LÊ XUÂN MỸ – CHIỀU NHỚ HUẾ LẦN THỨ BẢY

CHIỀU NHỚ HUẾ LẦN THỨ BẢY

Buổi Họp Mặt Vui Hát “Chiều Nhớ Huế” lần thứ bảy do chị Thanh Huệ tổ chức tại Walnut Creek đã kết thúc lúc 7 giờ tối, nhưng khi mọi người lần lượt ra về, trong lòng tôi vẫn còn nguyên một cảm giác bâng khuâng khó tả. Một buổi chiều chỉ kéo dài vài tiếng đồng hồ, vậy mà dường như chúng tôi đã đi qua rất nhiều năm tháng của cuộc đời. Có những buổi gặp mặt đến rồi đi, người ta vui một chút rồi quên. Nhưng cũng có những buổi gặp mặt mà khi trở về nhà, người ta vẫn còn nghe đâu đó tiếng đàn, tiếng hát, tiếng cười và những câu chuyện chưa kịp kể hết. “Chiều Nhớ Huế” lần thứ bảy đối với tôi là một buổi chiều như thế. Đó không chỉ là một buổi vui hát của hơn ba mươi người bạn, mà là một cuộc trở về. Một cuộc trở về không cần máy bay, không cần vé tàu, không cần phải đi hàng ngàn dặm đường. Chỉ cần một câu hát, một tiếng đàn, một cái tên quen thuộc của một người bạn cũ, là cả một khoảng trời quê hương có thể hiện về.

Buổi chiều hôm ấy có đến ba mươi bốn người tham dự, mà phần đông đều đã quá tuổi thất thập. Có những U90 như anh Mai, anh Toàn, còn U80 như tôi thì nhiều như lá rụng mùa thu. Anh Tiến, chú Bình, chị Bích Thọ, chị Hà anh An…ngay cả vợ chồng Xuân Mỹ tui. Nhìn những khuôn mặt bạn già ngồi bên nhau, tôi chợt nghĩ rằng nếu tính tổng số năm tháng của tất cả mọi người trong căn phòng ấy thì chắc chắn đó là một con số rất lớn. Mỗi người mang đến đây không chỉ một cuộc đời đã đi qua hơn bảy mươi năm, mà còn mang theo một trời ký ức riêng. Có người từng sống những năm tháng tuổi thơ ở Huế, có người từng học dưới những mái trường cũ, Quốc Học, Hàm Nghi, Đồng Khánh, Nguyễn Tri Phương, có người từng yêu, từng lập gia đình, từng chia tay bạn bè để rồi cuộc đời đưa đẩy đến một phương trời rất xa quê nhà. Có người đã rời Việt Nam từ rất lâu, có người sang Mỹ khi tuổi đời còn trẻ, có người đến khi tóc đã bắt đầu pha màu bạc. Nhưng dù hoàn cảnh mỗi người khác nhau, chúng tôi có chung một điều, trong sâu thẳm của tâm hồn vẫn có một miền quê  không bao giờ mất. Hơn ba mươi năm tôi chưa từng trở lại, quê hương ấy có thể đã thay đổi rất nhiều, những con đường ngày xưa có thể đã khác, những ngôi nhà cũ có thể không còn, những người thân yêu có thể đã lần lượt ra đi, nhưng ký ức về quê hương thì vẫn còn nguyên vẹn trong một góc nào đó của trái tim.

Có lẽ càng lớn tuổi, người ta càng hiểu giá trị của hai chữ “gặp nhau”. Khi còn trẻ, chúng ta thường nghĩ rằng ngày mai, tháng sau hay năm tới mình vẫn còn nhiều dịp để gặp lại bạn bè. Một cuộc hẹn có thể dời sang tuần sau, một chuyến đi có thể để năm sau, một người bạn lâu ngày không gặp có thể nói “khi nào rảnh mình gặp nhau”. Nhưng khi bước qua tuổi 70, chúng ta bắt đầu nhìn thời gian bằng một con mắt khác. Không ai nói ra, nhưng ai cũng hiểu rằng cuộc đời không còn dài như trước. Vì vậy, một lời mời gặp mặt, một buổi ca hát, một bữa cơm với bạn bè bỗng trở nên quý giá vô cùng. Chúng ta đến với nhau không chỉ vì thích hát, không chỉ vì thích nghe nhạc, mà còn vì muốn nhìn thấy nhau khi chúng ta vẫn còn có thể nhìn thấy nhau, muốn nghe tiếng nhau cười khi tiếng cười vẫn còn vang lên, muốn nắm bàn tay của một người bạn khi bàn tay ấy vẫn còn bên cạnh.

Và rồi những bài hát về Huế bắt đầu vang lên. Tôi không biết trong lòng mỗi người lúc ấy có một Huế như thế nào, nhưng chắc chắn Huế của mỗi người đều đẹp theo một cách rất riêng. Với người này, Huế có thể là dòng Hương Giang lặng lờ trôi. Với người khác, Huế có thể là tiếng chuông Thiên Mụ ngân vang trong một buổi sáng. Có người nhớ những con đường rợp bóng cây, nhớ những cơn mưa Huế dai dẳng, nhớ những tà áo dài đi qua sân trường, nhớ một người bạn cũ mà đã mấy chục năm không còn gặp. Có người chỉ cần nghe một câu hát là nhớ đến mẹ, đến cha, nhớ một căn nhà nhỏ, một khu vườn, một bữa cơm gia đình ngày xưa. Những điều ấy tưởng như đã ngủ yên trong ký ức, vậy mà âm nhạc có thể đánh thức tất cả chỉ trong vài phút. Với tôi là An Lăng dưới chân núi Ngự Bình quê ngoại, là Vĩ Dạ, Nam Phổ quê nội.

Đó là điều kỳ diệu của âm nhạc. Âm nhạc không có biên giới. Nó không hỏi chúng ta đang ở Việt Nam hay Hoa Kỳ, không hỏi chúng ta bao nhiêu tuổi, giàu hay nghèo, đang vui hay buồn. Một bài hát cũ có thể đưa một người 75 tuổi trở lại với tuổi 20 của mình. Một giai điệu quen thuộc có thể làm cho một người đang ngồi ở Walnut Creek tưởng như đang đứng bên dòng Hương Giang. Một câu hát có thể làm sống lại hình ảnh của một người thân mà ta đã tưởng rằng mình không còn nhớ rõ khuôn mặt. Có lẽ vì vậy mà những người xa quê thường yêu âm nhạc hơn. Bởi âm nhạc là một trong những chiếc cầu hiếm hoi có thể nối lại hiện tại với quá khứ, nối đất Mỹ với quê nhà, nối những người đang sống với những người đã khuất, nối tuổi già hôm nay với tuổi trẻ của ngày xưa.

“Chiều Nhớ Huế” không phải là một buổi chiều chỉ để nhớ và để buồn. Trái lại, tiếng hát càng vang lên thì niềm vui càng lớn. Sau những ca khúc về Huế là “Tiếng Dân Chài”, là chương trình dạ vũ sôi động với tiếng đàn của nhạc sĩ Nguyễn Tươi. Không khí trong phòng như thay đổi hẳn. Những người vừa ngồi yên lặng nghe những bài hát đầy hoài niệm bỗng đứng lên, mời nhau khiêu vũ. Có những bước chân không còn nhanh, có những động tác không còn mềm mại như thời còn trẻ, nhưng chẳng ai quan tâm đến điều đó. Người ta cười. Người ta dìu nhau đi. Người ta nhìn nhau bằng ánh mắt đầy thân tình. Và trong khoảnh khắc ấy, tuổi tác dường như biến mất. Không còn 70, 75 hay 80 tuổi. Chỉ còn những chàng trai, những cô gái của một thời xa xưa đang trở lại với tuổi trẻ của mình.

Tôi thấy vừa vui vừa xúc động. Bởi chúng ta đã dành phần lớn cuộc đời để lo cho người khác. Khi còn trẻ, chúng ta lo học hành, lo công việc, lo cha mẹ, lo chồng vợ, lo con cái. Sang Mỹ rồi lại tiếp tục một cuộc sống mới với biết bao nhiêu trách nhiệm. Đi làm, mua nhà, trả tiền nhà, nuôi con, giúp con mua nhà, chăm sóc gia đình, rồi đến khi con cái trưởng thành, chúng ta lại lo cho cháu. Thời gian cứ thế trôi qua. Đến một ngày, khi nhìn vào gương, chúng ta mới chợt nhận ra tóc mình đã bạc, đôi chân không còn nhanh, đôi mắt không còn tinh anh như trước. Nhưng sâu bên trong, có lẽ người thanh niên hay cô gái của ngày xưa vẫn còn đó. Chỉ cần một tiếng nhạc, họ lại bước ra.

Tiếng đàn của nhạc sĩ Nguyễn Tươi hôm ấy giống như một lời mời gọi. Và những người bạn của chúng tôi đã đáp lại lời mời ấy bằng những nụ cười. Các MC Bình, An và Hương Đức cũng góp phần làm cho chương trình thêm sinh động. Những lời giới thiệu, những câu nói vui, những tiếng cười làm cho buổi chiều trở nên gần gũi. Không cần một sân khấu lớn, không cần một chương trình cầu kỳ. Chỉ cần có tiếng đàn, tiếng hát và những người bạn cùng chung một tình yêu với âm nhạc, thế là đủ.

Tôi nghĩ điều đáng quý nhất của những buổi sinh hoạt như “Chiều Nhớ Huế” không nằm ở chỗ hát hay hay hát dở. Cũng không nằm ở việc ai nhảy đẹp, ai nhảy chưa đẹp. Điều quý nhất là chúng ta còn muốn hát cho nhau nghe. Còn muốn nghe một người bạn hát. Còn muốn vỗ tay. Còn muốn cười. Còn muốn đứng lên khiêu vũ. Đó chính là dấu hiệu của sự sống. Có những người dù còn trẻ nhưng tâm hồn đã mệt mỏi, già nua. Cũng có những người tóc đã bạc nhưng tâm hồn vẫn còn trẻ trung. Tuổi trẻ thật sự có lẽ không nằm ở số tuổi mà nằm ở nơi của con người trong việc tiếp tục yêu thương, tiếp tục vui sống và tiếp tục mở lòng với cuộc đời.

Sống ở Mỹ, chúng ta có rất nhiều điều kiện để sống một cuộc sống đầy đủ hơn. Đường sá rộng rãi, nhà cửa tiện nghi, bệnh viện hiện đại, con cháu có cơ hội học hành và thành đạt. Nhiều người trong chúng ta đã có một cuộc sống mà thời trẻ ở Việt Nam chưa bao giờ dám nghĩ đến. Nhưng càng sống lâu ở Mỹ, tôi càng nhận ra rằng có những thứ tiền bạc không mua được. Đó là những người bạn cũ. Là những tiếng hát quen. Là một buổi chiều ngồi cạnh những người có cùng một ký ức, cùng một miền quê. Là cảm giác khi nghe ai đó nhắc đến một con đường, một mái trường, một góc phố mà mình từng đi qua cách đây hơn nửa thế kỷ. Là giây phút một bài hát vang lên và mình bất chợt thấy mẹ, thấy cha, thấy tuổi thơ, thấy kỷ niệm hiện về.

