Vấn Nạn RÁC THẢI NHỰA TRÊN THẾ GIỚI – Mai Thanh Truyết

Vấn nạn rác thải nhựa (plastic) trên thế giới

Các cuộc nghiên cứu cho thấy rác thải nhựa đổ ra đại dương dự kiến sẽ tăng gần gấp ba lần khối lượng trong 20 năm tới, trong khi những nỗ lực ngăn chặn thủy triều cho đến nay hầu như không tạo được dấu hiệu cho cơn sóng thần rác thải.

Các chính phủ có thể cắt giảm mạnh dòng chảy nhựa đến các đại dương thông qua các biện pháp như hạn chế bán và sử dụng vật liệu nhựa và bắt buộc các lựa chọn thay thế, nhưng ngay cả khi tất cả các biện pháp khả dĩ nhất được thực hiện thì cũng chỉ cắt giảm lượng rác thải xuống mức thấp hơn chứ không ngăn chặn được hoàn toàn như mức thải hiện nay.

Các ước tính trước đây đưa lượng nhựa đến các đại dương mỗi năm vào khoảng 8 triệu tấn, nhưng con số thực tế cao hơn nhiều vào khoảng 11 triệu tấn, theo bài báo đăng trên tạp chí Science.

Vào tháng 07/2017, hơn 200 quốc gia đã ký một nghị quyết của LHQ về loại bỏ ô nhiễm nhựa trong các đại dương của chúng ta.  Các nhà nghiên cứu cho biết với những nỗ lực cắt giảm chất thải hiện tại căn cứ theo quyết định của LHQ, thế giới có thể giảm khối lượng chỉ khoảng 7% hàng năm.

  1. Sự thật không cần phải chối cãi

Theo ước tính gần đây, vấn đề rác thải nhựa trên thế giới hiện được dự đoán sẽ đạt 111 triệu tấn vào năm 2030. Hàng núi rác thải nhựa đang tích tụ trên toàn cầu sau khi Trung Cộng thực hiện lệnh cấm đối với việc xuất cảng rác thải của các nước khác vào TC.

Từ đó, đến năm 2030, số lượng ước tính sẽ đi về đâu khi có lịnh cấm nhập cảng của TC?

Trước khi có lệnh cấm, TC trở thành nhà nhập cảng rác thải nhựa lớn nhất thế giới. Bài báo trên tạp chí Science Advances cho biết TC đã nhập 106 triệu tấn chất thải nhựa để tái chế kể từ năm 1992, chiếm 45,1% tổng lượng phế thải nhựa xuất cảng trên thế giới.

Nhưng vào năm 2017, TC tuyên bố không còn muốn đổ rác của các nước khác nữa, vì vậy họ có thể tập trung vào các vấn đề ô nhiễm của chính mình.

Sự thay đổi chính sách bất ngờ đã khiến các nhà xuất cảng rác thải như Hoa Kỳ, Canada, Ireland, Đức và các nước châu Âu khác phải truy tìm các giải pháp cho rác thải của họ. Hoa Kỳ đã gửi 13,2 triệu tấn giấy vụn và 1,42 triệu tấn nhựa phế liệu đến các trung tâm tái chế của TC hàng năm.

Các quốc gia Tây phương, nơi phụ thuộc rất nhiều vào các nhà máy tái chế của TC, đã chứng kiến ​​những kiện giấy và nhựa hỗn hợp chất đống trong các trung tâm tái chế. Một số chất thải này hiện đang được chuyển đến Việt Nam, Malaysia và Thái Lan, nhưng các chuyên gia cho rằng những quốc gia này có thể không lấp đầy khoảng trống mà TC để lại, CNBC News đưa tin.

Amy Brooke, tác giả đầu tiên của nghiên cứu hiện tại và là nghiên cứu sinh tiến sĩ kỹ thuật tại Đại học Georgia, cho rằng các quốc gia cần quản lý và tái chế chất thải của chính mình tốt hơn.

“Đây là một lời cảnh tỉnh. Trước đây, chúng tôi phụ thuộc vào TC để tiếp nhận chất thải tái chế này và bây giờ họ đang nói không”, cô nói với Associated Press. “Chất thải đó phải được quản lý, và chúng ta phải quản lý nó một cách hợp lý.”

Hơn 8,3 tỷ tấn chất dẻo mới đã được tạo ra, phân phối và loại bỏ tính đến năm 2017. Phần lớn nguyên liệu đó được đưa vào đại dương của chúng ta. Mỗi năm con người gửi ước tính 8 triệu tấn nhựa ra biển. Nếu tiêu thụ nhựa tiếp tục với tốc độ này, chúng ta đang có xu hướng lấp đầy các đại dương với nhiều nhựa hơn lượng cá vào năm 2050!

Các nhà nghiên cứu của bài báo đã kết luận, “Cần có những ý tưởng và hành động táo bạo trên toàn cầu để giảm số lượng vật liệu không thể tái chế, thiết kế lại sản phẩm và tài trợ cho việc quản lý chất thải nhựa trong nước.”

  •  Có bao nhiêu rác thải nhựa xả ra trên trái đất

Vào tháng 12 năm 2018, Hiệp hội Thống kê Hoàng gia của Vương quốc Anh đã đưa ra sự thật cốt lõi trong câu chuyện này – rằng chỉ khoảng 9% tổng số nhựa từng được sản xuất có khả năng được tái chế.

Quá trình sản xuất hàng loạt chất dẻo, bắt đầu cách đây chỉ sáu thập kỷ, đã tăng tốc nhanh chóng đến mức tạo ra 8,3 tỷ tấn – hầu hết trong số đó là các sản phẩm dùng một lần, cuối cùng trở thành rác. Ngay cả những nhà khoa học bắt đầu tiến hành cuộc kiểm đếm đầu tiên trên thế giới về số lượng nhựa đã được sản xuất, thải bỏ, đốt cháy hoặc đưa vào các bãi chôn lấp, cũng phải kinh hoàng trước những con số rác đã được thải hồi nầy.

Jenna Jambeck, một kỹ sư môi trường của Đại học Georgia, người chuyên nghiên cứu về nhựa cho biết: “Tất cả chúng ta đều biết rằng có sự gia tăng nhanh chóng và cực độ trong sản xuất nhựa từ năm 1950 cho đến nay, nhưng thực sự việc định lượng con số tích lũy cho tất cả các loại nhựa từng được sản xuất là không thể tưởng tượng rõ ràng được, nhứt là chất thải plastic lên đại dương”.

Nhựa plastic mất hơn 400 năm để phân hủy, vì vậy hầu hết chúng vẫn tồn tại ở một số dạng. Chỉ có 12 phần trăm đã được thiêu hủy.

Nghiên cứu được đưa ra cách đây hai năm khi các nhà khoa học cố gắng giải quyết lượng nhựa khổng lồ tích tụ ở biển và tác hại của nó đối với các loài chim, động vật biển và cá. Dự đoán rằng vào giữa thế kỷ này, các đại dương sẽ chứa nhiều rác thải nhựa hơn cá, tính theo trọng lượng! Điều nầy đã trở thành một trong những thống kê được trích dẫn nhiều nhất và là một lời kêu gọi các quốc gia cần tập hợp nhau lại và cần phải hành động trước khi đã quá muộn!

  • Vấn đề xả rác thải nhựa plastic lên đại dương

Trung Cộng đã ngừng chấp nhận nhập cảng rác nhựa từ các nước khác kể từ ngày 1 tháng 1, 2020. Điều đó có vẻ như là một động thái tốt đối với nước gây ô nhiễm nhựa đại dương hàng đầu thế giới. Nhưng trong một bước ngoặt khủng khiếp, lệnh cấm rác nhựa từ nước ngoài của TC thực sự có thể để lại một lỗ hổng lớn trong chương trình tái chế phế liệu trong nước của Tàu. Điều này có nghĩa là TC hiện đang có nhu cầu nhiều nhựa mới hơn để thay thế vật liệu tận dụng.

Theo Bloomberg, các nhà sản xuất hóa chất của Mỹ như Dow, DuPont Inc. “đang gấp rút tìm kiếm thị trường cho hàng triệu tấn sản xuất mới trong bối cảnh ngành công nghiệp đầu tư mạnh mẽ. Xuất khẩu một loại nhựa thông thường của Mỹ đã kiến ​​tăng gấp 5 lần vào năm 2020.

Mark Lashier, giám đốc điều hành của Chevron Phillips Chemical Co., cho biết trong cuộc phỏng vấn trong buổi ra mắt hai nhà máy polyethylene ở Old Ocean, Texas vào tháng trước: “Đây là thời điểm tốt để mang lại một số thành phẩm mới ra, và nhu cầu thị trường sẽ tăng lên”.

TC là nhà nhập cảng nhựa thừa (phế thải )hàng đầu thế giới. Quốc gia này đã tiếp nhận 51% lượng rác nhựa trên thế giới vào năm 2019, bao gồm khoảng 70% phế liệu nhựa của Hoa Kỳ.

Reuters cũng báo cáo rằng các nhà sản xuất trên khắp thế giới đang chuẩn bị cho nhu cầu nhựa ngày càng tăng cao của TC. Nguồn tin từ một công ty TC sản xuất và tiếp thị các sản phẩm hóa dầu và xăng dầu cho biết: “Từ năm tới, nhu cầu đối với polyethylene sẽ còn tăng cao hơn nữa do tác động của lệnh cấm sẽ được ghi nhận”.

Mỗi năm, 8 triệu tấn nhựa có được trong kỹ nghệ dầu mỏ được đổ xuống biển, thực sự làm nghẹt thở sinh vật biển và tàn phá các hệ sinh thái đại dương và chuỗi thức ăn lớn hơn.

Trong khi TC đã tham gia lời kêu gọi gần đây của LHQ nhằm ngăn chặn rác thải nhựa trên đại dương, thì nghị quyết đã không đưa ra bất kỳ mục tiêu hoặc thời gian cụ thể nào. TC, cũng như Mỹ và Ấn Độ, được cho là đã từ chối đưa vào nghị quyết bất kỳ mục tiêu cắt giảm mức sản xuất và phế thải nhựa như thế nào.

Các nhà khoa học đã biết đến vấn đề nhựa đại dương vào những năm 1950 và sự hiểu biết về bản chất và mức độ nghiêm trọng của vấn đề này đã tăng lên trong những thập kỷ tiếp theo. Mãi cho đến 1970, một báo cáo mới được công bố bởi Trung tâm Luật Môi trường Quốc tế nhấn mạnh cách ngành công nghiệp nhựa từ lâu đã biết về vấn đề nhựa đại dương. Ngành Công nghiệp Nhựa về VN đề Nhựa Đại dương, gợi ý rằng các ngành công nghiệp hóa chất và dầu khí đã nhận thức được, hoặc lẽ ra phải nhận thức được các vấn đề do sản phẩm của họ gây ra không muộn hơn những năm 1970.

Nhưng điều đó đã không xảy ra! Thật đáng tiếc! Để rồi, ngày hôm nay đã xuất hiện một “đảo” rác có diện tích lớn hơn 2 lần diện tích Tiểu bang Texas.

  • Bãi rác “vĩ đại” giữa Thái Bình Dương

Bãi rác nằm trên kinh tuyến 150 và vỹ tuyến 23, kế cận Tropic of Cancer, gần Hawaii. Sự hiện diện của đảo plastic nầy là do sự di chuyển của các dòng hải lưu tạo thành một vòng xoáy nơi đây và ngày càng …tích tụ thêm nhiều rác plastic và những rác thải có tỷ trọng thấp hơn tỷ trong của nước biển. Các nghiên cứu đã cho thấy rất nhiều vật liệu và rác thải đến từ trận tsunami ở Nhựt năm 2011.

Bãi rác có diện tích 1,6 triệu Km2, hơn gấp hai lần tiểu bang Texas, 3 lần nước Pháp, 4,5 nước Đức. Cấu tạo bãi rác từ mỏng tới dày, từ ngoài vào trong có tỷ trọng khác nhau. Những mảnh rác “già nhứt” đến từ năm 1977.

Có tất cả 1,8 tỷ mảnh plastic trên đảo gồm:

  • 1- 94% mảnh plastic nhỏ (microplastics);
  • 2- 6% còn lại gồm: 2.1- 56 tỷ plastics trung (mesoplastics);
  • 3- 821 triệu plastics lớn (macroplastics);
  • 4- 3,2 triệu plastics “đại bàng” (megaplastics).

Các mảnh trên đến từ những quốc gia sau đây: Japan, Korea, Mexico, Taiwan, Philippines, China, Canada, Chile, Colombia, Venezuela, Italy, Germany. (Chúng ta hơi ngạc nhiên là tại sao không thấy nói rác đến… từ Hoa Kỳ!)

Ước tính hàng năm rác thải trên giết hại, làm nghẹt thở trên 100.000 sinh vật biển thuộc 700 chủng loại khác nhau.

Có 84% lượt rác thải chứa các hóa chất độc hại ảnh hưởng đến sức khỏe sinh vật biển.

  •  Ai là thủ phạm cho việc xả rác thải nhựa?

Coca-Cola, PepsiCo, Nestlé là những nhà gây ô nhiễm nhựa tồi tệ nhất năm 2020, đã đạt được ‘Tiến bộ không’. Báo cáo mới tìm thấy một cấu trúc hình con cá chứa đầy chai nhựa trên bờ sông ở cảng Limassol, Síp, Địa Trung Hải, vào ngày 8 tháng 12 năm 2020. Coca-Cola, PepsiCo và Nestlé là những công ty hàng đầu thế giới về ô nhiễm nhựa, theo một báo cáo mới từ Break Miễn phí từ nhựa. Danil Shamkin/NurPhoto.

Những người gây ô nhiễm nhựa hàng đầu năm 2020 đã được công bố, và Coca-Cola, PepsiCo và Nestlé đứng đầu danh sách ba năm liên tiếp.

Nói như trên, thiết nghĩ chúng ta có kết luận hơi “võ đoán” không? Dĩ nhiên, các Đại công ty là những nhà sản xuất các chai lọ, bình plastic chứa sản phẩm của họ. Và thử hỏi, ai là nguyên nhân thực sự đưa đến sự thành hình của một ốc đảo “vĩ đại” ở giửa biển Thái Bình Dương?

Phải chăng là người tiêu thụ khắp nơi trên thế giới?

Trong một báo cáo mới yêu cầu trách nhiệm của doanh nghiệp đối với ô nhiễm nhựa, Break Free From Plastic (BFFP) đã nêu tên những người tái phạm và kêu gọi họ vì những gì dường như là tiến bộ không đáng kể trong việc hạn chế lượng rác nhựa mà họ sản xuất bất chấp các tuyên bố khác của công ty.

“Danh hiệu Người gây ô nhiễm toàn cầu” hàng đầu mô tả các công ty mẹ có thương hiệu được ghi nhận gây ô nhiễm nhiều nơi nhất trên thế giới với lượng rác thải nhựa lớn nhất”, bản tóm tắt của báo cáo lưu ý. “Những người gây ô nhiễm hàng đầu toàn cầu năm 2020 vẫn nhất quán đáng kể với các báo cáo kiểm toán thương hiệu trước đây của chúng tôi, chứng tỏ rằng các tập đoàn tương tự đang tiếp tục gây ô nhiễm ở những nơi có nhiều nhựa xử dụng một lần nhất.”

Báo cáo xử dụng các hoạt động kiểm toán thương hiệu và quy trình dọn dẹp toàn cầu để thu thập và đếm các mảnh vụn nhựa từ khắp nơi trên thế giới. Năm nay, có gần 15.000 tình nguyện viên đã thu thập 346.494 mảnh nhựa ở 55 quốc gia để đóng góp cho báo cáo, một thông cáo báo chí của BFFP cho biết.

Họ đã tìm ra được hơn 5.000 nhãn hiệu đã được đưa vào danh mục trong năm nay, nhưng Coca-Cola nhanh chóng vượt lên như một nhà gây ô nhiễm nhựa số một thế giới. Các chai nước giải khát của nó được tìm thấy thường xuyên nhất, bị vứt bỏ trên các bãi biển, sông, công viên và các địa điểm xả rác khác ở 51 trong số 55 quốc gia được khảo sát, The Guardian đưa tin. Thương hiệu kém hơn PepsiCo và Nestlé, hai công ty hàng đầu tiếp theo cộng lại.

Ô nhiễm nhựa là một trong những vấn đề môi trường hàng đầu của thời hiện đại. Nhựa không phân hủy hoặc biến mất, mà thay vào đó, phân hủy thành các vi nhựa được những sinh vật nhỏ nhất tiêu thụ. Những chất độc này tích tụ sinh học và di chuyển theo cách của chúng lên chuỗi thức ăn và vào không khí, thức ăn và nước của chúng ta.

Emma Priestland, điều phối viên chiến dịch toàn cầu của Break Free From Plastic, nói với The Guardian: “Các tập đoàn gây ô nhiễm hàng đầu thế giới tuyên bố đang nỗ lực để giải quyết ô nhiễm nhựa, nhưng thay vào đó họ đang tiếp tục bơm ra các loại bao bì nhựa dùng một lần có hại”.

Priestland nhấn mạnh rằng cách duy nhất để ngăn chặn làn sóng rác thải nhựa đang gia tăng trên toàn cầu là ngừng sản xuất, loại bỏ các sản phẩm xài một lần và thực hiện các hệ thống tái xử dụng, bản tin cho biết.

BFFP kêu gọi tất cả các tập đoàn gây ô nhiễm chịu trách nhiệm “hoàn toàn chịu trách nhiệm về chi phí ngoại lai của các sản phẩm nhựa xài một lần của họ, chẳng hạn như chi phí thu gom, xử lý chất thải và thiệt hại môi trường do chúng gây ra”. Nhóm cảnh báo rằng cách tiếp cận “kinh doanh như bình thường” có thể tăng gấp đôi sản lượng nhựa vào năm 2030 và có khả năng tăng gấp ba vào năm 2050.

Theo báo cáo của The Guardian, có tới 91% tổng lượng nhựa từng được tạo ra đã được đốt, chôn lấp hoặc trong môi trường tự nhiên. Trái ngược với suy nghĩ của nhiều người, nó không được tái chế và tái chế không phải là cách hiệu quả để đối phó với tình trạng sản xuất quá mức và xử dụng quá mức chất dẻo.

Simon Mbata, điều phối viên quốc gia của một nhóm người nhặt rác đã hỗ trợ khảo sát thùng rác, nói với The Guardian, “Bất cứ thứ gì không thể tái chế đều không được sản xuất.”

Báo cáo của BFFP kết luận với lời kêu gọi hành động cho các công ty: “Những người gây ô nhiễm hàng đầu phải tiết lộ lượng nhựa xài một lần mà họ dùng, sau đó đặt ra các mục tiêu rõ ràng, có thể đo lường để giảm số lượng đồ nhựa xài một lần mà họ sản xuất. Cuối cùng, họ phải phát minh lại hệ thống phân phối sản phẩm của mình để vượt ra ngoài hoàn toàn nhựa xài một lần. “

  • Rác thải nhựa có thể tái chế thành sản phẩm hữu dụng không?

Chỉ trong một km, một người lái xe đi qua một tấn rác thải nhựa. Nhưng đó không hề là một chặng đường phiền toái đi qua biển rác, con đường này rất êm và được bảo dưỡng tốt – thực tế là lớp nhựa mà mỗi tài xế chạy ngang qua không thể nhìn thấy bằng mắt thường.

Từ Ghana đến Hà Lan, việc xây dựng nhựa thành đường và lối đi đang giúp giảm bớt khí thải carbon, giữ cho đại dương và bãi rác không tràn ngập rác thải nhựa, đồng thời cải thiện tuổi thọ trung bình của đường sá.

Cho đến năm 2040, có 1,3 tỷ tấn nhựa trong môi trường trên toàn cầu. Chỉ riêng Ấn Độ đã tạo ra hơn 3,3 triệu tấn nhựa mỗi năm – đó là một trong những điều thúc đẩy Vasudevan tạo ra hệ thống biến rác thải thành đường.

Dùng cách này thì có một lợi ích rõ rệt, đó là quá trình thực hiện rất đơn giản, đòi hỏi ít máy móc công nghệ cao.

Đầu tiên, rác thải nhựa xé vụn được rải lên một tập hợp đá và cát nghiền nhỏ trước khi được nung đến khoảng 1700C – đủ nóng để làm tan chảy rác thải.

Nhựa sau khi nấu chảy sẽ được đem phủ một lớp mỏng lên trên cát đá. Sau đó, bitum nung nóng được đổ lên trên cùng, giúp làm thành một khối rắn chắc và hỗn hợp hoàn chỉnh.

  •  Cách dễ dàng để ngăn chặn rác thải nhựa ngày hôm nay

Theo Danielle Nierenberg, việc sản xuất và xử lý bao bì thực phẩm bằng nhựa tiêu tốn nhiều năng lượng và dẫn đến ô nhiễm không khí, đất và tài nguyên nước. Và một khi nhựa được lưu thông, chúng tích tụ trong đại dương, gây hại cho sinh vật biển, và phân hủy thành các vi nhựa (micro plastic) nhỏ hơn để đi vào thực phẩm và đồ uống. Hiện nay, các đại dương trên thế giới đang bị ô nhiễm bởi hơn 5 nghìn tỷ mảnh nhựa, nặng hơn 250.000 tấn. Và trong số 30 triệu tấn nhựa mà người Mỹ vứt bỏ hàng năm, chỉ 8% được tái chế, theo Liên minh ô nhiễm nhựa.

Và COVID-19 có khả năng thúc đẩy sự gia tăng các loại nhựa sử dụng một lần, theo một bài báo gần đây của Hiệp hội Hóa học Hoa Kỳ. Nhu cầu dự kiến ​​sẽ tăng tới 14% ở Hoa Kỳ, phần lớn là do việc giao thực phẩm nhiều hơn, mang đi và các sản phẩm tạp hóa đóng gói sẵn nhằm hạn chế sự lây lan của vi rút.

