GIAO CHỈ VŨ VĂN LỘC: IRCC SAN JOSE Ta Biết Làm Gì Cho Hết Nửa Đời Sau.
Ta biết làm gi cho hết nửa đời sau. Kính thưa quý bằng hữu. Cơ quan IRCC định cư di dân tỵ nạn tại Bắc CA từ cuối năm 1975 nhưng đến tháng 8 năm 1980 mới chính thức do người Việt Nam phụ trách. Chúng tôi ở tuổi 45 nhận trách nhiệm xây dựng lại tổ chức này mà người Mỹ gọi là từ đống tro tàn.
Năm nay 2024 chúng tôi sẽ dùng hết tháng 7 để sửa chữa và kiện toàn Việt Museum với trên 10 tượng đài lịch sử để chuẩn bị cho chương trình sinh nhật bảo tàng tháng 8/2024 gọi là ngày Thank You America và lượng giá nửa thế kỷ người Việt Hội Nhập vào quê hương Hoa Kỳ..
Sau cùng sẽ chuẩn bị chu đáo cho ngày 30 tháng tư năm 2025 ghi dấu nửa thế kỷ trầm luân của người Việt tại hải ngoại. Cá nhân chúng tôi làm giám đốc cơ quan trong giai đoạn đầu lo việc định cư và công tác tình nguyện cộng đồng. Tất cả cũng chỉ là sinh kế như mọi người. Nhưng danh sách 35 năm hoạt động trong bản liệt kê đính kèm xin trình diễn gọi là khoe thành tích của một đời người
Sau 35 năm đầu chúng tôi về hưu tiếp tục sống hoàn toàn là thiện nguyện qua giai đoạn hiện tại cho đến nay đã ngoài 90. Năm nay 2024 chúng tôi mất một chiến hữu là anh Phạm Phú Nam như mất một cánh tay. Xin xem qua đoạn phim anh Nam làm về công tác tình nguyện IRCC. Hình ảnh anh Nam phóng sự tại Nghĩa trang quân đội Biên Hòa. Sau cùng xin viết lời cảm ơn nhà thơ Cao Tần (Lê tất Điều) mới gửi cho tôi đôi lời khích lệ. Năm tỵ nạn đầu tiên Cao Tần phát hành tạp chí Bút Lửa viết lời ai oán như sau: Hỡi người chiến binh một đời anh dũng. Anh lang thang đất lạ đến bao giờ?
Rồi đến câu thơ cay đắng như dành cho riêng ta.
Biết làm gì cho hết nửa đời sau.
Bây giờ đã hết nửa đời sau, bằng hữu đi xa từ lâu. Biết ai tâm sự. Xin nhờ bài viết và cuốn phim của anh Nam gửi quý vị bản thành tích của chúng tôi…
Có những chuyện thật mà kể ra cứ tưởng trong tiểu thuyết kinh dị, hoặc tưởng tượng, chứ làm sao sự thể lại như vậy.
Mới cách đây một giờ, trời còn chút nắng chiều, tôi vừa nghe cú điện thoại từ Houston gọi về. Bà chị dâu bên chồng tôi tên tạm gọi Diệm Hồng, nói rất bình tĩnh là:
Thím có khoẻ không, phone cho thím để báo tin chị sẽ đi lúc một giờ đêm nay, mệt mỏi quá rồi…. Tôi nghe không hề có tiếng sụt sịt khóc cảm thương thân phận hay là oán trách gì ai.
Tại sao lại thế, chị còn khoẻ mạnh, tươi đẹp và mới ngoài bảy chục chút thôi mà?
Người báo tin sẽ chết thì bình thản, mà người nghe tin buồn thảm là tôi thì hốt hoảng, sợ hãi, tôi cứ hỏi dồn: Chị Hồng, chị Hồng, chị có đau ốm gì đâu, có chuyện gì vậy? Tại sao vậy?
Là vì người ta có thể biết trước thảm hoạ bi thiết khi bác sĩ hay bệnh viện nói cho gia đình hay, thí dụ bệnh nhân ung thư phổi này cao lắm là khoảng vài tháng nữa… đi tong chẳng hạn.
Nhưng có lẽ hiếm ai tự đi báo tin sẽ chết trong mấy giờ nữa. Song rõ ràng tôi mới nghe tức thì thôi. Chị Diệm Hồng thủ thỉ một cách ma quái, là chị thanh thản đi trước lúc 1:00 AM.
Chị nói bắt đầu nhỏ lời hơn: Chị có đau nhiều, mới ở hospital ra. Thôi, chị Hồng sẽ đi trong thanh thản, mệt quá rồi, chào em..
Thế là cái gì? Một mạng sống, một cuộc đời chấm dứt như vừa qua phiên chợ vậy sao?
Tôi vẫn chưa khóc, vì chưa biết hồi kết của đoạn phim chị Diệm Hồng vừa chiếu hàm thụ cho tôi coi. Lòng mông mênh quá, bấm điện thoại cả chục lần cho các số phone liên hệ tới nhà chị và bản thân chị, không có phản hồi.
Tôi kêu thử một cô em bên nhà chồng tôi, nhưng phone cũng chẳng được đáp ứng. Tôi đang cư ngụ ở Los Angeles, chị ở Houston, không thể chạy tới thăm chị được và càng không thể nhờ cảnh sát vì chị có nói chị bị bức tử hay là muốn tự chết đâu. Vả chăng chị có cả chục con trai, gái, dâu, rể, không kể hàng cháu nữa.
Thế thì cũng gọi là lạ đấy. Tôi lan man nghĩ về một hoàn cảnh tương tự qua cái ý chí, không phải sự chết mà sự muốn thay đổi sinh hoạt sống, hoặc giả muốn thử thời vận xem có như ý hơn không?
Đó là chuyện cắt tóc tới sát da đầu, hay nói văn hoa là xuống tóc, mà nói không cần giải thích là cạo trọc cái mái tóc, vốn như một điểm hẹn thề riêng tư với chính mình.
Còn gọi là hứa nguyện cho một nguyện ước sắp tới, có khi lại là đã đạt điều mong ước, cần giải lời ước thệ ban đầu.
Thí dụ nếu tôi đạt được ước nguyện sẽ ăn chay bao lâu, sẽ thí phát (nhưng không quy y).
Thủa còn ở Việt Nam, trong năm năm kể từ 1980 tới 1985, không phải mình tôi mà bạn bè chúng tôi đã chứng kiến nghệ sĩ diễn ngâm Hồ Điệp hai lần xuống tóc.
Lần thứ nhất có lẽ là chị đạt nguyện đã có tin tức của hai con trai chị ở Mỹ.
Lần thứ hai khi chị quyết định sắp xếp chuyện cho các con gái và cả cuộc sống riêng tư của chị nữa.
Thế nhưng ai hỏi, chị vẫn nói là trời Sài Gòn nóng quá, cắt tóc thật sát da đầu cho mát…
Mỗi lần rời nhà, chị vẫn có một tấm khăn hoa rất đẹp, rất trang nhã đội trên đầu, kể cả lúc tới các hội thơ ngâm nga, tới các chùa chiền, v.v..
Không phải thí phát để quy y của các tăng sinh, tăng sĩ, người dân miền Nam thường có những chú nguyện đơn giản như ăn chay có thời hạn hoặc vô thời hạn, tức là hy sinh cả những niềm vui ăn uống ngon lành, mặn mà, có thể giảm thiểu một số thực phẩm bổ dưỡng.
…đến xuống tóc để chú nguyện cũng là một trạng thái tâm thần trong cuộc sống. Vì hy sinh cả mái tóc, nếu là phụ nữ, thiếu nữ thì mất hẳn vẻ đẹp của một góc con người rồi còn gì. Cái răng cái tóc là góc con người (tục ngữ Việt Nam).
Thành ra, nghĩ lại con người mà Thượng đế sinh ra là sinh vật thượng đẳng số một trong danh sách sinh hoá của Ngài, Thượng đế, vạn vật muôn hình, muôn ảnh…
Sự sống với sự chết có những hỗ tương ràng buộc từng thế hệ nhân sinh xen kẽ nhau. Để sinh tồn mãi mãi nghĩa là cuộc đời không bao giờ chấm dứt, chỉ có chuyển hoá khác đi thôi.
Tuy nhiên vẫn có những lý giải thần học là đấng tối cao tối đại vẫn có thể xoá đi trong chớp mắt trái đất này, hiển nhiên nhất vẫn là nỗi chết của bất cứ con người nào… không tránh được, chỉ có sớm hay muộn thôi.
(viết trước ngày Halloween 2016) CAO MỴ NHÂN
VĂN – ĐỒN ÔNG LỢI – Lê Xuân Nhuận
ÔNG ÐỒN LỢI
TÔI nói với Đại-Úy (sau này là Thiếu-Tá) Trương Công Ân, Chánh Sở Ðặc-Cảnh Tỉnh+Thị Thừa-Thiên+Huế, rằng anh khỏi cần tháp-tùng hoặc cử nhân-viên đi theo tôi. Tôi chỉ đi dạo chơi trên Đại-Lộ Trần Hưng Ðạo và quanh Chợ Ðông-Ba, để xem lại những nơi chốn cũ vốn đã ghi sâu trong tôi nhiều kỷ-niệm khôn quên trước ngày tôi bị đày đi khỏi Huế vào năm 1960.
Sau đó, cùng với Đại-Úy (sau này là Thiếu-Tá) Ngô Phi Đạm, Chánh Sở Tác-Vụ thuộc Ngành Đặc-Biệt Vùng I, ngồi trong chiếc xe Jeep sơn màu trắng-xám và mang bảng số ẩn-tế đậu dọc lề đường, tôi dùng máy vô-tuyến chỉ-huy công-tác của Đại-Úy Nguyễn Công Văn, Phó Sở Tác-Vụ, và Toán Ðặc-Nhiệm Vùng I, mà tôi đã phái đi riêng từ Ðà-Nẵng ra, đang kín-đáo làm việc ở bên kia Bờ Sông Gia-Hội và ở mé sau Chợ Ðông-Ba.
Vì các đối-tượng theo-dõi của chúng tôi có những liên-hệ mật-thiết với một số viên-chức hữu-trách ở đây, tôi không tiện giao cho địa-phương thi-hành nên phải đích-thân từ Ðà-Nẵng ra tận nơi hành-động với nhân-viên riêng của mình.
*
Dù là dân Huế hay là người ở xa mà đã có lần đến Huế, chắc là không ai không biết đến Đường Trần-Hưng-Ðạo và Chợ Ðông-Ba, nổi bật giữa trung-tâm thương-mại và kỹ-nghệ của cố-đô này.
Ðối với tôi, bây giờ cảnh-vật ở đây kém phần thân thương, vì bây giờ ở đây không còn có nữa một khuôn mặt quen thuộc, quen thuộc như người nhà của mọi người, mọi nhà, nhất là ở khu phố này, lần cuối cách đây chừng trên mươi năm.
Ðó là “ông Ðồn Lợi”.
