TRUYỆN HAY THÁI LAN SƯU TẦM – Không Rõ Tên Tác Giả
Giữ lại phẩm giá cho người khác bằng cách nào?
————————
Tôi nói dối ông chủ tôi mỗi ngày.
Tôi năm nay 72 tuổi. Tôi là một chức sắc trong nhà thờ, đóng thuế đàng hoàng, chưa bao giờ bị phạt nguội lần nào. Nhưng suốt chín năm nay, tôi đang thực hiện một kiểu “lừa đảo” ngay dưới mũi của ban quản lý tiệm đồ cũ “Cơ Hội Thứ Hai” này.
Nếu họ biết được, họ sẽ đuổi việc tôi ngay lập tức, chẳng kịp cho tôi cởi cái tạp dề ra. Nhưng tôi kệ. Bởi vì trong một xã hội cứ thích tước đoạt đi lòng tự trọng của người khác, tôi đã tìm ra cách để trả lại nó cho họ.
Công việc của tôi đơn giản lắm: phân loại đồ quyên góp. Tôi dán nhãn giá cho quần jeans, mấy cái áo khoác mùa đông nặng trịch, mấy đôi giày bảo hộ còn dùng tốt. Hầu hết khách hàng chẳng thèm nhìn tôi. Đối với họ, tôi chỉ là một phần của cảnh vật: một ông già lụ khụ, mắt đeo kính, tay bị đau khớp, cứ cắm cúi định giá mấy món đồ có mùi băng phiến và mùi ký ức của người lạ.
Nhưng cái việc vô hình này lại có cái lợi của nó. Nó cho phép tôi nhìn thấy hết mọi thứ.
Tôi thấy mấy bà mẹ đơn thân cứ so đi so lại giá đôi giày đi học của con với tiền mua thức ăn. Tôi thấy mấy chú cựu chiến binh cứ nhìn chằm chằm vào bộ vest họ cần để đi phỏng vấn, nhìn vào cái ví tiền rồi lặng lẽ quay lưng đi.
Và tôi nhớ nhất là thằng bé đó.
Lúc đó là giữa tháng Mười Một, ở cái thị trấn rỉ sét, lạnh lẽo của chúng tôi. Gió lùa qua phố sắc như dao cắt. Thằng bé bước vào với cái áo nỉ mỏng dính, đến nỗi nhìn rõ cái áo thun bên trong. Nó chắc chưa tới mười bốn tuổi. Gầy gò, run cầm cập, với cái nhìn vô hồn mà những đứa trẻ hay mang khi chúng bị xã hội bỏ rơi quá nhiều lần.
Nó đi thẳng đến khu áo khoác. Nó tìm thấy một chiếc áo parka xanh hải quân, rất ấm, hàng hiệu, gần như mới. Giá là 25 đô la. Nghe thì bèo, nhưng đối với nó là cả một gia tài.
Tôi lén nhìn. Nó chạm vào ống tay áo, như muốn cảm nhận hơi ấm mà chiếc áo hứa hẹn. Nó nhìn cái nhãn giá. Vai nó xụ xuống khoảng chục phân. Nó không rên rỉ, không than thở. Nó chỉ cẩn thận treo chiếc áo lên lại và đi thẳng ra cửa.
Tim tôi đập thình thịch. Tôi không thể đơn giản là cho không nó. Tôi học được rằng, việc bố thí có thể mang lại vị đắng cho những người đang cố gắng sống sót. Nếu bạn đưa tiền bố thí, họ cảm thấy mình nhỏ bé. Họ cảm thấy mình như một trường hợp cần giúp đỡ xã hội.
Thế là tôi cầm chiếc áo, đi ra quầy tính tiền để chặn nó lại.
“Ê, nhóc,” tôi gọi.
Nó đứng khựng lại, sẵn sàng chạy trốn. “Con không có ăn cắp gì hết!”
“Tao biết,” tôi càu nhàu, đóng vai ông già khó tính. “Nhưng tao đang có rắc rối. Cái áo này hả? Nó bị lỗi. Cái khóa kéo dưới cùng nó bị kẹt. Mà theo quy định của cửa hàng, đồ bị lỗi thì không thể bán quá ba đô la. Mày có ba đô la không?”
Nó nhìn tôi, bối rối. “Nhãn ghi hai mươi lăm mà.”
“Nhãn ghi sai đấy,” tôi nói dối, giật phắt cái nhãn đi. “Tao là người quản lý kho. Tao nói nó ba đô la. Mày lấy không hay để tao quăng nó đi?”
Nó do dự, dò xét gương mặt tôi xem có bẫy gì không. Rồi nó lục túi, lôi ra ba tờ tiền nhăn nhúm.
“Dạ, có,” nó thì thầm. “Con lấy.”
Nó mặc chiếc áo vào ngay lập tức. Kéo khóa lên tận cổ — khóa vẫn hoạt động trơn tru, dĩ nhiên rồi — và nó thẳng lưng lên. Nó không còn trông như một thằng bé co ro vì lạnh nữa. Nó trông như một thanh niên vừa mới làm một phi vụ hời. Nó trông có vẻ được che chở.
“Cảm ơn ông,” nó nói.
“Quy định cửa hàng thôi,” tôi lầm bầm, quay lưng đi để nó không thấy mắt tôi hơi ướt.
Mọi chuyện bắt đầu từ đó.
Nhiều năm qua, cái “quy định cửa hàng” đó đã trở thành vũ khí bí mật của tôi.
Khi bà Miller, một góa phụ sống bằng đồng lương hưu ít ỏi, cần một cái máy nướng bánh mì mới nhưng chỉ có 5 đô la trong túi, thì cái máy 20 đô la bỗng nhiên bị dán nhãn là “dây điện bị hở”.
Khi một ông bố trẻ cần đôi giày bảo hộ để bắt đầu công việc xây dựng đầu tiên, tôi tự động “giảm giá đặc biệt sáng thứ Ba”.
Tôi tự nhớ trong đầu. Tôi tự bỏ tiền túi bù vào nếu tiền mặt bị hụt, hoặc tôi khai báo những món đồ đó là “không bán được/đã tiêu hủy” trong hệ thống. Tôi sợ bị bắt lắm chứ.
Thế rồi một buổi chiều, một người phụ nữ đeo khăn choàng cashmere đã bắt quả tang tôi. Cô ta thấy tôi bán một chiếc xe đẩy em bé gần như mới cho một cô gái trẻ đang sợ hãi với giá 10 đô la.
Khi cô gái đi khỏi, người phụ nữ đó bước đến. Tôi chuẩn bị tinh thần bị mắng té tát hoặc bị dọa gọi quản lý.
Thế nhưng, cô ta lại đặt một tờ 100 đô la gấp gọn lên quầy.
“Cho mấy cái… sai sót kiểm kê của ông,” cô ta nháy mắt.
Và chuyện này bắt đầu lan ra. Một cách kín đáo. Những khách quen bắt đầu hiểu. Họ không bao giờ nói một lời. Họ mua một món đồ lặt vặt giá 5 đô la, đưa tôi tờ hai mươi, rồi nói: “Giữ lại tiền thối cho lần sau… hệ thống gặp trục trặc nhé.”
Chúng tôi đã xây dựng nên một nền kinh tế bí mật chỉ dựa trên phẩm giá. Chúng tôi không bố thí; chúng tôi đang cân bằng lại cơ hội.
Thứ Ba tuần trước, tiếng chuông trên cửa kêu leng keng.
Một người đàn ông bước vào. Cao lớn, vai rộng, mặc bộ đồng phục nhân viên cấp cứu chỉnh tề. Anh ta đi đứng tự tin, nhưng không phải để mua sắm.
Anh đi thẳng đến quầy của tôi.
“Ông là Arthur,” anh ta khẳng định.
Tôi chỉnh lại kính. “Đúng là tôi.”
Anh ta cười, và đột nhiên, tôi thấy lại hình ảnh cậu bé mười bốn tuổi gầy gò trong chiếc áo nỉ xám mỏng manh ngày nào.
“Ông bán cho tôi cái áo parka xanh hải quân cách đây mười năm,” anh ta nói. “Ông bảo cái khóa kéo nó bị hỏng.”
Tôi cảm thấy má mình nóng ran. “Tôi xử lý nhiều áo khoác lắm, cậu bé.”
“Khóa kéo không hề hỏng đâu, Arthur.” Anh ta cúi xuống, giọng nghẹn lại vì xúc động. “Tôi biết ông nói dối. Ngay cả lúc đó tôi cũng biết. Nhưng ông đã không bắt tôi phải đi xin xỏ. Ông để tôi được mua nó. Ông để tôi là một khách hàng, chứ không phải một kẻ ăn xin. Tôi bước ra khỏi đây với cảm giác như một người đàn ông.”
Anh ta rút ra một phong bì từ túi áo.
“Giờ tôi là nhân viên cấp cứu. Tôi cứu người. Nhưng tôi không nghĩ tôi đã sống sót qua mùa đông năm đó nếu không có chiếc áo khoác đó. Hoặc nếu không biết rằng có người thực sự quan tâm đến mình.”
Anh ta đặt phong bì lên quầy.
“Trong đây có 500 đô la,” anh ta nói. “Ông dùng nó đi. Tôi biết cái ‘quy định cửa hàng’ của ông tốn kém lắm.”
Tôi run rẩy cố gắng trả lại. “Tôi không thể…”
“Cái này không phải cho ông,” anh ta nói dứt khoát. “Nó dành cho đứa trẻ run rẩy tiếp theo bước vào đây. Hãy đảm bảo rằng khóa kéo của nó cũng bị hỏng, nhé.”
Rồi anh ta quay lưng bước đi, đầu ngẩng cao, hòa vào ánh nắng mùa thu.
Tôi đã 72 tuổi. Lưng tôi đau, chân tôi sưng vù sau một ngày dài. Nhưng tôi có công việc tuyệt vời nhất trên đời.
Chúng ta đang sống trong một đất nước nói rằng giá trị của bạn phụ thuộc vào số tiền trong tài khoản. Người ta bảo nhau phải tự lực cánh sinh, ngay cả khi họ không có gì.
Nhưng tôi đã học được một điều trong cái cửa hàng bụi bặm cũ kỹ này: Phẩm giá quan trọng hơn việc bố thí.
Đôi khi, giúp đỡ một người không chỉ là cho họ thứ họ cần. Mà là cách bạn trao nó cho họ.
Nếu bạn có thể giúp đỡ ai đó mà vẫn giữ được lòng tự trọng của họ — nếu bạn có thể giúp họ mà không làm họ cảm thấy nhỏ bé — bạn không chỉ nuôi dưỡng thân thể họ, bạn còn đang cứu rỗi cả tâm hồn họ nữa.
Vì vậy, tôi sẽ tiếp tục nói dối. Tôi sẽ tiếp tục lách luật. Tôi sẽ tiếp tục bịa ra những quy định không hề tồn tại.
Bởi vì cái mác giá chẳng có ý nghĩa gì. Điều quan trọng là người mặc nó.
(Không rõ Tác Giả)
BÀI SƯU TẦM – Có Tiếng Chim Ca: Trần Thị Diệu Tâm
Có tiếng chim ca Trần Thị Diệu Tâm
Tháng Bảy /2022
Posted by GLN Sau khi Anh ấy mất đi, Chị lo dọn dẹp lại tất cả những vật dụng đồ dùng của chồng, xem thứ nào để lại thứ nào bỏ đi. Trước đây, không bao giờ chị dám sờ tay động chạm vào những thứ đồ vật ấy, Anh nói ” Đừng xáo trộn thứ tự của anh”.
Chị biết, chồng mình là một người sống nghiêm túc, cẩn thận, đôi lúc trầm mặc và lạnh lùng. Chị yêu quý Anh đến mức làm cho các bà bạn phải ghen tức vì lòng tuyệt đối ấy. Họ ghen tức vì thấy Chị có một người chồng tốt và gương mẫu đến vậy. Giờ đây, sau khi chết, thể xác hình hài của Anh trở thành tro bụi phể thải và vất bỏ, dù có linh hồn hay không có. Chị ngậm ngùi, tuy nhiên chỉ riêng một thứ không bao giờ phế thải vất bỏ, đó là lòng yêu kính ngưỡng mộ của Chị với Anh. Chị cho rằng chính Anh là nguồn sống làm cho đời Chị trở nên có giá trị hơn, tình thần và vật chất. Khi động chạm vào những kỷ vật của chồng, Chị tưởng như anh đang sống lại . Chiếc iphone của Anh, chiếc máy vi tính cũng còn đó, dù chúng đã bị xóa hết tất cả dữ liệu bên trong. Có lúc Chị muốn nhờ con tái tạo những dòng điện thư giữa chồng và bạn hữu để cảm giác cha vẫn còn sống với mẹ. Nhưng đứa con gạt đi, chết là hết rồi.
Chết là hết, như câu nói của người bạn trai cũ, thỉnh thoảng gọi thăm sức khỏe chị, sợ Chị cứ sống mãi với hình bóng xưa, mà quên đi thực tại.
Chị không muốn nghĩ như vậy, nhớ Anh trong tâm tưởng, đó là lúc Chị cảm thấy mình không lẻ loi. Chị dọn dẹp một vài thứ, đọc lại vài trang sách, vài bức thư cũ mà anh từng đọc. Một bao thư cũ kỹ gấp nhiều tờ giấy bên trong . Chị ơ hờ mở ra, bức thư của một người đàn bà nào đó gửi cho chồng chị. Rất đỗi ngạc nhiên, bức thư với lời viết quá thân thiết, còn hơn thế nữa, bức thư kể lại đôi điều. “Em nhớ anh, em nhớ lần gặp nhau sau này. Em không bao giờ quên được hơi ấm nồng nàn khi anh ôm em. Anh ôm em với cả một thể xác đậm đà yêu thương, anh mời gọi em bằng những cái hôn ngọt ngào, mơn trớn trái tim em để em có thể hiến dâng toàn vẹn ân ái cho anh, cho riêng một mình anh thôi …
Chị hoa mắt, ngộp thở, và đọc tiếp … Em biết anh không được hạnh phúc với chị ấy, thứ vui thú mà em cho rằng rất cần thiết cho anh, cho mỗi một người đàn ông, điều này anh từng nói với em khi gần gũi nhau. Chị xinh đẹp và sang trọng, nhưng đó chưa phải là điều cho anh thấy mình viên mãn. Đó chỉ là thứ vỏ bọc đắp lên cho xã hội nhìn ngắm. Một người đàn ông như anh có đầy đủ điều kiện để cho người khác quý nể tôn trọng, anh không cần sự bồi đắp của chị. Chị không hiểu được thứ anh đang cần, điều anh đang thiếu. Em là người đem lại thứ ấy cho anh, đó là lời anh đã từng nói thật lòng anh, em nhớ mãi câu nói đó, khi chúng ta trao nhau. Anh không có lỗi gì khi đến với em. Chị vợ anh mới có lỗi. Em chỉ là một người đàn bà giản dị sống thực với đời thực, biết và hiểu người đàn ông mình yêu, thích gì muốn gì. Anh gặp em và em đáp ứng được cái nhu cầu ẩn giấu trong anh chưa bao giờ bộc lộ bên ngoài. Khi gần em, anh là một người đàn ông hoàn toàn tự do không bị ràng buộc bất cứ điều gì, những giây phút ấy thật đáng quý biết bao.”
Điều làm Chi đau đớn hơn cả, chính vì Anh không còn sống để Chị có thể tra vấn. Chết rồi mà vẫn còn năng lực chém Chị một nhát dao mạnh, cả người chị như ứa máu. Từng dòng máu tươi nồng đang tuôn ra từ trái tim một cơ thể đàn bà yếu đuối. Trái tim ấy đã từng nuôi dưỡng sinh lực yêu thương. Đã từng nghĩ rằng không ai có thể thay thế Anh, trước và sau. Tượng đài ấy nay bỗng dưng đổ ập xuống vỡ vụn từng mảnh nhỏ dưới chân Chị. Cơn ghen giận bùng lên, Chị muốn trả thù. Chị muốn đập tan tành và lôi xác Anh từ nấm mồ chôn, cho dù Anh chỉ còn là bộ xương thối rữa. Quên rằng Chị đã hỏa táng Anh trong lò thiêu xác với nhiệt độ trên 1000 °C. Phạm nhân ấy nay đã chết, trở thành vô tội, dù Chị có là công tố viên, cũng vô ích. Chết là xóa tan một bản án. Chị thẫn thờ nhớ lại mình, không phải người khác. Có lẽ chính Anh đã trở thành người đàn ông khác, rất xa lạ với mình mà mình không hề hay biết. Chị nhớ lại ngày Anh mất trong bệnh viện, Anh im lìm không nói năng chi, chỉ thở ra vài hơi mệt nhọc rồi nhắm mắt. Thế mà trong trí tưởng của Chị, Anh sẽ cầm lấy tay Chị nói như thế này : “Thôi em ở lại, sống với nhau lâu nay, nếu có chi không vừa lòng, em hãy bỏ qua tha thứ cho anh “. Nếu Chị được nghe anh nói như vậy, sẽ bỏ qua hết, dù cho Anh để lại thêm những lá tình thư người khác nữa, hoặc Anh có đứa con rơi con rớt nào đó chưa được khai báo. Anh chẳng nói được một lời giã từ hay đẹp dịu dàng cho em, người ở lại. Phải chăng những lời hay đẹp chỉ có thể nghe qua phim ảnh, hay đọc trong tiểu thuyết, đời thực không hề có. Chị thấy vị chua, vị đắng trào lên cổ họng.
