TÌNH ĐỜI. CAO MỴ NHÂN * Mặt trời ngày Phục Sinh Mầu hoàng kim rực rỡ Cuộc tình đang hồi sinh Giữa mây vàng bỡ ngỡ * Chúa về gọi yêu thương Khi hồn em tan nát Lá cọ hoang tơ vương Từng sợi sầu bát ngát * Mặt trời vút lên cao Nửa kiếp người chìm khuất Núi mùa xuân xôn xao Dấu chân này sẽ mất * Vai mang nặng tình đời Bước theo Đường Thánh Giá Thôi em bỏ cuộc chơi Thành xưa khô lệ đá … * CAO MỴ NHÂN (HNPD)
Tin mừng Chúa đã phục sinh Tay chân đinh đóng, nhục hình vượt qua Trời rực sáng ngày thứ ba Hang sâu mộ địa chan hoà nắng xuân. * Chúa bước ra khỏi mộ phần Hào quang rực rỡ trong thân xác người Thiên Chúa nở một nụ cười Phước cho ai không thấy người mà tin. * Hãy đón nhận đức thánh linh Chúa tha thứ hết tội tình thế gian Muôn người hưởng phúc bình an Tình yêu Thiên Chúa ngập tràn hương hoa. * Lê Tuấn Mừng Thiên Chúa Phục Sinh Sunday 04-17-2022
CHÙM THƠ CAO MỴ NHÂN & Các Bài Viết: “Từng Mảnh Chiều Rơi”-“NÂNG NIU TÌNH BUỒN”
THÁNH CA. CAO MỴ NHÂN
*
Tôi có niềm vui hát Thánh Ca
Tâm tư bay bổng tới Ngân Hà
Hình như đôi cánh Thiên thần mở
Cứ mỗi năm buồn một xót xa
*
San sẻ cô đơn với tuyệt cùng
Nhìn ra bát ngát, thấu không trung
Hình như bóng Chúa mơ hồ đó
Vừa thoáng đâu đây, đã mịt mùng
*
Thánh nhạc mênh mang, theo gió bay
Vượt trần gian, lên vút trời mây
Chúa ơi, nước mắt như mưa nhẹ
Chúa ở trong tim, cảm xúc đầy
*
Khúc hát lênh đênh, lãng đãng trôi
Chơi vơi, thanh thoát, Chúa muôn đời
Trước, sau, mãi mãi nguồn vô tận
Nhân ái, thương yêu, ấm nụ cười…
*
CAO MỴ NHÂN
VAI DIỄN. CAO MỴ NHÂN
*
Thưa anh, mưa nắng qua rồi
Gió mùa đại dịch chưa thôi loạn cuồng
Bây giờ giữ mảnh hồn suông
Để năm tháng đóng hết tuồng thế nhân
*
Kịch đời nào cũng phù vân
Phân vai em, Thượng Đế cần hỏi anh
Rằng sao lệ tủi long lanh
Bởi em chỉ muốn trở thành người yêu
*
Đã đành vai được nuông chiều
Nữ lưu kiều mị với nhiều kiêu sa
Nhưng em lại vẫn xót xa
Vì anh vẫn cạnh người ta xum vầy
*
Gió mưa chưa hết kiếp này
Kịch đời chưa dứt tháng ngày khổ đau
Trên cao, Thượng Đế buồn rầu
Phân vai em, đợi đời sau đẹp tình …
*
CAO MỴ NHÂN
THỨ SÁU. CAO MỴ NHÂN
*
Thứ sáu, ngày Chúa vong thân
Đã không bén mảng tới sân Nhà Thờ
Lại còn hò hẹn người thơ
Là hôm nay rảnh, tha hồ ghé chơi
*
Thưa rằng: Có chuyện gì vui
Đem Kinh ra đọc, hay ngồi nghe Thơ
Tại sao không đến nhà thờ
Xin Cha: xưng tội bây giờ mới yêu
*
Thì thôi mai sớm trưa chiều
Tóc em buông thả những điều nhớ nhung
Cúi mình tạ khắp không trung
Đôi tay Chúa đã giải mông mênh tình
*
Phép Trời vạn sự hồi sinh
Niềm tin vĩnh cửu thượng đình cao xa
Chúa từ bát ngát, bao la
Về bên cạnh mỗi chúng ta nguyện cầu…
*
CAO MỴ NHÂN
NẾU ANH. CAO MỴ NHÂN
*
Nếu anh nói nhỏ một lời
Rằng khuya nay sẽ tới mời em …vui
Thì em đã chẳng ngậm ngùi