*
Tháng 3 năm 1947, Đế-Quốc Pháp đem binh-lính viễn-chinh đến dẫm gót giày đinh xâm-lược lên đất Thần-Kinh, trong âm-mưu tái-chiếm cựu thuộc-địa Việt-Nam mà chúng đã khởi đầu tại Sài-Gòn từ tháng 9 năm 1945. Thực-dân đánh đuổi về đồng quê và lên rừng núi lực-lượng kháng-chiến mà Ðảng Cộng-Sản Việt-Nam đã cướp được quyền lãnh-đạo dưới lốt Mặt Trận Việt-Minh. Pháp dựng lên bộ máy kềm kẹp tại những thành+thị và khu-vực mà chúng đã chiếm-đóng được, thí-dụ: Sở Liêm-Phóng Liên-Bang (Sûreté Fédérale), Ty Cảnh-Sát Pháp (Police Française), Toà Án Pháp (Tribunal Français), Lao-Xá Trung-Ương (Prison Centrale), v.v…
Các nhà ái-quốc không-Cộng-Sản bèn đứng ra thành-lập Chính-Quyền Quốc-Gia. Một mặt, họ đương-đầu với Mặt Trận Việt-Minh; một mặt, họ vừa hợp-tác với bạn đồng-minh để bình-định xứ-sở, vừa tranh-đấu với thù cố-cựu để giành lại chủ-quyền cho quốc-dân. Trong tình-hình đó, tại Miền Trung, Hội-Ðồng Chấp-Chánh Lâm-Thời Trung-Kỳ, mà trụ-sở được đặt tại Huế, đã tổ-chức các công-sở: ở cấp Phần thì có Nha An-Ninh Quốc-Gia, v.v…; ở cấp Tỉnh thì có Toà Hành-Chánh với các Ty, tỷ như Ty An-Ninh Quốc-Gia, Ty Cảnh-Sát Quốc-Gia, v.v… là những cơ-quan song-hành nhưng tranh-chấp với các bộ-phận tay-sai kể trên của ngoại-bang.
Huế là trung-tâm của toàn-quốc, đồng-thời là thủ-phủ cuả Miền Trung, cho nên khu phố cốt-lõi của Huế là nơi đầu tiên đón nhận sự hiện-diện của Chính-Quyền Quốc-Gia. Ðó là Ðồn Cảnh-Sát Ðông-Ba, nằm ngay đầu Đường Trần-Hưng-Ðạo và sát hông ngôi chợ mà Ðồn này mang tên.
Ðặng Hữu Lợi là viên Trưởng Ðồn đầu tiên ở đây.
Lợi có một bộ mặt dài thòng như mặt ngựa, với cái vẻ tỉnh bơ như không nói gì mà lại nói rất nhiều, sâu-sắc và chua-cay, khiến nhiều người so sánh anh với vai hề nổi tiếng cuả màn-ảnh Pháp, Fernandel, mặc dù gã diễn-viên của nước ngoài thì cao to ngược hẳn với ông cò thấp gầy của nước mình. Nhưng, xen kẽ với phim-ảnh Pháp thì cũng có nhiều phim-ảnh Mỹ được chiếu thời bấy giờ, nên đã có không ít người cãi lại, bảo rằng trông Lợi giống thằng gầy trong cặp mập+gầy Laurel và Hardy của Hoa-Kỳ. Ðó là những lúc Lợi pha trò, nhộn và tếu vô cùng.
Lợi có một đặc-điểm khác nữa, là anh thường hay chồm nửa người trên về phiá cửa lớn cũng như cửa sổ, nghiêng đầu và hướng mắt ra xa, dù cho đang bàn-luận chuyện gì với ai, tạo cho người xung quanh cái cảm-tưởng là anh luôn luôn ngóng đợi một người nào. Vì là Trưởng Ðồn nên anh được gọi là “ông Ðồn”, và vì tên Lợi mà lại có dáng-bộ chờ-đợi nên bạn-bè tinh-nghịch đặt cho anh cái biệt-danh “ông Ðồn… Lợi”, với cái hàm-ý theo lối nói lái là “ông đợi… l…”. Chính anh cũng lấy làm thích-thú được mọi người dùng cái tên ấy để gọi mình.
Sau khi có Chính-Quyền Quốc-Gia, những người dân Huế, vốn đã bỏ chạy về miền nông-thôn lánh nạn sau đêm lịch-sử 19 tháng 12 năm 1946―quân và dân Việt-Nam bất-thần tấn-công các đồn/trại và tư-gia cuả Pháp để khởi đầu cuộc kháng-chiến toàn-quốc―nay lũ-lượt hồi-cư. Một số dân quê cũng rời ruộng đồng lên phố sinh sống để tránh tai-họa vì các cuộc giao-chiến ngày càng lan ra. Tuy thế, hàng ngày dân-chúng vẫn di-chuyển tấp-nập giữa Thành-Phố này với các Tỉnh khác và các Quận+Xã xung quanh; và bến xe chính cũng như bến đò chính thì ở sát chợ, cạnh Ðồn, nên “ông Ðồn Lợi” được hầu hết bà con khắp nơi trong Tỉnh và các Tỉnh khác quen mặt hoặc biết tên, trong lúc các Đồn-Trưởng Ðồn khác chỉ được nghe thấy trong Phường mình mà thôi.
Lợi nổi tiếng không phải chỉ do cái dáng-mạo buồn-cười ấy, mà còn nhờ ở thiện-chí bênh-vực bảo-vệ đồng-bào hiền-lương.
Nào là Sûreté Fédérale (Mật-Thám Pháp), nào là Commando (Biệt-Kích Pháp), nào là Partisan (thân-binh Pháp), cùng với binh-lính Pháp và cả thường-dân Pháp nữa, ngày nào cũng có không biết bao nhiêu vụ chúng cướp-bóc, đánh-đập, hãm-hiếp, bắt-bớ, và cả bắn/giết, người dân Việt-Nam. Lợi là một trong số những viên-chức Cảnh-Sát Quốc-Gia đầu tiên đứng ra can-thiệp chống kẻ bạo-tàn. Tất-nhiên, không phải lần nào người ngay-chính cũng thuyết-phục được kẻ gian-tà. Anh đã bị không ít trận đòn dã-man.
Đặc-biệt, đối với các phần-tử phạm-pháp bị bắt quả-tang, ngay cả Việt-Minh, Lợi cũng đòi cho họ được đối-xử đàng-hoàng.
Vào những ngày cuối tuần, cuối tháng, và sau mỗi cuộc hành-quân, hầu như tất cả lính Pháp đều đổ xô ra đường; mua sắm thì ít mà nhậu-nhẹt và kiếm gái thì nhiều. Người gốc Ma-Rốc, Xê-Nê-Gan, An-Jê-Ri, Tuy-Ni Zi, từ các thuộc-địa của Pháp ở Châu Phi, thì chỉ dạo phố và giải-trí bình-thường; thỉnh-thoảng mới có vài vụ lôi-thôi. Người gốc thiểu-số Ra-Ðê ở Cao-Nguyên Trung-Phần Việt-Nam thì chất-phác, không gây phiền-hà. Chỉ duy người Pháp chính-quốc và người gốc Ðức cảm-tử trong binh-chủng Lê-Dương là thường hay say-sưa đánh người. Ðặc-biệt vào Ngày Quốc-Khánh Pháp, 14 tháng 7 hàng năm, người lính Lê-Dương được xá mọi tội nên tha-hồ phá-phách, quỵt-giật, hành-hung người, và hiếp-dâm phụ-nữ Việt-Nam.
Vào những dịp ấy, hầu hết nhân-viên Cảnh-Sát Quốc-Gia khắp Thành-Phố Huế, ngoài giờ làm việc đều mặc giả thường-dân, đổ dồn về Đường Trần-Hưng-Ðạo, nấp sẵn trong các con hẻm dẫn ra Bờ Hồ, hoặc phiá trước hiên đình Chợ Ðông-Ba, hễ thấy có lính Lê-Dương hoặc lính Pháp giở trò áp-bức dân lành là ào ra nện cho chúng những trận nên thân. Xong xuôi, “ông Ðồn Lợi” mới dẫn nhân-viên trực Ðồn đến tiếp-ứng giải vây cho chúng và giúp phương-tiện chở chúng về trại giùm.
Thảng-hoặc có Prévôté (Hiến-Binh Pháp) xuất-hiện thì Lợi cho nhân-viên tuần đường đi trước để thông-tin. Trong trường-hợp đó, các toán hành-hiệp đành nhẫn-nhịn nhìn đồng-bào bị thiệt-thòi―vì Prévoté chỉ can ngăn chứ không bắt giữ kẻ phạm-pháp hoặc bồi-thường cho nạn-nhân―sau đó, họ mới bám theo bọn tội-phạm trên đường chúng trở về trại binh, và chận dọc đường mà trả thù.
Hồi đó, Ty Cảnh-Sát Huế là nơi cung-cấp Phái-Viên Hành-Chánh (về sau gọi là Quận-Trưởng) cho các Quận thuộc các Tỉnh, và các Cảnh-Sát-Trưởng cho các Thị-Xã, khắp Miền Trung.
Ðội Túc-Cầu Cảnh-Sát Huế nhiều lần đoạt giải vô-địch toàn-quốc.
Ban Kịch Thơ Cảnh-Sát Huế vượt trội các đoàn kịch-nghệ khác, tỷ như của Nha Thông-Tin, của Nha Cảnh-Sát Công-An, v.v… khắp Trung-Phần Việt-Nam.
Ðặng Ngọc Lựu, đạo-diễn, và tôi, tác-giả, luôn luôn để dành cho Lợi ít nhất là một vai kịch hài và một màn ngâm thơ tếu, trong mỗi đêm trình-diễn trước quảng-đại đồng-bào. Không-khí văn-nghệ cởi-mở ấy cũng là một dịp để “ông Ðồn Lợi” được người dân gần-gũi và thân-thương mình hơn.
Dần dần, các chính-khách Quốc-Gia giành thêm được nhiều bước nhượng-bộ cuả Pháp, và tiến tới nhất-trí mời Cựu-Hoàng Bảo Ðại về nước nắm chính-quyền trung-ương. Cùng với Hội-Ðồng An Dân Bắc-Việt và Chính-Phủ Cộng-Hoà Nam-Kỳ-Quốc Tự-Trị, Hội-Ðồng Chấp-Chánh Lâm-Thời Trung-Kỳ rút lui. Chính-phủ Quốc-Gia thành-hình. Các cơ-quan đơn-vị thuộc Pháp giải-thể lần lần. Nhiều phe phái thay phiên nhau lên cầm quyền trong từng địa-hạt và vào từng thời-kỳ. Nhưng “ông Ðồn Lợi” vẫn còn là Trưởng Ðồn Cảnh-Sát Ðông-Ba. Các cấp chỉ-huy chưa độc-tài đến độ chỉ bổ-nhiệm vây cánh của mình vào mọi chức-vụ điều-khiển mọi cấp trong mọi ngành như sau này.
Ngày 07-5-1954, Pháp thất-trận ở Ðiện Biên Phủ.
Ngày 07-7 cùng năm, Ông Ngô-Ðình-Diệm chính-thức nhậm-chức Thủ-Tướng Chính-Phủ do Quốc-Trưởng Bảo Ðại bổ-nhiệm, hướng về Hoa-Kỳ.
Ngày 20 cùng tháng, Hiệp-Ðịnh Geneva ra đời, chia đôi đất nước, mở đường cho Mỹ đến và Pháp ra đi. Phản-ứng cuả Quân-Ðội Quốc-Gia, thân Pháp, là gây một cuộc khủng-hoảng chính-trị trầm-trọng trên toàn-quốc, xuất-phát từ Sài-Gòn và Huế. Nhưng Huế mới là trung-tâm thực-nghiệm, với hành-động chống-đối quyết-liệt và cụ-thể, vì Bộ Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu ở Huế đang có cơ-hội điều-động và sử-dụng một lực-lượng quân-sự lớn để vào tiếp-thu Tỉnh Quảng-Ngãi mà Việt-Minh vì phải tập-kết ra Bắc nên giao lại cho Chính-Quyền Quốc-Gia; và Huế là nơi tập-trung cuả gia-đình họ Ngô. Ngoài một số ít các nhà cách-mạng sáng suốt, còn thì những người có ưu-tư vì thời-cuộc tuy dè-dặt nhưng đều nôn-nao nghe ngóng dư-luận trong và ngoài nước để ước-đoán chiều hướng biến-đổi cuả tình-hình, hầu chọn thế đứng cho mình.
