THĂM VIẾNG PARIS -Ngọc Hạnh

THĂM VIẾNG PARIS
Ngọc Hạnh

Chúng tôi lên xe bus rời khách san ở Lyon từ sáng sớm, đến Paris lúc nắng chiều đã nhạt khoảng 15g30.
Paris nhộn nhịp tươi vui hơn Lyon, được mênh danh là kinh đô ánh sáng hay kinh thành hoa lệ… Dân Paris
ăn mặc lịch sự, tươi vui , đặc biệt có rất nhiều café vĩa hè (café trottoir) hầu như lúc nào cũng đầy khách.
Đến đây một số lớn du khách theo hướng dẫn viên địa phương đi viếng bảo tàng viện Louvre, số ít còn lại đã
từng viếng viện bảo tàng rồi, về thẳng khách sạn Frantour, nơi có 700 phòng đẹp và đầy đủ tiện nghi ngay
trung tâm thủ đô.Trong phòng tiếp tân rộng lớn của khách sạn, từng đoàn du khách tấp nập ra vào, nhân viên
bận rộn làm việc , tiếp hết đoàn người này đến đoàn khác.

VIỆN BẢO TÀNG LOUVRE
Theo một số bạn định cư hơn 30 năm trên đất Pháp nếu ai đến Paris không viếng viện bảo tàng Louvre là một
thiếu sót đáng tiếc. Louvre nổi tiếng trên thế giới về vịệc lưu giữ nhiều tranh ảnh, tác phẫm nghệ thuật, tài liệu
hiếm qúy nhất hòan cầu, được thành lập vào thế kỷ thứ 17 .

Ngày xưa Louvre là cung điện, nơi các vua chúa Pháp cư ngụ qua nhiều thế kỷ. Mỗi đời vua lại tu bổ, sửa chửa làm đẹp hơn và rộng ra.
Đời vua Louis 13, Louvre được mở rộng bằng 4 lần diện tích cũ. Vào thế kỷ 17, vua Louis 14 và triều đình dời về điện Versailles, rộng lớn, nguy nga, tráng lệ hơn. Bảo tàng Louvre có 1500 nhân viên, 64 quản thủ thư viện, 2500 cửa ra vào, 90 thang máy, 67.000 ngọn đèn với 100 lọai khác nhau. Hàng triệu du khách viếng viện bảo tàng mỗi năm.
Louvre chứa hơn 300.000 tác phẩm đủ lọai trong đó có 2 nghệ phẫm nổi tiếng thế giới: danh họa La Joconde của Leonard De Vinci và Tượng thần Vệ nữ Milo của Hy lạp. Vua Napoleon thích sưu tầm đồ cổ, ông mua hoặc chiếm lấy hay bắt các nước bại trận nộp các cổ vật đem về Pháp làm tài sản, cất giữ trong viện bảo tàng. Ông gom góp nhiều nghệ phẫm quý báu, làm giàu cho bảo tàng nhiều hơn vua chúa các triều đại khác. Các tác phẩm hôi họa, điêu khắc, văn kiện cổ đươc trưng bày trong 7 khu vực:

  1. Cổ vật Đông Phương 2. Cổ vật Ai Cập 3. Cổ Vật Hy lạp
  2. Cổ vật La Mã 5. Cổ vật Etruri? 5. Tuyệt phẫm điêu khắc
  3. Tác phẫm nghệ thuật chung
  4. Khu vực hấp dẫn du khách nhiều nhất là khu hôi họa gồm 6.000 họa phẩm Âu châu từ thế kỷ thư 8 trở đi.
    Từ xa mọi người có thể trông thấy viện bảo tàng hình Kim tự tháp bằng kính, kiến trúc rất đặc biệt, và duy nhất
    trên thế giới.

CABARET: Ca Vũ Nhạc
Phần lớn du khách đến Ba Lê đi xem phòng trà ca vũ nhac. Chúng tôi được lựa chọn họặc xem ca vũ nhạc
thuần túy hay ca vũ nhạc có ăn uống. Lọai sau này giá đắt gấp đôi ($120). Paris có
nhiều phòng trà, mỗi nơi có sắc thái riêng. Moulin Rouge với quạt gió màu đỏ quay
quay trên nóc là phòng trà ca vũ nhạc nổi tiếng Paris với vũ điệu French Cancan.
Xem xong một số tự túc, đi tim tòi quan sát kinh đô ánh sáng với bạn bè cho đến
khuya mới trở về, không ai ở lại khách sạn.

THÁP EIFFEL
Tháp Eiffel, điện Versailles, Montmartre đều là những đặc điểm của Paris. Riêng tháp Eiffel, biểu tượng Paris do ông Gustav xây năm 1889, cao 320 mét … Từ lúc xây cho đến 1931 tháp Eiffel được xem như cao nhất thế giới, nay chỉ còn danh hiệu cao nhất Paris. Mỗi năm có khoảng 6 triệu người thăm viếng tháp Eiffel. Tháp có khoảng 20.000 bóng đèn điện Ban đêm ánh đèn chớp nháy rực rỡ, có thể trông thấy từ xa. Đứng ở tầng cao nhất, bạn có thể nhìn bao quát Paris tráng lệ.Trong các tầng tháp có bán quà lưu niệm, mỹ phẫm, bưu thiếp, nước giải khát và nhà hàng ăn uống… Khu vực tháp luôn có
người chờ đợi đến lươt mình thăm viếng, có khi mất cả tiếng, tốt hơn nên đi sớm vào khoảng 8 giờ sáng, ít du
khách, bớt chờ đợi.

Khải Hoàn Môn

Sáng sớm hôm sau tôi rời đoàn theo anh chị bạn đi Metro xem phố phường trước khi về nhà . Anh chị dặn tôi cẩn thận khi đi metro vì người móc túi ăn mặc tử tế như mọi người… Tôi không bị mất cắp nhưng một du khách da trắng mất vi trong đó có thẻ căn cước….
Chúng tôi đến quảng trường La Concorde dập dìu du khách, thanh thiếu nữ, người lớn, trẻ nhỏ. Các bức tượng rất đẹp, to hơn người thật, đặt chung quanh hồ giữa quảng trường. Vòi phun, hồ nước, trụ đá obelisk cao vọi mang về từ Ai Cập, tất cả đều hấp dẫn du khách. Từ đó chúng tôi tản bộ đến đại lộ Champs Elysées, con đường rộng rãi,
nhiều cây xanh, bóng mát, các bồn hoa trồng các lọai hoa thắm tươi rực rỡ. Các hiệu buôn sang trọng, hàng
hóa đắt tiền, khách sạn, nhà ăn uống quá đẹp dọc 2 bên đường. Khải Hoàn Môn bệ vệ nằm ở cuối đại lộ. Leo
lên cầu thang hình xoáy trôn ốc lên đỉnh bạn sẽ thấy quang cảnh xinh đẹp của thủ đô nhất là về đêm.

QUẬN 13
Chúng tôi lại đi metro đến khu chợ Tàu ở quận 13. Gọi chợ Tàu nhưng chợ Việt Nam cũng trong khu vực này,
lớn lắm. Trong chợ, người mua bán phần lớn là Việt Nam. Cũng có người Trung quốc làm chủ tiệm nhưng họ
nói tiếng Việt giỏi chẳng khác người Việt Nam. Hàng hóa đủ lọai, trái cây nhiệt đới, thực phẩm, cá, thịt nhiều
như ở quê nhà. Các tiêm bán thịt quay, xá xíu, heo quay vàng hực như ở Chợ lớn. Rau quả thật tươi. Suốt
gần nửa ngày ở quận 13, vào nhà hàng hay ra chợ chúng tôi không ai phải dùng tiếng Pháp hay tiếng Tàu.
Anh chị đưa tôi ra vùng ngọai ô, hoa mai nở rộ, hồng đang ra lá non, búp nụ. Vùng tôi đi qua nhà nào cũng có
mảnh vườn nho nhỏ bao quanh, sạch sẽ. Tôi được thăm các cô họ tôi sau hơn 30 năm xa cách . Các Cô tản cư rồi hồi cư và sang sinh sống ở Pháp.
Anh chị và các cháu đưa tôi trở lại khách sạn vào khoảng 11 giờ đêm.

Nhà thờ Đức Bà (Notre Dame de Paris)

Trong khi tôi đi thăm các cháu, các cô những đoàn viên khác viếng Vương Cung thánh đường, xóm Montmartre, vườn Lục xâm bảo… Buổi tối các vị ấy dự buổi tiệc chia tay nhau… Không sao, tôi sẽ gặp các bạn ngày mai trong buổi điểm tâm ở khách sạn. Ngày mai mới thực sự chia tay, mỗi người bay về tổ ấm của mình sau 15 ngày du ngọan.

Về nhà thời tiết Virginia thật đẹp, hoa đào đang nở rộ, hoa Tulip chưa tàn. Tôi bỗng nhớ đến cuộc hành trình thú vị với các bạn và tình cảm ngọt ngào của các đoàn viên, anh chị Lộc, các cô, các cháu… Tình họ hàng, bằng hữu không nhạt phai vì thời gian hay không gian. Cầu mong tất cả các vị được an vui, sức khỏe tốt để yêu đời, yêu người, quên đi những ngày tháng nhọc nhằn nhiều âu lo của thời mới định cư nơi xứ người….

(Trich trong quyển DU NGOẠN ĐÓ ĐÂYI)
Ngọc Hạnh




ĐẠI LỄ VU LAN Tại Chùa Bảo Tịnh THÀNH PHỐ GARDENA – Kiều Mỹ Duyên

ĐẠI LỄ VU LAN Ở CHÙA BẢO TỊNH, THÀNH PHỐ GARDENA

KIỀU MỸ DUYÊN

          Người Việt Nam tị nạn Cộng Sản đến nơi nào thì nơi đó có chùa, nhà thờ và các cơ sở tôn giáo. Tiểu bang California nhiều chùa nhất, các vị lãnh đạo tôn giáo mua nhà thờ làm chùa, hay mua những ngôi nhà nho nhỏ có đất rộng làm chùa, rồi từ từ phát triển thêm, như mua những căn nhà bên cạnh, v.v.

          Chùa Bảo Tịnh tọa lạc tại số 2406 Marine Avenue, thành phố Gardena, Los Angeles County đã thành lập được 44 năm, trụ trì là Hòa Thượng Thích Nguyên Đạt. Hòa Thượng học ở Nhật 17 năm, sau đó định cư ở California, ở chùa Việt Nam. Hòa Thượng Mẫn Giác là viện chủ, sau đó mua ngôi nhà nhỏ ở Gardena làm chùa, ở đường Marine, cũng may đường Marine làm chùa được, không bị đuổi. Hai bên đường là những cơ sở thương mại, nhưng vì đất ít quá nên không phát triển được.

Kiều Mỹ Duyên làm phóng sự lễ Vu Lan ở chùa Bảo Tịnh, Gardena.

          Lễ Vu Lan bắt đầu 11 giờ sáng Chủ Nhật ngày 22 tháng 8 năm 2021. Chúng tôi đến sớm để có cơ hội phỏng vấn Hòa Thượng trụ trì. Hòa Thượng Thích Nguyên Đạt sẽ giã từ thành thị lên núi, viết sách bằng tiếng Anh, viết từ điển Phật pháp. Hòa Thượng nói được nhiều thứ tiếng. Cách đây 46 năm, Hòa Thượng cầu siêu cho thân phụ tôi ở chùa Việt Nam, Los Angeles. Bây giờ Hòa Thượng cũng không thay đổi nhiều, giọng nói vẫn từ từ, chậm rãi. Hòa Thượng nói về ý nghĩa của đại lễ Vu Lan báo hiếu, và khuyên mọi người phải hiếu thảo với ông bà, cha mẹ của mình.

          Chánh điện ở sau chùa, khi chúng tôi đến thì các Phật tử lo về ẩm thực đã có mặt, thức ăn cho vào hộp, chè cho vào ly. Sân sau của chùa rất sạch sẽ không một lá cây, tượng Phật bà Quan Âm lộ thiên xung quanh là hoa, vì Hòa Thượng chủ trương là thiền nên không có khói hương nghi ngút.

Đại lễ Vu Lan bắt đầu 11 giờ sáng chủ nhật ngày 22/8/2021.

          Tất cả Phật tử đều ăn mặc rất đẹp, phụ nữ trong những chiếc áo dài tha thướt đầy màu sắc. Ban nhạc sẵn sàng hòa tấu, ban nhạc không có tên vì là ban nhạc của chùa. Hòa Thượng ít nói, khác hẳn với những người lớn tuổi khác, càng về già thì càng nói nhiều, còn Hòa Thượng trụ trì càng về già thì càng nói ít. Thầy thường ở Liễu Quán nhiều hơn ở chùa Bảo Tịnh.

          Mỗi đệ tử mang đến một khay thức ăn, không khí thật ấm cúng, mọi người đều mang mask theo lệnh của chánh phủ. Người nào cũng mang mask không biết ai là ai nhưng gặp nhau là cúi đầu chắp tay chào hỏi vui vẻ như trong gia đình.

          Hoa giấy nở rực rỡ trước cửa chùa, trước tượng Phật bà Quan Âm. Khi trả lời cuộc phỏng vấn của chúng tôi, Hòa Thượng trụ trì rất khiêm tốn nói:

          – Tôi chưa chuẩn bị.

          Trước đó thầy đưa cho chúng tôi xem bản thảo của tập từ điển Phật pháp thầy đang soạn. Mỗi tập rất dày, viết bằng tiếng Anh, Việt và Nhật. Thầy thông thạo tiếng Nhật, một vị tu sĩ chuyên môn về thiền. Bỗng dưng, tôi nhớ đến Đại Lão Hòa Thượng Thích Tâm Châu, thông thạo nhiều ngôn ngữ, viết rất nhiều sách, kiến thức uyên bác, viết hay mà nói cũng tuyệt vời.

          Hòa Thượng trụ trì chùa Bảo Tịnh thích sống âm thầm lặng lẽ hơn ra giữa công chúng, nhưng chúng tôi thấy nhiều Phật tử rất quý mến thầy. Trong lúc ngồi ở phòng khách xem tập bản thảo rất công phu của thầy thì nhiều Phật tử đến lễ bái thầy, may mà không có Phật tử nào quỳ lạy Hòa Thượng trụ trì. Khi phỏng vấn Hòa Thượng trụ trì trước tượng Phật bà Quan Âm, Hòa Thượng giảng về ý nghĩa của lễ Vu Lan. Hòa Thượng khuyên mọi người nên hiếu thảo với ông bà, cha mẹ của mình. Thầy Nguyên Minh đứng bên cạnh Hòa Thượng cảm ơn Hòa Thượng đã giúp đỡ thầy, cũng như cảm ơn Phật tử của chùa đã giúp cho ngày lễ Vu Lan hôm nay.

Các Phật tử tham dự lễ đều mang mask.

          Chùa Bảo Tịnh thì nhỏ nhưng tình người thì ấm. Hòa Thượng trụ trì hạn chế đốt nhang tối đa, vì thầy biết khói nhang sinh ra ung thư. Hòa Thượng cho biết nhiều vị trụ trì là bạn của thầy bị bệnh ung thư chết cũng vì khói nhang, đốt nhang chỉ làm giàu cho người Tàu, lòng mình thành kính như thế nào có Phật Trời biết, đâu cần phải đốt nhang. Hòa Thượng cho rằng có 2 thứ làm cho các thầy chết sớm là ngửi khói nhang và ăn thức ăn để lâu, hâm tới hâm lui, dầu nhiều. Thầy kể tên những người bạn của thầy chết sớm vì ngửi khói nhang và ăn thức ăn chế biến sẵn, như cá giả. Hòa Thượng rất quan tâm đến sức khỏe của tất cả mọi người.

          Thầy viết nhiều sách như tập thơ Mây Vẫn Bay, và nghiên cứu viết về từ điển Phật pháp để cho đồng hương có thể hiểu về Phật pháp. Hòa Thượng được mời đi hoằng pháp khắp nơi như Đức, Pháp, Thụy Sỹ, v.v.

          Khi Hòa Thượng nói về nhang khói, tôi chợt nhớ đến sư bà Đàm Lựu, viện chủ chùa Đức Viên ở San Jose. Đến San Jose, lần nào tôi cũng đến thăm sư bà. Trong chánh điện, trong sân, trước tượng Phật bà Quan Âm đều không có nhang. Có 2 điều mà Phật tử đến chùa Đức Viên không được làm là đốt nhang trong chánh điện và tự động hái hoa, hay hái cây kiểng trong sân chùa, tuyệt đối cấm. Tôi viếng thăm cả trăm ngôi chùa ở Mỹ, nhưng chùa không được đốt nhang hiếm lắm, như chùa Bảo Tịnh, chùa Đức Viên và chùa Hương Tích. Những người sáng lập ngôi chùa Hương Tích là bác sĩ, nên họ có kiến thức về y khoa. Một hôm, có một đoàn người đi hành hương đốt từng bó nhang, sau khi đi thì có người đến dập tắt.

          Hòa Thượng Thích Nguyên Đạt lặp đi lặp lại nhiều lần về việc khói nhang gây ung thư cho người hít khói nhang, và ăn thức ăn cũ, hâm đi hâm lại, và ăn thức ăn giả, đó là kinh nghiệm của một vị lãnh đạo tôn giáo. Đã có những người bạn của Hòa Thượng chết vì khói nhang và ăn thức ăn cũ, bỏ thì sợ tội, ăn vào thì đi gần cái chết.

          Hòa Thượng trụ trì sẽ lên núi để viết sách, giã từ thành thị, tuy nhiên nơi Hòa Thượng ở cách Little Saigon 2 giờ đồng hồ, Phật tử nào muốn thăm Hòa Thượng đâu có khó. Nhà văn Nguyễn Bá Học có nói: Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông. Ngày xưa, ông bà mình đi đâu cũng đi bộ, lúc chưa có xe máy, xe hơi, từ thành thị lên thăm những ngôi chùa trên núi vẫn đi được, huống hồ gì bây giờ có đầy đủ phương tiện giao thông. Hy vọng Phật tử nào có lòng thỉnh thoảng thăm các vị tu sĩ đang ở trên núi. Đến núi, rừng, sống với thiên nhiên sẽ thấy tâm hồn bình thản. Ở rừng núi không có chiến tranh, không có người giành giựt, chém giết lẫn nhau vì miếng cơm manh áo hay vì danh lợi.

Chùa Bảo Tịnh tại số 2406 Marine Avenue, Gardena, Los Angeles County

(Ca sĩ Kim Phượng hát bài Mẹ Quan Âm của nhạc sĩ Võ Tá Hân)

          Phật tử ở chùa Bảo Tịnh không nhiều lắm nhưng rất dễ thương, có nhạc sĩ, ca sĩ, có người hát bằng cả trái tim của mình, như cô Kim Phượng hát bài Mẹ Quan Âm của nhạc sĩ Võ Tá Hân. Võ Tá Hân sáng tác rất nhiều nhạc phổ thơ của Hòa Thượng Thích Quảng Thanh. Phật tử đến tham dự đại lễ Vu Lan hơn 100 người, có một số người phải đi làm, đến chùa lạy Phật đốt nhang rồi đi, còn lại thì tất cả ở lại cho hết buổi lễ. Đa số là cư dân của thành phố Gardena, một số Phật tử rất thành công về học vấn, thương mại, v.v.

          Giã từ chùa Bảo Tịnh, giã từ các Phật tử hiền lành và những cành hoa rực rỡ rung rinh trong gió. Trên đường về, chúng tôi vẫn nhớ lời Hòa Thượng trụ trì chùa Bảo Tịnh: hãy hiếu thảo với ông bà, cha mẹ của mình, hãy thương yêu chăm sóc ông bà, cha mẹ lúc tuổi già sức yếu.

          Làm con cháu mà không hiếu thảo với ông bà, cha mẹ của mình thì làm sao thành công trong xã hội chứ?

Orange County, 23/8/2021

KIỀU MỸ DUYÊN

(kieumyduyen1@yahoo.com)




DẤU CHÂN TÌNH HẠ & Ngày Vui Qua Mau – Minh Thúy – Đỗ Dung

DẤU CHÂN TÌNH HẠ

Minh Thúy

      Bao nhiêu giai đoạn lo âu lần lượt từ khi dịch bệnh Covid_19 , giờ lại nghe tin tức những biến thể Delta. Chúng tôi gồm có chị Đỗ Dung, chị Phương Hoa, chị Lê Diễm tin tưởng mình đã chích 2 liều từ Pfizer hoặc Moderna nên có ý làm cánh chim bay theo trời hạ, sau khi chị Phan Lang mời về “ Thành phố lướt sóng tại Mỹ “ có bãi biển Huntington Beach thăm nhà mới của chị.

      Tôi có nhân duyên được trang chủ Minh Châu Trời Đông gồm chị Ngọc Hà và chị Đỗ Dung làm moderator và Cô Gái Việt là bà bầu Phương Thuý mời gia nhập hội. Đặt biệt hai hội này dành riêng giới phụ nữ, chị em sinh hoạt tâm tình, làm thơ nối đuôi chung đề tài nào đó hoặc vốn liếng thơ văn, nhạc rất dồi dào, gởi cho nhau đọc giải trí. Tiếp theo tôi được chủ tịch hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Vùng Đông Bắc là chị Hồng Thuỷ mời nhập hội viên, từ đó tôi quen chị Phan Lang, người phụ nữ đầu tiên gia nhập quân đội Mỹ với chức  vụ Trung Tá, là người đàn bà tài sắc vẹn toàn, tuy có lối sống mạnh mẽ nhưng tâm hồn rất ủy mị đa sầu, luôn nặng tình quê hương sâu đậm, sống có chiều sâu tỷ mỉ với kỷ niệm được tuôn tràn qua những vần thơ buồn lắng đọng.

Hiện nay chị đã về hưu, sinh sống trên hòn đảo Oahu / Hawaii. Thời gian gần đây vợ chồng chị về mua thêm căn nhà vùng Huntington Beach. Tánh chị ưa sống với bạn bè, luôn tham dự họp mặt trung học trường Võ Tánh Nha Trang, bạn mấy diễn đàn MCTĐ, CGV kể cả VBVNHNVĐBHK. Chị mở lòng mời tất cả các chị em về nhà chơi không phân biệt, chỉ đến bằng cái tình thân thiện vui vẻ và cởi mở, chính thái độ hoà nhã nhiệt tình đó làm chúng tôi hứng chí.

Hình 2

          Bắc Cali gồm chị Đỗ Dung, chị Phương Hoa, chị Lê Diễm và tôi rủ nhau về. Ban đầu dự tính chị Lê Diễm lái xe, chị LD là người sinh hoạt năng nổ ngoài cộng đồng những việc lợi ích, viết báo, phóng viên rất mạnh mẽ tài giỏi, nhưng chúng tôi cũng mong có người đàn ông thay phiên chị lái xe, vì còn lại ba người này yếu tay lái chẳng dám, cuối cùng bạn chị giúp lái phụ.

Đúng lúc tin tức cảnh báo những biến thể của Delta, ông xã chị Phương Hoa lo sợ hăm he “ đi về phải cách ly nửa tháng, chị cũng giả lơ cuốn gói âm thầm. Ông xã chị Đỗ Dung thấy vợ đi chơi với sự háo hức mạnh mẽ nên thương và chìu chuộng, anh và hai con đưa tiễn chị Đ Dung đến tập trung nhà tôi nhìn thương lắm.

                Chúng tôi khởi hành từ 12 giờ trưa đến hơn 7 giờ tối đến nhà chị Phan Lang. Chúc Anh và chồng đến thăm hẹn mai sẽ chở chúng tôi đi nhiều cảnh đặc biệt của LA, gặp lúc vùng LA có lệnh phải đeo khẩu trang, tính lui tính tới cũng hơi ngán nên dự định hủy bỏ. Chủ nhà dọn sẵn buổi tiệc tối gồm bánh bèo, bánh lọc, món xào chay, gõi và món bún bò. Phần đói lại thấy các món VN do tay chị PL đứng bếp chịu khó, và vui quá với không khí ấm cúng nên ăn thật ngon miệng.

Hình 3

 Bary(chồng chị PL) có nét mặt hiền hậu như tiên ông, ít nói và vô cùng lịch sự với khách. Phe đàn bà ham chụp hình nên chị PL kêu gọi Barry mãi hoài, ông mỉm cười hoà chung niềm vui của vợ trông rất dễ mến.

Đêm nói chuyện râm ran, thức dậy sớm tiếp tục nói, nghe các chị kể chuyện cùng không khí ăn hưởng, tinh thần tôi thấy sảng khoái chị lạ. Sáng các chị em phụ chị PL lột mít, lặt rau, còn chị PL đứng suốt buổi làm đủ món mới, bún xáo tôm thịt bò, nem chả, đổ bánh, nấu món chay cho chị Phương Hoa dùng. Bày ra một bàn xong lại tranh thủ chớp hình, hối thúc chuyển hình qua các phone, mỗi người đều say sưa dán con mắt vào phone chẳng thiết ăn uống, cho đến khi có chị Như Hảo (đài Mẹ Việt Nam) và chị Kiều Mỹ Duyên( phóng viên chiến trường trước 75) đến thăm mới buông phone vào nhập tiệc.

Hình 4

 Sau khách lai rai đến dùng chung buổi cơm chiều với món cá kho tộ, tôm thịt kho thật đậm đà, cứ thế vì vui, vì được ngồi chung nên ăn đến cứng bụng …tới đâu thì tới, lên cân thì mặc lên cân…Tối chị PL chở đi xem biển và khu shopping chốc lát, đêm về xem hình từ máy chị PL edit cẩn thẩn từng tấm một rất công phu.

     Sáng kế tiếp thức dậy thấy cảnh nhà yên ắng, nghĩ chị PL có lẽ nấu ăn phục vụ bạn quá mệt, nên không dám thức dậy, chị em chạy ra biển buổi sáng lội nước nhìn từng đợt sóng trắng dập dồ thật đẹp, chị Lê Diễm đứng tập thể dục, chị Phương Hoa nhặt từng con sò màu đen, trắng, vàng xinh xắn dạt vào theo từng đợt sóng, tôi dầm chân dưới nước nhìn ngắm mây trời lửng thừng bay, nước xanh mát mênh mông thả hồn về khoảng thời gian đi vượt biên năm nào…

Hình 5

 Tiếp tục chương trình các chị đi thăm bạn, có lẽ vì chơi vui quá nên mọi người hồn tự đi xa, bước xuống quên khoá cửa xe, leo lên xe tìm chìa khoá không có, chạy vào văn phòng chị Như Hảo tìm. Ghé khu Phước Lộc Thọ mua áo dài, giày dép mỗi người một bao lớn. Thỏa mãn xong chị Lê Diễm đang cầm phone chị Đỗ Dung lấy địa chỉ, ghé vào nhà khác đón bạn chị, lúc trở ra xe nổ máy, chị Đỗ Dung tìm phone không thấy, chị Lê Diễm chạy trở vào thấy để quên trên bàn. Chị Phan Lang có phone chị Kiều mỹ Duyên gọi nhờ nhắn Lê Diễm vì gọi không bắt máy, chị Phan Lang đưa phone qua LD.

          Ra về chia tay, ôm nhau bịn rịn hồi lâu, khi xe chạy được 2/3 đường trong đêm tối, tình cờ chị Đỗ Dung mở phone đọc email , thấy chị Phan Lang nhắn phone lạc đâu, chị Phương Hoa vội vàng dùng phone gọi thì nó reng trong túi xách của Lê Diễm !!! “PL không có Internet connection cho TV, GPS cho xe và không có số phone ai dầu dùng phone Barry để gọi”, đọc email vừa thương nhưng đồng thời cũng mắc cười thấy trớ trêu nghịch cảnh, không thể đè nén mọi người cùng cười nghẹn luôn.

         Về đến nhà nửa khuya, chị Lê Diễm rất tình cảm chịu khó chở chị Đỗ Dung về tận nhà, chỉ chồng lấy các thứ trên xe xuống, xe gần đến nhà tôi chị Đỗ Dung gọi nhắn “ quên bao quần áo mua nơi PLT”!!! …Xe đậu trước thềm nhà tôi, Phương Hoa lấy các thứ xuống nhờ tôi bỏ qua xe chị, sau chị phát hiện tôi bỏ lại lên xe chị Lê Diễm !!! ….

      Ôi thôi lứa tuổi này còn được đi xa, gặp bạn bè chị em là điều hiếm hoi và quá quý hoá, chứ cái đầu ai hình như cũng lơ lửng bay cao…hay tại vui quá nên dư âm vẫn còn ngây ngất những ngày bên nhau?

              Cám ơn chị Phan Lang đã thể hiện tình cảm qua nghĩa cử thương yêu trải rộng cùng bạn bè, tất cả kỷ niệm sẽ nâng niu giữ gìn trong ký ức như cất giữ tinh hoa đẹp của cuộc đời.

 Niềm Vui Họp Mặt

Bóng hạ bừng lên giọt nắng hồng

Du hành một chuyến bước thong dong

Phan Lang mở rộng vòng tay đón

Gái Việt, Minh Châu hớn hở lòng

Lê Diễm, Đỗ Dung thích cảnh hè

Phương Hoa, Minh Thuý cũng theo bè

Huntington Beach nơi nhà mới

 Dẫu dịch Delta đã báo đe

Mấy buổi phe ta quậy quá trời

Ê hề đủ các món ăn chơi

Bún bò, bánh lọc, tôm kho thịt

Chả lụa, nem công, dọn ngắm cười

Dạo biển, shopping thiệt rộn ràng

Tình thân gia chủ tấm lòng vàng

Hành trang dấu ấn in niềm nhớ

Hội ngộ vui vầy ấm dạ mang

Em , chị say sưa những tấm hình

Xuân lòng rộn rã hướng bình minh

Đường hoa vẫn nở vườn thi phú

Cuộc sống tràn thêm những nghĩa tình

        Minh Thuý ( Thành Nội )

          Tháng 7/19/2021

+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

NGÀY VUI QUA MAU!!

Đỗ Dung

Chỉ còn mấy hôm nữa là đến ngày hẹn đi thăm nhà mới của Phạm Phan Lang ở Huntington Beach.  Phút chót chỉ có bốn người chúng tôi từ Bắc Cali quyết chí đi, Phương Hoa, Minh Thuý, Đỗ Dung và Lê Diễm nên LD và anh Sơn sẽ thuê một chiếc xe nhỏ cho gọn, khi đi chơi tại chỗ cũng tiện.  PH xung phong soạn một bài thơ mừng tân gia, giao cho tôi viết rồi đóng khung làm qùa tặng cô nàng.  LD nói em cũng sẽ làm một món quà nhỏ tặng PL

Tối Thứ Hai phone PH reng:

_ Chị ĐD, em làm xong bài thơ rồi, gửi chị viết nha.

_ OK, gửi qua đây mình thử viết trước xem sao.

Chiều Thứ Ba PH lại kêu:

_ Chị ĐD, em thấy có mấy bức tranh đẹp quá, chị viết vào một góc coi bộ có lý hơn đó.

_Hoa đang ở đâu?

_Em đang ở Ross (mình lại nghe ra “Em đang ở Los” nên nghĩ ủa sao giờ này có chuyện gì mà lại đi LA vậy ta)

_ Hoa chọn lấy một tấm mình sẽ viết trong ngày mai.

Hoa chọn lựa một hồi rồi dùng Iphone Facetime cho tôi xem hai bức tranh được vào chung kết, một bức hoa Mộc Lan thật đẹp nhưng không có khoảng trống tốt để viết, khi chiếu đến bức Chiều Tím thì… Ôi! em đã hớp hồn tôi!  Cả một vùng trời bát ngát mầu tím, nhưng vầng mây tím lãng đãng đẹp như mơ, mặt biển cũng nhuộm một mầu tím huyền hoặc, ửng những khoảng le lói nắng chiều.  Một chiếc cầu gỗ mầu đen dài thấp thoáng bóng người từ đất liền nhô ra rất duyên dáng, kết hợp hài hoà với những bọt sóng nhuộm đen của buổi chiều tà đang đuổi xô nhau chạy vào bờ. Tôi kết ngay bức tranh đó nói Hoa mua đi đem về tôi sẽ ráng vung tay điểm xuyết vài hàng bút lông!

Tôi đang ngồi ăn tối thì phone lại reng:

_ Em về nhà rồi chị!

_ Bay hả?

_ Chị nói gì?

_ Đi máy bay hả? Mới nghe nói Hoa ở Los mà.

_Đâu có, em đi Ross!!

Thế là hai đứa lăn ra cười.  Đúng là những người không còn trẻ… hihihi…

Sáng hôm sau hai vợ chồng PH lái xe từ Alameda đến đưa bức tranh cho tôi để tôi lo viết cho kịp vì sáng Thứ Sáu đã lên đường.

Nhẩm tính còn hai ngày Thứ Tư và Thứ Năm nên tôi tà tà lo dọn dẹp nhà cửa, vườn tược vì khi tôi đi vắng thì nhà tôi cũng sang nhà con chơi chứ không ở nhà một mình. Tối Thứ Tư tôi mới ngồi ngắm nghiá bức tranh xem bố cục ra sao, viết thế nào.  Lấy thước đo đàng hoàng rồi lấy cục phấn vẽ dùng trong việc may quần áo kẻ khung ước lượng để xếp chữ.  Buổi tối ánh sáng không rõ nên tôi yên chí sáng hôm sau sẽ viết chắc khoảng nửa tiếng là xong. Thế là tôi thản nhiên ngồi viết tiếp truyện “Hết Rồi Mùa Đại Dịch” đang dở dang.

Buổi sáng dậy sớm, tập đủ một ngàn chiếc vẫy tay của môn Dịch Cân Kinh, thay vì ngồi thở tiếp thì tôi đi tắm cho người sảng khoái trước khi bắt tay vào viết.  Tôi viết nháp ra một tờ giấy để biết kích cỡ của chữ, ướm thử vào tranh xem có ổn không rồi mới viết chính thức.  Lòng cũng hơi hồi hộp vì lần đầu tiên viết chữ vào tranh. Bức tranh rất lớn 24×36 nên để nằm trên bàn không vừa, với lên góc trên bên trái của bức tranh hơi khó, mấy cái giá vẽ và sơn, cọ đã đóng thùng từ khi dọn nhà lần trước chưa mở ra mà tôi cũng chẳng nhớ cất chúng trong thùng nào.  Dựng tranh vào chân tường để viết thì bà già ngồi xuống đứng lên không tiện. Mỗi lần chấm mực lại phải bò ra… Ố la la…thế là đành để lên mặt bàn lớn để đứng viết nhưng lại làm như kiểu ông đồ bò ra viết trên bức hoành phi to.

Viết xong tám câu thơ, đang săm soi ngắm nghía, tấm tắc khen thầm PH khéo chọn thì “Bùm!” ngọn bút lông, ôi ngọn bút lông đang đầy mực trên tay tôi tự nhiên bay vèo xuống góc phải của bức tranh để lại một vệt mực dài nham nhở bằng ngón tay út.  Tôi vội vàng lấy miếng mousse ướt gần đó lau đi, ai dè càng lau càng hỏng, bức tranh loang lổ một khoảng bằng bàn tay.  Toát mồ hôi hột.  Nhà tôi thức dậy thấy cớ sự này cũng ngao ngán: “Tính sao đây?”,  “Thôi cứ ăn sáng xong ta đi Ross, biết đâu họ có tấm thứ hai giống vậy”.

Hai vợ chồng tôi đi từ Ross qua Marshalls, Michaels rồi tới Home Goods  cũng không kiếm được bức tranh nào ưng ý.  Những ngày nhàn hạ tôi hay la cà trong những cửa hàng này để mua sắm. Chịu khó tìm tòi thì cũng mua được những món hàng hiệu đẹp mà giá chỉ bằng 1/10 giá bán ở Macy’s, những món đồ trang trí thì cũng có lúc như trúng số độc đắc vì mua được những món thật không ngờ!

Hôm nay không hên và không còn thì giờ nên tôi đành mua một khung ảnh tại Michaels rồi về ngồi viết trên giấy.  Xong xuôi phải gọi điện thú tội với PH, báo hại PH cũng bị một đêm mất ngủ và hy vọng Phan Lang thích món quà nhỏ của chúng mình.

Đến nhà PL khoảng hơn 7 giờ tối, ríu rít nhau tay bắt mặt mừng.  Ngôi nhà trang hoàng rất đẹp và trang nhã.  Những bình hoa cắm khéo, mầu sắc hài hoà rải rác đó đây.  Tủ kính trưng bầy những tác phẩm và những bức tượng quý giá.  Các bức tường đều được trang trí bằng những hoạ phẩm nghệ thuật tuyệt vời.  Tôi thầm nghĩ nếu bức Chiều Tím hoàn tất thì khổ tranh lớn quá, không còn chỗ trống để treo.  Tôi tự an ủi mình rằng nhờ Trời tính nên chúng tôi mới có một bức tranh viết thật khiêm nhường ngự trị trên bức tường nho nhỏ trong phòng ngủ xinh xắn của chủ nhân.

Nhìn nhau quần áo lốc thốc, mặt mũi bơ phờ vì ngồi lắc lư mấy tiếng trên xe nên sau khi lên lầu được chỉ định chỗ ngủ xong, chúng tôi đi rửa mặt và thay quần áo tươm tất rồi mới xuống đợi vợ chồng Chúc Anh tới như lời hẹn và cùng chụp hình kỷ niệm. 

Một buổi tối thật vui, khung cảnh ấm cúng, thân mật. Các nàng ríu rít lo tạo dáng chụp hình khiến ba chàng phó nháy cũng mệt bở hơi tai. Hai cặp Barry – Phan Lang, Jeffrey – Chúc Anh chia sẻ những câu chuyện vui và bật mí chuyện của những ngày xưa thân ái, cái thuở ban đầu lưu luyến ấy của chàng và nàng.  Càng nghe càng cảm phục và hãnh diện vì các bạn mình.  Thức ăn ê hề, bánh bèo, bánh bột lọc rồi tô bún bò Huế bốc khói thơm phức bên mấy đĩa rau tươi và gỏi tôm thịt.  Toàn món ăn ngon!!

LD vì phải lái xe phụ với anh Sơn nên rút lui lên lầu trước.  Chúng tôi còn lưu lại chuyện trò rổn rảng đến thật khuya mới tan hàng.

Mấy ngày trước khi đi mệt mỏi vì dọn dẹp lại thêm môt ngày lắc lư trên xe nên khi đặt lưng xuống tôi mới thấy người mỏi nhừ, bắp thịt cổ và bả vai tôi như cứng lại và đau nhức vô cùng.  Nằm cùng giường với LD nên tôi không dám cựa quậy sợ làm phiền bạn trong khi LD ngủ ngoan hiền như con mèo nhỏ.  Cả đêm tôi lục đục không ngủ được yên giấc vì cái bả vai chưa bao giờ đau như thế.  Buổi sáng biết tôi bị đau vai LD lấy dầu nóng xoa bóp, bấm huyệt cho tôi.  Cảm giác nhẹ nhõm hẳn mặc dù vẫn còn đau.  PH sang rủ LD và anh Sơn đến nhà một người quen liên hệ với PH về vài việc in sách. Sau đó sẽ ghé đâu đó uống cà phê.

Minh Thuý thức dậy qua tìm tôi hốt hoảng:

_ Mấy người đi mô rồi,  em không thấy ai hết!

_PH rủ Diễm với Sơn qua thăm một người bạn rồi đi uống cà phê.

_Răng không kêu em?

_Chắc là muốn để cho MT ngủ!

MT tiu nghỉu cầm phone ra ban công ngồi check email.

Buổi sáng Thứ Bẩy thật rộn ràng, chị em vui vẻ cười đuà khiến tôi chạnh nhớ đến bầy chị em gái nhà tôi và những người bạn TV mỗi khi có dịp tụ họp cũng ồn ào, hớn hở như vậy.  PH,  MT ra ngoài sân bóc mít, một trái mít to, những múi mít vàng ươm.  Tôi cần máy thở oxygen, khó di chuyển và sợ vướng chân các bạn nên ngồi trụ tại counter trong bếp, phụ LD nhặt mấy bó rau thơm trong khi PL nhanh thoăn thoắt lo ướp tôm, xào thịt, luộc bún, nướng bánh… 

Cha chả có mùi gì thơm thế! Hai nàng đã khệ nệ bê vào hai thau mít đã bóc xong.

_Mấy chị có thích xoài xanh chấm nước mắm đường không?

PL giơ lên mấy trái xoài thật hấp dẫn.  Ai nỡ chối từ!

_ PL rửa đi, đưa đây mình gọt cho.

Ôm mấy trái xoài xanh mà tưởng như nước miếng đang chảy ròng ròng…

Việc nhà bếp tạm xong, bàn tiệc bầy biện đàng hoàng, cả bọn ra đằng trước để chờ đón mấy vị khách mời, chị Kiều Mỹ Duyên và chị Như Hảo đang trên đường đi.  Chị Hoàng Vĩnh và Hồng Tước phone báo có việc bận tại nhà thờ nên không đến được.  Riêng LTV không thấy nói gì, không biết có đến được không.  Các nàng lại chụp hình, lại tạo dáng rồi trêu chọc nhau cười hinh hích.  Góc nào chụp cũng đẹp, cảnh nào cũng xinh, hoa nào cũng mê hồn… Thế là chụp trong nhà, ngoài ngõ, chụp đơn, chụp đôi, chụp nhóm, chụp đứng, chụp ngồi… Sau đó mỗi người lại dí mắt vào máy của mình và cùng nhau “Air Drop!”.

Hai chị KMD và NH đến, cả nhóm kéo nhau ra đón thật vui

_ Chị Như Hảo có nhớ em không?

Chị kéo cặp kính đen xuống nhìn mặt tôi:

_Nhớ chứ nhưng quả thật chị không nhớ tên

_ Dung ở Tam Đa

_À,à… Đỗ Dung!  Mấy chục năm không gặp!  Chị không liên lạc nhưng chị vẫn theo dõi và đọc bài viết của em.

Nghe thật thương!  Chúng tôi nhắc lại những kỷ niệm xưa ở Thương Xá Tam Đa sau ngày mất nước. May mắn sao tôi lại lọt vào một nơi toàn văn nghệ sĩ gộc, anh chị PMC-NH, TDT-NC, NXH-TGV, thêm cô em BH nhí nhảnh nữa.  Chị NH vẫn giữ được nét trẻ và đẹp.  Hình ảnh những buổi đến căn nhà xinh xắn của chị để thưởng thức những món nhậu MẠ làm.  Thật vui!

Tôi chưa được hân hạnh gặp chị KMD nhưng qua những bài viết của chị tôi vẫn cảm được sự thân quen.  Thấy tôi phải mang bình dưỡng khí chị ái ngại và ghé tai khuyên nhủ.  “Ráng giữ sức khỏe nha em”.  Thật cảm động!

Thêm màn chụp hình, anh Sơn lại được trưng dụng bấm một lúc mấy máy theo yêu cầu.

Ăn uống xong hai chị KMD và NH có việc phải về, chúng tôi tiếp tục chiến đấu.

Dẹp hết đồ ăn mặn PL lại khệ nệ bưng ra một thố bự thạch-vải và một khay bánh ngọt. Nhìn thương làm sao, người bạn xinh đẹp, giỏi dang, chu đáo mọi bề.  Phải công nhận tấm lòng hiếu khách của vợ chồng chủ nhà, dù vất vả cực nhọc nhưng cả hai luôn giữ nụ cười trên môi.  Ông Barry, phu quân của PL đúng là loại hàng hiếm.  Bạn vợ đầy nhà, ồn ào chuyện trò bằng thứ ngôn ngữ khác mà ông chẳng phiền hà còn để ý xem ai cần gì thì ông đứng dậy làm ngay. Đâu cần phải tu thiền, đâu cần phải ngày ngày ngồi nhắm mắt mà nét mặt ông thật an nhiên, thanh thản, mọi hành động đều từ tốn, khoan thai. Đúng là một gentleman! Thật mừng cho hạnh phúc của PL.  Qua ánh mắt của Barry khi nhìn vợ thấy ngập tràn sự thương yêu, trìu mến.

Một lúc sau có hai vợ chồng bạn của anh Sơn đến thăm để đón anh về nhà chơi. Chị Mai cũng là dân TV dễ thân nên chuyện trò gần gũi và vui vẻ ngay. PL  bùi ngùi kể chuyện những ngày cuối của anh Diên và những điềm xẩy ra mà bây giờ ngẫm nghĩ lại mới rợn người.  Tôi ngồi bên PL lắng nghe và thật ngậm ngùi thương cảm, chỉ biết bóp nhẹ tay bạn để chia sẻ. Thương quá những giây phút cuối cùng tử biệt sinh ly.  Nghị lực phi thường của người thiếu phụ trẻ đã khiến PL vượt qua được nghịch cảnh đau thương và đã đứng lên mạnh mẽ để làm chỗ dựa cho đàn con, nuôi dậy ba đứa con còn nhỏ dại nên người. Thương quá, phục quá PL ơi!

Chúng tôi cứ ngồi quanh chiếc bàn dài chuyện trò, hết chuyện này đến chuyện kia, thời gian cứ nhẹ trôi, đĩa xoài xanh chấm nước mắm đường từ từ biến, thố thạch từ từ vơi mà chuyện thì nói hoài chưa hết.  Hơn 6 giờ chiều Thiên Hương, em tôi đến.  Tôi đã gọi điện thoại cho em nói chuyến này tôi về miền Nam Cali mà không ghé thăm em được vì ít thì giờ quá.  TH nói chị không đến em được thì em sẽ đến thăm các chị sau khi em đi làm ra.  PL đề nghị ăn cơm chiều.  Chúng tôi nhìn nhau, từ buổi trưa đến giờ chưa dời cái bàn ăn, bụng thì đầy anh ách… Lại ăn??

