VTLV CHÀO MỪNG Văn Thi Sĩ TRỊNH CƠ! & Cập Nhật THƠ Xướng Họa – Phương Hoa – Trịnh Cơ & Các Thi Hữu.

THƠ ĐÁP LỄ – TRỊNH CƠ:

ĐA TẠ

Thật quá hân hoan được đón mừng

Xem qua cũng biết mấy người thân

Đếm lui đếm tới…gần hai chục

Đã với cùng tôi ở Lãng Phong

Có những người tôi chỉ biết danh

Đọc sơ  cũng cảm thấy rùng mình

Chao ơi, sao được cơ may đó

Đâu dễ trên đời kế cận bên

Đáp lại thạnh tình của tỷ huynh

Từ nay tôi nguyện hết lòng thành

Ra tài hèn mọn người văn nghệ

Sáng tác ngon lành để tiến nhanh

Rốt cuộc đời ta sống, nghĩ gì ?

Nếu không buồn do cuộc từ ly

Niềm vui chẳng thiếu nhưng chưa trọn

Thôi đắm mình vô sáng tác thi…

Xin nói lại đây tiếng cám ơn

Tỷ Huynh trên dưới tựa trăng tròn

Tỏa ra ánh sáng lùa tăm tối

Bao phủ đêm về với nước non

Năm mới Nhâm Dần cố chúc luôn

Diễn đàn Lạc Việt được vuông tròn

Tài hoa nổi bật từ muôn hướng

Tất cả An Khương với Thịnh Toàn…

Paris, 6 Mars 2022

TRỊNH CƠ

GIẤC MƠ TIÊN

Đêm qua chớp mắt mơ màng
Màn lay, hương tỏa và nàng bên ta
Mày ngài, mắt phượng kiêu sa
Nhìn người tưởng gặp đã là ngàn năm
Tóc nghiêng, che mặt trăng rằm
Tiếng oanh quyện ngát hương trầm gần xa
Nàng rằng đời vốn phong ba
Và anh hùng vẫn thường là trầm luân
Nắng mưa sau cuộc chuyển vần
Rồng mây nhập hội, phong vân đến ngày
Tương phùng, ta gặp hôm nay
Nhưng duyên tiền định xum vầy từ xưa
Chỉ vì hôm ấy trời mưa
Thiếp bưng chén ngọc đường trưa trở về
Lỡ tay rơi vỡ chén thề
Trời đày thiếp xuống bến mê, dương trần
Đày chàng dâu biển trầm luân
Sông Tương một dải muôn phần xa xăm
Đến nay đã mấy ngàn năm
Ngân Hà, Ô Thước vẫn chăm bắc cầu
Động lòng, thương cuộc tình Ngâu
Thuyền trăng trời thả hai đầu sông Tương
Ngọc trời, Trời vẫn tiếc thương
Nhưng Trời tha tội trên đường đánh rơi
Ngàn năm ngăn cách qua rồi
Nay vui xum họp  xin mời rượu tiên!
 
 
Chập chờn trong giấc thụy miên
Bên tai mà tưởng từ miền xa xôi
Đưa tay đỡ chén rượu mời
Mắt vui với mắt môi cười cùng  môi
Bỗng cơn gió hú bên đồi
Giật mình tỉnh mộng, mộng trôi về ngàn
Giấc mơ tiên bỏ trần gian
Làm ta thế tục mơ màng người tiên.
 
                             
                                        Trịnh Cơ

TIỂU SỬ TÁC GIẢ TRỊNH CƠ

Tiểu sử:

Nhà thơ, nhà dịch thuật, Trịnh Cơ tên thật là Nguyễn Gia Nam. Người gốc Thừa Thiên, lớn lên và sinh sống ở Sài Gòn. Cựu Sĩ Quan Hải Quân trong QLVNCH, khóa 12, 1964, trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang. Định cư Pháp 1975, tốt nghiệp Thuyền Trưởng Cận Duyên tại trường Paimpol Quốc Gia Hàng Hải Paimpol. Sĩ Quan Hàng Hải trên các thương thuyền Pháp từ 1977, suốt 10 năm. Tốt nghiệp ngành Tài Chánh và Kế Toán tại Viện Đại Học Kỷ Thuật Paris. Hành nghề kế toán trong một văn phòng giám định kế toán. Hiện tại đã nghỉ hưu.

Tác phẩm đã xuất bản:

“Cuộc Nổi Loạn Trên Tàu Caine” (Dịch thuật từ tiểu thuyết ‘The Caine Mutiny’ của Herman WOUK, 2006, với các tác giả bạn). “Viễn Khơi” THƠ (In chung, 2007) “Hải Chiến Hoàng Sa” (Biên khảo với nhiều tác giả 2010, tái bản 2014) “Cùng “Chung Số Phận” (Dịch thuật từ “All Hand Down” của hai tác giả Knneth Th-Sewell & Jerome Preisler, 2012. “THƠ Xướng Họa – Cao Mỵ Nhân & Trịnh Cơ” (nhà xuất bản Nhân Ảnh, Hoa Kỳ, 2020)

THƠ TRỊNH CƠ:

TRÊN ĐƯỜNG LỮ THỨ

Một bóng cô đơn ngày tháng dài

Ôm niềm tâm sự ngỏ cùng ai

Tâm tư sầu muộn buồn xa vắng

Hạnh phúc vui nhiều thoáng nhạt phai

Ai kiếp phong trần chưa mỏi gối

Ta đời lưu lạc đã nghiêng vai

Dừng chân cô quạnh lòng se thắt

Mơ ước mà chi mộng các đài

Trịnh Cơ

  THƠ HỌA:

ĐỒNG CẢM

Thinh không thảng tiếng hạc loang dài

Nhức nhối canh trường nhói dạ ai?!

Mảnh xác dập bầm mưa nắng trải

Mái đầu phơ phất tuyết sương phai!

Đa mang vận nghiệp bươn sầy trán

Gánh nặng nợ nần chín rạn vai!

Bợt gót lao lung băng dặm nẻo

Dám đâu tưởng vọng chốn trang đàì?! 

                               

6-3-2022   Nguyễn Huy Khôi

CON ĐƯỜNG LỮ THỨ

Ngày ôm hận quốc trải năm dài

Những dịp xuôi thuyền tỏ với ai

Thuận dưỡng hồng ân đầy ấp ủ

Bền nung chí nguyện đã an bài

Phong trần lặng lẽ nuôi đời sống

Lạc cảnh êm đềm gánh giữa vai

Thảo mấy vần thơ chìm tĩnh tọa

Chờ tin hội diễn khúc trang đài.

Mai Thắng – 220308

“HỌA BÀI CHÀO MỪNG VĂN THI SĨ TRỊNH CƠ” CỦA PHƯƠNG HOA

Chào Mừng Huynh Trịnh Cơ 

Thi đàn Lạc Việt nở thêm hoa

Xứ Pháp cao huynh nhập hội nhà 

Bể núi can trường bao thủa vậy 

Sông hồ dũng cảm một thời nha

Văn thơ bốn biển nào e lạ

Bút phú năm đàng chẳng ngại xa

Hợp sức chung tay gìn gốc cội 

Quê người tiếng mẹ giữ ngôn ta

Minh Thuý Thành Nội 

Tháng 3/5/2022

ĐÓN MỪNG TÂN KHÁCH

Nắng vàng soi núi biếc khai hoa

Lạc Việt thi lâm đón khách nhà

Có phải triều thơ dâng sóng hả

Đúng rồi Cơ Trịnh tới sân nha

Nhìn nhau nhớ mãi dinh Đường  thiết 

Kính bạn gần thêm thế giới xa

Vừa thấy quê hương qua chớp mắt 

Dòng văn cảm kích thả quanh ta…   

Hawthorne 5 – 3 – 2022           

CAO MỴ NHÂN 

CẢM ĐỀ     

(Họa hoán vận – 4 vận)

Từ miền đất Pháp xứ hào hoa

Tín hữu mừng huynh kết hội nhà!

Thi Quán vời trăng khơi tứ lạ

Văn đàn xoải cánh vượt trời xa…

Tâm đầu ý hợp tâm thanh nhã

Nghĩa nặng tình sâu nghĩa đậm đà!

