Bác Sĩ Hocquard : HINH ẢNH VIET NAM

HINH ẢNH VIET NAM

                  Xưa & Nay
           Những tấm hình của Bác Sĩ Hocquard
 hay là hình ảnh của Việt-Nam vào những năm 1884-1885 

                                   Tài liệu quy giá

                          Muốn có cả hai bộ ảnh
                       xin mời bấm vô đây, và đây nữa


Năm 1884, Ông Charles-Edouard Hocquard theo đoàn lính viễn chinh Pháp tới xâm chiếm Việt Nam với tính cách là bác sĩ quân y, nhưng ông cũng là một nhà nhiếp ảnh viên đại tài.Những tấm hình nầy có một giá trị lịch sử rất lớn. Ðây là lúc mà Pháp sắp sửa chiếm hết Việt Nam và đây cũng là những hình ảnh duy nhất còn sót lại mà chúng ta thấy được những thành trì khi xưa.
Sau khi chiếm thành Hà-Nội lần thứ hai vào năm 1882 (Tổng Ðốc Hoàng Diệu tự tử với thành), quân Pháp tiến về biên gìới phía Bắc vì lúc bấy giờ triều đình Huế đã âm thầm yêu cầu Giặc Cờ Ðen (và sau đó là quân đội Trung Quốc) giúp Việt Nam đánh Pháp. Lúc bấy gìờ Trung Quốc vẫn coi Việt Nam như là “thuộc quốc” của mình nên được dịp họ tràn qua chiếm nhiều tỉnh phía Bắc vùng biên giới.
Ðể phản công, Pháp tung hải quân đánh chiếm được những đảo Pescadores và Formose (Taiwan) của Trung Quốc nhưng Pháp không đủ quân để đánh với một nước 400 triệu dân nên tìm cách giảng hoà trong hiệp ước ký tại Thiên Tân ngày 9 tháng 6 năm 1885 trong đó Trung Quốc chấp nhận là không còn coi Việt Nam là “thuộc quốc” của mình nữa và hứa là sẽ tôn trọng lãnh thổ Việt Nam mà các đường biên giới sẽ được 2 nước (Pháp & Trung quốc) xác định sau. Lúc đó coi như Pháp đã hoàn toàn thôn tính nước ta.
Ngày 5 tháng 7 năm 1885, Vua Hàm Nghi kêu gọi toàn dân nổi dậy chống Pháp, phong trào Cần Vương ra đời.
Lúc nầy thì Ông Bác Sĩ Hocquard trở về Pháp để nhường chổ cho… ông Bác Sĩ Neis, đại diện cho bộ ngoại giao Pháp tới Việt Nam để tham dự trong phái đoàn vẽ đường biên giới với Trung Quốc. Ông Bác Sĩ Neis cũng có viết hồi ký kể lại chuyến công tác nầy mà các bạn có thể đọc ở một cái site bằng tiếng Pháp mà tôi để địa chỉ ở trong trang web liên mạng. Ðây cũng là một biến cố quan trọng cho lịch sử Việt Nam vì đây là lần đầu tiên mà Việt Nam (do Pháp đại diện) đã ký kết với Trung Quốc trên giấy trắng mực đen về những đường ranh giới (trước đó chỉ là sự thỏa thuận ngầm).
Những tấm hình của Ông Bác Sĩ Hocquard được xuất bản bởi Trung Tâm Tồn Trữ Dữ Liệu Thuộc Ðịa ở Aix-en-Provence.
1- Thành Bắc-Ninh (1884):
http://hinhxua.free.fr/autrefois/docteur-hocquard/page1/BacNinh_le_lendemain_de_sa_chute.jpg– Bắc-Ninh ngày hôm sau, sau khi thất thủ (13-03-1884)
– Cửa thành Bắc-Ninh mà quân đội Pháp đã tràn vào
http://hinhxua.free.fr/autrefois/docteur-hocquard/page1/tour_central_de_la_citadelle_BacNinh.jpg– Kho gạo và chòi canh của thành Bắc-Ninh

2- Thành Sơn-Tây (1884):
http://hinhxua.free.fr/autrefois/docteur-hocquard/page1/porte_Est_citadelle_SonTay.jpg– Cửa Ðông của thành Sơn-Tây
http://hinhxua.free.fr/autrefois/docteur-hocquard/page1/pagode_PhuNi_pres_de_SonTay.jpg– Chùa Phu-Ni gần Sơn-Tây
http://hinhxua.free.fr/autrefois/docteur-hocquard/page1/petite_pagode_pres_SonTay.jpg– Một chùa nhỏ gần Sơn-Tây

3- Thành Nam-Ðịnh (1884):
http://hinhxua.free.fr/autrefois/docteur-hocquard/page2/porte_dela_citadelle_NamDinh.jpg– Cổng thành Nam-Ðịnh
http://hinhxua.free.fr/autrefois/docteur-hocquard/page2/pagode_royale_citadelle_NamDinh.jpg– Ðền thờ chánh của thành Nam-Ðịnh
http://hinhxua.free.fr/autrefois/docteur-hocquard/page2/Eglise_dela_mission_catholique.jpg– Một nhà thờ Thiên Chúa Giáo ở Nam-Ðịnh

4- Quân đội Pháp (1884-1885):

http://hinhxua.free.fr/autrefois/docteur-hocquard/page4/cannoniere_Le-Yatagan.jpg– Tàu chiến Le Yatagan trên sông Hồng
http://hinhxua.free.fr/autrefois/docteur-hocquard/page4/le_general_Briere_de_Lisle.jpg– Toàn bộ tổng tham mưu của tướng Brière de Lisle
http://hinhxua.free.fr/autrefois/docteur-hocquard/page4/tirailleurs_tonkinois.jpg– Lính Tập ở miền Bắc
5- Hà Nội (1884-1885):
http://hinhxua.free.fr/autrefois/docteur-hocquard/page5/pagode_royale_citadelle_de_HaNoi.jpg– Ðiện Kính-Thiên bị lính Pháp biến thành đồn trấn thủ
http://hinhxua.free.fr/autrefois/docteur-hocquard/page5/casernes_tirailleurs_tonkinois.jpg– Trại lính tập bên bờ hồ Hoàn Kiếm
http://hinhxua.free.fr/autrefois/docteur-hocquard/page5/Hanoi_pagode_des_supplicies1.jpg– Chùa Báo ân
http://hinhxua.free.fr/autrefois/docteur-hocquard/page5/la_mission_catholique_a_Hanoi.jpg– Một nhà dòng Thiên Chúa Giáo ở Hà Nội
6- Con người (1884-1885):
http://hinhxua.free.fr/autrefois/docteur-hocquard/page6/congai_Hanoi.jpg– Con gái Hà Nội
http://hinhxua.free.fr/autrefois/docteur-hocquard/page6/jeune_femme_Saigon.jpg– Người đàn bà trẻ Sàigòn
http://hinhxua.free.fr/autrefois/docteur-hocquard/page6/mandarin_annamite1.jpg– Một viên quan
http://hinhxua.free.fr/autrefois/docteur-hocquard/page6/tirailleurs_tonkinois_Linh_Tap.jpg– Lính tập miền Bắc (Linh thú)
http://hinhxua.free.fr/autrefois/docteur-hocquard/page6/lettres_et_interpretes_Residence_Hanoi.jpg– Trí thức và thông dịch viên làm việc cho quan Khâm sứ Hà Nội
http://hinhxua.free.fr/autrefois/docteur-hocquard/page6/TongDoc_de_Hanoi_et_sa_suite.jpg– Quan Tổng-Ðốc Hà Nội và đoàn tùy tùng
7- Cuộc sống hằng ngày (1884-1885):
http://hinhxua.free.fr/autrefois/docteur-hocquard/page7/fondeurs_de_barre_argent.jpg– Thợ đúc bạc
http://hinhxua.free..fr/autrefois/docteur-hocquard/page7/forgerons.jpg– Thợ rèn
http://hinhxua.free.fr/autrefois/docteur-hocquard/page7/metier_tisser_le_coton.jpg– Dệt tầm
http://hinhxua.free.fr/autrefois/docteur-hocquard/page7/metiers_devider_la_soie..jpg– Kéo sợi
http://hinhxua.free.fr/autrefois/docteur-hocquard/page7/danseuses_annamites.jpg– Vũ công
http://hinhxua.free.fr/autrefois/docteur-hocquard/page7/types_de_coolies.jpg– Dân khuân vác
8- Dân tộc thiểu số:
http://hinhxua.free.fr/autrefois/ethnies/page3/Ethnies_femmes_2.jpg– Phụ nữ người Thượng
http://hinhxua.free.fr/autrefois/ethnies/page3/Ethnies_delegation_a_Saigon.jpg– Gần Sàigon, người Thượng đón chờ một tướng người Pháp
http://hinhxua.free.fr/autrefois/ethnies/page3/DaLat_jeunes_filles_jour_de_fete.jpg– Đà-Lạt, một ngày lễ hội
http://hinhxua.free.fr/autrefois/ethnies/page2/Chapa_famile_Meo_blanc.jpg– ChaPa, một gia đình người Mèo Trắng
http://hinhxua.free.fr/autrefois/ethnies/page2/CaoBang_femmes_Nongs.jpg– Cao-Bằng, phụ nữ Nongs
9- Lễ đăng quang của vua Bảo Ðại: 
http://nguyentl.free.fr/autrefois/intronisation-bd/Les_Mandarins_se_prosternent_3.jpg– Bá quan phủ phục
http://nguyentl.free.fr/autrefois/intronisation-bd/Le_roi_Bao_Dai_et_son_cortege_2.jpg– Vua Bảo Ðại và đoàn hộ giá
http://nguyentl.free.fr/autrefois/intronisation-bd/Gouverneur_General_et_Resident_Superieur_1.jpg– Chánh quyền bảo hộ Pháp ra về
10- Lễ táng của vua Khải Ðịnh:
http://nguyentl.free.fr/autrefois/funerailles-kd/Arrivee_de_MM_le_Gouverneur_General_le_Resident_Superieur.jpg– Toàn quyền Pháp đến dự lễ
http://nguyentl.free.fr/autrefois/funerailles-kd/Grands_personnages_assistant_a_la_levee_du_corps.jpg– Lễ động quan với sự hiện diện của những nhân vật quan trọng
http://nguyentl.free.fr/autrefois/funerailles-kd/Prince_Bao_Dai_en_costume_de_deuil_devant_le_corbillard.jpg– Vua Bảo-Ðại mặc tang phục đứng kế bên quan tài
http://nguyentl.free.fr/autrefois/funerailles-kd/Elephants_precedant_le_cortege.jpg– Ðàn voi đi mở đường



NNS : Giàn Hoa Thiên Lý

Úc châu, thứ 2, ngày 5 tháng 7
Kính Thân Hữu Quí Mến.
Chúc Thân Hữu một ngày đầu Tuần, đầu Tháng 7, thật Vui vẻ & nhiều Ơn Phước Lành.
Sáng nay NNs "tào lao" kể chuyện cho Thân Hữu nghe:
Có một lần, NNS gọi Nhà Thơ Mạc Phương Đình là "Đại ca", xin Bài Thơ Chén Trà Xuân, mà NNS tìm loay hoay mãi không ra. Bài Thơ đơn giản, không hàn lâm, nhưng đọc qua làm nhớ Tết và Quê nhà vô cùng, nhất là trong những ngày ngây ngây lạnh ở đất nước Phúc đức, Nam bán cầu này. Mạc Phương Đình gởi cho ngay, với lời nhắn: "bài Thơ đây Tiểu Ca". NNS thấy Vui vui trong lòng, với cách xưng hô của nhà Thơ (Bạn vong niên) của NNS, nên gởi ngay cho Thân Hữu đọc. Lại ngạc nhiên khi có cả bài Họa Thơ của Cụ Hà Thượng Nhân.
Chén Trà Xuân
 
(Bài họa của Cụ Hà Thượng Nhân)
 
Mời nhau bát nước chè
Nước chè hương vị đậm
Bát ngát mối tình quê
Bạc đầu sao ở Mỹ ?
Xuân nghe lòng tái tê
Bát chè còn bốc khói
Thấy lạnh đôi bàn tay
Mà sao đôi khóe mắt
Có chút gì cay cay ?
Tưởng già không còn lệ
Lệ đong bát chè đầy
Nước chè ngày thuở nhỏ
Hương vị còn đâu đây
Ta là ta đấy nhỉ ?
Phương Đông mù mịt mây
Nước chè không phải rượu
Ta vẫn ngờ ta say.

Hà Thượng Nhân
 
Nói đến Cụ Hà Thượng Nhân, NNS thật "khẩu phục tâm phục" Cụ biết chừng nào,  từ những ngày lò mò thích đọc Văn Thơ. Có lần Chú Phan Lạc Phúc lên Queensland thăm, NNS may mắn có được quyển "Bè Bạn Gần Xa", đọc bài viết ngắn: Bạn Già Nông Dân của Chú ấy, lại càng thêm Bái Phục lớp Cha Anh tài giỏi làm sao.
NNS thích cách viết văn thật nhẹ nhàng của Chú PLP, mà Võ Phiến khen là "mỹ Văn", xin kể ra đây với Thân Hữu, để tâm lãnh một lớp Cha Anh thật "Bề thế & Văn hay Chữ tốt" ra làm sao:
" … Ngày xưa hồi đầu thập niên 40, Lam Giang, Hà Thượng Nhân, và Hữu Loan (tác giả "Màu Tím Hoa Sim") là học trò từ Thanh Hóa, Bình Định ra Huế học. Đỗ Tú tài Tây xong là mỗi người đi một ngả. Hai Ông tú Nga Sơn (Hữu Loan) và Hậu Lộc (Hà Thượng Nhân) về quê hương Thanh Hóa dạy học. Còn Lam Giang ra Hà Nội vào Đại học Luật khoa. Sau đó vào thời kỳ đầy biến động, Trung-Nhật chiến tranh rồi Đệ Nhị thế chiến. Nhật từ Trung hoa kéo sang Đông Dương. Các đảng phái Quốc gia  trong và ngoài nước ""đứng lên đáp lời sông núi". Lam Giang vốn là Việt Quốc liền bỏ trường luật đi làm cách mạng.
Sau Cách Mạng tháng 8-1945 và Hiệp định Genève chia đôi đất nước, năm 1954 Cách Mạng Quốc gia gặp hồi điên bái. Bạn bè chiến hữu mỗi người một nơi. Hà Thượng Nhân, Lam Giang vào miền Nam, Hữu Loan ở lại miền Bắc dính vào vụ Nhân văn Giai phẩm. Mười mấy năm, Ông tú Nga sơn (Hữu Loan) trở thành người đẩy xe cút kít, thồ gạch kiếm ăn. Học trò Thanh hóa nhìn Ông thầy cũ còng lưng đánh xe cút kít giữa trưa hè nắng gắt ở miền đồi núi Nga sơn mà rơi nước mắt. Vào Miền Nam, Hà Thượng Nhân vào Quân đội- Lam Giang đi dạy học và viết sách. Thời Đệ nhất Cộng hòa Hà Thượng Nhân làm Tổng giám đốc hệ thống truyền thanh miền Nam, làm việc tại đài phát thanh Sài Gòn. Thời kỳ này Hà Thượng Nhân mời bạn học cũ là Lam Giang viết giúp bình luận tiếng Pháp cho đài. Thời Đệ nhị Cộng hòa, Hà Thượng Nhân về làm chủ nhiệm nhật báo Tiền Tuyến – còn Lam Giang ngoài việc viết sách vẫn phụ trách viết bình luận cho đài Sài Gòn. Mỗi tuần 2 lần Lam Giang đến Tiền Tuyến đưa bài nghiên cứu thời sự…rồi phone sang đài Sài Gòn xem cần phải viết đề tài gì? Nhận "com-măng" xong là Lam Giang nghiêng đầu ngồi viết. Tiếng Việt cũng như tiếng Pháp, Lam Giang có thói quen nghĩ sẵn trong đầu rồi mới viết ra. Viết một mạch là xong, không gạch xóa chữ nào. Tùy theo thời lượng, bài 5 phút viết 3 trang, 10 phút 6 trang. Viết xong đưa tùy phái Tiền tuyến, từ đường Hồng Thập Tự gần cầu Thị Nghè sang đài phát thanh Sài Gòn đầu đường Phan Đình Phùng, xe đạp 5 phút là tới…..
….Hồi đó thập niên 60, có phái đoàn Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) sang làm việc bên cạnh Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị. Theo phong tục Đông Phương ngày lễ, ngày Tết, phái đoàn Trung Hoa thường có quà biếu và câu đối đem đến tặng Tổng Cục. Để đáp lễ Tổng Cục cũng phải cói Thơ hay câu Đối chữ Nho tặng lại. Việc này bên Tổng Cục lại phải nhờ đến Hà Thượng Nhân. Ngày xưa hồi kháng chiến, đi vào khu 4 chợ Rừng Thông ở quê hương Thanh Hóa của họ Hà có một hàng phở mà dân "tạch tạch sè (tiểu tư sản) gọi là hàng phở "có ngay". Vừa ngồi yên chỗ, gọi phở xong là có một tửu bảo đã lên giọng ới vào nhà bếp "cậu xơi phở tái nạm – có ngay". Nếu muốn xin thêm ít hành trần tửu bảo lại tiếp theo "cậu xơi hành trần, có ngay". Phở ăn cũng tạm được , nhưng vui vì sự "có ngay" như thế.  Hà Thượng Nhân bây giờ về việc Thơ Văn cũng hết sức là mẫn tiệp. Thơ văn đối với họ Hà, có sẵn nơi cửa miệng. Do vậy nên tôi (PLP) mới đùa đùa mà gọi anh (HTN) là Thi sĩ "có ngay". Anh cũng chẳng giận, chẳng hờn – nụ cười vẫn vô tư, hào sảng. Thơ "nôm" họ Hà vừa nhẹ nhàng, vừa bay bổng nhưng còn Thơ chữ Hán thì tôi (PLP) chịu không hiểu nổi… Nhưng phái đoàn Trung Hoa Dân Quốc không biết vì lịch sự hay là vì cảm phục văn tài của Hà Thượng Nhân nên mang quà biếu lền khêng nào rượu Cao Lương, Mai Quế Lộ nào sâm Cao Ly – rồi ông Tổng Cục trưởng Tân Văn của Trung Hoa Dân Quốc còn đích thân mời họ Hà thăm Đài Loan nữa…"…
Một bữa, ngồi một mình với lão trượng Lam Giang, tôi (PLP) mới hỏi: " Theo tôi Thơ Văn của Hà Thượng Nhân "dỡ " lắm chứ. Tại sao anh lại bảo lưng vốn chữ Hán của họ Hà không có bao nhiêu?". Lam Giang gặt đầu rằng "" Bỡn cợt nhau một chút cho vui vậy mà. Thơ Hà Thượng Nhân phơi phới.. Nhưng tôi học với họ Hà từ ngày nhỏ tôi biết. Nó là tài tử…không có học kỳ khu theo kiểu như thiết tha, như trác như ma (CT: Như cắt như gọt, như giũa như mài). Tôi tiếp lời :" Hán văn của anh chắc là thâm hậu lắm?". Lam Giang ngừng lại nhìn tôi rồi mới nhẩn nha:"Nói chuyện với cậu về Việt văn, Pháp văn thì còn được. Về Hán văn thì … xin lỗi phải có cụ Nghè Giác thì tôi mới thưa chuyện được" (cụ Nghè Nguyễn Sĩ Giác thời ấy giảng ở Văn Khoa)…
… Có một bữa viết Tạp Ghi tôi mới tán thưởng câu Thơ của Nguyễn Bính:
Nửa đêm hẹn lại sai rồi
Con cờ gõ nhảm cho rơi hoa đèn…
Lam Giang nghe tôi vậy bảo rằng câu thơ đó rất hay, nhưng không phải là Thơ sáng tác của Thâm Tâm mà là dịch từ Thơ Trung Hoa:
Hữu ước bất lai qua dạ bán
Nhàn sao kỳ tử lạc đăng hoa…
Trong những tháng năm viết Tạp Ghi ở tòa báo Tiền Tuyến tôi (PLP) có những người bạn thật là quý ngồi ở bên. Hỏi về Sử Địa, về Đông Phương có lão trượng Lam Giang, hỏi về Triết sử Tây Phương thì có Thanh Tâm Tuyền, người đọc sách rất sâu và không ngừng nghỉ, hỏi về Thơ văn Tiền chiến thì có Hà chưởng môn. Bây giờ ở miền Nam bán cầu này, ngồi viết lại Tạp Ghi một mình một bóng, nhiều khi có điều muốn hỏi mà không biết hỏi ai. Mình đọc chuyện xưa – mấy ông già mùa thu hanh hao ngồi uống trà một mình thấy vắng liền chống gậy dắt đứa cháu sang làng bên thăm bạn già. Bây giờ mình ngồi đây mà "bạn mình" ở tận đâu đâu. Người thì ở tận Minnesota gần Canada – người ở Cali nước Mỹ, người còn ở một con hẻm ở Hàng Xanh – Sài Gòn…"….
Đó là vài dòng về Lam Giang, Hà Thượng Nhân và Thanh Tâm Tuyền, do Chú Phan Lạc Phúc kể lại. Cụ Lam Giang thì người gốc Huyện Bình Khê (Quê hương 3 Anh Em nhà Tây Sơn, Mai Xuân Thưởng, Tăng Bạt Hổ, Bùi Thị Xuân..) cũng là Quê ngoại của NNS. Nhớ lắm. Cụ Hà Thượng Nhân thì Bạn bè với Đại ca Mạc Phương Đình của NNS. Thanh Tâm Tuyền đã mất. Chú Phan Lạc Phúc thì ở tận Sydney, cùng Quê hương thứ 2 của NNS.
NNS sinh sau đẻ muộn, lại là một Khoa Bảng trẻ thuộc Tây học. Việt văn thì chữ được chữ mất. Giờ ngồi đây mơ mộng sao có ngày tích lũy được một phần " Văn hay, Chữ tốt và Kiến thức rộng mênh mông" như các lớp Cha Anh vừa kể trên, thì được tâm nguyện biết chừng nào.
Thật đáng hãnh diện thay.
Giờ đây xin Chia sẻ cùng Thân Hữu một pps Nhạc hay:
Chuyện Giàn Thiên Lý.
Nhạc: Nhạc sĩ (tài danh) Anh Bằng.
Pps này là Phần Một. Vì Anh Bằng viết đến 2 Bảng Nhạc Chuyện Giàn Hoa Thiên Lý.
Phần 2 Chuyện Giàng Hoa Thiên Lý và câu chuyện về nhà Thơ Yên Thao (Ý Thơ được Phổ Nhạc), NNS sẽ gởi vào Thư sau.
Chuyện Giàn Hoa Thiên Lý xảy ra vào thời Toàn Dân Chống Pháp, dành độc lập, đâu đó năm 1947, Liên Khu 3.
Không hay không ăn tiền…hi..hi..
Tình Thân,
Kính.
NNS
……………………………………………………

