“TRONG ÐÊM ÐEN, CHỢT THẤY ÁNH MẶT TRỜI…”

“TRONG ÐÊM ÐEN, CHỢT THẤY ÁNH MẶT TRỜI…”

                                                                                                Giao Chỉ, San Jose.  

              (Ðây là bài thứ hai trong loạt bài viết về trân Quảng Trị vào tháng 7, 1972)

 

Nhớ về 37 năm xưa.

Tháng 7 năm 2009 chúng tôi đi đường bộ suốt 2 miền nam bắc California, tìm gặp lại trực tiếp các chiến hữu. Qua điện thoại, gặp anh em toàn nước Mỹ. Vào mạng lưới toàn cầu hỏi thăm đồng hương trên thế giới. Hỏi rằng để làm gì? Xin trả lời là đi tìm tài liệu cho bộ phim về miền đất Quảng vào mùa hè đỏ lửa1972.

20 tháng 7 năm 1954 đất nước chia đôi giữa Quảng Bình và Quảng Trị. Miền Trung quê nghèo Việt Nam có đất Quảng Trị là nơi lầm than khổ ải nhất. Hơn 20 năm chiến tranh Quốc Cộng Bắc Nam, miền hỏa tuyến chịu đựng nhiều tổn thất. Bây giờ là lúc phải viết lại trang sử 30 năm về trước bằng phim ảnh dành cho con cháu người xứ Quảng 300 năm sau.

Vì vậy chúng tôi cần rất nhiều tin tức và tài liệu. Cố gắng hoàn tất vào tháng 9 năm nay. Bởi vì lá cờ vàng được bay cao trên cổ thành Ðinh Công Tráng lần đầu vào đúng ngày 15 tháng 9 năm 1972.

 

Tìm về với nhau nên anh em cùng khóa lại có dịp hội họp tại nhà anh chị Hồng Phựơng Lê xuân Ðịnh. Thầy Nguyễn Thọ Lập, đại đội trưởng đại đội sinh viên Ðà Lạt 1954 bây giờ đã 92 tuổi ngồi chủ tọa. Người ăn uống chậm chạp nhìn đám học trò gần 80 tuổi mà sao vẫn còn ồn ào như sinh viên sĩ quan 20 tuổi lúc mới vào đời.

Nguyễn Hữu Luyện bây giờ từ Boston đã về định cư tại quận Cam nói rằng . “Lúc tụi nó đánh thắng Quảng Trị thì moa đang ở tù. Khi chiến thắng thì bọn nó gáy dữ lắm. Lúc các cậu lấy lại được thì không thấy bọn nó thông tin. Nhưng nếu làm phim tài liệu cho lịch sử sau này thì không phải là tuyên truyền. Phải kể rõ lúc ta bị thua rút lui, mất Quảng Trị rồi, lúc lấy lại mới có giá trị. Thua thì phải nói là thua.

Anh bạn cùng khóa Nguyễn hữu Luyện, đeo lon đại úy biệt kích nhẩy Bắc từ thời 1963, khi trận 72 xảy ra thì đã ở tù 9 năm. Nằm trong tù, bạn ta đã tưởng miền Nam mấạt luôn từ ngày đó. Anh em chúng tôi cùng lứa tuổi và cùng vào đời một lượt nên câu chuyện hết sức thông cảm và hào hứng. Anh Lại Thọ là liên lạc viên của khóa Cương Quyết Ðà Lạt tại Nam Cali luôn luôn sốt sắng nối liền tình nghĩa bốn phương.

Cùng ngồi hàn huyên với nhau, chúng tôi có anh Trần quốc Lịch và Phạm văn Chung. Người bên nhẩy dù mũ đỏ và người bên mũ xanh thủy quân lục chiến. Bây giờ cùng ngồi đây hỏi chuyện xưa, thực là hết sức kỳ thú trong duyên hạnh ngộ lạ lùng. Năm 1972 vào tháng 4, bạn Chung đem lữ đoàn 369 tăng cường Vùng I. Lúc đó quốc lộ số 1 vẫn còn an toàn từ Thừa thiên cho tới Quảng Trị. Khi mặt trận Quảng Trị bị vỡ, Phạm văn Chung rút quân về phía Nam sông Mỹ Chánh và con đường lúc đó mới trở thành kinh hoàng.

Tháng 5-1972 vừa xong trận Vùng II, Trần Quốc Lịch đem lữ đoàn II nhẩy dù ra mặt trận hỏa tuyến.

Khi lữ đoàn 369 TQLC hoàn toàn chặn đứng cuộc tấn công của cộng sản tại sông Mỹ Chánh thì anh Phạm văn Chung bàn giao đơn vị lên làm tham mưu trưởng hành quân sư đoàn để chuẩn bị cho trận phản công.

 

Ông Trưởng ngay khi về tư lệnh vùng 1 đã có trong tay toàn thể 2 sư đoàn tổng trừ bị.

Anh Lịch chỉ huy lữ đoàn II của sư đoàn mũ đỏ đi bên cận sơn. Anh Ngô văn Ðịnh chỉ huy lữ đoàn 258 của sư đoàn thủy quân lục chiến đi phía duyên hải. Mỗi bên đều có đủ mặt 3 lữ đoàn. Sư đoàn TQLC ngày đó lại còn có trung tá Ðỗ đình Vượng, lữ đoàn phó 258. Trung tá Phạm ngọc Thụy, tiểu đoàn trưởng yểm trợ thủy bộ và trung tá Bùi văn Phẩm, chiến tranh chính trị. Toàn là anh em Cương Quyết Ðà Lạt 54. Bên mũ đỏ còn có trung tá Ngô lê Tĩnh và nhiều chiến hữu cùng khóa.

Trục tiến quân Nam Bắc với 18 tiểu đoàn tác chiến tổng trừ bị, thiết giáp, pháo binh, công binh cùng vượt sông Mỹ Chánh. Mục tiêu là thị xã và cổ thành Quảng trị 18 cây số về phía bắc.

Từ trên trực thăng nhìn xuống toàn bộ chiến trường, quang cảnh hết sức hùng tráng.

Ðó là ngày 28 tháng 6 -1972.

Cùng lúc đó, tại cao nguyên, mặt trận Kontum đã giải tỏa xong. Tổng thống Thiệu gọi

là Kontum kiêu hùng.

Mặt trận An Lộc đã có phần lắng dịu. Hai sư đoàn cộng sản tấn công 30 đợt vào thị xã đã bị đẩy lui. Mười ngày sau, 07/07/72 Tổng thống Thiệu bay vào An lộc và tuyên bố danh hiệu Bình Long Anh Dũng

Thời gian đó là vào giữa tháng 7 năm 1972, tổng trừ bị của bộ tổng tham mưu tiếp tục tiến quân về Quảng Trị. Từ Saigon, sau chiến thắng An Lộc, miền Nam bây giờ tập trung theo dỏi bước tiến của mũ xanh, mũ đỏ cùng với mũ đen thiết giáp.

Và từ Paris, tin tức về mặt trận hỏa tuyến cũng được theo dỏi mỗi ngày.

Bây giờ 37 năm sau, chúng tôi cũng đọc lại nhật ký hành quân và muốn có đầy đủ tài liệu dành cho bộ phim Quảng trị 1972.

 

Quảng Trị, đất cầy bằng bom đạn.

Theo quốc lộ, từ Huế đi lên, qua khỏi ranh giới Thừa Thiên là vào quận Hải Lăng. Quận lỵ đầu tiên của miền giới tuyến. Theo tài liệu năm 1970 quận này có 60,739 dân. Qua sông Mỹ Chánh đi lên sẽ gặp thị xã và cổ thành nằm trong đất quận Mai Lĩnh với 70 ngàn dân. Cổ Thành trong thị xã mang tên Ðinh Công Tráng (1842-1867) là một lãnh tụ Cần Vương chống Pháp vào cuối thế kỷ 19 tại vùng Nga Sơn, Thanh Hóa. Tiếp tục vượt sông Thạch Hãn, vào đất Triệu Phong, quận lớn và đông dân nhất lên đến 79 ngàn dân.Vẫn đi theo con đường cái quan số 1 của miền Trung, ta sẽ qua sông Ðà Ðiếu vào trị trấn Ðông Hà. Ðây là ngã ba có con đường chiến lược số 9 chạy qua Cam Lộ, Hướng Hóa dẫn vào Tchépone của Hạ Lào. Tiến thêm về phương bắc là quận Gio Linh với con sông Bến Hải cùa vùng phi quân sự. Quảng Trị vào đầu thập niên 70 có 7 quận với 300 ngàn dân, nhưng tất cả đã di tản, chỉ còn lại khoảng 30 ngàn người khi cuộc tấn công tháng tư 1972 bắt đầu. Trong số này bao gồm cả vợ con lính đi theo chồng ra chốn biên cương. Trong trường hợp như vậy, chúng ta có thể hiểu được tại sao người lính địa phương đã phải bỏ đơn vị, đi tìm vợ con giữa vùng trời lửa đạn khi hai bên bắn phá ngày đêm suốt hai tháng 4 và 5 của mùa hè 1972.

 

Trận Quảng trị, giai đoạn rút lui.

Không có thế thủ làm sao có thế công, không có rút lui làm sao có tái chiếm. Không có thất bại làm sao có chiến thắng.

Trung ương đảng từ Hà Nội ra lệnh tiến công 30 tháng 3, 1972. Nhưng nói cho gọn chuyện bên ta coi như đầu tháng 4 năm 1972 trận mùa hè tổng công kích của cộng sản mở ra trên 3 mặt trận. Khác với Mậu thân 68 địch dùng toàn lực của bộ đội có sẵn trong Nam đánh vào các đô thị. Lần này toàn bộ lính miền Bắc luồn qua Nam Lào đánh vào cao nguyên. Cành quân khác theo đường mòn Hồ chí minh vào đất Cam Bốt đánh qua biên giới miền Ðông.

Trận Quảng trị kéo dài 2 tháng, đại quân cộng sản mở trận địa chiến tấn công trực diện và đạt chiến thắng toàn thể Quảng Trị từ Bến Hải đến Mỹ chánh.

Ðịch dự trù trong 3 tháng sẽ đánh đến đèo Hải Vân. Như vậy là tháng 6 năm 72 phải chiếm được hai tỉnh Quảng Trị-Thừa Thiên bao gồm cả xứ Huế.

Với miền đất nối liền vào hậu phương miền Bắc, được quân viện đầy đủ của cộng sản quốc tế, Hà Nội dự trù đặt thủ đô của chính phủ giải phóng miền Nam tại Quảng trị để lấy thế thượng phong tại hòa đàm Paris.

Phải công tâm mà ghi lại rằng, trong hai tháng 4 và 5 năm 1972, cộng sản đã tấn công mãnh liệt, chấp nhận thương vong, hết sức chịu đựng, lần lượt phá vỡ các phòng tuyến của miền Nam. Các đơn vị bộ binh, thủy quân lục chiến, biệt động quân, thiết giáp, pháo binh của Việt Nam Cộng Hòa đã cố gắng trì hoãn chiến nhưng không cản được bước tiến của địch. Nhiều đơn vị mất tinh thần. Việc lui binh không còn trật tự và yếu tố dân chúng đã ảnh hưởng rất nhiều trong việc thất thủ Quảng Trị. Với 6.000 quân của miền Nam trên đường di tản nhiều lúc đã lẫn lộn với 30.000 dân Quảng Trị tạo thành 1 cuộc tháo chạy kinh hoàng và đem lại chiến thắng dễ dàng cho miền Bắc.

Do đó bộ phim Quảng Trị với chiến thắng sau cùng vào tháng 9 sẽ không trọn vẹn nếu không ghi đủ những nét đau thương của cuộc lui binh từ tháng 4-1972.

Căn cứ Carroll của trung đoàn 56 bộ binh đã đầu hàng ra sao ?

Vì những lý do bí ẩn nào chứ không phải đơn thuần là binh sĩ không chịu chiến đấu. Ai là người lính đã thoát hiểm trong cuộc đầu hàng trở về từ Camp Carroll vào tháng 5-1972. Xin hãy cất tiếng. Pháo đội thủy quân lục chiến tăng phái tại Carroll đã từ chối lệnh đầu hàng của trung tá Phạm văn Ðính để tiếp tục chiến đấu. Còn ai ngày nay có thể nhân danh pháo đội anh hùng ngày xưa để đứng ra làm nhân chứng chống lại ngọn cờ trắng 37 năm sau.

