VĂN – ĐỈNH HOA VÀNG – Cao Mỵ Nhân

ĐỈNH HOA VÀNG

Trong HNPD cả net lẫn com của quan Đồ Ngu tức nhà văn Nguyễn Trọng Hoàn của …tôi, tôi hay xí phần lắm, nếu điều gì đó phảng phất có tôi trong đó, có một bài viết về nhà thơ béo xụ, to ù Phạm Thiên Thư, với tuồng tích ” Ngày xưa Hoàng thị…”, có kèm hình ổng mới nhất, tuần trước.

Tôi vốn cũng không xa với nữ sĩ Tuệ Mai, người đưa ông lên đỉnh hoa vàng, xin lỗi tôi không xài danh xưng ” động hoa vàng ” như ai yêu thơ cũng theo dõi và biết phần nào.

Bài này đặc biệt chỉ kể về chuyện ở động hoa vàng thôi .

Ô mà với Phạm Thiên Thư thì có lẽ ” Động hoa vàng” là chính điểm cho bàn dân độc giả thơ mến mộ, chứ dẫu Thi sĩ Phạm Thiên Thư có lối hành văn thơ khá đặc biệt, nghĩa là có ngôn ngữ riêng, như kiểu lời nhạc đặc biệt Trịnh Công Sơn cùng thời, thí dụ:

Đoạn trường sổ gói tên hoa

Xưa là giọt lệ, nay là hạt châu …

( Đoạn trường vô thanh – Phạm Thiên Thư )

Lại cũng biện luận bằng câu: tiểu sử, thành tích, tác phẩm Thi sĩ Phạm Thiên Thư thì đã đầy trong sách báo đương thời, tôi chỉ lướt qua những kỷ niệm rất chân tình, còn nếu nói về mức độ đúng, sai…thì thưa quý vị, nó, kỷ niệm sắp đơn cử ra, thật đến độ quý vị có lòng, phải thẫn thờ buồn mãi …

Theo đề nghị của quý nữ sĩ trong thi đàn Quỳnh Dao, một hội thơ nữ lưu rất danh tiếng về mọi mặt, tôi đã nhận cái việc là sẽ tới lui chăm sóc cho nữ sĩ Tuệ Mai những ngày tháng sau cùng, khi bịnh ung thư của chị đã đến hồi bó tay, chỉ còn xài ” morphine” chế ngự các cơn đau dồn dập tới thôi.

Đó là những tháng cuối năm 1981, qua đầu 1982.

Tuy bịnh nặng như thế, mà cũng còn những khoảnh khắc chị có thể tâm sự với tôi về hành trình viết lách chưa gọi là xong của chị .

Tất nhiên làm sao xong được với một cây bút còn đầy sức sống, chỉ có sức khỏe người cầm bút ấy bị hao hụt dần, nhất là không ai chia xẻ với mình về mặt tâm tư tình cảm đúng đắn , đối với một phụ nữ sắp sáu chục tuổi, đầy mơ mộng .

Tôi có lẽ may mắn là thủa đó, mấy năm đầu thập niên 80 thế kỷ trước, mới xong tù cải tạo và lao động nông trường về, đối với tôi cuộc sống là quý giá lắm, nên tôi thông cảm ngay .

Mỗi ngày, vào buổi trưa, trên căn gác nhỏ ngôi nhà số K8

Đường Nguyễn Chí Thanh, tên mới, tôi không để ý tên cũ là đường gì . Chị vẫn có thể cười nói rằng:

Này Cao Mỵ Nhân, đã gặp Phạm Thiên Thư chưa ?

Tôi lưỡng lự: ” Chưa chính thức gặp, nhưng em có thấy anh ấy ở đâu rồi ”

Nữ sĩ Tuệ Mai cứ lúc khép lúc mở mắt, có lẽ chị đang mơ mộng, với giọng đều đều :

Thư, là thi sĩ Phạm Thiên Thư, chị Tuệ Mai luôn kêu Phạm Thiên Thư là ” Thư ” thôi, khác với nữ văn sĩ Nguyễn Thị Vinh thì bao giờ cũng ” Anh Nhật” tức nhà văn, điêu khác gia Nguyễn Hữu Nhật .

Thư vui lắm em ạ, khi chị khám phá ra Thư là một thiên tài, mình, là nữ sĩ Tuệ Mai, nói Thư phải đưa các tác phẩm xuất sắc đó lên cao hơn, vì giá trị của lời thơ …

Cao Mỵ Nhân đọc hết các sách thơ của Phạm Thiên Thư chưa ?