Có lẽ đó cũng là lý do những cộng đồng người Việt ở Mỹ vẫn luôn cần những buổi gặp gỡ văn nghệ như thế này. Chúng ta không chỉ cần những hội đoàn để tổ chức công việc, không chỉ cần những buổi họp để bàn chuyện cộng đồng. Chúng ta còn cần những nơi để hát, để cười, để kể chuyện, để nhớ quê hương. Những sinh hoạt như “Chiều Nhớ Huế” âm thầm giữ lại một phần văn hóa Việt Nam giữa đời sống Mỹ. Một bài hát Việt được cất lên, một câu chuyện về Huế được kể lại, một người bạn cũ được gặp lại, tất cả đều góp một chút vào việc giữ cho ký ức của một thế hệ không bị mất đi.

Bởi thế hệ của chúng tôi là một thế hệ đã đi qua rất nhiều biến động. Chúng tôi lớn lên trong chiến tranh, trưởng thành trong những năm tháng đầy khó khăn, rồi rời quê hương đến một đất nước xa xôi để bắt đầu lại cuộc đời. Có người đi bằng máy bay, có người trải qua những ngày tháng gian nan trên biển, có người đến Mỹ với hai bàn tay gần như trắng. Chúng tôi đã học cách thích nghi với một ngôn ngữ mới, một nền văn hóa mới, một cuộc sống mới. Chúng ta làm việc, xây dựng gia đình và nuôi con. Nhưng dù đã sống ở Mỹ bao nhiêu năm, trong tâm hồn chúng ta vẫn có một phần Việt Nam không thể thay thế. Và Huế là một phần như thế.

Huế không chỉ nằm trong những trang sách lịch sử. Huế nằm trong những bài hát. Huế nằm trong giọng nói của người bạn. Huế nằm trong cách chúng ta gọi tên nhau. Huế nằm trong những kỷ niệm tưởng như rất nhỏ. Đôi khi chỉ là một cơn mưa. Một hàng cây. Một chiếc xe đạp. Một buổi tan trường. Một ly cà phê. Một người con gái mặc áo dài đi ngang qua. Một người mẹ đứng trước cửa chờ con về. Những điều ấy, khi còn trẻ, chúng ta không biết rằng một ngày nào đó chúng sẽ trở thành gia tài của ký ức.

Bây giờ chúng ta đã ở tuổi quá 70. Những người thân của thế hệ trước phần lớn đã không còn. Những người bạn cũ ngày càng ít đi. Mỗi lần nghe tin một người bạn qua đời, chúng ta lại thấy vòng tròn của mình nhỏ hơn một chút. Vì vậy, mỗi lần có dịp gặp nhau, tôi càng trân trọng hơn. Nhìn hơn ba mươi người bạn ngồi bên nhau trong buổi chiều hôm ấy, tôi không nghĩ đó chỉ là những người đến dự một chương trình văn nghệ. Tôi nghĩ đó là 34 câu chuyện của một thế hệ. 34 cuộc đời. 34 vùng trời ký ức. Và trong vài tiếng đồng hồ, tất cả đã gặp nhau dưới một mái nhà ở Walnut Creek.

Có lẽ sau này, khi một trong chúng ta không còn nữa, những người còn lại sẽ vẫn nhớ đến buổi chiều hôm ấy. Có thể sẽ nhớ một bài hát. Có thể nhớ một người bạn đã cười rất vui. Có thể nhớ một đôi bạn đã cùng nhau khiêu vũ. Có thể nhớ tiếng đàn của nhạc sĩ Nguyễn Tươi. Có thể nhớ giọng nói của các MC. Và cũng có thể nhớ người đã tổ chức, chị Thanh Huệ. Những kỷ niệm như thế tưởng rất nhỏ, nhưng càng về lâu càng trở nên quý giá.

Khi đồng hồ gần 7 giờ tối, chương trình kết thúc. Mọi người bắt đầu thu dọn, chào nhau và ra về. Có những người còn đứng lại nói chuyện. Có người hẹn lần sau gặp lại. Tôi nhìn theo những bước chân chậm rãi của bạn bè mà trong lòng bỗng thấy thương. Thương cho những người đã đi một đoạn đường thật dài của cuộc đời. Thương cho những người đã mất đi nhiều người thân yêu. Và cũng thương cho chính mình, bởi chúng ta đều biết thời gian không còn nhiều như trước.

Nhưng thay vì buồn, tôi lại thấy biết ơn. Biết ơn vì chúng ta vẫn còn gặp nhau. Biết ơn vì chúng ta vẫn còn nghe được tiếng nhạc. Biết ơn vì chúng ta vẫn còn có thể hát. Biết ơn vì trong một đất nước rộng lớn như Hoa Kỳ, chúng ta vẫn có thể tìm thấy những người bạn cùng quê, cùng thế hệ, cùng ký ức để ngồi lại bên nhau. Và trên hết, biết ơn vì chúng ta vẫn còn có một nơi để nhớ về.

Buổi “Chiều Nhớ Huế” lần thứ bảy đã kết thúc, nhưng có lẽ không ai thật sự muốn nó kết thúc. Bởi những buổi chiều như thế này không chỉ được tính bằng số giờ từ lúc bắt đầu đến lúc 7 giờ tối. Nó được tính bằng số kỷ niệm mà mỗi người mang về. Một bài hát có thể kéo dài vài phút, nhưng ký ức mà nó đánh thức có thể kéo dài cả một đời người.

Đêm hôm ấy, khi trở về nhà, có lẽ nhiều người vẫn còn nghe tiếng đàn vang đâu đó trong trí nhớ. Có lẽ vẫn còn nhớ những bài hát về Huế. “ Mưa Trên Phố Huế”, “ Bài tình Ca Xứ Huế”, “Huế Xưa”…Có lẽ vẫn còn nhớ nụ cười của người bạn bên cạnh. Và biết đâu, trước khi đi ngủ, mỗi người lại một lần trở về với Huế của riêng mình.

Tôi cũng vậy. Tôi trở về với một Huế rất xa, một Huế của những ngày còn trẻ. Một Huế có những người thân mà bây giờ chỉ còn trong ký ức. Một Huế có những người bạn mà có lẽ cả đời này cũng không thể gặp lại. Một Huế mà mỗi lần nhớ đến, lòng vừa vui vừa buồn. Buồn muốn khóc.

Nhưng tôi hiểu rằng mình may mắn. Bởi không phải ai cũng còn có một quê hương để nhớ. Không phải ai cũng còn có những người bạn để cùng hát. Và không phải ai cũng có cơ hội, ở tuổi ngoài 70, được ngồi giữa những người bạn, nghe tiếng đàn, nghe tiếng hát, cười với nhau và một lần nữa sống lại thời tuổi trẻ.

Cảm ơn chị Thanh Huệ đã tổ chức “Chiều Nhớ Huế” lần thứ bảy. Cảm ơn nhạc sĩ Nguyễn Tươi với tiếng đàn đã mang lại sức sống cho buổi chiều. Cảm ơn các MC đã làm cho chương trình thêm vui tươi và gần gũi. Và cảm ơn tất cả những người bạn đã có mặt. Mỗi người đến mang theo một câu chuyện, một ký ức, một nỗi nhớ, nhưng khi ra về, chúng ta đã có thêm một kỷ niệm chung. Và chắc chắn không thể không cảm ơn Vành Khuyên, người con của một mối tình đẹp của người chú Lê Khắc tài hoa, người em gái photographer dể thương luôn có mặt với mấy chú mấy bác với những tấm hình kỷ niệm tuyệt đẹp  Có lẽ đó là món quà đẹp nhất của tuổi già, không phải có thêm bao nhiêu nhà cửa tiền bạc, mà là có thêm những kỷ niệm đẹp để nhớ.

Và nếu có ai hỏi tôi “Chiều Nhớ Huế” lần thứ bảy có gì đặc biệt, tôi sẽ không nói đó là một chương trình văn nghệ hay một buổi dạ vũ. Tôi sẽ nói rằng đó là một buổi chiều mà 34 người bạn đã tạm quên tuổi tác để trở lại làm những chàng trai, những cô gái của ngày xưa, một buổi chiều mà tiếng hát đã đưa những người xa quê trở về với Huế, một buổi chiều mà những người Việt ở Mỹ đã tìm thấy nhau giữa một đất nước rộng lớn; và một buổi chiều mà chúng tôi nhận ra rằng, dù thời gian có lấy đi rất nhiều thứ, vẫn có những điều không bao giờ mất. Đó là tình bạn. Đó là âm nhạc. Đó là ký ức. Và đó là quê hương.

Buổi chiều đã khép lại lúc 7 giờ tối nơi Walnut Creek. Nhưng trong lòng những người bạn, có lẽ một buổi chiều khác vẫn đang tiếp tục,  một buổi chiều có tiếng đàn, có tiếng hát, có những bước chân khiêu vũ và có một dòng Hương Giang lặng lẽ chảy qua miền ký ức. Chiều Nhớ Huế lần thứ bảy đã qua. Nhưng Huế thì vẫn còn đó. Và chúng ta, những người đã đi hơn bảy mươi năm của một đời người như tôi, vẫn còn may mắn được cùng nhau nhớ Huế, nhớ nhau và nhớ một thời tuổi trẻ.




THỦY NHƯ – ĐỌC: Thư Tình Của Một Thủy Quân Lục Chiến




VTLV- CUỘC DU XUÂN “ĐỘC NHẤT VÔ NHỊ”- Phương Hoa Tường Thuật.

CUỘC DU XUÂN “ĐỘC NHẤT VÔ NHỊ”

Phương Hoa

Quý độc giả đừng vội kêu “nổ quá” khi đọc cái tựa đề này. Xin mời hãy kiên nhẫn đọc hết, quý vị sẽ thấy tôi nói không ngoa. Mọi chuyện bắt đầu bằng cái email gây “chấn động” trước Tết từ chàng Không Quân Lê Văn Hải, “sếp lớn” của Thi Văn Đàn Văn Thơ Lạc Việt (VTLV):

“Ngày 4 tháng 3 tới đây, VTLV chúng ta sẽ lên đường du Xuân Bính Ngọ, một chuyến hải hành độc đáo nhất lịch sử! Hứa hẹn những bữa ăn giữa trùng khơi, những đêm thơ ca rộn ràng, và cả những bất ngờ… không thể đoán trước!”

Chỉ vài dòng ngắn ngủi mà “chiếu tướng” thật mạnh vào lòng… dân VT Lạc Việt! Dù “thủ phủ” VTLV ở Thung Lũng Hoa Vàng (San Jose), nhưng thành viên thì ở khắp nơi.  Nghe tin “Hội ngộ trùng dương” là các tâm hồn nghệ sĩ bốn phương lập tức họp quần, đặc biệt là khi biết có sự góp mặt của “sếp” Hải.  Hai mươi “chiến bút” thành viên, trong đó có vài thân hữu, liền ghi danh book vé du thuyền 5 sao “ROYAL CARIBBEAN – Quantum of the Seas” đi chuyến Cabo, Ensenada, Mexico một tuần lễ.