Bản sắc giữ gìn hồn Lạc Việt

Tương phùng tri ngộ ấm lòng ta! 

        6-3-2022  Nguyễn Huy Khôi

CHÀO ĐÓN ANH 

(Bát vỹ đồng âm)

Giăng đèn rực rỡ khắp vườn hoa

Chào đón hiền huynh kết một nhà 

Hải lý thuyền xuôi đời vất vả 

Anh hùng sóng vượt biển bao la

Vần gieo ấm áp đâu còn lạ 

Nghĩa đượm nồng nàn chẳng thấy xa

Lạc Việt ân cần nên ý thỏa 

Vun bồi ngôn ngữ khách cùng ta!

 Như Thu 03/06/2022

THƠ ĐÁP LỄ CỦA VĂN THI SĨ TRỊNH CƠ

ĐA TẠ

Thật quá hân hoan được đón mừng

Xem qua cũng biết mấy người thân

Đếm lui đếm tới…gần hai chục

Đã với cùng tôi ở Lãng Phong

Có những người tôi chỉ biết danh

Đọc sơ  cũng cảm thấy rùng mình

Chao ơi, sao được cơ may đó

Đâu dễ trên đời kế cận bên

Đáp lại thạnh tình của tỷ huynh

Từ nay tôi nguyện hết lòng thành

Ra tài hèn mọn người văn nghệ

Sáng tác ngon lành để tiến nhanh

Rốt cuộc đời ta sống, nghĩ gì ?

Nếu không buồn do cuộc từ ly

Niềm vui chẳng thiếu nhưng chưa trọn

Thôi đắm mình vô sáng tác thi…

Xin nói lại đây tiếng cám ơn

Tỷ Huynh trên dưới tựa trăng tròn

Tỏa ra ánh sáng lùa tăm tối

Bao phủ đêm về với nước non

Năm mới Nhâm Dần cố chúc luôn

Diễn đàn Lạc Việt được vuông tròn

Tài hoa nổi bật từ muôn hướng

Tất cả An Khương với Thịnh Toàn…

Paris, 6 Mars 2022

TRỊNH CƠ

LỜI CHÀO MỪNG

CỦA TRƯỞNG BAN ĐIỀU HÀNH VTLV LÊ VĂN HẢI

“C’est avec grand Plaisir que je salue l’erivant et poet Trinh Co à Van Tho Lac Viet!”

Câu tiếng Pháp trên có nghĩa là:

“Thật Hân Hoan, Kính Chào Văn Thi Sĩ Trịnh Cơ, đến với Văn Thơ Lạc Việt!”

Hải gốc Tây…Ninh! Thấy Anh Trịnh Cơ từ Pháp, muốn lòe, “múa rìu qua mắt thợ!” sổ câu tiếng Pháp, kiếm chút giây phút vui vui, là lạ cho phút ban đầu hân hạnh gặp gỡ!

Thật là quý hóa, vì Anh đến từ Kinh Đô Ánh Sáng, một trong những thành phố nổi tiếng nhất của thế giới. Trái tim của Âu Châu! Nhiều người còn nói, “sống mà chưa đến Paris, khác gì mán, còn ở trong…rừng!”

Giờ thì Quý Anh Chị Em trong VTLV sướng nhé, muốn thăm Paris, thì đã có người tiếp đón!

Xin Anh Trịnh Cơ coi VTLV thân thiết như người trong nhà, cứ tự nhiên như…người Tây!

Rất vui và hân hạnh có Anh tham gia. Chúc mừng VTLV, có nhịp cầu bắc tới tận trời Âu!

Lê Văn Hải

Tiện đây, chúng ta cùng thưởng thức, một vài họa phẩm, để thấy chút nét đẹp của Paris, “có gì lạ” nhé.




THƠ XƯỚNG HOẠ: “Trong Khám Chí Hòa”- VŨ HOÀNG CHƯƠNG – CAO MỴ NHÂN – PHƯƠNG HOA. VĂN: “DUY LAM, NÓI MÃI KHÔNG CÙNG” Cao Mỵ Nhân.

TRONG KHÁM CHÍ HOÀ 

  (Bài Xướng)

Thấm thoát vào đây tháng đã tròn

Lông hồng gieo xuống nhẹ như non 

Một manh chiếu nát, thân tơi tả

Nửa bát cơm hôi,  xác mỏi mòn 

Ngày đến bữa ăn thường nhớ vợ

Đêm về giấc ngủ lại thương con

Dẫu bao nước chảy qua cầu nữa 

Hồ dễ gì phai được tấc son ? 

  Thi sĩ VŨ HOÀNG CHƯƠNG 

                 1976. 

BUÔNG CÂU THẤT VẬN  

(Bài Hoạ) 

Nào ai tính được chuyện vuông tròn

Vàng có phai đâu, đá thử non

Lòng dạ người dưng như thiếu hụt

Tâm hồn khách lạ thấy hao mòn

Mong nhiều chẳng đạt niềm tin lớn

Ước mãi không thành giấc mộng con

Nên cứ bâng khuâng câu thất vận

Mệnh trời giữ vẹn trái tim son …

   Hawthorne  3 – 2022

         CAO MỴ NHÂN 

NÉT SON THI BÁ

(Kính cẩn họa)

Cá chậu tuy không dệt mộng tròn

Nhưng ngầm chất chứa những mầm non

Vì chưng quý sách văn nào cạn

Cũng bởi yêu thơ bút chẳng mòn

Sớm tối một lòng vun núi lớn

Tháng ngày quyết chí đóng thuyền con

Chờ khi thoát cảnh chim lồng ấy

Chữ nghĩa tung hoành điểm nét son

Phương Hoa – MAR 3rd 2022

THƠ CAO MỴ NHÂN: Hương Sắc Cũ

HƯƠNG SẮC CŨ  

 CAO MỴ NHÂN 

Tháng ba rồi , vạt nắng đổ hoang liêu

Trên mênh mông đại dương thêu trước mặt 

Có phải là sóng lang thang ấp yêu

Đã dội về, hẹn em nhiều mất mát

Biển Đan Hồ lắng nghe bao tiếng hát 

Tóc anh phai hay vẫn biếc tươi mầu 

Em đợi sóng trôi xa, vun bờ cát 

Đang chập chờn theo sát bước hải âu

Sáu năm qua, ôi tình tự trôi mau

Vòng tay anh hơn một lần khép lại 

Nhưng chúng ta  vẫn chưa ở bên nhau

Khiến phương nam mây về thay áo mới 

 Anh mỉm cười : tháng ba em đang tới 

Cho anh xin gặp gỡ sắc hương xưa

” Hương sắc cũ ” nồng nàn, em ngóng đợi 

Một ngày vui, nào phải nhớ nhung thừa …

        CAO MỴ NHÂN 

DUY LAM, NÓI MÃI KHÔNG CÙNG.    CAO MỴ NHÂN 

Vốn thân thiết với 2 cặp anh chị Duy Lam Nguyễn Kim Tuấn  – Chu Thị Thịnh và Thế Uyên Nguyễn Kim Dũng – Thuý Sơn, nên hình như là tôi hay được nghe các anh chị trên kể cho nghe về nhiều kỷ niệm trong đại gia đình Nguyễn Tường, họ ngoại, và Nguyễn Kim, họ nội, của 2 nhà văn tên tuổi Duy Lam và Thế Uyên trong làng văn Việt Nam cuối thế kỷ thứ 20 vừa qua . 

Nhà văn Duy Lam cứ khuyến khích tôi viết lại một số kỷ niệm về mấy nhân vật trong dòng họ ” rất văn nghệ ” của 2 dòng họ mà tôi có dịp quen biết . 