Cuối cùng món thịt luộc mắm tôm chua đành phải gác lại vì ai cũng còn no.  Chúng tôi ăn cơm với cá kho, tôm kho thế mà ngon ơi là ngon vì mấy ngày chưa được ăn cơm trắng.  Ngày hè dài, 8 giờ trời còn sáng nên PL lái xe đưa chúng tôi ra bãi biển chơi.  Khi mặt trời lặn, dưới ánh đèn đêm khu phố đông vui người qua lại.  Vẫn ngồi trên xe “cưỡi ngựa xem hoa”,  chúng tôi đi một vòng rồi quay về hẹn nhau sáng Chủ Nhật sẽ dậy sớm ra biển ngắm bình minh trước khi ghé thăm văn phòng của các chị KMD, NH như đã hưá rồi sửa soạn lên đường về.

Về nhà cả đám lên phòng tính hát KARAOKE nhưng khi tôi vừa leo lên cầu thang thì mệt ngất ngư, hơi thở dồn dập.  Lấy máy ra đo thì độ Oxygen xuống 67.  PL hết hồn hỏi tôi có sao không. Tôi ngồi yên thở, thường thì chỉ vài phút sau là hơi thở điều hoà lại và độ Oxygen sẽ trở lại bình thường.  Cổ và vai tôi vẫn còn đau,  độ Oxygen lên từ từ đến 88 – 90 là yên chí.  Diễm tiếp tục làm massage.

_ Chị bị trúng gió rồi nè, chị muốn PL cạo gió cho chị không?

Tiếng PL hỏi.  Tôi gật đầu.  Thế là LD xoa bóp, PL cạo gió, PH, MT đứng bên lo lắng nhìn.

_ Thấy không, cạo ra tím bầm nè, đúng là chị bị gió.

Mùi dầu nóng nồng nực khiến tôi ái ngại không biết có phiền ông Barry không thì PL cười

_Không sao đâu, ổng quen rồi.

Hèn chi mà PL có cả mấy chai dầu nóng xịn.

Nằm một lúc bụng nhộn nhạo như muốn ói, thế là cả nhà lại quính quáng lên, may quá tôi có đem theo thuốc Pepto Bismol nên lấy ra nhai ngay một viên.

Buổi sáng Chủ Nhật ba nàng MT, PH, LD rủ nhau ra biển sớm để ngắm cảnh mặt trời lên. PL mở cửa phòng thấy nhà vắng hoe chạy lên gác tìm chỉ còn lại mình tôi, lại y hệt MT hôm qua:

_Sao mấy bạn không gọi PL?

_ Chắc các bạn sợ PL mệt nên để PL ngủ đó mà!

_ PL dậy sớm, chắc khi mọi người đi PL đang trong nhà tắm nên không nghe.

Hai chị em ngồi rù rì tâm sự

_ PL tiếc quá hôm qua không chụp hình lúc chị LD massage cho chị.  Hình ảnh rất đẹp.

_Còn PL cạo gió thì sao?  Dễ thương hơn nữa hén!

Càng nghe, càng tiếp xúc, càng thương mến và cảm phục PL hơn, một người phụ nữ giỏi dang, mạnh mẽ nhưng rất mềm mỏng, khiêm cung… Những nét đẹp của người đàn bà VN đều hiện diện trong cô nàng, chịu thương, chịu khó, nhẫn nại và hy sinh.

Tiếng lao xao của mấy nàng đi biển về, thế là lo sửa soạn để đi thăm Đài Mẹ Việt nam của chị Như Hảo và văn phòng của chị Kiều Mỹ Duyên. Hôm nay nhằm ngày tang lễcủa chị Bùi Bích Hà nên các chị cũng bận rộn.  Ghé thăm chị NH, đủ thì giờ ngắm nghía nơi làm việc xinh xinh của chị NH rồi cũng phải cáo lui vì đến giờ chị “on air”.  Chị KMD hẹn lại buổi chiều. 

Hahaha… Có thì giờ chúng mình kéo nhau đi shopping!

Ra xe LD mới biết là để quên chìa khoá xe trong văn phòng chị NH mà mở cửa xe thì xe không khóa.  May quá không có kẻ gian xung quanh, hú hồn!

Lựa lựa, chọn chọn cuối cùng mỗi người cũng ôm một bọc áo quần, giày dép… Đúng là năm cô nương đại náo Orange County!

PL đãi ăn bữa cuối trước khi chia tay.  Nồi bún bò được đem ra hâm lên, bánh trái khuân ra hết… Cũng một bữa ăn tươm tất! 

Mọi người lục tục đem hành lý ra xe, PL còn mở tủ pantry ra để lấy snack đem theo cho mọi người ăn dọc đường, nào là trái cây khô, trái cây tươi, chip, nước… Lên xe thấy Barry và PL đứng nhìn theo vẫy tay cho đến khi mất hút, nhớ y chang những lần từ biệt anh Viên chị Thủy, anh chị cũng đứng cửa vẫy tay chào các em cho đến khi xe đi khuất.  Thật cảm động rưng rưng muốn khóc!

Ghé văn phòng chị KMD như lời hẹn.  Chỉ LD rồi một mình PH xuống vì đã trễ và còn phải ghé lại nhà bạn anh Sơn để đón anh nữa. Tiễn ra cửa chị KMD còn cho mấy chậu hoa và nước ngọt để đem theo.

Tới nhà bạn anh Sơn, lúc đó đã hơn 5 giờ chiều nên chắc là tối khuya mới về tới SJ nên LD tình nguyện đưa tôi thẳng về nhà để người nhà khỏi phải đi đón.  Tôi mở ví lấy phone đưa địa chỉ để Diễm cho sẵn vào GPS.  Chị Mai lại đon đả ra mời, cả bọn xuống thăm ngôi nhà rộng rãi khang trang của anh chị.  Anh thật tài giỏi và khéo tay, những tác phẩm nghệ thuật của anh thật độc đáo.  Khi chia tay may mắn sao tôi lại mở ví tìm phone tính gọi báo cho nhà tôi biết khoảng giờ về và khỏi lo đi đón thì không thấy điện thoại đâu.  Diễm vào nhà mới thấy để quên tại bàn trong nhà chị Mai.  Thật hú viá!

Chiếc xe bon bon trên đường thiên lý.  Chị em rúc rích ôn lại những gì đã xẩy ra rồi lại chúi mũi vào những tấm hình mới chụp, trao đổi nhau những hình chưa có.  Đi được hơn nửa đường, sau khi ghé Mc Donald  cho dãn chân tay, lên xe tôi check phone thấy email của PL nói không thấy cell phone, có ai cầm nhầm cuả PL mà đem về không.  Nghe nói PH vội vàng bấm số PL thì tiếng phone reo ầm ỹ trong giỏ của LD.  Cả lũ cười bò mà đúng là cười ra nước mắt!

Thôi thì biết là phone không bị mất mà đang ở trong tay Diễm thì PL yên chí không rinh, không reng một ngày Diễm sẽ gửi gấp đến PL.

12:45 khuya Chủ Nhật mới về tới nhà mình, mệt mỏi ngắc ngư, anh Thọ ra đón hành lý, LD kiểm điểm thấy đủ rồi.  Mình dồn vào một góc tính đi tắm rồi đi ngủ, mai lo tiếp.  Chợt nhớ ra:

_ PH ơi… mình còn quên bịch đồ đi shopping.  Nhớ giữ giùm đến Thứ Sáu họp mặt ở nhà mình thì đem tới nhá!!

Tưởng rằng sau khi tắm xong, duỗi thẳng chân tay trên chính cái giường của mình thì sẽ đánh một giấc ngon lành cho đến sáng.  Vây mà đầu óc ráo hoảnh, nhớ đến hơn hai ngày vui với bạn bè, những kỷ niệm thân thương, từng khuôn mặt hiện lên rõ nét.  Thương và nhớ qúa !!

ĐD




THƠ Xướng Họa Chào Mừng THÀNH VIÊN MỚI Ngọc Hạnh – Phương Hoa – Minh Thúy + Hoàng Mai Nhất & LỜI CHÚC MỪNG H/T Lê Văn Hải + 2 Bài Viết “Hoa Thịnh Đốn và Bức Tường Đá Đen” & “Vào Thu” của Tác giả Ngọc Hạnh

Tác giả Ngọc Hạnh

Tóm tắt tiểu sử:

Tên: Nguyễn Thị Ngọc Hạnh

 Bút hiệu: Ngọc Hạnh

Cử Nhân Văn Khoa Đại Học Văn Khoa Sài Gòn

Cựu giáo Sư Đệ II Cấp Trường Trung Học Nguyễn Trãi Sài Gòn

Định cư VA, Hoa Kỳ năm 1980

*

 Thành Viên: Văn Bút Miền Đông Hoa Kỳ, Cô Gái Việt, Minh Châu Trời Đông

Công tác với: Kỷ Nguyên Mới, Đặc San Không Quân, Thương Mại Miền Đông, Diễn đàn huongduongtxd.com

*Giải thưởng Văn Chương của Việt Báo, hạng Danh Dự năm 2019

*

 Sách đã Xuất Bản:

Du Ngoạn Đó Đây IV: Xuất bản 2017

Du Ngoạn Đó Đây III: Xuất bản 2012

Du Ngọan Đó Đây II: Xuất bản 2008

Du Ngoạn Đó Đây I: Xuất bản 2007

Chút Lời Vỗ Tay Chào Mừng!

Lê Văn Hải

VTLV rất hân hạnh, nồng nhiệt đón chào Nhà văn, Nhà thơ nữ Ngọc Hạnh…đã gật đầu tham gia… nhập đàn! với Chúng ta.

Đây là cây bút nữ rất…nặng!…trên cả 100 ký! (Vì lúc nào cũng mang trong người, cả… “bầu!” chữ nghĩa!)

Từ VN, Chị đã tốt nghiệp Cử nhân Văn khoa, Giáo sư trường Trung học nổi tiếng Nguyễn Trãi.

Ra Hải ngoại, sinh hoạt Văn nghệ với nhiều tạp chí, diễn đàn khắp nơi, ít ra cũng đã trên 20 năm!

Cách đây khoảng 2 năm, Chị đã đoạt giải Văn chương “Viết Về Nước Mỹ” của Việt Báo, Thành viên của Văn Bút VN Hải Ngoại, đã xuất bản ít nhất là 4 tác phẩm….

Đây chỉ là ít nét của Cây bút nữ… “dữ dằn”  này. (Viết ra chi tiết, phải đi bác sĩ, vì…gẫy cả cái tay!)

Một lần nữa, xin gởi Chị Bó Hoa Chào Mừng! Xin Chị cứ tự nhiên (không cần bỏ giầy, guốc, dép)…rước Chị vào Nhà! (Thay vì lên đồi!)

Kính Mời.

*Đây là tin vui, nên lời văn, có thiếu chút…đàng hoàng, đứng đắn! Mong Chị thứ lỗi.

VÀO THU

Chúng ta đã vào hơn giữa Tháng Tám, trẻ em đã vào trường lại, cây lá mầu xanh đã bắt đầu đổi vàng, trời chiều mang chút sương lạnh, dấu hiệu chào đón…Thu Đã Về!

Mùa Thu, mùa của những…”Con Nai Vàng Ngơ Ngác!” Mùa của thi nhân. Nào mời tất cả chúng ta cùng thưởng thức một Cô Nai say sưa trong Rừng Thu nhé, qua ngòi bút của Chị Ngọc Hạnh. Xin mời…..

LÊ VĂN HẢI

tinh thu ngoc hanh.jpg

TÌNH THU

Ngọc Hạnh

Trời đã vào Thu, lá trên cành cây chung quanh nhà tôi đã đổi màu tuyệt đẹp, vàng cam, hồng

hồng, vàng tươi….Thỉnh thoảng một cơn gió thoảng qua là hàng ngàn chiếc lá rơi như đàn bướm lượn, đẹp mắt vô cùng.. Nhìn lá vàng rơi tôi nhớ đến những lần đi du ngoạn mùa Thu với bạn bè cùng sống trong vùng, do một nhà văn kiêm nhà thơ lão thành khởi xướng và hướng dẫn. Anh như con chim đầu đàn, từng là chủ bút các Tuần báo, Nguyệt san ở Việt nam và Hoa kỳ, xuất bản nhiều tâp thơ, truyện ngắn, truyện dài… Nhìn thác nước, trời xanh hay bất cứ cảnh đẹp nào anh là sáng tác một bài thơ.Tuổi cao nhưng thơ văn anh ướt át, tình cảm đậm đà chẳng khác chi người trẻ tuổi. Anh yêu thiên nhiên, sông núi, yêu quê hương, và yêu… người đẹp.

Theo anh con người có thể đẹp về thể chất hay tâm hồn. Lúc nào gặp cũng thấy y phục anh cũng tươm tất, chỉnh tề. Tóc anh bạc trắng như ông tiên nhưng nếu ai hỏi anh bao nhiêu tuổi, anh chỉ cười và bảo nhà văn nhà thơ không có tuổi. Lúc chị còn ở trên đời, anh là người chồng tốt, chăm sóc, đưa vợ đi đây đó. Chị bệnh anh tận tình chạy chữa, săn sóc thưc ăn giấc ngủ. Anh còn chịu khó đón đưa các bạn khác đến nhà chơi mà chược với chị cho chị vui. Vì phần lớn thơ anh là thơ tình, ngọt ngào, nên tôi hỏi chị có ghen tị với những người tình trong thơ văn của anh không. Chị trả lời liền, “đó là nguồn cảm hứng để sáng tác, không có thật đâu.” Hỏi chị nếu có kiếp sau chị có bằng lòng làm vợ anh lần nữa không, chi trà lời là “bằng lòng cả hai tay”, vui chưa.

Chị mất ít lâu anh có bạn gái. Tại sao không? Có người trò chuyện cho vui khoảng đời còn lại là điều may mắn, không phải ai cũng có được ở tuổi vàng như anh. Anh quan niệm sống một ngày vui một ngày. Buồn bã, âu sầu phiền muộn ảnh hưởng đền sức khỏe, mang bệnh làm phiền gia đình là không có anh. Các con anh có hiếu, mua xe mới để anh đi lại và đưa đón… bạn gái cho an toàn.

Theo anh tình yêu là đề tài không bao giờ chán từ ngàn năm trước, từ Âu sang Á, từ vị vua sang

cả cho đến thường dân áo vải chân đất. Vì tình yêu mà hoàng tử nước Anh chia tay với vợ, một

công nương xinh đẹp, cưới một phụ nữ lớn tuổi có chồng có con, nhan sắc thua kém vợ mình rất

xa. Vì tình yêu các bà vợ tù không quản ngại đường xá xa xôi, từ Nam ra Bắc tay xách, nách

mang, lội suối qua đèo thăm chồng trong trại cải tạo.

Và hôm nay vì tình yêu cô bạn Hảo của tôi cũng ngất ngư, nàng xin nghỉ một ngày để đến tôi chơi và tâm sự. Hảo có  bạn trai. Hai người quen nhau trên mạng lưới. Lúc đầu tưởng là trò chuyện cho vui ai ngờ thành bạn thân. Họ nghiện thư nhau từ lúc nào chẳng biết. Không có thư thì mong.

Xa cách nhau mấy ngàn dặm nhưng họ điện thư cho nhau hàng ngày, kể cho nhau nhưng chuyện

bình thường trong ngày, trên báo chí sách vở, tin tưc …

Hảo học ở anh tính lạc quan, hiếu học. Tục ngữ, ca dao, văn, thơ, địa lý, lich sử, âm nhạc bạn Hảo giảng trơn tru. Ngoài ra bạn Hảo có tính thương người. May mắn được chỗ làm tốt, có lương cao, anh thường giúp đỡ người nghèo, bệnh tật ở quê nhà. Hảo muốn đóng góp với anh trong việc thiện nhưng anh bảo có thể lo nổi môt mình. Anh chuyễn cho Hảo xem thư cám ơn của cá nhân hay hội đoàn. Anh cũng hay nhắc tới người Mẹ đã qua đời với lòng ngưỡng mộ, kính yêu. Lúc sinh tiền bà đã nêu gương tốt cho con, hay giúp đỡ, cưu mang người nghèo khó.

Bạn Hảo còn là người khéo nói. Anh nhẹ nhàng, ân cần, và có tình khôi hài. Được điên thư anh,

Hảo khúc khích cười một mình. Họ có cảm tưởng rất gần gủi nhau tuy cách xa hàng 5, 6 giờ bay.

Hảo vui khi nhận điện thư của bạn, có khi 3, 4 lần một ngày cho đến khi Hảo hết hồn nghe bạn

bảo ngơ ngẩn nhớ thương, muốn vượt ngàn dặm đến thăm Hảo để tính chuyện lâu dài…Hảo

phân vân. Anh chưa hưu trí và ít tuổi hơn Hảo nhưng anh quan niệm giống số người Mỹ, chàng

kém tuổi hơn nàng vẫn có thể yêu nhau và ở với nhau lâu dài, Anh nêu trường hợp của Halle

Berry và Demi Moore… và anh nói tuổi tác chênh lệch, tiếng đời dị nghị, anh không bận tâm. Anh bảo tuổi nào cũng đẹp, cuộc đời nào cũng đáng yêu nếu biết sống cho hợp với tính tình mình, nếu biết yêu đời, biết yêu người và biết vui, biết thụ hưởng những gì trời cho. Anh nói nếu muốn thì có thể xin đổi đi tiểu bang khác dễ dàng.

Xúc động, Hảo tự hỏi thương yêu lúc mùa thu của cuộc đời thì có nên chăng? Hảo phân vân,

vương vấn. Bao nhiêu năm lẻ loi, bận bịu với bổn phận. Nay các con trưởng thành được nhàn hạ tung tăng, gặp chuyện này thật là chẳng giống ai. Truyện Kiều đã có câu

Ma đưa lối, quỷ dẫn đuờng

Tìm chi nhưng lối đoạn trường mà đi ……     

Thật là bỏ thì thương, vương thi tội. Hảo bàn với tôi có nên khuyên anh  quên đi “dự tính lâu dài” của anh chăng. Bạn bè quý mến nhau, chia sẻ , tâm sư với nhau là quý lắm rồi,là ơn phươc  bề trên, tham lam chỉ cực thân thôi.Thừơng  quen biết thì nhiều nhưng bạn thân có được mấy người, hiếm như mưa sa mạc. Nghe Hảo tâm sự tôi nhớ lại bài TINH GÌA của Phan Khôi:

……..Ôi, đôi ta tình thương nhau thì đã nặng Mà lấy nhau thi không đặng…Nhưng ……….. Buông nhau thì sao nỡ ….

Theo tôi mỗi người môt duyên phân, tùy quan niêm mỗi người. Nếu có thể đem niềm vui đến cho bạn mình và bản thân, không làm phiền kẻ khác, tại sao không. Đó là ý kiến của người quê mùa nhưng Hảo quyết đinh mà thôi.Vả lại  đâu cần phải sống chung mới hạnh phúc. Nhà thơ niên trưởng kể với tôi mỗi ngày ông tặng cho ngươi yêu một bài thơ dù nàng không phải là thi sĩ.

Thỉnh thoảng anh mới găp và đưa nàng đi nghe nhạc, xem phim… Anh vui, khỏe mạnh cho đến

khi lìa đời thình lình vì bệnh tim (?) và các con cũng vui lây.

Nhìn ra sân hoa cúc đang nở rộ màu sắc rực rỡ nhưng sẽ phai tàn, buồn hiu khi mùa Đông đến và tôi chợt nhớ câu thơ của cô em Ngọc Dung:

Xuân của đất trời, Xuân đi rồi đến

Xuân của loài người, Xuân đến rồi đi

Tôi cầu mong Hảo và mọi người có đủ niềm vui, có tình yêu thương,được hạnh phúc, sống vui

trên đời dù ở quê hương hay hải ngoại…

Ngọc Hạnh.

Ký sự:

Hoa Thịnh Đốn và Bức Tường Đá Đen

Ngọc Hạnh

Tuần lễ vừa qua  vợ chồng người cháu gọi bằng cô từ Cali đến Virginia thăm tôi. Đã lâu cô cháu  chưa gặp nhau, chỉ liên lạc qua điện thoại hay điện thư mà thôi. Mấy lần hai cháu đinh đi thăm cô nhưng việc nhà việc sở lần lữa mãi.

Nhân dịp được nghỉ  lễ “Chiến Sĩ Trận Vong“ (Memorial Day)  hai cháu quyết đinh ghé Virginia thăm  cô và các em họ, trên đường đi Luân Đôn dự lễ tốt nghiệp con gái. Từ Cali bay thẳng đến Luân Đôn  giá  máy bay  rẻ hơn từ Washington DC đi Luân Đôn dù đường bay ngắn hơn.

Tháng 5 vẫn còn mùa Xuân, thời tiết mát mẻ, khí hậu Virginia rất đẹp. Trời không lạnh cũng không  nóng nực. Mưa xuân đủ ướt đất cho hoa cỏ xanh tươi mát mắt. Công viên và tư gia sân cỏ xanh mướt, hoa các loại  đua nhau nở rộ quyến rũ  bướm ong.

Cháu cho biết San Jose thời tiết năm nay hơi bất thường, tháng 5 mà có hôm còn lạnh, ra đường phải mặc ấm. Hai cháu chẳng lạ gì vùng Hoa Thinh Đốn nên chỉ loanh quanh ở nhà với cô và các em cho đến một hôm vào gần cuối tuần, lúc đi thủ đô  Washington DC, hai cháu muốn ghé  thăm bức tường đá đen “Đài tưởng Niệm Cựu Chiến Binh Chiến Tranh Việt Nam” (VietNam Veterans Memorial).

Tôi cũng chưa biết bức tường,  dù cư ngụ ngay tại vùng thủ đô gần 40 năm. Đến đài Tưởng Niệm các chiến sĩ tôi bùi ngùi xót xa cho gia đình họ, cho những góa phụ cô đơn và các con mồ côi thiếu sự chăm sóc của cha thân yêu. Tôi  có đọc báo, xem tin tức cách đây mấy mươi  năm khi  mới khánh thành bức Tường Đá  Đen nhưng toàn là hàm thụ, chưa thấy tận nơi bao giờ. Bà con bạn bè ở xa về chơi đều được các con cháu đưa đi thăm thủ đô và bức tường ghi tên những chiến binh Hoa Kỳ và người ngoại quốc đã chết hoặc mất tích trong chiến tranh Việt Nam.

Lần này tôi cùng đi với các cháu  có lẽ vì thấy một số xe mô tô ồn ào chạy trên đường phố nhắc tôi nhớ còn vài ngày nữa là đến ngày lễ “Chiến Sĩ Trận Vong“. Các cựu chiến binh  năm nào cũng đến thủ đô đến từ  các tiểu bang khác để dự lễ, mỗi người một chiếc mô tô, chẳng ai đèo ai.

Chúng tôi đến khu công viên quốc gia Washington DC., tìm chỗ  đậu xe cũng dễ vì không phải ngày cuối tuần nhưng phải đi bộ khoảng ngắn. Đi vào cuối tuần gay go hơn nhiều, khó tìm chỗ đậu, tốt hơn là đi Metro vừa nhanh vừa khỏi  tìm chỗ đậu xe khó khăn.

Bức tường Đá Đen nằm trong khu công viên quốc gia, diện tích 8.100 m2, gần khu vườn cây. Nơi đây mát mẻ nhờ cây cao cho bóng mát,  dưới đất thảm cỏ xanh mượt êm như nhung, lối đi bằng thẳng phẳng phiu. Những băng gỗ đặt rải rác theo lối đi cho khách nghỉ chân. Những người  viếng bức tường đủ sắc tộc, Ấn Độ, người da trắng, da đen, da vàng, trẻ em, người lớn, nam, nữ, cụ già, có em bé  trong xe  nôi cho mẹ đẩy đi. Ngày thường không mấy đông nhưng vào cuối tuần hay ngày lễ nơi này rất đông người thăm viếng. Người già, trẻ, thanh niên thanh nữ, chen chúc trên con đường ngắn.  Hôm tôi đến có những vị mặc quân phục đứng tuổi  đến viếng bức tường, dò tìm tên người  thân trên bảng đá đen.

Dưới chân bức tường rải rác một vài cành hoa hay nguyên cả bó hoa tươi.

Mới vào khu vườn đã thấy  tượng 3 quân nhân mang súng bằng đồng đứng trên bục gần bức tường. Ba người nhưng khác màu da: một da đen, một da trắng, và một người quốc tịch khác, người Á Châu?

Một số du khách đứng chờ chụp ảnh kỷ niệm với bức tượng, có người chăm chỉ đọc  những  dòng chữ ghi trên bảng đồng dưới chân tượng.

Cách khoảng ngắn cũng trong công viên có tượng mấy phụ nữ cũng bằng đồng, đang đỡ người nam mặc quân phục, một thương binh?  Tôi  không xem được bảng chú thích nơi chân tượng nên không  biết họ là ai. Mọi người chỉ muốn vào xem bức tường Đá Đen. Tuy khu vực này mát mẻ nhờ có bóng cây nhưng nơi  bức tường thì nắng, chẳng có bóng cây nào cả.

Từ trước, tôi vẫn nghĩ Bức Tường Đá Đen hình vuông dài nhưng không phải quý vi ơi, tường hình chữ V, trải dài từ  cao đến thấp,  không  cùng một chiều cao  đâu. Chỗ cao nhất 3 mét và chỗ thấp nhất 20cm, dài 150 m ghép lại bằng  72 tấm đá hoa cương quý màu đen mang về từ Ấn Độ (Bungalore), ghi tên hơn 58,276 người Mỹ và ngoại quốc đã chết hay mất tích trong chiến tranh Việt Nam (tháng 5/2019). Trong số này có 8 phụ nữ phần lớn là y tá, 16 nhà truyền nhà giáo, 1,200 người mất tích. Lúc đầu chỉ có 57, 937 người có tên trên bảng đá đen lạnh lẽo mà thôi.

Đứng nơi “Bức Tường” quý vị  có thể nhìn thấy cây “bút chì”(Washington Monument ) đỉnh nhọn và cao ở xa xa.

Theo tài liệu công viên Tường Đá Đen xây từ 26/3/82 khánh thành 9/11/82, tốn khoảng 9 triệu mỹ kim. Tác giả bản vẽ  là cô Maya Lin, sinh viên kiến trúc đại học Yale lúc cô mới 21 tuổi, người Mỹ gốc Hoa. Tuy gốc người Hoa nhưng cô sinh trưởng ở Ohio, Hoa Kỳ. Bản vẽ cô được chọn trong hơn cả ngàn bản vẽ của các kiến trúc sư khác gửi về thm dự cuộc thi tuyển. Bức tường màu đen, tên người khắc vào bức tường màu trắng.

Dù hơn 30 năm tường vẫn sạch sẽ không  bám bụi bẩn. Được biết mỗi chủ nhật thứ II trong tháng  từ tháng 4 đến tháng 10 có nhóm người tình nguyện nam và nữ đến sắn tay áo nhúng khăn vào nước sà phòng cọ  rửa bức tường kỷ niệm. Họ là cựu nam, nữ chiến binh Hoa kỳ trong chiến tranh Việt Nam. Tôi liên tưởng hình ảnh những người mang hoa  thăm mộ người thân trong  các nghĩa trang. Họ đâu chờ đến đúng ngày kỷ niệm. Việc làm của họ người ngoài nhìn vào có vẻ như nhàm chán vô nghĩa nhưng thực ra được gần bức tường có ghi tên người thân cũng ấm áp,làm nhẹ nỗi đau buồn ít nhiều. Nếu không đoàn người đi mô tô đâu bỏ công vượt hàng ngàn dặm đường xa thăm  bức tưng kỷ niệm mỗi năm.

Tôi chợt nhớ bà hàng xóm cũ. Hai vợ chồng bà có người con trai duy nhất đã  tham gia chiến tranh Việt Nam và mất trước khi Mỹ rút quân 2 tuần.  Bà kể lại với giọng  thản nhiên nhưng tôi biết bà đau lòng  khi nhắc lại chuyện cũ.

Thật không hiểu  được, tuổi trẻ, con một, nhà khá giả lại đi tham dự cuộc chiến ở quốc gia xa lắc xa lơ, thiếu tiện nghi vật chất, để cho cha mẹ lo sợ nhớ thương. Sau  này ông bà bán gian nhà đang ở rộng rãi, mua nhà khác nhỏ  hơn có 1 một tầng thôi. Lúc bán nhà Bà mời tôi  sang nhà bà chơi bảo thích gì thì lấy và bà nói đùa là” trừ cái đàn piano” vì bà là giáo  sư dạy đàn. Nhìn hình con trai  bà, một thanh niên khôi ngô  sớm vĩnh viễn ra đi cho quê hương Việt Nam, buồn ơi là buồn.

Định mệnh trớ  trêu, tre khóc măng.  Chồng  bệnh, con mất sớm nhưng xem bà có vẻ bình an có lẻ nhờ ở đức tin mạnh mẽ chăng. Tôi thấy ông bà đi nhà thờ mỗi chủ nhật và thường đến thăm bức Tường  Đá Đen ở thủ đô dù chẳng phải ngày lễ.

Thật ra Bức Tường Đá Đen  cách hồ Tidal  Basin thơ mộng thủ đô  Washington DC không bao xa, có thể đi tản bộ trước hay sau khi thăm Bức Tường cũng tiện lắm: gió mát, cảnh trí an lành thanh  nhã.

Theo cháu tôi công viên quốc gia  thủ đô Hoa Thịnh Đốn, nơi có các đài kỷ niệm đã thu hút  người thăm viếng đông nhất nước, 4, 5 triệu du khách  mỗi năm…Hai vợ chồng cháu tôi rời Virginia vài ngày trước lễ”Chiến Sĩ Trận Vong” nhưng đã thấy các đoàn mô tô to  ồn ào chạy trên đường  lộ hướng về thủ đô. Tuy nhiên họ chưa vào thành phố chỉ ngụ các khách sạn ở ngoại ô vùng Virginia. Nhìn là biết họ từ xa về, áo da chắn gió, mũ bảo vệ, kính đen thật to… Chiếc xe thì to gấp rưỡi chiếc xe mô tô bình thường, tiếng máy nổ cũng ồn ào hơn các xe mô tô nhỏ.   

Theo  tôi biết các tiểu bang Hoa kỳ đều có tổ chức lễ “Chiến Sĩ Trận Vong” vào thứ hai tuần lễ cuối cùng của tháng 5 nhưng có lẻ thủ đô Hoa Thịnh Đốn tổ chức trọng thể nhất. Các cuộc diễn hành đẹp mắt, y phục, đi đứng trang nghiêm từ các học sinh đến các đòan thể, các  binh chủng khác nhau… Các đoàn quân nhạc với nhạc khí sáng ngời, y phục thẳng nếp. Các màn múa súng điêu luyện vui mắt. Ở nghĩa trang quân đội Arlington Washington DC  trước mỗi mộ bia đều có cắm lá cờ Hoa kỳ nhỏ.

Có lẽ  quý vị  cũng đã  xem diễn hành trên màn ảnh rồi. Tôi chỉ muốn nói đến sự hiện diện của  các Hội Đoàn và công đồng người Việt vùng Maryland, Virginia và Washington DC trong buổi diễn hành. Đồng bào hải ngoại cũng vui thấy đại kỳ và cờ Việt Nam  Cộng Hòa phất phới trong buổi lễ, các tà áo dài phụ nữ Việt tha thướt xuất hiện trong đoàn diễn hành long trọng và trang nghiêm ở Washington DC.

Trong 32 năm nay, vào ngày lễ “Chiến sĩ Trận Vong” từ các tiểu bang khác, cả ngàn cưu chiến binh lái mô tô trải qua bao nhiêu ngàn dặm, chịu nắng gió nhọc nhằn về Washington DC.

Có tài liệu cho biết năm 2018  khoảng 100,000 người lái xe mô tô về  thủ đô dự buổi diễn hành ngày lễ Memorial Day. Tuy đường xa  nhưng họ về vừa dự diễn hành vừa thăm tường kỷ niệm, tưởng nhớ, vinh danh các cựu chiến binh anh dũng, các đồng đội đã vì lý tưởng cao quý, hy sinh cuộc sống riêng tư an lành tốt đẹp, tham gia chiến tranh Viêt Nam, một quốc gia  xa xôi khác tiếng nói màu da với người Hoa kỳ. Một số lớn những người này bỏ mình nơi xa lạ, không ai ruột thịt thân yêu trong giờ phút lâm chung, vĩnh biệt trần gian vì nước Mỹ từng muốn giúp một quốc gia đồng minh chống Cộng.

Đoàn xe mô tô phủ bụi đường xa được dân chúng thủ đô nhiệt liệt hoan nghênh, đón chào. Tiếng máy xe ồn ào, ầm ĩ vang dội cả khu phố khi đoàn xe đi qua.Ngày thứ hai 27/ 5/19 họ tâp trung và khởi hành từ bãi đậu Pentagon vào buổi trưa, đi qua Memorial  Bridge, đại lộ Constitution đến West Potomac Park. Xe nào cũng có lá cờ Hoa Kỳ  mới rực  rỡ như  một rừng cờ di động, Điểm cuối đoàn xe là Vietnam Veterans Memorial.  

Thường đoàn Rolling Thunder đến Washington DC vào cuối tuần, thăm viếng vài nơi  thủ đô, chuyện trò với các đoàn thể, người quen… và chính thức dự lễ Chiến sĩ Trận Vong vào ngày thứ hai.

Năm nay, 2019, là năm  cuối cùng  đoàn Rolling Thunder tham dự diễn hành ngày lễ Memorial Day ở Washington DC. Tôi nghĩ họ mệt mỏi  do tuổi cao và đường xa, vì các cưu chiến binh người trẻ nhất cũng trên 60 tuổi. Nhưng, theo báo chí nguyên nhân họ không tiếp tục tham dự vì lý do tài chính. Tiền thuê bãi đậu xe và mướn người giữ an ninh  ở Pentagon cao.  Đoàn  mô tô  Rolling Thunder diễn hành  ngày “Chiến Sĩ Trận Vong” mấy chục năm  quen lệ như  một “truyền thống”, vắng đòan xe  sẽ có nhiều người tiếc nhớ.

Được biết  Rolling Thunder thành lập năm 1987 với số thành viên khiêm tốn, năm kế tiếp 1988 có 2,500 người tham dự và từ đó đến nay năm nào họ cũng về thủ đô dự lễ Chiến Sĩ Trận Vong.

Từ đây về sau mỗi năm  vào tháng  5, dân chúng vùng thủ đô hết còn nghe tiếng máy xe mô tô ồn ào và rồi những cựu chiến binh trên đường phố, hình ảnh quen thuộc với dân chúng.

Nhìn bề ngoài những người này trông bặm trợn, hùng hổ  nhưng thật ra  tình cảm  họ cũng nồng nàn, tha thiết  với chiến hữu, đồng đội. Trông cách họ chịu khó vượt bao nghìn dặm đến thăm đài kỷ niệm, nhẹ nhàng dò tìm tên người thân hay đồng đội trên bức tượng đá vô tri lạnh ngắt thì biết.

Đi viếng đài tưởng niệm  tôi xót xa nghĩ đến những người đã nằm xuống cho quê hương tôi dù họ là người Hoa kỳ hay nước khác.Tôi nhớ nghĩa trang Biên Hòa không  người thăm viếng thường xuyên như ngày trước và liên tưởng hậu quả tang thương do chiến tranh. Riêng nước VN cả triệu người phải rời bỏ quê hương, cửa nhà tan nát, gia đình ly tán. Họ  vượt biển, một số chìm sâu trong lòng biển cả hay mất xác trong rừng rậm, làm mồi cho thú dữ…

Phần lớn những người có tên trên bức tường đen đã có gia đình,có cuộc sống êm đềm với vợ trẻ con thơ hay cha mẹ  thân yêu nhưng họ đã chết cho đất  nước Việt Nam và con số không nhỏ. Xin vô cùng tri ân  các cựu chiến binh  chiến tranh Việt Nam, dù họ  qua đời hay còn khỏe mạnh, lành lặn hay thương tật. Quân nhân nhất là chiến binh trong thời  chiến  theo tôi là những người  cực nhất trong các ngành nghề. Họ không quản ngại nắng mưa, vào rừng lên núi , xa gia đình, người thân yêu… Xin ơn trên ban phước lành cho  các cựu chiến binh  và gia đình họ. Cầu mong họ có đời sống tốt đẹp an vui. Bên ngoài  nắng nhẹ, trời trong, đàn chim  hót líu lo, nhảy nhót tung tăng và bướm vờn  quanh khóm hoa  Xuân rực rỡ màu sắc…

Ngày lễ Chiến Sĩ Trận Vong 2019
Ngọc Hạnh

WELCOME TO THE TEAM

CHÀO MỪNG NHÀ VĂN NGỌC HẠNH

CHÀO MỪNG tân khách đến Thành San

Nữ sĩ tham gia với Diễn Đàn

NGỌC HẠNH chữ tuôn lùa gió núi

Giáo sư bút lướt vẹt mây ngàn

VĂN THƠ vinh dự mời vào cửa

LẠC VIỆT hân hoan rước nhập đoàn

Chung sức đồng tâm gìn Việt Ngữ

Truyền lưu quốc sử họ Hồng Bàng

Phương Hoa – BBT VTLV – AUG 18th 2021

**

CHÀO MỪNG NỮ SĨ NGỌC HẠNH

 (Họa)

Ngọc Hạnh tin vui đến diễn đàn

Lâu rồi nữ sĩ tiếng đồn vang

Lời vàng bút vẫy hoà mây nước

Chữ phượng vần bay quyện núi ngàn

Lạc Việt mừng dâng chào nhập sở

Văn Thơ hãnh diện đón vào đoàn

Chung tay hợp giữ gìn ngôn Mẹ

Sử sách tồn lưu đẹp họ Bàng

       Minh Thuý Thành Nội – Tháng 8/18/2021




CHUYỆN NHƯ HUYỀN THOẠI – Phương Hoa

CHUYỆN NHƯ HUYỀN THOẠI

Phương Hoa

(Bài đã đăng trên Việt Báo, California ngày thứ Sáu, AUG 6th, 2021 )

Viết tặng bạn Phạm Phan Lang, cựu nữ Trung Tá Lục Quân Hoa Kỳ

Cái tin cô bạn cựu Trung Tá Lục Quân Hoa Kỳ Phạm Phan Lang (Thực sự thì Phan Lang đã nhận quyết định thăng chức Đại Tá trước khi giải ngũ) từ xứ du lịch bờ biển Hạ Uy Di dọn về California làm nức lòng bè bạn khắp nơi trên đất liền. Nhóm Bắc Cali toàn nữ chúng tôi và Phan Lang cũng đều là thành viên của Văn Thơ Lạc Việt (VTLV), Văn Bút Hải Ngoại Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ, Cô Gái Việt, và Minh Châu Trời Đông, vui mừng điện thoại cho nhau ơi ới mỗi ngày, bàn tính rôm rả chuyện đi Nam Cali thăm nhà mới của “Đứa con gái cưng Mỹ Quốc” nữ Trung Tá gốc Việt đầu tiên của Hoa Kỳ, cũng là “Hậu duệ Hai Bà Trưng Triệu Việt Nam” là những câu chúng tôi thường gọi đùa người bạn gốc quân nhân này.Và tôi bắt đầu chuyện làm thơ cho chị Đỗ Dung viết thư pháp Chúc Mừng Tân Gia.

Trưởng đoàn là chị nhà báo Lê Diễm, trưởng ban Xã Hội VTLV, người luôn mau mắn chu toàn lo cho việc “quan hôn tang tế” của VTLV. Chị chịu trách nhiệm thuê xe kiêm luôn chức bác tài. Sau khi rủ rê hẹn hò ngày giờ đâu đó, chúng tôi thành lập được một phái đoàn thiệt đông, thiệt “oách,” cỡ một tiểu đội quần hồng, bảy tám “nàng” như một tour du lịch chánh hiệu con nai vàng, và chị Lê Diễm book chiếc Van 12 chỗ rộng rãi ngon lành. Nhưng kéo dài theo thời gian, các bông hoa …rơi rụng lia chia, kẻ bận chuyện kia người kẹt chuyện nọ, cuối cùng thì đầu to đuôi teo, số người đi còn lèo tèo chỉ bốn mống, Lê Diễm, Đỗ Dung, Phương Hoa, và Minh Thúy.

Đây là lần đầu tiên sau ngày “mở cửa” qua hơn một năm rưỡi nằm nhà trốn dịch, chị em chúng tôi mới được các đức lang quân cho đi chơi xa, nên ai nấy rộn ràng chuẩn bị. Trước ngày khởi hành, đọc tin thấy dịch biến thể Covid Delta đang hoành hành, lây lan khắp năm chục tiểu bang Hoa Kỳ, nhiều nhất là ở Nam Cali, vùng Los Angeles.  Cho nên đêm trước khi đi tôi lo âu không ngủ được vì nghĩ đến chuyện cái con Delta nó lẩn quẩn dưới Nam Cali, và có lúc tôi đã tưởng phải hủy chuyến đi. Nhưng rồi nghĩ đến công lao chị Lê Diễm đã thuê xe và các chị chuẩn bị bữa giờ. Tội nhất người bạn vàng Phan Lang của chúng tôi, điện đàm liên tục, hỏi han về sở thích ăn uống của mỗi người để chuẩn bị. Và hai cái tủ lạnh đầy nhóc các thức ăn chay mặn khi chúng tôi đến nơi đã nói lên tình cảm và sự chu đáo đối với bạn bè của người bạn nhà binh ấy.

Lúc khởi hành, miền Bắc Cali khí hậu thật mát mẻ. Xuống xa dần về phía Nam, trời bắt đầu nóng lên hừng hực, đến nỗi máy lạnh trong xe mở lên cũng chẳng “xi nhê” gì. Nóng bốc khói đã làm tôi vỡ mộng ngắm cảnh dọc đường. Nên nhân lúc mọi người nói cười vui vẻ, bàn tính đi Little SaiGon sẽ mua sắm những gì, tôi lấy điện thoại ra mở đầu cho bài viết của chuyến đi đầy hào hứng. Lần trước Phan Lang từ Hawaii qua Cali thăm con gái làm việc ở Google, nhóm bạn chúng tôi cũng đã gặp nhau và “tâm sự loài chim biển” cả ngày trong bữa tiệc tại nhà Minh Thuý mà không biết chán.  Tôi thường liên lạc với Phan Lang nên biết được nhiều điều cảm động về người bạn này. Lịch sử gia đình Phạm Phan Lang gồm một chuỗi dài đầy huyền thoại, kiêu hãnh, ngọt ngào, lẫn đớn đau… mà nghe tới đoạn nào trái tim tôi cũng bị mềm đi theo đoạn ấy… 

30 tháng Tư 1975 ngày mất nước, Thiếu Tá Hải Quân của QLVNCH Phạm Văn Diên lái chiếc chiến hạm loại nhỏ PGM 615 rời quê hương mang theo gia đình cùng bố mẹ già, gia đình người anh, một người em vợ, cùng trên dưới hai trăm quân nhân và đồng bào. Người ta chen lấn lên tàu, nhiều người nhét vàng vào tay Thiếu Tá Diên nhưng anh tuyệt đối không nhận của ai một thứ gì.  Nhà ba mẹ Phan Lang vốn khá giả, ba là một nhà thầu lớn từng xây nhà cho tướng Tôn Thất Đính và Đỗ Mậu ở Nha Trang. Ngày di tản nàng mang theo một ruột tượng có dollars, vàng, và kim cương nhưng vì say sóng nên tháo ra cất vào hành lý. Chiến hạm đó vừa chiến đấu ở miền Trung trở về đã bị thương tích đầy mình, trên đường ra khơi thì bị trục trặc, nước tràn vào.  May gặp một chiếc tàu khác cứu, chỉ vớt người, rồi đánh chìm chiến hạm, mang theo toàn bộ gia tài của bạn tôi xuống lòng đại dương.

Đến Mỹ với hai bàn tay trắng, được bảo trợ về định cư nơi thành phố nhỏ vắng vẻ miền quê, gia đình vợ chồng Phan Lang gồm ba đứa con thơ và bố mẹ chồng già. Nhưng khi người bảo trợ khuyên đi xin trợ cấp thì họ nhất định không chịu, thà là xin việc làm xa thành phố, anh Diên đạp xe đạp đi cả chục cây số mỗi ngày, lương chỉ ba cọc ba đồng. Phan Lang thì xin được chân rửa bát ở nhà hàng. Nghe bạn kể mà tôi muốn rơi nước mắt.  Vốn con nhà tiểu thư khuê các, ra đi mất sạch mọi thứ, chỉ còn lại đôi giày cao gót dính vào chân, quen cách điệu đà lúc nào cũng giày cao guốc nhọn, nên lúc đi rửa chén cũng không nghĩ mình sẽ bị vấn đề gì khi mang đôi giày độc nhất đó.  Cô nàng làm sao tưởng tượng được, khi nhấc thùng chén đĩa nặng trịch lên và chỉ một bước trên đôi giày cao gót, nàng đã bị trượt chân tới trước rồi ngã uỵch xuống sàn nhà, chén bay đĩa phóng tứ tung, bể tan thành trăm mảnh.