Điện thoại và email của tôi bỗng thành… tổng đài “chăm sóc khách hàng”.  Tôi cũng rất vui và háo hức khi mọi người ý ới gọi tôi bàn tán, người hỏi chuẩn bị hành lý thế nào, người bàn về phương tiện từ Bắc xuống Nam Cali, người tính việc tìm chỗ đặt khách sạn… Không khí rộn ràng lan nhanh, làm ai nấy đều đứng ngồi không yên.  Trước ngày lên tàu một tháng, chàng Không Quân Hải lại… chơi lớn, mời cả đoàn xuống Nam Cali sớm một ngày để tụ tập tại nhà hàng Phở Seven.  Sếp sẽ bao trọn bữa tối thịnh soạn với các loại “men cay” kiểu không say không về, và anh còn tổ chức đêm văn nghệ “cây nhà lá vườn” cho mọi người tha hồ…quậy. 

Đêm 3 tháng 3, 2026, nhà hàng Phở Seven tưng bừng chào đón khách.  Sau khi tuyên bố mở đầu buổi tiền họp mặt, và giới thiệu những cánh chim bằng cựu Không Quân VNCH khóa 72-73A đồng đội của mình, bất ngờ anh Hải “đẩy” tôi lên giới thiệu đoàn VTLV.  Và tôi vô cùng vinh dự được giới thiệu hai nhân vật đặc biệt nhất của đoàn.  Nhà văn Hồng Thủy, Chủ Tịch Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại (Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ) bay từ Washington DC qua.  Nhà thơ kiêm nhiếp ảnh gia Phạm Phan Lang, cựu nữ Trung Tá gốc Việt đầu tiên của Lục quân Hoa Kỳ, mới bay từ Hawaii về, cùng tất cả các thành viên.  Tiếp theo MC Khánh Lan giới thiệu nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian Nam Cali.   “Chữ ký” quen thuộc của sếp Hải là… bao lì xì đỏ, nên anh đã trịnh trọng trao quà và bao lì xì đỏ cho từng người, kèm theo lời chúc mừng Xuân Mới.  Quà trao, rượu rót, bì đỏ bay theo, và túi sếp bắt đầu…lép kẹp.  Đổi lại, tiếng cười, tiếng hát, ngâm thơ, và những bước nhảy rộn ràng theo điệu nhạc đã làm bùng nổ không gian.  Buổi “warm-up” ấm áp và đầy tình văn hữu này chính là phát súng mở màn hoàn hảo cho một chuyến du Xuân trên biển đầy hứa hẹn phía trước.

Sáng ngày 4 tháng 3, đoàn quân VTLV 20 người có mặt tại bến cảng Long Beach làm thủ tục check-in. Vừa chen lấn, chúng tôi cố gõ lẹ trao đổi số phòng để lên tàu còn “bắt sóng” được nhau qua cái điện thoại phòng, vì trên tàu sẽ không nhiều người có wifi.

Dù đã đi cruise rất nhiều lần, nhưng tôi vẫn choáng ngợp trước sự quy mô của du thuyền Quantum of the Seas, con tàu khổng lồ vượt xa tầm mắt. Tôi loay hoay cầm điện thoại chụp từ đầu tàu đến đuôi tàu mà chụp mãi không hết, zoom ra zoom vô kiểu nào cũng không xong!

Phạm Phan Lang là một “chiến thần du lịch”.  Vợ chồng nàng quanh năm suốt tháng ở trên du thuyền nhiều hơn ở nhà.  Có thể nói, chân mặt họ vừa chạm đất chuyến này thì chân trái đã bước lên chuyến khác, đi khắp bốn bể năm châu.  Khi biết điều này, anh Hải và cả nhóm đã đồng ý với tôi bầu bạn ấy làm “trưởng ban sắp xếp” trên chuyến tàu.

Không hổ danh là…chuyên gia, Phan Lang vừa lên tàu đã nhanh chóng “chộp” được nhà hàng American Icon ở tầng 4, booking thần tốc lịch ăn tối 6 đêm liên tiếp cho cả đoàn.  Cất xong hành lý, chúng tôi lên ăn trưa ở nhà hàng buffet “Windjammer Maketplace” tầng 14. Vừa bước chân vào, vợ chồng tôi lập tức bị “lóa mắt” bởi những dãy tủ thức ăn dài dằng dặc, lớp lớp bánh trái, hoa quả xếp hàng.  Khu vực ăn uống rộng lớn, bàn ghế giống nhau, nhân viên đồng phục, khách hàng đông nghẹt, nên sau khi tìm được bàn lớn cho cả nhóm, rồi đi lấy đĩa thức ăn đủ loại thơm phức, chúng tôi bỗng trở thành những… trẻ lạc.  Các bạn hãy tưởng tượng, mỗi người bưng một đĩa đầy ngập thức ăn trên tay, mắt láo liên, đi vòng quanh nhà hàng với gương mặt “ngáo ộp” vì không tìm ra cái bàn mình vừa ngồi lúc nãy ở đâu!  Nói ra thì…mắc cở thiệt, nhưng giờ ngồi đây nhớ lại cảnh tượng lúc đó buồn cười không chịu nổi!  Không phải mình chúng tôi bị đâu, mà nhiều người trong nhóm cũng bưng thức ăn đi vòng vòng…tương tự.

Sau khi “bỏ bụng” bữa trưa, ai về phòng nấy để “tu sửa” nhan sắc bị te tua vì sắp hàng chen lấn.  Cánh nữ quyết tâm phải diện… thật bảnh, để đi ăn tại nhà hàng American Icon cho buổi tối đầu tiên trên tàu.  20 người chúng tôi được xếp một dãy bàn dài tít tắp, kèm theo một bàn ngắn gần nhau. Nhìn vào menu thì hoa cả mắt, tên món vô cùng hấp dẫn cho cái bao tử đang chờ.  Nhưng khi thức ăn dọn ra thì đúng là của nhà…“quý tộc”, cái đĩa thì to tổ chảng, mà thức ăn bé tí bé teo nằm lọt thỏm ở giữa!  Món nào cũng chỉ “xớt” đầy một muỗng. Tuy nhiên, phải công nhận là cách trình bày rất thanh nhã và hương vị thì ngon không thể chê! Trong khi các phục vụ lịch lãm bưng những khay thức ăn bốc khói nghi ngút đi lại nhộn nhịp như trong một đám cưới khổng lồ, thì bàn của VTLV chúng tôi bắt đầu…đại náo. Ánh đèn flash từ iPhone cho đến dàn “máy hình xịn” của Phan Lang nháy lên liên tục, lóe sáng khắp nơi. Chụp hình món ăn, chụp hình đồng đội, chụp hình bồi bàn… chúng tôi chụp “tá lả” như thể sợ ngày mai người ta không cho chụp nữa! 

Tiệc vừa tan, sếp Không Quân Hải lại trổ tài… chịu chơi. Trong cái không gian sang trọng của nhà hàng 5 sao giữa đại dương, anh bất ngờ rút ra một bộ bài tây và…phán, “Bài Cào đây, Hải sẽ chia cho mỗi người 3 lá, ai điểm cao nhất có quà!”. Thế là không khí bỗng chốc trở nên căng thẳng như…chung kết World Cup. Các thi sĩ, nhà văn, nhạc sĩ, vốn dĩ hiền lành nay bỗng biến thành những “con bạc” thứ thiệt. Ai nấy mắt trợn tròn, môi mím chặt, nặn từ từ từng con bài một để tìm kiếm vận may. Hồi hộp đến nghẹt thở! Và rồi, anh Hải cho ra một tiếng hét vang dội: “A HA, CÓ NGƯỜI THẮNG RỒI!” Tiếp theo là những tràng pháo tay rầm rộ khiến thực khách xung quanh đều phải ngơ ngác quay lại nhìn. Chắc họ đang tự hỏi nhóm “quậy” này từ hành tinh nào rơi xuống mà vui quá xá vậy!

Ăn tối xong, cả đoàn kéo nhau đi khám phá khắp nơi. Nhưng đi dạo thì ít mà “hành quân” chụp ảnh thì nhiều! Nhiếp ảnh gia Phan Lang, vốn là cựu sếp trong quân đội Hoa Kỳ, nay bỗng chốc “hiện nguyên hình” là… chỉ huy trưởng!  Hễ thấy góc nào có màu sắc đẹp là nàng lập tức ra lệnh, “Tất cả tập hợp lại đây!” Thế là cả nhóm người răm rắp xếp hàng dọc, hàng ngang, xoay trái, xoay phải, theo lệnh chỉ huy. Mọi người toét miệng cười liên tục để “thủ trưởng” tác nghiệp, cười nhiều đến nỗi mỏi cả quai hàm, cơ mặt đơ cứng như được… tiêm botox vì phải gắng sức “làm duyên” cho đúng ý sếp để có được hình đẹp. Nhìn bạn tôi Phan Lang, vác cái máy ảnh to tướng, nặng trình trịch trên vai chạy tới chạy lui canh góc, canh hướng chụp hình, tôi bỗng liên tưởng đến cảnh cô nàng hồi còn đi lính, vác súng xông pha trên thao trường, mà không khỏi cười thầm trong bụng.  Nhớ lại chuyện “cười ra nước mắt” nàng từng kể tôi nghe khi tập bắn súng ở quân trường, không biết nàng ngắm cái kiểu gì, mà cả 9 viên đạn được phát cho tân binh buổi hôm ấy nàng…lia cả vào tấm bia của người lính bên cạnh, trong khi bia của nàng thì trống trơn, lành lặn, không có vết đạn nào! Và từ đó, mỗi lần đến lượt Phan Lang tập bắn, các quân nhân khác…bỏ chạy ra thật xa!

Khi đôi chân đã bắt đầu biểu tình, mọi người đòi rút quân về phòng để “tẩy trần” và nghỉ ngơi. Nhưng đúng là phong thái quân đội, dù đi chơi cũng phải có “kỷ luật thép”! Trước khi giải tán, “thủ trưởng” Phan Lang vẫn không quên tập hợp lực lượng lần cuối để… ban bố mệnh lệnh, “Đúng 8 giờ sáng mai, tất cả tập họp tại tầng 14 để ăn sáng và họp bàn kế hoạch mới!”