Những vị tôi thường lui tới, cùng đi chơi đây đó vv…

Nhưng tôi cứ lững lờ năm tháng trôi qua, nhà văn Duy Lam bảo rằng : 

” Cô có cả kho tài liệu về chúng tôi, hậu duệ của Tự Lực Văn Đoàn, nhất là thời gian cuối thế kỷ trước đây, qua 10 năm đầu thế kỷ sau này, khi còn ông chú tôi ( lẽ ra kêu bằng cậu ) là bác sĩ Nguyễn Tường Bách, bút hiệu Viễn Sơn, thủa cụ còn ở trong nước, chăm sóc báo chí của Tự Lực Văn Đoàn, trước khi cụ Nguyễn Tường Bách bôn ba qua Tàu, lánh nạn Việt Minh thủa 1945 ” . 

Nhà văn Duy Lam nói điều trên, khi anh chị Duy Lam còn ở nam tiểu bang California , và khi cụ Bách còn tại thế. 

Tôi ậm ừ vì nhiều thứ lý do lắm . 

Hậu duệ quý vị dòng họ Nguyễn Tường vẫn có một số  khá đông quý ông cầm bút, hay sinh hoạt văn học, văn hoá xã hội vv…như Nguyễn Tường Tâm, con cụ Nguyễn Tường Cẩm, Nguyễn Tường Thiết, con cụ Nguyễn Tường Tam ( Nhất Linh ), Nguyễn Lân, con cụ Nguyễn Tường Long ( Hoàng Đạo ) bác sĩ Nguyễn Tường Giang, con cụ Nguyễn Tường Lân ( Thạch Lam ) vv…

Song, điều hôm nay tôi muốn kể về Nhà văn Duy Lam, trưởng nam của cụ Nguyễn Kim Hoàn, Duy Lam Nguyễn Kim Tuấn và phu nhân ông, bà Chu Thị Thịnh, mà chúng tôi hay gọi Thịnh Chu, chị còn lấy bút hiệu là An Nhiên . 

Mỗi lần nhắc tới anh chị, thì trong lòng tôi cứ nghẹn ngào thương tiếc lắm . 

Số là thủa …trước cuộc đổi đời bi thảm ở miền nam VN 30-4-1975, thì gia đình anh chị Duy Lam cư trú ở Đà Nẵng . 

Thoạt thì Nhà Văn Duy Lam, tức Đại uý Nguyễn Kim Tuấn ( sau lên Trung Tá ) theo đại tá Hoàng Xuân Lãm ( sau lên Trung Tướng ) từ trung ương ra  giữ Sư Đoàn 2 Bộ Binh đồn trú ở Khu 12 Chiến thuật ( bên này đèo Hải Vân ) .

Đại uý Nguyễn Kim Tuấn là Chánh văn phòng  Tư Lệnh Đại tá Hoàng Xuân Lãm . 

Một thời gian sau, qua nhiều năm, Đại tá Hoàng Xuân Lãm đã thăng cấp Trung Tướng , Đại uý Nguyễn Kim Tuấn đã thăng cấp Trung tá, và cùng thuyên chuyển lên Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I – Quân Khu 1 , đồn trú ở Đà Nẵng . 

Trung tướng Hoàng Xuân Lãm giữ chức Tư lệnh QĐI/ QKI từ 

1966 – 1972, Trung tá Nguyễn Kim Tuấn tức Nhà Văn Duy Lam cũng song song làm Chánh Văn Phòng Tư Lệnh, nhưng ngoài việc quân binh, ông phải trọng trách tất cả các việc hành chánh và nhất là các sinh hoạt về chính trị, văn hoá xã hội của 5 tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi và 2 Thị xã Huế, Đà Nẵng . 

Lý do rất đơn giản, là thời buổi chiến tranh đó, Trung tướng Hoàng Xuân Lãm phải dồn mọi nỗ lực vào việc quân binh, nên vị Hoàng Tư Lệnh đã giao các việc nêu trên cho Trung tá Nguyễn Kim Tuấn, người có uy tín làm công tác văn hoá xã hội rộng lớn và phức tạp bên ngoài doanh trại . 

Tất nhiên để tổ chức và điều hành công tác hành chánh cùng các phần việc linh tinh khác, Duy Lam Nguyễn Kim Tuấn đã phối hợp với nhiều quý vị dân sự cùng các huynh đệ chi binh chuyên ngành trong cũng như ngoài đơn vị thuộc Bộ Tư Lệnh QĐI/ QKI như : 

Quý ông Giáo sư Thái Doãn Ngà 

Quý ông giáo sư Phan Du

Quý ông giáo sư Nguyễn Văn Xuân 

Quý ông Tỉnh trưởng và các giáo sư trong Tỉnh Quảng Nam , thị xã Đà Nẵng để thành lập Đại Học Đà Nẵng . 

Các Câu lạc bộ Văn Học Nghệ Thuật . 

Báo chí, triển lãm tranh ảnh vv…

Với sự tiếp tay của các văn nghệ sĩ Quân Đội và dân sự trẻ thời bấy giờ như : Thi sĩ Thái Tú Hạp, Thi sĩ Luân Hoán, Hoạ sĩ Cao Bá Minh, Hoạ sĩ Lâm quang Phước  vv… 

Cụ bà Nguyễn Thị Thế là em thứ 5 của  quý cụ Nguyễn Tường Thuỵ, Nguyễn Tường Cẩm, Nguyễn Tường Tam ( Nhất Linh ) Nguyễn Tường Long ( Hoàng Đạo ) và là chị của quý cụ Nguyễn Tường Lân ( Thạch Lam ) Nguyễn Tường 

Bách ( Viễn Sơn ) thuộc dòng họ Nguyễn Tường . 

Cụ bà Nguyễn Thị Thế là phu nhân của cụ ông Nguyễn Kim Hoàn. 

Cụ ông Nguyễn Kim Hoàn,  người lo phần ” nội vụ các sự việc cho 2 tờ báo Phong Hoá – Ngày Nay của Tự Lực Văn Đoàn  “, điều này do Nhà Văn Thế Uyên kể cho người viết nghe. 

Trở lại gia thế cụ bà Nguyễn thị Thế và cụ ông Nguyễn Kim Hoàn . 2 cụ Nguyễn Thị Thế và Nguyễn Kim Hoàn có 7 người con .

3 ông con trai là : Nguyễn Kim Tuấn ( Duy Lam ), Nguyễn Kim Dũng ( Thế Uyên ), Nguyễn Kim Sơn .

 4 bà con gái là : 

Nguyễn Thị Châu, Nguyễn Thị Nga, Nguyễn Thị Tuyết, và Nguyễn Cao Thị Liễu . 

Có thể nói cụ bà Nguyễn Thị Thế, vai thứ 5 trong dòng họ Nguyễn Tường, đã là người quán xuyến việc nhà giữa 4 ông anh và 2 ông em của cụ thế nào, thì khi cụ có gia đình riêng , cụ cũng lo cho các con, các cháu y như thế . 

Do đó 2 nhà văn Duy Lam Nguyễn Kim Tuấn và Thế Uyên Nguyễn Kim Dũng cũng trong không khí chiều hướng như vậy, nhất là đối riêng với gia đình anh chị Duy Lam . 

Khi anh Duy Lam  bị đi tù cải tạo sau 30-4-1975, thì chị Duy Lam và 3  cháu gái của nhà văn Duy Lam phải từ Đà Nẵng về Đà Lạt tá túc với cụ bà nội . 

Và mặc dầu Nhà văn Thế Uyên có 5 con trai, anh vẫn nói rỡn với tôi, Phương Lan con gái đầu lòng của anh chị Duy Lam là ” đích tôn ” của cụ bà nội nêu trên . 

Cách nói đùa để chứng tỏ bà nội trực tiếp lo cho 3 cháu gái 

Phương Lan, Lan Anh , Anh Phương con nhà văn Duy Lam đang được bà nội chăm sóc từ A tới Z . 

Nhà văn Duy Lam đi tù cải tạo đã đành , chị Duy Lam ít lâu sau cũng đi tù cải tạo với lý do là chống phá cách mạng .

Quý vị sẽ hỏi tôi rằng : nhà văn Duy Lam tức Trung Tá Nguyễn Kim Tuấn mới phải đi tù cải tạo vì thuộc quân cán chính chế độ cũ , chứ bà Duy Lam thì cũng bình thường như các bà phu nhân sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà , sao lại bị tù đày vậy ? 

