VTLV: Lễ Mãn Khóa Lớp Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng, (Khóa 2024–2026). MINH THÚY Thành Nội – BẢO TRÂM.
Cảm Tưởng Ngày Tốt Nghiệp lớp Phật Pháp Thực Dụng – MINH THÚY Thành Nội
Chủ Nhật, ngày 24 tháng 5 năm 2026 tôi dự buổi lễ ra trường của “Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng” do thầy Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng làm hiệu trưởng. Chúng tôi đã tham gia học trên zoom mỗi chiều thứ sáu từ 6 tới 8 giờ tối.
Thời gian như thoi đưa, nhắm mắt mở mắt đã thấy 4 năm trôi qua lẹ làng. Ngày trước thứ sáu đối với chúng tôi luôn là ngày đặc biệt. Trong công sở các bạn thường gọi tên “chiều xả trại”. Thật vậy suốt tuần cày bừa tối mặt, hễ cứ đến thứ sáu hình như mặt mày ai cũng tươi tỉnh. Ngày đó diện quần áo, mặt mày trang điểm lên một tý. Công việc làm nhanh hơn trong niềm yêu đời phấn khởi. Chiều thứ sáu trên đường về còn biết ngắm vạt hoa hai bên đồi lung linh dưới ánh nắng vàng chiếu toả. Nhận thức cảnh đẹp thiên nhiên giữa trời đất bao la hùng vĩ.
Về nhà ăn cơm chiều xong, sửa soạn lên chùa Phổ Từ tụng kinh và nghe thời pháp. Hạnh phúc lan man theo tình thầy nghĩa đạo với bạn hữu đồng tu. Có khi ở lại cùng ngồi ăn bát cháo hoặc tô bún thân tình cùng đạo hữu. Đêm khuya trên đường về tâm thấy thanh thản nhẹ nhàng khi hiểu bài kinh, lời giảng của thầy Từ Lực. Hớn hở chuẩn bị chào đón ngày cuối tuần nghỉ dưỡng, được ngủ dậy trễ không sợ bị áp lực bởi kim đồng hồ réo gọi. Rồi thì lẹ làng đi chợ mua thức ăn, sắp xếp nấu nướng chuẩn bị cho cả tuần, tổng vệ sinh nhà cửa ngày thứ bảy. Chủ nhật đến chùa nghe pháp và tụng thời kinh cầu an cũng như làm công quả.
Cuộc sống cứ nhẹ nhàng lướt trôi mấy chục năm, được đi hành hương các chùa, được gần những thiện hữu tri thức, những tấm gương sáng đẹp cho mình nương theo tu tập và mở mang kiến thức.
Ngày nghỉ hưu cũng là lúc vợ chồng đi theo định luật Sinh, Lão, Bệnh. Mắt mờ hơn, tay chân run rẩy và mệt nhiều hơn. Hai ông bà già lười biếng, đổi quan niệm ở nhà có thể đọc sách, hoặc tìm youtube các thầy giảng Phật pháp. Sau này lên chùa đôi khi cũng bị stress theo nhu cầu rộng lớn ở đó, trong khi tuổi già cần tránh những lo âu chuyện bên ngoài ảnh hưởng, vì nếm trải lo âu vất vả cho cuộc sống riêng tư gần hết đời người, giờ đây cần giữ cho tâm hồn thoải mái tìm sự vui tươi.
Trường Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng ra đời đúng lúc. Thật tiện lợi cho chúng tôi khỏi phải đến chùa khi trời mưa bão từng mùa đông tới. Ngày thứ sáu, mọi công việc nhà đều có sự thúc giục ngầm tất cả phải xong, chuẩn bị giờ học thầy Dũng vào buổi chiều. Đúng 5 giờ tôi mở zoom vào lớp học để sẵn chờ đến giờ. Ông xã tôi ngại ngùng không muốn ngồi trước màn hình, nhưng ngồi sau lớp tường ngăn chia gần sát, yên lặng lắng nghe. Bình thường ông dùng cơm chiều 6 giờ, nhưng đặc biệt thứ sáu dùng sau 8 giờ tối, mới dám mở tivi nghe tin tức.
Tôi hỏi ông “thích nghe thầy Dũng giảng phải không?”. Ông trả lời “thầy có nét mặt sáng sủa hiền lành đức độ, có lực truyền vào mình sự ấm áp an lành”. Từ lúc đầu vừa nhìn thầy Dũng, ông xã tôi có cảm tình liền.
Riêng tôi thì được biết thầy trước đó, lúc gia nhập làm hội viên của Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt. Thầy là tiến sĩ dạy nhiều trường đại học nơi vùng Bắc Cali, là Phó Ban Ngoại Vụ của VTLV, là MC khắp mọi nơi về văn chương, lịch sử và đạo Phật. Thầy ăn chay trường và vợ mở nhà hàng chay Di Lặc. Mẹ thầy là Sư Bà trụ trì ngôi chùa bên Việt Nam mà tôi có dịp phúng điếu bằng bài thơ Đường luật. Nhìn gia đình thầy sống hiền, làm lành, thì đó chính là bài học “Phật giáo thực dụng” sống động nhất cho chúng tôi tin tưởng.
Thầy dạy Phật Pháp không phải để cất trong sách vở, để nói cho hay, để tranh luận hơn thua. Phật pháp là để đem ra dùng ngay giữa đời sống này. Là sáng dậy biết mỉm cười với mình. Là chiều ý chồng nấu ăn theo nhiều sở thích, dù mệt mà lòng không bực. Là nghe một câu trái ý biết dừng lại để thở. Là ai chọc giận hay nói nặng nề máu không sân si.
Xin trích đoạn ngắn tôi viết bài trước :
“Theo học tại đây và hiểu chữ ‘thực dụng’ đúng nghĩa: Pháp không nằm trên kinh kệ để tụng cho hay, mà để đem ra dùng ngay trong bếp, ngoài chợ, giữa sở làm. Thực dụng là khi kẹt xe ở freeway 880 mà không nổi sân, nhớ đến hơi thở chánh niệm. Thực dụng là khi nghe tin không vui, biết quán vô thường để lòng bớt chao đảo. Thực dụng là khi đi phát quà cho người vô gia cư, thấy đó chính là cúng dường chư Phật trong hình hài khổ đau.”
Chỗ thực dụng đó, tôi tập được kha khá, chưa giỏi chưa thuần, nhưng đỡ hơn tôi của nhiều năm trước. Thầy dạy cao, dạy sâu. Kiến thức của thầy mênh mông. Ngồi nghe có khi hiểu, có khi chỉ hiểu phần nào vì những từ ngữ khó nhớ. Sở học còn cạn, trí não chưa thông, đường tu còn dài, nhưng có một chữ chúng tôi nhớ mãi, là chữ “thực dụng“.
Nhận bằng hôm nay mà lòng còn thẹn, thẹn vì tu chưa tới. Ví dụ: Khi trời nóng kiến vào nhà từng đàn, ruồi lọt bay vài con, chúng quanh quẩn bên thức ăn. Chúng tôi cố né tránh không muốn phạm tội, nhưng ông chồng lẫn tránh, mà mình thì đối mặt với bếp núc, dọn dẹp… Dù mỗi ngày đi dạo lần chuỗi 108 hột, lần mấy vòng tuỳ theo thời giờ niệm “Nam Mô A Di Đà Phật“ để được nương tựa tìm sự yên lành. Để nhắc sự học và cách tu của mình.
Sau đó niệm các vị Phật: cầu bình an bản thân, cầu tên tuổi ông bà nội, ông bà ngoại, tứ thân phụ mẫu, cô chú, anh chị em bà con quyến thuộc đã mất, luôn được siêu sanh tịnh độ. Những công đức từ thiện cố định hằng năm, xin hồi hướng người thân nhiều đời nhiều kiếp luôn được vãn sanh, người còn hiện tiền luôn được sức khoẻ gặp mọi điều tốt đẹp.
Câu tha thiết nhất trong hiện tại “xin các loài vật nhỏ bé như ruồi, muỗi, kiến, dán, đừng chui vào nhà con, cho con tránh tội sát sanh. Cầu nguyện những sinh linh ấy sớm được siêu sanh, kiếp sau tái sinh vào cảnh giới tốt hơn.” Ngoài trời các chậu hoa mua đắt tiền, nâng niu chăm sóc nhưng vi khuẩn luôn phá hoại ăn mòn, lá hư hao cũng phải nghĩ đến bình thuốc xịt bảo vệ hoa lá. Sau những lúc như vậy, cái buồn nó đến nhanh, ân hận và ray rứt. Tâm không được thoải mái nghĩ mình thiếu phước nên vẫn bị dính mắc nghiệp xấu.
Lãnh bằng tốt nghiệp, nhưng đường tu còn dài, xin nguyện đem sự hiểu biết nhỏ nhoi này mà tập sống: bớt nói, bớt giận, bớt buồn. Tập mỗi ngày một chút, được chừng nào hay chừng ấy. Đó là cách báo ơn thầy, báo ơn chữ “thực dụng” thầy đã trao.
Thứ Sáu đem đến cho tôi nhiều kỷ niệm từ khi qua Mỹ. Những giờ học Phật Pháp nhắc tôi sống chậm lại, khai sáng trí tuệ, tìm sự an lạc về mặt tinh thần. Sống biết ơn ngôi chùa Phổ Từ, quý thầy cô, quý đồng đạo, nhất là Hoà Thượng Thích Từ Lực đã cho chúng con sinh hoạt mấy chục năm, ngay từ bước đầu Chùa đang còn thuê nhà. Tuy sau này chỉ dự dịp lễ lớn và mỗi đầu năm, đại diện anh em trong gia đình chồng chúc Tết thầy, đóng tiền cả năm trong mục “Bảo trợ “Chùa .
Sống biết ơn thầy Dũng, anh Phan Trung Kiên, anh Quảng Minh Nghĩa và cô Minh Châu trong ban quản giáo, phụ giúp thầy điều hành lớp học, hỗ trợ về các mặt khác. Cám ơn các thiện hữu tri thức thường thắc mắc những đề tài sâu rộng, nên thầy có cơ hội giải thích sáng nghĩa, cho cả lớp cùng học cùng tu.
Điều đặc biệt lớn lao hơn nữa là niềm cảm kính Ni Sư Nguyên Thiện và quý Sư Cô chùa Huyền Không. Nơi giúp phương tiện cho thầy Nguyễn Hồng Dũng giảng dạy, truyền bá hương từ bi của phật pháp vi diệu đến lớp học Online. Thực hành trong đời sống đẩy lùi sự khổ đau, đến gần niềm an lạc. Chúng con cúi đầu tri ân chùa Huyền Không gián tiếp gieo những hạt mầm tốt đẹp nơi cõi hồng trần này.
Xin được làm học trò mãi mãi. Học từ thầy, học từ bạn, học từ chính những vụng về của mình.
Minh Thúy Thành Nội
May/ 24/2026
==
BẢO TRÂM
Buổi lễ mãn khóa lớp Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng, (Khóa 2024–2026)
Trong những ngày cuối tháng Năm, cộng đồng Phật tử và thân hữu tại San Jose, California đã chứng kiến một buổi lễ tốt nghiệp rất đặc biệt của Lớp Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng – một chương trình học còn rất mới, chỉ vừa hoàn thành hai khóa đầu tiên (2022–2024 và 2024–2026), nhưng đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người tham dự.
Điều làm buổi lễ trở nên khác thường không chỉ là số lượng hơn 50 học viên, mà chính là độ tuổi và tinh thần học tập của họ. Người trẻ nhất mới 26 tuổi, người lớn nhất 77 tuổi, nhưng tất cả đều bước lên sân khấu với nụ cười rạng rỡ như những sinh viên lần đầu nhận bằng đại học.
Lớp học được khởi xướng bởi một vị giáo sư kỳ cựu – Ông có bằng Kỹ sư Điện tử của Đại học San Jose State và bằng Tiến sĩ Quản trị Kinh doanh của Đại học Southern California. Ông từng là giảng viên tại Đại học California State (cơ sở Hayward), thành viên Hội đồng Sàng lọc Dự án Đa dạng (Project Diversity Screening Committee) của Thành phố San Jose và từng tham gia vào nhiều sinh hoạt của cộng đồng Việt Mỹ (trích từ https://vantholacviet.com/nha-van-ts-nguyen-hong-dzung/)
Với tâm nguyện đem Phật Pháp vào đời sống, ông đã sáng lập chương trình Phật Pháp Thực Dụng, các vi trợ giáo ở nhiều lứa tuổi khác nhau – đồng hành cùng ông trong suốt hai khóa học.
Tôi mang theo hai chiếc điện thoại thay cho máy ảnh, chạy khắp nơi để ghi lại từng khoảnh khắc. Trẻ cũng như già, tất cả đều rạng rỡ như trẻ thơ.
Khoảnh khắc làm tôi xúc động nhất là khi cặp vợ chồng trên 70 dìu nhau lên nhận bằng. Cả hội trường lặng đi khi biết ông vẫn cố gắng học, và đến để nhận bằng như bà vợ và như bao người khác.
Khi ông được vợ dìu lên sân khấu, hai người đứng cạnh nhau, tay run run nhưng ánh mắt sáng rỡ. Tôi nhìn cảnh ấy mà rơi nước mắt. Lúc đó, tôi nhận ra, chính vợ chồng ông ấy đã giúp tôi thấy lại giá trị của lòng kiên nhẫn, của tình người, của những điều nhỏ bé mà sâu sắc.
Một người bạn khác, hơn 70 tuổi, người từng thu thập văn thơ của chúng tôi để đưa lên website “Văn Thơ Lạc Việt”, cầm tấm bằng khoe với chồng bà ấy và với tôi. Chúng tôi nhìn nhau, cười vui mà nhòa lệ. Rồi tôi nói đùa: “Chúng ta thua mấy bà xa lắc.”
Buổi lễ trao bằng Cao Đẳng Phật Giáo Thực dụng, không chỉ là ngày nhận bằng. Đó là ngày người già trẻ lại.
Ngày tuổi già như chúng tôi thấy vẫn còn có ích, vẫn còn được thương, vẫn còn được nhớ.
Một ngày mà lòng người ấm như nắng đầu hè.
Trong buổi lễ trao bằng “Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng,” giữa những tiếng vỗ tay, những tấm bằng, những lời chúc mừng, tôi chợt nhận ra một điều rất lạ:
Những người thầy lớn nhất của chúng tôi không phải là những người đứng trên bục giảng.
Họ là những người ngồi ngay bên cạnh chúng tôi — những học viên tóc bạc, lưng còng, bước chân chậm nhưng trái tim thì trẻ hơn cả lớp sinh viên mới ra trường.
Tôi học được từ người bạn 75 tuổi, rằng nghị lực không nằm ở sức mạnh, mà nằm ở ý muốn có mặt.
Có mặt để học.
Có mặt để vui.
Có mặt để sống trọn một ngày như thể đó là món quà.
Tôi học được từ người vợ dìu chồng lên sân khấu rằng tình thương không cần lời nói.
Chỉ cần một bàn tay nắm lấy một bàn tay.
Chỉ cần một bước chậm đi cùng một bước chậm.
Chỉ cần một ánh mắt nói thay cho cả một đời.
Tôi học được từ người bạn hơn 70 tuổi, rằng sự gìn giữ cũng là một cách tu:
Giữ lại cái đẹp.
Giữ lại tiếng cười.
Giữ lại những dòng chữ nhỏ bé để mai này nhìn lại, ta biết mình đã từng sống một cách tử tế.
Tôi học được từ những người trẻ trong lớp rằng tuổi tác không quyết định sự hồn nhiên, có những nụ cười 20 tuổi, nhưng cũng có những nụ cười 70 tuổi mà vẫn trong như nắng mới.
Và tôi học được từ tất cả chúng tôi rằng tu giữa đời thường không phải là chuyện xa xôi.
Nó nằm trong cách ta ngồi lại với nhau, cách ta lắng nghe nhau, cách ta nâng đỡ nhau trong những khoảnh khắc tưởng như rất bình thường.
Buổi lễ ngày hôm ấy không chỉ là ngày nhận bằng. Đó là ngày tôi nhận ra rằng:
Mỗi người trong lớp đều là một vị thầy.
Một vị thầy của đời sống.
Một vị thầy của lòng kiên nhẫn.
Một vị thầy của tình người.
Và tôi — người tưởng như chỉ đến để chụp hình, để giúp đỡ — hóa ra lại là người được học nhiều nhất.
Học để biết trân trọng.
Học để biết biết ơn.
Học để biết rằng tuổi trẻ không nằm ở số năm, mà nằm ở cách ta mở lòng với cuộc đời.
Tôi kính phục tất cả những người đã không để tuổi tác ngăn cản việc học, việc sống, việc thương nhau.
Hôm Chủ Nhật 24 tháng 5 năm 2026, tôi đã gặp rất nhiều vị thầy, Không ai đứng trên bục giảng, nhưng ai cũng dạy tôi một bài học mà tôi sẽ mang theo rất lâu.