Khi Carroll thất thủ thì bên căn cứ Ái tử của lữ đoàn trưởng TQLC, đại tá Ngô văn Ðịnh đang làm gì. Làm thế nào có thể bảo toàn lực lượng để về đến tuyến sông Thạch Hãn.

Tiếp theo, sư đoàn 3 tan hàng ra sao. Tại sao vị tướng tư lệnh SÐ 3 bộ binh lại phải đơn phương rút lui trên xe thiết giáp rồi bị chặn đường phải trở lại đi bằng trực thăng.

Trong những ngày tháng oan nghiệt của năm 1972 đầy tin tức mâu thuẫn và lòng người phân tán, chúng ta không có được sự thực, nhưng ngày nay, 37 năm sau, bình tĩnh lại, phảiÔ ghi nhận các sự kiện khách quan và rõ ràng hơn. Sẽ phải có tiếng nói của tất cả mọi người trong cuộc.
 

Giai đoạn phản công tại Quảng trị

Từ 28 tháng 6 năm 1972 đại quân miền Nam đánh lên. Không yểm Hoa kỳ và VNCH vẫn ở thế thượng phong. Hải yểm từ đệ thất hạm đội là yếu tố quan trọng. Thiết giáp và pháo binh của ta tiếp tục góp phần chiến đấu hết sức mãnh liệt. Lính miền Nam bổ sung cho Nhẩy dù và Thủy quân lục chiến chở từ Saigon ra chiến trường trên máy bay liên tục ngày đêm. Phần lớn là tân binh trẻ. Tuổi đời dưới 20. Tái trang bị cho tiểu đoàn 11 nhảy dù là một thí dụ điển hình. Ðơn vị vừa anh dũng tan hàng tại Charlie, Tân cảnh, lập tức được bổ sung đầy đủ rôiợ vội vã lên đưởng ra hỏa tuyến. Từ một đơn vị mang chiến thương rất nặng tiểu đoàn đã hiên ngang đứng lên lãnh danh dự chiến thắng hàng đầu trên quốc lộ số 1 khi mũ đỏ tiến vào Quảng Trị.

Lính bên ta đã trẻ, nhưng lính của địch lại còn trẻ hơn nhiều. Hà nội bắt cả lính trẻ con 15 tuổi lội qua sông Thạch Hãn để vào giữ Quảng trị.

Cái đau thương của dân tộc là cuộc chiến tương tàn đã hy sinh tại Quảng Trị trên 30 ngàn thanh niên trẻ tuổi của 2 miền Nam Bắc từ tháng 4 cho đến tháng 9-1972.

 

Trong đêm đen, chợt thấy ánh mặt trời

Nhưng sau cùng thì cuộc chiến nào cũng có lúc phải chấm dứt. Mặt trận Quảng Trị, tạm thời ngưng vào ngày 15 tháng 6-1972 lúc mà 5 chiến binh của đại đội 2 tiểu đoàn 3 lữ đoàn 147 TQLC cắm ngọn cờ ở phía đông bắc cổ thành.

Ngày 16 tháng 6 năm 1972 có lễ chào cờ chính thức của sư đoàn, nhưng với lịch sử, 15 tháng 6 năm 72, khi lá cờ vàng bay lên lần đầu tiên với sự hiện của 5 anh lính vô danh chính là giờ phút phải ghi nhớ. Chúng tôi muốn tìm gặp 5 anh lính TQLC 37 năm về trước. Hình ảnh còn đây nhưng bây giờ người ở nơi đâu ?

Nếu có thể đắp lại pho tượng cờ bay sẽ phải làm theo mẫu hình này. Cũng như hình ảnh của lính Mỹ cắm cờ tại đảo Iwo Jima trên Thái bình dương vào đệ nhị thế chiến.

Chúng tôi rất muốn gặp lại những chiến binh trung đội trưởng và đại đội trưởng của các đơn vị vào được cổ thành trong ngày đầu tiên của tháng 9-1972. Cán bộ cấp trung đội và đại đội tay cầm súng dài, chân bộ đi lên cùng binh sĩ tuyến đầu chính là các hoàng tử của chiến trường.

Rồi cũng phải cố tìm ra cho được vào tháng 7 oan nghiệt đó, khi mũ đỏ bàn giao cho mũ xanh thì những người lính nhảy dù tiền sát ngã xuống tại Quảng Trị đang ở vị trí nào. Trinh sát mũ đỏ có ai đã vào được cổ thành, và ai là người nằm chết ở chân thành trong tay vẫn còn lá cờ vàng. Ở một nơi nào đó vào ngày cuối tháng 7-1972 đã có những thiên thần mũ đỏ, áo hoa dù che phủ lá quốc kỳ, vĩnh viễn nằm xuống khi cố gắng giơ cao ngọn cờ lấy thành tích cho binh chủng, cho quân đội và cho cả miền Nam. Chúng tôi đã có cơ hội hỏi chuyện các chứng nhân của lịch sử. Có người đã thấy lá cờ Vàng nằm dưới đất ngoài cổ thành bên xác hai chiến binh mũ đỏ và đồng thời cũng thấy cờ Vàng trong tay 5 chiến binh mũ xanh tung gió trên trời Quảng Trị. Trong hai lá cờ đó, cờ nào bay trong tim chúng ta suốt 37 năm qua?

Những câu chuyện này sẽ được soi sáng trong bộ phim cùng với bài Cờ Bay hết sức hào hùng. Phải là người yêu thương quê hương miền Trung, trong niềm cảm hứng rạt rào, tác giả mới có thể viết những lời ca mãnh liệt như thế.“…Ta ôm nhau, mắt lệ nghẹn ngào, quỳ hôn đất thân yêu… Anh đưa em về Gio Linh, Cam Lộ, Ðông Hà… này mẹ này em, hồi sinh rồi, vui hôm nay, trong đêm đen tìm thấy ánh mặt trời…”           Hơn 30 năm thăm hỏi, chúng tôi mới biết được ai là tác giả. Ðó là người cựu chiến binh năm nay 82 tuổi vẫn còn phiêu dạt ở Việt Nam. Bài ca của ông chỉ sống có 3 năm tại Saigon từ 72 cho đến 75 nhưng đã tái sinh trên 30 năm trong lòng chúng ta, trên khắp thế giới.   Lòng ta như thành này.

Và sau cùng, ai đã viết bài thơ dành cho Cổ Thành và ai đã phổ nhạc với những lời hào hùng nhưng bi thảm như sau :

Trời Quảng Trị mây đen, Ðá Cổ Thành nát vụn.

Người chiến sĩ tiến lên. Bước chân trên đất lún.

Cát trắng bãi trơ xương, Cỏ xanh còn rướm máu.      

Khắp nơi đều sa trường. Quạ đen tìm chỗ đậu.

Dọc đại lộ kinh hoàng. Nồng nặc mùi tử khí.

Xác quân thù ngổn ngang. Gió từng cơn rền rĩ.

Tiếng pháo trời La Vang. Tuyến xuất quân Mỹ Chánh

Chiến sĩ tiến hàng ngang. Ðịch cùng đường Thạch Hãn

Hàng binh gom một đoàn. Bắc quân toàn con nít.

Nhà nước đưa vô Nam. Ðem con vào chỗ chết.

Thương đứa bé mười lăm. Em cúi đầu khẽ nói.

Con gọi ta bằng ông. À ta đã có cháu.

Cơm đây tạm lót lòng. Tim ta đang rướm máu.

Ai đưa con cây súng. Vào giải phóng ông đây

Chiến thắng cờ ta bay. Tiếng hát đẫm nước mắt.

Lòng ta như thành này. Vinh quang trong tan nát ….

 

Ðã quá lâu rồi, không chắc còn nhớ đúng, nhưng tác giả chiến hữu vẫn còn đây. Sẽ hỏi lại và tu chỉnh sau. Chỉ e rằng tác giả cũng chẳng còn nhớ. Ðể lâu ngày có khi quên cả tác giả là ai.

 

Nhu cầu và những câu hỏi.

Trên con đường dựng lại bộ phim Quảng Trị chúng tôi cần rất nhiều tài liệu, tác phẩm và hình ảnh liên quan đến chiến trường 1972. Phải có được bản đồ trận liệt Quảng Trị và Vùng I. Bản đồ hành quân triệt thoái và tấn công trên các căn cứ từ Mỹ Chánh ra đến Bến Hải. Dựng lại sa bàn để dẫn giải mọi diễn tiến trận liệt. Sẽ phỏng vấn tất cả mọi giới chức đã tham dự chiến dịch. Hơn thế nữa, phải tìm đọc tất cả tài liệu của cộng sản viết về trận Quảng Trị 72. Sẽ nói chuyện với quân nhân các cấp bao gồm mọi binh chủng và đơn vị. Chúng tôi sẽ có dịp nói chuyện với cả quân dân chánh Quảng Trị đã trải qua thời binh lửa 72, đã sống còn trên đại lộ kinh hoàng.

Và sau hết sẽ phải kể đến các chiến binh địa phương, thiết giáp, biệt động quân, pháo binh, công binh, hải quân và không quân VNCH đã chiến đấu và hy sinh ra sao vào những ngày hết sức gian khổ 37 năm về trước.

Nếu quí vị có tin tức và tài liệu.

Xin liên lạc về văn phòng IRCC, Inc.

địa chỉ : 1445 Koll Circle, #110 San Jose, CA. 95112. Ðiện thoại : ( 408 ) 392 9923

Giao Chỉ, San Jose.

 

Tái bút: Vào giờ chót mới ghi nhận được khá nhiều tin tức quí giá.

1)       Thẩm phán Phan quang Tuệ nhắc chúng tôi về trường hợp người em trai là phi công Phan quang Tuấn lái phản lực đã gẫy cánh trong phi vụ tháng 4-72 trên không phận Cam Lộ trong những ngày đầu của trận Quảng Trị. Anh Tuấn là con cụ Phan quang Ðán, Phó thủ tướng đương thời của chính phủ VNCH. Máy bay rớt trong vùng bị địch chiếm nên bên không quân ghi là mất tích. Phi công cùng đơn vị là Trần thế Vinh, đem đến cho gia đình các di vật của anh Tuấn và một chai rượu White Horse.

Hai ngày sau, đến lượt Trần thế Vinh, anh hùng diệt tăng của phi đoàn bị

hy sinh. Phi công Vinh được tuyên dương anh hùng của không lực và có

bài ca Ngàn thu vĩnh biệt được phổ biến tại Sài Gòn. Trong tủ rượu nhà

ông Phan quang Tuệ ngày nay tại California vẫn còn chai White Horse

chưa khui.

Chúng tôi sẽ sưu tầm và ghi lại tất cả những chiến công của các quân binh

chủng tại Quảng Trị.

2)       Cảm ơn, tác giả Phạm Phong Dinh đã gửi tặng cuốn chiến sử VNCH. Trong đó chúng tôi đã tìm lại được thiên phóng sự của trung tá Lê Huy Linh Vũ tường thuật cuộc rút quân thành công của Liên đoàn 1 Biệt động quân ngày 1 tháng 5-72 từ chi khu Mai Lĩnh về Mỹ Chánh. Trước đây, chúng tôi đã có dịp nói chuyện với trung tá Lê bá Ðào, người đã đem gần trọn vẹn 2000 BÐQ về an toàn trong trận Quảng Trị 1972. Câu chuyện này rất cần được nhắc lại.

3)       Rất vui mừng được bạn Ngô văn Ðịnh giới thiệu để liên lạc với đại úy TQLC Giang văn Nhân. Anh Nhân khóa 22 võ bị, năm 72 là đại đội trưởng đại đội 2, TÐ 3 TQLC. Ðơn vị đánh nhiều trận trên quốc lộ số 1 và trận sau cùng đánh vào cổ thành.
Thật hết sức ngạc nhiên anh còn giữ được khá nhiều hình ảnh trong phạm

vi đơn vị từ nhiều năm qua. Giang văn Nhân cũng là người chứng kiến chiếc máy bay của ta bị phòng không địch bắn hạ trên vùng trời Quảng Trị đấu tháng tư. Trong bút ký hành quân, tác giả đã bầy tỏ sự xót thương cho người phi công vô danh, nhưng sự nối kết tình cờ có thể đây chính là phi công Tuấn, em của thẩm phán Phan quang Tuệ hiệạn ở San Francisco. Ngoài ra, sau khi chiếm lại cổ thành, đại úy Nhân đi kiểm tra một vòng bên ngoài chính mắt đã nhìn thấy di hài của 2 chiến binh mũ đỏ, trong người còn mang lá cờ vàng. Phải chăng đây là toán tiền thám của nhẩy dù đã hy sinh trên đường tiến sát trước ngày bàn giao lại chiến trường cho bên TQLC.