Vậy mà trong bức thư kia, Anh tỏ ra nồng ấm và dịu dàng biết bao với người không phải là vợ mình. Bỗng Chị nhận ra cái ngu ngơ của mình, vừa ngu lại vừa khoái lãng mạn. Nhớ lại, lúc mới quen nhau, lúc mới hẹn hò thương nhau, Anh từng nói “Anh thích cái ‘vẻ ngu ngơ’ của em.» Lúc đó Chị tưởng thật, đàn ông thường thích cái vẻ ngây thơ không biết chi, cái vẻ ngây thơ trong trắng còn rất toàn vẹn, chưa hề chia xẻ tình ái với ai. Nhưng bây giờ Chị biết rồi. Có người đàn bà khác hiểu chuyện đời hơn Chị, không ngu ngơ mà thu hút đàn ông, biết cách chiếm đoạt một người đàn ông sống nghiêm túc mẫu mực. Nhớ khi Anh còn sống, luôn tỏ ra là một người can trường, can đảm đương đầu với mọi khó khăn để giải quyết nhiều chuyện. Một con người có khả năng lấp biển vá trời nếu như trời có rách toang, một con người luôn tự tin ở chính mình. Tự tin nhưng lại cần sự hỗ trợ của người đàn bà khác trong vấn đề tình ái. Tình dục hay tình yêu ? Sợi dây tơ đó đã quấn quýt lấy tâm hồn Anh từ lúc nào ? “Từ khi nào anh lừa dối em ? ” Chị hỏi thầm, nhưng người chết không trả lời. Nếu còn sống, có thể Anh nói ” Không, Anh không lừa dối, nhưng đó là một nhu cầu của tình ái đàn ông, thích chinh phục và chiếm hữu.” Phải chăng tình ái là chiếc kính vạn hoa chiếu vào trái tim, óng ánh muôn sắc màu cho lòng người đắm say.
Rồi Chị lại lẩn thẩn suy xét, nếu Chị không bắt gặp bức thư đó, chẳng biết gì, Anh vẫn là người chồng thủy chung kiếp này cho tới kiếp sau. Nhưng bức thư hiện ra dưới mắt, sự việc bị phơi bày, Anh bỗng dưng biến thành một kẻ lừa dối xấu xa. Tốt hay không tốt, xấu hay không xấu tùy thuộc vào chuyện biết hay không biết điều bí ẩn đó. Thật là huyễn hoặc. Chị nghĩ xa xôi về một điều giản dị thường khi xảy ra, giữa đời sống gia đình chồng vợ vợ chồng. Tuyệt vọng thẫn thờ với một sự thật phũ phàng. Ngày nào Chị cũng ra khỏi nhà, đến công viên ngồi suốt buổi, suốt ngày. Nơi đây Chị thảnh thơi nhìn ngắm trời xanh mây trắng, hít thở không khí trong lành của vườn cây hoa lá. Đám cỏ non xanh mướt mềm mại, tàn lá bóng mát hiền hòa như ôm ấp và xoa dịu tâm hồn. Thiên nhiên luôn sẵn sàng giang đôi cánh tay rộng lớn bao bọc che chở, và hòa giải phiền muộn.
Trong khu vườn nhỏ, Chị mua nhiều chậu cây đem về nhà chăm sóc từng mỗi sáng mai sớm, từng mỗi chiều xuống thấp. Thật thú vị biết bao, chúng đã trổ từng nhánh hoa với sắc màu tươi thắm cho mỗi bình minh, khi mặt trời vừa chiếu sáng loáng trên dòng sông xanh biếc phía trước. Tím hồng cam đỏ vàng chen lẫn trong đám chồi lá xanh non, rộn ràng như cùng nhau lễ hội. Chị nhận ra mỗi loài hoa có một linh hồn. Chúng có một ngôn ngữ riêng bày tỏ với tấm lòng yêu thương vô hạn thủy chung. Chúng chưa hề làm Chị thất vọng. Mỗi mùa mỗi loại, thay phiên nhau đem tới niềm vui sống từ đất và từ trời bao la. Ươm lên từ đất, lớn lên theo ánh sáng mặt trời, đón lấy tinh túy của vũ trụ mà trao tặng người đời. Và hơn thế nữa, chúng còn lan tỏa hương hoa của mình cho cuộc sống chung quanh, vốn đượm mùi cay đắng. Rồi chen lẫn trong đám lá xanh, rộn ràng vang lên tiếng chim ca hót trên vòm cây cao ngợi khen một ngày mới bắt đầu.
Chị hân hoan đem về nhà một chú chim màu vàng. Ngày đầu Vàng Anh lo sợ chỗ ở mới, không biết tương lai ra sao, đứng một chỗ quan sát. Ngày hôm sau, khi ánh nắng ban mai chiếu qua cửa, là lúc Vàng Anh cất tiếng hót báo tin bắt đầu một ngày mới. Cả đám hoa ngoài kia đang ngái ngủ, cũng vội vàng thức tỉnh, mở mắt, lay động theo gió, như chào mừng ngày vui với thành viên xinh đẹp líu lo. Từ đó, Vàng Anh luôn ríu rít hót ca mỗi khi Chị tỉnh giấc, và ngủ yên khi Chị tắt đèn chìm vào giấc ngủ say. Đúng là một người bạn thân yêu đồng cảm với niềm vui nỗi buồn, tuy Vàng Anh không nói được tiếng người, nhưng chừng như nó hiểu Chị. Bởi vì mỗi khi Chị nói chuyện với bạn hữu qua điện thoại, nó cũng ríu rít góp chuyện như một người thứ ba đang có mặt. Vàng Anh là một loài chim thích nghe tiếng người.
Mỗi ngày Chị mở lồng chim cho Vàng Anh bay ra khắp phòng để thư giãn đôi cánh, lần đó, quên không đóng cửa sổ. Nó bay sang đậu trên cánh cửa đang mở rộng, Vàng Anh do dự ngập ngừng nhìn quanh quẩn, hình như nó nghĩ ngợi. Chị chăm chú hồi hộp theo dõi, chắc chắn nó sẽ bay ra ngoài bầu trời xanh tự do bên ngoài. Nhưng, nó bỗng dưng bay trở lại cái lồng chim xinh xắn của mình, trèo vào trong và cất tiếng hót. Có lẽ Vàng Anh suy nghĩ đây là nơi chốn an toàn nhất cho đời mình, không lo sợ mưa nắng bão tố hay sấm sét. Chị cảm động lấy ít hạt thức ăn đưa vào lồng, nó sà xuống mổ từng hạt nhỏ trong lòng bàn tay. Chị nhận lấy hơi ấm tỏa ra từ thấm thân nhỏ bé mềm mại, len vào mạch máu trái tim mình. Vàng Anh không bỏ Chị, toàn vẹn thủy chung. Chị muốn bật khóc vì cảm xúc. Cả hai cần có nhau. Chị đã tạo ra một thế giới riêng của mình, tự chủ tự tin và an toàn. Đời thực giữa người với người sao huyễn hoặc quá, từ nghi hoặc này tới mơ hồ khác.
Chuông điện thoại reo lên từng hồi, Vàng Anh nghe thấy trước tiên, nhanh chóng gọi Chị đang cho cây Dạ Quỳnh uống nước ” nhanh lên nhanh lên”. Chị bắt máy, tiếng người bạn trai cũ, giọng ngọt ngào hỏi thăm sức khỏe, và rồi đề nghị đi du lịch cùng nhau một chuyến về vùng Địa Trung Hải nắng ấm. Chị ngần ngại ậm ừ qua điện thoại. Người ngồi bên kia bờ sông đang chăm chú nhìn chiếc phao chìm xuống là nhấc cần câu lên. Nếu cá đớp mồi, mắc vào lưỡi câu, nó sẽ mãi mãi vĩnh biệt dòng nước trong xanh mát rượi, nó không còn tự do tung tăng bơi lội nhởn nhơ, nó sẽ giẫy chết trong chiếc rọ sắt. Chị nghe Vàng Anh cất tiếng hót, tưởng chừng như có ý nhắn nhủ dặn dò “giải thoát, giải thoát “. Chị quay nhìn nó và cúp máy. Chiếc phao vẫn nổi lềnh bềnh trên mặt nước xanh.
ReplyForwardYou can’t react with an emoji to this message
BÀI SƯU TẦM: Lựa chọn – La Thị Ánh Hường
1.
Đây là lần thứ mấy, nàng quyết định xoá số anh khỏi máy. Lần nào cũng thế, trước khi xóa, nàng lén lút ghi lạị ở một nơi nào đó. Một lần nàng ghi ngay ra bàn phím trong lúc ngồi lướt web, chẳng may, nhân viên của nàng tổng vệ sinh mỗi tuần một lần. Lần thứ hai nàng ghi ra một tờ giấy trên bàn làm việc, lơ đễnh thế nào, trong một lần dọn dẹp, nàng đã nhét hết chúng vào sọt rác. Đúng ra thì nàng thừa biết để ghi vào những nơi cho an toàn, nhưng khổ nỗi đó lại là những nơi mà nàng dễ có được nó. Để trong một lúc nhớ anh, nàng lại dùng những ngón tay mình bấm từng con số…
Điều may mắn nhất cho nàng đó là nàng không nhớ bất cứ con số nào trong đầu.
Lần này nàng quyết tâm để nó trong hộp email. Như thế, nếu muốn có số, ít nhất nàng cũng phải trải qua vài thao tác trước khi lấy được số anh. Biết đâu trong thời gian đó, nàng nghĩ lại, có thể kềm chế được mà bỏ ý định gọi cho anh.
2.
Chiếc xe dừng lại trước một ngọn đồi heo hắt, nhả ra hơn hai chục gương mặt hốc hác sau một ngày ngủ vật vờ trên xe. Ánh đèn đường vàng vọt nghiêng ngả theo bóng người lác đác bên đường. Anh phụ trách chuyến đi người gốc huế, ăn nói nhỏ nhẹ, viết thơ hay và rất chu đáo. Anh ôm đồm xách hết túi to túi nhỏ cho đám con gái. Tất cả đều mệt mỏi sau hơn mười tiếng ngồi xe. Nàng cố mở mắt to, nhìn quanh quất chỉ thấy toàn núi đồi. Không phân biệt được cảm giác yên tâm hay lo lắng khi mà ở nơi đây, nàng không thể mở email được để lấy số điện thoại, phòng khi nỗi nhớ anh ập về…
Ở chung phòng nàng là một chị nhạc sĩ, rất trẻ. Nàng biết chị hôm dự lễ trao giải “nhạc sĩ có nhiều bài hát phổ từ thơ trong năm”. Chị khó mà biết đến nàng chỉ với vài truyện ngắn xuất hiện rất mỏng. Và chị càng không biết nàng có mặt trong chuyến đi này chỉ vì nhờ chút tình cảm than thiết với anh trưởng đoàn, và nàng muốn trốn chạy khỏi thành phố này, nơi có anh, chứ hoàn toàn không nằm trong “những cây viết trẻ nổi bật trong năm” như báo chí đưa tin.
Đêm cao nguyên lạnh. Trong vòng tròn được sưởi ấm bằng đám củi khô dòn. Nàng ngồi ể oải như muốn dựa hẳn vào chị. Chiếc áo len cổ cao không ngăn nổi cái lạnh của núi đồi. Chẳng mấy chốc, tay nàng tê cứng. Chị giật mình khi chạm phải tay nàng. Bàn tay chị đan lấy tay nàng. Lúc đầu, như một phản xạ, nàng rụt tay lại rất nhanh. Anh từng trì chiết nàng chỉ vì một lần, nhìn thấy nàng để cô bạn vòng tay ôm ngang lưng nàng khi đi xe máy trên đường. Nàng cảm thấy khó chịu, và sợ khi phải giải thích những chuyện vớ vẩn như thế, nên – dù chẳng có lỗi gì – nàng vẫn ý tứ hơn trong mọi hành vi của mình, nhất là khi có anh. Chị chưa kịp nhận ra thái độ của nàng, vẫn hồn nhiên: “Như thế này sẽ bớt lạnh hơn đấy nhỏ!”. Nàng nhẹ gật đầu.
Anh trưởng đoàn lần lượt giới thiệu người trong đoàn với chủ nhà – vị chủ tịch hội văn học tại đây – hầu như ông chỉ cười khề khà, hiền lành nhìn mọi người. Hiền như cái nhìn của anh khi nhìn nàng lần đầu trong một buổi hội thảo về lãnh vực xuất bản. Cái nhìn xoáy sâu, ấm áp lạ kỳ, đủ để nàng tin rằng đấy là người đàn ông của mình, thuộc về mình. Trong đời, không biết nàng có từng gặp lại một cái nhìn nào ấm áp như thế không? Nhưng chắc chắn nàng sẽ lấy chồng và chắc chắn đó không phải là anh.
Nàng giật mình trong tiếng gọi của anh trưởng đoàn, hình như anh đang nhắc về một tác phẩm nào đó của nàng in trong thời gian gần đây, với mọi người. Nàng hơi bất lịch sự khi không mấy tập trung vô buổi giao lưu tối nay, chủ yếu cũng đọc thơ và hát hò. Dưới ánh lửa, có tiếng hát nho nhỏ bài Trăng sơn cước “lòng còn hoài mơ một đêm. Điệu nhạc rền vang rừng thẳm. Rượu cần càng vui càng uống…”
.
Bình rượu cần cạn dần. Trước lúc chia tay để về phòng nghỉ, một cô bé dáng người nhỏ nhắn tiến đến phía nàng, giọng cô ta nhẹ: “Em là Hân, sống tại vùng này, các chị cần gì cứ nói với em nhé!”. Chị quay sang nhìn nàng, ý dò hỏi. Nàng lắc đầu. Nhất định nàng sẽ không hỏi bất cứ ai câu “Nơi này có internet không?”.
Chị nhạc sĩ quả là người bận rộn, điện thoại chị không ngừng có tín hiệu gọi đến. Nàng để ý, cứ khoảng năm cuộc gọi thì trong đó, có ba cuộc chị mở đầu bằng câu: “Em đây!” – mặt chị có vẻ giãn ra. Câu chuyện hình như có cả nàng trong ấy, khi thì “Em đang chuẩn bị ngủ, hai chị em thôi ạ, bé kia viết văn”, khi khác lại “Tụi em vừa mới đi cà phê về, đông vui lắm ạ!”, “Bàn chân em nay sưng lên rồi…”…v…v… Chẳng hiểu sao, đầu nàng bắt đầu căng ra, như chờ trực vào một cớ gì đấy để nổ tung. Nàng muốn gào lên trước khi nó vỡ ra thành từng mãnh nhỏ.
Nàng nghĩ, nếu mình kể những chuyện như thế cho anh nghe, liệu anh có thôi không soi mói, hạch hỏi. Một lần duy nhất, khi anh nhắn tin hỏi, biết anh hay ghen nên nàng nói dối anh đang học khi thực tế đang ngồi cùng xe một anh bạn học trên đường về nhà – nàng không hề hay biết anh đang chạy theo sau nàng. Mất lòng tin. Anh càng trở nên gắt gỏng “Anh chỉ cần em nói thật, dù có xấu xa mấy anh cũng bỏ qua!”. Thêm một lần nhẹ dạ, khi mà nàng gọi cho anh báo “Tối nay em đi ăn liên hoan với lớp. Anh đi ăn một mình nhé!”. Khi ấy, anh đã nói gì nhỉ, đại khái là em cứ đi với người khác, khi nào cô đơn, buồn chán thì về với anh… Bằng một giọng rất mỉa mai đến khó chịu, chẳng giống như những người yêu và hiểu nhau.