LỜI TỎ LÒNG KÍNH PHỤC VÀ TRI ÂN
Kính thưa quý Thầy, quý Sư Cô, Quý ban giảng dạy, quý quan khách, và toàn thể học viên thân mến,
Hôm nay, tôi xin được nói đôi lời từ đáy lòng
Tôi xin kính cẩn biết ơn quý Thầy, quý Sư Cô, quý vị trong ban giãng dạy
Tôi xin cúi đầu kính phục tất cả quý vị, những người đã vượt qua tuổi tác, sức khỏe, hoàn cảnh, để tiếp tục học hỏi, tiếp tục tu tập, tiếp tục làm mới chính mình.
Tôi kính phục người bạn 73 tuổi yếu đuối nhưng vẫn cố gắng từng bước để có mặt hôm nay. Tôi kính phục người vợ đã dìu chồng lên sân khấu, như dìu một phần đời của mình. Hình ảnh ấy là bài học lớn nhất của buổi lễ.
Tôi kính phục người bạn hơn 70 tuổi vẫn miệt mài thu thập văn thơ của chúng tôi để gìn giữ cho mai sau. Tấm bằng trên tay bà là niềm vui chung của cả nhóm.
Tôi kính phục những người trẻ trong lớp — tuổi 20, 30 — đã học cùng với những người lớn tuổi, đã truyền cho chúng tôi năng lượng và sự hồn nhiên.
Và tôi kính phục tất cả, những người đã không để tuổi tác ngăn cản việc học, việc sống, việc thương nhau.
Buổi lễ ngày 24 tháng 5 không chỉ là buổi lễ bình thường như lễ tốt nghiệp để bước vào dời
Đó là lễ tốt nghiệp của Tình Người, của Nghị Lực, của Niềm Vui Sống, của những vị tu giữa đời thường.
Đó là phong cách tu của Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng.
Xin tri ân tất cả quý vị đã cho tôi một ngày đẹp như vậy.
Bảo Trâm/Bảo Trâm Minnesota
VTLV – TRANG ĐẶC BIỆT TƯỞNG NIỆM 51 NĂM THÁNG TƯ ĐEN.
*
CA KHÚC THÁNG TƯ SẦU NGHẸN ĐONG ĐẦY – PHƯƠNG HOA
THÁNG TƯ SẦU NGHẸN ĐONG ĐẦY
*
Việt Nam từ thuở lìa xa
Cháu con Hồng Lạc bôn ba xứ người
Năm mốt năm, lắm đổi dời
Lòng người tị nạn bời bời nhớ thương
*
Làm thân tằm gửi ly hương
Từng đêm khắc khoải hồn vương khổ sầu
Ai làm bể cả ruộng dâu
Hải âu phi xứ còn đâu lối về
*
Tháng Tư trời đất ủ ê
Thương về quê Mẹ muôn bề xót xa
Đàn nâng phím trải cung ngà
Tơ ươm nốt ngọc hương xa tìm về
*
Quắt quay tìm ánh trăng thề
Nhớ xưa bóng phượng đam mê tình nồng
Trưa nào bước dạo đồi thông
Đò ngang tách bến ánh hồng lung linh
*
Vườn xưa chung bóng đôi mình
Giờ đây lạc bước đăng trình lãng du
Vật vờ ai oán Tháng Tư
Hồn ai như thể sa mù phủ vây
*
Tháng Tư sầu nghẹn đong đầy
Nhìn mưa giăng lối buồn vây ngập hồn
Thơ gào lời trải vô ngôn
Bình minh rồi đến hoàng hôn não nùng
*
Đêm sang nghe tiếng côn trùng
Nỉ non từ chốn mịt mùng nơi nao
Rèm hoa vương vất ánh sao
Lòng đau tâm nhói phận nào tha phương
*
Chờ ngày trở lại quê hương
Cùng nhau xây dựng bốn phương thanh bình
Nhà Nam đất Việt dân mình
Châu về hiệp phố thỏa tình hoan ca.
Phương Hoa – Tháng Tư, 2026
=
CA KHÚC THÁNG TƯ VẪN NHỚ – THƠ PhamPhanLang
TRANH THƠ NGUYỄN PHƯƠNG THÚY: “THÁNG TƯ VẪN NHỚ” THƠ PHẠM PHAN LANG –
==
APRIL STILL REMAINS (BẢN TIẾNG VIỆT) THƠ PhamPhanLang -Lyrics: PhamPhanLang. MusicPrompts & Video: PhuongHoa USA. Vocals & Performance: Suno AI.
CHÙM THƠ CAO MỴ NHÂN
NGÀY ĐẦU THÁNG 4. 1975. – CAO MỴ NHÂN
Ngày đầu tháng 4 năm 1975 ở Saigon
Tôi đi dạo một mình trên đường Lê Lợi
Đại lộ chính từ trụ sở Quốc Hội
Tới chợ Bến Thành …
*
Tôi thấy hình như 90% người dân miền Nam
đang muốn rời xa đất nước
Để đi đâu không cần biết trước
Miễn tránh xa Cộng Sản Bắc Việt
*
Cho dẫu là quân, dân cán chính VNCH
ở miền Trung, miền tây nam phần
Hay ở giữa thủ đô – Bến Nghé xa xưa
Nước mắt họ chảy như mưa
*
Tôi mới từ Đà Nẵng chạy loạn vô hôm qua
Chẳng lẽ lại theo dân đi các nước
Nhưng dân khắp nơi đã nhào ra không lùi bước
Thả mình xuống những dòng sông
*
Thả mình xuống nước mênh mông
Tràn ra đại dương ngập sóng
Tôi mới ở chuyến tàu bơi lết từ Tiên Sa
Vào Khánh Hội hôm qua
*
Người ta đã rớt từ sân tàu xuống biển
Khi đứng nhìn cột buồm cao kéo cờ vàng
Xếp lại cất trong hành trang
Ngấn lệ khô không che nổi hận thù
*
Tôi ngơ ngác hỏi lòng tôi
Tại sao phải ra đi
Tại sao không ở lại
Tại sao ư, chúng nó đang cướp … địa dư
*
Hôm đó tôi về hòa nước mắt làm thơ
Hôm đó có bài ca lạc điệu
Hát những lời bêu rếu, nghèo nàn
Thế là hết “ chính nghĩa Tự Do “ vinh quang …
*
Los Angeles 1 – 4 – 2026
( 51 năm Quốc hận ) CAO MỴ NHÂN ( HNPD )
==
CHÚNG MÌNH ĐÃ MẤT THÁNG TƯ
LẠI CÒN MẤT CẢ RIÊNG TƯ CHÚNG MÌNH …
RẤT BUỒN TÌNH CŨ VÃNG SINH
CHỈ CÒN TÌNH MỚI LUNG LINH LẠ LÙNG
****
BÀI THƠ MA THÁNG TƯ. CAO MỴ NHÂN
Nửa đêm, gió chuyển lên đồi
Vầng trăng hốt hoảng xa rời lũng ma
Trăng trôi trên trời bao la
Gió tìm trăng khắp sơn hà thân quen
*
Bỗng từ ký ức vươn lên
Rừng cây lá biếc già thêm mấy tầng
Trăng nhìn cây, chợt bâng khuâng
Gió vừa bắt kịp trăng, mừng rỡ reo
*
Ba vì sao đứng quạnh hiu
Ngắm soi chứng tích tình yêu nơi này
Cây rằng : họ chẳng đổi thay
Gió trăng, trăng gió lượn bay mịt mù
*
Cây rơi từng đợt lá khô
Mùa đang chuyển những tiếng ru vào lòng
Lời nào gởi lại non sông
Lời nào trăng gió bềnh bồng mang đi
*
Bóng hồ linh khuất sơn khê
Trăm năm sao lại tìm về , hỡi ôi
Tháng tư , trăng vỡ ngậm ngùi
Gió ôm phiền muộn, lệ rơi tuyệt tình …
Utah, 25 năm sau 30- 4 – 1975 CAO MỴ NHÂN
==
Ở PHƯƠNG NÀY. CAO MỴ NHÂN
Khi tôi mới tới phương này
Mặt trời còn trắng trong mây lạnh buồn
Tôi ngồi ôm nỗi cô đơn
Nhìn ra biển Thái Bình Dương ưu phiền
*
Người đang tình tự thay phiên
Trái tim mang cả nỗi tiền vận đau
Mù sương phủ kín công hầu
Đỉnh thương nhớ đã nhạt màu trầm luân
*
Này là tuổi tác phù vân
Say mê sợi nắng tần ngần thả rơi
Chúng mình chung một khung trời
Mà như nghiêng lệch hẳn đời éo le
*
Chốn này chạnh nhớ nơi kia
Từ khi thân phận cách chia chập chờn
Mặt trời chiếu sáng càn khôn
Sao tâm tư vẫn gọi hồn nước xưa …
Rancho Palos Verdes 11 – 4 – 2026 CAO MỴ NHÂN
==
SAU CƠN ĐỊA CHẤN. CAO MỴ NHÂN
Chỉ còn là thân phận
Mỗi lần em gặp anh
Như một cơn địa chấn
Sau trận động đất nhanh
*
Anh mỉm cười : em yêu
Thì rõ ràng tiếng khóc
Của tâm hồn quạnh hiu
Mơ hồ trong thao thức
*
Vẫn là anh khao khát
Mặt trời mọc chân mây
Em mang niềm mơ ước
Rực rỡ anh đầu ngày
*
Chúng mình cần sống ngay
Để lánh xa nỗi chết
Tình yêu phải vơi đầy
Mới thăng hoa, thanh khiết…
Rancho Palos Verdes 12 – 4 – 2026 CAO MỴ NHÂN
==
DẶM VỀ THÁNG TƯ .CAO MỴ NHÂN
Gởi em trọn vẹn nỗi lòng
Từ khi giã biệt phương đông, qua đoài
Từ khi tiếng quốc u hoài
Nghe trong thân phận lạc loài, xót xa
*
Năm châu thiên hạ bao la
Lòng thêm buồn tủi sơn hà hờn căm
Này đây gió thổi mê lầm
Lệ đang thả giọt âm thầm hoang liêu
*
Dặm về khói sớm , sương chiều
Hồn nghe phiền muộn những điều trái ngang
Tháng tư phai sắc hoa vàng
Đốt trầm lên, lạy dở dang mộ người
*
Tháng tư hiu hắt bên trời
Níu chân bước lẻ trọn đời tiếc thương
Nén nhang thắp đã tàn hương
Biển dâu hay cả đại dương nghẹn ngào…
CAO MỴ NHÂN
18 – 4 – 2026
THÁNG TƯ NÀO. CAO MỴ NHÂN
Mỗi năm mất một tháng tư
Nên mình có vẻ bị hư hao đời
Mỗi năm dần mất nụ cười
Ba mươi tháng bốn từ hồi bảy lăm
*
Hơn nửa thế kỷ phù vân
Công danh, sự nghiệp, tuổi xuân điêu tàn
Nghe câu chính nghĩa Việt Nam
Đã bị Cộng thuyết phá tan giống nòi
*
Đưa dòng vô sản lên ngôi
Bắc Nam thống nhất tôi đòi Tàu Nga
Hãy nhìn thế giới người ta
Họ khinh miệt cảnh sơn hà lai căng
*
Đua đòi cải tổ nhân văn
Làm sao chen được gót chân Cộng Hoà
Tháng tư mất hết tinh hoa
Chỉ còn quỷ đỏ phô ra lộng hành …
Hawthorne 18 – 4 – 2026 CAO MỴ NHÂN
===
CÙNG NIÊN KỶ KHÓC. – CAO MỴ NHÂN
Trăng lênh đênh trôi lãng đãng trở về
Cho thấy được cuộc đời là hư ảo
Mây lướt thướt bay chập chờn phiền não
Mới bình minh sao nhuốm vẻ hoàng hôn
*
Khói sương tan trong bát ngát linh hồn
Em mờ mịt tháng năm đầy quá khứ
Tuổi anh lỡ trải dài đường viễn xứ
Đừng nói thêm quê quán chốn hoang liêu
*
Biết đâu tìm ân nghĩa với thương yêu
Tình đã lạt phai tưởng lầm trễ hẹn
Không có gì sao thế gian bịn rịn
Chuyến đò vơi trăng cạn nỗi riêng tư
*
Quán thu phong hơi lạnh buốt bao giờ
Ai viết sử đang chờ người nhuận sắc
Vách lá ẩm, ướt lời xưa mất mát
Ta đang cùng niên kỷ khóc chơi vơi…
CAO MỴ NHÂN ( HNPD )
18 – 4 – 2026
==
THÁNG TƯ SẦU NGHẸN ĐONG ĐẦY – Thơ Phương Hoa- TRANH THƠ PHƯƠNG THÚY
CA KHÚC SỐNG ĐỘNG: DẬY MÀ ĐI GÌN GIỮ GIANG SAN – THƠ NGUYỄN PHƯƠNG THÚY – NHẠC TRUNG VIỆT
==
NGẮC NGOẢI ĐẾN BAO GIỜ
Nguyễn Phương Thúy
Ông Tô Lâm – Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (Ông cũng là Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh, và Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, tiêu cực. Còn chức nào ông chưa tóm? Đúng là độc tôn, độc trị!) đến China từ ngày 14 đến 17 tháng 4 năm 2026. Đây là một bước đi ngoại giao đầy quan trọng – cấp nhà nước, trên cương vị là lãnh đạo cao nhất của Việt Nam. Chuyến thăm này không chỉ dừng lại ở những cái bắt tay xã giao; đó là một nỗ lực thúc đẩy thực hành nhanh chóng Chiến lược “3+3” (*), nhằm củng cố “Cộng đồng chia sẻ tương lai” – một cách nói hoa mỹ để diễn tả việc họ đang gắn kết nền kinh tế và an ninh của nhau chặt chẽ hơn bao giờ hết. Tô Lâm trông có vẻ sung sướng, hãnh diện với sự đón tiếp long trọng của China. Các ông lớn mặc âu phục, các bà lớn cũng mặc quốc phục hiện diện sát bên. Nội các China dàn hàng chào danh dự. Tô Lâm bắt tay muốn rụng tay! Càng ngày hình thức ngoại giao càng giống các nước tự do. Con tắc kè thay màu quá lẹ nhưng cái cốt lõi thì vẫn ẹ như xưa! Việt Nam và China đã ký kết hơn 32 thỏa thuận vào ngày 15 tháng 4 năm 2026, tập trung vào các lĩnh vực:
Hải quan & thương mại: Đây là một bước tiến vô cùng to lớn, bởi thương mại giữa hai quốc gia đã hơn 250 tỷ USD trong năm 2025. Hai bên cũng đang triển khai mô hình “cửa khẩu thông minh” nhằm đẩy nhanh tốc độ vận chuyển hàng hóa.
Cơ sở hạ tầng & đường rầy sắt: Trọng tâm phát triển đô thị và kết nối các tỉnh phía Bắc của Việt Nam với mạng lưới đường sắt cao tốc của China chính là một “con đường một chiều”. Một khi những đường rầy ấy đã được lắp đặt theo tiêu chuẩn của China, Việt Nam sẽ bị ràng buộc chặt chẽ về mặt vật lý với China trong suốt 50 năm. Trong nhiều thập kỷ, Việt Nam vẫn duy trì khổ đường rầy sắt khác biệt, nhằm ngăn chặn nguy cơ bị xâm lược dễ dàng. Bằng việc chuyển sang áp dụng các tiêu chuẩn của China, Việt Nam đang thực sự hội nhập về mặt vật lý vào hệ thống hậu cần (logistics) của China. Đây chính là sự thống trị mà không cần chiến tranh. Nếu China nắm quyền kiểm soát hệ thống đường rầy, công nghệ tín hiệu cũng như nguồn tài chính, họ sẽ nắm giữ chiếc “công tắc bật/tắt” đối với nền kinh tế xuất khẩu của Việt Nam.
An ninh chuỗi cung ứng: Nhằm bảo đảm các chuỗi cung ứng xuyên biên giới sẽ không bị gián đoạn bởi những biến động chính trị trên phạm vi toàn cầu.
Du lịch: Phát động chương trình “Năm Hợp tác Du lịch Việt Nam – China 2026-2027” với mục đích thu hút khách du lịch trở lại mức trước đại dịch. Những thỏa thuận này có ảnh hưởng to lớn không thể tránh khỏi như “Con ngựa thành Troy” trong lĩnh vực 5G (the fifth-generation technology standard for broadband cellular networks), dữ liệu lớn (big data) và trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence (AI)). Cơ sở hạ tầng kỹ thuật số luôn có những “cửa hậu” (backdoors). China sẽ nắm trong tay “chìa khóa” của chủ quyền kỹ thuật số, có khả năng giám sát sự di chuyển của con người, hàng hóa và thậm chí cả quân đội….