Đêm đầu tiên nằm trên du thuyền bên cạnh con thỏ được bồi phòng thắt bằng khăn trắng có vẽ hai con mắt long lanh thật dễ thương, chúng tôi nhìn ra cửa sổ thấy biển đêm lấp lánh như dát bạc dưới ánh trăng, mây trôi lững lờ ảo diệu giống cảnh thần tiên.  Và tôi chìm vào giấc ngủ cùng hình ảnh biển lớn bạt ngàn gợn sóng bồng bềnh bên ngoài mạn thuyền…

Ngày thứ hai, sau một đêm ngủ ngon giữa tiếng sóng dịu dàng, ai nấy đều hồi phục 100% công lực. Bữa sáng buffet là một cuộc thử thách lòng “mê ăn” vì món gì cũng muốn nếm, chỗ nào cũng muốn thử, trong khi các vị nữ lưu lại cố giữ eo để mặc áo dài và diện …đầm đìa. Ăn sáng xong, “Hội đồng tác chiến” bắt đầu làm việc.  Các văn nhân thi sĩ lúc này tạm gác bút nghiên, tập trung cao độ vào việc khám phá và chiếm lĩnh những góc chụp hình đẹp nhất, trước khi các đoàn khách khác ập tới.  Phan Lang chạy đôn chạy đáo và tìm được một khu vực trang trí đẹp mê hồn gần mạn thuyền, tên Wonderland, nhìn cứ như lạc vào Disneyland vậy! Chiếc ghế hoàng hậu uy nghi bọc những viên đá kim cương to đùng, lấp lánh. Thế là các “quý bà” VTLV tranh nhau leo lên, ẹo qua ẹo lại, tạo dáng đủ kiểu để chụp hình, rồi còn lôi cả quý ông vào chụp tiếp. Tôi đứng chụp hình cho họ mà vừa buồn cười vừa… thương cho cái ghế, chỉ sợ nó chịu không thấu nhiệt tình của chị em mà “sập” một phát là “tiêu đời cô Lựu” cả đám! Giữa rừng máy ảnh và hàng chục chiếc iPhone đưa lên cùng lúc, Phan Lang luôn miệng… hét, “Nhìn ngay vào ống kính đây này! Chụp mỗi máy một lần thôi, vì nhìn cùng lúc nhiều máy quá sẽ bị… lé mắt hết nghe chưa!”  Những tiếng cười ha ha hí hí he he lại vang lên ầm ỹ.

Sau khi thỏa mãn “cơn mê” hình ảnh, mọi người mới nhớ đến chuyện Karaoke.  Phan Lang và chị Hồng Thủy hào phóng mời mọi người về phòng có ban công của mình để cùng nhau…hét.

Xin kể “Chuyện hậu trường” về cái máy Karaoke. Trước chuyến đi, Trưởng Ban Biên Tập VTLV Thái Phạm đã cho một ý kiến, dù anh không đi được cùng mọi người, là phải có cái máy Karaoke nho nhỏ mang theo để mọi người hát hò trên tàu cho…xôm tụ. Tôi “nhận lệnh” đi săn lùng, và cuối cùng VTLV tậu một chiếc máy Karaoke với giá “hạt dẻ” nhưng âm thanh thì… hút hồn, vang dội như sấm mùa đông. Tiến Sĩ Nguyễn Hồng Dũng, Phó Chủ tịch VTLV, được mời đến thử giọng đầu tiên.  Anh đắc ý vì tiếng hát quá cuốn hút, cẩn thận đóng gói mang đi. Ấy thế mà, sáng ngày check-in vào xong, tôi hớn hở hỏi, “Anh Dũng ơi, khi nào thì nhóm mình khai máy Karaoke được?” Anh giật mình, trợn mắt kêu trời. Hóa ra vì quá hào hứng lên tàu, lúc nhờ người drop xuống bến cảng, vị Tiến sĩ đáng kính của chúng tôi đã… bỏ quên luôn máy Karaoke trên xe người đưa đón! Tin “dữ” lan đi, cả nhóm chỉ biết dở khóc dở cười!  Vậy là các văn thi sĩ sẽ ngồi nhìn nhau… ngâm thơ chay cho sóng biển nghe rồi!  

Nhưng như người ta thường nói, ở đời hay không bằng…hên. Giữa lúc nỗi buồn đang lan tỏa, thì “Thiên thần” Hạnh Thảo xuất hiện.  Nghe chúng tôi than vãn về “thảm họa Karaoke” của anh Hồng Dũng, Hạnh Thảo bỗng phá lên cười, “Mọi người đừng lo, em có đem theo một bộ đây nè!” Cả đoàn vỗ tay rầm rộ, tiếng reo hò suýt chút nữa làm rung rinh con tàu vĩ đại giữa đại dương. “Người tính không bằng trời tính” cuộc vui chính thức được “cứu vãn” trong gang tấc!

Và khoảnh khắc mong chờ cũng đến, là màn ra mắt chiếc máy Karaoke “cứu tinh” của Hạnh Thảo. Anh Hồng Dũng sau khi “chuộc lỗi” bằng những lời phân trần, đã chính thức cầm mic khai Xuân, cùng Hạnh Thảo “dợt” một bài hay đến long trời lở…nước!  Căn phòng dù rộng rãi nhưng làm sao chứa hết mấy chục con người.  Thế là cảnh tượng “lớp lớp trùng trùng” người ngồi trên giường, người khệ nệ bê ghế từ ngoài ban công vào, người ngồi bệt xuống đất, thậm chí có người còn ngồi luôn xuống sàn tàu. Và rồi, mọi người bắt đầu… quậy tới bến!

Tiếng nhạc nổi lên giữa đại dương bao la với âm thanh đầy kỳ diệu. Không cần cái máy kêu “như sấm” bị bỏ quên, máy của Hạnh Thảo vẫn đủ sức làm bùng nổ không gian. Những “giọng oanh vàng” tha hồ cất tiếng, những “đôi chân ngọc” mặc sức lắc lư. Tôi nhận ra rằng chỉ cần có nhau và có tiếng hát, thì dù giữa trùng khơi vẫn hạnh phúc. Lời ca tiếng nhạc vang vọng khắp phòng, tràn ra ban công, chan hòa vào đại dương, làm cho sóng nước cũng lấp lánh theo mạn tàu.

Về chiếc backpack (ba lô) đầy tình thương của sếp Hải.  Đây cũng là dịp Không Quân Hải tiếp tục… móc hầu bao. Cứ ai hát xong là được tặng quà, trao vòng hoa, và nhận bao lì xì đỏ chói.  Tính đến giờ phút này, tôi không biết đã có bao nhiêu cái phong bì đã “bay” khỏi cái backpack của anh Hải nữa.  Tôi gọi nó là “bắt phạt” mới đúng, và thấy cảm động, thương sếp vô cùng! Lúc làm thủ tục check-in, mọi người đều ký gửi hành lý để xe đẩy đi cho khỏe. Riêng anh Hải cứ khư khư vác cái ba lô to đùng, nặng trình trịch đó trên vai, làm cái lưng anh cong xuống.  Tôi đã thắc mắc, sao sếp không gửi phắc nó đi cho rảnh tay, giờ mới hiểu. Hóa ra trong đó toàn là “kho báu” anh mang theo để tặng thưởng cho đoàn. Nào là voi đá, cá thủy tinh, hưu cao cổ, Thiên thần, và lá hoa đủ kiểu đủ màu. Anh sợ ký gửi chúng sẽ bị “sức tay gãy gọng” hết, nên thà chịu đau lưng, vác “trọng trách” ấy suốt quãng đường dài, để đổi lấy nụ cười cho anh chị em. Đúng là một vị “Big Boss” dễ thương… nhất hệ mặt trời!

Buổi tối, không gian nhà hàng rực rỡ, vì cánh nữ VTLV diện quốc phục áo dài thướt tha, và cánh mày râu thì lịch lãm trong những bộ vest chỉnh chu. Bữa tối sang trọng diễn ra trong không khí ấm cúng, bất ngờ thuyền trưởng cùng đội ngũ nhân viên phục vụ bước ra hát vang nhảy múa chào mừng du khách. Nhóm VTLV cũng hào hứng đứng dậy, “quậy” nhiệt tình, những tà áo dài VN lả lướt tung bay theo bước chân đoàn thủy thủ, làm thiên hạ nhìn đến…lác cả mắt!

Ngày thứ 3 tàu cập bến Cabo San Lucas, Mexico. Vì nghe tin Mexico bạo loạn, một số người “hãi” không dám lên bờ. Nhóm “điếc không sợ súng” 10 người chúng tôi vẫn mua vé tour đi ngày sau, vì hôm đó hết vé.  Nhưng hôm ấy chúng tôi cũng rủ nhau lên bờ Cabo, dạo chơi khu phố gần tàu chứ không dám đi xa.  Rảo chụp hình một hồi, chàng cựu phi công VNCH Lê Văn Hải và nàng cựu Trung Tá Lục Quân Hoa Kỳ bỗng rủ nhau bày trò cho thiên hạ… hết hồn chơi!

Hai người ngồi xuống trước cửa một gian hàng, ngửa nón ra và bắt đầu “đóng vai” homeless để xin tiền ông đi qua bà đi lại. Khi chúng tôi tìm thấy họ thì trong nón đã có một tờ 5 đô nằm chơ vơ trông đến là tội nghiệp! Nhìn hai người ngồi bệt dưới đất, mặt mày nghiêm trọng như đang thực hiện…nhiệm vụ bí mật cấp quốc gia, chúng tôi cười ngửa cười nghiêng, cười đến té lăn chiêng xuống đất! Tôi nhanh tay “chộp” vội tấm hình để làm…bằng chứng.  Hai vị cựu chỉ huy mà máu hài hước, máu tếu, đến cở này thì thiên hạ…chịu đời sao thấu! Dân bản địa Mexico đi ngang qua tò mò đứng lại nhìn, có lẽ vì trông hai vị “homeless” khí chất quá sang trọng, sao nghèo mà…uy nghi lạ thường! Khi chúng tôi ngưng cười, chàng phi công đứng dậy phủi quần, hiên ngang như vừa đáp máy bay an toàn, còn nàng Trung Tá thì chỉnh lại xiêm y, lấy lại vẻ oai phong lẫm liệt cũ.  Hai người đi về tàu tỉnh bơ như chưa hề có chuyện gì xảy ra!

Chúng tôi kéo theo sau mà bụng vẫn còn đau thắt vì cười. Hóa ra, không cần vé tour đắt tiền, không cần người dẫn đoàn chuyên nghiệp, chỉ cần có “máu liều” và khiếu hài hước của Văn Thơ Lạc Việt, thì một vỉa hè ở Mexico cũng biến thành… sân khấu đại nhạc hội, vui nổ trời nổ đất!

Hôm đó là “The White Day”, ngày hội mặc đồ trắng toàn bộ.  Đi bờ về, mười mấy nữ tú và mấy nam thanh VTLV diện trang phục trắng muốt như tiên đồng ngọc nữ, kéo đi chụp hình. Khách du lịch quốc tế nhìn chúng tôi vỗ tay trầm trồ. Có người còn nhiệt tình giành lấy máy để chụp hộ cho đủ mặt hết cả đoàn.  Buổi tối tại nhà hàng American Icon là một biển trắng tinh khôi. Đặc biệt hơn, đoàn VTLV có hai thành viên đón sinh nhật. Nhà hàng tặng bánh kem. Sếp Hải rút bao lì xì và vòng hoa trao cho người thêm tuổi mới. Tiếng hát Happy Birthday của nhân viên nhà hàng và VTLV cùng vang lên rộn ràng ấm áp.