Bên góc cửa sổ, chị nhạc sĩ vẫn say sưa kể từng chi tiết cho đầu dây bên kia nghe. Nàng chưa từng được như thế! Nàng lan man nghĩ, nếu giờ nàng thủ thỉ kể với anh: “Chuyến đi vui lắm ạ, anh trưởng đoàn chu đáo và mọi người đều hòa đồng, thân thiện”. Anh sẽ liên tưởng đến một gã con trai mà nàng gọi ngọt ngào là “anh trưởng đoàn”, gã ấy suốt ngày bám theo nàng để tán tỉnh, có khi còn lợi dụng nắm bàn tay nõn nà của nàng giữa vùng đồi núi heo hắt, sau đó anh còn nghĩ gì nữa, chỉ biết anh kết thúc bằng câu khiến nàng bật khóc vì bị xúc phạm: “em làm gì chỉ có em biết thôi!”.
Nàng cho là xúc phạm, quá xúc phạm. Thế là thôi, nàng không bao giờ kể với anh nghe về những chuyến đi, về những mối quan hệ nghiêm túc từng bị anh bóp méo một cách vô chứng cớ. Bây giờ thì nàng thấy căng thẳng thật sự. Nàng vùi đầu trong mền trước khi nhận ra bên ngoài màn đêm đã loãng dần. Chắc sương đang rơi nhiều lắm!
3.
Anh trưởng đoàn gõ cửa, nói vọng vào “Dậy thôi, sao nướng kỹ thế!”. Nàng choàng tỉnh, thấy chị gác một chân lên người nàng, thở đều. Bao giờ ngủ dậy nàng cũng nghĩ: giá như đây là một ngày mới thì thật tuyệt!
Sẽ là một ngày mới nếu như điện thoại chị nhạc sĩ không tiếp tục ngân lên, một điệu nhạc mà với nàng đã trở nên quen thuộc sau vài ngày ở chung.
“Anh ạ, hôm nay thời tiết cực đẹp. Tụi em đến nhà già làng của Bản Đôn từ sáng. Ở đây thật tuyệt, khung cảnh núi đồi đúng như trong bức tranh anh vẽ tặng em ấy! Không ngờ có ngày em được “hưởng thụ” trong không gian lý tưởng như thế này! Nhìn kỹ em mới phát hiện ra trong đoàn toàn là những nam thanh, nữ tú. Họ rất trẻ trung và năng động, trái với hình ảnh người viết văn chỉ ngồi “bị động” trên bàn máy như anh nghĩ nhé! À, mà tối nay đoàn sẽ ngủ đêm tại nhà Rông của Buôn làng này. Chắc thú vị anh nhỉ?”. Một lần, nàng cũng kể cho anh nghe như thế, đến đoạn “tụi em sẽ ngủ lại đêm tại…” thì đầu dây bên kia anh la lên đầy sửng sốt: “Trời ơi! Thật là lố nhăng, thế mà em bảo là nghiêm túc đấy à?”. Sau đó anh lại kết thúc bằng câu “Em làm gì chỉ có mình em biết chứ sao anh biết!”. Nàng tắt máy và hẳn sẽ khóc một mình ở nơi nào đấy.
Buổi tối, anh trưởng đoàn đưa cho nàng mấy túyp chống muỗi dạng kem, giọng vui: “Dành cho mấy em nữ. Ở đây muỗi rất hiếu khách đấy nhé!”. Nàng lại nghĩ về anh, nếu anh có mặt trong chuyến đi này thì sao nhỉ? Thay vì đưa kem chống muỗi và yên tâm để nàng ngắm trăng sao, hít thở màn đêm tịch liêu của núi đồi, anh sẽ mua hẳn cái mùng, nhốt nàng vào ấy và đe câu quen thuộc: “Sức khỏe em quan trọng hay viết văn quan trọng, em nói đi?”. Khi ấy, nàng lại tìm một nơi nào đó để khóc, một mình…
Bốn năm quen nhau, có đến ba năm nàng chịu đựng như một kẻ nhu nhược. Nàng an ủi mình rằng, có khi tình yêu chỉ là thứ cảm xúc mà họ còn nuôi dưỡng được. Nàng sống vị tha đến chán ghét. Hay do cảm xúc tình yêu thưở ban đầu anh dành cho nàng quá lớn, đủ để nàng nuôi dưỡng nó tồn tại trong ba năm tiếp theo. Giờ thì sao? Mới hôm qua thôi nàng còn nhớ anh – trong – cảm – xúc – của – thưở – ban – đầu như thế nào. Cái thời mà nàng hạnh phúc khi có anh. Anh nhẹ nhàng bước vào cuộc đời nàng như một chuyện hiển nhiên phải thế. Anh tham gia vào cuộc sống mà từ lâu nàng đã quen với sự một mình; một mình ăn, một mình ngủ, một mình trên đường, một mình đi du lịch… Nàng đã thích nghi ngay với sự có anh mà không chút luyến lưu những thứ đã tưởng thuộc về thói quen. Giờ đây, có thật là nàng lại thích nghi với sự một mình mà không hề nuối tiếc???
4.
Nàng đã về lại thành phố sau một tuần dự Trại sáng tác. Trước khi chia tay, anh trưởng đoàn nhắn nhủ: “Nhớ ghi lại những cảm xúc trong chuyến đi nhé! Cho dù không viết thành cái truyện thì cũng sẽ giúp ích cho em trong một chi tiết nào đấy trong truyện sau này!”. Nàng gật đầu. Từ lâu, những lời anh nói luôn là rất chí lý với nàng. Có thể, nàng chẳng thể viết thành cái truyện như anh nói thật, nhưng ít ra, nàng vượt qua được chính mình đó là: không cuống cuồng mở mail để lấy số anh. Mà không đúng, biết đâu do nơi ấy không có điều kiện để nàng có thể nên net? Mà sao nàng lại tự bào chữa cho mình ở những chuyện không đâu thế này?
Chị nhạc sĩ nắm tay nàng thân thiện: “Sẽ gặp lại em trong một ngày gần để café nhé!”. Nàng gật đầu, cười đùa: “Nhất định, vì em nghiện tiếng chuông điện thoại của chị mất rồi. À, mà anh chị khi nào cưới thế?”. Chị nhạc sĩ cười hạnh phúc “Tụi chị cưới nhau ba năm rồi em ạ!”, chị nói và lên xe một người đàn ông, để lại cái vẫy tay và ánh nhìn của người đang hạnh phúc.
Nàng lại lan man nghĩ, nếu anh và nàng cưới nhau, liệu nàng còn có được những chuyến đi như thế này không, hay anh lại bắt nàng phải lựa chọn bằng câu “gia đình quan trọng hay Trại sáng tác quan trọng, em nói đi!”. Bất giác nàng rùng mình mà chẳng hiểu vì gì.
Tối đó, nàng mở mail và bình thản click chuột vào cả hai mail gửi và nhận, chọn Delete, trong tích tắc số điện thoại của anh vĩnh viễn không còn tồn tại trong cuộc đời nàng, giống như anh.–
La Thị Ánh Hường
SƯU TẦM – CHUYỆN NGẮN CẢM ĐỘNG: Giấc Mơ Trên Bãi Ngàn Sao – Tác Giả Vương Hà
Giấc Mơ Trên Bãi Ngàn Sao Vương Hà
Posted by GLN Cả bản Phiêng Đao ồn ào, kháo nhau bởi chuyện ông Hom quyết định nhận nuôi bé Nhủm: Con bé thật tội nghiệp, bố mẹ chết vì đi đãi vàng bị sập hầm, họ hàng lại chẳng còn ai. Thân hình Nhủm gầy còm nhom, người ngợm lem luốc, duy chỉ có đôi mắt là đẹp như mắt thiên thần, con ngươi tựa viên ngọc trong veo,
Phong cảnh Phiêng Đao vô cùng quyến rũ, đẹp như một ngôi sao sa xuống mặt đất và mãi mãi không muốn trở về bầu trời. Vì thế, những người đầu tiên đến đây lập bản đã đặt tên bản là Phiêng Đao với ý nghĩa là bãi sao. Bãi ngàn sao.
Nhưng dân bản Phiêng Đao nghèo lắm, họ vẫn thường nửa đùa, nửa thật nói với nhau: “Bản ta nghèo đến mức con Bọ hung không chịu được, chỉ muốn chuyển tổ đi nơi khác”. Vậy mà nhà ông Hom lại còn nằm trong số những người nghèo nhất bản Phiêng Đao, cho nên mọi người mới bàn tán, ái ngại cho chuyện ông đón bé Nhủm về nuôi.
Tuổi ông Hom đã ngoài sáu mươi, da nâu, tóc bạc, khuôn mặt gầy cùng với rất nhiều nếp nhăn. Vợ ông đã mất từ lâu, có đứa con trai duy nhất thì lại mắc căn bệnh hiểm nghèo rồi cũng vĩnh viễn bỏ ông mà đi. Giờ đây ông sống cùng Hạnh cô con dâu và đứa cháu nội: Thằng Đức.
Ông Hom hiểu vì sao mọi người lại ồn ào, bàn tán. Dân bản thương ông, lo cho ông: Ông biết. Ông cũng do dự, nhưng khi nhìn Nhủm ngồi thu lu, run rẩy như con thú non lạc mẹ, lòng ông đau như ngày mất vợ, mất con.
Ông bàn với Hạnh chuyện nhận nuôi Nhủm, cô con dâu của ông không đồng ý.
– Nhà mình còn bữa no, bữa đói thì làm sao có thể nuôi thêm được nó hả bố? – Hạnh gàn.
Nghe nói vậy, Nhủm cúi đầu, đôi mắt buồn như một lỗ hổng không có đáy. Nhủm không khóc, nhưng dáng vẻ nom thất vọng đến tột cùng. Thà Nhủm cứ khóc thì người chứng kiến sẽ thấy dễ chịu hơn.
Ông Hom thở dài, trên khuôn mặt gầy lại có thêm những nếp nhăn. Ông suy nghĩ mung lung lắm.
– Cháu cứ ở lại đây với ông. Từ nay ông sẽ đặt lại tên cháu là Đao, là một ngôi sao để sau này cháu gặp được những điều may mắn. – Ông nói với Nhủm như thế và kiên quyết không thay đổi ý định.
Gia đình ông Hom sống chủ yếu nhờ nghề đan lồng gà đem bán hoặc đổi chác. Bãi vườn nhà ông trồng đủ các loại tre: Tre đắng; tre ngọt; tre bương; tre “mợi”; tre gai… Dưới bàn tay chăm sóc của ông Hom, tre mọc san sát nhưng đều thành hàng, thành lối. Những bụi tre lên cao thẳng, không bao giờ chịu gục đổ trước gió bão chính là tất cả tài sản quý giá nhất mà gia đình ông Hom có. Măng trên rừng thường mọc theo mùa, nhưng vườn tre nhà ông thì măng mọc quanh năm. Ngon nhất là măng tre ngọt, chiếc nào cũng bụ mập to như bắp vế, ăn sống ngọt tựa khoai lang trồng trên đất cát pha.
Nhà ông Hom, bữa cơm nào hầu như cũng có măng. Ông thường nói: “Nhà mình sẽ không bao giờ lo bị chết đói vì có măng”. Nhưng măng thì không thể cứ ăn mãi một món. Vậy là ông làm rất nhiều kiểu món để ăn cho đỡ chán: Măng chua; măng gio; măng khô; măng ngâm ớt;… măng nướng; măng xào; măng ỏm; măng nấu canh chảo; măng kho cá suối… Ông Hom hết sức tự hào: Nếu mỗi bữa chỉ ăn một món thì mất cả tháng cũng không thể nếm hết những món măng của ông. Có lẽ vì thế mà quần áo ông quanh năm bốc lên mùi măng chua hăng hăng, trái hẳn với cái tên Cha, Mẹ đã đặt cho ông: Hom có nghĩa là hương thơm.
Đao quấn quít bên ông Hom như hình bóng, bé theo ông ra ngoài bãi vườn chọn tre bương về đan lồng gà. Những thân tre mềm mại uốn theo làn gió hiu hiu. Lớp lá tre khô phủ dầy trên mặt đất thực sự là một tấm thảm êm. Khi chọn tre, bao giờ ông Hom cũng trở đằng sống dao gõ lên thân cây tre bương rồi dỏng tai nghe. Thân cây nào nghe gọn gàng tiếng cốc cốc là có thể hạ được, còn nếu nghe bộp bộp là tre chưa đủ độ, mang về đan lồng gà sẽ nhanh mọt hỏng.
– Đao, cháu xem, cây như thế này là chặt được! – Ông Hom chỉ tay vào cây bương trước mặt.
Bé Đao nhìn ngước lên ngọn bương, đôi mắt thiên thần thấy ở đó có một tổ chim. Ngoài tiếng gió xua cành tre đập vào nhau, bé còn nghe thấy cả tiếng chim non kêu rất khẽ. Chắc là lũ chim non đang đói và mong đợi bố, mẹ. Chim cũng như người, trẻ con khi khát sữa bao giờ cũng khóc.
– Ông ơi! Đừng hạ cây này, trên cây đang có tổ chim. Để cho chim non thành chim lớn đã hãy hạ ông ạ! – Bé khẩn khoản.
Ông Hom nheo mắt, nhìn vút lên tổ chim rồi nở nụ cười đôn hậu. Dân Phiêng Đao vẫn có tục lệ: Khi vào rừng đi săn, không bao giờ được bắn, giết thú đang có mang hoặc đang nuôi con. Vì vậy, lẽ nào ông lại có thể hạ cây, phá tổ chim non. Ông bước từng bước khoan thai chuyển sang bụi tre khác, tiếp tục trở sống dao gõ thử lên từng thân tre. Đao vui lắm vì tổ chim đã được an toàn. Bé nhìn lại tổ chim lần nữa rồi đi theo sau ông. Gió thổi lá tre reo như khúc hát ru khiến Đao lúc nãy chân còn nhảy tưng tưng, nay mắt bỗng buồn díp lại, muốn ngả mình lên thảm lá tre khô ngủ một giấc thật êm đềm.
Đao là đứa trẻ chẳng lúc nào chịu ngồi yên: Bao giờ bé cũng nghĩ rằng mình cần phải giúp ông, giúp cô Hạnh làm một việc gì đó. Thế là trong nhà có mấy chiếc nồi đen sì, cáu bẩn muội bám, bé mang ra cạo sạch bong. Mình còn có thể giúp ông làm gì nữa nhỉ? À! Vẫn còn những mảnh giẻ ông thường dùng quấn các ngón tay khi chuốt nan đan lồng gà. Đao nghĩ: Cần phải đem chúng đi giặt thật sạch, nếu không lỡ bị đứt khi chuốt nan, tay ông lại nhiễm trùng thì khổ. Đao mang giẻ ra suối ra sức vò thật kỹ, lòng bàn tay của bé đỏ ửng vì bị cọ xát, những ngón tay con con thì trắng hồng lên. Sau đó bé thử xem giẻ có thật sạch không bằng cách hái lá khoai môn đặt lên hõm đá, rồi vắt nước vào đó để xem đã trong bằng nước suối hay chưa? Đao vô cùng hài lòng: Sạch quá rồi đấy! Thế giới trong tâm hồn Đao thật hết sức đơn giản: Bé yêu quý mọi người trong gia đình và luôn muốn được làm việc để giúp mọi người.
Đưa Đao về ở cùng được một thời gian, ông Hom nghĩ đến việc cho Đao đi học. So với độ tuổi bắt đầu vào lớp 1 thì Đao đã muộn mất 2 năm. Hạnh làm căng, bảo là lấy tiền đâu cho con bé đi học. Không thể để cho con trẻ phải thất học vì cuộc sống khốn khổ, rồi sẽ lại phải sống khốn khổ vì thất học, ông Hom quyết tâm đến nhà trường xin cho bé Đao được đi học.
