Tiến trình bị mất đất

Tiến trình bị mất đất

VietCatholic News (12 Aug 2009 03:41)
Chúng ta nhớ lại, nhân dịp Đại Hội Đảng Toàn Quân từ ngày 3 đến 11.1.2001, Lê Đức Anh đã đứng lên tố Lê Khả Phiêu 10 tội, trong đó có một tội rất quan trọng là “Bán đất, bán biển cho Trung Quốc” trong chuyến đi Trung Quốc chầu Giang Trạch Dân. Người đầu tiên đưa sự tố cáo này ra công luận là Đỗ Việt Sơn, một đảng viên đảng CSVN về hưu và có lẽ là đàn em của Lê Đức Anh. Sau đó, Luật sư Lê Chí Quang viết bài “Hãy cảnh giác Bắc Triều” nói rõ rằng phần đất bị “bán” là 720 cây số vuông. Nguyễn Chí Trung, thư ký của Lê Khả Phiêu, nói với báo chí rằng Lê Khả Phiêu là “nạn nhân của những âm mưu đánh phá của 3 vị cố vấn là các ông Đỗ Mười, Lê Đức Anh và Võ Văn Kiệt.”

Dĩ nhiên, nhóm Lê Khả Phiêu phải phản pháo. Lê Khả Phiêu và Nông Đức Mạnh đã cho Thượng Tướng Nguyễn Nam Khánh dùng tài liệu vụ án chính trị T-4 tại Tổng Cục II thuộc Bộ Quốc Phòng để chơi lại nhóm Lê Đức Anh.

Khởi sự từ đó, một phong trào tố đảng CSVN làm mất đất mất biển được phát động ở hải ngoại, nhưng người Việt chống Cộng không dùng những chữ “Bán đất, bán biển cho Trung Quốc” của Lê Đức Anh, mà đổi thành “Dâng đất dâng biển cho Trung Quốc” . Chiến dịch này đã trở nên rầm rộ khi Trung Quốc thành lập huyện Tam Sa thưộc tỉnh Hải Nam bao gồm cả hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, sau đó phong toả Biển Đông.

Thật ra, người Việt đã bị Tàu cướp đất dài dài trong tiến trình lịch sử, bắt đầu từ thời mới lập quốc cho đến ngày nay, do đó người Việt phải tiến dần xuống phía Nam. Tuy nhiên, cha ông chúng ta cũng đã chiếm đất của Lâm Ấp, Chiêm Thành và Chân Lạp để lập thành một nước mới.

Trong bài này chúng tôi chỉ nói về tiến trình bị mất đất trong lịch sử. Trong bài sau, chúng tôi sẽ bàn đến chuyện đòi đất của tiền nhân để rút kinh nghiệm.

BÀI HỌC LỊCH SỬ?

Chúng tôi xin nhắc lại, trong cuộc phỏng vấn của đài RFA ngày 24.7.2009 về đề tài “Việt Nam cần làm gì trước thái độ lấn lướt của Trung Quốc?” , Giáo sư Trần Văn Đoàn dạy học ỏ Đại Học Quốc Lập Đài Loan có nêu lên hai đề nghị: (1) Đọc lại bài học của tất cả những triều đại Việt Nam. Cái gì đã mất rồi thì không bao giờ đòi lại được. (2) Cách hay nhất, cái chiến lược của mình là làm thế nào để không mất đất nữa mà thôi.

Ông nói rõ: “Tôi không nói để bảo vệ nhà nước Việt Nam…”

Nhưng với nhiều người Việt chống cộng ở hải ngoại, đề nghị này rất khó nghe. Lý do thứ nhất: Người Tàu có “Tam thập lục kế” (với người Tàu, con số 36 có nghĩa là nhiều lắm), nhưng một số người Việt đấu tranh ở hải ngoại chủ trương chỉ có “biểu dương khí thế” là thượng sách, không cần biết kết quả như thế nào. Mọi kế khác gần như không được chấp nhận. Như vậy học sử để làm gì? Lý do thứ hai: Sử đâu mà học?

Trong bài Tựa của bộ “Việt Nam Sử Lược” , cụ Trần Trọng Kim (1882 – 1953) có than phiền: “Sử mình đã không hay, mà người mình lại không mấy người biết sử. Là vì cách học tập của mình làm cho người mình không có thể biết được sử của mình” .

Bài Tựa này được viết vào năm 1919, khi bộ “Việt Nam Sử Lược” lần đầu tiên được xuất bản, nhưng đến nay vẫn còn đúng. Không những thế, một số “sử gia” đời nay khi viết sử, thường không dựa theo chính sử như cụ Trần Trọng Kim, mà chỉ ghi lại những phần mình thích, bỏ đi những phần bị coi là mất “khí thế” hay không oai hùng, biến hoá nhiều đoạn và thêm huyền thoại vào làm cho sử không còn là thực sử nữa! Một vài thí dụ cụ thể:

(1) Khi viết về vua Lê Lợi đánh thắng giặc Minh, các “sử gia” ta chỉ ghi lại “Bình Ngô Đại Cáo” và giấu đi tờ biểu thê thảm mà Lê Lợi dâng lên vua Minh xin phong vương. Trong vụ Nguyễn Huệ đánh thắng quân Thanh, các “sử gia” ta cũng chỉ ghi lại “Hịch Đánh Trịnh” của Nguyễn Hữu Chỉnh và “Hịch Gọi Đò” của Nguyễn Huệ, còn tờ biểu được Nguyễn Huệ dưng lên vua Thanh năn nỉ xin ban sắc phong được coi như không có. Họ cho rằng những tở biểu đó làm mất “khí thế” nên phải loại ra khỏi sử, không nên cho con cháu đọc.

(2) Thiền sư Lê Mạnh Thát đã sửa lại sử, cho rằng không có chuyện Bắc Thuộc lần thứ nhất và Mã Viện đem quân đánh hai Bà Trưng. Trái lại, các đời vua Hùng Vương đã kéo dài ra đến sau Công Nguyên, tức đến khi Phật giáo được truyền vào đất Việt! Việc sửa sử này nhắm mục tiêu chứng minh: “Phật giáo là dân tộc” vì đã du nhập vào Việt Nam từ đời Hùng Vương!

Pháp nạn kinh hoàng (gần như làm cỏ) mà Nguyễn Huệ đã gây ra cho Phật Giáo để có phương tiện tiến đánh quân Thanh, không được
ai ghi lại một vài dòng, kể cả các “sử gia” Phật Giáo! Họ chỉ nói đến “Pháp nạn” dưới thời Ngô Đình Diệm!

(3) Tàu xây Ải Nam Quan như thế nào và các diễn biến về sau ra sao, đã được ghi rất tỉ mỉ trong chính sử của Tàu cũng như của ta. Công Ước Thiên Tân ngày 9.6.1885 giữa Pháp và Trung Hoa và các văn kiện đính theo đã gọi Ải Nam Quan là “Porte de Chine” (cửa của Trung Hoa) và vẽ nó nằm trên đất Trung Hoa. Ấy thế mà để “tố cộng”, các “sử gia” và các chiến sĩ chống cộng đã coi những văn kiện lịch sử và pháp lý đó như không có, cùng nhau ngồi “khóc Nam Quan”! Có “đại sử gia” còn biến hoá Ải Nam Quan ra hai phần, một phần nói là của Tàu và một phần nói là của ta, để cho “hợp với lòng dân”!

Bây giờ người Việt ở trong cũng như ngoài nước, gần như nhà nào cũng xem phim Đại Hàn, trong đó có nhiều phim lịch sử, chẳng hạn như Thời Đại Anh Hùng, Những Ngày Đen Tối, Jumong, Bài Ca Sơ Đông, Đại Hiệp Sĩ, v.v. Qua các bộ phim này, chúng ta thấy người Đại Hàn đã diễn tả rất trung thực lịch sử của họ: thời kỳ nào cường, thời kỳ nào nhược, những sự rối loại trong cung đình, những thủ đoạn gian ác áp chế dân lành của các quan lại phong kiến, những phương thức mà cha ông họ đã dùng để chống ngoại xâm… Nhờ diễn tả lịch sử một cách trung thực như vậy, người Đại Hàn ngày nay đã rút được kinh nghiệm lịch sử để xây dựng một đất nước Đại Hàn tốt đẹp hơn. Trái lại, sử của người Việt đã bị hai bên đối nghịch biến chế theo sở thích và theo nhu cầu chính trị, làm sao có thể dựa vào đó để rút kinh nghiệm của cha ông được?

NƯỚC TA KHỞI TỪ BÊN TÀU?

Theo truyền thuyết và dã sử, thời kỳ Hồng Bàng bắt đầu từ năm 2879 trước Tây lịch, thuộc niên đại vua Kinh Dương Vương, với quốc hiệu Xích Quỷ. Địa bàn của Việt Nam dưới thời Kinh Dương Vương nằm ở tận bên Tàu, rất rộng lớn: Phía bắc giáp Động Đình Hồ (Hồ Nam), phía đông là Đông Hải, phía tây là Ba Thục (Tứ Xuyên), và phía nam tới nước Hồ Tôn (Chiêm Thành).

Nước Chiêm Thành lúc đó nằm ở đâu? Bộ “Phương Đình Dư Địa Chí” của Nguyễn Văn Siêu đã ghi lại như sau:

“Chiêm Thành: phiá đông giáp bể, phía Tây đến Vân Nam, phía nam giáp Chân Lạp, phía bắc liền Annam, phía đông bắc đến Quảng Đông…”

Thật ra, phải đến thế kỷ thứ 13, nước ta mới có quan viết sử, nên những điều xẩy ra trước đó đều được chép lại theo tục truyền, không biết đúng được bao nhiêu phần trăm. Nhưng chắc chắn người Việt ngày xưa ở tận bên Tàu, sau đó trụt dần xuống phía nam. Tại sao như vậy? Cụ Trần Trọng Kim giải thích:

“Người nòi gióng Việt Nam ta mỗi ngày một nẩy nở ra nhiều, mà ở phía bắc đã có nước Tàu cường thịnh, phía tây thì lắm núi nhiều rừng, đường đi lại không tiện, cho nên mới theo bờ biển lấn xuống phía nam, đánh Lâm Ấp, dứt Chiêm Thành, chiếm đất Chân Lạp, mở ra bờ cỏi bây giờ. ”

Đây là kiểu “Dùi đánh đục thì đục đánh săng (gỗ)” hay “Cá lớn nuốt cá bé” .

ĐỒNG TRỤ NẰM Ở ĐÂU?

Nước ta có ranh giới đầu tiên với nước Tàu là do Mã Viện ấn định. Lịch sử kể lại rằng dưới thời Đông Hán, năm 41 sau Tây lịch, vua Quang Vũ của Tàu sai Mã Viện làm Phục Ba Tướng Quân, sang đánh Trưng Vương, đem đất Giao Chỉ về lại cho nhà Hán (Thiền sư Lê Mạnh Thát nói chuyện này không có!). Mã Viện dời phủ trị về Mê Linh và dựng cây đồng trụ ở chỗ phân địa giới, khắc sáu chữ: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” . Nghĩa là cây đồng trụ gãy thì người Giao Chỉ mất. Người Giao Chỉ đi qua dưới chân cột đồng ấy cứ lấy đá bồi đắp lên mãi thành gò đống cao, vì sợ cột đồng ấy bị đổ gãy.

Nhưng cột đồng này đã được dựng ở đâu?

Theo “Lĩnh Ngoại Đại Đáp” của Tàu (đời Đường) và “An Nam Chí Lược” của Lê Tắc, cột này được dựng ở Khâm Châu, trong vùng hang động Cổ Sâm.

Khâm Châu là một châu của Tàu nằm sát biên giới với Giao Chỉ, còn Cổ Sâm là một động của ta nằm sát biên giới Tàu.

Sách “Vân Đài Loại Ngữ” của Lê Quế Đường (tức Lê Qúy Đôn) có ghi: “Giữa đỉnh núi Phân Mao ở Khâm Châu có cột đồng to độ hai thuớc. Có lẽ đây là Mã Tống dựng lên.”

Núi Phân Mao (Phân Mao lĩnh) ở đâu?

Sách “Dư Địa Chí” của Nguyễn Trãi viết:

“Vân Cừ, Kim Tiêu, Phân Mao ở về Yên Bang (sau tránh húy đổi làm Yên Quảng). Vân Cừ là tên sông, tên khác của sông Bạch Đằng, Tiền Ngô Vương bắt Hoằng Tháo, Hưng Đạo Vương bắt Ô Mã Nhi đều ở đây. Phân Mao là tên núi, Kim Tiêu là cột đồng. Ở phía Tây lộ Hải Đông 300 dặm có đèo Phân Mao, ở nửa đèo có cột đồng của Mã Vi
ện dựng, lớn chừng ba thước
.”
(Dư Địa Chí, Nguyễn Trãi toàn tập, bản dịch của NXB KHXH – Hà Nội, tr. 202)

Sách “Gia Khánh Trùng Tu Nhất Thống Chí” của Nhà Thanh cho biết: Núi Phân Mao ở phía Tây Khâm Châu (nay là đất tỉnh Quảng Đông). Năm Tuyên Đức thứ 2 (1427) thời Minh, núi ấy thuộc vào châu Tân An của Giao Chỉ. Đến năm Gia Tĩnh thứ 21 (1542) Mạc Đăng Dung hàng, mới thuộc về nước Tàu.

Đồng trụ nếu to 2 thước ta (theo Lê Qúy Đôn) hay 3 thước ta (theo Nguyễn Trải) thì cũng rất lớn. Mỗi thước ta bằng 0,425 mét. Như vậy 2 thước là 0,850 mét và 3 thước là 1,275 mét.

Về sau, cả người Tàu lẫn người Việt đều không biết rõ đồng trụ nói trên nằm ở đâu. Sách “Khâm Định Việt Sử Thương Giám Cương Mục” có cho biết năm 1272, nhà Nguyên đã sai Ngột Lương sang Việt Nam hỏi giới mốc đồng trụ ngày trước ở đâu. Vua Trần Thánh Tôn đã sai viên phái Lê Kính Phu đi hội đồng khám xét. Lê Kính Phu tâu với Nhà Nguyên: “Chỗ cột đồng do Mã Viện dựng lên lâu ngày bị chìm lấp, nay không thể biết ở chỗ nào được” . Việc đó sau cũng thôi. (Quyển VII, tr. 219).

Thật ra, Mã Viện không phải chỉ dựng một đồng trụ ở Cổ Sơn. Ông đã mở mang bờ cỏi của nhà Hán, dựng lên một đồng trụ ở Đèo Ngang (giữa Hà Tĩnh và Quảng Bình) và hai đồng trụ ở Bình Định. “Phương Đình Dư Địa Chí” của Nguyễn Văn Siêu cho biết: Sách Tần Thư Điạ Lý Chí ghi: Ở quận Nhật Nam có cột đồng từ đời Hán dựng làm địa giới. Sách Lâm Ấp Ký chép: Phía tây quận Nhật Nam có nước Tây Đồ Di, Mã Viện qua đất này dựng hai cột đồng nêu bờ cỏi nhà Hán.

Quận Nhật Nam lúc đó gồm các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định ngày nay (có tài liệu cho là đến tận cửa Đại Lãnh, Phú Yên). Vùng này là bắc Chiêm Thành.

Nhìn lại, nếu đồng trụ do Mã Viện dựng để phân ranh giới Việt – Trung mà còn thì nó cũng đã nằm trên đất Tàu, vì năm 1540 Mạc Đăng Dung đã giao vùng đất Cổ Sơn, nơi có đồng trụ, cho Trung Hoa rồi.

MẤT ĐẤT DƯỚI THỜI PHONG KIẾN

Nhiều người tưởng rằng, trong lịch sử, cha ông chúng ta luôn kiên cường dựng nước và giữ nước, không để mất một tấc đất nào. Thực tế không phải như vậy. Ngoài việc bỏ Hồ Nam, Quảng Đông và Quảng Tây chạy xuống Bắc Việt hiện nay, cha ông chúng ta còn phải chịu bị mất đất rất nhiều lần.

Mặc dầu Mã Viện đã dựng đồng trụ ở Phân Mao để đáng dấu ranh giới giữa Giao Chỉ và nước Tàu, những việc phân định ranh giới giữa hai nước không dễ dàng vì biên giới rất rộng lớn. Mỗi lần có tranh chấp, vua hay quan Tàu đều dành quyền quyết định phần nào thuộc Tàu và phần nào thuộc ta.. Thí dụ năm 1442, nhà Minh gởi dụ cho vua Lê Thái Tông, nói rằng Chiêm Lãnh và Như Tích là thuộc Châu Khâm của Trung Quốc, do Hoàng Khoan cai quản, nên phải trả lại cho Trung Quốc. Năm 1547, Đô Đốc Mã của nhà Thanh gởi thư cho Chúa Trịnh và nói: “Từ Sa Châu trở ra ngoài đến Phân Mao – Đồng Trụ là đất của quý quốc cày cấy chăn nuôi từ lâu, cho về An Nam” .

Ngoài chuyện tranh chấp về vùng biên giới, các vua và quan Tàu luôn tìm cách chiếm thêm đất của nước ta. Tạm bỏ qua “một ngàn năm đô hộ giặc Tàu” đi, chúng ta thấy từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ thứ 18, dưới các triều đại của Trung Quốc từ Tống, Nguyên, Minh đến Thanh đều đem quân xâm lấn Đại Việt. Nhà Tống xâm chiếm 2 lần, nhà Nguyên 3 lần, nhà Minh và nhà Thanh mỗi vương triều một lần. Ngoài những cuộc xâm chiếm đại quy mô như thế, các triều đại Trung Quốc cũng thường tìm cách cướp đất của người Việt ở vùng biên giới. Sau đây là một số thí dụ cụ thể:

1.- Mất hai động Vật Ác và Vật Dương.