Xin thưa : Sau khi Nhà văn Duy Lam đi tù cải tạo rồi, bà Duy Lam và 3 cháu Tý li, Bé ti và Xu, tên ở nhà của các cháu nêu trên, phải đi vùng Kinh Tế Mới cũng thuộc địa hạt Đà Lạt , Lâm Đồng, thì chị Duy Lam bị trù dập kinh khủng . 

Thịnh Chu, phu nhân nhà văn Duy Lam rất đẹp, tính thẳng thắn, trong lúc phải lao động khổ nhọc, chị than thở, điều đó  bình thường thôi, nhưng chị đã dẫn chứng câu danh ngôn của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu là : 

” Đừng Nghe những gì Cộng Sản Nói, mà Hãy Nhìn những gì Cộng Sản Làm ” . 

Đối phương bắt chị nhắc lại để truy tội chống cách mạng . 

Phu nhân nhà văn Duy Lam cũng kiên cường như nhà văn Duy Lam, bà bình tĩnh, thản nhiên nhắc lại câu trên, không sai một dấu phẩy . 

Sau đó, chị phải đi tù nhiều năm . 

Ra khỏi trại tù,  chị ” bình tĩnh ” thêm nữa, viết nhiều thư từ gởi  Văn Bút Quốc Tế, trình bầy và nhờ can thiệp cho Trung tá Nguyễn Kim Tuấn, tức Duy Lam sớm trở về.

 Duy Lam từ các trung tâm cải tạo ngoài Bắc, chuyển vô Hàm Tân để chuẩn bị ra trại, chị ra thăm anh ở trại Z.30 , Nhà văn Duy Lam và phu nhân gặp nhau sau nhiều năm xa cách , thản nhiên ôm nhau với cử chỉ thân ái . Anh chị đã bị cúp phép thăm nuôi tức khắc . Nhà văn Duy Lam bị nhốt ngay sau đó vì vi phạm nội quy trại, không hề ghi trên văn bản . 

Nhà văn Duy Lam bị tù cải tạo 12 năm, ông trở về đoàn tụ gia đình năm 1987 . 

Sau đó chương trình HO, gia đình ra đi tị nạn # 1990 nhưng chỉ 2 cháu Lan Anh và Anh Phương được theo cha mẹ đi thôi, cháu Phương Lan sau có gia đình, phải ở lại VN, Anh chị Nhà văn Duy Lam đã bảo lãnh cho gia đình cháu này ít năm sau đó.

Hiện nay cả 3 cháu con Nhà văn Duy Lam đã ổn định cuộc sống, đều có gia đình và công ăn, việc làm . 

Phu nhân nhà văn Duy Lam mệnh chung cách đây 2 năm . 

Nay được tin Nhà văn Duy Lam qua đời 4-2-2021 tại Vỉginia sau khá nhiều năm Nhà văn Duy Lam không viết lách nữa , mà lại thích vẽ . 

Ông có nhiều bức hoạ từ cách đây ba chục năm. Qua miền đông, ông còn vẽ nhiều hơn, nhưng vẽ để thoải mái tinh thần, không định để làm gì cả, kể cả thơ, nhà văn Duy Lam muốn thử nghiệm cho …vui . 

Ngay đến văn là bộ môn chuyên nghiệp của ông, những năm cuối cùng, Nhà văn Duy Lam nói : 

” Bây giờ không viết nữa, chỉ đọc lại thôi …” 

Thực ra viết về Nhà văn Duy Lam thì ” Nói mãi cũng khôngcùng …” Lý do ông sinh hoạt nhiều ngành văn chương, nghệ thuật, văn hoá xã hội, giáo dục, đảng phái chính trị …vv.

Nhà văn Duy Lam Nguyễn Kim Tuấn là một nhân vật chức sắc trong đại gia đình Việt Nam Quốc Dân Đảng  VN . 

Riêng với tôi, thì anh chị Nhà văn Duy Lam mang hình ảnh toàn vẹn cả về nhân cách lẫn tài hoa . 

Không ai có thể ngờ là lúc Nhà Văn Duy Lam trên 60 tuổi, ông còn lái xe chở phu nhân ông từ Cali qua Vỉginia . Hay đi mổ mắt, ông đã tự lái xe về nhà ở đoạn đường xa gần 2 tiếng đồng hồ . 

Tôi thường đùa ông vốn giỏi võ thuật yoga, bà là Huấn luyện viên Dưỡng Sinh sau tôi một khoá, nên chuyện thao tác thể dục dưỡng sinh quen thuộc với ông bà . 

Thi Sĩ Thái Tú Hạp, dịch giả Ái Cầm sửng sốt báo tin cho Cao Mỵ Nhân tôi, chúng tôi và anh chị Duy Lam gắn bó thân tình từ hơn nửa thế kỷ nay, những ngày Trung tá Nguyễn Kim Tuấn và chúng tôi cùng phục vụ quân đội tại Quân Đoàn I / Quân Khu I .

Trung tá Nguyễn Kim Tuấn mãn phần ngày 4 – 2 – 2021, hưởng thọ 89 tuổi ( 1932 – 2021 ) . 

Xin thắp nén hương lòng, tưởng nhớ về quá khứ xa xôi, cầu nguyện hương linh nhà văn Duy Lam Nguyễn Kim Tuấn được sớm  phiêu diêu miền vĩnh cửu vô cùng .

      CAO MỴ NHÂN 




THƠ ĐƯỜNG XƯỚNG HỌA – Thất Ngôn Tứ Tuyệt – CHÉN TRÀ DĨ VÃNG…. Trịnh Cơ – Cao Mỵ Nhân, Lý Đức Quỳnh, Minh Thúy, Như Thu, Phương Hoa… Và Nhiều Thi Hữu.

CHÉN TRÀ DĨ VÃNG….

Bên chén trà xanh nhuốm lệ sầu

Đêm mùa Đông lạnh suốt canh thâu

Ngàn mai nhung nhớ người ngàn dặm

Bên chén trà xanh…nhuốm lệ sầu!

TRỊNH CƠ

Thơ Họa:

CHỬA QUÊN SẦU

Tìm men rượu đắng chửa quên sầu!

Xoáy tận tim gầy đã mấy thâu!

Ngõ vắng chờ ai dù lỗi hẹn

Nàng ơi chớ nhạo kẻ đa sầu!

  Như Thu

(30/12/2021)

NỖI SẦU

Bao đêm thao thức dệt thơ sầu

Gió bấc lạnh lùng giá buốt thâu

Trông cánh chim đơn về cuối nẻo

Gửi theo tâm sự để vơi sầu…

 2/1/2022

Hồng Vân

ĐÊM GIAO THỪA

Nhìn vì sao lạc lại thêm sầu

Trừ tịch mình ta thức trắng thâu

Ngày ấy xa rồi sao vẫn nhớ

Cầm tay giã biệt lệ hoen sầu

  Sông Thu

(28/01/2022)

GIẤU HẠT SẦU

Nến lụn sương tan ngậm trái  sầu

Đêm tàn đối bóng lạnh mưa thâu

Gió ơi nhắn gửi lời tâm sự

Có kẻ bên song giấu hạt sầu

Kiều Mộng Hà

KHỐI TÌNH SI …

Chiều ngả nghiêng in bóng dạ sầu

Hoàng hôn buông xuống  phủ đêm thâu

Ngày tàn ôm mộng tương tư nhớ

Bên ánh tà dương…ngấn lệ sầu !

TUYẾT PHAN

NHỚ NGƯỜI XƯA…

Tuyết trắng bao nhiêu,bấy giọt sầu…

U buồn lệ ướt trọn đêm thâu

Thương em: suối nhỏ se hồn  lạnh,

Nhấp chén trà suông,não dạ sầu!

Thanh Hoà

TRÀ XANH, TRÀ ĐẠO, TRÀ ĐÀM…

Trà đạo bên nhau lệ thảm sầu…!

Trà đàm đông giá suốt đêm thâu…

Trà xanh sáu khắc còn mong đợi…

Trà đậm năm canh thức trắng…sầu…!

Mai Xuân Thanh

    22/02/2022

LY RƯỢU SẦU

Nâng ly rượu tiễn dạ mang sầu

Đã rõ đêm này thức trọn thâu

Vì biết ngày mai …thuyền tách bến

Người về xứ lạ …có đeo sầu ?!

