Khổng Trọng Hinh : Đóa mẫu đơn màu đen

Đóa mẫu đơn màu đen
(mẫu đơn = peony)
 
Thưa các bạn
Khác hẳn những lần trước, email bàn về hoa lần này không có tấm ảnh nào do tôi chụp. Muốn biết lý do, xin vui lòng đọc đến phần cuối, sẽ rõ.
Trung Hoa có 2 bà hoàng, một bà rất ghét mẫu đơn, ghét cay, ghét đắng, trong khi bà kia lại mê loài hoa vương giả này, mê say, mê đắm.
1) Võ Tắc Thiên một hôm ngự du vườn thượng uyển, nhìn cỏ cây xác xơ, trơ trọi, liền thảo một bài tứ tuyệt khắc ngay cửa vườn, lệnh cho tất cả loài hoa phải nở nội trong đêm nay (*).
Rạng sáng hôm sau, bà hoàng dạo vườn, hài lòng khi thấy muôn hồng ngàn tía ngoan ngoãn đua chen nở rộ. Nhưng kìa, những cây Mẫu Đơn bất tuân thượng mệnh. Cả vườn, không có lấy một đóa mẫu đơn nào nở, thậm chí đến lá cây cũng không có chiếc nào. Giận loài hoa "ngoan cố", Võ Tắc Thiên ra lệnh đày Mẫu Đơn xuống tận Giang Nam. Nhưng mà lạ lùng thay ! Vừa đến đó, cả bầy mẫi đơn bừng nở hoa! Nghe tin này, Võ Hậu giận lắm, ra lệnh đốt hết mọi vườn mẫu đơn, nhưng sau khi bị đốt, mẫu đơn vẫn vươn lên từ đống tro tàn và nở ra những đóa hoa rực rỡ. Biết chuyện, dân gian càng yêu qúy mẫu đơn và họ tin rằng anh linh của loài hoa xinh đẹp này đã khiến cho Giang Nam trở nên 1 vùng có nhiều cô gái mỹ miều nhất Trung Hoa. Hèn chi vài trăm năm sau, vua Càn Long lâu lâu lại trao việc triều chính cho đình thần, giả dạng thường dân mò về GiangNam hoài.
 
2)  Ngược lại, với Từ Hi Thái Hậu, mẫu đơn là loài hoa đáng yêu nhất. Trong Di Hòa Viên, bà cho trồng nguyên một khu vườn toàn hoa mẫu đơn.
Một hôm, sau khi tắm xong, lòng xuân phơi phới, Lan nhi, Từ Hi Thái Hậu, chỉ khoác một tấm lụa trắng mỏng manh, đi dạo đến vườn mẫu đơn. Cả một vườn hoa vắng lặng, không một bóng người. Theo sau nàng chỉ có chàng thái giám Lý Liên Anh, người nghệ sĩ tài hoa mà nàng yêu nhất trên đời. Nàng đang suy nghĩ vẩn vơ thì chợt một làn gió thổi qua làm bay đi tấm áo khoác cùa nàng. Lý Liên Anh hốt hoảng, phóng mình, đuổi theo chiếc áo đang lồng lộng bay theo gió. Mãi một lúc sau, gã mới dành lại được áo, chạy lại, đáp vội lên tấm thân hình mỹ miều, lồ lộ của bà thái hậu khát tình.
Lan nhi Từ Hi nhận áo rồi chẳng hiểu nghĩ sao, nàng đỏ mặt cất giọng:
“Liên Anh, ngươi đã thấy gì ?”.
Lý Liên Anh bối rối. Thật kẹt. Tâu không thấy gì là nói dối, mắc tội khi quân, phải chém. Tâu thật những gì đã thấy, cũng là khi quân, cũng phải chém
Liếc nhìn những vườn mẫu đơn khoe sắc, Lý Liên Anh chợt nẩy ra ý mới. Gã tủm tỉm cười, ung dung lên tiếng:
“Khải bẩm Thái Hậu, hạ thần vừa được chiêm ngưỡng một đóa mẫu đơn màu đen, đóa hoa đẹp nhất trên cõi đời này"
Xạo. Thằng này xạo. Di Hòa Viên làm gì có hoa màu đen, Lan nhi biết rõ điều đó, nhưng nàng rất hài lòng với câu trả lời thi vị của gã thái giám dễ thương, mồm mép đỡ tay chân này. Thế là Lý liên Anh chẳng những không bị chém đầu mà còn được bà Thái Hậu nửa chừng xuân khen thưởng đặc biệt.
Ngày nay, với kỹ thuật lai giống tân tiến, Mỹ đã có Hoa Mẫu Đơn màu đen. Tôi đã gặp hoa này ở một nursery nhưng kẹt một điều hôm đó là ngày đầu năm, tôi không dám mua mà cũng không dám chụp hình. Mồng một Tết mà "rinh" thứ này về nhà, xúi quẩy cả năm.
Đó là lý do tại sao mà trong email này, bạn không thấy một tấm hình nào do tôi chụp. Tất cả hình hoa đều là do thu lượm trên mạng.
Hình 1: mẫu đơn màu trong tranh cổ
Hình 2: hoa mẫu đơn trắng
Hình 3: Liên Anh trả áo cho Lan nhi Từ Hi
Hình 4: có lẽ là loại mẫu đơn mà Lý Liên Anh tâu là màu đen tuyệt đẹp. Coi kỹ thì cũng không thấy đen lắm.
Hình 5: cây bông trang
 

HoaMauDon-1.jpg picture by hinhkhongHình 1: mẫu đơn màu trong tranh cổ

 
 AHoaMauDon2.jpg picture by hinhkhonghoamaudonden.jpg picture by hinhkhong Hình 3: Liên Anh trả áo cho Lan nhi Từ Hi
 
 
hoamaudonden2.jpg picture by hinhkhong

Phùng Văn Hóa: KHOA HỌC VÀ TÔN GIÁO

KHOA HỌC VÀ TÔN GIÁO
Phùng Văn Hóa

Gần đây có vài ba sự kiện khoa học có liên quan đến tôn giáo khiến ta phải lưu tâm. Một nhóm 24 nhà khoa học đứng đầu là Craig Venter, một trong những cha đẻ của dự án hệ di truyền con người (human genome ) đã công bố trên tạp chí khoa học một khám phá mới, giải thích cách thức họ khởi đầu dùng một tế bào sống cộng thêm một nhiễm sắc thể nhân tạo (synthetia chromosome ) để hòan tòan biến đổi tế bào nhân tạo mới (nguồn Dũng Lạc) . Dư luận bàn tán nhiều về khám phá này, báo chí gọi Craig Vente, người không hề che giấu cái tham vọng vượt trên tư duy thông thường là ông đang muốn chơi trò làm Thượng Đế (nguồn BBC ngày 26/5/2010) Còn Tòa Thánh Vatican thì đang chờ đợi thêm dữ kiện trước khi đưa ra những hướng dẫn về luân lý và đạo đức.

Trước hết cần xác định một điều đó là, cũng như bất cứ một ngành nhân văn nào, tôn giáo được hình thành phát triển là bởi và cho con người. Hiểu như thế thì để có thể đánh giá cách đúng đắn về một tôn giáo nào đó chúng ta không thể không xét đến mối tương quan của nó với đời sống và đời sống ở đây được hiểu bao gồm không ngòai hai phạm vi triết học và khoa học. Nói là hai, không phải là để phân chia thành hai giai đọan khác nhau nhưng nó luôn song hành trong một thế tương tác hữu cơ một khi ta hiểu triết học là nguyên lý của đời sống và khoa học như là phương pháp để thực hành nguyên lý ấy. Ai cũng biết Đạo Chúa chịu ảnh hưởng sâu đậm bởi triết học Aristote. Đang khi đó triết học này trong thực chất lại chỉ là một thứ vật lý học trá hình. Vật lý học trong thời đại ấy mặc dầu vẫn còn phôi thai nhưng dẫu sao nó vẫn là một khoa học và khoa học này nhắm đến cái đích là để giải thích về căn nguyên tạo thành vũ trụ. Chính là do nơi ảnh hưởng đó mà triết học Trung Cổ mới đưa ra định nghĩa cho triết học thế này “ Triết học là khoa học về vạn vật, lấy nguyên nhân tối cao để giải thích chúng” (La philosophie est la science des choses par leurs causes suprêmes). Có thể nói, kể từ thời Trung cổ, tất cả nỗ lực chịu ảnh hưởng của Kinh Viện học (Scholastique) đều chỉ biết xoay quanh cái trục “ Nguyên Nhân Tối Cao” còn được gọi là Đấng Tạo Hóa đó mà thôi. Tuy nhiên triết học trung cổ ảnh hưởng bởi Aristote ấy đã phải đối phó với hết cơn khủng hỏang này đến cơn khủng hỏang khác mà cao trào của nó chính là Thuyết Tiến Hóa của Darwin ( ). Theo thuyết này thì Sự Sống không phải được tạo thành bởi một Đấng Thần Linh nào hết mà là do nơi cuộc tiến hóa và luận điểm gây sốc nhất có lẽ cho đến nay vẫn còn tồn tại đó là con người sinh ra bởi khỉ ? Xưa nay đạo giáo vẫn nhất trí giảng dạy Đấng Tạo Hóa sinh ra con người mà nay lại nói ..bởi khỉ thì sao mà chịu cho thấu ?. Mặc dầu thế, sau những cuộc đấu khẩu, kể cả những vụ án trừng trị những kẻ tuyên truyền thuyết tiến hóa được gọi là những…” vụ án con khỉ” và đặc biệt là cuộc tranh luận giữa giám mục Wilberforce và Huxley tại đại học Oxford năm 1860 thì giáo hội dường như đã xoay chiều. Từ đầu TK 20 thay vì dùng Thánh kinh để phi bác thuyết tiến hóa . Các nhà chú giải, ngược lại đã ra công ra sức giải thích sao cho TK có thể phù hợp với các khám phá khoa học. Tuy nhiên có thể nói tất cả những nỗ lực ấy đều đã thất bại. Với những tiến bộ không ngừng trong lãnh vực vĩ mô, con người đã đặt chân lên tới mặt trăng, còn trong vi mô thì đã có những thí nghiệm biến đổi gien và tạo ra được cả tế bào mới như đã biết.

Chúng ta không thể phủ nhận sự tiến bộ vượt bậc của khoa học nhưng đồng thời cũng phải công nhận sự thất bại của giáo hội trong việc muốn dung hòa đức tin với nó. Khoa học và đức tin không thể cùng sóng đôi đồng hành. Khoa học càng tiến bộ bao nhiêu thì càng xa rời tôn giáo bấy nhiêu đến nỗi tất nhiên sẽ phế bỏ nó. Lại vừa mới đây, nhà vật lý nổi tiếng Stephen Hawking tác giả của nhiều công trình khoa học như “ Lược sử về thời gian , Lý thuyết về bức xạ, về Hố Đen( black Holes” v.v. cũng đồng thời là thành viên chính thức của giáo hoàng học viện khoa học , ông đã trả lời hãng Thông Tấn ABC News về sự thắng thế của khoa học đối với tôn giáo thế này “ Có một sự khác biệt giữa tôn giáo và khoa học . Tôn giáo dựa trên quyền bính , khoa học dựa trên quan sát và lý trí. Khoa học sẽ chiến thắng bởi vì nó có kết quả” ( Nguồn Dũng Lạc 10/6/2010 ). Trước khi phân tích sự khác biệt giữa khoa học và tôn giáo thiết tưởng cũng nên xem xét lời tiên báo “ Khoa học sẽ chiến thắng bởi vì nó có kết quả”. Chẳng biết ý của vị giáo sư này khi nói đến cái kết quả do khoa học đem lại cho nhân loại là gì nhưng theo tôi kết quả ấy cần thể hiện trên hai phương diện đó là sự hiểu biết và hạnh phúc. Có lẽ cũng chẳng cần phải đợi đến một tương lai xa xôi nào đó con người mới có được thành quả do khoa học đem lại “ Chúng ta là những người hiểu biết nhất trong lịch sử văn minh nhưng cũng là những người khốn khổ nhất. Các học sinh trung học của chúng ta biết nhiều về những định luật vật lý của vũ trụ hơn cả nhà khoa học tài ba nhất trong thời Aristote. Nhưng dù đầu óc chúng ta đầy ắp kiến thức, con tim chúng ta thì lại trống rỗng” ( Tiến sĩ Billy Graham – Bình an trong Thượng Đế ) Đầu óc thì đầy ắp kiến thức, cái gì, ở đâu cũng biết ngay cả trẻ em cũng vậy, còn con tim thì trống rỗng. Trống rỗng ở đây là thiếu vắng tình yêu, sự cảm thông . Hay nói cách khác sự thiếu tình yêu đó đồng nghĩa với vô cảm trước khổ đau, bất công của con người…Một khi tình yêu thiếu vắng thì sự buồn chán sẽ thâm nhập, điều ấy là đương nhiên “ Hiện nay số người buồn chán trên thế giới th&igrave
; nhiều hơn bất cứ thời nào khác, chúng ta biết thế và chúng ta có quá nhiều trò vui. Dân chúng trống rỗng đến nỗi không thể tự giải khuây. Họ phải mướn người khác làm cho họ vui, chọc cho họ cười, gây cho họ cười, gây cho họ cảm giác được ấm cúng hạnh phúc và dễ chịu trong giây lát, quên cái cảm giác trống rỗng ghê rợn và cô độc” ( Billy Graham Sđd )