Dưới thời nhà Tống, Quách Quỳ đã chiếm 4 châu và một huyện của Đại Việt là Quảng Nguyên, Quang Lang, Tô Mậu, Môn, và Thuận châu. Sau đó, năm 1057 Nùng Tôn Đàn nộp động Vật Ác và năm 1064 Nùng Trí Hội nộp thêm động Vật Dương. Vua Lý Nhân Tông phái sứ qua thương lượng nhiều lần, vua Tống chỉ chịu trả cho 4 châu và một huyện, nhưng không trả hai động Vật Ác và Vật Dương.

2.- Mất 59 thôn ở Cổ Lâu

Năm 1401, khi Hồ Hán Thương được Hồ Quý Ly nhường ngôi, đã sai sứ sang xin vua nhà Minh phong vương. Vua Thánh Tổ nhà Minh nghe tin ở An Nam đang có chuyện lộn xộn nên cho điều tra và biết được Hồ Quý Ly đã cướp ngôi nhà Trần. Nhà Minh muốn nhân cơ hội này đem quân sang chiếm nước An Nam, lấy lý do là để hạch tội Hồ Quý Ly. Khởi đầu, vào năm 1405 nhà Minh sai sứ sang đòi lại đất Lộc châu, tức Lộc Bình thuộc tỉnh Lạng Sơn ngày nay, viện lý do đất này trước đây thuộc châu Tự Minh của tỉnh Quảng Tây. Lúc đầu Hồ Quý Ly không chịu, nhưng thấy áp lực của nhà Minh quá nặng nên Hồ đã sai quan hành khiển là Hoàng Hối Khanh đến dàn xếp. Hoàng Hối Khanh quyết định cắt 59 thôn ở Cổ Lâu nhường cho Tàu. Hồ Quý Ly thấy cắt nhiều quá, có mắng Ho&agr
ave;ng Hối Khanh. Tuy đã nhún nhường như thế, nhà Minh vẫn không chịu, đem binh qua chiếm nước ta.

3.- Mạc Đăng Dung giao hai châu và 4 động cho Tàu

Theo cuốn “Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí” của Phan Huy Chú, năm 1540 khi Mạc Đăng Dung đầu hàng nhà Minh, đã trao trả 2 châu và 4 động cho nhà Minh. Hai châu là Như Tích và Chiêm Lãng, và 4 động là Tê Phù, Kim Lạc, Cổ Sâm và Liêu Cát. Các lãnh thổ này được sát nhập vào châu Khâm của Tàu. Nhưng Mạc Đăng Dung không được nhà Minh phong vương mà chỉ phong làm Đô Thống Sứ.

4.- Mất 13 châu và 3 động.

Năm 1684, thổ quan huyện Khai Hóa của tỉnh Vân Nam đem quân chiếm ba động Vị Xuyên, Bảo Lạc và Thủy Vĩ thuộc tỉnh Tuyên Hưng của ta. Chúa Trịnh Thuận Đức cho sứ qua đòi lại nhưng nhà Thanh không trả.

Năm 1698 thổ quan tỉnh Vân Nam lại chiếm thêm ba động Ngưu Dương, Hồ Điệp và Phổ Viên thuộc tỉnh Tuyên Quang. Sứ thần Nguyễn Đăng Đạo đến Trung Quốc xin vua Khang Hy trả lại, nhưng vua từ chối. Chúa Trịnh Bính lại phái sứ khác qua nhà Thanh xin xem lại vụ này, nhưng quan Tuần Phủ Quảng Tây không cho đi. Từ đó, ba động này kể như mất luôn.

Năm 1781, dưới thời Tây Sơn do Nguyễn Nhạc lãnh đạo, Hoàng Công Thư đã đem 10 châu của nước Việt nộp cho Tổng Đốc tỉnh Vân Nam. Triều đình ta gởi thư yêu cầu Tổng Đốc Vân Nam xét lại biên giới. Tổng Đốc Vân Nam trả lại thư và nói rằng biên giới tự nhiên không cần vạch lại.

Trên đây là một số vụ mất đất điển hình trong thời phong kiến.

MẤT ĐẤT DƯỚI THỜI XHCN

Có thể nói, nếu không có Pháp xâm chiếm và đô hộ nước ta, khó mà ấn định được đường ranh giới hợp lý và khoa học trên bộ và trên biển giữa Việt Nam và Trung Hoa.

Sau nhiều lần thương lượng rất gay cấn, kể cả dùng sức mạnh quân sự, ngày 9.6.1885 nhà cầm quyền Pháp và Trung Hoa đã ký Công Ước Thiên Tân về biên giới Việt – Trung được gọi là “Hiệp Ước Hòa Bình, Hữu Nghị và Thương Mại” (Traité de Paix, d’Amitié, et de Commerce). Công ước này đã được bổ túc do công ước ngày 26.6.1887 và công ước ngày 20.6.1895.

Mặc dầu có những hiệp ước ấn định ranh giới một cách rõ ràng nói trên, kể từ năm 1954, sau khi Pháp rút khỏi miền Bắc, Trung Quốc bắt đầu xâm phạm biên giới Việt Nam. Những vụ xâm phạm này đã được nhà cầm quyền Hà Nội ghi rõ trong tập “Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc” , do nhà xuất bản Sự Thật của Hà Nội xuất bản năm 1979, sau khi Trung Quốc đem quân “dạy cho Việt Nam một bài học.” Trong “Lời Nhà Xuất Bản”, nhà xuất bản Sự Thật nói rõ đây là toàn bộ “Bị vong lục của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc nhà cầm quyền Trung Quốc gây khiêu khích, xâm lăng lãnh thổ Việt Nam ở vùng biên giới” .

Vì tập sách khá dài, chúng tôi chỉ ghi lại những điểm chính. Trong phần “Tình hình Trung Quốc lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam từ năm 1954 đến nay” , nhà cầm quyền Hà Nội cho biết thủ đoạn lấn chiếm đất của Trung Quốc như sau:

(1) Từ xâm canh, xâm cư, đến xâm chiếm đất (tr. 8).
(2) Lợi dụng việc xây dựng các công trình hữa nghị để đẩy lùi biên giới sâu vào lãnh thổ Việt Nam (tr. 10).
(3) Đơn phương xây dựng các công trình ở biên giới lấn sang đất Việt Nam (tr. 11).
(4) Từ mượn đất của Việt Nam đến biến thành lãnh thổ của Trung Quốc (tr. 12).
(5) Lợi dụng việc vẽ bản đồ giúp Việt Nam để chuyển dịch đường biên giới, điển hình là đã sửa ký hiệu ở khu vực thác Bản Giốc (mốc 53), nơi chúng định chiếm một phần thác Bản Giốc và cồn Pò Thông (tr.14)…

Sau đây là một số trích đoạn được trích dẫn:

1.- Từ xâm canh, xâm cư đến xâm chiếm đất.

Tài liệu cho biết:

“Lợi dụng đặc điểm là núi sông hai nước ở nhiều nơi liền một dải, nhân dân hai bên biên giới vốn có quan hệ họ hàng, dân tộc, phía Trung Quốc đã đưa dân họ vào những vùng lãnh thổ Việt Nam để làm ruộng, làm nương rồi định cư những người dân đó ở luôn chỗ có ruộng nương, cuối cùng nhà cầm quyền Trung Quốc ngang ngược coi những khu vực đó là lãnh thổ Trung Quốc.”

Một thí dụ cụ thể: Từ năm 1956 phía Trung Quốc tìm cách nắm số dân Trung Quốc sang làm ăn ở Trình Tường bằng cách cung cấp cho họ các loại tem phiếu mua đường, vải và nhiều hàng khác, đưa họ vào công xã Đồng Tâm thuộc huyện Đông Hưng, khu tự trị Choang-Quảng Tây. (tr. 8 và 9)

2.- Lợi dụng việc xây dựng các công trình hữu nghị để đẩy lùi biên giới sâu vào lãnh thổ Việt Nam.

“Năm 1955, tại khu vực Hữu Nghị Quan, khi giúp Việt Nam khôi phục đoạn đường sắt từ biên giới Việt-Trung đến Yên Viên gần Hà Nội, lợi dụng lòng tin của Việt Nam, phía Trung Quốc đã đặt điểm nối ray đường sắt Việt Trung sâu trong lãnh thổ Việt Nam trên 300m so với đường biên giới lịch sử, coi điểm nối ray là điểm mà đường biên giới giữa hai nước đi qua. Ngày 31 tháng 12 năm 1974, Chính ph
ủ Việt Nam dân chủ cộng hoà đã đề nghị Chính phủ hai nước giao cho ngành đường sắt hai bên điều chỉnh lại điểm nối ray cho phù hợp với đường biên giới lịch sử nhưng họ một mực khước từ bằng cách hẹn đến khi hai bên bàn toàn bộ vấn đề biên giới thì sẽ xem xét…” (tr.10)

3.- Đơn phương xây dựng các công trình ở biên giới lấn sang đất Việt Nam.

“Trên đoạn biên giới đất liền cũng như ở các đoạn biên giới đi theo sông suối, tại nhiều nơi, phía Trung Quốc đã tự tiện mở rộng xây dựng các công trình để từng bước xâm lấn đất.

“Tại khu vực mốc 53 (xã Đàm Thuỷ, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng) trên sông Quy Thuận có thác Bản Giốc, từ lâu là của Việt Nam và chính quyền Bắc Kinh cũng đã công nhận sự thật đó. Ngày 20.2.1970 phía Trung Quốc đã huy động trên 2.000 người kể cả lực lượng vũ trang lập thành hàng rào bố phòng dày đặc bao quanh toàn bộ khu vực thác Bản Giốc thuộc lãnh thổ Việt Nam, cho công nhân cấp tốc xây dựng một đập kiên cố bằng bê tông cốt sắt ngang qua nhánh sông biên giới, làm việc đã rồi, xâm phạm lãnh thổ Việt Nam trên sông và ở cồn Pò Thoong, và ngang nhiên nhận cồn này là của Trung Quốc… (tr.11 và 12).

Trên đây chỉ là một vài thí dụ cụ thể. Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này sau.

LỆNH PHẢI GIỮ ĐẤT

Năm 1473 khi Lê Duy Cảnh, Thái bảo kiến dương bá, đi trấn giữ ở vùng biên giới giáp với tỉnh Quảng Tây, vua Lê Thánh Tông đã trao cho ông một sắc dụ, trong đó viết:

“Một thước núi, một tấc sông của ta không nên vứt bỏ, ngươi nên cố cãi, chớ cho họ lấn dần, nếu họ không nghe, còn có thể sai quan sang xứ Bắc triều bày tỏ phải trái. Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di.”

(Ngày 11.8.2009)

Lữ Giang



Việt Nam và Thềm Lục Địa

Việt Nam và Thềm Lục Địa

Lý Thái Hùng

Tính cho đến ngày 13 tháng 5 năm 2009, hạn chót mà Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa của Liên Hiệp Quốc (CLCS) yêu cầu các nước ven biển nộp bản tuyên bố chủ quyền về Vùng Đặc Quyền Kinh Tế theo quy định của Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) thì đã có tất cả 50 quốc gia nộp bản tuyên bố chính thức như Mã Lai, Phi Luật Tân, Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Nam Hàn… và có 10 nước mới chỉ nộp bản sơ bộ, nghĩa là còn bổ túc thêm sau này. Theo con số này thì còn nhiều quốc gia ven biển đã chưa hoàn tất thủ tục. Tuy nhiên, việc Ủy ban phân ranh thềm lục địa gồm 21 quốc gia thành viên đã dành ra 10 năm – từ tháng 5 năm 1999 cho đến nay – để các quốc gia ven biển dựa theo điều 76 của Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, đo đạt hầu xác định đường căn bản (baselines) rồi nộp bản tuyên bố chủ quyền trên vùng biển 200 hải lý tính từ đường căn bản trở ra là một biến chuyển rất lớn trong việc xác định đường ranh giới trên biển một cách rõ ràng giữa các quốc gia kể từ nay.

Theo UNCLOS thì các quốc gia ven biển có 5 vùng biển:

1/ Nội Thủy: vùng biển nằm phía bên trong đường căn bản.

2/ Lãnh Hải: vùng biển rộng 12 hải lý phía bên ngoài đường căn bản.

3/ Vùng Tiếp Giáp Lãnh Hải: vùng biển nằm tiếp liền lãnh hải rộng 24 hải lý tính từ đường căn bản.

4/ Vùng Đặc Quyền Kinh Tế: vùng biển nằm tiếp liền với vùng tiếp giáp lãnh hải rộng 200 hải lý tính từ đường căn bản.

5/ Thềm Lục Địa: gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển kéo dài từ đất liền của mỗi quốc gia ven biển ra đến bờ thềm lục địa rộng từ 200 hải lý đến 350 hải lý tính từ đường căn bản.

Thềm lục địa Việt Nam

Cho đến khi Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển ra đời năm 1982 và hoàn chỉnh về mặt kỹ thuật vào năm 1999, mối quan hệ về chủ quyền giữa các nước ven biển rất phức tạp. Đa số h

JPEG - 42.5 kbành xử theo tập quán mạnh được yếu thua nên đã xảy ra nhiều sự xung đột quân sự, đặc biệt là trên những vùng biển rộng hơn 12 hải lý tính từ đường căn bản. Để việc qua lại của tàu bè nước ngoài trên vùng biển giữa các nước ven biển không bị uy hiếp hay không đe dọa an ninh đến các nước ven biển, UNCLOS đã đưa ra sáng kiến thành lập Vùng Đặc Quyền Kinh Tế và Thềm Lục Địa nhằm mục đích: 1/ Cho các quốc gia ven biển có chủ quyền và quyền khai thác những quyền lợi kinh tế như đánh cá, tài nguyên thiên nhiên trên vùng biển rộng 200 hải lý; 2/ Bảo đảm những quyền lợi phi kinh tế của những quốc gia khác ngoài vùng lãnh hải 12 hải lý của quốc gia ven biển nếu tuân thủ luật quốc tế và điều 2, khoản 4 của Hiến chương Liên Hiệp Quốc liên quan đến việc bảo vệ và duy trì hòa bình giữa các nước. Những tranh chấp hay xung đột giữa một hay nhiều quốc gia trên Vùng Đặc Quyền Kinh Tế và Thềm Lục Địa của mỗi nước đều phải giải quyết trên tinh thần tài phán theo đúng quy định của Công Ước Liên Hiệp Quốc.

Căn cứ theo Vùng Đặc Quyền Kinh Tế của UNCLOS, Việt Nam không những có chủ quyền trên Biển Đông rộng 200 hải lý mà hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa còn nằm trong chủ quyền của Việt Nam tính trên mặt lịch sử lẫn công pháp quốc tế. Bởi Hoàng Sa cách bờ biển miền Trung Việt Nam là 155 Hải Lý trong khi cách Trung Quốc đến 270 Hải Lý. Phần lớn quần đảo Trường Sa cách bờ biển phía Nam Việt Nam là 190 Hải Lý trong khi cách Trung Quốc đến 790 Hải Lý. Sự kiện Hoàng Sa và Trường Sa bị Trung Quốc chiếm đóng và Biển Đông của Việt Nam đang bị Trung Quốc đe đọa là những nghịch lý không thể nào hiểu nổi về các thái độ ươn hèn của lãnh đạo Hà Nội hiện nay.

Từ đầu thập niên 70 của thế kỷ trước, Việt Nam Cộng Hòa đã từng tham gia vào các Hội nghị quốc tế về Luật Biển. Nếu không có biến cố tháng 4 năm 1975, Việt Nam đã không những là một trong những thành viên sáng lập ra UNCLOS mà còn giữ vững chủ quyền của mình đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên mặt công pháp quốc tế. Sau khi cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam vào tháng 4 năm 1975, Cộng sản Việt Nam đã dựa vào Liên Xô để lo thôn tính mảnh đất Đông Dương nên mãi đến tháng 6 năm 1994 mới phê chuẩn UNCLOS. Nghĩa là Cộng sản Việt Nam đã bỏ mất nhiều năm trong việc xác định chủ quyền của mình trên Biển Đông kể từ khi Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển ra đời. Ngay cả khi Ủy ban phân ranh thềm lục địa Liên Hiệp Quốc cho phép nộp bản tuyên bố chủ quyền Vùng Đặc Quyền Kinh Tế 200 hải lý trong 10 năm qua, Cộng sản Việt Nam đã có thái độ chần chừ. Mãi cho đến khi dư luận trong và ngoài nước lên tiếng chống đối mạnh mẽ, Cộng sản Việt Nam mới nói rằng họ sẽ nộp bản tuyên bố về chủ quyền, một tuần lễ trước khi hết hạn.

Ngày 6 tháng 5 năm 2009, Cộng sản Việt Nam đã cùng với Mã Lai nộp một hồ sơ chung dày 27 trang tuyên bố chủ quyền 200 hải lý vùng biển phía Nam từ miền Trung trở xuống, dựa theo khoản 8, điều 76 của UNCLOS. Theo hồ sơ nộp của Cộng sản Việt Nam và Mã Lai cho Ủy ban phân ranh thềm lục địa thì hai nước đã không có sự chòng chéo Vùng Đặc Quyền Kinh Tế 200 hải lý, mặc dù có những vùng biển của Mã Lai trùm lên một số đảo trong quần đảo Trường Sa.

Ngày 7 tháng 5 năm 2009, Cộng sản Việt Nam đã tự nộp lấy một mình hồ sơ dày 8 trang tuyên bố chủ quyền 200 hải lý mà họ gọi là vùng biển phía Bắc nhưng theo bản đồ nộp cho Ủy ban phân ranh thềm lục địa thì chỉ là khúc biển miền Trung bao gồm khu vực Hoàng sa.