Quy Khứ Lai Từ (Ðào Tiềm)
Bản Dịch của
Hà Thượng Nhân


Lời Từ Tạ Khi Về Vườn

Về đi nào ! Về đi nào !
Ruộng vườn bỏ rậm làm sao không về,
Tâm để hình dễ bề sai khiến
Sao lại còn quyến luyến thương đau
Thôi thì dĩ vãng … ví dầu …
…
Tương lai có thể phần nào đổi thay
Bước mê lộ dấu giày mới nhớm
Hôm qua sai, nay hẳn không lầm
Thuyền bơi phơi phới mái dầm,
Gió hiu hiu thổi theo tầm áo bay
Hỏi cùng khách đường này phía trước
Ánh triêu dương mờ nhạt buồn chưa !
Rồi trông thấy cửa thấy nhà,
Vừa mừng, vừa chạy như là trẻ thơ
Con cái chạy ra chờ trước ngõ
Các gia nhân mừng rỡ đón chào
Ba con đường nhỏ năm nào
Cỏ gai lác đác như hầu bỏ hoang
Tùng với cúc còn đang đủ cả,
Dắt tay con hối hả đi vào
Nhìn ra có rượu đầy bầu,
Cầm be tự rót ta nào mời ta !
Ngắm cây sân lân la cũng khoái,
Dựa cửa Nam gửi cái ngông nghênh
Tuy nơi chật hẹp vắng tênh
Ngày ngày qua lại vườn mình cũng vui
Cửa tuy có nhưng thôi chẳng mở
Chống gậy tre vời ngó xa xa
Vô tâm mây núi đùn ra,
Chim bay mỏi cánh lại tha thẩn về
Cảnh sắp tối vỗ về tùng lẻ
Lòng bỗng dưng xiết kể bàn hoàn
Về đi, dứt mọi liên quan !
Ðời thôi thế đã hoàn toàn bỏ ta
Lời nói suông cầu mà chi nữa ?
Khi thân nhân chan chứa cảm tình
Sách, đàn khuây khỏa nỗi mình
Nông dân chạy đến để trình : sắp Xuân .
Ðồng phía Tây sẽ gần có việc
Hoặc mùng giăng, giong chiếc xe mòn,
Hoặc bơi một chiếc thuyền con,
Khi luồng lạch suối, khi len lỏi gò .
Cây hớn hở khen cho tươi tốt,
Suối lặng trôi trong vắt êm đềm .
Chung quanh gió thuận mưa êm
Cảm thương thân thế khi làm khi không .
Thôi là hết, hình trong vũ trụ,
Kiếp phù du gửi thử bao lâu ?
Mặc lòng đi ở những đâu
Sao còn thắc mắc, còn câu nệ hoài !
Giàu sang bỏ ngoài tai chẳng thiết
Chốn thần tiên nào biết đâu tìm ?
Dạo chơi gặp buổi trời êm .
Hoặc dùng cây gậy vun thêm luống cày.
Lên bãi đông, ngất ngây thơ thới
Dấu giày trong làm vội bài thơ
Thuận theo ý của thiên cơ
Mệnh trời vui thế còn ngờ vực chi.

Nguyên tác 30 câu Hà Thượng Nhân dịch sang
thơ Việt thành 58 câu thể song thất lục bát .


Quy Khứ Lai Từ (Ðào Tiềm)


歸去來辭

歸去來兮,田園將蕪,胡不歸!
既自以心為形役,奚惆悵而獨悲?
悟已往之不諫,知來者可追。
實迷途其未遠,覺今是而昨非。

舟遙遙以輕颺,風飄飄而吹衣。
問征夫以前路,恨晨光之熹微。 ….

乃瞻衡宇,載欣載奔。
僮僕歡迎,稚子候門。
三徑就荒,松菊猶存。
攜幼入室,有酒盈樽。
引壺觴以自酌,眄庭柯以怡顏。
倚南窗以寄傲,審容膝之易安。
園日涉以成趣,門雖設而常關。
策扶老以流憩,時矯首而遊觀。
雲無心以出岫,鳥倦飛而知還。
景翳翳以將入,撫孤松而盤桓。

歸去來兮,請息交以絕遊。
世與我而相違,復駕言兮焉求?
悅親戚之情話,樂琴書以消憂。
農人告余以春及,將有事於西疇。
或命巾車,或棹孤舟。
既窈窕以尋壑,亦崎嶇而經丘。
木欣欣以向榮,泉涓涓而始流。
羨萬物之得時,感吾生之行休。

已矣乎!
寓形宇內復幾時,曷不委心任去留?
胡為遑遑,欲何之?
富貴非吾願,帝鄉不可期。
懷良辰以孤往,或植杖而耘耔。
登東皋以舒嘯,臨清流而賦詩。
聊乘化以歸盡,樂夫天命復奚疑!

………………………………………………………………………..
Kính.
NNS 

Úc, chiều 6/7
Kính Thân Hữu Quí mến.
Chiều rảnh một chút, NNS kể tiếp chuyện Lam Giang & Hà Thượng Nhân và Yên Thao (bài thơ nổi tiếng Nhà Tôi) do Anh Bằng Phổ Nhạc.
Trong Bè bạn gần xa, Chú Phan Lạc Phúc kể:
"…Dạo tiếp thu Bình Định (Liên khu 5) hồi đầu năm 1955, tôi thuộc cánh quân đổ bộ ở Sa Huỳnh (Quảng Ngãi) rồi theo đường quốc lộ 1 tiến về Qui Nhơn qua Bồng Sơn, Tam Quan, Phù Mỹ, Phù Cát, Tuy Phước. Chừng giữa năm 1955, tôi từ biệt đơn vị cũ, tiểu đoàn 14VN đóng ở phù Mỹ. Ngày ấy chính quyền Quốc gia vừa mới thiết lập ở miền này nên chỉ có Tòa tỉnh ở Quy Nhơn, còn các quận, huyện, quân đội kiêm nhiệm phần hành chánh. Chưa bao giờ mà tôi lại "nhiều việc" như thế.
Vừa làm Tiểu đoàn trưởng, Quận trưởng, rồi mở một cái trường cho trẻ học mà thiếu thầy giáo, tôi làm "Hiệu trưởng" luôn. Có một sự trùng hợp kỳ thú là lão trượng Lam Giang vốn người Phù Mỹ – Bình Định. Ngày ấy (1955) tôi chưa được quen anh, nhưng sau này ở tòa soạn những khi tửu lậu trà dư tôi với anh thường nói chuyện địa danh, nhân danh Phù Mỹ. Quê anh ở miền An Lương gần Đề Di làm muối, nhìn ra biển. Anh cho biết là cái trường gỗ lá tôi xây dựng ở quận lỵ Phù Mỹ vẫn còn – bây giờ đã được lợp ngói. Ở khu này có một nơi gọi là Gò Bồi.  Trước khi quân đội Quốc gia về tiếp thu, Vi Xi có hành quyết "5 tên phản động". Lam Giang cười cười mà nói: "Nếu bắn đến người thứ 6 là đến tôi". Anh giơ tay cho tôi coi. Dù bao nhiêu năm tháng đã đi qua, trên cổ tay Lam Giang còn in dấu còng chỗ đen chỗ trắng. Lam Giang bảo rằng: "Tụi nó đã bịt mắt đem tôi đi rồi – nhưng tôi bấm tử vi thì thấy mình chưa tới số. Quả nhiên là chưa đến lượt tôi. Từ đó tôi mới thấy ông Trần Đoàn có lý" (Trần Đoàn, Ông tổ về Dịch lý, Tướng số nổi danh, sống vào đời nhà Tống – NNS).
Ở Sài Gòn ít người biết Lam Giang. Nhưng ở miền Trung nhất là miền Nam Ngãi Bình Phú, Lam Giang là một thứ đại Kỳ nhân dị sĩ. Truyện kể rằng thời Pháp, Lam Giang đại diện kỳ bộ miền Trung đi họp Hội nghị Trung ương ở miền Bắc. Đọc nghị quyết xong là Lam Giang đốt bỏ. Về địa phương, Lam Giang nhớ lại hết, không sai một chữ. Mới đây ở Mỹ, nhà văn Võ Phiến cũng người Phù Mỹ, Bình Định, trong một bài hồi ký có kể lại rằng người có ảnh hưởng lớn đến nhà văn Võ Phiến khi mới vào nghề chính là Lam Giang. Cũng vì ông Lam Giang, ông Võ Phiến cùng người Phù Mỹ mà ở Sài Gòn sau đó tôi "xung phong" vào Hội Bình Định Tương Tế.
…………………..
Sau đó, cũng đầu năm 73, tôi được đề cử sang Đài Loan, theo lời mời của Tổng Cục Tân Văn đi nghiên cứu về tổ chức Cựu chiến binh trên hoàn đảo này. Giáo sư C. người hướng dẫn và tôi đi suốt từ Đài Nam, lên Đài Trung, Đài Bắc thăm hết nơi này nơi khác. Hết chỗ đi rồi, một bữa Giáo sư C. và tôi tới thăm viện đại học Đài Bắc. Nơi đây tôi bất ngờ gặp một nhà nghiên cứu VN đang làm luận án tiến sĩ  tại đây, Trần Quang Huy một người bạn cũ. Khi Trần Quang Huy ra Đài Bắc bù khú với tôi, anh cho hay là anh đang thiếu tài liệu về phía VN trong luận án: " Mối tương quan văn hóa Việt – Trung qua các thời đại". Tôi vốn yếu về mục này nhưng tôi nghĩ đến ông bạn già lão trượng Lam Giang của tôi, người nhiều năm nghiên cứu về sử Việt Nam, về Đông Phương Học. Ông thường nói với tôi về những bài văn bia, những khảo cứu về Kinh Dịch và những giả thuyết của ông về nguồn gốc Việt Nam thời khuyết sử. Ông thường nói với Hà Thượng Nhân: "Mình phải lùi thật sâu trước Công Nguyên nhiều nghìn năm, may ra mới tìm thấy những dấu vết của tiền nhân người Việt chúng ta, từ trước nền văn hóa Đông Sơn, văn hóa Hòa Bình nữa". Trần Quang Huy nghe tôi nói vậy nhờ tôi về nói với Lam Giang gửi cho những tài liệu ấy. Khi về nước kể lại chuyện này, Lam Giang nói: " Thời buổi này người ta đi Mỹ, đi Pháp…học về văn minh Tây Phương – ít người xuất ngoại học về Đông Phương như ông này – để tôi gởi". Tôi nhận được từ lão trượng, hay "ông đồ nát Lam Giang chữ như trấu trát" hai lần chừng 150 trang vừa Việt vừa Hán gửi sang cho Trần Quang Huy. Nhà nghiên cứu này chịu lắm. Năm 1974, Trần Quang Huy tiến sĩ Đông Phương Học về nước. Vừa tới, anh yêu cầu cho được gặp Lam Giang. Cũng một bữa nhậu bất ngờ xảy ra ở tòa soạn, Ông tiến sĩ tân khoa nói chuyện rất lâu với nhà Nho gốc nông dân. Khi Trần Quang Huy ra về tôi mới hỏi ông già của chúng tôi ra sao? Trần Quang Huy gục gặc đầu mà nói" "Bội phục, bội phục". Như vậy câu nói phải có cụ Nghè Nguyễn Sĩ Giác thì mới thưa chuyện được của ông Lam Giang trước đây xét ra là có cơ sở, không phải là ông "nổ bậy"…
 
Trong cơn quốc biến năm 1975, Cụ Lam Giang bị đi cải tạo 5 năm. Khi Ông về, lại dính vô vụ án đảng phái Việt Nam Quốc Dân Đảng, đi tù thêm một đợt nữa hơn 3 năm.. Dạo đầu năm Mão,  lá thư cuối cùng viết cho Chú Phan Lạc Phúc nói rằng: " Nói cho Dì ba (Vợ Chú PLP) Dượng ba (PLP) hay là bản sư vẫn được 2 chữ bình an, vẫn kiếm ăn được bằng lấy số tử vi, làm văn bia. Bản sư cũng làm câu đối cho con cái khắc sẵn chờ ba chúng nằm xuống vào năm 2001. Đến đây là bản sư hết số rồi. Nhưng năm nay bản sư đã 81 tuổi. Không ngờ mình lại thọ hơn Khổng phu tử nhiều năm. Chỉ tính sơ sơ đến năm nay đã thọ hơn Đức Thầy 8 năm rồi đó. Chúc Dượng 3 Dì 3 năm mới An khang…"
 
Bấy nhiêu đó cũng đủ vài nét về Lam Giang, Hà Thượng Nhân…những kẻ Sĩ nhìn lên không thẹn với Đất Trời, do Chú Phan Lạc Phúc kể. NNS thật phải còn học hỏi nhiều..nhiều lắm…từ những bậc Cha Anh "bề thế" như trên.
Lần sau tiếp…
Giờ xin Chia sẻ cùng Thân Hữu pps tiếp theo:
Chuyện Giàn Thiên Lý – Phần II
Bài hát mượn lời bài Thơ nổi tiếng: Nhà Tôi của Yên Thao.
Về nguồn gốc đã gây cảm hứng cho Tác giả viết bài Thơ này, xin Thân Hữu đọc bài Phỏng vấn của Cô Bích Huyền với nhà Thơ Yên Thao và nguyên tác Bài Thơ..thật là hay.
Tình Thân,
Kính.
NNS
 