Hiểu biết rất nhiều, cái chi cũng biết thế nhưng vẫn cô đơn lạc lõng trống rỗng, tại sao lại như vậy ? Đó là bởi con người là loài có cả xác lẫn hồn tức phần vật chất và tâm linh. Con vật đói thì đi kiếm cái ăn, động tình thì đi giao phối. Nhưng con người ngòai hai cái bản năng đó ra nó còn cần đến mỗt thứ khác đó là thỏa mãn cho tâm linh mình. Khoa học dù cho có đem lại sự hiểu biết, phương tiện sinh sống đến đâu đi nữa thì nó cũng không thể đáp ứng được nhu cầu tâm linh. Nhu cầu ấy con người chỉ có thể tìm gặp ở nơi tôn giáo và có nhận ra được điều ấy thì ta mới có thể trả lời được câu hỏi tại sao với biết bao thế lực mạnh mẽ chỉ muốn chăm chắm tiêu diệt tôn giáo nhưng rồi nó vẫn cứ tồn tại, trong khi đó đã có không biết bao nhiêu là nền văn minh, bao nhiêu chế độ thế trần đã sụp đổ… Khoa học có lãnh vực của nó và lãnh vực ấy chỉ có thể bó gọn trong phạm vi vật chất. Ngược lại tôn giáo không phải chỉ quan hệ trong lãnh vực tinh thần nhưng nó lại quyết định cho cả vật chất. Con người làm chủ mọi tạo tác như đi, đứng nằm ngồi nói năng ….nhưng cái làm chủ đó không phải xác thân nhưng là tinh thần tức tư tưởng. Có ý nghĩ ăn mới ăn, có ý nghĩ đi mới đi v.v…Nói cách khác xác thân chỉ là cái dụng cụ của tư tưởng. Chính là tư tưởng điều khiển mọi hành vi của ta chứ không phải ngược lại. Mặt khác tư tưởng chủ đạo không những chỉ cho những hành vi mà còn cho cả việc thiện ác. Có tư tưởng thiện mới làm thiện, trái lại tư tưởng ác sẽ làm việc ác. Mặc dầu tư tưởng là cái quyết định chứ không phải thân xác thế nhưng nếu không có thân xác thì tư tưởng lại không biết dựa vào đâu để thể hiện. Phần việc của khoa học là để lo cho thân xác và chỉ có thế mà thôi. Còn tôn giáo thì việc của nó tuy chỉ để lo cho tâm linh nhưng nếu tâm linh an thỏa thì thân xác cũng được sung túc. Đức Kitô nói “ Trước hết hãy lo tìm kiếm Nước Chúa và sự công chính của Ngài thì mọi điều ấy ( cuộc sống xác thân ) sẽ được thêm cho các ngươi” Mt 6, 33 ) Cuộc khủng hỏang dữ dội như hiện nay đang thấy cả về phía những kẻ chống đối cũng như những người muốn bảo vệ phải chăng đã không nhận ra được con đường tâm linh của giáo hội ? Vì không nhận ra được tính chất tâm linh ấy nên một người như Hawking một thành viên của giáo hoàng học viện mới nêu lên sự khác biệt giữa khoa học và tôn giáo một cách hết sức hàm hồ như thế. Quả đúng là có sự khác biệt nhưng không phải giữa một bên là lý trí bên kia là …quyền bính nhưng là sự khác biệt cả trong mục đích lẫn phương pháp.

I/- Khác biệt về mục đích.

Khoa học trước khi được sử dụng để đem lại ích lợi cho cuộc sống thì nó là bản tính hiếu tri ở nơi con người. Bản tính ấy khi còn ở dạng sơ khai, thuần túy đó chỉ là sự tò mò. Thấy con chim bay lượn trên trời, có người nhìn ngắm cách thích thú và ước ao giá mình cũng bay lên được như nó. Kẻ đó về nhà ngẫm nghĩ , suy tính mày mò để làm ra đôi cánh , cột vào hai cánh tay, nhờ vào sức gió đẩy may ra có thể bay lên. Đây là những bước tiến chập chững đầu tiên của nhà phát minh ra máy bay v.v… Những nhà phát minh ấy th
oạt đầu họ đâu có nghĩ gì tới mục đích mà khoa học đem lại cho cuộc sống? Những phát minh khoa học ấy tự thân nó có được chỉ là vì tính hiếu tri mà thôi và tính hiếu tri ấy có thể chế ra những phương tiện hữu dụng cho cuộc sống nhưng cũng có thể có hại. Nobel phát minh ra thuốc nổ, có thể dùng để phá núi làm đường nhưng cũng có thể phá họai cầu cống hoặc nổ banh xác quân thù … A. Einstein phát minh lý thuyết chế tạo bom nguyên tử để rồi ân hận suốt đời. Và gần đây là phương pháp sinh sản vô tính, làm biến đổi gien, tạo tế bào mới v.v.. Bản thân tính hiếu tri không xấu nhưng nó có` thể sử dụng vào việc xấu lý do là bởi cái gọi là “TRI” ấy chỉ là tri thức chứ không phải trí tuệ. Tri thức là sự hiểu biết chỉ bó gọn trong phạm vi hiện tượng giới tức là những cái biết do phân biệt như tai nghe mắt thấy tư duy này nọ…Tòan bộ những cái biết do phân biệt mà có ấy sở dĩ gọi là hiện tượng bởi vì chúng có lúc có lúc không. Còn duyên thì gọi là có, hết duyên t
hì mất. mắt nhìn cảnh vật trời mây non nước dòng sông, cô lái đò v.v..nhưng nhắm mắt thì lại không thấy hoặc chỉ chốc lát sau mây cũng trôi mà thuyền cũng chẳng còn thấy đâu nữa…Những cái biết phân biệt như thế đều là giả có, không thật nhưng bởi vì vô minh nên con người lại luôn đắm chấp cho nó là thật có, nào vợ con tôi, nhà cửa xe cộ của tôi, danh dự địa vị chức quyền của tôi. Chúng không thật có lại cho là thật thế nên khi nó mất đi , tan biến đi , cát bụi trở về bụi cát thì than thở khổ não, trách trời óan đất !!!. Con người vì u mê nên mới cứ như con thiêu thân lao mình vào chỗ chết mà không biết. Tôn giáo đưa đến một con đường sống, đường sống ấy chính là đường Sự Thật “ Nếu các ngươi cứ ở trong Đạo của Ta thì thật là môn đệ Ta. Các ngươi sẽ biết sự thật và sự thật sẽ giải thóat các ngươi” Ga 8, 31. Biết sự thật chính là Cái Biết Trí Tuệ vô phân biệt, nó khác hẳn với cái biết mang tính phân biệt của tri thức khoa học. Do nơi mục đích khác nhau thì tất nhiên để đạt được mục đích ấy, phương pháp cũng phải khác.

II/- Khác biệt về phương pháp

Có quan điểm cho rằng khoa học và đức tin tôn giáo không chống trái nhau bởi vì chúng cùng trên đường đến một chân lý duy nhất. Điều ấy có thể đúng nếu chân lý ấy được gọi bằng cái tên là Đấng Thiên Chúa Tạo Hóa có nghĩa Đấng ấy đã tạo dựng nên thế giới vật chất này. Thế nhưng Đấng được gợi là Tạo Hóa ấy thực chất chỉ là cái tên, một thứ khái niệm chứ không phải Thực Tại. Cũng chính bởi Thiên Chúa của thần học chỉ là khái niệm thế nên như chúng ta biết đã có không biết bao nhiêu là loại thần học khác biệt và chúng luôn bất đồng với nhau. Con đường khoa học theo đuổi trước sau vẫn chỉ là quan sát và thực nghiệm. Quan sát tức là từ nguyên nhân này để đến một kết quả kia. Cứ theo dõi cái chuỗi nhân quả đó mà nhà khoa học đưa ra khẳng định thế này thế khác. Mặc dầu vậy khẳng định nào cũng phải đưa vào thực nghiệm thì mới có được kết quả cuối cùng. Hễ công trình nào mà được tiến hành bằng quan sát và thực nghiệm như thế đều được gọi là khoa học. Tuy vậy, tất cả các công đọan quan sát và thực nghiệm ấy đều có đối tượng là vật chất , không thể khác và đây chính là điểm hòan tòan khác biệt với tôn giáo. Tại sao vậy ? Bởi lẽ đối tượng của khoa học là vật chất còn của tôn giáo lại là tâm linh. Vẫt chất thuộc lãnh vực hữu hình, có thể thấy nghe nếm ngửi đụng chạm nghĩ suy. Trái lại tâm liunh thì vô hình không thể thấy nghe cảm nhận nghĩ suy (kiến văn giác tri ) Những cái mà khoa học có thể quan sát thực nghiệm đương nhiên chỉ là vật chất và khoa học cũng chỉ có thể chấp nhận đến cái ngưỡng dục giới ấy mà thôi. Đang khi đó lãnh vực tâm linh cũng là khoa học nhưng cái ngưỡng của nó thì vô biên , chẳng những gồm cả sắc giới mà còn cả vô sắc. Việc quan sát thực nghiệm của khoa học là thuộc phạm vi vật chất hữu hình còn trong tâm linh lại thuộc lãnh vực tư tưởng. Việc quan sát ở đây tức là quan sát tư tưởng ở nơi chính mình để rồi đạt đến chỗ có thể dừng (đình chỉ ) nó lại. Dừng lại tư tưởng mình, đây chính là công cuộc thực nghiệm trong tôn giáo. Tư tưởng là nơi phát xuất của tòan bộ hành vi thiện ác nhưng nếu không quán sát được nó thì không sao mà có thể dừng nó được. Cứ chạy theo tìm cầu những cái ở bên ngòai mình đó là vô minh mê lầm. Trái lại biết quay vào bên trong mà dừng đó lại là người có trí tuệ. Tổ Lâm Tế nói “ Chỗ ông dừng một niệm là Cây Bồ Đề, ông một niệm không thể dừng được là cây vô minh” Nhà Thiền nói “ Dừng một niệm” thì một niệm ở đây Nhà Đạo chúng ta gọi là ý riêng. Dừng một niệm cũng tức là bỏ ý riêng mình đi. Khoa học một khi chỉ biết nhắm vào đối tượng vật chất để mà quan sát thực nghiệm như thế thì cũng chẳng khác nào mài gạch mà mong có ngày thành gương soi, gốc một khi đã vô minh thì ngọn làm sao có thể khác ? Vì vậy cái mà nó tưởng rằng …thắng được tôn giáo chẳng qua chỉ là việc giơ chân đạp mũi nhọn, khó thể nào tránh khỏi Ngày Thạnh Nộ của Chúa, ai mà đương cự nổi ? Kh 6, 17.

Tác giả Phùng Văn Hóa




Theo Pravda : EINSTEIN KHUYÊN CHÚNG TA ĐIỀU GÌ ?

EINSTEIN KHUYÊN CHÚNG TA ĐIỀU GÌ ?

 

 

Đã từ lâu, cái tên Albert Einstein luôn gợi cho người ta nhớ đến một thiên tài kiệt xuất. Ông là một nhà vật lý lý thuyết, triết học, nhà văn và hơn hết là một nhà khoa học có tầm ảnh hưởng lớn nhất mọi thời đại.
 

Năm 1921, Albert Einstein đã được trao giải Nobel về vật lý cho những đóng góp của ông đối với ngành vật lý lý thuyết, mà trước hết là quy luật hiệu ứng quang điện. Einstein được coi là cha đẻ của vật lý hiện đại. Ông đã cho xuất bản hơn 300 công trình khoa học và hơn 150 tác phẩm các loại khác. Dưới đây là 10 lời khuyên bổ ích mà thiên tài này đưa ra:
 
1. Luôn tập trung
 
 
 
 
2. Luôn kiên trì 

3. Hãy tập trung vào hiện tại
 
 
4. Hãy luôn tưởng tượng  

5. Hãy luôn sửa sai

6. Hãy luôn sống với hiện tại
 

7. Hãy sống có ý nghĩa
 
 
 
8. Hãy làm mới mình
 
 
9. Kiến thức bắt nguồn từ kinh nghiệm 
 
10. Hãy nắm được quy luật chiến thắng
Theo Pravda




Phiếm Đàm : Người Việt Giúp Hải Quân Mỹ Diệt Hoả Tiễn Đối Hạm

Very, very educational……
Naval Aviation – Great Video

This  is a must watch.   It’s what carrier aviation is all about.    This  video is from USS Stennis and extremely well done.   Turn up your sound and Enjoy !!

 
Aircraft Carrier  USS John C Stennis launching aircraft | Tailspin
 

Người Việt Giúp Hải Quân Mỹ Diệt Hoả Tiễn Đối Hạm Print E-mail
Thursday, 26 May 2011

phiemdam.com

Trong bản Tường Trình trước Quốc Hội Hoa Kỳ { CRS Report for Congress } của Ronald O’ Rourke ngảy 21 tháng 1 năm 2011, trang 38 có tường
trình về Công trình nghiên cứu và sáng chế Vũ khí mới Free Electron Laser (FEL) program của Tiến Sĩ Định Nguyễn.