Sau tiệc tối, anh Hải mở “đại bản doanh” phòng mình để hát Karaoke, nhảy nhót, lần thứ hai.  Có thêm 4 vị khách Nam Cali gặp trên tàu tham gia.  Chị tên Bích Vân tuy được chồng đẩy trên xe lăn, nhưng hát rất hay. Với hiệu lệnh “ai dám cầm mic là có quà”, sếp Hải lại tiếp tục… vơi túi tiền cho những giọng ca oanh vàng mới quen.  Sau màn ca hát, đến trò chơi Lô-tô do anh Hồng Dũng điều khiển. Cả phòng náo loạn mỗi khi có người trúng số nhảy tưng lên. Tôi cũng may mắn “Kinh” một ván, và rinh bình hoa đẹp cùng bao lì xì đỏ lóe. Sếp Hải còn bày thêm trò Bầu Cua Cá Cọp. Tiếng reo hò, tiếng cười, tiếng vỗ tay vang dội cả phòng bay qua ban công hòa vào gió biển. Niềm vui “sung” đến mức khi tan hàng thì đã gần 1 giờ khuya! Bụng đói cồn cào, cả nhóm lại rủ nhau kéo lên Pizza Cafe Promenade để thưởng thức món Pizza “độc bản”. Miếng bánh mỏng dính như bánh tráng, chỉ to bằng cái đĩa nhưng vị ngon thì khó cưỡng khi đưa vào miệng. Mỗi người gọi một cái, nhấm nháp và uống cà phê, kết thúc một ngày dài đầy phấn khích.

Ngày thứ 4 lên bờ thăm Cabo. Nói thì nghe “anh hùng” thế, chứ lúc bước xuống đi sâu vào địa phận nước Mễ theo tour, chúng tôi bụng ai nấy đều “đánh lô tô”.  Nhìn lính Marine (Thủy Quân Lục Chiến) trang bị súng ống tận răng đi tuần tra, mắt liếc nhìn du khách chằm chằm, chúng tôi cũng… ớn. Nhưng hướng dẫn viên rất lịch sự và chu đáo, đón chúng tôi bằng xe bus xịn, đãi ăn vặt ngon, làm nỗi lo cũng vơi đi phần nào.  Họ đưa đi coi phố xá xinh đẹp của Cabo, xưởng thủy tinh nghệ thuật xem họ biểu diễn làm vỏ chai, các con vật, ghé Chocolate factory, và đặc biệt là nơi thử rượu. Các loại rượu quý của Mễ, kể cả Tequila, đều được mang ra. Cánh đàn ông thử hết mười mấy mẫu rượu mạnh, mặt ai nấy đỏ gay như gấc chín. Tôi cũng “bạo gan” nếm thử hai ly nhỏ xíu, mà đã thấy nóng bừng cả người, công nhận rượu Mễ “phê” thật!

Hấp dẫn nhất tour này là chuyến canô ra khơi, thăm các hang động và núi đá nghệ thuật thiên nhiên The Arch of Cabo tuyệt mỹ, và coi cá heo. Giữa đại dương bao la, những chú cá heo nhảy lên bắn nước tung tóe chào đón đoàn, cảnh tượng thú vị không lời nào tả xiết.  Canô đang lướt sóng anh thuyền trưởng bất ngờ hỏi: “Are you ready to fly?” (Các bạn sẵn sàng bay chưa?). Cả nhóm tưởng anh ta đùa, nên đồng loạt hô, “YES!” Ai dè anh ta tăng tốc độ thật! Chiếc canô lao đi như phản lực, sóng đánh ầm ầm vào sườn làm nước dằn mạnh, canô như đụng phải đá ngầm, bồng lên hạ xuống liên tục, xém hất văng chúng tôi khỏi canô.  Các ông thích chí cười ầm ỹ, Phan Lang vẫn vác máy lên vai chụp hình.  Bên cạnh tôi, nhà văn Hồng Thủy vì cao tuổi và có vấn đề về tim nên hoảng hốt. Chị níu chặt tay tôi, kêu lên bằng giọng Bắc… đặc sệt, “Ối giời ơi, ghê quá!”. Tôi một tay ôm chặt lấy chị, một tay cầm điện thoại quay phim, miệng trấn an, “Chị yên tâm đi, em biết bơi, lại có áo phao, bảo đảm nếu có bề gì em sẽ đưa chị vào bờ an toàn!”. Chị nghe thế tạm yên lòng, nhưng khi tới gần bờ đã “hoàn hồn” chị quay qua tặng cho anh thuyền trưởng một tràng… mắng vốn bằng tiếng Anh vì tội làm chị mệt tim, khiến anh này phải xin lỗi rối rít. Sau trận “thủy chiến” hết hồn đó, chúng tôi được bù đắp bằng một bữa trưa món Mễ ngon lạ lùng.  Trên đường về, ai nấy gật gù, “Chuyến đi này thật là đáng đồng tiền bát gạo!” Chị Hồng Thủy tiếp, “Trừ canô!”

Cũng phải nhắc đến một cử chỉ cực kỳ dễ thương của MC Hạnh Thảo. Cô nàng đã âm thầm mua tặng cả đoàn 20 người mỗi người một chiếc áo thun kỷ niệm có in dòng chữ “Quantum of the Seas”. Phái nữ thì màu hồng ngọt ngào, phái nam thì màu xanh biển mạnh mẽ.

Ngày thứ 5, trên boong tàu tầng 15 bỗng chốc biến thành một “rừng hoa di động” với 14 đóa hồng rực rỡ và 6 nhành xanh biển nam tính. Hạnh Thảo quá tâm lý, mặc áo vào cả đoàn nhìn như một đội quân sắp đi… đánh chiếm tàu Quantum. Nhìn thấy thế, sếp Hải chợt nảy ra ý định mở cuộc thi giải Marathon, “Chạy 2 vòng, vòng quanh thế giới… du thuyền!”  Tất cả sắp hàng trong tư thế sẵn sàng. Vừa nghe anh Hải hô, “Một, hai, ba… GO!” thì Ngọc Ánh bỗng chốc hóa thành “nữ hoàng tốc độ” phóng vèo một cái, như thể có gắn động cơ phản lực sau lưng. Tiếp theo là Kiều My, Hạnh Thảo, và tôi, bốn vận động viên áo hồng “phi nước đại”, mông nguẩy, tay vẫy, mặt hớt hải, phóng như bay… bỏ xa sau lưng đoàn “vận…chậm viên” rồng rắn.

Nhưng cái “máu nghệ sĩ” nó khổ lắm, đang chạy hì hục mà giữa đường gặp tượng gỗ chú gấu đỏ California bự tổ chảng đứng bên vách tường cạnh những người leo núi, cả bốn đứa quên sạch giải thưởng, thắng gấp một cái “két” để nhào vô chụp hình. Kệ, tiền thưởng tính sau, hình đẹp là trên hết! Tuy thế, khi thấy nhóm sau gần đuổi kịp, 4 người bắt đầu vắt giò lên cổ …chạy tiếp! Kết quả, “giám khảo” Hải bao dung đến mức lạ kỳ, người về nhất có tiền, người về bét… cũng có tiền. Đúng là giải đấu nhân văn nhất lịch sử hàng hải!

Sau khi nạp năng lượng bằng kem bảy màu và dùng bữa trưa tại một góc khuất đuôi tàu, nơi có view “triệu đô” vì được nhìn đám bọt sóng trắng xóa đang cuồn cuộn đuổi theo tàu ngoạn mục, Hạnh Thảo lại bê máy Karaoke ra.  Nhóm VTLV chính thức chiếm đóng địa bàn. Chúng tôi cùng …“hét” cho đại dương nghe! Tiếng nhạc vang dội hòa cùng tiếng sóng, làm mấy chú hải âu tình cờ bay ngang cũng phải lượn lờ chậm lại vẻ như nghe ngóng và muốn…tham gia nhập đoàn!

Sau phần Karaoke, sếp Hải trổ tài “huynh trưởng hướng đạo”. Trò kéo co anh đưa ra bằng cách “oẳn tù tì” để chọn đội nào bắt đầu trước.  Đội tôi có chị Hồng Thủy, và chị đã cùng chúng tôi đứng bộ tấn đường hoàng, ôm chặt, kéo mạnh, đến nỗi làm cho…cả boong tàu rung chuyển, và đội kia thua…bật ngửa, vui đến nỗi một bà cháu người Mỹ đi ngang cũng xin “nhập hộ khẩu” vào đội hình. Bé con được sếp Hải lì xì cười toét miệng. Rồi trò “múc nước bằng muỗng” chạy thi đổ vào ly, và “vận chuyển đậu gà” đếm số nhận thưởng.  Nhìn 20 con người học thức, sang trọng, diện đẹp, mà rối rít cầm muỗng chạy lăng quăng như trẻ lên ba, va vào nhau, đổ đậu, đổ nước vung vít, thiệt tình là cười đến nỗi ruột gan thắt lại, nước mắt chảy te re!

Buổi tối, cả đoàn diện đồ đen toàn bộ, nhìn…ngầu như phim “Men in Black” đi dự tiệc Captain’s Dinner. Trong khi các bàn khác đang vỗ tay chào thuyền trưởng, thì bàn Văn Thơ Lạc Việt lại có “độc chiêu”. Sếp Hải cảm ơn mọi người và nói anh vô cùng hạnh phúc với chuyến đi này. Rồi anh lại mở chiếc ba lô “huyền thoại” ra. Nhưng lần này không phải trò chơi, đó là những giây phút vinh danh đầy cảm động và… khác người! Ba lá cờ vàng ba sọc đỏ lấp lánh giữa nhà hàng quốc tế, kèm theo ba phong bì đỏ thắm, được anh Hải trao tặng chị Hồng Thủy, Phạm Phan Lang, và cả “phóng viên chiến trường” Phương Hoa tôi. Cả nhà hàng nhìn sang với ánh mắt vừa ngạc nhiên vừa khâm phục. Họ không hiểu cái nhóm này lấy đâu ra lắm năng lượng thế, đêm thì sang trọng huyền bí, đêm thì nghịch ngợm dành hết phần thiên hạ! Chúng tôi về phòng với nụ cười vẫn còn treo trên môi, đi vào giấc ngủ mà trong mơ vẫn còn nghe tiếng chân chạy, muỗng gõ vào ly, và tiếng cười giòn tan hòa trong gió biển ở đuôi tàu.

Ngày thứ 6 tàu ghé Ensenada. Phan Lang giúp book miễn phí chuyến “Lên trời – North Star” cho mọi người khỏi tốn $45/vé, bay lên không trung ngắm biển và cả con tàu từ trên cao. Sau khi đáp xuống, vì không dám đi tour, 10 người chúng tôi rủ nhau xuống cảng Ensenada với tư thế “vui chút xíu thôi” và dặn nhau, “đi dạo gần bờ, hễ thấy biến là dọt lẹ lên tàu”, rồi cử hai “liền ông” người đi đầu và người đi cuối. Cứ ba bốn bước là dừng lại điểm danh, như học sinh mẫu giáo, sợ rớt mất mống nào là mệt! Thành phố này trông có vẻ “ghê” hơn Cabo, lính Marine bịt mặt vác súng đi rầm rập làm ai nấy tim đập đùng đùng. Nhưng mà lạ lắm, hễ thấy đồ rẻ là cái “máu mua sắm” nó đè bẹp nỗi sợ. Ở đây trả giá còn hơn chợ Bến Thành, người ta đòi 25 đô, mình trả giỡn 10 đô/2 cái, ai dè họ bán cái rụp, làm chúng tôi ngớ người, hối hận mình không trả…5 đô cho rồi!