Phan Lang nhớ lại, lúc ấy cái đau vì ngã thì ít, mà cái tủi thân, đau đớn vì hoàn cảnh nước mất nhà tan, mang thân lưu lạc thì nhiều. Và sự đau đớn chảy theo từng dòng lệ trào tuôn đã bừng lên một ý chí mãnh liệt cho Phan Lang. Cần phải đi học. Học để vươn lên. Để kiếm tương lai cho gia đình và con cái, không thể sống với nghề tay chân rửa bát này được. Thời may, nhờ người bảo trợ giúp, đưa gia đình Phan Lang đến ở trong một trại gà, nuôi 60,000 con gà thịt. Cơ hội đến, vợ chồng Phan Lang ghi danh vào University of Maryland, Eastern Shore. Mỗi ngày chỉ 24 tiếng, mà bạn tôi vừa đi học, vừa làm ba job chính và nhiều job phụ, tôi nghe mà bắt…chóng mặt, nhớ không hết. Đi học vừa làm work study, xong chạy về cho gà ăn, cho uống thuốc, tối đi làm ở McDonald’s, đi dạy tiếng Anh cho trẻ Việt mới định cư, nuôi dạy ba đứa con thơ, làm nàng dâu ngoan chăm sóc hầu hạ cơm dâng nước rót cho bố chồng từng là quan Chánh Tổng ngày xưa, và người mẹ chồng mang nhiều thứ bệnh…

Vất vả thế, vậy mà chỉ sau ba năm đến Mỹ, năm 1978, khi còn đang học đại học, Phan Lang cùng anh Diên và vị Giảng Sư Vật Lý đã hoàn thành một nghiên cứu về khoa học và đạt loại xuất sắc, nên được trường chọn đưa đi dự đại hội ở Viện Y Tế Quốc Gia – National Institutes of Health (NIH) tại Atlanta. Anh Diên cũng được chọn đi dự, nhưng Phan Lang đặc biệt hơn, được đề cử đại diện làm người phát ngôn, Speaker của trường, để đọc bài giới thiệu trước đại hội. Chưa hết, cũng trong năm 1978, Phan Lang được chọn là một trong 20 sinh viên xuất sắc toàn quốc trong chương trình Liên Đoàn Nghiên Cứu Nước Ngoài (The Foreign Study League) đi nghiên cứu một tháng qua các nước Anh, Pháp, và Ý.

Và rồi công khó đã được đền bù. Đến năm 1980, sau 5 năm định cư trên đất Mỹ,

Phan Lang tốt nghiệp đại học hạng tối ưu, trên 4:00 GPA, nhận cùng lúc hai tấm bằng Cử Nhân. Một là Cử Nhân Kinh Tế Gia Đình (Home Economics) và một là Dinh Dưỡng Học (Nutrition and Dietetics). Sau khi tốt nghiệp, Phan Lang xin gia nhập quân đội Hoa Kỳ, tham gia vào chương trình thực tập về Dinh Dưỡng của Lục Quân Hoa Kỳ (US Army Dietetic Internship).

Khi nghe bạn kể đến đây tôi không dằn được nên chặn lại và hỏi:

“Phan Lang có thể cho mình biết nguyên do nào bồ nghĩ đến gia nhập quân đội Hoa Kỳ không?”

“Well, mình sẽ không nói những lời sáo ngữ như là vì yêu nước Mỹ hay muốn đền ơn gì gì đó. Phan Lang nói.  “Mà thật ra mình vào quân đội vì quân đội có chương trình thực tập dinh dưỡng tốt nhất, và đặc biệt, những quyền lợi (benefits) trong quân đội Hoa Kỳ rất là lý tưởng, không đâu sánh bằng. Hay hơn nữa, chỉ cần phục vụ ba năm là có thể xin giải ngũ nếu muốn, và khi ra ngoài sẽ rất dễ xin việc làm.” Cô nàng cười, tiếp: “Nhưng vào được trường sĩ quan quân đội Lục Quân Hoa Kỳ không phải dễ đâu à nha! Phải có đủ tiêu chuẩn, thứ nhất là tốt nghiệp bằng Cử Nhân loại giỏi và đúng ngành, thứ hai phải dưới ba mươi tuổi, thứ ba phải có quốc tịch Mỹ, cộng thêm với 3 lá thư giới thiệu của những nhân vật quan trọng và một bài viết về tiểu sử. Và đặc biệt là, phải qua được cuộc phỏng vấn rất khó khăn.”

Khi đó Phan Lang bị thiếu hai điều quan trọng nhất: Đã qua tuổi ba mươi và chưa có quốc tịch Mỹ. Nhưng nhờ tốt nghiệp Cử Nhân hạng tối ưu, có nhiều thành tích tốt lúc ở trường đại học, và 3 lá thư giới thiệu nhiệt tình từ ba nhân vật quan trọng trong ngành giáo dục và xã hội, kèm theo bài viết về tiểu sử rất “bắt mắt,” nên họ thấy tiếc nếu không nhận Phan Lang. Và họ đã làm một cuộc phỏng vấn, mất cả nửa ngày trời hỏi toàn những câu hóc búa. Cuối cùng vì quá thích thú khi biết thêm về người thí sinh này, nên họ đã nhận “đặc cách” người phụ nữ Việt đã có gia đình và ba đứa con nhỏ và chưa nộp đầy đủ những gì họ yêu cầu, vào với quân đội Mỹ.

“Wow! Wow!” Tôi nghe mà chỉ biết kêu lên thích thú, vì không có lời nào để ngợi khen bạn cho xứng đáng cả.

Sau một năm học tập và được nhà binh rèn luyện với đầy đủ phong cách một quân nhân, năm 1981 Phan Lang tốt nghiệp, ra trường là một nữ Thiếu Uý. Thật không thể tưởng tượng nổi, đã vào quân đội mà nàng vẫn phải chu toàn việc nhà, rồi còn trở lại trường vào ban đêm học lấy bằng Thạc Sĩ. Chuyện nghe như huyền thoại, như cổ tích “nghìn lẻ một đêm,” mấy ai tin được một sĩ quan của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, mà mỗi ngày sau khi xong nhiệm vụ việc nước thì vội vã chạy về nhà lo nấu ăn, lo con cái, đi học đêm, chăm sóc bố mẹ chồng, nhất là mẹ chồng thân mang nhiều thứ bệnh cần phải nấu thức ăn kiêng. Nàng dâu quân nhân gốc Nha Trang mỗi ngày còn phải tắm rửa, gội đầu, chải mái tóc dài quá gối của bà cụ rồi quấn khăn vành cho bà theo người Bắc. Quả là một nàng dâu đầy hiếu thuận, rất hiếm thấy…

*

Trước ngày đi Nam Cali, tôi nhắn địa chỉ nhà Phan Lang cho đứa cháu dưới đó để nó ghé lại lấy vài món đồ, thì con bé kêu lên, “Chỗ đó là khu nhà giàu, đẹp và sang lắm,” và bây giờ, khi chị Lê Diễm dừng xe loay hoay bấm số code để cổng mở cho xe chạy vào tôi mới thấy nó nói đúng. Đây là một khu gia cư “kín cổng cao tường” đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Khu nhà cao cấp này được chăm sóc rất chu đáo. Trước cửa nhà nào hoa cỏ cũng xinh tươi rực rỡ, đường đi ngang dọc bóng loáng không chút bụi, nhìn thật đã mắt. Phong cảnh trang nhã thanh lịch xung quanh đã làm dịu bớt đi cơn nắng nóng hực lửa đang chào đón khách đến từ Vùng Đông Vịnh mát mẻ.

Đó mới chỉ là toàn cảnh bên ngoài. Vào bên trong, ngôi nhà còn đặc sắc hơn với cách sắp xếp và trang trí nội thất độc đáo của Phan Lang và chàng ông xã. Quả đúng là người về từ Hawaii.  Sự trang trí thật mát mắt với phong cảnh miền biển, rải rác khắp nơi là những con cá, mực, vỏ sò, hoa lá, rong rêu… nhìn thật tuyệt. Mọi người ríu rít thi nhau trầm trồ, khen ngợi sự sắp xếp và trang trí trong nhà.

Chàng xã Barry của Phan Lang nghe vậy cười vui vẻ:

“Tất cả là do cô ấy làm hết!”

Tôi nheo mắt ghẹo:

“Tại sao lại là ‘một mình cô ấy’ làm chứ?”

Barry cười lớn hơn, nói đùa một cách duyên dáng, kiêm thêm chút… hãnh diện:

“Bởi vì cô ấy là Trung Tá của Quân Lực Hoa Kỳ!”

Tối hôm đó, vợ chồng một người bạn văn khác, là Chúc Anh và Jeffrey Miller, từ Los Angeles (LA) lên chơi cùng ăn tối với chúng tôi. Chúc Anh và Jeffrey Miller rất nhiệt tình với bạn bè, lái xe mất mấy tiếng đồng hồ vào ban đêm rồi sau mãn tiệc thì chạy về LA lại làm mọi người cảm động. Khỏi phải nói, bữa tối đầy bàn với sơn hảo hải vị thật hấp dẫn. Phan Lang còn chu đáo kèm theo nhiều món chay ngon cho những người không ăn thịt cá như tôi.

Lúc ngồi nhìn Phan Lang, tôi lại nghĩ về câu chuyện tình dễ thương và cảm động của cặp Diên & Lang thời trẻ.  Duyên nợ kiếp nào mà chàng sĩ quan Hải Quân của thành phố biển Nha Trang gặp cô bé nữ sinh 13 tuổi đã bị tiếng sét ái tình giáng trúng.  Nàng còn quá nhỏ, nên “chàng Bắc Kỳ” mãi âm thầm dõi theo hình bóng của bé, chờ đến khi cô tốt nghiệp và đậu Tú Tài mới xin rước nàng về dinh.  Một lần, sau khi được bạn cho xem hình ảnh quá khứ của hai người, tôi có làm tặng cho Phan Lang bài thơ trên đầu bài.

Câu chuyện cựu Thiếu Tá Hải Quân VNCH Phạm Văn Diên lao mình xuống biển cứu 4 đứa trẻ, trong nhóm 13 đứa bị sóng lôi đi trong ngày lễ Độc Lập năm 1985, rồi hy sinh tánh mạng, và được tiểu bang South Carolina tặng bằng vinh danh anh hùng, cũng đã mấy chục năm rồi, nhưng đối với Phan Lang, mỗi lần có ai nhắc lại, cảm giác của nàng giống như sự việc mới xảy ra hôm qua.  Tôi để ý quan sát và thấy tình yêu mà bạn tôi dành cho người chồng quá cố thật đậm sâu, có thể gọi là một mối tình bất diệt.  Tuy nhiên, chuyện tình đau thương ấy cũng đã tặng lại, bù đắp lại cho Phan Lang một mảnh hồn thơ rất dạt dào, dù đầy u uẩn, đủ để nàng trở thành một thi sĩ. Và đó cũng là nhân tố khiến những bài thơ của Phạm Phan Lang được nhiều nhạc sĩ tài danh để mắt đến. Có hơn 125 bài thơ tình đau khổ nhưng mượt mà của Phan Lang đã được phổ nhạc, và một trong số bài thơ mà tôi tâm đắc nhất là bài “Mắt Nhắm Nghỉ Ngơi” được nhạc sĩ Mai Hoài Thu phổ nhạc và ca sĩ Vân Khánh trình bày. (https://www.youtube.com/watch?v=ofZdUSEmETI).

Lời thơ như ai như oán, điệu nhạc như tiếc như thương, giọng hát kiểu Quan Họ vừa réo rắc vừa thê lương làm cho người nghe xúc động đến rơi nước mắt:

“Như một vết thương

Không bao giờ lành

Tháng ngày mong đợi

Nhìn quanh tìm quanh…” (Mắt Nhắm Nghỉ Ngơi – Thơ Pham Phan Lang)

Tôi vừa thương quý vừa hâm mộ người bạn này, nên chi mỗi lần có dịp gặp nhau nghe bạn bè nhắc nhở về người quá cố là tôi quan sát kỹ từng cảm xúc trên nét mặt nhà thơ. Mỗi lần nhắc đến anh Diên, nét mặt và ánh mắt Phan Lang đều sáng hừng lên một niềm yêu thương vô bờ bến.

Tối đó tôi ngồi lặng ngắm đến sững sờ, nghe bạn kể chuyện mà chú ý đến từng chữ từng câu thoát ra từ đôi môi vẫn còn tươi hương sắc ấy. Lại lẩn thẩn nghĩ, và ích kỷ tiếc thầm, không hiểu sao một cánh hoa xinh như mộng thế này, sự nghiệp oai hùng thế này, bị gãy gánh lúc mới nửa chừng xuân thế này, lại không có một “anh hùng Việt Nam” đồng hương nào … thương hương tiếc ngọc nhào vô để thay thế vị anh hùng đã khuất mà chăm sóc cho bạn tôi, lại để nàng “rơi vào tay anh chàng mắt xanh da trắng.”  Không biết cặp tình này sống như thế nào nhỉ, bạn tôi có hạnh phúc hay không khi sống với người chồng bất đồng ngôn ngữ. Không biết anh chàng Barry “râu hùm hàm én mày ngài” (Kiều) này có tốt với vợ không đây.

Tôi đang ngồi nhìn bạn chăm chăm, trầm ngâm ngẫm nghĩ bâng quơ như thế, bỗng Phan Lang bất ngờ thốt lên:

“Khi mua ngôi nhà này, Barry và mình đã thoả thuận với nhau, là mỗi lần về đây ông ấy sẽ chỉ ở đây mười ngày rồi về lại nhà bên Hawaii, còn mình cũng nói mỗi lần về lại nhà Hawaii mình sẽ ở mười ngày thôi rồi về lại Cali đất liền. Nhưng từ lúc dọn về Cali đến nay đã gần bốn tháng rồi chưa hề nghe ông ấy nói sẽ đi.”

Tự nhiên tôi có cái cảm giác xúc động vô cớ. Hổng lẽ “ai đó” đã đọc được ý nghĩ của tôi, hiểu được những thắc mắc trong tôi, nên đã khiến cho Phan Lang bất ngờ giải đáp, để chứng tỏ là bạn tôi được yêu chìu và hạnh phúc lắm. Tôi bất chợt rùng mình. Không chừng người quá cố đã “chọn” anh chàng Barry này để gửi gắm vợ mình cũng nên.  Tự nhiên như có người “mở miệng” tôi vụt hỏi cô nàng về “phút đầu gặp nhau” của “cuộc tình sau” mà lâu nay chưa hề nghe bạn tôi một lần nhắc đến.  Thế là Phan Lang kể hết cho chúng tôi nghe. Barry rất tôn trọng “Anh lớn” Phạm Diên. Mỗi lần tới ngày kỵ giỗ anh đều phụ Phan Lang bày biện cỗ bàn tươm tất và cũng thắp hương nghiêm trang vái lạy đề huề trước bàn thờ như một người Việt thường làm.  Trước ngày kết hôn, Barry đã đưa Phan Lang đến phần mộ anh Diên và thắp hương trình bái xin phép “đàn anh.” Hèn chi anh Diên đã “chấp nhận” cho anh ta thế chỗ của mình. Tôi xúc động nghĩ thầm.

Tôi nghĩ thế cũng có nguyên do.  Tôi từng nghe P.Lang kể, anh Diên rất hiển linh, tuy anh đã mất nhưng nàng luôn có cảm giác anh lúc nào cũng ẩn hiện quanh mình để hộ trì cho vợ con. 

Câu chuyện gặp nhau của “mối tình sau” bạn kể làm tôi tin mình nghĩ đúng. Hình như anh Diên đã “chọn” một người hiền để gửi gắm nàng, chăm sóc cho nàng.  Barry thật sự là một người quá hiền lành, một nhà đầy khách bạn vợ đông đảo, mọi người đều nói tiếng Việt chen lẫn tiếng Anh để cho Barry khỏi cảm giác bị bỏ rơi, nhưng anh cả ngày chỉ im lặng mỉm cười, pha cà phê, nướng bánh mời mọi người, dọn dẹp ly tách, bưng ghế, sắp xếp lại các thứ…và bị nàng kêu réo bắt chụp hình cho mọi người hết chỗ nọ đến cảnh kia, báo hại anh chàng xách máy hình chạy theo đến…không kịp thở. Dù có hiểu những chuyện chúng tôi đang nói, Barry cũng chỉ cười cười, hoặc lắc đầu, khi nghe một câu chuyện khôi hài chứ không hề tham gia vào.

Và rồi Phan Lang kể cho chúng tôi nghe về “mối tình sau” của nàng.  Chỉ là trong dịp tình cờ không định trước, Phan Lang đi công việc cùng người bạn, bất chợt cô ấy ghé tạt qua một văn phòng môi giới và điền đơn tìm bạn bốn phương. Trong khi Phan Lang ngồi nhìn vẩn vơ đợi bạn, thì người giám đốc công ty bước lại chào, và thấy tay nàng không đeo nhẫn anh ta trổ tài dụ dỗ tham gia chương trình kết bạn. Người bạn của Phan Lang đã phải trả lệ phí môi giới $3,000, nhưng khi nghe nàng từ chối và nói không tin vào những việc như thế này sẽ đi đến đâu, thì ông

ta “nổi máu tự ái nghề nghiệp” lên và thách thức:

“Chúng tôi sẽ phục vụ miễn phí cho cô, để cô thấy là chúng tôi làm việc hiệu quả ra sao!”

Phan Lang vẫn không tin vào trò đùa này, nên chỉ cười từ chối, đứng lên định ra về thì bị cô bạn kia lôi lại giúi hồ sơ vào tay và ép, “Điền đại cho vui, trong khi tôi mất ba nghìn bạn có mất gì đâu mà sợ chứ!”  Bất đắc dĩ, cô nàng miễn cưỡng điền bâng quơ vào mẫu đơn theo kiểu đùa chơi, phá chơi, không ghi lý lịch mình là một quân nhân cấp Tá, lại còn ghi chỗ điều kiện chọn người làm bạn phải có ba điều kiện thật khó khăn như một thách thức với công ty môi giới này. Thứ nhất, người đó phải có học vị Tiến Sĩ, thứ hai, phải là một triệu phú, thứ ba, còn độc thân.

Khi ông giám đốc nhận lại hồ sơ, liếc ngang qua chỗ điều kiện, ông nhìn lại cô khách hàng bướng bỉnh bằng một ánh mắt cũng đầy thách thức như muốn nói, “Tôi biết cô muốn làm khó chúng tôi, nhưng mà không sao, hãy đợi đấy!”

Vậy mà trong cuộc “cá cược” này công ty đã tìm ra một người đúng y chang theo yêu cầu “chọc phá” của nàng. Tiến Sĩ Barry là giáo sư dạy ở Đại học Hawaii, và sau là Giám đốc kỹ thuật Lực Lượng Chống Tàu Ngầm, thuộc Hạm Đội khu vực Thái Bình Dương của Hoa Kỳ. Chúng tôi ngồi há hốc ra nghe câu chuyện và hồi hộp dõi theo từng sự kiện và diễn tiến Phan Lang kể. Vì tôi yêu cầu kể bằng tiếng Anh cho Barry cùng nghe để anh khỏi bị buồn chán, anh chàng ngồi nghe từ đầu tới cuối, thỉnh thoảng lấy hai tay che mặt lại ra vẻ “mắc cỡ” rất dễ thương, khi Phan Lang kể lại những lần bị nàng từ chối và anh buồn bã ra sao…Câu chuyện điền đơn kết bạn bốn phương đùa vui này Phan Lang lúc đó kể hết cho mấy đứa con nghe vì lúc này tụi nhỏ cũng đã lớn và có sự hiểu biết. Thấy mẹ nhiều lần từ chối không chịu đi gặp Barry, mấy nhóc cũng muốn mẹ có bạn cho bớt đau buồn nên xúi mẹ cứ đi gặp thử xem sao.

Cuối cùng Phan Lang miễn cưỡng nghe lời con tới cuộc hẹn, nhưng từ chối hết mọi sự sửa soạn quần áo hay điểm trang do con gái phụ giúp, mà chỉ phục sức đơn giản như một phụ nữ bình dân không có đặc biệt gì, mục đích làm nản lòng người sẽ gặp. Và khi gặp Barry nàng nói thẳng thừng là trái tim nàng đã chết, không thể nào yêu ai được nữa. Vậy mà Barry vẫn quyết tâm theo đuổi, chờ đợi, viết thư, gọi điện thoại…bằng mọi cách cố gắng chinh phục. Anh chàng xin được yêu nàng “vô điều kiện,” không đòi hỏi nàng phải yêu lại, cho dù cả đời không yêu anh cũng chẳng sao, chỉ cho phép anh yêu nàng là đủ. Có lẽ vì “mưa dầm thấm lâu” nên sau ba năm kỳ công theo đuổi, và các con của Phan Lang cũng thích Barry khuyên mẹ nhận lời, Phan Lang đồng ý đưa đến mộ anh Diên để anh “xin phép” được kết hôn.

Viết đến đây tôi nhớ lại, Phan Lang từng tâm sự với tôi nhiều “chuyện bên lề” xảy ra trước tai nạn của anh Diên. Người ta nói, những người sắp lìa bỏ cõi đời một cách bất ngờ thường hay có dấu hiệu báo trước, mà sau khi họ đi rồi người ở lại mới thấy. Phan Lang cho biết, anh Diên đã hai lần nói với vợ trước mặt ba đứa con, mà lần sau cùng chỉ vài ngày trước khi anh mất, là, “Nếu một ngày nào anh chết đi em hãy tìm người khác kết hôn để họ chăm sóc cho em,” và khi ấy nàng vô tư cười đùa đáp trả, “Còn em mà đi trước nếu anh cưới ai thì em sẽ về kéo cẳng!” Nhưng điềm báo rõ ràng nhất, tôi nghe Phan Lang kể mà dựng cả chân lông. Là 2 ngày trước khi tai nạn xảy ra, đột nhiên anh Diên nói những lời thật nghiêm trang, những lời anh chưa từng nói trước đây, là cám ơn vợ, cám ơn thật nhiều những gì nàng làm cho anh, lo lắng chăm sóc cho anh, và gia đình. Thương tâm hơn nữa, trong đêm trước ngày Lễ Độc Lập Hoa Kỳ, trên đường tới nhà người bạn họp mặt trước khi ra biển vào sáng sớm hôm sau, anh ngồi ghế trước với vẻ buồn bã vô cớ, không hề nói năng và đưa hai tay ra sau ghế cầm lấy tay nàng suốt trên đường đi, cho dù trên xe có đông người anh vẫn không ngại. Rồi trên đường picnic, lúc gần đến nơi, anh bỗng kêu người bạn lái xe ngừng lại ghé vô trạm xăng, dù xe còn đầy xăng không cần đổ thêm. Lạnh mình hơn nữa, anh dẫn ba đứa con vào trong tiệm 7-Eleven và kêu các con muốn món gì thì chọn ba sẽ mua tặng.  Bé út Đài 11 tuổi của anh đã chọn thanh kẹo “Life Saver” là thanh kẹo “Cứu Mạng.” Lên xe, bé chỉ mở ra ăn vài viên và đứa bạn ngồi bên xin kẹo bé nhất quyết không cho mà bỏ vào giỏ cất. Đứa con này đã được anh cứu mạng trên biển chỉ vài giờ sau đó.

Chưa hết, người mẹ có đứa con bị đuối và trôi đi khi anh Diên ra cứu 4 bé, chúng bám vào anh, đuối sức anh chìm và bé đó bị nước cuốn đi – là người lái xe theo sau một người chạy trước dẫn đường đến điểm hẹn mà cả nhóm định tới tắm biển câu cua – chưa tới điểm hẹn mà tự nhiên người mẹ đó vượt trước chiếc xe dẫn đầu, tấp vào bãi biển khác, và kêu mọi người picnic ở đó. Định mạng đã khiến xui cho bà ấy đem đứa con mình và người hùng Phạm Diên đến nơi phần số đã định.

Nơi mà họ dừng chân không dự tính lại là vùng biển nước xoáy ngầm, có tấm bảng cho biết sóng ngầm nguy hiểm nhưng tối hôm trước có gió lớn nên tấm bảng đã bị gió cuốn mất.  Trong khi các bà mẹ còn lo đem đồ trên xe xuống thì 13 đứa trẻ của 5 gia đình đã ào xuống biển đùa giỡn trong mé bờ nước cạn. Đột nhiên dòng nước xoáy dâng lên và kéo cả 13 đứa lôi tuột ra xa. Trong khi các ông bố khác bơi ra cứu đám trẻ, anh Diên cũng bơi ra nhóm 4 đứa đang kêu cứu. Anh cứu được út Đài của anh, còn ba đứa trẻ kia anh không nỡ bỏ nên cố gắng kéo luôn chúng vào. Nhưng sức người có hạn, dù người đó từng là một hạm trưởng Hải Quân bơi giỏi, anh bị bốn đứa trẻ níu nên bơi gần tới bờ thì đuối sức chìm dần và bé gái con chị kia cũng bị tuột tay trôi ra biển. Cũng còn may mắn, một bà Mỹ đi tắm sớm chạy ngang qua thấy được ra kéo bé Đài vào, khi hai người bố khác ra kéo hai bé kia. Bé Đài đã kêu khóc không chịu bỏ bố lại mà van xin bà Mỹ hãy cứu bố, nhưng bà không thể bỏ bé ra để cứu người lớn nên đưa bé vào bờ rồi mới ra kéo anh Diên vào, thì đã trễ. Anh bị chìm xuống nước hơn 10 phút nên não bộ hết hoạt động không cứu được. Tuy anh được đưa vào bệnh viện quân đội tận tình cứu chữa, anh không bao giờ tỉnh lại, và một tháng sau anh Diên lìa bỏ cõi đời.  Cú sốc nhìn thấy người cha thương yêu trong tai nạn cứu mình nằm lịm trên giường bệnh, bé Đài đau đớn khôn tả. Phan Lang kể, mỗi lần tới bệnh viện bé đều lấy giấy napkin lau mặt và nhổ tóc sâu cho bố. Bé còn nói chuyện với bố, rằng bố còn nợ con tiền nhổ tóc sâu cho bố lúc trước, giờ con cho bố chứ không đòi đâu, bố hãy thức dậy để con nhổ tóc sâu “free” cho bố, không tính tiền. Tôi nghe mà nước mắt tuôn rơi.

Về sau bé Đài lớn lên, trong một lần Phan Lang tình cờ mở hộc bàn riêng của bé thì thấy bé vẫn còn giữ thỏi kẹo “Life Saver” ăn dở dang ngày ấy, tờ giấy gói những sợi tóc sâu của bố con bé nhổ khi bố nằm bệnh viện, những mảnh khăn giấy bé lau nước mắt trong đám tang bố, và một nắm đất nơi người ta đào mộ để bố nằm yên giấc ngàn thu. Thiệt là thương đứt ruột! Đài rất cố gắng học hành, cháu đậu bằng Cử nhân Kinh Tế ở Standford, sau đó cháu nhận được học bỗng Fulbright Scholarship, làm một nghiên cứu (Research) rất xuất sắc ở nước ngoài.  Về lại Hoa Kỳ, cháu lấy bằng Thạc Sĩ Quản Trị Kinh Doanh (MBA) từ UC Berkeley. “Bé Đài” giờ là một trong những “sếp lớn” tại bộ chỉ huy Google Mountain View, là Senior Product Marketing Manager.

Anh Diên mất năm 1985, lúc ấy Phan Lang mang cấp bậc Đại Uý và đang chuẩn bị thi lấy bằng Thạc Sĩ.  Dù đau đớn nhưng nàng vẫn cố gắng để hoàn thành mục tiêu. Ngày Phan Lang được thăng Thiếu Tá, 1989, ̣9 năm sau khi vào quân đội, và đồng thời cũng được thăng chức mới, làm Trưởng Phân Khoa Dinh Dưỡng, (Director, Nutrition Care Division). Bé Đài yêu cầu được lên đọc diễn văn chúc mừng mẹ. Bài diễn văn của bé đã làm mọi người cảm động đến rơi lệ.

Năm 1996-1999, Phan Lang được thuyên chuyển sang Đức làm Trưởng Phân Khoa Dinh Dưỡng tại bệnh viện Landstuhl Regional Medical Command, đồng thời làm Cố Vấn và Giám Sát cho các phần hành dinh dưỡng của các đơn vị Lục Quân ở Châu Âu.  Trong thời gian ở đây Phan Lang được “lên lon” Trung Tá. Nhiệm sở cuối cùng của P.Lang là Tripler Army Medical Center ở Hawaii với chức vụ Trưởng Phân Khoa Dinh Dưỡng, điều hành hơn 100 nhân viên vừa sĩ quan, hạ sĩ quan, và dân sự.  Ngoài ra cũng như ở Đức, Phan Lang còn kiêm thêm nhiệm vụ Cố Vấn và Giám Sát phần hành dinh dưỡng các đơn vị Lục Quân trú đóng ở Thái Bình Dương (Nutrition Consultant, Pacific Region), như Nhật Bản và Nam Hàn.

Tôi nghe chuyện mà mắt cứ tròn lên, bụng thì kêu thầm “Nữ anh hùng! Ôi nữ anh hùng!”  Năm 2002, người nữ Việt này nhận được quyết định vinh thăng Đại Tá, và phải chuyển về phục vụ trong đất liền. Vì không muốn rời hải đảo Hawaii, nên Phan Lang đành ngậm ngùi xin giải ngũ…Tôi tiếc quá, nói nếu không giải ngũ thì bây giờ bồ đã lên Tướng rồi cũng có khi.

*

Sáng ngày thứ Bảy, chúng tôi phụ Phan Lang chuẩn bị các thứ để đãi cơm trưa cho hai vị khách đặc biệt, đó là nữ ký giả Kiều Mỹ Duyên và nhà truyền thông Như Hảo, giám đốc đài phát thanh Mẹ Việt Nam.  Khi các chị đến, tôi vui vì “có đồng minh” là chị Kiều Mỹ Duyên cũng ăn toàn rau trái như mình.

Chuyện trò vui như pháo nổ.

Trong bữa tiệc kiểu “nghìn năm một thuở” nơi hải ngoại gặp lại cố nhân này, các chị Đỗ Dung, Lê Diễm, Kiều Mỹ Duyên, Như Hảo, rộn rã chuyện trò cùng nhau, nhắc lại kỷ niệm xưa từ thời học Trưng Vương tươi trẻ đến thời kỳ mất miền Nam đi buôn gánh bán bưng… Người viết, Minh Thuý, và Phan Lang, đều thuộc lứa tuổi đàn em, lại là dân miền Trung nên chỉ biết ngồi nghe và…cười ké.

Chị Kiều Mỹ Duyên còn mang theo nhiều sách báo làm quà tặng cho mọi người.  Hình bóng thì chụp đến no máy luôn. Tiệc tàn tiễn các chị mà lòng lưu luyến bâng khuâng. Trước khi ra về, hai chị mời phái đoàn chúng tôi thăm viếng văn phòng của hai chị vào ngày kế.

Khách đi rồi, tôi lại “lôi” Phan Lang ra hỏi vài câu cho bài viết, kẻo lại quên:

“Bồ có kỷ niệm buồn vui hay cảm động nào đáng nhớ trong thời kỳ quân ngũ để chia sẻ không?”

“Một trong những chuyện vui đời quân ngũ là chuyện tập bắn ở quân trường.” Phan Lang kể. “Tại trường bắn, huấn luyện viên trao cho mỗi người sĩ quan trẻ ba gắp đạn mỗi gắp ba viên, để tập nhắm bắn vào tấm bia.  Mọi người được dạy, khi nhắm bắn phải nheo mắt trái lại để mắt phải nhắm vào lỗ châu mai, nhưng chẳng hiểu sao mình không thể nào nheo mắt trái được, nên đành nheo mắt phải. Mình nhắm bắn rõ ràng, đúng chính xác vào tấm bia, và sau khi bắn ba phát đạn đầu tiên, họ kêu nhóm tập bắn tới chỗ tấm bia để kiểm tra thành tích.  Mình bước tới coi thì không thấy một lỗ đạn nào cả, thật là… mắc cỡ (cười). Huấn luyện viên cho mọi người bắn tiếp gắp đạn thứ nhì và bắn xong lại chạy tới coi lần thứ hai. Quái lạ, mình kêu lên, vẫn không thấy một lỗ đạn nào trên tấm bia của mình!  Tức quá lần thứ ba được lệnh bắn, mình nhắm thật cẩn thận, và chú ý thật kỹ. Thật mừng thấy ba viên đạn đều trúng cả vào tấm bia. Huấn luyện viên kêu mọi người tới coi lại lần cuối.  Vẫn không thấy một lỗ đạn nào!

Trong lúc mình bàng hoàng không tin đôi mắt mình thì anh bạn Thiếu Úy bên cạnh hỏi, ‘Này, họ đưa cho mình mấy viên đạn vậy hả?’ Mình trả lời mỗi gắp là ba viên, mỗi người bắn tổng cộng 9 viên. 

Anh ta trợn mắt:

“Kỳ thật! Sao tôi cũng bắn chỉ ba gắp đạn, mà trên tấm bia của tôi lại có đến18 lỗ!”

Và những người xung quanh nhìn nhau… hoảng vía. Huấn luyện viên từ đó phải dùng mặt nạ che mắt trái của mình lại, và mỗi lần đến lượt mình bắn thì mọi người… né ra xa hết!  Từ đó mình bị mang cái biệt danh là “Thiếu Uý một mắt!”

“Ha ha ha…” Mọi người chúng tôi phá ra cười.

“Còn kỷ niệm buồn thì sao?” Tôi hỏi tiếp.

“Chuyện buồn hay stress trong quân đội thì nhiều lắm, là phận nữ lại là người nhập cư, mình phải đơn thương độc mã chiến đấu để vươn lên, chẳng phải chỉ đối với cấp trên, hay bạn đồng nghiệp, mà còn với thuộc cấp nữa.” Phan Lang nhớ lại: “Một nữ Đại Tá trưởng phân khoa dinh dưỡng tỏ vẻ xem thường vì mình là Đại Úy mới chuyển đến, lại là người nhập cư, nên phân bổ cho mình không đúng vị trí đáng lẽ mình phải có và tìm mọi cách để “đì” mình. Đến khi mình viết được 2 quyển sách bỏ túi, hướng dẫn thực đơn rất hữu ích để các bác sĩ mang theo dùng mỗi lần đi khám cho bệnh nhân, và mình được tuyên dương trước hội đồng, bà Đại Tá mới nể mặt, từ đó trở nên vô cùng thân thiện.”

“Mình hỏi câu nữa nè, bồ là nữ Trung Tá gốc Việt đầu tiên trong quân đội Hoa Kỳ, kể như là đàn chị đi. Với kinh nghiệm hơn 22 năm trong quân ngũ, bồ có những lời khuyên gì, chia sẻ gì cho giới trẻ nữ gốc Việt nếu họ muốn tham gia quân đội Hoa Kỳ? Họ nên theo ngành nào có lợi và phù hợp hơn? Học lực cỡ nào thì vào được trường sĩ quan?” Tôi sẵn dịp hỏi tới một hơi luôn.

“Học bất cứ ngành nào mình thích, vì quân đội có “job” thích hợp cho tất cả các ngành.” Phan Lang nói. “Tuy nhiên cho phái nữ thì ngành y (Pharmacy, Dentistry, Nursing, Optometry, Physical Therapy, Occupational Therapy…) có lẽ thực dụng và công việc nhẹ nhàng hơn. Ít nhất là tốt nghiệp Cử Nhân thì mới vào trường sĩ quan và từ đó có thể học tiếp để tiến lên. Đối với mình, luôn cố gắng và không được thối chí. Ngã xuống thì đứng lên và tiến tới, nếu thất bại thì nhìn lại để học hỏi, không phải để nuối tiếc. Quan trọng là, luôn lạc quan và đặt ra mục tiêu cho cuộc đời mình. Mình ngày trước đã từng đặt ra mục tiêu ngắn hạn, trung hạn, và dài hạn, rồi mình nhìn theo đó để buộc mình bước tới và thực hiện cho đúng.”

“Quả là những lời khuyên chí lý và hữu ích. Cám ơn bồ.” Tôi nói và chấm dứt “hỏi han” từ đó.

Ngày kế, trước khi về lại Bắc Cali, buổi sáng chúng tôi ra biển Huntington Beach lội nước. Đến khu vực này mọi người hơi e dè, vì nhìn xung quanh, phố xá rộn ràng bán buôn, người đi bộ tấp nập dọc hai bên đường, nhưng không thấy người nào đeo mask cả. Cô bạn Minh Thúy nói, tới nơi đây tụi mình nhìn giống như… Mán xuống đồng, vì chỉ có mình đeo khẩu trang thôi. Nhưng tôi nói mặc kệ đi, an toàn là trên hết, mình cứ đeo khẩu trang cho nó… lành.

Bước chân xuống làn nước mát lạnh, tôi thích thú lội ra xa, chọn chỗ vắng người kéo lơi chiếc khẩu trang ra rồi hít một hơi dài đầy buồng phổi. Gió mát lồng lộng, bầu trời trong veo, từng chòm mây trắng la đà vơ vẩn, biển xanh mượt dịu hiền chỉ gợn li ti chút ít sóng thừa, lao xao như vuốt ve mặt nước. Không khí thật thanh bình. Ước gì con Covid-19 đừng hoành hành giết hại thế gian, thì cuộc sống người dân khắp nơi trên trái đất đẹp biết bao, hạnh phúc biết bao!

Buổi trưa chúng tôi kéo nhau đi thăm đài phát thanh Mẹ Việt Nam của chị Như Hảo và nữ ký giả Kiều Mỹ Duyên theo lời mời của hai vị. Tại Đài Mẹ Việt Nam, mọi người tranh nhau chụp hình cùng người phụ nữ nổi danh từ thời VNCH ra đến hải ngoại trong lĩnh vực truyền thông, “có tên” nhưng… “không có tuổi” Như Hảo.  Chị thuộc hàng tiền bối của chúng tôi, nhưng trải qua mấy chục năm rồi, tôi cảm giác mình đã già đi, mà thấy chị vẫn còn xinh xắn duyên dáng như xưa không thay đổi. Chị giới thiệu cho mọi người những hình ảnh, bằng khen, posters… trên tường, là những giây phút huy hoàng, những thành tích chị đoạt được trong suốt cuộc đời làm truyền thông. Thật hãnh diện cho cộng đồng Việt nơi hải ngoại khi có được người phụ nữ tài hoa này.

Buổi chiều trên đường về chúng tôi ghé lại văn phòng địa ốc của nữ ký giả Kiều Mỹ Duyên. Tôi như choáng ngợp trước sự quy mô, đồ sộ, của cơ sở “Ana Real Estate.”  Trong thời buổi dịch Covid -19 vẫn còn lan tỏa, mà công ty địa ốc của chị Kiều Mỹ Duyên vẫn rộn ràng hoạt động như không có gì xảy ra. Nhân viên rất đông, nhiều bàn làm việc đang hoạt động nhìn tất bật rộn ràng, họ làm việc chăm chú đến độ không ai “thèm” để ý người khách phương xa như tôi bước vào. Điều này cho thấy việc làm ăn vẫn đang rất phát triển. Và tôi càng “phục sát đất” chị Kiều Mỹ Duyên, người nữ ký giả kỳ cựu tuổi cũng đã cao mà sức làm việc vẫn không hề giảm sút. Dù chị bận rộn với cơ sở địa ốc này, mà chị vẫn viết và gửi bài cho Văn Thơ Lạc Việt chúng tôi thường xuyên, nên tôi gọi chị là “cây viết lướt nhanh như gió cuốn.”  Nhìn chị miệng nói, chân bước, tay làm… rất bận rộn, nhưng chị vẫn vui vẻ chào đón chúng tôi.

Trước lúc đến đây, tôi có dự định sẽ phỏng vấn người ký giả kỳ cựu này để viết chút gì đó về chị. Nhưng khi thấy chị tất bật như thế, tôi không dám, không nỡ thì đúng hơn, làm phiền, nên đành chờ dịp khác vậy.  Tôi chào từ giã, chị tặng cho một số khẩu trang “xịn” tôi đem ra chia cho các bạn mỗi người mấy cái để mang làm kỷ niệm, và chị còn cho tôi chậu hoa cúc đại đóa đẹp mê hồn mà trên miền Bắc chúng tôi khó tìm ra loại cúc nào có hoa lớn như vậy. Cảm động làm sao, khi tôi ra xe, chị Kiều Mỹ Duyên còn chạy theo dúi cho một lô nước ngọt và nước uống để chúng tôi đem theo trên đường về.

Tóm lại, chúng tôi đã có một chuyến “xuôi Nam” đầy ắp niềm vui, sau thời gian dài hơn một năm rưỡi nằm nhà trốn dịch. Nếu viết hết chi tiết thì chắc cũng phải dài gấp mấy lần. Những kỷ niệm về chuyến đi, những bữa tiệc họp mặt bạn bè thân hữu Nam Bắc Cali đầy tiếng cười, và đặc biệt nhất, là câu chuyện tấm gương anh hùng hy sinh thân mình cứu mấy đứa trẻ của cố Thiếu Tá Hải Quân VNCH Phạm Văn Diên… cùng những bài học về sự cố gắng vượt bực để hội nhập, để sinh tồn, và vươn lên như huyền thoại của người bạn nữ, cựu Trung Tá Lục Quân Hoa Kỳ Phạm Phan Lang, chắc chắn chúng tôi sẽ không bao giờ quên…

Cám ơn bạn hiền Phạm Phan Lang. Bồ đã làm rạng danh con cháu Hai Bà Trưng Triệu.

 Phương Hoa – Miền Bắc California, tháng 7, 2021




VIPASSANA: Môn Thiền Cho Mọi Tôn Giáo – “MÙA XUÂN NỞ HOA TRONG TÔI” – Tác giả Phương Hoa. (Update thêm “Tranh Thiền Ngôn” của chủ tịch VTLV Lê Văn Hải & Cảm Nhận Và Chia Sẻ Ý Nghĩa Về Thiền Của nhà thơ Lê Tuấn)

Tranh và “Thiền Ngôn” (trên) của Chủ Tịch VTLV Lê Văn Hải

Bạn có từng than vãn, “Đời là bể khổ?”

Bạn có bao giờ đi tìm kiếm sự bình yên cho tâm hồn?

Bạn đang bị căng thẳng vì cuộc sống tất bật, vì gia đình, hay vì tình yêu?

Bạn muốn thoát khỏi khổ đau và tìm hạnh phúc thực sự cho đời mình?

Mời bạn theo dõi bài ký sự dưới đây. Tác giả nhờ có duyên may tìm được giải pháp cho sự an định thân tâm, để có thể gạt bỏ những “hỉ nộ ái ố” của đời thường, và biến mình trở thành một người hoàn toàn mới. Xin chia sẻ lại những kinh nghiệm và thành quả này như là món quà Xuân tặng quý bạn đọc trong Năm Mới Kỷ Hợi, để bạn “nhâm nhi” cùng bánh mứt trong ba ngày Tết, và biết đâu từ đó bạn có thể tìm được hướng đi mới, tìm được niềm an lạc và hạnh phúc thật sự cho đời mình.

****

“Người tràn đầy năng lượng. Đầu óc thanh thản. Tâm bừng sáng. Bước chân lâng lâng. Tinh thần vững như… bàn thạch.”

Đó là những gì bản thân tôi cảm thấy, khi đứng dậy từ thiền đường sau buổi tịnh tọa cuối cùng của khóa thiền 10 ngày Vipassana, tại trung tâm Dhamma Delaware. Nhìn quanh, các bạn thiền sinh khác cũng lục tục đứng lên, người cầm gối chêm, kẻ ôm bồ đoàn, người gấp khăn choàng, mặt mũi ai nấy đều đầy vẻ hân hoan, nhìn tươi roi rói.

Để có được cái kết quả như vừa nói, chúng tôi đã chăm chú tôi luyện suốt cả 10 ngày. Nói thật quý vị nghe, với cái lưng bao năm bị “xi cà que”, trước kia tôi ngồi chừng hơn nửa tiếng đồng hồ đã là khó chịu. Vậy mà suốt khóa học, tôi vào thiền đường ngồi cả chục giờ mỗi ngày, dù chỉ bắt buộc có ba giờ ngồi thiền chung cả lớp, và một giờ pháp thoại vào buổi tối. Những giờ khác ai muốn ngồi trong thiền đường hay tịnh tọa tại phòng mình cũng không sao. Tuy nhiên, thiền đường lúc nào cũng kín chỗ vì ít người muốn ngồi một mình.

Về phòng cất dụng cụ xong tôi đi qua nhà ăn. Trong suốt khóa tu, chúng tôi được dạy mọi vật đều vô thường, sinh diệt, sinh diệt… Cho nên, có niềm vui không bám víu, có nỗi buồn không chán ghét để làm khổ tâm mình, vì tất cả sinh ra rồi cũng sẽ diệt đi. Vậy mà lúc này đây trong tôi vẫn dâng lên đầy ắp niềm vui không thể kềm nén. Thôi thì tôi tự cho tôi… phá giới một lúc, khi về nhà sẽ tiếp tục thực hiện theo lời thầy. Hôm nay là ngày kết thúc “Sự Im Lặng Thánh Thiện”. Tôi sắp được mở miệng nói chuyện cùng các bạn thiền sinh, và nhất là tìm xem ông xã tôi có khỏe hay không. Mấy bữa trời mưa, trong thiền đường có tiếng nhiều người ho và sịt mũi bên phía thiền sinh nam, mà lọ thuốc Tylenol chuẩn bị sẵn lại nằm trong hành lý của tôi, nên dù cố gắng tập trung, mỗi lần nghe tiếng ho ai đó có âm vang giông giống ông ấy thì tôi lại bị phân tâm hết một chốc. Nhưng tôi không biết làm cách nào đưa lọ thuốc cho “chàng” phòng khi cần đến. Mười ngày qua, mọi người “im hơi lặng tiếng”, nam nữ cách biệt, tịnh thân, tịnh khẩu, tịnh ý, thiền sinh được yêu cầu không tiếp xúc hay nói chuyện với bất cứ ai, kể cả ra dấu, nhìn, nhắn tin, hoặc ghi chép, dù chồng vợ hay người nhà hay bạn thiền cùng phòng. Tất cả thiết bị điện tử, cell phone, máy tính, iPad, bút mực, sách vở đều phải giao nộp cho trung tâm cất giữ, để thiền sinh không bị phân tâm trong suốt thời gian hành thiền.