Những tin tức này và nhiều tài liệu quý giá khác sẽ được tìm hiểu để đóng góp cho lịch sử của cuốn phim Quảng Trị dành cho thế hệ tương lai.

Xin cảm ơn.

 

 

 

 




TÀI LIỆU QUAN TRỌNG- BIẾN CỐ 1-11-1963 (Cựu Tổng Truởng VNCH Tôn Thất Thiện).

trích trong
"KỶ NIỆM 100 NĂM (1901-2001)
CHÍ SĨ NGÔ ĐÌNH DIỆM

Một tài liệu căn bản tối quan trọng soi sáng vụ Phật Giáo 1963:

PHÚC TRÌNH CỦA PHÁI BỘ LIÊN HIỆP QUỐC
ĐIỀU TRA VỀ VẤN ĐỀ
VI PHẠM NHÂN QUYỀN Ở NAM VIỆT NAM NĂM 1963

 

Thâu tập vào dịp Lễ Tưởng Niệm
Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm
(1901 – 2001)

Người thâu tập và trích dịch:
Tôn Thất Thiện

 Phần I:

Đại Sứ Hoa Kỳ Cabot Lodge vận động Quốc Hội Hoa Kỳ lên án Chính Phủ Ngô Đình Diệm và ém nhẹm phúc trình của Liên Hiệp quốc

1 – Lodge vận động Quốc Hội Hoa Kỳ lên án ông Diệm

(trích trong The Year of the Hare [America in Vietnam, January 25, 1963 – February 15, 1964] của Francis X. Winters do The University of Georgia Press, Athens and London, xuất bản nam 1997).

Trong buổi hội kiến với Tổng Thống Ngô Đình Diệm ngày 26 tháng 8, 1963 "Lodge nói rằng, theo hiến pháp, Quốc Hội Hoa Kỳ nắm quyền chi tiêu" về ngoại giao… Lodge muốn ám chỉ rằng Quốc Hội đòi Saigon phải cải tổ nếu muốn được tiếp tục nhận viện trợ. Thật ra, thì trong Quốc Hội Hoa Kỳ không có sự đòi hỏi đó. Cho nên, chính Lodge phải đích thân khuậy sao cho có sự đòi hỏi đó. Ông ta bèn hỏi Rusk có cách nào khuấy động để Ủy Bang Ngoại Giao của Hạ Viện đưa ra một sự đe dọa như thế không. Bundy và Hilsman thích dùng Thượng Viện làm nơi chính để chống ông Diệm hơn. Họ biết rằng Thượng Nghị Sĩ Frank Church không ưa ông Diêm. Do đó, họ cùng ông này thảo Quyết Nghị tháng 9 lên án ông Diệm "đối xử tàn bạo về tôn giáo. (tr.62)

2.- Lodge, Hilsman, McGeorge Bundy và Church toa rập vu khống ông Diệm

(Trích trong Lodge in Vietnam [A Patriot Abroad] của Anne E. Blair do Yale University Press, New Haven and London xuất bản năm 1995).

"ông Lodge là người nhiều kinh nghiệm về việc vận động Thượng Viện thông qua các dự luật. Do đó, ông hỏi Rusk có thể vận động Ủy Ban Ngoại Giao của Hạ Viện cắt đứt viện trợ cho Chính Phủ Việt Nam không. Ông ta giải thích rằng đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn bị bó tay, nhưng nếu vận động Hạ Viện được như vậy thì viện trợ sẽ tái cấp nếu ông Diệm chịu cải tổ. Hilsman và Mcgeorge làm việc với Thượng Nghị Sĩ Church, người cùng quan điểm với họ, để thảo một quyết nghị thích hợp cho Thượng Viện thông qua. Trong bài diễn văn đưa bản quyết nghị ra trước Thượng Viện vào tháng 9, õng Church nhấn mạnh rằng động lực thúc đẩy ông là "đối xử tàn bạo về tôn giáo". (p. 55)

Ghi chú: Nếu Bản Phúc Trình của Phái Bộ Điều Tra Liên Hiệp Quốc không bị ém nhẹm và được đưa ra trình Liên Hiệp Quốc và dư luận quốc tế, rõ ràng quyết nghị trên đây là một sự vu khống trắng trợn.

3. Lodge và New York Times vu khống Chính Phủ Việt Nam về vụ phái bộ Liên Hiệp Quốc đến Việt Nam điều tra.

(Trích trong A Death in November (America in Vietnam) của Ellen J. Hammer do E.P. Dutton, New York xuất bản năm 198?)

Ngày 24 tháng 10, 1963, một phái bộ của Liên Hiệp Quốc đến Sài Gòn để điều tra về vụ Phật Giáo.

Chính Phủ Việt Nam chưa có hành động gì cả, nhưng Lodge báo cáo với Kennedy như sau:

"Những người Việt có học thức hân hoan chờ đợi Phái Bộ, đồng thời phần đông tín rằng Chính phủ Việt Nam sẽ không để cho Phái Bộ được tự do hành sự’ (p 252)

Bộ Ngoại Giao Mỹ và báo New York Times phụ hoạ Lodge:

"Người Mỹ lúc đầu cho rằng Bà Nhu sẽ là đại diện của chế độ Sài Gòn, và Bà ấy sẽ dùng ngôn ngữ thóa mạ và làm cho dư luận Hoa Kỳ chống đối mà thôi. Nhưng người Mỹ lại được nghe Bà em dâu ông Diệm nói rằng chính phủ Bà hoan nghênh đón tiếp một phái bộ điều tra ùa sẽ chấp nhận những phát hiện của họ. Báo New York Times nói đây chỉ là một mánh khoé của Bà Nhu. Bà dùng mánh khoé này chỉ vì Bà ấy biết rằng sự đề cử một phái bộ điều tra như thế sẽ bị Đại Hội Liên Hiệp Quốc bác bỏ. Đại sứ Lodge đánh điện cho Washington nói rằng theo quan điểm của Toà Đại sứ Chính Phủ Sài Gòn "sẽ chống cự kịch liệt quyết nghị đề nghị cử một đại diện hay một phái bộ Liên Hiệp Quốc đến tận nơi để cứu xét về những vi phạm nhân quyền ở Việt Nam ". (tr. 253) Ghi chú: Trên đây là những hành động lừa gạt dư luận và Chính Phủ Hoa Kỳ của những cơ quan và cá nhân có sứ mạng đưa tin tức chính xác để dân Hoa Kỳ có thể lấy những quyết định đúng và phù hợp với quyền lợi của quốc gia họ. Đấy là những hành động đưa đến sự hy sinh của 58.000 binh sĩ Mỹ trong những năm tới.

Ngày 7 tháng 10, Đại Hội Liên Hiệp Quốc quyết định hoãn cuộc bàn cải về bản thảo quyết nghị kết án Chính Phủ Việt Nam và cử một phái bộ đi Việt Nam điều tra. Nghe tin này,

"Ở Sài Gòn Đại sứ Lodge không hiểu tại sao Phái đoàn Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc lại muốn tránh một cuộc bàn cãi tại Dại Hội và một quyết nghị lên án Chính Phủ Diệm. Ông ta điện cho Washington: Tôi nghĩ rằng sẽ có rất nhiều lo ngại về khả năng bản phúc trình [của Phái Bộ Liên Hiệp Quốc] sẽ thuận lợi cho Chính Phủ Việt Nam". (tr.258)

"Bửu Hội [Đặc sứ của Chính Phủ Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc đã cam đoan với Ngoại Trưởng Rusk là sự mời Liên Hiệp Quốc cử một phái bộ đến Việt Nam không phải là một kế trì hoãn, và phái bộ sẽ được tự do đi bất kỳ nơi nào ờ Việt Nam và gặp bất kỳ ai họ muốn. Nhưng Lodge lại cho rằng phái bộ sẽ ngây thơ nếu họ tin như vậy; theo ông ta Chính Phủ Việt Nam sẽ không khi nào để cho họ thâu được những tin tức bất lợi cho Chính Phủ đó. Ông ta điện cho Kennedy rằng lãnh tụ sinh viên đang bị bắt, và tất cả bằng chứng cho thấy rằng Chính Phủ Việt Nam đang đe dọa đối phương để khép miệng những nhân chứng chống đối và ngăn cản không cho họ đến gặp phái bộ, và phái bộ sẽ được đi một vòng du lịch theo kiểu Cooks " (tr. 259)

4.- Lodge vận động Liên Hiệp Quốc đừng bàn về bản phúc trình của phái bộ Liên Hiệp Quốc điều tra vụ chính phủ Ngô Đình Diệm bị tố cáo vi phạm nhân quyền vì nhận thấy kết quả bất lợi.

(Trích trong Lodge in Vietnam [A Patriot Abroad] của Anne E. Blair do Yale University Press, New Haven and Lon on xuất bản năm 1995).

"Sau cuộc đảo chánh Lodge yên lặng vận động để Bản Phúc Trình của Phái Bộ Điều Tra của Liên Hiệp Quốc đã viếng Việt Nam vào tháng 10 và tháng 11 để điều tra về những sự than phiền của Phật Giáo về nhân quyền bị vi phạm khỏi được đưa ra bàn cãi ở Đại Hội Liên Hiệp Quốc. Viên chức Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc đã cho Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ biết rằng sự công khai hoá những điều mà Phái Bộ Liên hiệp Quốc phát hiện được sẽ gây lúng túng cho chế độ mới ớ Sài Gòn gồm những người đã phục vụ dưới ông Diệm. Thêm nữa, một cuộc bàn cãi công khai có thể cho thấy rằng chế độ mới này cũng chẳng kém độc tài hơn chế độ cũ và cho Hà Nội và Bắc Kinh thêm một dịp để tố cáo Chính Phủ Hoa Kỳ đã dính líu vào cuộc đảo chính. Lodge am hiểu sự khác biệt về ảnh hưởng của những tố cáo trước một diễn đàn quốc tế, sẽ được báo chí quốc tế quảng cáo rầm rộ, và những bằng chứng cục bộ trong một tờ trình viết được ít người đọc. Nhân một dịp viếng Washington vào tháng 12, ông ta thẳng thừng yêu cầu ông Senerat Gunewardene, đại sứ Ceylon, người dẫn đầu nhóm Liên Hiệp Quốc đã thâu tập dữ kiện về vụ Phật Giáo, đừng có đòi một sự bàn cãi về những gì ông ta đã phát hiện được. Gunewardene nhận làm như Lodge yêu cầu để làm vừa lòng một người bạn lâu năm, vào thời ông Lodge làm đại sứ đại diện Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc. Như nhiều người khác đã có dịp giao dịch với Lodge, Gunewarđene đã bị Lodge quyến rũ và coi ông này như là một người bạn" (tr. 77-78) ‘ .

Bà Blair đã ghi rằng những điều trên đây là do con gái của ông Gunewardene tiết lộ trong một bức thư gởi cho bà ta vào tháng 11, năm 1988, nghĩa là 26 năm sau, vụ toa rập ém nhẹm sự thật này mới được đưa ra ánh sáng. (Xem trích dẫn: Blair, tr.178).

Nhấn chuột vào dưới đây đọc tiếp

Phần II Phúc trình của phái bộ Liên Hiệp Quốc thâu tập dữ kiện về vi phạm nhân quyền ở Nam Việt Nam.




Nhã Thanh Sử : SỰ THẬT HỒ CHÍ MINH

SỰ THẬT HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Ái Quấc – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, những cái tên của những con người bí ẩn trong lịch sử. Viết về những người này, có quá nhiều dữ liệu cần phân tích, cần rất nhiều trang lý luận với nhiều chủ đề khác nhau, việc này cần nhiều thời gian xin dành cho các sử gia chuyên nghiệp. Còn tôi, trong khi chờ đợi các sử gia lên tiếng, tôi xin viết một số ý nhỏ, một cách thật đơn giản sao cho mọi người đều có thể hiểu được. Trong bài viết hạn hẹp này, tôi chỉ đề cập tới Hồ Chí Minh.

NHÃ THANH SỬ

 

NHỮNG NGƯỜI MANG TÊN HỒ CHÍ MINH

"Hồ Chí Minh", theo như công bố của đảng Cộng sản, là "một người" đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập ngày 02/09/1945 và mất ngày 02/09/1969. Sự thật, "Hồ Chí Minh" không phải là một người, mà tất cả là "5 người gồm 1 Thật và 4 Giả".

 

Xin quí vị mở link dưới để đọc tiếp.
 