Sự thực tôi chưa đọc hết, song nhìn chị Tuệ Mai gần đất xa trời quá rồi, tôi gật gật đầu : ” Em có đọc …”

Chị Tuệ Mai tiếp : Cơ duyên đã khiến chị gần Thư, sau khi Thư rời hẳn Chùa ra đời, Thư là con trai duy nhất của cụ bà Thư Lâm, chị đặt cho cụ phương danh này, thì cứ việc sống bình thường trong xã hội Saigon, ở Chùa làm chi, cho dẫu Thư có tâm tu đi nữa.

Thế rồi Thư có ý định thành hôn với chị ( Tuệ Mai ) là lúc chị đã 50 tuổi, còn Thư 32 tuổi, 1972, cùng lượt với nữ sĩ Nguyễn Thị Vinh ( 48 tuổi ) và nhà thơ họa sĩ điêu khắc gia Nguyễn Hữu Nhật ( 30 tuổi ) .

Chị Vinh thì mới mẻ, bạo dạn và lãng mạn hơn chị nhiều, chị Vinh luôn làm chủ cuộc đời chị ấy, chứ chị ( Tuệ Mai ) thì … ngại quá, chị còn cái đại gia đình nặng trĩu phong kiến, cụ thân sinh vẫn đang tại thế, tức thi sĩ quá lão thành Á Nam Trần Tuấn Khải.

Chị còn bầy em gái 5 cô con bà dì, chị có 2 Con gái nuôi là Thanh Nhu có gia đình rồi, đang tá túc với chị trên căn gác ấy, cô con nuôi thứ hai đã đi tản, ở Mỹ , và là người luôn quà cáp về VN cho chị sau này .

Nên, Thư cũng …ngần ngừ, rồi quyết định thưa với cụ thân mẫu Thư, đoạn, Cao Mỵ Nhân biết không, chính bên nhà Thư đã tiến hành cho chị một đám cưới đàng hoàng, bằng chính tiền để dành, em ạ , đập cái hũ vàng ra, để mà lo sính lễ đấy .

Tôi có biết gì về giai thoại này, hơn nữa trước 30-4-1975 tôi còn ở QĐI/QKI của…tôi, 1972 là cái tuyến lửa quân nhân các cấp VNCH đang tái chiếm cổ thành Quảng Trị, tôi đang phờ phạc về công tác xã hội hậu phương, thương binh tử sĩ ở các quân y viện Huế, Đà Nẵng, có thì giờ đâu theo dõi chuyện tình thành phố chứ, tôi ậm ừ: ” Thế ạ ” .

Sau khi cưới nhau chính thức, chị về nhà Thư là ngôi nhà giống như biệt thự, tức là có hoa lá cây cảnh ở con đường XXX bên Gia Định, tức Quận Bình Thạnh.

Nhưng vẫn đi đi về về nhà chị, số K8 đường nêu trên .

Vài năm sau, nữ sĩ Tuệ Mai nghĩ là: Thi sĩ Phạm Thiên Thư có trữ tình , lãng mạn đến mấy, cũng cần có con cháu để nối dõi tông đường, nên chính chị là người hỗ trợ thiết tha việc cưới cho thi sĩ Phạm Thiên Thư đệ nhị ái thê, nguyên là ái nữ của nhà văn Hoàng Ly, người chuyên viết chuyện đường rừng thượng du Bắc Việt xưa.

Buồn cười lắm Cao Mỵ Nhân ạ, bấy giờ chị chưa rời hẳn nhà Thư đâu, bởi vì nơi đó chính là cái động hoa vàng được hình thành, hoa cúc vàng, rồi mùa xuân thì những cành mai vàng nở rộ biết không?

Nữ sĩ Tuệ Mai, tác giả 7 tập thơ trước 1975, đang ấp ủ 2 cuốn truyện dài :

Lưu Bình, Dương Lễ và nàng Châu Long mới,

Huyền Trân Công chúa .

đã ngã bịnh …vô Bịnh viện Bình Dân, để rồi cay đắng biết mình sẽ từ giã cõi đời .

Ngày tôi từ nông trường về thành phố, là chị đã giải phẫu xong khá lâu, nhưng vẫn trong ưu tư không còn cơ hội viết 2 cuốn tiểu thuyết nếu trên .