Cho đến giờ, tôi vẫn như chưa tin được cái nhân duyên đã đưa chúng tôi đến với pháp môn Vipassana quý báu này. Số là mấy năm gần đây sức khỏe nhà tôi không ổn. Cái chứng Vertigo đã làm cho ông khốn đốn, lâu lâu đầu óc quay mòng mòng rồi ngã cái đùng bất tỉnh nhân sự khiến tôi bao phen mất vía. Bác sĩ Kaiser nói đó là chứng bệnh già, khi nó đến với ta thì phải “sống chung hòa bình” suốt đời với nó, vì không có thuốc gì chữa khỏi chứng bệnh này. Cho nên ông ấy bắt đầu nghiên cứu về thiền định để giúp tịnh tâm, an ổn thần kinh, và giữ gìn thân tâm an lạc. Tôi “nối gót theo chàng” cùng nhau tìm hiểu, vì tôi cũng muốn học thiền để giữ gìn sức khỏe, cho đầu óc minh mẫn và tinh thần nhẹ bớt những sầu muộn lo âu. Chúng tôi đã nghe rất nhiều về thiền Vipassana. Nhưng càng tìm hiểu lại càng như bị “tẩu hỏa nhập ma” vì có quá nhiều nơi nhiều chỗ dạy thiền Vipassana nên chẳng biết làm sao mà chọn.

May mắn đến, tôi tìm ra trang web của trung tâm Vipassana Meditation. Pháp môn này do thiền sư S. N. Goenka giảng dạy. Người là đệ tử truyền thừa của đại thiền sư Sayagyi U Ba Khin người Miến Điện. Theo lịch sử từ trung tâm, Vipassana là môn thiền cổ xưa nhất ở Ấn độ mà Đức Gotama (Phật Thích Ca) tìm thấy lại từ hơn 2500 năm về trước và gom góp những tinh túy mà ngài đã thực hành giảng dạy cho chúng sinh trong 45 năm. Thời kỳ Đức Phật còn tại thế, thiền Vipassana đã cứu rỗi biết bao người đủ mọi thành phần xã hội Ấn Độ thoát khỏi khổ đau.

Điều gây ấn tượng tốt cho ông xã tôi chọn môn thiền này, là Vipassana của thiền sư Goenka không bắt buộc thiền sinh phải lệ thuộc vào một tôn giáo hay tông phái nào. Trong gần năm chục năm, thiền sư Goenka đã truyền bá Vipassana ra gần cả trăm quốc gia trên thế giới, Trung Hoa, Nga, Hoa Kỳ, Cuba, Tây Bá Lợi Á, Úc Châu, Việt Nam, Thụy Sĩ, và hàng chục trung tâm ở Bắc Mỹ. Ngài đã được mời phát biểu tại những diễn đàn nổi tiếng, như Hội Nghị Thượng Đỉnh Thiên Niên Kỷ Thế Giới tại Liên Hiệp Quốc, Hội Nghị Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Switzerland…Và mặc dù thiền sư viên tịch cách đây 5 năm, hiện Hoa Kỳ và các nước thiền Vipassana vẫn phát triển mạnh với nhiều trung tâm đang được dự tính xây thêm vì số người chờ ngày càng đông. Còn nữa, trọn khóa học thiền sinh phải trường trai (ăn chay suốt những ngày ở đây – ngày thường ở nhà tùy ý), tuân theo năm giới cấm: không sát sanh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ, và chất gây say nghiện, là những giới cấm giữ gìn đạo đức. Đặc biệt với pháp môn này, thiền sư Goenka chỉ giảng dạy duy nhất một điều, là giúp thiền sinh tự mình thanh lọc thân tâm để thoát khỏi khổ đau, để được hạnh phúc mãi mãi. Chắc chắn đây phải là một phương pháp thiền rất tốt. Nhà tôi nói.

Phần tôi thì sở thích có hơi…ngộ nghĩnh. Điều thú vị nhất, hấp dẫn tôi nhất, lại là cái ý tưởng độc đáo “Sự Im Lặng Thánh Thiện” trong suốt khóa thiền. Chưa chi tôi đã cảm thấy hồi hộp. Chẳng biết cảm giác mình sẽ như thế nào khi 10 ngày không mở miệng nói chuyện, không điện thoại, vi tính, hay ghi chép, là những việc tôi làm hằng ngày. Sở thích viết lách đã khiến tôi từ bé vốn rất e thẹn và sợ đám đông, khi lớn lên trở nên một người dạn dĩ lúc nói trước công chúng, và luôn trò chuyện xã giao với người chung quanh để tìm đề tài cho các bài viết của mình. Giờ đây phải “án binh” khép miệng đến những 10 ngày. Tôi có làm được không đây?

Điều nổi trội nữa làm chúng tôi thích, là số người đến với Vipassana gồm đủ các tôn giáo, nhiều vị tăng, ni cô, linh mục, ma-sơ, cư sĩ, đã thực tập Vipassana thành công. Có một câu trong bài giảng tại Thụy Sĩ năm 1980 của thiền sư S. N. Goenka tìm thấy trên internet làm chúng tôi xúc động, “Bệnh là bệnh chung, do đó thuốc chữa phải là thuốc chữa chung. Ví dụ, khi chúng ta nóng giận, sự nóng giận này không phải là sự nóng giận của người theo Thiên Chúa Giáo hoặc Hồi Giáo, sự nóng giận của người Trung Hoa hoặc người Mỹ. Tương tự, sự thương yêu và lòng từ bi không dành riêng cho bất cứ một sắc dân hoặc một nhóm người nào.”

Nhà tôi quyết định xong, tôi vô trang web ghi danh. Các trung tâm thiền dạy bởi ngài Goenka ở Hoa Kỳ hằng tháng đều mở mấy khóa Anh Ngữ 10 ngày cho người lớn, trẻ em, và sinh viên học sinh, có cả Vipassana tại những trung tâm cải huấn cho các tù nhân nữa. Về tiếng Việt thì hiện tại có 6 trung tâm Vipassana, mỗi năm mở ít nhất một khóa thiền song ngữ Anh Việt ở Toronto, Canada, Delaware, Georgia, Texas, Bắc và Nam California. Delaware và Toronto cũng có các khóa học với thông dịch viên tiếng Việt. Chúng tôi tiếc hùi hụi, vì người ta đã biết pháp môn này từ mấy chục năm nay, mà mình đến giờ mới biết. Cả Hoa Kỳ khi ấy chỉ có trung tâm Dhamma Delaware là còn chỗ trống cho khóa Anh Việt. Gì chứ học thiền thì phải nghe bằng chính ngôn ngữ của mình mới thấu hiểu hết những tinh túy của pháp môn. Ghi danh xong tôi book vé máy bay rồi hồi hộp chờ ngày lên đường.

Trung tâm Vipassana còn chu đáo lo cả việc giúp đưa đón thiền sinh. Ai ở xa đi máy bay, tàu lửa, Greyhound, sẽ được những thiện nguyện viên đến đón ở phi trường và các trạm. Những người ở lân cận có thể được sắp xếp đi chung xe. Tôi vô mục “đi chung xe” và nhờ đón chúng tôi ở phi trường. Vì ở xa, tôi xin đến sớm một ngày cho khỏi bị trễ giờ khai giảng khoá học vào 5g chiều hôm sau và được trung tâm đồng ý.

Khi người phục vụ đến phi trường Philadelphia đón vợ chồng tôi, trên xe đã có sẵn hai vị sư cô, một đến từ California, và một từ Washington. Anh thiện nguyện viên rất nhiệt tình và thân thiện, đã giới thiệu và giải thích cho chúng tôi những danh lam thắng cảnh, các di tích lịch sử của Philadelphia và Delaware cùng những nơi thuộc về lịch sử Độc Lập của Hoa Kỳ mỗi khi xe chạy ngang qua. Thật là được một dịp cho chúng tôi “mở mắt”.

Xe dừng trước cổng thiền viện. Tấm bảng nhỏ ghi “Dhamma Delaware Center” được dựng khiêm nhường bên cạnh khóm hoa vạn thọ, nhưng nhìn vào bên trong thì sâu hun hút, ngút ngàn với nhiều cây xanh cao tốt giống như một khu rừng thiên nhiên. Mọi người xuống xe. Tôi hít thở một hơi thật sâu để rũ bớt bụi đường. Người tài xế bước lại mở cổng. Đột nhiên tôi cảm giác như có một nguồn năng lượng đặc biệt rung động từ bên trong tỏa nhẹ ra làm cho tâm trạng thật là dễ chịu, thật ấm áp. Và tôi quên hết bao mệt nhọc của chuyến bay dài.

Không chỉ mình tôi, sư cô QD cũng có vẻ xúc động khi bước vào cổng nhìn thấy quang cảnh thoáng mát, trang nghiêm, và yên tĩnh của trung tâm thiền.

– Chỉ bước đến đây, đã cảm thấy bầu không khí đầy vẻ thiêng liêng rồi! Cô buột miệng.

Chúng tôi được chiêu đãi một bữa tối thịnh soạn với món phở chay độc đáo. Ăn xong chúng tôi đi nhận phòng ở tạm một đêm rồi mai mới chính thức được sắp xếp. Sự yên tĩnh và khung cảnh trang nghiêm có chút hoang dã núi rừng với tiếng côn trùng rỉ rả xen lẫn tiếng gió vi vu từ rừng cây xung quanh đã giúp tôi có một giấc ngủ thật đầy, thật ngon không mộng mị, dù thường ngày tôi hơi khó ngủ và giờ giấc giữa Cali, miền Đông khác nhau đến 3 giờ.

Tôi thức giấc giữa tiếng ríu rít của chim chóc bên ngoài cửa sổ. Nằm sấp người lại một cách lười biếng, tôi vẹt rèm nhìn ra. Nắng đã lên, rừng cây xanh lay động dịu dàng vì những cơn gió nhẹ thổi qua mơn man cành lá. Trên thảm cỏ xanh tươi xen lẫn vài cây rau mã đề hoang dại, vài chú sóc xinh xắn vểnh cong cái đuôi như một vòng cung bông lau chúi mũi xuống đất dùng hai chân trước miệt mài đào bới. Khi vớ được chiếc nấm dại hay thứ gì đó, sóc ta ôm chặt lấy rồi đứng dựng lên cho vào mồm gặm lia gặm lịa. Trông thật là dễ thương, nhàn nhã và an bình. Đây quả đúng là chốn để tịnh tâm.

Vì đến sớm, ba người chúng tôi rảnh nguyên một ngày. Vì chưa khai giảng, chưa vô khuôn khổ, chúng tôi rủ nhau đi bộ ra cổng, vòng quanh khu vực trung tâm, trước thể dục sau “thăm dân cho biết sự tình”. Buổi sớm mai không khí thật mát mẻ trong lành. Ba người vừa chậm rãi đếm bước vừa hít thở theo kiểu thiền hành. Từng dạy học cho đám nhóc tì Mỹ và dạy thể dục cho những vị cao niên ở trung tâm dưỡng lão, nên tôi có thói quen thường bước đi lắc lư theo kiểu thể dục nhịp điệu mỗi lần đi bộ thư giãn. Bây giờ đang đi cùng hai sư cô nên dù có “ngứa ngáy tay chân” muốn đánh nhịp hay bước nhanh tôi cũng phải kiềm nén lại, vì không dám tỏ ra mình… vô phép.

Nhưng có lẽ do sự từ tốn khoan thai của chúng tôi chẳng “dọa” được lũ côn trùng, nên đã xảy ra một chuyện tệ hại vô cùng. Đang đi, sư cô QD bỗng dưng la “oái” một tiếng rồi cúi xuống ôm lấy cổ chân, mặt cô tái lại với vẻ đau đớn tột cùng. Một vết đỏ nổi lên, máu tươi tươm ra từ vết cắn. Tôi thấy sư cô dù đau đến nhăn cả mặt mày cũng không hề oán thán, mà chỉ tỏ vẻ chấp nhận.

– Vậy là phải trả “cái món nợ” nào ở chốn này đây! Sư cô ôn tồn nói.

Từ chuyện cỏn con này mà tôi cảm nhận được từ tâm của bậc tu hành. Nếu là tôi, đau đến cỡ đó chắc tôi phải rủa thầm cái con bọ chết tiệt nào nỡ đang tâm chào đón tôi buổi sáng bằng một phát độc ác như thế. Tưởng là chuyện nhỏ, nhưng vết cắn đã sưng lên lan đỏ khắp cổ chân và đau đớn khiến sư cô phải đi cà nhắc hết một hồi.

Buổi chiều, các thiền sinh lần lượt đến. Trung tâm như sôi động, rộn ràng hẳn lên. Mọi người làm việc tất bật, nhưng nét mặt ai nấy đều hiện rõ nét thân thiện vui tươi. Thấy một bà cụ kéo cái vali bự bước vào, tôi đến chào. Trông cụ mệt mỏi, nhưng tinh thần lại rất vững vàng, nhìn uy nghi và đầy thần lực. Cụ ở xa, đi từ sáng sớm vì phải chuyển đổi bốn năm trạm xe, tàu điện, xe buýt, greyhound và còn đi bộ nhiều đoạn. Tôi tròn mắt thán phục khi biết đây là lần thứ năm cụ tham dự khóa 10 ngày của thầy Goenka. Cụ nói trước kia cụ rất khó tính, từng bị mổ đầu gối lắp vào thanh sắt, đau đớn khó chịu nên thường căng thẳng. Và thiền Vipassana giúp cụ tĩnh tâm, cảm thấy an lạc nên cụ liên tục tham gia. Khi vào khóa học, dù có những giờ được phép thiền tọa tại phòng khỏi vô thiền đường, vậy mà cụ vẫn luôn có mặt, chăm chú ngồi yên trên ghế. Cụ là người làm cho tôi phải nhìn vào mỗi lần có ý định bỏ cuộc.

Thủ tục ghi danh khá đơn giản. Khóa thiền cung cấp hoàn toàn miễn phí, từ nơi ăn chốn ở, đến tọa cụ bồ đoàn, cả ghế và nệm tựa lưng cho những người bị đau lưng, đau chân không thể ngồi xếp bằng. Các thiền sư phụ tá, ban điều hành và người phục vụ đều làm việc vô vụ lợi. Thiền sinh mới vô không phải đóng bất cứ món tiền nào. Sau khóa học, nếu cảm thấy hưởng được lợi lạc thì tự nguyện hiến tặng để cho người kế tiếp cùng được hưởng như mình, còn nếu không có khả năng đóng góp cũng chẳng sao.

Bắt đầu là một cuộc tiền hội nghị để ban quản trị dặn dò điều lệ và giới thiệu hai vị thiền sư phụ tá với mọi người. Thầy TĐ và cô LĐ là vợ chồng, họ đến từ Nam California, sẽ phụ tá hướng dẫn cho khóa thiền Anh Việt này. Đến tối mọi người mới được đặt chân vô thiền đường nhận vị trí có tên mình và bắt đầu khóa tu. “Noble Silence” cũng có hiệu lực từ giây phút này.

Ngày thứ nhất, ba tiếng chuông báo thức vang lên lúc 4 giờ sáng. Mọi người trờ dậy làm vệ sinh cá nhân xong là đúng 4 giờ 30, chuông báo hiệu tập trung vào thiền đường. Hai vị thiền sư phụ tá ngồi bên trên, cùng mọi người lặng im theo dõi và làm theo băng đĩa hướng dẫn của cố thiền sư Goenka. Lúc sanh tiền, thiền sư đã sắp xếp cách dạy này cho tất cả mọi trung tâm thiền trên thế giới để được thống nhất. Các thiền sư phụ tá có mặt ở đó, khi nào cần giải đáp thắc mắc cho thiền sinh về những khó khăn khi ngồi thiền, về những cảm giác mới khám phá và về kỹ thuật ngồi tịnh tọa. Tuyệt đối họ không hề giảng dạy hay thêm bớt một lời nào ngoài những bài giảng của ngài Goenka. Ngày đầu tiên cho đến ngày thứ ba, mọi người tập thở, hay là “thiền Anappana”. Chú tâm quan sát hơi thở vào ra nơi hai lỗ mũi, thở và nhận biết hơi thở đang vào ra. Đây là cách tập trung tư tưởng giúp thiền sinh phát triển khả năng chú ý.

Về tư thế ngồi, thiền sinh không cần phải ngồi theo một kiểu nào nhất định, kiểu nào cũng được, miễn cảm thấy dễ chịu, bán già, kiết già, kiểu Miến Điện chân trước chân sau, quỳ gối kiểu Nhật, hoặc ngồi trên ghế. Điều này quá là dễ dàng cho mọi người. Nhưng vì cái lưng tôi đau nên thử kiểu nào tôi cũng bị hành hạ. Cuối cùng tôi giữ kiểu kiết già mà tôi đã tập qua khi ở nhà, vì nó vững vàng hơn, giúp cái lưng tôi cân bằng hơn. Dù sau mỗi giờ thiền đều có nghỉ giải lao, chân và đùi tôi vẫn đau điếng, đôi khi tê cứng phải đổi chân liên tục. Tôi tưởng mình là “đệ nhất nhúc nhích” trong thiền đường, nhưng không, dù mắt nhắm tôi vẫn nghe rõ mồn một những tiếng sột soạt xung quanh. Đến tối, ngài Goenka có một giờ pháp thoại tuyệt vời giảng giải tỉ mỉ về ý nghĩa và lợi ích của việc quan sát hơi thở. Vì hơi thở liên hệ mật thiết với trạng thái tâm của ta, cho nên bất cứ lúc nào phiền não khởi sinh trong tâm thì hơi thở ta sẽ đổi khác, nhanh hơn và nặng nề hơn. Rồi khi sự phiền não qua đi, hơi thở sẽ ổn định trở lại. Vì vậy quan sát hơi thở ta “có thể khám phá thực tại không chỉ ở thân thể mà còn ở tâm thức nữa và làm cho nó trở nên thanh tịnh”. Nghe rất hay, nhưng sao tôi vẫn chưa thông suốt được.

Ngày thứ hai cũng còn quan sát hơi thở, nhưng chú ý của chúng tôi được hướng vào việc cảm nhận sự vào ra và nhiệt độ của hơi thở, hơi lạnh khi nó đi vào, hơi ấm khi nó đi ra. Vì sự nhức mỏi “lấn sân” cho nên dù cố gắng hết cỡ, phải “năm thì mười họa” tôi mới cảm nhận được chút xíu âm ấm ngay cửa mũi khi hơi thở đi ra.

Ngày thứ ba là tìm kiếm và tập trung vào bất kỳ cảm giác nào, như rung động, nóng, lạnh, có thể cảm nhận ở vùng tam giác bên dưới lỗ mũi, để chuẩn bị cho ngày thứ tư là bắt đầu áp dụng thiền Vipassana, là phép quan sát toàn thân. Tôi ngồi quan sát hơi thở vào ra mà lòng băn khoăn vì không tìm thấy một chút “cảm giác” gì như lời thầy nói. Đau mỏi bức rức, tôi cứ ngọ ngoạy như con giun. Khi nào ngồi yên được một chút thì cái tâm tôi nó lại đi lang thang, chạy hết chỗ này sang chỗ khác, những chuyện quá khứ từ đời nảo đời nao ào ạt hiện về. Quá căng thẳng, tôi bị no hơi ngang. Bụng căng tròn như quả bóng, cổ tôi rướn lên ngáp ngáp giống kẻ sắp lên đồng dù cố kiềm nén. Tôi bắt đầu tính đến chuyện rủ ông xã bỏ về. Lại nghĩ, chẳng lẽ từ Cali bay qua đến nửa vòng… nước Mỹ mà giờ đành phải bỏ cuộc hay sao.

Sau khi ăn trưa, tôi cùng vài người ra khoảng sân trống thật rộng từ thiền đường đến nhà ăn, khu vực dành cho nữ giới thiền hành giải lao. Đang từ từ đếm bước, dù bị cấm nói chuyện và đừng nhìn ngó đến ai, mắt tôi vẫn vô tình lướt qua phía nhà ăn. Một cô tình nguyện viên người Mỹ từ bếp bước ra. Ngực đeo tạp dề, tóc búi cao, tay cô cầm tấm thảm nhỏ loại chùi chân đập mạnh vào thành rào rồi gác lên phơi. Xong cô chụp lấy cây chổi và quét lia lịa. Mắt tôi lại lang thang qua building số 1. Xuyên qua cửa kính tôi thấy cô thiền sinh cũ người Việt đang lau sàn nhà. Bỗng đâu ba tiếng chuông vang lên báo hiệu giờ thiền kế tiếp. Mọi người đang đi bộ đồng loạt dừng lại quay vào.

Tôi chợt xúc động, trái tim như mềm đi khi nhìn thấy cô gái Mỹ lúc nãy từ nhà bếp cũng khăn áo đề huề tất tả bước thoăn thoắt qua thiền đường cùng chúng tôi, kể cả cô phục vụ vừa mới lau sàn nhà bên building #1 cũng vội bước vào. Tôi xúc động vì tôi đã nhận ra “Tâm Từ” của những thiền sinh cũ này. Họ cũng đến dự khóa thiền như chúng tôi, còn bỏ công sức ra để phục vụ thiện nguyện. Nhờ những tấm lòng như họ mà cả trung tâm, từ thiền đường, đến phòng ốc, thậm chí nhà vệ sinh, nhà bếp trong ngoài đâu đâu cũng đều sạch bóng. Nhờ những tấm lòng ấy, mà các thiền sinh mới như tôi có được những chỗ ngủ tốt, những bữa ăn ngon, và an tâm chuyên chú hành thiền. Sau bữa ăn trước khi tiếp tục đi tọa thiền, họ lại bận tíu tít, dọn dẹp lau chùi để những

 thiền sinh mới chúng tôi có thì giờ nhẩn nha, tà tà đi bộ.

Dù đã “phạm lỗi” nhìn ngó lung tung làm cho tâm mình dao động, tôi chấp nhận, vì tôi đã biết mình phải làm gì. Tôi tự hứa với lòng sẽ cố gắng ngồi thiền chăm chỉ hơn, chú tâm hơn, vì sự thành công của tôi sẽ đáp lại tấm thịnh tình và tâm từ của những thiền sinh cũ này.

Sáng ngày thứ tư một chị bạn cùng phòng bỏ chạy vì lý do sức khỏe, nhưng tôi đã có quyết tâm nên nhất định phải theo tới cùng. Buổi chiều hôm nay rất quan trọng, thiền Vipassana, hay là phép quan sát toàn thân bắt đầu. Chúng tôi được dạy quan sát từ đầu tới chân rồi từ chân lên tới đỉnh đầu. “Quan sát sự việc như nó là” và giữ sự bình tâm không phản ứng, thiền sư dạy thế. Kỹ thuật này thật khó giải thích, phải vào thực hành mới cảm nhận được hết cái tinh túy của pháp môn. Ngày đầu tiên tôi rất khó tập trung, vì sự đau đã lấn át tịnh tâm. Nhưng tối đó bài pháp thoại của thiền sư đã cho tôi sức mạnh. Phải cố gắng ghi nhận bất kỳ cảm giác nào có được, dù thô hay tế, dễ chịu hay khó chịu, và nhìn chúng với sự bình tâm, với sự hiểu biết rằng tất cả chúng đều vô thường, sinh rồi diệt. Từ đó về sau, ngày này qua ngày khác tôi chăm chú thực hành theo lời thầy và dần dần lấy được sự tĩnh tâm khi quán sát khắp châu thân. Tuyệt vời thay, khi tôi cố gắng giữ được tâm bình thản, chấp nhận chứ không thèm bực mình hay tỏ ý khó chịu với các cảm giác nhức nhối, các cơn đau cuối cùng rồi cũng tan đi. Quả đúng là chúng tự sinh tự diệt! Đến ngày thứ tám, thì điều kỳ diệu đã xảy ra. Tôi vượt qua thông suốt một giờ thiền, ngồi kiểu kiết già không hề đổi chân hay nhúc nhích. Đó là điều “không tưởng” cho cái lưng của tôi trước khi tôi đến với Vipassana.

Và tôi đã làm được cho tới ngày cuối khóa! Như có phép mầu, chỉ sau 10 ngày tĩnh tâm thiền tọa kiết già các cơn đau lưng của tôi biến mất không còn chút tăm hơi. Tôi thấy rõ hiệu quả của phép quán sát toàn thân Vipassana. Nhờ nghe lời giảng kết hợp thực tập chăm chú, tôi đã lãnh hội những lời dạy của thiền sư về kỹ thuật này. Theo ngài, pháp môn Vipassana thuộc về tâm lý học cơ bản – tâm ảnh hưởng đến thân và thân ảnh hưởng đến tâm – cho nên kỹ thuật quan sát toàn thân rất có hiệu quả và cuối cùng sự an lạc sẽ xuất hiện. Nhận biết rõ điều này thì bất cứ cảm giác nào, thí dụ quá vui khi thành công, được nổi tiếng, hay phát tài, hoặc quá thất vọng vì mất mát, vì không đạt được ước mơ, thì tâm ta cũng sẽ không bị dao động vì ta đã biết về tính sinh diệt vô thường của chúng. Như vậy là tìm thấy an lạc.

Bên cạnh sự giảng dạy rõ ràng tỉ mỉ của thiền sư Goenka, mỗi cuối buổi tọa thiền, thầy cô thiền sư phụ tá gọi một số thiền sinh lên phỏng vấn, hỏi han về những gì chúng tôi cảm nhận được, và chỉ vẽ thêm làm sao cho đúng, sau đó cùng ngồi thiền chung dăm phút với thầy cô. Điều này giúp ích rất nhiều, chúng tôi tự tin hơn và thực hành hiệu quả hơn.

Ngày cuối ngài Goenka dạy chúng tôi phải duy trì sự tỉnh giác tự nhiên của tâm thức để xem những tham ái, sân hận, vô minh và dao động có mặt hiện tại trên thân ta hay không. Thầy nói những phiền não ngủ ngầm sâu kín, bị chôn lấp trong vô thức lâu nay bây giờ bắt đầu xuất hiện lên bề mặt tâm thức. Đó là sự phát triển tốt, vì nếu những phiền não đó không hiện ra trên bề mặt, thì không thể nào diệt được. “Khi chúng nó khởi lên, ta quán sát chúng một cách bình thản, và chúng nó sẽ tuần tự tiêu đi theo thứ lớp. Đó là ta đã đạt được tới sự giải thoát.” Trong giờ thiền sau cùng, thầy dặn dò nhiều điều hữu ích, khuyến khích chúng tôi tiếp tục hành thiền khi về nhà. Những lời kinh tiếng Pali thiền Tâm Từ “Metta” là tâm thương yêu, tha thứ, và chia sẻ tình thương với tất cả chúng sinh, được thầy đọc lên, và lời chúc lành cầu mong cho mọi chúng sinh được bình an, rồi những câu chúc phúc cho mọi người, “Hãy hạnh phúc! Hãy hạnh phúc!” của thầy như mãi vọng theo khi chúng tôi bước ra khỏi thiền đường…

Qua đến nhà ăn thì gặp ông xã tôi đứng bên ngoài. Đó là lần đầu tiên sau 10 ngày “cấm cửa” chúng tôi mới thấy mặt nhau. Nhà tôi giới thiệu tôi với người bạn Mỹ cùng phòng đang đứng bên cạnh. Ông ấy chào tôi rất thân thiện nên tôi “tiện tay” hỏi chuyện ông vài câu. Đây là khóa thiền Vipassana đầu tiên mà ông đến học nhưng rất thích. Là người có đạo Tin Lành, là giáo sư đại học, ông từng dạy English và Music và còn là thầy dạy Yoga nữa. Khi được hỏi điều gì từ khóa thiền này làm ông thích thú nhất, ông giáo sư sôi nổi nói:

– Everything! Tất cả! Nhưng tôi thích sự thông thái của thiền sư Goenka, và đặc biệt cái pháp quan sát toàn thân ông dạy cũng quá tuyệt vời! Thật là thú vị khi ngồi quan sát chính bản thân mình, nhìn từng cảm giác đến rồi đi, những điều vô thường sinh diệt này trước đây tôi chưa bao giờ nghe biết đến. Quá hay!

– Vậy thì ông sẽ giới thiệu thiền Vipassana với những người khác chứ? Tôi hỏi vui.

– “Absolutely!” Tất nhiên rồi! Ông nói với nụ cười rạng rỡ.

Tôi cũng nói chuyện với hai người đứng cạnh giáo sư. Một người theo “Maronite Antiochian” là đạo Công Giáo Liban, một trong những Giáo hội Công giáo lớn nhất ở Liban và khắp vùng Trung Đông, và người kia cũng vui vẻ kể, anh có đạo Hindu tức Ấn Độ Giáo. Hai người đều nói thiền Vipassana mang lại cho họ nhiều điều tốt, nhất là cách để giữ tâm yên tĩnh và mở lòng vị tha đối với mọi người xung quanh. Quả là thiền Vipassana đã đến với tất cả các tôn giáo.

Tôi chào vị giáo sư, và theo thói quen tôi đưa tay ra định bắt tay từ giã ông. Tôi nghĩ hôm nay đã “xả trại” không còn lệnh cấm nói chuyện thì một cái bắt tay từ giã với người Mỹ là chuyện bình thường. Không ngờ vị giáo sư này “thuộc bài” còn kỹ hơn tôi. Thay vì đưa tay ra, ông vội chắp hai tay lại và xá nhẹ một cái theo kiểu chào của các nhà tu. Tôi “quê một cục” vội chắp tay đáp lễ, trong lòng cảm thấy rất mắc cỡ. Sau về nhà đọc kỹ những thông tin thầy phụ tá cho, tôi mới biết luật cấm đụng chạm thân thể giữa các thiền sinh dù khác phái hay cùng phái được áp dụng mọi lúc mọi nơi trong toàn khu vực trung tâm thiền.

Chuyện này làm tôi nhớ lại, và hiểu ra, luật lệ khóa thiền và mọi điều cấm kỵ có lý do của nó mà khi “đụng chuyện” tôi mới thấy cảm phục thiền sư Goenka khi thầy đưa ra những điều lệ này. Đặc biệt lệnh cấm thiền sinh không được đụng chạm thân thể nhau. Lần kia vì thấy mỗi khi ra nghỉ giải lao tôi đấm chân liên tục, có cô gái người Việt tốt bụng bước lại bảo để cô ấy chỉ cho cách tập sẽ hết đau nhanh. Tôi chưa kịp phản ứng, cô bé nhanh nhẹn đẩy tôi vào sát tường, chụp lấy hai tay tôi đưa lên cao miệng kêu tôi nhón gót. Ngay lập tức, cô phục vụ chạy lại ngăn cản. Vì điều này mà tôi bị cô thiền sư phụ tá gọi lên gặp riêng. Tôi hớn hở bước vô phòng mang theo những câu thắc mắc vì ngỡ cô muốn giúp. Nào ngờ sau khi giải đáp cho tôi xong, cô nhắc nhở nhẹ nhàng về việc “đụng chạm thân thể” với thiền sinh khác. Thì ra việc phạm cấm kỵ của tôi đã được báo cho cô. Nhưng tôi không phiền vì biết lỗi của mình.

Cô LĐ nói, sự đụng chạm thân thể ngoài việc khiến cho thiền sinh phân tán tư tưởng, ở đây mỗi ngày ngồi tĩnh toạ ai cũng cố quán thân tâm để đẩy ra ngoài cho sạch những uế trược, những bất tịnh chất chứa lâu đời đang dần trồi lên từ trong tiềm thức. Sự đụng chạm này có khi còn truyền cho nhau những điện năng, từ trường xấu của đối phương, nếu có, và mình sẽ rất khó mà định tâm. Nghe vậy tôi… sáng mắt ra, nhớ lại chuyện tôi và các bạn cùng phòng gặp phải, và đã “trả giá” cách đó mấy hôm. Sau khi xin lỗi cô giáo, tôi “tự thú trước bình minh”:

– Thưa cô, cô nói đúng quá! Giờ em mới nhớ lại cái hôm chị cùng phòng cảm thấy mệt không thể tiếp tục cho hết khoá thiền. Sau khi lên gặp cô về phòng chị ấy “phá giới” nói lời từ giã mọi người. Chị khóc và nói nghe cô phân tích thật cảm động muốn ở lại, nhưng sức khỏe tệ quá. Thế là mấy chị em cùng phòng thương quá xúm nhau khuyên chị ở lại, và ôm từ giã mỗi người một cái. Tôi “khai” luôn:

– Tối đó cả phòng không ai ngủ được hết cô ơi, người này nằm nghe người kia trằn trọc trở mình, vì bọn em đã bị những lời trao đổi, sự đụng chạm đó ám ảnh.

Cô tròn mắt nhìn tôi:

– Cả phòng nói chuyện? Và còn ôm nhau nữa?

– Dạ chỉ ba người thưa cô! Tôi đáp trong ân hận. – Người trẻ nhất phòng là thiền sinh cũ. Cô ấy giữ giới kỹ càng, từ đầu đến cuối im thin thít, nên tối đó cổ ngủ im re.

Thực ra đâu phải chỉ có cánh nữ chúng tôi là dễ dàng phạm cái giới “cấm nói chuyện”.

Ông xã tôi khi đọc tới đoạn này đã ngồi cười một mình. Gạn tra mãi chàng mới… bật mí, kể lại chuyện phá giới của cánh… liền ông. Người bạn cùng phòng với ông ấy bị chứng thoái vị đĩa đệm phải ngồi thiền trên ghế. Đến ngày thứ ba không cảm nhận được gì, phần bị cái xương sống nó hành, nên anh muốn bỏ chạy cho rồi. Nhưng hết ngày thứ tư đột nhiên anh ấy “nhập định” được, quán sát toàn thân thông suốt. Mừng quá tối đó về phòng anh chàng muốn khoe thành quả cho bạn. Sợ phạm luật không dám nói to nên ghé miệng vào tai bạn thì thầm, mắt thì nhìn láo liên nhìn ra cửa sợ bị những người phục vụ bắt gặp. Ông xã tôi bụng cũng muốn nghe xem bạn nói gì mà tâm lại “sợ tội” nên nào dám hỏi, chỉ kê lỗ tai lại gần ông bạn hơn. Khổ nỗi hai “anh cụ” đều vượt quá xa “cổ lai hy”, mắt đã mờ tai lại… lờ đờ hơn. Cho nên “ông nghỉnh rình ông ngảng” người vểnh tai kẻ nghểnh cổ, mà anh xã nhà tôi chỉ nghe hơi thở xì xào và thấy cái miệng nhóp nhép lập bập của ông bạn chứ chẳng hiểu được gì. Chợt nghe có tiếng người đi qua, hai chàng … hết hồn ai vọt về giường nấy mà trong lòng ấm ức “kẻ muốn nói còn chưa nói được, người muốn nghe cũng chửa nghe xong!” Về nhà đến nay anh bạn tọa thiền cũng rất thành công, rất thông suốt, và hai anh bạn già thường liên lạc nói chuyện với nhau về thiền.

Tôi “vái chào” ông giáo sư rồi bước vào bên trong nhà ăn. Xin nói sơ một chút về thức ăn của nhà bếp. Chắc những người không biết ăn chay sẽ e ngại vì học ở đây phải ăn chay suốt 10 ngày. Và chỉ có hai bữa chính sáng, trưa, buổi chiều ăn nhẹ trái cây, uống sữa, hoặc sữa đậu nành, sữa gạo. Nhưng tôi bảo đảm, khi về nhà các bạn sẽ nhớ những bữa ăn chay phong phú và đầy bổ dưỡng ở đây không thua gì các món mặn, còn “healthy” hơn là khác. Chu đáo nhất, ngày nào cũng có món súp mận khô ngừa táo bón, giúp thiền sinh khỏi bị… bí vì ngồi lâu. Thực đơn thay đổi mỗi ngày và rất đa dạng để mọi người tự chọn. Các món Á Châu như canh rong biển đậu hũ, canh táo tàu phổ tai, cháo nấm đậu hũ, đậu nành hột đút lò, đậu hũ đút lò, xào thập cẩm, và nhiều món Tây phương, salad trộn các loại hạt, pho mát, bơ thực vật, bánh mì gạo lức, sữa tươi, sữa đậu nành… hầu hết là thực phẩm hữu cơ “organic.” Gia vị phụ mật ong, dầu olive, bột nghệ, bột flaxseed, và các loại trà, cà phê, nhiều loại không có “cà phê in”, và những loại dành cho người kiêng béo, mặn, ngọt.

Tôi chợt nhớ lời thiền sư Goenka, hiến tặng vật chất cho các trung tâm thiền Vipassana rất quan trọng, vì sẽ giúp cho những người đến sau có cơ hội hành thiền, nhưng đem phổ biến rộng rãi pháp môn này càng quan trọng hơn. Tôi liền qua gặp cô thiền sư phụ tá LĐ, xin phép cô cho tôi hỏi thêm một ít thông tin để khi về nhà tôi viết bài tường thuật về khóa thiền, hầu chia sẻ cho cộng đồng Việt về môn thiền Vipassana quý giá này. Tôi biết người Việt mình phần đông theo đạo Phật, có lẽ chưa có nhiều người hiểu rõ về môn thiền Vipassana, họ sợ sẽ phải cải đạo khi đến với pháp môn, nên chưa có đông người Việt tham gia như người Mỹ hoặc các sắc dân khác. Cô cũng đồng ý với tôi nên vui vẻ cho tôi cái hẹn gặp cả thầy cô. Sau khi trò chuyện, hai vị đã cho tôi nhiều thông tin quý giá và tài liệu về Vipassana. Cô LĐ kể lại, thấy được lợi ích của thiền Vipassana, và pháp môn này được hoằng khai ra thế giới, thầy cô mong muốn làm chút gì để có thể truyền bá cho đồng bào bên quê nhà. Nhờ nhân duyên dẫn dắt, năm 2006 hai người và bạn đồng hành của họ đã đưa được mấy chục người Việt qua một thiền đường Cam Bốt học thiền Vipassana rồi đưa trở về, dẫn đến nhiều người biết, và mở rộng pháp môn này ở quê nhà như hiện giờ. Cô nói đó là những kỷ niệm khó quên về con đường hành thiền Vipassana của thầy cô. Thầy TĐ cho chúng tôi biết, hiện nay tại Việt Nam có một trung tâm Vipassana rất quy mô dạy thiền theo truyền thống ngài Goenka, hoạt động dưới sự bảo trợ của tổ chức thế giới UNESCO ở Củ Chi, miền Nam, và một trung tâm nữa cũng do UNESCO bảo trợ vừa bắt đầu hoạt động năm nay 2018 tại Sóc Sơn, Hà Nội.

Khi được hỏi thầy cô có điều gì muốn nhắn nhủ hay chia sẻ với đồng hương Việt mình về thiền Vipassana không, thì cô LĐ cười hiền hòa nói:

– Pháp môn thiền Vipassana có quá nhiều lợi ích, tôi mong là ngày càng được cộng đồng mình biết đến rộng rãi hơn và tham gia nhiều như người Mỹ và các sắc dân khác trên thế giới, để đem lại niềm vui, hạnh phúc, và an lạc cho bản thân và gia đình mọi người…

Sau đó thiền sinh tập trung lại để nghe tuyên bố mãn khóa. Ông trưởng ban điều hành trung tâm phát biểu chúc mừng khóa thiền thành công. Tiếp đến ông Việt Nam quản lý khóa thiền ghi danh sách những thiền sinh tự nguyện làm công tác dọn dẹp, làm vệ sinh, cũng như sắp xếp các thứ để chuẩn bị cho khoá thiền kế tiếp. Mọi người, kể cả các sư cô đều vui vẻ xung phong nhận lãnh công việc dọn dẹp trong buổi cuối cùng. Đến mục đi nhờ xe, người ta hỏi và ghi danh những ai cần đi nhờ xe về nhà, ra phi trường, trạm xe buýt. Và những ai có thể đưa giùm người. Thật cảm động, cuộc trao đổi “kẻ ban người nhận” diễn ra rất rộn rã bằng thứ tình cảm giúp đỡ thật lòng. Nếu ai có thời gian là tình nguyện giúp ngay, dù tiện đường hay không.

Chúng tôi may mắn làm quen vợ chồng anh thiền sinh cũ H. & G. cùng anh P. bạn của họ. Họ sẽ cùng lái xe về nhà anh ấy ở tận Canada. Khi nghe nói chúng tôi book vé máy bay dư một tuần sau khoá thiền để đi thăm tượng Nữ Thần Tự Do ở New York, dù không phải tiện đường cho lắm hai anh này cũng tình nguyện sẽ chở giùm.

Ngày thứ 11, chúng tôi giã từ thiền viện Delaware với một tâm trạng luyến lưu khó tả. Nhớ cảnh thanh bình yên tĩnh, nhớ mấy người bạn thiền dễ thương vừa quen. Nhớ cô bạn HL tâm từ đi tọa thiền mà khệ nệ khênh mấy chục chai nước lọc. Không biết là trung tâm có máy lọc nước, cô mua nhiều “để chia sẻ cho những thiền sinh ở xa không mang theo được.” Và ngày nào cô cũng thảy trên bàn cho mỗi người một chai. Trên xe của anh bạn, mọi người chuyện trò rôm rả về thiền Vipassana. Anh P. người Canada cũng là một thiền sinh Vipassana kỳ cựu. Người điềm đạm, trình độ hiểu biết về thiền Vipassana rất sâu. Anh cho biết ý nguyện của anh là cố gắng tu tập nhiều thêm nữa để tiến xa hơn với pháp môn này. Còn chuyện của anh H. người Nam Cali thì vô cùng hấp dẫn. Có lần một người từ Anh Quốc bay qua Canada để tham dự khóa thiền Vipassana đã book lộn vé máy bay đến Mỹ. Anh H. đã “ra tay nghĩa hiệp” chở dùm cô ấy đi hơn một nghìn dặm đường để đến trung tâm mà cô đã ghi danh. Mấy ngày đầu, cô người Anh chịu cực không nổi nhiều lần định bỏ về, nhưng vì nghĩ đến tấm lòng của người thiền sinh cũ vượt bao nhiêu dặm đường đưa cô đến đó nên cô ráng ở lại. Và cô đã hoàn thành viên mãn khóa thiền. Tâm từ của anh H. đã lan tỏa, cảm hóa được người thiền sinh mới. Anh còn kể chúng tôi nghe chuyện một ca sĩ – nhạc sĩ người Mỹ anh biết, nhờ ngồi thiền Vipassana mà có thể sáng tác những tuyệt phẩm âm nhạc “Platinum”. Anh chàng này sau đó hiến tặng một số lớn hiện kim để xây dựng trung tâm thiền Vipassana. Và chuyện một thiền sinh nữ người Việt hành thiền Vipassana mà tự chữa lành căn bệnh ung thư lá lách hiểm nghèo, căn bệnh nan y đã lấy đi mạng sống của Steve Jobs. Tôi nghe hấp dẫn quá, nên nói đùa kêu anh khi nào gặp chàng ca nhạc sĩ đó thì nhớ giới thiệu để tôi phỏng vấn và viết một bài. Đến New York, mấy người bạn mới đã tìm đường đến khách sạn, mang giúp hành lý lên tận phòng cho chúng tôi và rồi cùng đi dạo Time Square một lúc mới từ giã chạy qua Canada. Tình cảm thiền sinh Vipassana đối với nhau quả thật đậm đà, đúng với câu bốn bể đều là anh em.

Về nhà tôi đọc kỹ những tài liệu thầy TĐ thiền sư phụ tá đã cho. Có nhiều câu chuyện thú vị và cảm động về việc ngài Goenka đưa thiền Vipassana vô trong tù, xin tóm tắt lại vài điều chia sẻ với các bạn. Thầy Goenka đã từng dạy thiền, cảm hóa hàng nghìn tù nhân Ấn Độ, hầu hết đều là tù trọng án. Khi cai ngục đưa các tù nhân ra học thiền, họ bị xiềng xích tay chân. Thiền sư Goenka buộc nhà tù phải mở hết xiềng. Quản trị nhà tù không chịu, sợ tù nhân nổi loạn giết người bỏ trốn, và vì an toàn cho thiền sư, họ buộc ngài phải trú ngụ bên ngoài, mỗi ngày vào tù giảng dạy. Thiền sư nhất định không chịu, đòi phải mở hết xiềng và cùng ở cùng ăn với tù nhân. Ban quản trị nói luật nhà tù là chỗ chỉ dành cho tù nhân. Tôi muốn khóc khi đọc câu đáp lại của ngài Goenka, “Vậy thì các anh hãy kết án tôi đi! Tôi nhất định phải ở trong tù cùng với các tù nhân để dạy thiền cho họ.” Cuối cùng ban giám đốc nhà tù phải nhượng bộ, làm ra một dự luật cho phép thiền sư sống trong tù và cởi xiềng xích cho các trọng phạm để họ ngồi thiền.