Trung Cộng đang ngạo mạn phô trương sức mạnh của Hoả Tiễn DF-21D, đe doạ các Hang Không Mẫu Hạm Hai Quan Hoa Kỳ! Nhưng họ đâu ngờ
một loại Vù Khí mới mang tên Free Electron Laser (FEL) cùa TS Dinh Nguyen sè phá huỷ dược DF-21D, làm tiêu tan tham vọng Đại Hán của ho !

Tuy Free Electron Laser đang còn trong giai đoạn nghiên cứu, nhưng rất khả quan. Các Chiến Hạm Hải Quân Hoa Kỳ sẽ được trang bị sau này khi công
trình sáng chế loại Vũ khí mới này thành công.
Kính
tvq

Attach: 6 Photos



Courtesy LANL




LANL scientists are instrumental in making breakthrough for the Navy
By John Severance
Sunday, January 23, 2011 at 12:00 pm (Updated: January 23, 12:59 pm)
Thanks to the Los Alamos National Laboratory, the Navy took a big step in its quest to build a powerful new anti-aircraft gun.
LANL scientists have achieved a breakthrough with the Office of Naval Research’s Free Electron Laser (FEL) program, demonstrating an injector capable of producing the electrons needed to generate powerful megawatt-class laser beams for the Navy’s next-generation weapon system.

The Dec. 20 milestone, which happened months ahead of schedule, was highlighted in a two-day preliminary design review Jan. 20-21 in Virginia.
“The injector performed as we predicted all along,’’ said Dr. Dinh Nguyen, senior project leader for the FEL program at the lab. “But until now, we didn’t have the evidence to support our models. We were so happy to see our design, fabrication and testing efforts finally come to fruition. We’re currently working to measure the properties of the continuous electron beams, and hope to set a world record for the average current of electrons.’’
Nguyen said Boeing, which had a measurement of 32 milliampere in 1993, holds the record for measuring properties of the continuous electron beams. The project leader said, “We are not there yet but we hope to break it in the near future.”
At the demonstration, Nguyen received a lot of positive feedback from members of the ONR. But he was not about to take a lot of the credit.
“This is a team effort,” Nguyen said. He credited 15 other LANL employees for helping him with the research. “The best thing is that the Navy is looking at Los Alamos as the go-to lab for this kind of technology. This is a good sign for the lab.”
Nguyen said he and his team have been working on the project since 2006 but he has been working on the technology at the lab since the mid-1980s.
Asked where this accomplishment stacks up in his LANL career, which started in 1984, Nguyen said, “It’s not the most important, but it is up there.”
Quentin Saulter, the FEL program manager for ONR, said in a release the implications of the FEL’s progress are monumental.
“This is a major leap forward for the program and for FEL technology throughout the Navy,” Saulter said. “The fact that the team is nine months ahead of schedule provides us plenty of time to reach our goals by the end of 2011.”
 

The research is a necessary step for the Department of the Navy to one day deploy the megawatt-class FEL weapon system, revolutionizing ship defense, Saulter said.
“The FEL is expected to provide future U.S. Naval forces with a near-instantaneous laser ship defense in any maritime environment throughout the world.”
ONR’s FEL project began as a basic science and technology program in the 1980s and matured into a working 14-kilowatt prototype. In fiscal 2010, it graduated from basic research to an Innovative Naval Prototype, earning the backing needed by senior Navy officials to ensure its evolution to advanced technology and potential acquisition.
On the ONR website, Saulter explains the program.
“The Navy’s future Free Electron Laser (FEL) weapon system is being designed to be game changing,” Saulter said. “The capability of having speed-of-light delivery for a wide range of missions and threats is a key element of a future shipboard layered defense. The design is to be able to have selectable wavelengths for use at sea.
“It will demonstrate scalability of the necessary FEL physics and engineering for an eventual megawatt-class device. It will focus on the design, development, fabrication, integration and test of a 100-kw class FEL device. Future needs for ship integration and beam control will be considered. This revolutionary technology allows for multiple payoffs to the war fighter.
“The ability to control the strength of the beam provides for graduated lethality and the use of light vice, an explosive munition, provides for low per engagement and life cycle costs. In fact, it provides an effective alternative to using expensive missiles against low value targets. Not worrying about propulsion and working at the speed of light allows for precise engagement and the resulting low collateral damage. Speed-of-light engagement also allows for a rapid reaction to moving and/or swarming time critical and swarming targets.”
The laser works by passing a beam of high-energy electrons generated by an injector, through a series of strong magnetic fields, causing an intense emission of laser light. ONR hopes to test the FEL in a maritime environment as early as 2018.
“There still is a lot more testing,” Nguyen said.
Scientists at Los Alamos National Laboratory, headed by Dr. Dinh Nguyen, senior project leader for the Free Electron Laser program at the lab, made a breakthrough when they unveiled an injector, below, capable of producing the electrons needed to generate megawatt-class laser beams for the Navy’s next-generation weapon system.
1 of 3
Courtesy LANL

Vu Khi Free Electron Laser (FEL).

Free Electron Laser (FEL) trang bi tren HKMH va KTH se pha huy hoa tien cua doi phuong

US Navy Achieves Milestone in Free Electron Laser Program

Khu Truc Ham DD-21 moi se duoc trang bi Free Electron Laser (FEL)

http://www.richardcyoung.com/wp-content/uploads/2011/01/dong-peng-21d.jpgFree Electron Laser (FEL) program: U.S. Counters China’s DF-21D …

Free Electron Laser (FEL) program: U.S. Counters China’s DF-21D

By Rob Anastasio, ONR Corporate Strategic Communications
ARLINGTON, Va.-Scientists at Los Alamos National Lab, N.M., have achieved a remarkable breakthrough with the Office of Naval Research’s Free Electron Laser (FEL) program, demonstrating an injector capable of producing the electrons needed to generate megawatt-class laser beams for the Navy’s next-generation weapon system.
The Dec. 20 milestone, which occurred months ahead of schedule, will be the highlight of a two-day preliminary design review scheduled Jan. 20-21 in Virginia.
“The injector performed as we predicted all along,” said Dr. Dinh Nguyen, senior project leader for the FEL program at the lab. “But until now, we didn’t have the evidence to support our models. We were so happy to see our design, fabrication and testing efforts finally come to fruition. We’re currently working to measure the properties of the continuous electron beams, and hope to set a world record for the average current of electrons.”
Quentin Saulter, FEL program manager for ONR, said the implications of the FEL’s progress are monumental. “This is a major leap forward for the program and for FEL technology throughout the Navy,” Saulter said. “The fact that the team is nine months ahead of schedule provides us plenty of time to reach our goals by the end of 2011.”


The research is a necessary step for the Department of the Navy to one day deploy the megawatt-class FEL weapon system, revolutionizing ship defense, Saulter said. “The FEL is expected to provide future U.S. Naval forces with a near-instantaneous laser ship defense in any maritime environment throughout the world.” ONR’s FEL project began as a basic science and technology program in the 1980s and matured into a working 14-kilowatt prototype. In fiscal 2010, it graduated from basic research to an Innovative Naval Prototype, earning the backing needed by senior Navy officials to ensure its evolution to advanced technology and potential acquisition.
The laser works by passing a beam of high-energy electrons generated by an injector, through a series of strong magnetic fields, causing an intense emission of laser light. ONR hopes to test the FEL in a maritime environment as early as 2018.
______________________________

_______________

Breakthrough in free-electron laser development

Published 10 February 2011
Breakthroughs in Free-Electron Laser (FEL) technology could mean a virtually impenetrable defense system for Navy ships; the laser weapon has the capability to detect and engage incoming cruise missiles at the speed of light without running out of ammunition

Breakthroughs in Free-Electron Laser (FEL) technology could mean a virtually impenetrable defense system for Navy ships. The laser weapon in development has the capability to detect and engage incoming cruise missiles at the speed of light without running out of ammunition. The Office of Naval Research (ONR) has been developing the anti-aircraft and missile directed-energy weapon since the 1980s with the goal of creating a megawatt (1 million W) laser weapon with continuous power.
The high-powered FEL uses a superconducting electron gun powered by a microwave tube to emit an intense emission of laser light. Last month, scientists at Los Alamos National lab demonstrated their capability to produce the necessary electrons needed to actuate megawatt laser beams. This development placed its researchers nine months ahead of schedule for its 2011 goals. In a news release, Dinh Nguyen, senior project leader for the Free Electron Laser program at the New Mexico lab said, “Until now, we didn’t have the evidence to support our models.”
Asides from its military applications, FEL has also been employed in the medical field. Research by Dr. Glenn Edwards and colleagues at Vanderbilt University’s FEL center in 1994 found that FEL could be used to excise sensitive tissues like skin, cornea, and brain tissue at wavelengths of approximately 6.45 micrometers. The technology is still being researched and improved upon to minimize and ultimately prevent collateral damage to adjacent tissue.
Quentin Saulter, research program officer at ONR said “the FEL is expected to provide future U.S. Naval forces with a near-instantaneous laser ship defense in any maritime environment throughout the world.” In a
video
produced by the ONR, Saulter mentions that the project’s workforce consists of experts that specialize in projection, accelerators, electron beam dynamics, and photo-optics.
Sarwat Chappell, research program officer at Air Warfare and Naval Weapons Applications described the FEL as versatile because of its ability to be tuned and generate multiple wavelengths the navy will need when encountering various scenarios across the world.
ONR aims to test the FEL at sea by 2018.
______________________________
______________

ONR Team Demonstrates Source for Future 100KW FEL Laser

By Administrator on January 21, 2011 12:29 pm / 1 comment

The Free Electron Laser (FEL) program is undergoing Office of Naval Research’s (ONR) preliminary design review (PDR) this week, following the successful critical demonstration of an injector capable generating the electron flow for the megawatt-class FEL laser. “Until now, we didn’t have the evidence to support our models” Dr. Dinh Nguyen, senior project leader for the FEL program at the lab said, confirming that the injector performed as predicted. The team is currently working to measure the properties of the continuous electron beams, in hope to set a world record for the average current of electrons.


The electron laser is generated by passing a beam of high-energy electrons through a series of powerful magnetic fields, generating an intense emission of laser light that can disable or destroy targets. In future shipborne applications the laser will be powered by the ship’s main generator, creating virtually unlimited ammunition. It will provide ultra-precise, speed-of-light defensive weapon capability necessary to meet emerging threats, such as hyper-velocity cruise missiles. Each vessel carrying this weapon will operate a single FEL source feeding up to 10 beam directors, engaging multiple targets simultaneously at different directions, altitudes and ranges.
ONR’s FEL project began as a basic science and technology program in the 1980s and matured into a working 14-kilowatt prototype. In April 2009, the Boeing Company was awarded an Office of Naval Research contract valued at up to $163 million to develop and demonstrate a 100-kW class FEL weapon system. “Two unique attributes of FELs are the ability to tune the wavelength to maximize transmission of the laser through the marine atmosphere, and the ability to aim for a single small spot on the target,” said Ed Pogue, FEL program manager for Boeing. “The combination of these two effects allows the system to destroy the target in the minimum time.”
According to Quentin Saulter, FEL program manager for ONR the team is nine months ahead of schedule to achieve its goals for 2011. The FEL weapon system is set to pass critical design review phase in the fourth quarter of this year, to be followed by additional task orders for fabrication and testing in a laboratory environment. ONR hopes to test the FEL in a maritime environment as early as 2018.
Boeing is partnering on FEL with U.S. Department of Energy laboratories, academia and industry. The laboratories include the Thomas Jefferson National Accelerator Facility in Newport News, Va., the Los Alamos National Laboratory in Los Alamos, N.M., and the Argonne National Laboratory in Chicago. Major industrial partners include Advanced Energy Systems, Niowave Inc. and SAIC.
Related posts:
High Power Laser are Maturing into Weapons Grade Systems




Quang Phong: Công bố hàng chục bản đồ Trung Quốc không hề có Hoàng Sa, Trường Sa

Công bố hàng chục bản đồ Trung Quốc không hề có Hoàng Sa, Trường Sa

Thứ ba 31/07/2012 18:56

ANTĐ – Hơn chục tấm bản đồ do chính người Trung Quốc và người Nhật vẽ cách đây từ 80 – 100 năm, đều cho thấy lãnh thổ Trung Quốc đến đảo Hải Nam, không hề có Hoàng Sa, Trường Sa vừa được thạc sĩ Chử Đình Phúc (Viện khoa học xã hội VN) công bố.

Thạc sĩ Chử Đình Phúc cho biết, không phải ngẫu nhiên anh có được dữ liệu về những tấm bản đồ này. “Tìm hiểu thông tin, tài liệu về Trung Quốc là một phần trong công việc thường ngày tôi phải làm. Quá trình nghiên cứu, tìm hiểu bắt đầu từ năm 2007, đến nay tôi tiếp cận khoảng 6 cuốn sách (điện tử) do người Trung Quốc và Nhật Bản viết đều có những tấm bản đồ thể hiện giới hạn điểm cực nam Trung Quốc chỉ đến đảo Hải Nam” – anh Phúc kể.