Là không gặp Đấng Thánh Trời ghé qua
*
Nếu anh biết được anh xa
( Nhưng em vẫn tưởng anh đà quanh đây )
Đúng rồi, anh vẫn quanh đây
Trong thơ sầu mộng, em say đắm tình
*
Hôm qua lễ trọng Phục Sinh
Sao em lại ngủ khi mình buồn đau
Nếu anh biết được tình sau
Của em, là chính tình đầu đó thôi
*
Bây giờ thức giấc đơn côi
Thiếu anh, trống vắng đêm rồi ngày sang
Sáng nay em giận thời gian
Nếu anh đến sớm, em càng yêu hơn …
*
CAO MỴ NHÂN
VAI NẶNG TÌNH ĐỜI. CAO MỴ NHÂN
*
Mặt trời ngày Phục Sinh
Mầu hoàng kim rực rỡ
Cuộc tình đang hồi sinh
Giữa mây vàng bỡ ngỡ
*
Chúa về gọi yêu thương
Khi hồn em tan nát
Lá cọ hoang tơ vương
Từng sợi sầu bát ngát
*
Mặt trời vút lên cao
Nửa kiếp người chìm khuất
Núi mùa xuân xôn xao
Dấu chân này sẽ mất
*
Đôi vai nặng tình đời
Vác theo Đường Thánh Giá
Thôi em bỏ cuộc chơi
Thành xưa khô lệ đá…
*
CAO MỴ NHÂN
Từng Mảnh Chiều Rơi -CAO MỴ NHÂN
Tôi đang ngồi trong căn phòng quen thuộc, ngắm hình ca sĩ Thái Thanh, người có giọng hát vượt thời gian như nhà văn Mai Thảo nhận xét, thì chiều đổ ập xuống…
Có phải chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn không mà âm hưởng bài thơ Cảnh chiều hôm của Bà Huyện Thanh Quan khi đi võng qua đèo Ngang để vô kinh thành Huế dạy con vua cháu chúa triều Nguyễn cũng khiến mình vương chút sầu tư…
Ca sĩ Thái Thanh đang ở viện dưỡng lão X quận Cam, Nam Cali. Bà nhìn sâu vào không gian trước mặt, giờ này, cũng một buổi chiều, để thấm ý hai câu kết bài thơ Cảnh chiều hôm:
Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn…
(Bà Huyện Thanh Quan, 1805 – 1848)
Cứ xem như tư gia của ca sĩ Thái Thanh là chốn Chương Đài, còn ca sĩ đang là người lữ thứ ở viện dưỡng lão X, con cháu bận rộn công ăn việc làm không thể thường xuyên thăm viếng nên nỗi hàn ôn phải tâm tình cùng bạn viện thôi.
Văn nghệ sĩ Việt Nam lưu vong cũng đã như một nếp gấp văn hoá địa phương lâu rồi… Tôi chỉ kể về quý vị mà tôi hoặc quen hoặc biết, theo thứ tự thời gian:
Nhà văn quân đội Phạm Huấn, nhà thơ Hoàng Anh Tuấn. Nhị vị ở viện dưỡng lão Z trên San Jose và đã qua đời ở viện cũng đã lâu rồi.
Nhà văn Linh Bảo, hiền tỷ của nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh, ca sĩ Thái Thanh, hiền mẫu của danh ca Ý Lan. Nhị vị đang bình thường tại viện dưỡng lão X, Nam Cali.
Buổi chiều thì ở đâu cũng buồn, nhưng ở viện dưỡng lão hay nhà thương thì càng buồn hơn.
Không biết có khi nào ca sĩ Thái Thanh một mình nằm hay ngồi trong viện X nghe lại chính giọng ca của mình…
Giọng hát đã băng qua cả một bề dày năm tháng…
Thủa nữ nghệ sĩ diễn ngâm Hồ Điệp còn tại thế, trước khi mất tích trên đường vượt biên năm 1987, bà cùng ái nữ cư ngụ tại biệt thự Mả Đá trong khuôn viên tư thất cụ thi sĩ Văn Giai nhượng lại một phần.