Sau khi học xong khóa thiền 10 ngày với thầy Goenka các tù nhân đã giác ngộ, khóc lóc xin nạn nhân tha thứ, và vui vẻ chấp nhận đền tội chứ không còn muốn chống án. Thông tin còn cho thấy nhà tù đầu tiên tại Mỹ đưa Vipassana vào dạy cho phạm nhân từ 1977 đến 2002, và mở lại vào năm 2006 là Trung Tâm Cải Huấn Bắc Mỹ (NRF-King County North Rehabilitation Facility) ở Seattle, Washington. Nhờ kết quả rất tốt của những khóa thiền 10 ngày tại đây mà năm 2002, Viện Y Tế Quốc Gia Hoa Kỳ đã cấp cho đại học Washington kinh phí ba năm để nghiên cứu về lợi ích của thiền Vipassana đối với tù nhân. Cũng đã có vài khóa thiền Vipassana được tổ chức tại nhà tù San Francisco, California.

Đọc xong tôi tìm lên trang web của Trung Tâm Cải Huấn Bắc Mỹ (King County North Rehabilitation Facility) thì quả đúng là như vậy. Trên mạng tôi còn đọc được chuyện thiền Vipassana trong tù đã hấp dẫn nữ đạo diễn Jenny Phillips. Và bà cũng đã tham dự một khóa thiền Vipassana 10 ngày. Bộ phim “Dhamma Brothers” của bà nói về những tội nhân đang thọ trọng án tại trại Cải Huấn Donaldson, Alabama đã được cảm hóa sau khi tham dự khóa thiền 10 ngày Vipassana của ngài Goenka. Phim được quay năm 1999 đã được 2 giải thưởng, từ Woods Hole Film Festival 2007, và từ NCCD (National Council on Crime and Delinquency) 2007.

Theo tài liệu từ Trung Tâm Nghiên Cứu Thiền Vipassana Ấn Độ, các nhà lãnh đạo Giáo Hội Công Giáo La Mã nhận thấy thiền Vipassana không mang tính chất tông phái và tốt cho tất cả mọi người, nên cho phép giáo dân tham gia. Mẹ Bề Trên Mary và Cha Lawrence là vài người trong những nhà lãnh đạo Công Giáo đầu tiên học Vipassana. Trung tâm nghiên cứu Thiền Vipassana Ấn Độ ghi nhận, có hơn 6.000 linh mục và bà Sơ, Mẹ Bề Trên tham dự thiền Vipassana, trong đó có một Sơ đã là Thiền sư. Và một trung tâm dành riêng cho các vị này được mở gần Munbai, Ấn Độ. Tôi cũng đọc được bài viết của Đức Cha Lawrence trong tài liệu. Ngài công nhận kỹ thuật thiền Vipassana bao gồm đạo đức, là những điều tương ứng với Mười Điều Răn Công giáo, và mục đích của thiền Vipassana chẳng phải để biến thế giới thành Phật tử, mà là biến đổi con người trở nên tốt đẹp hơn, dù người ấy theo hay không theo tín ngưỡng nào.

Còn Mary, Mẹ Bề Trên của một trường dạy nữ tu ở Dalhousie cũng chia sẻ, thiềnVipassana giúp người ta kiểm soát được tư tưởng, các loại tình cảm đố kỵ, chán ghét, đau khổ, ham muốn, và thay thế chúng bằng tình cảm thương yêu và từ bi. “Khóa thiền này không dựa trên một giáo điều nào, nó là một thứ kỹ thuật, mà nếu hiểu rõ, và thực hành hằng ngày khoảng hai tiếng đồng hồ, sẽ giúp chúng ta phát triển mọi tiềm năng, giúp chúng ta trở thành một người Công giáo tốt hơn, một người Hindu, một người Hồi giáo, hay một Phật tử tốt hơn.” Mẹ Bề Trên đã viết thế.

Tôi không phải là người Công Giáo, nhưng nhận xét và chia sẻ kinh nghiệm chân tình của các vị chân tu này làm cho tôi rất tâm đắc, tự hứa với lòng phải cố gắng hơn nữa, tập trung vào việc hành thiền, và sắp tới sẽ tiếp tục tham gia các khóa thiền Vipassana. Xin kính lời cám ơn thầy cô thiền sư phụ tá TĐ & LĐ đã chia sẻ những thông tin quý giá.

Từ việc quan sát hơi thở và tự quán sát toàn thân theo kỹ thuật thiền Vipassana, chúng tôi, mới tham gia chỉ một khóa đầu tiên, không dám nói là đã “đạt thành chánh quả” như các bậc chân tu, nhưng có thể khẳng định rằng, trong cuộc sống hằng ngày chúng tôi đã tìm thấy được cách sống cho an nhiên tự tại. Vipassana như có phép mầu, đã chuyển đổi được tâm tính con người, một điều mà ông bà mình vẫn thường nói, “Non sông dễ đổi, bản tính khó dời”. Nhờ luôn luôn chú ý đến hơi thở, tôi nhận ra ngay những điều bất tịnh vừa chớm nẩy trong tâm để dừng lại kịp lúc, và nhờ phép quan sát toàn thân, tôi hiểu được sự vô thường của vạn vật, biết chấp nhận sự sinh ra và diệt đi và quên khổ đau. Trước kia vì vô minh để tâm vọng động, tôi đã tự làm khổ mình không ít. Mỗi lần có tin buồn, dì cậu hay bà con, những người tôi yêu quý bên nhà qua đời, hay sự thất bại khi đứa con làm thủ tục bán “short-sale” ngôi nhà đẹp, tôi đau khổ đến mất ăn mất ngủ. Và lúc có chuyện vui, như những lần đoạt giải cao viết văn chẳng hạn, tôi quá vui mừng trước sự chúc tụng của bạn bè, lên khán đài phát biểu, được TV phỏng vấn, chụp hình cùng các vị dân cử… Những ánh hào quang đó cũng làm tôi mất ngủ quên ăn. Giờ tôi hiểu ra, những thứ buồn vui hay danh vọng ấy chẳng qua cũng là phù du, đến rồi đi, buồn quá hay mừng lắm chỉ làm cho tâm mình thêm khổ não. Phải chi tôi biết Vipassana sớm thì đã đón nhận chúng với cái tâm bình thản, có lẽ giờ này tôi cũng giảm được vài nếp nhăn trên trán, hoặc chí ít, cũng không để cho mấy sợi “tóc muối” có cơ hội đứng ngang hàng chen lẫn cùng đám “tóc tiêu” như bây giờ.

Ngày trước, có khi những chuyện “nhỏ như cọng cỏ” là giận hờn vu vơ với cái “người dưng khác họ” cũng làm cho tôi đau khổ vô biên. Bây giờ mỗi lần ông ấy có chuyện không vừa ý nổi giận cau mày, thay vì “làm mình làm mẩy” tôi chỉ nói nhẹ nhàng, “Lấy sự nhăn nhó khó chịu ấy về đi, không ai nhận đâu!” Thế là sắc mặt chàng tươi trở lại. Dù bây giờ đã là “bà già trầu” nhưng thỉnh thoảng tôi lại quên mất, cứ ngỡ mình vẫn còn là “em bé ngày xưa ấy” của chàng nên giở trò mè nheo, hờn dỗi, khiến bực mình. Nếu trước kia, là người ít nói nhưng tính nóng còn hơn “Trương Phi” ông ấy sẽ nổi doá cự lại làm mọi chuyện lớn thêm, còn bây giờ chàng chỉ nói, “Tâm bất tịnh rồi, quán thân đi!” Vậy là cùng nhau cười xoà hết chuyện. Chúng tôi thường đùa tụi mình giờ là “Tình 3B”, “Bạn đời, Bạn già, và Bạn thiền.” Ngày ngày ăn chay, ngồi tịnh tọa chung, tháng tháng cùng đi ngồi thiền nhóm, và thỉnh thoảng dắt nhau đi phục vụ Dhamma (giáo pháp – tiếng Pali) cho các khóa thiền Vipassana trong vùng. Bấy nhiêu đó là đủ vui cho cái tuổi về chiều, “cố gắng sống thảnh thơi để chờ thời đi…dzìa trển!” Nhà tôi nói như vậy.

Thú thật, chàng xã của tôi “thấm nhuần” Vipassana còn kỹ hơn tôi, ngồi thiền giỏi hơn tôi, tịnh tâm dễ hơn tôi, và thay vì “cà kê dê ngỗng” như tôi, ông ấy tóm gọn sự lợi ích, hiệu quả, và chân lý của pháp môn Vipassana chỉ trong một bài thơ Đường Luật mà rất là đầy đủ:

“Hữu duyên hạnh ngộ PASSANA (Vipassana)

Giáo pháp lọc tâm diệt ý tà.

Tham, dục, ngày ngày thôi bám víu,

Sân, si, chốc chốc cũng lìa xa.

Mắt tai mũi lưỡi cần an tịnh,

Trí tuệ lòng từ sẽ hiện ra.

Trì giới quán thân từng khoảnh khắc,

Sống đời hạnh phúc với DHAMMA (giáo pháp).”

Tân Khoa

Chúng tôi đã kết nối được với một nhóm ngồi thiền Vipassana (Vipassana Group Sitting) gần vùng cư ngụ và đến ngồi thiền chung mỗi tháng vài lần. Lần đầu đến dự, tôi ngạc nhiên và khâm phục những thiền sinh Mỹ này. Hầu hết là người trí thức trẻ, còn đi làm, vậy mà cùng nhau họp lại, và tự đóng góp tài chính thuê một gian phòng trong trung tâm dạy Yoga, chuẩn bị đầy đủ bàn ghế bồ đoàn toạ cụ cho việc ngồi thiền. Mỗi ngày đều có tổ chức suất ngồi thiền một giờ sáng sớm và một giờ vào buổi tối, để những ai trên đường đi làm và đi làm về ghé qua cùng ngồi chung. Và mỗi tháng có hai khoá tọa thiền nguyên một ngày cuối tuần, có cả thiền sư phụ tá giám sát và hướng dẫn. Dù chỉ là khóa thiền một ngày, mọi thứ được sắp xếp y hệt như khi học ở trung tâm. Cũng ngồi theo băng đĩa giảng dạy của thiền sư Goenka, ăn chay nguyên ngày, giữ sự im lặng thánh thiện, và giờ giấc cũng giống nhau. Đi ngồi thiền nhóm cùng với các thiền sinh Mỹ tôi mới khám phá ra hệ thống Vipassana của thiền sư Goenka là hệ thống hoạt động toàn cầu. Đã là thiền sinh cũ của thầy Goenka thì tên tuổi chúng tôi được lưu lại vĩnh viễn trên hệ thống. Nếu tôi có dịp đến bất cứ nước nào trên thế giới mà có ý định tìm một khóa thiền Vipassana tu tập, thì cũng sẽ được hưởng tất cả mọi quyền lợi “thiền sinh cũ Vipassana” của truyền thống Goenka, các thiền sinh bạn ở đó sẽ giúp đỡ, đưa đón và lo nơi ăn chốn ở đàng hoàng. Thầy Goenka nói ngồi thiền chung với nhóm nhiều người sẽ rất có lợi vì được sự trợ lực từ những người xung quanh. Tôi thấy đúng lắm, ngồi chung với nhóm tôi cảm nhận được điện lực từ trường và tâm từ của mọi người lan tỏa.

Vừa rồi tôi cũng đã đi phục vụ khoá thiền một ngày “Children And Teenager Course” tại chỗ ngồi thiền nhóm này. Khóa thiền mở dành cho các cháu độ tuổi 8 đến 15. Dù đây chỉ là một cái “Hall” do nhóm thiền sinh Mỹ tự nguyện tổ chức, vẫn phải trực thuộc vào hệ thống và dưới sự quản lý nghiêm nhặt của trung tâm chính Vipassana California với một ban điều hành rất là bài bản. Khi vợ chồng tôi ghi danh đi phục vụ cho khoá thiền này, chúng tôi phải vào trang web trung tâm điền đơn xin phục vụ cung cấp đầy đủ thông tin cá nhân, và phải điền đơn để họ làm “Background Check” lý lịch “trong trắng” thì mới được nhận. Khóa thiền cũng có hai thiền sư phụ tá đến trợ giảng, một nam giúp cho boys và một nữ giúp cho girls. Cũng phải giữ “Sự Im lặng Thánh Thiện”, phục vụ ăn trưa miễn phí cho các cháu, và nhiều “trò chơi thông minh” được các thiện nguyện viên chúng tôi hướng dẫn trong những giờ giải lao. Mọi người cùng nhau thực hiện thành công khóa thiền một ngày. Các em khi mới vào còn quậy, nhảy nhót lung tung, nói lý lẽ với người lớn, nhưng đến cuối khóa chúng trở nên ngoan ngoãn dễ thương vô cùng. Cô thầy thiền sư phụ tá “khảo bài” về những gì các cháu đã học được trong ngày hôm ấy, và các cháu hào hứng sôi nổi đưa tay lên giành nhau trả lời đúng chính xác những gì các cháu vừa được dạy.

Sinh hoạt với các thiền sinh Mỹ và thiền sinh các nước khác, tôi biết được cái tâm của họ lớn vô cùng. Hỏi chuyện thì nhiều người nói “không thể đếm” được bao nhiêu khóa thiền họ đã học. Đối với những người đã tìm thấy và gặt hái được chân lý của Vipassana cho tâm hồn và cuộc đời họ, thì việc hiến tặng tiền bạc những vật ngoại thân để xây dựng thiền đường chỉ là “chuyện nhỏ”. Như vừa rồi Vipassana hệ thống Goenka Bắc Cali đã mua một trang trại 54 mẫu Anh gần thung lũng điện tử San Jose, giá 2 triệu 1 Mỹ Kim. Chương trình sắp tới, bước một, thiền viện thứ tư của Cali sẽ được xây dựng với kinh phí khoảng 8 triệu để có đủ chỗ ở và thiền cho 80 thiền sinh. Bước hai sẽ mở ra cho đủ thâu nhận 150 người. Thật là một con số đáng kinh ngạc, những chương trình quy mô như thế mà toàn bộ đều đến từ sự cúng dường, có thể thấy lòng từ tâm của thiền sinh Vipassana to lớn cỡ nào. Họ đã gặt hái kết quả từ thiền Vipassna, nên hiến tặng của cải, vật chất, và công sức không mong cầu báo đáp, chỉ để giúp cơ hội cho nhiều người khác được học về pháp môn Vipassana.

Cho đến giờ, những lời giảng quý giá của thiền sư Goenka như luôn vang vọng trong tôi. Ngài nói luật tự nhiên và thiên nhiên rất công bằng. Tâm ta sẽ nhận được sự tưởng thưởng hay trừng phạt là tuỳ vào cách suy nghĩ và hành xử của chính ta. Nếu tâm chúng ta thanh tịnh, ban phát hoà ái và tình thương cho mọi người, mọi loài, thì sẽ hưởng được sự an nhiên tự tại và hạnh phúc viên mãn. Nếu tâm ta bất thiện, mang sự thù hằn, ghét bỏ, mê đắm tham lam, thèm muốn những thứ không phải của mình, hay hại người, thì sẽ bị luật tự nhiên trừng phạt, mà là trừng phạt ngay lập tức. Cho dù chỉ là sự bất thiện trong ý nghĩ, thì sự trừng phạt sẽ làm cho tâm ta vật vã, suy nghĩ bất an, còn nếu như đã gây ra những điều ác, xấu cho người, thì tâm ta sẽ bị dằn vặt, cắn rứt cho đến cuối đời, tận giờ phút lâm chung thì mọi điều bất thiện đó sẽ hiện lên không thiếu một mảy may. Thầy nói người hành thiền Vipassana phải luôn luôn sống trong trí tuệ, nhìn và quan sát thân tâm, ý thức rõ từng lời nói và việc làm để biết dừng lại kịp lúc, xóa bỏ nó đi và trong tâm không còn sự thèm muốn hay thù ghét nữa, chắc chắn ta sẽ được giải thoát khỏi những ràng buộc đau khổ để sống đời hạnh phúc thật sự.

Tóm lại, Vipassana là con đường dẫn đến giải thoát khổ não đời người, nó giúp diệt trừ thèm muốn, giận ghét, và vô minh, là những căn nguyên gây khổ đau cho nhân loại. Bạn đã đọc đến đây, kể như bạn cũng có duyên lành. Biết đâu cơ duyên dẫn dắt, đem được kỹ thuật thiền nguyên thủy Vipassana của bậc giác ngộ gần hai nghìn sáu trăm năm trước hòa quyện vào đời sống tất bật hằng ngày của bạn để giúp bạn có một cuộc sống thanh thản yêu đời và an lạc hơn.

Nguyện cho bài viết này mang lại chút ít lợi lạc cho ai đó. Nguyện cho tất cả chúng sinh trên thế giới này đều được an lành và hạnh phúc trong Năm Mới Kỷ Hợi và mãi mãi…

Viết với tâm từ.

Phương Hoa – Xuân Kỷ Hợi 2019

(Khóa thiền ngày 19 tháng 9 năm 2018 tại Dhamma Delaware )

*Nếu muốn tìm hiểu thêm về Vipassana, bạn có thể vào đây:

https://www.dhamma.org/en-US/index – Tiếng Anh

http://www.vn.dhamma.org/ – Tiếng Việt

*Những câu hỏi và trả lời thú vị nếu bạn muốn biết về Vipassana trong tù ở Mỹ:

https://www.prison.dhamma.org/prisonqa.htm

Cảm Nhận Và Chia Sẻ Thêm Ý Nghĩa Về Thiền Của Nhà Thơ Lễ Tuấn:

Cám ơn bài viết của nữ sĩ Phương Hoa.

Bài viết rất hay. Giới thiệu về Phương Pháp Thiền  (Thiền Vipassana là gì?) Nói đúng hơn đây là phương pháp Thiền minh sát trí tuệ.  phương pháp Thiền Quán, không phải Thiền Định.  Thiền Vipassana thuộc loại thiền quán, chú trọng đến tương quan mật thiết giữa tâm và thân từ đó loại bỏ được những suy nghĩ, hành động tiêu cực và để đạt được sự an nhàn, vui vẻ, nguồn năng lượng tích cực. Bởi Vipassana có nghĩa là “thấy mọi sự vật như bản chất thật của chúng ngay trong lúc quan sát”, nó là một tiến trình logic của việc thanh lọc tâm tưởng bằng cách tự quán chiếu bản thân mình. Đây là một phương pháp Thiền rất tuyệt vời (rất hay). 

Tuy nhiên theo tôi nhận xét. Muốn xoá bỏ một (tâm thức u tối) hay phiền não, nhất định người thiền định, phải dùng đến một năng lượng để triệt tiêu. (chữ năng lượng ở đây có nghĩa “năng lượng từ bản thân” phải dùng đến một kỹ năng quan sát trí tuệ rồi triệt tiêu nó). Tôi thường suy nghĩ:Nếu ta nhìn thấy bất cứ khoảng đen tối nào trong tâm hồn, thì hãy mở tung cánh cửa đó ra, để cho ánh sáng của Chân Thiện Mỹ tràn vào. Việc mở tung cánh cửa, của một ngăn tối trong tư tưởng, nếu bất cứ ai đạt đến cảnh giới cao siêu, thì đều làm được và làm một cách rất tự nhiên (không cần năng lượng).

Bản thân tôi cũng tìm hiểu về nhiều triết lý về Thiền, và cuối cùng tôi tự tìm ra một chân lý. Đó là triết lý “Chủng Thể Nẩy Sinh” sự nẩy sinh trong mọi vấn đề thì đó là nhân tố thứ 3. Anh A gặp Anh B, hai người nói chuyện, qua câu chuyện, sẽ nẩy sinh một yếu tố thứ 3, yếu tố thứ 3 hoàn toàn phụ thuộc vào tính chất câu chuyện, nếu câu chuyện hoà thuận, thì chủng thể thứ 3 sẽ là nguồn năng lượng (Tình thương sự đồng cảm). Nếu câu chuyện dẫn đến bất đồng, đi đến to tiếng, thi chủ thể thứ 3 sẽ là sự giận giữ (lòng thù hận, ganh ghét).Nếu trong lúc ngồi thiền mà tâm bị động, để cho dòng suy tư bị nhiễu loạn thì ngay lập tức (Chủng thể thứ 3) xuất hiện và thôi thúc, ngôi thứ ba sẽ thôi thúc, hãy làm đi hay hãy bỏ cuộc.  Giải thích một chút về (Chủng Thể Thứ 3) Dòng suy tư xuất phát từ tâm hồn (đây là chủng thể thứ 1) đưa suy nghĩ đến một vấn đề (Thánh thiện hay đen tối) đây là (Chủng Thể Thứ 2) và sự xuất hiện của tư tưởng dẫn đến hành động, đây là (Chủng Thể Thứ 3). Đây chỉ là một ví dụ rất nhỏ, nếu bàn thêm thi bao la vô cùng.

Bài viết về Thiền Vipassana của Phương Hoa, đã gợi nhớ trong tôi nhiều tư tưởng, nhiều triết lý đã đọc qua. Cám ơn bài viết rất hay của Nữ Sĩ Phương Hoa. Chúc thật vui và bình an, như trọng tâm của Thiền Vipassana

Trân Trọng

Lê Tuấn




TÔI CÀI ĐIỆP-VIÊN VÀO NỘI-BỘ

BA-LAN & ĐÔNG ÂU

        ỦY-HỘI QUỐC-TẾ

        Hiệp-Định Paris

        NGÀY 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp-Định Paris chấm dứt chiến-tranh và tái-lập hòa-bình tại Việt-Nam được ký-kết và có hiệu-lực kể từ hôm sau.

        Phần đông đồng-bào Miền Nam đã nghe, đã đọc và đã phát-biểu quá nhiều những lời chỉ-trích Hiệp-Định Paris, và chính những người thân-Chính-Quyền nhất cũng phải đồng-ý phần lớn với những phát-biểu bất-mãn về các điều-khoản trong đó thua-thiệt cho Việt-Nam Cộng-Hòa.

        Tám tháng sau đó, vào ngày 26 tháng 9, tôi rời Vùng II ra Vùng I đảm-trách Giám-Đốc Đặc-Cảnh (An-Ninh và Phản-Gián) Miền Trung.

        VỚI tôi, về mặt nổi, những điều liên-quan thiết-thực đến cách xử-trí của nhân-viên công-lực, những khi đối-diện với các thành-viên Cộng-Sản (cộng-sản Ba Lan và Hung Gia Lợi trong Ủy Hội Quốc Tế, và cộng sản Bắc Việt Xâm-Lược trong Ban Liên Họp Quân Sự 4 và 2 Bên) ở nơi công-cộng, là điều cần đề-cập nhất, thì không nghe Cấp Trên chỉ thị gì, mả lại còn ra lệnh cấm tiếp-xúc với họ nữa, nên tôi đã tự ý hướng-dẫn cho thuộc-viên từ trong Vùng II rồi, nay ra Vùng I tôi cũng làm lại việc đó cho các cấp nhân viên ở ngoài này.

        NHƯNG. quan-trọng hơn hết, về mặt chìm, tôi đã có cách cụ-thể vớt-vát thiệt-thòi cho phe Quốc-Gia đối với Hiệp-Định Paris:

        Từ trong Vùng II, tôi đã quyết-định tấn-công tình-báo ngay vào chính các Phái-Đoàn Bắc-Việt Xâm-Lược và Cộng-Tặc Miền Nam (ít nhất thì cũng đã đạt được một thành công ban đầu tại Phan Thiết); và nay thì tại Vùng I, gặp được hoàn-cảnh cả đối-nội lẫn đối-ngoại thuận-lợi hơn, tôi phải đích-thân ra tay đối với cả Ba-Lan lẫn Hung-Gia-Lợi, bắt đầu từ các Phái-Đoàn liên-hệ tôi gặp hằng ngày trong thành-phố Đà Nẵng này.

Ủy-Hội Quốc-Tế tại Khu-Vực II

        THEO Hiệp-Định Paris thì lĩnh-thổ Việt-Nam Cộng-Hòa được chia ra làm nhiều Khu-Vực; mỗi Khu-Vực được đặt dưới quyền kiểm+giám của một Phái-Đoàn đại-diện Ủy-Hội Quốc-Tế, tức Ủy-Hội Kiểm-Soát và Giám-Sát Quốc-Tế (ICCS=International Commisssion of Control and Supervision).  Ủy-Hội Quốc-Tế gồm có 4 nước: Gia-Nã-Đại (Canada) ― về sau Ba-Tư (Iran) thay-thế ―, Nam Dương (Indonesia), Ba-Lan (Poland), và Hung-Gia-Lợi (Hungary).

        Đại Diện các phe lâm-chiến được gọi là Ban Liên-Hợp Quân-Sự 4-Bên (Hoa-Kỳ, Việt-Nam Cộng-Hòa, Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-Hòa tức Cộng-Sản Bắc-Việt, và Cộng-Hòa Miền Nam Việt-Nam tục gọi “Việt-Cộng”) ― về sau chỉ còn 2-Bên (VNCH và CHMNVN).

        Riêng (Quân-) Khu I của VNCH được chia thành  2 Khu-Vực của Ủy-Hội Quốc-Tế:  Khu-Vực I đặt trụ-sở tại Huế, và Khu-Vực II đặt trụ-sở tại Đà-Nẵng.

        Đà-Nẵng là thủ-phủ của Miền Trung, nơi có Bộ Tư-Lệnh Quân-Đoàn I & Quân-Khu I, Bộ Chỉ-Huy Cảnh-Lực & Ngành Đặc-Cảnh Vùng I, các cơ-quan Chính-Quyền cấp Vùng, các Tòa Tổng-Lĩnh-Sự ngoại-quốc cấp Vùng, v.v…

        Trong lúc Cảnh-Sát Quốc-Gia toàn-quốc đều phải tuân theo chỉ-thị của thiếu-tướng Tư-Lệnh Nguyễn Khắc Bình ― không được tiếp-xúc với Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi ― thì tôi đã xin, và đã được phép, cho riêng tôi được tiếp-xúc với các thành-viên Cộng-Sản nước ngoài ấy.

(Đối với Cộng-sản Việt-Nam thì Ngành Đặc-Cảnh, từ cấp lĩnh đạo xuống đến các Điệp-Trưởng, Trưởng Lưới, Trưởng Mũi và Trưởng Mối Biệt-Tác, đã tiếp-xúc từ lâu rồi, ngay từ trước khi bọn họ bị giết, bị bắt, hoặc hưởng-ứng chính-sách Chiêu-Hồi, mục-đích là để tuyển dụng họ làm nội-tuyến cho ta).

Hai Phái Đoàn Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi

        ỦY-HỘI Quốc-Tế được một Hãng Thầu Hoa-Kỳ cung-cấp một tòa nhà riêng, để làm trụ-sở chính-thức; nơi đó hai Phái Đoàn Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi làm việc chung với các Phái Đoàn Ba-Tư và Nam Dương.

        Đó cũng là nơi Ủy-Hội Quốc-Tế chính-thức hội-họp với các Phái Đoàn Hoa-Kỳ và Việt-Nam Cộng-Hòa.

        Hai Phái Đoàn Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi được cấp một chỗ ở riêng, để phe Cộng-Sản ở chung với nhau:  họ chiếm toàn-bộ khách-sạn “Hồng Kông”.

        Một hãng-thầu Hoa-Kỳ cung-cấp cho họ mọi thứ cần dùng trong đời sống và sinh-hoạt hằng ngày.

        TẠI khách-sạn “Hồng Kông” này, hai Phái Đoàn Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi có đặt những phòng-giấy bỏ túi cho Trưởng Phái Đoàn, Sĩ-Quan Điều-Hành, Sĩ-Quan Truyền-Tin/Mật-Mã, và Thông Dịch-Viên của mình.

        Dưới quyền Phái Đoàn Khu-Vực II, tại Đà-Nẵng, có 3 Tổ Ủy-Hội Quốc-Tế:  tại Hội-An, Chu-Lai, và Quảng-Ngãi.

        Về phương-tiện di-chuyển của UHQT thì:  về đường bộ là xe-hơi sơn màu trắng, có gắn cờ ICCS (mà tài-xế lúc đầu là người Mỹ, về sau là nguời Việt-Nam); và về đường hàng-không là các loại phi-cơ của Hãng “Air America” có sơn ba đường gạch ngang màu lục phía sau đuôi (và phi-công là người Hoa-Kỳ).

        Về phía Hãng Thầu thì:  tại khách-sạn “Hồng Kông” có một bộ-phận chấp-hành, gồm có một thư-ký khách-sạn là đại diện chính; quản-gia; và các công-nhân như bồi, bếp, tài-xế, thợ máy; v.v… đều là người Việt-Nam.

Kế-hoạch hoạt-động của tôi

        VỀ phía Chính-Quyền Việt-Nam:  Trung-Ương không hề ra lệnh; và hẳn sẽ không chấp-thuận cho tôi, cũng như cho bất-cứ ai, hướng mũi hoạt động ― gián điệp, tức là tình-báo chủ động; chứ không phải phản-tình-báo bị động ― của mình vào các mục-tiêu Cộng-Sản nước ngoài.

        Việc đó nằm ngoài phần-vụ và trách-nhiệm của Ngành Đặc-Cảnh VNCH.

        Nhưng tôi đã thuyết-phục và được phía Người Bạn Đồng-Minh (CIA) đồng-ý và trợ-giúp tôi.

        Các thành-viên Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi, nhất là các cấp chỉ-huy và chuyên-viên, không phải chỉ là sĩ-quan bộ đội bình-thường, mà là cán-bộ gián điệp quan-trọng của 2 nước này; chính CIA cũng đã xác-nhận như thế với tôi .  Bọn họ đến đây để tiếp sức cộng-sản Việt-Nam chống phá chúng ta, tại sao chúng ta không dùng gậy ông để đập lưng ông, mượn tay bọn họ để gây biến-loạn ngay trong nội-bộ guồng máy độc-đảng của chính bọn họ ngay bên trời Âu .

        Trong ngành tình-báo, kẻ thù có thể thuộc nhiều dân-tộc khác nhau, hoạt-vực có thể gồm nhiều quốc-gia khác nhau; huống gì CIA cũng đang cần tung thêm lưới vào trong hàng-ngũ các nước thuộc Khối Liên-Xô …

        Tôi mượn của Tòa Tổng-Lĩnh-Sự Hoa-Kỳ một số từ-điển bách-khoa cũng như tài-liệu thời-sự để tìm hiểu thêm về hai nước Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi.

        NÓI chung, tuy ở trong khối Liên Bang Xô Viết, đại đa số dân-nhân cả Ba-Lan lẫn Hung-Gia-Lợi đều đang vùng-vẫy để thoát khỏi quyền thống-trị của Nga-Xô .

        Tôi gợi ý Hoa-Kỳ lợi dụng tối-đa tình-hình ở hai nước ấy, đặc-biệt là Ba-Lan.  Ở Ba-Lan thì công-nhân là lực-lượng tiền-phong hùng-hậu, và các tầng-lớp dân-nhân thì chịu ảnh-hưởng sâu-rộng của Vatican.

        TRONG lúc chờ-đợi, tôi đứng ra móc nối các thành-viên cộng-sản trong Ủy-Hội Quốc-Tế hiện có ở đây .

        Tôi lý-giải rằng:  nếu tôi mà làm được việc, thì chính Người Bạn Đồng-Minh hưởng công; viên-chức liên-hệ sẽ được chuyển đến quốc-gia hữu-quan để phát-triển thêm mạng lưới của mình, thành tích gia tăng; làm việc bên đó, không có chiến-tranh, hẳn là an-toàn, an-nhàn hơn ở Việt-Nam!

        Thế là tôi được Người Bạn Đồng-Minh tán-đồng và yểm-trợ mọi mặt tối đa .

Một cơ-hội tiếp-cận tự-nhiên

        MỘT hôm, một viên-chức cao-cấp thuộc Tòa Tổng-Lĩnh-S Hoa-Kỳ tại Vùng I tổ-chức một buổi dạ-tiệc tại tư-gia ― thật ra là một bữa ăn đặc-biệt.

        Chủ nhà không nấu dọn gì, mà dùng sân trước và vườn sau làm một cảnh chợ vỉa hè.  Họ đặt mua trọn chuyến hàng: nơi này là xe phở bò; nơi kia là gánh bánh lá & chả tôm, v.v…; hầu hết các món hàng rong quen-thuộc của Đà-Nẵng đều được quy-tụ về đây.  

        Thực-khách đến ăn món nào thì đều theo đúng cách-thế thông-thường đối với món đó, chỉ khác là khỏi trả tiền.

        Trong khung-cảnh đó, tôi đã tiếp-xúc lần đầu với các viên-chức lãnh đạo 4 Phái Đoàn Ủy-Hội Quốc-Tế, và đặc-biệt là 2 Trưởng Phái Đoàn Cộng-Sản Ba-Lan và Hung Gia Lợi .  Cấp-tốc nghiên-cứu, lượng-giá đối-tượng, tôi đã dễ dàng tìm ra phương-thức đối đầu với các mục-tiêu.

Toán “Thạch-Mã”

        BỘ Tư-Lệnh Cảnh-Lực Quốc-Gia có chỉ-thị cho các Địa-Phương nơi nào có Ủy-Hội Quốc-Tế cấp Khu-Vực thì tổ-chức một Toán Hộ-Tống bảo-vệ an-ninh cho các Phái Đoàn.  Các Phái Đoàn Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi tại Khu-Vực II ở Đà-Nẵng không nhận việc hộ-tống ấy, vì họ cảm thấy là bị theo dõi; họ muốn tự-do đi lại, hành-động theo ý muốn riêng; nên các Phái Đoàn Ba-Tư và Nam Dương cũng đồng-ý theo .

        Do đó, tôi nhận nhiệm-vụ theo dõi các Phái Đoàn Ủy-Hội Quốc-Tế từ phía Cảnh-Sát Sắc-Phục sở-tại chuyển qua cho Ngành Đặc-Cảnh cấp Vùng.

        Tại đây có một bộ-phận đặc-trách mang bí danh “Toán Thạch-Mã”, trong đó có cả một số nhân-viên của Sở I An-Ninh Quân Đội biệt-phái đến; tất cả đều mặc dân-phục để hoạt-động chìm.

        TÔI thuê cho Toán một trụ-sở riêng.

        Vì không tiện bề sử-dụng xe Jeep sơn màu xanh+trắng của phía Sắc-Phục nên tôi đã xin Người Bạn Đồng-Minh một chiếc xe Jeep dân-sự để cho Toán dùng.  Xe này là của Tòa Tổng-Lĩnh-Sự Hoa-Kỳ nên mang bảng số NT (nhập tạm) dành riêng cho các ngoại-kiều .  Tôi không tiện xin cơ-quan Lộ-Vận cấp cho một số trước-bạ bình-thường, vì xe không thuộc sở-hữu chung của Cảnh-Lực hay riêng của cá-nhân nào .

        Có nhiều chỉ dấu, mà chiếc xe ấy là rõ-ràng nhất, khiến có một số đồng-bào gọi người sử-dụng xe ấy là CIA .

        Tôi chỉ nhắc-nhở anh+em trong Toán về mặt an-ninh bản-thân, chứ không giải-tán hoặc thay đổi ngụy-thức, mặc dù thật ra kết-quả giám-thị của họ chỉ thuộc lĩnh-vực thám-báo ― chưa phải điệp-báo như tôi mong muốn ― mà ở Trung-Ương thì do một Văn-Phòng khác chứ không phải Ngành chuyên-môn của tôi chủ đạo, mà Văn-Phòng ấy lại chỉ chủ-trương hoạt-động như thế mà thôi.

    Có lần Ðại-Tá Lê Quang Nhơn, Chánh Sở I ANQĐ, ngỏ ý muốn rút nhân-viên của Sở mình về, vì họ thiếu người ― vả lại trong đó có cả một thiếu-tá ― nhưng tôi không thuận.  Tôi muốn có sự hiện-diện của Toán ấy để đánh lạc hướng chú ý của đối-phương, nhằm bảo-mật các đường dây điệp-báo riêng của tôi.

Biệt-Đội “Thiên Nga”

        BỘ Tư-Lệnh Đặc-Cảnh Trung-Ương, từ thời Trung-Tá Nguyễn Mâu, có thành-lập một đơn-vị nữ-tình-báo, từ cấp Trung-Ương xuống đến các Vùng, Tỉnh và Thị, mệnh danh “Biệt-Đội Thiên-Nga”.  Tuy trong một số trường-hợp Biệt-Đội này đã lập được thành-tích khả-quan, nhưng nhìn chung thì kết-quả hoạt-động vẫn chưa tương-xứng với tổ-chức quy-mô nói trên.  Nhiều nữ-nhân-viên được dùng vào các công-việc văn-phòng thay vì ra ngoài dò tìm và gài người xâm-nhập vào các chi-bộ cộng-sản nằm vùng hoặc từ mật-khu về móc nối tại nội-thành.

Thế nhưng Thiên-Nga dù sao thì cũng đã được đồng-bào ― và cả Việt-Cộng ― nghe tiếng, biết tên.

        GẶP lúc Bộ Ch?Huy Cảnh-Lực Vùng I tuyển-mộ một đợt nữ-nhân-viên, tôi chỉ-thị cho Sở Yểm-Trợ ― mà cốt là để bắn tiếng ra ngoài ― hãy chọn cho tôi mươi cô trẻ nhất, đẹp nhất, độc-thân, để tôi huấn-luyện tình-báo cho họ, trong đó có môn tiếng Anh và môn khiêu-vũ, kể cả kỹ-thuật chinh-phục đàn-ông.

        Trong lúc đó, Bộ Tư-Lệnh Đặc-Cảnh Trung-Ương điện hỏi ý-kiến các Vùng về việc giải-tán Biệt-Đội “Thiên- Nga”.

        Trong Vùng II, tôi đã nhân danh Vùng ấy mà trả lời là xin vẫn giữ y nguyên; nay tại Vùng I, có nhiều triển-vọng sử dụng mỹ-nhân-kế hơn, tôi lại có dịp góp ý mạnh hơn về việc duy-trì cái tổ-chức ấy … mà tôi không hề dùng đến trong các điệp-vụ của tôi.

        THIÊN-NGA ― của tôi ― là bất-cứ người-đẹp nào hội đủ điều-kiện cho tôi chấm chọn, từ học-đường, công/tư-sở, thương-xá, trà-thất, vũ-trường, cho đến nông-thôn, v.v…  vốn sẵn có mặt khắp nơi, và tự họ đã sẵn có môi-trường sinh-hoạt thích-hợp với công-tác hơn là các nữ viên-chức Ngành An-Ninh.  Đối với các cô gái phòng trà, từ ca-sĩ, má-xán, vũ-nữ, đến bồi bàn ― là giới “nhảy dù” tự do tại Thành Đà-Nẵng ― tôi đã bố-trí cho một số Trưởng Lưới, Trưởng Mũi, và Trưởng Mối thuộc Sở Tác-Vụ, kín-đáo khống-chế những ai có cơ-hội tiếp-xúc với các thành-viên Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi.

        Đối với phiá Cảnh-Sát Sắc-Phục, tôi đã khéo-léo sắp-xếp để không tổn-thương quyền-hạn của họ; và trung-tá Nguyễn An Vinh, Chỉ-Huy Cảnh-Lực Thị-Xã Đà-Nẵng, đã hiểu biết và hợp-tác với tôi trong việc này .

        Đồng-thời, tôi đã đạt được sự hợp-tác trọn-vẹn của Hãng Thầu nước ngoài, để tôi sử dụng nhân-viên có sẵn của họ, hoặc gài thêm người của Đặc-Cảnh vào làm công-nhân cho Hãng Thầu .

*

        Đối nội, tôi đã xin được Thiếu-Tá Ngô Phi Đạm, là giảng sư xuất sắc nhất về tình báo tại Trường Tình Báo Trung Ương, thuyên-chuyển ra Vùng I làm việc với tôi .

        (Tôi chỉ lược kể đôi điều chung chung mà thôi, còn nhiều vấn đề và các chi tiết khác nữa thì tôi đã viết trong các Chương khác của cuốn hồi ký này).

*    

        Nói chung, do sáng kiến riêng của tôi nói trên, nhóm thiểu số Đặc Cảnh Vùng I chúng tôi đã tuyển dụng được khá nhiều thành viên Ba Lan và Hung Gia Lợi, về mặt nổi thì từ các đại tá Trưởng Phái Đoàn cấp Khu Vực xuống đến các sĩ quan cấp úy Trưởng Tổ cấp Liên Tỉnh và Tỉnh, nhưng về mặt chìm thì họ là cán bộ tình báo chiến lược cấp trung ương (thông dịch viên có vị thế cao hơn Trưởng Phái Đoàn) của Đảng, Nhà Nước và Quân Đội 2 nước cộng sản quan trọng nhất, sau Nga, trong Liên Bang Các Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Xô Viết (gọi tắt là Liên Xô, tức USSR: Union of Socialist Sovietic Republics), làm nội tuyến cho ta (tức là Hoa Kỳ) ― vì sau khi tuyển dụng được thì tôi đã chuyển giao họ cho cơ quan Tình Báo Trung Ương của Mỹ (CIA) tiếp tục khai thác sử dụng ngay trong hàng ngũ Liên Xô bên châu Âu .

        Những cán bộ vốn được chọn lọc và tín nhiệm đưa đi công tác tại Việt Nam, khi trở về nước đều được xem là có công tham chiến đánh Mỹ ngay trên chiến trường Việt Nam.  Với những cái-gọi-là kinh nghiệm đối đầu trực tiếp với phe “tư bản chủ nghĩa phản động”, các phần tử ấy được trân quý để đem hiểu biết thực tế vận dụng vào chức năng công vụ lãnh đạo hoạt động và huấn giảng nghiệp vụ gián điệp tại các khóa bồi dưỡng chuyên môn trong hệ thống Tổ Chức Liên Minh Warsaw (Liên Minh Quân Sự Vác Xô Vi, tại thủ đô Ba Lan) của Liên Xô chống lại Khối Minh Ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) của Thế Giới Tự Do .

        Vì tôi còn phải lo về Việt Cộng (cộng sản Việt Nam) và về nội chính (các chính đảng, các giáo hội, các tổ chức “đối lập”, v.v…), trong tình hình rất nguy ngập của thời gian 1973-75, nên tôi đã cho phép các thuộc viên liên hệ tùy tiện chiếu theo chủ trương và phương thức làm việc đã có kết quả cụ thể của tôi mà hợp tác với Người Bạn Đồng Minh (cố vấn CIA) để tiến hành thêm, do đó tôi không nắm vững hết các thành quả đã đạt được, phải là to lớn hơn.  Lại nữa, trong tinh thần phối hợp đồng minh chống Cộng, tôi đã chấp thuận cho Người Bạn Đồng Minh được trực tiếp sử dụng một số viên chức Đặc Cảnh của tôi mà họ thấy là xuất sắc, biệt phái hẳn qua cho họ (hẳn là thành quả phải không thua kém thành quả của phía Việt Nam), nên tôi không biết gì nhiều về các kết quả liên quan.  Ngoài ra, tôi cũng giúp cho NBĐM phương tiện cần thiết (giấy phép đi lại trong giờ giới nghiêm, giấy phép mang vũ khí, v.v…) để họ tuyển dụng nhân viên riêng cho họ, nên tôi hoàn toàn không biết gì về thành quả hoạt động của các đường dây bí mật kia.

        Chỉ riêng trong phạm vi những gì mà tôi có đích thân trực tiếp làm và còn nhớ, tôi đã tuyển dụng:

Đại tá Konelsko, Trưởng Phái Đoàn Ba Lan

Đại tá Guy Nagy, Trưởng Phái Đoàn Hung Gia Lợi

Trung úy Teleski, Trưởng Phòng Truyền Tin Mật Mã của Ba Lan

Đại úy Signalia, Trưởng Phòng Truyền Tin Mật Mã của Ba Lan (kế nhiệm Teleski)

Trung úy Benjenc Grosz, thông dịch viên của Hung Gia Lợi

Trung úy Benez Kadar, Trưởng Tổ Hung Gia Lợi tại Tam Kỳ

(quá trình nghiên cứu, chấm định, tiếp xúc, móc nối, bao vây, gài bẫy, thuyết phục, thử thách, tuyển mộ… đã được kể lại trong sách).

        Họ là cán bộ tình báo cấp cao, ở cả hai lãnh vực chính trị và quân sự, mà lại chuyên môn truyền tin mật mã (biết rõ bí mật nội bộ), và rành (ít nhất là) tiếng Anh, làm thông dịch viên quốc tế (có tư cách công khai tiếp xúc với cả  “đế quốc Mỹ”, huống gì bí mật liên lạc với các nhân vật ái quốc & chống Liên Xô), nay được tuyên dương là đã có công đánh Mỹ, được thăng lên cấp cao hơn và cử giữ chức lớn hơn:  họ mà làm tay trong cho Mỹ thì nguyện vọng của dân nhân Ba Lan và Hung Gia Lợi thoát khỏi gọng kìm Liên Xô chắc chắn là sớm đạt thành.

        Hồi đó, năm 1974-75, Người Bạn Đồng Minh đã chính thức thông báo cho tôi biết về một số tiến triển và kết quả khởi đầu ngay tại Ba Lan và Hung Gia Lợi, đồng thời nhiều lần công khai đãi tiệc khen thưởng các viên chức Đặc Cảnh hữu công (trong sáng kiến của tôi, bắt đầu từ năm 1973).

        Đến năm 1979 (sáu năm sau), Giáo Hoàng John Paul II mới về thăm Ba Lan lần đầu tiên, mở đầu cho những hoạt động kế tiếp của Ngài, cũng nhằm góp phần giải thể chế độ cộng sản ở quê hương mình.