Nhưng bất chấp đại dịch, chúng ta có thể hạn chế sử dụng nhựa sử dụng một lần. Food Tank vui mừng nêu ra 6 cách dễ dàng để bạn suy nghĩ lại về việc sử dụng bao bì nhựa của mình — bắt đầu ngay bây giờ:

  • Mua sản phẩm xử dụng công nghệ thay thế nhựa tiên tiến: Giữ cà phê tươi có thể khó và một số công ty tuyên bố túi của họ có thể làm phân trộn – nhưng các bộ phận bằng nhựa, giúp thông gió, thì không. Elevate Packaging đã tạo ra túi cà phê đầu tiên có van hoàn toàn có thể ủ được và Don Maslow Coffee là một trong những thương hiệu đầu tiên áp dụng chúng. Đối với nấm cục sô cô la của họ, Alter Eco sử dụng giấy gói có thể ủ làm từ cây bạch đàn và cây bạch dương với các lớp nhôm siêu nhỏ giúp duy trì độ tươi; chúng hoàn toàn có thể phân hủy và phân hủy sinh học trong các đại dương. Và Guayaki, một công ty yerba mate tập trung vào tính bền vững, hiện đang bán các loại trà lá rời của họ trong các túi Natureflex có thể ủ được, góp phần giảm việc sử dụng bao bì hàng năm của họ xuống 44.000 pound.
  • Uống nước máy thay vì mua chai nhựa: Theo số liệu của Euromonitor International, khoảng 20.000 chai nhựa phế thải được bán ra mỗi giây trên toàn thế giới – tổng cộng là 480 tỷ trong năm 2016. Và không chỉ nhiều trong số này bị lãng phí mà còn lắng đọng vi nhựa trong hệ tiêu hóa của chúng ta. Và theo Tập bản đồ nhựa năm 2019, được biên soạn bởi Heinrich Böel Foundation and Break Free From Plastic, “những người uống nước từ chai nhựa rửa một thứ giống như 130.000 hạt vi nhựa xuống cổ họng của họ mỗi năm”, so với 4.000 hạt có trong nước máy.
  • Cố gắng tránh đồ dùng bằng nhựa dùng một lần: Làn sóng cấm ống hút nhựa  trong mùa hè 2018 đã thu hút sự chú ý đến lượng rác thải nhựa khổng lồ liên quan đến các sản phẩm: Dựa trên dữ liệu dọn dẹp bãi biển, các nhà nghiên cứu tính toán rằng khoảng 7,5 tỷ ống hút hiện đang xả rác trên các bãi biển của Mỹ. Nhưng ống hút chỉ chiếm khoảng 4% rác nhựa ở mức độ từng mảnh, điều quan trọng là phải kiểm tra các đồ dùng thường được vứt bỏ khác, như nĩa và thìa nhựa. Dao           kéo đã được Ocean Conservancy đánh giá là một trong những vật dụng “nguy hiểm nhất” đối với sinh vật biển – nhưng nếu tất cả mọi người ở Hoa Kỳ chuyển từ đồ nhựa sang dao kéo tái sử dụng, họ sẽ ngừng sử dụng hơn 100 triệu nĩa,     dao và cái thìa.
  • Mua với số lượng lớn: Mặc dù các thùng hàng lớn của nhiều cửa hàng tạp hóa  đã tạm thời đóng cửa do COVID-19, việc mua với số lượng lớn, cùng với việc lập kế hoạch bữa ăn, vẫn có thể là một cách hiệu quả để giảm thiểu số lượng các gói riêng lẻ được bán ra. Và việc chuyển từ thực phẩm đóng gói sẵn sang lối đi số lượng lớn có thể tiết kiệm khoảng 56% chi phí thực phẩm – điều mà NPR’s The Salt mô tả là “chương trình giảm giá hai tặng một vĩnh viễn trên hàng chục loại thực phẩm và nguyên liệu hữu cơ.
  • Chọn Sản phẩm Chăm sóc Cá nhân Không có Vi nhựa: Các sản phẩm chăm sóc cá nhân có microbeads, chẳng hạn như một số loại kem đánh răng và xà phòng, là nguyên nhân chính tạo ra vi nhựa, hoặc các mảnh nhựa nhỏ tích tụ trong môi trường như một sản phẩm phụ của các sản phẩm nhựa bị phân hủy. Một nghiên cứu về các sản phẩm tẩy da chết cụ thể cho thấy rằng có từ 4.500 đến 94.500 microbeads được giải phóng mỗi lần sử dụng. Vi nhựa có thể mắc kẹt trong mang cá và xâm nhập vào đường tiêu hóa của động vật, điều này có thể gây   ra vấn đề do khả năng hấp thụ và giữ lại các chất độc hại tiềm ẩn của vi nhựa.
  • Thể hiện công khai cam kết cắt giảm dấu vết nhựa của bạn: Khi nghệ sĩ và nhà hoạt động Dianna Cohen lần đầu tiên bắt đầu tìm hiểu về ô nhiễm nhựa, cô cho biết bản năng đầu tiên của cô là tìm cách làm sạch nhựa trong các đại dương nhưng cô nhận ra rằng những nỗ lực đó sẽ nhạt nhòa so với lượng rác thải nhựa mới được tạo ra hàng ngày. Bà nói: “Bức tranh lớn hơn là: chúng ta cần tìm cách tắt vòi nước. Chúng ta cần cắt bỏ hàng loạt đồ nhựa dùng một lần và dùng một lần, đang xâm nhập vào môi trường biển trên phạm vi toàn cầu”. TED Talk. Cô đã thành lập Liên minh ô nhiễm nhựa, đang thu thập chữ ký trên tám bản kiến ​​nghị, từ việc kêu gọi Amazon giảm thiểu nhựa.

Các đề nghị cụ thể trên chắc chắn không phải là những việc chúng ta không thể làm được.

Trái đất này là của chung.

  • Chúng ta phải làm gì?

Vào Ngày Trái Đất 2018, thêm một lần nữa, LHQ đã kêu gọi qua chủ đề:”Một Thế Giới Không Ô Nhiễm Chất Dẻo – A World Without Plastic Pollution”. Chúng ta bước vào năm thứ 48 của Ngày Trái Đất, ngày 22 tháng Tư năm 2018. Ngày nầy được xem như là ngày nhắc nhở hơn 7,6 tỷ người trên trái đất cần nên có thêm cảm hứng, trao đổi ý kiến, khơi dậy ước mơ, và nhứt là vận động và kích thích để mọi người cần hành động để bảo vệ môi trường sống của tất cả chúng ta. Hàng năm có trên một tỷ người khắp nơi, tùy theo điều kiện hiện có của mỗi quốc gia, tổ chức các cuộc vui chơi, vận động cho mọi người ý thức nhiều hơn nữa về tình trạng môi trường chung cho thế giới và riêng cho từng quốc gia.

Tại Hoa Kỳ và trên khắp thế giới, sương mù đang trở nên trầm trọng và bằng chứng đang gia tăng tình trạng ô nhiễm khiến trẻ con chậm phát triển. Đa dạng sinh học bị suy giảm do sử dụng thuốc trừ sâu và các chất ô nhiễm khác.

Ngày nầy năm 1970, Cựu Tổng thống Nixon công bố thành lập Cơ quan Bảo vệ Môi trường (USEPA) và cũng là Ngày Trái Đất đầu tiên 22-4-1971. Ông phát biểu:“Ngày Trái đất là một sự kiện toàn cầu mỗi năm và chúng tôi tin rằng hơn 1 tỷ người ở 192 quốc gia hiện tham gia vào một ngày hành động tập trung công dân lớn nhất trên thế giới”.

Năm nay, Mạng lưới Ngày Trái Đất (Earth Day Network – EDN), cơ quan điều hành Ngày Trái Đất Toàn cầu (Earth Day Worldwide) tuyên bố chủ đề cho năm 2018 là “Chấm dứt Ô nhiễm Chất dẻo” (End Plastic Pollution), bao gồm việc tạo ra sự hỗ trợ cho nỗ lực toàn cầu để loại bỏ chất dẻo sử dụng một lần (single-use plastic) cùng với các quy định toàn cầu về việc loại bỏ chất dẻo.

EDN nhận định rằng từ sự việc ngộ độc và làm hư hại sinh vật biển đến sự hiện diện của các loại chất dẻo trong thực phẩm, từ đó, các nguyên nhân trên đã xáo trộn hormon của con người và có thể gây ra các bệnh nguy hiểm đến tính mạng. Ngày nay, sự tăng trưởng nhanh của chất dẻo phế thải đang đe dọa sự sống còn của hành tinh chúng ta. EDN cũng đang xây dựng một chiến dịch kéo dài nhiều năm để chấm dứt ô nhiễm bằng nhựa dẻo tôi bao gồm:

•   Việc chấm dứt chất dẻo sử dụng một lần;

•   Thúc đẩy các nguyên liệu thay thế cho nhiên liệu hóa thạch;

•   Thúc đẩy việc tái chế 100% chất dẻo, trách nhiệm của công ty và chính phủ và thay đổi hành vi của con người trong việc xử dụng chất dẻo.

Chiến dịch Kết thúc Ô nhiễm Chất dẻo của EDN nhằm thực thi ba mục tiêu trên nhắm vào:

•   Tạo dựng một phong trào gốc chính để hỗ trợ việc thông qua khuôn khổ toàn cầu để điều chỉnh sự ô nhiễm chất dẻo;

•   Giáo dục, vận động và kích hoạt công dân trên toàn cầu để yêu cầu các chính phủ và các công ty kiểm soát và dọn sạch ô nhiễm bằng nhựa;

•   Giáo dục, vận động, và khuyến khích công dân toàn cầu ý thức trách nhiệm cá nhân về ô nhiễm chất dẻo bằng cách chọn từ chối, giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế chất dẻo (reject, reduce, reuse, and recycle plastics);

•   Khuyến khích thúc đẩy các quy định của chính quyền địa phương và các nỗ lực khác để giải quyết tình trạng ô nhiễm chất dẻo.

EDN sẽ thúc đẩy việc thực thi các mục tiêu đề ra trên nhân Ngày Trái Đất và sự quan tâm của thế giới ngày càng tăng trong Ngày kỷ niệm 50 năm Ngày Trái Đất vào năm 2020 (the 50th Anniversary of Earth Day in 2020) như một chất xúc tác cho hành động toàn cầu.

Các hành động cụ thể:

•   Khuyến khích và cổ động khái niệm “Mỗi ngày của cuộc sống là Ngày Đất”, vì vậy tất cả chúng ta nên chăm sóc trái đất hàng ngày;

•   Tìm hiểu và học tập: Tìm hiểu thêm về vấn đề này và hành động để giúp chấm dứt việc ô nhiễm chất dẻo;

•   Hành động cá nhân: Ghi lại những hành động trong qua khứ làm ô nhiễm chất dảo trong môi trường của cá nhân. Từ đó theo dõi việc hạn chế phát thải của chính mình. Chia sẻ kinh nghiệm câu chuyện của bạn. Và từ đó, kết thúc việc chấm dứt làm ô nhiễm của bản thân. Chuyển tải lên Facebook, Twitter và Instagram;

•   Tham gia trực tiếp: Chia sẻ những gì bạn đang làm. Tìm hiểu thêm về cách tổ chức các sự kiện để Kết thúc Ô nhiễm Chất dẻo.

•   Và sau hết, đối với mỗi người trong chúng ta, cần nên thay đổi và điều chỉnh những thói quen “không thân thiện với môi trường” hàng ngày cho thích ứng với việc giảm thiểu những nguy cơ hiện tại như: tiết kiệm năng lượng, xử dụng nước sinh họat hợp lý, không bừa bãi hay phí phạm, và nhất là lượng hấp thụ lương thực, thực phẩm cần phải được hạn chế vừa đủ cung ứng cho nhu cầu cơ thể mà thôi.

Có được như vậy, may ra, chúng ta vừa bảo vệ được sức khỏe, vừa có thể kéo dài thêm đời sống của hành tinh chúng ta đang cư ngụ. Ngày Trái Đất trong suy nghĩ mới không phải là ngày 22 tháng 4 hàng năm, mà Mỗi Ngày đều là Ngày Trái Đất:   Every Day is Earth Day!

Đây là một thông điệp nhằm mục đích chuyển tải nhiều hình thức bảo vệ Trái Đất chung như:”Cần xây dựng một công dân toàn cầu thông thạo các khái niệm về việc chấm dứt việc phát thải chất dẻo trên thế giới và nhận thức được mối đe dọa chưa từng có trước đây đối với hành tinh chúng ta”.

Hiện tại chúng ta chỉ là những người ở “tạm”, xin đừng để con cháu phải trách cứ chúng ta vì không biết gìn giữ an lành cho môi trường chung!

Mai Thanh Truyết

Hội Bảo vệ Môi trường Việt Nam – VEPS

Houston – Cinco de Mayo – 2021

Phụ Lục:

ĐẠI DƯƠNG: BÃI RÁC CỦA NHÂN LOẠI

– Lê Quang –

Ông Yvan Bourgnon là một người đi biển gốc Thụy Sĩ. Trong hơn 20 năm hải hành khắp bốn biển ông thấy biển càng ngày càng có nhiều rác. Ước lượng năm 2015 cho thấy trung bình có khoảng 8 triệu tấn rác theo các dòng sông đổ ra biển. Phần lớn đến từ các quốc gia Châu Á.

Điều đáng quan tâm là tác hại của rác nhựa trong số rác thải ra biển. Rác nhựa gây nguy hại cho các động vật trên biển khi chúng nuốt phải, gây ô nhiễm cho hệ sinh thái của biển.

Các con số thống kê về rác nhựa cho thấy một tình trạng đáng lo ngại. 33% lượng nhựa sản xuất trên thế giới chỉ dùng có một lần rồi bỏ. 85% lượng nhựa trên thế giới không được tái chế. 20 con sông lớn nhất ở Châu Á thải ra 60% rác nhựa trên biển.

Ông Bourgnon là một trong những người có nỗ lực để giải quyết tình trạng rác trên biển. Ông thành lập tổ chức phi lợi nhuận “The SeaCleaners” (Dọn sạch biển) vào năm 2016. Tổ chức quy tụ các kỹ sư, chuyên viên, nghiên cứu gia, các phòng thí nghiệm, các đối tác để tìm giải pháp.

Giải pháp được đưa ra là một chiếc thuyền buồm chạy bằng năng lượng tái tạo để đi hốt rác trên biến và xử lý rác ngay trên thuyền. Thuyền dài 56 mét, chạy bằng điện tạo ra từ hai quạt gió, các panô mặt trời. Thuyền mang tên “Manta” sẽ tập trung vào vùng ven biển quanh 10 con sông gây ô nhiễm nhiều nhất.

Dàn lưới ở đuôi thuyền sẽ lùa, hốt rác vào lưới. Trung bình mỗi tiếng đồng hồ có thể hốt 3 tấn rác. Rác sau đó sẽ được xử lý ngay trên thuyền. Rác kim loại, thủy tinh sẽ được đưa vào lại bờ để tái chế. Rác hữu cơ thì trả lại cho biển. Rác nhựa sẽ được biến thành “syngas” (khí đốt nhân tạo) để làm năng lượng. Dự tính là thuyền Manta sẽ hốt 10 ngàn tấn rác mỗi năm.

Chiếc thuyền đầu tiên sẽ được xây dựng xong vào năm 2024 và đi vào hoạt động thử nghiệm năm 2025. Nếu tốt đẹp, tổ chức The SeaCleaners mong muốn sẽ có hàng trăm chiếc thuyền Manta để làm sạch biển.

Nếu so số lượng rác thải ra sông, ra biển hàng năm thì lượng rác mà đoàn thuyền Manta thu thập cũng chưa thấm vào đâu. Ngoài những giải pháp hốt rác trên biển ra, chúng ta cần phải gầy dựng ý thức của người dân không xả rác ra sông, ra biển. Cần phải đẩy mạnh việc tái chế rác, nhất là rác nhựa. Nếu không thì các đại dương sẽ dần dà trở thành bãi rác của nhân loại.




CÂU CHUYỆN MỘT DÒNG SÔNG – Mai Thanh Truyết

Câu Chuyện Một Dòng Sông

Xin thưa ngay, tựa đề của loạt bài viết dưới đây là “Câu chuyện một dòng sông” không giống như “Câu chuyện dòng sông” của Hermann Hesse nói về của cuộc đời của Đức Phật qua ba giai đoạn khác nhau. Cũng không phải là “Dòng sông định mệnh” của Doãn Quốc Sĩ nói về anh chàng Thiệu với dòng sông Đuống êm đềm, nhưng rốt cuộc phải rời xa để vô Nam vì cộng sản…

Mà câu chuyện của dòng sông ở đây là “Dòng sông Mekong” với những nghiệt ngã hiện tại do tham vọng cuồng điên của Trung Cộng xử dụng sông Mekong như một vũ khí nước nhằm áp đảo cả vùng Đông Nam Á Châu, trong đó, Việt Nam với Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) là nạn nhân chịu nhiều thiệt thòi và hậu quả khắc nghiệt nhứt.

Bài viết gồm ba Phần: – Phần I: Sông Mekong: Nỗi đau bất tận; – Phần II: Tình trạng hiện tại của sông Mekong; – Phần II: Những gì cần phải làm.

Sông Mekong: Nỗi đau bất tận – Phần I

Sông Mekong, con sông dài thứ 11 thế giới, cũng là con sông đa dạng sinh học thứ 2 thế giới. Được nuôi dưỡng bởi tuyết tan trên dãy Himalaya Tây Tạng và mưa gió mùa ở Đông Nam Á. Sông Mekong dài 4200 km là nơi sinh sống của hàng nghìn loài động thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng. Dòng sông chính và vô số phụ lưu của nó nuôi dưỡng và hỗ trợ hơn 100 triệu người từ Trung Hoa ở phía bắc đến Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cambodia, và cuối cùng là gần 20 triệu người sống ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ở miền Nam Việt Nam.

Nói về tên, Sông Mekong có những tên khác nhau khi chảy qua từng quốc gia một. Khi chảy qua Trung Hoa, Mekong có tên gọi là Lancang Jiang nghĩa là “Dòng sông hỗn loạn hay “cuồn cuộn” – Turbulent River”. Khi qua Lào, lại có tên Mae Nam Kongi; khi chảy xuyên Thái Lan, sông có tên Mae Kong tức Mother of Water. Sông chảy xuôi Nam xuyên qua thác Khone ngay biên giới Lào (Laos) và Cao Miên (Cambodia). Sông không có tên riêng ở Miên. Nhưng khi vào Việt Nam, sông lại chia thành hai nhánh Sông Tiền và Sông Hậu và  được gộp chung lại là Sông Cửu Long, để rồi chảy ra biển qua chín cửa: Tiểu – Đại – Ba Lai – Hàm Luông – Cổ Chiên – Cung Hầu – Định An – Tranh Đề (hay Trần Đề) – Ba Thắc (Bassac). Hiện tại, cửa Ba Lai đã được che lại làm cống ngăn nước mặn, và cửa Bassac bị lấp lại do phù sa dầy đặc.

Những tổ chức quốc tế về sông Mekong

Cho đến nay, có 4 tổ chức quốc tế liên quan đến sông Mekong và một Định ước LHQ quy định chung về những sông có dòng chảy xuyên qua nhiều quốc gia như sau:

  1. Mekong River Committee – MRC – Ủy ban Sông Mekong

Mục đích của Ủy ban là cùng nhau thương thảo và có sự đồng thuận trong bất cứ đề nghị hay dự án nào của mỗi thành viên liên quan đến dòng sông hay ảnh hưởng đến lưu vực hai bên sông. Dự án hay đề nghị sẽ bị hủy bỏ ngay tức khắc nếu có một thành viên phản đối (giống như 5 thành viên thường trực trong Hội đồng Bảo an LHQ). Ủy viên trong Ủy ban là các thành viên của các quốc gia có con sông Mekong chảy qua như: Trung Cộng, Miến Điện (Myanmar), Thái Lan (Thailand), Lào (Laos), Cao Miên (Cambodia), và Việt Nam. Ủy ban nầy bị giải tán từ năm 1995 vì Trung Cộng rút ra khỏi để tiến hành những đập thủy điện bậc thềm và đập chứa nước trên dòng chính của sông. Và con đập gây ra nguyên nhân trực tiếp cho sự hạn hán và nhiễm mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long có tên là Cảnh Hồng – Jinhong nằm trên dòng chính sông Mêkong và cách biên giới Vân Nam – Lào khoảng 60Km.

  • Mekong River Commission – MRC – Ủy hội Sông Mekong

Ủy hội Mekong được thành lập vào ngày 5 tháng 4, 1995 với mục đích:” Hiệp định này đã đưa bốn quốc gia lại với nhau nhằm thúc đẩy và phối hợp quản lý và phát triển bền vững nguồn nước và các nguồn tài nguyên liên quan vì lợi ích chung của các quốc gia và hạnh phúc của người dân”.

Hiện tại, chỉ còn lại bốn thành viên là Thái – Lào – Miên – Việt cùng hợp tác với nhau, trao đổi tin tức qua hai trạm quan trắc ở Tân Châu và Châu Đốc như dòng chảy đo đạc hàng tuần, các thông số hóa học và vật lý như độ mặn (Sodium), độ pH, độ đục (turbidity), vi khuẩn coliform. Riêng trạm quan trắc nằm bên kia biên giới tỉnh Vân Nam do TC quản lý không chịu trao đổi các tin tức đo đạc kể trên tại đây cho dù phải chịu nhiều áp lực quốc tế về phương diện nầy.

  • Lower Mekong Initiative – LMI – Sáng kiến Hạ lưu Sông MeKong

Sáng kiến Hạ nguồn Mekong (LMI) được thành lập để hưởng ứng cuộc họp ngày 23 tháng 7 năm 2009 giữa Ngoại trưởng Hillary Clinton và Bộ trưởng Ngoại giao các nước Hạ nguồn Mekong – Cambodia, Lào, Thái Lan và Việt Nam – tại Phuket, Thái Lan.

Sáng kiến ​​Hạ nguồn sông Mekong (LMI) là sự hợp tác kéo dài một thập kỷ giữa Hoa Kỳ, Cambodia, Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững trong khu vực. Sáng kiến ​​hỗ trợ sự hợp tác giữa các nước thành viên thông qua các chương trình giải quyết những thách thức chung trong khu vực. LMI được hỗ trợ thông qua hai trụ cột liên ngành: Trụ cột Nexus (Nexus Pillar) bao gồm môi trường, nước, năng lượng và thực phẩm, và Trụ cột kết nối (Connectivity Pillar) và Trụ cột phát triển con người (Human Development) bao gồm giáo dục, sức khỏe, trao quyền cho phụ nữ (women’s empowerment) và hội nhập kinh tế.

Thông qua lịch sử gắn bó lâu dài của Hoa Kỳ với các quốc gia Đông Nam Á, ngày càng có nhiều nhận thức về các vấn đề xuyên biên giới quốc gia. Các quốc gia thuộc tiểu vùng hạ lưu sông Mekong có nhiều mối quan tâm chung khác nhau, bao gồm quản lý tài nguyên nước xuyên biên giới (quản lý tài nguyên nước vùng biên giới), các bệnh truyền nhiễm như sốt xuất huyết và đại dịch cúm, và tính dễ bị tổn thương trước các tác động tiêu cực của khí hậu thay đổi. LMI tìm cách hỗ trợ sự hiểu biết chung của khu vực về những vấn đề này và tạo điều kiện cho các phản ứng phối hợp cho có hiệu quả hơn.

USAID hỗ trợ LMI thông qua chương trình Kết nối Mekong thông qua Giáo dục và Đào tạo, một khoản đầu tư đặc biệt vào phát triển lực lượng lao động theo sáng kiến ​​này.