Songquang

20220222

(một ngày đặc biệt trong trọn cuộc đời có sáu con số 2)

Cũng kỷ niệm một ngày đặc biệt trong đời ta

GIỌT SẦU

Giọt đắng mềm môi nhấp nỗi sầu

Lung linh ánh nguyệt thức đêm thâu

Đìu hiu trở giấc chờ nắng sớm

Níu chút hương Xuân bớt muộn sầu

      Minh Thuý Thành Nội

Tháng 2/22/2022

TÂN XUÂN TƯƠI ĐẸP

Thế sự có chi đáng phải sầu

Tu thân tích đức vạn đời thâu

Tình đời trọn nghĩa vui muỏn thuở

Độ thế cứu nhân phá cảnh sầu

NAM. GIAO

NGẬM NGÙI

Độc ẩm đèn chong nhấm giọt sầu

Bóng gầy in rạc vách bao thâu

Hương trà gợi nhớ môi người cũ

Muôn sự của chung biết vẫn sầu .

LHN

ĐỔI NỖI SẦU

Dĩ vãng vui mấy cũng có sầu

Trằn trọc làm chi tổn đêm thâu

Người thương giã biệt du Vĩnh Cửu

Nhớ ngày vui cũ đổi nỗi sầu.

 02/22/2022

Song Nghiên.

NGƯỜI Ở NƠI ĐÂU

Khói tỏa trà hương gợi nỗi sầu,

Bên ngoài tiếng dế khóc đêm thâu.

Mưa rơi từng giọt buồn da diết,

Người ở nơi đâu có thấy sầu.

   Mỹ Ngọc.

Feb. 22/2022.

XUÂN HY VỌNG!

Nàng Xuân nở nụ hết ưu sầu!

Cảnh vật tưng bừng dẫu mấy thâu…

Bệnh dịch…tung hoành nay mất dấu

Nàng Xuân hy vọng hết ưu sầu.!

Đức Hạnh

  22 2 22

NIỆM THỨC

Chồi non hé nụ giũ đông sầu

Nhựa chuyển trong cây lặng trắng thâu

Thầm thĩ trái hoa bừng mắt nắng

Trần ai tan biến mọi u sầu.

    23=2=2022

Nguyễn Huy Khôi

HƯƠNG TRÀ NHỚ

Độc ẩm đêm khuya  cảm thấy sầu

Hương trà gợi nhớ suốt canh thâu

Hình em lấp lánh ly trà  nhớ

Anh ngụm từng hơi đỡ nỗi sầu./.

HÀ-QUẾ-LINH

LỆ MAI

Chén đặt ngang mi, lạnh mắt sầu

Hương trà lõa bóng bợt đêm thâu

Lây buồn, cảnh sắc lòa sương giá

Trước sảnh bông Mai ứa lệ sầu?!

     23-2-2022

Nguyễn Huy Khôi

HIỆN HỮU LÀ HẠNH PHÚC

Vì sao Tết nhứt lại ưu sầu?!

Tùy ngộ nhi an biết mấy thâu!

Hiện tại gieo vần là hạnh phúc…

Đèo bồng vớ vẩn mới nên sầu!

Đỗ Chiêu Đức

KHÓI TRÀ KHUYA

Nghĩ mình chẳng thể vợi cơn sầu

Khi khói trà xuyên suốt bóng thâu

Nguyệt lão chưa rời ta với bạn

Ba nguồn thơ thả, thắt canh sầu …

Utah 23 – 2 – 2022

 CAO MỴ NHÂN

NẶNG GÁNH SẦU

Xứ lạnh tình ơi một trái sầu

Sương mù lẻ bóng buốt đêm thâu…

Cố nhân có biết lòng thương nhớ

Vắng bạn đơn thân nặng gánh sầu

MAI XUÂN THANH

       02/22/2022

TƯƠNG TƯ

Tương tư cách trở cố nhân…sầu!

Canh cánh bên lòng bóng nguyệt thâu

Giấc mộng chung tình thiên cổ lụy…

Thầm mơ san sẻ bớt ưu sầu…!

MAI XUÂN THANH

     02/22/2022

MONG VỀ

Nghe tiếng ầu ơ dạ dấy sầu

Nhin trăng phai sắc tủi đêm thâu

Mong về quê cũ dù xa dặm

Nghe tiếng ầu ơ dạ dấy sầu

Phượng Hồng

ĐẾM GIỌT SẦU

Bấc lụn, trà suông, đếm giọt sầu

Canh tàn khuyết rụng bóng trăng thâu

Chân mây ngóng nhạn mòn con mắt

Bấc lụn, trà suông, đếm giọt sầu!

Lý Đức Quỳnh

    23/2/2022

GÃY SÚNG

Gãy súng vào tù ôm hận sầu

Mười niên ngục tối buốt canh thâu

Tự do hạnh phúc đâu còn nữa !

Đày đọa dân Nam nuốt lệ sầu !!

HÀ-QUẾ-LINH

ĐÊM LẠNH

Ngồi ngắm sao đêm đếm khoảng sầu,

Nhìn ngoài sương gió tối dần thâu.

Đèn đường sáng ảo càng thêm nghĩ,

Nhớ xứ buồn hiu khó giải sầu.

Đặng Xuân Linh

   24-02-2022

VỆT SẦU TRONG CHÉN

Trà đậm khôn soi được nét sầu

Xuân nồng, Hạ trưởng, đến Thu thâu

Chất đầy nhung nhớ vào ly ngọc

Tìm gửi ai đây những vệt sầu.

Phương Hoa – MAR 4th, 2022




BÀI VIẾT “Đường Thi Khách” & THƠ: TƯỞNG NIỆM HAI BÀ TRƯNG – TAN CUỘC RƯỢU – Cao Mỵ Nhân

TƯỞNG NIỆM HAI BÀ TRƯNG.    CAO MỴ NHÂN 

Bốn mươi năm thủa đầu Công Nguyên

Tô Định nhà Đông Hán tập quyền

Áp bức Giao Châu, trăm họ Việt 

Hai bà Trưng Trắc, Nhị vùng lên

Sáu lăm thành Lĩnh Ngoại trong tay

Trưng Trắc xưng vương tự thủa này

Đế phủ Mê Linh vang khắp cõi

Hán triều đưa thái thú qua thay

Quân đông Mã Viện đánh Cẩm Khê

Binh mã Trưng Vương chẳng não nề

Cố thủ nhưng rồi đành chiến tử 

Lưu danh thiên cổ , sử Việt ghi 

Ngã ba sông Đáy với Hồng Hà

Cổ mộ đền thờ liệt nữ xa

Mùng sáu tháng hai trên nguyệt lịch 

Là ngày kỵ giỗ của Hai Bà …

          CAO MỴ NHÂN 

TAN CUỘC RƯỢU.    CAO MỴ NHÂN 

Say khướt trở về, vẫn đọc thơ

Em ơi, anh xé một vuông cờ

Biết ai chân chính mà than thở

Thương bạn hoang đàng vẫn mộng mơ

Men đắng thấm vào môi đã lịm

Hương nồng còn toả mắt trông ngơ

Người về từ chiến trường tan lửa

Tửu lượng bao nhiêu, ngó chửa mờ 

Chén rượu hoàng hoa khiến mắt mờ

Nửa đời lưu lạc, tưởng ngu ngơ

Hoa vàng sắc cúc còn vương mộng

 Mầu trắng cành lan xoá nhạt mơ

 Trận mạc xong rồi im tiếng pháo

Sa trường sao vẫn thiếu vuông cờ

Em ơi, thắng bại chưa phân định

Dựng Khải Hoàn Môn giữa cõi thơ…

       CAO MỴ NHÂN 

ĐƯỜNG THI KHÁCH

Mấy lâu nay tôi có một thú vui đằm thắm, là thích lui tới các chiếu xướng hoạ thơ Đường Luật.

Bỗng ở giai đoạn này, khách Đường Thi từ quốc nội tới hải ngoại đông đảo chi lạ .