        Năm 1981, cán bô cấp cao Công An trung ương Việt Cộng nói thẳng với tôi:  “Tôi báo trước cho anh biết, chỉ trong vài hôm nữa thôi, tất cả các thành phần phản động tại Ba Lan cũng như Hung Ga Ri đều sẽ phải đền tội trước tòa án nhân dân; vả ngay cả bọn CIA liên quan cũng sẽ bị nhà nước có chủ quyền của hai nước ấy trừng trị thẳng tay …  Sẽ không bao giờ xảy ra sự cố mà bọn đế quốc và lũ tay sai như anh hằng mơ, để anh có thế “tự hào” là chính mình đã góp phần đánh đổ hệ thống xã hội chủ nghĩa tại Ba Lan và Hung Ga Ri, kéo theo sự sụp đổ của cả Khối Cộng Sản Đông Âu!  Có phải bọn chủ CIA của anh đã nhồi nhét cái ý tưởng hão huyền ấy vào trong đầu óc vong bản của anh hay không?”

        Lúc đó, vào năm 1981, Cộng-sản Việt-Nam chỉ biết là Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi bị tôi tổ-chức xâm-nhập giùm cho CIA từ năm 1973, nên mới suy-luận là nếu cộng-sản tại hai nước ấy mà sụp đổ thì sẽ kéo theo cả sự sụp đổ tại các nước kia.  

        Sau này, khi sự suy-diễn của họ trở thành sự thật, thì cái trình-tự nói trên đã đảo ngược lại:  Từ đầu năm 1989, cộng-sản tại các nước trong Liên-Bang Xô-Viết đã chấm dứt, và cuối năm ấy, cộng-sản tại Hung-Gia-Lợi cũng đã cáo-chung.  Chính Liên-Xô, do Gorbachev lãnh-đạo, đã mở đường, từ năm 1985, cho các nước thuộc quyền lần-lượt về với Tự-Do trước tiên, rồi chính mình cũng lột xác vào đầu năm 1990.  Đến cuối năm này thì cộng sản Ba Lan cáo-chung.  Thế là tan rã toàn Khối cộng-sản Đông-Âu.

(còn nữa)

LÊ XUÂN NHUẬN

Cảnh-Sát-Hóa




NỮ-SĨ VI KHUÊ

TRỤ-SỞ Ðài Phát-Thanh Huế tọa-lạc ngay trên bờ Hữu-Ngạn của Sông Hương, cạnh mé Tây của đầu Cầu Trường-Tiền, đối-diện Đại-Khách-Sạn Morin bên kia Đường Lê-Lợi sát góc Đường Duy-Tân.

Thuở ấy, chưa có các Ðài cấp Tỉnh, Ðài Huế là Tiếng Nói chung của cả Miền Trung, nên máy phát rất mạnh, không thua Ðài Quốc-Gia và Ðài Pháp-Á (Radio France-Asie) của Pháp ở Sài-Gòn, nghe được cả ở Miền Bắc lẫn Miền Nam Việt-Nam.

Cả nước chưa có hệ-thống truyền-hình; cả Miền Trung chỉ có vài ba tờ nhật-báo ở Huế mà thời-sự thì dựa theo tin-tức đọc chậm của Ðài Sài-Gòn. Trong tình-hình đó, Ðài Huế là món ăn tinh-thần hằng ngày của đồng-bào Miền Trung, và của cả những người ở phiá ngoài Tỉnh Thanh-Hoá và ở phiá trong Tỉnh Bình-Thuận mà có gốc-gác hoặc liên-hệ đời sống ở Miền Trung.

Ngoài những tiếng hát của các nam+nữ ca-sĩ mà một số về sau vào Sài-Gòn thì trở thành danh-ca của toàn-dân, giọng bình và ngâm thơ của các thi+kịch-sĩ tên-tuổi một thời, tiếng hát của các danh-ca quốc-tế trong các chương-trình nhạc ngoại-quốc do thính-giả yêu-cầu, và giọng đọc xì-xồ của mấy người Pháp trong chương-trình vô-tuyến của Service d’Information, những ai đã từng nghe Ðài Huế cũng đều xác-nhận rằng người nữ-xướng-ngôn chính của Ðài này có một giọng đọc truyền-cảm vô-cùng. Giọng đọc của người con gái Huế ấy chẳng những dịu-dàng, ngọt-ngào, ấm-cúng, hấp-dẫn, mà còn trí-thức, vì không bao giờ vấp phạm lỗi-lầm khiến thính-giả khó chịu hoặc làm sai lạc ý-nghiã của câu văn.

Những người hiếu-kỳ đi ngang qua Ðài Huế thường để ý thấy có một thiếu-nữ be-bé xinh-xinh, cư-ngụ trong một căn phòng khiêm-tốn ở tầng trên của một buồng-kho bên hông trụ-sở Ðài. Một cầu thang nhiều bậc xi-măng từ mặt đất bắc lên cửa phòng làm cho căn phòng có vẻ cao hơn, khiến các thanh-niên ái-mộ đặt cho người-đẹp và căn phòng ấy cái mỹ-danh “nàng bồ-câu trên chuồng bồ-câu”.  

Ðó chính là cô xướng-ngôn nói trên.

Sau ngày hồi-cư vào đầu năm 1947, tôi thường đến Ðài Huế để góp phần vào các chương-trình kịch vô-tuyến hằng tuần, kể cả việc trình-bày một số kịch thơ dã-sử và xã-hội của tôi, trong đó nhạc-sĩ Trịnh Văn Ngân là một trong những cây ngâm tuyệt-vời.

Do đó, tôi quen biết “nàng bồ-câu trên chuồng bồ-câu”. Tên nàng là Trần Trinh Thuận, tức nữ-sĩ Vi Khuê, một biên-tập-viên chính-ngạch có giọng nói trời cho nên kiêm luôn phần-vụ xướng-ngôn.

Tuy Vi-Khuê làm việc ở một cơ-quan thông-tin tuyên-truyền đậm màu chính-trị, nhưng những bài thơ của nàng hồi đó chỉ là tâm-tình của bạn gái ở lứa tuổi hai mươi, dễ thương như “con nai vàng ngơ-ngác, đạp trên lá vàng khô”.

*

Tôi thì lăn xả vào giữa tình-hình rối-ren cuả Quê Hương.

Dù đã từng bị giặc Pháp tù đày, tôi vẫn giao-du tuy không đồng-ý với Hồng Quang, chủ-nhiệm báo “Ý Dân”, là người chỉ chọn vũ-lực để chống chủ-nghiã thực-dân; và vẫn cộng-tác tuy không thuận-tình với Phạm Bá Nguyên, chủ-nhiệm báo “Công Lý,” là kẻ nhận Ðệ-Tứ thay cho Ðệ-Tam. Tôi lui+tới với Duy Sinh nhưng chưa yên tâm vì huyền-thoại văn-hoá điệp-báo của Nguyễn Bách Khoa. Tôi rất đau lòng vì đồng-bào đói khổ, nhưng chỉ hiệu-chính giùm thi-pháp chứ không tán-thành nội-dung khích-động giai-cấp đấu-tranh trong thi-tập “Tiếng Nói của Dân Nghèo” cuả Vân Sơn PMT (Phan Mỹ Trúc). Tôi thân+thương Trụ Vũ và Quách Thoại nhưng không hợp tính với họ vì lối sống phóng-túng của hai nghệ-sĩ thân-nhân ấy của Vi Khuê. Tôi tiếp-xúc với tác-giả nhưng không khép mình trong triết-thuyết bi-quan trong “Con Thuyền Không Bến” cuả Nguyễn Vũ Ban. Tôi thả hồn lên cõi siêu-nhiên nhưng không bước vào nương nhờ Cửa Thiền trong “Không Bến Hạn” cuả Huyền Không.

Tôi ủng-hộ cả hai đường-lối phục-hồi độc-lập quốc-gia: công-nghiệp kháng-chiến vũ-trang chân-chính của người dân, và nỗ-lực ngoại-vận ôn-hoà của các chính-trị-gia không-cộng-sản trong lòng Thế-Giới Tự-Do.

Riêng ở phiá bên này lằn ranh, tôi nhận thấy Cựu-Hoàng Bảo Ðại thì quá yếu mềm mà Đế-Quốc Pháp thì còn luyến tiếc giấc mơ đô-hộ Việt Nam, nên viết cuốn truyện dã-sử “Trai Thời Loạn” để gửi gắm ý mình, và kết-quả là tôi bị cơ-quan An-Ninh Quốc-Gia bắt giam; sau nhờ có chính-khách Cao Văn Chiểu, Giám-Đốc Thông-Tin Lê Tảo, cùng nhiều nhân-sĩ khác, can-thiệp với Thủ-Hiến Phan Văn Giáo, tôi mới được thả ra.

Ðể tạo một thế đứng vững-vàng hơn, tôi thành-lập Thi+Văn Ðoàn “Xây-Dựng”, xuất-bản các tác-phẩm của mình và của các bạn từ Bắc chí Nam. Mới bắt đầu thì Nhất Hiên (Phan Nhật Hiến) bỏ theo Việt Minh, và nửa chừng thì Như Trị (Bùi Chánh Thời) cũng nhảy lên chiến-khu.

Tôi hướng về nền dân-chủ và lòng hào-hiệp cuả Hoa Kỳ như tia sáng ở cuối đường hầm.

*

Tháng 4 năm 1954, tôi vào phục-vụ tại Phòng 5 Bộ Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu với tư-cách văn-nghệ-sĩ & ký-giả bị/được động-viên chuyên-môn. Lê Ðình Thạch và Huy Vân thì kỳ-cựu, Tô Kiều Ngân gốc Nha Thông-Tin cũng đã thành quân-nhân. Tchya (Ðái Ðức Tuấn) và Nhất Lang thì được đồng-hoá sĩ-quan.

Ngoài việc viết bài cho báo “Tiếng Kèn”, cho các đơn-vị Võ-Trang Tuyên-Truyền ở tuyến đầu, và cho chính tôi đi vận-động trong dân-nhân, tôi còn là phóng-viên chiến-tranh và biên-tập-viên chính cuả Ðài “Tiếng Nói Quân Ðội” tại Miền Trung.

Do chương-trình phát-thanh này, mà tôi là giám-đốc, tôi mới đặt phòng-giấy ngay tại trụ-sở của Ðài Phát-Thanh Huế, và gặp mặt Vi Khuê thường-xuyên.

Thay chỗ nhạc-sĩ Anh Chương, tôi cử Lâm Tuyền làm Trưởng Ban Tân-Nhạc; nhưng rồi tôi làm lơ cho Lâm Tuyền đào-ngũ vì anh quá chán chuyện đời.

Tôi đưa Văn Giảng lên thay.

Hà Thanh mới bắt đầu vào nghề.

Những lần xe Jeep bị hư, tôi đạp xe-đạp qua chở Kim Tước từ cư-xá Nha Thông-Tin ở bên kia cầu Trường Tiền. Cặp Châu-Kỳ−Mộc-Lan của giới ca-nhạc, cũng như cặp Hoàng-Pha−Phương-Khanh của giới văn+thơ, cũng đã từng ở đây.

*

Rồi Thoả-Ước Geneva ra đời.

Trong hội-nghị quốc-tế ấy, có ba nhân-vật Việt-Nam đã được thế-giới chú ý hàng đầu: Cô Thiên-Hương, con gái của nhà văn Hồ Hữu Tường, là nữ ký-giả duy-nhất, nói được nhiều ngoại-ngữ và trẻ đẹp nhất trong giới truyền thông; Cụ Võ-Thành-Minh, một lão-thi-sĩ, từ Huế đến, đã bí-mật vượt hàng rào Cảnh-Sát Thụy-Sĩ vào cắm trại trên Bờ Hồ Leman trước hội-đường, tuyệt-thực thổi sáo nói lên nỗi lòng của người dân Việt-Nam mong-muốn Thống-Nhất và khao-khát Tự-Do; và Ông Nguyễn-Quốc-Ðịnh, Ngoại-Trưởng cầm đầu Phái-Ðoàn Quốc-Gia Việt-Nam của chính-phủ Bảo Ðại, đã từ-chức để khỏi ký tên vào văn-bản thừa-nhận việc đất nước bị qua-phân.

Thủ-Tướng Ngô Ðình Diệm cử Ông Trần-Văn-Ðỗ đến thay. Pháp và Việt-Minh thoả-thuận ngưng bắn, lấy vĩ-tuyến 17 ngang sông Bến Hai làm ranh-giới Bắc–Nam.

*

Ðại-Tá Trương Văn Xương, Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu, thuộc cánh Tổng-Tham-Mưu-Trưởng là Trung-Tướng Nguyễn Văn Hinh (con của cựu Thủ-Tướng Nguyễn Văn Tâm, thân-Pháp), mở một chiến-dịch đưa quân từ Huế vào tiếp-thu các Tỉnh phiá trong. Theo chương-trình chính-thức thì Thủ-Tướng Diệm sẽ từ Sài-Gòn ra chủ-toạ lễ thiết-lập Chính-Quyền Quốc-Gia tại vùng đất mới lấy lại này. Theo kế-hoạch riêng của cặp Hinh+Xương thì Diệm, trên đường đi từ Huế vào Quảng-Ngãi, sẽ bị lính và dân dàn chào bằng tiếng hô “Đả Đảo” cùng với trứng thối và cà chua. Câu hỏi nổi bật là “Mười vé phi-cơ cho gia-đình họ Ngô, hay là mạng sống cuả cả trăm ngàn binh sĩ Quốc-Gia?” Các bức tường vẽ khẩu-hiệu đã được xây lên; và biểu-ngữ, bích-chương, cùng truyền-đơn liên-hệ đã được chuẩn-bị sẵn dọc đường rồi.

Phòng 5 Quân-Khu đương-nhiên đảm-trách công-tác tác-động tinh-thần này.

Thành-Phố Huế ngẫu-nhiên được chia thành hai trận-tuyến. Bộ Tư-Lệnh Quân-Khu thì đóng trong Ðại-Nội, phiá Bắc của Sông Hương; nhà Ông Ngô-Ðình-Cẩn, trung-tâm quy-tụ cuả gia-đình họ Ngô, thì nằm trên Xóm Phú-Cam, phiá Nam của Sông Hương. Bộ-phận “Tiếng Nói Quân-Ðội” của tôi lại đặt trụ-sở tại Ðài Huế, trên bờ phiá Nam. Ðể biểu-dương lực-lượng, Quân-Khu phái đến hai chiếc xe-tăng, án-ngữ hai bên sân, trước Ðài Phát-Thanh. Các chương-trình vô-tuyến dân-chính chỉ có nội-dung lập-lờ, thông-tin hàng-hai.

Ở Quảng-Ngãi, cán-bộ Việt Minh gài lại xúi giục dân-chúng phản-kháng lực-lượng tiếp-thu, vì thấy vẫn có Cố-Vấn Pháp trong hàng-ngũ Quốc-Gia; súng nổ, người chết; Ủy-Hội Quốc-Tế Kiểm-Soát xen vào.

Ðảng Cần-Lao, qua nhạc-sĩ Ngọc Linh, móc nối tôi.

Tôi không theo đảng-phái nào hết, nhưng quyết-định ủng-hộ Thủ-Tướng Diệm, với chủ-trương “Ðả Thực, Bài Phong, Diệt Cộng”, để được sự giúp-đỡ cuả Hoa-Kỳ. Quốc-gia giàu mạnh nhất thế-giới này đã dìu-dắt Tây-Ðức, nâng-nhấc Nhật-Bản, và cứu-vớt Ðại-Hàn. Trung-Tá Nguyễn Văn Bông, Tư-Lệnh Mặt Trận Nam–Ngãi, đã phát-biểu với Trung-Tá Nguyễn Văn Tố, Phó Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu, trong khi ổng lái xe ra đón Tố vào:

– Mình cộng-tác với thằng giàu thì hẳn sướng hơn phục-vụ cho thằng nghèo!

Tôi thảo truyền-đơn, tài-liệu, viết bài tuyên-truyền cho chí-sĩ họ Ngô.

Bộ Tham-Mưu của Xương không tin-tưởng ở tôi. Họ lập hẳn một Ðài Phát-Thanh riêng, trong Thành-Nội― dân-chúng gọi là “Đài bí-mật”để tự mình phổ-biến lập-trường chống-Diệm và hô-hào dân-chúng nổi lên.

Không còn bị Cấp Trên ràng buộc, tôi công-khai dùng “Tiếng Nói Quân Ðội” để hậu-thuẫn cho Diệm và Hoa-Kỳ.

Hồi ấy, chỉ có một số trong giới Nho-học lớn-tuổi nghe danh Ông Ngô-Ðình-Khả, còn đa-số dân-chúng nói chung thì ít ai biết tên Ông Ngô-Ðình-Diệm, ngoại-trừ một nhóm trong giới Kitô-Giáo có đọc tờ báo “Tinh Thần” thời-gian gần đó.

Chương-trình phát-thanh của tôi có ảnh-hưởng rất lớn trong quần-chúng, vì làn sóng của Ðài Huế phát đi rất mạnh và xa, trong lúc “Ðài bí-mật” thì nhỏ và yếu, chỉ lẩn-quẩn vùng gần, lại khi-có khi-không.

Tôi đã lèo-lái để người dân xứ Huế, nghe Đài “của tôi” và trông thấy hai chiếc xe-tăng trấn đóng trước Ðài mà tưởng và tin là phe mạnh nhất trong Quân-Lực đã đứng hẳn qua phía Diệm, nên biệt-phái chiến-xa đến cho tôi để bảo-vệ Tiếng Nói của mình, chống lại phe yếu thế Hinh–Xương.

Toàn-quốc, nhất là Sài-Gòn, hướng về xứ Huế, gốc-gác của họ Ngô, lấy đó làm chỉ-dấu mà lên tinh-thần.

Từ đó, các phần-tử thân-Diệm mới dám đứng ra khỏi vòng giới-hạn của mình mà hoạt-động rộng-rãi trước mắt mọi người.

*

Trong những tháng ngày gay-cấn ấy, cứ mỗi lần từ các cuộc hành-quân hoặc từ các hoạt-vực bên ngoài trở về với phòng-giấy tại Ðài, tôi lại cảm thấy nhẹ-nhõm cả người, khi gặp mặt lại những nữ-nghệ-sĩ trẻ đẹp tươi vui, như bướm, như hoa, tô thắm cuộc đời. Trong vườn thanh+sắc ấy, Vi Khuê của giới thi+văn vẫn gần-gũi với tôi hơn các bạn bên giới cầm+ca. Nhưng “nàng bồ-câu” vẫn vô-tư-lự như mọi ngày, đâu biết đầu-óc tôi đã bỏng-rát những tính-toán mưu-mô, thân-xác tôi đã bầm-dập những gian-nan nguy-khốn, và chỉ trở về văn-phòng để thư-giãn cho những căng-thẳng thần-kinh.

*

Thủ-Tướng Ngô Đình Diệm thắng phe Hinh+Xương.

Hoa-Kỳ mở Phòng Thông-Tin tại Đại-Khách-Sạn Morin. Giám-Ðốc Thompson A. Grunwald là viên-chức dân-sự Mỹ đầu tiên đặt chân đến Miền Trung. Tôi tổ-chức dạy tiếng Anh trên Ðài, có Tôn Thất Ðát phụ-lực; tham-gia thường xuyên là Thompson, và bất-thường là bất-cứ người ngoại-quốc nào nói tiếng Anh mà tôi gặp được, bắt đầu từ Đại-Tá Richardson, Trưởng Phái-Ðoàn quân-sự Hoa-Kỳ T.R.I.M.

Lớp dạy tiếng Anh của tôi là lớp đầu tiên trong lịch-sử dạy tiếng Anh qua làn sóng truyền-thanh cho thính-giả Việt-Nam.

Nguyễn Cửu Tú (Phó Giám-Đốc Đài), Thompson và Nhuận

Ðại-Tá Nguyễn Quang Hoành lên thay Trương Văn Xương, rồi vì bất-đồng chính-kiến nên lại nhường chỗ cho Thiếu-Tướng Lê Văn Nghiêm.

Ðại-Úy Ngô Văn Hùng thay thế nhạc-sĩ Ngọc Linh, làm Trưởng Phòng 5. Văn Giảng ra đi, tôi cử Lê Trọng Nguyễn lên thay. Nguyễn vừa dịch tài-liệu vừa sáng-tác nhạc; bên cạnh giai-phẩm “Nắng Chiều” là “Hoan-Hô Lê Thiếu-Tướng” theo lệnh của Hùng  (bắt chước “Hoan Hô Ngô Thủ-Tướng”). Ðể giúp Tôn Thất Ðậu chọn nhạc ngoại-quốc do thính-giả yêu-cầu, tôi liên-lạc với hàng chục Toà Ðại-Sứ ở Sài-Gòn, viết lời mở đầu về nền âm-nhạc của mỗi nước, và đặc-tính của mỗi bản nhạc, để giới-thiệu trước khi trình-bày. Giáo-Sư Lê Hữu Mục có đến chơi đàn; nữ-sĩ Như Thu đến góp bài; thi-sĩ Hồ Ðình Phương đến ngâm thơ. Trình-bày “Mục Thi-Ca” của tôi là Trần Anh Tuấn, Ðinh Lợi, Lan Hương, và Tâm Thanh (Tôn Nữ Kim Ninh).

*

Ở các Tỉnh Cao-Nguyên và miền núi Tỉnh Quảng-Ngãi, phong-trào đòi tự-trị của người Thượng nổi lên. 

Chính-Quyền Diệm gom các phần-tử chủ chốt “Thượng Tự-Trị” về tập-trung ở đầu Cầu Nam-Giao. Một Nha Chiến-Tranh Tâm-Lý được lập nên, đặt trụ-sở ở đầu Cầu Phú-Cam. Đại-Úy Hùng kiêm-nhiệm Nha này. Tôi cũng kiêm thêm một số phần-vụ ở cơ-quan này, nên dời bàn-giấy đến đây.

Bộ Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu dời tổng-hành-dinh qua Hữu-Ngạn sông Hương.

Nước Việt-Nam Cộng-Hoà, với sự hậu-thuẫn của Hiệp-Chủng Quốc Hoa-Kỳ,  được Thế-Giới Tự-Do nhìn-nhận.

*

Trong những năm trẻ-trung của Nền Ðệ-Nhất Cộng-Hòa ấy, Liên-Xô, Hoa-Cộng và Cộng-Sản Bắc-Việt, là những bên chủ-trương chia đôi đất nước Việt-Nam, chưa sẵn-sàng thực-hiện vũ-trang xâm-lược Miền Nam, mà Hoa-Kỳ thì viện-trợ tối-đa cả tinh-thần lẫn vật-chất cho con bài của mình và cái tiền-đồn mới lập này của họ ở Ðông Nam Á, nên tình-hình an-ninh khả-quan, chế-độ bắt đầu vững-vàng.

Thế là nhiều người liền tranh nhau mưu-quyền thủ-lợi riêng. Hầu hết chiến-công giữ nước, cũng như thành-tích dựng nước, được dùng để dâng lên Ngô Tổng-Thống, chỉ là những cử-chỉ qụy-lụy, những lời-lẽ tâng-bốc, những thái-độ tôn-thờ, dành cho toàn-thể gia-đình họ Ngô, được các tay chân thân-tín của Cụ xét thấy êm tai đẹp mắt nên tường-trình lên mà thôi.

Ông Ngô-Ðình-Khôi, bào-huynh của Diệm, từ-trần đâu cả chục năm trước kia, không ai biết đến; nay dời mộ-phần thì có cả tá cấp-cao chức-lớn gây lộn nhau để giành làm Trưởng Nam danh-dự hầu-cận bên quan-tài; nhiều năm về sau, hễ nhắc đến ông, nhiều kẻ còn khóc-lóc thảm-thương. Ông Ngô-Ðình-Luyện làm đại-sứ tận bên nước Anh, người dân không hề thấy mặt, thế mà khi nhắc đến ổng thì ai nấy đều vẽ-vời ra vô-vàn tài-cao đức-trọng, để ngợi-ca cho vừa lòng thế-gia. Huống chi các “Cố Vấn” hùng-cứ trong nước mà uy-quyền có khi lấn át cả ông anh. Dù không muốn nhập-cuộc, đa-số vẫn phải nhắc đi nhai lại, để được yên thân, những sáo-ngữ đã thành công-thức chót lưỡi đầu môi: “Nhờ ơn Ngô Tổng-Thống và các bào-huynh, bào-đệ cuả Người!” Thế là lắm kẻ được đặc-cách tiến-chức thăng-quan.

Trung-Tướng Thái Quang Hoàng thay thế Lê Văn Nghiêm.

Nhà văn Bùi Tuân trở thành Dân-Biểu, không còn viết thuê xã-luận cho Ðài của tôi, mà diện lễ-phục lái xe-hơi di diễu khắp phố-phường. Nhạc-sĩ Ngô Ganh không còn lập-dị, mặc bộ com-lê may bằng dạ chăn đi dưới nắng hè, bên trong là chiếc áo ngủ cổ kiềng mà mỗi lần đi đâu thì chỉ cần gài thêm vào đó một cái cổ áo trắng có đính sẵn ca-vát là khỏi phải tốn thêm nguyên cả chiếc áo sơ-mi; bây giờ ảnh làm Quản-Ðốc Ðài, kiêm Ðại-Diện Nhân-Dân Miền Trung, ngồi chung dãy ghế danh-dự với Ðại-Biểu Chính-Phủ, Tư-Lệnh Quân-Khu, v.v… trong những buổi lễ công-cộng trên khán-đài Phu Văn Lâu.

Trong lúc đó, tôi bị cơ quan An-Ninh Quân-Ðội thẩm-vấn tới, điều-tra lui. Họ vin vào cớ tôi đã là Trưởng Ðài Quân-Ðội từ khi còn Hinh+Xương.

Một hôm, Tổng-Thống Diệm ra Huế và ở lại đêm. Sáng sau, tôi nghe hàng-xóm kháo chuyện với nhau: “May mà bắt được, chứ không thì quân khủng-bố đã ám-hại Tổng Thống đêm qua rồi!” Ðến sở, tôi hỏi Đại-Úy Ngô Văn Hùng thực/hư thế nào; ổng liền gọi điện-thoại cho An-Ninh Quân-Đội, và cơ-quan này đến bắt tôi. Truy-cứu mới biết: chính-quyền sở-tại và thân-tộc có tổ-chức nhiều vòng đai an-ninh xung quanh nhà-thờ Phú Cam, nơi Diệm đến tiếp-xúc với giáo-dân; có một nhân-viên chìm, thuộc vòng-đai trong, vì đến trễ nên bị chận soát ở vòng-đai ngoài; thấy y có vũ-khí giấu trong người, đồng-bào tưởng lầm là Việt Minh. Chỉ có thế thôi, nhưng vì Diệm đã được thần-thánh-hoá, nên câu hỏi của tôi, dù là để phối-kiểm với mục-đích dùng Đài Quân-Đội mà trấn-an dư-luận đồng-bào, cũng đã bị xem là một sự xúc-phạm tày trời.

Ngày xưa, phần lớn văn-nghệ-sĩ đều phục-vụ trong ngành truyền-thông, nên tôi đã từng mong được chuyển nghề qua làm việc trong cơ-quan Thông Tin, để được quần-chúng độc-giả khán+thính-giả trọng-vọng hơn. Bây giờ đã ở trong ngành Tác Ðộng Tinh Thần, dù của Quân Lực nhưng cũng là thông-tin tuyên-truyền, tôi mới thấy mặt trái của tấm huy-chương.

Lần đó, nhà bác-học Bửu Hội, thân-thích của Cựu-Hoàng Bảo Đại, nhân dịp từ Pháp về thăm nhà, đến nói chuyện về y-học với đồng-bào Huế tại Rạp Chiếu Bóng Morin. Một số văn+thi-sĩ tùng-sự tại Nha Thông-Tin Trung-Phần đã nêu lên nhiều câu hỏi về thời-sự, mục-đích là để gài Hội phải phát-ngôn ủng-hộ Diệm, hoặc ngược lại thì có bằng-chứng để dễ ra tay. Mặc dù Hội đã nhấn mạnh rằng ông không về Việt Nam với mục-đích chính-trị, và xin miễn đề-cập đến các vấn-đề ngoài phạm-vi y-học, đồng-thời số đông trong cử-tọa cũng đã huýt gió phản-đối những câu hỏi lạc-đề, nhưng nhà văn Ðỗ Tấn vẫn trơ-tráo đứng dậy đặt thêm cho được vài câu hỏi nữa.

Bác-Sĩ Trần Văn Thọ, Tổng Giám-Ðốc Thông-Tin, mà còn tranh tài với Bác-Sĩ Trần Kim Tuyến, Giám-Ðốc Nha Nghiên-Cứu (tức cơ-quan Tình-Báo) thuộc Phủ Tổng-Thống; thảo nào mà nhà-văn này cũng không chịu lép vế các nhà-văn khác trong thành-tích bao vây những ai bị nghi là, bị cho là có thể đối-kháng chế-độ đương-quyền.

Một số nhà-thơ giành nhau chức-vụ lãnh-đạo ngành Thông-Tin, khởi đầu bằng địa-vị Chủ-Tịch Hội Văn-Nghệ-Sĩ & Ký-Giả Miền Trung.

Nhà-thơ Đỗ Tấn Xuân nhai lại cái bã Tố Hữu tán-tụng Staline, in hẳn cả một tập thơnhan đề “Mùa Hoa Sim Nở”trong đó có câu “Tiếng đầu lòng con gọi: Cụ Ngô!”

Họ sợ vướng tôi nên tìm cách loại tôi, lùng thu thi-tập “Ánh Trời Mai” của tôi, v.v…

Thế nhưng hầu hết các nam+nữ tân+cổ+nhạc thi+ca+kịch-sĩ cộng-tác với tôi thì chỉ thấy tôi là một nhà thơ trẻ trai, hiền-lành, hòa-đồng với họ trong từng bộ-môn, chứ không biết gì về những khó-khăn của tôi.

Họ cũng không quan-tâm gì đến mục-đích chính-trị của Ðài, mà lại đinh-ninh rằng trọng-tâm hoạt-động và lý-do cùng ý-nghĩa của sự hiện-diện của Ðài chỉ là phần diễn-ngâm ca-tấu giải-trí văn-nghệ mà họ cống-hiến cho số thính-giả gần xa ái-mộ họ mà thôi.

Vi Khuê thì trầm-lặng hơn họ và có một thế đứng riêng. Nàng không ca hát nhưng số khán+thính-giả địa-phương hằng ngày háo-hức đến xúm dán mũi vào cửa kính để xem tận mắt các nữ-danh-ca hát thật cũng như dượt bài, đều không bỏ lỡ cơ hội nhìn ngắm cô biên-tập-viên duyên-dáng của Ðài. Các người-đẹp trình-diễn thì chỉ xuất-hiện vào giờ có chương-trình liên-quan, còn Vi Khuê thì có mặt ở đó suốt ngày, để những lúc trở về Ðài tôi nhìn thấy nàng mà dịu-vợi ưu-tư…

*

Thế rồi tôi giã-từ quân-ngũ, rời khỏi Ðài, ra ngoài hoạt-động văn-nghệ nhiều hơn trong một môi-trường rộng-lớn và khoảng-khoát hơn.

Ngoài các nỗ-lực tích-cực trong Quân-Ðội và sau đó là trong ngành Cảnh-Sát Công-An, tôi còn hăng say dùng hoạt-động văn-nghệ riêng tư để góp phần xây-dựng và củng-cố chế-độ Ðệ-Nhất Cộng-Hoà, thí-dụ: viết báo, đi thuyết-trình trong Cảnh-Sát & Công-An và ngoài dân-chúng; sáng-tác và trình-diễn khắp nhiều Tỉnh vở kịch thơ “Gươm Chính-Nghiã” của tôi đề-cao Tổng-Thống Ngô Ðình Diệm, kêu gọi sĩ-phu khắp nơi, đặc-biệt từ Miền Bắc, về với Chính-Nghiã Miền Nam; sáng-tác và xuất-bản tập thơ “Tuần Trăng Mật” vinh-danh tình yêu vợ+chồng, phù-hợp với nguồn cảm-hứng từ Luật Gia-Ðình của Bà Ngô-Ðình Nhu…

Tôi giữ Mục “Vườn Thơ” trên tuần-báo “Rạng Ðông” của Lê Hữu Mục, họp làm đặc-san với Tôn Thất Dương Tiềm, xuất-bản thơ của các bạn gần xa và của chính mình, kết-thân với các nhóm như Hồ Mộng Thiệp, Thanh Phượng, Anh Ðộ, Tô Như, Quốc Dân… ở Ðà-Nẵng; đồng nhóm Xây-Dựng là Xuân Huyền, Tường Vi, Huyền Chi, Hoài Minh, Bàng Bá Lân, v.v… ở Sài-Gòn. Trong đó, tôi giữ mục “Hội Thơ” (do Hồ Đình Phương trung-gian) trên tuần-báo Văn-Nghệ Tiền-Phong của Hồ Anh, và có nhạc-sĩ Lê Mộng Bảo giúp phần ấn-loát phát-hành sách và đặc-san.

Tôi tái-tổ-chức họp bạn hằng tuần; ngày xưa thì có Nhân Hậu, Vĩnh Thao, Hạnh Lang, Trúc Lang, Võ Ngọc Trác, Xuân Dưỡng, Giang Tuyền, Kiêm Minh, Lê Mộng Hoà, Nhân Nam, v.v…; bây giờ thì có Hoàng Hương Trang, Tuyết Lộc, Kim Lan, Nguyên Xuân Tứ, Hữu Ðỗ, Khang Lang, Hoài Tâm, Hương Thu, Xuân Nghị, Thanh Thuyền, Thế Viên, v.v…; có lần có cả Trần Minh Phú từ Hàng Me đến, Diên Nghị từ đơn-vị về, Hồ Ðình Phương từ Long-An ra…

Ðại-Hội Văn-Hoá Toàn-Quốc dưới thời Ðệ-Nhất Cộng-Hoà (khai-mạc ngày 11 tháng 1 năm 1957) đã đem lại cho tôi một phần thưởng tinh-thần: “Xây-Dựng” cuả tôi được nhìn-nhận là một cành của Cây Ða Văn-Hiến Việt-Nam.

Trong thời-gian đó, Vi Khuê lên xe hoa. Và đôi uyên-ương đưa nhau lên xây tổ ấm trên đồi núi Ðà-Lạt sương mù, bỏ lại “chuồng bồ câu” trống lạnh như nỗi thiếu vắng trong lòng của những ai ai…

*

Sau khi bản-thân tôi gặp nhiều khó-khăn vì không chịu cải-đạo; sau khi người ta giết chết cả hai vợ+chồng thầu-khoán Nguyễn Văn Yến; sau khi người ta dùng ngay phòng họp là nơi tôi hướng-dẫn học-tập “Ðạo-Ðức của Ngô Tổng-Thống” cho các cấp chỉ-huy Cảnh-Sát Huế trong các buổi học-tập Chính-Trị và Công-Dân Giáo-Dục hằng tuần, để làm nơi tra khảo và giết chết thầu-khoán Nguyễn Ðắc Phương rồi ném xác xuống sân tri-hô là Phương nhảy lầu tự tử; sau khi nhận được vô-số bài-vở của anh+chị+em Cảnh-Sát Công-An gửi về tôi để xin đăng lên tờ nội-san “Phục Vụ” do tôi chủ-biên, nội-dung tố-cáo nhiều, quá nhiều, hành-động tham-lam, tàn-bạo, kể cả giết người, dựa quyền cuả ông Cố-Vấn Ngô Ðình Cẩn; v.v…

Do đó, tôi đã liều-lĩnh công-khai nêu lên một số khuyết-điểm của chế-độ họ Ngô, trong một buổi học-tập tại cơ-quan vào ngày Lễ Hai Bà Trưng (3-3-1960).

Biến-cố này đã gây chấn-động cả Miền Trung.

Kết-qủa là tôi bị quản-thúc điều-tra ba tháng, gây tranh-cãi giữa hai ông Cố-Vấn Cẩn và Nhu…

Rồi tôi bị đày lên Cao Nguyên “vùng nước độc và nguy-hiểm” với bụi đỏ mù trời.

Đời sống chính-trị tạo thi-hứng cho tôi sáng-tác và đăng báo rời-rạc các bài thơ mà sau Cách-Mạng 1-11-1963 mới được gom lại ấn-hành thành tập “Với Thượng-Ðế”, tập thơ thứ bảy cuả mình.

*

Qua đến Ðệ-Nhị Cộng-Hoà, tôi cũng lại gặp rắc-rối, vì tôi công-khai phản-đối những sai trái, nhất là chiều-hướng quân-phiệt trong chế-độ Nguyễn Văn Thiệu, bằng một  bức thư trần-tình gửi lên Cấp Trên**.

Sau cùng tôi được (hay bị?) đưa về lại Miền Trung để giải-quyết giùm (và tôi đã giải-quyết được) những khó-khăn nội-bộ tại vùng đất này mà trước đó Trung-Ương hầu như bó tay…

Giờ đây, tôi trở về Huế lại.

Ngồi trên ghế đá công-viên trước Ðài Phát-Thanh Huế, tôi nhắm mắt mường-tượng những gì đã xảy ra tại đây vào buổi tối 8-5-1963phản-ứng của giới Phật-Tử bị cấm treo cờ Phật-Giáo vào ngày lễ Phật, Phật-Giáo-Đồ tập-trung, chất nổ, người chết, sức mạnh quần-chúng…

Rồi lịch-sử đã sang trang…

Lắc đầu xua đi những ảnh-hình thế-sự, tôi thả hồn sống lại quãng đời thơ trẻ đã qua.

Những khuôn mặt cuả Huế một thời, mà tôi nhớ thêm: các nhà văn Bửu Kế, Phan Khoang…; các nhà thơ Phan Văn Dật, Nguyễn Anh, Tô Kiều Ngân…; nhà khảo-cứu Bửu Cầm; hoạ-sĩ Phi Hùng; nhà dựng kịch Lê Hữu Khải; các kịch-sĩ Vũ Ðức Duy, Vĩnh Phan, Minh Mão, Hà Nguyên Chi…; các nhạc-sĩ Nguyễn Hữu Ba, Lê Quang Nhạc, Ưng Lang, Hoàng Thi Thơ, Lê Tất Vịnh, Hoàng Nguyên…; các ca-sĩ Minh Trang, Thanh Nhạn, Tôn Thất Niệm, Ngọc Cẩm–Nguyễn Hữu Thiết, Bạch Yến, Thiện Nhân, Hương Việt, Diệu Hương…

Tôi không gặp lại Phương Như, Bằng Trình của Huế, Anh-Ðộ Ðỗ Cẩm Khê của Ðà-Nẵng, và mất liên-lạc với Huyền-Chi từ sau khi nàng lấy chồng. Trước đó, bóng người áo trắng Kiều-Ngọc đã vuột khỏi tầm tay tôi.

Nhưng tôi vẫn còn nhớ rõ buổi hoàng-hôn ấy tôi lái xe Lambretta-2-bánh chở Trần Dạ Từ từ khách-sạn Khê-Ký lên Bến-Ngự để anh gặp Nhã Ca, và buổi sáng chủ-nhật kia Hy Văn Mộng đến nhà tôi chơi bị cháu nhỏ tè ướt cả quần khi anh bế nó lên hôn.

Có những bạn thân không còn, hoặc còn nhưng phai thân…

Nhưng Vi-Khuê thì vẫn còn là một người bạn thân. Cuả vợ+chồng chúng tôi.

Trong cuốn lưu-bút “Kỷ-Niệm Vàng” mà tôi giữ kỹ, bây giờ vẫn còn tờ giấy bạc “anh gánh dưa” một đồng mới toanh mà Vi-Khuê đã ký tặng mừng tuổi tôi vào dịp Tết năm nào.

Hình-ảnh ấy càng đậm nét khi nàng đưa Vân-Anh, cả hai phất-phơ tà áo màu qua cánh đồng An-Cựu vàng rực mùa lúa gie, đến thăm tôi vào thuở ban đầu, để rồi sau đó thì nàng làm chứng-nhân cho cuộc lễ thành-hôn của tôi với người bạn thân ấy của nàng.

*

Giờ đây Thành-Phố Huế đã bị giáng bậc xuống làm Thị-Xã, tước mấtngoại-trừ về phần văn-hóa và lịch-sử cái địa-vị thủ-phủ của Miền Trung; hoa-khôi Ðồng Khánh ngày càng hiếm-hoi; Ðài Huế xuống cấp làm Ðài Tỉnh nhỏ; các xướng-ngôn-viên và ca-sĩ chỉ gợi tiếc những giọng oanh vàng và hương sắc ngày xưa…

Ðệ-Nhất Cộng-Hoà thế kia, Ðệ-Nhị Cộng-Hoà thế này. Mỗi chế-độ có những vấn-đề khác nhau, nhưng đều giống nhau ở vận nước chông-chênh.

Liệu những biến-thiên của cuộc đời sẽ còn đem lại những đổi thay nào khác nữa cho Đồng-Bào, cho Quê-Hương?

Huế vẫn còn đây, Ðài Huế vẫn còn đây, và tôi trở về ngồi đây.

Nhưng tôi không còn tìm thấy lại được, sau mỗi chặng đườngcũng vẫn gian-nan một mình chống-chọi với ma-quỷ còn sót lại trong thời buổi mớisự thanh-thản, dù trong chốc-lát, cho tâm-hồn mình, như những ngày nào xa xôi…

LÊ XUÂN NHUẬN  




ĐẠI-TÁ BA-LAN KONELSKO

       KONELSKO thường đến thưởng-ngoạn phong-cảnh tại Chùa Non-Nước, một kỳ-quan của Ðà-Nẵng–Quảng-Nam.

Ở đây có chùa Phật-Giáo với các nhà-sư; có động thạch-nhũ; có hang sâu; có thủ-công-nghệ biến đá non thành đồ dùng và đồ trang-trí đẹp, lạ và quý; có nhiều lối đi quanh-co vắng-vẻ thích-hợp với những cuộc hẹn-hò riêng-tư.  Ban ngày thì khách du-lịch, khách hành-hương, và khách vãng-cảnh tới+lui tấp-nập.  Một số cư-dân địa-phương sống nhờ bằng nghề buôn bán thức ăn, thức uống, nhang, đèn, trầm, đồ chơi, đồ kỷ-niệm; chuyên-chở và giữ xe.  Ban đêm thì cả vùng im-lặng, vắng hoe; có tin là Việt-Cộng giả-dạng thầy-tu thỉnh-thoảng có đến hoạt-động trong khu-vực này.

TÔI đi thăm Chùa Non-Nước, có để ý thấy ở vùng chân núi, gần bãi đậu xe, có một tu-sĩ trẻ tuổi  hay chỉ là một thanh-niên cạo trọc đầu  mặc bộ đồ vàng của nhà-sư, thường lảng-vảng xung quanh.  Có tin nói rằng đó là một người điên; lại có tin cho rằng đó là một phần-tử trốn quân-dịch; nhưng tôi không có lý-do gì hoặc cơ-hội nào thuận-tiện để xét hỏi giấy-tờ, lý-lịch của anh-ta; vì anh-ta mặc-nhiên là một nhà tu-hành ở chùa, hơn nữa, chưa có hành-vi gì sai+trái.

Chúng tôi tránh gây bất-bình cho các giáo-hội, đoàn-thể, quan-nhân.  Ni-sư Huỳnh Liên là một tay sai của Việt-Cộng ở giữa Thủ-Ðô Saigon, hoạt-động công-khai, mà cả guồng máy đầu-não của hệ-thống An-Ninh Tình-Báo trung-ương trong đó còn chưa thể làm gì được, huống gì.

MỘT buổi chiều nọ, Konelsko đi Chùa Non-Nước.

Theo báo-cáo của Toán Ðặc-Nhiệm theo dõi Ủy-Hội Quốc-Tế thì ông-ta có lời-lẽ hay cử-chỉ khiếm-nhã thế nào đó đối với một số người địa-phương, nên nhà-sư trẻ tuổi kia mới đến dùng tiếng Anh cãi-vã với ông-ta; cuối cùng, viên đại-tá Trưởng Phái-Ðoàn Ba-Lan phải trở vào xe giục tài-xế lái chạy để khỏi bị nhà-sư tấn-công; nhưng nhà-sư ấy vẫn rượt đuổi theo, dùng tay và răng xé nát lá cờ Ủy-Hội Quốc-Tế (ICCS) cắm trước đầu xe.

Nhân-viên của tôi là nhân-viên chìm, không có quyền-hạn can-thiệp vào những việc đó.

Tìm hiểu, chúng tôi được biết tên thật của nhà-sư kia là Nguyễn Văn Ðồng.  Anh-ta tuy còn trẻ tuổi nhưng có tư-tưởng cấp-tiến về nhiều vấn-đề đương-thời.

Chúng tôi tin rằng trong vụ đụng-chạm với nhà sư trẻ tuổi ở Chùa Non-Nước, phần lỗi về phía Ðại-Tá Konelsko.

Ông-ta đã từng kiếm cách gây sự với Chính-Quyền địa-phương.

Vụ từ-khước treo quốc-kỳ Việt-Nam Cộng-Hòa vào ngày quốc-khánh của ta (xem bài “Ngày Quốc Khánh 1-11-1973”) được xem là thái-độ khẳng-định lập-trường chính-trị của cả hai đảng cộng-sản Ba-Lan và Hung Gia Lợi, bất-chấp lễ-tục ngoại-giao.

Konelsko cũng trực-tiếp chọc ghẹo chúng tôi.