  • Lancang-Mekong River Cooperation – Hợp tác Sông Lancang – Mekong

Hợp tác Sông Lancang – Mekong ra đời dưới sự đề xướng và tài trợ của TC ngày 17 tháng 3 năm 2016. Hợp tác sông Lancang-Mekong đã được thêm vào … sáu quốc gia nguyên thủy của Mekong River Committee ngay từ lúc ban đầu cho thấy sự phối hợp hiệu quả, hợp tác khẩn cấp …

Thủ tướng TC Lý Khắc Cường tham dự Cuộc họp các nhà lãnh đạo Hợp tác Lancang-Mekong lần thứ ba qua liên kết video tại Đại lễ đường Nhân dân ở Bắc Kinh, thủ đô TC, ngày 24 tháng 8 năm 2020. Cuộc họp do Lý Khắc Cường và Bộ trưởng Thongloun đồng chủ trì Sisoulith của Lào, và có sự tham dự của Thủ tướng Hun Sen của Cambodia, Tổng thống U Win Myint của Myanmar, Thủ tướng Prayuth Chan-ocha của Thái Lan và Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc của Việt Nam.

Trong cuộc họp lần thứ ba của các nhà lãnh đạo Hợp tác Lancang-Mekong (LMC) vạch ra toàn diện kế hoạch hợp tác trong tương lai giữa các thành viên LMC dĩ nhiên dưới sự điều động của TC. TT TC Lý Khắc Cường đưa ra một loạt đề nghị nhằm thúc đẩy hợp tác Lancang-Mekong trong các lĩnh vực như tài nguyên nước, kết nối và các nỗ lực chống đại dịch toàn cầu.

Với tư cách là một đối tác có trách nhiệm, TC chia xẻ dữ liệu thủy văn trên sông Lancang kịp thời và minh bạch hơn với các nước hạ lưu, đồng thời thực hiện hợp tác khẩn cấp để ứng phó với lũ lụt và hạn hán. Xin nhấn mạnh ở đây điều nầy đã được ghi trong Ủy ban Sông Mekong, nhưng TC đã không thực thi! Bây giờ lại hứa! Và cho đến nay (2021), TC vẫn chưa công bố kết quả đo đạc hàng tuần ở trạm thủy văn nằm ngay biên giới TC-Lào, mặc dù các thành viên của UH Mêkong yêu cầu nhiều lần.

Trong năm 2016, 2019, và 2020 các nước Mekong đã phải hứng chịu nhiều đợt hạn hán nghiêm trọng. TC hứa (lại hứa!) tăng cường vận hành khoa học các hồ chứa trên sông Lancang để giảm hạn hán, điều này đã được chính phủ các nước Mekong, trong đó có Lào, cũng như cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Phải chăng vì bị áp lực của TC, dù bị thiệt hại nặng nề do việc đóng đập Jinhong trong các năm kể trên, CSBV vẫn im hơi lâng tiếng?

  • UN Convention on the Law of the Non-navigational Uses of International Watercourses 1997 – Công ước LHQ về Luật Xử dụng Phi Hàng hải ở các nguồn Nước quốc tế

Công ước LHQ nầy quy định những Điều khoản xử dụng nguồn nước sông Mekong như các Điều khoản sau đây:

  • Điều 3-Khoản 4 ” Khi một thỏa thuận về nguồn nước được ký kết giữa hai hoặc nhiều Quốc gia có nguồn nước, từ đó sẽ xác định các vùng nước ghi trong ký kết. Một thỏa thuận như vậy có thể được ký kết đối với toàn thể nguồn nước quốc tế hoặc bất kỳ phần nào của nó hoặc một dự án, chương trình hoặc việc xử dụng cụ thể ngoại trừ trong chừng mực thỏa thuận có ảnh hưởng bất lợi, ở một mức độ đáng kể, việc sử dụng bởi một hoặc nhiều Quốc gia có nguồn nước khác của nước của nguồn nước, mà không có sự đồng ý rõ ràng của họ”.
  • Điều 7-Khoản 1: Bổn phận không gây ra thiệt hại đáng kể –  Các Quốc gia có nguồn nước, khi xử dụng nguồn nước quốc tế trong lãnh thổ của mình, PHẢI thực hiện tất cả các biện pháp thích hợp để ngăn chặn việc gây ra thiệt hại đáng kể cho các Quốc gia có nguồn nước khác.
  • Điều 8-Khoản 1: Trao đổi dữ liệu và thông tin thường xuyên – Các Quốc gia có nguồn nước PHẢI thường xuyên trao đổi dữ liệu và thông tin sẵn có về tình trạng của nguồn nước, đặc biệt là về bản chất thủy văn, khí tượng, địa chất thủy văn và sinh thái và liên quan đến chất lượng nước cũng như liên quan dự báo. (Điều nầy TC chưa bao giờ thực hiện).
  • Và Điều 33 -Khoản 1: Giải quyết tranh chấp – Trong trường hợp có tranh chấp giữa hai hoặc nhiều bên liên quan đến việc giải thích hoặc áp dụng Công ước này, các bên liên quan, trong trường hợp không có thỏa thuận Điều 13 có thể áp dụng giữa họ, tìm cách giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình phù hợp với các quy định Khoản 2:” Nếu các bên liên quan không thể đạt được thỏa thuận bằng thương lượng do một trong số họ yêu cầu, họ có thể cùng tìm kiếm văn phòng tốt của, hoặc yêu cầu hòa giải hoặc hòa giải bởi bên thứ ba, hoặc xử dụng, nếu thích hợp, của bất kỳ tổ chức nguồn nước chung nào có thể đã được thành lập bởi họ hoặc đồng ý gửi tranh chấp ra trọng tài hoặc Tòa án Công lý Quốc tế”.

Tóm lại, qua 5 tổ chức quốc tế về sông Mekong, chúng ta nhận thấy thái độ và sự hợp tác của TC hoàn toàn dựa trên quyền lợi của nước nầy, và phủ nhận mọi trách nhiệm trong việc khai thác dòng sông Mekong chảy xuyên qua đất nước của họ như:

•           TC đã đứng ngoài Ủy hội Mekong dù quốc gia nầy phải có bổn phận và trách nhiệm vì dòng sông Mêkong chảy xuyên đất nước họ hàng ngàn cây số;

•           TC dựng ra Hợp tác Sông Lancang – Mekong chỉ nhằm mục đích kết hợp về kinh tế lưu vực theo ý kiến của họ mà thôi, hoàn toàn phủ nhận trách nhiệm đã xây dựng các đập bậc thềm ngay trên dòng chính, trái với quy định của công ước LHQ năm 1997.

Từ hai lý do trên, chúng ta có thể kết luận rằng Trung Cộng là tác nhân chính trong việc tàn phá môi trường và hệ sinh thái của sông Mêkong và phải chịu sự tài phán của hai cơ quan quốc tế dưới đây:

•           Qua những quy định trong Công ước LHQ 1997, chúng ta có thể kiện TC ra Tòa án Công lý Quốc tế – The International Court of Justice qua các Điều khoản:-  Điều 3-Khoản 4; – Điều 7-Khoản 1; – Điều 8-Khoản 1; và – Điều 33 -Khoản 1 như đã nói ở phần trên.

•           Về Tòa án Hình sự Quốc tế – The International Criminal Court. Vào năm 1990 khi  ICC – Tòa án Hình sự Quốc tế thường trực đầu tiên được thành lập trên thế giới. Với tư cách là tòa án cuối cùng, ICC được thành lập không phải để thay thế các tòa án quốc gia mà nhằm bổ túc cho các tòa án đó, tạo ra một tòa án toàn cầu sẽ xét xử những tội ác nghiêm trọng nhất mà cộng đồng quốc tế quan tâm trong đó ICC nâng mức độ tàn phá môi trường lên ngang với tội ác diệt chủng nhằm đưa ra một Bộ luật hủy diệt môi trường và hệ sinh thái là truy tố các tội phạm về môi trường nằm ngoài khu vực tài phán quốc gia. Dựa theo tiêu chuẩn trên của ICC, đối với những vi phạm qua việc khai thác dòng sông Mêkong bất hợp pháp, TC có thể bị kết án về “tội diệt chủng qua việc hủy hoại môi trường” (ecocide) sông Mêkong ảnh hưởng lên hàng trăm triệu người dân sống dọc theo lưu vực sông, trong đó có trên 17 triệu người Việt ở Đồng Bằng Sông Cửu Long.

Xin mời xem tiếp Tình trạng hiện tại của sông Mekong – Phần II

Mai Thanh Truyết

Viết trong những ngày Quốc hận Tháng tư 2021

****

Câu chuyện một dòng sông – Phần II

Tình trạng sông Mekong hiện tại

  1. Trong quá khứ
  • Việc phá rừng trên dòng chính ở thượng nguồn làm đất bị xói mòn hai bên bờ sông, do đó không giữ nước lại trong mùa nước lớn (từ tháng 6 đến tháng 10) để rồi điều tiết trong mùa khô (tháng 12 đến tháng 3) hạn chế một phần nào việc thiếu nước cho đồng bằng ở thời điểm nầy. Rừng là một thảm thực vật thiên nhiên lớn nhứt và hữu hiệu nhứt trong nhiệm vụ điều tiết dòng chảy của sông Mêkong. Rừng qua rễ cây và lớp đất thịt bao phủ sẽ hấp thụ và giữ nước trong mùa mưa, và trong mùa khô sẽ điều tiết và cung cấp nước cho hạ nguồn để tiếp tay với dòng chánh ngăn chặn nước mặn xâm nhập sâu vào ĐBSCL. Đây là một đặc ân của thiên nhiên. Theo thống kê, trước Đệ nhị thế chiến, diện tích rừng nguyên sinh của Việt Nam chiếm 43% tổng diện tích, nhưng đến năm 1995, rừng chỉ còn lại 28%, nghĩa là mất trắng 55.000 Km2. Bắt đầu sau đó, với sự trợ giúp của Liên hiệp quốc, việc trồng rừng mới được bắt đầu; tuy nhiên, tính đến năm 2005, tỷ lệ rừng tăng lên đến 32%, trong đó những vùng trồng cao su, trà, cà phê… vẫn được tính toán trong việc “trồng rừng” do đó con số mới tăng. Nhưng thực sự, việc phá rừng vẫn tiếp tục gia tăng với nồng độ phi mã, tính đến năm 2005, rừng nguyên sinh (rừng già) ở Việt Nam chỉ còn 8%.
  • Việc phá rừng tràm, rừng đước ở vùng ngập mặn: Tại vùng ĐBSCL, rừng ngập mặn chiếm khoảng 300.000 Km² bao gồm các tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre, Cần Giờ. Nhưng sau hơn 15 năm khai thác việc nuôi tôm, diện tích rừng hiện nay chỉ còn khoảng 200.000 Km², và phần diện tích mất đi đều bị bỏ hoang vì vùng đất nầy bị ô nhiễm sau vài mùa tôm. Chỉ tính riêng cho vùng Cà Mau, trước 1975, rừng ngập mặn chiếm độ 200.000 Km2, mà nay, chỉ còn độ 70.000 km² mà thôi.

Rừng tràm, rừng đước bao bọc tạo thành một vùng ưu đãi của thiên nhiên nhằm:

–           Giữ chân thảm phù sa bồi thêm cho mũi Cà Mau hàng năm trên 1km trong quá khứ (hiện nay, vì thiếu rừng bờ biển vùng nầy ngày càng bị xói mòn ước tính trên dưới 0,5 km/hàng năm); 

–           Vừa ngăn chặn sóng gió, bão nhiệt đới hàng năm;

–           Là vùng trú ẩn và sinh sản cho tôm cá trong thiên nhiên;

–           Rừng ngập mặn cũng là một vùng đệm (buffer) để hạn chế việc nhiễm phèn sulphate và giảm thiểu việc ngập mặn trong mùa khô. (Vào tháng 3/2016, lưu lượng sông Cửu Long chì còn 800 m3/giây ở Tân Châu, do đó, nước mặn đã vào sâu hơn 100Km).

Một khi những nhiệm vụ bảo vệ ĐBSCL do thiên nhiên đã mất đi, nguy cơ làm cho vựa lúa của một vùng rộng lớn ngày càng giảm vừa diện tích, và vừa giảm năng suất. Nhiệm vụ của rừng ngập mặn rất quan trọng;

  • Việc khai thác cát

Hàng năm, hàng chục triệu mét khối cát được khai thác từ hạ lưu sông Mekong, chảy qua Lào, Thái Lan, Cambodia và Việt Nam.

Một nghiên cứu của Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) cho thấy hầu hết các hoạt động khai thác đang diễn ra ở Cambodia và Việt Nam.

Lưu vực ĐBSCL, có hơn 150 mỏ cát, trải rộng trên 8.000 ha (80 km2) bề mặt sông, đã được cấp phép ở 13 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.

Theo ước tính cho việc phát triển ở khu vực nầy, phải cần một tỷ mét khối (35,3 tỷ feet khối) cát vào năm 2020 để đáp ứng nhu cầu vật liệu xây dựng. Có vài nguồn tin cho biết CSBV ồ ạt khai thác cát trong khoảng 10 năm vừa qua nhắm vào việc cung cấp cát cho TC để …bồi đắp các đảo ở Hoàng Sa và Trường Sa(?)

Tứ giác Long Xuyên

Tứ giác Long Xuyên là một vùng đất hình tứ giác thuộc Vùng đồng bằng sông Cửu Long nằm trên địa phận ba tỉnh thành Kiên Giang, An Giang và Cần Thơ. Bốn cạnh của tứ giác Long Xuyên là biên giới Việt Nam – Campuchia, vịnh Thái Lan, kênh Cái Sắn và sông Bassac (sông Hậu). Bốn đỉnh góc của tứ giác này ứng với bốn thành phố: Châu Đốc, Long Xuyên, Rạch Giá và Hà Tiên.

Vùng Tứ giác Long Xuyên có diện tích tự nhiên khoảng 489.000 hecta. Địa hình trũng, tương đối bằng phẳng với độ cao tuyệt đối từ 0,4 đến 2 mét.

Mùa lũ (nước nổi) (từ tháng bảy đến tháng mười hai), vùng này thường ngập trong nước với độ sâu từ 0,5 đến 2,5 mét. Mùa khô, vùng này thường khô hạn và bị nước mặn xâm nhập. Chương trình thủy lợi thoát lũ qua vịnh Thái Lan của Chính phủ Việt Nam đã phần nào giải quyết tình trạng ngập lũ và đất bị nhiễm mặn của vùng này.

  • Việc xây dựng đê bao: Xã hội chủ nghĩa Việt Nam mang chính sách đê bao vào ứng dụng trong việc làm tăng diện tích trồng lúa, trong việc biến “sỏi đá thành cơm”, cho nên người dân ĐBSCL phải gánh chịu hậu quả ngày hôm nay là lũ lụt xảy ra thường xuyên hơn và không có chu kỳ tương đối cố định như trước kia nữa. Nguyên do là khi dòng chảy từ Mékong xuống khi mùa nước bắt đầu lên cao ở Tân Châu và Châu Đốc, nước sông hoàn toàn di chuyển ra biển, đợi đến khi nước lớn hơn nữa mới bắt đầu làm đầy hai vùng Tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười.

Nhưng hiện tại, hiện tượng nghịch lý đang xảy ra là, với đê bao, dòng nước của Sông Cửu Long chảy thẳng vào hai vùng trên ngay khi chưa tới mùa nước lớn để khai thác nông nghiệp; do đó, khi mùa nước lớn (nước nổi) đến, một lượng nước khổng lồ sẽ chảy vào hai vùng đã ngập nước từ trước. Hiện tượng ngập lụt xảy ra là vì thế.

Cống Trà Sư xả lũ, cung cấp phù sa, góp phần tháo chua, rửa mặn, vệ sinh đồng ruộng cho vùng Tứ giác Long Xuyên.

Qua nạn lụt vào năm 2000, chúng ta thấy hậu quả của đê bao rõ ràng nhứt trong mùa nước nổi tức mùa lụt. Thiết nghĩ việc xây đê bao chính là nguyên nhân quan trọng nhứt so với những nguyên nhân kể trên. Vì sao? Vụ lụt lớn nầy ở ĐBSCL kéo dài qua tận tháng giêng năm 2001 tại nhiều vùng từ Châu đốc và một vài nơi ở khu Tứ Giác Long Xuyên. Lý do là mỗi địa phương quyết định xây dựng đê bao để che chắn cho khu vực. Thành thử khi nước xuống, nhiều nơi nước còn tồn đọng vì đê bao ngăn chận…làm cho nước không có lối thoát. 

Việc xây dựng đê bao để chuyển vận nguồn nước cho nông nghiệp hoặc chống lụt là một công trình nghiên cứu quan trọng, cần phải mất nhiều năm để tính toán lưu lượng nước cần phải chuyển hướng, đâu phải có thể do quyết định của lãnh đạo địa phương ra lịnh đắp đê chung quanh địa phận xã để tránh ngập lụt và, dĩ nhiên hậu quả tất nhiên là các xã chung quanh phải gánh chịu.

Thí dụ điển hình thứ hai về tại hại của đê bao trong mùa khô tháng 4/2010, một số vùng miền Bắc tỉnh Hậu Giang, vì vấn nạn đê bao, nguồn nước không thể thông thương vào được. Do đó, một số hệ lụy đang xảy ra cho vùng nầy từ mấy năm sau đó như:

–           Vì không có sự luân lưu của nguồn nước cho nên đất ngày càng chai mòn vì dư lượng của phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, và nhứt là phù sa không vào được hàng năm như trước kia, vì vậy năng suất lúa không còn như xưa nữa.

–           Đê bao hạn chế nguồn nước, cho nên nhiều nơi nông dân chỉ trồng lúa cho gia đình, phần thời vụ còn lại thì phải trồng hoa màu để kiếm sống.

–           Thời gian thiếu nước kéo dài ra, do đó thu nhập của nông dân ngày càng giảm sút.

Tóm lại, vấn đề đê bao ở vùng ĐBSCL cần phải nghiên cứu lại như một số đề nghị của các chuyên gia nông nghiệp và thổ nhưỡng hiện đang làm việc ở hai Đại học Hậu Giang và Cần Thơ.

Đồng Tháp Mười là tên phần trong lãnh thổ Việt Nam của một vùng đất ngập nước của Đồng bằng sông Cửu Long, có diện tích 697.000 hecta, trải rộng trên ba tỉnh Long An, Tiền Giang và Đồng Tháp trong đó Long An chiếm hơn phân nửa, thủ phủ vùng là thị xã Kiến Tường.

Đồng Tháp Mười là một đồng lụt kín được bao quanh bởi các giồng đất cao ven biên giới Việt Nam-Campuchia, đê tự nhiên dọc sông Tiền và giồng biển cổ dọc theo  quốc lộ 1A (Tân Hiệp – Nhị Quý, Cai Lậy) và chặn lại bởi sông Vàm Cỏ Đông (Long An).

Đồng Tháp Mười là một cánh đồng rộng lớn, hằng năm bị ngập lụt lối bốn, năm tháng khi nước sông Cửu Long dâng cao. Biển Hồ Tonlé Sap ở Campuchia và Đồng Tháp Mười ở Việt Nam là hai nơi lưu trữ nước thiên nhiên, nên đến mùa nước nổi, sông Cửu Long từ từ dâng cao, sau đó nước sẽ lần lần rút ra biển.

Tuy nhiên, trong mùa đông xuân năm 2016, do dòng chảy rất thấp nên lượng phù sa bồi đắp cho ĐBSCL rất thấp, làm ảnh hưởng đến vụ lúa Đông Xuân. Tính đến hiện tại, số thiệt hại lên đến hơn 200 trăm ngàn hecta lúa bị khô cằn như sự việc đã nêu trên. Bên cạnh đó tình trạng xâm nhập mặn sẽ tăng cao. Dự báo, theo thời gian, hiện tượng ngập mặn đang và sẽ diễn ra sớm hơn, trầm trọng hơn như đã nói ở phần trên. Đợt hạn hán lịch sử đã khiến cho người dân miền Tây trở nên khốn đốn. Theo nhiều chuyên gia, với tốc độ xâm nhập mặn như hiện nay sẽ khiến nông nghiệp tại nơi này bị ảnh hưởng nặng nề trong vòng 3 năm nữa. Và hiện tượng nầy đã xảy ra cho mùa Đông Xuân năm 2020 và 2021.

Cá ở hồ Tonle Sap, Khu dự trữ sinh thái của UNESCO và sông Mekong là nguồn cung cấp 80% protein cho hàng triệu người Campuchia và Việt Nam sống trong vùng. Đồng bằng, “vựa lúa” của Việt Nam và cây trồng nơi đây đang nuôi sống người dân nhiều nước, đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới.

  • Việc “cắt xé dòng Cửu Long” qua dự án Dự án Luồng: Nhằm chuyển dòng nước chảy ra Cửa Trần Đề (Tranh Đề), xây dựng kinh Tắt cho tàu biển có trọng tải lớn vào sông Hậu. Chủ đầu tư là Cục Hàng hải Việt Nam. Tổng dự toán trong Báo cáo Nghiên cứu tiền khả thi là 3148,5 tỷ đồng. Tổng kinh phí đầu tư được duyệt là 10319,2 tỷ đồng. Cửa Kênh Tắt là một thành phần của Dự án Luồng cho tàu biển có trọng tải lớn vào sông Hậu. Dự án này là một câu chuyện dài, khởi đầu năm 2005 đến nay vẫn còn dang dở. Mục tiêu của dự án là:
  • Tàu có trọng tải đến 20.000 tấn sẽ vào đến cảng biển Cần Thơ;  
  • Từ đó, sẽ không phải chi cho nạo vét luồng vì bồi lắng không đáng kể.

Luồng hiện nay gồm có (1) một đoạn luồng sông Hậu trước khi đến Kênh Quan Chánh Bố tại cửa Định An dài 16,2 km; (2) 20 km luồng theo Kênh Quan Chánh Bố kể từ đây: (3) 8,7 km Kênh Tắt đào mới; (4) cửa Kênh Tắt trổ ra Biển Đông và một luồng biển đào tiếp ra đến phao số 0 dài 7,7 km. 16 năm qua rồi, dự án vẫn còn dang dở! Và hai cửa Định An, Trần Đề (Tranh Đề) đang dần dần bị thu hẹp…

  • Kênh Tắt được đào mới hoàn toàn, cắt đôi huyện Duyên Hải, cắt đứt QL 53 và ĐT 931, thông ra Biển Đông ở một vị trí mà Cục Hàng Hải Việt Nam được các công ty tư vấn cho là ít bồi lắng nhất dọc theo bờ biển của huyện Duyên Hải, từ xã Trường Long Hòa đến xã Đông Hải. Nơi trổ ra là xóm Mù U, thuộc xã Dân Thành.
  • Đáy Kênh Tắt rộng 85 mét. Bề rộng mặt kênh hiện nay rộng hơn tính toán ban đầu do mái bị sạt lở vì nền đất yếu. Đáy của luồng biển mở rộng dần từ 85 ra 150 mét.