Những đầu sách anh Phúc có trong tay gồm Thanh nhị kinh thập bát tỉnh cương vực toàn đồ; Thanh đại địa đồ tập; Đại Thanh đế quốc phân tỉnh tinh đồ; Trung Hoa tân hình thế nhất lãm đồ; Hoa Dân quốc phân tỉnh địa đồ sách; Trung Quốc địa đồ sách do chính tay người Trung Quốc và người Nhật Bản vẽ cách đây từ 80 đến hơn 100 năm . Tất cả đều cho thấy điểm cực Nam của Trung Quốc chỉ đến đảo Hải Nam.

“Sau khi tiến sĩ Mai Hồng trao tặng Bảo tàng Lịch sử bản đồ do người Trung Quốc vẽ không có Hoàng Sa, Trường Sa, tôi thấy cần phải chia sẻ những gì mình có được cho bạn bè cùng biết” – anh Phúc nói. Anh cũng khẳng định những người làm chuyên môn như anh đều biết có không ít những tấm bản đồ người Trung Quốc vẽ lãnh thổ nước này chỉ đến đảo Hải Nam và không hề có Hoàng Sa và Trường Sa. Ngay cả những kho tài liệu ở Trung Quốc hiện nay cũng lưu giữ rất nhiều những tấm bản đồ này.

Anh Phúc chia sẻ với bạn bè bằng cách đẩy bản chụp những tấm bản đồ mình có được lên trang cá nhân. “Trước đây, tôi vẫn nghĩ dân Việt Nam mình đều biết những tấm bản đồ này. Không ngờ đưa lên trang cá nhân mới thấy suy nghĩ đó không đúng. Rất nhiều người chưa biết và mỗi người đã chia sẻ những tài liệu tôi "up" lên tới nhiều tài khoản khác” – anh Phúc cho biết.

Bản đồBản đồ “Nhị kinh thập bát tỉnh tổng đồ” trong sách "Thanh nhị kinh thập bát tỉnh cương vực toàn đồ", Tác giả: Đông Điều Văn Tả Vệ Môn, Nhật Bản Gia Vĩnh tam niên khắc bản (1850)

 
“Đại Thanh đế quốc
“Đại Thanh quốc toàn đồ“Đại Thanh đế quốc” (大清帝國) trong sách “Đại Thanh đế quốc toàn đồ”, Tuyên Thống nguyên niên (1908), Thượng Hải Thương vụ ấn thư quán phát hành (大清帝國全圖, 宣統元年,上海商務印書館).

Bản đồ tỉnh Quảng Đông với cực Nam của nó là đảo Hải Nam, trong sáchBìa cuốn sách “Đại Thanh đế quốc toàn đồ”, Tuyên Thống nguyên niên (1908), Thượng Hải Thương vụ ấn thư quán phát hành" (大清帝國全圖, 宣統元年上海商務印書館)

Bản đồ“Trung Hoa Dân quốc toàn đồBìa cuốn sách “Trung Hoa tân hình thế nhất lãm đồ”(中華新形勢一覽圖) của hai tác giả Thượng Ngu và Đồ Tư Thông (上虞, 屠思聰), Thượng Hải Thế giới dư địa học xã (上海世界輿地學社) phát hành năm 1926.

“Trung Hoa Dân quốc toàn đồ“Trung Hoa Dân quốc toàn đồ” (中華民國全圖), trong sách “Trung Hoa Dân quốc phân tỉnh địa đồ sách” (中華民國分省地圖冊) xuất bản năm 1933.

“Trung Hoa Dân quốc toàn đồ”“Trung Hoa Dân quốc toàn đồ” (中華民國全圖), trong sách “Tối tân Trung Hoa hình thế nhất lãm đồ” (最新中華形勢一覽圖) in năm 1935.

Bìa cuốn sách

Theo Quang Phong 
Dân Trí




Tháng Tư Đỏ Lửa

Tháng Tư Đỏ Lửa khởi đầu 93 ngày đêm tử chiến ở mặt trận An-Lộc.

 

Theo những tài liệu quân sử phổ biến đó đây, quân dân VNCH có thể thất trận ngay trong tháng đầu trận chiến An Lộc, nếu không có 3 đơn vị xuất sắc tham chiến gồm: Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù chỉ huy bởi Đại Tá Phan Văn Huấn (xuất thân khóa 10 Dalat), Lữ Đoàn 1 Nhẩy Dù chỉ huy bởi Đại Tá Lê Quang Lưỡng, và Sư Đoàn 5 Bộ Binh chỉ huy bởi Tướng Lê Văn Hưng.

Quân dân Miền Nam vẫn không thể quên 2 câu thơ mà cô giáo Pha đã tặng những quân nhân Biệt Cách Dù: An Lộc Địa sử ghi chiến tích, Biệt Cách Dù vị quốc vong thân. Và chiến sĩ nổi bật hàng đầu trên chiến trường Việt Nam (đặc biệt trong trận chiến An Lộc) chính là cựu Thiếu Tá Phạm Châu Tài, từng có biệt danh là "Hổ Xám". Bọn VC khi nghe đến tên "Người hùng Hổ Xám" có mặt trong bất cứ trận đánh nào chúng cũng vô cùng khiếp đảm.

Bây giờ, chúng tôi xin mời quý vị theo dõi bài ký sự sống thực do chính Người Hùng của QLVNCH Phạm Châu Tài viết về mặt trận An Lộc, nguyên văn sau đây:

AN LỘC, CHIẾN TRƯỜNG

ÐI KHÔNG HẸN.

* "Hổ Xám" Phạm Châu Tài.

 (Viết cho những chiến hữu của tôi đã một thời vào sanh ra tử trên khắp chiến trường sôi bỏng để bảo vệ đất nước).

(Picture attached file) Tác Giả, Cựu Thiếu Tá Hổ Xám Phạm Châu Tài, cùng 2 cựu Sĩ Quan Võ Bị Dalat. Hình từ trái qua phải: Cựu Thiếu Tá Phạm Châu Tài, cựu Đại Tá Phan Văn Huấn (Khóa 10 VB, nguyên Liên Đoàn Trưởng LĐ 81 Biệt Cách Dù) và thi văn sĩ Quốc Nam (Khóa 22 VB, Chủ Tịch HĐQT An-Lộc Foundation, Tác giả 21 tác phẩm đã xuất bản trước & sau năm 1975, trong số này có 2 thi tập Tình Ca Lính Alpha Đỏ xb 1968 & Bản Thánh Ca Alpha Đỏ xb 2012). Photo by Việt Long.

Mùa hè năm 1972 đi qua như cơn ác mộng mà khi tỉnh dậy người ta vẫn còn bàng hoàng như đang mê sảng. Mùa hè đến với những cơn lốc bạo tàn, với những trận cuồng phong kinh hãi, sẵn sàng huỷ hoại tất cả những gì gọi là sự sống của con người, mà những tiếng kêu thương, bi ai thống khổ nhất vẫn còn âm vang cho đến ngàn sau.

Mùa hè đến với bão lửa ngụt trời, bão lửa cuồn cuộn vút lên như hoả diệm sơn bao trùm khắp bầu trời Miền Nam Việt Nam, bão lửa hừng hực thiêu đốt muôn vạn sinh linh đang sống an lành, tự do phía Nam vĩ tuyến 17.

Ðau đớn thay, ác mộng kinh hoàng ấy, cuồng phong và bão lửa ấy lại do chính con người gây nên, con người mang nhãn hiệu Cộng Sản, lãnh đạo bởi một lũ người cuồng tín đã bán linh hồn cho quỷ đỏ đang ngự trị tại Hà Nội.

Người ta được biết, sau khi tiếp nhận sự chi viện khổng lồ không giới hạn về các loại vũ khí và phương tiện chiến tranh tối tân nhất từ phía Cộng Sản Nga – Tàu, Hà Nội điên cuồng tung vào Miền Nam ba cuộc tấn công vũ bão vào Tỉnh Quảng Trị của vùng giới tuyến, vào Tỉnh Kontum của Tây Nguyên và vào Tỉnh Bình Long thuộc miền Ðông Nam Phần.

Cuộc chiến bùng nổ khốc liệt chưa từng xẩy ra từ ngày Cộng Sản phát động cuộc chiến tranh gọi là giải phóng vào thập niên 60. Lửa, máu, nước mắt hoà với bom đạn đã cầy xới và tràn lan khắp quê hương Miền Nam tự do, tuy nhiên Cộng Sản miền Bắc phải trả một giá rất đắt về hành động điên cuồng, dã man của chúng để nhận sự thất bại đắng cay: Quảng Trị vẫn đứng vững, Kontum vẫn kiêu hùng quật khởi và Bình Long vẫn anh dũng hiên ngang phất cao ngọn cờ chính nghĩa.

Trong chiến tranh, tấn công xâm chiếm mà không lấy được mục tiêu, bị thiệt hại nặng nề là thất bại hoàn toàn. Trái lại, phòng thủ quyết tâm chống trả, dù phải chấp nhận ít nhiều tổn thất hy sinh mà vẫn giữ vững phần đất quê hương thì được gọi là chiến thắng.

Với lý lẽ căn bản nêu trên, ba cuộc tấn công của Cộng Sản Bắc Việt vào mùa hè năm 1972 trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà thì Cộng Sản Việt Nam là kẻ chiến bại, và Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà là người chiến thắng.

Phát động tấn công xâm chiếm vào đầu tháng 04 năm 1972, tính đến tháng 09 năm 1972, thiệt hại nhân mạng của Cộng Sản Bắc Việt được ước lượng khoảng 100 ngàn người!

100 ngàn vong linh của những người “sinh Bắc tử Nam” trở thành lũ âm binh lạc loài, vất vưởng tha hương mà gia đình họ không bao giờ biết được.

Giành lấy chiến thắng một cách kinh hoàng và oai hùng nhất trong ba cuộc tấn công của Cộng Sản Bắc Việt vào lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà có thể nói là chiến thắng Bình Long, mà trận chiến vô cùng khốc liệt đã bùng nổ tại Thị Xã An Lộc. Một tài liệu chính thức của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà được ấn hành sau mùa hè năm 1972 đã công bố: “Tại mặt trận An Lộc cuộc tấn công đầu tiên của quân Cộng Sản khởi đầu vào ngày 13-04-1972 bằng toàn bộ của các Sư Ðoàn 5, 7, 9 và Sư Ðoàn Bình Long với tổng số vào khoảng 50 ngàn người”. Cộng Sản ước tính sẽ đánh chiếm An Lộc từ 5 đến 10 ngày và dự trù ngày 20-04-1972 sẽ ra mắt chính phủ “Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam” tại thành phố An Lộc.

Thật vậy, lực lượng Cộng Sản Bắc Việt tại Bình Long, ngoài 4 Sư Ðoàn với quân số mỗi Sư Ðoàn là 10,400 người, còn có một Trung Ðoàn Ðặc Công, 2 Trung Ðoàn Pháo Binh và Phòng Không và hai Trung Ðoàn xe tăng. Hơn nữa, sự bổ sung quân số dễ dàng từ Mimot, Snoul bên kia biên giới Miên là nguồn nhân lực chính mà người ta khó ước tính được con số chính xác.

NHẬN DIỆN CHIẾN TRƯỜNG

An Lộc là quận châu thành Tỉnh Bình Long, cách thủ đô Sài Gòn khoảng 100 cây số về hướng Tây Bắc, với diện tích bề dài 1,800 thước và bề ngang đo được 900 thước, một Thị Xã nhỏ bé đìu hiu, chung quanh là rừng cao su ngút ngàn đến tận biên giới. Bình Long có ba quận hành chánh, cực Nam là quận Chơn Thành và cực Bắc là quận Lộc Ninh.

Quốc lộ 13, con đường huyết mạch nối liền từ Lai Khê của Tỉnh Bình Dương đi qua các quận lỵ, xã ấp của Tỉnh Bình Long. Cách An Lộc 18 cây số về hướng Bắc là Lộc Ninh và cách An Lộc 30 cây số về hướng Nam là Chơn Thành.

Từ Chơn Thành xuôi quốc lộ 13 về hướng Nam khoảng 30 cây số là Lai Khê, nơi đặt bản doanh của Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà.

Cơ sở hành chánh và quân sự Tỉnh Bình Long đặt ngay trong quận châu thành An Lộc dưới sự điều hành của viên Tỉnh Trưởng là Ðại Tá Trần Văn Nhựt.

Trước khi trận chiến bùng nổ, quận Lộc Ninh được tăng cường với Trung Ðoàn 9 thuộc Sư Ðoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, một khẩu đội pháo binh đặt tại căn cứ yểm trợ hoả lực Alpha cách Lộc Ninh khoảng 8 cây số về hướng Bắc và một Chi Ðoàn Thiết Giáp thuộc Thiết Ðoàn 5 Kỵ Binh Việt Nam Cộng Hoà. Tại An Lộc, ngoài một số Ðịa Phươhg Quân, Cảnh Sát, và các cơ sở hành chánh Tỉnh mà nhân số không quá 200 tay súng, còn có pháo đội 105 ly, Chi Ðoàn Thiết Giáp, Trung Ðoàn 7 thuộc Sư Ðoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, và Liên Ðoàn 3 Biệt Ðộng Quân. Ðể đánh chiếm Bình Long, Cộng quân cắt đứt quốc lộ 13 từ Lai Khê đi Lộc Ninh, đồng thời phong toả bầu trời Bình Long bằng một hệ thống phòng không để ngăn chặn sự can thiệp của Không Quân Việt Nam Cộng Hoà.