VIỆT NAM:A Nation Reborn – Created by Nguyễn Phương Thúy – Nhạc nền hòa tấu: “VIỆT NAM VIỆT NAM” Của Phạm Duy
DÂY MÀ ĐI GIỮ GIANG SAN -NGUYỄN PHƯƠNG THÚY CGV
==
Thơ: Nguyễn Phương Thúy – Nhạc: Phạm Trung – Trình bày: Bích Hiền
== THƠ 30 THÁNG THÁNG TƯ ANH & VIỆT – TRANH THƠ: NGUYỄN PHƯƠNG THÚY
==
==
TƯỞNG NIỆM 30 THÁNG TƯ: Ca Khúc MẢNH DA VÀNG, Trần Chương Lương viết nhạc theo thơ của nhà thơ CHU LYNH do ca sĩ Kỳ Nam trình bày và hòa âm được thực hiện tại Golden Production.
*
Tùy Bút 30/4 CỦA 51 NĂM SAU
Sỏi Ngọc
Tàu Trường Xuân, thuyền trưởng: ông Phạm Ngọc Lũy
Từ trái sang phải: Đạo diễn: Robbie Hart; Bà Nguyễn Bùi thị Mùi; tác giả Sỏi Ngọc; cố vấn Phim: anh Khoa Phạm
Lại một tháng Tư đen
Quê người ta tạm trú
Bao giờ về cố thổ
Như máu chảy về tim?
Cuộc chiến đã qua lâu
Lòng ta còn hậu chấn
Hỡi ơi ! Trời biển rộng
Dằng dặc một cơn sầu. (Hoàng Song Liêm)
Tháng Tư vừa mới chớm, trái tim của những người con Việt hải ngoại không ngớt rỉ máu, vết thương của 51 năm qua vẫn mãi chưa bao giờ lành, một khi quê hương đất mẹ vẫn đang bị cầy xéo, dân vẫn khốn đốn, nền tự do dân quyền không có, những cựu chiến binh VNCH với thân hình còi rọc, như những phế nhân lầm lũi sống ở tận đáy xã hội của đất nước nơi mình được sanh ra; họ là những minh chứng sống cho thấy dưới chế độ xã hội chủ nghĩa Cộng Sản sau 51 năm, đời sống không khả quan hơn, vẫn đói khát, bị vùi dập, kiểm soát, bị trả thù đến bao nhiêu kiếp đời.
Tưởng niệm tháng Tư, phim Shining light, một phim tài liệu “ánh sáng tỏa rạng” được trình chiếu tại một trường tư thục, trung học Marianopolis college cho tất cả mọi người, kể cả những em học sinh, tham dự để hiểu về cội nguồn của những người Việt tỵ nạn tại Canada nói riêng và thế giới nói chung.
Phim tài liệu này chỉ dài 30 phút, do nhà sản xuất phim: Peter Raymont, đạo diễn: Robbie Hart, nhân viên Cao Ủy Liên Hiệp Quốc tại Canada: Tracey Maulfair, đồng sản xuất phim và cựu Đại xứ Canada: Gary Smith, cố vấn phim: Khoa Phạm.
Đã được trình chiếu nhiều lần tại Vancouver, Toronto, Montreal, hôm nay được chiếu lại nhưng đặc biệt có sự góp mặt của nhân vật chính, bà Bùi Nguyễn thị Mùi, bà là người mẹ đã mang bầu được 9 tháng vào ngày 30/4/75, biết rằng tánh mạng rất mong manh nếu bà lên tàu Trường Xuân bỏ xứ lánh nạn Cộng Sản thời bấy giờ, nhưng nỗi sợ hãi bị trả thù, cuộc sống đọa đầy sau ngày mà bọn chiến thắng luôn rêu rao là “nền độc lập tự do dân chủ”, trong khi chúng bắt bớ những cựu sĩ quan, lính VNCH bỏ tù, nằm gai nếm mật, trong đó có chồng bà… Bà đã hy sinh mạng sống của chính mình và đứa con trong bụng, ôm bụng bầu sát ngày sanh nở, cùng với con trai nhỏ 2 tuổi, lên chiếc tàu định mệnh cuối cùng vào trưa ngày 30/4 để trốn chạy; đến ngày 2 tháng 5 năm 1975 bụng quặn thắt, và đứa con gái đã chào đời trên tàu Trường Xuân, giữa lòng đại dương mênh mông, với 3600 người tỵ nạn vây quanh, đứa bé gái được đặt tên là Chiêu Anh, ánh sáng rạng rỡ, hy vọng mở ra cho bà một tương lai mới!
Bà Bùi Nguyễn thị Mùi mới sanh cháu Chiêu Anh trên tàu Trường Xuân
Chiêu Anh- cô gái được sanh trên biển cả của ngày hôm nay
Bà Bùi Nguyễn thị Mùi, đạo diễn: Robbie Hart tại trường Marianopolis college
Sau đó, ngày 4/5/1975 tàu Trường Xuân được tàu chở hàng Maersk line của Hong Kong vớt, mẹ con cô được chở vào nhà thương.
Mọi người yên lặng theo dõi bộ phim thật cảm động, tại ngôi trường mà Chiêu Anh đã từng theo học và tốt nghiệp; thỉnh thoảng có tiếng thở dài não ruột, tiếng sụt sùi trong hàng ghế của những người lớn tuổi, cũng có những cái nắm tay thầm lặng chia sẻ nỗi buồn, sự cảm thông của thế hệ trẻ đối với tiền bối.
Phim chấm dứt, ánh đèn sáng lên, bà Bùi ngồi lặng yên trên chiếc ghế ở khán đài, cùng với đạo diễn Robbie Hart, sẵn sàng trả lời những thắc mắc của tất cả mọi người, có cậu bé nói:
– “Tại sao chiến tranh VN đã trải qua 51 năm, đã thống nhất độc lập rồi, mà vẫn còn có người bỏ nước ra đi, còn nghe nói đến sự trốn chạy tìm tự do, tìm nguồn sống mới; họ không chịu nổi áp lực của nhà cầm quyền Cộng Sản?”
Một người khác góp ý:
– “Vào lúc 30 tháng Tư, bọn cộng sản đối với chúng tôi là một điều rất mới mẻ, nhưng kinh nghiệm của thời cải cách ruộng đất thời 1953-1956, chúng đã giết, treo cổ thẳng tay những người họ gọi là “địa chủ”, “tư sản”, tưởng tượng họ cũng đối xử, trả thù những người dân quân miền Nam đã sống, làm việc dưới chính quyền mà họ cho là Mỹ ngụy thì làm sao chịu nổi, vì lý do đó mà nhiều người thà bỏ mạng ngoài đại dương hơn là sống dưới gông cùm của chế độ Cộng Sản.”
Đạo diễn Robbie nói:
– “Chúng tôi dự định sẽ về thăm Việt Nam một chuyến, có dịp sẽ quay những thước phim về những biến cố lịch sử đã xảy ra tại đó cách đây 51 năm, và sự khác biệt với đời sống hôm nay.”
Một khán giả trong phòng thêm ý kiến:
– “Chúng tôi rất mong được các ông làm phim về những người lính VNCH, những người cựu chiến binh, những thương phế binh của chế độ trước bây giờ họ sống ra sao? Con cái họ thế nào? Có được sống như những người dân bình thường hay họ vẫn mãi mãi bị mang lý lịch xấu không thể ngóc đầu lên được, tâm lý sau cuộc chiến bị thất bại, họ mất tất cả, chỉ còn hai bàn tay trắng, lại thêm tù tội cả chục năm, cuộc đời của chính bản thân và con cái có được thành công ở chính quê hương nơi họ sanh ra không? Cộng Sản, những kẻ chiến thắng sau cái mốc định mệnh 30/4 có thật sự như họ đã nói “theo chính sách khoan hồng” giúp đỡ cho kẻ “lầm đường lạc lối” đi đúng hướng, sao chỉ thấy toàn những hình ảnh đói khát ở vùng kinh tế mới với những căn nhà mái lợp bằng lá, mùa mưa thì dột, mùa nắng thì thiêu đốt… Sự trừng phạt hăng máu của kẻ chiến thắng đến bao giờ mới ngừng tay?!”
Hình ảnh của con gái Chiêu Anh cùng với mẹ đi dạo trong một công viên ở Montreal, thanh bình và nhàn nhã, có ai biết quá khứ của họ trắc trở đầy thử thách!
Chiêu Anh chính là Shining Light của bà Mùi, cô là ngọn đèn tỏa sáng trong màn đêm tăm tối, là niềm hy vọng cho cả gia đình sống và phấn đấu, bà Nguyễn Bùi thị Mùi là một dược sĩ có tiếng tại Montreal, Quebec, giúp đỡ cho rất nhiều đồng hương trong thời gian covid.
Bà luôn dậy con gái “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, cô tìm lại được thuyền trưởng của tàu Trường Xuân năm xưa là ông Phạm Ngọc Lũy, đã đến mừng sinh nhật thượng thọ thứ 95 của ông,
Cô gái Trường Xuân năm nào, tưởng đã không thể nào sống nổi, nay thành công rực rỡ trong ngành thiết kế thời trang, cô ra trường ngành thiết kế thời trang ở NewYork, được nhiều giải thưởng danh giá.
Xin gửi lời cảm ơn trân trọng đến đạo diễn Robbie Hart, đến anh cố vấn Khoa Phạm đã tìm lại nhân chứng sống bà Nguyễn Bùi thị Mùi của tàu Trường Xuân sau 51 năm để cùng ngồi lại nơi đây, ôn lại câu chuyện lịch sử, không thể nào quên; câu chuyện của bà là một trong hàng ngàn những câu chuyện hy hữu của những người vượt biển sống sót, may mắn đến bến bờ tự do, sống, làm việc và thành công, như một tấm gương sáng cho thế hệ tương lai.
Chúng tôi ra về với dư âm của chiếc tàu Trường Xuân còn vương vấn, dáng bé nhỏ mảnh khảnh của bà Nguyễn Bùi thị Mùi, với nụ cười ấm áp, ánh mắt chứa chan niềm thân thiện, bà đã sống và cống hiến hơn nửa cuộc đời từ cái mốc 30/4 đến nay cho ngành thuốc, giúp tư vấn cho người bệnh, chích, bán và nhiều khi biếu thuốc cho những hoàn cảnh khó khăn, bà đúng với câu « lương y như từ mẫu », bà tâm sự riêng với tôi :
– “Mình thật may mắn đã được Canada giang tay đón nhận, thì mình phải sống sao cho xứng đáng, trả ơn cho đất nước đã cưu mang và góp phần xây dựng cho tương lai của thế hệ trẻ sau này.”
Tại ai mà mỗi tháng tư, tâm tư của hơn 1,5 triệu người sống xa quê hương có cùng một tâm trạng:
Tháng Tư về, gió chạm hư vô
Ký ức cũ rơi rụng không bờ
Người ở lại quen dần im lặng
Kẻ ra đi mang nặng giấc mơ
Một dòng sông chia hai bờ nhớ
Nửa quê hương trôi dạt phương nào
Hơn nửa thế kỷ rồi vẫn hỏi
Mất gì đây… mà đau đến nao lòng.
Sỏi Ngọc
Montreal 4/4/2026
*
THÁNG TÁM, THÁNG TƯ
Vốn rằng ghi rõ tự Thiên Thư
Cộng sản gian tà từ…”dịch Thu.”
“Cải Cách” lừa bần nông, đấu tố,
“Nhân Văn” phỉnh kẻ sĩ, giam tù.
Rồi đây, nổi giận, dân băm nát
Sắp tới, phân minh, Trời nghiến nhừ
Hậu quả khôn lường đang dần đến
Chúng bây sẽ trả nợ…công, tư.
Bảo Trâm
Chú thích:
“Dich Thu”: Cách mạng tháng tám” năm 1945 của lũ cướp cộng sản.
“Cải Cách”: Cải cách ruộng đất” của Công sản Bắc Việt, từ 1953 đến 1956 , giết hàng chục ngàn nông dân ở miền Bắc.
“Nhăn Văn”: Cộng sản bày ra vụ “Nhân Văn Giai Phẩm” từ 1955-1959, để giết và giam tù, bó đói hằng trăm Văn Nghệ sĩ ở Miền Bắc.
==
CHÙMTHƠ NHƯ THU
THÁNG TƯ MÃI NHỚ
Tháng tư nặng mối ưu hoài
Làng xưa biền biệt đắng cay nỗi lòng!
Phương trời xứ lạ thầm mong
Tàn canh thức trắng chờ trông mỏi mòn
*
Tháng tư giữ dạ sắt son
Đêm dài dỗ giấc trăng tròn xót xa
Vì đâu mãi nhớ thương nhà?
Người ơi gắng đợi cùng ta trở về!
*
Tháng tư nghĩa xóm tình quê
Chân thành đối đãi vẹn bề giúp nhau
Chiều qua gặp gỡ vui chào
Cười tươi hớn hở xôn xao chuyện trò
*
Tháng tư ấp ủ buồn lo
Yêu bầy trẻ dại nằm co dọc đường
Màn trời chiếu đất cảm thương
Bao người khốn khổ muôn phương vội vàng
*
Tháng tư mộng ước hoài mang
Trời Nam, biển Bắc tỏa lan đượm tình
Mây chào rạng ánh bình minh
Sau này hứa hẹn đăng trình chẳng lơi!
*
Tháng tư ngỡ tựa đang mời
Buồm giăng bến gọi chửa ngơi bao giờ
Sum vầy thỏa lắm niềm mơ
Nắng hồng giục giã đôi bờ kết giao.
Như Thu
04/18/2026
**
QUÊ HƯƠNG DẤU YÊU!
Từng nghe nước Việt sẽ dâng Tầu
Có phải quan thầy giấu nhẹm lâu?
Phương Bắc xe vào tim hụt hẫng
Miền Nam giặc đến kẻ u sầu!
Dân hờn bấy nỗi đành im tiếng
Ruột thắt bao lần lại đẫm châu
Ướm hỏi người ơi nhờ tỏ thật…
Vì sao sự thể quá cơ cầu?
Như Thu
04/21/2026
**
THÁNG TƯ ƠI!
Lại tháng tư đen sắp trở về
Bao trùm phố thị cả làng quê!
Mậu Thân súng nổ rền muôn hướng
Bính Ngọ lời than trỗi tứ bề
Non nước căm hờn luôn mải giận
Dân tình bực tức chẳng còn mê
Vùng lên tranh đấu nào suy nghĩ
Nhất dạ đồng tâm giữ vẹn thề!
Như Thu
04/21/2026
==
CHÙM THƠ VĂN THÁNG TƯ – DONRY NGUYỄN
*
CHO NHỮNG NGƯỜI NẰM XUỐNG VÀ NHỮNG NGƯỜI CÒN LẠI
Tháng tư, từ giã mùa chinh chiến. Ta về, đi giữa bóng hoàng hôn… Tay mẹ gầy còm ôm ta khóc, Cạnh đám em thơ nghẹn tủi hờn.
*
Bạn ta nhiều đứa không về nữa, Đem máu xương mình hiến núi sông. Để người sương phụ chia dòng lệ Nửa chịu tang cha, nửa khóc chồng.
*
Rượu không đủ uống ngày thua trận Ta ngước cười khan với đất trời, Trời đã không dung người thất thế, Sá gì thù vặt ngọn đòn roi.
*
Năm xưa vào lính mình ta tiễn, Nay bước lao tù cũng một thân. Mẹ đã tảo tần nuôi ta lớn, Nay còn đội gạo mà thăm con.
*
May lúc lên đường chưa cưới vợ, Nên chẳng dùng dằng vướng nợ ai. Nếu không cũng xót thời son trẻ, Vì chồng nhan sắc em tàn phai.
*
Trong tù ta có thêm bầu bạn, Sáng chiều chia nửa củ khoai lang Ngoài kia hợp tác toàn dân đói, Xã nghĩa thiên đường ráng tiến lên.
*
Trong tù ta sống lòng thanh thản Gánh rổ khoai mì đi rong chơi. Cuốc đất đau lưng mà trí nhẹ Không thành công, ta cũng thành người.
• Nửa đêm tiếng hát từ song sắt, Cao vút ngân lên đụng đỉnh trời. Nhìn gã cai tù đang cúi mặt Ta biết cuối cùng … ai thắng ai!
-Trại tù A30-1977. Donry Nguyễn
**
TRẢ LỜI CÂU HỎI CỦA EM.
“Ta làm chiến binh Sống không bằng chết, Được mất gì mà vỗ ngực xưng tên!”*
• Người hỏi tôi là lính hay quan, Hỏi chi thân thế lúc suy tàn. Mang danh phận lính không tròn phận, Há dám xưng hùng nhận chức quan.
*
Giữ nước sa cơ đành bỏ nước Coi nhà thất thế phải tòng vong. Cho dẫu chỉ là anh lính nhỏ, Lẽ nào trách nhiệm chẳng lo chung.