Có một lần ông-ta đi bộ dạo phố; trên đường Nguyễn Thị Giang, ông-ta nhét vào hộp thư Bưu-Ðiện dọc đường một bì thư, dăm phút trước giờ Bưu-Tín-Viên đến lấy thư mang về Bưu-Cục.  Nhân-viên giám-thị báo-cáo là sau đó ông-ta đã đến đứng nấp sau một góc đường quan-sát xem thử mật-viên  mà ông-ta tin là đã theo dõi, có thấy ông-ta bỏ bì thư vào  có đến hỏi thăm về bì thư kia hay không.

MỘT lần kia, Konelsko đi dạo phố chơi.  Ông-ta đã bị kẻ gian rút mất cái bóp.  Sau đó, ông-ta tiết-lộ với cô Lan là sẽ nêu vụ này ra trước phiên họp chung với Phái-Ðoàn Việt-Nam Cộng-Hòa trong Ban Liên-Hợp Quân-Sự (lý-thuyết là 2-Bên, nhưng thực-tế chỉ là 1-Bên, vì Việt-Cộng không đưa đại-diện đến làm việc trong Ban này).

NGUYỄN-THỊ-LAN là một thiếu-nữ đẹp, ký-sự tại khách-sạn “Hồng Kông” do Hãng Thầu thuê riêng cho hai Phái-Ðoàn cộng-sản ở, phụ-trách tiếp-nhận để đáp-ứng các nhu-cầu của khách trọ liên-quan đến các vấn-đề chỗ ở, đồ ăn, thức uống, vệ-sinh, giặt+ủi, xe-cộ, tài-xế, thư-từ, khách-khứa, v.v…  Nói tiếng Anh giỏi, kiến-thức khá, thông-minh, lanh-lợi, thùy-mị, duyên-dáng, bặt-thiệp, tháo-vát, cô Lan được mọi thành-viên của cả hai Phái-Ðoàn nói trên mến chuộng.  Nhưng, lẽ thường-tình, đã có các Trưởng Phái-Ðoàn là sĩ-quan cao-cấp, lại có các thông-dịch-viên  là thành-viên quan-trọng, vì luôn luôn gần-gũi với thượng-cấp cũng như các giới-chức cao-cấp đại-diện các quốc-gia hoặc tổ-chức khác  nên các thành-viên khác chỉ tiếp-xúc/nhờ-vã Lan trong những việc bình-thường mà thôi; còn chuyện tâm-tình nam-nữ thì hiển-nhiên chỉ dành cho các Trưởng Phái-Ðoàn và các thông-dịch-viên  vốn hay lợi-dụng cơ-hội để chiếm nhiều thì-giờ trò-chuyện làm thân với Lan hơn.

Thông-Dịch-Viên của Phái-Ðoàn Ba-Lan lúc đó là Interski.  Anh-ta là một thanh-niên đẹp trai, tất-nhiên nói giỏi tiếng Anh, giao-tiếp rộng, hiểu biết nhiều, hào-hoa phong-nhã.  Những lúc làm việc thì anh-ta mặc quân-phục với cấp-bậc trung-úy; nhưng tin-tức điệp-báo cho biết anh-ta là một cán-bộ tình-báo xuất-sắc, được KGB của Liên Xô đào-tạo.  Tôi tin điều đó là đúng sự thật, nhưng rất ngạc-nhiên vì chính anh-ta… đã phạm rất nhiều sơ-hở.  Trên thị-trường Ðà-Nẵng có nhiều loại hàng tơ lụa rất đẹp, rất tốt, của các nước tư-bản nhập vào; kỹ-thuật may-đo của người Việt-Nam rất cao, và tiền công tương-đối rẻ.  Interski đã ra phố đặt may khá nhiều áo quần hợp thời-trang; và may cả quân-phục bằng hàng Tây-Phương, màu thổ-huỳnh, màu ô-liu, và cả màu trắng nữa.  Dân-chúng địa-phương hầu như không để ý gì, vì họ xem chung mọi người ngoại-quốc đều là ngoại-nhân, ăn mặc thế nào là việc riêng của quân-đội quốc-gia liên-hệ; song cấp chỉ-huy trực-tiếp là Ðại-Tá Konelsko thì mặc-nhiên chấp-thuận  hay là chịu đựng  cho thông-dịch-viên của Phái-Ðoàn mình lần này thì mặc đồ Bộ-Binh, lần sau thì khoác áo Hải-Quân, và lần sau nữa thì đội lốt Không-Quân!

Trong phòng-khách khách-sạn “Hồng Kông”, tối nào các Trưởng Phái-Ðoàn và Sĩ-Quan Ðiều-Hành cùng thông-dịch-viên của cả hai Phái-Ðoàn cũng chiếm mấy cái ghế bên quầy rượu ở chỗ gần cô Lan nhất, ngoại-trừ những khi có người nào bận việc gì khác thì mới vắng mặt.  Và thường thường thì về khuya chỉ còn lại một người, khi thì người này, khi thì người kia, rỉ-rả chuyện-trò với cô Lan.  Ðó là lúc mà Lan có thể hỏi dò gần xa những điều mà tôi muốn biết, đồng-thời thổ-lộ những điều mà tôi muốn cho họ biết.  Tôi muốn tìm hiểu và điều-khiển ý-nghĩ và tình-cảm của họ.

SAU khi được Lan báo-cáo rằng Konelsko có ý-định bêu xấu Chính-Quyền Việt-Nam Cộng-Hòa đã để xảy ra vụ móc túi giữa ban ngày trong thành-phố, tôi liền phản-công ngay.  Tôi nhờ Biệt-Ðội Hình-Cảnh thuộc Bộ Chỉ-Huy Cảnh-Lực Thị-Xã Ðà-Nẵng truy-tầm  và bộ-phận này đã thu-hồi lại được và giao cho tôi cái bóp của ông-ta.  Tôi liền cho nhân-viên viết một bức thư bằng chữ Anh, bỏ vào phong bì, đề gửi cho Ông Konelsko.  Cái bóp và bức thư ấy được giao cho Lan cùng với chỉ-thị thi-hành.

Khi Konelsko đi chơi về thì Lan đưa riêng cho ông-ta cái bóp và bức thư; Lan nói là của một người đem đến, dặn đưa riêng cho Ô. Konelsko.  Ông-ta vội-vã nhét cái bóp vào túi quần và bức thư vào túi áo, rồi đi nhanh lên buồng ngủ; chắc-chắn là để kiểm-soát lại bên trong cái bóp và đọc bức thư.

Kính gửi Ông Konelsko,

Tôi gửi trả lại Ông cái bóp và tất cả những gì vốn có trong đó của Ông.

Ðừng hỏi tôi là ai, lấy cái bóp của Ông ở đâu, lúc nào, cách nào, và để làm gì.  Vì nếu trả lời rằng tôi là kẻ móc túi, móc lấy cái bóp ở người có bóp, vào lúc người ấy thì không cảnh-giác mà tôi thì cũng run-sợ, để có chút tiền dùng tạm cho bản-thân…, thế thì: trên mặt đất này hiện có những kẻ cấu-kết với nhau thành một đảng lớn, dùng vũ-lực và bạo-lực công-khai chiếm-đoạt hết tài-sản của toàn-dân toàn-quốc, còn ngang-nhiên bóc-lộc sức lao-động và trắng-trợn tước-đoạt hết tự-do, nhân-phẩm và quyền làm người của mọi người, để xây-dựng một chủ-nghĩa không-tưởng, trong đó Ông là một thủ-phạm đồng-thời cũng là một nạn-nhân (vì Ba Lan cũng là nạn-nhân của Nga-Xô) thì, giữa tên móc túi hèn-mọn và lũ đạo-tặc ngạo-mạn, Ông kết tội ai?

Nhưng thôi, tôi không triết-lý rẻ tiền.

Ông chỉ cần tự hỏi:

Nếu cấp-trên và cơ-quan tình-báo của Ông biết được vụ này, thì Ông sẽ phải trả lời thế nào, vì đã để cho ít nhất là một số giấy-tờ cá-nhân trong cái bóp ấy lọt vào tay người ngoài, và biết đâu người-ta sẽ không nghi-ngờ là Ông giả-vờ sơ-ý để bị móc túi, một cách để gián-điệp địch đóng vai kẻ móc túi mà tiếp-nhận những gì của Ông cố ý trao cho…

TỐI ấy, Konelsko xuống phòng-khách muộn.  Hẳn-nhiên ông-ta đã suy-nghĩ nhiều về nội-dung bức thư.  Vấn-đề không phải là Cảnh-Sát Việt-Nam Cộng-Hòa, mà là thông-dịch-viên dưới quyền của ông-ta.

        Và thế là Konelsko không còn tinh-thần nào để đòi phàn-nàn Việt-Nam Cộng-Hòa về nạn móc túi giữa đường.

TÔI mới móc nối được các nhân-viên của Hãng Thầu sau ngày tôi đến Vùng I (26-9-1973), nhưng họ đã làm việc ở khách-sạn “Hồng Kông”, nghĩa là đã tiếp-xúc với các thành-viên Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi, từ sau Hiệp-Định Paris (27-1-1973), tám tháng trước rồi.  Thời-gian ấy hẳn đã đủ cho Ðại-Tá Konelsko, là Trưởng Phái-Ðoàn Ba-Lan, Ðại-Tá Guy Nagy, là Trưởng Phái-Ðoàn Hung-Gia-Lợi, và thông-dịch-viên Interski của Ba-Lan, có thể bạo-dạn để tỏ tình với cô Lan.  Ðối với các vũ-nữ, chiêu-đãi-viên phòng trà, chỉ cần một chầu nhảy, một chầu uống, đôi khi chỉ cần một người trung-gian giới-thiệu, là ai cũng có thể có được một người bạn dục-tình chốc-lát hoặc qua đêm.  Nhưng đối với cô Lan, một mẫu người đoan-trang thanh-khiết, các cây si ngoại-quốc ấy không thể nào mời được Lan đi chơi; dù liều-lĩnh lắm cũng không thể nào cầm được bàn tay của cô-ta.  Càng gặp khó-khăn, tình-cảm của họ càng tha-thiết; họ làm đủ cách để chinh-phục trái tim của Lan, kể cả nói hết từ chuyện cá-nhân, chuyện gia-đình, đến chuyện xã-hội, chuyện chế-độ.  

Tôi thì chỉ cần có thế.  Những vụ Nga-Xô đem quân qua Vác-Xô-Vi, Buy-Ða-Pét, từ thập-niên 1950, tước-đoạt chủ-quyền của Ba-Lan, Hung-Gia-Lợi, được Lan nêu ra như là một thắc-mắc của người ngoài cuộc; bên ngoài là để được nghe ý-kiến của người trong cuộc xem thử có gì khác với dư-luận Tây-Phương hay không; nhưng bên trong là để khơi dậy tinh-thần dân-tộc, lòng ái-quốc ở những con người vốn luôn luôn nói đến nghĩa-vụ và quyền-lợi của người dân, và không quên tự cho mình là thành-phần tiên-tiến.  Khi tìm hiểu đời sống bên trong bức màn sắt, Lan đã nhắc-nhở xa gần đến cảnh ngược lại trên phần đất tự-do của thế-giới ngày nay.

Trước người đẹp, các người đàn-ông đều muốn tỏ ra là mình nổi bật hơn người khác về mặt này hay mặt kia.  Lan đã lợi-dụng nhược-điểm ấy để tạo nên một không-khí căng-thẳng giữa Konelsko và Inteski.

Viên đại-tá thì đã có lần nói thẳng với Lan: “Nó ở dưới quyền của tôi, tôi có thể tống-khứ nó đi nơi khác bất-cứ lúc nào!”

Còn viên thông-dịch thì cũng đã có lần hé lộ với Lan: “Tôi chẳng sợ gì ông- ta; ông-ta không làm gì tôi được đâu, mà trái lại là đằng khác!”

KONELSKO dặn Lan đừng nói với ai về việc ông-ta bị mất cái bóp.  Ông-ta nói rằng đã được trả lại rồi thì xem như không hề bị mất.  Ngần-ngại một lát, ông-ta hỏi: “Lúc cái bóp và bức thư được đưa đến, có ai thấy không?”

Cô Lan biết rõ là ông-ta rất sợ bị Interski trông thấy; nếu thấy, anh này sẽ hỏi và sẽ biết, và sẽ đặt vấn-đề y như “tên móc túi” đã viết trong bức thư.

Lan giả vờ cố nhớ lại, rồi đáp: “Không.”

Konelsko có thể nghĩ là Lan giấu mình; nhưng ông-ta cũng có thể nghĩ là cô-ta nói thật, song vẫn có thể là cô-ta sẽ kể lại cho viên thông-dịch nghe.

Như thế thì ông-ta càng cần phải mua chuộc cảm-tình của cô-ta hơn.

Nhờ đó, Lan củng-cố thêm cái lợi-thế của mình.

TÔI cho báo tin cho Lan biết về vụ lá cờ Ủy-Hội Quốc-Tế bị xé ở Chùa Non-Nước, và chỉ-đạo cách hành-động cho Lan.

Khi Ðại-Tá Konelsko trở về khách-sạn thì lá cờ rách không còn.  Chắc hẳn ông-ta đã cho ngừng xe dọc đường mà lấy giấu đi rồi.  Cờ thì còn nhiều trong tủ, cũng như quốc-kỳ hai nước, băng đeo tay áo: cần thì lấy dùng, không ai để ý.  Cuối tuần, cũng như ngoài giờ làm việc, ai muốn đi đâu thì đi; và lần này thì viên đại-tá chỉ đi một mình nên không có thành-viên nào khác chứng-kiến việc xảy ra.  Nhưng ông-ta vẫn sợ viên tài-xế kể lại rồi đến tai viên thông-ngôn.  Ông-ta không tiện dặn-dò gì viên tài-xế, vì ông-ta không muốn tỏ lộ là mình lo-ngại về việc xảy ra; hơn nữa, tài-xế là của Hãng Thầu phái đến, ông-ta không có quyền gì đối với người ấy, khi mà người ấy không phạm lỗi gì.

TỐI đó, cô Lan phải khơi chuyện trước, vì Konelsko tưởng là cô-ta không biết nên không đả-động gì.  Khi Lan hỏi về chuyện gì đã xảy ra, thì ông-ta hỏi lại là cô-ta đã nghe những gì.  Thế là Lan tha-hồ bịa chuyện.  Theo lời Lan kể thì người hàng-xóm làm nghề chở thồ xe Honda-2-bánh tình-cờ có mặt tại chỗ và đã nghe thấy đầu đuôi mọi sự:  

Lúc đầu, viên đại-tá Ba-Lan hỏi những người làm nghề linh-tinh quanh bãi đậu xe: sao không lập thành Nông-Hội, đòi hỏi nhà-nước cấp đất  vì đất bỏ hoang còn nhiều  để trồng-trọt, chăn nuôi, sản-xuất.  Có người trả lời là muốn làm nông thì phải ở vùng ngoại-ô; mà ở vùng vắng thì bị Việt-Cộng cưỡng-thu sản-phẩm, bắt đi tải đạn, đào đường chôn mìn, đời sống bất-an.  Ông-ta lại hỏi những người chở thồ xe Honda sao không lập thành Công-Ðoàn, phân-định phiên chuyến đón khách, đảm-bảo quyền-lợi công-bằng.  Có người trả lời rằng đây là nghề tự-do, ai cần nhiều tiền thì chở nhiều chuyến, ai muốn nghỉ-ngơi thì dù được trả nhiều tiền cũng không nhận lời; vả lại, hành-khách gặp đâu đón đó, đâu cần đến bến.  Ông-ta liền chê là xã-hội này vô-tổ-chức, con người ở đây vô-kỷ-luật.  Do đó, nhà-sư trẻ tuổi mới lên tiếng can-thiệp.  Vị tu-sĩ nói:  “Tổ-chức và kỷ-luật là để tạo nên trật-tự hài-hòa trong đó con người có tự-do và hạnh-phúc, chứ không phải để thủ-tiêu tự-do và tước-đoạt hạnh-phúc của con người như trong xã-hội cộng-sản.  Người cộng-sản như các ông thì làm sao mà hiểu được cái quy-củ đa-nguyên của cuộc đời.  Chính những lề-lối tưởng như vô-trật-tự đó chính nó mới là trật-tự nhân-bản và trường-cửu.”

Người cộng-sản Konelsko lâu nay chỉ học lý-thuyết Mác+Lê một chiều, hôm nay mới nghe những tư-tưởng lạ, chưa biết đối đáp ra sao, thì nhà-sư trẻ tuổi đã dồn-dập chất-vấn:  “Các ông là Ủy-Hội Quốc-Tế Kiểm-Soát Ðình-Chiến, tại sao Việt-Cộng pháo-kích vào khu dân-cư, đặt chất nổ giết hại đàn-bà và trẻ-con vô-tội, các ông đã đến tận nơi, đã thấy tận mắt, mà các ông không lên án, không cảnh-cáo, cũng không chịu ký tên vào biên-bản ghi-nhận sự-kiện, mặc dù các thành-viên Ba-Tư và Nam-Dương đã ký?”  Viên đại-tá Ba-Lan đáp lại:  “Chúng tôi có đường-lối chính-sách của chúng tôi, mọi người làm việc trong tinh-thần kỷ-luật, theo hướng chỉ-đạo của tổ-chức…”  Người thanh-niên trong lớp áo tu-hành giận dữ thét lên:  “Thế nghĩa là các ông không cần kiểm-soát, giám-sát gì cả!  Ðầu óc của các ông đầy định-kiến, và việc làm của các ông đã được tiền-chế: bất-cứ việc gì xảy ra cũng là do lỗi của phía Quốc-Gia; bao giờ Việt-Cộng cũng đúng!  Vậy thì sự hiện-diện của các ông ở đây là thừa: các ông hãy cút ra khỏi đất nước này đi!”  Ðại-Tá Konelsko dịu giọng, đưa hai bàn tay ra trước, ra vẻ khẩn-cầu người đối-diện hãy bình-tĩnh:  “Tôi rất thông-cảm nỗi lòng của ông, nhưng hiện nay tôi không thể làm gì khác được…”  Nghe thế, nhà sư trẻ tuổi…

Ngang đây, viên đại-tá Ba-Lan không chịu nổi nữa, nhăn mặt, lắc đầu, cắt lời cô Lan:  “Không đúng sự thật! Tôi không nói thế!”  Lan cũng đưa tay chận lại:  “Nhưng người-ta kể lại với nhau như thế!”

Cả hai nhìn nhau: Konelsko thì vừa tức-bực, vừa lo-lắng, Lan thì làm như thành-thật chia sớt nỗi ưu-phiền của ông-ta.

Im-lặng một lát rồi viên đại-tá đành phải nói ra điều mà ông-ta bận-tâm:  “Interski đã biết gì về chuyện này chưa?”  Cô Lan chưa nghe gã thông-dịch-viên ấy nói gì, nhưng chụp dịp may để thực-hiện mục-đích của mình:  “Anh ấy có hỏi tôi xem đại-tá đi đâu, làm gì, có gì đặc-biệt không?”

Konelsko cố gắng đè-nén nhịp thở:

  Rồi cô nói sao?

  Tôi nói là đại-tá đi chơi như mọi lần, không có gì khác lạ cả.

Viên Trưởng Phái-Ðoàn Ba-Lan thở ra một hơi dài nhẹ nhõm.  Ông-ta quên mất thái-độ giữ ý của cô Lan, đặt tay lên tay cô-ta biểu-lộ lòng cám ơn; nhưng Lan đã rút tay lại.  Cô-ta đã nắm được cái thế chủ-động cần-thiết, nên phát-biểu thẳng thừng:

 Cấp-dưới mà dò xét cấp-trên; làm lớn mà vẫn bị nghi-ngờ!

Sau đó là lần lần một số tin-tức quan-trọng về nội-tình Ðảng, Nhà-Nước, và Quân-Ðội Ba-Lan, kể cả mối quan-hệ giữa Ba-Lan với Nga-Xô và các nước cộng-sản khác, Liên-Minh Quân-Sự Vác-Xô-Vi, đã được cô Lan thu-thập trực-tiếp từ miệng của Konelsko cũng như Interski.

NHỮNG tin-tức tình-báo ấy không có giá-trị khai-dụng đối với Việt-Nam Cộng-Hòa, nhưng rất hữu-ích đối với Người Bạn Ðồng-Minh của tôi.  

Ðể có thể đi sâu và tiến xa hơn, tôi gợi ý cô Lan giả-vờ chấp-nhận làm bạn tâm-tình với Ðại-Tá Konelsko.

Tôi thấy rõ cô-ta đã rán tự-chế-ngự để vẫn giữ lễ-phép từ-khước ý-kiến của tôi.  Bạn tâm-tình không phải là bạn dục-tình.  Nhưng theo lối sống châu Âu của viên đại-tá Ba-Lan, dù là cộng-sản, thì ông-ta cần có một bạn gái; để chia-sẻ tâm-tình thì một phần, mà để trao-đổi dục-tình thì toàn-phần.  Ðiều mong ước của ông-ta là có được một bạn gái dành riêng cho mình, có nhan-sắc nổi bật, và có xuất-xứ lương-hảo, để có thể hãnh-diện với mọi người xung quanh.  Ngược lại, trong bối-cảnh xã-hội Miền Nam Việt-Nam đương-thời, tuy có một số bị ảnh-hưởng của văn-hóa Âu Tây, nhưng phần lớn vẫn còn thấm-nhuần luân-lý Á-Ðông, cô Lan không thể có một cử-chỉ nào thân-thiết hơn đối với người đàn-ông con-trai nào, nhất là người nước ngoài  ngoại-trừ trường-hợp cô-ta thật-sự yêu.  Ít nhất thì cũng có vài ba nhân-viên người Việt-Nam làm việc trong khách-sạn; nhất-cử nhất-động đều bị dòm ngó, dùng làm đề-tài kháo miệng với nhau, người con-gái khó kiếm được chồng đường-hoàng trong tương-lai.

Tôi quý mến tính-tình đứng-đắn của Lan, và tôn-trọng quyết-định của cô-ta trong vấn-đề này.  Tôi bằng lòng giới-hạn sự giao-tiếp của cô-ta trong chừng-mực ấy mà thôi, mặc dù như thế thì công-tác khó thể tiến xa hơn.

NHƯNG đối với Konelsko thì tôi vẫn đẩy ông-ta đi xa hơn.  Ông-ta phải ly-khai và chống lại Ðảng Cộng-Sản Ba-Lan, Khối Cộng-Sản Quốc-Tế.  Không phải bằng cách công-khai xin tị-nạn chính-trị, tức là hồi-chánh, mà là bí-mật tiếp tay với Thế-Giới Tự-Do từ trong lòng kẻ thù.  Lòng tự-ái dân-tộc là yếu-tố tinh-thần.  Phương-tiện sống là yếu-tố vật-chất.  Có thêm tình-cảm cá-nhân nữa là đủ.  

Ðể đánh dấu chặng đường cô Lan đã đi được, sáng hôm sau cô-ta gọi điện-thoại đến trụ-sở Ủy-Hội Quốc-Tế hỏi ý-kiến viên đại-tá Ba-Lan xem ông-ta có cần sửa-chữa gì hệ-thống điện+nước trong buồng riêng không, vì có thợ đến làm việc.  Ðó là một ngụy-thức do chính Konelsko đặt ra, để cô Lan cho ông-ta biết gấp những gì liên-quan đến ông-ta.  Lát sau, Konelsko trở về khách-sạn một mình.  Lan nói:  “Có một ký-giả Việt-Nam đến xin gặp riêng để phỏng-vấn đại-tá về vụ lá cờ chiều qua.”  Konelsko sửng-sốt, không kịp nhận ra là từ trước đến nay chưa hề có một ký-giả Việt-Nam nào tìm gặp Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi cả.  Ông ta vội-vàng xua tay:  “Không được đâu! Cô nói giùm là tôi rất bận; tôi sắp phải bay đi nhiều nơi trong nhiều ngày.”

Cô Lan rót một ly rượu để lên mặt quầy, nói  “Tôi mời ông” rồi ra dấu cho viên đại-tá Ba-Lan chồm đến gần, nói nhỏ:  “Tôi có thể giúp ông, vì ở đây chỉ có một ký-giả ấy mà thôi, và tôi có quen anh-ta.”

 Vâng, cô giúp tôi.

 Nếu không thì dư-luận sẽ bàn-tán ồn-ào, đến tai cơ-quan tình-báo và cấp-trên của ông: ông sẽ bị quy chụp nhiều khuyết-điểm.  Ông là một nhân-vật quan-trọng, đại-diện Cộng-Sản Quốc-Tế, mà khi đối-đáp với một phần-tử “phản-động” tầm-thường đã không vận-dụng được lý-thuyết Mác+Lê để đánh bại tư-tưởng thù-nghịch, lại còn phát-biểu là rất thông-cảm với tâm-trạng của kẻ chống mình…

Konelsko phác một cử-chỉ:  “Nhưng…”

Nhưng Lan đã vội cắt lời:  “Vâng, tôi biết, tôi biết là đại-tá sẽ nói là đại-tá không hề có những lời-lẽ như thế.  Tuy nhiên, có ai bênh-vực đại-tá đâu?  Ở đây ai cũng tin là Ðại-Tá Konelsko đã sống thành-thật với mình…”

Cô Lan đặt tay lên bàn tay của viên Trưởng Phái-Ðoàn Ba-Lan, làm ông-ta mất tự-chủ.

Cô-ta nói tiếp:  “Tôi hiểu trong thâm-tâm đại-tá cũng muốn nói như thế, còn muốn nói nhiều hơn thế nữa.  Cuộc đời của đại-tá đâu phải chỉ quanh-quẩn trong chừng đó khuôn khổ.  Những trói buộc khắt-khe nhân-danh tập-thể thực ra đâu có hủy-diệt được ý-hướng tự-do trong tiềm-thức và cả ý-thức của mỗi một con người.  Ông hãy nói, ông hãy khẳng-định với tôi đi, ông có phải là một con người yêu Tự-Do, quý Tự-Do, hay không?”

Konelsko gật đầu.

Lan chộp lấy:  “Ðấy, ông gật đầu, ông xác-nhận.  Có thế chứ.  Tôi rất kính trọng những người biết trọng Tự-Do như ông.  Ðó là lý-do tại sao tôi không thích Interski:  anh-ta mù-quáng, bị lợi-dụng làm công-cụ cho một thiểu-số để kìm-kẹp đồng-bào của mình.  Nhưng, nghĩ cho cùng thì ở trên Cấp Trên trung-ương của anh-ta còn có cả một hệ-thống siêu-quyền-lực quốc-tế, nghe nói là KGB gì đó, phải không Ðại-Tá Konelsko?”

Konelsko đáp:

 Vâng, KGB là cơ-quan tình-báo của Liên-Xô.

Cô Lan mời:  “Ðại-tá uống thêm một ly nữa?”  Viên đại-tá Ba-Lan từ-chối:  “Không, tôi đang trong giờ làm việc.”

Lan tiếp:

 Ông có nghĩ rằng sẽ có một ngày tình-hình sẽ tốt-đẹp hơn không?

Konelsko đáp:

 Có chứ!

Lan nhìn thẳng vào mắt ông-ta, nói khích:  “Nghĩ như thế là một việc, mà có góp phần vào việc thay đổi như thế hay không lại là một việc khác!”

Viên Trưởng Phái-Ðoàn Ba-Lan nghiêm mặt:  “Cô đánh giá tôi như thế nào?”

Cô nữ-thư-ký khách-sạn vội bóp mạnh trên mu bàn tay ông-ta:  “Thế là đủ!”

Chưa bao giờ ông-ta thấy được một nụ cười rạng-rỡ như hôm nay, một nụ cười đơm trên môi mà còn tỏa ra trên mắt và nở khắp trên khuôn mặt duyên-dáng của Lan.

Cô-ta đưa tay xuống dưới mặt quầy, bấm tắt cái máy thu-phát-thanh tí-hon.

Bên ngoài chúng tôi đã thu đầy-đủ các lời đối-thoại vừa rồi.

TRONG lúc đó, tôi đi với Ðại-Úy Trần Văn Phú, Phó Chỉ-Huy Liên-Ðội Thám-Sát Ðặc-Biệt thuộc quyền tôi, đến bệnh-viện Tây Ðức, giả-vờ xin khám bệnh để quan-sát và chấm trước vài cô trong số các nữ-y-tá Cộng-Hòa Liên-Bang Ðức, mà Phú  một tay bay-bướm  đã quen biết và giới-thiệu với tôi.

Các cô này có đặc điểm là dễ-dàng thỏa-mãn dục-tình của người bạn trai; do đó, tuy giúp giải-quyết nhu-cầu sinh-lý tạm-thời cho Konelsko, song không có đủ sức nặng trong chiều sâu tâm-tình cá-nhân. 

Tuy nhiên, họ có ưu-điểm là người ở nước láng-giềng, nếu cần thì dễ thông-tin liên-lạc với nhau hơn.  Họ sẽ là những viên đá lót đường trong lúc chờ-đợi tôi tìm một Lan-thứ-hai cho Konelsko.

TRONG số những con mồi mà tôi đích-thân chấm-định, tôi đã lựa chọn cô Angela.

        Là một thiếu-nữ Việt-Nam lai Ấn, có quốc-tịch Pháp, nhân-viên của Hãng Hàng-Không “Air America” ở phi-trường Nha-Trang, Angela có sắc đẹp mặn-mà, có phong-thái Tây-Phương, có sức thu-hút đàn-ông ngay phút gặp mặt đầu tiên, đã từng giúp tôi  thời-gian tôi còn điều-khiển Đặc-Cảnh tại Vùng II  phụ phần nghe-ngóng quan-sát, để phá vỡ trọn ổ một tổ-chức bí-mật của quân-đội Phi-Luật-Tân buôn lậu súng Mỹ tồn-kho tại Nha-Trang.

Tôi tổ-chức cho Angela được thuyên-chuyển từ Nha-Trang ra, đến khách-sạn “Hồng Kông” làm thư-ký phụ cho cô Lan, và chuyển-giao hoàn-toàn điệp-vụ này cho Người Bạn Ðồng-Minh…

MỘT thời-gian sau, Konelsko ra tay trừ-khử Interski.

Viên thông-dịch bị trả về nước.

Còn viên đại-tá thì sau đó được thuyên-chuyển vào Saigon; cô Angela cũng được Hãng Thầu điều-động đi theo.

*

CUỐI năm 1974, Người Bạn Ðồng-Minh cho tôi biết là Ðại-Tá Konelsko mãn-hạn công-tác tại “chiến-trường Việt-Nam” đã về Ba-Lan và đã được thăng lên cấp tướng.

Một tháng trước ngày thất-thủ tiền-đồn Ðà-Nẵng của Việt-Nam Cộng-Hòa (29-3-1975), Người Bạn Ðồng-Minh đãi tiệc cơ-quan Ðặc-Cảnh Vùng I, để mừng một số thắng-lợi khác của chúng tôi. 

Trong lúc dự tiệc, Ðại-Tá Ferguson, viên-chức liên-lạc thường-nhật với tôi, đã ghé tai tôi nói nhỏ:

 Chúng ta đã thực-hiện được đường dây liên-lạc với Konelsko tại Vác-Xô-Vi rồi.

LÊ XUÂN NHUẬN   

GHI THÊM:

Lê Xuân Nhuận là người đầu tiên cài cấy điệp-viên của Thế-Giới Tự-Do vào 2 quốc-gia cộng-sản Ba Lan và Hung Gia Lợi xuất-phát từ Việt-Nam Cộng-Hòa.

Cảnh-Sát-Hóa

LE XUAN NHUAN



TIẾN-SĨ NGUYỄN XUÂN LẠI

Hồi-ký Lịch-sử

        Lần này ra Huế tôi ngẫu-nhiên gặp lại Nguyễn Xuân Lại, một người bạn thân đã cách xa nhau từ hồi tôi bị phát-vãng ra khỏi Miền Trung.

        Bây giờ Lại là giáo-sư, dạy Luật tại Viện Ðại-Học Sài-Gòn và một số Viện Ðại-Học khác.

        Chuyến này anh ra Huế dạy tại Viện Ðại-Học Huế.

       Khi đi ngang qua “Bót Cò” cũ, trước kia là trụ-sở của Ty Cảnh-Sát Thành-Phố Huế, nơi hai chúng tôi đã làm việc chung với nhau một thời-gian dài, cả Lại lẫn tôi đều hướng mắt nhìn vào.  

        Ở đó, chúng tôi đã có với nhau rất nhiều kỷ-niệm; nhưng cái kỷ-niệm đắng-xót nhất là cuộc tranh-luận giữa hai chúng tôi mà kết-quả là tôi lâm vòng gian-truân.

       Lúc nãy, khi mới gặp lại nhau, Thêm đã nói ngay là anh rất buồn vì việc đáng tiếc xảy ra cho tôi ngày xưa.  Giờ đây, có lẽ để xí-xóa chuyện cũ, anh nói qua chuyện mới:

        – Mình được mời làm Thứ-Trưởng, nhưng mình chưa nhận. 

        Sự tiết-lộ ấy đã khiến tôi suy-nghĩ nhiều .  

*

        Năm 1951, chính-quyền Quốc-Gia Việt-Nam ban-hành chế độ quân-nhiệm, theo đó các viên-chức Cảnh-Sát Công-An được xem là công-chức nên cũng bị lần-lượt động-viên. 

       Nguyễn Xuân Lại vào thụ-huấn tại Trung-Tâm Huấn-Luyện Sĩ-Quan Trừ-Bị ở Thủ Ðức; tôi vào làm việc tại Phòng Năm thuộc Bộ Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu ở Huế.

       Cuối năm 1956, mãn nhiệm-kỳ quân-vụ, tôi trở về Ty Cảnh-Sát Thành-Phố Huế và được cử giữ trách-vụ Trưởng Phòng Hành-Chánh kiêm Trưởng Phòng Huấn-Luyện.  Tôi cũng kiêm-nhiệm Trưởng Ban Tổ-Chức và Thuyết-Trình-Viên các Lớp “Học-Tập Chính-Trị và Công Dân Giáo Dục” mà nội-dung và phương-thức điều-hành được ông Cố-Vấn Ngô Ðình Nhu, bào đệ của Tổng-Thống Ngô Ðình Diệm, chỉ đạo cho toàn-quốc.

       Tiếp-tục đem hết tâm-sức ra phụng-sự một lý-tưởng mả tôi hằng mơ, nhưng ở trong cơ-quan Cảnh-Sát là nơi hằng ngày tiếp-cận với mọi giới đồng-bào, tôi theo-dõi tình-hình sinh-hoạt của quần-chúng trên mọi lĩnh-vực tại địa-phương, tôi mới dần dần biết thêm, dù chưa đầy đủ, những điều chướng tai gai mắt, và cả những điều bất-nhân thất đức, do một số thân-nhân, gia-nhân, và thuộc-hạ của Diệm gây ra.  Ðối với Ðảng Cần-Lao, đối với Ðạo Ky-Tô, cũng như đối với cả ba Ngành trong Chính-Quyền thời Ðệ-Nhất Cộng-Hòa, họ chỉ là thiểu-số; nhưng thiểu-số đó đã cậy thế họ Ngô mà giật dây các cơ-quan chấp-hành của chế độ, để áp-bức và hãm-hại lương dân, hầu thỏa-mãn tư-lợi hoặc tư-thù.

MỘT BUỔI LỄ CHÀO QUỐC-KỲ  

        Thuở đó, các công-sở và quân-cứ đều cử lễ Chào Quốc-Kỳ vào lúc bảy giờ rưỡi sáng mỗi ngày đầu tuần.  Nha Cảnh-Sát Công-An Trung-Nguyên Trung-Phần cho nhân-viên trực-thuộc sắp hàng chỉnh-tề trước sân trụ-sở Nha năm phút sớm hơn.

        Hôm ấy, toàn-thể viên-chức hiện diện đều vô cùng hoang-mang, và sau đó kể lại với mọi người sự-việc đã xảy ra. 

        Ô. Hồ Đắc Vang, Trưởng Ðội Biệt Ðộng thuộc Ty Cảnh-Sát Thành-Phố Huế, đem thuộc-hạ đến bao vây sân chào cờ tại Nha và gác chận trước đường, vào lúc đúng bảy giờ hai mươi lăm phút.  Vang ra lệnh điểm-danh và đóng cổng trụ-sở.  Lúc đó, Ô. Trần Văn Cư và Ô. Tôn Thất Dẫn, hai Chủ-Sự Phòng thuộc Nha, vừa đến nơi thì bị giữ lại bên ngoài.  Viên Giám-Ðốc Nha ấy liền đứng ra hứa sẽ phạt hai viên-chức kia, và xin cho họ được vào vì còn kịp dự lễ chào cờ.  Nhưng viên Trưởng Ðội thuộc Ty — là một nhân-viên dưới quyền và ở dưới nhiều cấp — đã không chấp-thuận.  Vang điều-khiển lễ thượng-kỳ, hát quốc-ca và “suy-tôn Ngô Tổng-Thống”, xong chở Cư và Dẫn đến báo-cáo nội-vụ lên Văn-Phòng của “Cậu”, tức ông Cố-Vấn Ngô Ðình Cẩn, bào đệ của anh em Diệm+Nhu.

        Vang là một trong số ít những phần-tử đến hầu “Cậu” thường-xuyên.

MỘT BUỔI HỌP TỐ KHỔ  

        Ô. Ngô Ðình Cẩn có một ngôi nhà nghỉ mát tại bãi bể Thuận-An. 

       Vì lý do an-ninh, chỗ nầy cách xa khu tắm bể của đồng-bào . Những ngày cuối tuần vào mùa hè, Cẩn thường về đó câu cá giải-trí.  Sợ “Cậu” câu cá một mình thì buồn, một số nhân-vật tín-cẩn, hoặc muốn được thân-cận, bèn cùng đến đó câu cá, mong tạo bối-cảnh thân-mật cho ông.  Trừ những người được ông sai phái hoặc giữ lại để chuyện-trò, số còn lại phải chọn chỗ nào không gần ông lắm ― vì sợ nếu ông không câu được cá mà bị kẻ khác ton-hót đổ lỗi câu giành với ông thì khốn ― đồng-thời họ cũng không đi quá xa, để vừa được ông nhận mặt là mình cũng có tham-gia giúp vui cho ông, vừa chục phòng khi ông gọi thì nghe mà đến cho nhanh kẻo bị kẻ khác nhanh hơn thì mất cơ-hội được hầu-hạ ông.

       Giám Ðốc Nha Cảnh-Sát Công-An Trung-Phần, Ô. Lê Khắc Duyệt, cũng có dự phần vào những buổi câu cá như thế.

        Hôm đó, Duyệt mặc một chiếc áo sơ-mi cụt tay có in hình hoa bướm gì đó.  Trên đường về nhà ở thành-phố, Duyệt gặp vài nhân-viên thuộc Nha, trong số những phần-tử đã vào Ðảng.

        Thuở ấy, xứ Huế còn rất nệ-cổ.  Người nữ phải mặc áo dài mới được ra phòng khách; các cô giúp việc dù đang làm việc nặng, các chị bàn hàng-rong dù đang vai gánh hay tay xách, mỗi khi ra đường đều phải mặc áo dài.  Người nam thì phải nhét áo trong quần.  Vào thời-gian chuyện này xảy ra, tuy lối sống đã có đổi mới phần nào, xã-hội vẫn chưa chấp-nhận cho các cá-nhân “danh-giá”, nhất là các viên-chức cao-cấp trong chính-quyền, dù là vào ngày nghỉ và lúc đi chơi, bỏ áo ngoài quần, hoặc mặc áo có sọc, có ô, hoặc có in hình mà người dân địa-phương gọi là “áo chim cò”.

        Duyệt bị báo-cáo lên Văn-Phòng Cố-Vấn. 

        Vào buổi “học-tập chính-trị và công dân giáo dục” kế đó, số nhân-viên dưới quyền Duyệt, nhưng thuộc đường dây thân-tín hơn, đã nêu vụ kể trên ra để hội đường thảo-luận.  Mặc dù viên Giám Ðốc của họ đã nhận lỗi, xin lỗi mọi người, và hứa về sau sẽ không tái-phạm, sau khi đã giải-thích là mình ăn mặc như thế để dễ lội xuống nước mà bắt cá cho “Cậu”, số nhân-viên ấy vẫn nặng lời sỉ-vả Duyệt và thúc đẩy các phẩn-tử khác lên tiếng tố-cáo Duyệt là “thiếu tác-phong cách-mạng”, “phản nhân-vị”, “không chịu học-tập noi gương đạo đức của Ngô Tổng-Thống”.

        Người dân xứ Huế không quên những vụ tố khổ vào những ngày đầu tiên Ô. Ngô Ðình Diệm lên cầm quyền. 

        Trong một cuộc mít-tinh tại chúng-trường Phu Văn Lâu, một nữ-công-chức thuộc Nha Pháp-Chánh Trung-Phần đã đứng lên trước máy vi-âm xỉ mặt viên Giám Ðốc của Nha ấy mà kể tội là trước đó đã từng lợi dụng chức-quyền để hãm-hiếp mình…

Quang-cảnh đấu tố giống hệt dưới chế-độ cộng-sản ở Miền Bắc Việt-Nam.

CÔNG-CHỨC BỊ PHẠT VÌ VỀ VỚI GIA ÐÌNH  

        Có một số công-chức tùng-sự tại các công-sở ở Huế nhưng có gia đình ở Tỉnh Quảng-Trị; cuối tuần họ về ngoài đó với vợ+con.

        Nhưng rồi, vào một buổi trưa ngày cuối tuần nọ, số người ấy đã gặp nạn.  Sau đó, họ ngao-ngán kể lại với bạn-bè:

        Ô. Nguyễn Văn Đông, Tỉnh-Trưởng Tỉnh Quảng-Trị, đã ra lệnh chận đường từ hướng Huế ra, bắt giữ tất cả các công-chức vừa mãn giờ làm việc cuối tuần là để bụng đói phóng xe về với thân-nhân.

        Còn nhớ dưới thời Việt-Minh, để khuyến-khích phong-trào Bình Dân Học-Vụ, có nhiều Xã Thôn đã dựng cổng kiểm-soát dọc đường; ai biết chữ thì được đi qua cổng chính, ai không biết chữ thì phải lội vòng xuống ruộng bùn mà đi.

        Đông thì không cho các công-chức ấy đi, về với gia đình, mà cũng không chịu cho họ quay lui.  Ông bắt họ tập-trung tại chỗ, đợi đến sáng ngày đầu tuần mới cho xe chở họ vào Huế giao nạp cho Tòa Ðại-Biểu Chính-Phủ Miền Trung.

        Đông sợ dư-luận đồng-bào về những bê-bối của chính-quyền Tỉnh mà ông cầm đầu có thể bị các công-chức ở Huế là những tai mắt ấy thu-thập đem về phổ-biến, mà không bưng-bít được, vì ở ngoài vòng kiểm-soát của mình.

        Ông là em của một người con rể gia đình họ Ngô.

LUẬT-PHÁP PHỤC-VỤ CHO CÁ-NHÂN  

        Có lần, Nha Bảo-An Trung-Phần được cơ-quan Viện-Trợ Mỹ trao cho một số xe Jeep.  Viên trung-tá Giám Ðốc Nha ấy đến báo-cáo với “Cậu”, xem như đó là một thành-quả “nhờ ơn Ngô Tổng-Thống và Cậu” mới có được, và chọn một chiếc tốt đẹp nhất đưa đến để xin “Cậu” lái khai-mào hầu nhờ “Cậu” mà toàn Nha được hưởng hên.

       Chiếu cuối tuần ấy, có một số giáo-sư Viện Ðại-Học Huế, vốn được Ô. Cố-Vấn Ngô Ðình Cẩn nâng đỡ, và đều là nhân-vật tên tuổi một thời ở thủ-phủ của Miền Trung, về bãi Thuận-An tắm bể.          Họ lái xe Traction, chạy vùn-vụt trở về nhà ở Thành-Phố Huế vào lúc hoàng-hôn.

        Ðồng-thời, từ tư-thất ở Thành-Phố về nhà nghỉ mát ở bãi bể, Ô. Cố-Vấn đích-thân cầm tay lái, lái thử chiếc xe Jeep mới của Nha Bảo-An.

        Trên con đường lưu-thông duy-nhất giữa hai địa điểm, mà vào cuối tuần giữa mùa hè nóng bức thì người dân đi tắm bể tấp-nập, khi ngang qua lãnh-thổ Quận Phú-Vang, hai xe ngược chiều kể trên gặp nhau. 

        Xe Traction thì thấp; xe Jeep thì cao, mà vì mới xuất-kho nên mặt kính đèn trước chưa được che bớt phần trên bằng một lớp sơn màu vàng như các xe khác, và Ô. Cẩn thì cứ để đèn pha mà chạy.  Các nhà học-thức ấy bị chói mắt nên nổi giận, bèn cũng bật đèn pha, rồi thắng xe lại ngay giữa lòng đường, chận đầu chiếc xe kia, nhảy ra, xông tới, định dạy cho tài-xế xe Jeep một bài học.  Cùng lúc, Ô. Cố-Vấn luýnh-quýnh thắng xe lại; các vệ-sĩ của ông tưởng gặp kẻ khủng-bố nên nhảy ngay xuống, xáo ổ đạn, chĩa mũi súng về phía đối-phương, sẵn-sàng bấm cò.

        Thế là hai bên nhận ngay ra nhau; các nhà khoa-bảng liền đổi thái-độ, chắp tay vái “Cậu” liên-hồi.