……………………………………………………………………………………………………………..
Nói Chuyện với Yên Thao, Tác Giả Bài Thơ "Nhà Tôi"
*Bích Huyền (BH): Thưa thi sĩ Yên Thao, bài thơ Nhà Tôi của thi sĩ cũng như Đôi Bờ, như Đôi Mắt Người Sơn Tây, như Màu Tím Hoa Sim…BH đã hơn một lần nhắc tới trong chương trình Thơ Nhạc do BH phụ trách trên Đài VOA. Những bài thơ nổi tiếng ấy đã theo làn sóng người di cư từ Bắc vào Nam năm 1954…
*Nhà thơ Yên Thao (YT): Cảm ơn chị Huyền. Cảm ơn về sự ưu ái của chị về bài thơ Nhà Tôi. Đây không phải là lời nói xã giao mà là xúc động thật sự của người làm thơ đã có được một bài thơ qua gần nửa thế kỷ rồi. Còn một năm nữa là đúng một nửa thế kỷ mà vẫn còn người nhớ, nhất là người đó lại ở phương trời xa như chị Huyền.
*BH : Không phải chỉ có một mình BH nhớ bài thơ ấy đâu ạ, mà còn rất nhiều người yêu thơ ở trong miền Nam nữa. BH xin cảm ơn thi sĩ cũng như cảm ơn những người chủ trương Giai Phẩm Mùa Thu Hà Nội. BH đã chép bài thơ Nhà Tôi trong tờ Giai phẩm này, phát hành năm 1964 tại Saigon. Hình như thế, năm đó…nếu BH nhớ không lầm!
*YT: Không biết có phải từ tập san đó hay sau này sao chép qua lại nên sau 1975, tôi có được đọc bài thơ Nhà Tôi, người ta có in sai nhiều từ, chị Huyền ạ !
*BH:Thật là một điều đáng tiếc. Thế nhưng chắc thi sĩ cũng thông cảm, vì đây chỉ là một bài thơ được truyền miệng, được ghi nhớ trong trí tưởng…cho nên sự sai lạc hẳn là phải có.
Thưa thi sĩ YT, những từ ngữ dùng sai đó là những chữ nào ạ?
*YT: Trong đoạn đầu có câu:" Màu trăng vôi lồm lộp mấy khung tường " Màu trăng" chứ không phải "Màu trắng". Vâng, đây là màu của ánh trăng trải trên những khung tường. Và từ "mùa" trong câu "Má trắng mịn thơm thơm mùa lúa chín".Trong miền Nam có sách in là "mùi lúa chín".
*BH : Cảm ơn thi sĩ.Vâng, màu trắng và mùi lúa có vẻ rõ ràng và cụ thể quá ,phải không ạ?
Từ ngữ "Màu trăng" và "Mùa lúa chín" mà thi sĩ dùng để diễn tả ý thơ, theo BH đây là những từ ngữ rất thơ. Bát ngát một trời thơ. Rất đẹp.
Thưa thi sĩ, BH còn thấy có nơi dùng sai một chữ nữa trong câu cuối bài thơ "Nhà tôi ở cuối thôn Đoài …" "Đoài " viết hoa như một danh từ riêng ạ. Đúng ra là "thôn đồi":
Nhà tôi ở cuối thôn đồi
Có giàn thiên lý có người tôi thương …
*YT: Xin chị BH nếu có dịp một lần nữa phổ biến bài thơ Nhà Tôi trên đài VOA, hoặc trên báo chí ở nước ngoài, lưu ý hộ tôi những từ sai ấy.
*BH: Dạ vâng. Bây giờ thì xin thi sĩ cho biết một chút về…"lý lịch" của mình cũng như về xuất xứ của bài thơ Nhà Tôi?
*YT: Tên cúng cơm của tôi là Nguyễn Bảo Thịnh, sinh ngày 21-1-1927 quê Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Nhà tôi tên Đỗ Thị Phú (chứ không phải là Hà) sinh 17-1-1929, quê Đại Gia, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây.Chúng tôi gặp nhau trong kháng chiến chống Pháp, cưới nhau ở Phú Thọ ngày 1-11-1953. Tôi và Phú đều là học sinh thoát ly gia đình đi kháng chiến. Bài thơ "Nhà Tôi" không phải là viết về chúng tôi. Chuyện thế này:
Năm 1949, tôi công tác văn nghệ tại Quân đội liên khu 3, theo một đơn vị đánh vào một đồn binh Pháp đồn trú cạnh sông ở một làng đồi.Trong lúc đợi chờ giờ nổ súng ,tôi trò chuyện với anh em và được biết ở đơn vị này có một cậu quê ở ngay làng đồi đó.Phía bên ấy đang còn mẹ và vợ. Cậu ta lấy vợ được chừng tháng thì chiến tranh bùng nổ.Chàng trai lên đường đi kháng chiến, chia tay người vợ trẻ. Trong câu chuyện, mấy lần cậu ta nhắc tới giàn Thiên lý của nhà mình.Tôi rất thích câu chuyện và viết nên bài thơ "Nhà Tôi". Có lẽ người viết đã hoà nhập được với người kể nên bài thơ được đông đảo anh em lính thuộc và nhanh chóng được phổ biến cả vào các chiến trường Nam Bộ. Không chỉ lính xuất thân từ nông thôn, cả những lính thành phố cũng tìm thấy thấp thoáng trong bài thơ những nét hợp với mình.
Rất nhiều người nghĩ đó là tôi viết về tôi, Bà xã tôi cũng nghĩ thế.
Không biết khi đã rõ sự thật này, những người yêu thơ có giảm đi sự mến mộ đói với bài thơ không?
*BH: Thưa thi sĩ, BH nghĩ rằng sự mến mộ bài thơ Nhà Tôi càng tăng thêm. Vâng, chỉ là tâm sự của một người lính trẻ thôi nhưng vì sự rung động tuyệt vời của bài thơ khiến cho ai đọc rồi cũng thấy như thấp thoáng có ngôi nhà của mình, có những người thân yêu của mình ở trong bài thơ.
Không nhất thiết chỉ là người lính đâu,thưa thi sĩ Yên Thao! Như BH chẳng hạn, rất yêu bài thơ này. Mỗi lần đọc bài thơ là mỗi lần trong lòng lại dâng lên một niềm xúc cảm vô cùng. Hình ảnh ngôi nhà của bố mẹ BH tại huyện Duyên Hà, tỉnh Thái Bình lại hiện ra rõ rệt. Rồi những l&u
acute;c líu ríu cùng bố mẹ anh chị em chạy giặc Tây, thương cho người em trai ốm yếu không đủ sức khoẻ chạy loạn phải ở lại nhà…Rồi cảnh trên bờ đê nhập nhoạng tối, lố nhố bóng người bồng bế, gánh gồng. Tiếng súng,tiếng em bé thơ khóc, khói lửa chiến tranh…in sâu trong đầu óc trẻ thơ của BH. Đoạn đầu của bài thơ, đọc rồi muốn khóc:
Tôi đứng bên này sông
Bên kia vùng địch đóng
Làng tôi đấy xạm đen màu tiết đọng
Tre cau buồn tóc rũ ướt mưa sương
Màu trăng vôi lồm lộp mấy khung tường
Nếp đình xưa, người hỡi vui gì không?
Sau đó thì…ngôi nhà đẹp và ấm cúng của gia đình BH đã bị bom cày nát mất rồi !
*YT: Tôi đã hiểu vì sao chị BH yêu bài thơ của tôi. Cảm ơn những xúc động chân thành của chị.
*BH: Ở bên này có bán một CD ngâm thơ thu tại Việt Nam, tựa đề là "Những bài thơ bất tử", trong đó nghệ sĩ Bảo Cường diễn ngâm bài thơ Nhà Tôi.Ông ấy ngâm hay lắm nhưng rất tiếc lại ghi tên tác giả là Nguyễn Bính. Thi sĩ có CD đó chưa ạ?
*YT: Tôi không được biết, nếu chị sẵn và tiện thì gửi cho xin, tôi rất cảm ơn.Tôi chỉ biết có một bài hát từ Mỹ do Anh Bằng viết nhạc, Mạnh Đình ca dưới tiêu đề "Chuyện giàn thiên lý" đang khá phổ biến ở trong nước. Ai cũng cho là thơ của tôi phổ nhạc dù Anh Bằng có cải biên một số lời, rút ngắn lại. Vì người ta đã cải biên, đổi tên bài, không nhắc gì đến tác giả thơ nên bản quyền của tác giả thơ cũng mất luôn. Có anh em bảo tôi viết thư cho Anh Bằng ,song tôi không biết địa chỉ, mà cũng nghĩ viết làm gì?"Thế gian lẫn lộn đúng sai vẫn thường", quan tâm chỉ thêm mệt! Tuy nhiên đề nghị chị dịp nào gặp Anh Bằng cho Yên Thao gửi lời hỏi thăm. Chắc Anh Bằng cũng thích bài thơ ấy nên mới viết nên "Chuyện giàn thiên lý".
*BH: Vâng, BH sẽ liên lạc với nhạc sĩ Anh Bằng để chuyển lời thăm của thi sĩ.
Thưa thi sĩ Yên Thao, sinh hoạt văn học nghệ thuật của thi sĩ hiện nay ra sao ?
*YT: Hiện nay tôi là chủ nhiệm Câu Lạc Bộ Thơ Trào Phúng Hà Nội.Tôi ít làm thơ trữ tình (chỉ khi nào xúc cảm thật mới làm). Thơ trào phúng Yên Thao ký dưới nhiều bút danh:Nguyễn Bảo, Cử Yên, Lang Bang, Thái Dương…
*BH : Dự định của thi sĩ trong những năm tới là gì ạ?
*YT: Tôi đang tiến hành in một tập thơ trữ tình. Khi nào có sách, nhất định không quên gửi tặng chị và đài VOA.
*BH: Xin cảm ơn thi sĩ Yên Thao có nhã ý tặng sách và xin cảm ơn thi sĩ đã dành cho BH buổi chuyện trò lý thú này.
*YT: Mong được tiếp tục trao đổi qua thư với chị. Khi nào có diều kiện về thăm lại đất nước, nhờ chị quá bộ tới nhà chơi. Chắc nhà tôi cũng thích lắm vì qua chị, chúng tôi có thể biết tin tức về anh chị Đỗ Thúc Vịnh. Nhà tôi vẫn luôn nhắc đến. Hồi xưa anh Vịnh hay kể chuyện cổ tích và chép những bài thơ hay cho cô em bé bỏng Đỗ Thị Phú. Nay thì anh Vịnh đã đi xa…Đời người thật ngắn ngủi quá, phải không chị Huyền?
*BH: Vâng, cũng vì thế mà BH luôn nhủ lòng sống sao cho ý nghĩa. Một lần nữa xin cảm ơn thi sĩ Yên Thao. BH sẽ giới thiệu bài thơ Nhà Tôi trong Câu Chuyện Thơ Nhạc do BH thực hiện trên làn sóng VOA, hàng tiần vào 10g tối thứ sáu (giờ VN). Xin gửi lời thăm chị và hy vọng có một ngày không xa được về thăm VN, đến Hà Nội để được nhà thơ Yên Thao dẫn đến thăm nơi xưa có "Nhà tôi ở cuối thôn đồi, có giàn thiên lý có người tôi thương"…
Bích Huyền
………………………………..
Yên Thao

Nhà Tôi

Tôi đứng bên này sông
Bên kia vùng địch đóng
Làng tôi đấy xạm đen màu tiết đọng
Tre cau buồn tóc rũ ước mơ sương
Màu trắng vôi lờm lợp mấy khung tường
Nếp đình xưa người hỡi vui gì không ?
Tôi là anh lính chiến
Rời quê hương từ dạo máu khơi dòng
Buông tay gầu vui lại thuở bình mong
Ghì nấc súng nhớ ơi ngày chiến thắng
Chân có mỏi trên nẻo đường vạn dặm
Áo nào không phai không xót chút hào hoa
Ðêm hôm nay tôi trở về lành lạnh
Sông sâu buồn lấp lánh ánh sao thưa
Tôi có người vợ trẻ đẹp như thơ
Tuổi chớm đôi mươì cưới buổi dâng cờ
Má trắng mịn thơm thơm mùi lúa chín
Ai đi qua mà chẳng từng bịn rịn
Rời đau thương nào đã mấy ai vui ?
Em lặng buồn nhìn với lúc chia phôi
Tôi mạnh bước mà nghe hồn nhỏ lệ
Tôi còn người mẹ
Tóc đã ngã màu bông
Tuổi già non thế kỷ
Lưng gầy uốn nặng kiếp long đong
Nắng mưa từ buổi tang chồng
Tơ tằm rút mãi cho lòng héo hon
Thôi xa rồi ! Mẹ tôi
Lệ nhòa mi mắt trông con phương trời
Có từng chợt tỉnh đêm vơi
Nghe ròn tiếng súng nhắc lời chia ly !
Mẹ ơi ! Con mẹ tìm đi
Bao giờ hết giặc con về mẹ vui
Ðêm nay trời lành lạnh
Sông sâu buồn lấp lánh sao lưa thưa
Ống quần nâu đã vá mụn giang hồ
Chắp tay súng tôi mơ về Nguyễn Huệ
Làng tôi kia bên trại thù quạnh quẽ
Nằm im lìm như một nắm mồ ma
Có còn khôngEm hỡi Mẹ tôi già ?
Những người thân yêu khóc buổi tôi xa
Tôi là anh lính chiến
Theo quân về giải phóng quê hương
Mái đầu xanh đầy bụi viễn phương
Bước chân đất đạp xiêu đồn lũy địch.
Này anh lính chiến
Người bạn pháo binh ơi
Ðã đến giờ chưa nhỉ ?
Mà tôi nghe như trại giặc tan tành
Anh rót cho khéo nhé !
Không lại nhầm nhà tôi
Nhà tôi ở cuối thôn đoài
Có giàn thiên lý
Có người tôi thương.
………………………………………………………………
Kính.
NNS 



Lê Văn Lân : Jing Ethnic village – Người Việt di cư sang Tàu??

Đây là vài LINKS …thấy người Jing gốc Việt vẫn cố duy trì dân tộc tính và âm nhạc cũa VN… Lạ là làm sao sinh sống trên một đảo nhỏ với dân số quá ít mà sao họ họ không bị đồng huyết rồi từ từ bệnh hoạn mà mất đi cả?

 
Đối với một số người chúng ta, sự việc biết có một thiểu số rất nhỏ (20 000) người Jing (Kinh = Việt) sống ở Tam Đảo (Quảng Tây,Trung Quốc) là một « khám phá » gây nhiều xúc động. Rồi lúc được biết họ đã rời xa VN 500 năm mà vẫn cố gắng duy trì bản sắc văn hóa dân tộc Việt trước sức đồng hóa rất mạnh của TQ, lúc coi những điệu múa, nghe họ hát Qua Cầu Gió Bay với cái giọng Việt lơ lớ làm rất xúc động cho tình đồng hương…
 
Coi cái đàn bầu mà trên khúc tre thật to lớn, một deviation thật độc đáo vì họ phải tuỳ cơ ứng biến,  làm được gì với dụng cụcó được trên đảo.

 
  
http://www.youtube.com/watch?v=vmAzkcykhhk&feature=related
 

http://www.youtube.com/watch?v=7xIupHTg8sw&feature=related

 

http://www.youtube.com/watch?v=NIsBtciyVLc

http://www.youtube.com/watch?v=0wzpqgvKH-E&feature=related
 

http://www.youtube.com/watch?v=NIsBtciyVLc&feature=related

———————————————————————————————–

quote:

Jing Ethnic village – Người Việt di cư sang Tàu?? – 2/1/2007 9:08:04 AM
Bamboo
Nhà Lầu
Bài: 103
Trích đoạn: Bamboo

Ba Làng Việt Tộc Trong Nội Ðịa Biên Thùy Trung Quốc


Ba làng người "Trung Hoa gốc Việt tộc" đang sinh sống phát triển trong nội địa nước Tầu hiện nay không phải là một điều bí mật hay rất ít người biết nữa như trước đây. Trái lại, nó được chính thức kể như một trong số hơn 50 sắc dân thiểu số tại Trung Hoa, chiếm cứ khoảng 6.6% toàn thể của dân số của quốc gia này là 1.3 tỉ nhân khẩu.

Riêng về Việt tộc – còn gọi chính thức là Kinh tộc (the Jings) – có con số nhân khẩu khiêm tốn gồm khoảng hơn 15,000 người, tụ cư sinh sống trong ba hòn đảo nhỏ là Vạn Vĩ (Wanwei), Ô Ðầu (Wutou) và Sơn Tâm (Shanxin) trong vùng tỉnh Quảng Tây. Hình ảnh cô gái Việt hay Kinh tộc xinh đẹp với cái nón lá hình chóp đã được tài liệu hay bích chương du lịch của Trung Hoa trưng lớn lên như mời mọc du khách quốc tế.

Tôi tự hỏi tại sao người Việt mình ngày nay sẵn sàng đi du lịch Trung Quốc một cách dễ dàng lại không tạo dịp đi thăm ba làng Việt tộc nói trên. Trước hết là tỏ một mối tình thâm trầm man mác đối với những người vốn là đồng bào đồng tộc với chúng ta nhưng vì hoàn cảnh lịch sử xa xưa lại không còn ở chung một địa bàn địa lý với chúng ta; sau là chúng ta có dịp sưu tầm lại những di sản quí báu về tinh thần mà những người Việt tộc này vẫn còn lưu giữ sau gần 500 năm xa lìa quê hương gốc như 30 điệu hát đúm vào ngày hội Tết đầu xuân và những tài liệu viết bằng chữ Nôm của họ.

Mục tiêu vấn đề du lịch thăm ba làng Việt tộc ở Trung Quốc là như thế nhưng muốn thực hiện chúng ta cần phải thu thập những yếu tố dữ kiện nào trên thực tế.

Sau đây là những điều cụ thể mà tôi đã tra cứu cẩn thận nên trình bày ra để chia xẻ cho những ai đồng chí hướng thích sự ngao du thích thú sưu tầm:

Tài liệu về lịch sử và sự phát triển, sinh hoạt của những người Kinh hay Việt tộc (mà tôi tạm dùng chữ Kinh Việt viết tắt là KV trong bài này) được mô tả rất đầy đủ trong những sách của Trung Hoa như Dân Tộc Tri Thức Thủ Sách (Dân tộc Xuất bản xã năm 1982) viết bằng Hoa ngữ – China’s Minority Nationalities (Foreign Language Press năm 1989) bằng Anh ngữ.
Qua hai tài liệu trên, chúng ta được đọc về Kinh Việt tộc như sau:

Nguồn gốc Kinh Việt tộc
Kinh tộc – ngày xưa xưng là Việt tộc – là một trong những dân thiểu số của Trung Hoo. Kinh Việt tộc chủ yếu nằm rải ra ở các địa khu của những dân tộc tự trị ở vùng duyên hải thuộc khu Phòng Thành của tỉnh Quảng Tây. Theo thống kê 1982, Kinh Việt tộc có 11,995 nhân khẩu. Hồi trước Kinh Việt tộc là một bộ phận của nòi Lạc Việt thời xa xưa, nhưng vào đầu thế kỷ thứ 16, họ đã từ vùng Ðồ Sơn của Việt Nam hiện giờ lục tục di cư đến địa điểm bây giờ, tụ cư trên ba hòn đảo nhỏ gọi là ba làng là Vạn vĩ, Vu đầu và Sơn Tâm thuộc huyện Giang Bình nên người ta quen gọi là "Kinh tộc tam đảo."

Tiếng nói và Văn tự của người Kinh Việt thế nào?
"Dân Kinh Việt tộc tam đảo vốn nói tiếng Kinh hay Việt và có một văn tự gốc gọi là "chữ Nôm, nhưng từ lâu họ cũng nói tiếng địa phương Quảng Châu và xử dụng Hán tự."

Tiếng nói Kinh Việt
"Nguồn gốc Kinh ngữ (hay Việt ngữ) theo Dân tộc Từ điển của Thượng hải (1987) có thể thuộc vào hai giả thuyết trên ngữ hệ: thứ nhất là thuộc Hán Tạng ngữ hệ, thứ hai là thuộc Nam Á ngữ hệ. Theo sự phân tách của sách này, Kinh (hay Việt) ngữ rất gần tiếng các dân tộc Choang (Tráng) và Ðồng được phân bố tại các huyện tự trị lân cận. Kinh Việt ngữ có 28 thanh mẫu, 106 vận âm. Nguyên âm KV chia thành nguyên âm dài và nguyên âm ngắn. Phụ âm vận ở cuối từ có 6 vận là: (-k), (-m),(-n),(-ng), (-p), (-t), ví dụ như cac(k), nam, man, mang, map, mat. Thanh điệu có năm bực là: trung bình, đê giáng, khúc triết, cao thăng, đê bình, tức là năm dấu giọng. Về ngữ pháp, dân KV không nói ngược như dân Hán như họ gọi Ông Thôn để chỉ chức trưởng thôn xã, Ông Kiểm để chỉ chức kiểm soát an ninh trật tự.

