Nguyễn Hưng Quốc : Đọc…chơi vài bài ca dao


Đọc…chơi vài bài ca dao

Nguyễn Hưng Quốc
 
 
Ca dao, ai cũng biết là hay. Tuy nhiên, có nhiều bài ca dao chúng ta đọc đi đọc lại cả trăm lần, mơ hồ cảm nhận là chúng hay, mà chả hiểu chúng hay ở chỗ nào cả. Chỉ đến một lúc nào đó…

Ví dụ bài ca dao rất quen thuộc này:

Mình nói dối ta mình hãy còn son,
Ta đi qua ngõ thấy con mình bò.
Con mình những trấu cùng tro,
Ta đi xách nước tắm cho con mình.

Tôi thuộc bài ca dao này từ nhỏ. Nhưng chỉ gần đây, tôi mới bắt đầu loé thấy một ít cái hay của nó. Trước hết, chúng ta biết ngay bài ca dao này được làm theo thể lục bát. Bình thường, trong thơ lục bát, câu sáu chữ nằm trên câu tám chữ, lục rồi mới đến bát. Tuy nhiên, trong bài này có điểm lạ: là thơ lục bát, nhưng thay vì mở đầu bằng một câu lục thì nó lại mở đầu bằng một câu bát phá thể. Hệ quả là gì? Hệ quả là hơi thơ của câu thứ nhất dài hẳn ra. Dài và thiết tha vô hạn: tấm lòng của anh thanh niên mở ra bao la với những nguyên âm "o" và nguyên âm "a" rộng rãi và khép lại ở nguyên âm "i" thầm thì trong chữ "mình" lặp lại đến hai lần ở câu thứ nhất. Thành ra ở đây, ngay câu thứ nhất, đã có một nghịch lý: ý câu thơ là tố cáo một sự dối trá ("Mình nói dối ta…") mà giọng thơ thì lại rất mực ngọt ngào và ấm áp: anh thanh niên biết mình bị lừa mà lại sẵn sàng chấp nhận bị lừa, sung sướng để chịu bị lừa.
Hay nhất trong bài ca dao trên là chữ "mình". "Mình" là cách xưng hô đầy âu yếm để gọi người mình yêu. Chữ "mình" ấy lặp lại đến năm lần, mang hai ý nghĩa hoàn toàn khác nhau: bốn lần đầu, "mình" là em, chỉ người con gái, ngôi thứ hai số ít: "con mình" là con của em, là "your child". Đến lần thứ năm, cũng là "mình", nhưng "mình" ở đây lại là ta, là chúng ta, ngôi thứ nhất số nhiều, bao gồm cả người con trai lẫn người con gái: "con mình" ở câu cuối là "our child". Người thanh niên chấp nhận đứa con riêng của người yêu làm con của mình.(1)
Bài ca dao mở đầu bằng chữ "mình", kết thúc cũng bằng chữ "mình". Từ chữ "mình" đầu bài đến chữ "mình" cuối bài, cách nhau chỉ có 28 từ mà thực ra là cả một quá trình chuyển hoá của mối quan hệ giữa người con trai và người con gái, là lịch sử của một mối tình vừa ngang trái lại vừa cảm động. Trước là hai, sau chỉ là một: người thanh niên chấp nhận người tình ngay cả khi bị chị đánh lừa.
Cuối cùng, vì lặp đi lặp lại nhiều lần từ "mình", chứa đựng nhiều âm "m" vốn là một phụ âm môi, nhẹ nhàng và ngọt ngào, bài ca dao mang đầy giọng tâm tình. Như một lời thủ thỉ, thầm thì. Hiếm có bài ca dao nào của Việt Nam mà có cái giọng ngọt và ấm đến như vậy.
Hay bài ca dao này, còn nổi tiếng và quen thuộc hơn nữa:

Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc;
Em có chồng rồi, anh tiếc lắm thay…
– Ba đồng một mớ trầu cay,
Sao anh không hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng,
Như chim vào lồng, như cá cắn câu.
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ;
Chim vào lồng, biết thuở nào ra.

Bài ca dao này đã được khá nhiều người phân tích. Phần lớn đều tập trung ở khía cạnh hình tượng và ngữ nghĩa. Những sự phân tích ấy ít khi khác nhau cho nên tôi không muốn nhắc lại làm gì. Tôi chỉ xin lưu ý đến khía cạnh ngữ âm, một khía cạnh ngờ như có khả năng tiết lộ khá nhiều điều thú vị, đặc biệt là cảm xúc của người con gái.
Bài ca dao được cấu trúc bằng hai ngôn ngữ: ngôn ngữ của người con trai và ngôn ngữ của người con gái. Bài ca dao giống như một vở kịch với hai lời đối thoại. Nhưng lời nói của người con trai không hẳn là một lời nói, có vẻ như là lời kể của ai đó, một nhân vật thứ ba, ở ngoài. Tại sao? Không có gì khó hiểu cả: người con trai đang ở trong một trạng thái bất ổn, phân thân, hồn một nơi mà thân xác một nơi. Nhiều người ngạc nhiên tự hỏi: không hiểu anh loăng quăng, líu quýu trèo lên, trèo xuống để làm gì vậy? Thật ra, có gì lạ đâu. Nhớ, trong một bài ca dao khác, một người con gái cũng có cái dáng điệu loăng quăng líu quýu như thế: "Khăn thương nhớ ai / Khăn rơi xuống đất / Khăn thương nhớ ai / Khăn vắt lên vai…" Sự loăng quăng líu quýu ấy chỉ là một cách để làm nguôi ngoai một tâm trạng bời bời, đồng thời cũng là một dấu hiệu cho thấy anh không còn tự chủ được mình nữa, anh bị thất lạc tâm hồn. Anh bàng hoàng. Anh thảng thốt. Anh chấn động trước sự việc người anh yêu thầm đi lấy chồng.
Ngắm nụ hoa tầm xuân xanh biếc, người con trai ngẩn ngơ: "Em có chồng rồi, anh tiếc lắm thay." Câu này còn có dị bản là "Em đã có chồng, anh tiếc lắm thay". Ca dao là một thứ văn chương truyền khẩu, từ đời này sang đời khác, do đó, khó mà nói được bản nào là đúng, bản nào là sai. Nhưng tôi vẫn có thích câu "Em có chồng rồi, anh tiếc lắm thay" hơn. Lý do thứ nhất là vì cách dùng chữ "đã" trong câu sau khiến cho tôi nghĩ đó là một cách nói khá mới. Lý do thứ hai là vì nhạc điệu: khi chữ "rồi" thay thế chữ "đã", câu thơ thêm một thanh bằng, hơi thơ thành ra nhẹ hơn, ngậm ngùi hơn; hơn nữa, khi chữ "rồi" đi liền theo sau chữ "chồng", âm "ông" trong chữ "chồng" cũng bớt mạnh và vang hơn là lúc nó đứng một mình.
Một câu hỏi quan trọng mà người đọc thơ không thể không đặt ra: có quan hệ gì giữa nụ tầm xuân và việc người con gái lấy chồng, từ đó, dẫn đến niềm tiếc nuối, xót xa kia? Ngỡ như không có. Mà lại có. Ở cái vần "iếc" trong chữ "biếc" cuối một câu thơ vốn có thật nhiều nguyên âm mở. Nó như một sự khép lại. Nó mảnh. Nó sắc. Như một sợi khói bay lên, bay lên, xa hút: nó hình tượng hoá một sự mất mát, một cái gì vuột khỏi tầm tay.
Người con gái chắc cũng yêu bạn mình. Chị đã từng chờ đợi. Hoài công vì sự nhút nhát của anh. Chị vừa thông cảm lại vừa giận. Chị đay nghiến: "ba đồng… một mớ….". Sở dĩ đay nghiến là vì còn yêu, còn thương. Nhưng dẫu sao thì cũng đã lỡ: chị đã có chồng. Người con gái ý thức rất rõ điều đó, cho nên, giọng chị cứng lại:

Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng…

Vần hai câu thơ rơi vào âm "ông" sang sảng, ngân vang. Mạnh, rất mạnh. Dứt khoát, rất dứt khoát. Nhưng tôi ngờ là chị chỉ cao giọng để lừa dối chính chị. Bởi, nói chưa hết câu ấy, giọng chị đã trầm xuống, thổn thức:

… Như cá cắn câu.
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ;
Chim vào lồng biết thuở nào ra.

"Câu", "đâu", "gỡ", "thuở": những chữ kết thúc bằng nguyên âm "u" và "ơ", nửa khép nửa nhẹ, bềnh bồng, rưng rưng, không chừng là một tiếng khóc.
Câu ca dao dưới đây khác hẳn:

Em như cục cứt trôi sông
Anh như con chó chạy rông trên bờ.

Từ trước đến nay, bài ca dao này thường chỉ được đọc trong những lúc nói chuyện phiếm, như một bài ca dao trào lộng. Đọc cho vui, đọc để cười chơi, vậy thôi. Trong ý nghĩa ấy, bài ca dao được nhìn nhận như một cái gì khá tục và khá nhảm.
Tuy nhiên, theo tôi, không chừng đó là một bài ca dao hay.
Vấn đề là: nó hay ở chỗ nào?
Trước hết là nó bạo và nó mới. Nó không có một chút sáo ngữ nào cả. Dĩ nhiên, nói thế, chúng ta cần thận trọng. Không phải cứ hễ viết tục là thoát sáo. Từ trước đến nay, ở đâu cũng có những người khoái viết tục và viết bạo. Hiện nay, người ta lại càng viết tục và viết bạo. Nhưng chưa chắc đã hay. Dù sao, theo tôi, cái tục của câu ca dao này quả là hay thực. Nó không phải chỉ bạo để bạo, chỉ mới vì mới mà còn là một sự sáng tạo hầu vẽ nên một thế giới gần hiện thực hơn. Chúng ta hãy nhớ lại xã hội Việt Nam ngày xưa. Đâu phải ai cũng như là Thuý Kiều và Kim Trọng, cũng là "người quốc sắc, kẻ thiên tài", là "trai anh hùng, gái thuyền quyên" cả. Trong xã hội thời xưa, đặc biệt là ở nông thôn, đại đa số các cặp tình nhân là những anh thợ cày và những chị đầy tớ. Anh đi làm mướn, chị đi ở đợ. Anh giống như Chí Phèo, chị giống như Thị Nở. Đời sống của họ cơ cực, tối tăm. Cho nên, không có gì lạ khi họ tự ví

Em như cục cứt …
Anh như con chó …

Cái tục của ngôn ngữ, cái thô của hình tượng ở đây lại là những cái thực và là một sự sáng tạo. Nó phá đổ những khuôn sáo cũ kỹ và giả tạo trong văn chương bác học. Nó vứt bỏ những son phấn những mũ mão đai hia để làm hiện hình những con người gần gũi với cuộc đời hằng ngày.
Hơn nữa, điều đáng cảm động ở đây là cặp tình nhân tự biết thân phận của người họ yêu và của chính họ chẳng ra gì. Em không ra gì. Mà anh thì cũng chẳng ra gì. Thế nhưng họ vẫn cứ yêu nhau, thương nhau. Chúng ta nhớ trong truyện "Chí Phèo", Chí Phèo và Thị Nở cũng từng có lúc yêu nhau như tất cả mọi cặp tình nhân khác trên đời này. Và trên đời này, tất cả những con người bất hạnh khác, khi yêu nhau, thì cũng yêu nhau như tất cả những con người bình thường hay may mắn khác yêu nhau. Cách biểu hiện tình yêu có thể khác nhau nhưng những rung cảm những xao xuyến những quyến luyến những ngây ngất trong lòng thì chắc chắn là không có gì khác nhau cả.
Ở giữa câu lục là hai từ bắt đầu bằng phụ âm [k] ("cục cứt") mạnh, gắt, như một nỗi đau uất. Ở giữa câu bát là hai từ bắt đầu bằng phụ âm [ch] ("chó chạy") mềm mại, ngân vang, như một nỗi buồn tênh. Câu ca dao, như thế, không phải chỉ tả mối tình giữa hai người khốn khó bất hạnh tự ví mình với những gì hèn mọn, thậm chí hèn hạ nhất trên mặt đất. Điều đáng đau xót, toát lên từ câu ca dao này là ở chỗ, mặc dù họ tự biết thân phận của mình, mặc dù họ hoàn toàn an phận, chấp nhận cái số kiếp làm phân, làm chó, họ vẫn không được gần nhau. Em vẫn lênh đênh giữa sông và anh vẫn chạy rông trên bờ. Anh vẫn không bắt được em, vẫn ở từ xa mà nhìn em một cách thèm thuồng. Giữa hai người vẫn có một khoảng cách vời vợi. Không cùng.
Bài ca dao, do đó, mặc dù có một số chữ có vẻ tục, có vẻ sỗ sàng lại chứa đựng một ý nghĩa hết sức thâm trầm, thể hiện được đúng số phận của hàng triệu triệu cặp thanh niên nam nữ nghèo khó, lam lũ và bất hạnh trong cuộc đời, nhất là cuộc đời ngày xưa.
Còn một câu ca dao khác cũng rất đáng bàn. Đó là câu

Vân Tiên ngồi dưới bụi môn
Chờ cho trăng lặn bóp l. Nguyệt Nga

Xin nói ngay: tôi không có ý định khen đây là bài ca dao hay.
Không hay, nhưng nó không hẳn chỉ là một cách nói tục tĩu, nhảm nhí, và chắc chắn không phải là những câu vần vè vô nghĩa như lâu nay chúng ta vẫn thường tưởng.
Chỉ cần đặt câu hỏi: tại sao người ta lại không nói Kim Trọng hay Từ Hải hay Sở Khanh hay Mã Giám Sinh "ngồi dưới bụi môn"? Trả lời câu hỏi ấy, chúng ta sẽ thấy ngay tác giả của câu ca dao này chính là những độc giả của Nguyễn Đình Chiểu. Thế nhưng, ở đây lại nảy ra một câu hỏi khác: tại sao, trong truyện Lục Vân Tiên, người ta không chọn nhân vật nào khác, như Bùi Kiệm, một nhân vật được Nguyễn Đình Chiểu mô tả bằng những lời lẽ rất nặng nề, rất thích hợp với vai trò của kẻ "ngồi dưới bụi môn": "Còn thằng Bùi Kiệm máu dê / Ngồi chề bê mặt như sề thịt trâu"? Tại sao?
Tại sao người ta lại chọn ngay chính Lục Vân Tiên, một nhân vật được xem là nghiêm trang, nghiêm túc, thậm chí nghiêm khắc, có thể xem như một khuôn mẫu về đạo đức, để bắt làm cái chuyện phàm phu tục tử ấy? Tại sao người ta lại chọn cái nhân vật không dám nhìn cả phụ nữ "Khoan khoan ngồi đó chớ ra / Nàng là phận gái, ta là phận trai", không dám lần khân lâu bên phụ nữ "Vân Tiên ngó lại rằng: Ừ / Làm thơ cho kịp chừ chừ chớ lâu" lại làm cái việc "công xúc tu sỉ" ấy?
Tại sao? Chắc chắn là có lý do. Và lý do cũng không có gì khó hiểu: Chúng ta dễ dàng thấy được câu ca dao trên là một cách phản ứng chống lại thái độ đạo đức khắt khe, có phần giả tạo của Lục Vân Tiên, và phần nào cũng là của Nguyễn Đình Chiểu. Chế diễu thái độ đạo đức cứng nhắc ấy, dân chúng đã cho Lục Vân Tiên làm cái việc nhảm nhí là "ngồi dưới bụi môn, chờ cho trăng lặn…" Trong cách nhìn này, câu ca dao trên có cùng trường nghĩa với một câu ca dao khác, từ lâu vẫn được xem là có "lập trường tiến bộ" và "đứng đắn" hơn:

Ban ngày quan lớn như thần,
Ban đêm quan lớn tần mần như ma.

Nói cách khác, tôi nghĩ, chúng ta hoàn toàn có lý để xem câu "Vân Tiên ngồi dưới bụi môn…" như một cách đọc truyện Lục Vân Tiên. Đó là một lời phê bình cuốn Lục Vân Tiên. Trong vô số những lời phê bình truyện Lục Vân Tiên, không chừng cách phê bình này của dân gian là một cách phê bình hay. Hay và sắc sảo. Nó nhắm vào một trong những vấn đề trung tâm của tác phẩm là quan niệm đạo đức cũng như cách thức xây dựng nhân vật của cụ Đồ Chiểu nói chung.
Cũng vậy, chúng ta có thể đọc những câu:

Vân Tiên cõng mẹ chạy ra,
Đụng phải cột nhà, cõng mẹ chạy vô.
Vân Tiên cõng mẹ chạy vô,
Đụng phải cái bồ, cõng mẹ chạy ra.
Vân Tiên cõng mẹ chạy ra…

hay một dị bản của nó:

Vân Tiên cõng mẹ trở ra
Đụng phải Chà Và, cõng mẹ trở vô.
Vân Tiên cõng mẹ trở vô,
Đụng phải ông Tây cồ, cõng mẹ trở ra.
Vân Tiên cõng mẹ trở ra…

như một sự phê phán quan điểm đạo đức của Nguyễn Đình Chiểu: ông một mực đề cao những chuẩn mực đạo đức cổ điển và cổ kính như trung, hiếu, tiết, nghĩa với hy vọng là chúng sẽ giúp duy trì sự ổn định trong xã hội, tuy nhiên, một là, xã hội Việt Nam vào nửa sau thế kỷ 19, trong sự cọ xát dữ dội với văn minh Tây phương và thế lực thực dân, cứ ngày một rạn nứt, vô phương hàn gắn; hai là, bản thân những chuẩn mực đạo đức tưởng đâu là chân lý vĩnh cửu ấy thật ra rất đáng ngờ, và với sự lung lay của Nho học, càng ngày càng đáng ngờ thêm. Con thuyền "chở đạo" của Nguyễn Đình Chiểu, do đó, không phải chỉ trôi trên một dòng nước ngược mà còn, hơn nữa, trên thực tế, chỉ loay hoay mãi trong một vũng nước tù, không có lối thoát, hết "đụng" cái này thì "đụng" cái kia, cứ quanh quanh quẩn quẩn mãi trong sự tuyệt vọng và bế tắc. Nói cách khác, đó là những lý tưởng ở đường cùng. Biện pháp dựa trên nguyên tắc đạo đức mà Nguyễn Đình Chiểu đề xuất, hay đúng hơn, cổ vũ, đã không giải được bài toán của thời đại.
Theo tôi, chỉ với cách hiểu như thế, chúng ta mới giải thích được tại sao một nhân vật chính diện trong một tác phẩm nặng dụng tâm giáo huấn của một tác giả được xem là tiêu biểu nhất của dòng văn học giáo huấn lại biến thành – không phải một lần mà là nhiều lần, ít nhất là hai lần như vừa nêu – một nhân vật hài trong nền văn học dân gian.
Một ngày nào đó, nếu tôi đủ hứng thú và can đảm làm một tuyển tập phê bình về Nguyễn Đình Chiểu, có khi tôi sẽ chọn in những câu ca dao trên ngay ở trang đầu. Ở đâu đó, bên kia thế giới, đã xa lắm lắm những lời dạy lẩm cẩm kiểu "trai thời trung hiếu làm đầu / gái thời tiết hạnh làm câu trau mình", đọc những lời phê bình thông minh và hóm hỉnh ấy, không chừng cụ Đồ sẽ cả cười.
Chú thích:
1. Nói chung, chữ "mình" trong tiếng Việt có khá nhiều nghĩa và đặc biệt, quá trình chuyển nghĩa của nó rất thú vị. Ý nghĩa đầu tiên của chữ "mình" là bộ phận chính của cơ thể (đầu/mình/tứ chi); từ đó, nảy sinh ra ý nghĩa thứ hai là toàn bộ cơ thể (mình mẩy). Cũng từ đó, "mình" sẽ nảy ra ý nghĩa thứ ba là bản thân người nói, tương đương với chữ "I" trong tiếng Anh. Rồi cũng từ đó, "mình" chuyển sang nghĩa thứ tư là chỉ người mình yêu (tương đương với chữ "you"). Lý do là, với người Việt, yêu ai là xem người đó là một với chính mình, như trong câu thơ:

Mình với ta tuy hai mà một
Ta với mình tuy một mà hai.

Gọi người mình yêu là "mình" tức là xem người đó chính là cơ thể của mình, là chính bản thân mình. Hai người nhập làm một. Từ đó, lại nảy ra ý nghĩa thứ năm của chữ "mình", đó là ý nghĩa chỉ chúng ta (tương đương với "we"). Bởi vì "mình" là mình, mà người yêu cũng là "mình", thì như vậy, "mình" đã là số nhiều, là một không gian chung dành cho nhiều người.