Việc cắt đất đào kinh để tẻ nước sẽ làm đảo lộn dòng chảy của sông Hậu, từ đó có thể hủy hoại cả hệ sinh thái ở hai bên dòng sông và có nguy cơ gây nhiều thiệt hại cho việc canh tác nông nghiệp. Nên nhớ, TC đã cắt đất đào kinh dẫn nước sông Hoàng Hà ở phía Bắc nhằm canh tác vùng Mãn Châu và chính hành động nầy đã chận dòng chảy của sông và sông Hoàng Hà không còn chảy ra biển Bắc Trung Hoa nữa. Và tại Hoa Kỳ, dòng sông Colorado cũng không còn chảy vào vịnh Mexico nữa nữa vì việc chuyển nguồn nước cung cấp cho miền Nam California. Hai hệ lụy hiện tai trước mắt cần cho nhà cầm quyền CSBV đáng suy gẫm vì: – Cửa Bassac đã bị bít kín từ hơn 10 năm qua, – Và hai của Tranh Đề và Định An có khả năng cũng bị bít lại. Và sau cùng dòng Hậu giang cũng sẽ không còn thông thương với biển cả nữa…

  • Và hiện tại

Nhưng ngày nay, Biển Hồ và khu vực đồng bằng sông Cửu Long, và tất cả những người trú ngụ trong lưu vực sông Mekong đang bị đe dọa bởi sự phát triển các đập thủy điện  trên thượng nguồn. Các mối đe dọa mới lớn hơn nhiều so với bất kỳ trận hạn hán hoặc lũ lụt nào trong lịch sử tồn tại của chính con sông.

Các dự án chuyển hướng và phát triển nguồn nước dọc theo sông Cửu Long và các nhánh của sông không chỉ đe dọa đến đời sống, nghề cá và nông nghiệp của cư dân Đồng bằng mà còn đối với hệ sinh thái sông và Đồng bằng. Các nhà khoa học và kỹ sư trên khắp thế giới đang lo ngại về sự tàn phá môi trường đối với Đồng bằng do các dự án phát triển ở xa thượng nguồn gây ra. Các dự án này bao gồm phát triển thủy điện quy mô lớn ở Vân Nam thuộc TC tức đập Jinghong, và Lào, đập Xayaburi cùng với các dự án chuyển dòng nước sông Mekong lớn do Thái Lan đề xuất.

Tuy nhiên, chi phí kinh tế và hậu quả môi trường của các dự án đang phải gánh chịu nặng nề nhất bởi những người sống và canh tác xa hơn ở hạ lưu Đồng bằng sông Cửu Long. Những người này không có tiếng nói trong quá trình ra quyết định dự án, không thu được lợi ích nào từ các dự án này và chịu gánh nặng lớn nhất về tác động của họ.

Chuông báo động hiện đang vang lên ở Biển Hồ và Đồng bằng sông Cửu Long (Dân số theo thống kê 2019 ở ĐBSCL là 17.273.630 sống trên một diện tích 40.547 Km2. Mực nước tại trạm quan trắc Tân Châu, vào cuối mùa mưa năm 2010, đã xuống mức kỷ lục 95 năm. Cùng với việc giảm mạnh mực nước sông Mekong là sản lượng khai thác đánh bắt thủy sản cũng giảm tương tự và làm mất đi lượng phù sa sông giàu dinh dưỡng của sông Mekong vốn cần thiết cho canh tác lúa và rất quan trọng để kiểm soát xói mòn. Mực nước ngầm ở đồng bằng hiện đang giảm xuống do thiếu nước sông có sẵn để nạp lại tầng chứa nước. Nước mặn đã xâm thực tới 90 km vào đồng bằng sông Cửu Long ở nhiều nơi (Nhiễm mặn đo đạc ngày 10/3/2021: – Vàm Cỏ Đông và Tây (90Km) – Cửa Tiểu, Cửa Đại (60Km) – Cổ Chiên (75Km) – Sông Hậu (65Km) – Sông Cái lớn (55Km)), đe dọa làm ô nhiễm nguồn cung cấp nước ngầm hiện có và khiến hàng triệu ha đất canh tác không thể sản xuất).

Các dự án chuyển dòng nước và đập thủy điện hiện có và được đề nghị sẽ làm thay đổi vĩnh viễn chu trình thủy văn của lưu vực sông Mekong. Ở thượng nguồn, hàng nghìn km vuông rừng chung quanh đập có thể bị ngập do các hồ chứa. Ở hạ lưu, đất trồng trọt của vùng ngập lũ có thể bị thiếu nước và phù sa màu mỡ do lũ lụt hàng năm cung cấp. Tính từ năm 2010 cho đến 2020, có khoảng 1,3 triệu người đã phải di dời vì hạn hán và nhiễm mặn (tỷ suất di cư 39.9% năm 2019). Mực nước ở hai trạm quan trắc Tân Châu và Châu Đốc đo đạc ngày 1/3/2021 lần lượt là 1,45 m và 1,60 m so với trên dưới 2,50 m vào năm 2010!

  • Thí dụ điển hình: Tỉnh Bến Tre

Qua bản đồ độ mặn ở tỉnh Bến Tre vào đầu tháng 4/2021, và 3 bản tin dự báo khí tượng của Đài Khí tượng Thủy văn Tỉnh Bến Tre dưới đây, chúng ta có thể hình dung một cách rõ nét tình hình hạn hán và ngập mặn ở tỉnh nầy, một tỉnh miền duyên hải nằm trên dòng chảy của sông Tiền. Mùa mưa thường bắt đầu vào những ngày cuối tháng ba, nhưng những cơn mưa trên cũng không thể nào “đuổi mặn” ra biển cũng như “tẩy bớt mặn” trên các đồng ruộng nơi đây. Hiện tượng nầy cũng tương tự như các tỉnh ven biển như Gò Công, Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau v.v…Việc nhiễm mặn, theo bảng dưới đây cho thấy, tháng ba vẫn là tháng nghiệt ngã nhứt cho vụ mùa lúa Đông Xuân hàng năm, từ đó kết quả của ba mùa khô tháng ba năm 2016, 2020, và 2021 đưa đến hậu quả là trên 200.000 mẩu lúa và hoa màu bị chết trắng, chưa kể các cây trồng lâu năm như sầu riêng, măng cụt, chôm chôm cũng bị đốn bỏ …làm củi chụm lửa!

Tóm lại, chúng ta thấy rằng, về độ mặn, nếu lấy định mức mặn 4 phần ngàn là điểm tới hạn (threshold limit) của cây lúa có thể chịu đựng và tồn tại dù cho thu hoạch rất thấp, thì nước mặn từ biển Đông đã vào sâu hơn 80 Km. Nhưng nếu lấy định mức mặn 0.5 phần ngàn cho nước uống thì mặn đã chạm đến hầu hết các nhà máy nước toàn vùng. VÀ một ngày nào đó không xa nữa, nước mặn sẽ lên tới các nhà máy nước ở Châu Đốc và Tân Châu, để rồi từ từ lên tới Nam Vang. Sự việc nông dân vùng Châu Đốc đánh bắt được cá thu nước mặn tại đây vừa qua trong tháng 4/2021 không phải là một điều đáng mừng, mà chính là một cảnh báo cho sự xâm nhập mặn trong một tương lai không xa!

Và sau cùng, cũng báo hiệu cho tương lai nông nghiệp của các vùng trên sẽ ngày càng tệ hại thêm lên:

•           Đất càng ngày càng thiếu dinh dưỡng tự nhiên;

•           Đất sẽ bị khô cằn ra (aridness);

•           Đất sẽ bị sa mạc hóa (desertification);

•           Và cuối cùng đất sẽ “chết” hẳn, không còn được khai thác nữa!

Chúng ta sẽ hình dung tương lai của những cư dân sống ở các vùng đất kể trên như thế nào!

Và cũng không ngạc nhiên khi tình trạng di dân ngày càng tăng thêm, ước tính trên 1,1 triệu trong khoảng thời gian từ 2010 cho đến 2019. TS Huỳnh Thế Du là giảng viên cao cấp của Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright nhận định:”Quá trình di dân ở đồng bằng sông Cửu Long hiện nay là hợp tự nhiên. 10 năm gần đây, hơn 1,1 triệu dân ở đây đã di dân đi nơi khác (chính yếu là vùng TPHCM). Trung bình mỗi năm 100 nghìn người rởi khỏi kênh rạch miền Tây để tìm cơ hội đổi đời mới, hoàn toàn đáng ủng hộ. Đó là một điều tốt, chứ không có gì bất lợi”. Nhưng đối với văn quá và thói quen của người nông dân, có ai muốn “tha phương cầu thực” nếu không là một sự bắt buộc.

Tương lai hết sức mù mịt cho những người con Việt chất phác sống ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, vùng đã từng được mệnh danh là “vựa lúa của Việt Nam” mang vị trí xuất cảng gạo Việt Nam đứng vào hạng thứ hai trên thế giới.

  • Lời cuối cay đắng cho một dòng sông

Mặc dù, trong nhiều năm qua, đã có hơn 15.000 người đã ký tên vào lá đơn gửi tới lãnh đạo các nước trong khu vực yêu cầu ngừng các dự án thủy điện để cứu sông Mekong, nhưng mọi dự án xây đập ngay trên dòng chính của Mekong vẫn tiến hành tuần tự trên đất Lào và Cambodia. Lá đơn do tổ chức Liên minh “Save the Mekong” khởi xướng đã được gửi tới thủ tướng các nước Cambodia, Lào, Thái Lan và Việt Nam, yêu cầu dừng ngay 11 dự án thủy điện tại vùng hạ lưu sông Mekong. Trong đó có 7 đập thủy điện sẽ được xây tại Lào, hai tại vùng biên giới Lào-Thái Lan và hai tại Cambodia. Đâp Xayaburi vừa khánh thành cách đây 2 năm ở Lào (cách Vientiane khoảng 60 Km) do đầu tư của Thái Lan và Trung Cộng nhằm mục đích dẫn nước qua vùng Bắc Thái với 600.000 mẩu đất trồng lúa càng làm cho tình trạng hiếm nước ở hạ lưu như Cambodia và ĐBSCL ngày càng trầm trọng hơn.

•           Lý do chính là tuy các công trình thủy điện này sẽ cung cấp điện cho phát triển kinh tế, nhưng chúng có thể gây hại trầm trọng cho môi trường và đa dạng sinh học của dòng sông Mekong, đồng thời ảnh hưởng xấu tới cuộc sống của những người sinh sống nhờ dòng sông Mẹ này.

•           Nhà cầm quyền Việt Nam đã nhận nhiều tài trợ của Ngân hàng Thế giới để trồng rừng. Nhưng những khó khăn trong việc nầy là do các vùng đất bị bỏ hoang không khai thác nữa đã có chủ hay được cho TC thuê hàng 50, 70 năm, vì vậy không thể thực hiện lại việc trồng rừng như đúng với ý nghĩa của công việc nầy.

•           Một hiện tượng tiêu cực khác nữa là do ý thức của người dân vì không được giải thích tầm quan trọng của sự hiện diện và hữu ích của rừng ngập mặn cho nên nhiều nơi đã được trồng lại nhưng sau đó lại bị phá đi…

•           Một yếu tố không nhỏ nữa là do quản lý yếu kém, hiện tượng tham nhũng và ăn chận tiền viện trợ. Chính những điều trên khiến cho việc tái tạo rừng ngập mặn trở thành khó khăn hơn và không thể nào thực hiện được trên thực tế.

Và tại một cuộc họp quốc tế về Mekong, vấn đề hạn hán và ngập mặn cũng được đề cập đến. Nhiều chuyên gia nói hồ chứa ở thượng lưu tham gia giải quyết chuyện hạn hán cho ĐBSCL là tốt và cần thiết. Tuy nhiên, nhận định này không chính xác vì các hồ chứa chỉ cắt được lũ trung bình còn lũ lớn như năm 1991 và 2000 thì không cắt được lũ. Việc làm cho lũ trung bình thành không có lũ là không tốt vì ĐBSCL là vùng cần nước ngập tự nhiên, sống nhờ mùa nước “nổi” (nước lớn), phát triển nhờ “nước ngập tràn bờ”. Vai trò của Biển Hồ là một hồ chứa thiên nhiên đã điều tiết nước cho ĐBSCL vào mùa khô và hạn chế lưu lượng lớn của sông Mekong vào mùa nước nổi, hiện nay không còn hiệu quả nữa.                                

Cũng cần nên biết, lượng phù sa bồi đắp cho ĐBSCL khoảng 150 triệu tấn cho một mùa lũ trung bình. Nếu lũ nhỏ cũng đạt khoảng 100 triệu tấn, riêng tháng 8 -9 (cực điểm của mùa nước nổi hàng năm), lượng phù sa đạt khoảng 60 – 70 triệu.

Các chuyên gia trên khắp thế giới đã xác định rằng nếu một người cướp nước của một con sông và làm thay đổi các chu kỳ tự nhiên của nó, thì con sông đó sẽ chết.

Nghề cá, sự phong phú về nông nghiệp và môi trường của Biển Hồ, và Đồng bằng sông Cửu Long phải được bảo vệ thay mặt cho tất cả người dân Đông Nam Á.

Tóm lại, Hệ sinh thái sông Mekong ngày hôm nay hoàn toàn bị đảo lộn, theo Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) và Ủy ban sông Mekong, cao độ lòng sông của hai nhánh chính của sông Mekong tại đồng bằng sông Cửu Long đã thấp đi tới 1,4m trong 10 năm tính từ năm 2008, còn nếu tính từ năm 1990 đến nay, cao độ này thấp hơn từ 2-3 m.

Một nghiên cứu được công bố hồi tháng trước, có tên Research in Nature, cho rằng, việc khai thác cát trên một đoạn sông dài 20 km “không bền vững” bởi lượng trầm tích từ thượng nguồn đổ về không đủ để thay thế lượng cát bị lấy đi.

Lưu vực ĐBSCL, có hơn 150 mỏ cát, trải rộng trên 8.000 ha (80 km2) bề mặt sông, đã được cấp phép ở 13 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.

Hệ thống cống được thiết kế với mục đích ngăn mặn, thoát lũ ra biển Tây trước đây, giờ chỉ làm nhiệm vụ điều tiết nước và ngăn mặn vào những tháng mùa khô. Việc vận hành đóng mở cống phải đảm bảo giữ được nguồn nước ngọt phục vụ cho sản xuất, ngăn mặn không xâm nhập vào hệ thống sông, kênh mương nội đồng.

Sông Mekong – hệ sinh thái ven sông lớn không bị cản trở cuối cùng còn

sót lại trên thế giới cần phải được bảo tồn và an ninh lương thực của

100 triệu người nghèo cần được bảo vệ.

Do đó, mọi lời kêu gọi hành động trong lúc nầy là rất cần thiết để bảo vệ hệ sinh thái sông Mekong và người dân của trong vùng, cũng như chuyển đạt các thỉnh nguyện thư đến:

  • Chính phủ Trung Cộng, Thái Lan, Myanmar, Lào, Cambodia và Việt Nam cùng Chương trình Phát triển LHQ (UNDP) và Ủy hội sông Mekong (MRC).
  • Ngân hàng quốc tế – World Bank – WB.
  • Ngân hàng Phát triển Châu Á – Asian Development Bank – ADB.
  • Các quốc gia tài trợ và các cơ quan viện trợ quốc tế.
  • Các tập đoàn kinh tế và nhà đầu tư đa quốc gia.

Xin xem tiếp Phần III: Những gì cần phải làm

Mai Thanh Truyết

Viết trong những ngày Tháng Tư 2021

***

Câu chuyện một dòng sông

Phần III – Những gì cần phải làm

Sau khi phân tích về hiện trạng sông Mêkong và Sông Cửu Long, đứng về phương diện quốc tế, mọi cải sửa hay thay đổi tình trạng trên hết sức khó khăn vì ba lý do chính sau đây:

  • Mặc dù TC là nguyên nhân chính yếu gây ra tình trạng hạn hán và nhiễm mặn thường xuyên cho ĐBSCL, nhưng TC lại là một Ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo an LHQ, cho nên mọi tố cáo hay nghị quyết bất lợi cho TC đều bị…phủ quyết ngay;
  • Trong các quốc gia trong Ủy hội Mêkong, Thái Lan mặc dù nằm trong Ủy hội, nhưng vì quyền lợi của quốc gia cho nên tiếp tay hợp tác với TC trong việc xây dựng đập Xayaburi trên dòng chính Mêkong ở Lào nhằm mục đích dẫn nguồn nước chuyển qua lưu vực Bắc Thái cung cấp cho 400.000 hecta đất nông nghiệp cho xứ nầy;
  • Còn Lào, và Cao Miên có thể nói hiện là hai quốc gia hoàn toàn lệ thuộc vào TC. Cho nên Việt Nam hoàn toàn không có tiếng nói trong Ủy hội Mêkong và TC toàn quyền tự tung tự tác. Cho đến nay, chỉ riêng đập thủy điện Xayaburi (Lào, 1260 MW, 2019) đã gây thiệt hại đáng kể cho vùng hạ lưu qua việc chuyển nước cung cấp cho vùng Bắc Thái Lan. Và mức tàn phá và hủy hoại ĐBSCL lớn nhất về lưu lượng nước và thủy sản phải kể tới đập Sambor (Cam-Bốt, 980 MW), đứng cuối trong bậc thang, đang được trình duyệt xây dựng vào năm 2019. Nỗi đau của dân tộc là chính CSBV đã đầu tư vào dụ án đập Sambor nầy, nhằm mục đích chia phần điện để cung cấp cho tỉnh Đăknông với Khu khi thác Bauxite Nhân Cơ từ hơn 10 năm qua. Có thể nói tỉnh Đắknông ngày hôm nay là một khu tự trị của TC, người thiểu số Gia Rai, chiếm đa số ở tỉnh nầy giờ đây phải tha hương cầu thực, qua vùng cao nguyên Boloven bên Lào, hoặc chạy qua tỉnh Rattanakkiri, phía Bắc Cambodia. Hiện đã có hệ thống giáo dục tiểu học hoàn toàn dùng tiếng Tàu dạy cho con cái của công nhân Tàu với vợ là người bản địa hay Việt. Cái đau của dân tộc là ở đây! Chính CSBV đã bán nước một cách lặng lẽ không ai biết!

Từ đó, những gì cần phải làm để giải quyết tình trạng bế tắc của dòng Mêkong thật khó khăn vì sự tiếp tay đắc lực của CSBV trong việc triệt hạ nguồn sống của người dân ĐBSCL.

Nhưng, mặc dù khó, chẳng lẽ chúng ta lại ngồi yên thụ động chấp nhận. Vì vậy, những đề nghị dưới đây xin được chia xẻ cùng quý vị hiện diện trong diễn đàn để cùng suy gẫm.

Đó là việc đề nghị các cơ quan liên quan đến nguồn nước sông Mekong và quốc tế, các nhà hoạch định chính sách và cư dân của lưu vực sông Mekong và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long tuân thủ và duy trì các nguyên tắc dưới đây để phát triển và khai thác lưu vực sông Mekong một cách nghiêm chỉnh và có trách nhiệm:

1. Rằng lệnh cấm được áp dụng ngay lập tức đối với các dự án chuyển dòng nước, đập và thủy điện trên sông Mekong, ưu tiên hàng đầu của các cơ quan quốc gia và quốc tế là phát triển dữ liệu cơ sở khoa học về sông Mekong, thủy văn và hệ sinh thái của sông.

2. Rằng tất cả các nhà phát triển dự án Mekong đều phải đánh giá tác động môi trường toàn diện và một hệ thống quản lý môi trường tuân theo tiêu chuẩn ISO 14000 sẽ được yêu cầu đối với tất cả các nhà phát triển dự án Mekong. Nghiên cứu Tác động Môi trường (Environmental Impact Assessment – EIA) sẽ được thực hiện bởi các nhà khoa học độc lập và có trình độ, không có xung đột lợi ích nhóm thực hiện dự án.

3. Rằng tất cả các dự án phát triển và chuyển hướng sông Mekong, bất kể nguồn tài chính và quyền sở hữu của chúng, phải được tôn trọng và trao “quyền được giáo dục” (right to be educated) cùng với “quyền được biết” (the right to know)  cho tất cả người dân bị ảnh hưởng. Những người dân bị ảnh hưởng phải được cung cấp đầy đủ tin tức tin và kiến ​​thức cần thiết để hiểu thiết kế của dự án, xem xét chi phí và lợi ích, đồng thời tự đánh giá các tác động lâu dài của dự án.

4. Rằng tất cả các nhóm dân cư bị ảnh hưởng trên toàn lưu vực, không liên quan đến biên giới quốc gia, đều có quyền tham gia vào bất kỳ quyết định của bất cứ dự án nào.

5. Rằng tất cả các cơ quan tiến hành hoạt động kinh doanh của mình theo nguyên tắc minh bạch và công bố đầy đủ như:1 – Tất cả các kế hoạch phát triển, thỏa thuận, 2- Dữ liệu cơ bản về môi trường, 3- Báo cáo đánh giá tác động môi trường, 4- Nghiên cứu khả thi phải được công khai và có sẵn để cộng đồng khoa học quốc tế xem xét các tổ chức phi chính phủ và bởi các công dân tư nhân.

6. Rằng việc xây dựng tất cả các chính sách và quyết định, dự án cũng như các quy tắc và quy định của Ủy hội sông Mekong và tất cả các cơ quan quốc gia thành viên sẽ bao gồm một chương trình tham gia của công chúng với quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí được đảm bảo.

7. Các chủ đầu tư, chủ sở hữu và các cơ quan phát triển phải chịu trách nhiệm về tất cả các tổn thất và thiệt hại về môi trường theo kế hoạch và ngoài kế hoạch do các dự án của họ gây ra và những thiệt hại về tài sản, thu nhập và sinh kế của người dân.

8. Rằng bốn quốc gia hạ lưu sông Mekong: Lào, Thái Lan, Cambodia và Việt Nam sửa đổi thỏa thuận năm 1995 để tuân thủ chặt chẽ ngôn ngữ của Luật Quốc tế về Xử dụng Phi Hàng hải của LHQ năm 1997

9. Rằng Trung Cộng và Myanmar cần phải gia nhập trở lại Ủy Hội Sông Mekong (Mekong River Commission – MRC) như trước năm 1995 trong Ùy ban Sông Mekong (Mekong River Committee – MRC) vì đã có chung dòng sông Mekong chảy xuyên qua. Hai quốc gia nói trên cần tham gia với bốn nước hạ lưu sông Mekong nói trên, và cùng nhau đàm phán một thỏa thuận về phát triển và bảo vệ sông Mekong trong thế kỷ 21.