Giới Công-An Cảnh-Sát vốn biết tôi đã tiên-đoán thế nào Mỹ cũng nhảy vào Việt-Nam nên đã chú-tâm trau-dồi tiếng Anh từ nhiều năm trước đó, nay thấy tôi đã qua bên quân-ngũ, giữ mục thời-luận hằng ngày trên mặt báo và trên Ðài Phát-Thanh, tiếng nói chính-thức của Quân-Lực và Tư-Lệnh Quân-Khu, bèn tìm cách thăm dò ý-kiến tôi. Lợi là người được họ cậy nhờ, và tôi cũng cần có anh để liên-lạc với bạn-bè. Bên ngoài thì sự tiếp-xúc thường-xuyên giữa Lợi với tôi chỉ nhằm mục-đích văn-nghệ, vì tôi vẫn còn tiếp-tục sáng-tác cho Ban Kịch Thơ cuả Cảnh-Sát Huế và cho chính anh diễn-ngâm, nhưng bên trong thì qua anh tôi thuyết-phục mọi người hãy đón nhận Hoa-Kỳ, giàu-mạnh hơn, và hào-hiệp, chứ không như Pháp, để nước nhà dễ sớm vươn lên.
Ngô Ðình Diệm là người được Hoa-Kỳ chấp-nhận và ủng-hộ.
Trong cảnh tranh-tối tranh-sáng của những ngày tháng giao-thời ấy, Lợi là một trong số ít những ủng-hộ-viên và cổ-động-viên đắc-lực nhất nhưng cũng bất-vụ-lợi nhất mà tôi đã tranh-thủ được cho Thủ-Tướng họ Ngô. Trong một nước còn hậu-tiến, một lời phát-biểu của các viên-chức chỉ-huy Ngành Công-Lực, tỷ như “ông Ðồn Lợi”, có một ảnh-hưởng khá lớn trong dân-nhân.
Vở kịch thơ dã-sử “Gươm Chính-Nghiã” của tôi, dưới bút-danh Nguyệt Cầm, mà nội-dung có ngụ-ý đề-cao Ngô Ðình Diệm, được khán-giả nhiệt-liệt hoan-nghênh và yêu-cầu diễn lại nhiều lần. Các bài thơ trào-phúng của tôi, dưới bút-danh Tú Ngông, mà chủ-đề là “đả thực, bài phong, diệt cộng”, đúng theo chiêu-bài của Diệm, qua tài diễn-xuất của “ông Ðồn Lợi”, cũng được công-chúng tán-thưởng nồng-nàn.
*
Cuối năm 1956, mãn hạn động-viên, tôi về lại với Ty Cảnh-Sát Huế.
Cầm lại cây bút dân-sự, tôi tái-hoạt-động văn-nghệ tích-cực hơn xưa.
Riêng trong công-quyền, ngoài công-vụ hằng ngày, tôi vun-đắp thêm cho Ban Kịch Thơ, xuất-bản một tờ nội-san mang tên “Phục-Vụ”, phổ-biến đi khắp các Tỉnh và lên cả Trung-Ương. Qua tờ nội-san này, tôi đã hướng-dẫn và khuyến-khích “ông Ðồn Lợi”, dưới bút-danh Hữu Lợi, viết tùy-bút, truyện ngắn, và làm thơ. Tôi mở các lớp bổ-túc nghiệp-vụ chuyên-môn, dạy tiếng Anh, cho cảnh-nhân toàn Thành, đồng-thời thuyết-trình về những ý-nghiã cao-đẹp của chủ-nghiã Nhân Vị, nòng-cốt của học-thuyết Diệm, và phổ-biến tạp-chí “Thế-Giới Tự Do”, chiếu phim cuả Phòng Thông-Tin Hoa-Kỳ, cả cho đồng-bào trong khắp địa-phương. Lợi là một trong những anh em sốt-sắng nhất, ngoài giờ làm việc tham-gia phụ-lực tôi. Chúng tôi phục-vụ hăng say, đúng theo tinh-thần của cuộc “Cách-Mạng Quốc-Gia” mà Tổng-Thống Ngô Đình Diệm chủ-trương.
Tuy thế, vì không phải là tay+chân thân-tín, cũng không phải là cừu non, nên dù đem hết tâm-huyết ra để đóng góp, số đông, như Lợi và tôi, vẫn không được đãi-ngộ công bình. Trái lại, có một số phần-tử kém-cỏi nhiều mặt vẫn được tưởng-thưởng vượt quá lệ thường; thậm chí tùy-phái lao-công cũng được thăng cấp sĩ-quan, mỗi khi lễ-lạc lớ-quớ trong bộ đại-lễ-phục xuất-hiện trước quần-chúng làm trò cười cho mọi người. Có kẻ in thiệp báo tin chịu lễ rửa tội gửi khắp toàn Miền, cho cả các công-sở khác và những người không quen, như một thông-cáo chính-thức bảo-đảm cho nấc thang giá-trị mới và tiền-đồ công-danh sự-nghiệp của mình.
Qua những mẩu tùy-bút của Hữu-Lợi mà tôi không dám cho đăng, tôi thấy anh không còn chỉ là một cây cười vô-biên-giới, mà đã nghiêm-túc chọn một giới-tuyến cho chính mình. Ðiều quan-hệ hơn hết là anh đã dám giãi-bày, bằng giấy trắng mực đen, tâm-tình ẩn-ức của những tầng lớp thấp cổ bé miệng, công-nhiên gửi cho báo đăng, thách-thức các thế-lực thịnh-thời.
Lâu nay, Lợi đến với tôi tại văn-phòng, tại hội-đường, tại câu-lạc-bộ, là những nơi hầu như khi nào cũng có đồng-nghiệp lắng nghe chúng tôi. Từ nay, tôi đến với Lợi tại Ðồn Cảnh-Sát Ðông-Ba, là nơi luôn luôn có quá nhiều giới người, mà lại có quá nhiều loại việc, nên không ai chú ý đến nội-dung câu chuyện của chúng tôi.
Lợi có thói quen uống cà-phê với thật nhiều đường, mà anh gọi là chè-phê. Bên ly chè-phê, “ông Ðồn Lợi” lắc đầu ngao-ngán kể thêm cho tôi biết mỗi lần vài ba sự việc mà tôi chưa hề nghe.
Vẫn với thói quen chồm nửa người trên ra hướng cửa sổ, Lợi chỉ tay về phiá dãy phố buôn bán sầm-uất dọc lề bên kia Đại-Lộ Trần Hưng Ðạo, nơi đến đầu Cầu Gia-Hội thì giáp góc với Đường Huỳnh-Thúc-Kháng song-song với Đường Gia-Long. Anh nói:
– Hôm nọ là Bửu Bang chủ tiệm “Rồng Vàng”, hôm kia là Phan Văn Thí chủ hiệu “Đức Sinh”, hôm khác là nhà buôn Lý Lâm Thịnh, rồi Châu chủ hãng “Nam-Hưng”, rồi thầu-khoán Nguyễn Giáp, rồi thương-gia Phan Cho. (Chưa kể Nguyễn Văn Yến, Nguyễn Đắc Phương đã bị giết chết rồi.) Ngày mai, ngày mốt, sẽ đến phiên ai đây?
Ðó là những người có máu mặt ở trong khu-vực trách-nhiệm của Lợi, đã lần-lượt bị bắt giam, bị tịch-biên tài-sản, hoặc ít nhất là bị vây hãm phạm-vi kinh doanh.
Trong lúc phong-trào bài-trừ tứ-đổ-tường dâng lên cao thì những tệ-đoan xã-hội khác, trầm-trọng và nguy-hại hơn, lại do chính một số các con-cưng của chế độ gây ra.
Một dược-sĩ đêm đêm giả làm tài-xế đạp xe-đạp xuống các bến, dưới Cầu Trường-Tiền, dọc bờ Sông Hương, o-mèo các cô giúp việc của những gia-đình khá-giả ở các dãy phố từ Cửa Thượng-Tứ xuống đường Hàng-Bè. Thường thì đến mười một giờ tối cửa tiệm mới đóng; đợi dọn-dẹp xong, chủ nhà đi ngủ, các cô mới mang áo quần xuống sông giặt-dịa, hoặc gánh cặp thùng nhiều chuyến đi lấy nước về đổ đầy hồ chứa để có đủ dùng cho ngày hôm sau. Ðó là thời-gian tự-do; ai muốn nghỉ sớm thì gắng làm nhanh, còn ai muốn đàn-đúm bạn-bè thì cứ rán mà thức khuya. Họ là con gái nhà quê, ít chữ nghiã, nhưng có nhan-sắc nên mới được các chủ-nhân ăn-nên làm-ra chọn mướn cho phù-hợp với cảnh thanh-lịch thị-thành. Thế là, thay vì phải mặc đồ lớn đi chầu-lụy cả một đại-gia-đình, vất-vả tốn kém suốt năm mà chưa chắc đã nắm được bàn tay của một cô gái Huế hộ-đối môn-đăng, viên dược-sĩ nhà-ta chỉ cần bỏ ra vài xu mua một gói đậu phụng rang, trổ tài ăn nói của kẻ học rộng biết nhiều ra mà chiêu-dụ, mỗi khi một con mồi, là cầm chắc trung-bình mỗi tuần phá được cuộc đời cuả ít nhất là một cô gái còn trinh. Lợi đã tình-cờ bắt gặp một cặp trai+gái đang ôm nhau trên bãi hoang, và nhận-diện ra gã đàn-ông chính là viên dược-sĩ kia; nhà trí-thức ấy đã tâm-tình riêng với “ông Ðồn Lợi” như trên. Rồi một hôm, được tin báo có kẻ bị tình-địch đâm ở bờ sông, Lợi cùng nhân-viên chạy đến thì không còn thấy người nào. Riêng Lợi lần theo thì gặp được nạn-nhân-mà-là-tội-nhân đang ôm vai lủi-thủi về nhà. Y năn-nỉ “ông Ðồn Lợi” đừng ghi lời báo-cáo “vô căn-cứ” nọ vào sổ trực đêm, vì sợ sáng sau trình sổ lên Ty thì Ty sẽ cho mở cuộc điều-tra, nhà tai-mắt sẽ mất mặt với mọi người. Cứ thế mà tên hiếu-dâm vô-lương kia gặp gió thuận chiều nên vẫn lên cao như diều.
Một giáo-sư đại-học bị Ðội Biệt-Ðộng của Ty bắt gặp “ngủ đò” cùng với vợ bạn trên sông Hương. Ở Huế, có cái thú thuê đò mà ngủ giữa lòng sông: vừa mát-mẻ nhờ không-khí trong lành, vừa thoải-mái vì không ngại bị ai quấy rầy, lại kín-đáo bởi sông thì tối mà đò không thắp đèn, và nhất là không đòi hỏi khách, như khi mướn phòng khách-sạn, phải khai tên người thuê. Do đó, đa-số trường-hợp ngủ đò đều là để ăn nằm với nhau. Trong cuộc “cách-mạng quốc-gia”, mọi người đều phải noi gương “đạo-đức của Ngô Tổng-Thống”, cho nên dù là vợ+chồng với nhau mà đi ngủ đò thì cũng bị xem là tội-lỗi rồi, huống-hồ họ là những ông nọ, bà kia. Rốt cuộc, nội-vụ đã được ém nhẹm, và “ông Ðồn Lợi” không thể ghi chép gì trong sổ trực đêm, mặc dù sự việc xảy ra trong hoạt-vực của mình…
*
Hôm ấy, Lợi nhắn các bạn đồng cảnh-ngộ là Trần Xuân Tự, Trần Vĩnh Thuận, Ưng Hạc, Nguyễn Thông, Nguyễn Duy Hát, Nguyễn Mầm, Đỗ Dzư, Tôn Thất Ninh, v.v… đến Ðồn Cảnh-Sát Ðông-Ba để cùng gặp tôi.