Đến lớp thì phải có túi đựng sách. Ông Hom ngắm nghía chiếc quần dài của mình, ông chắt lưỡi: Ống quần mặc dẫu có ngắn đi một chút cũng chẳng sao. Vậy là ông cắt bớt hai cái ống quần dài, chập lại để khâu thành túi đựng sách cho Đao. Đàn ông khâu vá bao giờ cũng vụng về, không khéo như đàn bà. Mắt ông Hom kém, lại không có kính, kim đâm phải tay ông chảy cả máu. Ông không dám nhờ Hạnh. Bây giờ con dâu đang giận, nhờ nó làm khác nào chất thêm củi, thổi thêm gió vào đám cháy. Sẵn còn có ít chỉ màu, ông nghĩ cần phải thêu thêm hình mây và núi làm đẹp cho chiếc túi. Đao chăm chú nhìn ông kiên nhẫn vắt từng mũi chỉ. Đường thêu rất vụng, nhưng chiếc túi nom cũng có vẻ đẹp hơn. Ông không tự tin lắm, ngượng ngập nói với Đao là ông thêu núi, thêu mây. Còn Đao sau khi ngắm nghía lại quả quyết rằng những hình đó chính là măng và nấm.
Buổi đầu tiên Đao đến lớp, ông Hom hồi hộp chẳng khác gì ông mới là người đi học. Ông ngồi đan lồng gà, nhưng chốc chốc lại dừng tay, ngóng ra cổng. Đao tan học vừa về đến nhà, ông đã sốt ruột lấy ngay vở của bé giở ra xem. Nhìn chữ Đao viết, dù không biết đọc nhưng ông Hom vẫn cười nghiêng ngả, bởi chữ nét như tóc rối, nét như giun oằn, nét lại xiên dọc, xiên ngang giống những cành tre gai tấp ngoài bờ rào. Nói tóm lại, đám chữ cứ búi vào nhau không gỡ ra được. Cười xong, sợ Đao xấu hổ, ông động viên: ” Làm cái gì lúc mới bắt đầu mà chẳng khó. Cháu cố gắng thì thể nào cũng sẽ học được hết các con chữ”.
Đao học rất chăm. Nhờ được đi học mà Đao nhận thấy mọi thứ xung quanh mình thật tuyệt vời: Đường đến lớp có rất nhiều hoa dại và bướm, mặt đất thì hiền hoà và xanh rợn cỏ non. Đao học giỏi nhất lớp, ông Hom vui không biết để đâu cho hết. Ông sung sướng trào nước mắt khi nhìn Đao trực tiếp nắn nót viết hai chữ: Ông Hom. Nước mắt vui của người già cũng trong như nước mắt của con trẻ và nhẹ như bông.
Nhưng cô Hạnh thì không vui. Cô cho rằng: Nuôi Đao ăn thôi cũng đã là quá sức lắm rồi, nay còn bày vẽ chuyện đi học. Trong Hạnh như có nuôi một tổ ong đất. Đừng bao giờ đùa với ong đất, những con trâu to khoẻ nhất cũng có thể chết khi đã sa phải vào tổ ong.
Sự căng thẳng trong nhà ông Hom ngày càng trở nên tồi tệ, lũ ong đất xui Hạnh làm những điều không nên làm: Cô rắc cát vào gạo rồi nấu cơm. Cơm chín, cô dọn lên bình thường coi như không có việc gì xảy ra.
Nhai miếng cơm, ông Hom nhăn mặt:
– Sao cơm hôm nay ăn lại có nhiều sạn cát thế này?
– Nhà tự nhiên nuôi thêm người, phải độn thêm cát mới đủ ăn! Không ăn được thì đem đổ đi! – Hạnh nói, đồng thời hai tay chống nạnh với tư thế sẵn sàng thả đàn ong đất.
Ông Hom tê tái, cố và thêm miếng nữa. Nhưng cơm độn cát, ăn sao nổi. Vậy là cả nhà cùng nhịn đói. Thương nhất thằng Đức, bị đói oan bởi cái tội của người lớn. Đôi mắt nó đặt những dấu hỏi: Tại sao???. Không còn biết phải làm gì, ông Hom ngồi lặng như người câm, mặc kệ nước mắt chảy. Nước mắt buồn của người già, đùng đục và nặng như đá.
Mọi chuyện còn tiếp tục tệ hơn nữa, bắt đầu từ việc Hạnh hỏi:
– Tiền bán lồng gà dạo này đi đâu? Sao ông không đưa cho con?
Ông Hom dè dặt:
– Tiền lồng gà bán được, bố đã cho bé Đao đem mua hết sách vở rồi con ạ!
Hạnh quắc mắt, đá mạnh vào chiếc lồng gà phơi trên sân. Không tin nổi, chiếc lồng gà bay lên mắc vào bờ rào dựng bằng những cành tre gai.
– Đã bảo đừng cho nó đi học mà ông không chịu nghe. Người dưng như con khỉ trên rừng thì ông thương. Cháu nội ruột già máu mủ ông lại coi là cục đất. Gà không cần học cũng đẻ ra trứng. Nếu người nhờ đi học mà đẻ được ra trứng thì hãy cho đi – Hạnh vừa nói, tay vừa tự đấm thùm thụp vào lồng ngực.
– Con dâu à! – Tiếng ông Hom nhẹ nhàng – Con trách Bố không thương thằng Đức là không đúng. Bố chỉ nghĩ, nhà mình nghèo nhưng vẫn cố gắng nuôi thêm cái Đao được con ạ! Nếu mình đuổi đi thì nó biết cậy nhờ vào ai?
– Ông đã nói như thế thì từ ngày mai con với thằng Đức sẽ khắc nấu ăn riêng! Còn ông muốn làm gì thì làm, con mặc kệ! – Giọng Hạnh nặng nề, tưởng như không thể bay thoát được lên khỏi mặt đất.
Ông Hom ngồi lặng thừ, thở dài. Ông vô thức vớ lấy cái điếu ục, nhồi một mồi thuốc lào thật to, châm lửa rít lấy, rít để. Thứ thuốc lào được trộn thêm râu ngô phơi khô, mùi khét át đi cả mùi thuốc lào. Miệng ống điếu rộng, ông phải nghiêng hẳn một bên má để bịt cho kín miệng ống. Khi rít, má ông tóp lại nom thật tội nghiệp. Nhưng thuốc lào cũng không giúp gì hơn được cho ông. Ông tủi thân. Ông buồn. Ông hy vọng: Chắc tại con dâu nóng giận nên mới nói thế thôi, chứ thực ra nó vẫn là đứa con dâu tốt. Từ khi chồng nó mất, đã có mấy đám đến hỏi, vậy mà nó từ chối ở vậy nuôi con, nuôi bố chồng. Tính khí con dâu nay trở thành như vậy, cũng là do cái đói, cái nghèo đưa đẩy, khiến người ta phải ích kỷ, tính toán chi ly – Nghĩ thế, ông thấy đỡ tủi thân đi một chút.
Bếp lửa nhỏ nhà ông Hom đã phải chia ra làm đôi. Ông Hom chỉ nhận lấy hai chiếc nồi: một chiếc còn khá tốt, một chiếc hết sức méo mó. Chiếc nồi còn khá tốt ông dùng nấu cơm, chiếc méo mó ông để đun thức ăn.
Bữa nay, ông Hom dùng chiếc nồi méo luộc hai quả trứng gà, một quả ông mang cho bé Đức: Dù có chia ra ăn riêng thì Đức vẫn là đứa trẻ, là cháu nội ông. Một quả ông bóc sẵn bỏ vào bát cho bé Đao. Còn phần ông là bát ớt tuơi giã muối và đĩa măng luộc. Màu măng luộc cũng trắng tinh như màu lòng trắng trứng. Nhưng ở bản Phiêng Đao, một quả trứng có thể đổi được mười đĩa măng luộc.
– Cháu ăn đi! – Ông Hom cầm bát cơm có quả trứng đặt vào tay Đao.
Đao ngần ngừ, không nỡ nào ăn quả trứng, bé muốn nhường lại cho ông.
– Cháu không ăn trứng đâu! – Đao cười, chỉ vào đĩa măng luộc – Cháu thích ăn măng này cơ ông ạ!
Ông Hom dùng đũa ấn quả trứng sâu vào trong lòng bát cơm.
– Không, cháu phải ăn! – Ông nói dịu dàng nhưng kiên quyết – Trẻ con ăn trứng gà mới mau lớn chứ!
Đôi mắt Đao nhìn quả trứng gà. Miệng lưỡi Đao có nước bọt tiết ra. Quả trứng này không phải là trứng vàng trứng bạc. Lòng đỏ và lòng trắng của nó cũng như mọi quả trứng khác. Nhưng mình không thể ăn! Ông đã vất vả nhiều, cái gì ngon cũng đều nhường cho mình. Mình không thể ăn! Mình phải làm thế nào bây giờ nhỉ? Trí óc non nớt của Đao chợt nghĩ ra một cách mà bé cho là tốt nhất. Đao đưa hai tay ôm lấy bụng, khuôn mặt giả vờ nhăn nhó, rên rỉ:
– Ối, ông ơi! Cháu đau bụng quá, không ăn cơm nữa đâu!
Đao chạy lên nằm trên giường, úp mặt xuống gối. Ông Hom lo lắng chạy theo. Thấy Đao nằm úp sấp, rên khe khẽ, thỉnh thoảng lại quằn quại sang hai bên, ông nghĩ bé đang đau lắm.
– Cháu cứ nằm im đây nhé! Để ông đi hái búp ổi non cho cháu nhai xem có đỡ đau không – Ông nói.
Đao vẫn nằm úp, sấp mặt xuống gối, chẳng dám ngẩng lên bởi xấu hổ vì đã trót nói dối. Bé thì thầm trong miệng không để ông Hom nghe: “Ông ơi! Cháu chỉ giả vờ để nhường ông quả trứng. Ông ăn quả trứng đi là cháu sẽ hết đau bụng ngay thôi!”. Ôi! Không phải tất cả mọi lời nói dối đều xấu xa. Đôi lúc vẫn có những lời nói dối xứng đáng được tha thứ.
Phải sống và lớn lên trong điều kiện khó khăn thì chuyện mắc bệnh cũng không có gì lạ. Bệnh suyễn lúc đầu còn chầm chậm rồi sau đó ngang nhiên chặn bàn tay lên ngực thằng Đức. Cứ cách vài ngày, thằng Đức lại lên cơn hen. Lúc đó, mặt Đức tái ngắt, thân thể mềm oặt như cụm rêu trong lòng suối. Đao thương lắm, nó rất muốn được xoa giúp cho em Đức bớt khó thở. Nhưng Đao không dám đến gần em vì sợ cô Hạnh, bé chỉ dám đứng nem nép ở sau khe cửa để ngó vào. Ngồi bên cạnh em Đức, cô Hạnh xù lên như con gà mái bảo vệ con trước lũ quạ. Nhưng cô Hạnh không phải là gà. Cô Hạnh là Người nên cô khóc, nước mắt ướt hết hai vạt áo đằng trước. Đứng ở sau khe cửa, nhìn thấy vậy Đao cũng trộm khóc theo. Nếu Mẹ còn sống, mình bị ốm chắc chắn Mẹ cũng sẽ thương mình như thế!
Không ai bảo, nhưng Đao luôn để ý xem có ai biết cách chữa bệnh của em Đức. Ngay cả trong giấc ngủ Đao cũng thường hay mơ thấy em Đức khoẻ mạnh, rồi hai chị em được cô Hạnh dắt tay cùng đi hái sim trên bãi ngàn sao. Đao tin mãnh liệt: Một ngày nào đó chắc chắn sẽ có người chữa khỏi được bệnh cho em Đức!
Một buổi, Đao được ông bảo đem măng đến biếu bà Pòm, bà sống độc thân không con cháu trong một căn lều dựng ven chân đồi. Căn lều của người sống cô độc không cần có cửa. Vừa mới bước vào trong Đao đã cảm thấy mùi nồng của bã trầu xộc lên hăng mũi. Mùi này có chút gì đó hơi giống mùi măng chua mà Đao chưa nghĩ ra.
Bà Pòm giữ Đao ở lại ngồi chơi.
– Cháu phải về ngay thôi bà ạ! Lúc này ở nhà em Đức đang lên cơn hen. – Đao lễ phép từ chối.
– Ôi dào! Tưởng gì, bệnh hen suyễn thì chỉ cần bắt lấy 1000 con “Đuổng khem”, đem nướng lên ăn là sẽ khỏi! – Bà Pòm vừa nhai trầu vừa nói, đồng thời nhổ toẹt xuống đất một bãi nước bã trầu đỏ quạch.
Chính Bà Pòm cũng không ngờ rằng mình đã vô tình mở toang cho Đao biết một điều bí mật. Đôi mắt thiên thần sáng rực. Đao mừng quýnh, nhảy cẫng lên. Hay quá! Hóa ra chỉ cần ăn 1000 con sâu chít là chữa khỏi bệnh hen suyễn. Chủ nhật này được nghỉ học cả ngày, mình sẽ đi bắt 1000 con sâu chít chữa bệnh cho em Đức.
Nghĩ là làm. Tinh mơ chủ nhật, Đao nhẹ nhàng rút then cửa, rồi rón rén ra khỏi nhà. Đao nhằm hướng núi đá tai mèo mà đi. Chỉ có chỗ núi đá tai mèo mới mọc nhiều cây chít.
Chít mọc thành từng bụi, Đao chặt, rồi lễ mễ ôm dồn thành đống, và sau đấy chẻ chúng tìm sâu. Thoạt đầu, Đao nghĩ mỗi cây chít sẽ đều có một con sâu. Nào ngờ, chẻ tước cả đống may mới được 1, 2 con. Nhưng Đao không nản: Mình sẽ chặt thật nhiều để kiếm đủ 1000 con.
Trưa, nắng rọi đúng đỉnh đầu, Đao đổ lũ sâu chít kiếm được ra đếm: 100, 100,… lại 100 con nữa. Bao nhiêu 100 thì được 1000 nhỉ? Đao đã đi học nhưng mới chỉ biết đếm đến con số 100, chưa biết thế nào là 1000. Đao nhìn chỗ sâu chít: Ít như thế này chắc là vẫn chưa đủ. Đao nhìn kỹ xung quanh, những bụi chít dễ lấy thì Đao đã chặt hết, chỉ còn lại những bụi mọc cheo leo trên vách đá. Đao bặm môi trèo lên, đá tai mèo nhọn và sắc đâm vào chân trần buốt đến tận đỉnh óc. Đao nghiến răng cho khỏi bật tiếng kêu. Để chữa khỏi bệnh cho em Đức, dù đau hơn nữa mình vẫn chịu được.
Trong lúc Đao đang vật lộn, leo lên những vách đá tai mèo thì ông Hom lại lo lắng đi tìm cháu. Từ trước đến nay, chưa bao giờ con bé đi đâu mà không nói cho ông biết. Ông đến từng nhà để hỏi. Sau khi hỏi hết nhưng không ai nhìn thấy Đao, ông Hom liền trèo lên ngọn đồi cao chắn trước bản. Đứng từ trên đỉnh đồi, ông khum lòng hai bàn tay vào nhau, vòng trước miệng rồi ra sức hú dài, mong nếu bị lạc thì Đao cũng sẽ nghe thấy, theo tiếng hú mà về. Mỗi lần ông cất tiếng hú, dưới lớp da nhăn nheo, gân cổ nổi lên chằng chịt như đám rễ cây. Ông chợt nghĩ: Hay là sáng nay con bé ra suối, sau đấy bị ngã trượt chân…
Ông rùng mình không dám nghĩ tiếp, rồi cuống cuồng đi mượn ngay chiếc thuyền độc mộc của hàng xóm vẫn dùng đánh cá. Mình trần, mặc mỗi chiếc quần đùi, ông tất tưởi chống thuyền xuôi theo dòng nước tìm Đao.
Chiều chạng vạng, Đao mới về đến nhà, bụng đói, mặt bê bết mồ hôi và tái xanh vì mệt, nhưng tay thì vẫn giữ chặt miệng túi đựng những con sâu chít. Vừa nhìn thấy Đao, không thèm để ý đến những điều đó, Hạnh vơ ngay lấy chiếc chổi đập chan chát vào vách tường, bức vách được trát bằng bùn rơm bong ra từng mảng.
– Khốn nạn! Mày đi chết dấm, chết dúi đâu cả ngày nay bây giờ mới thấy mặt? – Thái độ Hạnh hung dữ đến mức Đao nghĩ rằng trời sắp sập.
Đao co rúm người lại, khuôn mặt đã tái xanh lại càng tái thêm. Hạnh nhào tới, giằng lấy chiếc túi thái bé đang khoác trên người ném mạnh xuống chân. Từ trong túi rơi ra một gói sâu chít trắng ngà và béo nẫn, chúng tung toé lên mặt đất. Hạnh lấy mũi bàn chân di lên từng con cho hả cơn tức. Sâu chít nát bét, chảy ra một thứ nước trắng nhờ như sữa.