Thưa Quý vị,

Qua những nhận định trên, chúng ta dù nhìn qua lăng kính nào đi nữa thì ảnh hưởng của việc xây đập thủy điện trên thượng nguồn sông Mekong sẽ thay đổi toàn diện hệ sinh thái ở vùng hạ lưu. Và hai quốc gia phải gánh chịu nhiều tác hại nhứt trong Ủy hội Sông Mekong là Cambodia và Việt Nam.

Song song với việc trên, sự cố ý hay vô tình của các nước ở thượng nguồn càng làm cho vấn đề trở nên trầm trọng và sông Cửu Long của chúng ta ngày càng bị tác hại lên môi trường càng quyết liệt hơn nữa. Đặc biệt những nguy cơ ảnh hưởng lên đời sống hiện tại và tương lai của người dân sống ở Đồng bằng Sông Cửu Long ngày càng nặng nề hơn do những chính sách phát triển thiếu điều nghiên kỹ lưỡng về các tác động môi trường trong từng kế hoạch. Đó là: – Hạn hán – Nhiễm mặn – Sạt lở hai bên bờ sông do khai thác cát – Đất bị hoang hóa và sa mạc hóa do việc tận dụng khai thác đất – Xây dựng đê bao làm nước bị bị chuyển dòng, một nguyên nhân làm tăng thêm việc sạt lở v.v…

Cũng cần nên nói thêm về một tội ác có thể nói là “diệt chủng” của CSBV đối với người dân vùng ĐBSCL bắt đầu ngay từ khi họ chiếm miền Nam năm 1975. Đời sống người dân ở ĐBSCL ngày hôm nay có thể nói là vô sản đúng nghĩa trong chính sách bần cùng hóa và cố triệt tiêu khả năng tư duy của người dân bằng cách hạ thấp trình độ giáo dục của người dân. Đó là:

  • Về kinh tế: Người dân ngày hôm nay, từ vị trí người chủ mảnh ruộng đã biến thành con nợ của ngân hàng nhà nước triền miên vì những món nợ liên tục từ phân bón, lúa giống, thuốc trừ sâu rầy là những món nợ mà nông dân phải “gối đầu”. Đây là một chính sách hết sức sâu độc;
  • Về giáo dục, theo thống kê của World Bank, trình độ học vấn của nông dân ĐBSCL từ 14 đến 25 tuổi trước năm 1975 là lớp 7 ½, so với lớp 5 ½ đối với người dân cùng thời điểm ở Hà Nội. Ngày nay (2021), trình độ hiện tại của người dân nơi đây là lớp 5!  

Vì vậy, trước những nguy cơ hủy diệt môi trường và an toàn thực phẩm của ĐBSCL, chúng ta chỉ mong tiếp tục gióng lên tiếng chuông báo động kêu gọi tất cả những đối tác có liên quan trực tiếp hay gián tiếp cùng nhau ngồi lại để cứu nguy Sông Mekong hầu gìn giữ cân bằng nguyên thủy cho hệ sinh thái của dòng sông nầy. Làm được như thế chúng ta sẽ bảo vệ được sự ổn định kinh tế và chánh trị của hơn 17 triệu người con Việt sống trong vùng.

Trước những vấn đề sống còn của người Việt, các đề nghị và góp ý của chúng tôi trong hiện tại và tương lai đều đặt trọng tâm vào các căn bản lý luận sau đây để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của nhân loại. Hơn tất cả, vì lợi ích lâu dài của người dân sống trong vùng hạ lưu, mọi người trong chúng ta đều nhận thấy rằng Việt Nam cần phải hợp tác trong công bằng và hợp lý để bảo vệ quyền lợi của đất nước.

Mục đích của bài nói chuyện hôm nay nhằm đánh động sự quan tâm của thế giới qua phương tiện truyền thông. Cũng cần vận động bằng bất cứ khả năng nào trong mỗi chúng ta để nêu lên sự diệt chủng của TC qua việc kiểm soát dòng luân lưu của sông Mêkong hầu áp đặt lên các quốc gia ở hạ nguồn. Và cũng không quên tố cáo CSBV qua việc tiếp tay với TC trong việc làm đảo lộn dòng chảy của sông Tiền và sông Hậu, phá vỡ cân bằng sinh thái ở Tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười, hai hồ tích trữ nước thiên nhiên nhằm điều tiết lưu lượng nước dùng cho nông nghiệp của ĐBSCL ở miền Nam.

Đó là những vấn đề trôi chảy xuyên suốt cho mọi chế độ chính trị, mọi khung cảnh kinh tế và môi trường. Trên căn bản đó, các chính sách và kế hoạch khai thác đồng bằng sông Cửu Long cần phải hữu hiệu về mặt kinh tế và hài hòa về mặt môi sinh và xã hội là những mối quan tâm và trách nhiệm chung của mỗi người con Việt.

Là những chuyên viên ở nước ngoài có cơ hội tiếp cận với các thông tin từ nhiều nguồn khác nhau và nhất là có sự độc lập trong suy nghĩ khoa học:

  • Chúng tôi không khỏi quan ngại đến tình trạng khai thác phản kinh tế và phi khoa học trong vùng đất phi nhiêu này của CSBV cho dù  là vô tình hay cố ý, hoặc thiếu nghiên cứu về tác động môi trường trong các dự án phát triển?
  • Căn cứ trên những phân tích khoa học kinh tế, xã hội và môi trường. chúng tôi nhận thấy rằng vùng châu thổ này đang đối diện trước những nguy cơ to tát lâu dài. Nếu không có quyết tâm và định hướng đúng đắn thì trong tương lai người dân ĐBSCL sẽ phải hứng chịu nhiều thiệt hại nặng nề.

Dựa trên hai quan điểm này, qua những chủ đề đã được đề cập đến trong bài viết chính là lời cảnh báo cho dân cư châu thổ và đóng góp cho những chuyên viên có trách nhiệm trong nước.

Chúng tôi hy vọng từ nay, chúng ta sẽ có một cách nhìn đúng đắn và can đảm hơn về thể cách bảo vệ và phát triển vùng đồng bằng sông Cửu Long.

  • Ngày xưa ta nói:                           Uống nước phải nhớ nguồn
  • Ngày nay ta phải nói:                 Uống nước phải bảo vệ nguồn.

Mọi chính thể rồi cũng qua đi.

Mọi chính quyền rồi cũng phải chấm dứt.

Cuối cùng chỉ còn lại Đất và Nước của chúng ta.

Và thế hệ tương lai sẽ nhìn lại và phán xét hành động của chúng ta ngày hôm nay!

Trân trọng và cám ơn Quý vị đã lắng nghe.

Mai Thanh Truyết

Hội Bảo vệ Môi trường Việt Nam – VEPS

Viết cho Ngày Quốc hận 30/4/1975

Ghi Chú:

Nước tôi cũng có một giòng sông

Giòng sông đó đã trải qua hơn 4000 năm lịch sử

Cuốn trôi đi những gian trá hận thù

Cuốn trôi đi bọn gian tham bán nước

Cuốn trôi đi bọn ác bá cường hào

Nhưng giòng sông đó đã tạo nên bao anh hùng thục nữ

Ngày nay tôi không còn niên thiếu

Chuyện chàng trai ngày đó đã lãng quên

Thế hệ hiện nay những chàng trai của thời đại mới

Nhớ về dòng sông lịch sử của quê hương

Sẽ cuốn trôi bọn thù trong giặc ngoại

Tạo phù sa để nhiều đời con cháu sẽ vươn lên

Đặng Quang Chính




Cuộc Di Tản đầy Máu và Nước Mắt

Không phải mãi hai ngày sau người Mỹ mới biết lý do đằng sau vụ di tản rút quân bỏ miền Trung. Vào buổi tối ngày 17.3.1975, tại bữa cơm đãi một số Viên Chức cao cấp Mỹ và Việt Nam tại nhà ông Thomas Polgar, Trưởng CIA, ở Sài Gòn, Tướng Ðặng Văn Quang Cố Vấn An Ninh của Tổng Thống Thiệu, đã lật trang sử khi giải thích quyết định của ông Thiệu. Rất giống người Nga tiêu diệt đội quân của Nã Phá Luân vào năm 1812 bằng cách bỏ đất để câu giờ hầu chấn chỉnh tổ chức quật ngược thế cờ, Tướng Quang cho rằng quyết định của ông Thiệu đi theo chiến lược đó sẽ đánh bại quân Bắc Việt. Tướng Quang nói ‘’Có thể mùa mưa sẽ giúp chúng tôi như thể Ðại Tướng mùa Đông đã giúp người Nga’’.

Tại Cao Nguyên Trung Phần, dân chúng không chờ giải thích. Họ thấy rõ quá rồi nên tự lo lấy.Khi quân Bắc Việt pháo kích Kontum, con đường dẫn xuống Pleiku tràn ngập dân di tản chạy trốn pháo kích. Trong khi các Ðơn Vị Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bắt đầu rời các vị trí ở Pleiku và các phi cơ vận tải bay lên bay xuống phi trường suốt ngày đêm, người dân biết ngay đến lúc chạy theo Quân Ðội.

Vào đêm Chủ Nhật, một đoàn xe vận tải dài thòng âm thầm rời khỏi Pleiku từng cái một đèn sáng choang. Phóng viên Nguyễn Tư nghĩ nó ‘’giống như một đoàn xe đi chơi cuối tuần trở về nhà’’. Phía sau, những tiếng nổ lớn phát ra từ các kho đạn bị phá và bầu trời đen nghịt khói từ các bồn xăng đốt cháy.

Trong khi đoàn xe tiến về hướng Nam tung lên những đám bụi đỏ mờ mịt, từng đoàn người dân đi bộ dài như rắn bò hai bên Ðường Quốc Lộ song song với đoàn quân xa. Một vị Nữ Tu Công Giáo nhớ lại ‘’trẻ thơ và trẻ em được chất lên xe bò và người kéo đi. Mọi người đều hoảng hốt. Người ta cố thuê mướn xe bằng mọi giá’’. Trong ba ngày 16, 17, 18, tháng ba, cuộc di tản di chuyển êm thắm khỏi Pleiku và giữa các đoàn quân xa là hàng trăm dân sự đi theo cuộc di tản. Và cũng từ đó bắt đầu một đoàn công voa di tản đầy máu và nước mắt.

Ði được nửa đường tiến ra Duyên Hải, đoàn xe bị khựng lại để cho Công Binh Quân Ðoàn II cố làm xong chiếc cầu nổi ngang qua sông Ea Pa cách đèo Cheo Reo (Phú bổn) vài cây số. Tướng Phạm Văn Phú tiên liệu hai ngày sẽ sửa xong con Ðường số 7 nhưng mãi ba ngày vẫn chưa sửa xong cây cầu. Ðến chiều tối ngày 18.3, xe cộ và lính tráng đã đi được ba ngày và một đám dân tỵ nạn khổng lồ bị khựng lại dọc theo con đường và dồn cục tạm nghỉ ở chung quanh châu thành Tỉnh Phú Bổn. Cái châu thành nhỏ bé cheo leo này làm sao cung cấp đủ nhu cầu cho đoàn di tản này, nhiều người bỏ nhà ra đi chỉ có bộ đồ trên người.

Vì hoảng sợ, địch đe dọa phía sau, đói khát và có những băng lính không còn Cấp Chỉ Huy nữa sanh đạo tặc, đoàn người đòi cứ tiến đi không cần biết hậu quả ra sao. Trước tình thế hỗn quân hỗn quan này, các giới chức lãnh đạo không thể nào thuyết phục dân chúng và điều động xe cộ vũ khí thành một phòng tuyến phòng thủ. Và y như xảy ra khi quân Ðức bao vây khóa chặt Paris năm 1940, dân châu thành cũng chạy trốn, làm tắc nghẽn mọi con đường, Quân Ðội không thể nào di chuyển để bảo vệ họ trước kẻ địch. Tình hình đe dọa hỗn loạn. Cần phải có những bàn tay tổ chức. Nhưng Tướng Lê Duy Tất vẫn còn ở Pleiku với đoàn hậu vệ Biệt Ðộng Quân, trong khi Ðại Tá Lý bị kẹt ở giữa đoàn xe, đã phải bỏ xe đi bộ đến Bộ Chỉ Huy ở Cheo Reo.

Khi Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bắt đầu di chuyển xuống Quốc Lộ số 7, Tướng cộng sản Văn tiến Dũng cũng đã bị đánh lừa theo kế hoạch của Tướng Phú. Trước khi khởi sự chiến dịch 275, Dũng đã chỉ vẽ nhiều lần cho tư lệnh sư đoàn 320 về những con Ðường Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không thể nào dùng nó như là lối thoát sau cùng. Tuy nhiên, sau khi nghe tin Tây Phương nói dân chúng đang bỏ Pleiku, các chuyến bay từ Pleiku về Nha Trang tấp nập và Hà Nội đánh tín hiệu ngày 16.3 báo cho biết Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn II đã di tản về Nha Trang, Dũng mới bắt đầu nghĩ lại xem có con đường nào khác cho địch quân rút được không.

Ðến 4 giờ chiều cùng ngày, công điện của Hà Nội đến báo, tình báo Bắc Việt báo một đoàn xe dài từ Pleiku tiến về phía Nam xuống Ban Mê Thuột. Tin này làm cho Tướng cộng sản bối rối. Phải chăng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa phản công hay là chạy trốn? Tình báo của Dũng cho ông ta câu trả lời ngay sau đó, đúng như tình hình diễn biến ở trên. Ðến lúc này bộ chỉ huy cộng sản mới dở bản đồ ra, chiếu đèn pin và dùng kiếng phóng đại dò tìm địch quân. Kiểm điểm lại, Tướng Dũng và Tướng Kim Tuấn, tư lệnh sư đoàn 320, mới biết bị Tướng Phú lừa ngay trước mắt, Tướng Dũng khiển trách Tướng Kim Tuấn, đồng thời phối trí các đơn vị di chuyển về tụ điểm Quốc Lộ 7 để tiêu diệt đoàn công voa di tản về Tuy Hòa.

Ðoàn xe Quân Dân miền Nam cầu mong sao cho thời gian chậm lại để đi kịp về miền biển không bị cộng sản tấn công. Nhưng không kịp nữa, khi màn đêm buông xuống ngày 18.3 lúc đoàn xe kẹt ở Cheo Reo, quân cộng sản bắt đầu pháo kích vào đám đông dân di tản. Họ hết còn bí mật nữa và kẻ thù ở trong tầm tay. Ðêm ngày 18.3, những đơn vị tiền phong của sư đoàn 302 đụng độ với đoàn xe Quân Ðoàn II ở Cheo Reo. Cùng lúc các đơn vị khác đụng độ với Ðoàn Quân hậu bị Liên Ðoàn 6 Biệt Ðộng Quân ở Thị Trấn Thành An ngã tư Quốc Lộ 14 và Quốc Lộ 7. Ðại Tá Lý đi bộ mãi rồi cũng tới Bộ Chỉ Huy Cheo Reo kịp lúc để giúp điều động Tiểu Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân vào vị trí phòng thủ chống các cuộc xung phong của quân Bắc Việt ở lối vào Thị Trấn phía Tây. Ðồng thời, pháo binh Bắc Việt rót vào. Ðoàn xe cái đầu ở Cheo Reo nhưng cái đuôi vẫn còn ở Pleiku. Việt cộng tha hồ pháo kích. Sáng hôm sau, xác chết và xác bị thương lính tráng và dân nằm la liệt trên Ðường Phố Cheo Reo (Phú Bổn) cùng với hàng trăm xe cộ bị phá hủy hoặc bỏ rơi. Một phi công trực thăng Không Quân Việt Nam báo cá ‘’Khi tôi bay thấp, tôi có thể nhìn thấy hàng trăm xác chết nằm rải rác dọc theo con đường cạnh các xe còn cháy’’.

Mặc dù lực lượng cộng sản đã chiếm được Phi Trường Phú Bổn, Tiểu Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân vẫn còn giữ được lối vào châu thành và cây cầu phía Nam sửa xong. Ðây là một cú cải tử hoàn sinh, Ðại Tá Lý và các Cấp Chỉ Huy của ông có cơ hội ra lệnh cho đoàn xe lên đường trở lại với 2.000 xe nổ máy ầm ầm lăn bánh. Nhưng đoàn xe di chuyển không bao lâu, Tướng Phú cho trực thăng đến đón Ðại Tá Lý ra khỏi Cheo Reo. Thế là đầu không còn ai Chỉ Huy chỉ có Tướng Tất Chỉ Huy ở phía sau. Từ ngày 19 trở đi, Chỉ Huy đầu đoàn công voa là những Ðơn Vị Trưởng cấp Tiểu Ðoàn, Ðại Ðội mạnh ai lấy ra lệnh.

Bất kể hỏa lực của cộng sản, trực thăng của Không Quân Việt Nam bắt đầu đáp xuống bốc những người Lính và dân bị thương dọc theo con đường. Khi những người di tản được trực thăng chở đến Phi Trường Tuy Hòa, họ kể những chuyện khủng khiếp xảy ra cho họ. Ngày 19.3, đầu đoàn xe đã đến Sông Côn chỉ còn cách Tuy Hòa 40 km. Nhưng ở đoạn đuôi nửa đường giữa Cheo Reo và Sông Côn, quân Bắc Việt lại đánh ngang hông đoàn xe, lần này ở khoảng Thị Trấn Phú Túc. Không Quân Việt Nam được gọi đến oanh kích chặn tiến quân của địch nhưng đã nhầm lẫn bỏ bom xuống Liên Ðoàn 7 Biệt Ðộng Quân (Làm tổn thất gần 1 Tiểu Ðoàn). Nhưng Liên Ðoàn này vẫn tiếp tục chiến đấu giữ cho con đường mở.

Ðoàn xe chạy qua Cheo Reo cho đến ngày 21.3 thì quân Bắc Việt chọc thủng các vị trí cố thủ của Tiểu Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân, vượt qua chiếm châu thành và cắt đứt con đường. Trong số khoảng 160.000 người của đoàn xe di tản, nhiều người dân bị cô lập với Lính của Ba Tiểu Ðoàn Biệt Ðộng Quân. Theo lệnh Tướng Phú, Tướng Tất, vẫn còn ở phía sau đoàn xe, phải bỏ mọi vũ khí và quân trang nặng để chạy khỏi Phú Bổn càng nhanh càng tốt. Hàng ngàn người chạy vào rừng. Lính tráng với vợ con bên cạnh bị rượt bắt và tấn công nhiều lần. Một số ít giơ cờ lên được trực thăng đáp xuống bốc. Nhưng đa số cầm chắc bị đói và bị bắt.

Những người may mắn, các bà mẹ trẻ dính máu, các cụ già và phụ nữ người mặc áo dính bùn, và những người lính gào khóc, chân không, bước xuống trực thăng trước khi các phóng viên bủa ra hỏi thăm tin tức tại phi đạo Tuy Hòa. Các trực thăng bắt đầu chở thực phẩm và nước cho đoàn xe vẫn còn dài thòng di chuyển như con rắn vì đã có nhiều người đói.

Trong khi ở đuôi đoàn xe bị tấn công dữ dội và Tướng Tất cùng các Ðơn Vị còn lại cố chống trả bọc hậu, các Ðơn Vị đầu đoàn xe đã tiến vào ranh giới Tuy Hòa, trên con Sông Ba, cách Thị Trấn 20 cây số. Chiếc cầu nổi mà Tướng Cao Văn Viên hứa cũng đến kịp lúc, nhưng không kịp với lực lượng cộng sản đã đắp mô các ngã đường nằm giữa Sông và Tuy Hòa. Chiếc cầu không thể nào chở xe nổi đến chỗ Bắc nên phải mượn 4 phi cơ C-47 của Quân Ðoàn IV chở từng khúc đến.

Ngày 22.3, đúng một tuần sau khi đoàn xe di tản đầy máu và nước mắt rời Pleiku, chiếc cầu được bắc xong, đầu đoàn xe vội vã vượt qua con sông quá nặng làm chiếc cầu phao lật, người trong xe cộ phải lội sông. Nhưng đến cuối ngày, đoàn xe vẫn tiếp tục vượt qua khi chiếc cầu được sửa lật lại. Ngay cả đến thời thiết cũng tiếp tay cho cộng sản để làm cho đoạn cuối đoàn xe đến Tuy Hòa chưa hết nạn.

Trời nắng đột nhiên trở thành mưa gió lạnh lẽo cho người di tản. Không những thời thiết thay đổi xấu gây ra bệnh tật mà nó còn làm cho phi cơ quân sự không bay lên yểm trợ, chống trả những cuộc tấn công dưới đất của việt cộng. Từ ngày 22.3, Liên Ðoàn 6 Biệt Ðộng Quân bị kẹt đánh trong một trận đánh bọc hậu vừa đánh vừa lui trước nỗ lực rượt theo rất rát của quân cộng sản. Liên Ðoàn Biệt Ðộng Quân đã thu góp xe tăng và pháo binh để bảo vệ con đường ở khúc quẹo thung lũng gần cầu nổi. Họ đánh câu giờ để cho người di tản và Lính kịp vượt qua sông.

Ðồng thời, những Ðơn Vị đi đầu đã vượt qua Sông Ba rồi phải phá mô việt cộng để tiến vào Tuy Hòa. Liên Ðoàn 7 Biệt Ðộng Quân chỉ còn ít quân sống sót đã gom góp được hơn chục thiết giáp M-113 vừa đánh vừa ủi các mô tiêu diệt các vị trí cộng sản. Ðến ngày 25.3, vị trí cuối cùng của quân Bắc Việt bị tiêu diệt nốt, Biệt Ðộng Quân bắt tay được với Lực Lượng Ðịa Phương Quân ở phía Ðông Tuy Hòa.

Ðoàn xe khập khễnh tiến vào Tuy Hòa như một đoàn xe ma. Xấp xỉ 60.000 người dân đến đích, hai phần ba hay hơn 100.000 người bị bỏ lại dọc đường, chết sống không ai biết. Về phía Quân Ðội, 20.000 quân tiếp vận và yểm trợ, chỉ còn 5.000 người đến nơi. Sáu Tiểu Ðoàn Biệt Ðộng Quân 7.000 người, chỉ còn 9.00 đến Bộ Tư Lệnh Tiền Phương của Quân Ðoàn II ở Nha Trang và đóng chốt bảo vệ Thành Phố. Một vị Tướng ở Bộ Tham Mưu đã buồn bã nói: ‘’70% lực lượng tác chiến của Quân Ðoàn II gồm Sư Ðoàn 23 Bộ Binh, Biệt Ðộng Quân, Pháo Binh, Thiết Giáp, Công Binh Chiến Ðấu và các Ðơn Vị Truyền Tin đã bị tan rã từ ngày 10 đến 25.3’’. Vì thế chuyện phản công tái chiếm Ban Mê Thuột không thể giao phó cho Quân Ðoàn II.