Sự chuyển nghĩa của chữ "mình" cho thấy, với người Việt Nam, tình yêu không phải chỉ là một sự hoà nhập làm một; hai người yêu nhau không những chỉ thuộc về nhau. Đó là những quan niệm bình thường và quen thuộc ở khắp nơi. Với người Việt Nam, yêu nhau là cho cái mình của mình cho nhau, là đem cái chữ "mình" vốn chỉ cơ thể của bản thân mình để tặng cho người mình yêu, là nhường cả chủ quyền trên cơ thể của mình cho người mình yêu. Nếu chúng ta kết hợp chữ "mình" này và chữ "nhà" dùng để chỉ vợ hay chồng lại với nhau, chúng ta sẽ thấy một quan niệm khá hoàn chỉnh về tình yêu và hôn nhân của người Việt Nam: Yêu nhau và lấy nhau là đem chính bản thân mình tặng cho nhau, là biến người mình yêu thành chính mình, hơn nữa, thành nơi cư ngụ của mình. Người này là "mình" của người kia, là "nhà" của người kia. Nói cách khác, yêu nhau và lấy nhau là ở trong nhau, là che chở cho nhau, là tự biến thành tổ ấm cho nhau.

—————————————————————————————————————

Wed, July 28, 2010 1:07:52 AM
Subject: Bai viet duoc gui tu Phan Phương

Văn thơ Lạc Việt !


www.BanMeOnline.org

Chào ban Quản Trị,

Thông qua website www.vantholacviet.com, Phan Phương gửi bài viết mới tới ban biên tập nội dung.

  Người gửi: Phan Phương

  Email: binhhyvuong@yahoo.com

  Tiêu đề bài viết: Đọc… chơi vài bài ca dao

  Phan Phương: Bài "Đọc… chơi vài bài ca dao" của Nguyễn Hưng Quốc có đạo vài ý chính trong hai bài "Mình bảo với ta…" và "Trèo lên cây bưởi…" từ bài viết của Bụi Bặm viết về hai bài ấy đăng ở trang Đặc Trưng hồi 9/2003 với những gợi ý mới về cách đọc và hiểu ca dao Việt. Lúc đó, Bụi Bặm có châm chích phe Tiền Vệ về chuyện nói phéc, nói tục trong văn chương mà đòi làm mới văn chương nên phe Tiền Vệ xúm vào đánh phá Bụi Bặm, gọi BB là Việt cộng. NH Quốc và phe ông ta có đọc các bài viết của Bụi Bặm vào lúc ấy trong diễn đàn Văn học Nghệ thuật ở Đặc Trưng, nên nay không thể nói là không biết. Viết sau và viết theo ý của người khác thì phải nêu xuất xứ, dù bài viết của Bụi Bặm viết tản mạn trên Net, chưa xuất bản. Nay NH Quốc "chôm" ý tưởng mới về bài ca dao "Nàng bảo với ta…" từ Bụi Bặm làm của riêng mình thì là đạo ý văn. Tiến sĩ "chôm" làm chuyện bất chính là đạo ý văn người làm ý văn mình. Gần đây, năm 2010, NH Quốc có tranh luận với cộng sản bên VN về chuyện ông ta đạo văn; tôi có biết nhưng không thèm để ý. Lâu quá, Bụi Bặm im tiếng trên Net, NH Quốc tưởng "safe" nên viết bài về ca dao với ý ăn cắp từ bài viết của Bụi Bặm. Nếu êm xuôi, thì ông ta sẽ biến món ăn cắp thành món ông ta làm mới; còn nếu Bụi Bặm lên tiếng tố đạo văn thì ông ta sẽ la lên "Nó[Bụi Bặm] là cộng sản, thấy chưa. Tụi nó xúm nhau tố tôi [NH Quốc] đạo văn". Tiến sĩ "chôm" đang làm trò vặt. Tôi, Phan Phương, là Bụi Bặm khi viết ở trang Đặc Trưng, đàn ông, đang sống ở Toronto, Canada, nay không còn hứng thú với thi ca Việt nữa; tuy nhiên, tôi phải lên tiếng về trường hợp Nguyễn Hưng Quốc đạo ý văn tôi làm của riêng. Tôi là người nêu cách hiểu mới về bài ca dao "Nàng bảo với ta nàng hãy còn son…". Quý vị có thể đọc các bài viết của Bụi Bặm ở trang Đặc Trưng, mục diễn đàn Văn học Nghệ thuật.

Received: Wednesday, July 28, 2010, 12:19 PM

Kính anh Chinh Nguyen:

dactrung.com, bấm vào "phố rùm" là diễn đàn mới hiện nay, ở đó anh bấm vào "phố cũ 2" là diễn đàn cũ ngày trước, rồi ở đó anh bấm vào mục "Phê bình văn học nghệ thuật", rồi anh cứ bấm theo trang về năm 2003 là sẽ thấy bút hiệu Bụi Bặm trong trang đó. Trong đó, Bụi Bặm có viết 2 bài tiêu biểu về cách hiểu mới về các bài ca dao cũ, bài "Cảm thông" viết về bài ca dao "Nàng bảo với ta nàng hãy còn son…" và bài "Muộn màng" viết về bài ca dao "Trèo lên cây bưởi hái hoa…". Trước tôi, chưa có ai hiểu bài ca dao "Nàng bảo với ta nàng hãy còn son…" cho đúng, kể cả Nguyễn Hưng Quốc khi ông ta viết mấy bài đó lúc trước; sau tôi, ông ta mới viết theo kiểu hiểu mới của bài tôi viết. Còn ở trang thơ cũng năm đó 2003 thì tôi có hai bút hiệu Bụi Bặm và Phan Phương. Sau đó, tôi bỏ không viết ở trang đó nữa vì bị phá và bị họ hùa nhau tặng tôi nón cối.


Nàng bảo với ta nàng hãy còn son
Ta đi qua ngõ thấy con nàng bò
Con nàng những đất cùng tro
Ta đi gánh nước rửa cho con nàng
(Khuyết danh)

Cần phải nói ngay là tựa đề bài ca dao trên là do tôi đặt; đại đa số các bài ca dao Việt không có tên. Bài này được trích đăng trong sách giáo khoa trung học Việt nam trước và trong thời Cộng sản. Chính bản thân tôi đã được học bài này ở trung học Cộng sản; sách giáo khoa và gíáo viên theo sách ra rả là bài ca dao tố cáo "bi kịch tình yêu trong thời phong kiến, v.v…".

Có nơi còn chép chữ ‘mình’ thay cho chữ ‘nàng’. Không cần bàn cãi về chữ "nàng" hay chữ "mình" trong bài ca dao này vì chuyện ấy thiết tưởng không cần thiết và vô ích; chữ nào cũng không làm sứt mẻ ý và tình trong bài chút nào hết.

Bốn câu trong bài theo thể ‘song BÁT lục bát’, xa hẳn thể thơ ‘song THẤT lục bát’ cổ của thơ Việt, cho nên nghiêng hẳn về hơi hướng dân ca. Bài ca dao trần trụi làm theo lối phú (nói thẳng), tâm tình phú. Rất nhiều khi, tôi cứ ngờ ngợ là dường như mình bị trợt một cái gì sau mỗi lần đọc xong bài ca dao. Có cái gì đó ẩn đằng sau lối nói phú ấy. Tôi đọc lại, đọc lại, đọc lại, và bất chợt khám phá ra rằng bốn câu của bài chứa bốn điều kỳ lạ.

Điều kỳ lạ thứ nhất: "nàng bảo với ta nàng hãy còn son".
Nếu chàng và nàng ở cùng làng, tất chàng phải biết nàng "còn son" hay "hết son". Nếu cái sự "hết son" kín quá, khó thể biết thì chàng cũng phải thấy chồng con người ta sờ sờ ra đó chớ. Như vậy, chàng và nàng phải ở khác làng. Hai làng cũng không thể gần nhau. Chắc hai làng phải xa nhau. Không xa quá vì hai người đã có dịp gặp nhau. Chỉ vừa đủ xa để chàng không rõ chỗ ở cùng gia cảnh của nàng.

Điều kỳ lạ thứ hai: "ta đi qua ngõ thấy con nàng bò".
Thời xưa, khi có chồng, người con gái phải về nhà chồng. Gia đình chồng có thể là đại gia đình bao gồm nhiều người nhiều thế hệ trong nhà chồng. Chí ít thì cũng là tiểu gia đình, gồm chồng, nàng và con. Vậy mà, nàng đã dối chàng rằng nàng "còn son", lại còn dám cho chàng biết chỗ ở của nàng để chàng tìm tới ! Và đi qua ngõ thấy đứa nhỏ đang bò là chàng lại biết ngay rằng con của nàng chớ không của ai khác trong nhà đó !

Điều kỳ lạ thứ ba: "con nàng những đất cùng tro".
Phụ nữ dù có bị gả ép, không thương chồng và dù có không thương con cách mấy đi nữa thì cũng không ai lại bỏ con bò một mình lê la với "đất cùng tro" ở ngoài ngõ chẳng có ai trông nom. Nàng ở đâu lúc chàng đi ngang qua cửa ngõ ? Tại sao nhà vắng hoe, chỉ có mỗi mình cu tí bò ngoài ngõ, và chàng đi ngang qua thôi lại biết ngay là con của nàng ?

Điều kỳ lạ thứ tư: "ta đi gánh nước rửa cho con nàng".
Tại sao chàng tỉnh bơ đi gánh nước rửa cho con nàng. Không sợ chồng nàng đang ở trong nhà hoặc đi đâu về thình lình hay sao ? Không kể tới ai khác, nếu có, ở trong nhà nàng hay sao ?

Bốn điều kỳ lạ đó làm tôi suy đi nghĩ lại và xét lại cái gọi là "bi kịch tình yêu trong thời phong kiến v.v." mà bài ca dao bấy lâu nay vẫn gánh chịu. Thật ra, bi kịch tình yêu thì thời nào mà chẳng có; hài kịch tình yêu còn có nữa là.

Có điều gì đó rất kín đáo ở trong bài ca dao ấy. Thử điểm lại nội dung: chàng nghe nàng dối là hãy còn son; chàng tìm tới nhà thì thấy con nàng đang bò ngoài ngõ; con nàng không có ai coi sóc nên dơ dáy; chàng lẳng lặng đi gánh nước rửa cho con nàng. Tại sao không có hình bóng ai nữa trong bài ca dao ngoài chàng đi ngang qua ngõ và đứa nhỏ bò một mình ? Nàng ở đâu và làm gì lúc chàng đi ngang qua cửa ngõ đó ?

Có phải là khi "nàng bảo với ta nàng hãy còn son" là nàng có ý lấp lửng với riêng chàng rằng nàng không có chồng ? Còn son theo ý nàng hẳn là còn chưa có chồng đó mà thôi. Khi chàng tìm tới và đi ngang qua ngõ thì có lẽ lúc đó nàng đang ngồi với con. Nàng dường như ngượng quá nép vào cửa ngõ để tránh chàng, thành thử đứa nhỏ bò một mình trên đất cát vào lúc đó. Chàng hỏi nàng thì nàng nhỏ nhẹ rằng đó là con nàng. Chắc nàng phải vừa núp trong cửa ngõ vừa thỏ thẻ thêm nhiều nữa, cho nên chàng biết là nàng có con nhưng không chồng và sống một mình với con. Do đó mới có chuyện chàng tỉnh bơ lẳng lặng đi gánh nước rửa cho con nàng mà không kể tới ai khác nữa trong nhà. Nàng là người mẹ độc thân (single mother). Người mẹ trẻ của thời xưa ấy phải lấp lửng gần như dối trá chuyện ‘còn son’ của nàng với chàng trai lạ. Thời ấy, không chồng mà có con là chuyện xấu hổ ghê lắm, không có cách nào nói làm sao cho đẹp mặt được. Nàng muốn chàng biết là nàng chưa có chồng, thành ra phải nói ‘còn son’ và dấu đi chuyện có con. Chàng tìm tới. Chàng hiểu ra. Chàng lẳng lặng ‘đi
gánh nước rửa cho con nàng’, tỏ ý cảm thông. Biết, hiểu là một chuyện. "À…tôi biết v.v." hoặc "Ừ….tôi hiểu v.v." nhưng từ hiểu biết đi đến chỗ thông cảm còn xa cách lắm. Bởi vì có thông cảm hay cảm thông thì người ta mới chấp nhận, người ta mới dấn thân, người ta mới chia sẻ. Bài ca dao để ngỏ về chuyện chàng ta có chấp nhận, dấn thân, và chia sẻ hay không. Chỉ chấm dứt ở chỗ chàng cảm thông vì chàng săn sóc cho con nàng. Để lơ lửng ở chỗ cái tâm thông cảm đó là cũng để cho người đọc tự kết luận nhiều rồi.

Tôi là thanh niên độc thân đang sống đầu thế kỷ XXI, ở trong xã hội Bắc Mỹ nơi được coi là văn minh, có tinh thần phóng khoáng và cởi mở, và chung quanh có nhan nhản các người mẹ trẻ độc thân (single moms), vậy mà đọc thấy tấm lòng bao dung và nhân ái của chàng trai Việt trong bài ca dao thời xa xưa đó tôi chỉ biết tỏ dấu kính phục.

September 20, 2003

 

 ——————————————————-

Vậy thì anh hãy đi luôn bài này, cũng viết vào năm 2003 ở Đặc Trưng, để cho rõ sự việc, mặc dù bây giờ tôi hết muốn viết lung tung trên Net nữa. Hãy xem, nhờ copy ý mới về ca dao của người khác mà NH Quốc mới "lóe sáng" được vài ý "mới" để vẽ vời thêm ra; bài ông ta cũng thêm vào đó vài câu vớ vẩn tầm phào nói chơi được ông ta cho là ca dao để nhân tiện đó làm mới luôn. Give me a break !
 
Bụi Bặm: tản mạn "đọc và nghĩ lại một số ca dao Việt"

MUỘN MÀNG

1- Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra cánh biếc
Em có chồng anh tiếc lắm thay

2- Đắt gì một mớ trầu cay
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không ?
Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng, như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thuở nào ra !

(Khuyết danh)

Trước hết, phải nói ngay rằng tên của bài ca dao ở trên là do tôi đặt. Tôi không nhớ chính xác tựa đề của bài ca dao là gì.

Hoa tầm xuân thuộc loại giây leo, mọc theo các bờ tường thành hoặc các thân cây khác. Hoa tầm xuân màu đỏ, cánh hoa màu xanh. Câu 3 của đoạn 1 thường được chép sai là "nụ tầm xuân nở ra xanh biếc". Trong thế giới này không có hoa nào màu xanh, càng không thấy hoa màu xanh biếc. Tầm xuân nở ra trên cánh biếc thì hợp lý hơn.

Hai câu đầu của đoạn 2 "ĐẮT GÌ một mớ trầu cay, Sao anh CHẲNG hỏi những ngày còn không" cũng thường được chép lệch đi là "BA ĐỒNG một mớ trầu cay, Sao anh KHÔNG hỏi những ngày còn không". Trong câu chép lệch đó, ‘ba đồng’ không phải chỉ số lượng ba đồng bạc, mà chỉ con số ít, tựa như ‘mấy đồng’ hoặc ‘vài đồng’. ‘Ba đồng’ và ‘một mớ’ trong câu ấy dùng để chỉ số lượng thật ít, không đích xác là bao nhiêu, nhưng rất ít ỏi. Vì là ca dao truyền khẩu cho nên người đời sau đã sai lệch sửa lời lại là ‘ba đồng’ và ‘sao anh không hỏi’. Thật ra ‘đắt gì’ và ‘sao anh chẳng hỏi’ nghe khá hơn. Lý do sẽ được nói ở phía dưới.

Bài ca dao ở trên còn có tương truyền là của Đào Duy Từ làm ra để trả lời Chúa Trịnh. Nguyên trước đó Đào Duy Từ ở bắc dưới triều Trịnh, thi đỗ thủ khoa kỳ thi hương nhưng sau đó bị xét lại lý lịch thì bị đánh rớt và cấm hẳn đi thi vì ông là con của một kép hát. Thời phong kiến, con cái phường hát bị liệt vào hàng xướng ca vô lại và bị cấm đi thi. Đào Duy Từ trốn vào nam thuộc chúa Nguyễn, trước làm nghề chăn trâu để kiếm sống, sau được chủ nhà hâm mộ tài và tiến cử gặp chúa Nguyễn và trở thành bậc quân sư lỗi lạc giúp chúa Nguyễn. Chính ông đã đề ra kế sách ngăn bắc giao nam giúp chúa Nguyễn: xây lũy Trường Dục dọc sông Gianh để chống quân Trịnh nam tiến, ngoại giao và hòa hiếu với các lân quốc phương nam như Chiêm Thành, Chân Lạp, các nước ở phía đông như Mã Lai, Nam Dương v.v. để có thế lực chống Trịnh lâu dài và tìm cách tiến về phương nam. Chúa Trịnh sau này biết tài ông nên cho người vào nam dụ ông trở về bắc; ông từ chối. Sử bên lề không nói rõ là chúa Trịnh cho người nào vào gặp ông cách nào và ông trả lời ra sao. Bài ca dao ở trên được cho rằng ông làm ra để trả lời chúa Trịnh. Điều này không đáng tin cậy, vì nhiều lẽ: – ông là người tinh thông văn, phú, thơ… nên không lẽ nào ông lại làm ca dao để trả lời. – ông không thể nào mượn lời của chàng trai trong bài ca dao đó để nói lên niềm hối tiếc của chúa Trịnh về ông; viết như vậy không phải lẽ. – sự nghiệp thi phú của ông chắc cũng còn để lại, không lẽ nào bài đó lại không được mang tên ông ?

Hơn nữa, bài ca dao có hai đoạn: đoạn 1 là lời của người nam, đoạn 2 là lời của người nữ. Giống như là câu hát đối đáp giữa nam và nữ ở các vùng quê vào thời xưa, hai đoạn hát đối đáp đó đã trở thành ca dao và được truyền tụng về sau. Đọc lên sẽ thấy rõ ràng là lời hát đối đáp nhau giữa nam và nữ. Do đó, tương truyền bài ca dao là của Đào Duy Từ là điều không hợp lý.

Hãy trở lại với bài ca dao. Lời của chàng trai "trèo lên cây bưởi hái hoa, bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân, nụ tầm xuân nở ra cánh biếc, em có chồng anh tiếc lắm thay". Lối hát đối/ca dao ngày xưa hay dùng lối nhập đề luân khởi (hay ‘lung khởi’ ?, tôi có thể nhớ lộn), đưa ra hình ảnh xa vời nào đó làm ẩn dụ để rồi đi vào nỗi niềm tâm sự. Hoa bưởi và nụ tầm xuân chưa bao giờ là biểu tượng của tình yêu giữa trai gái Việt. Dùng hai hình ảnh đó chỉ là cách nhập đề luân khởi; hoặc cũng có khi nhà chàng ta/nhà nàng có vườn cà và cây bưởi sau nhà chăng. Anh ta trèo lên cây bưởi không phải để hái bưởi mà là hái hoa. Rồi anh ta bước xuống vườn cà không phải để hái cà mà là hái nụ tầm xuân. Nhìn nụ tầm xuân nở ra, anh ta không thấy màu hoa đỏ mà lại thấy cánh hoa màu xanh biếc. Không phải anh ta thất tình quá rồi thần hồn rối loạn mà sinh ra leo trèo cây, bước xuống vườn, và nhìn lẫn lộn màu đỏ hóa ra màu xanh đâu. Cả đoạn đó không có chữ nào nói lên nỗi thất tình của anh ta. Hơi thơ của đoạn lại rất tỉnh táo và phảng phất bùi ngùi, nuối tiếc. Cũng không phải tác giả dùng từ ‘xanh biếc’ để cho hợp vần với chữ ‘tiếc’ ở câu sau đâu. Nếu muốn, tác giả có thể đặt câu ‘nụ tầm xuân nở ra đỏ ối, em có chồng anh hối lắm thay’, cũng nói lên được tâm sự hối tiếc của chàng trai. Hãy ngẫm nghĩ một chút đi: anh ta leo cây bưởi thấy trái mà nhớ tiếc cho hoa lúc hoa chưa kết trái; anh ta bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân leo quanh luống cà để nhìn hoa nở, thấy cánh lá biếc mà tiếc nhớ cho hoa lúc còn là búp nụ. Nhớ ti&ecir
c;́c búp nụ để rồi liền đó chàng ta bắt quàng qua tiếc cho người con gái đã có chồng. Anh ta đâu có thất tình hay lẩn thẩn ? Anh ta liên tưởng qua ẩn dụ rất hay.