Ngay sau khi Cộng sản Việt Nam nộp hai hồ sơ nói trên, Bộ ngoại giao Trung Quốc đã gửi một công hàm và một bản đồ đến Ủy ban phân ranh thềm lục địa cho rằng Cộng sản Việt Nam và Mã Lai đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của họ trên Biển Đông. Bản đồ mà Trung Quốc gửi cho Ủy ban phân ranh đã vẽ theo hình lưỡi bò chạy dài từ đảo Hải Nam xuống vùng biển Mã Lai, chiếm 75% diện tích Biển Đông bao gồm cả Vùng Đặc Quyền Kinh Tế 200 hải lý của Việt Nam, Phi Luật Tân, Mã Lai. Trung Quốc đã yêu cầu Ủy ban phân ranh thềm lục địa Liên Hiệp Quốc không xem xét các hồ sơ tuyên bố chủ quyền của Cộng sản Việt Nam. Mã Triều Húc, phát ngôn nhân Bộ ngoại giao Trung Quốc còn tuyên bố rằng Trung Quốc không chỉ có chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà còn có chủ quyền pháp lý đối với những gì dưới đáy biển – một điều quan trọng là vì vùng Biển Đông có tài nguyên khí đốt và dầu.

Đương nhiên, Cộng sản Việt Nam qua Lê Dũng, phát ngôn nhân Bộ ngoại giao của chế độ đã lên tiếng phản bác những tuyên bố của Bộ ngoại giao Trung Quốc, nhưng rất yếu ớt.

Thứ nhất, nhìn vào hai hồ sơ nộp của Cộng sản Việt Nam, Hà Nội hoàn toàn không đá động gì đến vùng biển thuộc Vịnh Bắc Việt. Đây là vùng biển mà Cộng sản Việt Nam đã nhượng cho Bắc Kinh hơn 10 ngàn cây số vuông qua Hiệp định phân ranh Vịnh Bắc Việt ký vào năm 2000, dưới thời Lê Khả Phiêu làm Tổng Bí Thư.

Thứ hai, Cộng sản Việt Nam đã không dám đương đầu một mình mà phải liên kết với Mã Lai trong những tranh chấp, đàm phán về vùng biển 200 hải lý phía Nam với Trung Quốc trong thời gian tới. Liên Hiệp Quốc không cấm các quốc gia ven biển liên kết đệ nạp hồ sơ chung; nhưng trong trường hợp Việt Nam hiện đang đối đầu với các áp lực từ Trung Quốc, cần phải đứng thẳng người để chống cự hơn là đi khom lưng như hiện nay.

Chính vì biết rõ thái độ vô trách nhiệm và không dám đương đầu với Trung Quốc để bảo vệ chủ quyền và những quyền lợi kinh tế trong Vùng Đặc Quyền Kinh Tế và Thềm Lục Địa 200 hải lý theo UNCLOS, đã có hàng trăm đoàn thể, đảng phái người Việt Nam ở trong và ngoài nước đã cùng đứng tên vào hai lá thư gửi Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc trước ngày 13 tháng 5 năm 2009 vừa qua.

Một là do Cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn kêu gọi dựa trên nền tảng công pháp quốc tế của Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975 đã từng tham gia vào việc soạn thảo Luật Biển của Liên Hiệp Quốc, nhằm xác định Vùng Đặc Quyền Kinh Tế của Việt Nam theo UNCLOS.

Hai là do một số chính đảng Việt Nam vận động nhằm xác định hai lập trường của người Việt Nam hiện nay: 1/ Phủ nhận vai trò đại diện đất nước Việt Nam của nhà nước Cộng sản Việt Nam trong mọi ký kết đối với quốc tế; 2/ Phủ nhận tất cả những tuyên bố của Trung Quốc về các chủ quyền của họ trên Biển Đông. Hai lá thư nói trên sẽ giúp cho chính quyền Việt Nam mới trong tương lai dựa vào đó để đàm phán và yêu cầu Liên Hiệp Quốc công nhận chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông.

Vấn đề tranh cãi về Thềm Lục Địa sẽ không ngưng lại sau khi các nước đã nộp hồ sơ. Ủy ban phân ranh thềm lục địa sẽ phải giải quyết những chòng chéo về những chủ trương chủ quyền trên các Vùng Đặc Quyền Kinh Tế 200 hải lý do các nước đệ nạp. Những tranh chấp này không chỉ xảy ra ở Biển Đông giữa Trung Quốc với Việt Nam, Mã Lai, Phi Luật mà còn có cả giữa Nhật và Nga, giữa Anh và Argentina, giữa Nga và Đan Mạch, Na Uy, Canada ở vùng Bắc Cực… Điều quan trọng để giải quyết những tranh chấp nói trên được thành công, các quốc gia phải có một chính quyền mạnh được sự hậu thuẫn của toàn dân. Xương sống của chính quyền Cộng sản Việt Nam vốn dĩ đã bị cong trong nhiều năm khấu tấu đối với Bắc Kinh nên khó mà bảo vệ toàn vẹn Thềm Lục Địa Việt Nam như UNCLOS quy định.

Sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam – không chỉ trên Biển Đông mà còn ở cả vùng biên giới phía Bắc, phía Tây (biên giới Lào và Campuchia) và Tây Nguyên – đang nằm trong tay của tất cả những người Việt Nam yêu nước.

Lý Thái Hùng
May 13 2009




Tội ác Cộng Sản Việt Nam: Thuyền Nhân

lacomau———— -oo0oo— ——— —

Tội ác Cộng Sản Việt Nam: Thuyền Nhân – Sau khi chà đạp lên hiệp định Hoà bình Paris 1973 và cưỡng chiếm miền Nam vào năm 1975, csvn đã áp đặt một chế độ độc tài, man rợ lên toàn đất nước. Hàng triệu người đã bỏ nước ra đi. Trong khi khoảng 2 triệu người may mắn đến được bến bờ tự do, thì có đến trên dưới nửa triệu người Việt thân yêu đã bỏ thây trên biển cả. Những hình ảnh dưới đây được ghi nhận từ năm châu, bốn biển để tưởng nhớ đến những thân nhân bất hạnh không bao giờ còn thấy được bến tự do .

thuyennhanĐồng bào Việt Nam bỏ nước ra đi bằng mọi phương tiện. Biết bao cảnh hãi hùng
mà thuyền nhân đã chịu đựng trên biển cả mà không bút mực nào tả xiết.

thuyennhanĐồng bào Việt Nam bỏ nước ra đi bằng mọi phương tiện. Biết bao cảnh hãi hùng
mà thuyền nhân đã chịu đựng trên biển cả mà không bút mực nào tả xiết.

thuyennhanĐồng bào Việt Nam bỏ nước ra đi bằng mọi phương tiện. Biết bao cảnh hãi hùng
mà thuyền nhân đã chịu đựng trên biển cả mà không bút mực nào tả xiết.

thuyennhanĐồng bào Việt Nam bỏ nước ra đi bằng mọi phương tiện. Biết bao cảnh hãi hùng
mà thuyền nhân đã chịu đựng trên biển cả mà không bút mực nào tả xiết.

thuyennhanĐồng bào Việt Nam bỏ nước ra đi bằng mọi phương tiện. Biết bao cảnh hãi hùng
mà thuyền nhân đã chịu đựng trên biển cả mà không bút mực nào tả xiết.

thuyennhanĐồng bào Việt Nam bỏ nước ra đi bằng mọi phương tiện. Biết bao cảnh hãi hùng
mà thuyền nhân đã chịu đựng trên biển cả mà không bút mực nào tả xiết.

thuyennhanĐồng bào Việt Nam bỏ nước ra đi bằng mọi phương tiện. Biết bao cảnh hãi hùng
mà thuyền nhân đã chịu đựng trên biển cả mà không bút mực nào tả xiết.

thuyennhanĐồng bào Việt Nam bỏ nước ra đi bằng mọi phương tiện. Biết bao cảnh hãi hùng
mà thuyền nhân đã chịu đựng trên biển cả mà không bút mực nào tả xiết.

Tượng đài Thuyền nhân được thiết lập ở Nam California đế tưởng nhớ đồng bào
bỏ mình trên đường trốn chạy khỏi chính thể bạo tàn Cộng Sản. Hình ảnh hãi hùng,
tuyệt vọng của thuyền nhân được diển tả dựa và Tượng đài Thuyền nhân ở Nam California.

tuongdaiBituongdaiBifrance_tdtnfrance_tdtttuongdaiBiuc_tdtnuc_tdtnGenevetdtncanada_tdtncanada_tdtncanada_tdtnTượng đài Thuyền nhân được thiết lập ở Nam California đế tưởng nhớ đồng bào
bỏ mình trên đường trốn chạy khỏi chính thể bạo tàn Cộng Sản (Hình TTT).

Tượng đài Thuyền nhân được thiết lập ở Nam California đế tưởng nhớ đồng bào
bỏ mình trên đường trốn chạy khỏi chính thể bạo tàn Cộng Sản.

biadaTượng đài Thuyền nhân được thiết lập ở Nam California đế tưởng nhớ đồng bào
bỏ mình trên đường trốn chạy khỏi chính thể bạo tàn Cộng Sản.

biadaTượng đài Thuyền nhân được thiết lập ở Nam California đế tưởng nhớ đồng bào
bỏ mình trên đường trốn chạy khỏi chính thể bạo tàn Cộng Sản.

biadabiadabiadabiadabiadabiadabiadabiadabiadabiadabiadabiadabiadabiadabiadabiadabiadabiadabiadabiadabiadabiadabiadabiadabiada———— —- còn tiếp ———— ——-

Cộng Sản Việt Nam đã nhiều lần lén lút bán nước cho Trung Cộng . Ngày nay người ta tìm thấy các văn kiện bán nước nầy được ngụy trang dưới nhiều danh nghĩa khác nhau: thư riêng, nghị định, hiệp ước v.v… Dù ẩn dấu dưới hình thức nào thì hậu quả cũng như nhau: đàn anh Trung cộng lấn chiếm đất liền, hải đảo, vùng trời, vùng biển … của dân tộc Việt Nam mà cha ông ta đã bao phen đổ máu giử gìn .

lacomaulacomaulacomau———— –oo0oo– ——— —

lacomau

BS Trần Đại Sĩ : Lĩnh Địa Thời Vua Trưng

"Lĩnh Địa Thời Vua Trưng"

6.1. Vua Bà của Trung-quốc là vua Trưng,

Trong những năm 1978-1979 khi dẫn phái đoàn Ủy-ban y học Pháp-Hoa (CMFC) đi trao đổi tại các tỉnh cực Nam Trung-Quốc như Quảng-đông, Quảng-tây, Vân-nam, Quý-châu và Tứ-xuyên… tôi thấy khắp các tỉnh này, không ít thì nhiều đều có đạo thờ vua Bà. Nhưng tôi không tìm được tiểu sử vua Bà ra sao. Ngay những cán bộ Trung-quốc ở địa phương, họ luôn đề cao vua Bà, mà họ cũng chỉ biết lờ mờ vua Bà là người nổi lên chống tham quan. Khắp năm tỉnh, tôi ghi chú được hơn trăm đền, miếu thờ những tướng lĩnh thời vua Bà.

Bấy giờ tôi lại tìm thấy ở Hồ-nam, nhiều di tích về đạo thờ vua Bà hơn. Tại thư viện bảo tồn di tích cổ , tôi tìm thấy một cuốn phổ rất cổ, soạn vào thế kỷ thứ tám chép sự tích nữ vương Phật Nguyệt như sau:

« Ngày xưa, Ngọc-hoàng Thượng-đế ngự trên điện Linh-tiêu, có hai công chúa đứng hầụVì sơ ý hai công chúa đánh vỡ chén ngọc. Ngọc-hoàng Thượng-đế nổi giận đầy hai công chúa xuống hạ giớị Hai công chúa đi đầu thai được mấy ngày thì Tiên-lại giữ sổ tiên-giới tâu rằng có 162 tiên đầu thai xuống theo hai công chúa. Ngọc-hoàng Thượng-đế sợ công chúa làm loạn ở hạ giới, ngài mới truyền Thanh-y đồng tử đầu thai để theo dẹp loạn. Thanh-y đồng tử sợ địch không lại hai công chúa, có ý ngần ngừ không dám đị Ngọc-hoàng Thượng-đế truyền Nhị thập bát tú đầu thai theo.Thanh-y đồng tử sau là vua Quang Vũ nhà Hán. Nhị thập bát tú đầu thai thành hai mươi tám vị văn thần võ tướng đời Ðông-Hán.Còn hai công chúa đầu thai xuống quận Giao-chỉ, vào nhà họ Trưng. Chị là Trắc, em là Nhị. Lúc Trưng Trắc sinh ra có hương thơm đầy nhà, thông minh quán chúng, có sức mạnh bạt sơn cử đỉnh, được gả cho Ðặng Thi-Sách.hi-Sách làm phản, bị Thái-thú Tô Ðịnh giết chết. Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị phất cờ khởi nghĩa, được 162 anh hùng các nơi nổi lên giúp sức, nên chỉ trong một tháng chiếm hết sáu quận của Trung-quốc ở phía Nam sông Trường-giang: Cửu-chân, Nhật-nam, Giao-chỉ, Quế-lâm, Tượng-quận, Nam-hảị Chư tướng tôn Trưng Trắc lên làm vua, thường gọi là vua Bà. Quang-Vũ nhà Hán sai Phục-ba tướng quân Tân-tức hầu Mã Viện. Long-nhương tướng quân Thận-hầu Lưu Long đem quân dẹp giặc. Vua Bà sai nữ tướng Phật Nguyệt tổng trấn hồ Ðộng-đình. Mã Viện, Lưu Long bị bạịVua Quang Vũ truyền Nhị thập bát tú nghênh chiến, cũng bị bại. Nữ vương Phật Nguyệt phép tắc vô cùng, một tay nhổ núi Nga-mi, một tay nhổ núi Thái-sơn, đánh quân Hán chết, xác lấp sông Trường-giang, hồ Ðộng-đình, oán khí bốc lên tới trời.Ngọc-hoàng Thượng-đế sai thiên-binh, thiên-tướng trợ chiến cũng bị bạị Ngài phải sai thần Du Liệt sang Tây phương cầu cứu Phật Như Lai. Ðức Phật sai mười tám vị Kim-cương, ba ngàn La-hán trợ chiến cũng bị bạị Cuối cùng ngài truyền Quán Thế Âm bồ tát tham chiến. Nữ vương Phật-Nguyệt với Quan-Âm đấu phép ba ngày ba đêm, bất phân thắng bại. Sau Quán Thế Âm thuyết pháp nữ vương Phật Nguyệt giác ngộ, bỏ đi tu.

Ta nhân ngày lành, viết lại chuyện xưa, xin dâng đôi câu đối:

Tích trù Ðộng-đình uy trấn Hán,
Phương lưu thanh sử lực phù Trưng

(Một trận Ðộng-đình uy trấn Hán
Tên còn trong sử sức phù Trưng).

Bỏ ra ngoài những huyền hoặc về Nữ-vương Phật-Nguyệt, tài liệu chứng minh: Đạo thờ vua Bà tại năm tỉnh Nam Trung-quốc là di tích của lòng tôn kính thờ anh hùng dân tộc của tộc Việt trên lãnh thổ cũ của người Việt còn sót lại. Vua Bà mà người Trung-hoa thờ như một thứ tôn giáo, chính là vua Trưng.

Kết luận:

« Khi đã có nữ tướng Phật Nguyệt đánh trận Trường-sa, hồ Động-đình. Mà có trận hồ Động-đình thì lãnh thổ thời Lĩnh-Nam, phía Bắc quả tới phía Nam sông Trường-giang ».

6.2. Quả có trận Trường-sa, hồ Ðộng-đình năm 39 sau Tây-lịch,

Huyền sử (những cuốn phổ) nói rằng: Khi bà Trưng Nhị cùng các tướng Trần Năng, Phật Nguyệt, Trần Thiếu-Lan, Lại Thế-Cường đánh Trường-sa vào đầu năm Kỷ-Hợi (39 sau Tây-lịch). Trong trận đánh này, nữ tướng Trần Thiếu-Lan tử trận, được mai táng ở ghềnh sông Thẩm-giang (

8). Thẩm-giang chính là đọan sông ngắn ở Bắc, tiếp nối với hồ Động-đình. Một cuốn phổ khác, chép vào thời Nguyễn nói rằng: Các sứ thần triều Lý, Trần, Lê khi qua đây đều có sắm lễ vật đến cúng miếu thờ bà Trần Thiếu-Lan. Năm 1980 tôi đến đây tìm hiểu. Không khó nhọc tôi tìm ra trong cuốn địaphương chí, do sở du lịch Trường-sa cấp, một đoạn chép: « Miếu thờ liệt nữ Trần Thiếu-Lan ở đầu sông Tương. Hồi cách mạng văn hóa bị phá hủy. Tượng đồng bị nấu ra. Vệ binh đỏ phá luôn cả bia đá ».

Tôi tìm tới nơi, thì miếu chỉ còn lại cái nền bằng đá ong, mộ vẫn còn.(

9)

Kết luận:

« Thời Lĩnh-Nam quả có việc Trưng Nhị, Trần Năng, Hồ Đề, Trần Thiếu-Lan, Lại Thế-Cường đánh trận Trường-sa. Trong trận, nữ tướng Trần Thiếu-Lan tuẫn quốc. Khi có trận đánh này, thì lãnh địa thời Lĩnh-Nam quả gồm có hồ Trường-sa, hồ Động-đình ».

6.3. Quả có trận Bồ-lăng, năm 42 sau Tây-lịch,

Huyền sử kể rằng: ba tướng họ Đào là Chiêu-Hiển, Đô Thống và Tam-Lang được vua Trưng trao cho trấn tại Tượng-quận (Vân-nam) . Nhưng vì quân ít, thế cô, ba ông không chống lại với quân Hán, do Vương Bá chỉ huy. Ba ông đã tự tận. Hiện tại đền thờ của ba ông có đôi câu đối:

Tượng-quận dương uy nhiêu tướng lược,
Bồ-lăng tuẫn tiết tận thần trung.

Nghĩa là:
Trận Tượng-quận dương oai, rõ tài tướng giỏi.
Bến Bồ-lăng tuẫn tiết, tỏ ra thần trung.