Chữ Nôm Kinh Việt
"Viết về chữ Nôm của ba làng KV này, tài liệu Anh ngữ ChinaỖs Minority Nationalities (CMN) nói thật rõ như sau: "Người Kinh có một thứ văn tự ghi chép riêng của họ gọi là chữ Nôm (chữ Hoa ghi là Tự Nam, chữ Anh phiên âm là Zinan). Ðược cấu tạo dựa trên căn bản của Hán tự vào cuối thế kỷ 13, chữ Nôm nay được lưu truyền trong những sách thi ca cũ và những bộ kinh tôn giáo." Chúng ta chưa thấy tự dạng và cấu trúc của nó ra sao, nhưng chắc chắn nó phải là chữ Nôm của Việt Nam vào cuối đời Hậu Lê chắc chắn nó phải cổ và chính thống hơn chữ Nôm của ta từ nhà Nguyễn về saụ Nếu ta sưu tầm được chữ Nôm Kinh Việt này, chúng ta có thể hiểu nhiều tiếng Việt thời cổ hơn.

Diễn biến quá trình định cư của dân Kinh Việt
"Tổ tiên người Kinh di cư từ Việt Nam sang Trung Quốc vào khoảng đầu thế kỷ 16. Thuở ban đầu thì họ định cư trên ba hòn đảo không người ở vì các vùng lân cận đã có người Hán và người Choang (Trang tộc) chiếm cứ sinh sống rồị Tuy sống chen vai thích c&a
acute;nh với người Hán và người Choang, người Kinh đã tạo dựng nên một khu lãnh giới riêng cho mình nhưng qua nhiều thế kỷ, họ đã hàn chặt nhiều mối liên lạc mật thiết với dân tộc láng giềng. Theo tài liệu bằng chữ Nôm mà người Kinh còn lưu giữ trong một ngôi đình của họ, tổ tiên của Việt tộc tam đảo đã từ bãi Ðồ Sơn (tỉnh Hải Phòng Việt Nam) đến vùng đất này vào năm Hồng Thuận. Theo Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, Hồng Thuận vào cuối đời Hậu Lê tức là đời vua Lê Tương Dực (1510 – 1516), như vậy dân Kinh hay Việt tộc đã sinh sống lập nghiệp trên đất Trung Hoa gần như tròm trèm 500 năm.

Hiện nay, chúng ta chưa rõ tại sao dân Kinh Việt lại di cư qua Trung hoa? Vì vùng đất của họ nằm gần như sát biên thùy Việt Hoa tức là huyện Móng Cáy tỉnh Quảng Ninh của Việt Nam ngó qua Ðông Hưng của Trung Hoa, nên chúng ta có thể phóng đoán rằng ngày xưa giữa Trung Hoa và Việt Nam không có con đường phân định rõ ràng về biên giới có tọa độ rõ ràng. Do đó, đám người Kinh Việt cứ thấy vùng nào không có ai ở thì tới cắm dùi lập nghiệp sinh sống, chẳng chính quyền nào kiểm soát. Lằn biên giới Hoa Việt mới chính thức vạch ra sau Hiệp ước Fournier-Lý Hồng Chương, chạy dọc theo kinh tuyến 108 độ 3 phút 13 giây, vùng nào về phía tây của kinh tuyến thuộc về Việt nam (thời ấy do Pháp đô hộ), còn vùng nào ở phía đông kinh tuyến thì thuộc về lãnh thổ Trung Hoa. Do đó, vùng đất mà dân Kinh Việt chiếm cứ định cư trong bao nhiêu thế kỷ bỗng nằm lọt vào lãnh thổ Trung Quốc. Rồi trải bao nhiêu thời gian, dân Kinh Việt cứ yên thắm sống trong vùng mà nhà nước Trung Hoa gọi là "Tự trị khu" chung với những sắc dân thiểu số như Choang, Dao trong tỉnh Quảng Tây. Cho đến cuối 1952 – sau năm 1949 khi chính quyền Trung Cộng chiếm toàn lục địa Trung Hoa thì mới bắt đầu thành lập ba thôn làng là Vạn Vĩ, Vu Ðầu và Sơn Tâm để rồi 1958 thì ba làng Kinh Việt này hợp cùng các làng khác của dân Choang và Dao để làm thành huyện tự trị Ðông Hưng. Vào cuối năm 1979 thì các huyện tự trị này họp thành trấn Phòng Thành tự trị cho đến nay.

Phong tục tập quán của dân Kinh Việt
"Ta thử xem 500 năm qua xa xứ người Kinh Việt còn giữ dấu tích gì của quê hương mẹ không?

Họ mặc áo quần ra sao?
"Y phục của người Kinh rất đơn giản và thực tế. Phụ nữ ăn mặc theo cổ truyền với những chiếc áo ngắn, không cổ, chẽn bó vào thân mình, cài nút phía trước, trên đầu đội quấn một cái khăn rằn, dưới mặc những tấm quần rộng nhuộm đen hay nâu. Khi ra ngoài, phụ nữ thường mặc thêm áo dài tay chật nhuộm màu sắc nhạt hơn. Họ đeo bông tai. Tóc phụ nữ phần lớn rẽ ngôi ở giữa và tóc xỏa hai bên, phía sau lại dùng vải đen hay khăn đen buộc lại. Dân quê còn đi chân đất. Còn đàn ông thì thường mặc áo cộc để làm việc, cổ quấn khăn, nhưng khi có hội hè thì họ mặc những áo dài chùng tới gối, hai vạt trước sau đối nhau và có giải quấn ở eo lưng.

Bây giờ người Kinh ăn mặc giống như người Hán láng giềng, mặc dù còn một số ít bà cụ già còn giữ lối ăn mặc theo cổ tục và một thiểu số phụ nữ trẻ còn búi tó và nhuộm răng đen vì vẫn còn tục ăn trầu, còn đàn ông thì đương nhiên ăn mặc thực tế theo hiện đại như những dân lân cận khác.

Một điểm về mầu sắc là phụ nữ Kinh Việt khoái mầu vàng và mầu nâu non, vì hàng năm vào ngày quốc khánh của Trung Quốc thì có đội nữ dân quân Giang Bình "chít khăn vàng, mặc áo nâu non, quần đen, vai đeo súng, lưng thắt băng đạn đi diễu binh trước khán đài" (Làng Việt biên thùy – báo Sài Gòn Giải Phóng ngày 20 tháng Tám năm 1995).

Họ ăn uống thế nào?
"Về ẩm thực, dân Kinh Việt ăn cơm là chính, ngoài ra còn ăn khoai sắn, khoai sọ, thích ăn cá tôm cua. Ngày Tết, họ thích ăn xôi chè (hỉ hoan cật nhu mễ phạn hòa nhu mễ đường chúc). Họ làm nước mắm cá để chấm và nêm thức ăn.

Một điểm lý thú là dân Kinh Việt thích ăn hai món sau, ăn hoài không ngán: Ðó là "bánh đa" bằng bột gạo có rắc mè nướng trên than hồng mà sách Tầu gọi là Phong xuy hỉ – bánh phồng do gió thổi! – và "bún riêu, bún ốc" mà sách Hán tự ghi là Hỉ ty tức là sợi bún nấu với canh cua và ốc.

Phong tục, tín ngưỡng và văn hóa Kinh Việt ra sao?
"Nhà cửa của dân Kinh Việt thì thấp, làm bằng gỗ hay tre đan thành phên.

Phong tục hôn nhân thì một vợ, một chồng, thuở trước thì thường do cha mẹ hai bên xếp đặt bao biện. Trai gái cùng họ và anh em cô cậu cấm lấy nhau.

Về tang ma thì chôn dưới đất.

Trừ một thiểu số theo đạo Thiên chúa, phần lớn dân Kinh Việt theo Phật giáo, cúng vái đủ thứ thần thánh và sùng bái tổ tiên.

Sinh hoạt văn hóa và văn nghệ Kinh tộc ra sao?
Dân tộc Kinh rất ưa thích lối hát đối đáp giao tình (antiphonal songs) nghe du dương và trữ tình, kiểu như hát Quan họ hay hát đúm quen thuộc ngoài Bắc ta bây g
iờ. (Tài liệu Anh ngữ CMN của Trung hoa về Kinh tộc đã dùng chữ rất đúng để dịch chữ hát đối hay hát đúm vì "Antiphon" là lối hát chia thành nhiều phần đối đáp và xen kẽ luân phiên – Antiphon is a hymn, psalm etc… chanted or sung in responsive and alternating parts – Webster’s New World Dictionary). Lối hát đúm hát đối này thường được dân Kinh long trọng diễn vào ngày Tết của họ mà họ gọi là "Hát Tết." Hát đúm, hát đối là do những cô gái gọi là "Hát muội" (Muội là em gái).

Tài liệu Hoa ngữ DTTT về Kinh tộc trang 91 đã đặc biệt khen rằng: "Người Kinh trên phương diện sinh hoạt phấn đấu trường kỳ đã sáng tạo một nền văn hóa rực rỡ muôn màu, nội dung của nền văn học truyền khẩu thật phong phú, ca khúc và khúc điệu đạt đến 30 loại. Ðàn bầu là một nhạc khí chỉ riêng Kinh tộc có mà thôi. Phê bình về âm nhạc và dân ca của Kinh tộc, sách Hoa ngữ nói rằng: "Lời ca thuần phác, khúc điệu bình dị ít biến hóa."

"Về phương diện nghệ thuật, tài liệu Anh ngữ CMN nói thêm thật rõ về Kinh tộc như sau: "Nhạc cụ cổ truyền của người Kinh gồm có đàn nhị (two-stringed fiddle), sáo trúc, trống, cồng và cây độc huyền cầm (single-stringed fiddle) là cây đàn đặc thù của họ. Những truyện dân gian và cổ tích của họ rất nhiều. Những điệu múa ưa chuộng củ a người Kinh là múa đèn, múa gậy sặc sỡ nhiều màu, múa rồng và múa y phục thêu thùa.

Theo sách Dân Tự Trị Thủ Sách của Trung hoa, câu chuyện cổ tích mà dân Kinh hay kể là Truyện chàng Thạch sanh (mà cái tên Lý Thông phản phúc trong truyện được gọi và cải lại là Nguyễn Thông).
Ðàn kêu tích tịch tình tang,
Ai đem công chúa trên hang mà về!

Cái đàn "tích tịch tình tang" gẩy bằng que tre chính là cây đàn bầu nói trên.

Kinh tế của ba làng Kinh Việt
Dân Kinh Việt sống trong một vùng bán nhiệt đới, có mưa nhiều và lắm tài nguyên khoáng sa. Vịnh Bắc Bộ ở phía nam là một nơi lý tưởng cho ngư nghiệp. Trong 700 loại cá đánh ở đây thì hơn 200 loại có giá trị kinh tế cao và thu hoạch nhiều. Ngọc trai, cá ngựa và sea otters sinh sản lắm ở đây và thường quí về phương diện dược liệu. Nước biển của vịnh Bắc Bộ tốt cho sự làm muối. Mùa màng chính ở đây là gạo, khoai lang, đậu phọng, khoai sọ, và kê. Những loại trái cây bán nhiệt đới như đu đủ, chuối, nhãn thì rất nhiều. Những khoáng sản dưới đất gồm sắt, monazite, titanium, magnetite và silica. Những giải rộng của rừng tràm mọc trên vùng nước lợ là một nguồn lợi phong phú về chất tannin dùng làm nguyên liệu tất yếu cho kỹ nghệ thuộc da.

Dân Kinh Việt sinh nhai chính bằng ngư nghiệp, còn nông nghiệp là thứ yếu, ví dụ ở làng Sơn Tâm thì 70% lợi tức của làng do ngư nghiệp, 27% do nông nghiệp còn lại 3% do các hoạt động khác. Trước đây, ngư nghiệp không phát đạt vì trang bị của ngư dân còn nghèo, phươngpháp còn vụng về chậm tiến và nhất là không thể đánh cá ở biển sâu. Nông nghiệp cũng kém, mỗi mẫu tây chỉ thâu hoạch 750 kg thóc, chỉ đủ dự trữ ăn trong ba, bốn tháng. Do đó, dân Kinh Việt phải sống chật vật, đổi cá lấy gạo và các thứ nhật dụng hoặc làm thêm thủ công nghệ như đan đát tre hay nghề mộc.

Hiện nay, tình trạng thay đổi nhiều trên ba làng dân Kinh Việt. Dự án ý nghĩa nhất để chuyên trị những cù lao đất bồi nghèo nàn là xây đắp 11 con đê để lấn đất ra biển và nối các hòn cù lao với đất liền. Một diện tích khoảng 400 mẫu đất được tạo dựng tương đương với bốn lần diện tích đất canh tác cụ China’s Minority Nationalities đã khoe. Về ngư nghiệp, những ghe thuyền gắn động cơ và nhiều dụng cụ đánh cá mới trang bị làm tăng gia sự có thể đánh cá ở biển sâu. Ngành nuôi ngọc trai đã thành một kỹ nghệ phát triển từ năm 1958 khi những trại nuôi trai sản xuất ngọc được thiết lập vào những vũng biển nước sâu lý tưởng cho loài trai tăng trưởng. Cũng từ năm 1958, cây cối được trồng trên một diện tích 433 mẫu đã tạo thành một bờ đai hàng rào chắn gió và cát di chuyển. Qua nhiều năm, trái cây như chuối, đu đủ, dừa, nhãn di thực từ vùng khác đã mọc sum xuê trên các vùng hải đảo.

Làm sao thực hiện một chuyến du lịch vào vùng Kinh Việt Tam đảo?
Trước đây, Trung Quốc đã có chánh sách đóng kín bức màn tre nên chuyện du lịch Trung Hoa là một vấn đề khó khăn thiên nan vạn nan với bao thủ tục và gần như mạo hiểm như chúng ta có thể phối kiểm những bài viết du khảo về Trung Quốc của nguyệt san tạp chí National Geographic. Nhưng cho đến cuối tháng Giêng năm 1986, thì 244 đô thị của Trung Quốc được mở ra để du khách ngoại quốc có thể thăm với thông hành có chiếu khán và giấy phép hợp lệ. Kể từ đó, cơ quan Dịch Vụ Du Lịch Quốc Tế của Trung hoa – China International Travel Service – cùng nhiều công ty khác đã phối hợp chặt chẽ với công ty China Focus Inc. hay Ritz Tours… tổ chức thường xuyên nhiều chuyến tuần du Trung Quốc với giá cả tương đối rẻ bao gồm bao nhiêu thứ nào là vé phi cơ, vé xe lửa, v&eacute
; xe buýt, vé thăm thắng cảnh, vé coi show cùng với những bữa ăn. Ðiều này chứng tỏ chính quyền Trung Quốc rất hoan nghênh sự thăm viếng của du khách để thâu ngoại tệ. Riêng về du lịch vùng Tam Ðảo ở tỉnh Quảng Tây thì tôi chưa thấy phổ biến rộng rãi mặc dù trên nhiều tài liệu và bích chương du lịch của Trung Hoa thường in hình cô gái Kinh Việt đội nón lá rất tươi với dáng vẻ mời mọc. Tôi nghĩ họ đang cần quảng cáo cho nhiều đô thị hay thắng cảnh nổi danh trước đã, để thu vào nhiều lợi từ khách quốc tế mà họ gọi là nguồn lợi big spenders. Tuy nhiên, theo sự dọ hỏi của tôi với vài hướng dẫn viên du lịch địa phương ở Trung Hoa thì công ty của họ sẵn lòng phối hợp với China Focus tổ chức những chuyến du lịch nhỏ kiếm ăn kiểu cò con phụ thêm (extension trip) vào những tours chính mà chỉ cần trả phụ trội một phí tổn tương ứng. Ví dụ chúng tôi vừa đi một chuyến 15 ngày du lịch trả khoảng 1,550 mỹ kim để đi một vòng qua các nơi như Bắc Kinh, Tây An, Quế Lâm, Nam Kinh, Hàng, Tô Châu, Thượng Hải, nhưng lại muốn đi thăm hai ngày ở Hàng Châu (gần Thượng Hải) nên chỉ trả thêm mỗi người 350 mỹ kim thôi. Tính ra mỗi ngày chỉ trả 150 mỹ kim. Vùng Kinh Việt Tam Ðảo thuộc tỉnh Quảng Tây nên tôi nghĩ có thể dàn xếp với công ty du lịch cho chúng ta thăm phụ thêm khi cái tour chính của chúng ta đi qua gần đấy như thăm Quế Lâm, Quảng Châu hay Hồng Kông miễn là chúng ta có ít nhất là 10 người cùng đi.

Nếu chúng ta cố tình muốn thăm ba làng Việt tộc, thì vấn đề không khó mà có thể tổ chức một thuận lợi nếu có nhiều người cùng thích đi.

Lê Văn Lân

Mời tham khảo thêm…
 

Theo TaiShan…! 

Người Kinh tại Quảng Tây… theo NDNB 1… 

Người Kinh tại Quảng Tây… theo NDNB 2… 

Người Kinh tại Quảng Tây… theo NDNB 3… 

KTS Trân Thanh Vân : Không Thể Không Nói

KTS Trần Thanh Vân là người có đến 55 năm "duyên nợ" với Trung Quốc. Không ngờ chị lại có quê ngoại vốn là quê nội của tôi và trời xui đất khiến thế nào mà ngày đầu kháng chiến toàn quốc, riêng bố lên ATK còn mẹ con cô bé Vân lại dắt díu nhau chạy tuốt về Đức Thọ Hà Tĩnh để hưởng cái không khí "gạo trắng nước trong" thơ mộng những năm đầu và rước lấy tai họa vào mấy năm sau đó, khi Cải cách ruộng đất đợt 5, đợt cuối cùng và cũng là sai lầm kinh hoàng nhất, nổ ra ở đây. Cô bé Vân nhỏ hơn tôi ít nhất cũng đến 5 tuổi và được bố vội vã trở về đưa ra Việt Bắc ngay nên không thể biết gì thêm về những chuyện "long trời lở đất" như tôi, nhưng cũng đã kịp chứng kiến cảnh ông ngoại là một thầy lang hiền lành có uy tín trong vùng và người mẹ, từ tuổi còn rất trẻ đã biến thành tiểu thư Hà Nội nên khi trở về lại quê cha là tất tả lo kêu gọi chị em thành lập tổ may áo rét cho binh sĩ, cả hai người, ông và mẹ đều bị đưa ra đấu trường (trong Phát động Giảm tô vào 1953, đấu trường cũng đã ghê gớm, dữ dằn nhưng chưa khủng khiếp bằng bước sau, năm 1955, được gọi đúng tên CCRĐ). Những lởn vởn trong đầu về bàn tay can thiệp của đội quân do Bác Mao phái sang giúp chúng ta, gây ra chết chóc và làm tanh bành đất nước, bắt đầu dấy lên trong chị từ những ngày ấy. 