Đi đâu cũng thấy thất ngôn, bát cú, hay là bát cú, ngũ vận , nói nôm na theo cách hiểu của tôi, thì cứ nhìn bài thơ nào đếm được 8 câu, mỗi câu 7 chữ, tổng cộng 8 x7 = 56 chữ là xem như ” Đường thi ” đã.

Rồi bắt đầu đi vào chi tiết :

8 câu , mỗi câu 7 chữ, hay bài thơ đó chỉ vỏn vẹn có 56 chữ mà thôi, nên khi xử dụng 56 chữ này, cố gắng không dùng một chữ trên một lần .

Nghĩa là 56 chữ riêng biệt, tránh điệp từ ( xài lần 2 trở lên)

Sau đó bắt đầu đi vào vần .

Chỉ có 5 vần đồng âm thôi, vào cuối các câu : 1 2 4 6 8 ( bằng)

Còn cuối 3 câu : 3 5 7 không cần vần với nhau ( trắc )

8 câu ( 7 chữ ) mang nhiệm vụ khác nhau:

Câu 1 – Phá đề : Định nói về gì, trưng ý ra. Thí dụ : Cái nhà.

Câu 2- Thừa đề : Làm cho rõ nghĩa tựa bài . Thí dụ : nhà tranh

Hay vv khác .

Câu3 và câu 4 : Thực hay Trạng . Là cặp đối thứ nhứt

Tinh thần của bài thơ.

Câu 5 và câu 6 : Luận. Bàn thêm về tinh thần bài thơ đó.

Câu 7: Chuyển . Chuyển toàn bộ các câu trên, tức là tóm gọn

để chuẩn bị kết thúc bài thơ.

Câu 8: Kết . Tất nhiên là kết thúc bài thơ rồi. Do đó qua câu

này, tinh thần bài thơ được thể hiện rõ ràng .

Bạn đọc sẽ hiểu cái nhà diễn tả như thế nào, ở đâu,

có kỷ niệm gì vv… chẳng hạn.

Thủa còn ở bậc trung học, quả tình tôi không thích nên không chú tâm học hỏi thể loại thơ ” Đường luật ” . Một kỹ thuật thơ hết sức nguyên tắc , phải kiên trì ghê lắm mới chịu đựng được cái cách diễn tả làm sao cho :

1/ Nói ít, hiểu nhiều mà phải đúng mới được.

2/ Nhiệm vụ của những câu nêu trên phải được chú trọng .

3/ Cẩn thận từ ngữ, nếu không bay bướm được thì phải chân

phương, đọc lên hiểu ngay.

4/ Lời lời châu ngọc mà không cổ lỗ thì mới là… tao nhân,

mặc khách được .

Tới khi tôi từ trại tù cải tạo về, khoảng đầu thập niên 80 thế kỷ trước, tôi may mắn được quý nữ sĩ Hội thơ Quỳnh Dao chuyên xướng hoạ Đường Thi mời gia nhập hội trên.

Thoạt tôi còn ngại ngùng vì lý do quý nữ sĩ như cụ Hồng Thiên, Chi Viên, Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội vv…quý vị niên trưởng như cụ Cao Ngọc Anh tên tuổi đã đi vào văn học sử thế kỷ trước, tôi cứ tránh né.

Sau nữ sĩ Tuệ Mai nói : ” Cao Mỵ Nhân à, em nên gia nhập hội thơ Quỳnh Dao đi, trước nhất em được học hỏi loại thơ uyên bác này, bổ túc cho sinh hoạt thơ ca của em, thứ hai được gần gũi quý cụ phẩm chất đức hạnh, xa những phiền toái cám dỗ …”

Trong khi đó, tôi lại được Thi sĩ Điền Đăng đưa nhị vị thi lão danh tiếng trong văn học tiền chiến, là quý cụ Bàng Bá Lân và Bùi Khánh Đản, tới tận nhà khuyến khích gia nhập Đường Thi vì quý cụ cũng đã đọc thơ mới của tôi nhiều rồi .

Nhưng có một lẽ đơn giản nhất là: quý cụ nghe các nhà thơ trẻ bàn tán, tôi vốn là một sĩ quan Nữ quân nhân VNCH mới từ trại tù cải tạo về, hoá cho nên quý cụ cũng có chút ngạc nhiên, bảo rằng: ” Nữ sĩ mà dám làm thơ tự nhận là một khách kỷ nhân hồi “, phóng khoáng như nam nhi có đúng không?

Sự kiện đã khiến thi lão Quách Tấn, tác giả thâm Nho được mệnh danh là nét chấm phá cuối cùng, qua tác phẩm ” Mùa Cổ Điển ” đánh dấu giai đoạn :

” Quẳng bút lông đi, viết bút chì ” ( Cụ Tú Xương )

Cụ Quách Tấn đã đi xe lửa từ Nha Trang vô Saigon năm 1982, vừa về nhà con cháu ở ngã ba Hàng Xanh Thị Nghè, đã bắt cháu trai chở honda qua khu nhà thờ Ba Chuông, để bất thần đến nhà chị gái tôi số 541/14 Huỳnh Văn Bánh ( Nguyễn Huỳnh Đức Phú Nhuận) coi thử ” Cao Mỵ Nhân phải thực là nữ sĩ, hay ông sĩ quan nào trong Quân Đội tự nhận ” .

Tới lúc thấy Cao Mỵ Nhân rồi, cụ Quách Tấn vẫn chưa tin cô đứng trước mặt cụ là ” Khách kỷ nhân hồi “, cụ chỉ tay mời tôi ngồi ( thay vì tôi phải mời cụ, vì cụ là quý khách từ xa tới chứ ) .

Cụ bảo tiếp:

Chắc chắn tui là ai cô biết rồi, mới làm quen tui chớ, nay tôi bỏ công đi từ Nha Trang vô đây, tui muốn xác thực một sự thật, tui không bị đám hậu sinh phỉnh gạt.

Cụ mở cà táp mang theo, rút ra xấp giấy trắng và cây viết bic, hất hàm nói tôi hãy viết lại một bài thơ, tất nhiên là Đường Luật ưng ý nhứt cho cụ xem .

Tôi buồn cười quá, tôi thưa rằng cụ quá thân với nữ sĩ Mộng Tuyết, phu nhân cụ Đông Hồ, thì tôi xin đưa cụ Quách Tấn lên Úc Viên thăm, như thế là rõ không ai dám ngộ nhận rồi.

Cụ nói : ” Không sao, cứ viết đi “.

Chao ôi, bình sinh không làm thơ cũng chẳng ai dám rỡn đùa quý cụ bô lão, nay mang tiếng làm thơ , mà làm thơ luật thất ngôn bát cú, tôi đâu dám khuynh loát các bậc cha chú mình, huống chi tôi là một phụ nữ .

Tôi bèn bình tĩnh chép lại bài thơ mới hoạ với nhà thơ Vĩnh Mạnh Thường Quân hôm trước ( một ngày vừa ráo mực) :

SAU CHẤN SONG

Đồng ca hay đối thoại trong lồng

Vẫn một tiêu đề : Vượt chấn song

Xanh thẳm mây trời cao quyến rũ

Vàng tươi đồng lúa rộng chờ mong

Nhạc buồn thao thức quyên thăm hỏi

Hoa muộn tàn phai nước ngóng trông

Kỷ niệm còn đây: khung cửa hẹp

Đôi chim thương nhớ một dòng sông

Phú Nhuận hè 1982

CAO MỴ NHÂN

Viết xong, chẳng những tôi trao cụ, mà còn tức cảnh, xin phép được trình bày bài thơ của mình luôn.

Cụ Quách Tấn gật đầu, phê: Toàn bộ bài thơ ” nhất khí ” , có phải cô, là tôi, muốn diễn tả cuộc sống trong tù qua hình ảnh đôi con chim trong lồng , chúng có hoà chung tiếng hót vẫn mục đích vượt thoát đó không ?

Tôi nín thinh, vì bấy giờ chế độ công an khu vực còn tản mác khắp xóm phường, tôi lặng lẽ thực sự buồn .