Không-khí có vẻ nghiêm-trọng khác thường. Khi tôi mới ngồi xuống ghế, Lợi đã hỏi ngay:
– Anh em muốn biết sự thật: anh đã có bao nhiêu “Д rồi ?
Tôi đã có nghe nhiều người kháo chuyện với nhau về cái thang “Д này. Dân-chúng truyền miệng với nhau:
Một “Д mới đứng ngoài sân,
Hai “Д mới được bước chân vô nhà;
Ba “Д: con cháu ruột rà;
Bốn “Д là chú, là cha trên đầu…
Nay Lợi nói ra, tôi muốn nhân dịp tìm hiểu rõ hơn, nên đáp chung-chung:
– Thì người nào trong chúng ta cũng đều có một “Д cả. Chúng ta là “đồng-Ðoàn” với nhau, tức đều có chân trong Ðoàn [“Công-Chức Cách-Mạng Quốc-Gia”].
Thuận tức “Thuận Xù” lắc đầu:
– “Ðoàn” thì nói làm gì? Nông-dân thì Ðoàn Nông-Dân Cách-Mạng Quốc-Gia, v.v… Một “Д thì chỉ là lính; hai “Д mới là sĩ-quan chứ!
Tôi cười:
– Thế thì tôi không phải là “sĩ-quan”!
Lợi đưa tay bắt tay tôi:
– Xin lỗi anh. Chúng tôi tưởng anh đã lên hai “Д rồi!
– Cho nên anh rủ các bạn đến đây để hài tội tôi chứ gì?
“Thuận Xù” kết-luận:
– Người như anh mà muốn kiếm thêm “Д thì chúng tôi còn biết trông nhờ vào ai!
Thật ra, không có một văn-bản nào quy-định như thế; nhưng cứ dựa vào sự việc xảy ra, người dân―đã từng sáng-tác tục-ngữ, phương-ngôn, ca-dao, hò, vè―đã hình-dung ra cái thang mới ấy, gồm có bốn cấp bậc “Д:
“Đ” thứ nhất là “đồng-Đoàn” như đã nói trên;
“Д thứ hai là “đồng-Ðảng”, tức đã vào Ðảng [“Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng Đảng”];
“Д thứ ba là “đồng-Ðạo”, tức đã theo Ðạo [Kitô-Giáo].
Nhưng nếu có “Д thứ tư thì mới lên đến tột-đỉnh quyền-lợi và uy danh: “đồng-Ðịa”, tức là cùng Ðịa-Phương, quê-quán [Quảng-Bình hay Thừa-Thiên] với gia-đình họ Ngô và các vệ-tinh.
Kết-nạp đảng-viên hay thu-nhận tín-đồ là một việc làm thông-thường; nhưng cậy thế cường-quyền và đơm mồi tục-lụy để đạt mục-đích là một việc trái với đạo-đức thông-thường.
Ðảng lãnh-đạo thì cứ lãnh-đạo, miễn sao đem lại hạnh-phúc cho mọi người thì tự-nhiên quần-chúng ủng-hộ và tham-gia. Tại sao ép buộc người ta theo mình, trở mặt với các chính-đảng khác, các tổ-chức ái-quốc kỳ-cựu khác, vốn có quá-khứ tranh-đấu vẻ-vang gắn liền với lịch-sử nước nhà; mà không thuận theo thì bị xem là phản-loạn, nghịch thù. Ðâu là quyền tự-do lựa chọn, kể cả quyền tự-do không nhập bọn với bất cứ một bọn nào.
Ðối với đa-số đồng-bào mà tinh-thần tam-giáo thấm-nhuần, sự dốt-nát và vụng-về của thiểu-số công-thần thao-túng chế-độ, trong vấn-đề này, để giúp cho tổng-giám-mục sớm lên hồng-y, bị xem là trắng-trợn xâm-phạm đời sống tâm-linh của người dân: dồn ép công-chức, quân-nhân, và cả thường-dân, từ bỏ tín-ngưỡng của mình để phải tuân-phục tín-điều của tập-đoàn cầm quyền, chà-đạp lên các giá-trị truyền-thống của nền triết-học Ðông-Phương vốn đã un đúc nên tinh-thần quốc-gia cho toàn-dân.
(Trước đây khi Pháp mới trở lại vào năm 1947, Cụ Trần-Văn-Lý, một nhân-sĩ Kitô-Giáo, đã làm Chủ-Tịch Hội Ðồng Chấp-Chánh Trung-Kỳ nhiều năm. Trong tình-trạng chiến-tranh, hiến-pháp không có, luật-lệ hỗn-tạp, tư-pháp một chiều, thì quyền-hành của Cụ Lý đối với người dân sâu rộng bội phần hơn so với Vua Bảo-Ðại ngày xưa; thế mà cụ có lợi-dụng cơ-hội để bắt ai theo đạo của mình đâu? Cho nên, đến năm 1967, mặc dù cụ không đắc-cử nhưng đã có biết bao nhiêu người tuy khác tín-ngưỡng với cụ song thâm-cảm đức-độ của cụ mà hy-sinh quyền-lợi tôn-giáo và đảng-phái của mình để dồn phiếu cho cụ mong cụ lên làm Nguyên-Thủ Quốc-Gia.)
Vấn-đề tế-nhị vô cùng, đâu phải dễ như chuyện “chớp thời-cơ”, “đốt giai-đoạn”, “thưà thắng xông lên” của cộng-sản độc-tài xem dân như dân ngu.
Cộng-sản củng-cố hệ-thống bằng thủ-đoạn phi-nhân; đằng này chống Cộng mà lại áp-dụng phương-sách và phương-tiện của quân thù…
Ðến nay thì chính bản-thân “ông Ðồn Lợi” đã bị đẩy vào chân tường. Dù anh có muốn nhắm mắt, ngậm miệng cho qua ngày, thì cũng vẫn không yên thân. Bộ-hạ của tập-đoàn chuyên-quyền đã đến móc nối “ông Ðồn Lợi”, cũng như các bạn kia, và tôi. Thuận theo thì danh-lợi hanh-thông. Trái lại, thì…
Bên ngoài thì một số các phần-tử cứng đầu, không chịu có hơn một “Д, mà thật-sự có khả-năng, vẫn được bổ-nhiệm vào các chức-vụ chỉ-huy cấp thấp, cấp trung.
Nhưng bên trong thì vì chỉ tuân phục một hệ-thống chính-quyền, chứ không chấp-nhận vai trò giật dây của các thế-lực đằng sau, nên họ bị kỳ-thị, bị ếm-trù, không được thăng-tiến dễ-dàng, và có thể bị hãm-hại bất-cứ lúc nào.
Lợi và các bạn tóm-lược tình-hình chung.
Họ không đòi hỏi tôi phải có thái-độ hay hành-động gì, nhưng kết-luận là họ đặt tin-tưởng vào tôi.
Xưa nay tôi vẫn tự mình chọn lấy đường đi của mình, tiền-phong bước những bước đầu, chứ không chịu quyền lãnh-đạo của ai.
Nhưng “ông Ðồn Lợi” và các bạn không lập thành một nhóm để lôi kéo tôi.
Dù sao, cùng với vô-số cá-nhân và tập-thể khác, họ là nguồn gốc của những đợt sóng cảm nghĩ tạo nên nền móng cho các phong-trào đột-khởi trong dân-gian.
Thế rồi biến-cố Ngày Lễ Hai Bà Trưng 3-3-1960 xảy ra*.
——-
*Xem “Lãnh-Chúa Ngô Đình Cẩn” trang 215.
Lời phát-biểu công-khai của tôi tại Ty Cảnh-Sát Huế, rằng chế-độ có nhiều ung độc, đã có tác-dụng của một mồi lửa châm cháy ngòi thuốc súng nối liền vào quả mìn nhân-tâm.
Sau đó là Phong-Trào “Phật-Tử Tranh-Ðấu” đòi quyền bình-đẳng và chống đàn-áp tôn-giáo, được sự đồng lòng của quảng-đại quần-chúng, mà hăng-hái nhất là giới sinh-viên, và quyết-liệt nhất là giới quân-nhân.
Trong lúc bất-cứ một tu-sĩ Kitô-Giáo nào, nếu muốn, cũng có thể tiếp-xúc với Tổng-Thống Ngô Ðình Diệm nhanh-chóng và dễ-dàng, thì Ðức Ðại-Lão Hoà-Thượng Thích Tịnh Khiết, là Hội-Chủ Tổng-Hội Phật-Giáo Việt-Nam, một tổ-chức quy-tụ trên chín mươi phần trăm dân-số trong nước, đang bị bệnh nặng ở Huế mà cũng rán sức vào tận Sài-Gòn để xin gặp Tổng-Thống Ngô Đình Diệm, ước mong giải-quyết vấn-đề; thế nhưng Ngài phải chờ đợi nhiều ngày mà vẫn hoài-công.
Nhiều cao-tăng và Phật-Giáo-Ðồ theo nhau tự-thiêu từ Thủ-Ðô đến các Tỉnh Thành.
Cả thế-giới nhờ ngọn lửa Thích Quảng-Ðức mà thức tỉnh lương-tri.
Rồi cuộc Cách-Mạng 1-11-1963, rồi các biến-cố khác xảy ra.
Rồi “ông Ðồn Lợi” không còn làm Trưởng Ðồn Cảnh-Sát Ðông-Ba nữa.
Anh từ-giã Huế; rồi anh từ-giã cuộc đời, để lại tiếc thương cho những ai đã từng sinh sống trong khu-vực này, đã từng tán-thưởng những màn kịch vui và giọng ngâm thơ tếu của người Cảnh-Sát Văn-Nghệ mà không cảnh-sát văn-nghệ này.
*
Ðại-Úy Nguyễn Công Văn gọi máy báo-cáo đã bắt được một cơ-sở tiếp-tế nội-thành và một cán-bộ mậu-dịch từ miền quê lên, cùng hai tấn gạo được che giấu dưới những món hàng thông-thường, trong một chiếc ghe đang rời bến, để chở về tiếp-tế cho Việt Cộng ở mật-khu, đúng với tin-tức tình-báo cuả E6 chúng tôi.
Tiếng Văn vang lên từ máy vô-tuyến cắt đứt dòng hoài-niệm về người bạn cũ trong tôi.
Tôi ra lệnh chuyển-giao nội-vụ cho nhà chức-trách địa-phương, là người hiện nay thay thế “ông Ðồn Lợi” ở Cuộc―tên mới cuả Ðồn―Cảnh-Sát Ðông-Ba.
Bây giờ ở đây chỉ có một Trưởng Cuộc Cảnh-Sát Quốc-Gia kiêm-nhiệm đại-diện của Ngành Ðặc-Biệt, của tôi, tại cấp Phường này, chứ không còn có tên hề mặt-ngựa đã có một thời chọc cười tức-bụng chảy-nước-mắt cho cả mấy thế-hệ đồng-bào ở cố-đô…
*
Đại-Úy Nguyễn Công Văn đến với chúng tôi, báo-cáo tóm-tắt công-tác xong, tôi bảo mọi người lên xe rời Huế trở vào Đà-Nẵng.
Văn nói với Đạm, Chánh Sở Tác-Vụ, mà nhìn vào tôi:
− Qua đặc-nhiệm này, chắc ông Giám-Đốc muốn “dằn mặt” Bộ Chỉ-Huy Cảnh-Lực ngoài này, chứ gì?