Hầu hết các sử gia đều cho rằng: Bồ-lăng tức là bến Bồ-đề, ngoại ô Thăng-long. Vả lãnh thổ Việt-Nam hồi đó đâu có rộng vậy? 
Tôi không tin lý luận này. Tôi quyết có trận Tượng-quận. Vì sao? Vì ba ngài chiến đấu tại Tượng-quận, khi Tượng-quận thất thủ, tuẫn tiết thì tuẫn tiết tại chỗ, có đâu rút từ Tượng-quận về tới Long-biên (Hà-nội) trải mấy nghìn cây số, rồi mới tự tử? Vả cái tên bến Bồ-đề mới xuất hiện vào năm 1427-1428 khi vua Lê Thái-tổ vây Đông-đô (Thăng-long).

Vì vậy, trong dịp hè năm 1982, tôi cầm đầu phái đoàn CMFC sang Vân-Nam, Trung-quốc, để nghiên cứu về một giống trà có khả năng trị tuyệt chứng Cholestérol, Triglycéride. .. Lợi dụng dịp nhầy, tôi quyết tìm cho ra sự thực.
 


Ghi chú của Tăng Hồng Minh:

Phái đoàn gồm:
Trưởng-đoàn: Bác-sĩ Trần Ðại-Sỹ,
Thành viên: Bác-sĩ Pascale Vareilla (Biologie), Claude Tarentino (Anatomie), Antonio Fernandes
(Cardiologie. ) Các dược sĩ: Valérie Cordinante, Jean Marie Limager. Kỹ sư canh
nông Antoine Reynault, và một diễn viên điện ảnh Hương-cảng.

Trong chương trình phái đoàn chỉ công tác tại các vùng thuộc Vân-Nam như: Chiêu-dương, Đông-xuyên, Khâu-bắc, Nguyên-dương, Bảo-sơn, Điền-Bắc, Côn-minh; rồi dùng phi cơ từ Côn-minh trở về Paris . Nhưng khi tới Đông-xuyên, giáo sư Trần Đại-Sỹ tìm ra dấu vết cuộc chiến giữa quân vua Trưng và quân Hán, mà không rõ ràng cho lắm. Ông dẫn phái đoàn trở lại Côn-minh, sau khi thảo luận với giáo-sư sử học Đoàn Dương của đại học Văn-sử, được giáo sư Đoàn cho biết: "Trong truyền thuyết dân gian nói rằng hồi đầu thế kỷ thứ nhất có trận đánh giữa quân vua Bà với quân Hán tại Bồ-lăng. Nay Bồ-lăng nằm trên lãnh thổ Tứ-xuyên, chỗ ngã ba sông Trường-giang và Ô-giang." Thế là giáo sư Trần Đại-Sỹ đề nghị phái đoàn dùng đường thủy về Hồ-Nam, sau đó đáp phi cơ từ Hồ-Nam ra Hương-cảng, rồi đi Paris .

Trên đường từ Độ-khẩu (Vân-Nam) đi Hồ-Nam, sẽ qua… Bồ-lăng. Được đi chơi, dĩ nhiên phái đoàn mừng không sao tả siết!!!. Dĩ nhiên túi tiền của CMFC vơi đi 53.074 dollars nữa để chi cho phái đoàn.

Theo tôi, với số tiền ấy, mà kết quả tìm được Tây-biên của Lĩnh-Nam, cũng rẻ chán. Thế nhưng khi
trở về Paris, vụ này đồn đại ra ngoài, một Bác-sĩ Việt-Nam tên Trần L. (từng là bộ trưởng Y-tế hồi VNCH), viết thư cho ông bộ trưởng Văn-hóa Pháp, tố cáo Giáo-sư Trần Ðại-Sỹ lợi dụng chức vụ trưởng đoàn công tác y khoa, để tìm di tích cổ sử viết sách. Ông Bộ-trưởng trả lời đại ý: "Bác-sĩ Trần Ðại-Sỹ không dùng một xu (centimes) nào của chính phủ Pháp, nên bộ không có thẩm quyền."

Cuối thư ông Bộ-trưởng hạ một câu: "Ví dù Bác-sĩ Trần Ðại-Sỹ có lợi dụng chức vụ, có dùng tiền của bộ Văn-hóa, mà tìm tư liệu làm giầu cho thư viện Pháp thì là điều đáng khuyến khích. Hơn nữa tài liệu đó làm lợi cho Việt-Nam, Ông (Trần L.) phải vui mừng mới phải chứ."
Tăng Hồng Minh tôi là người Việt gốc Hoa, tôi xin tiết lộ một chi tiết này, để các vị độc giả Việt-Nam suy nghĩ!!!


Thế là phái đoàn dùng tầu đi từ Độ-khẩu theo Kim-sa-giang (Trường-giang) qua Nam-khê, Giang-tân, Trùng-khánh, tới ngã ba sông Ô-giang, Trường-giang thì gặp bến Bồ-lăng. Tại đây tôi được sở du-lịch chỉ cho xem miếu thờ ba vị thần, tướng của vua Bà. Nhưng họ không biết tên vua Bà cùng ba vị tướng. Cả vùng này có đạo thờ vua Bà (lên đồng). Hồi trước 1949 rất thịnh. Sau cách mạng Văn-hóa (1965-1967) miếu được cấp cho dân chúng ở. Hỏi hướng dẫn viên du lịch về vua Bà, họ chỉ cho biết vua Bà là người nổi lên chống tham quan thời Hán. Tôi đến thăm miếu. Miếu khá lớn, chủ hộ ở trong miếu trước đây là cán bộ Văn-hóa Bồ-lăng.

Trước miếu có nhiều câu đối, nay chỉ còn lại có ba. Ông chủ hộ khoe rằng để bảo tồn di tích văn hóa, hằng năm ông phải mua sơn tô chữ cho khỏi mất:

Khẳng khái, phù Trưng, thời bất lợi,
Ðoạn trường, trục Ðịnh, tiết… can vân.


Nghĩa là:
Khẳng khái phù vua Trưng, ngặt thời của Ngài không lâu.
Ðuổi được Tô Ðịnh, nhưng đau lòng thay, phải tự tận, khí tiết ngút từng mây.

Tôi xin vào trong miếu xem, thì bệ thờ nay là nơi vợ chồng ông nằm ngủ. Hai bên bệ cũng có đôi câu đối.

                                       Giang-thượng tam anh phù nữ chúa,
                                        Bồ-lăng bách tộc khốc thần trung.

                                                                Nghĩa là:
                                        Trên sông Trường-giang, ba vị anh hùng phò tá nữ chúa.
                                        Tại bến Bồ-lăng, trăm họ khóc cho các vị thần trung thành.

Ông chủ hộ thì cho rằng bách tộc là toàn dân Trung-quốc. Tôi giảng cho ông nghe về sự tích trăm con của Quốc-tổ, Quốc-mẫu. Vì vậy chữ bách tộc đây để chỉ người Việt. Ông thích lắm. Ông chỉ vào khoảng trống của hai cái cột thuật rằng trước kia cũng có đôi câu đối, nhưng bị vạc mất. Ông đề nghị tôi làm một đôi khác thay thế. Tôi nhờ hướng dẫn viên du lịch mua giùm hai hộp sơn. Một hộp sơn đỏ loại láng và một hộp loại thiếp vàng. Ông với tôi sơn cột mầu đỏ. Chiều hôm đó sơn đỏ khô, tôi trở lại viết bằng sơn thiếp vàng đôi câu đối có sẵn tại đền thờ ba ngài ở thôn Ngọc-động, huyện Gia-lâm, Hà-nội: 

Tái Bắc tức chinh trần, công cao trục Định,
Bồ-lăng dương nộ lãng, nghĩa trọng phù Trưng.


Nghĩa là:
    Ải Bắc yêu gió bụi can qua, công cao đuổi Tô Định.

Bồ-lăng nổi bao đào, nghĩa nặng phù vua Trưng.

Kết luận:
 

Như vậy thì quả có trận Tượng-quận. Mà có trận Tượng-quận thì biên giới Lĩnh-Nam hồi ấy giáp Ba-Thục, tức Tứ-xuyên ngày nay.

7. Nghiên cứu những khai quật

Vào những năm 1964-1965, giáo sư luật khoa Vũ Văn Mẫu đang sọan thảo tài liệu về cổ luật

Việt-Nam. Người giúp giáo sư Mẫu đọc sách cổ là Hoàng-triều tiến-sĩ Nguyễn Sỹ-Giác. Cụ Giác tuy thông kinh điển, thư tịch cổ, nhưng lại không biết ngoại ngữ, cùng phương pháp phân tích, tổng hợp Tây-phương. Cụ giới thiệu tôi với giáo sư Mẫu. Tôi đã giúp giáo sư Mẫu đọc, soạn các thư tịch liên quan đến cổ luật. Chính vì vậy tập tài liệu « Cổ-luật Việt Nam và tư pháp sử » có chương mở đầu «Liên hệ giữa nguồn gốc dân tộc và Cổ luật Việt-Nam » (

10). Bấy giờ tôi còn trẻ, không đủ tài liệu khai quật của Trung-Quốc, của Bắc Việt-Nam, và bấy giờ những lý thuyết về ADN chưa có hệ thống, nên có nhiều chi tiết sai lầm. Hôm nay đây, tôi xin lỗi anh linh Hoàng-triều tiến-sĩ Nguyễn Sỹ-Giác, anh linh giáo sư Vũ Văn-Mẫu. Tôi xin lỗi các vị đồng nghiệp hiện diện, xin lỗi các sinh-viên về những sai lầm đó.

Triều đại Hồng-Bàng thành lập từ năm 2879 năm trước Tây-lịch, tương đương với thời đại đồ đá mài (le néolithique), tức cuối thời đại văn-hóa Bắc-sơn (

11). Trong những khai quật về thời đại này tại Bắc-Việt, Đông Vân-Nam, Quảng-Đông, Hồ-Nam, người ta đều tìm được những chiếc rìu thiết diện hình trái soan, trong khi tại Nhật, Bắc Trường-giang chỉ tìm được lọai rìu thiết diện hình chữ nhật, chứng tỏ vào thời đó có một thứ văn hóa tộc Việt giống nhau.

Sang thời đại văn-hóa Đông-sơn (

12) hay đồ đồng (âge de bronze). Trong thời gian này đã tìm được trống đồng Đông-sơn trên bờ sông Mã (Thanh hóa). Sự thật trống đồng đã tìm thấy ở toàn bộ các tỉnh Nam Trường-giang như Hồ-nam, Quý-châu,Vân-nam, Quảng-đông, Quảng-tây, Nam-dương, Lào (

13), Bắc và Trung-Việt. Nhưng ở Nam-dương, Lào rất ít. Nhiều nhất ở Bắc-Việt, rồi tới Vân-nam, Lưỡng-quảng. Phân tích thành phần gần như giống nhau.

Ðồng 53%,

Thíếc 15-16%,

Chì 17-19%,

Sắt 4%.

Một ít vàng bạc.

Khảo về y-phục, mồ mả, răng xương trong các ngôi mộ, qua các thời đại cho đến hết thế kỷ thứ nhất sau Tây-lịch, tôi thấy trong các vùng Nam Trường giang cho đến Trung Bắc-Việt, cùng Lào, Thái đều giống nhau. Bây giờ dùng hệ thống ADN kiểm những bộ xương, kiểm máu người sống,
chúng tôi đã biện biệt được sự khác biệt vào thời Việt, Hoa lập quốc.

Kết luận,
 

« Tộc Việt quả có lĩnh địa Bắc tới hồ Ðộng-đình, Tây tới Tứ-xuyên như cổ sử nói ».

8. Tổng kết,

Sáu vấn đề tôi nêu ra ở trên, rồi đi tìm, tất cả đều còn đầy đủ di tích.
 

Như vậy: Biên giới cổ của nước Việt-Nam, với các triều đại Hồng-bàng, Âu-lạc, Lĩnh-Nam phía Bắc quả tới hồ Ðộng-đình, phía Tây giáp Tứ-xuyên.

V. KẾT LUẬN:

Thưa Quý-vị

Quý-vị đã cùng tôi đi vào những chi tiết từ huyền thoại, huyền sử, cổ sử, cùng triết học, cho tới tin học, y học để tìm về nguồn gốc dân tộc Việt-Nam, về biên giới cổ của tộc Việt.

Trong chính sử Trung-quốc, Việt-Nam đều ghi rõ ràng nguồn gốc tộc Việt, nhưng cái nguồn gốc đó căn cứ vào cổ thư của người Trung-hoa, nên hoàn toàn sai lạc. Bởi cổ thư cho rằng người Trung-hoa tự sinh ra, rằng người Việt chẳng qua do những người Trung-hoa di chuyển xuống lưu ngụ. Sự thực nhờ hệ thống ADN, chúng ta biết rằng chính những người ở châu Phi đến Đông Nam-á trước, rồi di chuyển lên Hoa-Nam. Tại Hoa-Nam giống người này lại hợp với giống người từ châu Phi sang châu Âu, rồi từ châu Âu vào Trung-á, hợp với người ở Hoa-Nam mà thành tộc Hán.

Nhưng ngược lại, do cổ thư Trung, Việt, hay do ADN, chúng ta cũng biết rất rõ biên cương nước Việt thời mới lập quốc.

Hồi thơ ấu, tôi sống bên cạnh những nhà Nho, chỉ đọc sách chữ Hán của người Hoa, người Việt viết. Mà những sách này đều chép rằng tộc Việt gồm có trăm họ khác nhau, mang tên Bách-Việt. Những tên Âu-Việt, Lạc-Việt, Đông-Việt, Nam-Việt, Việt-Thường đều thuộc Bách-Việt cả. Cái tên trăm họ hay trăm Việt (Bách-Việt) phát xuất từ huyền thọai vua Lạc-Long sinh ra trăm con. Trăm có nghĩa là toàn thể, tất cả, chứ không hoàn toàn là con số như ta tưởng ngày nay (

14).

Các vị cổ học, học cổ sử, rồi coi lĩnh địa tộc Việt bao gồm phía Nam sông Trường-giang lấy mốc là hồ Động-đình với sông Tương, núi Ngũ-lĩnh là đương nhiên. Chính hồi nhỏ, khi học tại trường Pháp, vào thời kỳ 13-14 tuổi, tôi chỉ được học vài trang ngắn ngủi về nguồn gốc tộc Việt, trong khi đó gia đình cho tôi đọc mấy bộ sử dài hàng mấy chục nghìn trang của Hoa, của Việt (Nếu dịch sang chữ Việt số trang gấp bốn, sang Pháp, Anh văn số trang gấp năm sáu). Chính tôi cũng nhìn nguồn gốc tộc Việt, lĩnh thổ tộc Việt tương tự như các nhà cổ học. Nay tôi mới chứng minh được.

Phải chờ cho đến khi tôi ra trường (1964). Bấy giờ giáo sư Vũ Văn-Mẫu thạc-sĩ luật khoa nhờ Hoàng triều tiến-sỹ Nguyễn Sỹ-Giác sưu tầm tài liệu cổ luật. Cụ Giác học theo lối cổ, không biết những phương pháp quy nạp, tổng hợp nên giới thiệu giáo sư Mẫu với tôi. Ngay từ lần đầu gặp nhau, mà một già, một trẻ đã có hai cái nhìn khác biệt. Giáo sư Mẫu trên 50 tuổi mà lại có một cái nhìn rất trẻ, tôi mới có 25 tuổi lại có cái nhìn rất già về nguồn gốc tộc Việt. Qua cuộc trao đổi sơ khởi, bấy giờ tôi mới biết có rất nhiều truyền thuyết nói về nguồn gốc dân tộc Việt, mà các tác giả thiếu cái học sâu xa về cổ học Hoa-Việt đưa ra. Vì vậy tôi đã sưu tầm tất cả những gì trong thư tịch cổ, giúp giáo sư Mẫu đem viết thành tài liệu giảng dạy. Nhưng sự sưu tầm đó không đầy đủ, vì chỉ căn cứ trên thư tịch cổ. Nay tôi mới biết có quá nhiều sai lầm, tôi xin lỗi các đồng nghiệp hiện diện, xin lỗi Quý-vị. Hồi bấy giờ tôi sống ở Sài-gòn, thuộc Việt-Nam cộng-hòa đang là nước chống Cộng, nên tôi không thể sang Trung-Quốc, cũng như về Bắc tìm kiếm thêm tài liệu. Phải chờ đến năm 1976 làm việc cho CMFC, hàng năm dẫn các đồng nghiệp sang Trung-Quốc nghiên cứu, trao đổi y học, tôi mới có dịp tìm kiếm lại di tích xưa trong thư viện, trong bảo tàng viện, trên bia đá cùng miếu mạo, đền chùa và nhất là đến tại chỗ nghiên cứụ Gần đây nhờ các đồng nghiệp dùng hệ thống ADN, tôi mới biện biệt được nguồn gốc tộc Việt, biên cương thời lập quốc của tộc Việt.

Hôm nay tôi xin kết luận với các bạn rằng:

Người Trung-hoa không phải là con trời như những văn gia cổ của họ viết, dù ngày nay họ còn nghĩ như vậy.

Họ cũng không tự sinh ra, rồi tản đi tứ phương.

Không hề có việc người Trung-hoa trốn lạnh hay vì lý do chính trị di cư xuống vùng đất hoang, tạo thành nước Việt. Trong lịch sử quả có một số người Trung-hoa di cư sang Việt-Nam sau những biến cố chính trị. Như ngày nay người Việt di cư đi sống khắp thế giới.

Lại càng không có việc người Việt gốc từ dòng giống Mã-lai như một vài người ngố ngếch đưa ra.

Theo sự nghiên cứu bắng hệ thống ADN, từ cổ, giống người Trung-hoa, do giống người từ Ðông Nam-á di lên. Những người Ðông Nam -á lại đến từ châu Phi qua ngả Nam-á vào thời gian hơn 20.000 năm trước.