Chị Vân cũng có cả những trải nghiệm về những ngày tháng "hữu nghị Việt Trung Xô" (tuy chị nhớ nhầm diễn ra sau CCRĐ, kỳ thực nó bắt đầu trước cơn bão ấy khá lâu và kéo dài mãi đến sau này) mà về phần tôi, không bị những cuộc đại liên hoan nhảy múa "xồn la xồn" rộn rã – diễn ra ở bất kỳ nơi đâu ta sinh sống – mê hoặc, nhưng thú thực, một ít bài hát thuở ấy còn quyến rũ tôi đến nay về cái giai điệu du dương của chúng, nhất là về cái sức thôi thúc tuổi trẻ đắm vào giấc mơ chiến đấu cho một thế giới đại đồng: "Ai nghe chăng tiếng kèn trên Leningrade / Ai nghe chăng tiếng hát giữa Trung Hoa / Hà Nội ơi ngày chiến thắng không xa và / Khi lúa đơm hoa cờ / Tiến quân ta về Thủ đô / Ai nghe chăng xích xiềng đang tung nơi nơi / Và ngày mai khi súng lặng nơi chiến trường / Là lúc ta lên đường đập tan sóng Thái Bình Dương…". 

Chị Thanh Vân may mắn hơn tôi được sang Thượng Hải theo học ngành kiến trúc từ 1960 đến 1966, tận mắt nhìn thấy bức tranh náo loạn của Đại cách mạng văn hóa Trung Quốc làm cho hàng mấy trăm triệu con người trở nên hung hăng điên dại. Còn chúng tôi, vào Đại học Tổng hợp Hà Nội từ 1956, chúng tôi cũng đã nhận được tiếng dội của phong trào Đại tiến vọt từ Trung Quốc dội đến, đã cùng nhau đi thu thập chảo gang và đồ sắt phế liệu để chuẩn bị mở lò luyện thép trong trường.


Trong khóa học Ngữ văn đầu tiên sau hòa bình của mình, bên cạnh các chuyên gia Liên Xô, chúng tôi lại cũng có may mắn được học với những chuyên gia lỗi lạc về văn học cổ điển Trung Quốc như GS Trương Trọng Thuần, từ Đại học Bắc Kinh cử sang, tính tình thật đôn hậu, vừa uyên thâm vừa vẽ giỏi, có thể vẽ minh họa thơ Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị bằng phấn ngay trên bảng. Và theo các bạn cùng khóa của tôi sau ngày tốt nghiệp ít năm được chọn sang làm tu nghiệp sinh ở Trung Quốc kể lại, thì trong Đại cách mạng văn hóa Trung Quốc, một đêm kia, thầy Trương Trọng Thuần đã đánh bạo lần mò đến ký túc xá của đoàn học sinh Việt Nam gõ cửa rất gấp, đưa ra 2 lá thư, với giọng nghẹn trong nước mắt, nhờ học trò cũ chuyển giúp ông về nước, nhằm xin với "bên nhà" cho được sang lánh nạn ở Việt Nam. Tiếc thay thư gửi về mà không có hồi âm khiến thầy mong đỏ cả mắt, rồi chuyện gì xẩy ra đã xẩy ra: khoảng vài tuần sau cái đêm liều mạng đến gõ cửa các học trò Việt Nam, thầy đã biến mất tăm dạng, đến nay không ai biết ở đâu… 

Phần thứ hai của bài viết của KTS Trần Thanh Vân là một kiến giải có tính chất dự báo về việc áp dụng lý thuyết phong thủy để nhìn xem hình thế địa mạch trái đất như một sợi dây liên thông vô hình không dứt, trong đó Việt Nam là một điểm nhấn quan trọng. Tôi không dám lạm bình vào những điều huyền vi này, bởi phong thủy là một môn học đòi hỏi phải có sự kết hợp xét đoán nhiều mặt, tinh tường, về những gì đã hiện hình trên thế núi, hình sông mạch đất, và cả những gì thuộc phạm vi tâm linh chứ chưa hiện rõ. Tôi tuyệt nhiên không biết một chút sơ đẳng về cái học uyên áo kia trong khi chị đã có đến 19 năm đào sâu về nó. Bởi vậy, chỉ xin được giới thiệu với bạn đọc kiến giải của chị như những giả thuyết không chỉ hấp dẫn về khả năng liên tưởng sâu xa mà phía sau nó còn là một lời cảnh báo nghiêm khắc với những ai có quyền, có tiền, có đủ thứ, chỉ duy không có trái tim hoặc trái tim đã bị chia ra nhiều phần, phần lớn nhất buộc phải dâng cho kẻ khác, vì thế mắt mở to mà không hề nhìn thấy mọi hiểm họa đang rình rập tứ phía đối với giải đất cong cong hình chữ S ruột thịt của 85 triệu con dân Việt. Và đây là lời cảnh báo chị muốn đưa ra: hãy kịp thời tỉnh lại đi những ai đang mê muội trong giàu sang và quyền lực, vì bàn chân lũ cáo ranh mãnh đã mon men đặt lên một vài trong các tử huyệt của đất nước.

Nguyễn Huệ Chi
Không thể không nói
Trần Thanh Vân, kiến trúc sư

PHẦN I
 
TÔI BIẾT GÌ VỀ TRUNG QUỐC ?
 
Lâu nay mọi người vẫn nghĩ rằng tôi là một Kiến trúc sư cảnh quan có hiểu chút ít về phong thủy Thăng Long, âu cũng là chuyện bình thường, cho nên những vấn đề gì liên quan đến phong thủy của Kinh đô Thăng Long xưa và Hà Nội mở rộng ngày nay thì họ hay hỏi tôi, ngoài ra tôi không biết điều gì khác. Tôi cũng tự nghĩ như vậy, nên không muốn chen vào những lĩnh vực nhạy cảm mà tôi không thông thạo như kinh tế, xã hội, đặc biệt là các vấn đề an ninh, chính trị và thời sự quốc tế!
 
Cách đây vài tháng, khi xây dựng chương mục Địa linh của Chương trình văn hóa 1000 năm Thăng Long, một nhóm nghiên cứu của Ban khoa giáo Đài truyền hình trung ương đến gặp tôi để lấy tài liệu về Địa mạch và Hồn cốt Thăng Long. Giữa chừng câu chuyện, họ hỏi tôi “Chị nghiên cứu đề tài này lâu chưa?” Tôi lưỡng lự giây lát, rồi trả lời họ: “Khoảng chừng đã 55 năm” 
 
– “Cái gì? 55 năm?”
– “Vâng! từ ngày còn là con bé con”.
 
Thế rồi tôi kể cho họ nghe những câu chuyện khiến tôi phải chứng kiến, phải tìm hiểu từ ngày tôi còn nhỏ. Vào đại học, tôi làm đơn thi Bách khoa vô tuyến điện hoặc Tổng hợp Lý toán, nhưng lại bị phân công theo ngành Kiến trúc. Sau này, tôi học phong thủy cho biết để hành nghề kiến trúc sư, càng ngày tôi càng ý thức được đó là cái nghiệp đời người của tôi. Vâng, đúng là nghiệp đời người đặt tôi vào tình huống liên tiếp phải va chạm với những sự thật và tôi không thể không theo đuổi đến cùng sự thật đó. Xin nhắc lại rằng kiến thức của tôi bắt nguồn từ những sự thật, từ những điều mắt thấy tai nghe, không phải từ lý thuyết.
 
Sự thật và trải nghiệm
Tôi xin mở đầu câu chuyện nghiêm túc này bằng mối “quan hệ” của tôi với vấn đề Trung Quốc mà tôi sắp kể ra, đó là lý do thôi thúc tôi phải đi sâu tìm hiểu bản chất của mối quan hệ hữu nghị Việt Nam – Trung Hoa này. Có thể có những nhà nghiên cứu chiến lược lâu năm có cách nhìn khác và chưa công nhận những điều tôi sắp nói, nhưng với trách nhiệm của một công dân, một người con đất Việt, tôi như là một nhân chứng có thể khẳng định rằng ít ai có cơ hội để “hiểu” Trung Quốc hơn tôi. Cho nên, dù đã có thời gian dài tôi tránh nhắc tới những chuyện đó, nhưng càng tránh tôi càng thấy phải nói ra hôm nay để mọi người cùng biết.
 
Đúng vậy, tôi không chỉ từng có kỷ niệm 5 năm du học ở Thượng Hải, cái thời mọi người hay hát “Việt Nam – Trung Hoa núi liền núi, sông liền sông / Chung một Biển Đông, thắm tình hữu nghị…”; trước đó tôi đã có hai kỷ niệm sâu đậm và rất hãi hùng liên quan đến Trung Quốc.
 
Kỷ niệm thứ nhất: Cải cách ruộng đất năm 1953
Ngày ấy tôi còn nhỏ lắm. Vùng quê ngoại Đức Thọ Hà Tĩnh, nơi chúng tôi theo mẹ tản cư về đã hết yên ổn của vùng tự do thời kháng chiến và bắt đầu chịu cảnh máy bay bắn phá. Nhưng, cuộc “bắn phá” tàn khốc hơn lại chính là những cuộc đấu tố địa chủ và Việt gian phản động trong mọi làng xã ở Hà Tĩnh lúc bấy giờ. Ông ngoại tôi là một thầy thuốc Đông y giỏi có tiếng, chuyên nghề xem mạch bốc thuốc và ông tôi đã cứu sống nhiều người nên được dân trong vùng nể trọng gọi bằng thầy. Tiền bạc chắc chẳng có nhiều, nhưng mùa nào thức nấy, trong nhà ông ngoại tôi không bao giờ thiếu của ngon vật lạ do gia đình bệnh nhân mang đến tạ ơn cứu mạng như rổ lạc đầu mùa, cân đỗ xanh, thúng gạo nếp, mớ khoai lang, nải chuối chín, có khi còn có cả con gà sống thiến hay chục trứng tươi… Nhà chỉ có hơn một mẫu ruộng, ông ngoại tôi giao hẳn cho mấy người bà con trong họ trồng cấy và không thu tô, nhưng trong CCRĐ ông tôi vẫn bị quy là địa chủ, mà là địa chủ cường hào.
 
Mẹ tôi nguyên gốc là cô gái làng dệt lụa Tùng Ảnh ở Đức Thọ, đã theo ông ngoại ra sinh sống ở Hà Nội nhiều năm và có cửa hàng bán tơ lụa ở Hà Nội. Đêm toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, mẹ tôi đã bỏ lại hết nhà cửa và tài sản, đưa chúng tôi tản cư về Đức Thọ Hà Tĩnh, vận động nhiều nữ thanh niên bỏ nghề dệt lụa, xây dựng một nghề mới là xe sợi, nhuộm sợi và đan áo rét cho bộ đội. Cặm cụi làm việc đó, mẹ tôi vừa nuôi sống cho gia đình và bản thân, vừa đóng góp tích cực cho kháng chiến. Tôi còn nhớ bài hát “Áo mùa đông” của nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác vào những ngày đó: “Gió bấc heo may / xào xạc rung cây lá lá bay / một mùa đông bao người đan áo…” chính là nói về công việc của mẹ tôi và các chị, các cô trong Hội phụ nữ kháng chiến cứu quốc. Vào những ngày đó, ở vùng tự do nghèo nàn Thanh Nghệ Tĩnh làm gì có len để đan áo, sáng kiến xe sợi bông, nhuộm sợi thành các màu xanh, màu nâu, màu cỏ úa rồi đan thành áo gửi ra chiến trường, đã được ca ngợi như một chiến công lớn.
 
Nhưng trong CCRĐ thì công cũng thành tội, có một người bạn thân hồi nhỏ của mẹ tôi là Bí thư chi bộ xã đã treo cổ tự tử vì bị truy bức quá, lập tức mẹ tôi bị gán tội là trùm Quốc dân đảng đã giết ông Bí thư đó để bịt đầu mối hoạt động gián điệp và mẹ tôi liền bị lôi ra đấu tố. Cay đắng hơn cả là người được Đội cải cách bôì dưỡng để đứng lên đấu tổ mẹ tôi hăng nhất lại là một bà bạn cũng tản cư từ thành phố về và đã được mẹ tôi đưa vào tổ đan áo binh sĩ.
 
Cha tôi đang ở vùng ATK của chiến khu Việt Bắc nghe tin đó thì hoảng hốt, vội vào Hà Tĩnh đón chị em tôi lên Việt Bắc để lánh nạn. Vừa đặt chân đến Chợ Chu – Định Hóa – Thái Nguyên thì tôi được nghe câu chuyện họ vừa xử bắn bà Nguyễn Thị Năm ở thôn Đồng Bẩm huyện Đại Từ. Một vụ xử bắn oan nghiệt đối với một người phụ nữ từng có công lớn mà đến nay mọi người vẫn còn nhớ.
 
Trong các xó xỉnh của Việt Bắc hôì đó, người ta bàn tán về hoạt động của các chuyên gia Trung Quốc sang giúp ta kinh nghiệm phát động quần chúng đấu tranh giảm tô và đòi ruộng đất về chia cho dân cày mà Việt Bắc và vùng tự do Liên khu 4 được chọn làm điển hình.
Sau này, khi ông ngoại tôi đã mất rồi, đại gia đình có dịp gặp nhau ôn lại chuyện cũ, mọi người đều bảo nhau hãy nén lòng quên nỗi đau buồn đó đi.
 
Kỷ niệm thứ hai: Trời phạt
Chưa hết hoang mang về chuyện bức hại chém giết lẫn nhau trong CCRĐ, thì chúng tôi được ném vào “Trận đồ bát quái” của tháng hữu nghị Việt – Trung – Xô.
 
Liên Xô thì ở tận đẩu tận đâu xa xôi lắm, nhưng Trung Quốc thì ở ngay bên cạnh. Suốt ngày hễ gặp nhau ngoài đường dù chưa quen biết là người ta cũng liền nắm tay nhau hát múa rộn ràng. Hòa bình lập lại, Chính phủ về tiếp quản Thủ đô, thì trên đường phố Hà Nội cũng xuất hiện rất nhiều chuyên gia Trung Quốc. Còn nhỏ xíu nhưng tôi dễ dàng nhận ra họ vì cái áo kiểu Tôn Trung Sơn rộng thùng thình dài đến gần đầu gối, cái quần xanh công nhân cũng rộng thùng thình và cái mũ lưỡi trai bằng vải cũng mầu xanh như vậy. Tòa dinh thự hoành tráng của Hoàng Trọng Phu trước Vườn hoa Canh nông và các biệt thự kế tiếp trên phố Hoàng Diệu và phố Khúc Hạo trở thành Đại sứ quán và khu dành riêng của người Trung Quốc. Mỗi buổi sáng sớm họ đứng kín nửa Vườn hoa Canh nông tập thể dục và hô “I, ơ, xan, xư” ầm vang khu phố Cột Cờ.
 
Ngày đó gia đình tôi ở gần kề các Đại sứ quán. Là con bé mới học đến cấp 2, tôi không thể hiểu nổi những chuyện đã xẩy ra, nhưng tôi có thói quen ghi nhật ký. Đến tận bây giờ tôi vẫn còn giữ được những trang nhật ký trẻ thơ ghi tỷ mỷ kỷ niệm về lễ mít tinh ngày 1/1/1955 nhân dân Thủ đô chào đón TW Đảng và Chính phủ từ Việt Bắc trở về, đặc biệt trong cuốn nhật ký cũ ấy, tôi có ghi lại kỷ niệm về một người con gái Trung Quốc tên là Khương Nãi Tuệ, chị ta được tôi tặng hoa và tặng khăn quàng đỏ trong buổi chiêu đãi Đoàn văn công Tề Tề Cáp Nhĩ do Chủ tịch UBND thành phố Trần Duy Hưng tổ chức tại Cung thiếu nhi Hà Nội tối hôm 10/9/1955 và cả câu chuyện chiều hôm sau, ngày 11/9/1955, chị Văn công Khương Nãi Tuệ bị chết trong cơn lốc Hồ Tây, khi chị ta đang đóng vai Sen Chúa trong điệu Múa Hoa Sen, trên chiếc sân khấu ghép tạm cạnh Đầm Trị – Phủ Tây Hồ.
 
Khương Nãi Tuệ chết, mang theo chiếc khăn quàng đỏ do tôi tặng. Cùng chết trong tai nạn đó còn có nghệ sĩ thổi sáo Phùng Tử Tồn và hai người nữa. Mộ của họ mai táng ở nghĩa trang Bất Bạt huyện Ba Vì.
 
Sau cơn lốc khủng khiếp đó, tôi hay rơi vào tâm trạng ngẩn ngơ vì luyến tiếc chiếc khăn quàng đỏ thì ít mà vì sợ hãi như thể tôi có liên can tới cơn lốc làm lật úp ba chiếc thuyền và hại chết cô nghệ sĩ múa thì nhiều, nên tôi hay đi lang thang nghe ngóng chuyện người lớn. Rất nhiều câu chuyện nhỏ to đập vào tai tôi về một âm mưu yểm huyệt Hồ Tây nhưng bất thành và những người tham gia vào âm mưu đó đã bị Trời phạt. Ngày đó Trung Quốc và Việt Nam thân nhau lắm, nên người ta chỉ dám xầm xì nửa kín nửa hở và một cô bé con như tôi không sao hiểu nổi thứ tình hữu nghị quái gở gì mà “người bạn lớn thân thiết” lại tìm mọi cách làm hại “đứa em tội nghiệp” vừa thoát khỏi chiến tranh chống Pháp và đang rơi vào cuộc chiến tranh chống Mỹ?
 
Mấy chục năm sau, để giải tỏa tâm lý cho tôi quanh chuyện chiếc khăn quàng đỏ, nhà ngoại cảm Phan Oanh làng Xuân Đỉnh tặng tôi một bài thơ dài, trong đó có mấy câu: “Tâm con trẻ hồn nhiên không xấu / Dấu nhà Trời ai thấu được đâu / Một dải khăn đào kết một cái cầu / Để hồ thẳm nước sâu / Bà là nhịp cầu giữ yên non nước…”.
 
Du học ở Trung Quốc
Tuổi trẻ hồn nhiên với nhiều ham thích đã có lúc cuốn hút tôi, khiến tôi tạm quên đi cảm giác hoang mang lẫn sợ hãi hồi nhỏ.
Năm 1960 tôi tốt nghiệp phổ thông trung học, được miễn thi đại học, tôi được cử đi học ngoại ngữ để sang Trung Quốc theo học ngành kiến trúc. Niềm háo hức khiến tôi và các bạn cùng lứa sung sướng trong cảnh được “ăn cơm Bác Mao”, được chăm sóc dạy dỗ ân cần, lúc ốm đau được đầu bếp nấu những món ăn theo ý thích rồi mang đến tận phòng riêng phục vụ tận tình.
 