Song hình như cái điều cuối cùng cụ Quách Tấn muốn nói cho tôi hiểu ý cụ, lại chẳng nơi ngưỡng cửa Đường Thi , thay vì cụ đang hướng dẫn cho hằng loạt quý vị muốn chơi thơ Đường từ Nha Trang, Phú Yên ra tới Quảng Ngãi thủa ấy, đầu thập niên 80 thế kỷ trước, cụ khuyên tôi hãy bỏ thơ ĐƯỜNG đi, vì sẽ khổ vì nó lắm đó.

Tôi ngần ngừ chưa hiểu, cụ bảo rằng: Cụ Quách Tấn, người mộ thơ cổ điển, đã làm 2000( hai ngàn ) bài Đường Luật từ xưa tới nay (1982 ), cụ lựa chỉ lấy được 200 ( hai trăm ) bài thôi, song phút chót , cụ cảm thấy chỉ có 20 ( hai mươi ) bài cụ xài được, cụ trầm ngâm, cười tuy hoà nhã mà như khó hiểu .

Bản tính tôi hay đùa rỡn, tôi vui vẻ tiếp lời :

” Thưa cụ, cháu thấy, có lẽ theo ý cụ, thì trong 20 bài tận tuyển đó, chắc chỉ có 2 ( hai ) bài để gọi là ưng ý phải không ạ, và thưa cụ Quách Tấn , cháu muốn được phép thưa rằng chỉ còn 2 chữ ” ĐƯỜNG THI ” , một bức tranh vẽ ra nền văn hoá rất lý thú nhưng cũng rất cầu kỳ, phức tạp .

Cụ Quách Tấn ra xe honda nói cháu trai chở cụ về ngã ba Hàng Xanh hôm ấy , tôi thấy hình như là bức tượng Lý Đỗ tự đổ xuống công viên Hán Tự . Nhưng sao tôi vẫn dạo loanh quanh nơi khu vườn thanh âm bát ngát điệu vần đó…

CAO MỴ NHÂN




VĂN & THƠ: NGƯỜI ĐI – Cao Mỵ Nhân

Người Đi

Người đi là một tiếng nói vô cùng âm điệu của những nỗi lòng không diễn tả hết được sự hốt hoảng, âm thầm và đầy than thở, trách cứ.

Người đi, vâng, người đi đó đã mang theo một nửa hồn của người ở lại.

Người đi, một nửa hồn tôi mất
Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ…

(Những giọt lệ – Hàn Mặc Tử)

Hai câu thơ trên đã trở thành ngôn ngữ của cộng đồng Việt Nam bất kể ở không gian, thời gian nào.

Tôi cũng là một trong những người khổ sở, quay quắt về hai chữ người đi, và còn kèm theo nỗi buồn bã của hai chữ cũng nặng nề niềm thương cảm xót xa không kém: kẻ ở.

Song hôm nay, tôi dành tất cả những suy tư, luyến tiếc cho hình ảnh người đi để không bị phân tung phân tán tan loãng âm hưởng người đi trong trạng thái nào, tức là trong hoàn cảnh nào chẳng hạn.

Trong lịch sử thi ca cận đại, hai chữ người đi hay đến nỗi không ai tưởng tượng, hình dung văn chương thêm cho bằng hình ảnh nơi bài Tống biệt hành của Thi sĩ Thâm Tâm.

Người đi, ừ nhỉ, người đi thực
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say

(Tống biệt hành – Thâm Tâm)

Đó có thể là người đi vì đại mộng, vì phiêu bồng, vì những cuộc lữ trình không hoàn toàn đóng khung trong tình cảm gần gụi giữa một người với một người.

Khác hẳn với người đi trong bài này, tôi muốn đề cập tới một người bị là kẻ ở: bị người đi lấy mất một nửa tâm hồn.

Cụ thể như một mảnh hồn bị xé ra, người đi mang theo một nửa rồi, khiến người ở lại là nhà thơ Hàn Mặc Tử, chỉ còn một nửa mảnh hồn đó thôi:

Họ đã xa rồi, không níu lại
Lòng thương chưa đã, mến chưa bưa
Người đi, một nửa hồn tôi mất
Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ…

(Những giọt lệ – Hàn Mặc Tử)

Như trên đã trình bày, âm hưởng hai chữ người đi thật tuyệt cùng. Nó có vẻ như là không nói hết được hoặc nói rất nhiều mà vẫn không đầy đủ, không đan cử được “tinh thần” của thực cảnh người đi.

Có lẽ với tôi thì chỉ có hai tình huống xảy ra để người ở lại không bị day dứt khổ đau, ấy là:

Người đi… không đi nữa, bỏ chuyến đi.

Hoặc kẻ ở quá chán ghét người nào đó, muốn họ phải đi đi cho rảnh mắt, cho rồi chẳng hạn.

Thi sĩ Hàn Mặc Tử (Nguyễn Trọng Trí, 1912 – 1941) chưa 30 tuổi đã gánh một nỗi khổ toàn thân, toàn thể…

Nỗi khổ của Hàn Mặc Tử có thể gọi là… đại nan y, vĩnh viễn không bao giờ dứt được ngoài cái chết.

Một nỗi chết đã do ông trời dọn sẵn cho nhà thơ gánh chịu, khiến nhìn đâu cũng chỉ thấy màu máu: từ mặt trăng đến mặt trời, cả một loài hoa vô tư là hoa phượng của học trò cũng nở trong sắc máu:

Bao giờ mặt nhật tan thành máu
Và khối lòng tôi cứng tợ si…

Sao bông phượng nở trong màu huyết
Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu…

(Hàn Mặc Tử)

Trong bối cảnh đau thương như vậy, những người đi từ thân thích tới quen biết đã đi rồi, Hàn Mặc Tử không níu lại được, dẫu lòng thương chưa đã, mến chưa bưa.

Vâng, “chưa bưa” là chưa đủ, chưa vừa với lòng mình vậy.

Để rồi nhà thơ mang bút hiệu họ Hàn lạnh lẽo kia phải thốt ra lời chua xót, nhưng thiết tha rằng người đi đó đã mang một nửa hồn của nhà thơ đi mất hút. Và khiến nửa hồn còn lại bỗng ngơ ngác dại khờ.

Tôi đọc được một câu của Edmond Haraucourt (1856 – 1941):

Partir c’est mourir un peu… (Edmond Haraucourt)

Hiểu là đi là chết trong lòng một ít (un peu).

Hoá ra cái sự ra đi của người Tây phương không nặng buồn như người Đông phương, nói trắng ra như nhà thơ Hàn Mặc Tử tưởng phải mất hẳn một nửa lẽ sống ở đời rồi.

Hôm nay, ngó thấy chiếc lá vàng bay sớm trước nhà, tôi chợt thương cảm nỗi xót xa sâu thẳm trong cuộc đời thi sĩ Hàn Mặc Tử.

Như khi tôi trở về Quy Nhơn, đứng trên Ghềnh Ráng (đúng ra phải gọi là Ghềnh Tráng: nơi những con rùa bò từ ven biển lên), trông xuống trại cùi Quy Hoà.

Chạnh nhớ nhà thơ Hàn Mặc Tử đã quay quắt, khổ sở về bệnh phong cùi của ông thời nửa đầu thế kỷ trước.

Hàng thông đứng bên đường heo hút, thốt reo vào lòng khách mộ điệu những bản tình thơ điên loạn, thảm thiết những tiếng gió lạnh buốt hồn câm.