Đao quỳ xuống, mếu máo:
– Cô ơi! Cháu xin cô đừng đánh cháu! Cháu biết lỗi rồi. Chỉ tại cháu nghe thấy người ta bảo nếu ăn 1000 con sâu chít nướng thì sẽ chữa khỏi được bệnh hen suyễn, nên… nên cháu đi kiếm để mang về nướng cho em Đức ăn. Cháu… cháu sợ cô mắng nên không dám nói.
Chiếc chổi giật mình, cứng đờ, nó chỉ muốn được rời khỏi tay Hạnh, trốn vào một góc nhà nào đấy đứng yên tĩnh một mình để suy nghĩ.
Cũng vừa đúng lúc ấy ông Hom trở về, từ ngoài cửa ông đã nghe hết những lời Đao nói. Ông ôm chầm lấy bé và nghẹn ngào thốt lên hai tiếng “cháu tôi”. Mùi măng chua bốc lên từ quần áo của ông đem lại cho Đao cảm giác an lành. Chỉ có những đứa trẻ như Đao mới cảm nhận được rằng mùi măng chua cũng là một thứ hương thơm thân thiết. Ôi, hương thơm… mùi măng chua. Ông Hom bật khóc. Chiếc chổi thẳng đuỗn, vì không kịp lẩn tránh vào bất kỳ một xó xỉnh nào đó, nó đành phải lặng lẽ chứng kiến những giọt nước mắt buồn của người già: Đó là những giọt nước mắt đùng đục và nặng như đá.
Cả đêm hôm đấy, Hạnh nằm trằn trọc mãi không tài nào ngủ được. Chốc chốc cô lại trở mình, chiếc giường tre dưới lưng kêu rin rít như hơi thở khó nhọc. Chính vì không ngủ được mà Hạnh mới phát hiện ra rằng giường có rệp. Những đêm khác, làm việc quần quật suốt ngày mệt lử, nằm xuống là lập tức ngủ ngay nên rệp đốt cô cũng không biết. Hạnh ngồi dậy, thức soi đèn bắt rệp, được con nào cô đều đặt lên viên đá nghiền cho đến khi không còn nhìn thấy tí dấu vết nào nữa. Vừa bắt rệp, cô vừa tự trách mình cũng ác không khác gì con rệp. Gần sáng, mệt quá Hạnh ngồi bệt xuống đất, đầu gục vào thành giường rồi thiếp đi. Cũng vẫn trên chiếc giường đó, thằng Đức đang ngủ ngon lành say sưa, hơi thở đều đều, nhẹ nhàng. Đêm nay nó không lên cơn hen.
Hạnh thức dậy muộn hơn mọi khi. Cô mở toang cánh cửa để ngắm mặt trời mọc. Nắng bình minh tô hồng lên khuôn mặt mất ngủ của cô. Rồi đây thằng Đức sẽ có một người chị tốt và biết yêu thương nó – Hạnh nghĩ như thế. Cô rút mớ tiền lẻ nhàu nhĩ từ trong túi ra, rồi vuốt cho thật phẳng phiu. Hạnh quyết định: Chiều nay sẽ đi chợ mua món gì đó ngon ngon về nấu cơm cho cả nhà cùng ăn. Cũng khá lâu rồi, Mẹ con cô, ông Hom, bé Đao đã không ngồi ăn cơm cùng nhau.
Hạnh đến chỗ ông Hom đang ngồi giữa đám lồng gà ngổn ngang.
– Chiều nay ông đừng thổi cơm. Con sẽ đi chợ mua thức ăn về nấu cho cả nhà. – Cô nói mà mặt cúi gằm xuống đất, mắt không dám nhìn thẳng.
Ông Hom sốt sắng nhận lời. Vậy là con dâu ông đã thông. Ông vẫn luôn luôn cầu mong điều này, nay thì nó đã đến. Ông thở phào: Cơn mưa bão nào dù dữ dội đến mấy cũng có lúc phải tạnh.
Ông còn dặn Hạnh:
– Con dâu nhớ gánh theo chục chiếc lồng gà đi bán. Nếu bán được, con dâu mua thêm cho bố cút rượu!
Hạnh đi bộ hơn chục cây số đường rừng để đến chợ, có bao nhiêu tiền trong túi cô bỏ ra mua thức ăn bằng hết. Hạnh dường như đã phá bỏ, thoát khỏi được tổ ong đất, cả buổi chiều cô dành thời gian để chuẩn bị cho bữa cơm. Cô đi ra, đi vào, tất bật nấu nấu, nướng nướng. Bữa cơm chiều hôm nay phải thật ngon.
– Mẹ ơi! Hôm nay nhà mình có khách quý à? – Bé Đức hỏi.
Hạnh không trả lời, chỉ nghĩ: Còn quý hơn gấp nhiều lần khách quý!
Cả nhà ông Hom ngồi cùng nhau ăn một bữa cơm không có món măng. Thằng Đức là người vui nhất, bởi nó rất yêu quý ông nội và chị Đao. Hạnh tuy vẫn còn ngượng ngập nhưng vẫn luôn tay gắp những miếng ngon cho bố chồng và Đao. Ông Hom mỉm nụ cười nhẹ nhõm: Ông bao giờ cũng nghĩ con dâu là người tốt.
Ăn cơm xong, Đao cùng với Hạnh ngồi ngoài sân rửa bát. Bé kể cho Hạnh nghe những chuyện ngộ nghĩnh khiến cô phải bật cười. Đến tận hôm nay Hạnh mới ngắm nhìn Đao thật kỹ. Con bé thật nhanh nhẹn và xinh xắn. Tại sao mình không nhận thấy điều này sớm hơn nhỉ?
– Cháu có ra suối tắm cùng cô không? – Hạnh hỏi, giọng trìu mến.
Đao đưa mắt nhìn ông Hom như muốn hỏi ý kiến. Ông gật đầu. Đao phấn chấn chạy vụt ngay vào nhà lấy quần áo, gió tung mớ tóc dài mượt của bé vẽ vào không gian hình một suối sao băng.
Đây là lần đầu Đao đi tắm cùng cô Hạnh. Chắc chắn cô không còn giận mình và ông nữa. Đao hát líu lo, giọng bay lên cùng những giọt nắng cuối của một buổi chiều vàng rất đẹp, đàn suối hoà theo những âm thanh trầm bổng. Hạnh vui lây, lòng cô đã rũ bỏ được tổ ong đất, giờ đây nó như dòng mương được khơi thông, êm êm trôi chở nước cho những chân ruộng bậc thang.
Hai cô cháu cùng tắm khoả thân. Nước suối thượng nguồn vô cùng trong sạch và mát, tắm mình dưới làn nước ấy bao giờ cũng có cảm giác bình yên và thanh thản. Bàn tay Hạnh nhẹ nhàng kỳ cọ lên tấm lưng gầy gò của bé Đao, nơi xương sống nổi gồ lên như những gióng trúc cằn. Lòng cô dâng lên cảm xúc kỳ lạ: Trẻ con, bất kể chúng là đứa nào cũng đều hết sức đáng yêu! Hạnh xoay bé Đao quay mặt về phía mình rồi nhìn sâu vào đôi mắt đó. Đôi mắt thiên thần, con ngươi như viên ngọc trong veo.
Chợt Bé Đao rụt rè cất tiếng:
– Cô ơi! Từ nay cô cho cháu gọi cô là Mẹ, cô nhé!
Mũi Hạnh cay như sặc nước, cô choàng ôm lấy cơ thể bé Đao đang ướt sũng và thốt giọng nghèn nghẹn:
– Ừ! Ngay ngày mai Mẹ sẽ mua cho con bộ quần áo mới để con đi học. Con phải cố gắng học thật giỏi để mai kia có thể trở thành Cô giáo dạy chữ cho người dân trong bản Phiêng Đao.
Bé Đao “vâng” thật ngoan rồi dụi đầu vào bầu ngực Hạnh. Bầu ngực của những người mẹ bao giờ cũng rất ấm và êm ái. Chiều không còn nắng. Và lúc này, bầy côn trùng hoạt động về đêm đã bắt đầu tấu lên những thanh âm huyền diệu của sự sống. Trên trời cao lấp lánh đầy ánh sáng của muôn vì tinh tú, soi mênh mang xuống bãi ngàn sao.
Rất có thể về sau này, bản Phiêng Đao sẽ có một cô giáo chính là bé Đao ngày nào vẫn đến lớp với chiếc túi sách được khâu từ 2 mảnh ống quần thấm đẫm mùi măng chua./.
Một ngày, anh hẹn chị ra quán cà phê trước nhà ga chính của thành phố Bremen.
Câu đầu tiên khi gặp anh, chị nói trong sự cáu gắt:
– Ông lại bán xe rồi hay sao mà đi tàu lên đây?
Anh cúi đầu trả lời lí nhí trong hổ thẹn:
– Ừ thì bán rồi, vì cũng không có nhu cầu lắm!
Chị sầm mặt xuống:
– Ông lúc nào cũng vậy, suốt đời không ngóc đầu lên được. Hẹn tôi ra đây có chuyện gì vậy?
Khó khăn lắm anh mới có thể nói với chị điều mà anh muốn nhờ.
Chị cũng khó khăn lắm mới có thể trả lời từ chối:
– Nhưng mà gia đình tôi đang yên lành, nếu đưa con bé về e sẽ chẳng còn được bình yên nữa!
Anh năn nỉ, nhưng thật sự là anh rất bối rối:
– Con bé đã đến tuổi dậy thì, anh là đàn ông, không thể gần gũi và dạy dỗ chu đáo cho nó được. Anh chưa bao giờ cầu xin em điều gì, chỉ lần này thôi. Chỉ cần nửa năm hay vài ba tháng gì cũng được. Em là phụ nữ em gần nó, em hướng dẫn và khuyên bảo nó trong một thời gian để nó tập làm quen với cuộc sống của một thiếu nữ, sau đó anh sẽ lại đón nó về.
Chị thở dài:
– Ông lúc nào cũng mang xui xẻo cho tôi. Thôi được rồi, ông về đi, để tôi về bàn lại với chồng tôi đã. Có gì tôi sẽ gọi điện thông báo cho ông sau.
Anh nhìn chị với ánh mắt đầy hàm ơn. Anh đứng dậy, đầu cúi xuống như có lỗi, tiễn chị ra xe rồi thở dài, lùi lũi bước vào nhà ga đáp tàu trở lại Hamburg.
……….
Anh và chị trước kia là vợ chồng.
Họ yêu nhau từ hồi còn học phổ thông. Anh đi lao động xuất khẩu ở Ðông Ðức.
Chị theo học Ðại Học Sư Phạm Hà Nội
Ngày bức tường Berlin sụp đổ, anh chạy sang phía Tây Ðức.
Chị tốt nghiệp đại học, về làm giáo viên cấp 3 huyện Thái Thụy, Thái Bình. Họ vẫn liên lạc và chờ đợi nhau.
Khi đã có giấy tờ cư trú hợp lệ, anh về làm đám cưới với chị, rồi làm thủ tục đón chị sang Ðức.
Vừa sang Ðức, thấy bạn bè anh ai cũng thành đạt, đa số ai cũng có nhà hàng, hay cửa tiệm buôn
bán, chỉ có anh là vẫn còn đi làm phụ bếp thuê cho người ta.
Chị trách anh vô dụng.
Anh không nói gì, chỉ hơi buồn vì chị không hiểu:
Ðể có đủ tiền bạc và điều kiện lo thủ tục cho chị sang được đây, anh đã vất vả tiết kiệm mấy năm trời mới được. Chỉ vì vậy mà anh đã không dám mạo hiểm ra làm ăn.
“Ðồ cù lần, đồ đàn ông vô dụng…”
đó là câu nói cửa miệng chị dành cho anh, sau khi anh và chị có bé Hương.
Bé Hương sinh thiếu tháng, phải nuôi lồng kính đến hơn nửa năm mới được về nhà.
Khi bác sĩ thông báo cho vợ chồng anh biết bé Hương bị thiểu năng bẩm sinh.
Giông tố bắt đầu thực sự nổi lên từ đó: Chị trách anh, đến một đứa con cũng không làm cho ra hồn thì hỏi làm được gì chứ.
Anh ngậm đắng nuốt cay nhận lỗi về mình và dồn hết tình thương cho đứa con gái xấu số.
Bé Hương được 3 tuổi, chị muốn ly dị với anh.
Chị nói, ông buông tha cho tôi, sống với ông đời tôi coi như tàn.
Anh đồng ý vì anh biết chị nói đúng. Anh là người chậm chạp, không có chủ kiến và không có chí tiến thân, sống an phận thủ thường. Nếu cứ ràng buộc sẽ làm khổ chị.
Bé Hương 3 tuổi mà chưa biết nói.
Chị cũng rất thương con, nhưng vì bận bịu làm ăn nên việc chăm sóc con bé hầu hết là do anh làm. Vì vậy mà con bé quấn quít bố hơn mẹ.
Biết vậy nên chị cũng rất yên tâm và nhẹ nhõm nhường quyền nuôi dưỡng con bé cho anh khi làm thủ tục ly hôn.
Ly dị được gần 1 năm thì chị tái giá.
Chị sinh thêm một đứa con trai với người chồng mới.
Thành phố Bremen là thành phố nhỏ. Người Việt ở đó hầu như đều biết nhau.
Chị cảm thấy khó chịu khi thỉnh thoảng bắt gặp cha con anh đi mua sắm trên phố.
Chị gặp anh và nói với anh điều đó. Anh biết ý chị nên chuyển về Hamburg sinh sống.
Thấm thoát đó mà giờ đây con bé đã sắp trở thành một thiếu nữ.
Tuy chị không biết cụ thể thế nào.
Chị chỉ hiểu, dù con bé lớn lên trong tật nguyền hẩm hiu nhưng anh rất thương nó.
Chị cũng biết con bé gặp vấn đề trong giao tiếp, phải đi học trường khuyết tật. Nhưng con bé rất ngoan.
Anh cũng không phải vất vả vì nó nhiều.
Nó bị bệnh thiểu năng, trí tuệ hạn chế, phát âm khó khăn. Tuy vậy nó vẫn biết tự chăm sóc mình trong sinh hoạt cá nhân. Thậm chí nó còn biết giúp anh một số công việc lặt vặt trong nhà…
………..
Chồng chị đã đồng ý cho chị đón con bé về tạm sống với chị vài tháng, với điều kiện trong thời gian con bé về sống chung với vợ chồng chị, anh không được ghé thăm.
Chị cũng muốn thế, vì chị cảm thấy hổ thẹn khi phải tiếp xúc với vẻ mặt đần đần dài dại của anh.
Vợ chồng chị đã mua nhà.
Nhà rộng, nên con bé được ở riêng một phòng.
Chị đã xin cho con bé theo học tạm thời ở một trường khuyết tật ở gần nhà. Con bé tự đi đến trường và tự về được.
Ði học về, nó cứ thui thủi một mình trong phòng. Ðứa em trai cùng mẹ của nó, cũng như mẹ nó và bố dượng nó rất ít khi quan tâm đến nó.
Niềm vui duy nhất của nó là chờ điện thoại của bố.
Nó phát âm không chuẩn và nói rất khó khăn, nên hầu như nó chỉ nghe bố nói chuyện. Bố dặn dò nó rất nhiều và thỉnh thoảng còn hát cho nó nghe.
Em trai nó học thêm piano, nên nhà mẹ nó có cái đàn piano rất đẹp để ở phòng khách.
Có lần nó sờ và bấm bấm vài nốt.
Mẹ mắng nó không được phá đàn của em. Nên từ đó nó không dám đụng đến nữa.
Có hôm anh gọi điện thoại cho nó, nó nghèn nghẹn nói lõm bõm:
“…đàn… đàn…klavia…con muốn…” Anh thở dài và hát cho nó nghe.
Tháng đầu, hầu như ngày nào anh cũng gọi điện thoại cho nó.
Rồi thưa dần, thưa dần….
Cho đến một ngày anh không gọi cho nó nữa.
Sau một tuần đăng đẳng không nghe anh gọi điện thoại. Con bé bỏ ăn và nằm bẹp ở nhà không đi học.
Chị không biết gì cứ mắng nó giở chứng.
Một đêm, chị bỗng bật choàng dậy khi nghe tiếng đàn piano vang lên.
Chị chạy ra phòng khách, thấy con bé đang ngồi đánh đàn say sưa.
Nó vừa đánh vừa hát thì thầm trong miệng.
Chị cứ há hốc mồm ra kinh ngạc.
Chị không thể tưởng tượng nổi là con bé chơi piano điêu luyện như vậy.