Tôi không trả lời, quay nhìn về Đạm.
Đạm phát-biểu:
− Mình là Cảnh-Sát Quốc-Gia, thì mình có bổn-phận và quyền-hạn phanh-phui mọi vụ phạm-pháp bất-cứ ở đâu. Nhưng mình là Cảnh-Sát Đặc-Biệt, thì việc-làm chính của mình là chính-trị chứ không phải là hình-sự, mặc dù mình cũng có thể nhúng tay vào các vụ hình-sự, vì mình là Hình-Cảnh-Lại cơ mà.
Nhưng mình có dòm-ngó gì đến các việc-làm khuất-tất của ai đâu.
Ngành Đặc-Biệt Khu thỉnh-thoảng mới hành-động phụ giúp Ngành Đặc-Biệt các Tỉnh/Thị thuộc Khu trong những trường-hợp đặc-biệt mà thôi, thế thì chỉ là việc-làm bình-thường, chứ có gì là “dằn mặt” ai đâu!
Lẽ ra theo đúng phép tôi phải gọi Thi Sĩ lão thành DƯƠNG HUỆ ANH là bậc tiền bối, nhưng ông đã nhận tôi là cô em nhỏ và cho phép tôi gọi thân mật là anh BA. Tình anh em tôi bắt đầu khi cô em văn nghệ thân quí của tôi là VĂN THI SĨ PHƯƠNG HOA rủ rê tôi gia nhập VĂN THƠ LẠC VIỆT. Mới chân ướt chân ráo bước vào ngưỡng cửa VTLV đã được các đàn anh gửi MAIL chào đón. Trong số đó có một email vô cùng dễ thương của THI SĨ lão thành DƯƠNG HUỆ ANH. Ông gọi tôi là “bạn cố tri”, và kể ông biết tôi qua Báo CỎ THƠM từ lâu lắm, chỉ chưa có dịp chuyện trò thôi. Tôi thầm phục trí nhớ của ông, còn tôi thì quá tệ, cảm thấy tên ông rất quen thuộc mà chưa nhớ ra ông cũng có Thơ đăng trên CỎ THƠM từ lâu.
Ngay sau đó, tôi mời ông gia nhập VĂN BÚT VÙNG ĐÔNG BẮC HOA KỲ (VBVĐBHK), Ông vui vẻ nhận lời ngay. Từ đó thỉnh thoảng anh em tôi nói chuyện qua điện thoại. Ông tâm sự làm thơ từ năm 1954. Tôi nói năm đó tôi chỉ là con bé con mới 13 tuổi và là năm phải rời bỏ miền BẮC thân yêu để di cư vào NAM. Biết tuổi tôi rồi, ông gọi tôi là cô em nhỏ. Trong VBVĐBHK có Thi sĩ LÃO MÃ SƠN lớn tuổi nhất, chúng tôi tôn ông là anh HAI. Người lớn tuổi thứ nhì sau Thi Sĩ LÃO MÃ SƠN là Thi SĨ DƯƠNG HUỆ ANH nên tôi xin phép tôn ông là anh BA cho thân mật, ông vui vẻ bằng lòng ngay. Từ đó trên DIỄN ĐÀN VBVĐBHK chúng tôi luôn gọi ông là anh BA DƯƠNG HUỆ ANH. Ông rất hiền hòa, dễ thương, hòa đồng, thân mật với em út. Dạo sau này ông không được khỏe, nhưng nguồn thơ vẫn lai láng và sáng tác vẫn rất dễ dàng nhanh chóng.
Lâu không thấy ông gửi Thơ để tôi giới thiệu lên DIỄN ĐÀN VBVĐBHK, đang định phôn thăm ông và nhắc nhở, Không ngờ ông bỏ đàn em ra đi quá nhanh, không một lời từ giã. Anh BA ơi, anh em mình còn hẹn sẽ gặp nhau khi dịch bệnh yên lành, em sẽ qua SAN JOSE dự họp mặt VTLV để anh em mình có dịp được gặp nhau. Vậy mà anh đã quên lời hẹn với em rồi. Cám ơn anh đã dành cho em gái nhỏ những tình cảm vô cùng quí giá. Bài thơ kỷ niệm anh đăng trong Tuyển tập VĂN BÚT VÙNG ĐÔNG BẮC HOA KỲ anh đã ưu ái nhắc tới tên rất nhiều em út Văn Nghệ, trong số đó có em. Chúng em sẽ nhớ anh BA của chúng em mãi mãi.
Cầu xin anh thanh thản trên nước Trời. Tiếp tục vui với văn chương thơ phú bên những người thân yêu.
Sau đây xin mời quí vị thưởng thức bài thơ tràn đầy tình văn hữu quí hóa của ANH BA chúng tôi.
THEO AI…
Thơ Dương Huệ Anh
Thuở nào, ta khổ vì yêu,
Theo nàng áo tím,
lớp chiều…trường xa!
Rồi, người tú nữ kiêu sa,
Lên xe với bạn…bye, tà áo bay!
Để rồi ngơ ngẩn, theo mây.
Biển đông, xe cát, mộng xây…dã tràng!
Không còn gặp lại,bẽ bàng…
Còn chăng, kỷ niệm…ngàn trang thơ buồn!
Theo ai… tật xấu vẫn còn,
Lên trời( net) gặp…những thơ tròn, thơ vuông…
Truyện dài, truyện ngắn…ơi thương,
Người chưa thấy, muốn vấn vương, có kỳ?
Phương Hoa, Minh Thúy…bộn bề
Bao sân, đồ họa…cũng chì thật thôi!
Cung Lan, Hồng Thủy…yêu người,
Trước, sau gắn bó, lối ngoài tầm phương…
…Truyện thơ nhớ Nguyễn Thanh Dương,
Tiểu Thu, Dung Đỗ, Phan Lang,bao người…**
Kiều Mỹ Duyên, thạo việc đời,
Viết văn, làm báo… góp lời, dựng xây
Gặp nhau, trao đổi, có ngày…
** Những tên tiếp theo muốn kể…
Huynh LÃO MÃ SƠN,THÁI LAN, SAO KHUÊ,
MỸ NGA, DAO THANH L, KIM OANH LÊ,
Ý NGA, NGUYỄN KINH BẮC,
THANH KIM LÊ, TRẦN QUỐC BẢO,
PHAN KHÂM, NGUYỄN THỊ NGỌC DUNG,
NGỌC AN, LÂN NGUYỄN,
KIM LOAN, LUÂN TÂM, THƯ KHANH,
NGUYỄN MINH NỮU, XUÂN TIÊN…
(9-1-2021) DƯƠNG HUỆ ANH
NỮ-SĨ VI KHUÊ – Lê Xuân Nhuận
NỮ-SĨ VI KHUÊ
TRỤ-SỞ Ðài Phát-Thanh Huế tọa-lạc ngay trên bờ Hữu-Ngạn của Sông Hương, cạnh mé Tây của đầu Cầu Trường-Tiền, đối-diện Đại-Khách-Sạn Morin bên kia Đường Lê-Lợi sát góc Đường Duy-Tân.
Thuở ấy, chưa có các Ðài cấp Tỉnh, Ðài Huế là Tiếng Nói chung của cả Miền Trung, nên máy phát rất mạnh (không thua Ðài Quốc-Gia và Ðài Pháp-Á [Radio France-Asie] của Pháp ở Sài-Gòn), nghe được cả ở Miền Bắc lẫn Miền Nam Việt-Nam.
Cả nước chưa có hệ-thống truyền-hình; cả Miền Trung chỉ có vài ba tờ nhật-báo ở Huế mà thời-sự thì dựa theo tin-tức-đọc-chậm của Ðài Sài-Gòn. Trong tình-hình đó, Ðài Huế là món ăn tinh-thần hằng ngày của đồng-bào Miền Trung, và của cả những người ở phiá Ngozi Tỉnh Thanh-Hoá và ở phiá trong Tỉnh Bình-Thuận mà có gốc-gác hoặc liên-hệ đời sống ở Miền Trung.
Ngoài những tiếng hát của các nam+nữ ca-sĩ mà một số về sau vào Sài-Gòn thì trở thành danh-ca của toàn-dân, giọng bình và ngâm thơ của các thi+kịch-sĩ tên-tuổi một thời, tiếng hát của các danh-ca quốc-tế trong các chương-trình nhạc ngoại-quốc do thính-giả yêu-cầu, và giọng đọc xì-xồ của mấy người Pháp trong chương-trình vô-tuyến của Service d’Information, những ai đã từng nghe Ðài Huế cũng đều xác-nhận rằng người nữ-xướng-ngôn chính của Ðài này có một giọng đọc truyền-cảm vô-cùng. Giọng đọc của người con gái Huế ấy chẳng những dịu-dàng, ngọt-ngào, ấm-cúng, hấp-dẫn, mà còn trí-thức (vì không bao giờ vấp phạm lỗi-lầm khiến thính-giả khó chịu hoặc làm sai lạc ý-nghiã của câu văn).
Những người hiếu-kỳ đi ngang qua Ðài Huế thường để ý thấy có một thiếu-nữ be-bé xinh-xinh, cư-ngụ trong một căn phòng khiêm-tốn ở tầng trên của một buồng-kho bên hông trụ-sở Ðài. Một cầu thang nhiều bậc xi-măng từ mặt đất bắc lên cửa phòng làm cho căn phòng có vẻ cao hơn, khiến các thanh-niên ái-mộ đặt cho người-đẹp và căn phòng ấy cái mỹ-danh “nàng bồ-câu trên chuồng bồ-câu”.
Ðó chính là cô xướng-ngôn nói trên.
Sau ngày hồi-cư vào đầu năm 1947, tôi thường đến Ðài Huế để góp phần vào các chương-trình kịch vô-tuyến hằng tuần, kể cả việc trình-bày một số kịch thơ dã-sử và xã-hội của tôi, trong đó nhạc-sĩ Trịnh Văn Ngân là một trong những cây ngâm tuyệt-vời.
Do đó, tôi quen biết “nàng bồ-câu trên chuồng bồ-câu”. Tên nàng là Trần Trinh Thuận, tức nữ-sĩ Vi Khuê, một biên-tập-viên chính-ngạch có giọng-nói-trời-cho nên kiêm luôn phần-vụ xướng-ngôn.
Tuy Vi-Khuê làm việc ở một cơ-quan thông-tin tuyên-truyền đậm màu chính-trị, nhưng những bài thơ của nàng hồi đó chỉ là tâm-tình của bạn gái ở lứa tuổi hai mươi, dễ thương như “con nai vàng ngơ-ngác, đạp trên lá vàng khô”.
*
Tôi thì lăn xả vào giữa tình-hình rối-ren cuả Quê Hương.
Dù đã từng bị giặc Pháp tù đày, tôi vẫn giao-du tuy không đồng-ý với Hồng Quang, chủ-nhiệm báo “Ý Dân”, là người chỉ chọn vũ-lực để chống chủ-nghiã thực-dân; và vẫn cộng-tác tuy không thuận-tình với Phạm Bá Nguyên, chủ-nhiệm báo “Công Lý,” là kẻ nhận Ðệ-Tứ thay cho Ðệ-Tam. Tôi lui+tới với Duy Sinh nhưng chưa yên tâm vì huyền-thoại văn-hoá điệp-báo của Nguyễn Bách Khoa. Tôi rất đau lòng vì đồng-bào đói khổ, nhưng chỉ hiệu-chính giùm thi-pháp chứ không tán-thành nội-dung khích-động giai-cấp đấu-tranh trong thi-tập “Tiếng Nói của Dân Nghèo” cuả Vân Sơn PMT [Phan Mỹ Trúc]. Tôi thân+thương Trụ Vũ và Quách Thoại nhưng không hợp tính với họ vì lối sống phóng-túng của hai nghệ-sĩ thân-nhân ấy của Vi Khuê. Tôi tiếp-xúc với tác-giả nhưng không khép mình trong triết-thuyết bi-quan trong “Con Thuyền Không Bến” cuả Nguyễn Vũ Ban. Tôi thả hồn lên cõi siêu-nhiên nhưng không bước vào nương nhờ Cửa Thiền trong “Không Bến Hạn” cuả Huyền Không.