Canh bạc Tướng Phú chọn Quốc Lộ 7 có thể đã an toàn nếu các cầu nổi được bắc kịp thời và Tướng Viên đổ lỗi cho vị Tư Lệnh Quân Ðoàn II. Tướng Viên tin rằng Tướng Phú phải hoãn cuộc di tản ít ngày để cho các Kỹ Sư Công Binh kịp bắc cầu. Tướng Viên cũng tin rằng hoãn lại cho phép điều động sắp xếp kỹ hơn nhất là kiểm soát dân chúng. Theo một vị Tướng Mỹ thông thạo các Sĩ Quan cao cấp Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, lỗi lầm không những ở kế hoạch di tản của Tướng Phú mà ở ngay chính Tướng Phú và lỗi lầm đầu tiên và quan trọng nhất là để mất Ban Mê Thuột. Một vị Tư Lệnh Quân Ðoàn cương quyết hơn không cần phải rút quân như vậy. Một Sĩ Quan Tùy Viên Mỹ tuyên bố: ‘’Một vị Tư Lệnh mạnh như Tướng Toàn (Trước đó là Tư Lệnh Quân Ðoàn II) có thể phản công tái chiếm Ban Mê Thuột, sử dụng toàn bộ Hải, Lục, Không Quân có trong tay đã có thể kềm hãm quân Bắc Việt, cố thủ thêm một năm nữa’’.

Nhưng ngày 25.3.1975,không còn cơ hội đó. Cuộc di tản tự làm cho mình thất bại đau đớn, như lời Tướng Viên mô tả, hoàn tất, gây một cơn ác mộng tâm lý và chính trị to lớn cho ông Thiệu, cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và cho dân chúng Việt Nam Cộng Hòa. Một dư luận đồn thổi khắp nước và cả ở những viên chức dân sự và quân sự cao cấp nói rằng: Tổng Thống Thiệu và người Mỹ, trong một thỏa hiệp mật của Hiệp Định Paris, đã cố kết với nhau cho cộng sản chiếm một phần lớn lãnh thổ Nam Việt Nam. Tại sao Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã chiến đấu can trường suốt hai mươi năm không thua đột nhiên bị ra lệnh rút khỏi Cao Nguyên, bỏ Pleiku và Kontum không một tiếng súng giao tranh ?

Tinh thần đổ vỡ vì mất bốn Tỉnh trong ba tháng và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh nặng và vô ích không tái chiếm nổi Ban Mê Thuột đã làm cho dân chúng Nam Việt Nam hết còn tin tưởng Tổng Thống Thiệu có thể bảo vệ họ. Vậy ai khác có thể làm được? Phe đối lập ông Thiệu vô tổ chức, đứng ngoài chờ thời cơ và người Mỹ tiếp tục làm ngơ. Chỉ có ông Thiệu là người phải tìm ra cách nào để lấy lại tinh thần cho Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng trước khi ông tìm ra hướng đi hợp tình thế thì tin xấu từ Quân Ðoàn I bay về. Cũng lại di tản và cuộc di tản Quân Ðoàn I bi thảm không kém để kết thúc ngày 30.4.1975.

Đại Tá Trịnh Tiếu




Hỏi Ngã Tự Vị

By Doanh Doanh

Dạng flipbook có vài điểm đặc biệt dễ dùng:
Chỉ bấm nhẹ cạnh bên phải hay bên trái của screen thì trang lật qua phải hay trái.
Phía dưới trang, có vài ký hiệu, ký hiệu đầu có 4 hình vuông nhỏ. Khi bấm vào ký hiệu này, ta thấy màn hình có nhiều trang nhỏ với số trang. Chỉ cần chạm vào một trang nhỏ đó, thì trang đó mở ra. Ví dụ ta muốn xen vần NG, mục lục cho biết vần này bắt đầu từ trang 60. Vì flipbook ghi số trang từ trang bìa, nên vần NG bắt đầu từ trang 61. Ta bấm vào trang 61 sau khi mở ký hiệu 4 hình vuông nhỏ. Trang 61 mở ra ngay, thay vì phải lật từng trang như dạng cũ.
https://fliphtml5.com/oimsx/uwjp/  

GERMANY, 14.02.2021

TẠP CHÍ DÂN VĂN

Xin quý vị click vào hình đễ đọc.




NHÌN LẠI LỊCH SỬ BÁCH VIỆT VÀ QUÁ TRÌNH HÁN HÓA BÁCH VIỆT

08 Tháng Chín 201612:00 SA(Xem: 5056)
Trần Gia Ninh

Tượng Thừa tướng Nam Việt Lữ Gia
ở Linh Tiên Đạo Quán, Hoài Đức, HN.

 
Khi đọc những câu hỏi “Vì sao đã thống trị Việt Nam hơn ngàn năm mà cuối cùng Trung Quốc vẫn không thể đồng hóa Việt Nam?”. Hoặc “Người Việt Nam (tộc người Kinh) vì sao mà khó đồng hóa như vây? (1), nhiều người nghĩ chắc là ý kiến của những anh chàng người Việt nặng đầu óc dân tộc chủ nghĩa. Nhưng thật bất ngờ, những câu hỏi này và tương tự như vậy hiện là những chủ đề nóng của các diễn đàn tranh luận trên mạng Internet của người Trung Hoa, bằng tiếng Trung chứ không phải của người Việt.

 Họ đã chất vấn nhau, đại loại thế này: Hơn một nghìn năm, trước khi nhà Tống lên ngôi, Giao Châu là thuộc Trung Hoa, dù chị em họ Trưng có nổi dậy cũng chỉ mấy năm là dẹp yên. Thế mà vì sao từ đời Tống trở đi các triều đại Trung Hoa không thể thu phục nổi Việt Nam. Hơn nữa, dân tộc Việt Nam, người Kinh ấy, từ đâu mà ra, hình thành từ lúc nào? Người Hán chúng ta từ cổ xưa đã có sức đồng hóa cực mạnh. Số dân tộc đã bị Hán tộc đồng hóa không đếm xuể. Tại sao chừng ấy năm đô hộ vậy mà không đồng hóa nổi Việt Nam… Nếu An Nam là thuộc Trung Quốc từ thời đó, liệu bây giờ quần đảo Nam Sa (VN gọi là Trường Sa) có thành vấn đề không? Việt Nam có còn chiếm được nhiều đảo ở Nam Sa như bây giờ không?

 Là người Việt Nam, chắc ai cũng muốn chính mình tìm câu trả lời cho những câu hỏi thú vị đó. Chúng ta từng nghe nói rằng, từ xa xưa một dải giang sơn mênh mông từ Nam sông Dương Tử trở về Nam là nơi các tộc dân Việt sinh sống và phát triển nền văn minh lúa nước rực rỡ. Thế rồi ngày nay, hầu hết đều trở thành lãnh thổ và giang sơn của người Hán, dùng Hán ngữ và văn hóa Hán. Quá trình đó người ta quen gọi là Hán hóa. Vì vậy nhìn lại lịch sử Bách Việt và quá trình Hán hóa Bách Việt, và quá trình Hán hóa Bách Việt, là một cách ôn cố tri tân hữu ích. Đáng tiếc là thời xa xưa đó lịch sử chủ yếu ghi chép lại bằng Hán ngữ cổ ở Trung Hoa, không dễ tiếp cận với đa số hiện nay. Vì lẽ đó người viết bài này cố gắng tóm tắt những gì mà sử sách cổ còn ghi lại, kết hợp với những tài liệu khoa học đã công bố của một số học giả uy tín trên thế giới, ngõ hầu cung cấp một vài thông tin hữu ích, nhiều chiều, kể cả còn đang tranh cãi.
Bách Việt là ai và ở đâu?

 Vào thời thượng cổ, từ đời nhà Thương 商朝 (khoảng 1600-1046 TCN), trong văn tự thì chỉ có một chữ Việt 戉 (nghĩa là cái rìu), cũng là tên chung cho tộc người ở phía Nam không phải là người Trung Hoa, do tộc người này sử dụng rìu (Việt) làm công cụ. Về sau, vào thời Xuân Thu Chiến quốc 春秋 戰國 (722-221 TCN) bắt đầu trong văn tự có hai chữ Việt là 越 và 粤, đều chỉ bộ tộc Việt, dùng như nhau (Sách cổ viết là 越粵互通-Việt Việt Hỗ Thông), ta hay gọi 越 là Việt bộ tẩu 走 (đi, chạy) và Việt 粤 là Việt bộ mễ 米-(lúa) (2).

 Trong Hán ngữ cận, hiện đại, hai chữ Việt này (có thể từ sau đời Minh) thì dùng có phân biệt rõ ràng. Chữ Việt bộ tẩu 越 là ghi tên tộc Việt của nước Việt có lãnh thổ ở vùng Bắc Triết Giang, ngày nay là vùng Thượng Hải, Ninh Ba, Thiệu Hưng (Cối Kê 會稽 xưa). Một loại ca kịch cổ ở vùng này vẫn còn tên là Việt Kịch 越剧. Chữ Việt bộ tẩu này cũng là tên của tộc Nam Việt (Triệu Đà) Âu Việt và Lạc Việt (Việt Nam ngày nay), Mân Việt (Phúc Kiến), Điền Việt (Vân Nam, Quảng Tây)… Chữ Việt 粤 bộ mễ 米 ngày nay dùng ghi tên cư dân vùng Quảng Đông, Hồng Kong, Ma Cao… những cư dân này sử dụng ngôn ngữ gọi là tiếng Quảng Đông (Cantonese). (Ai đến Quảng Châu đều thấy biển xe ô tô đều bắt đầu bằng chữ 粤 là vì vậy).

 Bởi vì xưa có đến hàng trăm tộc Việt, cho nên sử sách gọi chung là Bách Việt 百越 hoặc 百粤. Tên gọi Bách Việt xuất hiện trong văn sách lần đầu tiên trong bộ Lã thị Xuân Thu 吕氏春秋 của Lã Bất Vi 呂不韋 (291–235 TCN) thời nhà Tần.

 Trong lịch sử Trung Hoa, toàn bộ vùng đất Giang Nam (tên gọi vùng Nam Sông Dương Tử), rộng bảy tám ngàn dặm từ Giao Chỉ đến Cối Kê, từ trước thời Tần Hán đều là nơi cư ngụ của các tộc Bách Việt.
 Thời nhà Hạ gọi là Vu Việt 于越, đời Thương gọi là Man Việt 蛮越 hoặc Nam Việt 南越, đời Chu gọi là Dương Việt 扬越, Kinh Việt 荆越, từ thời Chiến quốc gọi là Bách Việt百越.

Sách Lộ Sử của La Bí (1131 – 1189) người đời Tống viết (3): Việt thường, Lạc Việt, Âu Việt, Âu ngai, Thả âu, Tây âu, Cung nhân, Mục thâm, Tồi phu, Cầm nhân, Thương ngô, Việt khu, Quế quốc, Tổn tử, Sản lí (Tây Song Bản Nạp), Hải quý, Cửu khuẩn, Kê dư, Bắc đái, Phó cú, Khu ngô (Cú ngô)…, gọi là Bách Việt. 
Hán Hóa Bách Việt – Giai đoạn từ thượng cổ đến trước thời Tần-Hán

 Gọi Hán hóa chỉ là để cho tiện thôi, thực ra không đúng, vì lúc này làm gì đã có nhà Hán. Hai nước Ngô – Việt là những tộc Bách Việt được ghi chép rất sớm trong sử sách. Nước Ngô 吴国,còn gọi là Cú Ngô 句吴, Công Ngô 工吴,攻吾… lập quốc vào thời Chu Vũ Vương (thế kỷ 12 TCN), kinh đô ở Tô Châu 苏州 ngày nay, từ thủy tổ là Ngô Thái Bá 吳太伯 truyền đến Phù Sai夫差 thì bị diệt vong bởi nước Việt (473 TCN). Thực ra ghi chép sớm nhất trong sử sách là Vu Việt 于越, tiền thân của nước Việt 越 国 thời Chiến quốc. Nước Việt đã tồn tại muộn nhất cũng từ thời nhà Thương, không tham gia vào sự kiện Vũ Vương Phạt Trụ (1046 TCN), nhưng sử có ghi là khá lâu trước đó đã làm tân khách của Chu Thành Vương 周成王(1132 – 1083 TCN). Nước Việt đã có một văn hóa dân tộc đặc sắc, gọi là Văn hóa Mã Kiều 馬橋文化, mà các chứng tích đã tìm thấy khi khai quật di chỉ Thái Hồ 太湖地區. Nước Việt định đô ở Cối Kê 會稽 (Thiệu Hưng ngày nay) truyền đến đời Câu Tiễn句踐 (496 – 464 TCN) thì bành trướng lên phía Bắc, năm 473 TCN sau khi diệt nước Ngô, mở rộng bờ cõi Bắc chiếm Giang Tô 江蘇, Nam đoạt Mân Đài 閩台 (tức Phúc Kiến ngày nay), Đông giáp Đông Hải 東海, Tây đến Hoàn Nam 皖南 (phía Nam An Huy ngày nay), hùng cứ một cõi Đông Nam. Đến năm 306 TCN, nước Sở 楚國 nhân nước Việt, triều vua Vô Cương, nội loạn, bèn liên kết với nước Tề 齊國 tiến chiếm nước Việt, đổi thành quận Giang Đông, nước Việt tuyệt diệt và bị Sở hóa từ đó. Những sự kiện này được ghi chép tỉ mỉ trong bộ sử Ngô Việt Xuân Thu 吳越春秋 do Triệu Diệp 赵晔 thời Đông Hán soạn (~năm 25). Các nhà khoa học thế giới ngày nay cũng đã phục dựng đầy đủ lịch sử này, ví dụ xem Eric Henry (4).

 Đến đây cần nói rõ, Sở là gốc Hoa Hạ (sau này gọi là Hán) hay là Bách Việt, hiện còn nhiều tranh cãi. Dân Hoa Hạ (chính là tộc Hán sau này) nhận mình là con cháu của Tam Hoàng, Ngũ Đế. Tam Hoàng thì rất thần tiên, mơ hồ, Ngũ Đế có vẻ cụ thể hơn. Theo Sử Ký của Tư Mã Thiên (5) thì đó là năm chi: Hoàng Đế (黃帝), Chuyên Húc (顓頊), Đế Cốc (帝嚳), Đế Nghiêu (帝堯), Đế Thuấn (帝舜). Dân nước Sở tự nhận thuộc chi Chuyên Húc, họ Cao Dương 高阳 tức là tộc Hoa Hạ (Hán). Đất nước Sở nằm ở đoạn giữa sông Trường Giang, vùng Nam Bắc Hồ Động Đình, quen gọi là vùng Kinh Sở (Hồ Bắc – Hồ Nam của Trung Hoa ngày nay). Vùng Kinh Sở nằm chồng lấn phía Nam lưu vực sông Hoài sông Vị của dân Trung Nguyên Hoa Hạ. Đó là vùng đất đầu tiên mà một chi của dân Hoa Hạ (chi Chuyên Húc) thiên di xuống. Nhà thơ Khuất Nguyên (340 – 278 TCN) người nước Sở, mở đầu bài thơ Ly Tao đã viết (6): Bá Dung nhớ cha ta thuở nọ, /Vốn dòng vua về họ Cao Dương (Nhượng Tống dịch thơ). Trước khi con cháu Cao Dương nam thiên đến đây, dân bản địa là tộc nào? Nước Sở lập quốc vào cuối đời Thương đầu đời Chu (1042 TCN). Sách Sử Ký – thiên Sở Thế gia viết rằng người Sở là dân Man (Sở Man), vua Sở nhận mình là dân Man Di (7). Man là chữ người Hoa Hạ gọi dân miền Nam không phải là Trung Hoa. Những khai quật khảo cổ ở vùng Kinh Sở gần đây cũng cho thấy rằng thực ra cư dân tối cổ ở vùng Kinh Sở có nguồn gốc Tam Miêu, một dân tộc thuộc nhóm Bách Việt. Đây có thể là nhóm Âu Việt ở phía Tây nên còn gọi là tộc Tây Âu, để phân biệt với Đông Âu là tộc Âu Việt phía Đông, tức vùng Mân – Đài (Phúc Kiến). Tộc Tây Âu, theo các nhà dân tộc học, có thể là tổ tiên các tộc H’mông, Lào, Miến, Thái… hiện nay, ít nhiều cũng có cùng huyết thống người Việt Nam cổ. Như vậy là quá trình Trung Hoa hóa dân Man (Miêu tộc bản địa) đã bắt đầu từ cuối Thương đầu đời Chu rồi. Có thể tạm gọi đó là đợt đồng hóa thứ nhất. Sự Trung Hoa hóa theo thế lực nước Sở, bành trướng đến Trùng Khánh, Quý Châu, về sau sang tiếp phía Đông, trở thành một trong thất hùng thời Chiến quốc. Đặc biệt là quý tộc Sở cổ đều có họ Hùng (熊 – con gấu), vua Sở là Hùng Vương, phải chăng có liên hệ gì đó đến Hùng Vương ở Việt Nam, chỉ khác chữ Hán viết 雄 – hùng mạnh, (trong sử Trung Hoa cổ không tìm thấy ghi Hùng Vương 雄 này, có lẽ đây là do các nhà Nho Việt Nam viết lại sau này!). Tóm lại đến thời Khuất Nguyên, rồi sau đó là lúc Sở diệt Việt phía Đông, thì Sở đã hoàn toàn biến thành dân Trung Hoa, và quá trình Trung Hoa hóa Ngô – Việt là quá trình đồng hóa thứ hai, tiến hành thông qua nước Sở.

 Các nhà khoa học Nhật, Mỹ, đã có nhiều phát hiện, chứng minh nền văn minh Ngô Việt sau khi nước Việt bị diệt và Trung Hoa hóa (đúng hơn là Sở hóa), đã theo dòng người Ngô Việt chạy ra biển sang Nhật Bản (tiếng Nhật Bản đọc Hán tự theo kiểu nước Ngô, nên gọi là ごおん-Go On- Ngô âm 呉音). Nền văn minh đó chủ yếu theo bộ phận tinh hoa của dân Ngô Việt chạy xuống phía Nam hợp lưu cùng Việt bản địa, thành ra văn minh Việt kéo từ Lĩnh Nam (phía Nam dãy Ngũ Lĩnh – tức Bắc Lưỡng Quảng ngày nay) đến Giao Chỉ. Theo phát hiện của Jerry Norman và Tsu-lin Mei (Washington University và Cornell University) thì nhiều từ cổ của tộc Việt nước Ngô Việt hiện vẫn thông dụng trong tiếng Việt ngày nay, ví dụ các từ: chết; chó, đồng (trong đồng cốt), sông, khái (hổ), ngà (trong ngà voi), con (trong con cái), ruồi, đằm (trong đằm ướt), sam (con sam), biết; bọt , bèo…8 Điều này chứng tỏ rằng dân Lạc Việt ít nhiều có cùng huyết thống với dân Ngô Việt xưa.  
Hán hóa Bách Việt- Giai đoạn sau thời Tần-Hán

 Cho đến trước khi Tần Thủy Hoàng diệt được sáu nước, dẹp bỏ nhà Chu, thống nhất Trung Hoa (221 TCN) thì dân Hoa Hạ (Hán tộc) chỉ chiếm lãnh và đồng hóa được dải đất từ Hoàng Hà xuống đến Ngũ Lĩnh9, còn từ Ngũ Lĩnh trở về Nam (Lưỡng Quảng, Giao Chỉ, Hải Nam… gọi tắt là Lĩnh Nam) thuộc về Âu Việt (gọi chung Tây Âu và Đông Âu) và Lạc Việt. Từ Kinh Sở trở về Tây, Tây Nam (Vân Nam) vẫn còn thuộc về Điền Việt, Tây Âu, Đại Lý…

 Vùng Bách Việt phía Tây Nam này (Vân Nam) thì mãi đến thế kỷ 12 còn độc lập, dù người Hán có tiến hành nhiều cuộc chiến tranh xâm chiếm lẻ tẻ. Chỉ sau khi Mông Cổ chiếm Đại Lý (1253), Vân Nam, rồi sau đó chiếm nốt Trung Hoa, lập ra nhà Nguyên, thì Vân Nam mới nhập vào Trung Hoa. Năm 1381, Minh Thái Tổ mới bình định xong Vân Nam và cuộc Hán hóa hoàn tất rất nhanh. Ngày nay hơn 61% cư dân Vân Nam là người Hán.

 Vùng Lĩnh Nam chiếm làm đất Trung Hoa từ thời Tần – Hán, nhưng quá trình Hán hóa thì khá khó khăn và cho đến nay vẫn chưa xong hết (!). Cổ sử Trung Hoa chép thì Lĩnh Nam có nhiều bộ tộc Việt lập quốc như Tây Âu, Lạc Việt… có nước Dạ Lang (nhưng không thấy chép Văn Lang!). Âu và Lạc (10) là một tộc Việt hay là hai tộc Việt khác nhau, cho đến tận ngày nay vẫn còn tranh cãi. Sách “Hoài Nam Tử” (139 TCN) thì chỉ viết có Tây Âu (11) không có nói đến Lạc chỗ nào cả. Sách “Sử Ký” (94 TCN) muộn hơn một ít thì cũng có viết Âu, không tìm thấy chữ Lạc đứng riêng một mình, mà luôn luôn chỉ có chép Âu Lạc liền nhau (12). Tuy nhiên trong Lã thị Xuân Thu (291–235 TCN) sớm nhất thì có chép” Việt Lạc-越骆” (13). Việt Lạc rất có thể chính là nước Lạc Việt trong sử sách sau này, Việt Lạc là ghi âm trực tiếp từ ngôn ngữ người Việt, theo ngữ pháp Việt, còn sau này ghi Lạc Việt là ghi chép qua thông dịch sang Hán Ngữ, theo ngữ pháp Hán.

 Luận theo sử sách chép, có thể thời tiền Tần thì Âu và Lạc là hai chi Việt khác nhau. Thời kỳ chiến đấu chống lại Tần thì có thể hai chi Việt này liên minh lại với nhau thành một khối Âu Lạc. Lúc đó trung tâm là ở Nam Trung Hoa, vùng Vũ Minh Mã đầu (Nam Ninh – Quảng Tây ngày nay). Chỉ sau khi Hán Vũ Đế bình Nam Việt của Triệu Đà thì hai chi này mới lại phân chia ra, và trung tâm di về vùng quanh Hà Nội ngày nay.