Người châu Phi đến Bắc Trung-hoa do ngả Âu-châu rồi vào Trung-á, khoảng 15.000 năm. Rồi hai giống người này tạo thành tộc Hoa.

Tộc Việt sống rải rác từ phía Nam sông Trường-giang, xuống mãi vịnh Thái-lan.

Biên giới nước Việt thủa lập quốc gồm từ Nam sông Trường giang đến vịnh Thái-lan, Ðông tới biển. Tây tới Tứ-xuyên của Trung-quốc ngày nay.

Ðến đây tôi xin phép các vị giáo sư, quý khách, các sinh viên cho tôi ngừng lời. Xin hẹn lại quý vị đến tháng 11-92 tôi sẽ trình bày trước quý vị về nguồn gốc triết Việt.

Trân trọng kính chào quý vị.

Giáo-sư Trần Ðại-Sỹ,
Giám đốc Trung-quốc sự vụ


Chú giải của Tăng Hồng Minh,

(1) Tiêu biểu mới nhất là một nhóm thức giả do nhà văn Vương Kỳ Sơn đứng chủ biên, đã xuất bản cuốn Việt-Nam đệ ngũ thiên niên kỷ vào năm 1994 tại Hoa-kỳ.
(2) Sau này được tôn thụy hiệu là Lục-Dương.

(3). Như vậy vua Lạc-Long lấy con gái của anh con bác.

(4). Độc giả có thể tìm đọc tài liệu nghiên cứu này bạt quyển 1. Anh-hùng Lĩnh-nam do Nam-Á Paris xuất bản 1987 mang tên « Bản phụ chú nghiên cứu về nỏ thần ».

(5). Phương pháp mà các giáo sư Tarentino, Vareilla Pascale dùng để biện biệt
những bộ xương khai quật trong cổ mộ vùng Hồ-nam, Vân-nam, Quảng-châu, Quý-châu
không khác các chuyên viên Hoa-kỳ trong ủy ban tìm kiếm tử sĩ Hoa-kỳ tại Việt-nam
đã xử dụng. Có điều, các chuyên viên Hoa-kỳ gặp nhiều khó khăn hơn, vì phải đi vào
chi tiết từng cá nhân, còn IFA chỉ phân chủng loại.

(6). Xin xem Cẩm-khê-di-hận do Nam-Á Paris xuất bản 1992, để biết hai trận hồ Ðộng-đình. Một trận do Chu Tái-Kênh, Ðinh Xuân-Hoa, Phật-Nguyệt, Ðinh Bạch- Nương, Ðinh Tĩnh-Nương, Quách-Lãng đánh với Lưu-Long, Mã-Viện. Một trận do Hoàng Thiều-Hoa cùng với các tướng trên
đánh với mười hai đại tướng quân Hán.

(7). Tư-mã Thiên, Sử-ký, quyển 1, Ngũ-đế bản-kỷ, Trung-hoa thư cục xuất bản 1959 trang 3-6.

(8). Ðộc giả muốn biết chi tiết trận đánh lịch sử này, xin đọc Ðộng-đình hồ ngoại-sử, cùng tác giả, do Nam-Á Paris xuất bản (1990).

(9). Xin đọc « Mùa xuân trên hồ Động-đình tưởng nhớ Trưng-Vương » trong phần bạt Anh-hùng Lĩnh-nam, do Nam-Á xuất bản 1987.

(10) Vũ Văn-Mẫu, Cổ luật Việt-nam và tư-pháp sử, quyển thứ nhất, tập thứ nhất, trang 9-51.

(11). Chữ văn hóa Bắc-sơn ở đây chỉ có ý nghĩa rằng cuộc khai quật ở núi Bắc-sơn
(Lạng-sơn), đã tìm thấy những cổ vật đồ đá. (Thời kỳ đồ đá)

(12). Chữ văn hóa Ðông-sơn chỉ cuộc khai quật ở Ðông-sơn, đã tìm thấy đồ đồng (thời
đồ đồng).

(13). Hè 1992 sau khi cùng phái đoàn IFA du khảo về loại cây trị cholestérol ở Vân-nam,
thời gian còn lại, Giáo-sư Trần Ðại-Sỹ đi khảo cứu xương người cùng các khai quật
ở Vân-nam, Quảng Ðông (Trung-quốc), các tỉnh Bắc-thái như Nùng-khai, Thanon, U-bon,
U-don Tha-ni. Giáo-sư Trần Ðại-Sỹ đã tìm lại được hai trống đồng thời vua Trưng,
ở Quảng-đông, để trong bảo tàng viện địa phương. Ông đã mất rất nhiều tiền, cùng
trăm ngàn khó khăn mới mua và đưa lọt về Paris .

(14). Chữ trăm trong ngôn ngữ Việt có nhiều nghĩa.

· Có nghĩa là đời người như:

Trăm năm trong cõi người ta.
Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau
(Kiều)

Trăm năm xe sợi chỉ hồng,
Bắt người tài sắc buộc trong khung trời
Trăm năm, trăm tuổi, trăm chồng,
Hễ ai có bạc tôi bồng trên tay.

(ca dao)

· Có nghĩa là chết: 

Khi nào cụ tôi trăm năm đi rồi.

Nhân sinh bách tuế vi kỳ
(Người ta sinh ra(Tục ngữ)

Trăm con trong huyền sử Việt hay Bách-Việt có nghĩa này.


Tài liệu nghiên cứu chính:

SÁCH CHỮ HÁN

· Tư Mã-Thiên, Sử ký, Trung-hoa thư cục Thượng-hải xuất bản 1959

· Ban-Cố, Tiền Hán thư, Trung-hoa thư cục xuất bản 1959

· Phạm Việp, Hậu Hán thư, Trung hoa thư cục xuất bản 1959.

· Hoài Nam Tử, quyển 18, Trùng
>Hoa thư cục Ðài Bắc xuất bản, 1959.

· Cố Dã-Vương, Ðịa-dư chí, Cẩm-chương thư cục xuất bản 1920.
>Trần Luân-Quýnh, Hải quốc kiến văn lục, cổ bản, thư viện Paris .

· Lê Quý-Ðôn, Phu-biên tạp lục, cổ bản của thư viện Paris .

· Lê Quý-Ðôn, Ðại-Việt thông sử, cổ bản của thư viện Paris .
Phan huy-Ích, Lịch triều biến chương loại chí, cổ bản của thư viện Paris .

· Quốc-sử quán, Hoàng-Việt địa dư chí, bản của thư viện Paris .

· Quốc-sử quán, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, bản của thư viện Paris .

· Ðịa đồ xuất bản xã, Trung-hoa nhân
>dân cộng hòa quốc phân tỉnh địa đồ tập, Bắc-kinh 1974.

· Ðại học văn khoa Hồ-nam, Hồ-nam lịch đại
khảo chứng 1980.

· Cùng rất nhiều tài liệu không tác giả, lưu trữ tại thư viện, bảo tàng viện Hồ-nam, Quý-châu, Quảng-đông, Quảng-tây, Vân-Nam.

SÁCH CHỮ PHÁP

· Léonard Aurouseau. La première conquête chinoise des pays anamites, BEFEO XXIII

· Claude Madrolle, Le Tonkin Ancien, BEFEO, XXXVII.

SÁCH CHỮ VIỆT

· Ðào Duy-Anh, Nguồn gốc dân tộc Việt-nam, Hà-nội 1946 lấy trăm năm làm hẹn)

Trăm năm như cõi trời chung,
Có nghề cũng phải có công mới thành.

(ca dao)

· Có nghĩa là tất cả: 

Trăm họ, hay trăm bệnh,
Trăm hoa đua nở mùa xuân,
Cớ sao cúc lại muộn buồn thế kia ?
(ca dao)

Trăm dâu đổ đầu tằm.




Thế Phong : HÀ NỘI, NƠI CÓ MỘT LẦN CHÚNG TA THÂN ÁI…

HÀ NỘI,  NƠI CÓ MỘT LẦN CHÚNG TA THÂN ÁI…

                               

 (  lời tạ tội gửi Trần Tĩnh : ” … với mày lúc nào cũng  là ân nhân  của  tao- không chỉ đời thường mà cả trong chữ nghĩa nữa …” TP.)

 

 bút ký                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                       Thếphong.

 

—————————————————————————————————————————-                                                                   

….- có ai biết Đông-Lu-Xe, tên một người Mỹ được việt hóa- từng làm thông dịch phái đoàn văn nghệ Việtnam sang Mỹ  không ?

Lữ Phương lắc đầu, Diễm Châu cười mím chi, như có vể biết lại chưa muốn nói ra.

Nguyễn Đình Đầu, Huỳnh Bá Thành giữ  im lặng. Một vị vô danh ( không hỏi tên) xác quyết;

– Dễ thôi, đó là Luke, trùng tên viêt với thánh Lu-Ca

 – Đông -Lu-Xe chính là đệ tử thánh Lu Ca ở miền Đông  ?

–   Đông nào ? Hoa Kỳ ? Nam Bộ?

– Nam bộ, đó là Don Luce, nhà báo từng đưa phái đoàn Mỹ sang thăm  Chuồng Cọp vào

 thập niên 70 …”——————————————————————————————————-

 

 

                                                                                                                           ngày 3 tháng 10 năm 1995.

 

 Tối hôm qua trước khi về nhà, tôi được lãnh 3 trăm ngàn đồng ngày hôm trước- tiền đài thọ ăn, uống nghủ nghỉ, di chuyển, từ phòng Hành  chánh đại sứ quán Pháp . Mọi người phải ký vào sổ, với đầy đủ tên, họ, số tiền viêt bằng chữ – nên đã nghe có người nói là văn nghệ sĩ thì không được miễn sao ?

Ngồi vào mâm cơm, tôi cầm tiền đưa cho cháu Trung:

–        … gọi  là 1/3 tặng cháu, vì bác ra Hà Nội vội vàng chẳng kịp mua quà.

Kiều Liên Sơn hỏi tôi, sinh hoạt hội họp có gì lạ, thật ra chẳng có gì quan trọng- không hiểu sao Kiều rất lưu tâm việc tôi giao lưu văn hóa với các nhà văn Pháp.  Nó như có con mắt kín giấu, ưa theo dõi dấu tích lạ của ban bè.

Kể cho Kiều nghe, bài diễn thuyết văn chương sáng nay, Olivier Rolin trích dẫn một đoạn văn xuôi của Bảo Ninh trong” Nỗi buồn chiến tranh”-  tài năng nhà văn không cần ai mớm hay đặt hàng- ông vẫn có phong độ tự do  như một nhà văn phương tây.

Nhớ buổi làm thông dịch viên tiếng pháp cho nhà báo nữ Thúy Nga, tùy viên Robert  Lacombe cũng phát biểu tương tự, nhưng  khi báo” Tuổi trẻ tp.HCM” đăng, lại thiếu câu này.

Buồn cười hơn, Rolin dẫn chứng bằng đoạn văn đã được dịch qua pháp  ngữ, rồi nữ thông dịch viên dịch lại sang tiếng việt; thì đúng “tam sao thất bổn” Tại sao lại không phát trước một bản cho người thông dịch ra tiếng việt tham khảo ?

Thấy cảnh Kiều ngồi vắt vẻo trên xe gắn máy chờ tôi họp xong đèo về- rất mất thời gian cho cả hai, liệu tôi có thể mượn xe đạp của chị Thái( vợ Kiều Liên Sơn)  không ?  Kiều đồng ý ngay, và chị Thái cho rằng, chỉ cần đi sớm  mươi phút đến trường cũng kịp lên lớp. Kiều hỏi, có cần gỡ yên xe phía sau xe  chở cu Trung không ?

Lắc đầu, để yên xe chứng tỏ” cha thì già, còn con thì cọc” chẳng đáng yêu sao ?

 

                                                        ***

Tôi lóc cóc đạp xe đến  hồ Thuyền Cuông, tạt vào quán cóc bên đường. Gặp Lý Lan kêu í ới, cô ta định đến 9 Nguyễn Đình Chiểu tham  dự buổi thảo luận văn chương dịch thuật.

Rủ, tôi lắc đầu, vậy  cũng không đi luôn.

Cô chìa tấm thiệp in 2 thứ tiếng việt, pháp”  Invitation uniquement”- lại chỉ dành cho người có thiệp mới thôi sao?

Và nhắc lại, vẫn như tấm vé máy bay, ghi” classe économique” kèm chữ việt” vé tiết kiệm” thì đồng nghĩa với” vé rẻ tiền” rồi còn gì ?  Ý nghĩa giống nhau mà cứ thích đánh bóng sáng lóang chữ và nghĩa ?!

 

                                                          ***

Kể cho Lý Lan  chuyện Nguyễn Văn Vĩnh am hiểu tận tường pháp ngữ, lại đủ tài lực diễn nghĩa” Truyện Kiều”, cũng chỉ có thể dịch:

“ Khuôn trăng đầy đặn, nét ngàu nở nang” thành” sa face est ronde comme la lune..”,

vậy chỉ có vế đầu được dịch, sòn sau đành bỏ lửng.  Người  phương tây đọc đến đây, không thể nghĩ khác ; thẩm mỹ người Á đông quá đơn giản- phụ nữ đẹp nhất chỉ được đem so sánh với khuôn mặt tròn trăng ?!

Thì cũng từa tựa giai thoại Vũ Bằng dạy tiếng phú lãng sa cho Ngô Tất Tô:” le dinh dong” là cái” đỉnh đồng”, “ la laboratoire” Lã Bố ra tòa”,”un”’ một”, “ deux”,” hai:,” trois”,” ba”, “nuit”,” đêm”, “jour”,” ngày”, finir”,” hết”,”encore” là “ còn”…

Và Tất Tô được khuyên:

–        Sau  khi học tiếng tây thì phải thực hành- là vào hiệu tây ăn, không những chỉ sang trọng,  mà thức ăn lại ngon- đó là lời thầy dậy đấy trò ạ !

–                       Ngô Tất Tô bèn nghe lời thầy, chuẩn bị được món tiền kha khá bỏ vào tú- hiên ngang bước vào cửa một quán ăn tây. Chàng ta vẫn mặc quốc phục, áo the đen hai lớp, quần trắng, giầy “ dôn”, chọn một bàn trống gần cửa sổ.  Chàng chỉ đại vào” menu” một  món ăn, ít phút sau thức ăn  được một cậu bồi bưng ra, chiếc khăn trắng  thõng xuống  phía tay trái, gật đầu chào khách   trước khi rời bàn. Chàng  ăn ngấu nghiên, song chưa mấy khoái khẩu. Liếc mắt sang  bàn bên, vợ chồng quan tây, bà đầm xòe ăn xong, liếm mép môi, vẫy tay gọi cậu bồi:

-“ Encore!”.

 Chàng nghĩ trong đầu, quan tây liếm mép, tất món ăn kia phải ngon miệng, rồi vẫy bồi lại, bắt chước lên giọng:

-“Encore !”

Rồi đĩa thức ăn trên  bàn quan tây, bà đầm xòe được bưng ra- nhìn sang sao ngon thế, trong lòng chắc mẩm bàn bên này cũng sẽ có một đĩa thức ăn ngon tương tự. Chàng  chưa ăn, nước miếng đã tràn ra miệng, bây giờ  chỉ  còn  chờ đợi cậu bồi bưng ra thôi.  

Nhìn đĩa ăn bưng ra,  chàng thất vọng, tại sao món ăn vẫn hệt như lúc đầu gọi, không giống đĩa thức ăn  khói bốc nghi ngút thơm phức  nơi ông tấy, bà đầm ?

Chàng thất vọng , nhưng không  đấy ! – “ le dinh dong” chưa chắc là” cái đỉnh đồng, còn” la laboratoire”  có là Lã Bố ra tòa ?.

Chàng vỗ vào đùi “ đét” một cái, “ ngộ” ra:

– …mà bên   tây làm” chó” gì có Lã Bố ? ‘ thằng tây tím dóc tổ’ này, mày đã” xỏ lá kềnh”  bố mày rồi đấy !” encore” này”  đích thị chẳng giống’ encore” kia rồi!

 

-Lý Lan  cười rúc rích , và yêu cầu tôi kể thêm đôi ba giai thoại- chẳng hạn chuyện dịch từ tiếng anh sang tiếng việt, nếu có.

 

                                                             ***

Có một nhân viên CIA phục vụ ở tòa  Lãnh sự Mỹ ở ĐàNẵng  viết cuốn”Decent interval”(*) kể chuyện phát C Ration cho lính bảo vệ tòa Lãnh sự Mỹ. Dịch giả dịch” “C Ration”(**) là:

“.. phát cho lính Việt Nam Cộng Hòa ( VNCH) bảo vệ tòa Lãnh sự Mỹ” đầy rẫy lương thực số 3”.

Rõ nhất, dịch theo lối” từng-chữ-một” ( tạm dich” mot-à-mot”-“ ration” thì hiểu lơ mơ là” lương thực”; còn “ C”) chữ đứng hàng thứ 3, sau A, B) được ghép lại thành

” lương thực số 3”.

 

(* – bản tiếng việt” Cuộc tháo chạy tán loạn” đã tái bản nhiều lần.

(**- “ C Ration” tiếng anh-mỹ- “Ration C” tiếng  pháp. Đó là một hộp thiếc hình chữ nhật chứa lương khô- gồm mấy cái bánh bích-quy mặn, 1 hộp thịt( mỏng) , 4 điếu thuốc lá thơm, 1 gói cà phê hòa tan, 1 hộp quẹt giấy, 1 thỏi sô-cô-la, 1 gói cam bột, phát cho lính khi  đi hành quân.(TP chú thích).

 

..  dịch theo kiểu  này còn thấy trên báo” Tuần tin tức” vào thập niên 80-  chẳng hạn

“ đứa-trẻ-bênh-viện” là” baby hospital”- giống  hệt kiểu Vũ Bằng dạy Ngô  Tất Tô.