Tôi ủng-hộ cả hai đường-lối phục-hồi độc-lập quốc-gia: công-nghiệp kháng-chiến vũ-trang chân-chính của người dân, và nỗ-lực ngoại-vận ôn-hoà của các chính-trị-gia không-cộng-sản trong lòng Thế-Giới Tự-Do.
Riêng ở phiá bên này lằn ranh, tôi nhận thấy Cựu-Hoàng Bảo Ðại thì quá yếu mềm mà Đế-Quốc Pháp thì còn luyến tiếc giấc mơ đô-hộ Việt Nam, nên viết cuốn truyện dã-sử “Trai Thời Loạn” để gửi gắm ý mình, và kết-quả là tôi bị cơ-quan An-Ninh Quốc-Gia bắt giam; sau nhờ có chính-khách Cao Văn Chiểu, Giám-Đốc Thông-Tin Lê Tảo, cùng nhiều nhân-sĩ khác, can-thiệp với Thủ-Hiến Phan Văn Giáo, tôi mới được thả ra.
Ðể tạo một thế đứng vững-vàng hơn, tôi thành-lập Thi+Văn Ðoàn “Xây-Dựng”, xuất-bản các tác-phẩm của mình và của các bạn từ Bắc chí Nam. Mới bắt đầu thì Nhất Hiên [Phan Nhật Hiến] bỏ theo Việt Minh, và nửa chừng thì Như Trị [Bùi Chánh Thời] cũng nhảy lên chiến-khu.
Tôi hướng về nền dân-chủ và lòng hào-hiệp cuả Hoa Kỳ như tia sáng ở cuối đường hầm.
*
Tháng 4 năm 1954, tôi vào phục-vụ tại Phòng 5 Bộ Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu với tư-cách văn-nghệ-sĩ & ký-giả bị/được động-viên chuyên-môn. Lê Ðình Thạch và Huy Vân thì kỳ-cựu, Tô Kiều Ngân gốc Nha Thông-Tin cũng đã thành quân-nhân. Tchya [Ðái Ðức Tuấn] và Nhất Lang thì được đồng-hoá sĩ-quan.
Ngoài việc viết bài cho báo “Tiếng Kèn”, cho các đơn-vị Võ-Trang Tuyên-Truyền ở tuyến đầu, và cho chính tôi đi vận-động trong dân-nhân, tôi còn là phóng-viên chiến-tranh và biên-tập-viên chính cuả Ðài “Tiếng Nói Quân Ðội” tại Miền Trung.
Do chương-trình phát-thanh này, mà tôi là giám-đốc, tôi mới đặt phòng-giấy ngay tại trụ-sở của Ðài Phát-Thanh Huế, và gặp mặt Vi Khuê thường-xuyên.
Thay chỗ nhạc-sĩ Anh Chương, tôi cử Lâm Tuyền làm Trưởng Ban Tân-Nhạc; nhưng rồi tôi làm lơ cho Lâm Tuyền đào-ngũ vì anh quá chán chuyện đời.
Tôi đưa Văn Giảng lên thay.
Hà Thanh mới bắt đầu vào nghề.
Những lần xe Jeep bị hư, tôi đạp xe-đạp qua chở Kim Tước từ cư-xá Nha Thông-Tin ở bên kia Cầu Trường-Tiền. Cặp Châu-Kỳ−Mộc-Lan của giới ca-nhạc, cũng như cặp Hoàng-Pha−Phương-Khanh của giới văn+thơ, cũng đã từng ở đây.
*
Rồi Thoả-Ước Geneva ra đời.
Trong hội-nghị quốc-tế ấy, có ba nhân-vật Việt-Nam đã được thế-giới chú ý hàng đầu: Cô Thiên-Hương, con gái của nhà văn Hồ Hữu Tường, là nữ ký-giả duy-nhất, nói được nhiều ngoại-ngữ và trẻ đẹp nhất trong giới truyền thông; Cụ Võ-Thành-Minh, một lão-thi-sĩ, từ Huế đến, đã bí-mật vượt hàng rào Cảnh-Sát Thụy-Sĩ vào cắm trại trên Bờ Hồ Leman trước hội-đường, tuyệt-thực thổi sáo nói lên nỗi lòng của người dân Việt-Nam mong-muốn Thống-Nhất và khao-khát Tự-Do; và Ông Nguyễn-Quốc-Ðịnh, Ngoại-Trưởng cầm đầu Phái-Ðoàn Quốc-Gia Việt-Nam của chính-phủ Bảo Ðại, đã từ-chức để khỏi ký tên vào văn-bản thừa-nhận việc đất nước bị qua-phân.
Thủ-Tướng Ngô Ðình Diệm cử Ông Trần-Văn-Ðỗ đến thay. Pháp và Việt-Minh thoả-thuận ngưng bắn, lấy vĩ-tuyến 17 ngang sông Bến Hai làm ranh-giới Bắc–Nam.
*
Ðại-Tá Trương Văn Xương, Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu, thuộc cánh Tổng-Tham-Mưu-Trưởng là Trung-Tướng Nguyễn Văn Hinh [con của cựu Thủ-Tướng Nguyễn Văn Tâm, thân-Pháp], mở một chiến-dịch đưa quân từ Huế vào tiếp-thu các Tỉnh phiá trong. Theo chương-trình chính-thức thì Thủ-Tướng Diệm sẽ từ Sài-Gòn ra chủ-toạ lễ thiết-lập Chính-Quyền Quốc-Gia tại vùng đất mới lấy lại này. Theo kế-hoạch riêng của cặp Hinh+Xương thì Diệm, trên đường đi từ Huế vào Quảng-Ngãi, sẽ bị lính và dân dàn chào bằng tiếng hô “Đả Đảo” cùng với trứng thối và cà chua. Câu hỏi nổi bật là “Mười vé phi-cơ cho gia-đình họ Ngô, hay là mạng sống cuả cả trăm ngàn binh sĩ Quốc-Gia?” Các bức tường vẽ khẩu-hiệu đã được xây lên; và biểu-ngữ, bích-chương, cùng truyền-đơn liên-hệ đã được chuẩn-bị sẵn dọc đường rồi.
Thành-Phố Huế ngẫu-nhiên được chia thành hai trận-tuyến. Bộ Tư-Lệnh Quân-Khu thì đóng trong Ðại-Nội, phiá Bắc của Sông Hương; nhà Ông Ngô-Ðình-Cẩn, trung-tâm quy-tụ cuả gia-đình Họ Ngô, thì nằm trên Xóm Phú-Cam, phiá Nam của Sông Hương. Bộ-phận “Tiếng Nói Quân-Ðội” của tôi lại đặt trụ-sở tại Ðài Huế, trên bờ phiá Nam. Ðể biểu-dương lực-lượng, Quân-Khu phái đến hai chiếc xe-tăng, án-ngữ hai bên sân, trước Ðài Phát-Thanh. Các chương-trình vô-tuyến dân-chính chỉ có nội-dung lập-lờ, thông-tin hàng-hai.
Ở Quảng-Ngãi, cán-bộ Việt Minh gài lại xúi giục dân-chúng phản-kháng lực-lượng tiếp-thu, vì thấy vẫn có Cố-Vấn Pháp trong hàng-ngũ Quốc-Gia; súng nổ, người chết; Ủy-Hội Quốc-Tế Kiểm-Soát xen vào.
Ðảng Cần-Lao, qua nhạc-sĩ Ngọc Linh, móc nối tôi.
Tôi không theo đảng-phái nào hết, nhưng quyết-định ủng-hộ Thủ-Tướng Diệm, với chủ-trương “Ðả Thực, Bài Phong, Diệt Cộng”, để được sự giúp-đỡ cuả Hoa-Kỳ. Quốc-gia giàu mạnh nhất thế-giới này đã dìu-dắt Tây-Ðức, nâng-nhấc Nhật-Bản, và cứu-vớt Ðại-Hàn. Trung-Tá Nguyễn Văn Bông, Tư-Lệnh Mặt Trận Nam–Ngãi, đã phát-biểu với Trung-Tá Nguyễn Văn Tố, Phó Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu, trong khi Bông lái xe ra đón Tố vào:
– Mình cộng-tác với thằng giàu thì hẳn sướng hơn phục-vụ cho thằng nghèo!
Tôi thảo truyền-đơn, tài-liệu, viết bài tuyên-truyền cho chí-sĩ họ Ngô.
Bộ Tham-Mưu của Xương không tin-tưởng ở tôi. Họ lập hẳn một Ðài Phát-Thanh riêng, trong Thành-Nội― dân-chúng gọi là “Đài bí-mật”―để tự mình phổ-biến lập-trường chống-Diệm và hô-hào dân-chúng nổi lên.
Không còn bị Cấp Trên ràng buộc, tôi công-khai dùng “Tiếng Nói Quân Ðội” để hậu-thuẫn cho Diệm và Hoa-Kỳ.
Hồi ấy, chỉ có một số trong giới Nho-học lớn-tuổi nghe danh Ông Ngô-Ðình-Khả, còn đa-số dân-chúng nói chung thì ít ai biết tên Ông Ngô-Ðình-Diệm, ngoại-trừ một nhóm trong giới Kitô-Giáo có đọc tờ báo “Tinh Thần” thời-gian gần đó.
Chương-trình phát-thanh của tôi có ảnh-hưởng rất lớn trong quần-chúng, vì làn sóng của Ðài Huế phát đi rất mạnh và xa, trong lúc “Ðài bí-mật” thì nhỏ và yếu, chỉ lẩn-quẩn vùng gần, lại khi-có khi-không.
Tôi đã lèo-lái để người dân xứ Huế, nghe Đài “của tôi” và trông thấy hai chiếc xe-tăng trấn đóng trước Ðài mà tưởng và tin là phe mạnh nhất trong Quân-Lực đã đứng hẳn qua phía Diệm, nên biệt-phái chiến-xa đến cho tôi để bảo-vệ Tiếng Nói của mình, chống lại phe yếu thế Hinh–Xương.
Toàn-quốc, nhất là Sài-Gòn, hướng về xứ Huế, gốc-gác của họ Ngô, lấy đó làm chỉ-dấu mà lên tinh-thần.
Từ đó, các phần-tử thân-Diệm mới dám đứng ra khỏi vòng giới-hạn của mình mà hoạt-động rộng-rãi trước mắt mọi người.
*
Trong những tháng ngày gay-cấn ấy, cứ mỗi lần từ các cuộc hành-quân hoặc từ các hoạt-vực bên ngoài trở về với phòng-giấy tại Ðài, tôi lại cảm thấy nhẹ-nhõm cả người, khi gặp mặt lại những nữ-nghệ-sĩ trẻ đẹp tươi vui, như bướm, như hoa, tô thắm cuộc đời. Trong vườn thanh+sắc ấy, Vi Khuê của giới thi+văn vẫn gần-gũi với tôi hơn các bạn bên giới cầm+ca. Nhưng “nàng bồ-câu” vẫn vô-tư-lự như mọi ngày, đâu biết đầu-óc tôi đã bỏng-rát những tính-toán mưu-mô, thân-xác tôi đã bầm-dập những gian-nan nguy-khốn, và chỉ trở về văn-phòng để thư-giãn cho những căng-thẳng thần-kinh.