Chị chợt nhớ ra, đã có lần anh nói với chị, con bé ở trường khuyết tật có học đàn piano, cô giáo khen con bé có năng khiếu. Lần đó chị tưởng anh kể chuyện lấy lòng nên chị không quan tâm.
Chị đến gần sau lưng nó, và lặng lẽ ngắm nhìn nó đánh đàn. Chị cúi xuống và lắng nghe con bé hát thầm thì cái gì… Và chị sởn cả da gà, khi chị nghe con bé hát rõ ràng từng tiếng một,
mà lại là hát bằng tiếng Việt hẳn hoi: “…Nhớ những năm xa xưa ngày cha đã già với bao sầu lo… sống với cha êm như làn mây trắng… Nhớ đến năm xưa còn bé, đêm đêm về cha hôn chúng con…với tháng năm nhanh tựa gió…
Ôi cha già đi, cha biết không…”
Chị vòng tay ra trước cổ nó và ôm nó vào lòng.
Lần đầu tiên chị ôm nó âu yếm như vậy. Chị thấy tay mình âm ấm.
Nó ngừng đàn đưa tay lên ôm riết tay mẹ vào lồng ngực.
Nó khóc.
Chị xoay vai nó lại, nhìn vào khuôn mặt đầm đìa nước mắt của nó.
Nó chìa cho chị một tờ giấy giấy khổ A4 đã gần như nhàu nát.
Chị cầm tờ giấy và chăm chú đọc, rồi hỏi, con biết bố con bị ung thư lâu chưa.
Nó chìa bốn ngón tay ra trước mặt mẹ. Chị hỏi, bốn tháng rồi hả.
Nó gật đầu.
Chị nhìn chăm chăm vào tờ giấy, và từ từ ngồi thụp xuống nền nhà, rũ rượi thở dài.
Con bé hốt hoảng đến bên mẹ, ôm mẹ vào lòng, vuốt mặt mẹ, rồi vừa ấp úng nói vừa ra hiệu cho mẹ.
Ðại ý là nó diễn đạt rằng:
– Bố lên ở trên Thiên Ðường rồi, mẹ yên tâm, con đã xin vào nội trú ở trường dưới Hamburg, ngày mai con sẽ về dưới đó, con không ở lại đây lâu để làm phiền mẹ và em đâu, con về ở tạm đây là vì bố muốn thế, bố muốn mình ra đi được nhẹ nhàng và yên tâm là có mẹ ở bên con.
(Đoàn Đức)
Nguồn fb Lê Trung Thận
BÀI SƯU TẦM -HẬU DUỆ VIỆT NAM CỘNG HÒA. A SENSE OF DUTY: MỘT HỒI KÝ, HAI CUỘC ĐỜI. – NGUYỄN MẠNH TRINH
Cuốn sách mở đầu bằng: “Tôi mở mắt chào đời ở Việt Nam tại một Nhà thương Pháp cổ xưa sáu tháng trước khi tổng thống Hoa Kỳ Lyndon B. Johnson ra lịnh cho hàng ngàn Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đổ bộ lên đất nước chúng tôi..”. Đó là một thiên hồi ký của một cậu bé hồi nhỏ sống ở Phi Cảng Tân Sơn Nhứt với ước mơ thành một hoa tiêu vùng vẫy trời cao. Và cũng là những hồi tưởng từ hai đời người, một cha một con, cùng theo nghiệp bay bổng nhưng phục vụ đất nước khác nhau và trong những hoàn cảnh cá nhân khác nhau.
<!>
Người cha luôn luôn là hình bóng đi bên cạnh đời người con với nét hào hùng của một người chiến đấu vì tự do và hiểu được ý nghĩa của tự do. Khi chiến đấu cho đất nước, trung tá Phạm văn Hòa bay chiến đấu cơ A1 sau là hoa tiêu vận tải C130, đã mang cả một thời tuổi trẻ của mình trong ước vọng thực hiện được lý tưởng của mình. Cũng như khi chiến đấu cho đất nước Hoa Kỳ, đại úy Phạm Xuân Quang, một hoa tiêu trực thăng của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, cũng hiểu được giá trị của tự do và nghĩ rằng đã được hưởng ân huệ của đất nước định cư thì cũng phải có nhiệm vụ phải bảo vệ đất nước ấy.
Cầm tập hồi ký “A Sense of Duty: My Father, My American Journey” của Quang X. Pham, tự nhiên tôi lại nhớ đến câu hát “Hòn VọngPhu”. Ở đây, người cha, một phi công của Không Quân Việt nam, bay khu trục rồi chỉ huy một phi đoàn vận tải. Người con, tốt nghiệp đại học rồi gia nhập Thủy Quân lục Chiến Hoa Kỳ thành một phi công trực thăng. Chuyện ấy cũng có thể bình thường. Nhưng người con viết hồi ký về cuộc đời của cha mình và cũng là dịp để nhìn lại một cuộc chiến đã chấm dứt từ ba mươi năm nay, chuyện ấy mới là đáng nói. Qua bóng dáng của người cha, một thời lửa khói được kể lại. Và, tiếp nối, là người con của thế hệ tiếp theo. Không gian bao la nhưng vẫn nằm trong bàn tay người phi công. Tác phẩm, là hồi ký của một người con nhưng đa phần là hình bóng của người cha và những người đồng đội cũ. Cuộc chiến dù đã ba mươi năm qua, nhưng vẫn còn dư âm, tưởng như mới ngày nào…
Cuốn sách mới xuất bản mà đã được sự chú ý rất nhiều. Nhựt báo Los Angeles Times và Orange County Register đều có bài điểm sách. Tuần báo Publishers Weekly và tạp chí Orange Coast Magazine cũng giới thiệu đầy cảm tình và trang trọng. Nhiều tác giả nổi tiếng có nhiều hiểu biết về Việt Nam như Richard Pyle, như Larry Engelmann, như Robert Olen Butler, như James R. Reckner… cũng có những nhận xét xác đáng về tầm vóc cũng như giá trị của tác phẩm. Và, với người Việt Nam, những chính khách như Bùi Diễm, Đỗ Ngọc Yến, Hoàng Đức Nhã,… cũng đã cho nhiều ý kiến đồng tình chia sẻ…
Với riêng cá nhân tôi, tôi đọc “A Sense OF Duty” không phải vì những bài giới thiệu hoặc điểm sách như thế. Bản tâm tôi đã rất thích đọc những cuốn sách viết về chiến tranh Việt Nam. Trong tủ sách của tôi cũng có hàng trăm cuốn Anh ngữ, Pháp ngữ và Việt ngữ về đề tài này. Và, càng đọc nhiều tôi lại có một điều làm tôi ấm ức và cảm thấy bất công. Hầu như những cuốn ngoại ngữ đều chung một luận điệu. Chiến tranh giữa Hoa Kỳ và Cộng sản Bắc Việt, người lính Nam Việt Nam chỉ là vai trò phụ thuộc. Hiếm có cuốn sách nào có cái nhìn chính xác hơn. Khi học môn sử ở chương trình cử nhân, tôi đã nhiều lần nói lên cái tâm trạng và suy nghĩ của mình trong lớp học, của một người lính đã tham dự cuộc chiến.
Thú thực tôi có cảm giác là người cô đơn, một mình phải thuyết phục đám đông đã sẵn ấn tượng từ sách vở. Mà tôi biết, trong dư luận Hoa Kỳ, những người phản chiến nắm phần chủ động. Ngay, một người như John Steinbeck, là một nhà văn nổi tiếng đoạt giải Nobel văn chương năm 1962, tác giả của “The Grapes of Wrath” hay “Of Mice and Men” nổi tiếng nhân bản, mà khi viết những bài ủng hộ chiến tranh Việt Nam như hàng ngày viết “Letters from Việt nam” cho nhựt báo “News Day” hay tranh luận với nhà thơ Liên Xô Evgueni Evtusensko, cũng bị chê là hiếu chiến.
Thành ra, đọc một cuốn sách có nhiều điểm đồng tình với mình, cũng là một điều thích thú. Dù không thích chiến tranh, nhưng chúng tôi vẫn vì bổn phận và chiến đấu hết mình vì bổn phận ấy. Tôi sẽ mang cuốn sách cho những người bạn bản xứ và khoe như tôi đã làm với cuốn sách mới tinh còn thơm mùi mực của nhà văn Ngô Thế Vinh. Có cuốn sách của người Việt Nam viết về chiến tranh Việt Nam tại sao không phổ biến? Để nói thêm một tiếng nói cho những người đáng được nhắc đến.
Ngoài lý do kể trên, còn một lý do khác, kể ra thì cũng hơi riêng tư. Tôi đọc cuốn sách này vì người viết là một Không Quân viết về một người cha Không Quân, niên trưởng của chúng tôi. Và ở đó, tôi tìm được không khí của những phi trường mà tôi quen thuộc. Đời sống ấy, dù đã ba mươi năm qua, nhưng còn phảng phất đâu đây. Mỗi lần nhắc lại là bồi hồi trong tâm. Bạn bè chúng tôi, bao nhiêu người gục ngã. Những chiếc trực thăng nổ tung trên trời, những chiếc khu trục cháy đỏ vỡ toang tầng không, những cái chết hào hùng. Lạ kỳ, khi tôi đọc những trang sách viết về một niên trưởng phi công kỳ cựu, tôi nghe bên tai mình văng vẳng những nốt nhạc của bài Không Quân Hành Khúc. Bài hát ấy, bạn bè chúng tôi thường hợp ca mỗi khi họp mặt như tiếng hát gọi đàn “Giờ đoàn người từng vượt bao biên giới đã chiến đấu. Đã chiếm chiến công ngang trời. Giờ đoàn người còn vượt qua biên giới, quyết chiến đấu. Đi không ai tìm xác rơi. Lúc đất nước muốn, bao người con thân yêu ra đi. Tiếc tấm thân làm gì…”.
Phạm Xuân Quang đã viết “A Sense of Duty” như một tác phẩm đầu tay của một người tỵ nạn đã trở thành một Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, từ những tác động ký ức liên quan đến số phận, niềm hy vọng cũng như những hậu quả phát khởi từ biến cố trong cuộc chiến Việt Nam. Là một người trẻ Việt thuộc thế hệ thứ hai trưởng thành ở Hoa Kỳ, anh biểu lộ tấm lòng tri ân với đất nước đã bảo bọc anh và đã tự mình tình nguyện gia nhập quân đội và trở thành một phi công trực thăng nối nghiệp người cha là một phi công khu trục của Không Quân Việt Nam. Cuộc trùng phùng giữa hai cha con sau một thời gian dài chia cách cũng là một yếu tố để anh có quyết định trên.
Năm 1964, người cha, phi công Phạm Văn Hòa của phi đoàn khu trục 514 bị phòng không Việt Cộng bắn trong khi đang yểm trợ tiếp cận cho bộ binh dưới đất. Được trực thăng Hoa Kỳ cứu cấp sau khi bị đáp ép buộc, ông trở về nhà đúng vào ngày sanh của đứa con trai ông, tên Quang. Sau đó ông lại tiếp tục những phi vụ oanh kích, thi hành bổn phận của một quân nhân trong thời binh lửa. Thâm tâm ông không muốn làm hành động của một anh hùng, nhưng ông hiểu nhiệm vụ của mình để hoàn tất những công việc ấy.
Trước khi Saigon bị quân cộng sản xâm chiếm, Trung tá Hòa chắc chắn rằng vợ con mình đã được di tản. Ông gởi vợ và mấy đứa con lên một chiếc C130 di tản đến Hoa Kỳ. Riêng ông ta không được may mắn. Ông bị ở lại và bị tù ngục hơn mười năm. Những trại khổ hình mà ông đã trải qua như Long Giao, Suối Máu, Sơn La, Hoàng Liên Sơn, Hà Sơn Bình, Hà Nam Ninh, toàn những nơi nổi tiếng là rừng thiêng nước độc. Sau khi gần được phóng thích, Cộng Sản chuyển ông về trại Z0D ở Rừng Lá. Năm 1987, ông được thả về và năm năm sau ông được sang Hoa Kỳ gặp gỡ lại vợ con sau một thời gian sống nghẹt thở vì sự canh chừng của hệ thống công an khắc nghiệt và đa nghi.
Quang Phạm đến Hoa Kỳ lúc chỉ mới mười tuổi và biết vỏn vẹn vài ba chữ Anh Ngữ. Anh bắt đầu vào trường học. Mẹ anh cũng rất cố gắng hội nhập vào xã hội mới và sau đó đã hành nghề kế toán để nuôi cả gia đình. Quang sống trong một gia đình vắng mặt người cha và người mẹ đóng vai trò chủ gia đình. Tất cả đều chung một cố gắng sống sao cho có ý nghĩa trong cuộc đời mới. Bà mẹ muốn Quang học những nghành như y khoa hay dược khoa rất bất ngờ khi nghe Quang nói muốn gia nhập Thủy Quân Lục Chiến sau khi tốt nghiệp cử nhân. Bà không thể nào vui với một ý định như thế. Rồi, rốt cuộc Quang cũng thành một phi công như ước muốn của anh thời niên thiếu.
Năm 1992, gia đình Quang đoàn tụ ở về thành phố Oxnard, California. Quang tốt nghiệp cử nhân và sau đó tình nguyện vào Thủy Quân Lục Chiến thành một phi công đầu tiên của thế hệ Việt Nam thứ hai. Khi Quang vừa tốt nghiệp sĩ quan thì người cha được rời khỏi trại tù Việt Cộng và trở về sống vất vưởng ở Sài Gòn chờ ngày sang Hoa Kỳ định cư. Trong khi đó thì Quang thi hành những phi vụ trong cuộc chiến Bão Sa Mạc tấn công quân Iraq của Saddam Hussein. Hai năm sau, người cha được định cư tại Hoa Kỳ theo diện HO và đoàn tụ với cả gia đình. Nhưng hai ngày sau Quang phải lên đường trên chiến hạm USS Tarawa từ San Diego trên hải trình ở Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, vùng Vịnh Trung Đông, biển Somalia. Sau đó Quang lên bờ làm sĩ quan tùy viên cho Tư lệnh Không Đoàn Ba TQLC. Lúc này, cha con mới có dịp nói chuyện với nhau cũng như gặp gỡ lại những người là chiến hữu Không Quân Việt Nam Cộng Hòa cũ cùng với nghiệp bay bổng.
Trung tá Phạm Văn Hòa đã có dịp kể lại tất cả những chi tiết của cuộc đời nhiều thăng trầm của mình với con và tìm ở đó như một chiến hữu có cùng những giấc mộng thời thơ ấu dù lớn lên và trưởng thành từ thời gian không gian khác nhau.
Khi gặp gỡ lại thân phụ mình, Quang vì những ấn tượng sâu sắc về cuộc đời người cha nên có ý định viết một cuốn sách kể lại những ngày tháng trải qua. Anh ghi chép lại tất cả chi tiết để thành một hồi ký. Năm 2000, ông cựu trung tá Không Quân Việt Nam Phạm Văn Hòa bị xuất huyết não và từ trần. Như thế chỉ còn một mình Quang thực hành chương trình đã định từ trước.
Hành trình của ngươì cha dường như được nối tiếp từ người con. Phi công Phạm Văn Hòa, tức Hòa Điên, một biệt danh mà bạn bè ông thường gọi, chiến đấu để bảo vệ cho tự do của đất nước ông. Là phi công khu trục và vận tải, ông có cái hãnh diện của một chiến sĩ làm nhiệm vụ. Con ông, Phạm Xuân Quang, tình nguyện vào lính để trở thành một phi công trực thăng cũng với ý nguyện phục vụ đất nước đã bảo bọc anh và gia đình và cũng để thỏa mãn cái mộng ước đã có khi còn nhỏ ở phi trường Tân Sơn Nhứt.
“A Sense of Duty: My Father, My American Journey” là một chuyện kể cảm động của những người đến Hoa Kỳ định cư từ những xứ sở xa lạ và đã thành công khi nhập được vào dòng chính. Một độc giả Hoa Kỳ đã viết rằng đã cảm được nỗi đau, nỗi buồn của người kể chuyện khi đọc cuốn hồi ký này. Hoa Kỳ là một xứ sở có rất nhiều những câu chuyện như thế, của những người làm lại cuộc đời từ bàn tay trắng.
Hồi ký này là câu chuyện của gia đình Quang với những người làm trọn nhiệm vụ của mình. Người cha, làm tròn bổn phận với đất nước mình. Người mẹ, làm tròn nhiệm vụ hiền mẫu của mình. Người con, làm tròn nhiệm vụ với đất nước đã nuôi dưỡng bảo bọc mình. Tất cả, là những nỗ lực của những người hiểu được cái giá của tự do.