Chị giao cho nữ sĩ Như Hiên cũng trong Hội thơ Quỳnh Dao viết ” Nàng Châu Long mới “, để làm sao đánh bật cái tư tưởng phụ nữ cao vời, chứ không phải được Quan xưa Dương Lễ ngoắc ra truyền lệnh cho đi nuôi Lưu Bình, vì Châu Long là vợ 3 của Dương Lễ.

Chị có nhã ý giao cho tôi viết tiếp mấy chương để kết thúc cuốn Huyền Trân Công Chúa, với ý đồ là tôi phải làm nổi bật được vai trò công chúa Huyền Trân vốn nhà họ Trần của chị : nữ sĩ Tuệ Mai Trần Thị Gia Mình.

Nhưng tôi bận lo chuyện cơm áo, rồi chuyện ra đi theo diện HO của …tôi sau này, tôi không nhớ mình đã xếp 2 chương bản thảo công chúa Huyền Trân của chị ở chỗ nào nữa .

Một ngày được tin thi sĩ Phạm Thiên Thư sẽ ghé thăm chị Tuệ Mai, chị thản nhiên như bạn tầm phơ, không nghĩ đã một thời chị cùng thi sĩ họ Phạm đó kết nghĩa tào khang.

Tôi loay hoay vì lo cái chuyện cách đó ít lâu, nhà thơ Trụ Vũ đã chở Honda tôi tới tiệm hớt tóc ở Lăng Cha Cả, giới thiệu tôi giả đò là cán bộ văn hoá từ Hanoi vô Saigon, để chờ đi Cote d’ Ivoire công tác . ..muốn làm quen thi sĩ nổi tiếng miền nam, mà nhà thơ Trụ Vũ cảm thấy chỉ có Phạm Thiên Thư là hay không tưởng được .

Dịp đó, Phạm Thiên Thư đã lấy làm hãnh diện, và còn muốn cũng được đi Phi Châu như tôi chứ.

Lý do thi sĩ Phạm Thiên Thư và tôi chưa hề diện kiến nhau, nên Trụ Vũ kêu tôi là ” chị Đỗ Mai A ” .

Nay thi sĩ Phạm Thiên Thư tới thăm nữ sĩ Tuệ Mai, thì thế nào đây ?

Phạm Thiên Thư đã lên thang gác, tôi quýnh quá, trốn ngay vào nhà tắm sát phòng chị Tuệ Mai.

Nhị vị thi sĩ tên tuổi ngó nhau nhiều hơn là phải nói, một lúc thấy lâu, chị Tuệ Mai kêu:

Cao Mỵ Nhân đâu rồi, ra đây chứ, Thư tới này .

Tôi đành phải ra chào, cười hoà hoãn, Thi sĩ Phạm Thiên Thư nhìn tôi, tay chỉ chỉ : ” Trời, dám cùng Trụ Vũ phá tôi hả ? ”

Thi sĩ Phạm Thiên Thư cáo biệt rồi, thấy chị có vẻ buồn xa vắng, tôi kể cho chị Tuệ Mai nghe chuyện nhà thơ Trụ Vũ đùa cợt xem thử Phạm Thiên Thư thế nao, khi Trụ Vũ ” phỏng vấn” Phạm Thiển Thư là : Nam thi sĩ miền nam nổi tiếng là Phạm Thiên Thư rồi, còn nữ thi sĩ nổi tiếng miền nam là ai, anh có thể cho chị Đỗ Mai A đây một ví dụ .

Phạm Thiên Thư cười cười không trả lời, Trụ Vũ hỏi tới luôn:

” Chớ anh nghĩ thế nào về nữ thi sĩ Tuệ Mai ? ”

Thì Phạm Thiên Thư im lặng .

Nhưng tôi không kể chi tiết này ra với chị, vì chị đang đau, mà thái độ của Thi sĩ Phạm Thiên Thư cũng chằng …hào hoa mã thượng gì .

Ít ngày sau, nữ sĩ Tuệ Mai mất. Chúng tôi có thông báo bằng hữu văn chương biết ngày tiễn nữ sĩ Tuệ Mai về cõi vô cùng. Chị mất chiều mùng một tết, đưa ma sáng mùng bốn tết âm lịch năm ấy( 1982) vừa đúng hoa giáp .

Song nhà thơ Phạm Thiên Thư không đến tiễn biệt nữ sĩ Tuệ Mai, người đã đưa ông lên đỉnh hoa vàng, trong lúc khá đông thi văn sĩ Saigon xưa tới chia buồn cùng hương linh chị.