*
Ngày nay trên bước đường lưu lạc, Món nợ tang bồng lụy áo cơm. Tha phương chén rượu sầu ngơ ngác, Ai chẳng mộng ngày … quy cố hương.
*
Em đừng trách móc sao lần lữa, Chưa về thăm lại mẹ già nua. Lòng riêng ngui ngút niềm thương nhớ Nhỏ lệ âm thầm giữa gác khuya.
*
Ra đi từ bữa hờn sông núi, Lời thề ghi khắc trái tim côi. Mai sẽ trùng tu ngày hội lớn Dựng mái nhà xưa phụng dưỡng người.
*
Nửa thế kỷ qua ngùi đau xót, Bạc màu áo cũ vẫn chờ mong. Lỡ mai tôi chết không về kịp … Chắc gởi tro tàn xuống biển đông.
*
Món nợ ân tình chưa báo đáp Đối mặt quê hương nghĩ thẹn lòng.
-Donry Nguyễn-
* (Trích bài hành Tự Chuốc Rượu của người lính Lôi Hổ Hoàng Hoa Thương)
*
NHỮNG NGƯỜI LÍNH BỊ BỎ LẠI PHÍA SAU.
–Tưởng nhớ Tr/u Liễu Tông Trung cùng đồng đội đã nằm lại rừng núi Kon Tum, tháng ba 1975.
• Bạn tôi là HSQ Tiếp liệu ĐĐ1/TĐ95/LĐ22/BĐQ. hậu cứ đóng tại trại B12, đối diện trại B15 của lực lượng Lôi Hổ, nằm ở phía nam cầu Dakbla thị xã Kon-Tum.
Sau đây là những gì anh ấy kể lại:
Ngày 14/3/1975 anh theo xe tiếp tế lương thực cho đại đội đang đóng ở Đồi Ba Chấm, vị trí này là nơi đơn vị anh lui lại sau khi tản hàng phải rời bỏ căn cứ Kon Sơn Lũ cách đó vài cây số vào năm ngoái.
Lần này anh mang theo cả ba lô súng đạn để tham dự hành quân mặc dù nhiệm vụ của hạ sĩ quan tiếp liệu là ở hậu cứ lo việc quân lương. Lý do: lè phè, ham chơi, đến giờ tiếp tế, tiểu đoàn phải cho người ra phố gọi về.
Sau khi nhận lương thực xong, đại đội được lệnh tiến sâu vào rừng, anh cũng mang súng lầm lũi bước theo. Đi được vài chục thước thì bỗng nhiên vị trung úy Trung đội trưởng ngoắc tay bảo anh:
-Thôi về đi, cảnh cáo lần này, nhớ không tái phạm nghe chưa.
Mừng rỡ bạn tôi chỉ kịp đưa tay chào ông rổi vội vã chạy ngược lại để đuổi kịp chiếc GMC đang lăn bánh. Về tới trại B12 buổi chiều thì tối đó, toàn bộ hậu cứ được lệnh tiêu hủy vũ khí nặng và tất cả giấy tờ tài liệu để gọn gàng lên xe di tản. Nghe lệnh anh bàng hoàng xúc động, nghĩ đến những bạn bè chiến hữu giờ này đang tiến sâu vào rừng, không hay biết gì cả khiến anh chết lặng trong lòng. Hồi trưa nếu đại đội trưởng không cho về thì giờ này anh cũng chung số phận với mọi người rồi.
Suốt đường lui binh, không khi nào anh không nghĩ đến những người bạn cùng đơn vị giờ đây đơn độc giữa rừng sâu trong vòng vây của địch. Nỗi buồn và niềm chua xót nghẹn ứ trong trái tim người lính bất lực trước sự phũ phàng tàn nhẫn của chiến tranh.
Đoàn xe di tản của anh đi đầu, giữ được yếu tố bất ngờ nên không bị tấn công như khúc sau, đến bến đò Thạnh Hội xe lội qua sông Ba nhờ dòng nước lúc này chưa dâng cao. Nhưng khi cách Tuy Hòa khoảng 10 cây số, một quả đạn pháo kích nổ sát sườn xe làm người lính tên Tân là phụ tá tiếp liệu cho anh đứt ngang cổ họng, chết liền tại chỗ. Anh chỉ kịp ngoái lại nhìn xác nó loang máu nằm gục bên vệ đường nói lời vĩnh biệt rồi tiếp tục lao đi. Anh về tới nhà an toàn, ở lại Tuy Hòa mấy hôm chờ đợi tin tức đơn vị nhưng không gặp lại ai, cũng không biết đích xác đại đội của anh thế nào. Sau đó cùng gia đình theo đoàn xe xuôi Nam, đến Nha Trang, nghe ngóng tình hình, thấy tin tức chiến sự hoàn toàn bất lợi, cha mẹ anh quyết định trở về và cho phép anh theo đơn vị. Không thể bỏ cha già mẹ yếu với đám em thơ giữa cuộc ly loạn, anh ở lại Nha Trang cùng gia đình chờ yên ổn trở lại Tuy Hòa.
Lúc ra trình diện ủy ban quân quản thành phố, tình cờ gặp lại một đồng đội cũ. Vui mừng hai người kéo nhau ra một góc vắng thăm hỏi. Người bạn cho biết vắn tắt: đại đội đã chiến đấu cho tới viên đạn và bịch gạo sấy cuối cùng. Không nhận được tiếp tế, cũng không thể liên lạc về bộ chỉ huy nên tự giải tán, mạnh ai nấy tìm đường thoát hiểm, thành ra không ai biết ai thế nào. Nghe xong bạn tôi thở dài nuốt nước mắt vào lòng. Tiếc thương đồng đội cũ trong đó có Tr/u Liễu Tông Trung, đại đội trưởng của anh, là một sĩ quan can trường, tốt nghiệp Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, ông đã cống hiến tuổi trẻ và tâm huyết của mình cho đất nước, cuối cùng đã bị bỏ rơi giữa núi rừng Kon-Tum khi gần tàn cuộc chiến.
Từ đó đến nay tôi vẫn thường hỏi thăm nhiều nơi, gặp nhiều chiến binh Biệt Động để ngóng tin tức giùm bạn tôi mà không ai biết. Duy chỉ một lần tình cờ gặp Đ/u Nguyễn Văn Hồng, người cùng khóa Sĩ Quan Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt với Tr/u Liễu Tông Trung, anh cũng thừa nhận là sau tháng tư 75, được anh em cùng khóa báo cho biết là Liễu Tông Trung mất tích…
Hôm nay nhân mùa Quốc biến, thay mặt bạn mình tôi viết bài thơ tưởng nhớ đến ông và tất cả các chiến sĩ BĐQ đã nằm xuống trên khắp đất nước để bảo vệ Miền Nam Tự Do.
BÀI CA ĐỒI BA CHẤM
Lệnh di tản ban hành trong đêm lạnh, Ta bàng hoàng khi nhận được hung tin. Đại đội ta đóng quân đồi Ba Chấm Mới ban trưa này còn được lệnh hành quân.
Giờ bỗng chốc chẳng khác gì ác mộng, Họ trở thành chốt chặn ngựa qua sông. Ta vơ vội áo quần, ôm cây súng, Giờ ra đi nghe muối xát vào lòng.
Người ở lại âm thầm ngăn bước giặc, Người lên đường lặng lẽ rút nhau đi. Thương đồng đội ta cũng đành bất lực, Bí mật quân cơ đâu thể nói năng gì.
Trời cao nguyên đêm nay buồn ảm đạm, Cơn gió nào thổi vọng đến đồi cao. Nơi bạn ta vẫn tay ghìm họng súng, Giữa rừng khuya cố thủ dưới thông hào.
Thẩm quyền ta, người sĩ quan Võ Bị, Cái ngoắc tay cho ta sống trở về. Nhưng chính ông lại lọt vào tuyệt lộ, Thế trận tàn Hùm dữ cũng sa cơ.
Đường lui binh nhiều lần ta bật khóc, Ôi đâu rồi khí phách một đoàn quân. Đánh trăm trận khiến quân thù tan tác, Giữ non sông từng tấc đất tấc vàng.
Nay chạy trốn để mong cầu sự sống, Lòng ta đau tan nát tựa dao đâm. Giặc pháo theo bạn ta vừa ngã xuống, Máu loang hồng theo vết bánh xe lăn.
Về duyên hải chờ lâu tin không thấy, Lại lên đường tiếp tục tiến về Nam. Gặp đồng đội sụt sùi nghe kể lại: Lính bọn mình đã chiến đấu hiên ngang.
Giây phút cuối không còn quân tiếp viện, Đạn vơi dần, gạo sấy chỉ cầm hơi. Tiếng súng giặc bao trùm lên trận tuyến, Sóng truyền tin không nghe tiếng trả lời.
Tự tan hàng khi thế cùng lực kiệt, Xé đường rừng tìm lối thoát mưu sinh. Người thương tích chờ quân thù bắn giết, Người ngậm ngùi mang thân phận tù binh.
Ta từ giã chiến tranh từ thuở ấy, Mà vết thương còn nhức nhối trong tim. Nửa thế kỷ, ta thấy mình còn nợ, Những anh em ở lại phút sau cùng.
Ai ra lệnh phũ phàng đem con bỏ? Ai chọn đường hoang phế để lui quân? Nửa thế kỷ nỗi buồn đau còn đó, Người vọng phu hóa đá đứng trông chồng…
Ta may mắn xác thân còn nguyên vẹn, Nhưng tâm hồn vĩnh viễn gởi rừng sâu, Nơi bạn ta đã âm thầm ngã xuống, Máu xương đem phân bón cỏ xanh màu.
-Donry Nguyễn- California April 15,2026.
==
GÁNH QUÊ, Trần Chương Lương viết nhạc theo thơ Ý NGA, do ca sĩ Hồng Nhiên trình bày:
==
THƠ NHẠC 30 THÁNG TƯ – CHƯƠNG HÀ & SUNO AI
==
Tháng Tư Dòng Nước Lũ Của Ký Ức – LÊ TUẤN
Tháng Tư trở về không còn là tên của một tháng, mà là một vết cắt hằn sâu trong thân phận. Tháng Tư của một thời đã xa, vừa ập tới như cơn hồng thủy hỗn mang, cuốn phăng mọi trật tự vốn dĩ của đời người.
Không một lời báo trước, không kịp chuẩn bị, chỉ còn hoảng loạn và chia lìa.
Gia đình tan tác. Bè bạn lạc nhau. Quê hương bỏ lại. Tất cả như một đàn chim đang yên ổn giữa trời bỗng bị giông bão xé tung, mỗi con bay về một hướng, không biết có còn ngày gặp lại. Trong cơn cuồng phong ấy, mỗi con người chỉ còn là một hạt bụi nhỏ nhoi, như chiếc lá cuốn theo dòng nước, bị đẩy trôi mà không thể cưỡng lại.
Mọi thứ diễn ra quá nhanh. Những quyết định không còn là lựa chọn, mà chỉ là phản xạ sinh tồn. Giữa trăm mối hỗn độn, người ta chỉ còn biết chạy, chạy trốn khỏi đổ vỡ, chạy về phía một miền đất tự do, dù biết rắng nó rất mơ hồ. Có những điều, khi xảy ra, ta tưởng là bất khả kháng. Nhưng thời gian không xóa đi, nó chỉ làm rõ hơn những khoảng trống trong lòng.
Khi mọi thứ lắng xuống, khi đời sống dần tìm lại nhịp thở, thì ký ức lại dâng lên như một cơn sóng khác, âm thầm mà dữ dội.
Tôi đã không kịp đến. Không một nén hương. Không một lời giã biệt.
Nỗi oan ấy ở lại, không ồn ào, nhưng dai dẳng. Không trách móc, mà lặng lẽ khắc sâu, khiến lòng người không thể nguôi quên. Tháng Tư, vì thế, không chỉ là tháng của biến động. Nó là tháng của những điều chưa kịp làm. Của những lời chưa kịp nói. Và của những cuộc chia ly không có lần sau để sửa lại.
Le Tuan
==
TẠ LỖI
Hãy tha thứ cho anh Giữa chuyển dời nghiêng ngả Bước chân đi vội vã Lạc mất lối quay về.
*
Hãy tha thứ cho anh Một lần buông rơi tất cả Không một lời tiễn biệt Cuối Tháng Tư não nề.
*
Hãy tha thứ cho anh Ngôi mộ buồn lặng lẽ Không khói hương sớm chiều Không một nén phân ưu.
*
Hãy tha thứ cho anh Những tháng năm xa xứ Mỗi lần nhớ đến em Là một lần ray rứt.
*
Hãy tha thứ cho anh Nếu tình còn mắc nợ Xin gửi về quê hương Một giọt buồn quốc hận.
Tế Luân
THƠ NHẠC KHÚC CẦU HỒN – TẾ LUÂN
==
Tháng Tư
Khúc Tưởng Niệm Sài Gòn 30.4.1975 – TẾ LUÂN
Tháng Tư trở về, không ồn ào, không gọi tên, mà lặng lẽ len vào ký ức như một làn sương mỏng. Có những khoảnh khắc của đời người, tưởng đã trôi qua, nhưng thực ra chỉ đang ẩn mình đâu đó, chờ một ngày thức dậy trong nỗi nhớ. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày Sài Gòn đổi thay, là một khoảnh khắc như thế: vừa hữu hạn trong thời gian, vừa vô hạn trong lòng người.
Trong cõi vô thường, thời gian như cất lên một tiếng gọi đau thương từ tháng Tư. Tiếng gọi ấy không chỉ vang lên từ ký ức con người, mà còn dội về từ đại ngàn xanh thẫm, từ bầu trời tím ngắt cuối ngày, từ những con đường Sài Gòn xưa cũ. Những chiếc lá trong thành phố dường như cũng cảm nhận được điều gì đó, húng vàng đi sớm hơn thường lệ, chen lẫn vào những chiếc lá đỏ, tạo thành một bức tranh chao nghiêng, ảm đạm của những ngày cuối tháng Tư.
Đất trời như chuyển mình trong một khúc giao hưởng kỳ lạ. Biển xanh không còn hiền hòa, mà dâng lên những cơn sóng giông bão, gào thét vào bờ cát phơi lưng, như muốn kể lại những biến động của một thời khắc lịch sử, của câu truyện thương tâm từ những thuyền nhân. Đó không chỉ là âm thanh của chiến tranh, mà còn là tiếng lòng của một dân tộc, của Mẹ Việt Nam, vừa đau thương, vừa kiên cường, vừa chịu đựng, vừa bao dung.
Và giữa những biến động ấy, vẫn còn đó hương thơm của ruộng đồng, mùi lúa mới lan tỏa như một lời nhắc nhở rằng sự sống vẫn tiếp diễn. Từ bùn đất, từ mồ hôi, từ nước mắt, con người vẫn đứng dậy, vẫn gieo trồng, vẫn hy vọng. Một bài ca dao âm thầm cất lên, không phải để ca ngợi chiến thắng hay thất bại, mà để chiêm nghiệm về một cuộc đổi dời kỳ lạ của vận mệnh.
Năm mươi mốt năm đã trôi qua. Tháng Tư hôm nay không còn khói lửa, nhưng dư âm của nó vẫn còn đó, âm ỉ, sâu lắng, như một dòng chảy ngầm trong tâm thức mỗi người Việt. Nỗi đau không biến mất, mà chỉ lặng lẽ chuyển hóa, trú ngụ trong ký ức, trong những câu chuyện chưa kể hết, trong những giọt nước mắt không rơi thành lời.
Tháng Tư không chỉ là một mốc thời gian. Đó là một miền ký ức. Một vết hằn của lịch sử. Một lời nhắc nhở về sự mong manh của phận người và sự khắc nghiệt của thời cuộc. Nhưng trên tất cả, đó cũng là lời mời gọi con người biết nhìn lại, biết lắng nghe, và biết cảm thông,
để từ đó, học cách sống sâu hơn, bao dung hơn, và gìn giữ hòa bình như một điều quý giá nhất. Tháng Tư vẫn còn đó. Không mất đi. Không phai nhạt. Chỉ là… đã đi vào lòng người.
Tháng Tư Bài Thơ Còn Lại
Tháng Tư về không gọi tên nỗi nhớ Chỉ gió buồn lặng lẽ bước qua tim Sài Gòn đó, một thời như giấc mộng Vỡ âm thầm như lá rụng im lìm.
Có phải trời hôm ấy nhuộm màu tím Màu ly biệt, hoàng hôn về rất lạ Những con phố bỗng dưng thành xa lạ Người đi rồi… không hẹn một ngày về.
Màu cờ đỏ, mưa rơi như dòng máu Lũ giặc tràn vào, tiếng thét thất thanh Thành phố đêm bỗng rùng mình chết lặng Vạn nỗi đau không cất nổi thành lời.