 Đồng thời với nước Lạc Việt có nước Tây Âu hay Âu Việt mà người đứng đầu trong sử chép là Thục Phán. Tuy nhiên Âu Việt lập quốc lúc nào và Thục Phán từ đâu ra thì sử sách không ghi rõ. Rất nhiều ý kiến cho rằng Thục Phán là hậu duệ của vương triều nước Thục. Quả thực sử có chép một quốc gia tên là Thục Quốc, ở Tây Nam Trung Hoa ngày nay. Thường Cừ (347)người đời Tấn viết trong Sách “Hoa Dương Quốc Chí” (14): “Nước Thục Đông giáp nước Ba, Nam giáp Việt, Bắc phân giới với nước Tần, Tây tựa Nga Ba”. Vị trí địa lý như vậy nên cư dân ở đây bao gồm người Khương, người Việt, người Hoa Hạ. Dòng họ Khai Minh làm vua nước Thục, truyền được 12 đời, đến năm 316 TCN đời Chu Thận Vương thì bị nhà Tần diệt (15), hậu duệ chạy về phương Nam. Sử chép đến đây thì đứt đoạn, không nói gì tiếp. Cho nên về sau nói Thục Phán là hậu duệ Khai Minh thị, cha Thục Phán là Khai Minh Chế chiếm lưu vực Diệp Du Thủy (tức thượng nguồn sông Hồng) (16), xưng là An Tri Vương vua nước Tây Âu, sau truyền ngôi cho con là Phán, cũng chỉ là một giả thuyết, chép lại theo truyền thuyết của tộc dân Đại Y (17).

 Lúc này cũng là thời kỳ theo truyền thuyết là có nước Văn Lang ở phía trung và hạ lưu sông Hồng (trong cổ sử Trung Hoa không có tên nước Văn Lang, chỉ có tên một nước là Dạ Lang, liệu có liên quan đến Văn Lang không?), do dòng họ Hùng làm vua. Việc Thục Phán là hậu duệ nước Thục, cũng như nước Văn Lang có vua Hùng trị vì 18 đời trong sử An Nam là ghi lại theo truyền thuyết. Tuy nhiên Thục Vương Tử tên Phán, Hùng Vương vua Lạc Việt, Thục diệt Hùng Vương chiếm lãnh thổ, xưng là An Dương Vương thì có ghi trong sử cổ Trung Hoa từ đầu Công nguyên.

 Theo quyển “Việt sử lược” (18), của tác giả không rõ tên, có lẽ là người Việt Nam khắc in ở Trung Hoa vào quãng cuối Nguyên đầu đời Minh (~1360), có viết về nước Văn Lang, vua là Đối Vương 碓王, sau bị Thục Phán đánh đuổi, Phán xưng là An Dương Vương.

 Sách cổ “Thủy kinh chú” dẫn lại lời ghi trong “Giao châu ngoại vực ký” rằng (19) “… Thục Vương Tử dẫn binh tướng ba vạn đánh lại Lạc Vương 雒王, Lạc hầu 雒侯, thu phục các Lạc Tướng. Rồi đó Thục Vương Tử xưng là An Dương Vương”. Sách “Cựu Đường thư” dẫn lại “Nam Việt chí” chép (20) “Đất Giao Chỉ vô cùng màu mỡ, xưa có vua xưng là Hùng Vương 雄王, có Lạc hầu phò tá. Thục Vương Tử dẫn quân tướng ba vạn tiến đánh, diệt được Hùng Vương. Thục xưng làm An Dương Vương, cai trị Giao Chỉ”. Như vậy thì sử sách có ba tên gọi cho vua nước Lạc Việt: Lạc Vương, Hùng Vương, Đối Vương. Có nhiều ý kiến cho rằng ba tên gọi này là một, chính là Lạc Vương, các tên khác do về sau sao chép nhầm chữ Lạc 雒 của Hán ngữ mà thành (21). Dầu sao thì cũng có hai lý giải về truyền thuyết danh xưng Hùng Vương, một là dòng dõi họ Hùng Vương nước Sở, hai là Lạc Vương vua của dân Lạc Việt. Dù tên tuổi đúng sai thế nào, thì Hùng Vương không chỉ thuần túy là truyền thuyết của Việt Nam, mà cũng có ghi trong cổ sử Trung Hoa. Nhân vật Thục Phán tuy nguồn cội chưa xác định, nhưng cũng có thật, đánh chiếm Lạc Việt lập nên nước Âu Lạc xưng là An Dương Vương cũng là có thật, có ghi trong chính sử không chỉ của Việt Nam (22).

 Tần diệt Sở, rồi đánh chiếm Lĩnh Nam, Đô Úy Triệu Đà được Tần cắt cử quản lĩnh Quế Lâm, Tượng Quận. Nhân khi nơi nơi nổi lên chống Tần, năm 204 TCN Triệu Đà bèn chiếm Lĩnh Nam lập nước Nam Việt, đóng đô ở Phiên Ngung (Quảng Châu) và đánh chiếm Âu Lạc. Sách “Giao Châu ngoại vực ký” chép: “Nam Việt Vương Úy Đà cử binh đánh An Dương Vương. An Dương Vương có thần nhân Cao Thông phù tá, chế ra nỏ thần cho An Dương Vương, một phát giết được ba trăm mạng” (23). Sách “Thái Bình Ngự Lãm” dẫn “Nhật Nam truyện” còn chép phóng đại hơn, nỏ một phát giết ba vạn người và còn kể tỉ mỉ chuyện tình Mỵ Châu Trọng Thủy, chuyện mất nỏ thần, dẫn đến An Dương Vương thất bại (24). Nước Âu Lạc từ đó nhập vào nước Nam Việt (25). Triệu Đà lập nước Nam Việt năm 203 TCN, giữ độc lập với nhà Hán được 92 năm, truyền 5 đời vua, đến đời Triệu Kiến Đức và thừa tướng Lữ Gia (26) thì mất nước vào tay Hán Vũ Đế năm 111 TCN. Một dải Lĩnh Nam và Đông Hải bị Hán chiếm và Hán hóa kéo dài hơn ngàn năm, ngoại trừ Lạc Việt, còn lại hoàn toàn trở thành Hán. Lạc Việt, sau hơn 1000 năm nô lệ và Hán hóa, vẫn giữ được bản sắc và nền văn minh Việt, cuối cùng thì giành được độc lập và trở thành Đại Cồ Việt, Đại Việt, Nam Việt và Việt Nam đến tận ngày nay. Đó là một trường hợp duy nhất mà Trung Hoa không thể Hán hóa được.
Vì sao Đại Việt không bị Hán hóa?

 Đồng hóa dân tộc (national assimilation) gồm:

1 – Đồng hóa tự nhiên: đây là một xu hướng tự nhiên trong tiến trình lịch sử loài người.

2 – Đồng hóa cưỡng chế: sự cưỡng bức một dân tộc bị trị chấp nhận ngôn ngữ, chữ viết, phong tục, tập quán của dân tộc thống trị; đây là một tội ác. (27) Người Hán đã thực hiện cả hai biện pháp đồng hóa này hơn một ngàn năm mà Đại Việt vẫn không bị đồng hóa, người Trung Hoa ngày nay tìm mọi lý lẽ để biện minh nhưng chính họ cũng không thấy thuyết phục lắm. Chẳng hạn:
 * Việt Nam ở xa Trung Nguyên, núi sông cách trở không tiện đồng hóa. Phản bác lại: Tại sao Vân Nam cũng xa, núi sông cách trở hơn nhiều mà chỉ trong mấy trăm năm đã bị đồng hóa hoàn toàn.
 * Việt Nam ở phương Nam, nóng ẩm, người Hán không ở được. Thế tại sao Hải Nam cũng như vậy mà lại ở được, đồng hóa xong rồi.
 * Tại vì số lượng người Hán di dân xuống Việt Nam ít. Thực ra, không có bằng chứng nào là ít hơn Hải Nam, Vân Nam cả. Chỉ riêng số quan lại cai trị và số quân chiếm đóng trong hơn một ngàn năm, cũng không ít hơn số dân bản địa. Chỉ có thể hiểu người Hán ở đây đã bị Việt hóa. Cũng có ý kiến cực đoan bênh vực, nói rằng thực ra đã Hán hóa dân Việt rồi nhưng từ sau năm 1945, Việt Nam đã thanh lọc lại hết!

 Cũng có một số kiến giải của người Trung Hoa bình thường ngày nay, xem ra cũng ít nhiều có lý, ví như:
 * Người Kinh có ba nguồn gốc: Người Lạc Việt, Người Thục, Người Hán. Do vậy người Kinh hấp thụ được tinh hoa của ba chủng tộc nên trở thành một tộc người ưu tú.
 * Người Hán ở Việt Nam kể cả các tầng lớp cai trị không đồng hóa được người Kinh, trái lại bị đồng hóa ngược trở thành người Việt. Người Kinh là một tộc người có năng lực đồng hóa mạnh, bằng nếu không nói là còn hơn người Hán. Hãy xem họ mở rộng về phía Nam thì rõ.

 Nhưng đó chỉ là những lý do bề ngoài mà những người bình thường có thể nhận thấy được. Thực ra, theo các nhà chuyên môn, đồng hóa dân tộc là một vấn đề khoa học lớn, rất nhạy cảm và vẫn chưa có được một lý thuyết nào đứng vững cả, vì vậy tạm thời không bàn đến lý luận trong bài này. Thông thường đồng hóa dân tộc là một sự tổng hòa gồm:
 * Đồng hóa chủng tộc, thường được thực hiện bằng một cuộc chinh phục và kẻ chinh phục hoặc diệt chủng dân bị chinh phục, hoặc xua đuổi dân bị chinh phục để thay thế bằng cư dân của phía chinh phục, hoặc pha loãng huyết thống.
 * Đồng hóa về văn hóa, tín ngưỡng.
 * Đồng hóa về tổ chức cộng đồng, xã hội.
 (Về vấn đề Văn Hóa, Ngôn Ngữ, Tín Ngưỡng, đều là những yếu tố bảo tồn dân tộc Việt, xin dành cho bài sau).

 Sự đồng hóa dân tộc sẽ khó được thực hiện.
 1. Nếu một dân tộc có sức sống sinh học và xã hội mãnh liệt thì sự đồng hóa chủng tộc khó thành công, ví dụ điển hình là dân tộc Do Thái.
 2. Đồng hóa về văn hóa, tín ngưỡng phụ thuộc vào trình độ văn minh của dân tộc. Một dân tộc mạnh về chinh chiến, có thể chiến thắng trong cuộc chinh phục, nhưng nếu trình độ văn minh thấp hơn thì sẽ bị kẻ bại trận đồng hóa, điển hình như tộc Hung Nô, Nữ Chân, Mãn Châu… đều chiến thắng người Hán nhưng lại bị Hán hóa.
 3. Khi một cộng đồng dân tộc có tổ chức tốt, cố kết các thành viên bền chặt, thì dân tộc đó rất khó bị đồng hóa.

 Nhìn lại thì thấy người Việt (người Kinh) có đủ cả ba yếu tố 1,2,3: Người Kinh hiện nay là nơi tập hợp các thành phần ưu tú nhất của Bách Việt, bởi lẽ khi Bách Việt bị Hán hóa, các thành phần ưu tú, tinh hoa trong xã hội Việt là mục tiêu tàn sát của người Hán, do đó các thành phần này phải tháo chạy, và nơi dung nạp họ là mảnh đất cuối trời Bách Việt, tức Việt Nam ngày nay. Hãy xem thí dụ về ngôn ngữ Ngô Việt còn lưu lại trong tiếng Việt (như đã nói ở trên), đó là một bằng chứng cho sự dịch chuyển của người Ngô-Việt xuống đây. Vì vậy tộc người Kinh có sức sống mãnh liệt.

 Tinh hoa của văn minh Bách Việt được cô đọng lại ở người Kinh, chắc chắn không kém nền văn minh Hoa Hạ. Người Việt dù không có văn tự riêng (hay có mà bị xóa sạch sau ngàn năm nô lệ) nhưng vẫn phát triển và bảo tồn được ngôn ngữ dân tộc, dù phải mượn Hán Ngữ để ghi chép, thì thật là một kỳ tích, chẳng kém gì người Do Thái vẫn giữ được tiếng Do Thái dù bị diệt chủng và xua đuổi hai ngàn năm.

 Tổ chức xã hội của tộc Việt, điển hình là làng xã đã cố kết cộng đồng rất chặt. Tổ chức nhà nước cũng có rất sớm, từ thời Chiến quốc, do đó rất khó phá vỡ, nó tồn tại dấu tích sau khi khi đã độc lập. Hãy nhớ đến Hội Nghị Diên Hồng thời Trần để thấy tinh thần của tổ chức xã hội gắn kết người dân với triều đình chặt chẽ đến mức nào. Ngay cả một vương triều thất thế, bị truy đuổi như Triều Mạc, cũng không bán rẻ đất nước cho ngoại bang. Năm 1594, Mạc Ngọc Liễn chiếm giữ Vạn Ninh, trước khi chết để di chúc cho Mạc Kính Cung: “Nay vận khí nhà Mạc đã hết, họ Lê lại phục hưng, đó là số trời, dân ta vô tội mà để phải mắc nợ binh đao, sao lại nỡ thế… Lại chớ nên mời người Minh vào trong nước ta mà để dân ta phải lầm than đau khổ, đó cũng là tội lớn không gì nặng bằng” (28).

 Quân Minh đầu TK 15 cũng khó mà có thể chiếm được Đại Việt làm quận huyện nếu không có những nhóm quý tộc như nhóm Mạc Thúy, vì quyền lợi riêng bán rẻ dân tộc cho người Minh. Nên biết Mạc Thúy là hậu duệ của danh nhân Mạc Đĩnh Chi, một đại thần nhà Trần… Nhà Thanh không thể chiếm Thăng Long nếu không có vua quan bán nước Lê Chiêu Thống, tiếc thay y lại là dòng dõi của anh hùng dân tộc Lê Lợi…

 Than ôi! truyền thống thì hào hùng rực rỡ, tổ tiên phải đổ bao mồ hôi, xương máu mới có, nhưng bán rẻ nó đi thì thật dễ dàng. May sao tự ngàn xưa số những kẻ bán rẻ dân tộc như vậy là vô cùng nhỏ trong cộng đồng người Việt.1

CHÚ DẪN

 1为什么经历了一千多年的统治,中国始终不能同化越南?“Vì sao đã thống trị Việt Nam hơn ngàn năm mà cuối cùng Trung Quốc vẫn không thể đồng hóa Việt Nam?”. http://bbs.tianya.cn/post-no05-226522-1.shtml
 越南人(京族)为何难以同化 “ Người Việt Nam (tộc người Kinh) vì sao mà khó đồng hóa như vây?” http://lt.cjdby.net/thread-1440161-1-1.html

 2 Có học giả Việt đương thời theo tự dạng vội suy đoán rằng viết như vậy có lẽ chỉ tộc người vác rìu đi (chạy) săn và tộc người trồng lúa trong ruộng. Chứng tỏ thời bấy giờ tộc Việt thuộc văn minh săn bắn và trồng trọt. Có lẽ không phải đơn giản như vậy. Khảo sát lịch sử văn tự thì thấy rằng Việt 越 và Việt粵 âm đọc giống nhau, “Sử ký” viết là 越, “Hán thư” viết là 粤. Âm đọc 粤 là từ âm đọc của chữ Vu 于, người cổ đọc 越 là于. Vu 于 viết theo lối chữ triện 篆 là 亏, hài thanh là chữ vũ 雨-mưa, viết lên trên thành 雩. Trong “Hán Thư” còn tồn nhiều chữ cổ, nên chữ Việt 越 đều cải viết thành雩, sau theo lối chữ lệ 隶, chữ khải 楷 mới viết thành ra 粤, tức biến hóa hình chữ vũ 雨 đặt trên chữ Vu亏.
 3 “路史” 罗泌 (1131—1189) 宋朝 : 越裳, 雒越, 瓯越瓯皑, 且瓯, 西瓯, 供人, 目深, 摧夫, 禽人, 苍梧, 越区, 桂国, 损子, 产里(西双版纳), 海癸, 九菌, 稽余, 北带,仆句, 区吴(句吳), 是谓百越。
#4 http://www.sino-platonic.org/complete/spp176_history_of_yue.html The Submerged History of Yuè. By Eric Henry, University of North Carolina

 5 史記-司馬遷 (145 – 86 TCN)
  6屈原在《离骚: 帝高阳之苗裔兮,朕皇考曰伯庸- Đế Cao Dương chi miêu duệ hề, Trẫm hoàng khảo viết Bá Dung.
 7《史记.楚世家》记载: “封熊绎于楚蛮- phong Hùng Dịch ư Sở Man “, “ 熊渠曰: 我蛮夷也不与中国之号谥- Hùng Cừ nói: Ta là dân man di, không cùng hiệu, thụy của Trung quốc. Hùng Dịch (~1006 TCN) là vua lập ra nước Sở, Hùng Cừ (~877 TCN) là vua Sở về sau. Sở Man là tên nhà Thương, Chu gọi dân Kinh Sở bản địa, Man tức là Man Việt, tên tộc Việt thời nhà Thương.
 8 Jerry Norman and Tsu-lin Mei, Monumenta Serica, Vol. 32 (1976), pp.274-301, Published by: Taylor & Francis, Ltd.
 9 五岭 Ngũ Lĩnh-dãy núi phía Nam Trung Hoa chạy qua biên giới các tỉnh Quảng Tây, Hồ Nam, Giang Tây, Quảng Đông, có năm đỉnh cao (Ngũ lĩnh) là 越城 (Việt Thành)、都庞 (Đô Lung), 萌渚 (Manh Chử), 骑田 (Kỵ Điền), 大庾(Đại Dữu).
 10 Chữ Lạc có nhiều cách viết, đều đọc là Lạc. Hai chữ 雒,骆 thường dùng như nhau để chép Lạc Việt trong sách cổ. Tiếng Bắc Kinh đọc là Luo, Quảng Đông đọc lok, Đời Đường đọc lak. Nhiều học giả cho rằng nguồn gốc chữ Lạc là do người Hán ghi âm chữ Lúa, Ló của người Việt, người Mường mà ra. Người Việt là tộc người có nền văn minh lúa nước.
 11《淮南子·人间训:“(秦皇)又以卒凿渠而通粮道,以与越人战,杀西呕君译吁宋。Hoài Nam Tử. Nhân gia huấn: (Tần Hoàng) cho quân đào kênh thông đường vận lương, rồi đánh người Việt, giết được vua Tây Âu là Dịch Hu Tống”.
 12《史记·南越列传》赵佗上呈汉文帝的“谢罪书”:“且南方卑湿,蛮夷中间,其东闽越千人众号称王,其西瓯骆裸国亦称王。” Triệu Đà dâng thư tạ tội với Hán Văn Đế: “ đất phương Nam thấp, ẩm ướt. Trong các tộc man di ở đây, (chỉ dám) xưng vương phía Đông với dân Đông Âu vài ngàn khẩu, phía Tây với nước Âu Lạc khỏa thân (ý nói đóng khố cởi trần).
 13《吕氏春秋·孝行览·本味篇》:“和之美者:阳朴之姜,招摇之桂,越骆之菌。”高诱注:“越骆,国名。菌,竹笋。” Lã thị Xuân Thu-Hiếu hạnh lãm, bản vị thiên:” Những thứ hoàn mỹ là gừng Dương Phác, quế Chiêu Diêu, Khuẩn (Măng) Việt Lạc” Cao Dụ chú giải:” Việt Lạc là tên nước, Khuẩn là măng tre”.
 14 常璩(347)华阳国志-(卷三蜀志): Thường Cừ, “Hoa Dương Quốc Chí” (quyển 3-Thục Chí): “历夏、商、周,武王伐纣,蜀与焉。其地东接于巴,南接于越,北与秦分,西奄峨嶓。” Trải qua Hạ, Thương, Chu,Vũ Vương phạt Trụ, cùng có nước Thục. Nước đó đông giáp nước Ba, nam giáp nước Việt, bắc phân giới với Tần, Tây dựa Nga Ba” (vì vậy cư dân ở đây có thể là người Khương, Hoa Hạ và Việt-TGN).
 #15“华阳国志·蜀志:“周慎王五年秋,秦大夫张仪、司马错、都尉墨等从石牛道伐蜀,蜀王自于葭萌拒之,败绩。王遁走,至武阳为秦军所害,其相、傅及太子退至逢乡,死于白鹿山。开明氏遂亡,凡王蜀十二世 ““Hoa Dương Quốc Chí, thiên Thục Chí”: “Mùa thu đời Chu Thận Vương thứ năm, các Đại Phu nhà Tần là Trương Nghi, Tư Mã Thác, Đô úy Mặc v.v theo đường Thạch Ngưu tiến phạt Thục. Thục Vương thân cùng Gia Mạnh cự địch, bị thất bại. Vương tháo chạy đến Vũ Dương thì bị quân Tần hại, Thái tử thoái lui về và chết tại núi Bạch Lộc. Dòng họ Khai Minh, truyền được 12 đời, đến đây bị diệt”. Vũ Dương nay là huyện Bành Sơn,Tứ Xuyên.
 16 叶榆水
 17岱依人
 18《越史略》卷一载:“周庄王时嘉宁部有异人焉,能以幻术服诸部落,自称碓王,都于文郎,号文郎国。以淳质为俗,结绳为政,传十八世,皆称碓王。越勾践尝遣使来谕,碓王拒之。周末为蜀王子泮所逐而代之。泮筑城于越裳,号安阳王,竟不与周通。” .: Việt sử lược: “thời chu Trang Vương, ở Gia Ninh bộ có người tài, dùng xảo thuật thu phục được các bộ lạc, tự xưng là Đối Vương, đô ở Văn Lang, nước là Văn Lang. Tục lệ thuần hậu, chính sự nghiêm chỉnh, truyền 18 đời, đều xưng là Đối Vương. Việt Vương Câu Tiễn đã từng đến dụ, Vương đều từ chối. Vào cuối đời nhà Chu bị Thục Vương Tử tên là Phán đánh đuổi, thay thế trị vì. Phán xây thành Việt Thường, hiệu là An Dương Vương, tuyệt giao với nhà Chu”.
 19《水经·叶榆水注》中注引《交州外域记》云:“交趾昔未有郡县之时,土地有雒田,其田从潮水上,民垦食其田,因名为雒民。设雒王、雒侯主诸郡县。??后蜀王子将兵三万来讨雒王、雒侯,服诸雒将。蜀王子因称为安阳王。Sách “Thủy Kinh.Diệp Du Thủy chú”, dẫn theo “Giao Châu Ngoại Vực Ký” viết rằng: Giao Chỉ thời chưa có quận huyện, đất đai thì có Lạc điền, nước ruộng lên xuống theo triều, dân làm ruộng sinh sống, nên gọi là Lạc dân. Thiết đặt Lạc Vương, Lạc hầu cai quản các quận huyện. ?? về sau Thục vương tử xua quân tướng ba van đánh Lạc Vương, Lạc Hầu, thu phục các Lạc Tướng. Thục vương tử xưng là An Dương Vương.
20《旧唐书·地理志》则引《南越志》云:“交趾之地,最为膏腴,旧有君长曰雄王,其佐曰雄侯。后蜀王将兵三万讨雄王,灭之。蜀以其子为安阳王,治交趾。Sách “Cựu Đường Thư” dẫn lại “Nam Việt Chí” viết rằng: Đất Giao Chỉ rất mầu mỡ, xưa có vua gọi là Hùng Vương, phò tá là các Hùng Hầu. Về sau ba van quân tướng của Thục vương đánh bại Hùng Vương. Con của Thục Vương xưng là An Dương Vương, cai trị Giao Chỉ.
21 So sánh các sách thì “Giao Châu ngoại vực ký” là cổ nhất, ít nhất là trước đời Ngụy Tấn (TK3), “Nam Việt Chí” soạn sau thời Bắc Ngụy, còn “Việt sử lược” có lẽ soạn thời Hồng Vũ (~1358) nhà Minh sau này. Quân Vương của nước Lạc Việt theo sách cổ nhất (“Giao châu ngoại vực ký”) ghi là Lạc Vương 雒王, sách về sau (Việt sử lược, Nam Việt chí) thì ghi là Đối Vương 碓王, Hùng Vương 雄王. Một số học giả Trung Hoa và Quốc tế ngờ rằng ba chữ 碓, 雄, 雒 (bộ thủ “chuy 隹 “) nguyên chỉ là chữ 雒 (Lạc) do mấy trăm năm sau sao chép nhầm phần các chữ ghép (chữ các 各thành chữ thạch 石 hay chữ quăng 厷) mà ra. Tuy nhiên nhiều học giả Viêt Nam không nhất trí, vì cho rằng các nhà Nho Việt Nam ngày xưa đều rất uyên thâm, khó mà lầm lẫn được. Ai cũng có lý cả!22 Các sách của Việt Nam có nói đến Hùng Vương, An Dương Vương cổ nhất như Lĩnh Nam Chích Quái 嶺南摭怪, Việt Điện U Linh Tập 粵甸幽靈集 hay Đại Việt sử ký toàn thư 大越史記全書 thì cũng soạn vào thời Trần, muộn hơn nhiều so với các sách của Trung Hoa như Giao Châu Ngoại Vực Ký 交州外域记, Thái Bình Ngự Lãm 太平御览. Cho nên các sự tích và tên tuổi như Hùng Vương, An Dương Vương… chắc là chép lại từ sách Trung Hoa, vì Việt lúc đó không có chữ viết… Tất nhiên, cũng không loại trừ có những ý kiến khác.
 23《交州外域记: “南越王尉佗举众攻安阳王。安阳王有神人皋通,下辅佐,为安阳王治神弩一张,一发杀三百人”: Nam Việt Vương Úy Đà cử binh đánh An Dương Vương. An Dương Vương có thần nhân Cao Thông xuống phù tá, chế ra nỏ thần cho An Dương Vương, một phát giết được ba trăm mạng”.
24《太平御览》卷348:《日南傳》曰:一發萬人死,三發殺三萬人。佗退,遣太子始降安陽。安陽不知通神人,遇無道理,通去。始有姿容端美,安陽王女眉珠悅其貌而通之。始與珠入庫盜鋸截神弩,亡歸報佗。佗出其非意。安陽王弩折兵挫,浮海奔竄: “Thái Bình Ngự Lãm, quyển 348 dẫn “Nhật Nam Truyện” viết:.. một phát giết vạn người, ba phát giết ba vạn người. Đà lui, sai thái tử Thủy hàng An Dương. An Dương không biết Thông là thần nhân, thấy (vua) không hiểu đạo lý, Cao Thông bèn bỏ đi. Thủy có tư dung đoan mỹ, con gái An Dương Vương là Mỵ Châu vì thích y đẹp mà xiêu lòng. Thủy sai Châu vào kho cưa đứt nỏ thần rồi về nước báo tin. Đà liền xuất kỳ bất ý (tiến đánh). An Dương Vương nỏ gãy binh tan, trốn chạy ra biển. (Thái Bình Ngự Lãm là sách soạn vào thời Bắc Tống (977 -984), trích dẫn “Nhật Nam Truyện” thì chắc là còn cũ hơn. “Nhật Nam Truyện” hình như đã thất truyền, chỉ thấy trích dẫn lại ở sách này-TGN).
25 Người viết bài này đã đến thăm và khảo sát khá kỹ Bảo Tàng Nam Việt Vương ở Quảng Châu. Bảo tàng xây trên khu lăng mộ của Triệu Mô, vua kế vị Triệu Đà (Thủy chết sớm, Mô là con Thủy thay). Ngôi mộ được phát hiện năm 1983, hầu như còn nguyên vẹn, đồ tạo tác rất kỳ vĩ, tinh xảo chứng tỏ trình độ văn minh của người Việt lúc đó khá cao, nếu không nói là hơn hẳn người Hán. Xem bảo tàng thấy các cổ vật trưng bày như thạp đồng, trống đồng, vũ khí… giống in và còn phong phú hơn nhiều so với Bảo Tàng Lịch Sử quốc gia Việt Nam giai đoạn lịch sử đó.
#26 Lữ Gia, Thừa tướng nắm quyền hành của nước Nam Việt, chống lại nhà Hán, thua trận bị chém chết. Lữ Gia và người ở Quận Cửu Chân (Thanh Hóa ngày nay), lăng mộ và đền thờ hiện còn ở Ân Thi, Hưng Yên
27Nguyễn Hải Hoành: Tại sao Việt Nam không bị đồng hóa sau 1.000 năm Bắc thuộc? – http://nghiencuuquocte.org/2015/09/07/viet-nam-khong-bi-dong-hoa-1000-nam-bac-thuoc/#sthash.0FZriY2F.dpuf.
28 Đại Việt sử ký toàn thư – NXB VHTT năm 2000, tập 3, trang 294.