Lời của người con gái "đắt gì một mớ trầu cay, sao anh chẳng hỏi những ngày còn không". Chữ ‘đắt gì’ đi với ‘một mớ’ thật tương xứng; nghe trong giọng nói còn có hơi trách móc hơn. Trong khi "ba đồng một mớ trầu cay, sao anh không hỏi những ngày còn không" nghe như câu hỏi chỉ để mà hỏi, không để tâm cho lắm. "Sao anh CHẲNG hỏi…" nghe thật là vừa như trách, vừa như tiêng tiếc hơn. Nhưng ngay sau đó, nàng lại cho biết ngay tình trạng hiện tại "bây giờ em đã có chồng, như chim vào lồng như cá cắn câu", để chàng trai khỏi phải vo ve thêm. Ý thức về tam tòng [tại gia tòng phụ: còn ở nhà theo cha, xuất giá tòng phu: lấy chồng theo chồng, phu tử tòng tử: chồng chết ở với con] của nàng trong thời phong kiến rất rõ rệt, cho nên nàng hạ tiếp theo ngay rằng "cá cắn câu biết đâu mà gỡ, chim vào lồng biết thuở nào ra" để chấm dứt ong qua bướm lại giữa hai người. Câu nàng nói "bây giờ em đã có chồng" khẳng định là nàng đã có chồng rồi vào lúc hai người gặp nhau đó. Bài ca dao không có chi tiết nào cho biết là hai người có biết nhau trước đây hay không. Dù hai người có biết nhau trước hay không thì vào thời xưa nam và nữ không được tự do làm bạn hay kết bồ với nhau như thời nay. Chỉ có hai trường hợp cho hai người trong bài ca dao trên: 1/ trước đây chàng biết nàng và yêu thầm nhớ trộm, sau đó nàng có chồng, nay có dịp gặp nhau nơi hát đối chàng bèn thổ lộ nỗi niềm tiếc của chàng với nàng. Nàng biết; nàng trách khéo cho nguôi lòng chàng, tựa như ‘sao chẳng hỏi lúc người ta chưa có chồng, bây giờ thì muộn rồi’. 2/ Chàng và nàng chưa hề biết nhau, nay gặp nhau nơi hát đối; chàng thích nàng, hỏi thăm thì biết là nàng đã có chồng; chàng bèn chờ lúc nàng ra hát mà tiếp theo ra hát lên nỗi lòng tiếc của chàng. Nàng trách khéo lại rất có duyên và khéo léo khép lại tình hình của hai người. Chừng đó mà thôi.

Hình như bài ca dao trên có khi được đặt tên là "Nụ tầm xuân". Tôi cho rằng đặt tên như vậy là thiệt thòi cho hoa bưởi vì rõ ràng là hoa bưởi và nụ tầm xuân là hai hình ảnh làm tiền đề luân khởi để dẫn nhập vào tâm sự của người nam trong bài ca dao, nay chỉ gọi là "nụ tầm xuân" thì hoa bưởi để ở đâu ? Đó là chưa nói trong tâm sự của người nữ còn có hai hình ảnh khác "cá cắn câu" và " chim vào lồng".

Bài "Muộn màng" ở trên không phải là kiệt tác trong ca dao Việt nam; bài chỉ ở mức bình thường. Tình và ý trong bài đơn giản, mộc mạc như khoai lang; vả chăng, ca dao Việt bài nào cũng mộc mạc. Ca: hát; Dao: tập tục. Ca dao: bài hát về tập tục sinh hoạt của bối cảnh nào đó trong thời gian nào đó. "Muộn màng" chỉ là dấu chỉ mang tâm sự tiếc nuối lỡ làng của người nam vào một thời xa xưa khi biết người con gái chàng thích đã có chồng; còn nàng thì khéo léo trách chàng chậm bước và duyên dáng chấm dứt chuyện chưa bắt đầu giữa hai người ở đó. Tuy nhiên, bài ca dao lại được trích đăng trong sách giáo khoa và được dạy cho nhiều thế hệ, do đó có khá nhiều người Việt của nhiều thế hệ biết. Biết với những chữ sai lệch. Có những chữ sai lệch là do bài được truyền khẩu qua lỗ tai của những người không được nhạy bén cho lắm với ngôn ngữ của thi ca. Thi ca rất lạ lùng: chỉ cần thay đổi một chữ là có thể làm giảm dung lượng ý và tình trong bài hoặc làm hỏng duyên bài thơ.

September 7, 2003




Mục Lục Quân Sử VNCH

Mục Lục Quân Sử VNCH

(NS Ðoàn Kết và Tác Giả giữ bản quyền.
Ðược quyền trích đăng; yêu cầu ghi rõ tên tác giả và xuất xứ. Cám ơn.)

SVN Navy Coastal Security Service: The Gulf Raiders – (Trần Đỗ Cẩm) Error! Filename not specified.
Thiết Giáp QLVNCH Tại Hạ Lào: Dấu Chân Chiến Mã … – (Trần Đỗ Cẩm) Error! Filename not specified.
Vì Sao Tân Cảnh Thất Thủ? – (Cựu Đại Tá Hà Mai Việt) Error! Filename not specified.
Đảo Chánh Ngày 1/11/1963 – (Phạm Bá Hoa) Error! Filename not specified.
Mặt Trận Ban Mê Thuột – (Phạm Huấn) Error! Filename not specified.
Cuộc Rút Quân Trên Đường Số 7 Ngày 17/3/1975 – (Phạm Bá Hoa) Error! Filename not specified.
Thung Lũng Iadrang – (Hà Kỳ Lam)
Trận Làng Vei (Phần 1) – (Trần Ðỗ Cẩm)
Trận Làng Vei (Phần 2) – (Trần Ðỗ Cẩm)
Trận Làng Vei (Phần 3) – (Trần Ðỗ Cẩm)
Trận Làng Vei (Phần 4) – (Trần Ðỗ Cẩm)
Trận Làng Vei (Phần 5) – (Trần Ðỗ Cẩm)
Ðại Tá Ngô Tấn Nghĩa – Bình Thuận – (Hồ Ðinh)
Vết Xích Chiến Xa Trên Ðất Kontum – (Lê Quang Vinh – Chi Ðoàn 1/8)
Hổ Cáp – Gia Ðình 9 Kỵ Binh – (Hổ Cáp Trần Hữu Thành)
Cuộc Ðổ Bộ Trong Lòng Ðịch – (Trung Tá Nguyễn Ðăng Hòa)
Hải Long, Mặt Trận Miền Ðông Phan Thiết – (Mường Giang)
Ðịa Phương Quân & Nghĩa Quân Bình Thuận – (Mường Giang)
Sinh Vi Tướng, Tử Vi Thần – (Nguyễn Lý Tưởng)
Tướng Trần Thiện Khiêm … – (Trần Ngọc Giang)
Trận Ðánh Cuối Cùng Của Thiếu Sinh Quân … – (Nguyễn Anh Dũng & Lâm A Sáng)
Trung Úy Sơn – (Charles Kuralt – Hoàng Mai Ðạt chuyển ngữ)
Mùa Xuân Không Ðến – (Lê Bình)
Nguyên Văn bản Hiệp Ước Biên Giới Viêt – Hoa 1999
Oan Hồn Trên Xứ Huế – (Ngô Xuân Hùng chuyển ngữ)
Trận Phan Rang – (Chuẩn Tướng Phạm Ngọc Sang)
The Easter Offensive (in English) – (Lt. Gen. Ngo Quang Truong)
Ðảo Guam, 27 Năm Sau – Tuyên Úy Nguyễn
Trường Lục Quân Trần Quốc Tuấn – Phạm Văn Liễu
Ngày Quân Lực – Bùi Ðức Lạc
Cái Chết Của Sử Gia Phạm Văn Sơn – Nguyễn Văn Dưỡng
Trong Cảnh Sống Còn – Nguyễn Tấn Hưng
Những Ngày Cuối Cùng Của Hải Vận Hạm Hậu Giang – Hoàng Sa NQT
Trận Phan Rang (Tháng 4/75) – Trương Dưỡng
Tây Nguyên Sóng Dậy – Bùi Ðức Lạc
Nhớ Về Tháng Tư 1975: Vùng IV Duyên Hải Những Ngày Cuối – Nguyễn Duyệt
Thiên Anh Hùng Ca – Bùi Ðức Lạc
Người Tù Trại Phong Quang – Ngô Xuân Hùng dịch
Phúc Trình Weyand (Phần 2) – Trần Ðỗ Cẩm dịch
Phúc Trình Weyand (Phần 1) – Trần Ðỗ Cẩm dịch
Ban Mê Thuột: Những Ngày Ðầu Trong Tay Cộng Quân – Nguyễn Ðịnh
Biệt Hải: Chuyến Công Tác Thanh Hóa – Nguyễn Văn Kha
Biệt Hải: Chuyến Công Tác Bầu Tró (Ðồng Hới) – V.12
Ðại Tá Ngô Thế Linh – Nhân Viên T 70
Ban Mê Thuột Ngày Ðầu Chiến Cuộc – Nguyễn Ðịnh
Trận Chiến Tết Mậu Thân 1968 (Phần 8) – Phạm Văn Sơn
Trận Chiến Tết Mậu Thân 1968 (Phần 7) – Phạm Văn Sơn
Trận Chiến Tết Mậu Thân 1968 (Phần 6) – Phạm Văn Sơn
Trận Chiến Tết Mậu Thân 1968 (Phần 5) – Phạm Văn Sơn
Trận Chiến Tết Mậu Thân 1968 (Phần 4) – Phạm Văn Sơn
Trận Chiến Tết Mậu Thân 1968 (Phần 3) – Phạm Văn Sơn
Trận Chiến Tết Mậu Thân 1968 (Phần 2) – Phạm Văn Sơn
Trận Chiến Tết Mậu Thân 1968 (Phần 1) – Phạm Văn Sơn
Bí Mật Về Trận Thất Thủ Ban Mê Thuột – Lữ Giang
Mặt Trận Tây Nguyên 1975 – Trung Tá Ngô Văn Xuân
Những Ngày Cuối Cùng Trên Liên Tỉnh Lộ 7B – Khuyết Danh
Nhìn Lại Trận Ðánh Ban Mê Thuột – Ðại Tá Nguyễn Trọng Luật
Trung Ðoàn 44 Trong Mùa Hè Ðỏ Lửa – Trung Tá Ngô Văn Xuân
Tết Mậu Thân Tại QÐ II – Ðại Tá Trịnh Tiếu
Hoạt Ðộng Của BK Dù Tại Bắc Việt – Trung Tá Nguyễn Văn Vinh
Bắc Việt Tấn Công Xuân Lộc – Hồ Ðinh
Máu Lửa … Charlie – Ðoàn Phương Hải
Tướng Nguyễn Khoa Nam: Hồi ký của SQ tùy viên– (Lê Ngọc Danh) 
Chuyến Công Tác Cuối Cùng Của HQ 09 – (Hoàng Ðình Báu)
Tưởng Niệm Cố Ðại Tá Ngô Thế Linh – (Ngô Xuân Hùng)
Mùa Hè Ðỏ Lửa 72 – (Cọp Biển Trần Ngọc Nam)
Cộng Sản Bắc Việt Xâm Lăng – (Trung Tá Trần Văn Hiển)
Poulo Wai – Ðột Kích Thám Sát Người Nhái – (Trịnh Hòa Hiệp)
Liên Ðoàn Người Nhái – (Lê Quán)
Giang Ðoàn 26 Xung Phong: Những Giòng Sông Cũ … – (Trần Ðỗ Cẩm)
HQ 802- Những Ngày Cuối Trên Biển Ðông – (Vũ Quốc Công)
Từ Ban Mê Thuột Ðến Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên – (Tôn Quang Tuấn)
Những Kỷ Niệm Gia Ðình Với Tướng Nguyễn Khoa Nam – (Nguyễn Thái Dương)
Thương Tiếc Viết Về Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam – (Nguyễn Khoa Phước)
Tướng Cao Văn Viên Kể Lại 2 Buổi Họp Lịch Sử Tháng 3/75 – (Vương Hồng Anh)
Tưởng Niệm Tướng Trần Văn Hai (1) – (Người Lính Già)
Những Giờ Phút Cuối Cùng Của Tướng Trần Văn Hai – (Trịnh Văn Ngạn)
Chiến Ðấu Ðến Cùng – (Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi)
Phong Cách Anh Hùng Của Tướng Phạm Văn Phú – (Nguyễn Ðông Thành)
Tướng Lê Văn Hưng (2) – (Bà Lê Văn Hưng, nhũ danh Phạm Thị Kim Hoàng)
Tướng Lê Văn Hưng (1) – (Dale Andrade)
Thiên Thần Mũ Ðỏ Ai Còn Ai Mất – (Tướng Lê Quang Lưỡng)
Tướng Lê Nguyên Vỹ (2) – (Nguyễn Văn Tín)
Tướng Lê Nguyên Vỹ (1) – (Thanh Sơn)
Một Ngày Với Ðô Ðốc Chung Tấn Cang – (Phỏng Vấn – Phan Lạc Tiếp)
Lực Lượng Ðặc Biệt Hải Quân: Sở Phòng Vệ Duyên Hải – (Trần Ðỗ Cẩm)
Mặt Trận Tam Biên 1972 – (Người Lính QLVNCH)
Lam Son 719 Operation (in English) – (Maj. Gen. Nguyen Duy Hinh)
Liên Ðoàn Ðặc Nhiệm "Hổ Biển" – (Lê Bá Thông)
Quân Sử: Chuyện Tiểu Ðoàn 1 "Quái Ðiểu" TQLC – (Bao Bất Ðồng)
Hải Sử: Trận Ba Rài – (Phan Lạc Tiếp)
Bài Nói Chuyện Của Ðại Tướng Nguyễn Khánh – (Lê Ðình Cai dịch)
Quân Sử: Thiếu Tướng Lê Minh Ðảo – (Nguyễn Tuyển)
Quân Sử: Ngày Cuối Cùng Của Ðại Tá Lê Ðức Ðạt – (Vương Hồng Anh)
Quân Sử: Biệt Cách Dù Và Quân Dù Trong Ngày 30-4-75 – (Vương Hồng Anh)
Hồi Ký: Chuyến Di Tản Buồn – (Lê Bá Thông)
Hồi Ký: Sanh Nam … Tử Bắc – (Cá Kình Nguyễn Văn Tâm)
Thương Tiếc viết về Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam – (Bào đệ Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam)
Hồi Ký: Huế, Mậu Thân và Tôi – (Mũ Xanh Nguyễn Văn Phán)
Hồi Ký: Vì Sao Tôi Bỏ Quân Ðoàn I ? – (Trung Tướng Ngô Quang Trưởng)
Hồi Ký: Ngày Tàn Cuộc Chiến – (Ðại Tá Lê Nguyên Bình)
Biên Khảo: Ðường Mòn Hồ Chí Minh – (Trần Ðỗ Cẩm)
Biên Khảo: Biến Cố Vịnh Bắc Việt Tháng 8 năm 1964 (Bài 1/6) – (Trần Ðỗ Cẩm)
Biên Khảo: Biến Cố Vịnh Bắc Việt Tháng 8 năm 1964 (Bài 2/6) – (Trần Ðỗ Cẩm)
Biên Khảo: Biến Cố Vịnh Bắc Việt Tháng 8 năm 1964 (Bài 3/6) – (Trần Ðỗ Cẩm)
Biên Khảo: Biến Cố Vịnh Bắc Việt Tháng 8 năm 1964 (Bài 4/6) – (Trần Ðỗ Cẩm)
Biên Khảo: Biến Cố Vịnh Bắc Việt Tháng 8 năm 1964 (Bài 5/6) – (Trần Ðỗ Cẩm)
Biên Khảo: Biến Cố Vịnh Bắc Việt Tháng 8 năm 1964 (Bài 6/6) – (Trần Ðỗ Cẩm)
Biên Khảo: Khái Lược Về Lịch Sử Hình Thành Của Quân Lực VNCH (Phần 1) – (Trần Ðỗ Cẩm & Trần Hội)
Biên Khảo: Khái Lược Về Lịch Sử Hình Thành Của Quân Lực VNCH (Phần 2) – (Trần Ðỗ Cẩm & Trần Hội)
Quân sử: Tống Lê Chân, Tiền Ðồn Quá Xa – (Trần Ðỗ Cẩm)
Phóng đồ Trận đánh tại Tống Lê Chân – (Trần Ðỗ Câm)
Hình Ảnh Biệt Ðộng Quân tại Hạ Lào – (Trần Ðỗ Cẩm)
Các Trận Ðánh Của Biệt Ðộng Quân tại Hạ Lào – Bài 1 – (Trần Ðỗ Cẩm)
Các Trận Ðánh Của Biệt Ðộng Quân tại Hạ Lào – Bài 2 – (Trần Ðỗ Cẩm)
Các Trận Ðánh Của Biệt Ðộng Quân tại Hạ Lào – Bài 3 – (Trần Ðỗ Cẩm)
Các Trận Ðánh Của Biệt Ðộng Quân tại Hạ Lào – Bài 4 – (Trần Ðỗ Cẩm)
Các Trận Ðánh Của Biệt Ðộng Quân tại Hạ Lào – Bài 5 – (Trần Ðỗ Cẩm)
Phóng Ðồ Kế Hoạch Ðiều Quân Lam Sơn 719 – (Trần Ðỗ Cẩm)
Phóng Ðồ Các Trận Ðánh Của Biệt Ðộng Quân Tại Hạ Lào – (Trần Ðỗ Cẩm)
Hồi Ký: Tô Phạm Liệu, người ở lại Charlie – (Phạm Anh Dũng)
Mặt Trận Tân Cảnh – Kontum 1972 – (Ðại Tá Trịnh Tiếu)
Cơn Uất Hạ Lào – (Bùi Ðức Lạc)
Ðường Về Kotum – (Bùi Ðức Lạc)
Tân Cảnh: Kẽm Gai Bọc Thây Anh Hùng – (Bùi Ðức Lạc) 

  24. Lich Su VN 1945-2008:
http://vietnamsaigon.multiply.com/
http://vietnamsaigon.multiply.com/journal/item/69




Đỗ Quảng sưu tầm : Mỹ Dấu Kín Phim Tài Liệu Suốt 38 Năm Qua

http://www.youtube. com/results? search_query= vietnam+vietnam+ john+ford&search_type=&aq=5

http://www.youtube.com/watch?v=tLKKV3zbh4s

 Một sinh mạng là một sinh mạng, không thể nói 1 sinh mạng người Mỹ có thể thay thế 1000 sinh mạng người Việt”, khi ông muốn nói việc Mỹ muốn rút lui để tự quân đội miền Nam chống cộng sản. 

Đoạn phim này bị cấm vào thời đó vì nó nói lên sự thật phủ phàng dân Mỹ bị một quả lừa của Cộng sản và luận điệu nhút nhát chủ bại của một số chính khách.  

" …. Ending a conflict is not so simple, not just calling it off and comming home.  Because the price for that kind of peace could be a thousand years of darkness for generation’s Viet Nam borned ."

Nhân dịp kỷ niêm tháng Tư Đen năm nay (2011).

Xin trân trọng giới thiệu bài viết về một cuốn Phim Đã Bị Chính Phủ HK Dấu Kín Suốt 38 Năm Qua.

http://www.youtube. com/results? search_query= vietnam+vietnam+ john+ford&search_type=&aq=5

Phim đang phổ biến trên mạng Internet tên "Vietnam! Vietnam" được cho là cuốn phim cuối cùng của nhà đạo diễn gạo cội hàng đầu của Hoa Kỳ John Ford (1894-1973). 

Một sinh mạng là một sinh mạng, không thể nói 1 sinh mạng người Mỹ có thể thay thế 1000 sinh mạng người Việt”, khi ông muốn nói việc Mỹ muốn rút lui để tự quân đội miền Nam chống cộng sản. 

Đoạn phim này bị cấm vào thời đó vì nó nói lên sự thật phủ phàng dân Mỹ bị một quả lừa của Cộng sản và luận điệu nhút nhát chủ bại của một số chính khách.  

" …. Ending a conflict is not so simple, not just calling it off and comming home.  Because the price for that kind of peace could be a thousand years of darkness for generation’s Viet Nam borned ."