TRẬN CHIẾN BÙNG NỔ

Ba giờ sáng ngày 05 tháng 04 năm 1972 Trung Ðoàn Pháo có bí danh E.6 bắn phủ đầu vào các cứ điểm phòng ngự của Trung Ðoàn 9 Bộ Binh do Ðại Tá Trần Công Vĩnh chỉ huy bằng hàng ngàn quả đạn pháo đủ loại, sau đó Cộng quân tung Sư Ðoàn 5 Cộng Sản Bắc Việt có xe tăng yểm trợ bắt đầu tấn công. Mặt khác, Cộng quân sử dụng Trung Ðoàn 272 thuộc Sư Ðoàn 9 Cộng Sản Bắc Việt phục kích quốc lộ 13 từ An Lộc đi Lộc Ninh để tiêu diệt đường rút lui của quân trú phòng.

Mặc dù có sự can thiệp hữu hiệu của Không Quân, căn cứ yểm trợ hoả lực Alpha, phi trường Lộc Ninh và cứ điểm quân sự của Trung Ðoàn 9 Bộ Binh bị tràn ngập sau hơn hai ngày chống trả mãnh liệt. Lộc Ninh được ghi nhận hoàn toàn mất liên lạc lúc 19 gìờ ngày 07-04-1972.

Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh kịp thời nhảy vào An Lộc với hai Tiểu Ðoàn của Trung Ðoàn 8, tăng cường cho mặt phòng thủ phía Bắc Thị Xã ngày 06-04-1972 và tuyên bố tử thủ An Lộc.

Hai tiếng tử thủ lần đầu tiên được nhắc nhở nhiều lần trong chiến tranh Việt Nam qua lời tuyên bố của vị Tướng Tư Lệnh chiến trường, biểu lộ ý chí sắt đá của người chiến binh Việt Nam Cộng Hoà, quyết tâm chiến đấu để bảo vệ, gìn giữ mảnh đất quê hương.

Hai tiếng tử thủ như lời thề cùng sông núi, lời hứa hẹn với tiền nhân đã ra công dựng nước và giữ nước.

Hai tiếng tử thủ đã làm rung động con tim nhân dân miền Nam và cả nước hướng về An Lộc !

Chiếm xong Lộc Ninh, Cộng quân tiến về phía Nam và bắt đầu tấn kích An Lộc rạng sáng ngày 13-04-1972. Thực ra kể từ ngày 08-04-1972, Cộng Sản Bắc Việt đã dùng pháo binh rót vào An Lộc, Chơn Thành và Lai Khê để cầm chân sự tiếp viện của Việt Nam Cộng Hoà.

LỰC LƯỢNG TĂNG VIỆN CỦA QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ

Lực lương đầu tiên được tăng viện đến Lai Khê ngày 05-04-1972 là Lữ Ðoàn 1 Nhảy Dù do Ðại Tá Lê Quang Lưỡng chỉ huy gồm ba Tiểu Ðoàn và Pháo Đội Nhảy Dù.

Lực lượng tăng viện thứ hai là Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù do Trung Tá Phan Văn Huấn chỉ huy gồm 4 Ðại Ðội xung kích và 4 toán thám sát.

Ngoài ra, Bộ Tổng Tham Mưu Việt Nam Cộng Hoà quyết định sử dụng toàn bộ Sư Ðoàn 21 Bộ Binh từ vùng đồng bằng sông Cửu Long tăng cường cho mặt trận Bình Long, giải toả quốc lộ 13.

Ngoài quân bộ chiến nêu trên, Sư Ðoàn 5 Không Quân Việt Nam Cộng Hoà đã yểm trợ cho chiến trường từ những ngày đầu chiến sự bùng nổ tại Lộc Ninh với những phi vụ tấn công và yểm trợ xuất phát từ căn cứ không quân Biên Hoà và Tân Sơn Nhất. Hai đơn vị Không Quân của Không Lực Hoa Kỳ có mặt tại Quân Khu III Việt Nam Cộng Hoà là Lữ Ðoàn 7 Kỵ Binh Không Vận và Lữ Ðoàn 1 Không Vận cũng góp phần vào việc yểm trợ cho chiến trường Bình Long một cách đắc lực và hữu hiệu.

Với nhiệm vụ cắt đứt quốc lộ 13 ngăn cản sự tiếp viện của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà từ Lai Khê, Sư Ðoàn 7 Cộng Sản Bắc Việt được tăng cường pháo binh và phòng không tổ chức chằng chịt các vị trí phục kích, chốt chặn, chốt kiềng, giật sập cầu, phá đường mong biến quốc lộ 13 thành một sạn đạo, có đi mà không đường trở lại.

Ngày 12-04-1972, Lữ Ðoàn 1 Nhảy Dù mới đặt chân đến quận Chơn Thành sau 7 ngày chạm trán với Cộng quân để giải toả một khoảng đường không quá 30 cây số.

MỞ MÀN TRẬN CHIẾN TẠI AN LỘC

“Tiền pháo hậu xung” là một chiến pháp dùng để tấn kích một căn cứ quân sự, một đồn binh hay một trại lính có pháo đài, có công sự chiến đấu, có nhiều lớp rào kẽm gai làm chướng ngại vật và hệ thống mìn bẫy giăng mắc chung quanh.

An Lộc không phải là một căn cứ quân sự. An Lộc chỉ đơn thuần là một Thị Xã nhỏ bé, có nhà, trường học, bệnh viện và đường phố tấp nập người đi. An Lộc là một phố thị mà dân cư nhiều hơn lính chiến.

Áp dụng chiến thuật “tiền pháo hậu xung” để đánh chiếm An Lộc, Cộng Sản Bắc Việt đã hiện nguyên hình là loài quỷ đỏ điên cuồng bắn hàng ngàn quả đạn pháo 130 ly, 155 ly, súng cối 120 và hoả tiễn 122 ly vào phố thị đông người để sát hại dân lành vô tội.

Pháo! Loại đạn vòng cầu có tầm phá hủy kinh khủng nhất đã rót liên tục vào Thị Xã, ngày cũng như đêm, pháo từng hồi, từng phút, từng giờ biến An Lộc bỗng chốc trở thành hoả ngục. Nhà cửa, nhà thờ, chùa chiền, cao ốc, bệnh viện tất cả đều thay hình đổi dạng, sụp đổ hoang tàn.

Trú ẩn trong nhà cũng bị thương vong, chạy ra đường cũng chết. Sự chết đau thương và đến bất chợt theo tiếng ầm vang của pháo, theo tiếng gió rít của tầm đạn đi. Sự chết hãi hùng, chết không kịp nhắm mắt, chết không toàn thây, chết vô thừa nhận đầy dẫy khắp nơi trên đường phố. Ngay khi mưa pháo thưa dần và chấm dứt, Cộng quân tung vào trận địa Sư Ðoàn 9 và Sư Ðoàn Bình Long với sự yểm trợ của chiến xa T54.

Tuyến phòng thủ phía Tây Thị Xã do Trung Ðoàn 7 Bộ Binh đảm nhiệm và phía Ðông do Liên Ðoàn 3 Biệt Ðộng Quân án ngữ, chống trả mãnh liệt, khi thì dãn ra, lúc co cụm lại, nhưng vẫn đứng vững, trong khi tuyến phòng thủ phía Bắc do hai Tiểu Ðoàn thuộc Trung Ðoàn 8 vừa đến tăng cường đã bị chọc thủng. Ðặc công, xe tăng và quân bộ chiến Cộng Sản Bắc Việt tuôn vào thành phố như nước vỡ bờ. Ác chiến diễn ra trên thành phố, đạn bay súng nổ, thây người gục ngã, dân lành bồng bế, dìu dắt nhau bỏ chạy, chạy đi đâu để tránh thương vong… Nỗi khổ, nỗi lo và niềm hy vọng mong manh để được sống đã đến với người dân An Lộc sao quá bi thương, sao lắm đọa đầy!

Xe tăng Cộng quân rú gầm nhiều nơi trong thành phố, chạy ngang chạy dọc, tiếng xích sắt ken két nghiến trên đường tráng nhựa hoà lẫn với tiếng nổ ì ầm bắn ra từ đại bác 100 ly trên pháo tháp nhắm vào các cao ốc, và những bức tường nhà hiển hiện trên hướng tiến của chúng.

Trên bầu trời Thị Xã, Không Quân, bất chấp hiểm nguy, nhào lộn và len lỏi qua mạng lưới phòng không, tung ra những tràng đại liên và những quả bom chính xác vào vị trí giặc thù. Bom nổ làm rung chuyển thành phố như cơn địa chấn, từng cột khói đen bốc lên cao cuồn cuộn.

Giây phút nao núng ban đầu khi thấy xe tăng Cộng Sản xuất hiện tan biến nhanh chóng trong lòng những người lính tử thủ. Bây giờ đã đến lúc vùng lên bắn hạ những con quái vật đó, phải biến chúng thành những khối sắt bất động, không còn tác yêu tác quái nữa. Một đoàn 4 chiếc tăng T54 từ hướng Bắc theo đường Nguyễn Trung Trực nối đuôi nhau tiến vào phía sau khu Chợ Mới. Một anh lao công đào binh tạo được công đầu bằng một quả lựu đạn tung vào thùng xăng phụ đèo sau đuôi xe tăng T54. Lựu đạn nổ, xe tăng bốc cháy! Việt Cộng từ trong xe tăng mở nắp pháo tháp chạy thoát ra ngoài bị thanh toán ngay tại chỗ, thây nằm vất vưởng bên thành xe. Chiếc thứ hai xuất hiện sát Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 5. Ðại Tá Lê Nguyên Vỹ Tư Lệnh Phó liền bắn một quả M.72 vào chiến xa T54. Vì bắn quá sát nên đạn M.72 không nổ, chiếc T54 bỏ chạy liền bị một chiếc trực thăng Cobra từ trời cao lao mình xuống phóng liền hai trái hoả tiễn trúng chiêc tăng đi đầu nổ tung. Ba chiếc tăng còn lại lúng túng, rú gầm trên khoảng đường bề ngang quá hẹp không xoay sở được, dễ dàng biến thành mục tiêu của hoả tiễn cầm tay M.72 được phóng ra từ quân trú phòng. Bây giờ người ta mới biết sức công phá mãnh liệt của loại hoả tiễn cầm tay M.72, một loại vũ khí chống tăng lợi hại mà bấy lâu nay bị người ta coi thường. Những chiếc tăng T54 đầu tiên bị bắn hạ tạo nên sự phấn khởi dây chuyền trong hàng ngũ quân trú phòng, họ xông vào xe tăng địch như một đợt thi đua lập chiến công. Hai khẩu pháo 105 ly của Thị Xã đặt tại sân vận động cạnh đại lộ Trần Hưng Ðạo hạ nòng bắn trực xạ vào xe tăng Cộng Sản, bắn lật tung pháo tháp xuống đất, bắn đứt xích, gẫy nòng và biến chúng thành những con cua rang muối, hừng hực đỏ lửa. Ðây là hai khẩu pháo cuối cùng của An Lộc đã bắn hết đạn trước khi tắt thở. Và bắt đầu từ đó, sự yểm trợ của hoả lực cơ hữu vào Thị Xã hoàn toàn bất khiển dụng.

Trận đánh khởi đầu từ mờ sáng đến xế chiều dưới ánh nắng chói chan của mùa hè vùng nhiệt đới, dưới sức tàn phá kinh hoàng của đạn bom, mà mỗi giờ mỗi phút đi qua đều mang theo hình ảnh của sự huỷ diệt.

Sự can thiệp của Không Quân gây ít nhiều thiệt hại cho Cộng quân, nhiều chiếc xe tăng T54 bốc cháy ven rừng trước khi vào thành phố.

Ngoài ra, sự xuất hiện của pháo đài bay B.52 được coi như khắc tinh của chiến thuật biển người, đã gây nhiều nỗi khiếp đảm và làm tổn thất nặng nề cho 4 Sư Ðoàn Cộng quân đang bủa vây An Lộc.

Pháo đài bay B.52, một vũ khí chiến lược của Không Lực Hoa Kỳ phát xuất từ Thái Lan và đảo Guam đã can thiệp vào chiến trường Bình Long theo yêu cầu của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà thực hiện 17 phi vụ đánh bom, mỗi phi vụ gồm 3 phi cơ bay trên thượng tầng khí quyển mà mắt thường ít khi nhìn thấy, chỉ nghe tiếng ù ù xa xăm của động cơ mà không biết bom sẽ nổ nơi nào. Mỗi phi vụ mang 42 quả bom nặng 500 ký và 24 quả bom nặng 250 ký đồng loạt rơi xuống chính xác mục tiêu đã ấn định. Vài giây đồng hồ trước khi bom nổ, người ta phát hiện tiếng gió rít ghê rợn của hàng loạt bom đang rơi, tiếng rít gió ào ào như trận cuồng phong, như tiếng kêu của tử thần. Bom chạm mục tiêu, nổ hàng loạt, nổ từng chuỗi dài, tiếng nổ làm rung chuyển mặt đất, lửa và khói đen bốc cao, từng luồng khí nóng hừng hực toả ra với vận tốc cực nhanh, 500 thuớc bề ngang và 1,000 thước bề dài trong tầm sát hại của bom rơi, tất cả đều biến thành bình địa.