Đáng ngợi ca nhất là nữ văn sĩ Nguyễn Thị Vinh đã xin để tang nữ sĩ Tuệ Mai, viết 4 câu thơ và yêu cầu tôi đốt trước quan tài nữ sĩ Tuệ Mai lúc ở hỏa tháp Thủ Đức.

Nhà văn Nguyễn Thị Vinh nói cho tôi hay rằng: trong nghĩa cử bạn bè văn nghệ, chị phải để tang 4 người, 2 vị kia tôi không quen biết, còn 2 nữ sĩ Quỳ Hương và Tuệ Mai trong hội thơ Quỳnh Dao, tôi là em út thi đàn này, tôi phải biết chuyện đó.

Nhà văn Nguyễn Thị Vinh còn thủ thỉ: ” Em ơi, chính Tuệ Mai giới thiệu anh Nhật cho chị đấy ” .

Tới chiều hôm sau, thi sĩ Phạm Thiên Thư mới ghé lại ngôi nhà có hình ảnh cuối cùng của nữ sĩ Tuệ Mai, ” Gã từ quan ”

ấy mới lấy làm tiếc là không kịp về đưa đám nữ sĩ Tuệ Mai .

Buồn nhỉ, có lẽ nào như thế không ? Hình như câu ”

nghĩa tử là nghĩa tận ” đôi khi không được nhớ đến …

CAO MỴ NHÂN




THƠ – Vùng Ký Ức & Vẫy Gọi Bình Yên – CAO MỴ NHÂN




VĂN: Làm Giàu Cho Sách – CAO MỴ NHÂN

Làm giàu cho sách

Ông Khai Trí

Hồi đó vào khoảng đầu thập niên 80 thế kỷ trước, tôi đã gọi là xong hết mọi việc dính tới chuyện tù cải tạo nên thong dong đi chơi như bạn bè không thuộc nguỵ quân, nguỵ quyền Sài Gòn, tức là họ không phải đi tù tập trung như tôi.

Mỗi buổi sáng, tôi thường rời nhà ở khu nhà thờ Ba Chuông, đi bộ tà tà lên hướng Lăng Cha Cả trên con đường gọi là Trương Minh Ký, nối dài đường Trương Minh Giảng phía trên.

Tới ngã tư đường Thoại Ngọc Hầu thì rẽ phải đi một đoạn ngắn nữa, gặp đường nhỏ Nguyễn Minh Chiếu cắt ngang, rẽ trái đến số nhà 328 (gần cuối đường) bên tay mặt, tôi đứng trước cổng lớn của biệt thự Úc Viên.

Tôi đến chơi với nữ sĩ Mộng Tuyết – Thất Tiểu Muội như cơm bữa vì cũng chẳng có việc chi làm. Một hôm nghe tiếng chuông nhè nhẹ từ ngoài cổng biệt thự Úc Viên vọng vào.

Nữ sĩ Mộng Tuyết ngó đồng hồ rồi nói: Ông Khai Trí đến đó, đúng hẹn quá ha. Bà nói tôi ra mở cửa, đồng thời có định gặp ông Khai Trí thì bà giới thiệu…

Ông Khai Trí ở Sài Gòn trước 30 – 4 – 1975 ai mà không biết… Ông là giám đốc nhà sách Khai Trí ở đường Lê Lợi. Về sau ông vừa làm nhà xuất bản, tổng phát hành nên bộn bề công việc nhưng càng thêm uy tín và thân tình với đông đảo văn nghệ sĩ. Không ai không cảm phục ông về tấm lòng yêu quý sách từ thủa còn đi học.

Những hoạt động mua bán sách và giao tế tuyệt vời của ông với các tác giả cũng như khách hàng mà đa số là sinh viên học sinh thì khỏi nói.

Tôi chỉ đề cập tới một chuyện rất tầm thường nhưng lại… bất thường, chứ không nói tới chữ phi thường vì lớn lao và khôi hài quá!

Số là những ngày ông bị tập trung cải tạo ở Z30C Hàm Tân, cùng trại với anh rể tôi, trong vấn đề phân phối lao động…

Ai đã đi tù chính trị Cộng Sản đều biết cái điều mỗi lần chia tổ lao động, nó đòi hỏi tự nguyện, rồi mới chỉ định.

Thế thì nhà tổng phát hành sách vở, chữ nghĩa cứ thơm phưng phức hàng ngày vui cùng thiên kinh, vạn quyển kia nay tự sung vào cái tổ gánh phân rồi hoà tan thành nước phân bón tưới các rẫy vườn rau, đậu ngoài trại ấy.