*
Thủ-Tướng Ngô Đình Diệm thắng phe Hinh+Xương.
Hoa-Kỳ mở Phòng Thông-Tin tại Đại-Khách-Sạn Morin. Giám-Ðốc Thompson A. Grunwald là viên-chức dân-sự Mỹ đầu tiên đặt chân đến Miền Trung. Tôi tổ-chức dạy tiếng Anh trên Ðài, có Tôn Thất Ðát phụ-lực; tham-gia thường xuyên là Thompson, và bất-thường là bất-cứ người ngoại-quốc nào nói tiếng Anh mà tôi gặp được, bắt đầu từ Đại-Tá Richardson, Trưởng Phái-Ðoàn quân-sự Hoa-Kỳ T.R.I.M.
Lớp dạy tiếng Anh của tôi là lớp đầu tiên trong lịch-sử dạy tiếng Anh qua làn sóng truyền-thanh cho thính-giả Việt-Nam.
Nguyễn Cửu Tú (Phó Giám-Đốc Đài), Thompson và Nhuận
Ðại-Tá Nguyễn Quang Hoành lên thay Trương Văn Xương, rồi vì bất-đồng chính-kiến nên lại nhường chỗ cho Thiếu-Tướng Lê Văn Nghiêm.
Ðại-Úy Ngô Văn Hùng thay thế nhạc-sĩ Ngọc Linh, làm Trưởng Phòng 5. Văn Giảng ra đi, tôi cử Lê Trọng Nguyễn lên thay. Nguyễn vừa dịch tài-liệu vừa sáng-tác nhạc; bên cạnh giai-phẩm “Nắng Chiều” là “Hoan-Hô Lê Thiếu-Tướng” theo lệnh của Hùng (bắt chước “Hoan Hô Ngô Thủ-Tướng”). Ðể giúp Tôn Thất Ðậu chọn nhạc ngoại-quốc do thính-giả yêu-cầu, tôi liên-lạc với hàng chục Toà Ðại-Sứ ở Sài-Gòn, viết lời mở đầu về nền âm-nhạc của mỗi nước, và đặc-tính của mỗi bản nhạc, để giới-thiệu trước khi trình-bày. Giáo-Sư Lê Hữu Mục có đến chơi đàn; nữ-sĩ Như Thu đến góp bài; thi-sĩ Hồ Ðình Phương đến ngâm thơ. Trình-bày “Mục Thi-Ca” của tôi là Trần Anh Tuấn, Ðinh Lợi, Lan Hương, và Tâm Thanh [Tôn Nữ Kim Ninh].
*
Ở các Tỉnh Cao-Nguyên và miền núi Tỉnh Quảng-Ngãi, phong-trào đòi tự-trị của người Thượng nổi lên.
Chính-Quyền Diệm gom các phần-tử chủ chốt “Thượng Tự-Trị” về tập-trung ở đầu Cầu Nam-Giao. Một Nha Chiến-Tranh Tâm-Lý được lập nên, đặt trụ-sở ở đầu Cầu Phú-Cam. Đại-Úy Hùng kiêm-nhiệm Nha này. Tôi cũng kiêm thêm một số phần-vụ ở cơ-quan này, nên dời bàn-giấy đến đây.
Bộ Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu dời tổng-hành-dinh qua Hữu-Ngạn sông Hương.
Nước Việt-Nam Cộng-Hoà, với sự hậu-thuẫn của Hiệp-Chủng Quốc Hoa-Kỳ, được Thế-Giới Tự-Do nhìn-nhận.
*
Trong những năm trẻ-trung của Nền Ðệ-Nhất Cộng-Hòa ấy, Liên-Xô, Hoa-Cộng, và Cộng-Sản Bắc-Việt, là những bên chủ-trương chia đôi đất nước Việt-Nam, chưa sẵn-sàng thực-hiện vũ-trang xâm-lược Miền Nam, mà Hoa-Kỳ thì viện-trợ tối-đa cả tinh-thần lẫn vật-chất cho con bài của mình và cái tiền-đồn mới lập này của họ ở Ðông Nam Á, nên tình-hình an-ninh khả-quan, chế-độ bắt đầu vững-vàng.
Thế là nhiều người liền tranh nhau mưu-quyền thủ-lợi riêng. Hầu hết chiến-công giữ nước, cũng như thành-tích dựng nước, được dùng để dâng lên Ngô Tổng-Thống, chỉ là những cử-chỉ qụy-lụy, những lời-lẽ tâng-bốc, những thái-độ tôn-thờ, dành cho toàn-thể gia-đình họ Ngô, được các tay+chân thân-tín của Cụ xét thấy êm tai đẹp mắt nên tường-trình lên mà thôi.
Ông Ngô-Ðình-Khôi, bào-huynh của Diệm, từ-trần đâu cả chục năm trước kia, không ai biết đến; nay dời mộ-phần thì có cả tá cấp-cao chức-lớn gây lộn nhau để giành làm Trưởng Nam danh-dự hầu-cận bên quan-tài; nhiều năm về sau, hễ nhắc đến ông, nhiều kẻ còn khóc-lóc thảm-thương. Ông Ngô-Ðình-Luyện làm đại-sứ tận bên nước Anh, người dân không hề thấy mặt, thế mà khi nhắc đến ổng thì ai nấy đều vẽ-vời ra vô-vàn tài-cao đức-trọng, để ngợi-ca cho vừa lòng thế-gia. Huống chi các “Cố Vấn” hùng-cứ trong nước mà uy-quyền có khi lấn át cả ông anh. Dù không muốn nhập-cuộc, đa-số vẫn phải nhắc đi nhai lại, để được yên thân, những sáo-ngữ đã thành công-thức chót lưỡi đầu môi: “Nhờ ơn Ngô Tổng-Thống và các bào-huynh, bào-đệ cuả Người!” Thế là lắm kẻ được đặc-cách tiến-chức thăng-quan.
Trung-Tướng Thái Quang Hoàng thay thế Thiếu-Tướng Lê Văn Nghiêm.
Nhà văn Bùi Tuân trở thành Dân-Biểu, không còn viết thuê xã-luận cho Ðài của tôi, mà diện lễ-phục lái xe-hơi di diễu khắp phố-phường. Nhạc-sĩ Ngô Ganh không còn lập-dị, mặc bộ com-lê may bằng dạ chăn đi dưới nắng hè, bên trong là chiếc áo ngủ cổ kiềng mà mỗi lần đi đâu thì chỉ cần gài thêm vào đó một cái cổ áo trắng có đính sẵn ca-vát là khỏi phải tốn thêm nguyên cả chiếc áo sơ-mi; bây giờ ảnh làm Quản-Ðốc Ðài, kiêm Ðại-Diện Nhân-Dân Miền Trung, ngồi chung dãy ghế danh-dự với Ðại-Biểu Chính-Phủ, Tư-Lệnh Quân-Khu, v.v… trong những buổi lễ công-cộng trên khán-đài Phu Văn Lâu.
Trong lúc đó, tôi bị cơ quan An-Ninh Quân-Ðội thẩm-vấn tới, điều-tra lui. Họ vin vào cớ tôi đã là Trưởng Ðài Quân-Ðội từ khi còn Hinh+Xương.
Một hôm, Tổng-Thống Diệm ra Huế và ở lại đêm. Sáng sau, tôi nghe hàng-xóm kháo chuyện với nhau: “May mà bắt được, chứ không thì quân khủng-bố đã ám-hại Tổng Thống đêm qua rồi!” Ðến sở, tôi hỏi Đại-Úy Ngô Văn Hùng thực/hư thế nào; ổng liền gọi điện-thoại cho An-Ninh Quân-Đội, và cơ-quan này đến bắt tôi. Truy-cứu mới biết: chính-quyền sở-tại và thân-tộc có tổ-chức nhiều vòng đai an-ninh xung quanh nhà-thờ Phú Cam, nơi Diệm đến tiếp-xúc với giáo-dân; có một nhân-viên chìm, thuộc vòng-đai trong, vì đến trễ nên bị chận soát ở vòng-đai ngoài; thấy y có vũ-khí giấu trong người, đồng-bào tưởng lầm là Việt Minh. Chỉ có thế thôi, nhưng vì Diệm đã được thần-thánh-hoá, nên câu hỏi của tôi, dù là để phối-kiểm với mục-đích dùng Đài Quân-Đội mà trấn-an dư-luận đồng-bào, cũng đã bị xem là một sự xúc-phạm tày trời.
Ngày xưa, phần lớn văn-nghệ-sĩ đều phục-vụ trong ngành truyền-thông, nên tôi đã từng mong được chuyển nghề qua làm việc trong cơ-quan Thông Tin, để được quần-chúng độc-giả khán+thính-giả trọng-vọng hơn. Bây giờ đã ở trong ngành Tác Ðộng Tinh Thần, dù của Quân Lực nhưng cũng là thông-tin tuyên-truyền, tôi mới thấy mặt trái của tấm huy-chương.
Lần đó, nhà bác-học Bửu Hội, thân-thích của Cựu-Hoàng Bảo Đại, nhân dịp từ Pháp về thăm nhà, đến nói chuyện về y-học với đồng-bào Huế tại Rạp Chiếu Bóng Morin. Một số văn+thi-sĩ tùng-sự tại Nha Thông-Tin Trung-Phần đã nêu lên nhiều câu hỏi về thời-sự, mục-đích là để gài Hội phải phát-ngôn ủng-hộ Diệm, hoặc ngược lại thì có bằng-chứng để dễ ra tay. Mặc dù Hội đã nhấn mạnh rằng ông không về Việt Nam với mục-đích chính-trị, và xin miễn đề-cập đến các vấn-đề ngoài phạm-vi y-học, đồng-thời số đông trong cử-tọa cũng đã huýt gió phản-đối những câu hỏi lạc-đề, nhưng nhà văn Ðỗ Tấn [Đỗ Tấn Xuân] vẫn trơ-tráo đứng dậy đặt thêm cho được vài câu hỏi nữa.
Bác-Sĩ Trần Văn Thọ, Tổng Giám-Ðốc Thông-Tin, mà còn tranh tài với Bác-Sĩ Trần Kim Tuyến (Giám-Ðốc Nha Nghiên-Cứu [tức cơ-quan Tình-Báo] thuộc Phủ Tổng-Thống), thảo nào mà nhà-văn này cũng không chịu lép vế các nhà-văn khác trong thành-tích bao vây những ai bị nghi là, bị cho là có thể đối-kháng chế-độ đương-quyền.
Một số nhà-thơ giành nhau chức-vụ lãnh-đạo ngành Thông-Tin, khởi đầu bằng địa-vị Chủ-Tịch Hội Văn-Nghệ-Sĩ & Ký-Giả Miền Trung.
Nhà-thơ Đỗ Tấn Xuân nhai lại cái bã Tố Hữu tán-tụng Staline, in hẳn cả một tập thơ―nhan đề “Mùa Hoa Sim Nở”―trong đó có câu “Tiếng đầu lòng con gọi: Cụ Ngô!”
Họ sợ vướng tôi nên tìm cách loại tôi, lùng thu thi-tập “Ánh Trời Mai” của tôi, v.v…
Thế nhưng hầu hết các nam+nữ tân+cổ+nhạc thi+ca+kịch-sĩ cộng-tác với tôi thì chỉ thấy tôi là một nhà thơ trẻ trai, hiền-lành, hòa-đồng với họ trong từng bộ-môn, chứ không biết gì về những khó-khăn của tôi.