* Người viết bài này xin bày tỏ lời cảm ơn nhà Hán học, dịch giả Trần Đình Hiến về những thảo luận, góp ý quý giá cho phần dịch các đoạn trích trong các sách sử cổ viết bằng văn ngôn trên đây.




Lê Đình Thông: CON TRÂU TRONG VĂN HỌC

Năm Canh Tý (2020) qua đi, năm Tân Sửu (2021) thay thế. Sửu là con giáp thứ hai trong số 12 con giáp (十二支 : thập nhị chi). Tân là can thứ hai trong số thập can (十干).

Mười hai con giáp gồm có : Tý (chuột), Sửu (trâu), Dần (hổ), Mão (mèo), Thìn (rồng), Tỵ (rắn), Ngọ (ngựa), Mùi (dê), Thân (khỉ), Dậu (gà), Tuất (chó), Hợi (lợn).

Danh sách mười Can chép như sau. Số chót năm dương lịch tương ứng với Can + Chi. Năm 2021 : số 1 là Tân + Sửu (theo thứ tự mười hai con giáp).

Số Can Việt Âm – Dương Hành
0 庚 canh Dương Kim
1 辛 tân Âm Kim
2 壬 nhâm Dương Thủy
3 癸 quý Âm Thủy
4 甲 giáp Dương Mộc
5 乙 ất Âm Mộc
6 丙 bính Dương Hỏa
7 丁 đinh Âm Hỏa
8 戊 mậu Dương Thổ
9 己 kỷ Âm Thổ

Trâu là tên gọi tiếng Việt. Chữ Hán viết là 牛 (ngưu), tượng hình cái sừng trâu. Trong văn hóa nước ta, con trâu là điềm lành : nằm mơ thấy trâu vàng là điềm giàu sang, cưỡi trâu là có tin vui, trâu sinh nghé là ý nguyện viên thành.

Văn học nước Tầu có truyện Tây Du Ký, Ngưu ma vương là vua các loài trâu. Trong truyện Ngưu Lang Chúc Nữ, Ngưu Lang là thần chăn trâu, vì mê say Chúc Nữ dệt vải, chàng bỏ việc đồng áng, còn nàng bỏ khung cửi. Thượng đế bắt đôi tình nhân phải xa nhau, kẻ đầu sông Ngân, kẻ cuối sông. Cả hai khóc như mưa, biến thành mưa ngâu. Hàng năm, vào đêm 7 tháng Bảy âm lịch, cả hai được gặp nhau trên chiếc cầu Ô Thước. Trong triết học đông phương còn có sự tích Lão Tử cưỡi trâu.

Trâu trong tranh Đông Hồ

Lịch sử nước ta có sự tích Đinh Bộ Lĩnh thuở nhỏ cưỡi trâu, lấy cờ lau tập trận.

Hình luật triều Lý và triều Trẩn đều ngăn cấm việc giết trâu, mục đích là để bảo vệ việc đồng áng.

Ở Bắc Giang và nhiều sắc tộc miền thượng du có tục tế trâu. Saigon, thủ đô VNCH trước 1975, thuở xưa có tên là Bến Nghé.

I – Con trâu trong văn chương truyền khẩu :

Trong Việt Nam Văn Học Sử Yếu, giáo sư Dương Quảng Hàm chia văn học nước ta thành hai loại : văn chương bình dân và văn chương bác học. Văn chương bình dân gồm văn chương truyền khẩu (tục ngữ : lời nói có từ lâu đời) và ca dao (bài hát lưu hành trong dân gian)

Trong kho tàng tục ngữ, có nhiều câu nói truyền tụng nói về trâu như sau :

1.1. Tục ngữ :

– Con trâu là đầu cơ nghiệp

– Chín gang trâu cười, mười gang trâu khóc.

– Tha cày cuốc góc, nghỉ nhọc chăn trâu.

– Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà.

– Trâu thịt thì gầy, trâu cày thì béo.

– Muốn giàu nuôi trâu lái, muốn lụn bại nuôi bồ câu.

– Mua trâu xem vó, lấy vợ xem nòi.

– Trâu có đàn, bò có lũ.

– Mua trâu xem sừng, mua chó xem chân.

– Làm ruộng không trâu, làm giàu không thóc.

1.2. Ca dao :

– Trên đồng cạn dưới đồng sâu
Chồng cầy vợ cấy con trâu đi cầy.

– Ai nói chăn trâu là khổ??
Tôi chăn nàng còn khổ hơn trâu.

– Đêm qua kẻ trộm vào nhà,
Làm thinh chợp mắt để mà mất trâu.
Nằm đây chớ chẳng ngủ đâu,
Thức mà giữ lấy con trâu con bò.
Nằm đây nào đã ngủ cho,
Thức mà giữ lấy con bò con trâu.

– Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ăn cho béo trâu cày cho sâu.
Ở đời khôn khéo chi đâu,
Chẳng qua cũng chỉ hơn nhau chữ cần.

– Tháng giêng là tháng ăn chơi,
Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà
Tháng ba thì đậu đã già
Ta đi ta hái về nhà phơi khô
Tháng tư đi tậu trâu bò
Để ta sắm sửa làm mùa tháng năm.

– Trâu ơi ta bảo trâu này,
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.
Cấy cày giữ nghiệp nông gia.
Ta đây trâu đấy, ai mà quản công!
Bao giờ cây lúa còn bông,
thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn”.

– Trâu năm sáu tuổi còn nhanh,
Bò năm sáu tuổi đã tranh về già,
Đồng chiêm xin chớ nuôi bò,
Mùa đông tháng giá, bò dò làm sao!

– Trâu buộc thì ghét trâu ăn,
Quan võ thì ghét quan văn dài quần.

– Dù ai buôn bán nơi đâu
Mồng Mười, tháng Tám chọi trâu thì về

– Trời mưa trời gió đùng đùng
Bố con ông Nùng đi gánh phân trâu
Gánh về trồng bí trồng bàu
Trồng ngô, trồng lúa, trồng rau, trồng cà.

II – Con trâu trong văn học thành văn :

Trong các tác phẩm văn học thành văn, cổ văn có Lục Súc Tranh Công là tiêu biều. Tân văn có tiểu thuyết Con Trâu của Trần Tiêu.

2.1. Lục Súc Tranh Công (六畜爭功) viết bằng chữ Nôm. Theo cụ Phó bảng Bùi Kỷ (1888-1960), tác giả Quốc Văn Cụ Thể (1932), tác phẩm này ra đời vào thời Lê mạt. Năm 1923, học giả Trương Vĩnh Ký có công phiên âm ra quốc ngữ.

Lục Súc Tranh Công viết theo thể nói lối, biến thể của song thất, gồm 570 câu. Không biết tác giả là ai, nhưng theo cụ Bùi Kỷ, tác giả hẳn là một nhà nho uyên bác, dùng nhiều điển cố.

Lục súc (六畜) gồm có ngựa, trâu, dê, chó, lợn (heo) và gà. Sau đây là trích đoạn về phần con trâu tranh công :

Trâu mỏi nhọc, trâu liền năn nỉ:
“Một mình trâu ghe nỗi gian nan,
Lóng canh gà vừa mới gáy tan,
Chủ đã gọi thằng chăn vội vã.
Dạy rằng: đuổi trâu ra thảo dã,
Cho nó ăn ba miếng đỡ lòng.
Chưa bao lâu thoắt đã rạng đông;
Vừa đến buổi cày bừa bua việc.
Trước cổ đã mang hai cái niệt,
Sau đuôi thêm kéo một cái cày;
Miệng đã dàm, mũi lại dòng dây,
Trên lưng ruồi bâu, dưới chân đỉa cắn.
Trâu mệt đà thở dài, thở vắn,
Người còn hầm hét, mắng ngược mắng xuôi.
Liệu vừa đứng bóng mới thôi,
Đói hòa mệt, bước khôn dời bước.
Ai thong thả, trâu nào ben đặng ?
Trâu nhọc nhằn, ai dễ thế cho?
Cày ruộng sâu, ruộng cạn cho no,
Lại vườn đậu, vườn mè khiến chở

Làm không kịp thở,
Ăn không kịp nhai.
Tắm mưa, trải gió chi nài!
Đạp tuyết, giày sương bao sá!

Có trâu, sẵn tằm tơ, lúa má,
Không trâu, không hoa quả, đậu mè.
Lúa gặt cất lên đà có trâu xe,
Lúa chất trữ, lại để dành trâu đạp.
Từ tháng giêng cho đến tháng chạp,
Kể xuân, hè, nhẫn đến thu, đông.
Việc cày bừa, nông vụ vừa xong,
Lại xe gỗ, dầm công liên khói,
Bất luận xe rào, xe củi.
Nhẫn đến loài phân bổi, tranh che.
Hễ bao nhiêu nhất thiết của chi,
Thì đã phú mặc trâu chuyên chở.

Bao quản núi non hiểm trở ?
Chi nài khe suối dầm dề ?
Cong lưng chịu việc nặng nề,
Cay đắng những lời dức lác!

Ăn thì những rơm khô, cỏ rác,
Ở quản chi ràn lấm, tráp nè.
Trâu dựng nên nông nọ, nỗi kia;
Trâu làm đặng căn trên, bồ dưới.
Nghĩ suy lại công trâu cho phải,
Lẽ cho trâu thao lụa mặc dày.
Không chi thì quần vải, dải gai,
Không chi thì khố lưỡi cày cũng khá.
Ăn cho phải những cơm với cá,
Không nữa thì rau cháo cũng nên
Đến mai sau già cả sức hèn,
Cũng bảo dưỡng bổ công lao lý.
Khi mạng một chẳng đơm, chẳng tế;
Lẽ “sinh cử, tử táng”, mới ưng.
Thủa sống đà không dạ yêu đương,
Khi thác lại đoạn tình siêu độ.
Bảo nhau sắm con dao, cái rổ,
Khiến nhau vơ mớ củi, nắm nè.
Rằng: Trâu này cốt Phật xưa kia,
Phát đình liệu cho hồn thăng thiên giái.
Còn hình tích giống chi để lại,
Người người đều bàn bạc với nhau:
Kẻ thì rằng: Tôi lãnh cái đầu,
Người lại nói: Phần tôi cái nọng.
Kẻ giành lòng bóng ép gối mà kê,
Còn sừng đem về ép thoi làm lược.
Kẻ thì chuốc hoa tai, làm bầu liều.
Làm tù và mà thổi cũng kêu,
Tiện con cờ mà đánh cũng tốt.
Kẻ thì làm cái mõ, cáo hộp,
Người lại tỉa cán quạt, cán dao.

Còn giò chia nhau,
Làm nham, làm thấu.

Trâu gẫm lại là loài cầm thú,
Phận sau chịu vậy, dám nài!
Trâu thác đã công nghiệp phủi rồi,
Trâu sống lại kiện nài với chủ:
Không nhớ thủa bôi chuông đường hạ.
Ơn Tề vương vô tội kiến tha,
Tưởng chưng khi sức mọn tuổi già,
Cám Điền tử dạy con chớ bán.

Lời cổ nhân còn dặn,
Sao ông chủ vội quên ?

Chẳng nhớ câu “Dĩ đức hành nhân”.
Lại lấy chữ “Báo ân dĩ oán!”
Nói chi nữa cho dài chuyện vãn ?
Thưa chủ xin nói thép một lời:
Nhưng loài muông, vô tướng, vô tài,
Nuôi giống ấy làm chi cho nhọc ?
Ăn cho lớn, dưỡng vai, dưỡng vóc,
Giỡn với nhau vạch cửa, vạch sân,
Một ngày ba bữa chực ăn,
Thấy đến việc lén mình lét lét.
Chưa rét đã phô rằng rét,
Xo ro đuôi quít vào trôn,
Vấy bếp người, tro trấu chẳng còn,
Ba ông táo lộn đầu, lộn óc,
Chưa sốt đà nằm dài thở dốc.
Le lưỡi ra phỏng ước dư gang.
Lại thấy người lơ đĩnh lơ hoang
Tài ăn vụng thôi thì hơn chúng.
Nhưng muông biết cày nương, bừa ruộng,
Thì muông kể biết mấy công ơn ?
Muông, người cho ăn cháo, ăn cơm,
Trâu, người bắt nhai rơm, nhai cỏ.
Khi muông thác tống chung, an thổ,
Có gạo tiền cấp táng toàn thân,
Trách một lòng chủ ở bất công,
Hậu ư bạc, bạc đem làm hậu”.

2.2. Tác phẩm Con Trâu của Trần Tiêu :

Trần Tiêu (1900 – 1954) là em ruột Khái Hưng. Ông viết văn là nhờ sự khuyến khích của Khái Hưng.

Con Trâu đăng trên báo Ngày Nay từ số 140 ngày 10 tháng 12 năm 1938, sau đó in thành sách và do nhà xuất bản Đời Nay ấn hành năm 1940.

Ngoài Con Trâu, Trần Tiêu còn viết :

– Chồng con (tiểu thuyết, 1941)

– Năm hạn (tập truyện ngắn, 1942)

– Sau lũy tre (tập truyện ngắn, 1942)

– Truyện quê (đoản thiên tiểu thuyết, 1942)

Trong Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan viết về tác giả tiểu thuyết Con Trâu như sau : “Người dân quê Việt Nam dưới ngòi bút của Trần Tiêu bao giờ cũng là người dân quê nghèo khổ và mê tín. Người dân quê của ông là những người bị xiềng xích trong hủ tục, họ nghèo vì những tục hủ và khổ cũng vì những tục này. Trần Tiêu là nhà văn cho chúng ta thấy cái mặt kém cỏi của người dân quê Việt Nam (…) nhưng vì nếu chỉ nghèo nàn, mê tín, tất đã bị diệt vong từ lâu rồi”.

Dưới đề mục ‘‘Mục đồng’’ mở đầu tiểu thuyết, Trần Tiêu viết như sau : ‘‘Nghé ơ ơ…ơ nghé ! Thằng Tửu ngồi trên mình trâu gọi nghé. Con trâu mẹ kêu thêm mấy tiếng ‘‘nghé ọ’’ và chân vẫn thản nhiên, đều đều bước một trên con đường đất gồ ghề.

Xa xa, cánh đồng cỏ nhấp nhô những mả. Một con nghé đứng sừng sững, cất đầu, ngơ ngác nhìn, đen sẫm in trên nền trời đỏ.

Bỗng nó nhảy quàng mấy cái, rồi vừa chạy vừa nhảy như một đứa trẻ nghịch ngợm, nó đến theo sau mẹ nó, thỉnh thoảng lại kêu mất tiếng ‘‘nghé ọ’’ còn non nớt.’’

Người miền bắc nói ‘‘mả’’ mộ (chôn người chết). Nghé là con trâu con.

Văn học nước ta có ‘‘Con Trâu’’ của Trần Tiêu. Văn học Pháp có nữ sĩ Marguerite Duras kể lại kỷ niệm về con trâu trong thuở niên thiếu ở nước Việt.

2.3. Nhà văn Marguerite Duras viết về con trâu :

Marguerite Duras (1914-1996) là con út trong gia đình gồm ba anh em. Cha bà là hiệu trưởng Trường Gia Định, mẹ : giáo viên. Duras là tác giả L’Amant, giải văn học Goncourt (1986). Trong tác phẩm này, bà thuật những kỷ niệm tuổi thơ, hình ảnh các trẻ chăn trâu (enfants sur les buffles) còn in đậm trong ký ức.

Kết luận :

Khác hẳn với câu tục ngữ ‘‘đàn gảy tai trâu’’, con trâu rất gần gũi với văn học, nghệ thuật. Tranh Đông hồ vẽ trẻ chăn trâu. Câu ca dao :

Trâu ơi ta bảo trâu này

Trâu ra ngoài ruộng trâu cầy với ta

Cấy cầy giử nghiệp nông gia

Ta đây trâu đầu ai mà quản công

Bao giờ cây lúa còn bông

Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.

là lời nói thân tình của nhà nông với con trâu, coi trâu cầy như người bạn thân tình. Cả hai cùng làm lụng vất vả, cùng vui hưởng thành quả cần lao. Nhà nông thì gieo mạ, gặt lúa, con trâu có ‘‘ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn’’.

Trâu còn là bạn của các trẻ mục đồng, tai nghe tiếng sáo thổi vi vu trên mình trâu, ngắm nhìn con diều dật dờ trên trời quê xanh biếc.

Trong ca khúc ‘‘Em Bé Quê’’, nhạc sĩ Phạm Duy viết rằng :

Ao bảo chăn trâu là khổ

Chăn trâu sướng lắm chứ

Ngồi mình trâu, phất ngọn cờ lau

Và miệng hát nghêu ngao.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Đường về xóm nhà

Chữ i chữ tờ

Lùa trâu nhốt chuống

Gánh nước nữa là xoxng

Khoai lùi bếp trấu

Ngon hơn là vàng.

Người viết xin kính chúc bạn đọc sang năm Tân Sửu luôn khỏe mạnh, không còn phải băn khoăn, lo lắng về dịch bệnh ; trong năm mới, mỗi người sẽ gặt hái mùa màng vui tươi, thịnh vượng.

Lê Đình Thông