Hàn Mặc Tử đã chết cùng niềm đau khắc khoải trong vòng tay thượng đế tối cao, tối đại từ vô cùng tới suốt cả tận cùng vô hạn mông lung, qua hình ảnh người đi vô tình vô cảm bỏ lại nhà thơ với “những giọt lệ ” não nùng…

Hawthorne, 1 – 10 – 2019
CAO MỴ NHÂN

NGƯỜI ĐI.    CAO MỴ NHÂN 

Quên rồi, chẳng nhớ gì đâu

Khói hương lại tưởng mây sầu bay qua

Không gian bát ngát là nhà 

Tìm ai trong cõi ta bà nào đây

Người đi hương khói là mây

Chưa chào nhau đã chia tay mơ hồ 

Trăm năm một thoáng hư vô

Bao nhiêu lời tụng ” Nam mô ” chập chờn

Người đi khói tản hương vờn 

Chung quanh chúng gọi hồn đơn lạnh về

Quên rồi, tục luỵ lê thê

Từ đây bảng lảng não nề âm dương 

Thôi nghe gió chuyển mười phương 

Người đi lặng lẽ trên đường hoa bay

Mai sau xót với xa này 

Lẫn trong mộng mị  tháng ngày bâng khuâng…

      CAO MỴ NHÂN 

CHIỀU MÂY.     CAO MỴ NHÂN 

 Chiều nay mây rất nhiều

 Em thầm hỏi tình yêu

 Có nhiều như mây nổi 

 Mang thương nhớ về theo

 Bầu trời bỗng thấp hơn

 Vì mây bay lượn vờn

 Mây tìm ai mây hỡi 

 Anh hay nỗi cô đơn

 Nỗi cô đơn của mình

 Làm nhạt nhoà trang kinh

 Khiến bài chú vô nghĩa

 Chuông mõ bỗng điêu linh

 Rồi mây cũng tan thôi

 Nhưng, lạnh lẽo chỗ ngồi

 Nghe từ xa vọng lại

 Anh đã bỏ cuộc chơi …

    CAO MỴ NHÂN 

KHI HOA ĐÀM NỞ.    CAO MỴ NHÂN 

Bao giờ khói tản đồi mơ

Sương tan dưới lũng, cho thơ mộng về 

Tình rồi cũng hết u mê

Gió tha phương cuốn lời thề lên cao

Bấy giờ trăng bỏ muôn sao

Cô đơn trôi giữa chiêm bao đất trời 

Cây trường sinh suốt cuộc đời 

Không hề rụng lá, hoa vời nguyệt tan

Thế rồi hồn lịm than van

Thoắt chơi vơi giữa hoang tàn mênh mông 

Sô tang gói chặt phiêu bồng

Đưa chân tri kỷ, tiễn hồng nhan đi

Ôi chao tử biệt, sinh ly

Là thôi, trả lại từ bi cho người

Ma ma Phật Phật, nụ cười

Đoá ưu đàm nở trên môi muộn màng …

     CAO MỴ NHÂN  




VĂN: Thanh Thản – CAO MỴ NHÂN

Có những chuyện thật mà kể ra cứ tưởng trong tiểu thuyết kinh dị, hoặc tưởng tượng, chứ làm sao sự thể lại như vậy.

Mới cách đây một giờ, trời còn chút nắng chiều, tôi vừa nghe cú điện thoại từ Houston gọi về. Bà chị dâu bên chồng tôi tên tạm gọi Diệm Hồng, nói rất bình tĩnh là:

Thím có khoẻ không, phone cho thím để báo tin chị sẽ đi lúc một giờ đêm nay, mệt mỏi quá rồi…. Tôi nghe không hề có tiếng sụt sịt khóc cảm thương thân phận hay là oán trách gì ai.

Tại sao lại thế, chị còn khoẻ mạnh, tươi đẹp và mới ngoài bảy chục chút thôi mà?

Người báo tin sẽ chết thì bình thản, mà người nghe tin buồn thảm là tôi thì hốt hoảng, sợ hãi, tôi cứ hỏi dồn: Chị Hồng, chị Hồng, chị có đau ốm gì đâu, có chuyện gì vậy? Tại sao vậy?

Là vì người ta có thể biết trước thảm hoạ bi thiết khi bác sĩ hay bệnh viện nói cho gia đình hay, thí dụ bệnh nhân ung thư phổi này cao lắm là khoảng vài tháng nữa… đi tong chẳng hạn.

Nhưng có lẽ hiếm ai tự đi báo tin sẽ chết trong mấy giờ nữa. Song rõ ràng tôi mới nghe tức thì thôi. Chị Diệm Hồng thủ thỉ một cách ma quái, là chị thanh thản đi trước lúc 1:00 AM.

Chị nói bắt đầu nhỏ lời hơn: Chị có đau nhiều, mới ở hospital ra. Thôi, chị Hồng sẽ đi trong thanh thản, mệt quá rồi, chào em..

Thế là cái gì? Một mạng sống, một cuộc đời chấm dứt như vừa qua phiên chợ vậy sao?

Tôi vẫn chưa khóc, vì chưa biết hồi kết của đoạn phim chị Diệm Hồng vừa chiếu hàm thụ cho tôi coi. Lòng mông mênh quá, bấm điện thoại cả chục lần cho các số phone liên hệ tới nhà chị và bản thân chị, không có phản hồi.

Tôi kêu thử một cô em bên nhà chồng tôi, nhưng phone cũng chẳng được đáp ứng. Tôi đang cư ngụ ở Los Angeles, chị ở Houston, không thể chạy tới thăm chị được và càng không thể nhờ cảnh sát vì chị có nói chị bị bức tử hay là muốn tự chết đâu. Vả chăng chị có cả chục con trai, gái, dâu, rể, không kể hàng cháu nữa.

Thế thì cũng gọi là lạ đấy. Tôi lan man nghĩ về một hoàn cảnh tương tự qua cái ý chí, không phải sự chết mà sự muốn thay đổi sinh hoạt sống, hoặc giả muốn thử thời vận xem có như ý hơn không?

Đó là chuyện cắt tóc tới sát da đầu, hay nói văn hoa là xuống tóc, mà nói không cần giải thích là cạo trọc cái mái tóc, vốn như một điểm hẹn thề riêng tư với chính mình.

Còn gọi là hứa nguyện cho một nguyện ước sắp tới, có khi lại là đã đạt điều mong ước, cần giải lời ước thệ ban đầu.

Thí dụ nếu tôi đạt được ước nguyện sẽ ăn chay bao lâu, sẽ thí phát (nhưng không quy y).

Thủa còn ở Việt Nam, trong năm năm kể từ 1980 tới 1985, không phải mình tôi mà bạn bè chúng tôi đã chứng kiến nghệ sĩ diễn ngâm Hồ Điệp hai lần xuống tóc.

Lần thứ nhất có lẽ là chị đạt nguyện đã có tin tức của hai con trai chị ở Mỹ.

Lần thứ hai khi chị quyết định sắp xếp chuyện cho các con gái và cả cuộc sống riêng tư của chị nữa.

Thế nhưng ai hỏi, chị vẫn nói là trời Sài Gòn nóng quá, cắt tóc thật sát da đầu cho mát…

Mỗi lần rời nhà, chị vẫn có một tấm khăn hoa rất đẹp, rất trang nhã đội trên đầu, kể cả lúc tới các hội thơ ngâm nga, tới các chùa chiền, v.v..

Không phải thí phát để quy y của các tăng sinh, tăng sĩ, người dân miền Nam thường có những chú nguyện đơn giản như ăn chay có thời hạn hoặc vô thời hạn, tức là hy sinh cả những niềm vui ăn uống ngon lành, mặn mà, có thể giảm thiểu một số thực phẩm bổ dưỡng.

…đến xuống tóc để chú nguyện cũng là một trạng thái tâm thần trong cuộc sống. Vì hy sinh cả mái tóc, nếu là phụ nữ, thiếu nữ thì mất hẳn vẻ đẹp của một góc con người rồi còn gì. Cái răng cái tóc là góc con người (tục ngữ Việt Nam).

Thành ra, nghĩ lại con người mà Thượng đế sinh ra là sinh vật thượng đẳng số một trong danh sách sinh hoá của Ngài, Thượng đế, vạn vật muôn hình, muôn ảnh…

Sự sống với sự chết có những hỗ tương ràng buộc từng thế hệ nhân sinh xen kẽ nhau. Để sinh tồn mãi mãi nghĩa là cuộc đời không bao giờ chấm dứt, chỉ có chuyển hoá khác đi thôi.

Tuy nhiên vẫn có những lý giải thần học là đấng tối cao tối đại vẫn có thể xoá đi trong chớp mắt trái đất này, hiển nhiên nhất vẫn là nỗi chết của bất cứ con người nào… không tránh được, chỉ có sớm hay muộn thôi.

(viết trước ngày Halloween 2016)
CAO MỴ NHÂN