Chân Mây : Ô Nhục Ải Nam Quan

Vietnam History

http://www.youtube.com/watch?v=5s4q68h_nfA

*********************************

AI NAM QUAN!

Ô Nhục Ải Nam Quan (Chân Mây)

LGT: Những bức ảnh của tác giả Chân Mây trong tập ảnh "Ô Nhục Ải Nam Quan" là những tài liệu lịch sử vô cùng giá trị. Chúng nói lên sự bán nước trắng trợn của chế độ cộng sản Việt Nam.

Xem hình mà bồi hồi, quặn thắt, một nỗi ray rứt thức dậy trong hồn. Cám ơn tác giả Chân Mây đã cung cấp những dữ kiện cho ngàn đời sau biết được những gì xẩy ra cho dân tộc hôm nay, để không quên tội ác của tập đoàn Việt gian phản quốc Hồ Chí Minh đối với đất nước và dân tộc. 

Xin trân trọng giới thiệu tập ảnh "Ô Nhục Ải Nam Quan" của tác giả Chân Mây đến cùng quý độc giả trong ngoài nước.

—————————–

12/06/2009

Ven trời góc biển buồn chim cá
Dạn gió dày sương tủi nước non
Thượng Tân Thị

Bi thương thay cho lịch sử Việt Nam!
Từng cây số trên quê hương là từng giòng máu lệ, máu của cha ông ngăn thù và máu của hai miền huynh đệ chan hòa vào nhau trong hoan lạc dành cho Quốc tế Cộng Sản. Và đang trở về đây là những bước chân âm thầm của ngàn năm nô lệ. Kết qủa từ công cuộc nhuộm đỏ mạo danh “độc lập, tự do, hạnh phúc” theo tư tưởng Hồ Chí Minh và đồng bọn.

Hãy tiếp tục nhìn những gì mà CSVN đang ra sức thực hiện: “Thác Bản Giốc, Ải Nam Quan không thuộc lãnh thổ Việt Nam!”. Họ cố chối bỏ lịch sử Việt Nam và ra sức tranh cãi, biện luận với dân Việt thay cho Trung Cộng. Ô nhục! Từ quan đến quân, CSVN chỉ là một lũ tôi mọi dâng đất, dâng biển của tổ tiên cho ngoại bang bằng văn tự công hàm, hiện rõ hình hài là một bọn quái thai chưa từng có trong lịch sử nhân loại!

Chấp bút cho đề tài “Ải Nam Quan”, thay vì tranh luận bằng văn chương, tôi sẽ sử dụng giá trị của những tư liệu bằng hình ảnh. Bởi vì, đã có rất nhiều nghiên cứu công phu của các tác giả yêu nước Việt nồng nàn đã là qúa đủ để khẳng định “Ải Nam Quan là của Việt Nam! Ải Nam Quan thuộc về Trung Cộng là do sự hiến dâng của Đảng CSVN!”. Những hình ảnh sẽ lưu lại đây để cho con cháu chúng ta hiểu rõ hơn niềm bi thương của đất nước, chỉ cho các em bọn bán nước hiện đại là ai. Để rồi không còn ngày phải tôn thờ hỉnh Hồ-Mao và màu cờ máu chỉ còn là một kỷ niệm buồn. Rất buồn!
Hãy xác tin rằng: “Nước Việt của em từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau” là mãi mãi!

Chương I

NHỮNG HÌNH ẢNH LỊCH SỬ

Trong chương này, việc sắp đặt hình ảnh về Ải Nam Quan sẽ dựa theo sự thay đổi của lối kiến trúc v.v. mà phân chia thành các nhóm hình theo ký tự A,B,C…Để sự diễn tả rõ ràng hơn, những hình ảnh bên phía Trung Cộng (hoặc Trung Quốc theo thời đại) sẽ gọi là “Trấn Nam Quan” “Mục Nam Quan” v.v…; ngược lại, nhũng hình ảnh bên phía Việt Nam sẽ gọi là Ải Nam Quan hoặc cổng Nam Quan theo đúng tinh thần lịch sử. Phân chia như sau.

– Nhóm A: họa đồ “Trấn Nam Quan” của Trung Quốc (đánh số A1 đến A4)
– Nhóm B: có chung kiến trúc (đánh số B1 đến B4)
– Nhóm C: có chung kiến trúc (đánh số C1 đến C4)
– Nhóm D: có chung kiến trúc (đánh số D1 đến D2)
– Nhóm E: không xác định (E1 đến E3)
– Nhóm F: hình quân sự và bản đồ (đánh số F1 đến F6)
– Nhóm Phụ ảnh: Một số phụ ảnh bất định sẽ đưa trực tiếp vào nơi hình cần thêm minh họa.

Diễn tả

1, Nhóm hình A:

Trước hết, ta có hai bức họa theo lối sơn thủy về hình ảnh “Trấn Nam Quan” trong đời nhà Thanh (Trung Quốc). Niên đại của cả hai được cho rằng họa vào đời vua Ung Chính khi xảy ra cuộc chiến Trung-Pháp (1884-1885)

A1. “Trấn Nam Quan Bổ Phòng Đồ” (1)
Còn gọi là “Thanh Quân Trấn Nam Quan Bổ Phòng Đồ” (Họa đồ bố trí phòng thủ Trấn Nam Quan của quân Thanh). Đây là bức họa các vị trí đóng quân của nhà Thanh nơi Trấn Nam Quan bên trong nội địa Trung Quốc. Địa hình đồi núi khái lược. Cổng ra vào với Ải Nam Quan của Việt Nam nằm tại cạnh phải của bức họa (có đóng khung).

A2. “Trấn Nam Quan Bổ Phòng Đồ” (2)
Các vị trí đóng quân của nhà Thanh nhìn từ hướng Việt Nam. Không hiểu tại sao bố cục của bức họa này lại rất giống với bố cục trên bưu ảnh (tham khảo hình B1) do người Pháp chụp vào đầu TK20 (hoặc cuối TK19?) . Có thể bức họa này dựa theo tài liệu của người Pháp mà vẽ ra. Giá trị của bức họa này so với bưu ảnh (B1) là do sự quan sát của người Trung Quốc vào thời đại cũ nên ta thấy được kiến trúc nguyên thủy của Ải Nam Quan bên phía Việt Nam. Ta thấy có một cổng lớn, hai bên cổng là hai dãy tường thành dâng cao nhưng bị cắt ở hai bên lưng núi. Một khoảng sau cổng mới đến phần cổng có mái ngói. Từ phần cổng mái ngói này có dãy tường thành chạy dài lên đỉnh núi. Đó là phần Trung Quốc. Các điểm này tương xứng với bưu ảnh (B1).

 

 A3. “Trấn Nam Quan Đại Chiến”
Minh họa cảnh giao chiến giữa quân Pháp và quân Thanh tại cổng Nam Quan vào năm 1885. Niên đại của bức họa không rõ nhưng ta thấy tường thành có kiến trúc giống cổng Ải Nam Quan của hình A2.

 

A4. “Trấn Nam Quan Đại Lâu Đồ”
Mô tả cảnh quân Pháp rút quân và binh lực quân Thanh tại Trấn Nam Quan. Hãy quan sát vị trí cổng theo khung hướng dẫn trong hình.

 

2, Nhóm hình B:
Bưu thiếp (Carte Postale) phong cảnh Ải Nam Quan do người Pháp thực hiện vào đầu thế kỷ 20. Các nhật ấn sưu tầm được trên bưu thiếp sử dụng từ năm 1908-1912.

B1. Ải Nam Quan nhìn từ độ cao ở Đồng Đăng
Vẫn dựa theo tường thành phía Việt Nam là hai đoạn ngắn nhưng phần cổng đã thay đổi thành cổng nhỏ. Phía Trung Quốc là cổng lớn và cao hơn, thiết kế hai mái ngói và tường thành chạy dài lên núi giống các bức họa đã nêu trên. Có lẽ sau giao tranh vào năm 1885. Cổng phía Việt Nam đã bị phá hủy nên được xây lại không còn qui mô như xưa.
Khoảng trống đến phần cổng phía Trung Quốc là vùng cảnh giới của hai bên vì dựa theo hình phía bên Trung Quốc ta sẽ thấy có sự đối xứng (tham khảo nhóm hình C).

Phụ ảnh:(B1) Ảnh màu để xác nhận hai phần mái ngói đỏ.

B2. Ải Nam Quan nhìn từ hướng Đồng Đăng
Ta nhận thấy sự cao thấp của hai phía cổng và cánh phải của tường thành phía Việt nam cũng dừng ở ngang núi theo như họa đồ Trung Quốc (A1). Ở góc phải phía dưới hình là một ụ trắng phủ cỏ xanh, dấu tích lô cốt của quân đội Pháp (tham khảo hình F1 sẽ thấy rõ vị trí lô cốt nhìn từ bên Trung Quốc).

 

B3. Bang giao tại Ải Nam Quan
Quan sát các nhân vật trong hình, ta thấy ở cạnh trái có binh lính Việt Nam đứng thành hàng dài. Giữa cổng đi ra là hàng phu khiêng kiệu đội nón vải rộng vành của quân nhà Thanh (chở quan viên?). Ở cạnh phải của hình có những người nhà Thanh đội nón và kết tóc đuôi sam. Có lẽ đang diễn ra một sự kiện nào đó trong lịch sử bang giao tại Ải Nam Quan.

Tam hình này da duoc thu nho lai de vua voi kich thuoc trong Dien Dan. Bam vào day de xem hình lon hon. Kich thuoc nguyen thuy la 800×512 và nang 161KB.

 

B4. Cổng Ải Nam Quan
Cổng đóng then gài, cỏ mọc cao ngất ngưỡng. Hoang tạnh. Trong lời nhắn trên bưu thiếp cho ta biết cổng được tu phục vào năm 1908. Nhật ấn “Lạng Sơn”. Xác nhận bờ tường thành chỉ còn dấu thang bậc đi lên để so sánh với tường thành phía bên Trung Quốc (nhóm hình C).

Tam hình này da duoc thu nho lai de vua voi kich thuoc trong Dien Dan. Bam vào day de xem hình lon hon. Kich thuoc nguyen thuy la 800×512 và nang 122KB.

Phụ ảnh: Đường lên Ải Nam Quan từ Đồng Đăng

3. Nhóm hình C

C1. Trấn Nam Quan (1)
Nhìn từ bên Trung Quốc. Kiến trúc ở đây đã khác. Phần mái ngói lớn phía dưới đã mất, chỉ còn lại phần mái ngói bên trên và cấu trúc mái cũng khác. Chỉ có dãy tường thành là vẫn chạy dài lên trên. Cạnh trái trên đỉnh núi có doanh trại. Phía dưới trước mặt cổng có cụm nhà ngói. Kiến trúc thay đổi có lẽ do sự phá hủy trong cuộc “Khởi nghĩa Trấn Nam Quan” do Tôn Trung Sơn lãnh đạo vào năm 1907. Để dễ phân biệt với nhóm hình chụp từ phía Việt Nam ta sẽ quan sát thêm sự khác nhau của địa hình đồi núi.

 

C2. Trấn Nam Quan (2)
Mặt bằng của Trấn Nam Quan. Bờ tường thành chia theo lô khác với hình thang bậc bên phía Việt Nam. Ta thấy rõ bên phía Trung Quốc cũng có khoảng cách so với cổng lớn (Quan). Một án tường trắng đối diện cổng là theo lối phong thủy ngày xưa tránh sự dòm ngó thẳng vào nhà mình từ phía bên ngoài (ngay trong các kiến trúc cổ của Việt Nam từ đình làng đến lăng miếu ta sẽ nhận ra điểm này). Theo sử liệu Trung Cộng, cụm nhà nhỏ phía trước cổng lớn (nơi có hai nhân vật áo trắng đang đứng) là miếu thờ Quan Công gọi là Quan Đế Miếu và Đền Chiêu Trung. Sau đó vào năm 1896 trong chương trình khảo sát biên giới giữa Trung-Pháp đã xây trên nền này một văn phòng quản lý cùng với 9 điểm khác trên biên giới Trung-Việt. Năm 1914 xây lại lần hai thành kiến trúc nhà lầu kiểu Pháp nên còn gọi là “Pháp Lầu” hoặc “Pháp Quốc Lầu” vẫn còn tồn tại cho đến nay.

Tam hình này da duoc thu nho lai de vua voi kich thuoc trong Dien Dan. Bam vào day de xem hình lon hon. Kich thuoc nguyen thuy la 800×504 và nang 165KB.