 
(14.02.09)




Trúc Giang : CUỘC CHẠY TRỐN CỘNG SẢN KINH HOÀNG TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM

CUỘC CHẠY TRỐN CỘNG SẢN KINH HOÀNG TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM (Trúc Giang, Minnesota)

Cuộc chạy trốn Cộng Sản kinh hoàng trong lịch sử Việt Nam
Trúc Giang, Minnesota
MONDAY, 30 APRIL 2012 17:32
1* Mở bài
Mỗi năm, ngày 30 tháng tư gợi lại vết thương đau buồn và mất mát của người Việt hải ngoại, người Việt mất nước, người Việt tỵ nạn, người Việt chạy trốn chế độ độc tài Cộng Sản.
2* Chiến dịch “Gió lốc” (Operation Frequent Wind)
2.1. Chiến dịch Frequent Wind
Chiến dịch Gió lốc (Operation Frequent Wind) là một cuộc di tản bằng trực thăng của Hoa Kỳ và của Việt Nam Cộng Hòa, diễn ra từ ngày 29 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Có 50,493 người, trong đó có 2,548 trẻ mồ côi được di tản từ phi trường Tân Sơn Nhất. Các phi công đã bay tổng cộng 1,054 giờ, với 682 chuyến bay trong chiến dịch. Đã có hơn 7,000 người được di tản bằng trực thăng tại nhiều địa điểm khác nhau ở Sài Gòn.
Chiến dịch có 4 phương án:
1. Phương án 1. Di tản bằng phi cơ dân sự tại phi trường Tân Sơn Nhất
2. Phương án 2. Di tản bằng phi cơ quân sự
3. Phương án 3. Di tản bằng tàu thuyền từ cảng Sài Gòn
4. Phương án 4. Di tản bằng trực thăng, bóc người đưa đến các chiến hạm ngoài khơi.
Ngày 28-4-1975, phi trường Tân Sơn Nhất bị pháo kích và bị 5 phi cơ A-37 ném bom, nên di tản bằng phi cơ cánh cố định chấm dứt, và phương án Operation Frequent Wind, di tản bằng trực thăng bắt đầu.
2.2. Giai đoạn chuẩn bị
Đây là một chiến dịch được chuẩn bị trước rất tỉ mỉ. Cả một hạm đội gồm 50 chiến hạm được huy động từ nhiều tháng trước ngày 30-4-1975.
Đầu tháng 3 năm 1975, khu trục hạm USS Kirk được lịnh nhổ neo từ căn cứ San Diego, để đi hộ tống hàng không mẫu hạm USS Hancock. Hàng không mẫu hạm Hancock được lịnh cặp bến Hawaii, để đưa những chiến đấu cơ lên bờ và thay vào đó bằng những trực thăng vận tải của TQLC/HK, rồi trực chỉ đến Biển Đông.
Chiếc USS Kirk bắt đầu vào cuộc, với Chiến dịch Eagle Pull để di tản 300 người Mỹ rời khỏi Phnom Penh. Campuchia thất thủ ngày 17-4-1975. Sau đó, chiếc USS Kirk xuôi xuống phía nam, hướng về Singapore để cùng với khu trục hạm USS Cook hộ tống hàng không mẫu hạm Midway, thả neo chờ tham gia chiến dịch Frequent Wind.
2.3. Kế hoạch bí mật, không chỉ cứu những con tàu
Chiến dịch Frequent Wind do ông Richard L. Armitage phụ trách. Ông nguyên là một sĩ quan HQ/HK, lúc đó là đặc phái viên của Bộ QP/HK, thực hiện nhiệm vụ lập kế hoạch di tản những chiến hạm của HQ/VNCH, cụ thể là giải cứu những chiến hạm và kỹ thuật công nghệ được trang bị trên những chiến hạm đó. Nếu không giải cứu được thì phá hủy, để không bị lọt vào tay CSBV làm chiến lợi phẩm. Nhiệm vụ chính của ông Armitage là cứu những con tàu, không để lọt vào tay VC.
Khu trục hạm USS Kirk cùng thủy thủ đoàn 200 người, được lịnh đến đảo Côn Sơn, là nơi được chọn để tập trung tàu bè và người di tản tại đó.
Một vài tuần lễ trước ngày 30-4-1975, ông Armitage đã có mặt tại văn phòng của người bạn thân là đại tá Đỗ Kiểm, Tư lịnh phó HQ/VNCH. Hai người lập kế hoạch giải cứu những chiến hạm của HQ/VNCH.
Đại tá Kiểm cho ông Armitage biết rằng, muốn đưa những con tàu rời VN, thì phải cần thủy thủ đoàn, nhưng thủy thủ VN sẽ không đi, nếu gia đình của họ không được đi theo. Kế hoạch cứu thoát những con tàu đưa đến việc di tản người lánh nạn Cộng Sản. Ông Armitage không báo cáo với thượng cấp về việc nầy, vì lo ngại chính quyền Mỹ có thể không giải cứu họ.
Cả hai ông, đại tá Kiểm và Armitage không ước lượng được con số người di tản là bao nhiêu.
2.4. Chiến hạm USS Kirk bắt đầu tiếp nhân trực thăng di tản
Khu trục hạm USS Kirk là mục tiêu cho trực thăng đáp xuống.
Từ sáng sớm ngày 29-4-1975, USS Kirk loan báo, có một sân đáp dành cho trực thăng trên boong, nhưng suốt buổi sáng không có trực thăng nảo đến cả. Mãi đến xế chiều, một trực thăng UH-1 của KQ/VNCH dẫn theo 16 chiếc UH-1, 1 chiếc CH-47 Chinook khổng lồ với 2 chong chóng và 1 chiếc vũ trang Cobra, cùng với 200 người di tản đã có mặt trên chiếc Kirk. Trong số UH-1, có 1 chiếc của Air America, là hảng hàng không của CIA.
2.5. Hỗn loạn ở Côn Sơn
Ngày 1-5-1975, chiếc Kirk đã có mặt ở Côn Sơn từ hừng sáng. Đã có 30 tàu HQ/VNCH, hàng chục tàu đánh cá và tàu chở hang, đầy khẳm những người tỵ nạn ở khu tập trung nầy.
Ông Kent Chipman, một người thợ máy, lúc đó 21 tuổi, thuật lại: “Những con tàu nhồi nhét đầy người, tôi không thể xem bên dưới lòng tàu, nhưng trên boong tàu thì chật cứng, người san sát nhau”.
Một tài liệu lịch sử cho rằng có khoảng 30,000 người.
Một số tàu không còn chạy được, nên họ cùng lôi kéo nhau đi. Một chiếc quá khẳm nên đang chìm. Nhiều người trên tàu nhảy xuống biển. Một trung úy HQ/VNCH nổ lực giúp hành khách rời khỏi chiếc tàu đang chìm. Hành khách được chuyển sang tàu kế bên bằng một tấm ván gỗ hẹp. Cảnh hỗn loạn xảy ra.
Một người đàn ông ra tay đánh ngã một phụ nữ phía trước anh ta, cô bị rơi xuống biển, và được cứu vớt.
“Người trung úy VN không hề lưỡng lự, anh ta đến ngay sau anh chàng đó, rút súng bắn một phát vào đầu giết chết anh ta, rồi đá xác qua một bên, tiếp tục cứu người. Cú bắn thật kinh hoàng, nhưng ngăn chặn được hỗn loạn”. Ông Stephen Burwinkel, người y tá trên chiếc Kirk thuật lại như thế.
2.6. Các chiến hạm Hải quân Việt Nam Cộng Hòa tự giải giới
Đến thứ ba, ngày 6-5-1975, toàn thể hạm đội di tản của HQ/VNCH gần đến cảng Subic (Philippines).
Lịnh ban ra: “Tất cả những chiến hạm phải tự giải giới hoàn toàn”. Tàu chiến Mỹ cho những Cano cặp vào những chiếc tàu nầy để hốt hết súng ống, đạn dược.
Trên đường đi, thủy thủ và y tá Mỹ cung cấp nước uống, thức ăn, thuốc men và khám bịnh cho người tỵ nạn.
Trên đại dương, ở hải phận quốc tế, chiếc tàu nào đăng ký ở quốc gia nào, mang cờ nước nào, thì được xem như là lãnh thổ của quốc gia đó. Vì thế, một đứa trẻ được sinh ra trên tàu, thì có quyền xin được mang quốc tịch của quốc gia của chiếc tàu.
Qua 6 ngày trên biển, trong 30,000 người tỵ nạn, đã có 3 người thiệt mạng và được thủy táng, vì Philippines không cho phép mang xác chết lên nước họ.
Khi đoàn tàu đến gần Philippines thì thuyền trưởng chiếc Kirk, nhận được một tin không tốt lành gì. Đó là chính phủ của Tổng thống Ferdinand Marcos e ngại rằng sự hiện diện của tàu HQ/VNCH có thể gây khó khăn về ngoại giao của họ, đối với chính quyền CSVN. Hạm trưởng Jacobs của chiếc Kirk kể lại: “Chính phủ Philippines không cho phép chúng tôi vào cảng Subic và đề nghị những con tàu nên trở về Việt Nam”.
Đại tá Đỗ Kiểm và ông Armitage đưa ra một giải pháp buộc Tổng thống Ferdinand Marcos phải chấp nhận. Đó là cờ VNCH được hạ xuống và trương cờ Mỹ lên, chứng tỏ những con tàu nầy là của Hoa Kỳ.
Mà thật, những con tàu nầy là của HK. Cơ sở lý luận là, trong chiến tranh, tàu HK được trao cho VNCH như là một khoản cho mượn để chống Cộng Sản, nhưng bây giờ chiến tranh kết thúc, HK thu hồi những chiếc tàu nầy trở lại. Thế là một cuộc tìm kiếm khó khăn, làm sao có đủ 30 lá cờ Mỹ trong lúc ở trên mặt biển.
Buổi lễ hạ cờ chính thức.
Hàng chục ngàn người VN trên các con tàu bắt đầu hát quốc ca. Cờ VNCH hạ xuống trong những tiếng bật khóc. Khóc. Và khóc… Chưa bao giờ có một buổi lễ hạ cờ đầy xúc động đến như thế.
Lãnh thổ VNCH cuối cùng đã mất thật sự. Cái đau gậm nhấm khôn nguôi của người Việt miền Nam là mất nước. Những người còn lương tri thì không nên quên nổi nhục đó.
3* Chiến dịch di tản trẻ sơ sinh (Operation Babylift)
3.1. Chiến dịch
Tháng 4 năm 1975, miền Nam đang sụp đổ dưới sự tấn công của Cộng Sản Bắc Việt, Tổng thống Gerald Ford lý lịnh cho thực hiện chiến dịch di tản để cứu trẻ “mồ côi”, cho rằng, có thể VC sẽ không nương tay, vì một số là con lai Mỹ.
Hoàn cảnh buộc phải di tản trẻ thơ
Những trẻ mang tên là trẻ “mồ côi”, thật ra là đã có cha hoặc mẹ còng sống, nhưng vì hoàn cảnh nào đó, họ đã từ bỏ các em, đưa vào cô nhi viện, mang tên trẻ mồ côi.
Một số những người chăm sóc các em là những người ngoại quốc vào VN làm công tác thiện nguyện cho các nhà thờ và các tổ chức từ thiện nước ngoài. Họ phải rời VN. Trong hoàn cảnh vô củng hỗn độn của những ngày gần cuối tháng 4 năm 1975, hàng chục ngàn gia đình VN đang chờ di tản. Trẻ mồ côi cũng không thể bị bỏ rơi trong hoàn cảnh hỗn độn đó được. Những người thiện nguyện HK đã nổ lực vận động, đưa các em ra khỏi VN để tiếp tục được chăm sóc và nuôi dưỡng. Các em đã bị cha mẹ bỏ một lần rồi, không thể bị bỏ lần thứ hai, cho nên việc di tản trẻ mồ côi là đầy lòng nhân đạo.
Một điển hình là bà Betty Tisdale, đã nổ lực chạy đôn chạy đáo để hoàn thành thủ tục làm hồ sơ xuất cảnh cho 219 trẻ sơ sinh rời VN. Bà Tisdale thuật lại: “Tôi chạy đến bịnh viện Nhi đồng, xin 225 mẫu giấy khai sanh, rồi điền vào ngày giờ và nơi sanh một cách nhanh chóng. Tôi hoàn toàn không biết những em bé nầy là con của ai, sinh ra lúc nào, nơi nào. Những ngón tay của tôi cứ viết đại để tạo ra những bản khai sanh. Tôi tức tốc đến gặp đại sứ Graham Martin xin phương tiện di tản cho các em. Đại sứ bằng lòng với điều kiện các thủ tục giấy tờ phải được chính phủ VN chấp thuận.”
Ông Edward Daly, chủ tịch World Aiways đang có mặt ở VN, trong lúc đó, thì con gái của ông là một thiện nguyện viên đang ở Colorado, đánh điện xin ông giúp đở cho trẻ mồ côi được ra đi.
Chiến dịch Babylift được thực hiện trong 3 tuần lễ, từ ngày 2-4-1975 đến ngày 26-4-1975. Tổng cộng có 26 chuyến bay, đã đưa 2,548 trẻ mồ côi đến Hoa Kỳ. Sau đó, các em được các gia đình Mỹ nhận làm con nuôi.
3.2. Bắt đầu bằng tang tóc
Chiếc Lockheed Martin C-5A Galaxy, được xem là phi cơ vận tải lớn nhất thế giới, đã từng chở xe tăng và cầu quân sự nặng 70 tấn, từ căn cứ không quân Clark (Philippines) được phái đến Sài Gòn, trong nhiệm vụ di tản trẻ thơ, bắt đầu từ ngày 4-4-1975.
Ngày 4-4-1975, lúc 4:15 chiều, sau khi 328 trẻ em và người lớn, trong đó có nhân viên sứ quán Mỹ và nhiều nhân viên của các đơn vị Mỹ, được đưa lên máy bay. Chiếc C-5 bắt đầu rời đường băng.
Khoảng 12 phút sau, cách phi trường Tân Sơn Nhất 64km, thì một biến cố xảy ra. Cửa sau, nằm dưới bụng phi cơ, là nơi đưa hành lý lên tàu, đã bung ra và bị thổi bay mất. Hành khách bị xô ngã, nhiều người bị thương. Một nhân viên phi hành ngồi gần cửa bị hút bay ra khỏi phi cơ. Những người còn lại bất tĩnh do thiếu dưỡng khí. Hai phi công chính và phụ không còn điều khiển được phi cơ, nên quyết định trở lại Sài Gòn.
C-5 không phải là phi cơ chở hành khách, cho nên những mặt nạ tiếp dưỡng khí không được thiết kế cho trẻ em, vì thế, các em được bế lên cao để gắn mặt nạ dưỡng khí vào. Linda Adam, một y tá quân y kể lại như thế.
Khi còn cách Sài Gòn 5km, phi cơ mất độ cao, lao mình ầm ầm xuống cánh đồng lúa ngập nước, đụng phải con đê, gãy làm 4 khúc, và bình xăng phát cháy.
Trên cánh đồng lúa thuộc khu vực Cát Lái, cảnh tang tóc với những xác người nằm vương vãi trên bùn đất.
153 người thiệt mạng, trong đó có:
98 trẻ em. 34 nhân viên bộ QP/HK. 5 dân sự. 11 nhân viên KQ/HK. Và những y tá của nhiều quốc gia.
175 người sống sót.
Có nhiều giả thuyết về lý do xảy ra tai nạn: cho rằng bị phá hoại do những người thân Cộng muốn phá kế hoạch di tản trẻ thơ, do lỗi thiết kế của công ty Lockheed, và cho rằng phi cơ không được bảo trì chu đáo.
Người chị của một y tá thiệt mạng, đại diện cho các nạn nhân, đâm đơn kiện tập thể, đòi công ty Lockheed bồi thường 200 triệu USD. Việc điều tra được tiến hành, và cho mãi tới năm 1990 vẫn chưa có kết quả.
4* Những di sản của chiến dịch Babylift
4.1. Không có hồ sơ lý lịch cá nhân
Ngày 5-4-1976, tờ Time cho biết, nhiều trẻ em hoàn toàn không có hồ sơ về lý lịch cá nhân, đó là những con người không có họ và tên, không có giấy tờ chứng minh ngày và nơi sinh, quốc tịch…cho nên không thực hiện hồ sơ con nuôi.
Cục di trú và nhập tịch cho biết, có 1,671 em hợp lệ, và 353 không hợp lệ.
4.2. Bi kịch gia đình
Nhiều trường hợp đau lòng khó xử xảy ra.
– Bà Hà Thị Võ
Người từng đưa 3 đứa con đi theo chương trình Babylift, khi đến Mỹ, đưa đơn kiện, khi nhận ra đứa con út 3 tuổi tại một gia đình nhận con nuôi, bà đòi con lại. Cậu bé không nhận bà, khiến cho nhà chức trách bác bỏ yêu cầu của bà.
– Bà Doãn Thị Hoàng An
Bà An ở bang Montana, nhận mình là mẹ ruột của cậu bé Ben, 4 tuổi, được vợ chồng Johnny và Bonnie Nelson nhận làm con nuôi từ chương trình Babylift.
Khi ra toà, cậu bé Ben không nhận bà Hoàng An, không có phản ứng trước những cử chỉ triều mến và thương yêu của bà Hoàng An, dù vậy, tòa phán quyết cậu Ben thuộc về bà mẹ Việt Nam.
Thế là vợ chồng Nelson tiếp tục đưa đơn kiện lên toà thượng thẩm.
5* Trở về cố hương
5.1. Trẻ mồ côi trở về Việt Nam trong vai trung tá Mỹ
Cô Kimberly Mitchell có chuyến về Việt Nam trong vai một trung tá Mỹ.
Gần 40 năm sau khi được một trung sĩ Mỹ, thuộc KQ/HK và vợ ông, nhận làm con nuôi năm 1972, cô Mitchell được biết là một trẻ sơ sinh mang số 899, bị bỏ rơi tại cô nhi viện Thánh Tâm, Đà Nẳng.
Trung tá Mitchell hiện là Phó giám đốc văn phòng Trợ giúp Quân nhân và Thân nhân tại Bộ QP/HK, cho biết: “Tôi muốn cố gắng nối kết lại với quá khứ còn chưa biết của mình. Trung tá Mitchell đã thăm Sài Gòn và Đà Nẳng trong chuyến đi một tuần lễ về VN.
Chuyến thăm tại trại mồ côi Thánh Tâm, nay là một tu viện, được coi là phần xúc động nhất của chuyến đi. Tại tu viện, Mitchell gặp “Sơ” Mary, là người đã từng làm việc trong thời gian tiếp nhận em bé số 899 vào cô nhi viện. “Sơ Mary cho biết, cái tên mà họ đặt cho tôi là Trần Thị Ngọc Bích, nghĩa là viên ngọc quý. Đây là chuyến thăm của một đời người, nghĩa là một lần duy nhất. Tôi chắc chắn sẽ không chờ 40 năm nữa để quay trở lại”, Mitchell thuật lại.
5.2. Phim Ngưòi con gái Đà Nẳng (The daughter from Da Nang)
Phim tài liệu The daughter from Da Nang được đề nghị lãnh giải Oscar về loại phim tài liệu. Phim đã chiếm nhiều giải nhất trong các Đại Hội Điện Ảnh (Film Festival) Hoa Kỳ năm 2002: Sundane Film Festival, San Francisco International, Ojai Film Festival, Durango, Colorado, Texas, New Jersey International, Nashville, Cleveland.
Nội dung phim
Vào những ngày sau cùng của cuộc chiến VN, chính phủ Gerald Ford đã bỏ ra 2 triệu USD để mở chiến dịch Babylift. Gần 3,000 trẻ mồ côi từ VN sang Hoa Kỳ, Canada, Pháp và Úc để làm con nuôi.
Cuộc di tản bắt đầu bằng một tai nạn kinh hồn làm chết hàng trăm trẻ em.
Cuốn phim xoay chung quanh cuộc đời của Heidi Bub và trong chuyến đi tìm mẹ ruột sau 22 năm.
Heidi Bub sinh năm 1968 tại Đà Nẳng, con của bà Mai Thị Kim và một quân nhân Hoa Kỳ.
Chồng bà Kim là Đỗ Hữu Vinh, từ năm 1964, đã bỏ vợ và 3 con ở lại Đà Nẳng, nhảy núi theo Việt Cộng chống Mỹ.
Bà Kim vào làm công nhân trong căn cứ Mỹ ở Đà Nẳng. Ở đó, bà đụng một ông lính Mỹ rồi sanh ra Mai Thị Hiệp (Heidi)
Khi VC đánh vào Đà Nẳng, vì sợ con lai Mỹ bị VC khủng bố, nên bà đưa con vào Hội Cha Mẹ Nuôi lúc Heidi 6 tuổi.
Khi sang Mỹ, Mai Thị HIệp được bà Ann Neville, một phụ nữ độc thân, khoa trưởng ở một trường đại học, nhận làm con nuôi, tên là Heidi Bub.
Bà Ann Neville sinh sống ở bang Tennessee, thánh địa của kỳ thị chủng tộc Klu Klax Klan. Bà che dấu nguồn gốc và cố làm cho Heidi giống 101% như Mỹ để bảo vệ con.
Về vật chất, Heidi không thiếu thốn gì cả, nhưng tình cảm giữa hai mẹ con rất khô khan cằn cỗi, thiếu hẳn những bộc lộ tình thương mẹ con. Bà Ann quá nghiêm khắc. Cuối cùng, bà đuổi Heidi ra khỏi nhà mà không giải thích lý do.
Lúc 6 tuổi, Heidi tưởng rằng mình không ngoan nên bị mẹ ruột từ bỏ. Lúc 22 tuổi, cô có mặc cảm, có lẻ mình quá tệ hại nên đã bị mất mẹ hai lần.
Năm 22 tuổi, Heidi bắt đầu tìm mẹ ruột. Trong lúc đó, ở VN, bà Mai Thị Kim cũng ra sức tìm lại đứa con.
Năm 1991, mẹ con bắt liên lạc được, qua một nhân viên của sứ quán HK. Heidi bắt đầu học tiếng Việt.
Năm 1997, ký giả Trần Tương Như, người VN đầu tiên mà Heidi tiếp xúc tại Mỹ. Trần Tương Như giúp Heidi trong chuyến về VN gặp lại mẹ ruột.
Tại phi trường Đà Nẳng, Heidi gặp lại mẹ ruột và các anh chị cùng mẹ khác cha. Tiếp theo là những tổ chức, như những bữa cơm đại gia đình, viếng thăm hàng xóm, đi chợ…
Chỉ vài ngày sau, Heidi cảm thấy khó chịu, bị sốc vì khác biệt văn hoá. Biên giới riêng tư của mình bị xâm phạm.
Bà Kim muốn ngủ chung giường với Heidi để tâm sự suốt đêm, không muốn rời con, nhưng đối với Heidi thì đó là một cuộc tấn công, lấn át không gian cá nhân. Heidi không có thì giờ để suy nghĩ về những sự việc quá mới, quá xa lạ đối với mình.
Heidi thật sự bị sốc khi các anh chị cho rằng cô có bổn phận phải cung cấp tiền bạc và làm đơn bảo lãnh cho gia đình sang Mỹ.
Heidi nghĩ rằng cô bị bóc lột và bị lợi dụng, nên đã đổi vé máy bay về Mỹ sớm hơn lịch trình ấn định.
Khi về đến Mỹ, cô nhận được thơ của các anh chị khác cha, chủ yếu vẫn là tiền bạc và bảo lãnh. Cô cảm thấy không sốt sắng để trả lời những búc thơ đó.
6* Trí thức Việt kiều giữa hai lằn đạn
Người tỵ nạn Cộng Sản đã nhận đất nước đã mở rộng vòng tay cứu giúp và cưu mang mình là quê hương thứ hai. Quê hương nầy, cụ thể là Hoa Kỳ, đã trợ giúp tài chánh bước đầu để xây dựng cuộc sống mới. Con cái người tỵ nạn được có nền giáo dục rất tiến bộ, và nhất là đất nước nầy đã cho ngưòi tỵ nạn một đời sống bình đẳng với người bản xứ, nhân quyền được tôn trọng.
Sống ở quê hương thứ hai, nhiều người cho đó là nơi tạm dung, nên không bao giờ quên quê hương mà mình được sinh ra. Quả thật đó là chùm khế ngọt. Quê hương VN cụ thể là 84 triệu đồng bào của mình trong nước.(Không kể 3 triệu đảng viên CSVN)
Có hai quan niệm và hình thức phục vụ quê hương. Đó là đấu tranh đòi tự do, dân chủ và nhân quyền cho đồng bào trong nước, và một hình thức khác là về nước, phục vụ đảng CSVN góp phần xây dựng quê hương.
6.2. Trí thức Việt kiều bị kẹt giữa hai lằn đạn
Ngày chạy trốn chế độ độc tài CS bằng di tản, vược biên, vượt biển, người tỵ nạn bị VC chửi tơi bời. Tôi xin trích nguyên văn lời của tác giả Tống Phước Hiến như sau:
Trích nguyên văn. “Cộng Sản xem những người vượt biên, vượt biển chạy trốn chúng là bọn phản quốc, phản động, là cặn bã, bọn ăn bám, vong bản, lười biếng…” (hết trích)
Thế rồi Nghị Quyết 36 của đảng CSVN ra đời. Người trí thức tỵ nạn được hoan nghênh khi trở về thành Việt Kiều Yêu Nước.
Những trí thức Việt Kiều Yêu Nước nầy lại bị một lằn đạn thứ hai, cũng không kém nặng nề như những lời chửi bới của Việt Cộng trước kia.
Phục vụ quê hương là không có điều kiện. Tổng thống Kennedy có nói một câu đại ý như sau, ta không nên đòi hỏi tổ quốc phải làm gì cho ta, mà tự hỏi, ta phải làm làm gì cho tổ quốc. Một vị trí thức về nước góp phần xây dựng quê hương, chưa làm được gì mà xin được mua nhà ở VN. Suốt mấy năm không được đáp ứng, bèn than phiền nầy nọ lung tung, khiến cho trí thức chân chính trong nước xem thường ra mặt.
6.3. Câu chuyện mất quyền tỵ nạn của một Việt kiều Pháp
Bài viết của ký giả Xuân Mai trên báo áp phê số 4 tại Paris như sau:
“Ông Nguyễn Văn Tuyền, 59 tuổi đến định cư tại Pháp năm 1980. Với lá đơn thống thiết như sau: “Nếu tôi ở lại, nhà cầm quyền CSVN sẽ bắt giam, đánh đập và bỏ tù không có ngày ra. Vì lý do nhân đạo, tôi trân trọng thỉnh cầu nước Pháp, vui lòng chấp thuận cho tôi được tỵ nạn chính trị, sống tạm dung trên mảnh đất tự do nầy, và tôi chỉ trở về quê cũ khi nào quê hương tôi không còn chế độ độc tài Cộng Sản.”. Nhưng ông Tuyền đã phản bội tư cách tỵ nạn của ông đến 7 lần từ năm 1995 đến năm 2000. (Theo tài liệu của OFPRA=Office Francais de Protection des Réfugiés et Aptride-Cơ quan Bảo vệ Người Tỵ nạn và Vô Tổ quốc).
Ngày 27-6-2000, ông Tuyền và 544 Việt kiều Pháp bị OFPRA gởi thơ thông báo rút lại thẻ tỵ nạn, với lý do trở về quê cũ khi còn chế độ độc tài Cộng Sản.
“Chiếu theo điều 1, khoản 2A của Hiệp Định Genève ngày 28-7-1951, chúng tôi thu hồi thẻ tỵ nạn. Đồng thời cũng trình lên Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ, kể từ nay, OFPRA không còn chịu trách nhiệm với ông, về tình trạng cư trú, xin việc làm, hưởng trợ cấp xã hội theo diện người tỵ nạn chính trị”.
Được biết, từ năm 1988 đến năm 2000, tổng số người Việt ở Pháp bị truất bỏ quyền tỵ nạn và quyền lợi, với con số là 22,417.
Bài viết ghi như sau: “Chính phủ Việt Cộng qua các đại sứ từ Võ Văn Sung, Mai Văn Bộ, Trịnh Ngọc Thái đến Nguyễn Chiến Thắng đã coi người Việt Nam là thành phần cực kỳ phản động, cần phải triệt hạ, hoặc áp dụng chính sách gậy ông đập lưng ông. Đó là, dễ giải trong việc cấp chiếu khán cho họ, để họ bị OFPRA cắt quyền tỵ nạn và trợ cấp xã hội. Sau khi cấp chiếu khán, tòa đại sứ thông báo danh sách cho Bộ Nội vụ Pháp biết tên họ của những người vi phạm luật tỵ nạn. Một khi mất thẻ tỵ nạn, thì mất luôn thẻ thường trú (Carte de Séjour) nên không xin được việc làm. Trường hợp đó, muốn sống ở Pháp trên 3 năm, thì phải có Passport của chính phủ CSVN, để trở thành công dân Việt Cộng cho đến mãn kiếp.
Cái thâm độc của VC là như thế.
Việt Cộng nhìn con người ở bản chất. Một bản chất bị cho là “Phản động, phản quốc, cặn bã…” thì khó gột rửa được. Nếu không có tiền gởi về hàng tỷ đô la mỗi năm, thì cái bản chất đó vẫn tồn tại trong đầu óc của VC. Khúc ruột thừa ngàn dậm vẫn luôn luôn là như thế.
Có những câu hỏi cho “trí thức Việt Kiều Yêu nước”:
Quý vị về phục vụ quê hương với thân phận nào đây?
– Quý vị có được đối xử bình đẳng với người dân trong nước không? Tại sao, người dân được tự do mua nhà, còn quý vị thì không.?
– Có ai được giữ chức quản lý, như trưởng toán, trưởng phòng, trưởng ban hay giám đốc không? Quý vị chỉ là những người thừa hành dưới quyền sai bảo của cán bộ đảng viên Việt Cộng mà thôi.
– Quý vị có được tự do phát biểu ý kiến riêng của mình không? Có được quyền binh vực cho công lý, công bằng, lẻ phải, sự thật hay không? Khi thấy những cảnh bất công, đàn áp đánh đập người yêu nước…quý vị có dám đứng về phía đồng bào của mình không? Nếu không, thì quý vị có thể bị xem như a tòng với tội phạm.
– Về nước phục vụ quê hương mà không dám đứng về phía công lý, lẽ phải của đồng bào mình, thì lương tâm quý vị ra sao?
Hỏi, tức là trả lời vậy.
7* Kết
Ngày 30 tháng 4 mở ra một trang sử đau buồn của dân tộc. Trí thức Việt Kiều nên đồng tâm hiệp lực với tríTrí thức trong nước rất kiên cường, bất khuất, đã can đảm đòi tự do dân chủ cho đồng bào của mình, thì trí thức Việt Kiều không nên “Áo gấm về làng”, phát biểu linh tinh vô tổ chức để được nhận bằng khen hoặc xin được mua nhà…
Tấm gương của những trí thức chân chính trong nước như: Nguyễn Quang A, Nguyễn Xuân Diện, Lê Đăng Doanh, Trần Vũ Hải, Nguyễn Huệ Chi, Hoàng Tụy, Chu Hảo, Lê Hiếu Đằng trong việc đòi tự do, dân chủ và nhân quyền cho dân tộc Việt Nam, cần được nên theo.
Làm người, nhất là trí thức, thành phần ưu tú của dân tộc, phải nên có tư cách tối thiểu để có thể ngữa mặt nhìn thiên hạ, ở trong cũng như ở ngoải nước.
Trúc Giang
Minnesota ngày 28-4-2012