Làm như thế thì chỉ phải lao tác nửa ngày, còn nửa ngày cọ rửa cho thân thể sạch sẽ trở lại con người… nhân bản được chút nào hay chút nấy. Khốn nạn cho cái xã hội khốn cùng đó.

Ở ngoài Bắc, dù không đi tù cải tạo người ta vẫn làm cái việc phân bón… thiên nhiên này, đến nỗi cả người lớn lẫn trẻ em đều bị cái bệnh tệ hại nhất thế giới là những cái bụng sán lãi bự chảng, mặt mũi xanh lét.

Ông Khai Trí đã từ ngoài cổng Úc Viên vô tới nửa hành lang, tay dắt xe đạp, trên ghi đông xe đạp còn treo một cái bị cói hơi cũ đựng sách truyện và những thứ cần thiết…

Chẳng biết đường trường kách mệnh của Hồ lão tặc sẽ vượt lên thượng tầng kiến trúc thế nào, chứ cái màn khốn khổ khốn nạn XHCN diễn đi diễn lại khiến cho con người đang từ phong nhã, hào hoa trở thành bần hàn ti tiện làm sao.

Nhưng người lịch thiệp thì cho dẫu đã trở lại bước đường hoa gấm ngày xưa, ông Khai Trí vẫn nhẫn nhịn, hoà nhã, chịu đựng đến độ thành bụt lúc nào không hay.

Cơ ngơi tài sản ông mất nhiều, mất ít thì tôi không rõ, nhưng những năm tháng sau cùng ở Sài Gòn, ông vẫn đi xe đạp, treo giỏ cói ở ghi đông với một nụ cười mà không biết phải diễn tả thế nào mới đúng: hoà đồng, khổ luỵ, buồn thương, chán chường…

Song vẫn đầy nghị lực, vẫn mong ước, chờ đợi một ngân hàng sách, một hệ thống phát hành ở khắp nước Việt Nam để từ đó cái xã hội sách bất khả của họ tự giẫy chết trong nghĩa địa sách mà họ lầm tưởng là có thể để đời…

Tuy nhiên đầu thập niên 90 tiếp theo, ông vẫn đi Hoa Kỳ.

Mộng làm giàu cho sách, chứ không phải sách làm giàu cho ông, vì giai đoạn này các con ông đã nên danh phận và ông đã già (1926 – 2005).

Thế mà có một buổi trưa kia, trên chiếc xe buýt chuyển trạm đường Brookhurst, ông Khai Trí đã khệ nệ bước xuống với mấy bao, giỏ sách thật nặng nề vừa đeo trên vai, vừa ôm trước ngực, vừa… thở hổn hển, mà vẫn tươi cười.

Tôi hỏi sao ông di chuyển sách nặng làm gì khổ thế. Là vì ông phải đi từ Los Angeles xuống ga chuyển Fullerton, rồi từ Fullerton qua buýt khác xuống thủ đô tị nạn Bolsa mà tôi gặp đó, rồi ông sẽ đi một chuyến buýt thứ ba về nhà ông. Thật cực khổ. Năm đó 1993, ông đã gần bảy chục tuổi.

Vài năm sau, ông quyết định về Sài Gòn ở luôn. Sinh hoạt văn chương theo ý ông cùng các văn nghệ sĩ nửa cũ, nửa mới cho tới khi qua đời.

Thời gian ông Khai Trí xây dựng sự nghiệp sách khai phóng và điều hành cái cơ sở đồ sộ những chữ cùng… nghĩa, tôi nghĩ quý vị tác giả biết ông và thân tình với ông nhiều cách khác nhau…

Qua gần 10 năm, sau khi ông đi tù cải tạo về tới trước khi đi Mỹ, tôi được hân hạnh quen biết ông chững chạc hơn, trong giao lưu chưa thật hết văn hoá cũ đã phải tiếp nhận văn hoá mới.

Đó là cái xã hội miền Nam sau 30 – 4 – 1975, ô dề một cách hầm bà lằng…

Sự thực lớp người như ông Khai Trí chẳng… sợ ai gọi là ở chế độ mới. Chưa kể những người từ rừng về mang cảm giác thua kém trước… rừng sách, hay ít nhất một người đủ góc độ nói về văn hoá, văn học, cho nên ông vẫn được số đông người họ Mác, họ Lê, họ Hồ kính nể.