Bút pháp của Quang là một cách viết tự nhiên có pha lẫn chút trào lộng cay đắng nhưng tràn đầy sức sống của một người hiểu được mình phải bắt đầu từ đâu và đi trên những con đường nào. Trong nhiều chương sách, ít nhất là hơn một nửa trong tổng số 24 chương, tác giả đã nhắc lại thời nhỏ của mình trong khu cư xá trong phi trường Tân Sơn Nhứt, nhìn những phi cơ cất cánh để mơ mộng nối gót hành trình của cha. Cũng như, khi sang định cư ở mỹ, phải phấn đấu thế nào, và hội nhập vào dòng chính ra sao cũng như phải chịu những sự kỳ thị bất công dành cho một cậu bé Mỹ gốc Việt. Quang có nhiều kinh nghiệm từ những va chạm ấy và rút ra một kết luận muốn thành công trong xã hội Mỹ phải làm việc gấp hai và suy nghĩ gấp bốn một đứa bé da trắng bản xứ.
Hình như, Quang cũng có những ngoái nhìn về phía cuộc chiến đã qua. Hành trình của anh, khởi đầu một cách gián tiếp từ thân phụ, qua chiến tranh Việt Nam đến chiến tranh vùng Vịnh, từ một cậu bé con của nguồn gốc quê hương đến một người lính bảo vệ đất nước mà mình trưởng thành. Anh không có mục đích nhìn lại quá khứ mà chỉ muốn nhìn lại những gì mà chúng ta nhớ lại từ quá khứ ấy. Có nhiều câu hỏi được đặt ra với Quang, từ lúc thơ ấu đến lúc trưởng thành.
Những câu hỏi bao quanh cuộc chiến đã tàn lụi và những hệ quả của nó cho toàn dân Việt Nam nói chung và gia đình Quang nói riêng. Những suy nghĩ về tự do và cái giá phải trả của nó. Chính vì suy nghĩ trên nên Quang đã nhập cuộc, như phản ứng của một người trẻ hiểu biết được trách nhiệm của mình.
Cho nên, có một độc giả đã viết “Trước đây, không bao giờ tôi hỏi cha tôi về những chuyện đã xẩy ra từ hồi chiến tranh Việt Nam. Bây giờ, đọc xong cuốn sách này, tôi sẽ hỏi…”
Phải rồi, chiến tranh Việt Nam có những bí ẩn kể như phi lý. Hàng triệu người lính của cả hai bên Nam Bắc và 58 ngàn chiến sĩ Hoa Kỳ bị tử trận. Không chỉ thế, còn hàng triệu nạn nhân chiến cuộc với những biến cố kinh hoàng. Chiến tranh chấm dứt, hơn hai trăm ngàn sĩ quan viên chức Nam Việt Nam vào tù Cộng sản. Hàng triệu người vùi thân biển cả. Tất cả, là trả giá cho tự do. Cái giá khá mắc cho một dân tộc vốn thông minh cần cù…
In một cuốn sách như tác phẩm này có nhiều trạng huống tế nhị mà tác giả phải vượt qua. Rất nhiều nhà xuất bản đòi hỏi phải theo những ý hướng đã định và đề tài chiến tranh Việt Nam không phải là đề tài có nhiều hấp dẫn. Khi nhà xuất bản Random House đồng ý xuất bản thì lại gặp nhiều vấn đề như hình bìa có bản đồ Việt nam với tên thành phố được Cộng sản cải danh lại mà không phải là Sài Gòn. Nhưng rốt cuộc, nhà xuất bản phải nhượng bộ và hình bìa là ảnh hai cha con với bản đồ Việt nam làm nền phía sau với tên của thành phố Sài Gòn. Cũng như trong giai đoạn “edit” có rất nhiều đoạn bị cắt bỏ bởi chủ quan của nhà xuất bản. Dẫu sao, đó cũng là chuyện thông thường khi xuất bản một tác phẩm ở Hoa Kỳ.
Tác giả đã mang sự thành thực cũng như tôn trọng sự thực để làm thành sự quyến rũ cho tác phẩm. Ông không cao giọng rao giảng cũng như muốn làm người phê phán. Ông chỉ mang cuộc đời của mình và của cha mình để tôn vinh tự do và biết phải chiến đấu để có sự cao quý ấy.
Tác giả “A Sense of Duty”, Phạm Xuân Quang, đã phục vụ như một phi công của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, đã tham gia chiến dịch vùng Vịnh và Somalia. Anh cũng là người điều hành công ty QTC Medical Services và CEO của Lathian Systems, công ty mà anh là người sáng lập. Anh cũng là một khuôn mặt quen thuộc của giới truyền thông Hoa Kỳ, đã góp mặt trên nhiều shows vô tuyến truyền hình và truyền thanh. Viết “A Sense of Duty “, anh muốn làm tròn bổn phận của một người với cha anh mình, đất nước mình. Chúng ta hãnh diện có những khuôn mẫu Việt Nam thành công như thế: trung hậu trong gia đình, dũng cảm trong chiến trường và nhạy bén hiệu quả trên thương trường…
Nguyễn Mạnh Trinh
BÀI SƯU TẦM – THẰNG NGỤY CON
Khi bị chuyển về khám đường Bà Rịa, tôi bị nhốt vào một căn phòng rất nhỏ. Trong phòng ấy đã có sẵn một người: ông Đoàn. Cửa phòng là một bửng sắt khá dày, bị sét rỉ toàn bộ, chứng tỏ nó đã khá lâu đời. Sét rỉ đã xoi tấm cửa này thủng nhiều lỗ cỡ đầu ngón tay. Đặc biệt có một lỗ dưới cùng rộng có thể thò lọt cả bàn tay. Những lỗ đó đã cho chúng tôi chút ánh sáng trong căn phòng ít khi được mở này.
Một hôm, tôi đang rầu rĩ bỗng nghe nhiều giọng nữ xôn xao bên ngoài. Tôi chạy lại cửa dán mắt vào mấy lỗ thủng. Thì ra phòng tù nữ ở gần phòng tôi được cho ra tắm giặt. Thật là một cảnh sinh hoạt rộn ràng.
Tiếng gàu thau chạm nhau rổn rảng, tiếng người thúc giục nhau, chen lấn cãi cọ nhau ỏm tỏi. Họ giặt đồ, tắm rửa, chải tóc, phơi quần áo…. trông ai cũng làm việc với vẻ gấp rút. Người quá đông mà chỉ có hai cái giếng, thì giờ cho phép lại giới hạn, nên họ sợ hết phần …
Tôi bỗng giật mình khi thấy một thằng nhỏ từ trong hiên nhảy ra. Nó chạy vụt lại phía hai con vịt xiêm đang rỉa lông cho nhau trước cửa phòng tôi làm chúng hoảng hốt bay xa một đoạn. Một người đàn bà gọi với:
-Không được nghịch, mẹ đánh đấy!
Thằng nhỏ đứng lại. Qua giây phút hoảng hốt, đôi vịt lại tiếp tục rỉa lông cho nhau. Thằng nhỏ khoảng chừng ba bốn tuổi, trắng trẻo, kháu khỉnh làm sao! Tại sao nó lại lọt vào chốn tù ngục này? Nó làm sao chịu được cảnh thiếu ăn, thiếu bạn bè, thèm khát đủ thứ, ngày ngày ru rú trong một căn phòng chật hẹp với không khí ngột ngạt, hôi hám ấy? Tâm tính nó sẽ ra sao về sau? (Sài Gòn trong tôi/ Ngô Viết Trọng)
Thằng nhỏ có vẻ khoái đôi vịt xiêm lắm. Nó đang say sưa ngắm chúng thì mẹ nó gọi trở về phòng. Nó vừa đi vừa ngoái cổ nhìn lui làm mẹ nó phải giục mấy lần. Tôi quay lại hỏi ông Đoàn:
-Bên phòng nữ có một thằng nhỏ dễ thương quá! Vì sao nó phải vô trong này ông biết không?
Ông Đoàn nói:
-Nghe đâu cha nó là một viên thiếu tá đã đi Mỹ còn mẹ nó là một nhân viên Thiên Nga. Khi tôi vô đây đã thấy có nó rồi! Lúc đó nó mới biết đi lẫm đẫm.
Tôi tức cười thốt lên:
-Sau này có thể nó phải ghi vào lý lịch: Mới một tuổi tôi đã phải sống trong lao tù khổ sai của bọn cộng phỉ man rợ …
Mấy hôm nay tôi chỉ được phát mỗi ngày hai vắt nhỏ bột sắn xay chia làm hai bữa với một ít canh cải bẹ xanh mặn chát. Không hiểu thằng nhỏ có được phát tiêu chuẩn khẩu phần không hay phải ăn vào phần của mẹ nó? Tôi nói:
-Thằng nhỏ mặc sức mà thèm đường thèm sữa!
Ông Đoàn cười:
-Ông khỏi lo! Mấy ngày thăm nuôi nó được cán bộ thả đi lung tung, người ta cho nhiều quà lắm. Ngay tại phòng nó lại có rất nhiều người đã từng làm mẹ, làm chị, chẳng ai nỡ để một đứa nhỏ dễ thương như thế đói đâu! Tôi đã từng thấy một con chó mẹ nằm cho mấy con mèo con bị mất mẹ bú. Thiên tính thương trẻ của các bà làm mẹ hẳn còn cao hơn nhiều!
Tôi cảm thán:
-Vậy sao? Hoá ra nó lại sướng hơn lũ con tôi! Tôi có ba thằng con, thằng út có lẽ cũng cỡ tuổi nó. Khi tôi đi tù nó mới vừa đúng một tuổi, chưa biết đứng. Trước kia mình đâu biết dành dụm lo xa, khi vào tù tôi chẳng có chút gì để lại cho vợ con cả. Nghĩ đến cảnh một người đàn bà chân yếu tay mềm phải chạy vạy để nuôi sống ba đứa con giữa lúc này tôi đau ruột lắm Nhưng ăn năn cũng muộn mất rồi!
Mấy hôm sau phòng tù nữ lại được mở cho ra tắm giặt. Thằng nhỏ sau khi tắm rửa xong lại chạy sang trước phòng tôi. Không thấy đôi vịt, nó ngồi vào bậc thềm lưng dựa vào cửa phòng. Tôi thò ngón tay ra lỗ thủng chọt vào lưng nó một cái. Nó giật mình nhỏm dậy quay lại:
-Hết hồn!
Tôi lấy làm thú vị khi nghe một thằng tí hon lại dùng cái tiếng “hết hồn” có vẻ người lớn đó. Biết tôi đùa, thằng nhỏ lại ngồi xuống chỗ cũ. Tôi hỏi:
-Cháu tên gỉ?
-”Ngụy con”!
Tôi ngạc nhiên hỏi lại:
-Chú hỏi cháu tên là gì?
-”Ngụy con”!
-Ai đặt tên ấy cho cháu?
-Mấy chú cán bộ!
-Thế mẹ cháu không đặt tên cho cháu à?
-Có, mẹ cháu đặt tên “con”, mấy chú cán bộ thì kêu “ngụy con” rồi các cô dì trong phòng cũng kêu cháu là ”ngụy con”!
Trời đất ơi! Cái tên này có thể tạo một ấn tượng khó đoán khi thằng nhỏ khôn lớn! Tôi định hỏi vài câu nữa nhưng nó đã bị mẹ nó gọi về phòng
Rồi ngày thăm nuôi đến – ngày đó coi như ngày Tết của khám đường. Các phòng giam đông người đều được mở cửa suốt thời gian cho thăm để người ta tiện đưa đồ thăm cũng như dẫn dắt những người được gặp mặt người thân ra vào.
Những người được ra gặp người thân phải mặc đồ lành sạch. Ai không có phải đi mượn đồ của người khác. Vì vậy, ngày thăm nuôi tù vẫn ăn mặc sáng sủa khác hẳn ngày thường. Các tên cán bộ cũng giả dối dẹp bớt cái vẻ nghiêm khắc hàng ngày để hồ hởi thưởng thức những hơi khói thơm…
Những người không được thăm cũng vui hơn vì ít nhất cửa phòng mở họ cũng hưởng được chút ánh sáng và không khí dễ thở. Họ cũng có thể hưởng ké được chút quà tươi hoặc sớt được phần ăn tiêu chuẩn của những người được thăm không dùng tới. Những phòng ít người phần nhiều đang bị kỷ luật, ít được thăm, cửa đóng im ỉm, nhưng ít nhất ngày đó họ cũng yên trí không bị cán bộ quấy rầy.
Nói chung, trong ngày thăm nuôi, bất cứ ai đang sống tại khám đường cũng chia được ít nhiều niềm vui, dù chỉ là niềm vui tạm bợ giữa một hoàn cảnh bất hạnh. Kẻ hưởng được hạnh phúc thật sự hoạ chăng chỉ có một người: “thằng ngụy con”!(Sài Gòn trong tôi – Ngô Viết Trọng)
Trong lúc cán bộ và tù trật tự bận rộn mang đồ thăm hoặc dẫn tù đi gặp người thân thì thằng nhỏ tung tăng chạy hết phòng này đến phòng khác. Nó rất khôn, cứ gặp cán bộ lại cất giọng lảnh lót “chào cán bộ” thật dễ thương. Vì thế không ai la rầy, cản trở nó cả.
Tôi nghĩ chính thằng nhỏ là một nhân tố làm giảm bớt vẻ ngăn cách giữa cán bộ và tù. Đến đâu nó cũng được tiếp đón nồng hậu, quà cứ nườm nượp vào tay nó. Bao nhiêu lần nó sung sướng ôm đầy quà trên tay: bánh tráng, cốm bắp, kẹo…về giao cho mẹ nó. Trông nét mặt hớn hở của nó vào những lúc ấy ai mà chẳng vui lây!
Rồi một tháng trôi qua, lại đến kỳ thăm nuôi. Hôm ấy trời mưa lâm râm và có gió hiu hắt. Tôi lại dán mắt trước cửa hưởng ké niềm vui của mọi người. Thằng nhỏ lại thả sức tung tăng đi nhận quà.
Thấy trời hơi lạnh, lại sợ con bị ướt nên mẹ nó đã cẩn thận bận thêm cho nó một cái áo mưa bằng nylon khá gọn. (Sài Gòn trong tôi/ Ngô Viết Trọng)
Lần ấy, có lẽ vì quà tặng hơi nhiều, thằng nhỏ lại không biết sợ lạnh, nó cởi cái áo mưa làm đồ đựng. Khi nó đang ôm bọc quà hí hửng chạy về phòng thì gặp Sơn, một tên cán bộ hung ác, nghiêm khắc nhất khám đường. Gã tươi cười một cách đểu cáng, mất dạy, đón nó lại:
-”Ngụy con” có nhiều quà quá, chia cho chú với nào!
Thằng nhỏ lính quýnh giẫm vào chỗ đất trơn, té oạch một cái làm quà văng lung tung. Tên Sơn cúi xuống lượm giùm. Xong, gã vờ bốc lấy một gói giấy, bảo:
-Gói này cho chú xin nghe!
Thằng nhỏ tưởng thật hoảng hốt:
-Không được đâu! Gói này không được đưa cho cán bộ coi!
Nghe thằng nhỏ nói hơi lạ tai, tên Sơn nghi ngờ mở cái gói ra xem. Gã bỗng trừng mắt đạp vào ngực thằng nhỏ một cái làm thằng bé ngã bật ngửa. Thằng nhỏ nằm lặng đi một hồi rồi mới khóc nấc ra tiếng. Ai nấy chới với chưa hiểu chuyện gì thì nghe tiếng tên Sơn nạt lớn:
– Đ.M. đồ cái giống nguỵ ra khác, chưa ráo máu đầu đã học phản động!
Quay lại phía tù trật tự, tên Sơn hét:
-Bắt nó quỳ dưới cột lưới bóng rổ!
Lập tức thằng nhỏ bị lôi dậy, kéo đi. Liền đó tên Sơn dẫn một anh tù trật tự khác đến phòng B5. Gã đứng trước cửa hoạnh hoẹ hỏi chuyện. Lát sau một anh tù vừa mới được thăm nuôi hồi sáng bước ra khỏi phòng. Tên Sơn bắt anh tù đứng nghiêm rồi tha hồ đấm đá người tù khốn khổ, tội nghiệp. Anh tù nhiều lần bị ngã nhưng tên Sơn lại bắt đứng lên để đấm đá tiếp hết sức tàn bạo.