Những năm tháng đó, mọi sinh hoạt vật chất và tinh thần của chúng tôi đều được chăm sóc đặc biệt. Học Kiến trúc thì được học vẽ mỹ thuật trong 3 năm đầu, học kỳ nào chúng tôi cũng được thầy giáo là một hoạ sĩ danh tiếng dẫn đi vẽ dã ngoại ở các khu danh lam thắng cảnh cách Thượng Hải hàng trăm cây số, như các thành phố Hàng Châu, Vô Tích, Tô Châu và ở hẳn đấy vài tuần. Ông họa sĩ già hai bàn tay lấm mầu nhem nhuốc tận tình hướng dẫn chúng tôi cầm bút lông chấm phá các mảng mầu xanh đỏ, còn vợ ông thì đi theo chăm sóc chồng và cần mẫn gọt những trái lê trái táo bê đến từng góc vườn chia cho đám học trò chúng tôi. Ngoài ra, những ngày ở trong trường chúng tôi luôn luôn được hưởng ưu đãi hơn người, riêng tôi vì ham thích âm nhạc nên còn được giữ chìa khoá một căn phòng có chiếc Piano sang trọng để tự do luyện tập. Đó là những thứ mà khi ở nhà với cha mẹ, tôi chưa bao giờ dám mơ tới.
 
Chưa bao giờ tôi tự đặt cho mình câu hỏi: “Có phải họ đang vỗ béo chúng tôi để sau này về nước chúng tôi sẽ trở thành hạt giống cho họ gieo mầm bành trướng phá hoại đất nước mình hay không?” Chưa bao giờ tôi tự hỏi như thế cả, nhưng trong lòng không thể không gợn lên những thắc mắc vô cớ. Tôi biết Trung Quốc ngày đó còn nghèo lắm, các bạn sinh viên Trung Quốc phải ăn ở chen chúc trong những căn phòng chật chội của ký túc xá, bữa cơm của họ chỉ có chiếc bánh bao không nhân, một bát cháo hoa loãng và vài miếng ca-la-thầu.
 
Ngược lại tôi và chị bạn gái người Sài Gòn tập kết thì được hai cô bạn người Thượng Hải nữa ở cùng trong một ngôi nhà dành riêng cho giáo viên và trợ giảng. Đó là một tòa nhà 2 tầng có nhiều phòng, chúng tôi ở tầng hai cùng các giáo viên nữ, còn tầng một dành cho giáo viên nam. Đã là giáo viên và trợ giảng đại học, nhưng họ còn rất trẻ và đều chưa có gia đình riêng. Tôi hay lui tới thăm nom họ và ái ngại thấy họ sống rất đạm bạc. Hóa ra họ phải nhịn ăn nhịn mặc để nuôi chúng tôi. Tôi phát hiện biết có một thầy giáo bị bệnh gan và tiểu đường rất cần bồi dưỡng nhưng tiêu chuẩn tem phiếu không đủ cung cấp, thầy luôn luôn bị ngất xỉu, thấy vậy tôi hay đi mua thêm các thức ăn mang đến biếu thầy. Chúng tôi trở thành người thân của các thầy cô giáo. Có những buổi chiều ngày thứ 7, khi 2 cô bạn Thượng Hải đã về nhà, tôi và chị bạn Sài Gòn xuống ghế đá trên vườn hoa ngồi hóng gió, thì các thầy cô giáo lân la đến bên chúng tôi, họ tâm sự, chuyện trò và cho chúng tôi biết rất nhiều chuyện bí mật trong trường và trong xã hội, tôi có cảm giác như đất nước này sắp có đại loạn.
 
Rồi đại loạn đến thật, cách mạng văn hóa nổ ra, đại đa số học sinh trung học và sinh viên đều bỏ học, xuống đường tham gia Hồng vệ binh. Chúng tôi phải chứng kiến cảnh suốt ngày Hồng vệ binh đi phá phách, hò hét, rạch quần áo, cắt tóc người qua đường và báo chữ to xuất hiện khắp mọi nơi. Thê thảm hơn là chính mắt chúng tôi được chứng kiến các Giáo sư trong trường đã từng giảng dạy chúng tôi tận tình, bị làm nhục ngay trong sân trường bằng cách phải đeo các biểu ngữ bằng giấy báo dán trên lưng hoặc đội những chiếc mũ có chóp nhọn, ghi những dòng chữ tục tĩu.
 
Là một đứa con gái xuất thân trong một gia đình có nền giáo dục truyền thống ở Việt Nam, tôi không sao chấp nhận nổi thứ triết lý cách mạng cho phép học trò đấu tố thầy, hành hạ và sỉ nhục thầy như vậy. Nhận thức về một nước Trung Hoa có truyền thống văn hóa lâu đời, hơi phong kiến một chút, nhưng rất nề nếp và rất có kỷ cương đã hoàn toàn sụp đổ trong tôi. Đây là lần đầu và cũng là lần duy nhất tôi phải chứng kiến hiện tượng vô đạo và bất nhân đáng sợ đó. Rất lâu về sau tôi vẫn không thể hàn gắn được vết thương như những nhát chém trong tim mình, về hình ảnh những Giáo sư đáng kính của chúng tôi bị hành hạ lên bờ xuống ruộng bởi chính những người bạn sinh viên đã từng học tập ca hát bên chúng tôi. Trong số đó, tôi biết, có người không muốn hành xử đê tiện như vậy, nhưng nếu họ đi ngược lại phong trào chung, thì chính họ bị lôi ra đấu tố.
Chúng tôi rất sợ bị liên lụy nên nín lặng quan sát và nhìn nhau thầm hỏi: “ Họ đang cắn xé nhau, đến bao giờ thì họ cắn mình đây?”
 
Đó là giữa năm 1966, đúng lúc chúng tôi làm xong đồ án tốt nghệp, trường học gần như không hoạt động, chúng tôi không được bảo vệ luận án tốt nghiệp mà chỉ được cấp bằng có đóng dấu nhưng không có chữ ký. Chúng tôi khăn gói vội vàng rút về nước. Tất cả bạn học và thầy giáo đã bị đưa đi ra khỏi trường, một số đi lao động quản thúc ở vùng nông thôn nào đó, một số khá đông đang là Hồng vệ binh ngày ngày đi đập phá hò hét hoặc đả đảo ai đó. Cảnh Trường đại học Đồng Tế, ngôi trường được xếp loại nhất nhì Trung Quốc, do người Đức thành lập đã gần 100 năm trở nên hoang vắng buồn thảm đến lạnh sống lưng. Giáo sư nổi tiếng Lý Đức Hóa, người từng được nhiều giải thưởng Quốc tế và bà vợ Bác sĩ người Đức của ông không biết đã trôi dạt đi đâu? Lúc chúng tôi lên xe để ra ga về nước, chỉ có mấy ông bà cấp dưỡng từng chăm sóc bữa cơm hàng ngày lặng lẽ gật đầu đưa tiễn chúng tôi, mắt họ rơm rớm lệ.
Đến lúc đó thì tình cảm trong tôi hoàn toàn mất phương hướng và tôi thực sự hiểu rằng người dân lao động Trung Quốc rất tốt, giới trí thức Trung Quốc cũng thật tốt, các bạn học của tôi cũng tốt lắm. Nhưng các nhà cầm quyền? Tôi không sao hiểu nổi các nhà cầm quyền và thứ “tình hữu nghị” mà suốt ngày họ ra rả trên đài phát thanh và trên báo chí. Tôi rất muốn tìm hiểu xem cái gì là động lực thúc đẩy họ? Nhưng điều đó nằm ngoài khả năng của tôi.
Chúng tôi rời Thượng Hải buồn bã và vội vàng như ma đuổi.
 
Thời kỳ đã trưởng thành
Chúng tôi về đến nhà đúng vào lúc máy bay Mỹ đang đánh phá Miền Bắc ác liệt. Không khí cả nước có chiến tranh cuốn hút chúng tôi, khiến chúng tôi tạm quên đi những cảm giác khó chịu của những ngày cuối cùng sống trên đất Thượng Hải. Ngày ấy sinh viên từ nước ngoài về vẫn chưa nhiều, nên hôm đầu tiên về nhận công tác ở Bộ Kiến trúc, chúng tôi đã được Bộ trưởng Bùi Quang Tạo đón tiếp ân cần. Bộ trưởng khuyên chúng tôi vứt bỏ lối sống cậu ấm cô chiêu ở nước ngoài và sớm thích nghi với khẩu hiệu “Ba sẵn sàng” của thanh niên thời chiến.
 
Sau đó, mỗi người đến nơi sơ tán ở các làng quê theo địa chỉ riêng của từng đơn vị công tác. Viện Quy hoạch đô thị của tôi ở huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Yên.
Vĩnh Tường của bà Hồ Xuân Hương rất đẹp, nhưng chỉ đẹp ban ngày. Còn đêm đến, khi ngồi tư lự một mình bên ngọn đèn dầu trong nhà dân, những ký ức thời trẻ thơ và những kỷ niệm ở Thượng Hải lại ập về khiến tôi suy nghĩ nhiều lắm.
Lúc này đã đủ lớn để có những chính kiến của riêng mình, nhưng tôi không thể nói ra với ai. Tôi ở cùng nhà với một chị tốt nghiệp ở thành phố Kiev về, chúng tôi quý nhau và luôn giúp đỡ nhau, còn “Liên Xô xét lại” và “Trung Quốc giáo điều” thì mặc kệ họ, miễn là họ vẫn đang giúp ta những chiếc máy bay Mic bay trên bầu trời và những phong lương khô để chống đói.
 
Dù sao, 5 năm ở Thượng Hải cũng để lại cho tôi nhiều kỷ niệm đẹp hơn kỷ niệm xấu, tôi cố tự lý giải rằng sự cố đã xẩy ra là do sự quá đà của một nhóm người hãnh tiến nào đó. Khoảng 10 năm tiếp theo, không thể liên lạc thư từ với bạn học cũ, nhưng tôi theo dõi và nuôi trong lòng chút hy vọng đổi thay của một đất nước đã nuôi tôi ăn học thời sinh viên, ở đó tôi từng có những thầy giáo và bạn học thân thiết. Khi nghe tin ông Đặng Tiểu Bình được phục chức, tôi những tưởng tình hình sẽ khá hơn, nhưng tôi chưa kịp mừng thì liền xẩy ra cuộc tấn công biên giới đầu năm 1979 do ông Đặng Tiểu Bình chỉ huy để “Cho Việt Nam một bài học”. Không chỉ có thế, mười năm sau lại thấy cuộc tàn sát đẫm máu nội bộ của Sự kiện Thiên An Môn cũng do Đặng Tiểu Bình chỉ huy, tôi thực sự thất vọng và hiểu rằng những người cầm đầu nhà nước Trung Quốc thời nào cũng vậy, họ chống nhau, phá nhau chỉ vì tranh cướp quyền lực và càng lộ rõ thói cường quyền, tàn bạo kiểu thời Trung cổ của họ mà thôi.

Trung Quốc hôm nay?

Sau 60 năm thành lập nước CHND Trung Hoa, chẳng tìm hiểu kỹ thì ai cũng biết Trung Quốc đã thay đổi rất nhiều và rất đáng kính nể. Tuy vậy, khi tôi trở lại thăm trường cũ, thăm thầy giáo và thăm bạn học cũ, thì tôi hiểu: ngoài bộ mặt hào nhoáng đầy khí thế của một Trung Quốc đại nhảy vọt mà họ đang ra sức quảng bá, vẫn còn có một Trung Quốc khác rất âm thầm, u uất và đau đớn của tầng lớp trí thức và những người dân lương thiện ở trên khắp nước Trung Hoa đã từng bị chà đạp, bị sỉ nhục và chịu nhiều đắng cay trong nửa thế kỷ qua. Tầng lớp này không ít đâu, con số có thể đến hàng trăm triệu hoặc hơn và đang sống trên khắp miền của đất nước họ. Chính quyền hiện tại đang áp đảo họ, khiến họ phải câm lặng, nhưng chính quyền không thể thu phục được lòng họ và họ sẽ bùng lên bất cứ lúc nào.

Đến Thượng Hải, tôi thấy Thượng Hải thay đổi rất nhiều. Nhưng khi tôi về thăm trường cũ, đến thăm thầy cô giáo cũ vẫn đang sống trong “Đồng Tế tân thôn” bên cạnh trường và thăm nhà riêng một vài bạn học cũ, tôi thấy một cuộc sống khác hẳn. Họ rất nghèo nàn và thật khắc khổ. Có bạn vừa gặp tôi, liền ôm hai vai tôi và khóc nức nở. Đây không phải vì họ cảm động, vì mừng vui hội ngộ sau nhiều năm xa cách. Họ khóc vì gặp lại chúng tôi là gặp lại nhân chứng của một thời nhục nhã và đáng xấu hổ. Tôi đọc được tình cảm đó khi tôi xem bộ phim truyện “Nghiệp chướng” nói về những éo le và mất mát đeo đẳng suốt đời lớp thanh niên trí thức Thượng Hải, trong đó có rất nhiều người từng là bạn tôi. “Nghiệp chướng” là cái giá rất đắt mà những người cầm đầu đất nước này đã gây ra cho bao gia gia đình trí thức để rồi đến lúc họ sẽ phải trả. Một người bạn tôi nói vơí tôi: “Tôi từng là Hồng vệ binh và đang là nạn nhân của Hồng vệ binh suốt đời. Đó là lũ con tôi, cháu tôi hôm nay”.

Có trong tay cuốn địa chỉ và số điện thoại của bạn cũ ở khắp nơi, chúng tôi đã dành ra gần 2 tháng đi thăm bạn và để quan sát sự thay đổi của nước Trung Hoa. Nhưng khắp Trung Quốc hôm nay, ngoài những người rất câm lặng, rất đau khổ như tôi vừa nói, còn lớp người Trung Quốc thứ ba đang vừa là chỗ dựa vừa là gánh nặng uy hiếp Nhà nước Trung quốc: Bọn này đông lắm. Đó là lũ lưu manh mạnh vì gạo bạo vì tiền. Đáng tiếc, các vị trong chính quyền Nhà nước Trung Hoa đã từng có thói quen dùng bọn lưu manh này làm “chỗ dựa” để đối phó với các lực lượng thù địch, nhưng khi không cần nữa hoặc không sử dụng được nữa thì họ tiêu diệt “chỗ dựa” đó đi.

Tôi nhớ lại ngày chúng tôi chuẩn bị về nước năm 1966, bà Giang Thanh nổi lên oai phong y như Võ Tắc Thiên ngày xưa, cạnh bà có 3 kẻ thân cận là Vương Hồng Văn, Diêu Văn Nguyên và Trương Xuân Kiều, tạo thành một “Bộ tứ trụ” điều khiển gần một tỷ dân. Nhưng thời nay còn có rất nhiều người cao thủ hơn bè lũ bốn tên thời đó. Thời nay có các băng đảng lưu manh kết hợp với công an và chính quyền hình thành hệ thống Mafia ở khắp mọi nơi. Sự kiện triệt phá Mafia ở thành phố Trùng Khánh vừa qua là một thí dụ. Không thể tin được trong một đô thị hiện đại của một quốc gia hùng mạnh mà bọn lưu manh côn đồ bị truy bắt trong một đợt đã lên đến ngót 2000 tên, trong số đó có cả Giám đốc Sở Tư pháp và nhiều sĩ quan công an.

Cuôí cùng, có thể quan sát “Trung Quốc hùng cường hôm nay” bằng cách quan sát những người Trung Quốc đang xuất hiện ở Việt Nam ngày càng nhiều với vai trò lao động chui. Những người này có thể vì đói khát quá hoặc vì đã là tội phạm bị giam cầm lâu quá, nay được đưa sang đây để sống cuộc đời phá phách, trộm cắp, lừa đảo và để tìm cách lấy vợ sinh con và sẽ là lực lượng nằm vùng nội ứng cho các cuộc tấn công của quân chính quy sau này.

Lũ người này có đáng sợ không? Làm cách nào để dẹp chúng? Thiết nghĩ mọi người đều hiểu.

PHẦN II

TÔI HIỂU GÌ VỀ TRUNG QUỐC?

Sau khi đã biết quá rõ mục tiêu truyền kiếp của nhà cầm quyền Trung Hoa suốt mấy ngàn năm là trấn áp nội bộ, tranh chấp quyền lực và chiếm bằng được đất nước ta, tôi quyết định xin về hưu từ năm 1992 với nhiều lý do riêng, một lý do trong đó là muốn tập trung thời gian vào nghiên cứu các lý thuyết về phong thủy địa mạch, thứ lý thuyết mà từ năm 1955 tôi đã “không may” bị tận mắt chứng kiến.

Chúng ta phải cám ơn các nhà truyền giáo Phương Tây, đặc biệt là các giáo sĩ Bồ Đào Nha có công đầu về việc sử dụng chữ gốc La-tinh để phiên âm tiếng Việt trong việc truyền đạo vào nước ta ở thế kỷ XVI-XVII như Francisco de Pina, đến người biên soạn cuốn từ điển Việt-Bồ-La đầu tiên là Alexandre de Rhodes (1651) và nhất là người có công hoàn chỉnh chữ quốc ngữ ở thế kỷ XIX để trở thành chữ viết chính thống của nước ta đầu thế kỷ XX là Bá Đa Lộc – Pierre Joseph Georges Pigneau de Béhaine. Cám ơn các vị Giáo sĩ đã góp phần giúp ta thoát ra khỏi ảnh hưởng của văn hóa nô dịch Trung Hoa. Nhưng đây cũng là một sơ hở khiến lớp trí thức trưởng thành trong thế kỷ XX đã lãng quên một số cơ sở quan trọng của khoa học Phương Đông, trong đó có Phong thủy, Địa mạch và Kinh Dịch.

Sau 17 năm nghỉ việc ở Bộ Xây dựng, tôi đã cố bù lại những lỗ hổng mà lớp trí thức ở lứa tuổi của tôi đã mắc phải. Lúc này tôi đã có nhiều thời gian để hiểu rõ trong cấu trúc phong thủy địa mạch của nước ta có một thứ mà nhà cầm quyền Trung Quốc rất thèm muốn. Họ thèm muốn vì họ không có và họ hiểu rằng làm chủ được cái đó là họ chiếm được nước ta và chiếm được nước ta là họ làm chủ được cả thế giới. Tôi nói nhà cầm quyền thèm muốn chứ không phải nhân dân, bởi vì thực hiện mộng bá quyền, người dân lương thiện Trung Quốc không hề được hưởng lợi.

Hệ Địa mạch nước Trung Hoa: Chiếc bánh sandwich

Một đất nước rộng lớn mà các lớp đất, đá, núi, sông… chồng xếp thành từng lớp như cái bánh sandwich


Nước Trung Hoa hình quẻ chấn

Theo phân tích và tổng kết hệ thống đã công bố tháng 5/2005 của KTS Lý Thái Sơn, thì đó là một thứ liên kết rời rạc của hệ Tam đại càn long sẽ bị trôi tuột đi bất cứ lúc nào, đó là một nước Trung Hoa có các khu vực Bắc Hoàng Hà, khu kẹp giữa Hoàng Hà và Trường Giang, khu Nam Trường Giang, tạo thành một quẻ Chấn gồm hào một liền và hào hai gãy, hào ba gãy có nghĩa là sấm sét, không ổn định, dễ vỡ tung; cũng như khu Đông và khu Tây là hai vệt thẳng đứng, không có mối quan hệ về kinh tế, phong tục tập quán, sắc tộc và có thể tách ra thành 4 hoặc 5 quốc gia độc lập.