Huỳnh Văn Lang : Ông Ngô Đình Diệm

Sự Thật Lịch Sử:

Ông Ngô Đình Diệm có "soán ngôi" vua Bảo Đại?

Ai giết tướng Trinh Minh Thế?

—————–

Huỳnh Văn Lang

   (Bài nói chuyện ở Hội Tác giả  VN Hải ngoại, ngày 08-11-2009) 

   Nội dung của bài nói chuyện hôm nay là những sự kiện hay những biến cố quan trọng nhứt đã đưa đến sự hình thành ra Đệ nhứt Công hòa của miền Nam VN (1956-1963), mà cái ID của nó là Hiến Pháp năm 1956, cũng là phần kết của bài nầy.

   Hưởng ứng lời kêu gọi của thủ tuớng Ngô đình Diệm (NĐD) về giúp nước, từ Chicago, Illinois, tôi về  đến Sài gòn ngày 24 tháng 8, 1954 và liền sau đó vì  thời cuộc đưa đẩy, thủ tướng NĐD đã đặt để tôi vào những địa vị, nếu gọi được là địa vị hay đúng hơn là cương vị, để tôi thành ra chứng nhân cho những sự kiện tôi muốn ghi lại ra đây. Những sự kiện tôi trình bày sau đây có ba giá trị khác nhau: là chứng nhân, không chứng nhân nhưng biết thật chắc chắn và một ít chuyện không biết chắc, quí vị sẽ phân biệt được 3 giá trị khác nhau đó. 

   1.- Cương vị thứ nhứt. (Phụ tá Bí thư của thủ tướng NĐD)

   Đầu tiên tôi tạm thời thay thế anh Võ văn Hải là bí thư của Thủ tướng, để anh tạm thời giữ chức Chánh văn phòng, thình lình bỏ trống. Ba ngày đầu tôi ăn ngủ trong dinh Gia long, sau được đưa ra ngủ nghỉ ở khách sạn Kinh hoa, Chợ lớn, nhưng luôn luôn về dinh Thủ tướng ăn cơm trưa và tối cho đến khi Thủ tướng cho lệnh bộ Tài chánh cấp cho villa số 140, đường Hai bà Trưng, SG. Cho nên tôi may mắn làm việc bên Thủ tướng cho đến ngày 10 hay 11 tháng 10, 1954. Chính trong thời gian ngắn ngủi 45 ngày nầy đã xảy ra biến cố Nguyễn văn Hinh, Tổng tham mưu quân đội Quốc gia VN muốn đảo chánh.

   Để dễ hiểu rõ biến cố nầy thiết nghĩ cũng nên nhắc lại,  trước đó, ngày 16, tháng 6, ông Ngô đình Diệm được Quốc trưởng Bảo Đại bổ nhiệm làm thủ tướng, lập nội các VN thay thế chánh phủ hoàng thân Bửu Lộc. Thiết nghĩ khi bổ nhiệm NĐD, Quốc trưởng Bảo Đại (BĐ) có hội kiến với bộ Ngoại giao Mỹ và cũng có thể với chánh phủ Pháp nữa, vì Pháp dù có thua trận ở Điện biên phủ trong tháng 5 rồi, nhưng vẫn còn nắm quyền Ngoại giao và Quốc phòng ở VN với một đạo quân viễn chinh dù đã thua trận nhưng vẫn còn hùng hổ, đang khi anh em NĐD lại có tiếng là chống Pháp.

   Cũng chắc chắn là chánh phủ Hoa kỳ không có  liên quan trực tiếp gì đến chuyện bổ nhiệm nầy, vì dù ông Diệm có bôn ba ở Hoa kỳ  gấn 3 năm đi nữa, ông có quen thân với nhiều nhận vật có tiếng nói trong chánh trường Hoa kỳ, nhưng thật ra Hoa kỳ chưa nghĩ đến chuyện thay thế Pháp ở Đông dương, cho đến khi chạm mặt với Nga/Tàu ở hội nghị Genève trong tháng 7, 1954.

   Sau khi được bổ nhiệm, bất chấp lời can gián của  ông Ngô đình Luyện ở Pháp và ông Ngô  đình Nhu ở VN, Thủ tướng NĐD về Sài gòn ngày 26, cùng tháng 6, 1954. Tổng liên đoàn Lao công VN cổ động đón tiếp, nhưng số người đến phi trường TSN chưa đến 500. Bốn ngày sau Thù tướng bay ra Hà nội để xem xét tình hình và tiếp xúc chánh khách ngoài Bắc, để rồi trở về Sài gòn thành lập Nội các, ra mắt ngày 7 tháng 7, 1954: Thủ tướng kiêm bộ Quôc phòng và Nội vụ. Chánh phủ chưa kịp làm gì thì ngày 20 cùng tháng Hiệp định Genève ký kết giữa Pháp và Việt minh (VM) thoạt đến, toàn dân dở khóc dở cười, có hòa bình hay đúng hơn chì là đình chiến giữa hai phe, nhưng đất nuớc lại bị chia đôi. (1)

   (1) Ngày 21-07-54, đang khi Tồng thống Eisenhower họp báo để giải thích hiệp định Genève cho quốc dân Mỹ, thì ngoài đường có một nhóm sinh viên VN biểu tình lên án các cường quốc chia đôi đất nước của họ. Hôm sau ở trước trụ sở Liên hiệp quốc (UN), New-york, cũng có một nhóm sinh viên VN biểu tình, đông hơn. Cả hai cuộc biểu tình đều do ĐVL, ĐTC & HVL tổ chức, hình HVL có lên báo, lên T. 55 năm sau nhìn lại…

    Bao nhiêu vấn đề chánh trị xã hội cả  văn hóa…đổ dồn về miền Nam với 36,000 quân viễn chinh Pháp và trào lưu Bắc kỳ di cư chạy giặc CS bắt đầu, người Pháp dự đóan là khoảng 60,000 người, Thủ tướng NĐD hy vọng 100, 000… không dè trào lưu chạy giặc CS bộc phát như thác lũ, quá sự tuởng tượng của mọi người, nghĩa là trong vòng 300 ngày do Hiệp định Genève qui định số người Bắc kỳ di cư lên trên 860,000. Thủ tướng vui bao nhiêu thì càng lo nhiều hơn nữa…

   Khi về đến VN, tôi cảm thấy rõ ràng tình trạng quá yếu kém của chánh phủ NĐD cũng như uy tín của tân Thủ tướng quá thấp. Không thấy chánh phủ Bửu Lộc bàn giao lại cái gì, ngoài cái dinh Gia long và sở Nội dịch với năm bảy chiếc xe cũ kỹ, không có một tiểu đội canh gác. Thủ tướng kiêm bộ Quôc phòng, mà không có quân đội, bộ Nội vụ không có Công an Cảnh sát, trong lúc đô thành Sài gòn – Chợ lớn là Bình xuyên, miền Tây Nam kỳ lục tỉnh là Hòa hảo, miền Đông là Cao đài, quần chúng người Nam nghe nói đến NĐD, nhưng không biết NĐD là ai. Ngoài ra sau lưng tướng Ely, Cao ủy Pháp là cả một tập đoàn thực dân đang hôi quyền thế, hôi cả tài sản như buổi chợ chiều. Trong lúc người Mỹ mới nhảy vào chánh trường VN chưa có một chủ trương rõ ràng… Tắt một lời, xã hội miền Nam đang ở trong một tình trạng vô cùng hỗn mang gần như tuyệt vọng, vô phương cứu vãn. Dư luận Quốc tế cho chánh phủ NĐD không thọ quá 6 tháng.

   Ưu tư số 1 của Thủ tuớng NĐD là phải nắm lấy quyền hành, là thủ tướng kiêm Quốc phòng, cho nên đầu tiên ông phải nắm quân đội. Tham mưu trưởng Nguyễn văn Hinh (vợ đầm tức nhiên là dân Pháp), cần phải thay thế. Và chính tướng Hinh lại khai chiến trước, ngày 09-09-54 chỉ trích Thủ tướng trên đài phát thanh Pháp Á do anh Phan cao Phái (anh của chị Minh Châu bạn của người viết) quản lý và đòi cải tổ chánh phủ. Thủ tướng Diệm phản pháo ngay, ngày 11-09-54  chỉ thị tướng Hinh phải đi Pháp trong vòng 24 tiếng, gọi là để khảo sát tổ chức quân đội Pháp trong vòng 6 tuần. Tướng Hinh từ chối và vận dụng quân đội trong tay mình để làm loạn, muốn đảo chánh, cho 1 tiểu đội thiết giáp chạy chung quanh dinh Độc lập (mới được Cao ủy Ely giao trả tuần trước) vửa hăm dọa, vừa chửi bới, cùng một lúc cho đài phát thanh quân đội ra rả tố cáo chánh phủ nào là độc tài, nào là tham nhũng v,.v. (Những đêm đó tôi ngủ trong dinh Thủ tướng, sẵn sàng để Thủ tướng xử dụng như một thông dịch viên và đi đêm với  CIA Mỹ, khi đại tá Landsdale từ Manila  qua VN, đóng đô ở hộp đêm Ma Cabane, trước cửa vườn Tao đàn, cách dinh Thủ tướng một con đường. Đại tá Lansdale có nhiệm vụ giúp chánh phủ NĐD ổn định tính hình). Nội các NĐD sắp sụp đổ đến nơi, vì ngày 20-09-54, 9 trên 18 bộ trưởng yếu bóng vía đệ đơn từ chức. Nên lưu ý là cuộc khủng hỏang nầy xảy ra đúng lúc cuộc Bắc kỳ di cư bộc phát như lũ lụt sông Hồng, CS Hà nội chận đường, đe dọa, bắt cóc, thủ tiêu…vẫn không be nổi.