Mặt khác ông vẫn có ý giúp quý văn nghệ sĩ cũ bị kẹt lại hay đi tù cải tạo ra gặp hoàn cảnh khó khăn.

Ngày thi sĩ trung tá Hoàng Ngọc Liên từ tù về, ông Khai Trí đã đeo vào ngón tay cho quan năm thất thế đó chiếc nhẫn một chỉ vàng 24 carat gọi là mừng bạn, chẳng lẽ nói để anh ăn bù thời gian đói khát tù đày vừa qua.

Buồn quá, mỗi lần một người quen mãn phần hay thất lộc thì bâng khuâng rồi, nhưng ông Khai Trí ra đi về cõi vĩnh hằng thì quả là giống như ai đang cầm cuốn sách hiếm quý bị người điên giật lấy rồi xé bỏ trước mặt họ…

CAO MỴ NHÂN




KHÉP MỘT CỬA SỔ – Nữ Sĩ Thụy An & Nữ Sĩ Mộng Tuyết – Cao Mỵ Nhân

Nữ Sĩ Thụy An

Buổi trưa hôm đó, khoảng mấy năm đầu thập niên 80 thế kỷ trước, nữ sĩ Mộng Tuyết nhắn tôi đến biệt thự Úc Viên tọa lạc cuối đường Nguyễn Minh Chiếu để ăn cơm với bà, nhân dịp có bà nữ sĩ tiền chiến ở ngoài Bắc mới vô.

Nữ sĩ tiền chiến quen biết nữ sĩ Mộng Tuyết thì nhiều lắm: Ngân Giang, Mai Đình, Anh Thơ, v.v…

Không chỉ nữ sĩ, các ông văn thi sĩ tiền chiến quen biết với ông bà từ trước 1954, đều liên tiếp từ ngoài Bắc vô thăm miền Nam cho tận mắt thấy sự văn minh, lớn mạnh ở phần đất Mỹ – Diệm, rồi Mỹ – Thiệu, tức VNCH này.

Tôi từ nhà ở khu nhà thờ Ba Chuông đi lên ngã tư đường Nguyễn Minh Chiếu và Phạm Văn Hai trước 12 giờ trưa để dự bữa trưa có việc đón bà nữ sĩ nào đó mà đại tỷ Mộng Tuyết dặn đừng trễ hẹn vì rất bổ ích cho tôi, nếu như muốn có dịp tổng hợp quý vị nữ sĩ tên tuổi đã hiện diện trong văn học sử Việt Nam. Tới Úc Viên, nữ sĩ Mộng Tuyết cười thú vị:

Biết ngay mà, cô em Bắc Kỳ thế nào cũng dzọt đến liền hà, đâu thử đoán coi ai sắp tới?

Tôi ngẫm nghĩ:

Các bà Anh Thơ, Mai Đình trong đội ngũ văn nghệ miền Bắc đã từng đến Úc viên nhiều lần. Nữ sĩ Ngân Giang không trong bộ máy bạo quyền, chuyên sáng tác thơ cổ điển, mình cũng gặp hai lần rồi. Hai bà Hằng Phương, Vân Đài chỉ gặp tên tuổi trên hình ảnh chứ cũng chưa hề đọc tác phẩm. Bà Mộng Sơn, Thuỵ An đã ở Hà Nội trước 1954, gọi là quý vị không di cư thủa ấy. Vậy là ai chứ.

Tôi bèn lắc đầu: Chịu, em chả biết, vì quý bà ấy thuộc hàng cô, dì với em, ai vậy đại tỷ?

Nữ sĩ Mộng Tuyết – Thất Tiểu Muội, một chỗ ngồi riêng trong các chiếu thơ Việt Nam từ thủa cuối thập niên 30 tới buổi đó năm 1983, là phu nhân thi sĩ giáo sư Hán học đại học Văn khoa Sài Gòn. Nhị vị Đông Hồ –Mộng Tuyết có cả một sự nghiệp văn chương ở Chiêu Anh Các, Hà Tiên, vân vân và vân vân.

Nữ sĩ Mộng Tuyết nghiêm mặt nhưng vẫn vui vẻ:

Phải biết chuyện này nghe cô em. Nữ sĩ Thuỵ An cũng bị trong vụ án Nhân Văn giai phẩm Hà Nội là người phụ nữ có lẽ duy nhất tự tay móc một con mắt, hỏi trên thế giới đã có ai vậy chưa?