Mặt khác, ngay cả đến dân tộc Đại Hán cũng là kết quả của một quá trình chiến tranh và đồng hóa lẫn nhau, vì người Hán nguyên gốc rất ít, nhưng người ta có chính sách cưỡng chế người dân tộc khác biến thành người Hán, nên họ bị phản đối và ở nước Trung Hoa chưa bao giờ hết nội chiến. Ở Trung Hoa không có hai chữ “ĐỒNG BÀO” và trên đất nước này không có cụm từ sức mạnh đoàn kết toàn dân. Hiện nay không chỉ Đài Loan là quốc gia độc lập mà Tây Tạng, Tân Cương, Hồng Kông, Ma Cao… đang như các quốc gia bị Bắc Kinh đô hộ. Nếu tách được ra thì các quốc gia đó sẽ giàu có và trù phú hơn nhiều. Còn Bắc Kinh thì luôn phải dùng biện pháp đàn áp. Họ đàn áp ở ngay giữa Thủ đô như sự kiện Thiên An Môn năm 1989 và đàn áp dã man các vùng xa xôi như Tây Tạng, Tân Cương trong năm 2008 và 2009.

Tuy vậy, các thế hệ cầm quyền Trung Hoa từ thời cổ đến nay đều đã nghiên cứu kỹ phong thủy địa mạch và họ ý thức được rằng có một cách vãn hồi được điểm yếu cấu trúc trượt của chiếc bánh sandwich là phải làm chủ đường kinh mạch lợi hại đi từ đỉnh Everest cao gần 9000m của dãy Hymalaya qua cao Tây Tạng, qua nguyên Vân Nam, qua đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam, xuống vịnh Hạ Long rôì đi đến đáy đại dương sâu nhất thế giới gần 11Km ở vịnh Mindanao Philippin. Đó cũng là mạch đất độc đáo nối từ “Cổng Trời” đầy thiên khí đến “Địa Huyệt” đầy của cải có độ cao chênh nhau ngót 20Km và là đường kinh mạch quan trọng nhất thế giới. Nếu họ làm chủ được đường kinh mạch này thì không những họ có gọng kìm xiết chặt chiếc bánh sandwich đó, không cho nó trôi trượt đi, mà họ còn có thể mau chóng làm chủ cả thế giới. Bởi vậy, lúc này họ đang cố sức “củng cố nơi họ đã là chủ và chiếm thêm nơi họ chưa chiếm được” để thực hiện ước nguyện bá chủ toàn cầu.

* Sau hàng ngàn năm với nhiều thủ đoạn, cao nguyên Vân Nam rộng 390.000Km2 có 26 dân tộc đến nay đã bị họ khống chế hoàn toàn, người dân tộc Di, dân tộc Choang mỗi ngày một ít, người Hán đã di cư về đây trên 20 triệu và thành phố Côn Minh hiện đại hơn ba triệu dân ngày nay là thành phố của người Hán (người Hán thật thì ít, người Hán mới bị đồng hóa thì nhiều).

* Ngược lại, khu tự trị Tây Tạng, nóc nhà của thế giới và là Thủ đô của Đạo Phật, vốn là một quốc gia độc lập văn minh, đã bị chính thức lệ thuộc vào Trung Hoa từ năm 1914 đến nay. Thật xấu hổ và nhục nhã cho một chính thể, một Nhà nước suốt ngày hô hào “đoàn kết các dân tộc” lại đang đàn áp và hủy diệt người Tây Tạng, đập phá chùa chiền đến mức người đại diện cho Đạo Phật và là linh hồn của dân tộc Tạng là Đức Đa Lai Lạt Ma phải đi lưu vong, việc đó đã khiến Ấn Độ và các quốc gia Tây Á không thể làm ngơ và đang ở bên dân tộc Tạng. Điều đó cũng có nghĩa là Nhà nước Trung Quốc sẽ không thể đạt được cái họ muốn (Tây Tạng).


Cung điện Tây Tạng Potola

Còn ở Việt Nam chúng ta? Lịch sử bốn ngàn năm của nước ta là lịch sử chống ngoại xâm. “Ngoại xâm” đây là chỉ giặc Phương Bắc, bởi vì Phương Đông, Phương Tây và Phương Nam gần như không có. Hơn hai ngàn năm qua thì giặc ngoại xâm đã bị chỉ đích danh những những nhân vật cụ thể như Triệu Đà, Mã Viện, Cao Biền… Bởi thế ta rất cần biết tại sao họ quyết chiếm nước ta và tại sao họ không thể chiếm nổi?

Địa mạch Việt Nam: Khúc quan trọng trong địa mạch toàn cầu

Hiện nay họ biết không thể ngang nhiên đổ bộ vào Thủ đô, họ đi vòng vèo từ phía Tây qua Lào, qua Cam pu chia và họ đang chiếm Bauxite Tây nguyên, còn tại Trung tâm Thủ đô, họ đang nhờ bàn tay nào phá Thủ đô của ta? Tinh ý, chúng ta sẽ biết.

Địa mạch Việt Nam: Vùng Biển Đông, yết hầu của Đông Nam Á

Không phải ngẫu nhiên vô cớ mà trên vịnh Bắc Bộ rộng lớn của chúng ta còn có vịnh Hạ Long bao gồm 1969 hòn đảo lớn nhỏ, ngay sát Cảng Vân Đồn lại có vịnh Bái Tử Long, và ngoài khơi xa của Hải Phòng có đảo Bạch Long Vĩ, ngoài ra còn có nhiều đảo có tên liên quan đến Rồng như Hòn Rồng, Long Châu, thôn Cái Rồng…, cái tên Long liên quan đến phần đuôi của con Rồng lớn xòe ra ở đồng bằng Bắc Bộ, đi xuống nước ở Cảng Vân Đồn và kết thúc ở đáy Đại dương thuộc vịnh Mindanao thuộc Philippin. Có lẽ đây cũng chính là cái chốt trọng yếu khiến Trung Quốc quyết tâm xây dựng lực lượng hải quân hùng mạnh và ngang nhiên công bố đường lưỡi bò chín đoạn trên Biển Đông vào tháng 5/2009, vi phạm trực tiếp đến 5 quốc gia Đông Nam Á và nền an ninh cả thế giới. Đây là sản phẩm kế thừa của chính quyền Quốc dân Đảng từ năm 1947, điều đó cũng cho thấy thời nào cũng vậy, mưu đồ bá quyền của chính quyền nhà nước Trung Quốc không thay đổi. Chắc hẳn lúc này không chỉ các nước Việt Nam, Philippines, Brunei, Indonesia và Malaysia ý thức được đường lưỡi bò này vi phạm đến chủ quyền của mình, mà gần như cả thế giới đã nhận ra mưu đồ chiếm cứ con Rồng lớn nhất thế giới của nhà nước Trung Hoa, bởi vì chiếm cứ được cái yết hầu này là họ chiếm được cả Châu Á và một khi chiếm được Châu Á rồi thì bước đi tiếp sẽ ra sao? Thế giới, trong đó có Mỹ, Nhật, Ấn Độ và các nước Châu Âu có để cho họ làm điều đó không ?

Địa mạch Việt Nam: Cấu trúc Âm Dương hoàn chỉnh

Đồng bằng Bắc Bộ là cái nôi đầu tiên của Nhà nước Văn Lang, nhưng hình chữ S của Con Rồng đất nước Việt Nam ngày nay đã tạo nên một thế cân bằng Âm Dương rất hoàn chỉnh. Như sự ví von của nhà thơ Xuân Diệu, thì Đất nước ta như một con tàu / Mũi thuyền ta đó mũi Cà Mau.


Núi chầu sông tụ Thăng Long theo hình thế Âm Dương

Điều đó cho thấy từ mấy ngàn năm trước cái nôi đồng Bằng Bắc Bộ đã vững như bàn thạch, từ thế kỷ XVI trở lại đây, khi đất nước đã phát triển xuống phía Nam thì con thuyền đất nước đã đủ tư cách rẽ sóng ra khơi và điều đó cũng cho thấy đã là con thuyền thì các phần mũi thuyền, thân thuyền và đuôi thuyền không thể tách rời nhau. Bởi vậy hơn lúc nào hết, chúng ta cần ý thức được sự sống còn của vận mệnh đất nước, để xác định thái độ và hành động của mình.

LỜI CUỐI BÀI

Để kết thúc bài viết, tôi muốn quay lại những dòng mở đầu, rằng tôi không có chút năng khiếu nào trong những vấn đề kinh tế, xã hội và an ninh chính trị, nhưng do nghề nghiệp và do số phận, tôi đã có dịp hiểu rất sâu vào cốt lõi của vấn đề kinh tế và chính trị trong mối quan hệ vơí Trung Quốc hiện nay. Bởi vậy tôi muốn khuyên tất cả mọi người, nhất là các vị sinh ra sau tôi và chưa có dịp trải nghiệm như tôi, là hãy tỉnh táo để thoát ra khỏi cõi u mê của sự hoang tưởng trong mối quan hệ với Trung Quốc. Cha ông ta đã trải qua hàng ngàn năm mới đưa ra được lời dạy bảo và bản thân tôi phải trải qua hơn 55 năm để chiêm nghiệm và thấm nhuần lời dạy bảo của cha ông.

Tôi biết, lúc này đã có rất nhiều người suy nghĩ như tôi hoặc sâu sắc hơn tôi, nhưng vẫn còn khá đông người đang lầm lẫn và ảo tưởng, không ít người còn rất sợ vía người bạn lớn vĩ đại Trung Hoa, tôi không trách họ vì đôi lúc chính tôi cũng tin ở họ và nể sợ họ lắm. Nhưng xin mọi người hãy bình tâm và suy ngẫm xem cái gì tạo nên sức mạnh của họ và cái gì đang giết chết sức mạnh đó?

Đông dân là một sức mạnh

Đúng vậy, ngày tôi đang học ở Thượng Hải thì Trung Quốc mới xây xong cầu Trường Giang, họ rất tự hào nói rằng, chỉ cần toàn dân Trung Hoa, mỗi người tiết kiệm một cái bánh bao là đủ xây một cái cầu Trường Giang. Đó là một việc làm tốt.

Trong thế vận hôị 2008 ở Bắc Kinh, họ xây dựng Sân vận động Tổ Chim độc đáo hết 432 triệu USD, nếu chia cho 1,3 tỷ dân thì họ phải cắt xén của mỗi người 0,32 USD, việc đó có vẻ cũng vẫn tốt.

Hiện nay họ đang làm nhiều việc ghê gớm hơn như xây dựng đại hàng không mẫu hạm trên Biển Đông và các căn cứ hải quân… tôi nghĩ họ cũng sẽ làm được đủ để dọa nạt chúng ta và các nước trong vùng.


Mô hình hàng không mẫu hạm ở vũ Hán

Có điều, một thảm họa đông dân mà Nhà nước không vì dân thì Nhà nước sẽ khốn đốn. Có ai biết rằng trên đất nước Trung Hoa vĩ đại đang có 200 triệu người sống lang thang không nhà cửa và đặc biệt hệ thống băng đảng Mafia ở hầu hết các thành phố lớn như Thâm Quyến, Thượng Hải, Quảng Châu… đang chia cắt quyền lực của đất nước họ hay không? Việc tầy trời này thiết nghĩ cũng không cần nhiều lời và chính là việc của các nhà chiến lược.

Vậy thì mọi nỗ lực của họ có thể có một kết thúc có hậu hay không?




Võ Nguyên Giáp là một thiên tài khốn nạn của quê hương.

 link Việt cộng sửa soạn bàn giao Viêt Nam cho Trung Cộng :

Võ Nguyên Giáp là một thiên tài khốn nạn của quê hương.

Bác sĩ Nguyễn Lương Tuyền là giáo sư về khoa Giải phẫu Tiểu Nhi tại đại học McGill, Montreal, Canada. Tuy là môt chuyên gia bận rộn, nhưng ông là một trong số những ít bác sĩ quan tâm và viết đến những vấn đề đất nước.Võ Nguyên Giáp là một thiên tài khốn nạn của quê hương.
Tôi chia sẻ ý kiến này , nhưng chỉ chia sẻ một nửa thôi.

 

Vâng, Võ Nguyên Giáp thực quả là một tên khốn kiếp, đã đẩy hàng triệu thanh niên đất Việt vào chỗ chết từ năm 1946 tới năm 1975, để thực hiện cho được việc áp đặt chủ nghĩa Cộng Sản sắt máu trên toàn quê hương. Nhưng Y có là một thiên tài hay không, dù là một thiên tài khốn nạn của quê hương, thì cần phải xét lại. Sau mấy chục năm, các tài liệu về chiến tranh tại Việt Nam, các dữ kiện lịch sử đã được giải mật. “Huyền thoại Võ Nguyên Giáp” đã hết còn là một huyền thoại.

Võ Nguyên Giáp sanh ngày 25 tháng 8 năm 1911 tại làng An xá, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Cha Y là Võ Quang Nghiêm, một hương sư dạy chữ Nôm, chữ Quốc Ngữ và hành nghề Đông Y như phần lớn các nhà nho lỡ vận. Khi cuộc chiến Việt-Pháp bùng nổ, Ông Nghiêm bị Pháp bắt đưa về giam ở Huế rồi chết trong tù. Mẹ Giáp là Bà Nguyễn Thị Kiên.

Võ Nguyên Giáp là con thứ 6 trong số 8 người con của Ông Bà Võ Quang Nghiêm. Năm 14 tuổi (1925), Giáp vào Huế học trường Quốc Học. Hai năm sau, bị đuổi học, Giáp về quê tham gia Tân Việt Cách mệnh Đảng – một đảng có mầu sắc Cộng Sản được thành lập năm 1924 ở miền Trung.

Đầu tháng 10 năm 1930, Giáp bị bắt giam tại nhà lao Thừa Phú ( Huế ).. Năm 1931, Giáp được thả ra khỏi nhà tù, ra Hà Nội học tại trường Albert Sarraut cho tới khi đỗ Tú tài.

Năm 1937, Giáp tốt nghiệp trường Luật tại Hà Nội.

Năm 1934, Giáp kết hôn cùng Nguyễn Thị Quang Thái, một đồng chí của ông. Bà Thái có với Giáp một người con gái, Võ Thị Hồng Anh. Năm 1943, Bà Thái bị Pháp bắt giam ở nhà tù Hỏa Lò ở Hà Nội. Bà chết trong tù.

Tháng 5 năm 1939, Giáp bắt đầu dạy môn Sử tại trường tư thục Thăng Long tại Hà Nội. Theo lời thuật của một số người, Giáp là một giáo sư Sử giỏi và hùng biện.

Từ năm 1936 đến năm 1939, Giáp tham gia phong trào Mặt trận Dân Chủ Đông Dương. Võ Nguyên Giáp vào Đông Dương Cộng Sản đảng vào năm 1940, bắt đầu các hoạt động dưới sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh. Giáp tham gia gây dựng cơ sở và huấn luyện quân sự ở Cao Bằng dù Giáp chưa từng được huấn luyện về quân sự.. Trong đảng Cộng Sản Đông Dương, có lẽ chỉ có Phùng Chí Kiên được theo học một thời gian tại trường Võ bị Hoàng Phố ở Trung Hoa.

Ngày 22 tháng 12 năm 1944, theo sự phân bố của Hồ Chí Minh, Giáp thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân với 34 người. Theo tài liệu của Đảng Cộng Sản Việt Nam, đó là khởi thủy của đạo quân Cộng Sản Việt Minh sau này.
Tháng 8 năm 1945, Giáp được bầu vào Ban Chấp hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Đông Dương.
Tháng 1 năm 1948, Giáp được Hồ Chí Minh phong quân hàm Đại Tướng. Cùng được phong Tướng có một số tên như Văn Tiến Dũng, Vương Thừa Vũ, Nguyễn Chí Thanh, Đinh Đức Thiện, Lê Trọng Tấn, Trần Đăng Ninh…
Ngày 19 tháng 12 năm 1946, chiến tranh Việt Pháp bùng nổ kéo dài cho tới năm 1954 và chấm dứt ở trận Điện Biên Phủ.