   Nhưng với sự hợp tác chặt chẽ giữa CIA và tòa Đại sứ Mỹ, Thủ tuớng NĐD giải quyết được cuộc khủng hoảng do tướng Nguyễn văn Hinh gây ra, nhưng không phải là không đổ mồ hôi hột: đại sứ Heath cho tướng Hinh biết là nếu có đảo chánh trong tình thế nầy thì Mỹ sẽ cúp viện trợ quân sự ngay, đang khi đại tá Lansdale tìm cách tách tuớng Hinh ra khỏi tham mưu của ông ta là 2 nhơn viên phòng nhì của Pháp, Lansdale biếu hai sĩ quan nầy hai vé máy bay đi Manila du hí năm ngày.

   Qua tháng sau, 1954 thủ tướng NĐD cất chức tướng Hinh và bổ nhiệm tướng Lê văn Tỵ lên thay. (Cũng là lúc thủ tướng NĐD gửi tôi  qua bộ Tài chánh có công tác khác, nên những chuyện sau đây tôi không phải là chứng nhân, nhưng biết được rõ ràng.)

   Đại sứ Heath và tướng O’Daniel, trưởng đoàn cố vấn quân sự Mỹ, lại yêu cầu thủ tướng Diệm nên giữ tướng Hinh lại trong quân đội. Ông Diệm từ chối. Trước sự cứng rắn của Thủ tướng, đại sứ Heath thay đổi thái độ, từ bạn ra thù ngay và gửi điện tín về Washington, tố cáo thủ tướng là bất tài, không có khả năng dung hợp…cần phải thay đổi.

   Nhưng lúc bấy giờ tổng thống Eisenhower và Hội đồng an ninh Quốc gia, cả đa số Lưỡng viện Quốc hội lại nhận thấy Thủ tướng Diệm có thể lãnh đạo mặt trân chống Cộng ở Đông nam Á châu, nên hoàn toàn bác bỏ đề nghị của đại sứ Heath và Tông thống Eisenhower gửi đặc sứ qua thay thế là tướng Collins, bạn thân tin của ông. Đặc sứ Collins đến Sài Gòn mang theo bức thơ của Tổng thống Mỹ xác nhận ủng hộ một mình Thủ tướng NĐD và muốn thảo luận với Thủ tướng một chương trình viện trợ kinh tế quân sự  qui mô hơn.

   Nhưng lại không dè tướng Collins và tướng Ely là huynh đệ chi binh từ Đệ nhị Thế chiến. Tai hại là đặc sứ Mỹ bị Cao ủy Pháp chi phối hoàn toàn, ngày một ngày hai tuớng Collins thay đổi thái độ đối với Thủ tướng NĐD, có nghĩa là ủng hộ mưu đồ “Diệm must go’’ mà thực dân Pháp đã dàn dựng từ 4, 5 tháng nay.

   Ngày 08-12-1954, hai tướng Collins và Ely vào dinh Độc lập chính thức đề nghị với Thủ tướng NĐD nên bổ nhiệm Phan huy Quát làm bộ trưởng Quốc phòng và Bảy Viễn làm bộ trưởng Nội vụ. Tất nhiên Thủ tướng NĐD từ chối và phải từ chối, vì nếu ông chấp nhận thì chẳng hóa ra ông chịu thua và mất gần hết quyền hành – Quốc phòng và Nội vụ là hai bộ quan trọng nhứt của chánh phủ nên ông đã kiêm nhiệm – để cho người Mỹ, qua ông Quát, Đại việt và người Pháp, qua Bảy Viễn, tướng cướp tha hồ giựt dây.

    Thế là lại khủng hoảng! Collins còn cực đoan hơn nữa. là đề nghị với Washington: Nên đưa Bảo Đại về, đem Phan huy Quát lên làm thủ  tướng thay thế NĐD và ban hành tình trạng khẩn trương, tập hợp các lực lượng quốc gia để thống nhứt hành động. Nếu không thực hiện giải pháp nầy được, thì tốt hơn Mỹ nên rút ra khỏi VN.

   Không dè tướng Collins lại dứt khoát đến thế. Trong quan hệ giữa Collins và Ely, làm như có  bóng một người đàn bà, tôi không rõ lắm nên không nói ra đây. Tuy nhiên trong khủng hoảng nầy tôi biết rõ một việc, ai là người đã giúp chánh phủ Mỹ khỏi sai lầm trầm trọng, đó là Thương nghị sĩ Mansfield. Nhận được phúc trình và đề nghị dứt khoát, nếu không nói là cực đoan hay ngu xuẩn của đặc sứ Collins, TT Eisenhower, Hội đống An ninh Quôc gia và Foster Dulles, bộ ngoại giao, hội nhau lại, hết sức hoang mang, như bị một búa bổ vào đầu, tóa hỏa tam tinh, nên phải kêu gọi đến ý kiến của bên Dân chủ đối lập, mà người có thớ nhứt là Thương nghị sĩ Mansfield: TNS Mansfield đến tòa Bạch ốc góp ý: Ông Diệm là một tích sản mình vừa thu nhận, dù có nhỏ bé cách mấy đi nữa thì cũng là một tích sản, tại sao mình phải phiêu lưu đi đổi với những giá trị khác, mà mình mù tịt không hiểu biết hay chưa hiểu biết mảy may gì hết.

   Thế  là Thủ tướng NĐD lại thắng, tất cả chánh phủ Mỹ đều chấp nhận ý kiến của TNS Mansfield vì là khôn ngoan nhứt và ngày 14-12-54 chánh phủ Hoa kỳ chỉ thị cho tướng Collins: Trong tình thế hiện nay, không có một chọn lựa nào khác hơn là tiếp tục viện trợ cho VN và ủng hộ Thủ tướng Diệm.

   Nhưng chưa hết, tướng Collins với thực dân Pháp còn quậy nữa, mà năng nổ quyết liệt nhứt là bảy Viễn, Bình Xuyên. 

   2.- Cương vị thứ hai. ( Công cán ủy viên bộ Tài chánh) 

   (a) Tiền.

   Cuộc khủng hoảng Nguyễn văn Hinh giải quyết chưa xong hay gần xong (10-10-54) thì thủ tướng NĐD gửi tôi qua bộ Tài chánh để giúp bộ trưởng Trần hữu Phuơng, cũng là bạn thân của tôi từ khi còn ở Paris, làm Công cán ủy viên, để hằng ngày theo dõi diễn tiến Hiệp định Paris, mới hợp lại để thay thế Hiệp ước Pau, cũng có nghĩa là phủ định tất cả những ký kết của Hiệp ước nầy. Nhờ đường lối dứt khoát của thủ tướng Mendès-France như ở Hội nghị Genève (20-07-1954) , trong một thời gian kỷ lục hôi nghị Paris kết thúc, ký kết giữa 4 nước đêm 30 tháng 12, 1954: Pháp nhìn nhận toàn vẹn chủ quyền tài chánh và tiền tệ (hối đoái) của 3 nước Việt-Miên-Lào và cho thi hành việc bàn giao ngay trong vòng 3 ngày, tức là ngày 02-01-1955.

   Từ  rày viện trợ quân sự, kinh tế, nhân đạo của Mỹ và các nước sẽ đi thẳng vào tay VN, không phải qua tay Pháp nữa. Nhờ theo dõi diễn tiến của hội nghị Paris rất sát– ngày 23 hay 24 tháng 12-54, bộ Tài chánh nhận được điện tín của phái đoàn VN do ông Duơng tấn Tài cầm đầu, đại khái “hoàn toàn thắng lợi và sẽ kết thúc trong vòng 7 ngày’’, và ông bộ trưởng Tài chánh dành cho tôi cái danh dự được mang điện tín nầy vào trình Thủ tướng, cùng giải thích cho tThủ tướng biết rõ những kết quả tốt đẹp của Hiệp định Tài chánh & Tiền tệ ở Paris) – nên trước đó năm bảy ngày bộ Tài chánh, do đề nghị của tôi đã giữ lại đuợc một ngân phiếu 15 triệu đô của bộ Ngọai giao Mỹ viện trợ chuơng trình di cư Bắc kỳ, chờ qua mươi ngày sau bỏ vào trương mục VN ở một ngân hàng Mỹ bộ Tài chánh tự do chọn lấy, hơn là phải bỏ vào trương mục VN ở Pháp quốc Ngân hàng (Banque de France) như trước kia.. Độc lập tài chánh và nhứt là tiền tệ (hối đoái) là từ đây. Từ đây chánh phủ VN được toàn quyền tổ chức cũng như quản lý tài chánh và tiền tệ của mình.

   Trước đây Pháp đã viện trợ cho các giáo phái xây dựng lực lượng quân sự tất cả trên dưới 20 ngàn quân, không phải chỉ có khí giới thôi mà còn có một số tiền mặt khá quan trọng khác nữa. Từ đầu năm 1955, Pháp sẽ ngưng viện trợ và các giáo phái cần viện trợ phải đến với chánh phủ NĐD. Chính yếu tố tiền ở đây, dù không phải là yếu tố duy nhứt, nhưng là yếu tố quan trọng nhứt đã định đoạt lấy thái độ các giáo phái đối với chánh phủ NĐD và giúp chánh phủ NĐD thống nhứt quân đội quốc gia VN, chấm dứt tình trạng sứ quân do thực dân Pháp cấu tạo từ 9 năm qua.(2)

   (2) Ngày 14-01, đại tá Ng văn Huệ, tham mưu truởng của tuớng Trần văn Sóai, Hòa hảo đem 3,500 về với quân đội quốc gia. Ngày 13-02-55 tuớng Trinh minh Thế, Lực lượng Kháng chiến Liên Minh Quốc gia Cao đài dẫn 5,000 quân về với thủ tướng NĐD. Ngày 10-03-55 Thiếu tá Nguyễn văn Đầy, Lực lượng Hòa hảo Quốc gia đem 5,000 quân và ngày 31 cùng tháng tướng Nguyễn thành Phuơng, Tổng tư lệnh Quân đội Cao đài đem toàn quân lực của mình về theo thủ tướng NĐD. Tướng Nguyễn giác Ngộ, Lưc lượng Dân xã Hòa hảo, từ 23 tháng 2 đã hứa đem 8,000 quân về, nhưng phải đợi qua thág 5, khi thủ tướng NĐD dẹp xong lực lượng BX mới chịu thi hành lời hứa.

\

(b) Tiền

   Trên  đây là hậu quả tích cực xây dựng uy tín và  củng cố quyền hành của Thủ tướng. Thủ  tưởng NĐD  khởi sự được các giáo phái  ủng hộ, mà sau lưng các Giáo phái là cả một khối dân chúng miền Nam. Để rồi qua ngày 01-01-55, Thủ tướng ký nghị định chấm dứt đặc quyền Đại thế giới (cờ bạc) và Bình khang (đĩ điếm) của Bình xuyên, tức là trực tiếp phá vỡ ngay nguồn tài chánh khổng lồ, nếu không nói là duy nhứt của lực lượng Bình xuyên. Gián tiếp nguồn tài chánh của Quốc trưởng BĐ ngày một ngày hai phải cạn kiệt: trước đây mỗi ngày BX phải đóng hụi chết cho Quốc trưởng BĐ đúng 1 triệu đồng, theo hối xuất thời đó là trên 28,500 Mỹ kim. (Từ lâu Quốc trưởng BĐ đã có một đời sống vuơng giả kiêm Playboy tại lâu đài Thorenc ở Cannes; Nam phương Hoàng hậu có tàu (Yatch), BĐ có mấy xe Sport hiệu Ý.)

   Có  phải đây là một yếu tố trong nhiều yếu tố tiêu cực bắt buộc Quốc trưởng BĐ nghĩ  đến chuyện cất chức NĐD, để cho bảy Viễn lên thay, thử hỏi?

   (Nói  về tiền, tôi muốn nhắc đến một trường hợp ghê gớm hơn. Sau tuần lễ vàng (1945), HCM dùng một số vàng lớn, dưới mọi hình thức, để mua chuộc hai tướng Tàu là Lư Hán và Tiêu Văn – do Thống chế Tưởng giới Thạch sai qua VN để giải giới quân Nhựt cùng một lúc hậu thuẩn các lực lượng quốc gia như VNQD đảng, Đại việt Cách mạng…- để hoàn toàn bỏ rơi các đảng phái quốc gia, cho Việt minh lấy thế thượng phong và sát hại các đảng phái quốc gia, cướp lấy chính nghĩa giải phóng dân tộc, độc quyền yêu nước, độc quyền kháng Pháp). 

   3.- Cương vị thứ ba. (Bí thư Liên kỳ bộ Cần lao Nhân vị CM đảng)

   Sau khi giải quyết khủng hoảng tướng Hinh xong và được tin tranh thủ thắng lợi giành được Chủ quyền tài chánh và tiền tệ,  Thủ tướng NĐD mừng lễ Giáng sinh rất vui vẻ và lạc quan hơn. Tôi được Thủ tướng gọi đến tham dự lễ Giáng sinh, nửa đêm ngày 24 tháng 12, năm 1954, được tổ chức ngoài sân sau dinh Độc lập. Và nhứt là vinh dự được Thủ tướng đich thân chỉ định tôi ngồi hàng ghế đầu, ngay sau lưng của ông. Sau đó còn cho riêng tôi một món quà Giáng sinh đáng giá nữa. Biết đâu ông đã nghĩ đến chuyện giao cho tôi quyền điều hành Viện hối đoái Quốc gia (VHĐ) từ giữa đêm hôm đó ?

   Trong 4 tháng đầu năm 1955, ngoài VHĐ, phần lớn tôi để thì giờ và tâm trí vào công trình văn hóa của anh em chúng tôi, là trường Bách khoa Bình dân, khai giảng ngày 15, tháng 11,1954. Vửa điều hành một trường sở có trên 1,200 học sinh, vừa giảng dạy 2 lớp tối, từ 6 giờ 30 đến 9,00 giờ, tôi không trực tiếp liên hệ với những biến cố hay sự kiện lịch sử xảy ra cho VN lúc đó nữa. Tuy nhiên, dù không chứng kiến, tôi vẫn theo dõi luôn và đuợc biết rõ những chuyện sau đây.

   – Ngày 12-01-55 thuơng cảng Sài Gòn được giao trả  cho chánh phủ NĐD.

   – Cùng ngày 12-01-55, tướng Agostini Pháp bàn giao toàn quyền quản lý quân đội VN cho tướng Lê văn Tỵ.

   Đến đây thì Thủ tướng NĐD xuất hiện rõ ràng như là một nhận vật có đủ khả năng tranh thủ độc lập toàn vẹn cho Quốc gia. Nhưng thực dân Pháp và tay sai chưa chịu bỏ cuộc. Bất hạnh là chính Quốc trưởng BĐ lại để cho chúng lợi dụng, nếu không nói là đồng lõa với chúng.

   Nên BĐ và Pháp thúc đẩy Mặt trận Thống nhứt Toàn lực Quốc gia ra đời, là ngày 03-03-1955: ngòai Cao đài, Hòa hảo, Bình xuyên còn có Bs Nguyên tôn Hoàn, Đại việt miền Nam, Phan quang Đán, đảng Dân chủ, Hồ  hữu Tường… Hộ pháp Phạm công Tắc được BĐ mời lãnh đạo Mặt trận..

    Phản ứng của Hoa thịnh đốn: Không thể Mỹ chi tiền mà để Pháp thao túng chánh truờng VN, nên ngày 08-03-55 TT Eisenhower tái xác nhận ủng hộ NĐD và bản sao gửi BĐ, gián tiếp khuyến cáo đừng thọt gậy bánh xe, gây khó khăn cho NĐD nữa và khuyên Thủ tướng NĐD chống lại đòi hỏi của Mặt trận và bảo các các giáo phái nên rút khỏi Mặt trân. Nhưng bị áp lực của Bình xuyên và BĐ các giáo phái không nghe theo liền.

   Ngày 21-03-55 Mặt trận gửi tối hậu thơ cho Thủ tướng NĐD:  trong vòng 5 ngày, phải cải tổ nội các theo mô hình nhân sự của Mặt trận. Thủ tướng NĐD  mời vào hội với ông, nhưng ông dứt khoát từ chối.

   Mà  sáu ngày sau (27-03-55) ông còn cho lệnh đại tá Đỗ cao Trí đánh chiếm bộ chỉ huy Công an Cảnh sát do BX nắm giữ.

   Thế  là chiến tranh giữa thủ tuớng NĐD có quân lực Quốc gia ủng hộ và BX có Pháp hậu thuẫn  đã khởi sự và hai bên có cả một tháng để chuẩn bị đánh lớn, cũng gọi là hưu chiến.

   Cũng là lúc, ngoài cái nợ văn hóa (trường Bách khoa Bình dân) và cái nợ chuyên môn (Viện Hối đoái Quôc gia) tôi mang thêm cái nợ chánh trị nữa. Đầu tháng 04, 1955, ông Ngô đình Nhu, Tổng bí thư Cần lao Nhân vị Cách mạng đảng (CLNVCM) đã giao hay là nhờ tôi đứng ra phát triển đảng CL (Cần lao) trong Nam và tôi đã nhận lãnh, một cách tự nguyện, nhưng hết lòng theo truyền thống của gia đình “là làm cái gì phải làm đến nơi đến chốn, không làm thì thôi’’ và tôi đã khởi sự ngay, là thành lập Liên kỳ bộ Nam Bắc việt, bí thư là Chí nguyện,

   Đến lúc cuộc khủng hỏang Bình xuyên đến hồi gây cấn nhứt, nghĩa là có đánh nhau, có đổ máu… là cơ hội thử lửa (Baptême du Feu) cho Liên kỳ bộ Nam Bắc việt vừa mới thành lập với một tiểu tổ cơ bản và đầu não, gổm 8 thành viên. Nhưng với bao nhiêu đó Liên kỳ đã tích cực ủng hộ chiến dịch đánh Bình xuyên, bất chấp thiết quân luật Liên kỳ đã đi rải khắp các nẻo đừơng Sài Gòn/ Chợ lớn và Gia định cả ngàn tờ ‘’hịch’’ tố cáo tội ác của Bình xuyên trong 8 năm qua. (Toàn là sự thật, không một chút tuyên truyền láo).   

   Và  như chúng ta biết, biến cố Bình Xuyên lại kéo theo sau sự kiện Truất phế Quốc truởng Bảo Đại. Lại thêm một cơ hội nữa cho Liên kỳ tập sự nhún tay vào chánh trị, là giúp củng cố chánh quyền NĐD và giúp công xây dựng nền móng cho tòa nhà Đệ nhứt Công hòa của miền Nam VN, luôn luôn không quên những cán bộ CS để lại miền Nam. (Vì thế mà Liên kỳ vội bỏ đô thành Sài Gòn/Cholon để trọng tâm vào các tỉnh miền Tây).

   Trên  đây là hai biến cố hết sức quan trọng mà  với sự hạn hẹp của một con người, cá nhân tôi ở cương vị bí thư Liên kỳ  bộ Nam Bắc Việt, dù muốn dù không cũng đã trở thành chứng nhân như nhiều nhân chứng khác, nếu không nói là trực tiếp tham gia vào những biến cố lịch sử VN trong khoảng thời gian đó.

   Tiếp tục chủ trương triệt hạ quyền lực Bình xuyên, sau khi cải tổ Nội các (24-04-1955) có sự tham gia của Hòa hảo (Trung tướng Trấn văn Soái và ông Lương trọng Tường) và Cao đài (Thiếu tướng Nguyền thành Phương), ngày 25 tháng 4, 1955 Thủ tướng NĐD ra sắc lệnh cách chức Lai văn Sang, Tổng giam đốc CS Quốc gia. Như thế tức là tấn Bình xuyên vào vách tường. Cũng là lúc đặc sứ Collins vì quá bất mãn với Thủ tuớng NĐD  nên đi về Washington để ráo riết vận động cho cả Chánh phủ Mỹ chuyển hướng 180 độ, tức là ‘’Diệm must go’’ cho kỳ được, và lần nầy ông thành công. Rõ ràng tòa Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn đứng về phe Thực dân Pháp là tướng Ely, Bảy Viễn…hơn là phe Quốc gia của Thủ tướng NĐD.

   Ba ngày sau là ngày 28-04-55,  BX a) khai chiến, pháo kích vào dinh Đôc lập. Cùng một lúc,  BĐ gửi điện tín b) triệu ông Diệm và tướng Tỵ qua Pháp  để tường trình về tình hình trong nuớc và c) bổ nhiệm Thiếu tướng Nguyễn văn Vỹ, tư lệnh Ngự lâm quân Đalat làm Tổng tư lệnh quân đội Quốc gia VN thay thế tướng Nguyễn văn Hinh, được toàn quyền sử dụng mọi phuơng tiện cần thiết để giải quyết cuộc tranh chấp giữa thủ tướng Diệm và các giáo phái. Lưu ý: Ba sự kiên  a,b, c ghi trên hoàn toàn ăn khớp với nhau. Cùng ăn khớp với vận động thành công của tướng Collins ở Wahington, ‘’Diệm must go’’.