Biển vẫn xanh mà giông bão không nguôi Sóng gào thét như linh hồn đất nước Khúc giao hưởng của một thời xuôi ngược Viết bằng đời, bằng nước mắt Mẹ thôi.
Từ đại ngàn xanh thẳm đến ruộng đồng Hương lúa mới vẫn âm thầm lan tỏa Giữa đổ nát vẫn nhen lên mầm sống Một câu ca dao, âm hưởng Mẹ hiền.
Năm mươi mốt năm… tháng Tư còn đó Không mất đi, chỉ chìm vào ký ức Để đôi lúc trong đêm dài thao thức Nỗi đau xưa trở lại rất con người.
Tháng Tư ơi, khơi lại những cội nguồn Hãy ở lại như một lời nhắc nhở Rằng lịch sử không bao giờ khép cửa Và lòng người còn mãi những chia ly.
Tế Luân
==
THƠ THÁNG TƯ XƯỚNG HỌA – CAO MỴ NHÂN VÀ THI HỮU
THÁNG TƯ TƠI TẢ. CAO MỴ NHÂN (Bài Xướng) – Kính mời quý thi nhân chấp bút họa bài thơ thú vị này của Nữ Sĩ Cao Mỵ Nhân
THÁNG TƯ HẬN, THÁNG TƯ ĐAU – YÊN SƠN (Viết cho mình, viết giùm cho người)
Tháng Tư lại về. Không cần ai nhắc, không cần một dấu hiệu rõ ràng nào, chỉ cần những dư âm Tết nơi xứ người bắt đầu phai nhạt, hay một buổi chiều xuân nhạt nắng rơi xuống sân vườn cô tịch là lòng tôi đã chùng xuống. Nhớ về… Có những tháng trôi qua như một con số. Có những tháng đi qua như một thói quen. Nhưng cũng có những tháng không bao giờ rời khỏi đời người. Đó là Tháng Tư. Tháng Tư, đối với tôi, không phải là ngày tháng bình thường của thời gian. Nó là một dấu mốc thời gian in hằn trong tâm khảm, là một nỗi đau, một vết cứa sâu trong tâm hồn, một nơi mà ký ức dừng lại, xoáy xuống, rồi lan ra, phủ kín cả tâm can. Có những nỗi đau không có âm thanh, không có tiếng khóc. Không thường có những lời than vãn. Nó nằm im, rất sâu, rất lâu, như một mảnh kim loại nhỏ găm trong da thịt. Mảnh kim loại không đủ nguy hại có thể chết người, nhưng đủ để nhói lên mỗi khi cử động. Và Tháng Tư chính là lúc mảnh kim loại ấy trở mình. Đêm hai mươi chín tháng Tư năm ấy, tôi vẫn còn là một người lính. Không phải hình ảnh một người lính trong sách vở, với chiến tuyến rõ ràng và mệnh lệnh rành rọt, mà là một con người đứng giữa một thực tại đang rạn vỡ. Ở phía tây Sài Gòn, quanh vòng đai phi trường Tân Sơn Nhứt… chúng tôi còn chiến đấu. Chiến đấu không phải vì hy vọng chiến thắng, mà vì không thể buông. Không thể đầu hàng. Có những thứ, một khi đã thấm vào máu như danh dự, trách nhiệm, lời thề… thì không dễ gì đặt xuống, không thể buông bỏ, ngay cả khi biết rằng tất cả đang trượt khỏi tầm tay. Chiến tranh trong những giờ phút cuối không còn là chiến tranh theo nghĩa quen thuộc. Nó không còn là một ván cờ. Nó trở thành một cơn sóng lớn. Và chúng tôi là những con người đứng trước làn sóng hung bạo ấy, cố giữ thăng bằng trên những mảnh vỡ còn sót lại. Tiếng súng vẫn nổ. Nhưng không còn nhịp điệu của chiến thuật. Nó dồn dập như nhịp tim của một cơ thể kiệt sức. Mỗi phát súng không còn nhắm đến chiến thắng, mà như một cách níu giữ một hy vọng mong manh dù biết hy vọng ấy gần như không còn. Nhưng cũng không thể bắn bừa. Đạn dược đã cạn. Mỗi viên đạn được đếm như giọt máu cuối cùng. Trong khi đó, đối phương được che chở bởi những tầng phòng không dày đặc. Chúng tôi chiến đấu trong thiếu thốn, trong bị động, trong một thế trận mà phần thua đã hiện rõ. Người Mỹ đã quay lưng. Người Mỹ đã bỏ rơi chúng tôi, bỏ rơi cái tiền đồn mà họ đã từng dùng chúng tôi để ngăn cản sự thống trị của triết thuyết Cộng Sản. Nhưng chúng tôi vẫn phải chiến đấu để bảo vệ nền tự do dân chủ cho người dân chúng tôi, cho đất nước chúng tôi. Anh em vẫn thay nhau bay. Bay trong những điều kiện khắc nghiệt, bay như những võ sĩ bị trói tay chân, ném lên võ đài trước một địch thủ hung tàn. Người này hết giờ, người khác lên. Không ai nói nhưng ai cũng hiểu… chúng tôi đang ở trong một hoàn cảnh vô vọng. Còn nỗi bi thương nào hơn thế không? Tôi còn nhớ những ánh mắt đêm ấy. Không ai nói với ai một lời gì ngoài những thao tác quen thuộc, ngôn ngữ chiến trận quen thuộc. Những ánh mắt gặp nhau giữa ánh chớp và bóng tối chỉ để xác nhận một điều, chúng tôi vẫn còn có nhau như đã từng mỗi khi xông vào lửa đạn, đánh cược với tử sinh. Và cũng không ai nói với ai đó là đêm cuối. Nhưng ai cũng cảm thấy sự bất lực qua từng viên đạn bắn ra. Nhưng ai cũng biết một điều gì đó đang đến hồi kết thúc. Không phải chỉ là một trận đánh mà là cả một thời đại. Viết đến đây, mắt tôi lại nhòe đi. Tôi đứng dậy, bước ra sau vườn, châm một điếu thuốc. Gió thổi qua hàng chuông gió, những tiếng leng keng như tiếng gọi từ một cõi nào xa lắm. Tôi hít sâu. Thở mạnh. Rồi quay vào, tiếp tục viết. Chuyến bay khuya hôm đó… sau khi bàn giao vùng trách nhiệm, tôi trở về cư xá. Hai đứa học trò nhỏ tôi mang về từ trưa hôm trước vẫn còn thức. Hai đứa, như tôi vẫn nói đùa, “trói gà không chặt”. Chúng tôi vừa nằm xuống thì nghe pháo kích dữ dội vào phi trường. Rồi một tiếng rít xé tai – hoả tiễn 122 ly. Nhưng… không nghe tiếng nổ. Cho đến sáng hôm sau, mọi người trong cư xá mới biết là đã thoát chết giữa đêm qua khi nhìn thấy phần đuôi của chiếc hoả tiễn đang cắm sâu vào lòng đất bên cạnh cư xá độc thân. Buổi sáng hôm ấy đã không phải là một buổi sáng bình thường, khi thấy chiếc Tinh Long 7 của phi đoàn tôi bị bắn rơi ngoài vòng đai phi trường, trước nhưng đôi mắt hoảng loạn của anh em. Đó là giọt nước làm tràn ly, không ai nói với ai lời nào, mỗi người chạy đi một ngả. Tôi cùng hai chú em đèo nhau lên chiếc Lambretite, chạy khắp các bãi đậu tìm phi cơ thoát thân. Nhưng những chiếc còn bay được đã bay đi đâu hết. Đang đứng ngơ ngác thì được một niên trưởng kéo tôi chạy theo đến một chiếc C-130 không còn nguyên vẹn, để làm phận sự phi công phụ. Chiếc phi cơ cất cánh từ cuối đường băng. Không đủ tốc độ. Không đủ điều kiện. Nhưng vẫn phải bốc mình lên nhờ vào bốn động cơ bán phản lực. Chiếc máy bay gượng lên, nhắm hướng Vũng Tàu rồi… trực chỉ Utapao, Thái Lan mang theo 115 con người không biết họ đã lên bằng cách nào. Chiều hôm đó, 29 tháng 4 năm 1975, tôi và một số anh em trong phi hành đoàn đã sững sờ rơi nước mắt khi thấy một đội ngũ quân nhân người Mỹ bắc thang lên thân máy bay sơn bỏ huy hiệu Không Quân VNCH, sau khi mọi người bị tước khí giới trước khi bước ra khỏi thân phi cơ. là tôi đã buộc phải rời khỏi đất nước trong bàng hoàng, trong vô thức, không kịp biết được tin cha mẹ anh chị em đã bị thất lạc phương nào mấy tháng qua trong chiến tranh. Không kịp báo tin với người vợ sắp cưới chỉ ở cách phi trường khoảng 6 cây số! Và cứ thế, bị đưa đẩy dọc theo hành trình trở lại đất nước nầy với thân phận vô gia đình, vô tổ quốc. Mãi đến vài năm sau mới liên lạc lại được! Cho đến bây giờ, sau hơn nửa thế kỷ, cái “không kịp” ấy vẫn còn nguyên vẹn trong tôi, như một khoảng trống không bao giờ có thể lấp đầy. Không kịp nhìn cha mẹ lần cuối. Không kịp nói một lời từ biệt với bất cứ người thân yêu nào. Không kịp khép lại một cánh cửa đời quân ngũ theo cách mà một con người lính bình thường đáng được có. Có những cuộc chia ly không có lời từ biệt, và chính vì thế, chúng không bao giờ kết thúc. Tôi ra đi trong một trạng thái không hoàn toàn tỉnh táo. Không phải chỉ hoảng loạn mà là tê điếng. Mọi thứ diễn ra quá sức nhanh, quá sức bất ngờ, con người tôi không còn cảm xúc rõ ràng. Chỉ còn hành động. Chỉ còn bản năng. Tôi ra đi, như một người bị đẩy ra khỏi chính cuộc đời mình trong khi trong lòng vẫn còn một niềm tin rất mong manh rằng đây chỉ là tạm thời. Rằng rồi sẽ có ngày trở lại. Rằng quê hương không thể biến mất chỉ qua một đêm. Rằng những gì đã xây dựng, đã sống, đã yêu, không thể bị xóa đi dễ dàng như vậy. Có nhiều lần tôi nghĩ, sự ra đi bất chợt của tôi sẽ không nhiều hối tiếc, nhiều đớn đau nếu dân tộc tôi được tự do hạnh phúc hơn, đất nước tôi trở nên thanh bình, vươn lên oai nghi, dũng mãnh như con rồng, con hổ. Nhưng rất tiếc! Rất tiếc! Thời gian, bằng sự im lặng kéo dài của nó, đã dần dần dạy tôi hiểu. Không có ngày trở lại như tôi từng mong đợi. Không phải vì không muốn, mà vì con đường đã khép lại từ lúc Việt cộng xâm chiếm miền Nam; chúng đã và đang gây ra bao nhiêu đau thương cho nòi giống, cho mảnh giang sơn gấm vóc của ông bà, tiên tổ. Mất quê hương không phải là một biến cố xảy ra trong một ngày. Nó là một quá trình. Ban đầu là sự bàng hoàng. Sau đó là niềm hy vọng. Rồi niềm hy vọng mỏng dần đi theo ngày tháng. Và cuối cùng là một sự chấp nhận trong im lặng. Không phải chấp nhận vì đồng ý mà vì dường như không còn cách nào khác. Những năm đầu nơi quê hương thứ hai nầy, mọi thứ đều xa lạ. Ngôn ngữ, phong tục, con người, đời sống. Tôi đã học tái sinh trước khi học cách tồn tại. Học cách hiểu người khác, trước khi có thể nói cho người khác hiểu mình. Học cách đứng vững trên chính đôi chân mình khi trong thâm tâm vẫn không ngớt đợi chờ một phép lạ, một ánh sáng nhỏ nhoi ở cuối đường hầm. Người ta có thể quen với nhiều thứ. Quen với thời tiết khác, quen với nhiều món ăn lạ, quen với nhịp sống của một dân tộc khác. Nhưng có một thứ không thể làm quen đó là tình tự quê hương đã mất. Quê hương không chỉ là nơi mình sinh ra. Nó là nơi mà mọi thứ đều có ý nghĩa mà không cần rao giảng. Một con đường, một góc phố, một tiếng rao, một mùi hương… tất cả đều mang theo một phần đời. Khi mất đi, không chỉ là mất một nơi chốn, mà là mất cả một hệ ký ức, một cấu trúc của đời sống con người. Có những buổi sáng, tôi tỉnh dậy và trong một khoảnh khắc rất ngắn, tôi quên mất mình đang ở đâu. Trong khoảnh khắc đó, tôi vẫn là con người của ngày xưa, sống trong một thành phố quen thuộc, những đường bay dọc ngang trên bầu trời miền Nam nước Việt mà tôi đã thuộc lòng. Nhưng rồi thực tại trở về, không ồn ào, nhưng dứt khoát, như một bàn tay ai đó đặt nhẹ nhàng lên vai, nhắc tôi rằng tất cả đã trở thành dĩ vãng. Có nhiều lúc tôi thảng thốt nghĩ rằng: Sợ một mai thân nằm yên lòng đất Hồn lẻ loi tìm không thấy quê nhà Năm mươi mốt năm trôi qua. Một đời người có thể chứa đựng bao nhiêu ký ức? Có thể chịu đựng bao nhiêu mất mát? Có thể giữ lại được bao nhiêu điều mà không đánh mất chính mình? Tôi đã sống. Đã làm việc. Đã xây dựng lại cuộc đời. Đã có những niềm vui, những thành tựu, những mối quan hệ xã hội rất tốt. Nhưng tất cả những điều đó, dù có thật, dù có ý nghĩa, vẫn không thể thay thế được những gì đã mất. Tôi nhớ những ngày tháng trước năm 1975. Không phải vì chúng hoàn hảo, mà vì chúng là một phần đời quan trọng của tôi. Những sáng nắng chiều mưa, những ngày lộng gió, những đường bay quen thuộc, những khung trời bao la, những sinh tử cận kề, những cuộc gặp gỡ, những câu chuyện, những ước mơ chưa kịp thành hình. Một đời sống bình thường như thế nhưng khi mất đi, tôi mới hiểu giá trị của nó sẽ không bao giờ có thể thay thế được. Ký ức, theo thời gian, không phai nhạt đi như người ta tưởng. Nó được chắt lọc. Những gì không quan trọng sẽ rơi rụng tự nhiên. Những gì còn lại sẽ trở nên rõ nét hơn, tinh khiết hơn, và vì thế, cũng đau xót hơn. Và tôi mang trong mình một nỗi hận. Nhưng không phải là một nỗi hận đơn giản. Nó không hướng về những con người bình thường. Tôi không hận người dân Mỹ mà tôi đã gặp, đã sống cùng, đã nhận được sự giúp đỡ của họ để xây dựng lại cuộc đời. Tôi hiểu rằng con người, ở đâu cũng có những điểm tương đồng giữa thiện và ác, hiểu biết và giới hạn. Nhưng tôi không thể không nghĩ đến những quyết định sai lầm của hệ thống cầm quyền chính phủ Mỹ và đồng minh, những phong trào phản chiến ngu xuẩn, những cơ quan truyền thông dối trá, lừa gạt dư luận. Những điều nầy đã góp phần làm thay đổi số phận của những quốc gia nhỏ bé, chậm tiến như Miền Nam Việt Nam của tôi. Một cuộc chiến không chỉ được quyết định bởi những gì xảy ra trên chiến trường mà nó được quyết định bởi những gì xảy ra trong lòng xã hội, qua truyền thông, trên trường chính trị. Khi một bên không còn được thế giới ủng hộ, không còn được bạn bè tin tưởng thì dù còn đầy đủ vũ khí cũng không thể giữ được, huống chi… chúng tôi đã phải chiến đấu với cả một thế lực cộng sản quốc tế hùng mạnh khi vũ khí đã bị chính những người bạn đồng minh tước bỏ đi. Nỗi hận của tôi không phải để nuôi dưỡng oán thù mà là để nhắc nhớ cho chính mình, nhắc nhở con cháu đời sau những gì đã xảy ra cho quê hương, dân tộc tôi không bị đi vào quên lãng. Sau tất cả, điều còn lại trong tôi không chỉ là nỗi đau. Mà là một ước vọng. Ước mong một ngày nào đó, được trở về trong tự do, trong danh dự. Không phải để bắt đầu lại, mà chỉ để nhìn lại. Để bước trên những con đường cũ dù chúng đã bị thay tên đổi họ một thời. Để nghe lại những âm thanh, những tiếng nói quen thuộc ở khắp mọi nơi. Để thấy lại một quê hương bừng sáng, một xã hội văn minh trong tình người. Được thật sự hãnh diện với 4 chữ Con Rồng Cháu Tiên. Ở tuổi này, tôi không còn sợ nhiều điều. Không còn sợ mất mát vì đã mất mát quá nhiều. Không còn sợ thay đổi vì đã sống qua những thay đổi to lớn mà chỉ sợ rằng mình sẽ không còn đủ thời gian. Không đủ thời gian để thấy ngày ấy. Không đủ thời gian để chứng kiến một kết thúc tốt đẹp như thế cho quê hương dân tộc mình; để biết rằng những nghiệt ngã mình đã trải qua trong đời không trở nên vô nghĩa. Sự chờ đợi nào cũng không mấy dễ dàng. Khi còn trẻ thì có dễ dàng hơn, nhưng khi thời gian không còn nhiều, mỗi ngày trôi qua đều mang theo một cảm giác bồn chồn, lo sợ. Không phải vì muốn đạt được điều gì, mà vì sợ không còn cơ hội ấy. Tháng Tư lại đến. Vẫn là những cơn mưa nhẹ buổi sáng, những đám mây trắng bềnh bồng ở buổi chiều dài, những khoảng lặng khó gọi tên… Những ghi nhận nầy không phải để làm thơ, khp6ng phải là thời tiết mà là một phần của đời sống nội tâm, một vùng ký ức mà mỗi năm, vào đúng thời điểm này, lại mở ra trong tôi. Tháng Tư hận. Tháng Tư đau. Mỗi năm vẫn cứ theo nhau trở về Nhưng nếu chỉ có hận và đau, con người đã không thể đi qua hơn nửa thế kỷ. Vì ở đâu đó, rất sâu, rất nhỏ, vẫn còn một thứ khác. Một thứ không sôi nổi lắm, không mạnh mẽ nhiều nhưng bền bỉ. Đó là niềm hy vọng. Hy vọng rằng một ngày nào đó, dù mình còn hay không, trên mảnh đất hình cong chữ S ấy, người dân sẽ được sống an bình, hạnh phúc mà không phải cúi đầu, lo sợ. Sẽ có những tiếng nói không bị bóp nghẹt. Sẽ có những giấc mơ không bị dập tắt. Và khi ngày đó đến, có thể, ở một nơi nào đó rất xa, những người đã ngậm ngùi nằm xuống sẽ mỉm cười. Dù muộn màng nhưng cũng có thể sẽ che giấu được những niềm đau, nỗi hận trong lòng của những người võ sĩ bị ném lên đấu trường sanh tử với tay chân bị trói chặt.