Biệt thự Mả Đá toạ lạc tại đường Phan Xích Long, trước cửa nhà máy điện quận Phú Nhuận, Sài Gòn.
Mỗi buổi sáng nơi bộ bàn ghế cẩn xà cừ kê ở hàng hiên biệt thự lại có ba vị tao nhân, mặc khách đàm đạo thi ca gồm quý cụ thi sĩ Văn Giai chủ nhân, thi sĩ Trần Lữ Vũ mới từ trại tù cải tạo ra và nghệ sĩ danh ngâm Hồ Điệp hội ẩm.
Cả ba vị tao nhân, mặc khách đều lặng lẽ nghe giọng ngâm Hồ Điệp từ băng thơ Hồ Điệp vẳng lên chơi vơi, mênh mông…
Thỉnh thoảng có dịp tìm thăm chị, cánh bướm của trời thơ trữ tình, lãng mạn, tôi lại gặp ba vị nêu trên ngồi thả hồn theo tiếng sáo Tô Kiều Ngân, tiếng đàn mệ Bửu Lộc, giọng Hồ Điệp ngâm nga trong những cuốn băng thơ bồng bềnh, dư âm vang xa vời vợi tình buồn…
Sự kiện khiến tôi liên tưởng tới hoàn cảnh văn nghệ của những ai lỡ mang tâm hồn mẫn cảm sau này…
Tôi cũng có những kỷ niệm hết sức âm thầm nhưng vô cùng mê đắm, tưởng như một phần đời mình đã đóng băng kiên cố trong tình nghĩa huynh đệ chi binh hiện nay ở sân chơi dành cho lính mà tôi thường thấm ý khoe với bạn bè về nơi vườn tình ấm áp ở phương Nam…
Tất nhiên thời gian không biệt lệ cho ai, dẫu có là vua thần thoại trong cổ tích Mỗi ngày một chuyện đi nữa, và dù có cố gắng tưởng tượng thêm nhiều tình tiết cho thật kỳ ảo, tôi vẫn phải ngồi lặng lẽ ngó từng mảnh chiều rơi trước mắt những khách tình si ưa thả lỏng tâm tư theo tơ vương thần thoại…
Buổi chiều… sao trong lòng hạnh phúc thế mà vẫn không thoát được nỗi buồn nhỉ?
Đó là chuỗi thở dài của tháng năm bất tuyệt…
Anh có chiều chuộng mình như nâng niu trứng mỏng, mình vẫn chan hoà nước mắt khóc… tình thơ!
Ô hay, tình thơ lưu ly như ngàn vạn hạt kim cương lấp lánh, chiếu rực rỡ những trái tim tha thiết luyến thương nhau…
Ở đây không ai trong chúng ta phải ở chốn Chương Đài, cũng không khiến người nào giữa huynh đệ phải lang thang nơi lữ thứ, vì chúng ta đang trong hạnh ngộ tình thương…
Cho tới thời gian nào chúng ta buộc phải nhìn nhau qua ký ức, ấy là chuyện kể trăm năm đã hết…
Đó là dấu tích kỷ niệm muôn đời vẫn mãi còn nếu muốn đi tìm hình ảnh hôm nay… từng mảnh chiều rơi bên những người tình muộn.
CAO MỴ NHÂN
NÂNG NIU TÌNH BUỒN. CAO MỴ NHÂN
Đã mệt mỏi quá rồi, tôi đi tìm cái nghĩa vẹn toàn của cuộc sống.
Chỉ cần là lý tưởng, chỉ cần là học thuyết, và mãi mãi là trừu tượng thôi, nào muốn gì hơn.
Không nói là tràn đầy, là dư thừa, chỉ mong được anh chia sẻ cho một chút tin yêu cuộc sống, cho đời mình vui vẻ bình thường…
Anh cũng biết vậy, nhưng anh im lặng, anh xa cách, anh trầm thống theo ý anh, cái bản chất cố đô vương giả, không muốn dứt niềm đau ra khỏi cuộc đời mình.