Đêm tiệc cuối tại nhà hàng American Icon, sếp Hải “âm mưu” tặng tiền tip cho nhân viên phục vụ theo phong cách…đại gia.  Mọi người góp tiền lại, sếp moi trong túi ra hai phong bì đỏ chót hình cô Ngựa, bỏ tiền vào mà để xòe ra một phần ba như…đánh bài xì tố. Khi hai phục vụ được mời lên, anh Hải hô vang “Thank you” 3 lần, như hô khẩu hiệu duyệt binh, và cả bàn Văn Thơ Lạc Việt đứng dậy hô tên họ “DungRui” 3 lần, đến lượt anh phó “Tedi” cũng vậy. Cô DungRui cảm động rưng rưng nước mắt, ôm sếp Hải và nói với mọi người, “Trời ơi, suốt đời đi làm, tôi chưa bao giờ được thưởng cái kiểu này!” Nhìn sang các bàn khác, tôi thấy người ta chỉ để tiền tip rồi lủi mất, nên mới thấy dân VTLV mình chơi “đẹp và độc” đến mức nào!

Sau đó sếp Hải bắt đầu màn “đố vui thông minh”. Câu hỏi vừa ra, chị Hồng Thủy đã chứng minh bộ não “trên hàng 8” nhưng chạy nhanh hơn…máy tính, nên chị lãnh giải nhiều nhất, vét hết những đồng bạc cuối cùng trong túi anh Hải nhờ vào câu trả lời chót, “Lê Văn Hải là nhà băng bị bankrupt!” Làm cả nhóm thích quá cười to, vỗ tay muốn sập bàn.

Tiệc tàn, chúng tôi lại kéo nhau xuống Cafe Promenade uống cà phê. (đúng là bụng không đáy!).  Anh Hải mời mọi người phát biểu cảm tưởng, và mời đứng lên nắm tay nhau hát một bài để chia tay.  Cảnh tượng này làm quản lý nhà hàng cảm động, anh chạy ra bật hết đèn sáng trưng, rồi leo lên ghế làm “phó nháy”giùm, chụp từ iPhone cho tới cái máy “đại bác” của Phan Lang. Trước khi về phòng, các nàng “sa lầy” vào khu hàng hiệu.  Phan Lang làm cả hội nữ…lác mắt khi rước một em LV cao quý, Ngọc Ánh cũng không vừa, khi tậu em BurBerry sành điệu. Cả đám các cô cùng vui với bạn, xúm lại đeo thử lấy hên, chụp hình để dành khi nào tiện thì mua.

Nhóm còn rất nhiều hoạt động thú vị khác, xem ca nhạc tại Royal Theater mỗi xuất khuya, chơi banh, kéo máy sòng bài…mà vì bài viết đã dài không thể kể hết.

Ngày thứ 7.  Sáng sớm tinh mơ, khi bình minh còn chưa kịp nhuộm vàng mặt biển, tầng 14 đã rộn ràng tiếng cười nói. “Binh đoàn” Văn Thơ Lạc Việt tập hợp ăn bữa sáng cuối cùng. Sau đó, ai nấy về phòng chuẩn bị lên bờ. Tại điểm tụ tập, bầu không khí bỗng chùng xuống. Những con người mới hôm qua còn nhảy Marathon, kéo co, hát hò cười vang cả boong tàu, giờ đây nhìn nhau mắt rưng rưng. Những cái ôm siết chặt, những lời từ tạ thấm đẫm tình thân được trao đi cùng lời hứa, “Chúng ta sẽ còn những chuyến đi rực rỡ thế này nữa nhé!”

Sau cùng, cảm ơn sếp Hải với tấm lòng lo cho mọi người, chiếc ba lô phong bì đỏ, quà, và trò chơi hướng đạo.  Cảm ơn “thủ trưởng” Phan Lang đã chèo lái con tàu tâm hồn cả đoàn. Cảm ơn chị Hồng Thủy yêu quý đã từ xa bay qua Cali tham gia cùng tụi em. Và cảm ơn tất cả các anh chị em Văn Thơ Lạc Việt cùng thân hữu đã biến một chuyến Cruise bình thường thành một huyền thoại vui đáng nhớ… cả đời.    

       Phương Hoa – Xuân Bính Ngọ, 2026




PHƯƠNG HOA – BÚT KÝ: Singapore – Đến Một Lần Mãi Nhớ.

Singapore – Đến Một Lần Mãi Nhớ

Phương Hoa

Sau chuyến du lịch Singapore trở về, người thì đã tới nhà, mà hồn vía tôi vẫn còn lửng lơ đâu đó bên kia bán cầu.  Vì trái múi giờ, mắt cứ ríu lại mở lên không nổi, ban ngày ngủ gà ngủ gật, ban đêm thức trắng mắt mũi lờ đờ, nhưng ký ức về chuyến đi thì vẫn còn tươi roi rói trong đầu.  Chỉ nhớ tới thành phố sạch đẹp này thôi là tôi thấy tỉnh ngủ… được chút xíu, liền ngồi dậy ghi vội đôi điều, trước khi quên mất tiêu vì bị công việc “vùi dập” bởi sự đình trệ trong thời gian đi vắng.

Tất cả những nơi chúng tôi đi qua trong hai tuần ở Singapore đều thật là đáng nói.  Nhưng trong bài viết nhanh để “trình diện ngày trở về” này, tôi chỉ xin tóm tắt ghi lại vài nơi thăm viếng sau cùng trước khi lên máy bay về Hoa Kỳ.

Nhóm tôi tuy đến từ Mỹ, nhưng người ở rải rác khắp các tiểu bang, từ California đến Texas, Florida… và đều book chung khách sạn “D’Resort Downtown” gần bờ biển, và gần shopping mall của một trong vài khu phố thị lớn nhất Singapore, là khu Downtown East. 

Chuyến bay thẳng hơn 17 giờ trên United Airline từ San Fransisco tới Singapore quả thật là dài dằng dặc.  Vì… tiết kiệm, mấy người bạn khuyên nên book theo dạng “con nhà nghèo” nghĩa là hạng “Basic Economy” chỉ hơn sáu trăm bạc khứ hồi cho mỗi người, cộng thêm một trăm tiền bảo hiểm, phòng ngừa nếu đổi ý hủy bỏ hoặc dời đổi chuyến bay sẽ không bị mất tiền hay bị phạt. 

Hình như tuyến đường từ Mỹ qua Singapore không có nhiều người đi. Lên máy bay, chúng tôi kéo hành lý xách tay vượt qua những hàng ghế thương gia ở đầu tàu, thấy mỗi ghế ngồi được chia cách riêng biệt, trong bụng tôi nghĩ thầm, phải trả thêm mấy nghìn nữa để được ngồi hạng ghế này cũng …đáng đồng tiền bát gạo.  Nhưng khi đến những khoang sau nơi có số ghế nhóm chúng tôi, thì thấy còn rất nhiều ghế trống. Thế là chúng tôi mỗi người “chiếm lĩnh” một hàng 3 ghế trống, có thể chồng gối lên, đắp mền nằm ngủ thoải mái, và có thể xem một lúc… 3 bộ phim, còn rộng rãi và “riêng tư” hơn cả…hạng thương gia! Cả chuyến đi chuyến về cũng đều như thế. United Airline phục vụ hai bữa ăn chính rất đa dạng và ngon, có cả những món chay theo yêu cầu của hành khách, cộng thêm một lần ăn vặt, còn nước uống các loại thì tự chọn thoải mái không tính tiền.

Đặt chân xuống phi trường quốc tế “Singapore Changi International Airport”, nhận hành lý xong, việc đầu tiên của chúng tôi là chạy đi đổi tiền “cho kịp thời cuộc”.  Đổi xong mới giật mình, mới thấy mệnh giá tiền Singapore đúng là “đẳng cấp quốc tế”, 100 đô Mỹ mà chỉ đổi được có 124 đô Singapore.  Cầm xấp tiền mỏng dính, nhẹ tênh, và nhìn các bảng giá hàng hóa quanh đây tôi thấy trong lòng hơi… hụt hẫng, cái điệu này hỏng biết số tiền mặt đem theo hai vợ chồng xài được mấy hôm đây.  Khi hỏi ra mới biết, ở Singapore du khách có thể dùng thẻ nhà băng ATM để rút tiền và các loại thẻ tín dụng có thể trả khi đi ăn uống và mua sắm.

Đổi tiền xong, cả nhóm gọi taxi thẳng tiến về khách sạn D’Resort – Downtown East. Vừa tới nơi là thấy liền cái phong cảnh hấp dẫn của một nơi nghỉ dưỡng đầy lý tưởng: Khu Resort gần sát biển, gió mát rười rượi, đường đi bộ thì sạch sẽ, thẳng tắp, nhìn là muốn… bỏ dép đi bộ cả ngày như Thầy Minh Tuệ bên Ấn Độ. Hai bên đường, cây cối xanh mướt, đặc biệt là dưới những tàng cây, người ta nhặt từng chiếc lá rụng cho vào bao, không để sót dù chỉ một chiếc lá khô.  Nói chung thì đường lộ, trạm nghỉ chân, vỉa hè đều sạch bóng loáng. Đi mỏi chân người ta có thể ngồi bệt xuống, thậm chí nằm dài ra đất nghỉ ngơi mà quần áo vẫn sạch tinh, không dính một hạt bụi nào.  Khí hậu Singapore ấm áp, trời luôn trong xanh rất đẹp, nắng vừa đủ cho da cảm giác khỏe mạnh mà không bị nhơm nhớp mồ hôi như mùa hè bên quê nhà.  Hình như đất nước này rất biết chiều lòng du khách, nên du khách nhộn nhịp khắp nơi, ban ngày và cả ban đêm.

Từ D’Resort, chỉ chưa tới 10 phút đi bộ ra khu shopping Downtown East, và nơi đây mới thật sự choáng ngợp.  Nào là nhà hàng san sát, các món ăn chụp hình trưng bày cái nào cũng hấp dẫn, long lanh, rực rỡ, nhìn là muốn đứng lại…chụp hình bỏ lên FaceBook khoe với bạn bè!  Rồi tới khu vui chơi, khu mua sắm, khu chợ Nhật, chợ Tàu… tất cả đều sạch đẹp, gọn gàng, nhìn rất “Singapore” như lời đồn trước khi chúng tôi đến đây. Chỉ có một điều duy nhất hơi… đau tim, là giá cả!

Phải nói giá cả ở đây thật là đắt, đắt hơn Mỹ rất rất xa, làm cho du khách dù có là “dân xịn” đến từ đất nước Cờ Hoa thì khi móc túi trả tiền cũng đều có chung một phản xạ, giật mình, rồi phải cố bình tĩnh mỉm cười cảm ơn cho đúng phép lịch sự, và khi ra ngoài thì đứng lại xầm xì.  “Thức ăn ngon thiệt, nhưng giá thì đúng là… ăn bằng vị giác, trả tiền bằng cảm xúc” một người bạn chúng tôi đến từ Pháp đã nói đùa như vậy.  Ví dụ: Một đĩa rau dền xào tỏi giá 17 đô, một trái táo nhỏ xíu giá 2 đô rưỡi, còn hai trái dưa leo bé tẹo bằng ngón tay cái mà giá tới 5 đô Sing.  Cũng có mấy người bạn chúng tôi book khách sạn xa hơn về vùng ngoại ô thì mua được các loại trái cây đến từ Malaysia có giá khá dễ chịu hơn nhiều.