“Tháng Tư lại về, lòng người tị nạn lại xót xa nhớ về quê hương sau 51 năm xa xứ.”NGUYỄN ĐÌNH HÒA
Xin mời qúy vị thưởng thức vài nhạc phẩm của tôi đã viết.
Quê Hương Trong Ta.
Bóng Xưa Chiều Ấy.
Vụng Dại Những Chiều
Ns. Nguyễn Đình Hòa.
==
THƠ MỸ HOÀN
THÁNG TƯ NHỚ EM – MỸ HOÀN
Em đã về đây mỗi tháng Tư
Về quê ngồi lại giữa sương mơ
Có nghe sương rớt bờ vai cũ
Bơ vơ mộng mị chốn xa mờ
*
Để tháng Tư như dòng nước chảy
Bôn ba năm tháng nước về đâu
Ta gục xuống đôi bàn tay lạnh
Lòng nghe rơi rớt ánh tinh cầu
*
Ta nghe mãi bên bờ sông vỗ
Những lời buồn của tháng trôi qua
Lời tình như sóng dòng sông cuộn
Nước mắt nào còn mãi mưa sa
*
Em ôm trái tim nào đã lỡ
Một lời thề mộng ước mai sau
Một nụ cười như vừa nở lại
Cho ta êm ái mối tình sầu
*
Em đã về đây mỗi tháng Tư
Về đây ta kể một lời thơ
Em mặc áo dài hoa cúc nở
Cùng ta đi suốt một nẻo bờ
*
Rồi em cảm động từng cơn khóc
Vạt tóc nào đẫm lệ quê hương
Tổ tiên ta đã từng hơi thở
Dựng Sơn hà một giấc như mơ
*
Nhớ trong tâm tưởng ngày hoa gấm
Nụ môi thơm khép nép hải đường
Ta muốn mở lòng bao câu nói
Lời yêu kia còn mãi vấn vương.
Lê Mỹ Hoàn
2/2025
**
NẮNG HẠN THÁNG TƯ
Tiếng kêu tha thiết gọi đàn
Những ngày nắng hạn đâu tàn trú thân
Lòng ta như thể nắng ran
Thu Đông tan tác, Hạ hoang mang về
Nơi đây đâu phải chốn quê
Cho nên nắng hạn lê thê mỏi mòn
Khô đi những giọt máu hồng
Dần dà cạn hết giấc nồng trong tim
Đôi môi khao khát đi tìm
Tiếng kêu mòn mỏi đắm chìm nơi đâu
Quê hương mấy cuộc bể dâu
Trong ta một nỗi u sầu chưa tan
Thời gian lặng lẽ lướt nhanh
Làm thêm héo nụ cười xanh thuở nào
Ôi cơn nắng hạn lao đao
Hồn ta nứt nẻ ngày vào thángTư.
Lê Mỹ Hoàn
4/20/1990
==
ĐỢT NẮNG THÁNG TƯ
Đông vừa qua ở cuối đoạn đường
Xuân đến những ngày nắng ấm hơn
Tưởng như mùa Hạ nhưng bất chợt
Lạnh lại về cơn sốt miên man
*
Cơn sốt cao, đầu như bổ củi
Như nặng lòng đợt nắng tháng Tư
Vàng sốt bủa vây ngày trốn chạy
Qua cánh đồng nắng trải như phơi
*
Cơn sốt lên cơn mơ lại đến
Chạy vòng quanh chạy đến chân tường
Nghe mơ hồ ai đang hạch hỏi
Bao người ngồi bó gối như ta
*
Rồi tự nhiên nghe mùi muối mặn
Đang lênh đênh trên biển xuôi dòng
Chợt thét gào như cơn thịnh nộ
Biển trời đang cuộn một cơn dông
*
Ta bên nhau thì thầm cầu nguyện
Xin trời cho gió lặng sóng êm
Bỗng mở mắt dường như im lặng
Tự Do đang cười với gió Xuân.
Lê Mỹ Hoàn
3/26/2025
==
THƠ TRẦN CẨM THÀNH
Tháng Tư cảm tác
Tha hương mái tóc của ngày xanh
Năm tháng bạc màu trán vết nhăn
Canh cánh bên lòng bao nuối tiếc
Bâng khuâng tấc dạ những ăn năn
Non sông biến dạng người xa cội
Đất khách dung thân kẻ rã hàng
Nặng trĩu tâm tư đời viễn xứ
“Nỗi buồn nhược tiểu” mãi âm vang.
Trần cẩm Thành- 4/2026.
**
==
THÊM MỘT THÁNG TƯ QUA – HUY VĂN
* Ngày đến. Đêm Trôi. Ngày lại đến Thời gian lắng đọng cuối tháng Tư Tháng của thiên thu buồn lệ nến khóc cảnh miền Nam hóa ngục tù.
*
Máu ai tuôn chảy nơi góc phố?! Chốt thí làm sao chống sơn hà!? Tiếng hờn vọng mãi vào thiên cổ Một trang Hận Sử, mấy Hùng Ca?!
*
Cuối Xuân cuồng lũ dâng hồng thủy Đành buông nợ Nước, phụ tình Nhà! Sông núi điêu linh vì ngạ quỷ Bao giờ yên sóng, lắng phong ba?
*
Ngồi đây mà nhớ thời chiến quốc Một thuở bi hùng lúc dọc ngang Chớp mắt thấy sương pha màu tóc Một tiếng than ôi! Lệ ứa tràn.
*
Nửa đời chìm nổi nơi đất khách Mỗi năm thêm một tháng Tư qua Quốc thù vị báo đầu tiên bạch (*) Thế sự du du nại lão hà. HUY VĂN
* (*)THUẬT HOÀI Thế sự du du nại lão hà? Vô cùng thiên địa nhập hàm ca. Thời lai đồ điếu thành công dị, Vận khứ anh hùng ẩm hận đa. Trí chủ hữu hoài phù địa trục, Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà. Quốc thù vị báo đầu tiên bạch, Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma.
ĐẶNG DUNG
* Bản dịch của Tản Đà: Việc đời man mác, tuổi già thôi! Đất rộng trời cao chén ngậm ngùi. Gặp gỡ thời cơ may những kẻ, Tan tành sự thế luống cay ai! Phò vua bụng những mong xoay đất, Gột giáp sông kia khó vạch trời. Đầu bạc giang san thù chưa trả, Long tuyền mấy độ bóng trăng soi.
==
==
MỜI ĐỌC 2 BÀI VIẾT ĐẶC SẮC CỦA KÝ GIẢ KIỀU MỸ DUYÊN DƯỚI ĐÂY
Quê hương tôi là Quảng Ngãi, nơi có Núi Ấn soi bóng xuống Sông Trà Khúc hiền hòa. Dù xa quê từ thuở bé, hình ảnh ấy vẫn in sâu trong tâm khảm như một phần máu thịt không thể tách rời.
Từ nhỏ, tôi theo người bác ruột vào sống tại Đà Lạt, ở vùng Trại Mát, nơi bác hành nghề Đông y. Cuộc sống nơi cao nguyên yên tĩnh phần nào giúp tôi quên đi những biến động của quê nhà, cho đến khi chiến sự lan rộng khắp miền Trung vào đầu năm 1975.
Ngày 21 tháng 3 năm 1975, khi tình hình các tỉnh Tây Nguyên trở nên rối ren, tôi quyết định trở về Quảng Ngãi chỉ với một mong muốn giản dị là thăm mẹ đang lâm bệnh. Khi ấy tôi vẫn còn là một học sinh, chưa hiểu hết thế nào là chiến tranh, nhưng nỗi lo sợ thì hiện rõ trong từng hơi thở. Người ta truyền tai nhau rằng ban đêm, Việt Cộng thường lén xuống các quận gài mìn, khiến ai nấy đều sống trong cảnh phập phồng, bất an.
Gia đình tôi lại có nhiều người liên quan đến Việt Nam Quốc Dân Đảng; từ bác, chú cho đến ông Sáu, nên sự lo lắng càng chồng chất. Cứ mỗi khi màn đêm buông xuống, các chú, các bác lại âm thầm đạp xe vào thành phố để ngủ nhờ, tránh những hiểm nguy có thể ập đến bất cứ lúc nào.
Đêm 22 và 23 tháng 3 năm ấy, tôi ngủ bên mẹ tại vùng phía tây quận Tư Nghĩa. Nhưng đó không còn là những đêm bình yên. Tiếng súng, tiếng pháo kích vang lên liên hồi, dội vào lòng người những cơn run sợ. Mỗi tiếng nổ như xé toạc màn đêm, khiến tôi, một đứa học trò, chỉ biết nằm im, tim đập dồn dập, cầu mong cho trời mau sáng.
Sáng ngày 24 tháng 3 năm 1975, không chịu nổi sự bất an, tôi cùng mẹ rời nhà, tìm đến tá túc tại nhà ông Sáu ở khu vực Thị xã Cẩm Thành, Quảng Ngãi, trung tâm của tỉnh. Đó là một quyết định đầy lo âu nhưng cần thiết, bởi lúc ấy, chiến tranh đã thực sự chạm đến từng mái nhà, từng con người.
Những ngày tháng ấy, tôi không chỉ chứng kiến sự biến động của đất nước, mà còn cảm nhận rõ sự mong manh của đời người, của tình thân trong cơn binh lửa vì anh tôi đã mất trước đó vài tháng tại Pleiku, cậu Tư cũng tử trận tại An Lộc, và người hàng xóm tại Đa lạt cũng bị tử vong bởi pháo kích tận vùng I chiến thuật mà chưa kịp mang xác về chôn,. Dù chỉ là một học sinh, tôi đã sớm hiểu rằng quê hương không chỉ là nơi chôn nhau cắt rốn, mà còn là nơi gắn liền với ký ức, bà con xóm giềng, với yêu thương, và cả những nỗi đau không bao giờ quên.
Chiều ngày 25 tháng 3 năm 1975, trước nhà ông Sáu là nơi có tiểu khu của binh lính Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, mọi sinh hoạt ban đầu vẫn diễn ra như thường lệ. Những người lính Sư Đoàn II Bô Binh vẫn qua lại, vẫn giữ nhịp sống quen thuộc như chưa có điều gì sắp sửa đổi thay. Nhưng đến xế chiều, không khí bỗng chùng xuống. Tôi thấy từng chiếc xe Jeep, xe nhà binh chở đầy binh sĩ nối nhau rời đi, hướng về phía Đà Nẵng. Một linh cảm bất an dâng lên trong lòng, dù khi đó tôi vẫn chưa hiểu hết ý nghĩa của những chuyển động ấy.
Tin đồn bắt đầu lan nhanh trong xóm. Người này truyền cho người kia, không ai biết thực hư ra sao. Có người nói phải “ăn vội rồi đi ngay”, có người bảo phải gom đồ đạc mà chạy, vì chiến sự đã quá gần. Người ta nhắc đến Ông Ngô Quang Trưởng, vị tướng đang cố gắng chống lại làn sóng tiến công từ phía Việt Cộng. Nhưng tất cả chỉ là những lời nghe lại, không kiểm chứng, không rõ nguồn. Trong hoàn cảnh ấy, sự thật không còn quan trọng bằng nỗi sợ.
Gia đình tôi cũng hoang mang như bao gia đình khác. Bữa cơm chiều hôm đó vắng lặng lạ thường. Tôi không thấy các chú, các bác, và cả ông Sáu trở về. Có lẽ họ đã đi đâu đó, hoặc đã nghe được điều gì khẩn cấp hơn mà chúng tôi không biết. Chỉ có Dượng Tám mỗi sáng vẫn thường mở chiếc radio Sony nhỏ, nghe đài BBC rồi kể lại tình hình. Nhưng những mẩu tin rời rạc ấy cũng không đủ giúp chúng tôi hiểu rõ chuyện gì đang xảy ra, chỉ càng làm lòng người thêm rối bời.
Mẹ tôi đang bệnh nặng, không thể ăn uống gì. Tôi nhìn tô cháo bà để lại, lòng nghẹn lại. Không còn thời gian để nghĩ nhiều, tôi húp vội những muỗng cháo nguội để dằn bụng. Đó không phải là một bữa ăn, mà là sự chuẩn bị cho một cuộc chạy trốn không biết ngày về.
Bên ngoài, dòng người đã bắt đầu đổ ra Quốc lộ 1, hướng về phía Đà Nẵng. Tiếng gọi nhau í ới, tiếng bước chân vội vã, tiếng xe cộ lẫn trong sự hỗn loạn. Tôi biết mình phải đi, dù lòng còn nặng trĩu.
Mẹ tôi không đi nổi. Bà nhìn tôi, ánh mắt vừa lo lắng vừa đau đớn. Bà bảo tôi cứ theo hàng xóm mà đi, đừng chần chừ. Lời nói ấy như một nhát dao cắt vào tim. Tôi đứng đó, giữa giây phút chia ly, không biết phải nói gì hơn ngoài một lời từ biệt nghẹn ngào.
Tôi quay đi, hòa vào dòng người chạy loạn, mà phía sau là bóng mẹ tôi đang dần khuất. Trong khoảnh khắc ấy, tôi hiểu rằng mình đã bước sang một ngã rẽ khác của cuộc đời, nơi mà tuổi học trò khép lại, nhường chỗ cho những tháng ngày lưu lạc, và nỗi nhớ quê nhà, nhớ mẹ, sẽ theo tôi suốt cả cuộc đời.
Đêm 25 rạng ngày 26 tháng 3 năm 1975 là một ký ức không bao giờ phai mờ trong cuộc đời này, một ngày mà ranh giới giữa sống và chết mong manh như sợi chỉ. Khi đó, cuộc chiến đã lan rộng khắp miền Trung, và những vùng như Quảng Ngãi đã lần lượt rơi vào tay Việt Cộng trước khi Sài Gòn sụp đổ không lâu sau đó.
Đêm ấy, tôi cùng dòng người hoảng loạn tìm đường chạy giặc. Không còn ai nghĩ đến tài sản hay tương lai, chỉ còn một ý niệm duy nhất là phải sống. Tôi theo dòng người băng qua con dốc Bình Liên, thuộc quận Bình Sơn. Con dốc ngày thường vốn hiền hòa, nhưng hôm đó trở thành một địa ngục trần gian.
Tiếng pháo kích bất ngờ dội xuống. Những tiếng nổ chát chúa xé toạc không gian, đất đá tung lên mù mịt. Người ngã xuống từng loạt. Có người trúng đạn, có người bị mảnh pháo xé thân, có người chỉ vì quá hoảng loạn mà bị dẫm đạp trong dòng người tháo chạy. Tiếng khóc, tiếng la hét, tiếng gọi nhau trong tuyệt vọng hòa lẫn vào nhau, tạo thành một âm thanh kinh hoàng mà đến nay tôi vẫn còn nghe vang vọng trong tâm trí.