Tôi nghe ù cả tai, sự thực mà nói ở cả hai chế độ Nam, Bắc Việt Nam, có lẽ chưa có phụ nữ thứ hai nào uất khí đến nỗi móc mắt mình ra để gọi là phản đối bạo quyền Cộng sản độc tài, tàn bạo.

Đúng lúc chuông reo, ngoài cổng đã có khách tới, nữ sĩ Mộng Tuyết ngó tôi cười: Nào, chúng ta ra đón nữ sĩ Thuỵ An.

Đi dọc theo hành lang, tôi thốt một câu vườn trưa nắng chiếu nhiều ghê lắm… Nữ sĩ Mộng Tuyết cười giòn giã:

Đúng là Cao Mỵ Nhân còn trẻ, hăm hở quá chớ: Đã nhiều còn lắm, nên ghê thật, chớ giỡn đâu.

Tôi đã kéo một bên cánh cửa, cửa Úc Viên rộng có thể chạy xe hơi ra vô được.

Nhân dáng một bậc nữ lưu trạc gần bảy chục tuổi thôi, được nữ sĩ Mộng Tuyết giới thiệu là nữ sĩ Thuỵ An, tên thật là Lưu Thị Yến (1916 – 1989), một nữ tù chính trị. Cộng sản Việt Nam đã kết án bà, bà đã tự chọc mù một mắt để phản đối chế độ vô nhân đạo đó.

Viết về nữ sĩ Thuỵ An thì… dài lắm, vì bà là một người phụ nữ hội đủ mọi lãnh vực văn học, xã hội, chính trị, kể cả mặt tình cảm riêng tư, nhưng tôi chỉ kể giai đoạn sau cuộc đổi đời khốn nạn 30 – 4 – 1975.

Nữ sĩ Thuỵ An mặc áo dài lụa tơ nội hoá, quần satin đen, mang đôi dép thấp, bới tóc gọn lên cao, nên chẳng khó khăn gì khi thấy trên dung nhan bà chỉ còn một con mắt thực sự, vì con mắt bà tự chọc thủng cho mù đã chỉ còn lớp da nhíu lại, trõm sâu.

Tuy nhiên, tôi cũng xin ghi nhận những dấu hiệu tàn tích của cái gọi là Cộng sản Việt Nam. Chúng đã bắt bà năm 1958, kêu án 1960, tới năm 1973 mới thả ra.

Nữ sĩ Thuỵ An vô Nam, thuê một căn nhà nhỏ ở trong hẻm ngay sau lưng biệt thự Úc Viên nên tôi có dịp ghé thăm bà đưa thư hay chuyển lời nhắn của nữ sĩ Mộng Tuyết thời gian sau buổi hạnh ngộ ấy.

Chúng tôi ăn bữa trưa trong nghẹn ngào nước mắt. Nữ sĩ Mộng Tuyết cứ ngừng lại như chính bà đang khổ tâm lắm. Tôi thì vừa xong chuyện tù cải tạo. Đặc biệt là nữ sĩ Thuỵ An không hề tỏ ra xúc động khi ôn lại cái quá trình mà bà bị khổ nhục trong suốt thời gian bà ở lại miền Bắc sau 20 – 7 – 1954.

Kể lại rồi bà lắc đầu, khinh thường bọn chính quyền ấu trĩ Hà Nội, thỉnh thoảng còn bật cười, thật là can đảm và nghị lực.

Bà không hỏi tôi đi tù ra sao, khi chính bà hiểu rằng tôi vẫn có vẻ tươi tắn, hồn nhiên, xem ra tôi mới ở dưới chế độ bà gọi là khốn nạn có 8 năm, bà phải ở tới 21 năm, mà hết 15 năm trong tù, dù bà đã tự hủy hoại một con mắt.

Hình ảnh nữ sĩ Thuỵ An thủa tôi được diện kiến bà lần đầu tiên ở Úc Viên tới sau này khi tôi được gặp nhà thơ ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện trong cuộc biểu tình thu nhỏ đi quanh Westminster Civic Center đầu năm 1996 thấy hao hao giống nhau.

Vì hình ảnh như đang ở cõi chết, sự khô héo, cằn cỗi và rất hận thù của những người bị tước bỏ hết cả nhân cách cuối cùng khiến không còn khả dĩ một đức tin tối thiểu ở đời nữa.