C3. Toàn cảnh Trấn Nam Quan
Có một khu trại và hai dãy nhà mái lá cách xa với cổng lớn ở cạnh tâm phải của hình. “Trấn Nam Quan” là đây! Khởi nghĩa Tôn Trung Sơn là đây! Khu di tích này giờ chỉ còn là ruộng nước, gọi là “khu di chỉ Trấn Nam Quan Khởi Nghĩa”. Các khung trong hình dùng để xác định vị trí so với hình C4.

Tam hình này da duoc thu nho lai de vua voi kich thuoc trong Dien Dan. Bam vào day de xem hình lon hon. Kich thuoc nguyen thuy la 800×516 và nang 75KB.

C4. Trấn Nam Quan (3)
Trên bưu thiếp có tiêu đề “NAM QUAN (Chine) – Le Village” rõ ràng đây là khu làng mạc (Trấn) trong đất Trung Quốc. So sánh các khung vị trí với hình C3:
Dãy nhà lá và con đường đất ở giữa, trước mặt là cụm nhà ngói và tán cây. Ngang ở tâm trái của hình là bờ tường thành. Phía góc phải là vách núi đá (đá vôi?) trắng.

Chữ “Trấn” trong văn tự trung Quốc có rất nhiều nghĩa, như “trấn giữ”, “trấn áp”, “trấn tĩnh”, “trấn địa”…v.v. đều là chỉ việc gìn giữ, ổn định. “Trấn” còn là một đơn vị hành chính sau cấp huyện có từ thời xưa tại Trung Quốc (đơn vị hành chính Việt Nam thời xưa cũng thường sử dụng). Trong một số sử sách Việt Nam có nói “Trấn Nam Quan” nằm trong nội địa Trung Quốc. Thì đây, “Trấn Nam Quan” đã xác định là những hình này! Khối nhà lợp mái ngói ta sẽ hiểu là khu nhà quan binh, hai dãy nhà lá là khu dân cư dựa theo binh đội để có cuộc sinh hoạt yên bình. “Trấn” là khu phố nhỏ, làng mạc. Đừng làm lệch lạc lịch sử và đừng theo luận điệu của bọn bán nước mà cho rằng “Ải Nam Quan phải gọi là Bắc Quan”. Chữ “Nam Quan” là do Trung Quốc kiêng kỵ Việt Nam nên không muốn gọi là “Đại Nam Quan” mà thôi. Chữ “Quan” là chiếc cổng qua lại. “Đại Nam Quan” hay “Nam Quan” là cửa ngõ giao thiệp với nước Việt Nam. Hai bên đã thủ lễ với nhau bằng khoảng trống ở hai bên cổng lớn. Theo sử liệu, sau chiến tranh Trung-Pháp thì nhà Thanh đã chiếm giữ cổng lớn và buộc phía Việt nam phải cách xa cổng là 100 thước. Việc này ta thấy tương đương với khoảng cách của hai cổng trong nhóm hình B.

 

4, Nhóm hình D

D1. Cổng Nam Quan (1)
Đây là một kiến trúc khác hẳn so với các nhóm hình trên. Có vẻ sơ sài vì đã mất hẳn phần kiến trúc phía trên trong cuộc nội chiến tại Trung Cộng vào năm 1949. Ta thấy có dáng một nhân vật đang cầm súng. Tiêu đề trên bưu thiếp “NAM QUAN (Tonkin)…” đây là bên phía Việt Nam khi qua cổng nhỏ để đứng sát với cổng lớn (vào lúc này có lẽ kiến trúc cổng nhỏ cũng đã mất). Theo sử liệu Trung Cộng, trong cuộc giao tranh vào năm 1949 thì toàn bộ phần trên cổng đã bị phá hoại hoàn toàn (tham khảo hình E2).

 

D2. Cổng Nam Quan (2)
Hình đăng trên tạp chí “National Geographic” do GS Nguyễn Văn Canh đưa lên mạng và không rõ niên đại. Một số bạn nghi ngờ bức ảnh này không chính xác với hình ảnh của Ải Nam Quan. Tuy nhiên so sánh với hình D1, ta đã thấy kiến trúc cùng kiểu của hai hình. Tại đây, dãy tường thành chạy lên cao đến vách núi trắng tương ứng với hình C3-C4, có thể xác định là hình được chụp từ cao điểm bên phía Việt Nam.

 

5, Nhóm hình E

E1. Không xác định (1)
Một hình ngôi chùa trên đường đi Long Châu nơi có cổng giao thiệp với Việt Nam là Bình Nhi Quan. Cùng với Nam Quan và Bình Nhi Quan còn có Thủy Khẩu Quan là 3 cổng quan yếu để vào đất Việt Nam nên gọi chung là “Tam Quan”, có khi cổng Nam Quan còn gọi là riêng là “Tam Quan” do ở vị trí quan trọng hàng đầu so với hai cổng Bình Nhi-Thủy Khẩu. Nơi hình này có tiêu đề “Chine – NAM QUAN – Loc Hang Thiap”. Chưa rõ chữ “Loc Hang Thiap” là gì nhưng hình xác định là Nam Quan trên đất Trung Quốc, có phải là một ngôi chùa trong “Trấn Nam Quan” hay không? Hay là thuộc Trấn Bình Nhi Quan?
Tam hình này da duoc thu nho lai de vua voi kich thuoc trong Dien Dan. Bam vào day de xem hình lon hon. Kich thuoc nguyen thuy la 800×518 và nang 112KB.

E2. Không xác định (2)
Quân đội Trung Cộng đứng trên tường thành giương cờ trong cuộc chiến thắng quân Tưởng Giới Thạch vào ngày 11.12.1949 tuyên bố giải phóng Quảng Tây. Thế tường thấp với cổng và trên mặt tường cổng có chữ “Trấn Nam Quan”.

Phụ ảnh: Hình chụp chính diện của Trấn Nam Quan trong ngày giải phóng Quảng Tây tháng 12.1949. Trên mặt tường cổng thành ta thấy rõ chữ “Trấn Nam Quan”. (phòng trưng bầy lịch sử Hữu Nghị Quan)

 

E3. Không xác định (3)
Quân đội Trung Cộng đứng trước cổng nhỏ có khắc chữ “Trấn Nam Quan”. Không rõ niên đại của hình. Chung với hình E2, có lẽ đây là “Trấn Nam Quan” mà tôi đã giải thích (mục 3, nhóm hình C).

6. Nhóm hình F

F1. Toàn cảnh Ải Nam Quan
Do trinh sát quân Nhật Bản chụp vào tháng 6 năm 1940 trước khi tiến hành “cuộc chiến 3 ngày” nhằm đạt mục đích đưa quân vào lãnh thổ Đông Dương. Hình được mô tả: “…thấy được đường xe lửa Lao Cai-Côn Minh. Lại có đường xe ô-tô từ Đồng Đăng lên tận Trấn Nam Quan. Bờ tường thành này bên trong là đất Trung Quốc, ngay bên ngoài là Bắc bộ Đông Dương”.

Từ cao điểm như trong hình ta thấy rõ vị trí lô cốt như đã xem qua hình B2. Có khả năng lô cốt đã xây dựng trên một nền kiến trúc cổ xưa của Việt Nam . Và còn “Suối Phi Khanh” nơi thấm lệ của Nguyễn Trãi, có ai nhận ra chưa?…Nước mắt!

Tam hình này da duoc thu nho lai de vua voi kich thuoc trong Dien Dan. Bam vào day de xem hình lon hon. Kich thuoc nguyen thuy la 1024×768 và nang 235KB.  

 

Phụ ảnh: Liên quân Pháp-Việt (trường Sĩ quan Đồng Đăng)
Những người bảo vệ Ải Nam Quan thất thủ trước quân Nhật (25.09.1940)

Tam hình này da duoc thu nho lai de vua voi kich thuoc trong Dien Dan. Bam vào day de xem hình lon hon. Kich thuoc nguyen thuy la 1024×768 và nang 224KB.

F2. Cột Mốc Số 18
Do quân đội Nhật Bản chụp tháng 7 năm 1940 ngay tại tường thành Trấn Nam Quan. Cột mốc số 18 lịch sử xác định biên giới Trung-Việt vào năm 1887. Xác định lãnh thổ bảo hộ của thực dân Pháp tại Đông Dương và cũng là khởi điểm Nam tiến của quân đội Thiên Hoàng giao tranh với các nước Châu Âu.
Trên Cột mốc số 18 ta đọc được: “
Trung Việt Quốc Giới, Trấn Nam Quan Ngoại, Đệ Thập Bát Hiệu – No.18
FRONTIERE”
Tam hình này da duoc thu nho lai de vua voi kich thuoc trong Dien Dan. Bam vào day de xem hình lon hon. Kich thuoc nguyen thuy la 768×1024 và nang 199KB.

 

F3. Bản đồ vị trí Trấn Nam Quan và cột mốc số 18
Do chính quyền Tưởng Giới Thạch họa vào năm Dân Quốc 13 (1925). Khu vực Trấn Nam Quan và cột mốc số 18 (có đóng khung)

Tam hình này da duoc thu nho lai de vua voi kich thuoc trong Dien Dan. Bam vào day de xem hình lon hon. Kich thuoc nguyen thuy la 1024×669 và nang 61KB.

 

F4. Hữu Nghị Quan (tên gọi cổng Nam Quan do Trung Cộng đặt ra vào năm 1965)
Đây là một bằng chứng sống động nhất cho kết qủa “bác cháu ta cùng giữ nước” trong thời cộng sản cầm quyền tại Việt Nam. Ảnh do cựu chiến binh Trung Cộng (tham gia chiến tranh biên giới Trung-Việt 1979) chụp vào năm 2005. Các vạch và khung đánh dẩu trên ảnh là của tác giả ảnh và được giải thích như sau.

“Hình trên là từ trên núi Kim Kê chụp xuống. Bên trái là Hữu Nghị Quan, vòng tròn màu vàng là cao điểm tranh chấp Trung-Việt, hiện thời do quân ta khống chế; Vùng màu xanh lá cây hình tam giác là khu vực gài địa lôi. Vạch dài màu tím là con đường sắt qua lại với Đồng Đăng. Vùng trắng giữa hình có hai cửa đường hầm là điểm cuối của cao tốc Nam Ninh đến Bằng Tường”

Nguyên văn:
上图]这是在金鸡山上往下拍的。左侧是友谊关,黄圈部分为中越有争议的高地,目前为我军控制;草绿色的三角为雷区 ,蓝线是通往同登的铁路。图片中间灰白处有两个遂道洞口为南宁至凭祥高速公路的终点站。

Tham khảo tại đây:
http://military.china.com/zh_cn/hist…2461442_1.html

Tôi xin thuyết minh thêm. Núi Kim Kê là cao điểm chiến lược nằm ở cánh trái cổng Nam Quan, ngay vị trí chụp ảnh của tên cựu chiến binh này chính là đất Việt Nam. Khu vực tam giác trong hình chính là khu vực của cột cây số Km0 của Việt Nam là nơi mà vào đầu tháng 7.2007, phía Trung Cộng đã tuyên bố hoàn tất gỡ bỏ tấm đạn địa lôi (mìn) cuối cùng, bảo đảm thông thương an toàn cho “vùng Hữu Nghị, Hòa bình vạn tuế!”. Trong các hình ảnh của chương tiếp theo ta sẽ rõ hơn về vị trí này. Ở đây ta đã có khái niệm về việc Ải Nam Quan đã mất trong cự ly ra sao! Việc mất lãnh thổ qủa là nghiêm trọng! không phải là 100m, 150m, hoặc 200m. Cự ly trong hình có thể tính bằng Km! Hai lỗ đen gần giữa tâm hình là đường ra vào của cao tốc Nam-Hữu (Nam Ninh-Hữu Nghị Quan với chiều dài 179.2 Km. Nam Hữu khởi công vào ngày 28.04.2003 và chính thức khai thông vào ngày 28.12.2005, cũng là đường quốc lộ số 322 của Trung Cộng với điểm tận cùng giáp với Km0 của QL1 Việt Nam. Một âm mưu mới hơn đang hình thành!).
Như ta thấy, cả một vùng đồi núi của Việt Nam đã bị Trung Cộng ngang nhiên san bằng và xây dựng công trình trong nhiều năm, vẫn không hề có một chút phản ứng nào của bọn cầm quyền CSVN. Hay nói đúng hơn là đã có một sự thỏa thuận nhượng Ải Nam Quan từ hàng chục năm trước?