Một trăm chuyện tình nghệ sĩ, gần như đủ một trăm nỗi ưu tư, sầu tủi được đẩy qua người mang tâm hồn khốn khổ vì yêu thương kẻ đối diện, chứ có bao giờ khách được hay bị yêu phải khổ đâu.
Là tôi đang quan sát tình đời thôi. Và cũng chẳng để làm gì, khi thời gian không còn đủ cho mình say đắm chan hoà ân nghĩa xót thương nhau.
Nhưng lạ, con người có thể là một Thánh Gióng, thần Herculs, thần Antee, lực sĩ Tarzan, Thạch Sanh vv…mà vẫn bất chợt mềm nhũn như loài sâu bé nhỏ, chỉ vì niềm tin bị khủng hoảng, mất mát.
Anh là tất cả, đúng, nên không có anh, mặt trời sẽ chẳng mọc, to chuyện quá, mấy chục năm nay mình đã chứng kiến cái điều thiên hạ cho là vớ vẩn, viển vông, không thực tế…này.
Khi ngày nào ánh sáng thái dương cũng soi rọi thế gian, một hạt cát trên sa mạc cũng mong đợi ngày lên, để nhìn thấy những hạt cát khác, cho dẫu cái cao nguyên rộng bát ngát, luôn mịt mù gió bụi.
Cả thế giới mày râu phải là những thần, những thánh cho chúng ta người già, phụ nữ, trẻ em…được vin vào lẽ sống, để tiếp tục sinh tồn.
Có phải tôi đánh giá quý ông, trong đó có anh, và rất có anh, là một ảnh hình chân như, lương thiện, hoàn mỹ, hầu xây dựng những cái tổ phượng hoàng nơi tột đỉnh phù sinh, trước khi ” mặt trời tắt hẳn trên môi em…” không ?
Câu thơ mình viết tặng anh từ phút giây hạnh ngộ, dù anh khẳng định là trừu tượng thôi, mãi mãi trừu tượng…đã phần nào đúng đấy .
Tôi bật cười, lẽ nào tôi không đủ ngôn từ, chữ nghĩa để viết hộ thư tình dùm ai muốn chớp nhoáng gởi đi, khi có cả chục tập thơ tình buồn kiểu tình dang dở của nhà thơ lai 2 dòng máu Việt Hoa:
Tình chỉ đẹp những khi còn dang dở
Đời hết vui khi đã vẹn câu thề …
( Hồ Dzếnh )
Lạm bàn về tình ái, tình yêu ở đời, thì ai cũng có thể thuyết minh hùng hồn, lý do rất đơn giản, là yếu tố tự phát từ trái tim mỗi người tuy khác nhau, song vẫn là giống nhau, bởi lẽ Thượng Đế cho loài người ai cũng có một trái tim làm vốn liếng để sống ở đời…
Anh từng bảo thế này: ” Thôi nhé, bớt …hành hạ trái tim nghe, để cho lòng hồn nhiên, thanh thản yêu đời…”
Chẳng cần anh dặn, mình cũng biết điều khổ tâm này, cái khổ tâm của tiểu ni Thị Kính bị ma nữ Thị Mầu yêu đến chết bỏ.
Song le, anh là anh với đầy đủ nhân dáng, sắc diện, linh hồn đấng nam nhi, nên nếu có bị yêu cũng là một thiên chức, lại ngoạ ngôn, ngạ quỷ xâm nhập đó thôi.
Đi tìm cái nghĩa vẹn toàn của cuộc sống, mình biết chắc anh ái mộ đạo Phật bởi chân lý, không thù hận, không oán giận, không chê bai, không trách cứ vv…mà anh nhẫn nại đợi chờ …duyên nghiệp đến.
Nếu là nghiệp duyên, thì đành nhận, mà nếu là nghiệp …nợ, thì cũng đành nhận thôi, chẳng lẽ đưa tay gạt đánh ầm một cái duyên nghiệp xuống đáy đại vực Grand Canyon à .
Anh sẽ nghiêm mặt: ” Tại sao…am tường thế, mà ngay từ đầu không tránh đi, như thi sĩ Luân Hoán chủ trương trong đời thi nghiệp của ông, ông loại ngay tức khắc cái danh xưng: chị, em, cháu gái văn nghệ, để khỏi rắc rối về sau “.