Chúng tôi lặng yên để nữ sĩ Thuỵ An có dịp trút hết nỗi bi thương, thù hận Cộng sản Việt Nam hay bọn cầm quyền ở Hà Nội ra…

Bà vẫn giữ tư thế lịch thiệp của người làm chính trị ngoại giao, còn là vị chủ báo tên tuổi tiền chiến với những sự kiện đáng nể như chủ nhiệm báo Đàn bà mới (Sài Gòn), Phụ nữ tân văn (Sài Gòn), Đàn bà (Hà Nội), từng làm giám đốc Việt tấn xã và phóng viên chiến trường, đủ biết có bao nhiêu… kẻ thù, cả trong và ngoài nghề nghiệp.

Nghe nữ sĩ Mộng Tuyết giới thiệu tôi ở trong quân đội VNCH, hay làm thơ, v.v. bà cười rất bao dung: Vậy em có biết gì về chị không?

Lại một câu hỏi như hôm trước nữ sĩ Ngân Giang cũng hỏi tôi vậy. Vì quý vị nghĩ là tôi ở thế hệ sau quý bà mấy chục năm. Tôi gật đầu, kể lại giai đoạn gia đình ba tôi còn chưa di cư vô Nam:

Thưa chị, khoảng thời gian 1954, các nhật báo Tia sáng, Giang sơn, Liên hiệp ở ngoài Bắc có đăng một tin thật lớn, chiếm luôn nửa trang nhất tờ báo luôn, có lẽ chỉ sau tin Điện Biên Phủ thất thủ, tin: Ai giết Đỗ Đình Đạo, Thuỵ An Hoàng Dân? Tin đó cho rằng chị là người liên hệ tới nội vụ, thậm chí có cả hình chị luôn.

Chị cười hiu hắt: Chứ ngoài ra em không tìm hiểu văn thơ chị à?

Tôi nhìn chị thật lâu, có lẽ nào mọi chuyện đơn giản thế, tôi trả lời vui vẻ: Có thưa chị, em đọc qua cuốn Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan, chị làm thơ và viết tiểu thuyết.

Có lẽ nữ sĩ Mộng Tuyết không thắc mắc lắm, vì trang lứa nữ sĩ Thuỵ An, nhưng tôi hơi tò mò:

Chắc chị bận rộn nhiều thứ việc quá nên đôi khi chưa có dịp nói ra những sự kiện chị đã và đang làm.

Nữ sĩ Thuỵ An gật đầu, vẻ xa vắng: Ồ, đã qua rồi. Cũng không quan trọng lắm. Thôi ăn đi chứ. Sao bà, nữ sĩ Mộng Tuyết, đãi tiệc mà cứ ngồi ngắm thôi à.

Người Bắc xưa cứ đi ăn cơm khách gọi là tiệc cho quan trọng, và ngắm là cứ nhìn hoài.

Sau đó thì chia tay, nữ sĩ Mộng Tuyết hơn nữ sĩ Thuỵ An độ vài tuổi, đã có sẵn quà tặng nữ sĩ Thuỵ An, nhưng quý vị niên trưởng lại từng khách khứa thời… phong lưu xưa nên nói tôi mang quà ấy và đưa nữ sĩ Thuỵ An về vì nhà nữ sĩ Thuỵ An đang ở rất gần nhà nữ sĩ Mộng Tuyết, như tôi trình bày trên.

Chuyện qua đi theo năm tháng…

Có đôi khi sự việc thật quan trọng đối với một nhân vật này nhưng lại không khiến thiên hạ lưu tâm nếu không phải bà con, họ hàng, tri âm, tri kỷ, v.v..

Còn đôi với tha nhân thì thật là khó nói, phải có một tình thương yêu ghê gớm, hay một tấm lòng tha thiết với xã hội cuộc đời, e mới thông cảm và thương cảm chân thành được.

Sau này qua Mỹ rồi, nhà văn Duy Lam gốc đảng phái… chuyên nghiệp mới vô tình nói về nữ sĩ Thuỵ An nhưng cũng trong giới hạn.

Tôi thầm tiếc là đã có dịp gặp gỡ nữ sĩ Thuỵ An mà không chịu thân hơn, để có dịp biết hơn về con người dũng cảm của bà, đồng thời bày tỏ nỗi bức bách tai nạn mà bà đã phải hy sinh một cửa sổ của tâm hồn như thế…

CAO MỴ NHÂN




Chùm Thơ Cao Mỵ Nhân




THƠ – Tuyết Giá – Khắp Trời Nở Hoa – CAO MỴ NHÂN