 

Có một dạo, tôi thường đọc” Nhân dân chủ nhật” phát hành vào cuôi tuần, và không thể mua ở sạp báo mà phải ra bưu điện gần nhà mua.

 

Cầm trên tay tờ báo” Nhân dân chủ nhật số 33 “,  đọc ngay bài ký, tác giả Nguyễn Khải  mới từ Mỹ trở về, kể lại:

“.. sau nhiều lần, ông phải lẻn trốn bọn quá khích vây đánh, làm nhục, vì ông đã  sang Boston họp hành, theo lời mời của hội” Cựu chiến binh Huê Kỳ” .

Thật tội nghiệp  đọc mấy dòng  tả cảnh “ lẻn” ra cửa sau cùng thông dịch viênNguyễn bá Chung dẫn dắt, đã   trốn thoát được “ đòn thù’ cựu chiến binh VNCH biểu tình phản đối” phái đoàn nhà văn Cộng sản” – cũng   từ bài báo  này, lần đầu  được  nghe  tên Đông-Lu-Xe được Nguyễn Khải việt hóa !

 

Chuyện dịch văn chương- theo tôi rất cần tay vừa giỏi tiếng việt vừa thông tiếng  anh-mỹ- mới hy vọng lột tả được hàm ý ẩn chìm nghĩa lý văn chương’ vá trời lấp biển”(*)- tầm cỡ Don Luce chẳng hạn. Nguyễn Khải nhắc tên người Mỹ giỏi giang ấy thường được  sắm  sẵn vào vai trò thông ngôn các phái đòan  Việtnam- đó là “ Đông-Lu-Xe”

.( chữ  đậm ,gạch nối – NV).

Cùng thời gian này- tôi cầm tờ báo” Nhân dân chủ nhật”  số 33 ấy- trện đường đến dự tiêc cưới kỷ niệm lần thứ 25 của ông bà Trần Gia Thoại, bút danh Thế Nguyên .Ông bà mời đủ thành phần tham dự ( người  của trước và sau 1975 ) và sắp xếp chỗ ngồi như trong nhà thờ – nam một bên, nữ một bên.

Vợ tôi ngồi cùng bàn Tăng Hoàng Xinh ( vợ nhà văn  Thế Nguyên), và một số các bà, các cô- trong đó có chị Hai ( chị vợ bà Xinh) . Chị Hai rất nổi tiếng với món “ ra-gu bò”- bữa nay nấu thết khách  văn nghệ sĩ Saigon.

 

(*  trong tuyển tập thơ” từ cuộc chiến châu Á” – We promise one another-( tam dịch”  Đợi ngày chiến thắng’) do Don Luce, John C. Schafer & Jacqueline Chagnon sưu soạn ( Nxb ‘ The Indochina Mobile Education Project”- Washington D.C. 1971- mimeographed book). Nguyễn Khải phiên âm tên của “Don Luce” thành”Đông Lu Xe”( tôi nhớ từ thời kháng chiến chống Pháp, đã có lời khuyên: mỗi khi viêt-hóa  một chữ có  nguyên âm la-tinh, thì nên ghi chú” tên la tinh gốc” ắt sẽ dễ tra cứu hơn). Bởi vậy, đọc bài báo nhà văn Nguyễn Khải bắt gặp  tên Đông Lu Xe được việt hóa- thật lạ hoắc  với mọi người, kể cả người viết văn, làm báo của hai miền Nam, Bắc.

Từ 1955 ở miền Nam, Don Luce đã tham gia  trong  đòan Chí nguyện quốc tế ( IVS) , sau  giảng dạy ở Đại học Nông Lâm Súc ( thời chính phủ Diệm). Năm 1970,  tố cáo  t rước thế giới về” Chuồng cọp Côn Đảo”, ông dẫn một phái đoàn Thượng nghị sĩ Mỹ ra thăm Côn Sơn.  Trong tuyển tập thơ sưu soạn trên, Don Luce còn cho in  bản vẽ ( sketch) tù nhân vừa bị xiềng trong còng vừ bị đánh đập rất tàn nhẫn, vô nhân đạo xảy ra từ thời thực dân Pháp  tới thời   chính phủ Ngô Đình Diệm.

Lại nữa, Don Luce cón ký bút danh Đoàn  Lân, ký trên  mẩu báo  ngắn đăng trên tạp chi” Trình bày” vào thập niên 70 ( Thế Nguyên chủ nhiệm). Ông Luce rất giỏi tiếng việt, học thấy dạy  người miền Bắc, nên rành rẽ ngũ âm: s8a1cm, huyền, hỏi, ngã , nặng. Và trong tuyển tập thơ” We promise one another”- trang 3 ghi câu đề từ: “ From the Vietnamese mythology comes an aspiring proverb about struggling towards the impossible and finally succeeding. We dedicate these poems to those who promise: To mend the sky and fill the oceans. Vá trời lấp biển.

Don Luce làm thông dịch hầu hết cho các phái đoàn Việtnam qua Hoa Kỳ sau 1975.

 Báo  “Phụ Nữ tp. H.C.M “số 2  ( ngày 14/1/2004) tường thuật lễ truy tặng huy hiệu tp.HCM cho  hai công dân Huê Kỳ:

 “….Ngày 2/1/2004, UBND / tp. H.C.M. đã tổ chức lễ trao tặng huy hiệu tp. H.C.M. cho 2 công dân Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, là Don Luce và tiến sĩ Mark Bonacci, về những hoạt động chống AIDS tại Việtnam:” Don Luce là một người bạn chiến đấu đã gắn tuổi thanh xuân của đời mình với một giai đoạn đấu tranh nóng bỏng của Việtnam….”(TP chú thích).

 

Được xếp ngồi bàn đầu: Lữ Phương, Nguyễn Đình Đầu, Huỳnh  Bá Thành, nhà văn Đinh Phụng Tiến,  thi sĩ Diễm Châu, nhà báo Quốc Thái, nhà văn Hồ Phong vv.. Tôi hỏi, như đùa cợt Lữ Phương:

-Sao dạo này thứ trưởng làm nghề gì ?

Nuôi heo, chứ còn làm gì hơn ?

Tôi lại hỏi:

-… có ai biết Đông-Lu-Xe- tên một người Mỹ được việt hóa- từng làm thông dịch viên cho phái đoàn văn nghệ Việtnam sang họp ở Boston ?

Lữ Phương lắc đầu, Diễm Châu cười mím  chi- như biết lại chưa muốn nói ra.

Nguyễn Đình Đầu, Huỳnh Bá Thành giữ im lặng , nghe nhiều hơn là phát biểu.

 Một vị vô danh ( không hỏi tên) xác quyết:

-Dễ thôi, đó là Luke- trùng tên việt với thánh Lu Ca . Đông-Lu-Xe chính là đệ tử của thánh Lu Ca ở miền Đông…

-.. Đông nào  ?( một người khác hỏi).

– Đông Nam Bộ, chứ Đông nào nữa !

Mọi thực khách cười rũ lên, và lại bắt đầu cầm ly bia giơ cao, đồng thanh  hô:

–        .. dzô, dzô…

–             Nghe xong, Lý Lan ngắt, với lời bình:

–        – Ông cũng từng dịch sách tiếng pháp sang tiếng việt- vậy đã có lần nào” bị ăn đạn” chưa  nhỉ ?

-“ Ai nên khôn chẳng dai đôi lần ?”

–        -Câu thơ như là của Tố Hữu, đúng không ? Vậy thì” kể cái dại đôi lần” cho nghe đi, Lý Lan nói vậy.

–         

                                                   ***

Nhờ bạn Hoàng  Văn Giang ( vừa bạn, vừa là “ em tinh thần”) cho mượn cuốn ký sự lịch sử của  Louis Roubaud, đọc xong, thấy rất có giá trị lịch sử, tôi bỏ công dịch, có lẽ mất hàng tháng trời- Lý Lan biết sao không ?

Thập niên  1930, Pháp cai trị ba kỳ: Bắc, Trung và Nam kỳ.,  thực dân gọi dân bản xứ” annamite”- thì lại có một nhà báo  tự do , tư tưởng tiên bộ, đã sang Đông Dương để làm một thiên điều tra phóng sự, viết về đời sống”  cu li trâu ,chó” dân bị bảo họ.  Cuốn sách phát hành đúng dịp lãnh tụ  “ Việt Nam Quốc dân Đảng” bị  đưa lên đoạn đầu đài ở Yên Bái, nên thực dân Pháp cấm phát hanh, tàng trữ trên toàn cõi Đông Dương.

Ngay tựa sách thôi, tác giả dung hai chữ” Việtnam, la tragédie indochinoise”- đã là một thách thức đối với thực dân Pháp và Nam triều bù nhìn thời ấy.

Tôi dịch miệt mài khoảng 1 tháng  là xong, và cho in theo lối” ronéotypé”, trong đó mắc một sai phạm, một câu dịch chết nghĩa. (*)

Thế rồi, tạp chí” Văn” có bài viết ngắn đả kích kiệt liệt- ngẫm ra thật chính xác, một bài học cho dịch giả non tay đã mắc lỗi nhỏ  trở thành chuyện lớn. Bài báo kia ký tên

” Mõ  Làng Văn”(**).

Cũng cần nói thêm chi tiết làm sáng tỏ về cuốn sách dịch kia. Khi đưa lên Hội đồng kiểm duyệt Tổng nha Thông tin, khi ấy nhà văn Võ Phiến là kiểm duyệt viên. Chính ông ta đề nghị Chánh sự vụ Hoàng  Nguyên không cấp phép cuốn này. Tôi ấm ức, cứ in ronéo  , ghi hàng chữ: “…sách in ronéo phổ biến hẹp trong anh em văn nghệ, – không bán ra ngoài”.

 Cuối  1963, tổng thống Diệm bị đảo chính- năm 1964, tôi lại nộp  xin  kiểm duyệt. Lần  này” Việtnam bi thảm Đông dương “ được cấp giấy phép,  ở bài” Lời nói đầu”, tôi viết có vài câu ám chỉ ông kiểm duyệt viên Võ Phiến:

“… Trong lãnh vực văn nghệ, chúng tôi phải làm cho văn nghệ tiến bộ, nên không e ngại trước những cản trở phi lý, sai lạc kia- như loại người làm chúng tôi buộc phải dài dòng kể tên trên kia.  Anh ta đã không hiểu gì, lại cầm bút” tô bút đỏ(***), phê” cấm xuất bản  bản  dịch , một tài liệu lích sử quí  giá về lịch sử Việtnam vào thời đọan 1930- mà ai đã là người việt tiến bộ đều cần phải được biết.

“Lời vào đề xuất-bản-cục” này, xét ra,  chính là cái khóa miệng n những tên gian ác, bất lương, chuyên sống an phận, chặn bước tiến riệng không chỉ của bọn chúng, àm còn làm hại tới  người chung quanh chịu lây thiệt hại quyền lợi tinh thần. Những kẻ chuyên sống bằng nghề vu khoát, đó là kẻ thù văn học mới hôm nay. Các ngươi hãy ngửng mặt lên, để từ bỏ dĩ vãng bùn nhơ thực dân, thư lại nuôi dưỡng- để cùng đi lên đường cùng chúng tôi là vừa rồi. ( cho rằng tuy hơi muộn vẫn còn hơn là  không)…” (****).

——————————————————————————————————-

(* – bản dịch việt ngữ” Việtnam bi thảm Đông Dương” của Đường Bá Bổn ( NXb Đại Nam văn hiến, Saigon 1963, tái bản 1965, sách in ty- pô. Sau 1975, Nxb Công an nhân dân ( Hà Nội tái bản, 2004), Nxb Thanh niên, Hà Nội tái bản lần  2, 2005). Điểm sai   câu dịch là;” Chiếc” Tout Saigon”  của  tây đậu ở bến sông Saigon…” ( trang 11) mà đúng ra phải  dịch là :” .. giới thượng khách Saigon đêm nay đều có măt tại bến sông Saigon..”

(** –  “ Mõ Làng Văn”, bút danh chung báo” Văn, có thể  là thư ký tòa soạn Trần Phong Giao viết, hoặc Nguyễn Mạnh Côn ( thầy văn chương TPGiao), hoặc chính Võ Phiến.. ( chủ nhiệm: tạp chí” Văn”: Nguyễn Đình Vượng. ). Ông Vượng là lái buôn, chỉ lo tiền bạc, thuê người lo chuyện đọc bài vở, ban đầu Trần Phong Giao  làm thư ký tòa soạn, tiếp hồi hai , nhà văn Mai Thảo( từng chủ nhiệm, chủ bút tạp chí” Sáng tạo”, hồi  chót :‘ giáo sư trung học chuyên khoa dạy triết” Nguyễn Xuân Hoàng..

“ tô bút đỏ” chỉ các kiểm duyệt viên Sở phối hợp nghệ thuật ( tên trá hình  Sở Kiểm duyệt thuộc Tổng nha Thông tin, thường dung bút  mực đỏ gạch bỏ đoạn văn’ cấm” không cho  phép in trong sách hoặc báo.

(****- trong bài” Lời nói đầu”( bản tái bản 1964 / Đại Nam văn hiến  Saigon ,in typô, trang 9- (TP chú thích)

 

Về nhà văn Trần Phong Giao ( tác giả” Ngồi lại bên cầu”)- tự “ Trần Phoóng”( sước danh do  Duyên Anh đặt )  có thù tôi thì chẳng có gì   oan uổng .  Bởi lẽ, tôi đã” đạo” 10 ngàn đồng bạc mà anh đã để dành trong bao phong bì  ghi” của triệu  phú Trần Hoài” tại” phòng văn tọa lạc tại  đường Phan Thanh Giản,  Cap Saint Jacques . Ra xe  trực chỉ Saigon vậy  tôi đã có tiền để  trả hết món nợ” cơm hàng, cháo chợ,  vợ người dưng” qua  8, 9 tháng  ăn chịu, nợ  tiền  nhà thuê ở Xóm Chùa  Tân Định, để  nằm lì  viết bộ sách “Lược sử văn nghệ Việtnam”( 4 tập).(*) Và tôi chưa có cơ hội nào hoàn trả món nợ kia cho ân nhân: nhà văn, thư ký tòa soạn tạp chí”  Văn” Trần Phong Giao.

Phải nói thật, đã có 1 lần gặp ân nhân-  bữa ấy mặt mũi anh nhem nhuốc, thân hình gầy guộc, lưng khom, tóc tai bơ phờ, đang bước lảo đảo từ Nhà hàng Thanh  Thế ( Sabourain- mới đổi tên  đường Tạ Thu Thâu)- gặp tôi, ân nhân nắm lấy áo tôi:

-…tao bị ốm mới ra nhà thương , chẳng còn tiền nong gì; mày có tiền không thì trả nợ tao đi !

Cho tay  vào túi quần, xem còn ít tiền nào không,  vét sạch đưa hết cho anh, và năn nỉ:

-… với mày, lúc nào cũng là ân nhân của tao, không chỉ đời thường mà cả trong chữ nghĩa nữa..”

Và từ đó, học được một cáh nhìn- là thế này – một khi dụng ý viết đả kích ai thì mới chịu tìm tòi đến ngọn ngành, sử dụng vốn liếng đánh đấm mãnh liệt nhất để hạ gục đối thủ.

Còn khen tặng ư? – quá dễ – sẵn  ngữ nghĩa bốc thơm, có thể đã dung ngày hôm qua, vẫn có thể áp dụng vào hôm nay vẫn hợp thời.  Đến giờ phút này, tôi chưa trả nợ ân nhân mon 10 ngàn đồng tiền vàng vào  thời điểm 1956 là rất lớn !

Còn một điều không nên làm, nhưng vẫn cứ làm – như để bôi xấu- chẳng  hạn một đoạn viết về anh như thế này:

“…riêng về Trần Phong Giao, toi đặt cho anh, qua tên nhân vật truyện của tôi trong tự sự kể” Nửa đường đi xuống”: “ nhà triệu phú Trần Hoài”. Điều này khiến anh phiền lòng không ít, nên có cơ hội, là anh đả kích tôi qua các bài điểm sách trên ‘ Tin Sách”,  hoặc “ Văn”.( bài viết có chủ ý).  Nhưng vơi tôi- bao giờ vai trò anh cũng là ân nhân, dưới mắt tôi – , anh luôn là người thái thịt bò mỏng tuyệt diệu nhất thế kỷ  XX– mà tôi được hân hạnh sồng cùng anh- trước kia ở Vũng  Tàu, sau Saigon . Lại thêm  một  điều khốn nạn nhất của tôi –  mỗi khi lôi sự tích” thái thịt bò mỏng đến nỗi gió bay  được”- như để bêu xấu chàng mổ bò rời bỏ nghề sang làm nghề văn chương”. (**).

 

Lý Lan nghe xong, cười, nụ cười thật ấm lòng, vừa như tha thứ, khoan dung lại còn như khích lệ:

-Còn chuyện gì về nghĩa lý văn chương, hãy kể tiếp  rồi trưa nay đi ăn cơm bụi  Hà Nội nhé !

[]

  ( trích trọn “ Chương 3” / Hà Nội 40 năm xa / Thế Phong / Nxb Thanh niên Hà Nội tái bản 2006,- trang 42 – 53.)

 

THẾPHONG

 

 

 

(*- Trích” Hồi ký ngoài văn chương”/ Thế Phong / Nxb Văn Nghệ phát hành,  Cali, 1995)

(** – Trần Phong Giao tên thật Trần Tĩnh ( tự Trần  Phong). Thời kỳ 1956  chưa có bút danh Trần Phong Giao. Khi ấy anh  hành nghề xẻ thịt bò, bán ở xạp  trước cửa nhà, trên đường Phan Thanh Giản, Vũng  Tàu. Rất có thể nhờ nghề này, anh có tiền rủng rỉnh, sau khi đọc tập truyện ngắn( nhiều tác giả) có tựa đề” Làm lại cuộc đời”( lấy tên truyện ngắn Thế Phong làm tựa sách), do thi sĩ Tuấn Giang ( Hồ Bá Cao) bỏ tiền in, phát hành.  Bìa   của họa sĩ Tạ Tỵ. Bỗng nhiên, tôi nhận được lá thư một đọc giả ký tên Trần Tĩnh mời nhà văn ra Cap Saint Jacques nghỉ mát, ăn bí-tết thả cửa- để hồi sứ tiếp tục hành nghề văn, sẽ không lâm cảnh nhà văn Vũ Trọng Phụng chết mà không  được nhai một miếng thịt bò bí-tết.( đại để nội dung thư viết vậy).