Trong trận chiến An Lộc, B.52 đã đánh bom, có khi chỉ cách tuyến phòng thủ 900 thước, theo tin tức tình báo được kiểm nhận, có cả một Trung Ðoàn Cộng quân bị biến mất trong lúc bao vây thành phố.

Sau ba ngày đêm chống trả dữ dội, khu vực phía Bắc thành phố, kể cả đồi Ðồng Long, một cao điểm chiến thuật quan trọng đã lọt vào tay giặc. Từ đồi Ðồng Long, Cộng quân quan sát và nhìn rõ mọi hoạt động trong thành phố, hơn nữa nơi dây là cao điểm lý tưởng để tổ chức các vị trí súng phòng không 12 ly 8, đại bác 23, 37 ly và hoả tiễn địa không SA-7 đã khống chế và làm giới hạn sự can thiệp của Không Quân. Tuyến phòng thủ An Lộc càng lúc càng thu hẹp dưới sức ép của pháo binh và tấn công liên tục của Cộng Sản.

Quốc lộ 13 chưa được giải toả, do đó sự tiếp viện bằng đường bộ hoàn toàn bị tê liệt. Sự yểm trợ bằng Không Quân cũng gặp khó khăn. Hơn 80% đồ tiếp liệu như đạn dược, thuốc men và thực phẩm được thực hiện bằng phương tiện thả dù đã rơi vào vùng địch kiểm soát. Những đơn vị cơ giới và pháo binh của An Lộc hoàn toàn bất khiển dụng, phân nửa lực lượng phòng thủ bị loại ra khỏi vòng chiến.

An Lộc đang hấp hối, nhưng chưa tắt thở. Trong tình trạng chiến đấu tử thủ hôn mê đó, An Lộc vẫn củng cố niềm tin vào kế hoạch giải vây sẽ được bùng nổ vào giờ thứ 25. Không, An Lộc không thể chết tức tưởi như Lộc Ninh. An Lộc cần phải được mở một nút thoát hơi để thở. Các nhà lãnh đạo quân sự Việt Nam Cộng Hoà đã khẳng định điều đó và đã dự trù một kế hoạch để đối phó trong tình huống xấu nhất xảy ra để cứu nguy An Lộc!

THEO CHÂN ÐOÀN QUÂN MA

Theo kế hoạch giải vây, hai đơn vị thiện chiến được sử dụng đến là Lữ Ðoàn 1 Nhảy Dù và Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù.

Cả hai đơn vị này đều nhảy thẳng vào An Lộc với hai nhiệm vụ khác nhau, một phía trong và một phía ngoài Thị Xã.

Lữ Ðoàn 1 Nhảy Dù sẽ quét sạch hành lang vây khốn bên ngoài chu vi phòng thủ và Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù mở đường máu đánh thẳng vào An Lộc tiếp tay với quân trú phòng bên trong, chiếm lại phân nửa thành phố đã mất.

Người ta nghĩ kế hoạch này là một ván cờ liều, một kế hoạch đánh xã láng, “thí chốt để tiến xe” và những đơn vị thi hành sẽ là những con thiêu thân bay vào ánh lửa.

Ðúng vậy, họ là những con chốt của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, những con chốt đã sang sông và đã nhập cung, trở thành một pháo đài sừng sững trước mặt quân thù.

Ngày 14-04-1972, từ Chơn Thành, Lữ Ðoàn 1 Nhảy Dù và một pháo đội được trực thăng vận vào một địa điểm cách An Lộc bốn cây số về hướng Ðông Nam.

Từ ấp Shrok Ton Cui, Tiểu Ðoàn 6 Nhảy Dù chiếm lĩnh cao điểm 176 còn được gọi là Ðồi Gió, đặt 6 khẩu 105 ly dễ yểm trợ cho Bộ Chỉ Huy Lữ Ðoàn cùng Tiểu Ðoàn 5 và 8 Nhảy Dù tiến về hướng An Lộc.

Linh động và bất ngờ là hai yếu tố quan trọng trong binh pháp được Lữ Ðoàn 1 Nhảy Dù khai thắc triệt để trong cuộc hành quân này.

Cộng quân đang bao vây An Lộc bị cú bất ngờ khi thấy lính Nhảy Dù xuất hiện phía sau. Yếu tố bất ngờ đã làm địch quân hốt hoảng, trận đánh đẫm máu nổ ra và Nhảy Dù đã chiếm ưu thế, mở được một khoảng trống trong vòng vây kín mít từ phía Ðông Nam hướng về An Lộc.

Cùng ngày 14-04-1972, trong khi Lữ Ðoàn 1 Nhảy Dù được trực thăng vận vào An Lộc, thì từ những khu rừng già vùng Tây Nam Xa Mát dọc theo biên giớì Miên Việt, Liên Ðoàn 81 đang hành quân được triệt xuất để trở về Trảng Lớn thuộc Tỉnh Tây Ninh.

Sáng ngày 16-04-1972, Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù được vận chuyển qua Lai Khê bằng trực thăng Chinook CH-46, 12 giờ trưa cùng ngày, khi kho đạn Lai Khê bị đặc công Cộng Sản phá hoại nổ tung là lúc toàn bộ 550 quân cảm tử của Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù sẵn sàng tại phi trường để được trực thăng vận vào An Lộc.

Nắng hè chói chan oi bức, ánh nắng lung linh theo cánh quạt của trực thăng tiễn đưa đoàn quân ma đi vào vùng đất cấm. Ðịa điểm đổ quân là những đám ruộng khô cằn nứt nẻ phía Tây Tỉnh lộ 245, chung quanh là những cánh rừng thưa trải dài theo hướng Tây Bắc, khoảng cách một cây số để đi đến Ðồi Gió.

Phải cần một hợp đoàn 45 chiếc trực thăng đa dụng HU1D với hai đợt đổ quân mới thực hiện xong cuộc chuyển quân, và Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù đã vào vùng hành quân lúc 4 giờ chiều ngày 16-04-1972.

Mở tần số liên lạc với Tướng Lê Văn Hưng trong An Lộc, liên lạc với Lữ Ðoàn 1 Nhảy Dù để biết vị trí quân bạn và nhanh chóng khai triển đội hình chiến đấu, di chuyển về hướng Tây, len lỏi theo đường thông thuỷ giữa hai ngọn đồi Gió và đồi 169. Âm thầm và ngậm tăm mà đi.

Một sự kiện bất ngờ không may xảy đến khi đoàn quân đang di chuyển: một quả bom của Không Quân đánh vào vị trí của Cộng quân lại rơi ngay vào đội hình di chuyển của Biệt Cách Dù, gây thương vong cho một vài binh sĩ, trong đó có Thiếu Uý Lê Ðình Chiếu Thiện. Lập tức trái khói vàng được bốc cao giữa đoàn quân để phi công nhận diện phìa dưới là quân bạn.

Phải mất một thời gian ngắn cho việc tản thương. Hai cố vấn Mỹ, Ðại Úy Huggins và Thượng Sĩ Yearta nhanh chóng liên lạc với Lữ Ðoàn 17 Kỵ Binh Không Vận Hoa Kỳ yêu cầu trực thăng cấp cứu và được thoả mãn. Ðây là hai cố vấn thuộc Lực Lượng Ðặc Biệt Hoa Kỳ vẫn còn chiến đấu bên cạnh Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù khi quân bộ chiến Mỹ đã rút lui khỏi chiến trường Việt Nam theo kế hoạch “Việt Nam hoá chiến tranh” được thi hành vào năm 1970.

Sự kiện thứ hai xảy đến là sự xuất hiện của 47 quân nhân thuộc Liên Ðoàn 3 Biệt Ðộng Quân từ đồi 169 chạy tuôn xuống, mặt mày hốc hác vì mệt mỏi và thiếu ăn, bị thất lạc và phải trốn trong rừng. Họ đi theo Biệt Cách Dù để trở lại đơn vị gốc trong An Lộc.

Vài tràng súng AK ròn rã nổ ở hướng Ðông, có lẽ địch bắn báo động. Tiếp tục di chuyển, rẽ về hướng Tây Bắc để vào rừng cao su Phú Hoà. Tiếng súng nổ liên hồi, đứt khoảng phía trước. Tiểu Ðoàn 5 Nhảy Dù đang chạm địch. Gặp Tiểu Ðoàn Trưởng Nhảy Dù, Trung Tá Hiếu cười méo miệng, nói như phân trần: “Tụi nó đông như kiến và bám sát tụi “moi” như bày đỉa đói”.

“Tụi nó đông như kiến” đã nói lên thực trạng chênh lệch lực lượng quân sự đôi bên mà phần ưu thế về phía Việt Cộng! Nhưng đã là Nhảy Dù thì phải “cố gắng”, cố gắng cho đến lúc tàn hơi. Ðã là Biệt Cách Dù thì phải chấp nhận mọi gian khổ, hy sinh cho màu cờ sắc áo của đơn vị.

Hoàng hôn phủ xuống thật nhanh, bóng tối lần lần bao trùm cảnh vật chung quanh. Súng vẫn nổ rải rác từng đợt, từng hồi trong rừng thẳm. Biệt Cách Dù tiến chiếm ấp Sóc Gòn trong im lặng và an toàn vì địch vừa rút ra khỏi đây. Lục soát, bố trí và dừng quân chung quanh ấp trong những công sự chiến đấu đã có sẵn của Việt Cộng. Bóng đêm dày đặc, im vắng, xa xa về hướng An Lộc, đạn pháo ì ầm nổ như tiếng trống cầm canh.

Sự đổ quân ồ ạt của Việt Nam Cộng Hoà về phía Ðông Nam cách An Lộc 4 cây số đồng nhịp với các phi vụ đánh bom B.52 tàn khốc về phía Tây Nam của thành phố đã làm cho Cộng quân hoang mang, hốt hoảng. Lữ Ðoàn 1 Nhảy Dù là lực đối kháng vòng ngoài để thu hút địch quân, đồng thời tạo một lỗ hổng để Biệt Cách Dù xâm nhập vào thành phố sáng ngày 17-04-1972, cùng một thời điểm của Tiểu Ðoàn 8 Nhảy Dù tiếp cận ngoại vi tuyến phòng thủ của Thị Xã về phía Nam cạnh quốc lộ 13.

Cộng quân không ngờ Biệt Cách Dù đã lọt vào Thị Xã tiếp hơi cho quân tử thủ và mở cuộc tấn kích ngay đêm đó vào các khu phố mặt Bắc. Với kỹ thuật đánh đêm điêu luyện, thần tốc, khi phân tán, khi hội tụ, Biệt Cách Dù đã giáng lên đầu Cộng quân những đòn sấm sét, đánh không có sự yểm trợ của pháo binh hay bất cứ một loại vũ khí vòng cầu nào, đánh bằng súng cá nhân, bằng lựu đạn, đánh cận chiến bằng lưỡi lê. Ðánh nhau từng căn nhà, từng cao ốc đổ vỡ, chiếm lại từng con đường, từng khu phố trong đêm dài dường như bất tận.

Sáng ngày 18-04-1972, Biệt Cách Dù đã có mặt hầu hết trong các khu phố phía Bắc Thị Xã và giải thoát gần 100 gia đình cư dân còn kẹt lại trong vùng kiểm soát của Cộng Sản.

Từ các căn nhà sụp đổ bên vệ đường, từng toán Việt Cộng tuôn ra tháo chạy thục mạng về hướng Bắc, vì chúng bị đánh phủ đầu ban đêm, sáng ra nhìn chung quanh nơi nào cũng thấy “lính rằn ri”, loại lính đã hơn một lần chặn đánh chúng trên đường Trường Sơn heo hút mưa bay.

Mặc dù đã chiếm lại toàn bộ khu vực phía Bắc, nhưng vẫn còn một ổ kháng cự mà Cộng quân vẫn cố thủ bên trong, đó là đồn Cảnh Sát Dã Chiến. Biệt Cách Dù tấn công nhiều đợt nhưng vẫn chưa vào được. Hơn nữa, từ đồi Ðồng Long, Việt Cộng dùng đại bác 57 ly, sơn pháo 75 ly và súng không giật 82 ly bắn trực xạ vào Biệt Cách Dù để yêm trợ cho bọn chúng cố thủ bên trong đồn. Cố vấn Huggins của Biệt Cách Dù vào ngay tần số của Lữ Ðoàn 1 Không Quân Hoa Kỳ xin yểm trợ hoả lực. Hai chiếc phi cơ AC.130 Spector bay lượn trên vùng trời An Lộc với cao độ ngoài tầm sát hại của cao xạ và hoả tiễn địa không SA7, bắn từng quả đạn 105 ly hoặc từng loạt 3 quả đạn 40 ly vào mục tiêu yêu cầu được điều chỉnh từ dưới dất. Cuối cùng đồn Cảnh Sát lọt vào tay Biệt Cách Dù vào lúc 4 giờ chiều. Phần nửa thành phố phía Bắc được chiếm lại sau gần 24 tiếng đồng hồ chiến đấu liên tục. Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù yêu cầu Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh điều động quân bạn hai bên cạnh sườn cùng tiến lên ngang hàng với quân Biệt Cách Dù. Sự yêu cầu không được đáp ứng, vì quân số của quân trú phòng đã hao hụt và bất khiển dụng quá nhiều, do đó cạnh sườn của Biệt Cách Dù bị bỏ trống. Lợi dụng sơ hở này, Cộng quân phản công mãnh liệt bằng hai mũi tấn công, mũi thứ nhất đánh trực diện từ hướng đồi Ðồng Long có sự yểm trợ của cối 61 ly, cối 82 ly và sơn pháo 75 ly, mũi thứ hai từ phía Tây đánh thốc vào ngang sườn với quân số khá đông. Trước tình huống phải đối đầu phía trước mặt và phía ngang hông, Biệt Cách Dù phải rút quân về phía khu chợ Mới, tuy nhiên vẫn còn để lại một Ðại Ðội cố thủ trong đồn cảnh sát.