F5. Ảnh chụp vệ tinh vị trí của Hữu Nghị Quan
Khu vực Hữu Nghị Quan (đóng khung) so với đường biên giới Trung-Việt màu vàng. Ảnh do cựu chiến binh Trung Cộng thiết kế để mô tả lại chiến trận biên giới Trung-việt năm 1979. Lúc này, Hữu Nghị Quan đã nằm sâu trong đất Trung Cộng từ đời…Hồ Chí Minh!

“Con đê đầu khấn lạy Chư Phật mười phương…”
Ải Nam Quan đã mất, Đất thiêng đã mất! Có ai còn nhớ Phi Khanh-Nguyễn Trãi?

—————–

Chương II: “Kẻ Bán Ải Nam Quan và Km Zéro ô nhục!”

 

(Năm 1966. Công binh xây dựng đường sắt Trung-Việt tại Hữu Nghị Quan tuyên thệ trước khi vào VN làm nhiệm vụ)

(Thiết đạo binh: công binh đường sắt TC giả dạng bộ đội VN)

(Năm 1966. Quân chính qui TC giả dạng bộ đội VN tuyên thệ tại Hữu Nghị Quan. Hướng về TC đồng thanh hô lớn: "Quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Nguyện mang vinh quang trở về!". Trong ảnh là Sư đoàn 62 Cao Xạ TC)

Tam hình này da duoc thu nho lai de vua voi kich thuoc trong Dien Dan. Bam vào day de xem hình lon hon. Kich thuoc nguyen thuy la 940×896 và nang 126KB.

(Tham gia tra tấn tù binh Mỹ tại VN)

(Tham gia bắt sống phi công Mỹ tại VN. Người cầm ảnh là cựu chiến binh TC tham chiến tại VN )

(Huy chương "Đoàn Kết Chiến Thắng Giặc Mỹ" do chính HCM ký tặng)

(Hoặc do PVĐ ban thưởng)

(Năm 1968, hai bác Hồ – Mao đi từ Ải Nam Quan cùng mang vũ khí vào gây tang tóc cho dân miền Nam VN)

 

 

 

"Nam man! Ta cho ngươi cơm ăn, áo mặc, ta cho ngươi súng đạn, nhưng chính ngươi đã lấy súng đạn bắn vào da thịt ta!” (người anh em đồng chí TC nói!)

Hoa Kiều tại Việt Nam bị cưỡng chế hồi hương năm 1978

Ngày 25.08.1978, khoảng trên 200 quân Việt Nam dùng vũ lực bắt buộc Hoa kiều phải hồi hương đi vào khu vực Hữu Nghị Quan. Lúc 17g30 cùng ngày, ngay trước cổng Hữu Nghị Quan, quân Việt Nam đánh chết 6 người, 82 người bị thương, 15 người chạy thoát. Công tác viên phía Trung Cộng lên tiếng cảnh cáo và xung đột đã xảy ra giữa hai bên cán bộ Trung-Việt. Ba ngày sau, quân Việt Nam tiếp tục tràn lên vùng biên giới tìm kiếm những Hoa kiều đang bỏ trốn… Chiến tranh biên giới Trung-Việt bắt đầu từ đây, cuộc chiến mà Trung Cộng lấy cớ “tự hào” là “Tự Vệ Phản Kích”. Ải Nam Quan thêm một lần nữa chứng kiến xung đột Trung-Việt. Nhưng từ sau cuộc chiến này, Trung Cộng đã đẩy lui lãnh thổ Việt Nam ra khỏi Ải Nam Quan và bỗng xuất hiện cột mốc có tên gọi “Km0” thần thoại, nằm cách xa cổng Nam Quan hàng trăm thước.

 

Dấu đạn giao tranh Trung-Việt trên khắp tường thành "Hữu Nghị Quan"

Trung Cộng ca khúc khải hoàn trở về cổng Hữu Nghị Quan sau chiến thắng

 

Ngày 28.05.1980, Trung-Việt tiến hành trao trả tù binh tại "Km0" trên đường Đồng Đăng dẫn vào khu vực Hữu Nghị Quan

Tam hình này da duoc thu nho lai de vua voi kich thuoc trong Dien Dan. Bam vào day de xem hình lon hon. Kich thuoc nguyen thuy la 1024×515 và nang 80KB.

 

Phụ ảnh tham khảo "Cột Mốc Số 18" giả mạo (?)

Đây là "Cột Mốc Số 18" mà TC cho rằng đã đặt tại cổng Nam Quan. Khác với "Cột Mốc Số 18" theo Hiệp ước Pháp-Thanh (đã trình bầy nơi chương I). Trên cột mốc này khắc rằng: "BORNE.18 ANNAM-CHINE, Đệ Thập Bát Bài, Đại Pháp Quốc Việt Nam, Đại Trung Hoa Dân Quốc Vân Nam". Lịch sử nào ghi rằng Pháp thay mặt VN ký kết Hiệp ước Biên giới với chính quyền của Tưởng Giới Thạch? Loại cột mốc này là cùng kiểu với cột mốc số 53 tại khu vực Thác Bản Giốc. Những cột mốc thật sự của Hiệp ước Pháp-Thanh đã tiêu biến nơi đâu ? Không ai biết rõ hơn biên giới Trung-Việt bằng Đảng CSVN, nhưng họ có nói gì không về hiện tượng này? Lặng câm! Ta nên nhớ, trong đề cương của Đảng CSVN do HCM soạn ra vào năm 1940 đã chủ trương một cách mù quáng: "Không công nhận bất cứ văn kiện, hiệp ước nào của thực dân Pháp thay mặt VN ký kết với quốc gia khác!"

Tam hình này da duoc thu nho lai de vua voi kich thuoc trong Dien Dan. Bam vào day de xem hình lon hon. Kich thuoc nguyen thuy la 1024×718 và nang 405KB.

 

Sự ra đời của “Km 0” cho đến nay vẫn rất khó hiểu. Theo “truyền thuyết”, “Km 0” ra đời vào năm 1960 và Phạm Văn Đồng đã trồng cây si để đánh dấu vị trí. Có thực sự là PVĐ trồng cây si để đánh dấu vị trí biên giới Trung-Việt hay không? Hay chỉ đơn thuần là việc trồng cây kỷ niệm một sự kiện nào đó? (thói màu mè của CSVN). Năm 1958, chính tay PVĐ đã ký văn bản dâng biển cho Trung Cộng, bản đồ Bắc Việt thì Đảng CSVN dâng cho Trung Cộng vẽ, trong thời điểm lệ thuộc sự viện trợ của Trung Cộng thì làm sao nói chuyện căng thẳng biên giới, lãnh hải được. Còn cây si là cây si nào? Cây si thuộc loại cây nhiệt đới có sức tăng trưởng và phát tán rất nhanh. Không thể nào cho rằng cây si mà PVĐ trồng là cây si đứng sau cột “Km0”. Hãy xem hình (so sánh với cây si trước cổng HNQ ở chương II).

Năm 1979, hai tên Trung Cộng đang chỉ vào vị trí cột mốc “Km0”. Cỏ cây rậm rì, một gốc cây nhỏ phía sau (cây si từ năm 1960?). Phải chăng vị trí cột mốc chẳng phải bị di dời đi hàng trăm thước nào cả. Nó đã nằm đó từ những năm 1960, như một thỏa thuận “hữu nghị” khi HCM dành trọn Ải Nam Quan để tiếp nhận vũ khí của TC gây máu lửa trên miền Nam Việt.

 

"Km0" trong những năm 1990. Biên phòng VN đứng gác nhưng quay mặt về phía VN. Đáng nể!

 

"Km0" trong những năm đầu 2000, khi đang xây dựng lại cảnh quan "Hữu Nghị" và kế hoạch cao tốc Nam-Hữu . Lúc này trên cột còn ghi "Hữu Nghị Quan" và "cây si PVĐ" còn đó

 

"Cây si PVĐ" bị đốn bỏ dã man vào năm 2005. Cột mốc cũng chỉ còn chữ "Hữu Nghị". Đảng CSVN không dám nhận thêm chữ "Quan". Xóa bỏ vĩnh viễn lịch sử để làm vừa lòng đàn anh TC!

 

 

"Km0" của VN trơ trọi so sánh với bia đá "Nam Cương Quốc Môn" của Trung Cộng phía sau . Ở vị trí này ta không còn thấy cổng Nam Quan!

"Km0" của VN trơ trọi so sánh với bia đá "Nam Cương Quốc Môn" của Trung Cộng phía sau . Ở vị trí này ta không còn thấy cổng Nam Quan!

 

"Km0" trong những ngày năm 2006.

Tam hình này da duoc thu nho lai de vua voi kich thuoc trong Dien Dan. Bam vào day de xem hình lon hon. Kich thuoc nguyen thuy la 1024×768 và nang 214KB.

Gần lại một chút . Hành lang trắng bên tay phải dẫn vào khu vực Hải quan TC.

Tam hình này da duoc thu nho lai de vua voi kich thuoc trong Dien Dan. Bam vào day de xem hình lon hon. Kich thuoc nguyen thuy la 813×641 và nang 211KB.

Nhìn sang bên phải để thấy rõ hơn cổng đường hầm cao tốc Nam-Hữu và Cổng kiểm soát của Hải quan TC.

Tam hình này da duoc thu nho lai de vua voi kich thuoc trong Dien Dan. Bam vào day de xem hình lon hon. Kich thuoc nguyen thuy la 900×675 và nang 223KB.

 

 

Ngang với "Km0" là giao điểm Quốc lộ 322 (điểm cuối) của TC và Quốc lộ 1A (điểm khởi đầu) của VN!

"Trung Quốc Quốc Đạo 322 Chung Kết Điểm"

Nhìn sang VN. Đi thêm khoảng 100m nữa mới tới Cổng kiểm soát của Hải quan VN. Khoảng cách "thủ lễ" đã xuống dưới chân Ải Nam Quan trong thời cộng sản. Không còn nằm trước mặt cổng Nam Quan như ngày xa xưa. Đúng vậy! Ải Nam Quan nào là của VN? Bọn Ô nhục!

Tam hình này da duoc thu nho lai de vua voi kich thuoc trong Dien Dan. Bam vào day de xem hình lon hon. Kich thuoc nguyen thuy la 843×577 và nang 153KB.

 

Hàng trăm thước đất của Ải Nam Quan là cả một đoạn đường dài hàng ngàn năm lịch sử của Việt Nam, nơi mà tổ tiên Trung Cộng phải bao lần cay đắng nuốt hận…Đất biển tổ tiên mất qúa dễ dàng! Đảng CSVN vẫn một mực nói như Trung Cộng, công nhận lãnh thổ bắt đầu từ cột “Km0”. Đảng CSVN đã chà đạp lên hồn thiêng sông núi, thay ngọai bang thảm sát dân tộc, giết chết lịch sử quê hương! 

 ——————————

Ngày 18.10.2005, Việt cộng TT Nguyễn Tấn Dũng ra đón khách Trung Cộng ngay tại Km0. Ôi, tư cách của một TT? Hai tay xun xoe chào đón quan thầy Trung Cộng. Không ai trong đám cộng sản thời đại này còn "bản lĩnh" đi qua lại Cổng Nam Quan để đón khách như Hồ Chí Minh của những năm 1950. Vẫn cười đấy! Hèn mọn, bé nhỏ là thế!

Ngày 28.12.2005, cao tốc Nam Hữu chính thức khai thông nối vào khởi điểm Quốc lộ 1A của Việt Nam

Những người dân quê Đồng Đăng bị bắt đứng ra chụp hình ngay tại giao giới biên cảnh Trung-Việt. Họ đứng trên khởi điểm của QL 1A như làm nhân chứng cho lịch sử bán nước của Đảng CSVN. Những khuôn mặt muộn phiền, ngơ ngác.

Ngay cả những đứa bé Trung Cộng mù lòa cũng được nắm tay cho sờ vào thành tích của cha ông chúng!
Còn người Việt Nam? Có ai dám cảm tử cầm máy ảnh ra chụp tại khu vực này hay không? Thi nhân Bùi Minh Quốc bị cấm cố vì tấm hình ôm cột mốc Trung-Viêt. Nhà báo Điếu Cày có mấy tấm chụp tại Thác Bản Giốc mà giờ còn nằm trong Chí Hòa. Và tôi cũng từng bị biên phòng VN hành hung khi tay lăm le chiếc máy ảnh nơi vùng biên cảnh "Hữu Nghị"!


Khách du lịch Trung Cộng thảnh thơi qua lại, nhàn nhã như ở nhà. Chụp hình ư? Chuyện nhỏ! Đố tên biên phòng VN nào dám làm khó dễ!

 

Bước một bước là qua đến VN! Hai con xẩm trong góc có khung là vị trí của Km0 Ô nhục!