Tôi không còn nhớ mình đã chạy như thế nào, chỉ biết bản năng sinh tồn đã đẩy tôi lao xuống một bờ ruộng bên đường. Chính quyết định trong tích tắc ấy đã cứu mạng tôi. Nằm sát mặt đất, tim đập dồn dập, tôi nghe rõ từng tiếng nổ, từng bước chân dẫm đạp phía trên. Mùi khói, mùi đất, và cả mùi tử khí lan trong không khí khiến tôi rùng mình.
Khi cơn pháo kích tạm lắng, tôi mới dám ngẩng đầu lên. Trước mắt là một cảnh tượng không thể diễn tả hết bằng lời: người nằm la liệt, kẻ sống sót thì thất thần, ánh mắt vô hồn. Con đường chạy loạn giờ đây phủ đầy máu và nước mắt
Tôi tiếp tục hòa vào những người còn sống, lặng lẽ đi trong đêm tối, không còn sức để khóc hay nói. Sáng hôm sau, khi ánh bình minh le lói, tôi lần bước ra được thị trấn Châu Ổ, rồi từ đó tiếp tục hướng về Chu Lai. Đó là một hành trình đi bộ đầy gian nan, nhưng ít nhất, tôi biết mình vẫn còn sống.
Ngày 26 tháng 3 năm ấy không chỉ là một ngày chạy loạn. Đó là một vết hằn lịch sử trong đời tôi, một minh chứng cho sự tàn khốc của chiến tranh và sự mong manh của kiếp người. Tôi sống sót, nhưng ký ức ấy mãi mãi ở lại, như một lời nhắc nhở rằng cuộc sống hôm nay đã được trả giá bằng biết bao sinh mạng và nước mắt.
Niềm khát-vọng ngùn-ngụt vút lên cao, mải-miết tìm Trăng hiền-hoà khả-ái. Trăng vẫn còn gục ngủ trong thành đêm sừng-sững âm-u.
Những vệt sáng đèn pha vẫn lia-lịa quét không-trung, nào đã thấy muôn vì sao đang trốn lủi? Mắt lệ mờ nhìn những trái hoả-châu nối tiếp nhau mưa sáng rực cháy bốn phương trời, lòng rạo-rực, mơ Thanh-Bình, mãi tưởng chừng đây dạ-hội hoa-đăng.
Những tiếng phi-cơ ì-ầm sấm động, những chùm đại-bác bạt núi long trời, những tràng liên-thanh nổ tan ròn-rã, xé không-gian, khua giấc ngủ rừng khuya, dậy thôn xóm tiêu-điều, lòng rạo-rực, mơ Thanh-Bình, mãi tưởng chừng đây tưng-bừng dạ-khúc đón xuân sang.
Rồi khi thôn rừng ngừng im tiếng súng, khi hoả-châu tắt sáng, khi những đốm lửa đạn không còn vun-vút đuổi nhau như sao trời đổi hướng, đêm tối vẫn không lùi bước, thành đêm vẫn sừng-sững âm-u, quanh đâu đây nghe khắc-khoải lòng đêm đang thổn-thức, cây lá thở dài, dế khóc nỉ-non, sương đêm sụt-sịt, lòng rạo-rực, mơ Thanh-Bình, nghe thấm buồn như lời kể-lể của những người cô-phụ bi-thương:
Ðằng-đẵng bao năm trường chinh-chiến, tím chiều ngập phủ khắp quê hương. Bom đào ao, đạn cầy ruộng, ruộng xanh um cỏ dại, ao đầy ắp thịt xương.
Hận thù bão táp, mã-tấu tung bay, đau-đớn ngả-nghiêng, bao thôn tre quằn-quại trong rên xiết.
Việt-Nam ơi! thân mòn sức kiệt, mảnh hình-hài tan nát tả-tơi. Chúa ơi, Mẹ ơi! Người ở đâu, sao thành đêm vẫn âm-u sừng-sững? Tôi “thắp nến nguyện cầu, đâu dám rủa nguyền bóng tối” (*). Hồn tôi đây, trí tôi đây, hỡi gió ngàn lồng-lộng! Kéo bổng lên cho Người thấu nghe niềm khát-vọng, lòng rạo-rực, mơ Thanh-Bình, sao Trăng hiền vẫn gục ngủ trong thành đêm sừng-sững âm-u?
-II-
Ðêm âm-u, gió mát vi-vu, dù cho dịu-dàng mơn trớn thiết-tha, vẫn chẳng ru ngon giấc ngủ cô-đơn chập-chờn thao-thức. Tiếng chó tru ghê hồn không át nổi tiếng đại-bác rền vang.
Rồi một sáng xuân mờ sương xốn-xang, phố phường ngổn-ngang quân-trang binh-khí, liệng bỏ hết cho một nhà thuận-hoà, hoan-hỉ, cho chiến-trường dai-dẳng bặt tiếng im hơi. Giáo-đường khắp nơi không ngơi lời kinh tiếng hát: “Kinh Cầu Hoà-Bình” dập tắt chiến-chinh. Thành phố bỗng giật mình ngơ-ngác, thôn ấp chợt sửng-sốt bàng-hoàng. Lạ kìa! màu cờ sao ướt đẵm màu máu thắm loang?
Biển Ðông vẫy sóng trường-giang,
Biệt-ly nước mắt nặng mang ân-tình.
Nghẹn-ngào Mẹ đứng lặng thinh,
Nhìn con dặn với: “Nhớ tình cố-hương!”
Mẹ về chăm giữ đồng nương,
Cho vàng bông lúa ngát hương thôn làng.
Giờ thì mất cả nương đồng,
Thôi đành phó mặc, chẳng màng “vinh-quang”.
Ngày đêm nghe réo loa vang:
“Hoà-bình công-bố, xoá tan hận-thù.”
Hoà-bình lại ở chiến-khu,
Hận-thù mau gót lù-lù về đây.
Ô hay! Lành-lạnh heo may, ùn-ùn mây bay. Sao Trăng gầy đã vội đuổi ngay ngày xanh non-nớt. Mặt trời trốn mất, chẳng để lại chút nóng hâm nóng tình thương. Bóng đêm âm-u gian dối đồng-loã gạt lường. Trùng-dương lại lồng-lộn thét gào khóc thương tương-tàn cốt nhục:
Núi rừng địa ngục,
Tủi nhục xót-xa,
Thân người: xác vật thây ma,
Lìa con, lìa vợ, lìa cha, lìa chồng.
Mồ-hôi tưới ướt ruộng đồng,
Lúa vàng đâu thấy? Thấy hồng máu loang:
Chàng đi “học-tập” ngút ngàn,
Ở nhà thiếp chít khăn tang mãn đời.
Tấm thân trâu ngựa rã-rời:
“Anh-hùng lao-động”, thấu trời than van.
Giành nhau từng dái khoai lang,
Giành nhau chỗ đứng xếp hàng nối đuôi.
Con thuyền ngược sóng ra khơi,
Ruột se bụng thắt, sao tươi nụ cười?
Ôi, nụ cười nước mắt! Đắng cay chua-chát!
Ôi, cơ-đồ sụp nát, nhân-tình đảo-điên!
Biển Ðông đầy ắp oan-khiên,
Quặn đau vĩnh-biệt Mẹ hiền thân yêu.
Mẹ Việt-Nam truân-chuyên. Mẹ Việt-Nam u-uất. Mẹ nhắm nghiền đôi mắt. Mẹ lắng nghe trong bóng đêm hiền-hoà giả dối, tiếng đàn con nỉ-non da-diết niềm khát vọng tha-thiết vô biên. Khát vọng bình-yên. Khát vọng triền-miên. Sao trăng hiền vẫn biền-biệt cho đêm tối bao vây?
Các con Mẹ đâu rồi?
Mẹ mỏi-mắt trông vời.
Mẹ đứng đây, Mẹ giang tay thành-khẩn:
Hãy nhìn xem, nước Việt-Nam u-ẩn!
Hãy nhìn xem, đồng-bào Việt kiên-nhẫn đau thương!
Bao giờ hết đổ máu xương?
Bao giờ tiếng hát giáo-đường ngân-nga ?
Bao giờ nước Việt thái-hoà,
Tự-do công-chính, nhà nhà an vui?
(*) cách-ngôn Tây:”Thà thắp lên một ngọn nến, còn hơn ngồi nguyền rủa bóng tối”
Đất nước Việt Nam đang bị đảng cộng sản cai trị bằng bạo lực.
Bọn cộng sản Việt Nam chỉ là một bọn cướp, may mắn chiếm được nước Việt do các thế lực quốc tế tranh nhau trên bàn cờ thế giới. Chúng không phải là một chính quyền đúng nghĩa!
Chúng ta không biết thế giới có nước nào hiểu rõ bọn cộng sản đang lừa họ hay không?
Nhưng chúng ta biết rõ một điều: nước nào cũng vì lợi cho nước họ trước hết, không nước nào hy sinh cho dân Việt chúng ta. Vì vậy, vận mệnh nước Việt vẫn phải do người Việt hành động, nếu dân ta thực sự muốn cứu lấy dân tộc Việt Nam.
Bọn cầm quyền cộng sản ở Việt Nam chỉ muốn một điều: dân VN càng ngu càng dễ cho chúng nắm đầu. Chúng không hề có ý giúp cho dân giàu, nước mạnh.
Đối với chúng, cộng sản chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa, không có gì quan trọng cả. Chúng sẽ đi theo và áp dụng bất cứ thứ gì mà chúng có thể dựa vào để tồn tại, như cộng sản Nga, Tàu đã giúp chúng có cơ hội đó thì chúng theo ngay.
Nếu trong tương lai, Mỹ hay bất cứ nước Tây Âu nào cho chúng có cơ hội để tiếp tục việc chúng đang làm thì chúng sẽ gọi Mỹ và nước đó là ông Nội ngay.
Và sau đó chúng sẽ tuyên truyền là “quốc gia” hơn những người quốc gia hiện tại nữa.
Chắc Quý Vị thừa biết hiện nay ở Mỹ và có thể ở bất cứ nước nào trên thế giới, con cháu bọn cướp này mở tiệm buôn bán, chợ búa, thậm chí lập Chùa, hay lập Nhà Thờ…. đều sẵn sàng treo cờ Vàng Ba Sọc Đỏ nơi trang trọng nhất, để câu khách, để chúng có cớ rửa tiền…
Cho rằng chúng là phe cờ đỏ, cờ hồng thì vô tình chấp nhận chính danh của bọn cướp này.
Những bài viết gợi ý, cầu xin, đề nghị hay lên mặt dạy dỗ cho chúng khôn khéo hơn về chính trị và kinh tế, chính là giúp chúng học thêm nhiều bài học để ngày càng tinh vi trong việc cướp sạch đất nước VN nhiều hơn và nhanh hơn.
Xin quý vị thức giả, quý vị còn có lòng tranh đấu cho một nước Việt Nam được Tự Do, Dân Chủ thì hãy hướng trọng tâm vào việc làm sao xóa bỏ bọn cướp ấy.
Việc đó hiện giờ phải nói là rất khó, vì sau lưng bọn cướp này còn có bọn cướp mạnh gấp bội là bọn Nga, Tàu, mà không chừng còn có các nước tư bản giàu có lợi dụng vào sự tồn tại của bọn cướp này
Vì vậy, nếu dân tộc VN chúng ta chưa có cơ hội xóa bỏ bọn chúng thì xin đừng bày thêm nhiều điều tinh khôn để biến thành mưu ma chước quỷ của chúng. Đừng hy vọng chúng sẽ giúp dân VN giàu mạnh, thông minh hơn hay hy vọng chúng sẽ xỏa bỏ lằn ranh gì đó là sai vì chúng đâu có lằn ranh nào để xóa.
Van xin bọn cướp đang ở trong nhà chúng ta, hãy nới lỏng cho chúng ta vươn lên sống bằng nhà của xóm khác… chưa bị cướp là một ý tưởng hão huyền.
Vấn đề là dân Việt Nam đã tỉnh ngộ chưa, đã quyết một lòng để xóa bỏ bọn cướp này hay chưa?
Và Quý Vị, những tinh anh của tộc Việt, xin làm thế nào để giúp dân Việt Nam cùng một lòng tiến tới để xóa sạch bọn chúng?
Bảo Trâm
· Sẵn Sàng Quên?
Chỉ còn vài ngày nữa
“Năm Mốt năm” sẽ sang
Chúng ta luôn chuẩn bị
Chúng tôi cũng sẵn sàng.
Sẵn sàng để chiến đấu
Với bọn quỷ tràn lan
Với thói hư tật xấu
Với những kẻ tham tàn.
Không thể sống yên thân
Không thể quên quá khứ
Khi Cộng ác, vô thần
Đày đọa dân Tộc Việt.
Chúng ta phải tự biết
Nếu quyết sống vô tư
Không màng chi thế sự
Tương lai nào an cư?
Bảo Trâm
Ách Ác Cộng
Do đâu đến nỗi thế này đây,
Dân tộc Việt Nam khổ mỗi ngày.
Bọn cướp may thời tràn khắp chốn,
Quân gian được thế ló ra đầy.
Toàn dân đau đớn đời nô lệ,
Cả nước chông chênh kiếp dạc dày.
Còn giữ hỡi ai lòng hận giặc,
Xin vì chính nghĩa, hãy ra tay.
Bảo Trâm
==
THƠ DONRY NGUYỄN
MÁI TÓC NGƯỜI NỮ TÙ
Chuyện bắt đầu đã hơn bốn mươi năm, Thuở nhà tù mọc đầy trên cả nước. Một buổi chiều trong sân sau nhà bếp, Tôi cùng bạn uống trà nhìn nắng hắt qua sông.
Bên kia rào lạnh lẽo bóng chòi canh, Tay lính gác gườm gườm lia họng súng. Đoàn tù nữ trên đường ra bến tắm, Sau một ngày dài khổ nhọc kiếp tù sai.
Một nữ tù mái tóc xõa bờ vai, Tia nắng chiếu chảy dài trên tóc rối. Những sợi tóc bay trong chiều nắng vợi, Dưới tháp canh tù hút lấy cả hồn tôi.
Nhìn tóc em tôi cảm thấy bồi hồi, Sao giữa cảnh ngục tù có nàng tiên xinh thế. Nét tương phản giữa màu đen đáng sợ Với tóc em dài mang vẻ đẹp hồn nhiên.
Tuổi của em phải khoác áo sinh viên, Ôm sách vở vào giảng đường đại học. Sao đến nỗi?…tôi thấy mình cay mắt, Trên đất nước này em đã mất quê hương!
Tìm tự do em phải đổi gông xiềng, Thân giam hãm giữa ngục tù gian khổ. Gạo thăm nuôi gặm mòn đôi dép mẹ, Đường trở về thành phố quá xa xăm.
Người yêu em mang bản án tử hình, Khi vượt ngục cùng bạn tù cướp súng. Hôm áp giải ra pháp trường xử bắn, Em gục đầu giấu giọt lệ đang lăn.
Đất nước buồn sau một chín bảy lăm, Cả miền nam biến thành nhà lao lớn. Người lính cũ, kẻ tìm phương vượt biển, Đều bị giam chung trong một trại tù.
Em bị bắt khi nào, ở đã bao lâu? Nội quy cấm không dễ gì trao đổi. Dưới chòi canh gió chiều xơ xác thổi, Nắng úa vàng lên mái tóc em xanh.
o0o
Bao đổi dời sau hơn bốn mươi năm, Rồi một buổi tình cờ nơi đất khách. Lần giáp tết cựu tù nhân họp mặt, Những bạn tù gặp lại ấm vòng tay.
Giới thiệu mình: “em Thuận tóc dài” đây, Tôi mới nhận ra em, vì rất khác. Nay tóc ngắn lại thêm nhiều sợi bạc, Nhắc chuyện xưa hiu hắt nụ cười buồn.
Nửa cuộc đời lưu lạc kiếp tha phương, Tôi vẫn nhớ cảnh chòi canh thuở nọ. Tóc em dài rợp trời bay trong gió, Nuôi khát khao vươn đến một chân trời.
Những nhà tù dù vây bủa khắp nơi, Không ngăn được bước chân người quyết chí, Tôi mừng em tự do trên đất Mỹ, Sống làm người đúng nghĩa giấc mơ xưa.
-Donry Nguyễn.
==
VẾT THƯƠNG CÒN MƯNG MỦ
Có một ngày muốn quên, mà vẫn nhớ … Như kim châm, như muối xát vào lòng Ngày nối liền Nam-Bắc một hình cong, Nhưng nửa nước, đau buồn cơn quốc biến!