Trên :Văn Tiến Dũng, Hoàng Văn Thái, Nguyễn Quang Thuận, Hoàng Đăng Minh, Nhận, Bạch Ngọc Giáp, Sáng —
Dưới: Lê Liêm, Giáp, Hồ, Trường Chinh, Đặng Việt

Từ năm 1945 cho đến năm 1991(năm Giáp nghỉ hưu, hết còn là ủy Viên Trung Ương Đảng) Giáp đã giữ những chức vụ như sau:
– Ủy Viên Bộ Chánh trị
– Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng
– Tổng Tư lệnh Quân Đội
– Phó Thủ Tướng
– Chủ Nhiệm Ủy Ban Khoa học nhà nước.
– Năm 1983, Chủ tịch Ủy Ban sanh đẻ có kế hoạch.
Chức vụ Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng kiêm Tổng Tư lệnh Quân đội là những chức vụ Giáp ở lâu nhất, từ năm 1945 đến năm 1980.
Chức vụ coi về sanh đẻ năm 1983 là môt hình thức hạ nhục Giáp do đám Lê Duẩn, Lê Đức Thọ chủ trương. Để nói về việc hạ nhục này, trong dân gian có truyền tụng hai câu thơ diễu cợt đượm đầy mỉa mai:

Ngày xưa Đại tướng cầm quân
Ngày nay Đại tướng cầm quần chị em

Sau trận Điện Biên Phủ năm 1954, sự hiện diện của người Pháp cáo chung, Võ Nguyên Giáp nổi tiếng như cồn. Sau cái gọi là Đại thắng mùa xuân năm 1975 – một may mắn bất ngờ cho đảng Cộng Sản Việt Nam ( một bất hạnh cho dân tộc Việt ) chiếm được miền Nam – trước mắt người ngoại quốc mù tịt về cơ cấu tổ chức của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Võ Nguyên Giáp trở thành một huyền thoại.
Một số sách viết về Giáp như:
– General Giáp: Politician and Strategist của Robert j. O’Neil (Australia)
– Giáp: the Victor in Vietnam của Thiếu tướng hồi hưu Peter McDonald In năm 1993 ( British )
– Các bài viết rải rác của Douglas Pike thuộc University of California, Berkeley (USA)
Xin mở một dấu ngoặc ở đây về các sách viết về các lãnh tụ Công Sản Việt Nam cũng như các lãnh tụ của các nước Cộng Sản khác trên thế giới. Tác giả phải được sự chấp nhận của Bộ Chính trị và chỉ được viết những gì mà cơ quan quyền lực tối cao của Cộng Sản đưa ra mà thôi.
Giáp được các tác giả ca tụng như một thiên tài quân sự, một chiến lược gia tài tình của thế giới ( genius strategist, geniusgeneral of the world ). Từ mấy năm gần đây, các tài liệu mật về 2 cuộc chiến tại Việt Nam (1946-1954 và 1954-1975 ) được giải mật khiến ta thấy rằng “thiên tài Võ Nguyên Giáp” đã được các đồng chí nặn ra như các đồng chí đã nặn ra anh hùng Lê Văn Tám, chú Kim Đồng…..trong suốt chiều dài của cuộc chiến xâm nhập của chủ nghĩa Cộng Sản man rợ lên quê hương mà đảng Cộng Sản Việt Nam chỉ là một lũ thừa sai.
Bản chất của những người lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam, kể từ Hồ Chí Minh trở xuống, là gian hùng, dối trá, thâm độc và tàn bạo. Giáp có đầy đủ các “đức tính” đó.
Năm 1946, Hồ Chí Minh ký hòa ước với Pháp để quân Pháp trở lại Việt Nam. Các lãnh tụ Công Sản, trong đó có Giáp, đã thẳng tay tiêu diệt các người quốc gia (Losers are Pirates by James Banerian1984, p.69
Hồ Chí Minh, Trưòng Chinh, Võ Nguyên Giáp và Trung tá A. Peter Dewey,

)
Năm 1946, khi cuộc chiến tranh Việt – Pháp sắp xẩy ra, Giáp là Bộ Trưởng Quốc phòng trong Chánh phủ liên hiệp. Tại Hà Nội, trong khi quân Pháp và Tự Vệ Thành đang gầm ghè nhau, Giáp và đồng bọn hứa hẹn là quân chánh qui của họ tức các đơn vị Vệ Quốc Đoàn tinh nhuệ đã kéo về đóng chung quanh Hà Nội, sẵn sàng làm cỏ quân Pháp.
Ngày 19 tháng 12, chiến tranh bùng nổ tại Hà Nội. Nhóm lãnh đạo Cộng Sản đã rút về Hà Đông từ mấy ngày trước. Vệ Quốc Đoàn đâu chẳng thấy, chỉ thấy các Tự Vệ Thành đánh vùi với quân Pháp trong các đường phố Hà Nội. Họ đã cầm cự với quân Pháp trong gần 2 tháng, thời gian đủ để dân chúng rời thành phố lánh nạn, đủ để đám Cộng Sản rút vào các an toàn khu Việt Bắc. Giáp và đồng bọn muốn mượn tay quân Pháp để thủ tiêu các thanh niên Hà Nội. Quả thực, Tự Vệ Thành là những thanh niên tiểu tư sản, phần lớn xuất thân từ các gia đình khá giả. Đám tiểu tư sản này là những thành phần không có chỗ đứng trong chế độ Cộng Sản. Càng lợi cho việc thiết lập chủ nghĩa Cộng Sản tại Việt Nam nếu họ bị Pháp tiêu diệt, bớt đi càng nhiều càng tốt cho chủ nghĩa Mac Xít Léninist dễ phát triển ở Việt Nam.
Giáp đã viết sách về chiến tranh nhân dân, quân đội nhân dân (được dịch ra tiếng Pháp; Guerre du peuple, l’Armée du peuple ), tự cho rằng mình và đảng Cộng Sản Việt Nam là nguồn gốc của quan niệm chiến lược, chiến thuật này.
Sự thực, quan niệm về chiến tranh nhân dân đã được Tướng Trần Canh, một trong ngũ hổ tướng của Mao Trạch Đông, du nhập vào Việt Nam kể từ trận chiến biên giới Cao Bằng Lạng Sơn năm 1950.
Giáp thực sự không phải là cha đẻ của quân đội Cộng Sản Việt Nam, tuy rằng cuối năm 1944, theo lệnh Hồ Chí Minh, Giáp thành lập đoàn Võ Trang tuyên truyền gồm 34 thành viên với trang bị rất thô sơ. Quân đội Trung Cộng mới thực sự là cha đẻ của quân đội nhân dân của Cộng Sản Việt Nam.
Tháng 3 năm 1946, 1 Trung Đoàn quân Cộng Sản Trung Hoa tràn qua biên giới, vào Việt Nam để tránh bị các Lộ Quân 46, 64 của Tưởng Giới Thạch tiêu diệt. Chính Trung đoàn quân Cộng Sản Trung Hoa này đã giúp Cộng Sản Việt Nam huấn luyện Quân đội. Tình báo của Mỹ đã đánh hơi thấy việc Trung Cộng huấn luyện quân đội Cộng sản Việt Nam từ những năm này.
Từ năm 1950, Trung Cộng không ngừng cung cấp người, võ khí và tiếp liệu cho Công Sản Việt Nam. Chính Võ Nguyên Giáp, trong cuốn Đường tới Điện Biên Phủ đã viết: Trong một buổi làm việc ở Moscou với Staline, Mao Trạch Đông, Mao đã hứa trang bị cho Việt Nam 10 sư đoàn. Mao nói: Việt Nam cần trang bị 10 đại đoàn (sư đoàn) để đánh Pháp. Trước mặt hãy trang bị 6 đại đoàn có mặt ở miền Bắc Việt Nam. Có thể đưa ngay một số đơn vị sang Trung Hoa nhận vũ khí. Tỉnh Quảng Tây sẽ lả hậu phương trực tiếp của Việt Nam. Sau đó các đơn vị của quân đội nhân dân lần lượt được đưa sang Tầu để thụ huấn và nhận vũ khí.Theo Giáp: những đơn vị sang Trung Quốc, ngoài việc trang bị lại vũ khí còn được huấn luyện thêm về chiến thuật công kiên, đặc biệt là kỹ thuật đánh bộc phá. Trước đây, vì chưa có thuốc nổ, ta chưa hề xử dũng kỹ thuật này.

 

Cũng theo Giáp, chính Hồ Chí Minh đã yêu cầu Tầu Cộng gửi qua Việt Nam một đoàn cố vấn. Theo lời yêu cầu đó, một đoàn cố vấn Trung Cộng khoảng 80 người đã sang Việt Nam, giúp quân Cộng Sản Việt Nam: Lã Quí Ba, Ủy Viên Trung ương đảng Cộng Sản Trung Quốc, Trưởng đoàn Cố vấn; Vi Quốc Thanh, Trưởng đoàn Cố vấn về Quân sự: Mai Gia Sinh, cố vấn về công tác tham mưu; Mã Tây Phu, Cố vấn về công tác hậu cần. Chính các Cố vấn Trung Cộng đã giúp Công Sản Việt Nam tổ chức 3 (ba) cơ chế chánh trong quân đội: Bộ Tổng Tham Mưu, Tổng Cục chánh trị và Tổng cục hậu cần. Tóm lại ngay trong công việc tổ chức quân đội của Cộng Sản Việt Namm, Giáp chỉ là người thừa hành.
Giáp là một tên hèn.
Năm 1983, Giáp bị đám Lê Đức Thọ, Lê Duẩn hạ nhục bằng cách cho đi làm Chủ tịch Ủy Ban sanh đẻ có kế hoạch. Giáp đã ngậm bồ hòn làm ngọt, ngoan ngoãn vâng lời. Trong vụ Nhân văn Giai phẩm xẩy ra tại miền Bắc năm 1955, nhiều người đã ở trong Quân Đội Nhân dân của Giáp như Trần Dần, Hoàng Cầm, Quang Dũng, Phùng Quán…bị đem ra đấu tố, tù đầy. Giáp vẫn giữ im lặng. Trong vụ án chống đảng do đám Lê Duẩn, Lê Đức Thọ chủ mưu, các tướng Cộng sản đàn em của Giáp như Lê Liêm, Đặng Kim Giang, Nguyễn Văn Vịnh, các Đại tá thuộc cấp của Giáp như Lê Minh Nghĩa, Lê Vinh Quốc, Văn Dzoãn… bị hãm hại; Giáp vẫn ngoảnh mặt làm ngơ.. Khi các tướng Lê Trọng Tấn, Hoàng Văn Thái (cũng là thông gia của Giáp) bị đột tử sau khi miền Nam đã bị cộng sản hóa. Giáp vẫn ngậm miệng, im lặng là vàng. Giáp đã để lộ rõ cái hèn, thủ khẩu như bình.
Giáp kệ mặc đàn em bị thảm sát, tù đày. Theo Bùi Tín, cựu Phó Tổng Biên tập của báo Cộng Sản Quân Đội Nhân dân, sở dĩ Giáp không bị đám Lê Đức Thọ, Lê Duẩn thủ tiêu vì Giáp biết thủ nghĩa là Giáp biết cách tránh né để bảo toàn mạng sống.
Khi được một ký giả ngoại quốc hỏi Giáp có hối tiếc gì về số 3-4 triệu người Việt Nam chết vì các cuộc chiến tranh, gọi là chiến tranh ý thức hệ, Giáp đã trả lời là y không hối tiêc gì cả (Non, pas du tout).
Mạng sống của thanh niên Việt Nam bị họ Võ coi như cỏ rác. Giáp sẵn sàng thí quân trong các trận chiến. Trong trận chiến tranh biên giới Cao Bằng, Lạng Sơn năm 1950, để tiêu diệt cứ điểm Đồng Khê do 262 lính Pháp trấn đóng, Giáp đã dùng tới 10.000 quân (đông hơn quân trú phòng 40 lần). Sau trận đánh, hơn 500 quân Việt tử trận, không kể số bị thương hàng ngàn. Trong trận đồng bằng Phủ Lý, Ninh Bình, Vĩnh Yên vào tháng giêng năm 1951, chiến thuật biển người của Giáp đã bị Tướng Pháp De Lattre de Tassigny dùng bom Napalm tiêu diệt. Quân Cộng sản, dưới sự chỉ huy của Giáp, đã bị nhiều tử vong, thất bại trong ý đồ đưa chiến tranh về đồng bằng. Số tử vong của quânđội cộng sản, khi tháo lui, là trên 6000 người. Số bị thương chắc chắn là gấp đôi, gấp ba con số 6000.
Trong chiến tranh Việt – Pháp 1946-1954, người thực sự chỉ huy các trận đánh lớn không phải là Giáp mà là các tướng Trung Hoa Cộng Sản như Trần Canh trong những năm 50, sau đó là đoàn cố vấn Trung Quốc đứng đầu là Vy Quốc Thanh, Lã Quí Ba. Hào quang chiến thắng của Giáp chỉ là một giả tạo, một hào quang do Trung Cộng ban cho.
Chiến dịch biên giới năm 1950.
Chiến dịch này nhằm mục đích đuổi quân Pháp ra khỏi biên giới của 2 nước Việt Nam-Trung Hoa để cho việc tiếp vận từ Trung Hoa Cộng Sản cho quân đội của Cộng Sản Việt Nam được dễ dàng. Tướng Trần Canh của Trung quốc sang Việt Nam ngày 22-7-1950. Trần Canh đã áp dụng học thuyết chiến tranh nhân dân của Mao vào chiến tranh Việt Nam.
Kế hoạch tiến công của Võ Nguyên Giáp trong chiến dịch biên giới được thay thế bằng kế hoạch tác chiến của Trần Canh. Thay vì tấn công Cao Bằng như kế hoạch của Giáp, Trần Canh đề nghị kế hoạch tấn công Đông Khê, một đồn của Pháp nằm giữa Cao Bằng và Lạng Sơn, để lùa quân Pháp ra khỏi hai tỉnh trên và sau đó phục kích tiêu diệt (công đồn đả viện). Hồ Chí Minh chấp thuận kế hoạch này. Kết quả trận đánh là quân Pháp thảm bại phải bỏ hết các tỉnh biên giới. Chiến thuật công đồn đả viện của Cộng Sản Việt Nam là do các cố vấn Trung Quốc, nhứt là Trần Canh, truyền thụ cho.
Từ năm 1951, nhóm cố vấn chánh trị do Lã Quí Ba cầm đầu đã giúp Hồ tạo lập luật lệ và chánh sách liên quan đến tài chánh, thuế khóa, quản lý báo chí và đài phátthanh cũng như các chánh sách đối với các dân tộc thiểu số…..
Chiến dịch Tây Bắc 1952
Sau các tổn thất ở đồng bằng sông Hồng Hà năm 1951, Việt Minh, theo sự cố vấn của các cố vấn Trung Quốc, mở chiến dịch Tây Bắc năm 1952. Lã Quí Ba trách nhiệm hoạch định chiến dịch thay Vi Quốc Thanh về Tầu chữa bệnh. Hồ Chí Minh chấp thuận hoàn toàn đề nghị của Lã Quí Ba. Theo Qiang Zhai (China and the Vietnam wars 1950-1975) cuối tháng 9 năm 1952, Hồ bí mật sang BắcKinh để thảo luận về chiến dịch Tây Bắc cũng như chiến lược thắng quân Pháp.
Ngày 14-10 Việt Minh tập trung 8 tiểu đoàn tấn công Nghĩa Lộ và các đồn bót lân cận.
Ngày 16-10 Vy Quốc Thanh trở lại Việt Nam để cùng Lã Quí Ba chỉ đạo chiến dịch. Sau khi mất Nghĩa Lộ, quân Pháp chạy khỏi Sơn La ngày 21-11. Việt Minh hoàn toàn chiếm lĩnh một khu vực lớn ở Tây Bắc, cho phép họ có thể tiến hành các hoạt động ở Lào.
Đối phó với kế hoạch Navarre – Trận Điện Biên Phủ
Tháng 5-1953, tướng Henri Navarre đảm trách chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương với kế hoạch:
1- Kiểm soát vùng đồng bằng sông Hồng
2- Bình định các khu do Cộng Sản kiểm soát ở miền Trung và miền Nam
3- Mở tổng phản kích tiêu diệt các cứ địa của Việt Minh tại miền Bắc
Navarre cho thành lập các binh đoàn lưu động.
Việt Minh Cộng Sản, lúc đầu muốn tập trung quân tại vùng Tây Bắc và Lai Châu, nhưng sau Giáp từ bỏ ý định đó, muốn kéo quân tấn công quân Pháp ở đồng bằng sông Hồng Hà. Như vậy Giáp hạ thấp tầm quan trọng của chiến dịch ở Lào. Bắc Kinh không đồng ý với kế hoạch của Giáp. Bắc Kinh nhấn mạnh Việt Minh cần giữ nguyên kế hoạch tập trung vào Tây Bắc và Lào. Lãnh đạo Trung Quốc cho rằng nếu thực thi chiến thuật này, Việt Minh Cộng Sản có thể chuẩn bị lực lượng cho công cuộc đánh chiếm đồng bằng sông Hồng và cuối cùng sẽ đánh bại Pháp ở Đông Dương.
Tháng 9, Bộ Chính trị của Cộng Sản Việt Nam, phủ quyết kế hoạch của Giáp để theo kế hoạch của các cố vấn Tầu.
Ngày 27 tháng 10 năm 1953, Vy Quốc Thanh trao cho ông Hồ một bản sao kế hoạch của Navarre mà tình báo Trung Cộng đã thu đoạt được. Sau khi xem xét, các lãnh đạo của Cộng sản Việt Nam nói đề nghị của Trung Quốc là đúng. Cộng Sản Việt Nam, nếu theo đúng kế hoạch của Trung Quốc, có thể phá vỡ kế hoạch của Navarre.
Khi Navarre đưa quân đến Điện Biên Phủ, Giáp và Bộ Tham mưu chưa nhận ra tầm quan trọng của vị trí này. Chính Vy Quốc Thanh là người đã thúc Giáp mở chiến dịch bao vây và tiêu diệt quân Pháp ở Điện Biên Phủ. Trung Quốc nhấn mạnh chiến dịch Điện Biên Phủ không chỉ quan trọng về quân sự mà còn có ảnh hưởng quốc tế.

trancanhTừ trái sang phải : Trường Chinh, Hồ Chí Minh, Trần Canh, La Quý Ba. Nguồn : QGP Trung Quốc

Ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị của Cộng Sản Việt Nam thông qua kế hoạch tác chiến ở Điện Biên Phủ. Giáp chỉ là người thi hành kế hoạch do cố vấn Trung Quốc Vy Quốc Thanh đề ra. Người hùng Điện Biên Phủ Võ Nguyên Giáp đã được cố vấn Tầu nặn ra.
Chính các cố vấn Trung Cộng đã giúp Việt Minh trong các chiến dịch biên giới, Tây Bắc và Điện Biên Phủ. Trung Cộng đã chi viện cho chiến trường Điện Biên Phủ 8286 tấn tiếp liệu gồm võ khí, lương thực v.v… Cố vấn TC có mặt ở mọi đơn vị. Thí dụ họ đã giúp Việt Minh bố trí pháo binh trong các hào sâu trên sườn núi để tránh bị phi cơ Pháp phát hiện và phá hủy. Pháo binh của Việt Minh, được các cố vấn Trung Cộng điều khiển, là một bất ngờ cho quân đội Pháp. Nhưng sự tham dự tích cực của Trung Cộng vào sự thành công của chiến dịch không hề được Giáp nhắc tới trong các bài viết, trong các sách của y như cuốn Điện Biên Phủ: điểm hẹn lịch sử. (The Chinese support for the North Vietnam during the Vietnam War; The Decisive Edge by Bob Seals).
Sự giúp đỡ của Trung Cộng không ngừng ở chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, đánh dấu sự cáo chung của chủ nghĩa thực dân. Sự giúp đỡ vẫn được tiếp tục trong cuộc chiến xâm lăng miền Nam 1954-197
Sám hối ?

Thay lời kết:

Người hùng Võ Nguyên Giáp, tướng huyền thoại của Cộng Sản Việt Nam chỉ là một nhân vật đại bịp trong số hàng trăm hàng ngàn tên bịp bợm (trong đó có cả tên Hồ), trong quá trình hiện hữu của đảng Cộng Sản Việt Nam. Y không phải là một thiên tài quân sự như đảng Cộng Sản Việt Nam thổi phồng.
Chính các cố vấn Trung Cộng do Vy Quốc Thanh, Lã Quí Ba cầm đầu đã đánh thắng quân Pháp trong cuộc chiến 1946-1954 chứ không phải là Giáp. Hào quang của Giáp là do Trung Cộng nặn ra, treo vào cổ Giáp. Sự thực các trận đánh lớn, có tính cách quyết định đều do các cố vấn Tầu Cộng thiết kê và điều khiển.
Giáp đã sống trong cái vỏ thiên tài đó trong hơn nửa thế kỷ. Đến nay thì sự thực đã được phơi bầy:
Trong suốt hai cuộc chiến 1946-1954, 1954-1975, Giáp và đảng Cộng Sản Việt Nam đã dựa vào Trung Cộng gần như toàn diện. Nay họ đã và đang trả món nợ đó, trả bằng cả số phận của dân Việt, bằng cả đất nước do tổ tiên để lại: quê hương đang mất dần vào tay người Trung hoa Cộng sản.

Bs. Nguyễn Lương Tuyền