Bù lại, người dân Singapore rất dễ thương, hầu hết đều nói được ít nhiều tiếng Anh, nên giao tiếp vô cùng thuận tiện. Hỏi đường, hỏi giá, hỏi… đủ thứ chuyện trên đời đều được trả lời rõ ràng, lịch sự, không cần phải đoán ý hay dùng ngôn ngữ “to quơ”.

Nơi khám phá tuyệt vời.

Lạc vào Gardens by The Bay từ ban chiều tới ban đêm.

Trong chuyến du lịch Singapore lần này, nếu phải chọn một nơi khiến tôi vừa đi vừa “ồ à” nhiều nhất, thì chắc chắn đó là Gardens by the Bay.  Nghe tên tưởng như vườn cây bình thường, nhưng bước vô trong mới biết, là khu vườn…đúng kiểu Singapore, tức là vừa xanh, vừa to, vừa hiện đại, lại còn có cả rừng cây phát sáng vào ban đêm.

Hôm đó chúng tôi đi buổi chiều.   Trời xanh trong, nắng không gắt, gió thổi nhẹ nhẹ man mác.  Vừa xuống taxi, bước vào Gardens by the Bay là thấy không gian mở ra rộng mênh mông.  Lá hoa xanh mướt tốt tươi, lối đi sạch bong, cây cối được trồng ngay hàng thẳng lối, nhìn đâu cũng thấy đã mắt.  Những chòm cây xanh kìn kịn, mượt như nhung, mong manh như tơ, long lanh như sương đêm… được uống tỉa công phu thành hình những con thú xinh đẹp đầy oai phong như, hà mã, khủng long, voi…nên mọi người thi nhau chụp hình lia lịa.

Đi thêm một đoạn về bên trong, nhiều cây Supertree nhân tạo bắt đầu xuất hiện. Nhìn từ xa đã thấy kỳ lạ, lại gần thì càng thấy chúng rất to. Những “cây nấm” này cao vút, thân to, tán xòe tròn như những chiếc nấm khổng lồ mọc sừng sững giữa trời. Mọi người cứ ngẩng mặt lên mà nhìn muốn vẹo cả cổ.

Ban chiều trời còn sáng, Supertree nhìn rất oai, rõ từng chi tiết, chúng đứng im lặng giữa trời xanh, xung quanh là du khách đi qua đi lại, chụp hình không ngớt. Người đứng bên này tạo dáng, người đứng bên kia chờ tới lượt, không khí đông nhưng vẫn rất trật tự, đông mà không loạn xạ, không ồn ào, quả thật du khách đã hành xử đúng với phong cách người Singapore.

Chúng tôi đi dạo vòng vòng, chụp hình, ngắm cây, ngắm hoa, ngắm cả đám đông người thật là thú vị. Có những khu trồng cây từ nhiều vùng khí hậu khác nhau, cây nào cũng xanh tốt, được chăm chút kỹ lưỡng. Đi một hồi mỏi chân, cả nhóm dừng lại nghỉ, có người ngồi cả xuống dưới đường. Giữa khu vườn rộng lớn, nghe gió thổi, nhìn cây rung rinh, tự nhiên thấy lòng dịu lại hẳn.  Tôi đứng đó hít một hơi dài bầu không khí trong lành ấy, cảm giác thật dễ chịu.  Khu vực hiện đại là thế, sôi động là thế, vẫn có chỗ cho người ta chậm lại, tĩnh tâm, lặng lẽ đếm thời gian trôi.

Tới chiều gần tối, mọi người chúng tôi quyết định ở lại để xem Supertree lên đèn. Và lúc này đây mới là lúc Gardens by the Bay thật sự “bung hết công lực” tỏa sáng lên bầu trời, nếu ai bỏ về thì sẽ hối tiếc không nguôi.

Trời sụp tối hẳn, đèn bắt đầu bật lên, cả khu vườn, cả một vùng trời, bỗng chốc như biến hình. Những Supertree ban ngày trông đã to, ban đêm lại càng “khủng” hơn, vô vàng kỳ thú.  Từ một cây, tới hai, rồi ba, bốn… và rồi ánh đèn sáng rực đủ màu, xanh, tím, hồng, vàng, đỏ… chạy dọc các thân cây rồi tràn lan lên tán, tỏa ra, nhìn như một khu rừng ánh sáng khổng lồ.  Tất cả những “cây nấm” này bỗng nhiên sống động hẳn lên, lấp lánh, lung linh, khiêu vũ nhịp nhàng giữa trời đêm Singapore.

Du khách ban chiều vốn đã đông, lúc này càng đông hơn rất nhiều. Người đứng, kẻ ngồi, có nhiều người còn nằm dài trên bãi cỏ, trên các lối đi, ngửa mặt lên nhìn cho đã.  Không khí lúc này giống như một lễ hội, tuy không ồn ào, nhưng rất rộn ràng.

Vì sợ độ cao, tôi quyết định không leo lên cầu treo OCBC Skyway để ngắm từ trên cao, mà chỉ trèo lên mấy bậc rồi đứng dưới nhìn lên.  Chỉ mấy bước dưới chân cầu mà tôi đã thấy hơi… run run.  Từ trên bậc thang nhìn ra xung quanh, các Supertree sáng rực, ánh đèn đổi màu liên tục, trông đẹp mê hồn như cảnh thiêng đường đang phát sáng trong các bộ phim Tàu.  Nhìn lên cầu treo, du khách lớp đi, lớp đứng, người dựa lan can chụp hình, đông đến nỗi người ta phải đứng sát vào nhau.  Ánh đèn từ các “cây nấm” phảng chiếu, lấp loáng trên các ngọn cây và lối đi.

Gió đêm thổi mát rượi, tiếng người từ nhóm bạn tôi chen lẫn du khách muôn phương lớp ngồi lớp nằm la liệt dưới đất gần cầu nói chuyện nhỏ dần, họ lặng lẽ ngắm cảnh, nên chỉ còn cảm giác vừa choáng ngợp, vừa yên bình. Tôi đứng ngắm nhìn quang cảnh tuyệt mỹ có một không hai này, do thiên nhiên cộng thêm nhân tạo, vừa quay phim, vừa chụp hình tới tấp, và trong đầu quên hết mọi sự, chỉ có ánh sáng của những cây hoa điện trước mặt mà thôi. 

Khi rời Gardens by The Bay để theo các bạn đi xem Marina Bay Water Show, tôi vẫn còn ngoái lại nhìn mấy cây Supertree đang sáng rực phía sau.  Đám đông du khách vẫn còn đứng đó, vẫn ngước nhìn, vẫn chụp hình. Còn tôi thì biết chắc một điều, khi về nhà, chỉ cần nhớ lại buổi tối hôm nay thôi là đủ thấy chuyến đi này thật sự đáng giá.

Người bạn “Thổ địa” sống tại Singapore dẫn chúng tôi đi một hồi, khi lên bờ, khi vượt thác, lúc xuống xe điện ngầm, mà chúng tôi như những…thầy bói mù không biết đâu là đâu, cứ “mở banh mắt” chạy theo anh ta, lòng ai cũng háo hức vì sắp coi một màn… ảo thuật khổng lồ giữa trời đêm, như lời người bạn nói.  

Show nước

Đến nơi, nhóm chúng tôi len vào được một khoảng trống nhỏ xíu cạnh thành cầu, chen chúc nhau ngồi bệt xuống nền xi măng sạch bóng cho đỡ mỏi chân, sau một hồi bước thấp bước cao chạy theo người bạn dẫn đường mệt đến “ná thở”.  Đêm Marina Bay rực rỡ như một bức tranh sống động.  Gió từ vịnh thổi vào mát rượi, mang theo mùi nước biển pha lẫn mùi hương người đủ loại của du khách.

Chúng tôi may mắn đến vừa kịp lúc, vì show diễn bắt đầu ngay. Khi nhạc bắt đầu trổi vang lừng, là lúc những tia nước bỗng phụt lên, vươn cao, rồi uốn lượn theo từng nhịp trống nhạc, lúc mềm mại, mơn man như dải lụa trong điệu vũ của các tiên nương, lúc lại mạnh mẽ như sóng cồn, vỗ dồn dập ngoài khơi bắn vào tung tóe trên người của khách xem, làm ướt cả áo quần mặt mũi mà nào ai để ý.  Ánh đèn laser đổi màu liên tục, xanh, đỏ, tím, vàng, hồng tía chiếu lên màn nước tạo thành những hình ảnh lung linh như giấc mơ kỳ diệu đang trôi giữa không trung.  Nhạc chuyển tông, thì những vòm nước quay ngoắt, rồi hình thành những bông hoa khổng lồ, lại chuyển sang hình những con rồng phụng, đến sấm chớp, cầu vồng… Cả bầu trời Marina Bay sáng rực, phản chiếu xuống mặt nước lấp loáng, làm cho những tòa nhà cao tầng xung quanh cũng như đang “xem ké” cùng du khách.

Tôi hào hứng quá đứng bật dậy, quay phim chụp hình lia chia, mà trong bụng cứ… đánh lô tô, lo cái điện thoại bị tuột tay rơi xuống nước là…tiêu tùng.  Xung quanh chúng tôi người đứng sát người, ai cũng ngước nhìn, miệng trầm trồ không ngớt, tay đưa điện thoại ra quay phim, cố không bỏ lỡ một khoảnh khắc đẹp nào.  

Show chấm dứt sau một màn biểu diễn hoa nước cộng hoa pháo thật độc đáo.  Chúng tôi vội kéo nhau bước lẹ ra ngoài, bỏ lại sau lưng tiếng cười, tiếng reo hò ngợi khen, cùng tiếng vỗ tay vang lên ầm ỹ hòa trong bầu trời đêm của vùng vịnh Marina Bay.

Đoàn người dắt díu nhau lên xe điện ngầm, tìm đến khu phố Tàu ở Downtown để “thưởng thức những món ăn độc lạ” của phố thức ăn nổi tiếng đất Sing.  Chúng tôi về đến khách sạn thì đã hơn một giờ sáng. Mệt thì có mệt, nhưng niềm vui thì cũng tràn đầy trong tim.

Tóm lại, đất nước Singapore quả là sạch, đẹp, văn minh, khí hậu ôn hòa thích hợp với dân …gốc mít chúng tôi, cộng với thức ăn ngon, chỉ có cái giá cả là ở “trên mây”. Nhưng thôi, đã đi du lịch thì cũng nên mở lòng, mở ví, cộng mở luôn tầm mắt, để mang về những tấm hình đẹp và cả một mớ kỷ niệm… cùng đôi tiếng cười hạnh phúc trong cuộc sống tất bật nơi xứ Cờ Hoa mỗi khi ngồi nhớ lại.  Cho nên sau này nếu có ai hỏi đi du lịch đất Singapore nữa hông, tôi sẽ sẵn sàng giơ tay… cái  rụp.