        Sau đó, Tòa Ðại-Biểu Chính-Phủ Trung-Phần Việt-Nam chỉ-thị cho Nha Công-Chánh Giao-Thông, Nha Cảnh-Sát Công-An, cùng Tòa Hành-Chánh, Cơ-Quan Quân-Sự, Ty Công-Chánh, Ty Thông-Tin Tỉnh Thừa-Thiên, Ty Cảnh-Sát Thành-Phố Huế, Trung Ðội Hiến-Binh địa-phương, v.v… phải họp tìm biện-pháp tạo sự thoải-mái cho “Cậu” trên đường đi .  Họ bèn quy định, phổ-biến, và kiểm-soát, để từ nay trở đi mọi loại xe-cộ lưu-thông trên đường Huế―Thuận-An, và ngược lại, chỉ được phép chạy với tốc-lực tối đa 25 cây số/mỗi giờ; hễ gặp xe khác thì phải ngừng lại, rồi chạy từ từ; và nhất là buổi tối và ban đêm thì chỉ được bật đèn ló mà thôi.

        Sự việc ông Cố-Vấn bị chận xe dọc đường thì đã được chính ông bỏ qua; nhưng vì nó có liên-quan đến “Cậu”, các nhà chức-trách xem là quan-trọng hàng đầu nên đã đặt thành luật-lệ cho người dân tuân theo.

MỘT BỮA TIỆC SINH-NHẬT CỦA “CẬU”  

        Vào dịp sinh-nhật của Ô. Cố-Vấn Ngô Ðình Cẩn năm ấy, một mình tôi nhận được ba tấm thiệp mời dự tiệc; một với tư-cách văn-nghệ-sĩ ký-giả, một với tư-cách thành-viên Thuyết-Trình-Ðoàn Học-Tập Chính-Trị và Công Dân Giáo Dục, và một với tư-cách cấp chỉ-huy ngành Cảnh-Sát Công-An.

        Trên đầu tờ giấy có in hàng chữ “Văn-Phòng Cố-Vấn Chỉ Ðạo Các Ðoàn-Thể Cao―Trung―Hải”.  Về các “Ðoàn-Thể”, có nơi ghi rõ là “Chính-Trị, Kinh-Tế, Văn-Hóa, Xã-Hội, Thanh-Niên, Phụ-Nữ, Sinh-Viên Học-Sinh, Lao-Công, v.v…”  Cao là Cao-Nguyên, Trung là Trung-Phần, và Hải là Hải-Ngoại.

        Ðây là một cơ-hội hiếm có để tôi có thể trực-tiếp nghe+thấy những gì liên-quan đến “Cậu”, người mà dân-chúng sợ-hãi như một hung-thần.

        Con đường xe lửa xuyên-Việt nằm ở giữa, ngăn-cách tư-thất của Ô. Cố-Vấn với Văn-Phòng ở bên kia .  Lách qua khỏi hai cánh cổng sắt cao to mở hé, tôi bước vào một thế-giới lạ thường.

        Không có đường dây điện-thoại liên-lạc với bên ngoài.  Ô. Cố-Vấn thường chỉ ở trong tư-thất, và ít có ai thấy được chữ ký của ông.

        Một mái rạp cao được dựng sát trước hiên nhà, dài suốt ba gian, là nơi bày dọn nhiều dãy bàn ăn.  Hầu hết món ăn đều là món Huế, những loại ngày xưa dành cho hoàng-gia, triều-thần nhà Nguyễn và giới thượng-lưu, do chính một số đầu-bếp cũ trong Ðại-Nội hoặc tại các Phủ Chúa đến nấu dọn. 

        Thực-khách được chia ra mời làm nhiều đợt; nhưng có một số đến sớm trước giờ; và một số ăn xong vẫn còn nấn-ná ở lại, vừa chỉ dẫn cho những kẻ đến sau để tỏ ra rằng mình đã là người nhà của chủ-nhân rồi, vừa cầu-may mong có cơ-hội được “Cậu” hỏi đến.

        Mắt mang kính, miệng nhai trầu, tay cầm quạt khi thì phe-phẩy, khi thì dùng để gãi lưng, Ô. Cố-Vấn Ngô Ðình Cẩn vừa nói chuyện với vài ba nhân-vật ― nhất là ông Nguyễn Ðình Cẩn, Tỉnh-Trưởng Trưởng Tỉnh Bình-Thuận, suốt buổi vẫn bám sát theo ông ― vừa đi quanh chăm-sóc từ các loại cây cảnh quý trước mặt nhà đến các loại muông thú hiếm bên hông và sau vườn, trong đó có một con voi con.

        Hầu-hạ quanh nhà có một số nhân-viên Cảnh-Sát hoặc Công An.  Có một kẻ thường đi dọc theo đường Phan Chu Trinh và đường Vạn Vạn, trên bờ Nam của “sông An-Cựu nắng đục mưa trong”, ngang-nhiên chặt cây trên bến, và cả chuối trong vườn nhà dân, nói là để cho voi của “Cậu” ăn.  Nhiều người qua lại trên cầu Phú Cam và trên đường bờ sông Phan Ðình Phùng có lần trông thấy dưới bến “Cậu” dùng thìa cà-phê múc sữa đút cho voi uống, trong lúc các thuộc-viên đang kỳ-cọ tắm cho con voi.

        Tôi vừa vào đến nơi thì nghe có tiếng còi xe hộ-tống hụ từ phía cầu Phú Cam.  Ô. Cố-Vấn quay đầu về phía nhà trong, im-lặng lắng nghe.  Lập-tức, có hai thuộc-viên chạy nhanh ra cổng.  Họ thò đầu ra ngoài nói gì đó, rồi nhân-viên gác cổng mở hé một cánh cổng cho một số quan-chức và một viên tướng bước vào.  Tất cả đều mặc lễ-phục, và đều đi rón-rén vì sợ đế giày gây tiếng ồn.

        Về viên tướng, tôi nhận ra là Trung-Tướng Trần Văn Ðôn.  Hôm mới ra thay Trung-Tướng Thái Quang Hoàng, trong một buổi lễ tại Phu Văn Lâu, Ðôn đã bắt đầu diễn-văn bằng câu “Quân Dân Miền Trung!”  Tôi nghe kể lại, chỉ một lát sau là “Cậu” được nghe báo-cáo, liền phán “Hắn muốn lãnh đạo cả Dân ngoài ni nữa răng?”

        Họ cúi đầu chào Ô. Cố-Vấn nhưng ông không đáp lại.  Họ bèn nhập chung với một số khác đã đến trước, đứng sắp hàng quay mặt vào bức chân dung của Tổng-Thống Ngô Ðình Diệm để trên một chiếc bàn cao trong phòng khách chính, xong cất tiếng đồng-thanh hát bài “Suy-Tôn Ngô Tổng-Thống”, như lệ thường mỗi lần bắt đầu một buổi lễ hoặc buổi họp.

        Có đến hai bài “suy-tôn” khác nhau, một của Miền Trung và một của Miền Nam, nên nhịp và lời của hai bài chõi nhau, nghe rất chói tai.

        Bỗng có tiếng đằng-hắng trong nhà.  Ô. Cố-Vấn liền nạt:

– Ồn! để cụ nghỉ!

        Thế là mọi người nín bặt, lấm-lét tan hàng.  Trong lúc họ chưa biết giấu mặt ở đâu thì các gia-nhân ra hiệu cho họ đứng vào hai bên các dãy bàn tiệc mà bắt đầu ăn.

Lát sau, ông Cố-Vấn đi ngang qua các bàn ăn, nhìn chung, hỏi chung:

– Ngon không?

– Dạ ngon! “Cậu” cho ăn ngon quá!

        Nghe mọi người đồng-loạt khen, ông nở một nụ cười khoan-khoái, xong tiếp-tục đi ngắm-nghía, sờ-mó không biết chán các món quà đắt giá mà các cấp chức quyền từ khắp nơi trong nước và ngoài nước dâng về.

Trước mắt tôi, hình-ảnh của “Cậu” Cố-Vấn Ngô Ðình Cẩn vẫn quen thuộc như những lần ông chủ-tọa các cuộc thi rước xe hoa vào những dịp lễ lớn trong năm.

Mỗi cơ-quan dân-chính và quân-sự đều thực-hiện một cỗ xe hoa, với nhiều cỡ, nhiểu kiểu, nhiều cách khác nhau, nhưng tựu-trung thì đều rước ảnh của Ngô Tổng-Thống và được trang-trí đèn hoa rực-rỡ vô cùng.  “Cậu” đứng trước cổng nhà, vừa nhai trầu vừa quạt, nhướng mục-kỉnh chiêm-ngưỡng từng công-trình nghệ-thuật trẩy qua, và dễ dàng đồng-ý với những lời phê-bình cũng như chấm điểm, định mức thưởng tiền, của các “cố-vấn” hầu-cận hai bên.

Tự-nhiên tôi thấy ông hiền-lành quá, vô-tư quá.  Người như thế này mà có quyền sinh-sát đối với mọi người sao ?

LỆNH… LẠC  

        Ngoài ông Chánh Văn-Phòng, mà một số người cho là có hiểu biết, còn có một số sĩ-quan quân-lực được biệt-phái đến làm việc tại Văn-Phòng Cố-Vấn Ngô Ðình Cẩn.  Ông Hồ Văn Huế, một đồng-nghiệp đàn anh của tôi, là một tín đồ Ky Tô có đạo đức, đã có lần than-thở với tôi:

        – Té ra mạnh ai thì nấy báo-cáo lên “Cậu”; chỉ cần nói khích một câu, tỉ như “Tên này phản-loạn, dám chống lại Ngô Tổng-Thống và Cậu!” thì nếu đề-nghị giết chết “Cậu” cũng gật đầu liền.  Nhưng trong đa-số trường-hợp họ có trình lên “Cậu” đâu !

        Quyền-hành của Cẩn tuyệt-đối như thế nên dân-chúng gọi ông là “Lãnh-chúa Miền Trung”.  Thật ra, quyền-hành của ông cũng bao trùm cả Miền Nam, là lĩnh địa của ông anh, Cố-Vấn Ngô Ðình Nhu.  Một thi-hữu của tôi, Hồ Ðình Phương, của Tỉnh Long-An, và một số thành-viên khác thuộc các phái đoàn từ các Tỉnh trong Nam ra Huế họp đại-hội Ðảng Cần-Lao, đã xác-nhận với tôi điều đó.

       Không có học-lực và kiến-thức như các ông Diệm, Nhu, ông Cẩn chỉ là một thứ hào-mục hãnh-tiến, bỗng-nhiên thấy được người ta tôn lên thì được hưởng lợi chứ chẳng thiệt gì, nên để mặc cho thủ-hạ lèo-lái, vẽ-vời.  Ông chỉ đáng khen trong có một việc là lòng hiếu-kính đối với mẫu-thân, góa-phụ của cụ Ngô Ðình Khả. 

       Và chính cụ-bà cũng được nhiều người ngợi-ca vì lòng “trung-quân”.  Người ta kể lại rằng, khi lăng của chồng đã được xây xong, cụ-bà lên ở trên lăng.  Ðức Ðoan-Huy Hoàng Thái Hậu, tức Ðức Từ-Cung, mẹ của Cựu-Hoàng Bảo Ðại, thấy cảnh miếu đường hoang-phế mà không được chính-quyền chiếu-cố, bèn lên gặp cụ-bà để xin nói giúp với anh em nhà Ngô.  Cụ-bà nghe tin, đang bệnh mà cũng gắng dậy xuống đón từ dưới mấy cấp thềm, toan phủ-phục trước người mà cụ-bà tưởng vẫn còn là quốc-mẫu nên vẫn thủ-phận chồng+con mình là bề-tôi của quân-vương.

Ðiều tai-hại hơn hết là không có ai dám kiểm-chứng lệnh của Ô.Cố-Vấn Ngô Ðình Cẩn.

Thường thì mọi người chỉ biết tuân lệnh, do nghe kẻ khác nói lại, mà không biết là nói lại hay là nói đại.  Mà do chính miệng của ông nói ra lắm khi cũng chẳng hẳn là lệnh-lạc gì hết. 

Một thí dụ đầy tính tiếu-lâm được truyền miệng trong giới an-ninh:

Một trong những tay chân đắc-lực của Cẩn là Ô. Lê Hoát, Trưởng Ban Hoạt-Vụ thuộc Nha Cảnh-Sát Công-An Trung-Phần.  Mọi việc bắt-bớ, đọa đày, hãm-hại, v.v… đều nằm trong tay Hoát.  Thế mà…

Dạo ấy ở Tỉnh Quảng-Ngãi có sự rối-loạn.  Ty Công-An liên-hệ điện xin Nha Trung-Phần tăng-cường gấp một số nhân-viên.  Vì Hoát có nhiều nhân-viên nhất nên Phòng Nhân-Vụ đề-nghị rút bớt một số.  Hoát chỉ cho lấy một người, là người mà Hoát tưởng là không thiết-yếu vì không thấy đến báo-cáo công-tác hằng ngày.  Và người ấy nhận được sự-vụ-lệnh thuyên-chuyển từ Huế vào Tỉnh Quảng-Ngãi.

Kế đó, một hôm Ô. Cố-Vấn đi ra sau vườn thì thấy có một thuộc-viên nằm lăn-lộn trước chân ông mà khóc; ông tránh, người kia lại tái diễn, khóc to hơn.  Ông hỏi vu-vơ:

– Cha mi chết hay răng mà mi khóc dữ thế?

Ðươc ông hỏi đến, người giữ vườn kêu gào thảm-thiết:

– Không phải một mình cha con chết, mà chính con, rồi cả gia đình nhà con đều sẽ chết hết, “Cậu” ơi!  Người ta không muốn cho con tiếp-tục ở đây để được hầu-hạ “Cậu”, “Cậu” ơi!

– Rứa người ta đưa mi đi mô ?

– Việt-Cộng giết người tùm-lum trong Quảng-Ngãi, mà người ta đưa con vô trong đó!    

– Ai đưa mi đi ?

Người ấy vốn đã có đến năn-nỉ với Phòng Nhân-Vụ đề xin ở lại, nhưng được nơi đây giải-thích là chính Hoát đã quyết định cho đương-nhân ra đi.  Người ấy liền đáp:

– Dạ, Lê Hoát đưa con đi!

Ông Cố-Vấn vừa bước tiếp vừa nói khống:

– Răng hắn không đi mà đưa mi đi ?

Mọi lời nói của “Cậu” đều được truyền đi tức-thời .

Thế là Nha Cảnh-Sát Công-An Trung-Phần ký sự-vụ-lệnh khác, để nhân-viên kia lại, và đưa … Lê Hoát đi !

Một thời-gian sau, một hôm ông Cố-Vấn sực nhớ mới hỏi:

– Thằng Hoát mô rồi mà lâu ni tau không thấy hắn?

Thế là Quát lại được thuyên-chuyển từ Ty Quảng-Ngãi về lại Nha!

Dân-chúng cũng đàm-tiếu với nhau:  Bà Cố-Vấn Ngô Ðình Nhu, lãnh-tụ Phong-Trào Phụ-Nữ Liên Ðới và Ðoàn-Thể Thanh-Nữ Cộng-Hòa của toàn-quốc, tức là gồm cả Miền Trung, những lần ra Huế thường tránh gặp mặt “Cậu”.  Trung-Tướng Thái Quang Hoàng, nguyên Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu, mà tổng-hành dinh đóng ở Huế, vốn là một sĩ-quan sủng-ái được thăng cấp vùn-vụt, mà rồi cũng bị thất-sủng vì bị dèm pha.  Ông Trần Chánh Thành, là người được chính Ô. Ngô Ðình Diệm chọn đưa từ Pháp cùng về với mình, cử làm Bộ-Trưởng Bộ Thông-Tin, phụ-trách Chiến Dịch Tố Cộng và Phong-Trào Cách-Mạng Quốc-Gia, mà rồi cũng va-chạm với uy-lực của “Cậu” về quyền lãnh đạo các tổ-chức và hoạt động này tại Miền Trung…

Tôi tự hỏi không biết có phải chính “Cậu” đã chủ động, đã chủ động nổi, trong các vụ này, hay là bị bọn ác-ôn côn đồ gài bẫy, mạo danh…

VỤ GIÁN ÐIÊP PHÁP TẠI MIỀN TRUNG  

        Sau khi Pháp, do áp-lực của Mỹ, rút quân ra khỏi Việt-Nam, một số kiều dân Pháp vẫn còn ở lại; họ điều-hành các đồn điền cao-su, cà-phê, trà, và các nhà máy điện, nước, lữ-xá, tiệm ăn, v.v…  Ngoài ra, còn có các nhà ngoại-giao …

        Ở Huế, có một Phòng Thông-Tin Pháp, mà Giám Ðốc là Ô. Avril, một người Pháp lai Việt, sinh sống từ nhỏ tại Thành-Phố này.  Tôi đã giới-thiệu để Avril làm quen với Ô. Thompson A. Grunwald, khi ông này đến nhậm chức Giám Ðốc Thông-Tin Hoa-Kỳ ở Huế.  Trong lúc chưa có Tổng Lĩnh-Sứ, Grunwald là đại diện Mỹ đầu tiên đến Miền Trung. 

        Ðối với dân-chúng địa-phương thì sự quen biết đã có từ trước và những giao-tiếp không thể tránh được sau này của Avril với những nửa-đồng-bào xung quanh đã gây tai-họa không ít cho nhiều con dân Việt-Nam.

        Trong chương-trình “đả-thực, bài-phong, diệt-cộng”, mà “thực” ở đây là thực dân Pháp, các cơ-quan an-ninh sở-tại cho biết đã khám-phá được một tổ-chức gọi là “gián điệp Pháp tại Miền Trung”.

        Trong những năm đầu sau Hiệp Ðịnh Genève, Liên-Xô và Hoa-Cộng chưa chủ-trương cho Cộng-Sản Bắc-Việt xâm-chiếm Miền Nam; nhờ đó, đa-số các cấp chính-quyền, nhất là ở nhiều Xã Thôn, đã có hoàn-cảnh thuận-lợi để loại-trừ các phần-tử có liên-hệ hoặc bị nghi có dính-líu với ba kẻ thù kể trên.  Trung-Ương cho phép mỗi Xã lập nên một “Hương-Ước” riêng của mình; đó là những quy định tội-trạng và hình-phạt có giá-trị pháp-lý, nằm ngoài và bổ-sung luật-pháp và luật-lệ chung của Quốc-Gia.  Chính-sách của Chính-Quyền Quốc-Gia thời Ðệ-Nhật Cộng-Hòa là phục-hồi “Lệ Làng”, một thứ quyền tự-trị của các hương-chức thời xưa; đúng với tuc-ngữ “Phép Vua thua Lệ Làng”.  Giải-pháp giàn-tiện hơn hết là trục-xuất tất cả các đối-tượng “phản động” ra khòi quê-quán của họ.  Nhân dịp có cái gọi là “quốc-sách” Ấp Chiến-Lược và Dinh Ðiền, nhà cầm quyền tống họ lên vùng Cao-Nguyên, cùng với các thành-phần bất-hảo khác ― cựu-can hình-sự, đồ đệ “Tứ Ðổ Tường”, cá-nhân lừng-khừng ― sống tập-trung chung trong các Ðịa Ðiểm Dinh Ðiền, là nơi Hoa Kỳ viện-trợ dồi dào để giúp các giới dân nghèo Việt Nam tái định-cư kiến-tạo đời sống ấm no, thanh-bình, và thịnh-vượng lâu dài cho tương-lai.

        Tuy nhiên, đó mới chỉ là bề mặt, nhất-thời.  Thật ra, ngay sau khi chính-quyền Ngô Ðình Diệm ra đời, những kẻ có liên-hệ chặt-chẽ với Pháp, với Hoàng-Tộc, với Việt-Minh, hoặc bị tổn-thương quyền-lợi cá-nhân, đều đã tìm cách tự-tồn.  Họ trá-hình quy-phục, hoặc ngụy-tạo lý-lịch, đổi vùng sinh-hoạt; hoặc rút lui vào bóng tối, hoạt động bí-mật; hoặc bất động chờ thời.  Cao điểm là sau khi Mặt Trận Việt-Minh tập-kết cán-bộ và bộ đội ra Bắc; quân-lực Pháp giao lại Miền Nam Việt-Nam cho Mỹ; chế độ Diệm tịch-thu tài-sản của Pháp, lật đổ và tịch-thu tài-sản của cựu Quốc-Trưởng Bảo Ðại, phát động chiến dịch “Tố Cộng”, đánh dẹp các giáo-phái, đàn-áp các chính đảng, cấm Hoa-Kiều làm mười một nghề, v.v…

        Có những chính-sách đúng, nhưng bị phai mờ vì những chủ-trương sai; và ngay những đường-lối tốt cũng bị hoen-ố vì những việc làm xấu.  Và thiểu-số lạm quyền đã xử ức người này, trị oan kẻ kia, đào hố sâu chia-rẽ và giúp nẩy mầm phẫn-uất trong dân-nhân.  Hạt nhân đối-nghịch và khuynh đảo từ đó đã được gieo ra.

        Thật ra, người dân căm-hờn thực dân, oán ghét tay sai, thù hận thành-phần thân Pháp, nên ủng-hộ các nỗ-lực phát-hiện gián điệp nước ngoài.  Nhưng khi chính-viện không truy-tố bị-can ra trước pháp-viện, lại sử dụng luật rừng để bạo-hành đối với tù-nhân, thì chiêu-bài “Dân-Chủ Pháp-Trị’ của chính-quyền Ngô Ðình Diệm đã trở thành bịp-bợm đối với người dân.

        Vào một buổi sáng nọ, như để chứng-minh cụ-thể cho những luồng dư-luận lan tràn lâu nay, một số đồng-bào đã tìm đến tận nơi để nhìn thấy tận mắt thi-thể của một nạn-nhân: Ô. Võ Côn, cựu Phó Giám Ðốc Cảnh-Sát Công-An Trung-Việt, bị giết chết và vứt bỏ xác ở chân Núi Ngự-Bình.

THẦU-KHOÁN NGUYỄN VĂN YẾN  

        Nhà thầu Nguyễn Văn Yến là một nhân-vật tên tuổi được đồng-bào khắp Huế mến thương.

        Sau ngày hồi-cư vào năm 1947, Yến bắt đầu thu thuế tại chợ An Cựu là một chợ nhỏ, mà thời-gian đầu dân-chúng còn thưa-thớt nên chợ chưa có nhiều kẻ bán người mua.  Vợ anh cũng theo giúp chồng.  Tuy là chủ thầu nhưng cả hai đều đối xử tử-tế với giới chịu thuế, nhẹ tay với ai ít vốn, chước-miễn cho ai ít lời.

        Nhờ làm việc cần-cù, giao dịch khéo-léo, Yến đã tiến từ thầu nhỏ lên thầu lớn, và đỉnh cao là thầu được cơ-sở kinh doanh đồ-sộ của anh+em Pháp-kiều Morin chính giữa trung-tâm thủ-phủ của Miền Trung, đặt tên Nguyễn Văn Yến cho đại Khách-Sạn và Diễn Ðường này.

        Sự thành-công của Yến là một gai nhọn trước mắt những kẻ muốn chiếm độc-quyền khai-thác hoặc chi-phối mọi nguồn lợi kinh-tài. Thế là Yến bị bắt.

        Vợ Nguyễn Văn Yến bị bệnh hiểm-nghèo.  Sau khi được chữa lành, trước khi xuất-viện chị đã được y-sư giải-thích và căn dặn kỹ-càng: muốn sống thì đừng gần-gũi đàn ông.

        Thương chồng, chị đến gõ cửa khắp nơi; bao nhiêu tiền của chị đem ra dâng nạp hết, nhưng vẫn không có kết-quả.  Cuối cùng, chị được đưa đến ra mắt Ô. Cố-Vấn để cầu xin “Cậu” thi-ân.

        Nhờ ân của “Cậu”, chị chết.

        Nỗi đau thương của gia đình Nguyễn Văn Yến đã trở thành niềm căm-hận của mọi người: liền sau đó, chính Yến cũng bị giết chết trong tối-tăm.

THẦU KHOÁN NGUYỄN ÐẮC PHƯƠNG  

        Là Trưởng-Phòng Huấn-Luyện, trong thời-gian có Khóa Tu-Nghiệp hoặc Khóa Anh-Ngữ Căn-Bản do tôi giảng dạy cho cảnh-nhân toàn Thành-Phố, tôi thường đến sớm để lo cho mọi thứ được chuẩn-bị sẵn-sàng.  Có nhiều lần tôi ngạc-nhiên thấy Hội Ðường, mới chiều hôm qua còn ngăn nắp, mà sao sáng hôm sau bàn ghế đã nghiêng lệch và trên nền lầu vương vãi những lá lót, giấy bọc, cùng nhiều loại thức ăn, đồ uống thừa.

        Những lần đầu, tôi nghĩ là do toán nhân-viên gác đêm bày tiệc ăn nhậu.  Ðến lần nọ, tôi vào hỏi ông Đặng Phong, Phó Cành-Sát-Trưởng ; ông nhìn Ô. Hồ Đắc Vang, trả lời tôi: “Ðêm qua, Chi-Bộ họp”.  Chi-Bộ là tổ-chức Ðảng; tôi không ở trong Ðảng, tôi không thể phàn-nàn gì thêm.

        Một hôm, nhân vào Sài-Gòn lập thủ-tục du-học Hoa-Kỳ, tôi gặp Ô. Nguyễn Văn Trí giữa phố.  Trí là nhân-viên Ðội Biệt Ðộng ở Huế; cùng đi với anh có vài ba người nữa, đang ngồi trong một chiếc xe hơi đậu bên lề đường.  Anh dừng lại chào hỏi tôi.  Khi anh lên xe đi rồi, có mấy người mà tôi thấy quen mặt đang ngồi trong Nhà Hàng “Thanh Thế” vẫy gọi tôi vào.  Họ là công-chức, quân-nhân hoặc thường dân gốc ở Huế, nay vào tùng-sự, thụ-huấn hoặc sinh sống trong này.

        Nhạc-sĩ Châu Kỳ ghé vào tai tôi nói nhỏ: “Ðừng bắt mình, nghe Thanh-Thanh!”  Tôi mở tròn mắt hỏi lại: “Tôi làm gì mà bắt ai ?”  Nhạc-sĩ Lê Trọng Nguyễn liền vỗ vai Kỳ: “Thanh-Thanh chắc không dính vào những vụ đó đâu!”

        Hồi đó, Cảnh-Sát và Công-An là hai ngành khác nhau, mà tôi thì ở bên phía tư-pháp hình-sự, không phải bên phía chính-trị.

        Một người hỏi tôi: “Hôm nay các anh đã bắt được bao nhiêu mạng rồi ?”  Thấy tôi ngơ-ngác, một người khác nói: “Bọn hồi nãy là mật-vụ trong Ðoàn Công-Tác Ðặc-Biệt Miền Trung, vào đây bắt người đấy!”

        Tôi cũng có nghe nói đến tổ-chức ấy, nhưng không biết là họ thuộc cơ-quan nào, vì tại Nha và tai Ty Công-An Tỉnh Thừa-Thiên thì chỉ có Ban Hoạt-Vụ, Ban Lưu Ðộng, hoặc Ban Truy-Tầm gì đó thôi.

        Không-khí ở Sài-Gòn tự do hơn, nên mấy người này tranh nhau kể toàn những chuyện cướp đoạt, giam-cầm, tra-tấn, và thủ-tiêu dân lành, ở cả Huế lẫn các Tỉnh gần xa.

       Diệm thì huênh-hoang tuyên-bố: “Ðằng sau Hiến-Pháp còn có tôi!” để bị lũ gian-manh ngụy-tạo vườn cây sây trái cho mà đến thị-sát, khoe-khoang; Nhu thì kìm kẹp đối-lập ở P-42; vợ Nhu thì hùn-hạp làm ăn bất-chính với vợ Trần Chánh Thành; Cẩn thì thể-hiện hỏa-ngục ở Mang-Cá, hồ lửa ở Chín Hầm…

        Khi nghe tôi làm việc ở Ty Cảnh-Sát Huế, một người la lên:

        – Ðánh người ta vỡ đầu chết, rồi ném xác xuống sân, tri-hô là người ta nhảy lầu tự-tử, xong rồi vào đây lánh mặt hả?

        Các bạn khác cũng sững-sờ như tôi.  Một người ôn-tồn hỏi tôi: “Anh vào đây bao giờ?”  Tôi đáp: “Sáng thứ năm”  Người ấy thở phào: “Thế thì không phải là anh!”

        Người kia nhìn tôi dò xét, rồi như tin tôi, kể ngắn gọn:

        – Chúng bắt bừa, nhốt kín nhiều nơi, lâu lâu mới chở một số đến Ty Cành-Sát cho gặp thân-nhân một lần vào lúc nửa đêm.  Tại đó, chúng cũng khảo đả nạn-nhân.  Án-mạng vừa rồi xảy ra vào khuya thứ năm; tôi mới vào chiều hôm qua; thứ sáu.  Tội-nghiệp thầu-khoán Nguyễn Ðắc Phương!

        Tôi nghe mà lặng điếng cả người.

        Thì ra Hội Ðường, nơi tôi truyền-bá lý-thuyết lý-tưởng về nghiệp-vụ, nơi tôi phổ-biến đạo đức chính-trị của Ngô Tổng-Thống, đã bị dùng làm nơi chà đạp “nhân-vị” và sinh-mạng của con người!

        Trước đó, tôi có gặp Nguyễn Ðắc Phương một lần, tại nhà Giáo-Sư Nguyễn Như Minh.  Minh là thầy cũ của tôi ở “Thuận-Hóa Học-Hiệu”.  Ông vừa mới giao cho Phương, và Phương vừa mới khởi-công xây-cất một trụ-sở mới cho Trường Trung-Học Tư-Thục Nguyễn Du.

        Ngang đây thì tôi thấy Trung-Tá Ðoàn Ðình Từ, một người bạn thân của tôi, hiện làm Trưởng Ty Công-An Tỉnh Long-An, từ ngoài bước vào.  Từ bị thương trong một trận chạm súng với Việt-Cộng, chân đi còn khập-khiễng.  Ðể tránh đụng chạm, tôi kéo anh lên Nhà Hàng “Bồng Lai”.

        Lát sau, tôi hỏi anh về nạn độc-tài, tham-bạo; anh lắc đầu thở dài: “Hết nước nói!  Minh chỉ biết diệt Cộng mà thôi!”  

*

LÊ XUÂN NHUẬN CHỐNG CHẾ-ĐỘ NGÔ ĐÌNH DIỆM

        VÀO dịp lễ Hai Bà Trưng (3-3) năm 1960 (mồng 6 tháng 2 âm-lịch Canh Tý), tôi thuyết-trình về tinh-thần ái-quốc của Trưng Nữ-Vương, theo tài-liệu học-tập của Trung-Ương phổ-biến.

        Nguyễn Xuân Lại, lúc ấy cũng đã mãn định-kỳ quân-nhiệm, trở về Ty Cảnh-Sát Huế, cùng tham dự buổi họp.

        Khi đến câu “Quân của Hai Bà là quân ô-hợp nên bị thất-trận”, tôi đã cố ý bỏ qua từ đoạn “là quân ô-hợp”.  Hội Ðường thắc-mắc; nhiều người đưa ý-kiến là phải đọc trọn câu, và đòi giải-thích hai tiếng “ô hợp”.  Tôi giải-thích tĩnh-từ “ô hợp”, xong thanh-minh rằng tôi không muốn trong lúc tưởng nhớ công đức của tổ-tiên anh-hùng mà lại chê-bai phẩm-chất chiến đấu của tiền-nhân:

– Có lẽ soạn-giả sơ-ý.  Theo tôi thì chỉ cần nói “Hai Bà thua trận là đủ”, không cần nêu thêm cái lý do ấy, nhất là nói về khuyết nhược của mình.  Vậy đề-nghị các bạn khi về đơn-vị địa-phương thuyết-trình lại cho các học-viên của mình thì bỏ bớt mấy chữ đó đi .

Ngang đây, Lại chất-vấn tôi:

– Sự thật là “ô hợp” thì cứ nói là “ô hợp”, anh muốn chống lại lịch-sử và cãi lại tài-liệu của “Ban Chỉ Ðạo Học-Tập Trung-Ương” ư ?

Cuộc thảo-luận chung biến thành cuộc tranh-luận riêng giữa hai chúng tôi.

Tôi nói: “Tuy Ban Chỉ Ðạo Trung-Ương do ông Cố-Vấn Ngô Ðình Nhu chủ-trì, nhưng ông chỉ đề ra ý chính, làm sao kiểm-soát hết từng chữ?”

– Tôi đã từng thảo diễn-văn cho các Ðơn-Vị-Trưởng, họ dò rất kỹ trước khi đọc; anh cho là ông Cố-Vấn không đọc kỹ à?

– Tôi cũng đã từng thảo diễn-văn cho các tướng Tư-Lệnh, đúng như anh nói.  Nhưng đó là cho chính miệng họ đọc ra, lâu lâu một lần.  Ðằng nầy, tài-liệu tổng-quát do nhân-viên phụ-trách soạn chung cho mọi người, ào-ạt phổ-biến mỗi tuần mấy đợt, trải qua nhiều năm rồi, thì cũng chỉ giống như tờ báo định-kỳ thông-thường ngoài phố mà thôi, làm sao tránh khỏi sơ-xuất?

– Nhưng đây không phải là sơ-xuất, mà là nói lên sự thật!

Tôi đáp: “Ðồng-ý là sự thật.  Tuy nhiên, đó là ở trường đại-học, nghiên-cứu sử-liệu chúng ta có thể tìm thấy nhiều điều khác lạ; thí dụ tài-liệu của Trung-Hoa nói về Hai Bà Trưng, có đăng trên báo của Viện Ðại-Học Huế, do linh-mục Cao Văn Luận làm Viện Trưởng, thì tàn-tệ hơn nhiều.  Còn đây thì không phải là một công-trình nghiên-cứu lịch-sử ở trình độ bác-học, mà chỉ là một bài học công dân giáo dục nhắm vào đa-số bình dân, cốt để nhân ngày kỷ-niệm Trưng-Vương mà khích động đồng-bào noi gương yêu nước của Hai Bà; như thế thì chỉ cần đề-cập những gì có lợi cho mục đích trước mắt mà thôi”.

– Nói như anh tức là cấp trên khinh thường dân-chúng, chủ-trương ngu dân!

Tôi thấy Nguyễn Xuân Lại đã vô-tình tạo ra cơ-hội cho tôi lợi dụng mà nói lên những điều cần nói công-khai :

– Ở đây có ông Trần Văn Hương, Cảnh-Sát-Trưởng, vừa đi du-học ở Mỹ về, đã thấy rõ sự khác nhau giữa Mỹ với nước mình.  Thế nhưng, tài-liệu, mà chúng ta học-tập ở đây thì nói rằng Hiến-Pháp của Việt-Nam Cộng-Hòa là tiến-bộ hơn Hiến-Pháp của Hiệp-Chủng-Quốc Hoa-Kỳ.   Cũng thế, học-tập về chế độ hiện-tại thì chỉ toàn đề-cao những tốt lành ngay chính chứ có ai phanh-phui những xấu dữ gian tà đâu !

Thế là mọi người bỏ mất trọng-tâm.  Hội Ðường chia ra làm hai phe; đa-số thì đồng-ý với tôi dẫn chứng từ những sai lầm bất-công đến những gian tham tàn-ác của nhóm đặc-lợi đặc-quyền; thiểu-số đắc-thời thì chối-cãi, biện-minh.  Không-khí quá găng; chủ-tọa phải tuyên-bố giải-tán.  Nhưng khi ra khỏi phòng họp rồi họ vẫn còn phát-biểu rất hăng.

Việc làm của tôi đã mở đường cho những chống đối công-khai và đồng-loạt của nhiều tập-thể lớn về sau (trước cả vụ phản-kháng của 18 nhà chính-trị tên tuổi tại Nhà Hàng Caravelle trong Sài Gòn.  Nhà văn Nhất-Linh Nguyễn Tường Tam, bị kết án tử-hình, đã tự-tử, với kết-luận “đời tôi để lịch-sử xét” để phủ-nhận quyền-hành của chế độ nhà Ngô). 

Riêng trường-hợp của tôi đã gây nên mối bất-đồng quan điểm giũa hai ông Cố-Vấn họ Ngô.  Vây-cánh của Ô. Cẩn thì muốn dùng biện-pháp mạnh đối với tôi, nhưng Ô. Nhu thì tiến-bộ hơn nên nương tay.  Do đó, họ giao tôi cho Bộ Nội-Vụ áp dụng kỷ-luật hành-chánh.

Sau ba tháng bị cất chức, giam cầm, tôi bị ghép vào thành-phần “phản-loạn” và bị đày lên Cao Nguyên là vùng “nước độc và nguy-hiểm”, cùng với bốn đồng-nghiệp khác; đó là hai viên-chức tham-mưu có uy-tín mà không chịu đứng chung vào hàng-ngũ phá đạo hại đời, và hai viên-chức hoạt-dịch cũng là tín đồ Ky-Tô-Giáo và cũng là đảng-viên Ðảng Cần-Lao nhưng không đồng-hội đồng-thuyền với họ nên họ cũng nhân dịp này mà tống cổ đi luôn.

Suốt đời tôi không bao giờ quên được hình-ảnh của những Giám Ðốc, Trưởng Ty, công-chức các cơ-quan bạn, mà nhiều người trước kia tôi chưa hề quen, và rất đông đồng-bào vô danh, đã bất-chấp mật-vụ, lên ga xe lửa Huế ngậm-ngùi tiễn chúng tôi đi …

*

        Rồi Diệm bị đảo-chánh hụt, rồi Dinh Ðộc-Lập bị ném bom.  Vụ các chính-khách bất-đồng chính-kiến họp tại nhà hàng Caravelle nổ bùng.  Nhà văn Nhất-Linh Nguyễn Tường Tam tự-tử để phủ-nhận quyền-hành của chế-độ nhà Ngô.  Phật-Giáo bị cấm treo cờ vào ngày lễ Phật-Ðản; Phật-Tử Huế biểu-tình đòi quyền tự do tín-ngưỡng, bị tàn-sát trước Ðài Phát-Thanh.  Diệm+Nhu cho Cảnh-Sát Chiến Ðấu tấn-công chùa-chiền.  Hòa-Thượng Thích Quảng Ðức và nhiều tu-sĩ, Phật-Giáo-Ðồ khắp nước tự-thiêu.  Sinh-viên học-sinh và các giới dân-nhân xuống đường; toàn-quốc nổi dậy.  Thạc-sĩ Vũ Văn Mẫu, Ngoại-Trưởng VNCH, tự cạo trọc đầu từ-chức để phản-đối Diệm; ngay chính ông Trần Văn Chương, đại-sứ VNCH tại Mỹ, là cha ruột của bà cố-vấn Ngô Ðình Nhu, và bà Trần Văn Chương, quan-sát-viên VNCH tại Liên Hiệp Quốc, là mẹ đẻ của bà Nhu, cũng cùng từ-chức để chống lại bè lũ Diệm—Nhu đàn-áp Phật-Giáo.  Chính-giới Hoa Kỳ phẫn-nộ, dư-luận thế-giới xôn-xao.  Cuộc Cải-Mệnh 1-11-1963 xảy ra.

        Sau này, tôi chỉ-huy Cảnh-Lực cấp Tỉnh trên Cao-Nguyên thì Nguyễn Xuân Lại cũng chỉ-huy Cảnh-Lực ở Tỉnh Thừa-Thiên.

        Một số bạn cũ nói rằng Lại vẫn trung-thành với quan-niệm sống của mình, cứ theo lý-thuyết sách vở mà làm; theo đó, Luật-Pháp mới là nguyên-tắc của trật-tự và an-ninh, nên anh phục-vụ; còn Chính-Trị thì là phi-nguyên-tắc nên anh không tham-gia.  Anh chỉ chú-tâm riêng vào phần Hình-Cảnh, và phó mặc phần Ðặc-Cảnh (có thể gọi là Cảnh-Sát Chính-Trị) cho viên Phó Chỉ-Huy chuyên-trách cầm nắm các vấn đề phe đảng, giáo-phái, hội đoàn, tình-hình nội-bộ chính-quyền, cũng như trực-tiếp giải-quyết với Ủy-Ban An-Ninh về các vụ bắt-bớ. giam cầm Việt-Cộng tại địa-phương.

        Tuy không đối diện, đối-thoại, nhưng qua tin-tức như trên, tôi vẫn thấy cần tranh-luận với Lại.  Nếu anh chịu nhúng tay vào, thì cơ-quan mà anh vẫn là người chịu trách-nhiệm chính, chắc-chắn sẽ tránh được nhiều lầm sai.  Cùng lắm thì anh vẫn có thể công-khai nói lên tiếng nói của mình, như tôi ngày xưa ?

        Việt-Cộng không bám sát anh, hoặc vì cơ-sở của chúng hoạt động dở, hoặc do may-mắn tự-nhiên, mà anh thoát chết ở Huế vào vụ Tết Mậu-Thân 1968.  Anh trà-trộn với đồng-bào vào trốn trong nhà thờ Dòng Chúa Cứu-Thế; khi địch đến thanh lọc, anh đưa Thẻ Sinh-Viên trường Luật ra; chúng không nhận diện ra anh.  

*

        Chừng nhớ ngày xưa tôi rất ham thích Ngành Hình-Pháp, Nguyễn Xuân Lại nói:

        – Mình không ngờ Nhuận mà lại qua Ngành Ðặc-Cảnh.

Tôi định đáp: “Mình cũng không ngờ Thêm mà lại tham-chánh”, nhưng tôi nín kịp.

        Một người bạn thân khác của tôi, thi-sĩ Như Trị, tức Luật-sư Bùi Chánh Thời, cũng có quan-niệm như Lại.  Nhưng Thời không tham-chính; anh hoạt động vì nhân đạo, cầm đầu chi-nhánh của một tổ-chức quốc-tế Bảo-Vệ Thiếu-Niên Nhi Ðồng tại Việt-Nam.

        Mỗi người có quyền theo đuổi lý-tưởng riêng của mình.  Tôi tôn-trọng quyền ấy.  Nhưng vì Luật-Pháp tự nó không có Tổ-Quốc, nên chính-thể nào cũng dựa trên Luật-Pháp nói chung để làm ra Luật-Pháp của riêng mình.  Trong một Quốc-Gia, vào một giai đoạn nào đó, phải chăng Luật-Pháp cũng chỉ là sản-phẩm của Chính-Trị?  Người đã tham-gia vào Chính-Quyền, nhất là ở cương-vị lãnh đạo, làm sao không dự phần vào chính-sách chung?

        Lại được mời làm Thứ-Trưởng một Bộ.  Dù là của Bộ Tư-Pháp đi nữa, thì đó cũng là một phần của Ngành Hành-Pháp, và đó cũng là một trách-vụ chính-trị.  Anh nói là anh chưa nhận, tức là đã nhận trên nguyên-tắc, chỉ còn cân-nhắc một số điều-kiện nữa mà thôi ?

        Bị ám-ảnh vì bóng ma quá-khứ, tôi sợ là anh sẽ lại rơi vào hai trường-hợp khó-khăn:  Lý-thuyết siêu-chính-trị có thoát khỏi bị guồng máy chính-quyền biến-thể?  Và nhập-cuộc nửa vời có phải là giải-pháp an ổn cho lương-tâm?

        Thà Lại chỉ là luật-sư, hoạt động ngoài-chính-quyền như Thời, đứng hẳn về phía đối-lập trong dân-nhân, hoặc chỉ là huấn-sư trong một trường Luật, hoặc công-khai đối-lập trong các chức-vụ lập-pháp và dân-cử…  Ðằng này, trong cương-vị công-cử, nếu gặp nghịch-cảnh, thái độ của anh sẽ như thế nào …

        Tuy nhiên, lịch-sử cũng đã sang nhiều trang; cả Nguyễn Xuân Lại lẫn tôi, cũng như mọi người, đều đã lớn hơn, khôn hơn.  Trên đường tiến tới Dân-Chủ, dân-nhân Miền Nam Việt-Nam đã bước những bước khá dài.  Ít nhất thì, ngày xưa, hễ thiếu kính-trọng đối với Ngô Ðình Diệm là cầm chắc cái chết trong tay; nhưng, ngày nay, mọi người đều tự do chỉ-trích, thậm-chí mạt-sát, Nguyễn Văn Thiệu mà không hề-hấn gì.  Giới trí-thức phải hiểu rằng tài-năng, đạo đức, thiện-chí, và kết-quả phục-vụ là những yếu-tố cần-thiết để thẩm định giá-trị của một con người.  Ðã giỏi Luật-Pháp, mà cũng rành về Chính-Trị và các Ngành khác, hoặc ngược lại, thì tài-năng mới không phiến diện; và đã tham-gia thì phải dấn thân, có thế đạo đức mới vẹn toàn.

        Tôi bắt tay Nguyễn Xuân Lại thật chặt, để mừng anh, và để truyền đạt qua anh niềm tin của tôi rằng bạn mình bây giờ nhất định đã tiến rất xa …

                                                Huế, 1973-75   

LÊ XUÂN NHUẬN  

GHI THÊM:

Vào khoảng cuối thiên-niên-kỷ trước, tôi gặp lại Nguyễn Xuân Lại tại một buổi sinh-hoạt của Cựu CSQG Miền Bắc California ở San Jose.  Lại cho biết là vừa được Cựu Tống-Thống Nguyễn Văn Thiệu mời hợp-tác trong một chương-trình tranh-đấu cho Quốc-Gia.  Tôi không biết nói gì, chỉ thành-tâm chúc anh thành-công mà thôi.

Về Vùng Chiến-Tuyến

Lê Xuân Nhuận là người đầu tiên công-khai và chính-thức tố-cáo các hành-vi sai trái dưới chế-độ Ngô Đình Diệm.