Còn như chàng nhạc sĩ ôn nhu, dĩ hoà vi quý Vũ Thành An, đứng trước giai nhân kêu gọi tình người nở hoa nhân ái, rằng: ” Hãy cố quên đi mà sống “.
Nhưng người tình lắc đầu quầy quậy không chịu, thưa là muốn quên đi lắm, mà không được, vậy còn cách nào hơn điều quên đó, thì đành ôm thân phận ” nhược tiểu ” vậy, tức là :
Xin em đôi môi thật thà
Thật thà chịu nhiều xót xa…
( Bài không tên số 5 Vũ Thành An )
Nhưng được hay mất “cuộc tình này “, vẫn chỉ có nỗi
” Nâng niu cô đơn từng ngày… ”
Thành ra cuối cùng được Thượng Đế vỗ về, nhạc sĩ đã tìm ra ánh sáng rực rỡ từ cửa thiên đường chiếu xuống, mời gọi Vũ Thành An bước vô cõi đạo Trời , ông có được niềm vui khi tuổi không còn rung động trước một hình ảnh người nữ
“quấn quýt vân vê tà áo ” nữa .
Anh mỉm cười, nửa chế nhạo, nửa vị tha, ngó tôi thức trắng đêm qua vì buồn. Chắc anh không ngờ tôi dễ xúc động đến thế.
Anh có thể không cần nói thật. Nhưng anh có biết 100 người đàn bà, thì chỉ có 10 người chịu nghe nói thật, để họ quyết định cái đời độc lập của họ.
Còn 90 người kia, không muốn nghe cái sự thật mất lòng, không thành vấn đề, mà sự thật làm sững vững con người.
Thí dụ: ông chồng có bồ, ai ở đời cũng biết điều đó, và thường khi bà vợ biết, là đã vỡ bét tự sự truyện rồi.
Song le, chẳng phải là thế, những nhân vật nữ chỉ muốn nghe điều không thật của chồng họ, trái lại đàn ông lại đòi hỏi sự thật từ người vợ, phải được tôn trọng.
Ông chồng Huế của tôi thủa sinh thời, ông nói với tôi: “M nên mừng là anh còn nói dối M, vì khi anh nói thật ra, có nghĩa là M không còn quan trọng với anh nữa “.
Tôi đã khóc nức nở vì sự thật vốn vậy.
Thế có phải bây giờ bạn thích tôi nói dối phải không? Anh đâu cần nghĩ vậy, vì anh quá thông minh nơi chốn sa trường, cũng như ở tình trường.
Anh được điểm A+ nhiều lần thử thách, nhưng lại chính bộ mặt tình yêu mộc mạc, rất lính của anh, nó khiến anh vượt lên tất cả. Chao ôi, người tình Huế nào cũng có cái ưu điểm rực rỡ ấy .
Thôi tôi cũng đã khô nước mắt rồi, vì xưa nay tôi là người không đòi hỏi một thử thách nào.
Tôi đang xuống những bậc tam cấp, rời khỏi Thiên Mụ hay Linh Mụ gì đó, chùa đẹp, chùa buồn, có gọi hằng trăm tên, cũng vẫn có chữ Mụ, khiến tôi mụ mị cả người.
Đã đứng sát bờ sông Hương, đã soi bóng nơi dòng nước thơm rong rêu tuyệt hảo đó rồi, thì bao âm điệu ngọc châu, bao hình ảnh dát vàng, nạm bạc trên con sông quyền quý, huyền hoặc đó, cũng ám ảnh tôi suốt đời …
Đó cũng là một trong những nét vẹn toàn tôi đi tìm kiếm ở cuộc sống phiêu du, lênh đênh này, mà tình người chính là những âm vang của dòng sông đang chảy xiết đó…
Hãy nâng niu tình buồn …
CAO MỴ NHÂN
CAO MỴ NHÂN: Nỗi Nhớ Nhung Trong NGÀY SINH NHẬT: THƠ MÙA XUÂN CÒN NÁN LAỊ & CHÙM THƠ: Bềnh Bồng Nỗi Nhớ. Lời Thơ Chay. Đèo Hải Vân.