Ðồn cảnh sát đương nhiên trở thành một tiền đồn án ngữ lẻ loi phía Bắc Thị Xã, một tiền đồn bất đắc dĩ mà không thể nào bỏ trống được, và nơi đây là một cái gai mà Cộng quân bằng mọi cách phải nhổ đi, do đó muốn duy trì vị trí chiến thuật quan trọng đó, phải đổ máu rất nhiều. Biệt Cách Dù chấp nhận sự lựa chọn này để giữ vững tiền đồn suốt một thời gian dài.

Sự tham chiến của Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù đã làm cho An Lộc hồi sinh sau cơn mê dài hấp hối, và sự có mặt của Biệt Cách Dù đã mở màn cho những trận đánh ác liệt xảy ra trong lòng Thị Xã.

Ðêm 19-04-1972 Cộng quân sử dụng Trung Ðoàn 141 và Trung Ðoàn 275 có xe tăng yểm trợ tấn công Ðồi Gió sau khi rót vào vị trí này hàng ngàn quả đạn pháo, tiêu diệt 6 khẩu pháo 105 duy nhất của pháo đội Nhảy Dù và tràn ngập Tiểu Ðoàn 6 Nhảy Dù của Trung Tá Ðĩnh đang án ngữ tại đây, đồng thời pháo kích dữ dội vào An Lộc để chuẩn bị cho hai mũi tấn công từ hướng Tây và hướng Bắc thành phố. Trận đánh kéo dài suốt đêm, tuyến phòng thủ vẫn đứng vững trước chiến thuật biển người của Cộng Sản. Riêng khu Bắc Thị Xã, Biệt Cách Dù và Cộng quân giao tranh ác liệt, có khi chỉ cách nhau một con đường bề ngang 4 thước trong tầm ném tay của lựu đạn.

Mất đồi Gió, một cao điểm quan trọng nằm bên ngoài phạm vi phòng thủ với 6 khẩu pháo 105 ly còn lại duy nhất để yểm trợ, An Lộc càng lúc càng thấy cô đơn trong mênh mông bão lửa. Môt số quân của Tiểu Ðoàn 6 Nhảy Dù do Trung Tá Ðĩnh chỉ huy chạy thoát về sông Bé hướng Ðông, và được trực thăng cứu cấp bốc về Lai Khê tái huấn luyện và bồ sung quân số chờ ngày phục hận.

Cuộc chiến giảm dần cường độ vì sự thiệt hại của hai bên công – thủ.

Bên ngoài phạm vi phòng thủ, Lữ Ðoàn 1 Nhảy Dù đã là một thành đồng vững chắc án ngữ mặt Ðông Nam, bên trong thành phố, Biệt Cách Dù mở cuộc tấn công đêm liên tục, đánh phá những vị trí Cộng quân chiếm giữ, làm cho chúng ăn không ngon, ngủ không yên. Ngoài ra sự oanh tạc của B.52 gần An Lộc đã gây tổn thất rất nhiều cho địch quân, tuy nhiên mức độ pháo kích của Cộng quân vẫn đều đặn rót vào An Lộc khoảng 2,000 quả đạn mỗi ngày.

Bên phố chợ, người dân ngậm ngùi nhìn thấy những nấm mồ của tử sĩ Biệt Cách Dù mỗi ngày một nhiều hơn. Họ đánh nhau hằng đêm và hì hục chôn xác bạn bè hằng đêm trong mưa pháo tuôn rơi, khi mặt trời chưa thức giấc. Sống, chiến đấu bên nhau trong cuộc hành trình gian khổ để tiêu diệt quân thù trên khắp nẻo đường đất nước, lòng thuỷ chung và tinh chiến hữu keo sơn chan hoà thắm thiết khi có người nằm xuống, vĩnh viễn ra đi. Hình ảnh nghĩa trang Biệt Cách Dù đã nói lên điều đó.

AN LỘC, CHIẾN TRƯỜNG ÐI KHÔNG HẸN

Theo lời cung khai và thú nhận của tù hàng binh Cộng Sản mà Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà bắt được, có ba thứ mà cán binh Cộng Sản lo sợ khi vượt Trường Sơn để xâm nhập vào lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà. Thứ nhất là B.52, thứ nhì là Biệt Kích số 81, và thứ ba là chạm súng với quân Nhảy Dù. Cả ba thứ đó đều hiện hữu và có mặt tại chiến trường An Lộc.

Liên Ðoàn Biệt Cách Nhảy Dù, dân Miền Nam thường gọi tắt là Biệt Cách Dù, Việt Cộng gọi là Biệt Kích số 81, thực ra là đơn vị Tổng Trừ Bị của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, với quân số khiêm nhường trên bảng cấp số là 916 người, được đào tạo và huấn luyện thuần thục về chiến thuật phản du kích trong chiến tranh ngoại lệ, nhảy toán, thám sát, đột kích, bắt cóc tù binh, đánh phá vào các cơ sở hậu cần của địch. Nhảy vào lòng đất địch để chiến dấu bằng phương tiện nhảy dù, nhưng phần lớn bằng trực thăng vận, âm thầm hoạt động trong vùng khu chiến, cách biệt xa tầm yểm trợ của pháo binh. Bước chân của người chiến binh Biệt Cách Dù đã lần lượt đi qua các chiến trường sôi động một thời vang danh quân sử.

Từ Làng Vei, A Sao, A Lưới, Tà Bạt, Khe Sanh, Lao Bảo quanh năm sương mờ bao phủ của vùng biên giới Việt Lào, vượt lên phương Bắc hoả tuyến với Mai Lộc, Cam Lộ, Ðông Hà, Quảng Trị và xuôi về vùng núi rừng cận duyên của Tam Quan, Bình Ðịnh, Bồng Sơn, An Lão. Ði miệt mài, hành quân không ngơi nghỉ để về Tây Nguyên với Boloven hùng vĩ, đổ xuống Tam Biên, đi Tân Cảnh, Diên Bình và tạm dừng chân, nâng chén quan hà bên bờ sông Dakbla nước chảy ngược dòng của chiến trường Kontum mịt mờ bụi đỏ. Tây Ninh nắng cháy nung người không làm nao lòng chiến sĩ, Bình Giả, Ðồng Xoài nặc nồng mùi tử khí. Khi chiến trường im tiếng xung phong thì bước chân của người chiến binh Biệt Cách Dù vẫn còn dong ruổi trong cuộc hành trình vô định.

Vào An Lộc, chiến trường nặng độ với trung bình mỗi ngày hơn hai ngàn đạn pháo, chiến trường cô đơn khi tổn thất của quân tử thủ mỗi lúc một gia tăng, đánh đêm đánh ngày, dằng dai khi công, khi thủ ròng rã kéo dài suốt tháng.

Cứ mỗi lần Cộng quân gia tăng cường độ pháo kích vào thành phố là để chuẩn bị cho cuộc tấn công bằng bộ binh ngay sau đó.

Ðêm 04-05-1972, Cộng quân ồ ạt tấn công vào phòng tuyến phía của Biệt Cách Dù.

Ở thế công thì dù sao cũng có ít nhiều sơ hở nhưng khi Biệt Cách Dù ở vào thế thủ thì một con kiến cũng khó lọt qua. Lựu đạn, mìn thi nhau nổ, AK, súng máy rít vang trời. Trận đánh kéo dài đến sáng tỏ trời. Xác địch nằm la liệt, ngổn ngang bên ngoài phòng tuyến. Lần đầu tiên trong trận địa chiến, Biệt Cách Dù tịch thu được 2 khẩu súng phun lửa do Trung Cộng sàn xuất. Trong túi áo của mỗi xác chết đề có mang theo một mảnh giấy nhỏ bề ngang 5 phân, bề dài 20 phân với câu viết ngắn gọn :”Quyết tâm bắt sống Sư Trưởng Sư Ðoàn 5, dựng cờ chiến thắng”. Thì ra bọn này có học tập trước khi lao mình vào tử địa.

Ngày 10-05-1972, Cộng quân bắt đầu pháo kích dữ dội từ 5 giờ sáng, pháo liên tục dòng rã suốt ngày. Người ta đếm có hơn 8,000 quả đạn pháo rơi xuống thành phố. Nhà cửa đã hoang tàn lại thêm hoang tàn. Người ta tiên liệu một cuộc tấn công lớn của Cộng quân sắp xảy ra và trận đánh lớn nổ tung lúc 5 giờ sáng ngày 11-05-1972 với toàn bộ lực lượng còn lại của 4 Sư Ðoàn đang vây hãm An Lộc.

Ðịch ồ ạt tiến vào thành phố từ nhiều phía. Tuyến phòng thủ phía Ðông Bắc của Biệt Ðộng Quân bị thủng, một số Cộng quân lọt vào Ty Chiêu Hồi. Xe tăng T54 xuất hiện nhiều nơi trong thành phố, có chiếc tiến lại gần bản doanh tử thủ của Tướng Lê Văn Hưng và bị bắn cháy. Xe tăng và quân bộ chiến của Cộng Quân bị chặn đứng tại phòng tuyến của Biệt Cách Dù. Trời sáng tỏ và trận đánh trở nên ác liệt. Phòng tuyến phía Tây của Trung Ðoàn 7 Bộ Binh bị thủng và co cụm lại thành từng ổ kháng cự chung quanh Tiểu Khu. Không Quân can thiệp kịp thời, dội bom bên ngoài, bắn phá bên trong thành phố. Xe tăng của Cộng Sản và bộ đội không phối hợp chặt chẽ với nhau khi tấn công vào thành phố, do đó nhiều chiếc xe tăng chạy lạc đường, bị lẻ loi, dễ bị tiêu diệt. Quân trú phòng nhảy ra khỏi vị trí chiến đấu để săn đuổi xe tăng như thợ săn đang săn đuổi con mồi. Ðây là lần thứ hai xe tăng địch đã vào thành phố để biến thành những khối sắt bất động. Ðơn vị nào cũng bắn cháy được xe tăng, kể cả một số ít Ðịa Phương Quân còn lại cũng hăm hở diệt tăng với khẩu M.72 lần đầu tiên được sử dụng. Trận đánh tàn dần lúc 3 giờ chiều với sự thiệt hại nặng nề của Cộng quân. Người ta đếm được 40 xác chiếc xe tăng rải rác đó đây trong thành phố và ngoài tuyến phòng thủ, không kể đến hàng loạt thi thể không toàn vẹn của những người lính đến từ phương Bắc xa xôi. Tuy nhiên An Lộc vẫn còn nằm trong khả năng pháo kích ngày đêm của Cộng Sản, An Lộc vẫn còn chịu ảnh hưởng nặng nề của lực lượng bao vây khi quốc lộ 13 chưa được giải toả.

Sư Ðoàn 21 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà với nhiệm vụ giải toả quốc lộ 13, mặc dù tiến quân chậm và vững chắc cũng bị thiệt hại nhiều.

Tiểu Ðoàn 6 Nhảy Dù đã lấy lại sinh lực sau lần thất bại tại Ðồi Gió đã trở lại tham chiến, và là đơn vị đầu tiên của lực lượng giải toả tiến về An Lộc sau bao trận đánh phục thù ven quốc lộ 13.

Ngày 08 tháng 06 năm 1972 lúc 5 giờ chiều, Tiểu Ðoàn 6 Nhảy Dù đến Xa Cam bắt tay vói Tiểu Ðoàn 8 Nhảy Dù do Trung Tá Ðào Thiện Tuyển đang án ngữ tại đây. Xa Cam, cửa ải địa đầu cực Nam An Lộc, khoảng 2 cây số nằm ven quốc lộ 13, một đồn điền với rừng cao su ngang dọc thẳng tắp đã trở thành chiến địa mà Tiểu Ðoàn 8 Nhảy Dù “nhất kiếm trấn ải” tung hoành trong suốt thời gian gần hai tháng để chiến đấu sống còn với lực lượng địch quân có quân số và hoả lực đông và mạnh gấp nhiều lần.

Cái bắt tay của Tiểu Ðoàn 6 Nhảy Dù với Tiểu Ðoàn 8 Nhảy Dù như một tiếng sấm vang trời trong cơn mưa tầm tã báo hiệu trời quang mây tạnh sẽ đến. Những người lính Nhảy Dù truyền hơi ấm cho nhau, mỉm cười với ánh mắt long lanh tin tưởng vào ngày tàn của Cộng quân trong chiến trường An Lộc.