Trong chốc lát anh tù đã xác xơ, rục rã. Nhưng tên Sơn ác ôn vẫn chưa tha, gã còng cắp cánh tay anh ta lại rồi sai người đưa vào phòng kỷ luật.
Trời vẫn mưa lâm râm, gió vẫn hiu hắt. Thằng nhỏ vẫn quỳ dưới chân cột lướí bóng rổ. Tên Sơn vẫn tiếp tục ra vào kiểm soát việc thăm nuôi. (Sài Gòn trong tôi/ Ngô Viết Trọng)
Quá nóng ruột, người mẹ phải liều vói mặt ra khỏi phòng van xin chéo véo. Nhưng tên Sơn cứ phớt lờ, cả giờ sau gã mới chịu cho thằng nhỏ tội nghiệp về phòng. Người nó lạnh như cục nước đá, run lập cập, nói không thành tiếng….
Buổi tối, khi đưa cơm vào phòng tôi, tên Sơn còn ác độc cảnh cáo:
-Các anh coi chừng, chớ lợi dụng “thằng ngụy con” để thông tin tức với nhau! Dù là chỉ hỏi thăm sức khoẻ tôi cũng trị trắng máu ra!
Giờ thì tôi đã hiểu là anh bạn tù ở phòng B5 đã phạm nội quy của khám đường. Về sau tôi được biết rõ hơn là anh này đã gởi quà với mấy lời nhắn cho một người quen ở phòng tù nữ. Vụ trừng phạt ấy cứ lởn vởn ở trong đầu tôi suốt đêm. Tội nghiệp thằng nhỏ đã bị đòn lại phải chịu đựng ướt lạnh suốt mấy giờ.
Sáng sơm hôm sau, tôi đã phải thức giấc bởi tiếng kêu cứu từ phòng tù nữ:
-Báo cáo cán bộ A5 có người bệnh nặng!
Tôi giật mình: biết đâu lại là thằng nhỏ? Tiếng từ phòng trực hỏi lại:
-Nặng bao nhiêu ký?
Tiếng kêu cứu từ phòng nữ có vẻ khẩn thiết hơn:
-Báo cáo cán bộ, phòng A5 có người sắp chết!
-Nghe rồi, đợi đó giải quyết!
Chừng nửa giờ sau tôi nghe có người nói chuyện ồn ào trước sân. Có lẽ cán bộ y tế đã đến.
Rồi cả khám đường yên ắng trở lại. Gần sáng tôi lại bị ông Đoàn đánh thức:
-Ông nghe gì không?
Tôi lắng tai để nghe. Trời ơi, rõ là tiếng kêu khóc thảm thiết của một người đàn bà:
-Con ơi con, sao nỡ bỏ mẹ mà đi như thế con ơi! Con tôi chưa đầy ba tuổi đã biết gì đâu mà phản động, đau đớn lắm trời ơi!…
Tôi giật mình thở dài: Trời ơi, thằng nguỵ con!!!
Liền đó, tôi nghe có tiếng nạt nộ của tên cán bộ Sơn mọi rợ ngu dốt, vô giáo dục:
-Để con bị sưng phổi không chiụ lo báo cáo sớm, bây giờ không để người ta chôn cất còn khóc gào đổ thừa cho ai?
Tiếp đó, tôi lại nghe nhiều tiếng khóc nấc nghẹn ngào, đau khổ, uất hờn của người đàn bà tội nghiệp…
(Sài Gòn )
HOA MỘC TỀ – NGỌC HẠNH SƯU TẦM
Hoa Mộc Tê, tên tiếng Anh là Osmanthus và trong tiếng Trung là Quế Hoa, một loài hoa có mùi hương thơm ngọt giống như mơ chín. Ai đã từng xem qua một vài bộ phim của Trung Quốc có lẽ sẽ quen thuộc cái tên bánh Quế Hoa, đây là một loại bánh lấy hoa Mộc Tê làm gia vị tạo mùi thơm quyến rũ luôn khiến cho các quý tộc Trung Hoa xao xuyến.
Mùi hương Quế hoa thanh ngọt mọng nước như những trái đào hay mơ hay mận chin cây, và đồng thời lại có chút ngậy như sữa. Vì vậy, loài hoa này thường được thu hoạch để ướp trà hoặc ủ mật ong để làm bánh và các loại đồ ngọt hoặc là ủ rượu. Nếu như có ai đam mê về ẩm thực vùng Đông Á, đặc biệt là Trung và Nhật chắc sẽ biết rằng người ở đây họ rất ưa chuộng loại rượu truyền thống: rượu Quế Hoa.
Mặc dù hoa Mộc Tê có nhiều loại khác nhau, và ngày nay được trồng ở nhiều nơi, nhưng cây hoa Mộc Tê vẫn là loại thực vật bản địa của châu Á. Đặc biệt là ở Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản rất ưa chuộng loài cây hoa này với hình ảnh chuỗi hoa vàng tinh khiết bung nở vào giữa đến cuối thu, tầm giữa tháng 10 đến tháng 11. Vì thế loài hoa này còn được người dân Đông Á xem là loại hoa nên thưởng thức khi vào thu, không chỉ vì màu sắc vàng óng tươi sáng của cánh hoa mà còn vì mùi hương ngọt ngào quyến rũ của Quế hoa.
GIAI THOẠI, GIÁ TRỊ VÀ Ý NGHĨA CỦA HOA MỘC TÊ
Có một truyền thuyết bên Trung Quốc nói rằng, vào thời xa xưa, trên mặt trăng có một cây hoa Mộc Tê khổng lồ và vào mỗi tháng, cây Quế Hoa này sẽ nở hoa và thay lá. Khi cây Quế hoa rậm rạp lá hoa thì trăng sẽ khuyết và khi lá rụng hoa tàn thì trăng sẽ tròn.
Cây Quế hoa đã theo chân những nhà buôn Trung Hoa đến với những quốc gia lân cận và ở những quốc gia này đều tỏ lòng yêu mến loài hoa này, đồng thời đặt ra nhiều ý nghĩa cho loài hoa này:
– Ý nghĩa về sự khiêm tốn: Dù có mùi hương rất đậm nhưng hoa mộc vàng bản thân rất nhỏ và giản dị, không quá lộng lẫy.
– Ý nghĩa về sự quý phái: Cây hoa Mộc Tê rất dễ rụng hoa vào những ngày mưa, để lại trên mặt đất một tấm thảm màu vàng cam, khung cảnh đó trông rất trang nhã. Bên cạnh đó, mùi hương của hoa mộc vàng ngào ngạt nhưng lại không thu hút sâu bọ. Có lẽ vì thế mà người Nhật đã gắn nó với sự quý phái.
– Sự may mắn và thịnh vượng: trong văn hóa Trung Quốc, Quế hoa được xem là một biểu tượng của may mắn và thịnh vượng, một phần có lẽ là do sắc hoa vàng rực rỡ. Nó thường được chưng bày trên bàn thờ vào các dịp lễ trang trọng hoặc các dịp đặc biệt để có thể mang lại sự thịnh vượng và tài lộc.
Ở các nền văn hóa Đông Á cổ đại và cho đến hiện nay, hoa Mộc Tê được cho là có nhiều giá trị dinh dưỡng cũng như có giá trị dược liệu như là dưỡng da, chống oxy hóa, giảm đau, kháng viêm hoặc thậm chí là giảm căng thẳng.
HOA MỘC TÊ TRONG NƯỚC HOA
Mặc dù được dùng khá thông dụng trong ẩm thực do mùi hương nồng đậm của mình, hoa Mộc Tê hay Osmanthus fragrans lại vô cùng đắt đỏ trong ngành nước hoa, có thể lên tới 4000USD cho 1 kg, vì sản lượng tinh dầu thơm khá thấp. Tinh dầu hoa Mộc Tê nguyên chất có thể có giá trị còn mắc hơn cả vàng ròng nên Quế Hoa trong ngành hương liệu thường được các nhà chế tác nước hoa tạo ra bằng những nguyên liệu tổng hợp để có thể mang đến cho người tiêu dùng mùi hương ngọt ngào như đào chin của nó.
Vì mùi hương nửa ngọt ngào ngây thơ nửa quyến rũ tinh tế của mình mà hoa Mộc Tê trong nước hoa thường được sử dụng chung với những lớp hoa quyến rũ khác hoặc là mùi da thuộc quý phái để có thể tạo nên mùi hương nước hoa tinh tế, quý phái mà quyến rũ.
Điển hình có thể kể đến hương nước hoa của nhà KILIAN GOOD GIRL GONE BAD, với mùi hương trong trẻo quyến rũ của Quế Hoa xen lẫn trong lớp cánh hoa trắng mịn màng quyến rũ của hoa cam, hoa huệ đồng thời kết hợp cùng với mùi hương kiêu ngạo của hoa Diên Vĩ và hoa hồng tháng năm. Mùi hương của Good Girl Gone Bad vừa thể hiện hình bóng một cô gái ngây thơ trong trẻo lại vừa thể hiện sắc thái điên cuồng hoang dại nữ tính trưởng thành.
Hoặc là mùi hương nước hoa mô tả ánh trăng thiên đường của Estée Lauder PARADISE MOON, lấy cảm hứng từ khu rừng Quế Hoa tỏa hương dưới ánh trăng với tông hương hoa Mộc Tê kết hợp da thuộc làm chủ đạo. Paradise Moon là hương nước hoa thể hiện cảm giác vui tươi trang nhã và quý phái mô tả vẻ đẹp lấp lánh sang trọng của ánh trăng vàng trải trên khu rừng Quế Lâm đang bung nở. Mùi hương mở đầu bằng nốt hương ngọt ngào trong trẻo hoa Mộc Tê của Trung Quốc hòa quyện trong lớp hương hoa trám Tây Ban Nha đầm ấm và kết hợp với lớp hương da thuộc sang trọng quý phái.
Theo: AN Scent
SƯU TẦM LỜI HAY Ý ĐẸP -VTLV
TÌM HIỂU VỀ ĐẤT NƯỚC Ukraine TUYỆT VỜI- (Please Bấm vào mũi tên góc trái, bên dưới bài, để lật trang)
BÀI VIẾT HAY Về TT Ukraine: Đỗ Dung SƯU TẦM
CHỌN “HỀ“ LÀM LÃNH ĐẠO HAY CHỌN LÃNH ĐẠO LÀM “HỀ“???.
Vladimir Zelensky là Tổng thống thứ 6 của Ukraine.
Ông là vị TT được dân bầu với số phiếu 73% thắng áp đảo TT đương nhiệm lúc bấy giờ .
Khi nhậm chức ông mới 41 tuổi – là vị TT trẻ nhất , vóc dáng bé nhỏ nhất trong các đời TT của Ukraine. Rất nhiều người giễu cợt ông là : ”Thằng Hề lên làm TT“ …
Ngay cả bây giờ , nhiều người VN vẫn buông lời châm chọc mỉa mai ông như vậy. Đấy là họ không biết về ông nên mới có lối suy nghĩ thiển cận như thế.
Chúng ta ai cũng biết, người Do Thái nổi tiếng thông minh nhất thế giới. Vậy mà vị TT này được sinh ra trong một gia đình có cả bố và mẹ đều là người Do Thái. Bố của ông từng là Giáo sư , Tiến sĩ khoa học , Trưởng khoa tin học và Công nghệ thông tin ở Viện Kinh tế thành phố Kryiviy Rih. Mẹ ông từng là kỹ sư.
Vladimir Zelensky , trước khi nhậm chức, ông đã nổi tiếng với tư cách là một người dẫn chương trình, diễn viên, diễn viên hài, đạo diễn, nhà sản xuất và là nhà biên kịch. Ông là đồng sở hữu và giám đốc nghệ thuật của Kvartal-95 Studio (2003 – 2019) và Tổng sản xuất của kênh Inter TV (2010 – 2012).
Trước khi vào trường ngữ pháp, ông đã có 4 năm sống ở Mông Cổ (ở thành phố Erdenet), nơi bố Vladimir Zelensky từng công tác. Năm 16 tuổi, ông hoàn thành kỳ thi TOEFL tại Dnipro và nhận được tài trợ để sang Israel du học. Nhưng ông đã không xuất cảnh vì bố không đồng ý . Ông được đào tạo về Luật tại Viện Kinh tế Kryvyi Rih và Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Kyiv. Tuy nhiên, sau này ông không hành nghề Luật chuyên nghiệp.
Khi ông lên nhậm chức, đất nước Ucr đang “nát như tương Bần“ vì nạn tham nhũng, nợ nần và các đảng phái chia rẽ, đấu đá tranh giành ghế trong Quốc hội. Trong 3 năm đương nhiệm bao nhiêu khó khăn ông phải gánh vác. Đỉnh điểm là cuộc chiến không cân sức cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng ngày 24/2/2022 vừa nổ ra. Ông phải đối đầu với một kẻ từng là sỹ quan tình báo có tuổi đời và tuổi “nghề Tổng thống” tương đối kỳ cựu, lão luyện, tinh quái và mưu mô như Putin. Nước Ucr của ông thì thân thiện hiền lành trái ngược với cường quốc hùng mạnh về vũ khí hạt nhân cũng như vũ khí quân sự.
Khi Nga bất ngờ đưa quân đánh úp Ucr với suy nghĩ : ”Tốc chiến tốc thắng“ bắt TT phải đầu hàng hay chạy sang phương Tây trốn để họ dễ dàng lật đổ chính quyền và thay vào đó một bộ máy bù nhìn cho họ thao túng, giật dây điều khiển.
Nhưng không, TT đã từ chối việc Mỹ và các nước đề nghị ông tạm lánh đi nước ngoài. Vị TT mà nhiều người mỉa mai chế giễu gọi là thằng “hề” đó không hèn nhát bỏ dân lại để đi thoát thân. Ông khoác áo lính ra chiến trường để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Ukraine!
Thử hỏi , trên thế giới có được mấy vị TT can trường, dũng cảm và trung thành vì dân vì nước như vậy?. Bảo sao toàn dân không đồng lòng hưởng ứng lời kêu gọi cuả TT đứng lên chống giặc ngoại xâm? Mặc dù ông biết, bản thân và gia đình ông đang là mục tiêu săn lùng số một của Putin. Nhưng ông vẫn xông pha nơi trận mạc bất chấp hiểm nguy.
Trước khi vào trận đánh ông đã kêu gọi và nhắn nhủ toàn dân Ucr :.. Trong trận chiến sinh tử này, có thể mọi người sẽ nhìn thấy hình ảnh của tôi hôm nay là lần cuối…”Người nào nghe xong lời nhắn nhủ của TT cũng đều xúc động và cùng nguyện cho vị TT anh hùng của đất nước được bình an.
Và ông đã trở về trong chiến thắng giòn giã… Dưới sự lãnh đạo của một “thằng hề“ trẻ nhất, bé nhỏ nhất trong 6 đời TT đã khiến một kẻ máu lạnh, độc tài, hiếu chiến như Putin phải nhận một kết cục nhục nhã khi đưa quân vào xâm lược tưởng nuốt sống Ucr hiền lành. Ai ngờ ngờ chuốc lấy thất bại ê chề . Trước đo, TT Ucr nhiều lần gọi điện đề nghị ngồi vào bàn đàm phán để tránh đổ máu cho dân vô tội. Nhưng người đồng cấp Putin không thèm trả lời. Sau nhiều lần TT Zelensky đề nghị, cuối cùng Putin đưa ra một yêu sách: Ucraina phải hạ vũ khí xuống lúc ấy ông ta mới chấp nhận đàm phán!
Ngạo mạn là thế, nhưng bây giờ bị thất bại thảm hại trong trận tấn công xâm lược Ucr mấy ngày vừa qua đã khiến cho “Người hùng“ Putin đã phải xuống nước. Ông ta buộc phải chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với Ucr một cách VÔ ĐIỀU KIỆN!
Bước đầu “thằng hề“ và dân Ucr đã chiến thắng rồi ! Một “thằng hề” kêu gọi thế nào mà khiến cho những người từng xuất ngũ tuổi đời không còn trẻ cũng rồng rắn xếp hàng tình nguyện đăng ký tái nhập ngũ . Những người đàn ông, trai tráng Ucraina đang định cư ở nước ngoài cũng từ giã gia đình, ngược dòng người tỵ nạn hối hả tự lái xe trở về quê hương để chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.
Như vậy thì chọn một “thằng hề“ lãnh đạo đất nước tốt hơn hay chọn một vị lãnh đạo lên làm Thằng Hề nhỉ? Ai có thể trả lời giúp tôi không????