Phương Hoa – Bắc Cali, Mùa Valentine 2026.




KIỀU MỸ DUYÊN – NGƯỜI ANH HÙNG KHÔNG CHẾT: BÌNH TÂY ĐẠI TƯỚNG QUÂN TRƯƠNG CÔNG ĐỊNH.




NGỌC HẠNH – BÚT KÝ: CHÍN MƯƠI CHƯA CHẮC MÌNH LÀNH.

Chín Mươi Chưa Chắc Mình Lành

Ngọc Hạnh

Tuần lễ này khí hậu vùng Hoa Thinh Đốn tương đối mát mẻ, không còn nắng nóng oi bức như những tuần lễ trước đây. Ban đêm trời hơi se lạnh. Hoa cúc có bụi đã ra hoa vàng xinh xinh, có bụi hãy còn đang chớm nụ. Cây Grappe Myrtle đã đầy hoa trong sân nhà Vân và rải rác nở hoa trong vườn nhà hàng xóm.  Những bãi cỏ trên các sân nhà đã có lá vàng rơi, dù phần lớn lá cây vẫn còn xanh um đầy trên cành.  Trẻ em sắp đi học, các cô cậu sinh viên chuẩn bị trở lại trường. Các cô cậu lo mang hành trang vào các ký túc xá hay nhà trọ gần trường Đại Học. Trời sắp vào Thu, những ngày nghỉ Hè thú vị qua rất nhanh theo lời các cháu Vân tiếc nuối. Rồi đây các cháu sẽ gặp thầy cô giáo, bạn hữu cũ, mới.

Riêng Vân cũng dự vài buổi tiệc nhỏ do gia đình tổ chức để mừng và tiễn các cháu trở lại trường  Đại học, bắt đầu năm học mới.  Vân vui vẻ cầu chúc các cháu hoc hành vui vẻ, nhiều sức khỏe, luôn may mắn trên đường học vấn. Trường Đai Học các cháu cách nhà khoảng 5, 3 tiếng lái xe. Nhớ lại cách đây ½ thế kỷ,ở quê nhà việc đi học ngoại quốc thật khó khăn, chỉ dành cho con nhà giàu hay học trò giỏi, được học bổng chẳng hạn. Nay ở Hoa Kỳ, việc học dễ dàng hơn. Chỉ cần học lực trung bình, mỗi năm đủ điểm lên lớp. Ai học giỏi càng tốt, mang danh dự cho gia đình, trường lớp. Cô, cậu nào nghèo không có tiền đóng học phí cho nhà trường thì vay, tốt nghiệp đi làm trả tiền vay mượn sau. Ngoài ra 3 tháng hè các cô cậu sinh viên cũng có thể tìm việc làm để kiếm tiền tiêu vặt khi trở lại trường.

Cuối tuần vừa qua, con Vân rủ mẹ đi thăm “nhà ngoại ô”  cách thành phố 90 phút lái xe. Nơi đó phần nào giống thôn quê Việt Nam, có trường Tiểu học, siêu thị, trạm chữa lửa, nhà thờ, tiệm ăn nhanh, tiệm hải sản… Tuy nhiên các kiến trúc này đều nhỏ so với các nơi trong thành phố. Đường xe chạy có hai chiều tráng nhựa sạch sẽ. Nhà nào dù lớn hay nhỏ cũng có sân rộng rãi, cỏ xanh mướt, hoa tươi tốt vì máy tưới tự động. Có nhà trồng được bụi chuối xanh mướt nhưng không thấy trái. Có lẻ chỉ để làm kiểng cho vui vì mùa Đông chúng chết và mùa Xuân mọc trở lại nhưng chỉ có lá mà thôi.

Vân cũng thích “nhà ngoại ô” vì cảnh trí có nơi khá giống thôn quê miền Nam Viêt Nam. Khi ra khỏi thành phố nhiều cao ốc, cầu vượt, xe qua lại lu bù là thấy đồng ruộng, nhà cửa thưa thớt. Xe chạy ngang qua các  ruộng bắp, ruộng đậu nành, hay những loại hoa màu khác. Mênh mông, bạt ngàn, xanh um, trù phú. Cảnh đồng quê làm Vân nhớ  những ruộng lúa bát Đồng Tháp và các nơi miền Tây Việt Nam mà 1/2 thế kỷ Vân không 1 lần trở lại thăm viếng. 

Con Vân chỉ có thể ra “nhà ngoại ô” vào ngày nghỉ. Khu vực này còn có 2 nhà của người Việt Nam, thường chỉ có mặt vào cuối tuần. Tuy nhiên nhà nào cũng có người cắt cỏ, cào lá vào mùa Thu khi là vàng rơi trên sân sau, sân trước. Những người này tuy gọi là người làm vườn nhưng họ không trông nom vườn hoa cho chủ nhà. Họ chỉ cắt cỏ, cào lá mà thôi. Ai thích trông hoa thì tự săn sóc lấy.

Tưới hoa  có nước tư động nhưng chủ nhà phải bón phân, tỉa cành, cắt lá, hoa của mình. Để chúng mọc hay bò tùm lum, hàng xóm sẽ phàn nàn. Thường con Vân ra đó là lao động, xén cây, tỉa lá… không mấy khi nghỉ ngơi hoàn toàn. Còn chăng đèn vào vườn hoa cho chúng tự đông cháy sáng vào đêm theo giờ ấn định nữa chứ. Dây  đèn thì dấu vào cỏ nếu không chú ý sẽ không thấy vì dây đèn cũng màu xanh…

Những sợi dây này là nguyên nhân làm Vân vấp té tuần rồi, đau điếng mà không thể phàn nàn.

Con Vân đã nhắc nhở là không được ra ngoài vườn một mình, không cắt lá tỉa cành chi cả nhưng Vân vẫn tự động làm theo ý mình. 

Hôm ấy xe vừa xuống xe Vân ra vườn hoa trước trong khi con còn lu bu đem thức ăn vào nhà.

Hoa khá đẹp. Những loại hoa mùa Hè đủ nước nên tươi tốt. Vân thấy một loại dây leo tầm bậy bò lên cây hoa nên bước vào kéo chúng xuống. Khi trở ra Vân vướng sợi dây điện, té ngã cái rầm, trán đập lên nền xi măng ở lối đi nhỏ, đau ơi là đau. Sờ tay lên trán, 2 đầu gối thấy cục u to khoảng bằng trái chanh cắt đôi nhưng không chảy máu. Ngoài ra không thương tích chỗ nào khác. Vào nhà con thấy trán bị u sợ cái đầu sanh chuyện nên gọi bác sĩ quen. Ông bác sĩ bắt Vân nghỉ ngơi, chườm nước đá và phải vào nhà thương chụp hình nếu thấy nhức đầu hay có triệu chứng lạ. Bác sĩ còn khuyên Vân nên đi thử xem có ngay hàng thẳng lối không, giống như cảnh sát thử người say rượu. Tối con phải canh chừng mỗi 2 tiếng xem có triệu chứng bất thường, khó ngủ… Dĩ nhiên là Vân không đi nhà thương, không chụp X-Ray vì ngoài cái trán, đầu gối u và trầy da rướm máu chút ít, mọi việc khác đều bình thường

Hôm sau  chỗ u trên trán xẹp xuống nhưng mũi và má thì hơi sưng đỏ. Cả nhà trở về thành phố vì con gái đã lấy hẹn khám bệnh online do Vân không chịu đi bác sĩ. Cô bác sĩ trẻ tươi cười xinh đẹp hiện lên màn ảnh cho biết nếu đã 2 ngày không triệu bất thường thì không cần X-Ray nhưng nếu buồn nôn hay nhức đầu là phải gọi xe cứu thương đi bệnh viên ngay.

Hai ngày đầu chỉ có trán, đầu gối Vân bị u và sưng  nhưng đến ngày thứ 3 sau khi té thì mũi và 2 bên má bị hơi sưng to. Ngày thứ 4 vết sưng 2 bên má thành màu tím như trái cà tím, không đau nhưng trông  ghê quá. Vân sinh hoạt bình thường, không thấy khó chịu chi cả. Nghĩ lại hơn 90 tuổi Vân mới té lần đầu tiên mà té nặng. Trẻ con thấy cái mặt bầm tím của Vân chắc sợ hãi lắm. Thì ra “chín mươi cũng chưa chắc là mình được lành lặn” Thật là ”bụng làm dạ chịu, chẳng dám trách ai’’.  Đúng là một phen bị hú hồn hú vía, may mà không bị chấn thương hay gãy xương cốt gì.  Giờ nghĩ lại giật cả mình, hối hận sao lại quá ỷ y.   Con đã dặn không được ra vườn một mình. Tự ý ra vườn cho bị té làm phiền con trẻ lo lắng, bạn bè bận tâm. Các bạn, con cháu ở xa điên thoại, điện thư thăm hỏi, mang quà đến viếng. Vân rất cám ơn và áy náy vô cùng.

Theo lời bác sĩ nhắc nhở Vân còn nhớ được là khi bị té sưng trán u đầu có những việc cần làm như sau:

1/ khi mới té bị sưng hay u đầu: Chườm nước đá

2/ Ngày thứ 2, chườm khăn ấm nơi bị sưng hay bầm

3/ Đi Bác Sĩ hay đến ER ngay nếu nhức đầu hay buồn nôn…

Từ kinh nghiệm khá nguy hiểm này, Vân muốn gửi vài lời khuyên đến quý độc giả, đặc biệt nhất là những vị cao niên.  Bác sĩ và các nhà khoa học đều dặn dò mọi người hàng ngày phải cố gắng đi ra ngoài hoạt động cho máu huyết lưu thông, tinh thần minh mẫn, và thân thể tráng kiện.  Nhưng quý vị hãy thật cẩn thận, đi đứng chậm rải, nhìn kỹ dưới chân, để tránh những chướng ngại vật làm cản bước và vấp ngã.  Và đừng ỷ lại là mình vẫn đang khoẻ, tư ý làm những việc khó khăn, ngoài sức của mình, rủi ro té ngã sẽ làm hại bản thân, làm phiền con cháu, và người thân xung quanh.

Người viết xin chân thành cám ơn tất cả quý anh chị em xa gần đã thương tinh thăm hỏi, tặng quà trong dịp bị té ngã này.  Vân thật xúc động vô cùng.  Xin cầu chúc quý vị và gia đinh luôn bình an khỏe manh, vạn sư như ý.

Xin ơn trên ban bình an, phước lành cho anh chi em, đồng bào Việt Nam và dân chúng Hoa kỳ, những người có lòng tốt đã giúp đỡ chúng ta các phương tiện buổi đầu đinh cư nơi xứ lạ 

Xin có mấy câu văn vần tặng độc giả:

    CHÚC BÌNH AN

Gần nửa đời người xa cố hương

Rất may con cháu, bạn bè thương

Chín mươi tuổi lẻ đôi chân khỏe

Một phút té nhào sợi thép vương

Chợt nhớ quê nhà, nơi viễn xứ

Và thương trò cũ, chốn xa trường

Cầu mong tất cả luôn an lạc

Hạnh phúc yên bình khắp bốn phương. 

     Virginia, tháng 8/25

          Ngọc Hạnh