Ngày 10 tháng 06 năm 1972, Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù tung toàn bộ lực lượng quét sạch tất cả các ở kháng cự của Cộng quân trong các khu phố phía Bắc Thị Xã, bắt được một tù binh đang thúc thủ dưới hầm sâu. Ðây là một tên bộ đội thuộc Sư Ðoàn 5 Cộng Sản Bắc Việt, sau hơn 6 tháng vượt Trường Sơn để bổ sung cho chiến trường với nhiệm vụ “anh nuôi”. Anh nuôi là tiếng của Việt Cộng dùng để chỉ những tên lính chuyên lo việc bếp núc, nấu ăn cho đơn vị. Gương mặt hốc hác vì hoảng sợ, nước da xanh như tầu lá vì thiếu ánh nắng mặt trời và tay chân hơi run rẩy vì thiếu ăn, Tên bộ đội lắp bắp khai: “Ðơn vị hết người chiến đấu vì bị chết quá nhiều, cho nên Thủ Trưởng bắt buộc em cầm súng ra trận. Em chưa bắn một phát nào, đến đây đã được ba ngày cứ lo đào hầm để tránh bom”. Lời cung khai của tên bộ đội khoảng 18 tuổi với gương mặt non choẹt còn phơn phớt nét thơ ngây của tuổi học trò đã nói lên tình trạng tổn thất bi đát của lực lượng Cộng quân sau gần 2 tháng bao vây và tấn công mà không chiếm nổi An Lộc.

Ngày 12 tháng 06 năm 1972, Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù tái chiếm đồi Ðồng Long, một cao điểm quan trọng nằm sừng sững phía Bắc, cách An Lộc khoảng 500 thước.

Lực lượng tấn công tái chiếm đồi Ðồng Long gồm Ðại Ðội 2 Xung Kích do Ðại Úy Nguyễn Sơn chỉ huy, Ðại Ðội 3 Xung Kích do Ðại Úy Phạm Châu Tài chỉ huy, và 4 toán Thám Sát do Trung Úy Lê Văn Lợi chỉ huy. Biệt Cách Dù chia làm 3 mũi, bọc trái, bọc phải và chính diện hưóng về mục tiêu trước mặt có cao độ 128 thước. Họ xuất quân và đến lưng chừng đồi lúc nửa đêm, đồng loạt xung phong khi hừng đông vừa ló dạng chân trời. Bị đánh bất ngờ và vô cùng táo bạo, lựu đạn tung vào hầm trú ẩn, đạn bắn xối xả vào công sự chiến đấu, những tiếng hét xung phong vang dội một góc trời. Ðịch quân chủ quan và còn mê mệt trong tình trạng ngái ngủ, trở tay không kịp, hoảng hốt bỏ chạy không có thì giờ xỏ chân vào đôi dép râu, nói chi cầm đến khẩu súng để chống trả.

Một số chạy thoát vào rừng để lại sau lưng chiến địa còn nặng mùi khói súng với nhiều xác chết vương vãi đó đây.

Ðột kích là phương pháp tấn công vô cùng táo bạo, đánh nhanh, đánh mạnh với hoả lực tập trung tối đa được Biệt Cách Dù áp dụng trong thời điểm bất ngờ nhất làm cho địch không có thì giờ xoay trở.

Trung Úy Lê Văn Lợi hãnh diện cắm lá Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hoà trên đỉnh đồi Ðồng Long.

Quốc Kỳ rực rỡ căng gió phất phới bay trên nền trời xanh biếc của mùa hè vùng bão lửa. Ðám mây mờ bao phủ vùng trời An Lộc bấy lâu nay lần lần tan biến. Trung Tá Phan Văn Huấn, con chim đầu đàn của Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù, vào tần số liên lạc với các cánh quân Biệt Cách Dù đang có mặt trên đỉnh đồi Ðồng Long, giọng cảm động, ông nói : ”Chúng ta đã chu toàn nhiệm vụ cao cả nhất mà quân đội đã giao phó, nhiệm vụ phải trả bằng xương máu của các anh em, của các tử sĩ Biệt Cách Dù đã nằm xuống. Tôi thành thật ca ngợi lòng dũng cảm của anh em trong chiến tích hôm nay”.

Chiếm xong đồi Ðồng Long, Biệt Cách Dù truy kích, lục xoát xung quanh, và phát hiện một căn hầm sâu ven rừng, có tiếng động khả nghi bên trong. Tất cả họng súng đen ngòm hướng vào miệng hầm chờ đợi như con hổ rình mồi. Có tiếng hét lớn từ trong đám lính:

– Chui ra ngay, đầu hàng ngay, tao tung lựu đạn vào chết cả đám bây giờ!

– Khoan, dừng tay, coi chừng bắn lầm vào dân! Tiếng nói khẩn cấp của người chỉ huy từ xa vọng lại. Tất cả đều chờ đợi. Bước lại gần miệng hầm, người chỉ huy nói to:

– Chúng tôi là lính Việt Nam Cộng Hoà. Ai trốn trong hầm thì chui ra mau.

Câu nói được lập lại lần thứ hai. Có tiếng thút thít bên trong hầm vọng ra.

– Ra đi, chui ra đi, không sao đâu!

Tiếng người lính thúc dục. Tiếng động bên trong rõ dần. Những ánh mắt long lanh của những chiến binh Biệt Cách Dù chùng xuống khi thấy hai em bé gái 9, 10 tuổi lê lết tấm thân tàn, chậm rãi bò ra khỏi căn hầm trú ẩn.

– Trời ơi! Hai đứa bé gái! Ba má các em đâu, sao lại như thế này? Còn ai trong đó không?

Người chỉ huy nắc nghẹn giọng nói. Hai em bé mặt mũi lem luốc, mắt mờ đẵm lệ, thân mình khô đét như hai bộ xương biết cử động, chỉ lắc đầu sau những câu hỏi dịu dàng của người chỉ huy Biệt Cách Dù. Hai em bé đã tránh bom đạn trong căn hầm này bao lâu rồi, một tháng, hai tháng, lấy gì ăn để sống đến nỗi thân thể phải xác xơ như thế này!

Ôi chiến tranh! Chiến tranh tàn khốc mà người Cộng Sản đã mang đến cho dân tộc mình như thế đó.

AN LỘC ÐỊA SỬ LƯU CHIẾN TÍCH

Kể từ ngày cắm lá Quốc Kỳ trên đỉnh Ðồng Long, Biệt Cách Dù bung ra khỏi thành phố và án ngữ trong các khu rừng phía Bắc An Lộc. Thành phố tuy sạch bóng quân thù, nhưng mức độ pháo kích vẫn còn rời rạc, vô chừng.

An Lộc đã được giải toả trong điêu tàn và đổ vỡ! An Lộc sụp đổ hoang tàn trong cái hình hài đấy vết đạn bom, nhưng An Lộc đã đi vào huyền thoại của những người tử thủ.

 “An Lộc địa sử ghi chiến tích,

Biệt Cách Dù vị quốc vong thân”

Trong hoang tàn và đổ vỡ của một thành phố đã chịu đựng sức tàn phá hãi hùng của đạn bom, hai câu thơ của cô giáo Pha được Biệt Cách Dù cứu thoát khi bị thương, được khắc trên đài tưởng niệm trước nghĩa trang bên phố chợ đìu hiu, mà trong đó 68 nấm mồ của tử sĩ Biệt Cách Dù được chôn vội vã từng đêm khi chiến trận tàn khốc xảy ra đã làm mủi lòng dân cả nước với lòng ngưỡng mộ và niềm xúc cảm vô biên.

Sau khi đồi Ðồng Long được tái chiếm, thành phố An Lộc xem như được giải toả, Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, Tư Lệnh Quân Ðoàn 3 lần đầu tiên đến thăm An Lộc và Trung Tá Phan Văn Huấn, Chỉ Huy Trưởng Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù, là người đầu tiên được vinh thăng Ðại Tá tại mặt trận. Tác giả Sao Bắc Ðẩu, trong cuốn “Một ngày trong An Lộc”, trang 296 và 297 đã ghi lại việc thăng cấp như sau:

“Một ông Ðại Tá mặt trận"

Trung Tướng Minh cẩn thận giải thích rằng không phải chỉ riêng Trung Tá Huấn, Chỉ Huy Trưởng Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù là có công, là xứng đáng được tặng thưởng. Sở dĩ ông cẩn thận như vậy là ngại có người sẽ hỏi: “Tại sao chỉ một mình Trung Tá Huấn được thăng cấp tại mặt trận?”. Tướng Minh cẩn thận như vậy cũng phải, nhưng trên thực tế, không ai có ý phân bì với tân Ðại Tá Huấn cả. Những người lính Biệt Cách của ông đã chiến đấu hơn một người lính và đã giúp đỡ dân chúng hơn một cán bộ Chiến Tranh Chính Trị.

Chính một binh sĩ của Tiểu Ðoàn 2 Nhảy Dù đã xác nhận với chúng tôi rằng đó là “những người lính tuyệt”. Một người khác kể lại rằng nếu không gặp lính Biệt Cách thì hai đứa trẻ nằm trong hầm 70 ngày đã chết vì lựu đạn. Anh này khẳng định:

– Miệng hầm trông khả nghi lắm. Lại nghe văng vẳng có tiếng động. Gặp người nhát là phải tung lựu đạn trước khi xuống.

Nhưng những anh Biệt Cách của Ðại Tá Huấn đã không tung lựu đạn xuống. Họ kiên nhẫn nằm trên miệng hố rình rập vì họ nghĩ rằng dù có lính Bắc Việt phía dưới thì những người này cũng đói lả không còn sức kháng cự nữa. Cuối cùng họ đã cứu sống được hai em nhỏ, nạn nhân chiến cuộc.

Tôi hỏi vị Ðại Tá tân thăng:

– Người ta nóí với chúng tôi rằng dân chúng An Lộc lập một nghĩa trang riêng để chôn những tử sĩ của Ðại Tá. Xin Ðại Tá cho chúng tôi hiểu rõ vì lý do nào, ngưòi lính Biệt Cách lại có một tác phong đặc biệt đối với dân chúng như vậy?

– Tôi thiết tưởng điều này cũng dễ hiểu. Anh nghĩ coi, từ trước đến nay, lính Biệt Cách chúng tôi chỉ nhảy từng toán 5 người vào tác chiến sau lưng địch. Nói một cách khác, chúng tôi đã quen sống với thái độ thù địch của dân chúng trong vùng chiến đấu. Ðây là lần đầu tiên chúng tôi là bạn chứ không phải là thù, dân chúng giúp đỡ chứ không chống lại chúng tôi”.

Biệt Cách Dù nhảy vào An Lộc ngày 16-04-1972 và rời khỏi An Lộc ngày 24-06-1972. Tính ra đúng 68 ngày tham chiến.

68 ngày tử chiến với 68 Biệt Cách Dù hy sinh và trên 300 bị thương, trong mưa pháo kinh hoàng, ngày cũng như đêm không tròn giấc ngủ, đục tường, khoét vách, đào hầm để giành lại từng tấc dất trong tay quân thù. Chiến đấu trong từng căn nhà, từng khu phố, từng đoạn đường lỗ chỗ hố bom, vùng lên diệt xe tăng cũng như đồng loạt truy kích khi địch đã tàn hơi, và cuối cùng cắm lá Quốc Kỳ trên đỉnh Ðồng Long tượng trưng cho sự chiến thắng, hình ảnh người chiến binh Biệt Cách Dù mãi mãi sống trong tâm hồn người dân An Lộc, hình ảnh dũng cảm, can trường biểu tượng cho sự chịu đựng bền bỉ, sức chiến đấu hào hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.

 48 giờ sau khi rời khỏi chíến trường An Lộc, ngày 26-06-1972, Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù đã có mặt tại miền hoả tuyến để tham gia chiến dịch “ba tháng vùng lên tái chiếm Quảng Trị”. Còn giặc thù, còn chiến trường, người chiến binh Biệt Cách Dù vẫn còn xông pha tiến bước, dù một lần sảy chân nằm yên trong nghĩa trang hiu quạnh thì đó cũng là một điều vinh quang cho người chiến sĩ để báo đền ơn Tổ Quốc.

Hổ Xám PHẠM CHÂU TÀI (LĐ 81 BCD)

Quý đồng hương & quý Chiến Hữu  vừa theo dõi bài ký sự của cựu Thiếu Tá "Hổ Xám" Phạm Châu Tài thuộc Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù. Bài này trích từ quyển sử liệu "Chiến Thắng An Lộc 1972" với Chủ Biên là cựu Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Bình Tuy Nguyễn Ngọc Ánh (nguyên Phụ Tá Trung Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn 3 Quân Khu 3 đặc trách chiến trường An-Lộc & ngoại biên). Hiện An-Lộc Foundation đang thu thập thêm tài liệu, để cùng vài Nhà Báo Hoa Kỳ chuyển qua Anh Ngữ bộ sử liệu giá trị này, và sẽ chính thức đưa vào Dòng Quân Sử Thế Giới trong một ngày gần đây. Quý Vị muốn nhận quyển sử liệu Việt Ngữ dầy hơn 500 trang “Chiến Thắng An Lộc 1972”  dưới dạng CD gởi tận nhà, vui lòng gởi bưu phí 5 Mỹ kim (nếu ngụ tại Hoa Kỳ, các quốc gia khác gởi 10 Mỹ kim), ghi rõ: SRBS-HD Radio P.O.Box 18104 Seattle, WA 98118 USA; email: anlocfoundation@gmail.com .