Khi tôi ra chơi, anh Tĩnh lại phải về Saigon ngay chiều hôm ấy, anh bảo tôi cứ ngủ tại phòng văn , cứ thoải mái ăn, ngủ, đọc sách- chờ anh hôm sau  trở về.

Tối hôm ấy tôi lấy sách đọc- thấy một phong  thư trong đựng 10 ngàn vnđ- ngoài đề hàng chữ:” của triệu phú Trần  Hoài”.  Tôi liền cho  phong bì vào túi, xách theo luôn cả chiếc máy chữ xách tay Olivetti, rồi  cuốn gói êm lặng ra bến xe.

 Về đến Xóm Chùa –Tân Định  trả nợ tiền thuê nhà, tiền ăn, tiền thuốc lá Ruby gần hết số tiền kia.

 Hàng ngày, tôi đến tòa soạn tạp chí” Bông lúa” ( kỹ sư Trần Văn, giám đốc trị sự, thuê” manchette” của chủ nhiệm Hà Đức Minh- đảng  Cần lao / Ngô đình Nhu)- cho đăng loạt phê bình văn học tiền chiến như  Khái Hưng, Nhất Linh vv..  riêng tôi  để chờ xem có tin tức gì phản hồi từ Vũng Tàu không? ( vì lẽ tôi chỉ cho”  nhà triệu phú Trần Hoài”liên lạc với tôi qua địa chỉ tòa soạn báo” Bông lúa”- nằm trên đường Trần Hưng Đạo, Saigon 1).

Cũng lần đầu tiên ,tôi gặp nhà văn Sơn Nam ( Phạm Minh Tày) ở tòa soạn báo” Bông lúa”, anh mới ở tù ra, kiếm sống bằng cách đến bất cứ tòa báo nào xin đăng bài để có tiền sống độ nhật.

Thời gian  vào cuối 1956- tôi rất ít giao du với bất cú ai: bạn viết báo, viết văn- và sợ nhất là bất cứ người lạ nào nhận diện được vóc dáng  tôi. Nên ý nghĩ  phải thay đổi y phục, cách ăn mặc, đến tóc tai

( húi cua, tiền văn minh, hậu sư cụ) và   tránh trườn mặt ra phố, càng ít càng tốt( TP chú thích).

[]




Quốc Nam : Một Năm Nhìn Lại, Một Đi và Một Đến

Một Năm Nhìn Lại, Một Đi và Một Đến

– An Lộc Foundation sắp ấn hành quyển sử liệu “Chiến Thắng An Lộc 1972” bằng Anh Ngữ.

* Tạp ghi của Quốc Nam

Năm Con Mèo vừa qua, tôi có khá nhiều chuyện muốn kể, nhưng chỉ xin ghi lại một vài sự kiện đặc biệt mà thôi.

Đầu năm, Global SRBS-HD Radio (The world’s first Vietnamese HD Radio) do tôi điều hành, đã tổ chức Đại Lễ Thượng Kỳ đầu năm rất trang trọng, tại Kỳ Đài Việt-Mỹ cao 36 feet. Đồng bào tham dự đông đảo đủ 4 thế hệ, từ em bé 2 tuổi tới cụ già 87 tuổi. Ngoài ra, các em dưới 12 tuổi đều được tặng tiền lì xì, mà em nhận được bao lì xì cao nhất là 150 Mỹ kim.

Tấm hình hiếm quý với 4 khuôn mặt thi nhân

Ngày 11 tháng 10 năm 2011, lão thi sĩ Hà Thượng Nhân đã ra đi vĩnh viễn về cõi vĩnh hằng, hưởng thọ 91 tuổi. Tên thật ông là Phạm Xuân Ninh, cựu Trung Tá Chủ Nhiệm nhật báo Tiền Tuyến của QLVNCH. Ông là một thi nhân được giới văn nghệ sĩ & truyền thông báo chí Việt Ngữ kính trọng hàng đầu, nên ông thường được giới này gọi là Hà Chưởng Môn. Tôi quen biết ông khá thân thiết. Trong thời gian 10 năm định cư ở Thung Lũng Hoa Vàng San Jose, tôi thường chuyện trò văn thơ với ông. Lần cuối cùng tôi và một số văn nghệ sĩ gặp Hà Thi Sĩ vào cuối năm 2008, khi tôi từ Seattle trở lại thăm San Jose.

Thập niên 1980 & 1990, những sinh hoạt thi ca rất hiếm hoi. Lão thi sĩ Hà Thương Nhân gợi ý với tôi làm sao vực dậy nền thi ca Việt Nam tại hải ngoại? Tôi liền gọi nhị vị thi sĩ Nguyên Sa và Hoàng Anh Tuấn để xin ý kiến. Hai ông này cũng rất tán đồng ý kiến này. Thế là tôi vận động Hội Tương Trợ Cao Niên Đông Dương và Đông Thành Radio (đài phát thanh Việt Ngữ đầu tiên ở hải ngoại) hỗ trợ Cơ Sở Văn Hóa Đông Phương (ngày đó tôi là Giám Đốc Điều Hành) đứng ra thực hiện một chương trình thơ nhạc đặc biệt.

Chiều Chủ Nhật ngày 5 tháng 5 năm 1991, “Ngày Thi Ca Việt Nam” đầu tiên ở hải ngoại đã mở ra, với sự hiện diện của 4 thi nhân: Hà Thượng Nhân, Nguyên Sa (Trần Bích Lan), Hoàng Anh Tuấn và Quốc Nam. Bốn người thơ này đã được thu vào ống kính của nhiếp ảnh gia Quang Lộc.

Quan khách và đồng hương ngồi đầy hội trường Call-Me-Dragon 500 ghế. Các nam nữ nghệ sĩ trình diễn trong chương trình hầu hết là người địa phương, chỉ có 2 nghệ sĩ nổi tiếng đến từ Nam Cali là Hùng Cường và Quỳnh Như.

Sau chương trình thơ nhạc “Ngày Thi Ca Việt Nam” thành công vượt bực như vậy, dư luận mới biết rằng bộ môn ngâm thơ vẫn được mọi người Việt yêu thích. Kể từ đó, nhiều băng ngâm thơ hoặc thơ nhạc mới được sản xuất để tung ra thị trường.

Tấm hình 4 thi sĩ trong Ngày Thi Ca Việt Nam năm 1991, nay bỗng trở thành hiếm quý. Bởi lẽ 3 người thơ lớn đã bỏ trần gian ra đi tại California (Hoa Kỳ) và không bao giờ trở lại:

– Thi sĩ Nguyên Sa từ trần ngày 18 tháng tư năm 1998. Thọ 64 tuổi.

– Thi sĩ Hoàng Anh Tuấn từ trần ngày 1 tháng 9 năm 2006. Thọ 72 tuổi.

– Thi sĩ Hà Thượng Nhân từ trần ngày 11 tháng 10 năm 2011. Thọ 91 tuổi.

Như vậy, 4 thi nhân nêu trên từng thân thiết nhau, nay chỉ còn một mình Quốc-Nam tôi trên cõi dương gian đầy sóng gió này.

 

Gần tới tháng 6/2011, kẻ phản bội VNCH Nguyễn Cao Kỳ lại ồn ào nhận ông ta là người khai sinh Ngày Quân Lực 19/6, tôi tức tốc vận động một số cựu Sĩ Quan Đà-Lạt & Thủ Đức tổ chức Ngày Vinh Danh QLVNCH tại Cổ Lâm Pagoda (ngôi chùa VN đồ sộ nhất tiểu bang Washington) vào ngày 18 tháng 6 năm 2011. Đông đảo cựu quân-cán-chính VNCH và đồng bào đã ngồi đứng tràn ngập hội trường của Chùa.

Bốn diễn giả đã lên sân khấu vinh danh QLVNCH gồm: Linh Mục Trần Đức Phương (nguyên Sĩ Quan Tuyên Úy Công Giáo Trường Võ Bị Dalat, Đại Học Chiến Tranh Chính Trị & Trường Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp), cựu Thiếu Tá LLĐB Nguyễn Minh Đường (Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tiểu bang Washington), Cựu Đại Úy Nguyễn Công Ba (Chủ Tịch Hội Cựu SVSQ Trừ Bị Thủ Đức Washington), và Cựu Sĩ Quan Dalat Nguyễn Quốc Nam (nguyên Chủ Tịch Hội Phế Binh Quân Khu 3). Đây chính là Ngày Vinh Danh QLVNCH 18/6 đầu tiên được thực hiện ở hải ngoại (không phải là Ngày Quân Lực 19/6).

 

Họp mặt giới văn nghệ sĩ Tây Bắc Mỹ

Ngày 9 tháng 10 năm 2011, lần đầu tiên đông đảo văn nghệ sĩ tại Miền Tây Bắc Châu Mỹ (gồm Vancouver B.C. Canada & 2 tiểu bang Oregon – Washington) đã họp mặt ở Seattle. Nhân dịp kỷ niệm 18 năm thành lập Global SRBS-HD Radio (1993-2011), và Nửa thế kỷ cầm bút Quốc Nam. Phái Đoàn tiểu bang Oregon hướng dẫn bởi Tác giả/Bác sĩ Bùi Trọng Căn (Trưởng Nhóm thi văn Ngàn Thông), và Phái Đoàn B.C. Canada đứng đầu bởi Thi sĩ/Tác Giả Phan Nam (nguyên Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Greater Vancouver B.C. 2 nhiệm kỳ liên tiếp). Họ đã họp mặt văn nghệ & dự tiệc thân mật tại hội trường của Global SRBS-HD Radio.

 

12 ngày 11 đêm cùng Tác Giả chống Cộng một đời.

Tôi quen biết Nhân sĩ Nguyễn Thuyên qua tình đồng nghiệp khoảng 10 năm qua. Ông là Tác Giả bộ sử liệu 2 quyển dày 1410 trang, và Chủ Nhiệm tuần báo đầu tiên ở Úc Châu (Chuông Sài-Gòn). Trước năm 1975, ông là Giáo Sư và Hiệu Trưởng 2 trường Trung Học ở Huế.

Nhờ theo dõi các hoạt động văn hóa & truyền thông của Nhóm tôi, ông quyết định qua Mỹ Quốc thăm viếng Global SRBS-HD Radio tại đô thị Seattle. Tôi ngạc nhiên khi được Tác giả Nguyễn Thuyên cho biết sẽ sinh hoạt với Nhóm chúng tôi trong 12 ngày 11 đêm. Bởi đây là lần đầu tiên trong cuộc đời tôi, một nhân vật  tên tuổi chưa từng gặp mặt đến thăm tôi trong thời gian khá dài như vậy.

Chiều thứ năm 27 tháng 10 năm 2011, tôi lên xe điện nhẹ ra phi trường Sea-Tac đón Tác giả Nguyễn Thuyên. Do chỉ biết ông qua hình ảnh, nên mãi nửa tiếng đồng hồ tìm kiếm, chúng tôi mới gặp nhau. Sau khi đưa ông ghé qua trụ sở Đài, tôi đưa ông tới Double Tree Hotel nghỉ ngơi. Đặc biệt khách sạn này được dựng xây 3 tầng hoàn toàn bằng gỗ quý. Ông yêu cầu tôi ngủ tại khách sạn này để chuyện vãn với ông suốt 11 đêm. Nhờ vậy, sau đó ông và tôi đã hiểu biết về nhau khá nhiều.

Chiều Thứ Bảy 29 tháng 10/2011, nhiều nhân vật cộng đồng, anh chị em văn nghệ sĩ và truyền thông báo chí đã tụ họp về hội trường Global SRBS-HD Radio, để chào đón Nhân sĩ/tác giả Nguyễn Thuyên. Trong số này có cựu Thiếu Tá LLĐB Nguyễn Minh Đường (Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tiểu bang Washington), cựu Đại Úy Nguyễn Công Ba (Chủ Tịch Hội Cựu SVSQ Trừ Bị Thủ Đức Washington), Ông Peter Trương Hồng Bảo (Hội Trưởng Hội Đồng Hương Thừa Thiên Huế Washington), Ông Khúc Thừa Nhân (Hội Trưởng Hội Đồng Hương Quảng Nam Đà Nẵng Washington), Nhân sĩ Phạm Quý Hậu (nguyên Chủ Tịch Cộng Đồng Công Giáo VN Tổng Giáo Phận Seattle); quý thi sĩ Song Xuyên, Quang Thủy, Nguyễn Thy Vân, Thư Khanh, Hồ Tuấn Nhã, Hoàng Mai Nhất; nhà phê bình văn học Trần Nguyên Sơn; quý nhà báo Bùi Quốc Hùng, Huỳnh Kim Anh, Phạm K. Trí, Nguyễn Quốc Hùng v.v… Giới truyền thông ngoài SRBS-HD Radio hiện diện, còn có 3 tuần báo Người Việt Ngày Nay, Việt Báo Miền Nam, Saigon Nhỏ Seattle, và nguyệt báo Bia Miệng.

Sau phần chào mừng Tác giả Nguyễn Thuyên bởi các Đại Diện Cộng Đồng, Hội Đoàn và giới văn nghệ sĩ hiện diện, ông đã lên bục gỗ nói chuyện hơn 1 tiếng đồng hồ về hệ thống chính quyền Úc và các hoạt động cộng đồng và đấu tranh chống Cộng của đồng bào rất tốt đẹp ở Úc Châu.

Sáng Thứ Bảy ngày 5 tháng 11/2011, tôi lái xe đưa Tác giả Nguyễn Thuyên đi Vancouver B.C. dự Lễ Hội mừng nghị quyết công nhận Khu Little Saigon đầu tiên tại quốc gia Canada. Phái Đoàn Người Việt Seattle chúng tôi 5 người gồm Ông Thuyên, Quốc-Nam tôi, nhiếp ảnh gia My Lương, 2 Đại Diện Hội Phụ Nữ Mê Linh Washington (quý chị Ngọc Cẩm & Ngọc Loan). Phái Đoàn là khách mời danh dự của Lễ Hội, đã được Ban Tổ Chức long trọng giới thiệu trước cử tọa Việt Nam & chính giới Canada.

Trước đó, chúng tôi đã ghé thăm tư gia thi sĩ/tác giả Phan Nam (Cố Vấn chỉ đạo Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Greater Vancouver B.C.). Ông Bà Phan Nam đã đãi chúng tôi bữa điểm tâm thật thịnh soạn, cùng với một số vị Chủ Tịch các Hội Đoàn đến từ xa hàng ngàn cây số.

Sáng sớm Chủ Nhật ngày 6 tháng 11/2011, chúng tôi 3 người (Tác giả Nguyễn Thuyên, nhiếp ảnh gia My Lương & tôi) viếng thăm Hồng Hoa Phố (Portland, Oregon). Tác giả/bác sĩ Bùi Trọng Căn & phu nhận Khuê Các đón chúng tôi trước Trung Tâm Cao Niên Portland, rồi nhà thơ Nguyễn Phú (Hội Trưởng Hội Cao Niên VN Oregon) hướng dẫn chúng tôi tới nhà hàng Phở Văn I đường S.E. 82nd Ave, Portland. Đây là 1 trong 4 nhà hàng thuộc hệ thống Phở Văn ở vùng Oregon.

Tác giả Nguyễn Thuyên cũng trình bày sơ qua về hiện trạng đồng bào và xã hội Úc Châu. Ông nói ngắn gọn về công tác lập các viện mồ côi mà gia đình ông đang thành lập gần biên giới Việt-Miên.

Trưa thứ hai ngày 7 tháng 11/2011, tôi lái xe đưa ông Thuyên ra phi trường Sea-Tac, để ông bay tới Houston thăm gia đình người học trò cũ.

Như vậy, trong tháng 10 năm 2011 vừa qua, nhân vật “ĐI” xa rời tôi vĩnh viễn là lão thi sĩ Hà Thượng Nhân (ngày 11/10), và nhân vật “ĐẾN” Seattle kết thân với tôi từ ngày 27/10 là Nhân sĩ/Tác giả/Giáo sư Nguyễn Thuyên. Ông chào đời năm 1937 tại cố đô Huế. Bây giờ, tôi đã “kết” Tác giả Nguyễn Thuyên, bởi ông mang tinh thần chống Cộng quyết liệt và lòng từ thiện vô biên đối với những thành phần khốn khổ trong xã hội.

 

Một cuối tuần “bay” qua lại 2 miền Bắc & Nam CaliforniaGần 37 năm ở hải ngoại, tôi chưa bao giờ từ nơi xa có thể dự 2 buổi sinh hoạt tại 2 vùng San Jose & Orange County trong một cuối tuần. Thế mà đầu tháng 12/2011, tôi đã “bay” tới phi trường San Jose trưa thứ sáu ngày 2/12/2011. Thi văn sĩ Chinh Nguyên (Chủ Tịch Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt) đã đón tôi ngay cổng sân bay. Anh lái xe đưa tôi thăm một vài bạn đồng nghiệp (như tòa soạn nhật báo VN Thời Báo…). Rồi chúng tôi tới một nhà hàng ở khu thương mại Grand Century Mall, nhậu lai rai cùng nhà văn Lê Việt Điểu (Chủ Báo & Website Nàng Thế Kỷ 21 Magazine).