     Đặc biệt lưu ý đến chi tiết nầy: Thay thế  tướng Hinh, tức là hoàn toàn phủ nhận quyền hành của Thủ tướng, coi chuyện Thủ tướng NĐD bổ nhiệm tướng Tỵ như ‘’ne pas’’. Như thế chẳng hóa ra là cất chức Thủ tướng rồi còn gì nữa? Chuyện triệu Thủ tướng qua Pháp, không với ai khác mà là với tướng Tỵ, vừa được thủ tướng bổ nhiệm Tổng tham mưu Quân đội Quôc gia VN. Đúng là một tiểu xảo chánh trị bất xứng.

   Được lệnh của Quốc trưởng BĐ, Thủ tưởng Diệm đã khôn ngoan, tìm được một lực lượng vô song để đương đầu với Quốc trưởng, không còn là Quốc truởng của một nuớc, của Quôc dân nữa mà là đại diện cho một tâp đoàn Thưc dân rất hùng hậu. Lực lượng vô song nói ở đây là Quốc dân.

   Một  điều cần nói ở đây là khi Thủ tướng đi tìm một lực lượng vô song đó không phải là  không có cố vấn của CLNVCM đảng, lúc đó là ai? Là Ngô đình Nhu, là Trần quốc Bữu, Trần trung Dung, Trần chánh Thành, có cả BS Bùi kiện Tín và ai ai nữa…cả nhóm Tinh thần, trong đó có Bs Huỳnh kim Hữu. Biết rằng tất cả những nhân vật nầy không một ai gia nhập Cần lao, nhưng đều chấp nhận chủ trương của ông Ngô đình Nhu và do ông Nhu chi phối theo đường hướng Cần lao của ông..

   Vì  đó  mà Thủ tường NĐD cấp tốc triệu tập các Chánh đảng và Nhân sĩ Quốc gia, ngày hôm sau là ngày 29-04-1955, để xin ý kiến: Nên tuân lệnh Quốc trưởng BĐ triệu qua Pháp hay không? Như thế tức là muốn đặt Hội nghị trước một sự chọn lựa dứt khoát: Bảo Đại hay là Ngô đình Diệm ?

   Ở đây tôi muốn nói đến tính cách đại diện bao quát của Hôi nghị, chưa bao giờ miền Nam có một Hôi nghị gồm đại diện của những 18 đoàn thể nếu không nói là chính đảng và có những 34 nhân sỉ tên tuổi. (3)

   (3) 18 chánh đảng là: – Mặt trận Quốc gia Kháng chiến VN – VN Phục quốc hội – Thanh niên Quôc dân Xã VN –VN Dân chủ Xã hội – Phong trào tranh thủ Độc lập VN –Phụ nữ Quốc dân xã VN – VN Cần lao Nhân vị Cách mạng đảng – Tịnh độ Phật giáo đồ VN – Tổng Liên đoàn Lao công VN – Phong trào Dân chúng Liên hiệp VN – Phong trào Cách mạng Quốc gia – Tập đoàn Công dân – Nhóm Tinh thần – Xã hội Công giáo – Thanh niên Dân chủ VN –Cựu Chiến sĩ Kháng chiến VN – Nghiệp đoàn Ký giả VN – Hội tương trợ Đồng bào Nghệ Tỉnh /Bình. Rất tiếc là không còn đâu có danh sách 29 nhân sĩ. Trong số những nhân sĩ nầy tôi quen thân với BS Huỳnh kim Hữu và ông Huỳnh minh Y, bố vợ anh Huỳnh sanh Thông và anh Dư phước Long và năm ba nhân sĩ nữa, toàn là người Nam kỳ.

   Như  thế có thể khẳng định tính cách đại diện bao quát của dân miền Nam. Dù biết rằng có những đảng chánh trị chỉ có vài ba chục đảng viên và không có một cây súng trong tay để đánh Pháp và chống CS Việt minh. Tuy nhiên cũng được cả năm bảy đoàn thể chánh trị có thực lực, nghĩa là có cả ngàn nếu không nói là mấy chục ngàn đảng viên và có năm bảy ngàn cây súng. Đó là VN Dân xã đảng Hòa hảo do bí thư Nguyễn bảo Toàn (Nguyễn giác Ngộ) đại diện, VN Phục quốc hội Cao đài do đại tá Hồ hán Sơn (Nguyễn thành Phưong) đại diện và Mặt trân Quốc gia Kháng chiến VN  do Nhị Lang (Trình minh Thế) đại diện và Tịnh độ cư sĩ do Đoàn trung Còn đại diện. Đặc biệt là có những đoàn thể thanh niên, phụ nữ và trí thức. Nói được là gần toàn dân miền Nam có đại diện chánh thức đến phó hội. Cũng có vài gương mặt Bắc kỳ di cư, nhưng thiết nghĩ không có đại diện cho di cư Bắc kỳ vì khi đó Bắc kỳ di cư chưa định cư. .

   Ngày 29-04-1955, đúng10 giờ hôi nghị gồm đúng 52 đại diện cho 18 đảng phái và 34 nhân sĩ khai mạc tại phòng khánh tiết dinh Độc lập. Thủ tướng NĐD từ trên lầu đi xuống và có mấy lời: Cám ơn và nêu lý do mời đến hội, để rồi xin rút lui để tất cả hôi viên tự do thảo luận. Nói xong vài câu Thủ tướng NĐD bỏ lên lầu, không muốn ở lại, e  có thể gây ảnh hưởng thế nầy hay thế nọ.

   Hôi nghị bắt đầu làm việc ngay là bầu:

   Chủ  tọa đoàn: ông Nguyễn bảo Toàn, bí thư Dân xã đảng, Hòa hảo.

   Thư  ký: ông Phạm việt Tuyền, nhà báo.

   Và  họ đã nghiêm chỉnh làm việc.

   (Sáng ngày hôm đó còn có 3 trái pháo kích BX bắn vào dinh Đôc lập, có một trái nổ ngay đúng lúc Hôi nghị bắt đầu làm việc)

   Nhưng đang khi các hội viên yên lặng chăm chú đọc chương trình nghị sự, thì ông Nhi Lang đứng lên tuyên bố:

   “Thưa quí vị, tôi được chỉ thị  đòan thể chúng tôi là Mặt trận Quôc gia Kháng chiến VN đến đây gặp quí vị không phải đề nói chuyện về việc Thủ tuớng  NĐD có bổn phận hay không bổn phận thi hành lệnh của Bảo Đại. Mà là trái lại, tôi xin thẳng thắn đặt vấn đề là đã đến lúc chúng ta cần trút bỏ quyền hành của ông Quốc trưởng vô dụng kia đi. Là vì ông ta đang làm một việc trái với nguyên tắc lãnh đạo quốc gia. Thử hỏi, thành phố Sài Gòn đang có biến, dân chúng đang xôn xao lo sợ, tại sao ông BĐ lại chọn ngay lúc nầy để bắt buộc Thú tướng phải bỏ nước sang bên Pháp xa xôi kia, để ‘’tham khảo ý kiến?’’ Tham khảo cái gỉ? Phải chăng đây là mưu kế để nhắm lật đổ Chánh phủ nầy? Vậy tôi xin tuyên bố dứt khoát, nếu quí vị bằng lòng thảo luận việc truất phế Bảo đại ngay bây giờ,thì tôi ở lại. Bằng không, tôi xin phép ra khỏi phòng hội nầy ngay!’’.

   Lúc bấy giờ cả cử tọa sửng sốt hay bàng hoàng trước đề nghị quá táo bạo của Nhi Lang, cũng vừa lúc đại tá Hồ hán Sơn, đại diện tướng Cao đài Nguyễn thành Phương đứng lên và tuyên bố  tiếp:

   “Nhân danh Việt Nam Phục Quốc hội, chúng tôi đồng ý với mặt trận Quốc gia kháng chiến, yêu cầu quí vị đừng bận tâm tới lệnh triệu thỉnh vô lý của Bảo đại nữa, mà hãy đồng tâm làm một cuộc cách mạng, chấm dứt ngay vai trò của ông Quốc trưởng BĐ kia đi cho xong. Nếu ý kiến nầy không được hưởng ứng, tôi cũng xin rút lui ngay tức khắc!’’

   Đến đây thì tòan thể cử tọa không còn rụt rè nữa, nhứt là khi chủ tọa đoàn Nguyễn bảo Toàn cũng đứng lên tuyên bố hoàn toàn ủng hộ sáng kiến của hai ông Nhị Lang và Hồ hán Sơn, nên đều hoan hô lên, trăm người như một, có người còn la lên đã đảo Bảo Đại và có người cởi giày ném vào mặt bức hình BĐ treo cao giữa phòng. Ông Vũ văn Mẫu, một giáo sư Bắc kỳ, với một nhân sĩ nữa chạy lại cồng kền Nhị lang lên vai và bảo đứng lên gỡ bức ảnh đi. Ông Nhị lang cực khổ lắm mới hạ đuợc bức ảnh đồ sộ của Quốc trưởng và ném xuống đất.

    Sau mươi phút sôi nổi, ồn ào… hôi nghị  ngồi lại để bầu ra một Ủy ban Cách mạng Quốc gia, gồm 3 nhân vật đầu não là  Nguyễn bảo Toàn, Chủ tịch, Hồ hán Sơn, Phó chủ tich, Nhị  lang làm Tổng thư ký.

   Với sự đóng góp của nhiều cố vấn, một giờ sau Ủy ban đã thảo xong một bản Kiến nghị.

   Và  sau khi nghe Chủ tịch Nguyễn bảo Toàn đọc hai lần, tât cả hội viên là 52 người đều chấp nhận và ký tên.

   Xong rồi thì các hôi viên yêu cầu Chủ tịch đi lên lầu mời Thủ tướng NĐD xuống để nghe kết quả  của nghị hội.

   Thủ  tuớng NĐD xuống lầu, tất cả mọi người đều đứng lên, ông đứng trước cử tọa, mặt xẩm xuống, vẻ  buồn buồn hơn là lo âu, bầu không khí bỗng chốc trở nên yên lặng lạ thường…

   Chủ  tịch Ủy ban vừa cảm động vừa quả quyết  đọc lớn cho mọi người đều nghe:

   Thay mặt cho toàn thể Hôi nghị, tôi xin trình Thủ  tướng kết quả của Hôi nghị  là bản Kiến nghị gồm 3 điểm  nầy:

   Kiến nghị:

   1.- Truất phế Quôc trưởng Bảo  đại

   2.- Giải tán Chánh phủ Ngô  đình Diệm

   3.- Ủy nhiêm chi sĩ Ngô  đình Diệm  thành lập chánh phủ  mới để trừng trị bọn phiến loạn Bình xuyên, thu hồi chủ quyền quốc gia, yêu cầu triệt thoái quân đội viễn chinh Pháp và tổ chức bầu cử quốc dân đại hội.

   Làm ngày 29, tháng 04, 1955

   Đại diện 18 chánh đảng và đoàn thể cùng 34 nhân sĩ ký tên:

   Vừa nghe Truất phế Quốc trưởng BĐ, mọi người đều thấy mặt Thủ tướng đỏ lên rồi lần lần biến sắc. Ông hoàn toàn bị cú sốc. Nghe xong thấy ông lặng người, tay nhận lấy bản kiến nghị và cố gắng lấy lại bình tỉnh, hết sức chẫm rãi trả lời gần như từng chữ một: Xin quí ngài cho tôi… được có thì giờ… suy nghĩ kỹ… về vấn đề trọng đại nầy! Xin cám ơn quí ngài!

   Sau đó các hội viên lần lượt êm lặng đến bắt tay từ  giã Thủ tướng, thấy vẻ mặt ông âu lo rõ ràng…. lúc đó là 5 giờ chiều. Hôi nghị đã kết thúc và giải tán.

   Đến đây thì cuộc Cách mạng kể như là xong và Thủ tướng Diệm bị đặt trước một sự đã rồi. Vốn Thủ tuớng NĐD chỉ muốn dẫn vào nhà một con tuấn mã để nhờ giúp qua suối, không dè nhìn lại là một con bạch hổ, ông không cỡi thì nó sẽ thịt ông, nhưng nếu ông dám leo lên lưng nó, thì chỉ một cái  nhảy vọt nó đưa ông lên tới đĩnh núi cao vời vợi. Thật ra khi đến giai đoạn nầy Thủ tướng NĐD vẫn còn nghĩ đến một chế độ Quân chủ lập hiến, chưa nghĩ đến một chế độ Công hòa, cái đó là chắc. Thành ra khi biết chuyện Truất phế là sự đã rồi, ông không tái mặt làm sao được!

   Chiều tối lại, lúc 8 giờ đài phát thanh Sài Gòn đưa tin cho toàn quốc và Thế giới biết ở  miền Nam VN đã xẩy ra cuộc cách mạng Truất phế Quốc trưởng Bảo đại. Cùng một lúc Ủy ban Cách mạng Quốc gia kêu mời các nhân sĩ và đồng bào  ngày hôm sau đến hội tại tòa Đô chánh Sài Gòn để nghe Ủy ban thuyết trình về biến cố lịch sử vừa xảy ra.

   Và  ngày hôm sau, từ sớm các giới nhân sĩ, các đại diện các chánh đảng, thanh niên sinh viên phụ nữ, báo chí.. phấn khởi tụ tập đầy nghẹt phòng khánh tiết tòa Đô chánh Sài Gòn. Ông Nguyễn bảo Toàn, Hồ hán Sơn và Nhị lang thuyết trình  về Cuôc Cách mạng Truất phế BĐ ngày hôm trươc, tất cả  cử tọa đều nhiệt liệt hoan hô, triệt để ủng hộ. Và thêm một màn  hạ bệ Bảo Đại một lần nữa, có người bắt thang leo lên gỡ bức ảnh to tướng hình Quốc trưởng BĐ treo trước cửa tòa nhà và ném xuống đất, rồi có những thanh niên nhảy lên dậm đạp cho nát bét (Tôi đã chứng kiến màn hạ bệ do anh bạn ĐTC điều khiển). Đang khi đó ba tướng Nguyễn giác Ngộ (Hòa hảo), Nguyển thành Phuơng (Cao đài) và Trịnh minh Thế (Mặt trận Quốc gia Kháng chiến) được Ủy ban Cách mạng giới thiệu, đứng ra trình diện để công chúng hoan hô, như là những anh hùng đã tạo ra thời thế. Và chúng tôi đã nghĩ vậy, vì sau lưng của Ủy ban Cách mạng đã có ba tướng nầy cho ý kiến, nếu không nói là cho chỉ thị, nên ba ông đại diện Nguyển bảo Toàn, Hồ hán Sơn và Nhị Lang đã hành động, đã lên tiếng hết sức đồng nhịp với nhau (synchronized) và nhờ vậy mà lôi kéo tất cả Hội nghị một cách dễ dàng, nhứt là khi các thành phần hôi nghị đã sẵn có tiềm thức phản hoàng rồi.(5)

   (5) Vốn cái ý phức phản hoàng nầy có trong Nam từ thời vua Tự Đức tức là gần cuối thế kỷ 19 khi vua Tự Đức nhượng cho Thực dân Pháp 3 tỉnh miền Đông, rồi 3 tình miền Tây Nam kỳ lục tỉnh một cách dễ dàng quá. Rồi đến khi phong trào Kháng Pháp trong Nam, như của Thủ khoa Huân, của Trương công Định, của Thiện hộ Dương, của Cố quản Trần văn Thành… lại bị triều đình nhà Nguyễn bỏ rơi gần như hoàn toàn. Đề rồi qua đầu thế kỷ 20, phong trào Tây học, như các nhà cách mạng Đệ tứ Nguyễn an Ninh, Nguyễn văn Nguyễn, Tạ thu Thâu, Hồ hữu Tường và nhứt là Phan chu Trinh đã gieo rắc trong Nam nhứt là trong giới trí thức ý thức phản hoàng hay Cộng hòa. Ngoài ra chế độ thuộc địa Pháp là chế độ thuộc địa có văn hóa cộng hòa hơn là quân chủ,  cho dù nó phát xuất từ thời Napoleon III.…

   Đến đây thì cuộc Cách mạng đã được chánh thức hóa bằng một văn kiện có rất nhiều chữ ký rất nặng giá vì  đại diện cho nhiều đoàn thể chánh trị hay quần chúng và công khai hóa bằng đài phát thanh, bằng sự xác nhận trước công chúng của thủ đô Sài Gòn/ Chợ lớn. Như thế phải nhìn nhận là cuộc Cach mạng nầy đã thành tựu một cách tuyệt đối rồi. (Period, Point final). Và theo tôi cuộc Cách mạng nầy là biến cố lịch sử quan trọng nhứt từ ngày Việt Minh cướp chánh quyền trên tay Chánh phủ Bảo đại/ Trần trọng Kim tại Sài Gòn ngày 23-08-45 (ở Hà nội là ngày 19 tháng 8, 1945) 10 năm truớc, vì nó có tính cách quyết định, dù chỉ là đập đổ, san bằng. Nhưng muốn xây dựng cái gì thì phải đập đổ và san bằng trước cái đã. Đó là một lẽ tất nhiên. Còn chuyện xây dựng là chuyện của hồi sau.

   Cuôc Cách mạng Truất phế Quốc trưởng Bảo đại nầy là tác động của dân miền Nam nói chung, trong đó quần chúng Nam kỳ lục tỉnh qua các đại diện của họ đã đóng một vai trò chủ động, không ai có thể chối cải điều đó. Dù là tiêu cực hay là đập đổ và san bằng, nhưng tích cực là nó đã dọn đường cho sự hình thành ra Đệ nhứt Công hòa, vì ngay lúc đó chính Thủ tướng NĐD còn nghĩ tới chế độ Quân chủ lập hiến.. Nhưng tai hại vô cùng, chỉ năm năm sau cũng chính quần chúng Nam kỳ lục tỉnh (không quơ đũa cả nắm) qua Mặt trận Giải phóng Miền nam đã đóng một vai trò qua ư quan trọng, dù không phải là chủ động đã khởi sự tàn phá, không phải chì Đệ nhứt CH mà cả Đệ nhị CH nữa. Sau 15 năm dọn đường, đúng hơn là làm cổ sẵn cho CS Miền Bắc thôn tính hoàn toàn, đúng hơn là thuộc địa hóa miền Nam, cho đến bao giờ? Truất phế BĐ là một tác động Cách mạng sáng suốt hợp tình hợp lý bao nhiêu, thì tác động gọi là Mặt trận Giải phóng miền Nam, là một cái sai lầm ghê gớm, nếu không nói là ngu xuẫn tày đình bấy nhiêu, như lịch sử 34 năm qua đã chứng minh quá hùng hồn, vì hệ lụy tai hại vô cùng, cho quyền lợi, cho cả quyền làm người của dân miền Nam nói chung và dân Nam kỳ lục tỉnh nói riêng.. Tuy nhiên, tôi còn hy vọng, dù mong manh đi nữa, sẽ có ngày quần chúng miền Nam nói chung và Nam ky lục tỉnh nói riệng sẽ đứng lên làm một cuốc Cách mạng nữa. Và lần nầy là một cuộc Cách mạng vô cùng thiết yếu cho sự sống còn của cả một dân tộc VN, không riêng gì cho miền Nam hay Nam kỳ lục tỉnh. Đó là sứ mạng của lịch sử giao phó cho dân miền Nam, không riêng gì người trong nước hay ở hải ngoại.

   (Ơ  đây cũng nên nhắc lại những biến cố  rất quan trọng sau đây, nhưng tôi kể  là bên lề vì nó  không có tính cách quyệt  định, nó như là  mấy màn của một tấn bi hài kịch lịch sử mà các diển viên, từ những tên lưu manh hạng nặng, những nhà ngoại giao ngu ngơ, cho đến những chánh trị gia lổi lạc phi thường, những anh hùng rất thông minh và can trường… mà vai nào cũng đặc sắc cả, đặc sắc ở đây không có nghĩa là vai trò nào cũng tốt đẹp đáng vỗ tay.