 

Đứng hai chân trên biên giới!

 

Chụp các kiểu!

 

Và ngồi lên "Km0" của bọn Nam man! Chúng ta là chủ nhân của lãnh thổ VN!

 

Hải quan hai bên Trung-Việt trao đổi công tác tại Km0 (tháng 04.2007)

 

Những hoạt động của Trung Cộng tại Ải Nam Quan ngày càng rầm rộ, hoành tráng. Từng đợt học sinh trên các miền được đưa về Hữu Nghị Quan để nghe giáo dục về lòng yêu nước!

  

Cựu chiến binh trong chiến trận biên giới Trung-Việt hành hương

 

Thế hệ nào của Việt Nam sẽ được tường tận sự ô nhục này. Việc đòi hỏi Trung Cộng trả lại vùng đất thiêng của tổ quốc Việt Nam không phải dễ dàng! Sẽ lại đổ máu như hàng trăm năm trước!
"Tổ Quốc Tại Ngã Tâm Trung" (Tổ quốc trong tim ta)

 

Tháng 11 năm 2007, kỷ niệm 50 năm thành lập khu tự trị Quảng Tây. Có cả đại biểu VN tham dự, ngồi trên mảnh đất tổ tiên bị ngoại bang xâm chiếm không biết họ nghĩ gi? Hay là họ vẫn cười?

 

 

Vận động trong sạch môi trường biên cảnh Trung-Việt. Bản đồ VN đã nối vào khu tự trị Quảng Tây!

Phi Khanh hỡi! Người còn ngồi nói những lời xưa?

"Con yêu hỡi chớ xuôi lòng mềm yếu!…"

Chân Mây 




Việt Dương Nhân : Ngày Cá Tháng Tư (1/4)-Lịch sử Ngày Nói dối

"Cá 1 tháng tư" là chuyện của mấy thằng Tây da trắng. Dân Việt mình bày đặt …. chi tùm lum …
Hồi đó tui học chương trình Pháp GS có giảng cho ngheBa của VDN

Ngày Cá Tháng Tư (1/4)-Lịch sử Ngày Nói dối

Ngày cá tháng tư, còn gọi là ngày nói dối, là ngày hội vui vẻ, hấp dẫn đối với những người tinh nghịch và hài hước. Ngày 1 tháng 4 là ngày được chú ý ở nhiều nước. Ngày mà bạn bè có thể bị lừa hoặc chơi khăm mà không sợ bị giận. Cá tháng tư dù không phải là ngày nghỉ lễ chính thức nhưng vẫn được rất nhiều nước tổ chức kỉ niệm hàng năm vào đúng ngày 1 tháng 4, bằng cách tung nhiều tin đồn hoặc nói xạo, nói đùa về rất nhiều chủ đề khác nhau nhằm tạo niềm vui hay trêu chọc ai đó. Cẩn thận kẻo bị biến thành cá !

Lich su ngay Ca thang Tu(Chào mừng Ngày Nói dối, Ngày 1 tháng tư)

Những tin giả như thế thường được tung ra trong cả ngày 1 tháng 4 ở hầu hết các nước như Hoa Kỳ, Pháp, Ireland,… trong khi một số quốc gia khác nó phải được chấm dứt vào giữa trưa như Anh, Canada, Úc, New Zealand… Không giống như hầu hết các ngày đặc biệt khác trong năm, ngày Cá tháng Tư có lịch sử không rõ ràng. Mỗi nền văn hóa khác nhau lại có lịch sử và thời gian kỷ niệm ngày Nói dối khác nhau, nhưng thường vào ngày đầu tiên của mùa xuân. Những người hay đùa và hài hước tại nhiều nước giờ đây đang háo hức chuẩn bị các “chiêu” để đánh lừa bạn bè và người thân vào ngày Cá tháng Tư (1/4). Nhưng không ai biết chính xác truyền thống này có từ khi nào, tại sao và ở đâu.



Nước Pháp được coi là quê hương của ngày Cá tháng Tư. Trước đây, người Pháp đón năm mới ngày 25/3 và kéo dài trong tám ngày. Những trò vui lên tới đỉnh điểm vào ngày 1/4. Đến năm 1582, lịch Gregory được đưa vào sử dụng, dưới triều đại vua Charles IX. Theo đó, năm mới bắt đầu từ ngày 1/1.

Tuy nhiên, do phương tiện liên lạc thời đó còn lạc hậu, người ta truyền tin chủ yếu bằng cách chạy bộ nên nhiều người nhận được tin đổi lịch chậm mất vài năm. Những người khác tuy biết vẫn không chấp nhận lịch mới và tiếp tục đón năm mới vào ngày1/4. Trò ngoan cố này bị quy là “ngớ ngẩn” và trở thành trò cười cho thiên hạ.

Cùng với thời gian, trò đùa vào ngày 1/4 trở thành truyền thống và lan từ Pháp sang Anh và Scotland (thế kỷ 18). Người Anh và người Pháp đưa tục lệ nói dối sang các thuộc địa ở Bắc Mỹ. Từ đó, ngày Cá tháng Tư trở thành một lễ hội quốc tế được chấp nhận ở nhiều nước khác nhau. Người dân ở mỗi quốc gia tiếp nhận truyền thống này theo những cách riêng, “đóng dấu bản quyền” để trêu gia đình và bạn bè.

Ví dụ, Scotland có tới 2 ngày Cá tháng Tư. Ngày thứ hai đặc biệt để trêu ghẹo phần sau lưng của mỗi người nên được gọi là “Ngày vuốt đuôi”. Đây được coi là ngày phát sinh của trò đùa “Hãy đá tôi một phát”.

Mexico là kỷ niệm ngày Nói dối vào 28/12. Đó là một thời khắc buồn trong lịch sử đất nước này vì đúng ngày đó, vua Herod ra lệnh thảm sát trẻ em vô tội. Vì thế, những trò trêu ghẹo chỉ mang tính chất nhẹ nhàng.

Những trò nói dối vui vẻ có vẻ như trùng với thời điểm mùa xuân đến từ thời La Mã cổ đại và người Xen-tơ, vốn có truyền thống mừng ngày hội gây bất hòa. Những ghi chép đầu tiên về ngày Cá tháng Tư xuất hiện tại châu Âu trong thời Trung Cổ (khoảng năm 1.100-400 sau Công nguyên).
Có vài dấu vết về ngày Cá tháng Tư trong thần thoại La Mã, đặc biệt là câu chuyện về Nữ thần Ceres mùa màng và con gái bà, nàng Proserpina.
Theo thần thoại La Mã, thần cai quản địa ngục Pluto đã bắt cóc nàng Proserpina và đưa nàng tới sống cùng ông ở địa ngục. Cô gái đã gọi mẹ nhưng nữ thần Ceres chỉ nghe thấy âm vang giọng nói của con gái và đi tìm kiếm cô trong tuyệt vọng.

Những cuộc tìm kiếm vô vọng đó, hay các cuộc rượt đuổi ngỗng trời, đã trở thành chuyện cười phổ biến tại châu Âu trong các thế kỷ trước.
Giả thuyết phổ biến nhất về nguồn gốc ngày Cá tháng Tư xuất phát từ việc chuyển đổi lịch Julian cũ sang lịch Gregorian – hệ thống lịch do Giáo hoàng Gregory XIII (1502-1582) đưa ra vào cuối thế kỷ 16 và cũng là hệ thống lịch mà thế giới ngày nay vẫn dùng.
Theo lịch Julian, năm mới được tổ chức trong khoảng thời gian từ 25/3 đến 1/4 nhưng theo lịch Gregorian, năm mới đến vào ngày 1/1. Những người không được thông báo về sự thay đổi này, hoặc kiên quyết giữ truyền thống cũ, thường bị chế giễu. Từ đó nảy sinh những câu chuyện cười nhằm vào họ vào thời điểm năm mới theo lịch cũ.
Tại Pháp, những người hay đùa thường dính cá vào những người theo truyền thống cũ, nên mới có tên gọi là “Poisson d’Avril” hay Cá tháng Tư. Nhưng giả thuyết này cũng không lý giải được tại sao ngày hội nói dối lại lan sang nhiều nước khác ở châu Âu vốn không sử dụng lịch Gregorian cho tới tận sau này.
Tại Scotland, ngày Cá tháng Tư có tên gọi là April “Gowks” – tên khác của một loài chim cúc cu. Nguồn gốc của tấm biển “Đá tôi” cũng có thể xuất phát lễ kỷ niệm ngày April “Gowks” của người Scotland.

Những năm gần đây, các đài phát thanh, chương trình truyền hình và các trang web trên khắp thế giới thường nói đùa bạn đọc và người nghe vào ngày Cá tháng Tư. Một trong những lời nói dối nổi tiếng nhất là năm 1957 khi đài BBC của Anh phát bộ phim tài liệu về mùa thu hoạch mì ống thường niên tại Thụy Sỹ. Phim quay cảnh một gia đình đang lượm những sợi mì từ “các cây mì spaghetti”. Món mì Italia rất được ưa chuộng tại Anh thời điểm đó và nhiều người Anh đã “ngây thơ” tin vào trò lừa củaBBC tới nỗi họ muốn tìm hiểu xem làm thế nào để có thể tự trồng được các cây spaghetti!
Vào ngày Cá tháng Tư năm 2007, công cụ tìm kiếm trên internet Google đã thông báo cung cấp dịch vụ mới Gmail Paper, nơi người sử dụng dịch vụ thư miễn phí có thể lưu giữ email vào kho lưu trữ giấy mà Google sẽ in ra và rồi gửi cho họ miễn phí. Năm 2008, Google đã mời mọi người tham gia dự án thám hiểm sao Hoả.
Vì thế, khi lướt web hoặc xem tivi hôm nay, bạn hãy cảnh giác về những gì nhìn thấy và đọc được, nếu không bạn có thể bị mắc lừa trong ngày Cá tháng Tư. An Bình.

Những trò đùa của ngày Cá tháng Tư có thể chỉ rất đơn giản (“bạn chưa buộc dây giày kìa”) nhưng cũng có khi gây ra hậu quả nghiêm trọng (như vặn đồng hồ của cậu bạn cùng phòng chậm tới một tiếng). Dù đùa kiểu gì, kẻ lừa gạt vẫn hoàn toàn vô tội bằng cách nói với “nạn nhân”: “Ngày Cá tháng Tư mà”.

Các phương tiện truyền thông cũng không đứng ngoài cuộc vui một năm chỉ có một lần này. Trong ngày cả thế giới nói dối, truyền hình Anh từng chiếu một bộ phim ngắn và rất chi tiết về việc những người nông dân Anh thu hoạch vụ mùa spaghetti.

Ngày Cá tháng Tư chỉ là một ngày vui. Đó không phải là một lễ hội để công chức được nghỉ làm và trẻ em không phải đến trường. Chỉ là một ngày vui nho nhỏ, nhưng ai cũng cần “đề cao cảnh giác” kẻo lại trở thành “con cá ngớ ngẩn” của năm nay. (theo Wilstar &  LiveScience)

__________________
"Giữa sỏi đá vút vươn niềm hy vọng
Trong tro tàn dào dạt nhựa hồi sinh
Hận nội thù trên máu ruột Tiên Rồng
Căm giặc cộng (BÁN) non sông Hồng Lạc"
(YTKCPQ)

"Cộng sản còn thống trị trên quê hương – Ta còn phải đấu tranh"
Blog – MGP – VNCH – Viet.no

VDN




Hà Nội 1954 sau Hiệp định Genève chuẩn bị di cư vào Nam .