Họ cũng không quan-tâm gì đến mục-đích chính-trị của Ðài, mà lại đinh-ninh rằng trọng-tâm hoạt-động và lý-do cùng ý-nghĩa của sự hiện-diện của Ðài chỉ là phần diễn-ngâm ca-tấu giải-trí văn-nghệ mà họ cống-hiến cho số thính-giả gần xa ái-mộ họ mà thôi.
Vi Khuê thì trầm-lặng hơn họ và có một thế đứng riêng. Nàng không ca hát nhưng số khán+thính-giả địa-phương hằng ngày háo-hức đến xúm dán mũi vào cửa kính để xem tận mắt các nữ-danh-ca hát thật cũng như dượt bài, đều không bỏ lỡ cơ hội nhìn ngắm cô biên-tập-viên duyên-dáng của Ðài. Các người-đẹp trình-diễn thì chỉ xuất-hiện vào giờ có chương-trình liên-quan, còn Vi Khuê thì có mặt ở đó suốt ngày, để những lúc trở về Ðài tôi nhìn thấy nàng mà dịu-vợi ưu-tư…
*
Thế rồi tôi giã-từ quân-ngũ, rời khỏi Ðài, ra ngoài hoạt-động văn-nghệ nhiều hơn trong một môi-trường rộng-lớn và khoảng-khoát hơn.
Ngoài các nỗ-lực tích-cực trong Quân-Ðội và sau đó là trong ngành Cảnh-Sát Công-An, tôi còn hăng say dùng hoạt-động văn-nghệ riêng tư để góp phần xây-dựng và củng-cố chế-độ Ðệ-Nhất Cộng-Hoà, thí-dụ: viết báo, đi thuyết-trình trong Cảnh-Sát & Công-An và ngoài dân-chúng; sáng-tác và trình-diễn khắp nhiều Tỉnh vở kịch thơ “Gươm Chính-Nghiã” của tôi đề-cao Tổng-Thống Ngô Ðình Diệm, kêu gọi sĩ-phu khắp nơi, đặc-biệt từ Miền Bắc, về với Chính-Nghiã Miền Nam; sáng-tác và xuất-bản tập thơ “Tuần Trăng Mật” vinh-danh tình yêu vợ+chồng, mà nguồn cảm-hứng sáng-tạo thì đi trước và sau đó lại phù-hợp với tinh-thần canh-tân trong Luật Gia-Ðình của Bà Ngô-Ðình Nhu…
Tôi giữ Mục “Vườn Thơ” trên tuần-báo “Rạng Ðông” của Lê Hữu Mục, họp làm đặc-san với Tôn Thất Dương Tiềm, xuất-bản thơ của các bạn gần+xa và của chính mình, kết-thân với các nhóm như Hồ Mộng Thiệp, Thanh Phượng, Anh Ðộ, Tô Như, và Quốc Dân… ở Ðà-Nẵng; đồng nhóm Xây-Dựng là Xuân Huyền, Tường Vi, Huyền Chi, Hoài Minh, Bàng Bá Lân, v.v… ở Sài-Gòn. Trong đó, tôi giữ mục “Hội Thơ” (do Hồ Đình Phương trung-gian) trên tuần-báo Văn-Nghệ Tiền-Phong của Hồ Anh, và có nhạc-sĩ Lê Mộng Bảo giúp phần ấn-loát & phát-hành sách và đặc-san.
Tôi tái-tổ-chức họp bạn hằng tuần; ngày xưa thì có Nhân Hậu, Vĩnh Thao, Hạnh Lang, Trúc Lang, Võ Ngọc Trác, Xuân Dưỡng, Giang Tuyền, Kiêm Minh, Lê Mộng Hoà, Nhân Nam, v.v…; bây giờ thì có Hoàng Hương Trang, Tuyết Lộc, Kim Lan, Nguyên Xuân Tứ, Hữu Ðỗ, Khang Lang, Hoài Tâm, Hương Thu, Xuân Nghị, Thanh Thuyền, Thế Viên, v.v…; có lần có cả Trần Minh Phú từ Hàng Me đến, Diên Nghị từ đơn-vị về, Hồ Ðình Phương từ Long-An ra…
Ðại-Hội Văn-Hoá Toàn-Quốc dưới thời Ðệ-Nhất Cộng-Hoà (khai-mạc ngày 11 tháng 1 năm 1957) đã đem lại cho tôi một phần thưởng tinh-thần: “Xây-Dựng” cuả tôi được nhìn-nhận là một cành của Cây Ða Văn-Hiến Việt-Nam.
Trong thời-gian đó, Vi Khuê lên xe hoa. Và đôi uyên-ương đưa nhau lên xây tổ ấm trên đồi núi Ðà-Lạt sương mù, bỏ lại “chuồng bồ câu” trống lạnh như nỗi thiếu vắng trong lòng của những ai ai…
*
Sau khi bản-thân tôi gặp nhiều khó-khăn vì không chịu cải-đạo; sau khi người ta giết chết cả hai vợ+chồng thầu-khoán Nguyễn Văn Yến; sau khi người ta dùng ngay phòng họp là nơi tôi hướng-dẫn học-tập “Ðạo-Ðức của Ngô Tổng-Thống” cho các cấp chỉ-huy Cảnh-Sát Huế trong các buổi “học-tập Chính-Trị và Công-Dân Giáo-Dục” hằng tuần, để làm nơi tra khảo và giết chết thầu-khoán Nguyễn Ðắc Phương rồi ném xác xuống sân tri-hô là Phương nhảy lầu tự tử; sau khi nhận được vô-số bài-vở của anh+chị+em Cảnh-Sát Công-An gửi về tôi để xin đăng lên tờ nội-san “Phục Vụ” do tôi chủ-biên, nội-dung tố-cáo nhiều, quá nhiều, hành-động tham-lam, tàn-bạo, kể cả giết người, dựa quyền cuả ông Cố-Vấn Ngô Ðình Cẩn; v.v…
Do đó, tôi đã liều-lĩnh đứng lên công-khai nêu ra một số khuyết-điểm của chế-độ họ Ngô, trong một buổi học-tập tại cơ-quan vào ngày Lễ Hai Bà Trưng (3-3-1960).
Biến-cố này đã gây chấn-động cả Miền Trung.
Kết-qủa là tôi bị quản-thúc điều-tra ba tháng, gây tranh-cãi giữa hai ông Cố-Vấn Cẩn và Nhu…
Rồi tôi bị đày lên Cao Nguyên “vùng nước độc và nguy-hiểm” với bụi đỏ mù trời.
Đời sống chính-trị tạo thi-hứng cho tôi sáng-tác và đăng báo rời-rạc các bài thơ mà sau Cách-Mạng 1-11-1963 mới được gom lại ấn-hành thành tập “Với Thượng-Ðế”, tập thơ thứ bảy cuả mình.
*
Qua đến Ðệ-Nhị Cộng-Hoà, tôi cũng lại gặp rắc-rối, vì tôi công-khai phản-đối những sai trái, nhất là chiều-hướng quân-phiệt trong chế-độ Nguyễn Văn Thiệu, bằng một bức thư trần-tình gửi lên Cấp Trên**.
Sau cùng tôi được (hay bị?) đưa về lại Miền Trung để giải-quyết giùm (và tôi đã giải-quyết được) những khó-khăn nội-bộ tại vùng đất này mà trước đó Trung-Ương hầu như bó tay…
Giờ đây, tôi trở về Huế lại.
Ngồi trên ghế đá công-viên trước Ðài Phát-Thanh Huế, tôi nhắm mắt mường-tượng những gì đã xảy ra tại đây vào buổi tối 8-5-1963―phản-ứng của giới Phật-Tử bị cấm treo cờ Phật-Giáo vào ngày lễ Phật, Phật-Giáo-Đồ tập-trung, chất nổ, người chết, sức mạnh quần-chúng…
Rồi lịch-sử đã sang trang…
Lắc đầu xua đi những ảnh-hình thế-sự, tôi thả hồn sống lại quãng đời thơ trẻ đã qua.
Những khuôn mặt cuả Huế một thời, mà tôi nhớ thêm: các nhà văn Bửu Kế, Phan Khoang…; các nhà thơ Phan Văn Dật, Nguyễn Anh, Tô Kiều Ngân…; nhà khảo-cứu Bửu Cầm; hoạ-sĩ Phi Hùng; nhà dựng kịch Lê Hữu Khải; các kịch-sĩ Vũ Ðức Duy, Vĩnh Phan, Minh Mão, Hà Nguyên Chi…; các nhạc-sĩ Nguyễn Hữu Ba, Lê Quang Nhạc, Ưng Lang, Hoàng Thi Thơ, Lê Tất Vịnh, Hoàng Nguyên…; các ca-sĩ Minh Trang, Thanh Nhạn, Tôn Thất Niệm, Ngọc Cẩm–Nguyễn Hữu Thiết, Bạch Yến, Thiện Nhân, Hương Việt, Diệu Hương…
Tôi không gặp lại Phương Như, Bằng Trình của Huế, Anh-Ðộ [Ðỗ Cẩm Khê] của Ðà-Nẵng, và mất liên-lạc với Huyền-Chi từ sau khi nàng lấy chồng. Trước đó, bóng người áo trắng Kiều-Ngọc đã vuột khỏi tầm tay tôi.
Nhưng tôi vẫn còn nhớ rõ buổi hoàng-hôn ấy tôi lái xe Lambretta-2-bánh chở Trần Dạ Từ từ khách-sạn Khê-Ký lên Bến-Ngự để anh gặp Nhã Ca; và buổi sáng chủ-nhật kia Hy Văn Mộng đến nhà tôi chơi bị cháu nhỏ tè ướt cả quần khi anh bế nó lên hôn.
Có những bạn thân không còn, hoặc còn nhưng phai thân…
Nhưng Vi-Khuê thì vẫn còn là một người bạn thân. Cuả vợ+chồng chúng tôi.
Trong cuốn lưu-bút “Kỷ-Niệm Vàng” mà tôi giữ kỹ, bây giờ vẫn còn tờ giấy bạc “anh gánh dưa” một đồng mới toanh mà Vi-Khuê đã ký tặng mừng tuổi tôi vào dịp Tết năm nào.
Hình-ảnh ấy càng đậm nét khi nàng đưa Vân-Anh, cả hai phất-phơ tà áo màu qua cánh đồng An-Cựu vàng rực mùa lúa gie, đến thăm tôi vào thuở ban đầu, để rồi sau đó thì nàng làm chứng-nhân cho cuộc lễ thành-hôn của tôi với người bạn thân ấy của nàng.
*
Giờ đây Thành-Phố Huế đã bị giáng bậc xuống làm Thị-Xã, tước mất―ngoại-trừ về phần văn-hóa và lịch-sử― cái địa-vị thủ-phủ của Miền Trung; hoa-khôi Ðồng Khánh ngày càng hiếm-hoi; Ðài Huế xuống cấp làm Ðài Tỉnh nhỏ; các xướng-ngôn-viên và ca-sĩ chỉ gợi tiếc những giọng oanh vàng và hương sắc ngày xưa…
Ðệ-Nhất Cộng-Hoà thế kia, Ðệ-Nhị Cộng-Hoà thế này. Mỗi chế-độ có những vấn-đề khác nhau, nhưng đều giống nhau ở vận nước chông-chênh.
Liệu những biến-thiên của cuộc đời sẽ còn đem lại những đổi thay nào khác nữa cho Đồng-Bào, cho Quê-Hương?
Huế vẫn còn đây, Ðài Huế vẫn còn đây, và tôi trở về ngồi đây.
Nhưng tôi không còn tìm thấy lại được, sau mỗi chặng đường―cũng vẫn gian-nan một mình chống-chọi với ma-quỷ còn sót lại trong thời buổi mới―sự thanh-thản, dù trong chốc-lát, cho tâm-hồn mình, như những ngày nào xa xôi…