   Đầu tiên là chuyện của một ông tướng Nguyễn văn Vỹ, tư lênh Ngự lâm quân, Đà Lạt, được Quốc trưởng BĐ bổ nhiệm ngày 28, tháng 04 –  cùng một lúc triệu Thủ tướng Diệm và Tổng Tham mưu Lê văn Tỵ qua Pháp – làm Tổng tham mưu quân đội Quôc gia VN thay thế tướng Hinh được toàn quyền hành động. Được bổ nhiệm xong, tướng Vỹ vội kéo Ngự lâm quân về ngay Tổng tham mưu bắt tướng Tỵ, kéo vào dinh Gia long toan lật đổ chánh phủ NĐD. Lúc đó là 6 giờ chiều. Nhưng ngẫu nhiên Ủy ban Cách mạng, sau khi trình diện ở tòa Đô chánh đã đổi tên là Hội Đồng Nhân dân Cách mạng Quốc gia kéo nhau vào dinh Độc lập và một lần nữa Nhị lang lại là người táo bạo nhứt dám dùng một khẩu súng tay (chưa chắc đã lên đạn), bắt tướng Vỹ phải đưa tay lên đầu hàng, nghĩa là cuộc phản đảo chánh cùa tướng Vỹ  bỗng chốc hóa ra mây khói.. Đến đây đúng là trò hề, vì mới năm phút trước tướng Vỹ áp lực Thủ tuớng NĐD từ chức, bây giờ ông phải nhờ Thủ trướng che chở cho ông khỏi mất mạng. Để rồi đầu hàng Cách mạng, ký cả hai tay giấy cam kết trở lại hợp tác với Thủ tướng. Nhưng hai ba giờ sau lại phản phé, muốn lật ngược lại thế cờ. Song đến chừng đó thì không còn một ma nào coi ông có chút gì nghiêm chỉnh cả, nên mọi người đều bỏ rơi ông, bắt buộc ông phải cuốn gói rút quân chạy về Đà lat, lúc đó đã 3 giờ sáng.

   Chuyên thứ hai là chuyện của một  ông đặc sứ Collins của TT Eisenhower. Sau khi không chinh phục được Thủ tuớng Diệm theo đề nghị ngu ngơ cải tổ  chánh phủ của mình, ông tự  cho mình bị khinh bạc, mất mặt với bạn bè chi binh, biết đâu lại không có miệng lưỡi của một mụ đàn bà xúi bậy vào…ông vội bỏ VN trở về Mỹ chính hai ngày trước khi BX khởi chiến. Ông về Mỹ ráo riết vận động với Quốc hội, với bộ Ngoại giao, với hội đồng An ninh Quồc gia và triệt để khai thác tình tự bạn chi binh với chính TT Eisewhower. Sau 5 ngày vận động không ngừng nghỉ, ông thành công: TT Eisenhower gửi tối hậu thư tuyên bố “Diệm must go’’ để ông Đặc sứ mang về Sài Gòn, phổ biến cho các đảng phái liên hệ, cũng có thể như là món quà đáng giá triệu đô cho bạn chi binh của ông là tướng Ely và nhứt là cho Bảy Viễn.

   Nhưng không ai dè, chính trong thời gian ông ở Mỹ thủ  tướng NDD đã ký sắc lệnh mở  chiến dịch Hoàng Diệu do đại tá  Duơng văn Minh làm tư lệnh, để phản công Bình Xuyên và  ngày một ngày hai quân đội Quốc gia VN đã đánh bật hai trung đoàn BX ra khỏi địa bàn Sài Gòn/Chợ lớn, tàn quân BX rút chạy vào Rừng Sát, hoàn toàn tan rã và chiến dịch đã kết thúc trong vòng mươi ngày và ngày mùng 8 tháng 5 đại tá Dương văn Minh kéo quân khải hoàn về. Quân đội Quốc gia tổn thất vài mươi sinh mạng. Chẳng may lại mất một tướng tài, cũng là một nhà chánh trị đầy hứa hẹn. Sáng ngày 02-05-1955 tướng Trinh minh Thế kéo quân qua cầu Tân thuận để truy kich quân binh BX, một người lính Pháp trong tàn quân BX bắn sẻ từ bên kia cầu, tướng Thế chết ngay trên “command car’’. (Sau nầy người Pháp có bắn tin là đã trả được thù cho tướng Chanson và Thái lập Thành, tay chơn của Pháp, vì hai nhân vật nầy đã bị quân của tuớng Thế ám sát chết ở Sadec năm bảy năm trước.)

   Sau khi thành công xoay chuyển Wahington hơn 180 độ, tướng Collins hớn hở bay về VN. Trên con đường bay về Sài Gòn thì Washington được tin thủ tướng NĐD với quân đội Quốc gia trung thành, như vũ như bão phản công BX mà chiến thắng ở trong tầm tay của Thủ tướng rõ ràng. Đánh BX để chứng minh Thủ tướng có đủ bản lãnh và tài ba để ổn định tình thế, bất chấp những mưu mô lươn lẹo của thực dân Pháp và cố chấp ngu ngơ của  tướng Collins. Cho nên Washington lập tức phải trở lại ủng hộ thủ tướng NĐD còn hơn trước (statu quo ante) và đã vội vả đánh một diện văn khác để thủ tiêu bức thơ của Collins đang cầm tay. Cho nên khi ông Đặc sứ vừa xuống phi trường TSN thì cũng vừa lúc một nhân viên tòa đại sứ chạy đến trình cho ông một diện văn hỏa tốc. Ông phải mở ra xem liền, tôi không thấy gương mặt của ông đặc sứ Collins lúc bấy giờ, nhưng tôi chắc là ông phải đổ mồ hôi hột, dù trời Sài Gòn tháng 5 không nóng lắm, nhưng có thể ông cảm tưởng là đã tới tháng 8 rồi! Tôi nghiệp cho ông Đặc sứ, quá nhiều ego (tự ái), làm mất sáng suốt!)

     Đến đây thì phải nhìn nhận là trên thực tế  chế độ quân chủ của nhà Nguyễn với 13 triều đại (1802-1954) đã thật sự cáo chung, sau một  thời gian 9 năm (1945-1954) hấp hối. Vốn độc lập của VN do quân đội Nhựt ban cho (09-03-1045) , không do tranh đấu, do hi sinh mà được, tất nhiên không giá trị bao nhiêu, nên Nguyên thủ quốc gia phung phí một cách vô ý thức là phải.Tuy nhiên trong mấy tháng độc lập quốc gia (09-03 đến 24-08-1945), chánh phủ Trần trọng Kim cũng làm được một việc cho quốc dân là Cải tổ hệ thống giáo dục quốc gia theo định hướng dân tộc. Nhưng cùng một lúc làm một việc vô cùng tai hại cho quốc dân nhứt là ở miền Nam kỳ lục tỉnh. Vốn ngày 02-05-1945, Hoàng đế Bảo đại đã ký sắc luật phóng thích tất cả tù nhân chánh trị, mà trong đó 90% là cán bộ CS, bị Pháp giam giữ ở Côn đão từ phong trào Soviết-Nghệ tỉnh (1929-30) và cuộc nổi dậy trong Nam (1939-1940) của Đệ tam Quôc tế, mà tổng số lên đến trên 10,000. Nhờ đó mà ngày một ngày hai (tháng 6, tháng 7, 1945) cả mấy ngàn cán bộ CS, (trong đó có Lê Duẫn, Tôn đức Thắng, Phạm Hùng, Lê văn Lương…toàn là cán bộ cao cấp), sau nhiều năm tôi luyện vừa lý thuyết vừa kỹ thuật hành động được đón tiếp nhiệt liệt trở về Cấn thơ, Sóc trăng, Trà vinh…để rồi làm ung thúi chánh trường miến Nam, đưa VM nắm lấy thế thuợng phong, đàn áp các Giáo phái, giết hại các nhà ái quốc chân chính, cướp lấy chánh nghĩa quốc gia, thầu công cuộc kháng Pháp cho đến Điện biên phủ, tháng 5, 1954. 

   4.- Cương vị thứ tư  là một cương vị hỗn hợp.

   Khi tôi vừa điều khiển VHD, các trường BKBD và Hội Văn hóa Bình dân, với chức vụ Bí thư Liên kỳ bộ Nam Bắc Việt, tôi đã trở thành một cố vấn đa dạng (tiện tệ, văn hoá và an ninh) của Thủ tướng NĐD. Ơ đây tôi không nói tôi đã làm nhửng gì, tôi chỉ nói đến những gì tôi thấy tôi nghe, cũng là chứng nhân cho những biến cố lịch sử kể ra sau đây.

   Thật ra từ đây vai trò của CLNVCM đảng càng ngày càng trở nên quan trọng và rõ ràng hơn. Nói  đến Cần lao trong giai đọan nầy, ngoài lý thuyết Nhân vị, không phải chỉ là những thành viên  đầu não của nó là Ngô đình Nhu, Trần quôc Bửu, Trấn chánh Thành, Trần trung Dung… , và trong chừng mực hạn hẹp của nó là Liên kỳ bộ Nam Bắc Việt, (thành lập từ đầu tháng 04, 1955 và giải tán đầu năm 1958), mà còn phải kể những đoàn thế do Cần lao lãnh đạo, như Tập đòan Công dân,  Phong trào Cách mạng Quốc giai… Tất cả đều nhìn nhận Thủ tướng sau là Tổng thống NĐD làm lãnh tụ tối cao, biểu tượng cho chính nghĩa Quốc gia hay Dân tộc, chống lại HCM, biểu tượng cho chủ nghĩa Quôc tế Mac-lêninit (4)

   (4) (Cũng lạ là trong những cuộc khủng hoảng vừa kể trên những người cận kề bên ông Diệm nhứt toàn là người Trung hay người Bắc, chỉ có một mình tôi là người Nam, mà cuôc Cách mạng Truất phế BĐ lại hoàn toàn là do tác động của người miền Nam. Có phải vì thế mà thủ tướng Diệm phải suy nghĩ cả 2 tháng mới khởi sự hành động một cách dứt khoát với BĐ.)

   Và  thành tích cụ thể và rực rỡ nhứt cùa CL, là cuộc Trưng cầu Dân ý, kéo theo là Quốc hội lập hiến với Hiến pháp 1956 của nó, cũng  là  cái ID (lai lịch) của Đệ nhứt Công hòa của miến Nam (1956-1963). 

   a.- Trưng cầu dân ý.

   Ngày 22 tháng 10, thủ tuớng NĐD qua hệ thống truyền thanh đã kêu gọi quốc dân ngày hôm sau nên dùng cái quyền tự do của mình, cũng là nhiệm vụ của người công dân, phải đi đầu phiếu để chọn lưa  giữa Quốc trưởng BĐ và ông, tức là chọn một thể chế Quân chủ hay Cộng hòa.

   Và  ngày 23 tháng 10, 1954 quốc dân miền Nam đã nhiệt liệt huởng ứng lời kêu gọi của Thủ tướng NĐD, náo nức kéo nhau đi đầu phiếu và kết quả hết sức tốt đẹp cho thủ tướngNĐD:

   5,838,907 cử tri đi bầu.

   5.721.735 lá phiếu Truất phế Quôc trưởng BĐ và bầu NĐD lên thay thế, như là Quốc trưởng VN.

   Như  thế Thủ tướng NĐD thu về cho mình gần 98% số phiếu đi bầu. Thật ra thì Thủ tướng Diệm không cần đến một phân xuất cao đến thế. Vì ai ai cũng đinh ninh ông thắng và thắng lớn.

   (Ai nói gì thì nói theo tôi kết quả hay những con số nầy hoàn toàn trung thực với ý người dân, nếu có một hai thùng phiếu không hợp lệ vì nhân viên chánh quyền quá sốt sắng đến chỗ ngu xuẩn, thì chỉ là một con số quá nhỏ, không đáng kể.)

   Như  thế Quốc dân miền Nam muốn chấm dứt chế độ Quân chủ và ủy nhiệm cho ông NĐD nhiệm vụ thiết lập chế độ Công hòa dân chủ. Cho nên cách nầy hay cách nọ Truất phế Quốc trưởng BĐ như là mẹ đẻ ra các Biến cố lịch sử kế tiếp, như là một quá trình tiến hóa chánh trị bất di bất dịch của lịch sử.

   Ngày 26 tháng 10, 1955, Thủ tướng NĐD tuyến bố Hiến chương tạm thời, theo đó từ rày VN là một nước Cộng hòa, người lãnh đạo là Quốc trưởng kiêm luôn chức Thủ tướng, tức là Tổng thống nước Việt nam Cộng hòa.

   Đến đây thì uy tín của Thủ tướng lên đến tuyệt đỉnh, trong nuớc cũng như trên thế giới, vì tuyệt đại đa số Quốc dân ủng hộ ông. Nhờ đó mà ộng giải quyết tất cả các vấn đề tồn kho với Pháp để hoàn thành độc lập Quốc gia trọn vẹn: a) Pháp phải giao trả lại cho VN hoàn toàn chủ quyền tiền tệ tài chánh (VN không còn phải ở trong khu vực đồng quan Pháp nữa), b) chủ quyền Ngoại giao (Cao ủy Pháp được giải tán, từ rày tướng Ely chi là một đại sứ, bộ Ngoai giao VN giao thiệp thẳng với bộ Ngoại giao Pháp) và c)chủ quyền Quốc phòng, quân đội Pháp lục tục rút quân cho hết trong vòng 6 tháng–  

   b-Xây dựng chế độ Công hòa.

   Ngày 23-01-56 Thủ tướng ký nghị định tổ  chức bầu Quôc hội lập hiến.

   Ngày 04-03-56, Quốc dân miền Nam nhiệt liệt hứng khởi đi  đầu phiếu, bầu 123 dân biểu cho Quốc hội Lập hiến.

   Ngày 26-10-56 tân Hiến pháp được công bố.

   Nước Việt nam Cộng hòa ra đời, Thủ tướng NĐD được xác nhận là Nguyên thủ Quốc gia, dưới danh xưng là Tổng thống, kiêm chức vụ Thủ tướng, với 2 nhiệm kỳ là tối đa, mỗi nhiệm kỳ  là năm năm. 

 




Khổng Trọng Hinh : Dâm Bụt, hoa gọi sai tên

Dâm Bụt, hoa gọi sai tên
 
Đã là Bụt, tất chẳng còn dâm.
Nếu vẫn còn dâm, tất chưa thành Bụt.
Vậy chắc chắn có điều chi không đúng trong cái tên dâm bụt "ác ôn" này

Dâm Bụt, hoa gọi sai tên
Đã là Bụt, tất chẳng còn dâm. Nếu vẫn còn dâm, tất chưa thành Bụt. Hay là vì hoa quá đẹp mà bụt bỗng "động lòng tà" như được diễn tả trong bài thơ dưới đây của HHC:

 "Ngắm bông, bụt động lòng tà
Thấy nghìn phương nắng, thấy xa dặm trường
Ngắm em cười nụ dễ thương
Thấy ta chập chững trên đường vào yêu
Ngắm mây bảng lảng bóng chiều
Cái ta không thấy còn nhiều hơn mây
Nhớ em từng phút từng giây
Ta khờ, ta ngọng từ ngày có em. "

Thi sỹ thì có thể “động lòng tà” nhưng bụt thì nhất định không thể như vậy được. Vậy tại sao lại có cái tên Dâm Bụt “ác ôn” như vậy?
  
Có người coi Từ Điển, thấy chữ Râm Bụt thì bàn rằng đây là loại cây được trồng để lấy bóng râm, sau phát âm theo lối người Hà Nội, bao nhiêu chữ R đổi thành D hết ráo nên Râm Bụt mới biến thành Dâm Bụt. Sai! Loại cây này ít khi cao quá đầu người, làm sao mà tạo bóng râm được? Có người tin rằng vì hoa được dùng để cúng Phật nên tên đúng là Dâng Bụt, phát âm sai thành Dâm Bụt. Không đúng. Bao nhiêu loại hoa khác được dùng cúng Phật nhiều hơn sao không dành được chữ Dâng.
Cũng có người nói đây là loại cây có thể nhân giống dễ dàng bằng cách “dâm”, cắt cành, trồng xuống đất để tự nó bén rễ thành cây mới. Không đúng! VN ta có cả ngàn loại cây có thể nhân giống dễ dàng bằng cách này, sao không cây nào có tên dâm. Lại còn chữ Bụt ở đây nữa chi? Bụt là Buddha, là Phật. Làm sao giải thích được sự có mặt của chữ Bụt ở đây?
Đành phải cố tìm trong sách vở xem ngày xưa các cụ ta gọi Dâm Bụt là gì. Kể đây cũng là điều khó vì văn chương cổ của mình hầu hết nói chuyện cao sang, ít người viết về những chuyện thực tế, thường ngày. May sao, trong văn chương chữ Nôm, ta gặp bài thơ sau đây Nguyễn Trãi:
Cây Mộc Cận
Ánh nước hoa in một đóa hồng
Vết nhơ chẳng bén, bụt làm lòng
Sớm mai nở, chiều hôm rụng
Sự lạ cho hay tuyệt sắc không
 
 
Bài  thơ  chỉ  có  28 chữ  nhưng gợi lên rất nhiều tư tưởng cao siêu Phật Giáo. 
“Vết nhơ chẳng bén, bụt làm lòng”, ý niệm Phật tức Tâm, Tâm tức Phật.
“Sớm mai nở, chiều hôm rụng” làm ta nghĩ đến cái lẽ vô thường, vạn vật luôn luôn biết đổi.
Đến “Sự lạ cho hay tuyệt sắc không” thì hiển nhiên là ông bàn dến cái lẽ sắc tức thị không, không tức thị sắc.
Tuy nhiên, chỉ ngắm một bông dâm bụt, cũng không phải chính bông dâm bụt mà chỉ là hình ảnh của hoa chìm đáy nước, mà NT đã “ngộ” được rằng trời và đất, âm và dương, sắc và không, thường và vô thường…, tất cả đều nằm gọn trong hình ảnh một đóa hoa thật khó. Phải có một điều chi khác gần với đạo Phật hơn mới có thể gợi ý cho tác giả suy nghĩ về Phật Giáo. Điều chi đó chính, ngoài đặc tính sớm nở tối tàn của hoa còn là cái tên VN của hoa. Quả  vậy, ta có thể tin được rằng đóa hoa mà ông đang vịnh có chữ Bụt trong tên. Cái gì Bụt thì chưa biết, nhưng phải có chữ Bụt vì "bụt làm làng" là Phật tức Tâm, là Tâm tức Phật. Nhưng đề tựa bài thơ là “Mộc Cận” thì chính đó không phải là tên hoa hay sao? Đúng, mộc cận là tên hoa, nhưng đó chỉ là tên chữ Hán, không phải tên chữ Việt. Từ Điển Hán Việt cho thấy mộc cận chính là cây Dâm Bụt với đặc tính “triêu khai,mộ lạc (sớm nở, tối tàn). Ta có thể kết luận ngay rằng đóa hoa mà NT vịnh có tên chữ Hán là Mộc Cận và tên VN cũng có 2 chữ. Một trong 2 chữ đó là Bụt. Chữ kia, sẽ bàn sau. Cũng trong từ điển chữ Hán, ta thấy Mộc Cận còn có tên khác là Phù Tang, Phật tang 佛桑.  Cây có tên này vì lá cây giống lá dâu (tang) và thường hay trồng trong vườn chùa, nơi thờ Phật.  Phật tang 佛桑 ta dịch là Dâu Bụt rồi lâu ngày, phát âm sai thành Dâm Bụt.
 Kết luận:
Tên đúng của hoa là Dâu Bụt

Dũng thân
Ý kiến D cũng dúng
Từ Phật tang 佛桑, ta dịch qua Dâu Bụt
Từ Dâu Bụt, ta phát âm sai thành Dâm Bụt
Ở miền Bắc, với tinh thần thủ cựu, người ta không lấy hoa Dâm Bụt cúng Phật.
Khi những lưu dân miền Bắc & Trung xuôi Nam, đời sống tuy no đủ hơn nhưng mọi thứ đều thiếu thốn, người ta chủ trương bất cứ hoa gì cúng Phật cũng được, miễn là có tấm lòng thành. Nhưng khi cầm bó hoa có cái tên Dâm Bụt kỳ kỳ, khó nghe dâng lên bàn thờ, với bản tính dễ dãi, đơn giản, họ lướt qua rồi bỏ hẳn chữ Dâm, tên hoa đổi thành Bông Bụt (Bụt chữ T ở cuối)
Sau đó, Bông Bụt (với chữ T ở cuối chữ Bụt) từ từ chuyển thành Bông Bụp (với chữ P ở cuối chữ Bụt) Bông Bụp dễ phát âm hơn Bông Bụt chứ chữ Bụp không có nghĩa chi hết. Đây là kết quả của quy luật phát âm thông thường cộng thêm tính tình dễ dãi, đọc sao ũng đdược miễn người nghe hiểu thì thôi của người miền Nam.
Không tin, bạn cứ thử đọc lớn mấy chữ bông bụt, bông bụp nhiều lần rồi so sánh xem cách nào trơn miệng hơn.