 

Hà Nội 1954

sau Hiệp định Genève chuẩn bị di cư vào Nam 

bán đồ đạc chuẩn bị di cư vào nam sau khi Hiệp định Genève được công bố

những ngày cuối cùng ở Hà Nội

Việt Minh và Pháp bàn giao bót Hàng Trống

bộ đội tiến vào tiếp thu bót Hàng Trống, lúc này đang là Ty Cảnh Sát TP Hà Nội
 
tiếp thu bót Hàng Trống

tiếp thu bót Hàng Trống

lễ hạ cờ Tây lần cuối cùng trong thành Hà Nội, phía trước Đoan Môn, chấm dứt hơn 70 năm chiếm đóng thành Hà Nội từ năm 1883 của quân Pháp.



những ngày cuối cùng của Hà Nội, bệnh viện Yersin
những ngày cuối cùng của Hà Nội, bệnh viện Yersin

Bộ đội Việt Minh tiến vào tiếp quản Hà Nội

Bộ đội Việt Minh tiến vào Hà Nội

đi tìm tự do
Chuẩn bị lên tầu vào nam
Chuẩn bị lên tầu vào nam

mẹ và hai con, tay xách nách mang, trên đường vào miền Nam
tìm đường vào miền Nam
ra phi trường Gia Lâm vào Nam
ra phi trường Gia Lâm

ra phi trường Gia Lâm

phi trường Gia Lâm
Hải Phòng
lên tầu vào Nam
di cư vào Nam
lên tầu vào Nam
lên tầu vào Nam
lên tầu vào Nam
Hải Phòng 1954
Operation Passage to Freedom, October 1954 đi tìm tự do
người ở lại
Hải Phòng 1954
Hải Phòng 1954

USS Bayfield di cư vào Nam 3 September 1954

Di Cư 1954
Tác Giả: Saigon Echo sưu tầm   
Thứ Tư, 20 Tháng 7 Năm 2011 08:13
 

Tác Giả: Tiến Sĩ Trần An Bài   
Thứ Bảy, 30 Tháng 4 Năm 2011 06:20
 

Tác Giả: Saigon Echo sưu tầm   
Chúa Nhật, 31 Tháng 10 Năm 2010 07:19
 

Tác Giả: Giao Chỉ   
Thứ Năm, 22 Tháng 7 Năm 2010 04:45
 

Tác Giả: Trùng Dương   
Chúa Nhật, 23 Tháng 5 Năm 2010 20:28
 

Tác Giả: Trần Vinh   
Thứ Sáu, 09 Tháng 1 Năm 2009 09:56
Các vị cha già là danh xưng vừa đầy lòng kính trọng vừa dạt dào tình cảm thương mến, biết ơn của đồng bào di cư Công Giáo tị nạn Cộng Sản 1954 dành cho các vị linh mục có công dẫn dắt họ đi mở xứ. Mặc dù là thế, nhưng trong bài này, chúng tôi xin gác sang một bên khía cạnh tôn giáo, chỉ thuần đứng trên phương diện đời, phương diện dân sự để đánh giá công lao của các vị cha già trong công cuộc di cư 1954 mà chúng tôi coi như là …

 

Tác Giả: USS Bayfield   
Thứ Ba, 25 Tháng 11 Năm 2008 14:03
Để xem hình, xin BẤM VÀO ĐÂY …

 

Tác Giả: Lê Mạnh Hùng   
Thứ Hai, 03 Tháng 11 Năm 2008 14:15
“… Kết quả này đã chấm dứt một cuộc chiến nhưng lại gây mầm cho một cuộc chiến khác tàn khốc hơn mà chỉ kết thúc hai mươi mốt năm sau đó …” Cách đây 54 năm, hội nghị Genève kết thúc cuộc chiến tranh Việt Pháp và phân chia Việt Nam thành hai miền Nam Bắc. Kết quả này đã chấm dứt một cuộc chiến nhưng lại gây mầm cho một cuộc chiến khác tàn khốc hơn mà chỉ kết thúc hai mươi mốt năm sau đó. Những gì đã xảy ra trong hội nghị và liệu có thể nào …

 

Tác Giả: Nguyễn Văn Lục   
Thứ Năm, 23 Tháng 10 Năm 2008 07:21
Phần kết luậnHiệp định này dù đã được ký kết long trọng như thế, nhưng ai cũng thừa hiểu rằng cần rất nhiều thời gian và thiện chí để thực hiện dần dần những điều hai bên đã cam kết. Quả thực đúng là như vậy. Bảo Đại hơn ai hết ý thức được sự “mong manh” của Hiệp định. Ông cho rằng, đối với người Pháp, Hiệp định ký xong thì coi như mọi truyện đã hoàn tất. Còn đối với Bảo Đại thì Hiệp định ký xong mới chỉ là giai đọan mở đầu. Bởi vì phải trong …

 

Tác Giả: Nguyễn Văn Lục   
Thứ Năm, 23 Tháng 10 Năm 2008 06:10
Tín Phiếu và vàng của đồng bào di cư vào NamĐây cũng là những chi tiết tài liệu khá lý thú. Đây là những số tiền mà Việt Cộng đã tịch thu của đồng bào cũng như số tiền tín phiếu Hồ Chí Minh tổng cộng là: 2.533.257.860 đồng. Số tiền mà Việt Minh đã nuốt không của đồng bào liên khu V khi di cư vào Nam tại các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định.Như trường hợp đòi đất ở Thái Hà hiện nay, bao giờ đến lượt chúng ta vác đơn ra tòa án quốc tế để kiện đồng …

 

Tác Giả: Nguyễn Văn Lục   
Thứ Năm, 23 Tháng 10 Năm 2008 05:55
2. Diễn tiến Hiệp định ÉlyséeGiải Pháp quân sự nhằm tiêu diệt Việt Minh mỗi ngày một tiêu mòn hy vọng. Trong khi đó lần lượt các nước như như Phi Luật Tân, Miến Điện (Burma – DCVOnline), Nam Dương và cuối cùng là Ấn Độ, Pa kít tăng (Pakistan – DCVOnline) cũng thu hồi được độc lập.Bước đầu, tìm một giải pháp chính trị với Việt MinhTình hình quân sự không sáng sủa và xu hướng giải thực tại các nước quanh vùng buộc toàn quyền Bollaert phải có một hành động cụ thể. Vì thế, ông Bollaert đã …

 

Tác Giả: Nguyễn Văn Lục   
Thứ Năm, 23 Tháng 10 Năm 2008 05:13
Vấn đề số người Thiên Chúa giáo di cư từ Bắc vào Nam sau Hiệp định GenevaCó rất nhiều con số khác nhau khi nói vế số người Thiên Chúa giáo di cư.- Số liệu chính thức của giám mục Phạm Ngọc Chi, người chịu trách nhiệm trực tiếp trông coi khối người Thiên Chúa giáo di cư lấy tên là “Ủy ban hỗ trợ định cư”, văn phòng ủy ban đặt cạnh nhà thờ Huyện Sỹ, đường Bùi Chu, Sài Gòn. Giám mục Phạm Ngọc Chi đã làm phúc trình và chính thức gửi về Bộ truyền giáo La …

 

Tác Giả: Nguyễn Văn Lục   
Thứ Tư, 22 Tháng 10 Năm 2008 13:09
Một vài chứng từ của những người đã di cư vào miền NamKiều Chinh, tháng 8, 2004 “Là con út trong ba anh chị em, tôi được bố thương nhất. Suốt thời niên thiếu, tôi chi biết có bố. Bố tôi quyết định vào Nam. Nhưng đêm trước ngày ra đi, anh tôi bỏ nhà trốn ra khu theo phong trào thanh niên cứu quốc. Anh Lân là con trai duy nhất của bố, năm đó mới 20 tuổi. Sáng hôm sau, chỉ còn hai bố con ra phi trường Bạch Mai, Hà Nội. Hàng ngàn người già trẻ lớn bé …

 

Tác Giả: Nguyễn Văn Lục   
Thứ Tư, 22 Tháng 10 Năm 2008 05:57
Để kỷ niệm 59 năm, ngày ký Hiệp định Élysée, người viết xin ghi lại những diễn tiến chịnh trị chung quanh Hiệp Định này. Và tự hỏi rằng, đứng trên lập trường dân tộc, phải chăng việc cộng sản Việt Nam từ chối giải pháp Bảo Đại là đúng hay sai đối với lịch sử, với đất nước? Dân tộc, đất nước phải là quyền lợi tối thượng trên bất cứ đảng phái nào? Nhưng việc ông Ngô Đình Diệm phản đối mãnh liệt về nội dung văn kiện hiệp định Elysée phải được hiểu như thế nào? Để …

 

Tác Giả: Nguyễn Văn Lục   
Thứ Tư, 22 Tháng 10 Năm 2008 00:42
Số người tập kết ra BắcTheo phúc trình của Ba Lan, tàu Ba Lan đã chở 85 ngàn người ra Bắc so với con số 800 ngàn người vào Nam. Theo báo cáo “Chuyên chở bộ đội Việt Minh trên tầu Kilinski 1954-1955 (Nautologia 2001 n.1-2(136), trang 18-21) của thuyền trưởng tầu Jan Kilinski, ngày 07/04/1955 thì tổng cộng chỉ một mình chiếc tầu Ba Lan đã chở khoảng 85.000 người từ Nam ra Bắc, 3.500 tấn thiết bị quân sự và 250 tấn đạn dược ra Bắc. Con số 85.000 người do chỉ một chiếc tầu thôi, giả dụ …

 

Tác Giả: Nguyễn Văn Lục   
Thứ Ba, 21 Tháng 10 Năm 2008 15:01
Khi người di cư miền Bắc bồng bế nhau bước lên tàu há mồm để đi vào miền Nam thì đều nhìn thấy được tấm biểu ngữ viết sau đây dăng ngang trước lối lên”tầu há mồm”: Passage to Freedom. Đường đến Tự Do. Nhiều người nay đã hẳn vẫn chưa quên được tấm biểu ngữ đó.Phải chăng đó là mục đích tối thượng của việc bỏ nhà, bỏ cửa, bỏ ruộng vườn để đi vào miền Nam. Chọn lựa không phải dễ cho mọi người. Nhưng đó lại là biểu tượng ý nghĩa nhất cho cuộc di cư 1 …

 

Tác Giả: Nguyễn Văn Lục   
Thứ Ba, 21 Tháng 10 Năm 2008 14:40
Trú khu Hải PhòngKhi Hà Nội đã được chuyển giao cho Việt Minh theo thời hạn được quy định bởi Hiệp Định Geneva, các trung tâm tiếp cư phải chuyển xuống Hải Phòng thì số người di cư tăng lên khủng khiếp.Tất cả các trường học cũng như các công sở đều là nơi chứa người tỵ nạn, nhưng vẫn không đủ chỗ. Nha đại diện Phủ Tổng Ủy di cư tại Bắc phần đã cho dựng hàng ngàn lều vải tại vùng Vật-Cách, sát tỉnh Hải Phòng có khả năng đón tiếp 10.000 người, rồi một trú khu thứ …

 

Tác Giả: Nguyễn Văn Lục   
Thứ Ba, 21 Tháng 10 Năm 2008 09:44
Thủ tướng Ngô Đình Diệm ra Hà Nội hỗ trợ cuộc di cư mà ông trù tính lên đến 2 triệu người. Thủ tướng Ngô Đình Diệm (1954)Nguồn: UPI—Bettmann/Corbis Ngày 30/06/1954, Thủ tướng Ngô Đình Diệm ra Hà Nội để xem xét tổng quát kế hoạch rút quân đội Quốc Gia ra khỏi Bắc Việt, đồng thời giải quyết vấn đề người di cư.Nhiều tin đồn tốt đẹp chung quanh cá nhân ông Diệm, gây thêm tin tưởng cho những người đi tìm tự do vào miền Nam.Hìnn ảnh ông Diệm lúc ấy được coi như bản mệnh tương lai của …

 

 
Tác Giả: Nguyễn Văn Lục   
Thứ Ba, 21 Tháng 10 Năm 2008 07:43
Dù sao, cuộc chia lìa 1954, người di cư miền Bắc mới chỉ mất nhà, mất cửa.1975, kẻ ra đi mới là nguời mất nướcBên cạnh những khổ đau, cuộc di cư ấy không thiếu những nét đẹpTôi vẫn thấy đẹp và ý nghĩa là câu chuyện do một anh thủy thủ người Mỹ tên John Ruotsala trên chiến hạm Montrose (*) kể lại như sau: Khi bước lên tầu, các người di cư phải xịt thuốc DDT để diệt trừ chấy rận (1). Nhiều người di cư hoảng sợ vì phải cởi quần áo, nhất là phụ nữ. Trong …

 

Tác Giả: Nguyễn Văn Lục   
Thứ Ba, 21 Tháng 10 Năm 2008 06:34
Tôi chỉ là một hạt cát trong cái biển người di cư từ Bắc vào Nam. Đã sấp sỉ 60 năm rồi. Những hạt cát ấy trở thành mảnh đất phù sa mầu mỡ của miền Nam Việt Nam trước 1975. Những hiểu biết của tôi về cuộc di cư ấy trước đây vẫn chỉ là những mảnh rời. Phần đọc còn nhớ lại lãng đãng, nhớ nhớ quên quên trong cuốn: Cuộc di cư vĩ đại, Sài Gòn 1956 do chính quyền miền Nam xuất bản. Sách in khổ lớn với rất nhiều trang hình ảnh, trình bày trang …

 

Các bài khác…