Người lính vốn, không gây ra cuộc chiến Chế độ nào, bổn phận phải tuân theo Mực chưa khô màu hiệp định Giơ-neo… Vượt giới tuyến đưa quân vào bắn phá.
Người dân Nam phải đứng lên bảo vệ Vì tự do chống chủ nghĩa độc tài Đã bần cùng còn giải phóng cho ai? Lời ma mị tuyên truyền chuyên dối gạt.
Miền Nam thua vì đã không tàn ác Không nhẫn tâm khát máu với đồng bào. Hai mươi năm sức lực đã tiêu hao Bên nào chết cũng đau lòng mẹ Việt!
Ngày thống nhất, tưởng tang thương chấm hết Nào hay đâu kẻ thắng quá đê hèn Trút thù hằn vào phận lính nhỏ nhen Đày ải họ chốn rừng thiêng nước độc.
Tước nhà cửa, bắt vợ con nheo nhóc, Lùa lên vùng kinh tế mới khai hoang Lịch sử xưa nay, bạo chúa hung tàn … Chưa ai ác bằng vô thần cộng sản.
Nửa thế kỷ, hết bom rền lửa đạn Sao mối hờn vết sẹo chẳng liền da Người anh em cùng một mẹ sinh ra Vẫn ngoan cố chia lìa tình cốt nhục!
Nền độc lập đâu ngọn cờ dân tộc Oai linh không hoá giải nỗi hiềm thù Để đoàn người lưu lạc khắp năm châu, Về mang những tài hoa xây cố quốc.
Năm mươi năm, lòng dân còn chia cắt, Xã hội còn đầy dẫy cảnh bất công … Tiếng oán hờn rên siết khắp non sông, Ngày tưởng niệm vết thương còn mưng mủ!
-Donry Nguyễn.
VIẾT TRONG NGÀY TANG CHẾ.
Từ máu lệ âm vang mùa quốc biến, Cả non sông quằn quại dưới chân thù. Lệnh sai lầm khi rút bỏ quân khu, Quân triệt thoái kinh thành trao tay giặc.
Hai mươi năm từng kiên gan giữ đất, Phút sa cơ hối tiếc quá muộn màng. Bao hùng binh buộc xếp giáp quy hàng, Buông khí giới mím môi hờn phẫn uất.
Người chiến đấu phút cuối cùng tự sát, Người lao mình ra chiến hạm khơi xa. Lửa ngập trời lấp ló bóng yêu ma, Nghe việt cộng vào Sài Gòn thảy đều kinh hãi.
Năm mươi mốt năm trang sử buồn lật lại, Khóc non sông phủ trắng một màu tang. Nguyện oan hồn bao nhiêu triệu dân Nam, Nguyện hương linh những anh hùng tử sĩ.
Dưới mồ sâu được nguôi lòng yên nghỉ, Và linh hồn bay đến cõi trời xa. Thời tối tăm rồi cũng sẽ trôi qua, Loài bạo ngược sẽ đến giờ đền tội.
Người lưu lạc từ năm châu bốn bể, Sẽ quay về xây dựng lại quê hương. Biến Việt Nam thành đất nước thịnh cường, Trong sắc áo màu cờ Tự Do-Dân Chủ.
-Donry Nguyễn- (30-4-2026)
==
THƠ HOÀNG THỤC UYÊN
=
BIỂN ĐỘNG VƯỢT SÓNG TRÊN ĐẠI DƯƠNG
Biển Đông giông tố sóng bạc đầu Mưa bão bất ngờ đổ xuống mau Mây đen trời tối biển mờ lối Gió rít từng cơn mưa đổ mau
Vượt biển trùng dương, sóng dâng trào Thuyền như lá úa vượt biển sâu Dào dạt sóng xô thuyền ngàn hướng Bềnh bồng, thuyền dạt khắp muôn phương
Biển động vượt sóng trên đại dương Ào ạt mưa rơi nhòa trùng dương Bềnh bồng thuyền trôi theo ngàn hướng Gió lộng biển động thuyền mờ sương
Tháng 4, mang nặng một nỗi niềm Chinh chiến ba miền nát quê hương Nhìn về quê mẹ, thương sầu nhớ Ngày ấy ra đi, ngàn vấn vương
Chiến tranh tan nát bởi vì đâu ? Ba miền đất nước ngập sóng sầu ! Quê hương điêu linh trong khói lửa Dân lành nghèo đói sống khổ đau .
Ai gây chính chiến nát quê hương ? Ai gây thù oán cảnh đoạn trường ? Chiến tranh không cùng ý thức hệ Tuổi xanh ba miền ngập sầu thương
Người ở người đi thật đau lòng Thương nhà nhớ nước, khóc non sông Người bỏ quê hương, người tù tội. Người tìm tư do, chết biển đông !
Gió lộng biển động sóng hợp tan Thuyền trôi vượt sóng lướt gió ngàn Thuyền xuôi vững lái tìm bến đậu. Bến đục bến trong thuyền về đâu ?
Biển rộng mênh mông sóng ngập trời Dù trong biển động thuyền ngược xuôi Vững Tâm thuận lái theo chiều gió Gió lặng sóng tan, thuyền thảnh thơi ...
Hoàng Thục Uyên Tháng 4 Đen, 1975--2026
==
CA KHÚC THÀ NHƯ – THƠ MẶC KHÁCH – NHẠC VĨNH ĐIỆN- TIẾNG HÁT HÀ THANH
==
THƠ CỦA THI SĨ TRẦN QUỐC BẢO & NHỮNG BÀI HÁT NÓI CỦA NGHỆ SĨ ĐỨC HÙNG
(*)Trong chiến cuộc Việt Nam, có 58,281 chiến binh Hoa Kỳ đã hy sinh, chết và mất tích, trước ngày 30 Tháng 4,1975.
Toàn thể, được ghi tên, trên Bức Tường Đá Đen, tai Thủ Đô Hoa Kỳ.
KÍNH MỜI QUÝ ĐỘC GIẢ THƯỞNG THỨC THỂ HÁT NÓIRẤT ĐỘC ĐÁO CỦA NGHỆ SĨĐỨC HÙNGSydney, Úc Châu, ĐÁP LỄ BÀI “BỨC TƯỜNG ĐÁ ĐEN” CỦA NHÀ THƠ KỲ CỰU TRẦN QUỐC BẢO
HÁT NÓI BÀI 658
Ứng Đáp Nhanh Chóng!| (Bài Hát Nói cảm ơn và đáp lễ hồi âm của Đại Lão Thi Nhân Trần Quốc Bảo. Tựa đề bài Hát Nói này trích từ hồi âm của ĐLTN/TQB.)
Ứng đáp nhanh chóng! Hồi âm như đang lướt sóng, chèo thuyền!
Dù tuổi đời nay đã “rất cao niên” Vẫn phong độ, sáng suốt, thung dung như “Ông Tiên” tại thế!
Ứng ngay! Lập tức! Ngày đang xế! Đáp lại! Mau lên! Tháng đã qua! Tốc độ cao gây ra sức mạnh “dời non, lấp biển”! Như cơn phong ba!
Lòng người hoan hỉ, hài hòa! Giải quyết, thông qua, vui vẻ!
Nhân loại đã tiến bộ vượt bậc! Máy móc tối tân chia sẻ! Xa xôi mà gần gũi! Trao đổi mọi hay đẹp! Và sức khỏe, thơ, nhạc, gia đình . . . ! Cảm ơn Đại Lão Tiên Sinh! Đức Hùng Sydney, Úc Châu, 28/04/2026
Xin ghi nhận và cảm tạ sự đồng cảm, giữa bài “Bức Tường Đá Đen” và bài “Hát Nói 657” dành cho Ngày Quốc Hận 30/4. – Rất phục tài ứng đáp nhanh chóng và tuyệt vời của anh.
TQB
On Monday, April 27, 2026 at 02:27:43 AM EDT, Duc Hung Bui <duchungbui@bigpond.com> wrote:
Xin chân thành cảm ơn bài thơ tuyệt tác “Bức Tường Đá Đen” của Đại Lão Thi Nhân Trần Quốc Bảo.
Xin đáp lễ.
HÁT NÓIBÀI 657– ĐỨC HÙNG –
“Từng Giọt Máu Chiến Trường Vô Giá! Sao Tháng Tư Đen?” (Bài Hát Nói cảm ơn và đáp lễ Đại Lão Thi Nhân Trần Quốc Bảo (ĐLTN/TQB) đã chuyển đến bài thơ tuyệt bút nhân Mùa Quốc Hận Tháng Tư Đen 30/04/1975 – 30/04/2026. Tựa đề bài Hát Nói này trích từ bài thơ đó của ĐLTN/TQB. Kính mời Quý Thi Hữu họa lại bài Hát Nói này.) Từng tấc đất nhuộm máu! Cổ Thành Quảng Trị! Giọt sầu tuôn cuồn cuộn! Bản Mê Thuột ra đi! Thế trận tràn mây cuốn! Phòng bị được những gì? Máu Tân Cảnh, Quảng Đức! Lê Đức Đạt gan lì! Huế quặn mình đau nhức! Vùng Hai đã lâm nguy! Chiến đấu có ai bì? Vận Nước thịnh hay suy? Tuyến Phan Rang gắng gượng!
Trường đồ! Mã lực phi khoan nhượng! Vô ích! Nhân tâm bỗng thoái lui! Giá Súng nay trống rỗng! Kho Đạn cũng ngậm ngùi! Cạn dần! Đành để trống! Tiến chẳng được! Phải lùi! Sao anh hùng, thanh khiết! Cùng chia ngọt, sẻ bùi! Nguyễn Khoa Namtuẫn tiết!
Tháng này, Trần Văn Hai! Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ! Phạm Văn Phúhỏi hoài! Lê Văn Hưngđà biết! Tư duy Trang Sử Việt! Thắng bại bốn ngàn năm! Trụ chiết, Giao Chỉ diệt! Ngùn ngụt Khí Hờn Căm! Đen rồi! Sẽ trắng! Bao năm? Đức Hùng Sydney, Úc Châu, 27/04/2026 11 Tháng Ba (Đủ) Âm Lịch Năm Bính Ngọ, Ngày Tân Mùi : Hành Thổ, Trực Bình, Sao Trương. Cát Thần : Đại Minh, Chúa Là, Hoạt Diệu.
BÀI 659
Nhớ Đôi Bạn Hiền Dương Khuê-Nguyễn Khuyến! (Bài Hát Nói cảm ơn và đáp lễ hồi âm ân cần, tình cảm của Đại Lão Thi Nhân Trần Quốc Bảo, trong đó có viết hai chữ “Bạn Hiền”!) Thật là một đôi bạn hiếm có! Cùng Khoa Bảng Xuất Thân! Cùng là các Danh Sĩ! Cùng tỏ rõ thi tài! Tình bạn có một không hai! Hiểu nhau! Đa văn, bác học! Thơ, Văn, Hát Nói miệt mài! “Viết cho ai, ai biết mà đưa? Rượu ngon không có Bạn Hiền!” Khóc bạn! U hoài! Sương nước mắt!
Bạn hữu chân thành thường vắng ngắt! Hiền nhân thật sự vẫn lưa thưa! Nhiều khi Bạn Vong Niên mà hợp nhau ở mức thượng thừa! Như Hoàng Dược Sư với Dương Qua! Tuổi là Cha, Con! Gặp nhau chưa say chưa tâm sự!
Xin cảm ơn Đại Lão Thi Nhân Trần Quốc Bảo! Tấm thịnh tình! Nhiều tư lự! Kính chúc Cụ luôn mạnh khỏe, an khang, hạnh phúc! Vui văn tự! Sính thơ, ca! Yêu Dân, quý Nước, thương Nhà! Đức Hùng Sydney, Úc Châu, 28/04/2026
==
THƯ PHÁP QUANG HÀ
Thư pháp trên: Thơ Ngữ An (Tháng 3 bỏ Huế)
*
TRĂNG TÀ MỘ HOANG – QUANG HÀ
Một đời vì nước quên mình
Xương tan / thịt nát. Mộ phần có / không
Vật vờ lau lách ven sông
Sáng se gió thổi chiều lồng sương tuôn
Phải trong nắm bụi bên cồn
Có người tử sĩ gởi hồn cỏ hoa
*
Chiến tranh rồi cũng đi qua
Còn kia là ánh trăng tà mộ hoang
Hồn nương theo bóng mây vàng
Vô danh nào có mấy hàng chữ bia?!
Quang Hà
==
KÍNH MỜI QUÝ ĐỘC GIẢ GHÉ VÀO THƯỞNG THỨC TRANG NHÀ THÂN HỮU “LONG HỒ VĨNH LONG” với rất nhiều văn thơ nhạc họa… do “Cô Gái Việt” Kim Oanh quản lý:
Chú thích: “dich Thu:”:Cách mạng tháng tám” năm 1945 của lũ cướp cộng sản “Cải Cách”:Cải cách ruộng đất” của Công sản Bắc Việt, từ 1953 đến 1956 , giết hàng chục ngàn nông dân ở miền Bắc “Nhăn Văn”: Cộng sản bày ra vụ “Nhân Văn Giai Phẩm” từ 1955-1959, để giết và giam tù, bó đói hằng trăm Văn Nghệ sĩ ở Miến Bắc.
BẢO TRÂM – Tưởng Niệm Charlie Kirk
Tưởng niệm Charlie Kirk
Trong một thế giới đầy chia rẽ, ông Charlie Kirk đã chọn con đường đối thoại. Ông không né tránh bất đồng, mà dang tay mời gọi tranh luận ôn hòa. Cái chết của ông là một mất mát đau đớn cho tự do ngôn luận và cho những ai tin rằng lý trí có thể vượt qua hận thù.
Nhưng chúng ta, những người ủng hộ ông, sẽ không để ngọn lửa ấy tắt. Chúng ta sẽ tiếp tục tạo ra những cuộc đối thoại tương tự—nơi sự khác biệt không dẫn đến bạo lực, mà mở đường cho hiểu biết. Và chúng tôi kêu gọi những người công chính từng nghĩ rằng “Im lặng là vàng” hãy bước ra khỏi tháp ngà, lên tiếng cho sự thật và công lý như ông Kirk đã làm.
Chúng ta hãy đoàn kết trong bất đồng quan điểm. Hãy xem đó là sự khác biệt để chấp nhận và học hỏi lẫn nhau.
Xin kính cẩn tiễn biệt một người đã dám nói, dám lắng nghe, và dám hy vọng.
***
Cũng nhân đây, chúng tôi xin gửi vài lời đến những người vì bất đồng quan điểm mà muốn giết đối thủ để bịt miệng:
Trước hết, chúng tôi xác nhận rằng chúng tôi không căm thù quý vị. Chúng tôi không tìm cách giết quý vị. Nhưng về mặt pháp luật, quý vị sẽ phải trả giá. Đó là luật nhân quả của Thiên nhiên và là trật tự của xã hội loài người.
Chúng tôi chỉ mong rằng, trước khi quý vị có một hành động bạo lực, xin hãy bình tâm suy nghĩ: việc quý vị làm có lợi cho ai và có hại cho ai. Nếu việc ấy gây hại cho người khác, xin quý vị đừng làm.
Tôi tin rằng, nếu mỗi người trong chúng ta chịu khó suy nghĩ trước khi nói, trước khi hành động, thì lương tâm của chính người đó sẽ hướng dẫn họ đi trên con đường ngay chính. Và tôi tin chắc rằng quý vị sẽ kịp thời dừng tay trước khi gây ra điều xấu.
Mong thay.
Trân trọng cảm ơn tất cả.
Bài viết của Bảo Trâm và AI TrâmTâm
In memory of Charlie Kirk, I offer this heartfelt reflection from a Vietnamese-American perspective. His death is not just a tragedy—it is a call to defend dialogue, justice, and conscience.
Written with deep respect and sorrow, Bảo Trâm and AI TrâmTâm
In Memory of Charlie Kirk
In a world torn by division, Charlie Kirk chose the path of dialogue. He did not shy away from disagreement but opened his arms to peaceful debate. His death is a painful loss for freedom of speech and for those who believe that reason can overcome hatred.
Yet we, his supporters, will not let that flame die. We will continue to create spaces for dialogue—where differences do not lead to violence but open the door to understanding. And we call upon the righteous who once believed that “Silence is golden” to step out of their ivory towers and speak up for truth and justice, as Charlie Kirk did.
Let us unite through disagreement. Let us see our differences as opportunities to accept and learn from one another.
Farewell to a man who dared to speak, dared to listen, and dared to hope.
And to those who seek to silence opponents through violence:
First, we affirm that we do not hate you. We do not seek to kill you. But under the law, you will be held accountable. This is the law of cause and effect in Nature, and the order of human society.
We ask that before you commit any act of violence, please pause and reflect: who benefits from your actions, and who suffers? If your actions harm others, we ask you not to proceed.
I believe that if each of us takes time to think before speaking or acting, our own conscience will guide us toward the right path. And I truly believe you will stop yourself in time before doing harm.