Buổi tối, tôi ghé nhà anh chị Ruân-Thìn (cựu Đại Úy Nhẩy Dù) dùng cơm chiều với một số bạn cũ, như nhà báo Duy Thảo (Cao Học Hành Chánh), giáo sư Đinh Ngọc Tế (hiện giảng dậy tại trường trung học đệ nhị cấp ở học khu San Jose). Chị Thìn đã bày đồ ăn thật ngon nhưng quá nhiều, có thể 10 người ăn uống vẫn dư, trong khi chúng tôi chỉ có 4 người. Tối hôm đó, tôi nghỉ tại nhà này. Sáng thứ bảy, cựu Đại Úy Lê Đình Ruân (Tiểu Đoàn 9 Nhẩy Dù) lái xe đưa tôi tới nhà hàng Paloma, để gặp một số bạn hữu khác. Bàn tiệc gồm có: Anh Ruân, nhà báo Duy Thảo, bác sĩ Phạm Lễ (Chủ Nhiệm, Chủ Bút CM Magazine), cô gái út Thủy-Tiên của tôi, và người đến sau là cựu SVSQ Dalat khóa 20 Lê Tấn Tài (Chủ Bút đặc san Đa Hiệu của Tổng Hội Cựu SVSQ Trường Võ Bị Quốc Gia VN).

Sau tiệc trưa, nhà báo Duy Thảo lái xe đưa tôi đi thăm một vài bạn hữu, trong số này có nhạc sĩ Huyền Anh từng nổi tiếng với nhạc phẩm “Tấm Thẻ Bài” do nữ danh ca Thanh Thúy trình diễn trước và sau năm 1975. Anh hiện là Giám Đốc Hãng tin ViệtPressUSA.com và chủ biên tuần báo Việt Báo Bắc California.

Khoảng 4G chiều, nhà báo Duy Thảo thả tôi tại hội quán Đời Mới trên đường E. Santa Clara St, San Jose. Tại đây, Đại Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại kỳ 9 đang diễn ra sôi nổi. Cuộc bầu cử Ban Chấp Hành Trung Ương đã bế mạc Đại Hội lúc 5:30G chiều. Kết quả Liên Danh Khôi Phục do Tác giả/Dược Sĩ Vũ Văn Tùng (Chủ Nhiệm Y Tế Nguyệt San 20 năm qua) là thụ ủy, đã đắc cử.

Ngay sau đó tại hội trường Đời Mới, chương trình thơ nhạc ra mắt CD & tập nhạc “Hương Thời Gian” của ca nhạc sĩ Nhật Hạnh diễn ra từ 7G tối. Hai diễn giả chính trong buổi này là nhạc sĩ Phạm Mạnh Đạt và Quốc Nam tôi. Nhiều nhân vật cộng đồng, văn nghệ sĩ, truyền thông báo chí và quý đồng hương đã đứng ngồi chật cứng hội trường.

Sau phần phát biểu của nhạc sĩ họ Phạm về tài sáng tác nhạc của Nhật Hạnh, tôi được mời lên sân khấu. Tôi với tư cách là Tác Giả mỹ danh Thung Lũng Hoa Vàng đã khen tặng người nữ nhạc sĩ tài hoa này, bằng cách trao tay chị một lẳng Hoa Vàng. Kể từ ngày đặt tên cho San Jose là Thung Lũng Hoa Vàng năm 1979, tôi mới tặng “Hoa Vàng Danh Dự” cho 2 nhân vật là: Tác giả/triệu phú Trần Dũ năm 1991 & ca nhạc sĩ Nhật Hạnh năm 2011. Dịp này, tôi cũng vắn tắt nói về mỹ danh TLHV, đơn giản là San Jose rực rỡ những thảm hoa vàng vào mùa hè, và ban đêm hàng triệu ánh đèn sáng rực vùng thung lũng như chiếc mâm vĩ đại bằng vàng.

Chương trình tiếp tục với giọng ngâm thơ tuyệt vời của nữ nghệ sĩ Bích Ty qua bài thơ “Tình Say” của QN tôi, giao duyên với nhạc phẩm cùng tên do nữ nhạc sĩ Nhật Hạnh phổ nhạc, trình bày bởi nữ ca sĩ Thanh Hoa.

Buổi ra mắt CD & tập nhạc của ca nhạc sĩ Nhật Hạnh kéo dài tới 11G đêm, được ghi nhận là thành công rực rỡ.

Lúc 9:45G, tôi phải rời Hội Trường để viếng thăm vợ chồng người bạn trẻ lâu năm của tôi. Đó là doanh gia triệu phú Chi Mai. Khi đến nơi, tôi thấy biệt thự của Chi nằm trên một khu đồi rộng 7 arces ở thị trấn Milpitas, kế cận San Jose. Vợ chồng Chi Mai đãi tôi một bữa tối ngon miệng, với 2 chai rượu vang hết sạch. Đã lâu lắm chúng tôi không có cơ hội gặp nhau, nên chuyện trò tới 2G sáng tôi mới được vào phòng ngủ.

Sáng Chủ Nhật ngày 4/12/2011, Chi Mai đưa tôi ra phi trường San Jose để đáp chuyến bay đi Orange County. Thực ra, chuyến đi này tôi chỉ dự định đến San Jose làm “Guest Speaker” cho buổi ra mắt CD & tập nhạc của nữ nhạc sĩ Nhật Hạnh, rồi ngày Chủ Nhật sẽ cùng cô gái út Thủy-Tiên đi Sacramento thăm vợ chồng trưởng nữ Diễm-Thu và 2 cháu ngoại của tôi. Tuy nhiên, nhóm bạn trẻ của QGS International, LLC đã mua vé máy bay khứ hồi San Jose – Orange County và “book” sẵn Hotel, để mời tôi hiện diện trong buổi văn nghệ ra mắt công ty tại Thủ đô tị nạn Little Saigon (Nam Cali), vào tối Chủ Nhật.

Khi đến phi trường Orange County vào đúng ngọ, bạn trẻ Patrick Nguyễn (Tổng Giám Đốc công ty kỹ thuật cao QGS) đã đón tôi, và đưa đến khách sạn Sheraton.

Khoảng 3:00G, nhạc sĩ Nguyên Hà lái xe đón tôi đến văn phòng địa ốc của nhà báo Kiều Mỹ Duyên (tác giả quyển bút ký “Chinh Chiến Điêu Linh”). Chị KMD vừa gặp mặt đã hối tôi đi ngay tới Đài Mẹ Việt Nam gặp nữ nghệ sĩ Như Hảo để “talk show” với quý đồng hương tại Nam Cali.

Nhạc sĩ Nguyên Hà bỏ tôi ở Đài Mẹ VN, rồi anh hối hả đi lo công việc. Lúc 4:00G, chị Như Hảo, tôi & chị Kiều Mỹ Duyên nói chuyện với nhau 22 phút trên làn sóng điện FM của Đài.

Khỏang 4:45G, bạn trẻ Nguyễn Vinh (Chủ Nhân 2 websites NguoiVietBolsa.com & NguoiVietWashington.com) đón tôi đến một quán café, ngồi tâm sự. Khi tôi chưa uống hết ly sinh tố bơ, thì nhạc sĩ Nguyên Hà và hiền thê đã đón tôi đi dự chương trình dạ tiệc và văn nghệ đặc biệt tại S Restaurant.

MC Thúy Anh giới thiệu các tiết mục suốt chương trình thực linh động và duyên dáng. Màn trình diễn áo dài hấp dẫn do nhà thiết kế thời trang Kevin Hiệp thực hiện, với hàng chục người mẫu trẻ đẹp. Đặc biệt đôi ca sĩ Trúc Lâm & Trúc Linh trình diễn nóng bỏng, từ từ cởi quần áo khá ngoạn mục. Trưởng Ban Tổ Chức đêm này là Đạo Diễn trẻ Calvin Nguyễn (nguyên Chủ Tịch Hiệp Hội Điện Ảnh VN tại Hoa Kỳ, hiện làm việc tại Phim trường Holywood, Los Angeles).  

Sáng thứ hai ngày 5 tháng 12, bạn trẻ Patrick Nguyễn đưa tôi ra phi trường John Wayne OC. Bác sĩ Phạm Lễ đón tôi tại cổng phi trường San Jose. Anh lái xe đưa tôi đến nhà hàng Nam An ăn trưa, Tại đây, tôi gặp nhà báo Nguyễn Xuân Nam (chủ nhiệm nhật báo Cali Today). Tôi tặng Nam một tấm hình tôi phong chức “Chủ Báo” cho cô Quỳnh Thi đăng trên Việt Nam Nhật Báo số 1001 ngày 6 tháng 6/1990. 

Sau đó, hai chúng tôi ghé thăm nhà văn Hồ Linh (Tác giả của khoảng 20 tác phẩm đã ấn hành).  Rồi bác sĩ/chủ báo Phạm Lễ đưa tôi ra phi trường để kịp lên chuyến bay Alaska Airlines trở lại Seatle, Cao Nguyên Tình Xanh Washington.

 

Hội ngộ Phụ Tá Hành Quân Trung Tướng Tư Lệnh Quân Khu 3

đặc trách chiến trường An LộcKhuya Thứ Năm ngày 15 tháng 12/2011, chuyến bay Continental Airlines mang tôi tới phi trường George Bush, thành phố Houston.  Cựu Thiếu Tá BĐQ Nguyễn Ngọc Khoan đón tôi vào khoảng 1:00G sáng. Sau khi ghé Mc Donald mua chiếc Hamburger ăn đỡ đói, tôi về nghỉ tại tư gia bạn Khoan. Sáng Thứ Sáu, tôi và bạn Khoan chạy xe trực chỉ thủ phủ Austin của tiểu bang Texas. Chúng tôi được cựu SVSQ khóa 16 Võ Bị Dalat Nguyễn Ngọc Ánh (nguyên Tỉnh Trưởng Bình Tuy) lái xe ra đường lớn, hướng dẫn chúng tôi vào tư gia của ông. Ông Ánh là Niên Trưởng Võ Bị của Khoan & tôi. Hai chúng tôi là SVSQ cùng ở Trung Đội 7 Đại Đội C Khóa 22 Trường Võ Bị QGVN. Trong trận chiến máu lửa tại An Lộc, ông Ánh là Trung Tá Phụ Tá Hành Quân đặc trách chiến trường An Lộc & ngoại biên của Trung Tướng Nguyễn Văn Minh (Tư Lệnh Quân Đoàn 3 Quân Khu 3). Nhờ vậy, cựu Trung Tá Nguyễn Ngọc Ánh hiện nay có lẽ là nhân vật duy nhất nắm vững mọi diễn biến của trận chiến An Lộc suốt 93 ngày đêm. Đây là trận chiến kinh hoàng nhất trong cuộc chiến Quốc-Cộng, thảm khốc hơn trận Điện Biên Phủ năm 1954. Ông cùng một số cựu quân nhân các cấp gom góp tài liệu và hình ảnh trận chiến An Lộc, để ấn hành lần đầu quyển sách dày hơn 500 trang vào tháng 3/2006. Nay bổ túc thêm, sách đã lên tới gần một ngàn trang. Quyển sử liệu nêu trên do ông Ánh chủ biên, có những nhân chứng sống như Chuẩn Tướng Mạch Văn Trường (ngày đó là Trung Đoàn Trưởng TrĐ 8 Sư Đoàn 5BB), Đại Tá Phan Văn Huấn (Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù), Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng (ngày đó là Đại Tá Lữ Đoàn Trưởng LĐ 1 Nhẩy Dù) v.v… Nhóm chủ trương biên tập quyển “Chiến Thắng An Lộc 1972” cho biết sắp chuyển vào “sách CD” để tặng Người Việt khắp thế giới. Sau đó, tập sử liệu quan trọng này sẽ chuyển dịch sang Anh Ngữ, để đặt vào các thư viện của nhiều quốc gia khắp thế giới, gởi biếu một số cơ quan truyền thông báo chí quốc tế, cùng các Sử Gia Hoa Kỳ & các nước liên hệ tới cuộc chiến Việt Nam.

Trong thâm tâm tôi vẫn cảm phục công trình của nhóm ông Ánh, nên tôi nhất định phải đến tận thủ phủ Austin để viếng thăm ông Ánh & phu nhân.

Sau khi thăm tư gia ông bà Ánh, chúng tôi và ông Ánh cùng nhau tới nhà hàng Tàu Ho-Ho dùng cơm trưa do Hưng (người em kết nghĩa của tôi) khoản đãi. Một lát sau, thi sĩ Hồ Công Tâm cũng đến chào đón chúng tôi.

Bữa cơm trưa giữa 5 người chúng tôi diễn ra thật ngon miệng và đậm đà tình nghĩa.

Sau khi ghé thăm vợ chồng Hưng-Lệ (Chủ tiệm giặt ủi lâu năm Arrow Cleaners tại Austin), chúng tôi lái xe đưa ông Ánh về Houston.

Tối thứ bảy, cựu Tỉnh Trưởng Nguyễn Ngọc Ánh đến dự tiệc cưới người con tại nhà hàng Kim Sơn. Ông ngồi bàn kế bàn cô dâu chú rể, gồm một số bằng hữu của tôi như: Vợ chồng nữ nhạc sĩ Trịnh Thanh Thủy (Florida), vợ chồng nữ nhạc sĩ Nhật Hạnh, vợ chồng Luật sư/Nghị Viên Houston Hoàng Duy Hùng, vợ chồng họa sĩ/điêu khắc gia Phạm Thông (Chủ nhiệm Con Ong TX Magazine), và cựu Thiếu Tá BĐQ Nguyễn Ngọc Khoan.

Sáng hôm sau Chủ Nhật 18/12, tôi họp mặt tại nhà hàng Phở Ngon với ông Nguyễn Ngọc Ánh và 5 cựu Thiếu Sinh Quân đồng môn của ông. Tại đây, tôi được gặp mặt một người hùng của trận chiến An Lộc. Đó là cựu Thiếu Tá Nhẩy Dù Ngô Xuân Vinh, dạo đó là Đại Đội Trưởng 62 của Tiểu Đoàn 6ND bị Cộng Quân đánh tan nát trên Đồi Gió. Sau đó, TĐ 6 được bổ sung quân số, và TĐ này đã phục thù VC, từ Lai Khê trở lại bắt tay được TĐ 8ND, khai thông con đường tiếp liệu và chuyển quân cho An Lộc từ ngày 8/6/1972. 

Trong buổi họp, anh em đề nghị thành lập An-Lộc Foundation, và mời cựu Thiếu Tá Vinh đảm nhận vai trò Phó Chủ Tịch Tổ Chức này.

Sau khi chia tay Ông Ánh và anh em cựu Thiếu Sinh Quân, họa sĩ Phạm Thông đón tôi từ Phở Ngon ghé thăm Đài Truyền Hình VAN-TV 92.5 Houston. Bà chủ thẩm mỹ viện Bích Ngọc (Tổng Giám Đốc VAN-TV) nồng hậu đón tiếp chúng tôi. Tại đây, khoảng 700 đồng bào đang tụ họp đón mừng năm mới 2012. Xướng ngôn viên trụ cột của TV này, bạn Michael Hòa đã giới thiệu tôi & HS Phạm Thông 2 lần trước quý đồng hương và nhiều nhân vật trong cộng đồng Người Việt.

Xế chiều, HS Phạm Thông đưa tôi ra phi trường George Bush, để lên máy bay trở lại Seattle.

***

Thông thường sau nhiều năm hoạt động người ta mới viết bài “nhìn lại” một lần. Như một cây bút hành nghề quảng cáo trên sân khấu, từng khoe khoang viết “Nhìn lại một thập niên”. Từ nhỏ đến lớn khôn, bản tính tôi không thích giống bất cứ ai. Năm vừa qua, một thi nhân lớn bỏ tôi ra ĐI + một ngòi bút chống Cộng từ Úc Châu ĐẾN, nên tôi nghĩ mình phải viết lại cuộc hành trình trong đời ngắn ngủi này.

Năm nay là năm Con Rồng. Tôi nhớ tới hai bà bạn “già” thân thiết của tôi: tác giả Kiều Mỹ Duyên và nhà truyền thông Như  Hảo. Đầu năm 2010, chị Kiều Mỹ Duyên và tôi ghé thăm Đài FM Mẹ Việt Nam, thì chị Như Hảo trao tặng tôi một tượng Rồng Vàng trong chiếc hộp kiểu cách màu đỏ tuyệt đẹp, để mừng tôi đã trở thành Chủ Nhân Đài HD Việt Ngữ đầu tiên của Người Việt toàn cầu. Phải chăng đây là lời chúc lành của hai bà bạn muốn Global SRBS-HD Radio sẽ vươn mạnh như Rồng Vàng bay lượn ngoạn mục trên bầu trời cao rộng trong năm Nhâm Thìn…?

Cao Nguyên Tình Xanh Washington, Mùa Xuân 2012

QUỐC NAM

www.saigonhdradio.com

 

Chú thích 4 tấm hình:

1) 4thisi-QN.- 4 thi sĩ trong Ngày Thi Ca VN năm 1991. Hình từ trái qua phải: Quốc Nam, Nguyên Sa, Hoàng Anh Tuấn, Hà Thượng Nhân. Photo by Quang Lộc.

2) ThuyenPortland-S.- GS Nguyễn Thuyên tại Phở Văn I Portland. Hình từ trái qua phải: Ông Thuyên, TS Quốc Nam, Chủ Phở Văn, TS Nguyễn Phú & BS Bùi Trọng Căn. Photo by Khuê các.

3) Nhật Hạnh-1.- Ban Tổ Chức & các diễn giả Chương Trình ra mắt CD & sách nhạc của ca nhạc sĩ Nhật Hạnh. Hai người đàn ông đứng giữa hình là nhạc sĩ Phạm Mạnh Đạt & thi sĩ Quốc Nam. Photo by Trương Xuân Mẫn.

4) Thi sĩ Quốc Nam ghé thăm cựu Tỉnh Trưởng Bình Tuy ở Austin. Hình từ trái qua phải: TS Quốc Nam, ông Nguyễn Ngọc Ánh, TS Hồ Công Tâm & cựu Thiếu Tá Nguyễn Ngọc Khoan. Photo by Nguyễn Hưng.