Kiếp Nhân Sinh (Ca Sĩ Thanh Thúy trình Bày)

 

Xin click vào hinh để nghe nhạc




Uyên Phương Minh Nguyệt : Minh Duy – Những tình khúc Hay Nhất.


Đầu tuần, UPMN  thân mến mời các anh chị em và các bạn vào thưởng thức 6 CDs gồm những ca khúc thật hay và trữ tình do nhạc sĩ Minh Duy sáng tác. Trong CD số 6 có nhạc phẩm "Em Muốn Vươn Tay Níu Gió Ngàn" được hát theo lối hòa âm mới, cô ca sĩ Ngọc Khánh hát rất lôi cuốn và hay tuyệt cú mèo, khác hẳn với lối hát của ca sĩ Quỳnh Lan trước đây.

Xin click vào cái link màu hồng dưới đây sẽ thấy 6 cái links của 6 CDs:
 
 
Minh Duy-Những Tình Khúc Hay Nhất




Nam Ca Sĩ của Miền Bắc Cali : Y Thuk

 

 

       Phải,

                 Đúng. Sau khi tốt nghiệp Y Khoa, 1987 – 2004  em là Giáo sư giảng dạy tại Đại Học Y Khoa Tây Nguyên BMT.

            Em tham lam lắm. Trong thời sinh viên Y Khoa, em học thêm thanh nhạc, đồng thời là thành viên của đội Văn nghệ sinh viên.

    Nghe đâu em đọat nhiều giải thưởng về âm nhạc ?

         Em đọat nhiều giải thưởng ca nhạc như : 03 huy chương vàng, và 02 huy chương bạc về nghệ thuật ca hát .
 

     Ồ anh nghe Hoa, vợ em nói rằng, em thích làm từ thiện và mục đích nào đưa em có ý nghĩ đi làm từ thiện ?

 người Tây Nguyên dễ mến, thật thà với bản chất núi rừng không dễ đổi thay. Y thức nhin tôi :

          Tại vì em đã sống nghèo, em nhìn thấy bố em và dân trong "Buôn" sống rất nghèo khổ.

Đồng bào Tây Nguyên đa số là nghèo, do đó em sáng lập Hội Thày Thuốc Tình Nguyện khám và chữa bệnh cho dân nghèo tại nhiều nơi trong tỉnh được mấy năm trưóc khi qua Mỹ đoàn tụ với gia đình.

             

 




Flash : Nha -Trang và bản nhạc Nha Trang của NS Minh Kỳ.

Cầu Bóng
Click vào hình để xem sliders

 
1.
Nha-Trang là miền quê hương cát trắng trông lên xanh len mầu trời, nhìn ngoài nước thắm xa khơi
Nha-Trang hòa bình vương vương khắp lối, đêm đêm trăng thanh rạng ngời
ngày ngày nắng ấm xinh tươi

Nha Trang còn tràn hương thơm gió núi, hoa xuân trao nhau nụ cười
người người sánh bước chen vai
Nha-Trang là miền khách du muốn tới, cho phai bao nhiêu bụi đời,
để tìm nguồn yêu sống vui…

Là đây biển tình bao la, hoài trông sóng chiều vươn xa
lòng đôi lứa thề trăm năm chung duyên tơ
và đây bát trà hương đưa, từ đôi quán hiền đơn sơ
làm khách viếng Cầu Đá say mơ…

Nha-Trang người lành thêm duyên biển mới
Ai qua không quên để lại một vài luyến tiếc xa xôi
Nha-Trang lời này mong sao nhắn tới
Tuy xa bao nhiêu ngày rồi, mộng đẹp còn luôn với tôi…

2.
Nha-Trang là miền quê hương cát trắng quanh năm giao duyên biển trời,
Đẹp lòng sóng gió reo vui
Nha-Trang gần đồng phương Nam sáng chói
cách xa mây giăng cuộc đời người mái ấm nơi nơi

Nha-Trang từ ngày xua tan bóng tối
Mơ say dâng lên bầu trời
Thề cùng giữ vững tương lai ắng
Nha-Trang ngày này khách du bước tới
Không ai quên trao nụ cười
Để mừng lòng thêm thắm tươi.

Là đây đá chồng nên thơ
Người ôm túi đàn rung tơ
Nằm nghe sóng triền miên như êm êm ru
Và đây Tháp Bà thiên thu
Người chen đến tìm dâng hoa
Cầu cho nước nhà mãi yên vui

Nha-Trang dù ngàn câu ca tiếp nối
Không sao ghi cho vẹn lời
Là miền bát ngát xinh tươi
Nha-Trang mộng này mong ai nhắn tới
Mai đây đem muôn nụ cười cảnh đẹp mừng reo đón tôi …

———————————

Nha Trang là miền quê hương cát trắng
Có những đêm nghe vọng lại
Ầm ầm tiếng sóng xa đưa
Nha Trang cảnh đồng bao la bát ngát
Hương quê dâng lên ngào ngạt
Hòa cùng sức sống yên vui.

Nha Trang cảnh đẹp nên thơ khiến nhớ
Bao năm du khách hằng chờ
Một ngày ghé đến Nha Trang
Ai ơi người về cho ta nhắn với
Nha Trang quê hương dịu hiền
Ngàn đời lòng tôi mến yêu.

Còn đâu những chiều vui xưa
Còn đâu những chiều say sưa
Ngồi nơi biển buồn trông ra khơi mênh mông.
Còn đâu Tháp Bà êm mơ
Còn đâu đá Chồng bơ vơ
Còn đâu bến Cầu Đá nên thơ.

Nha Trang cảnh đẹp trăng thanh gió mát
Ai qua không quên để lại
Một vài luyến tiếc xa xôi
Ai ơi người về cho ta nhắn với
Nha Trang quê hương dịu hiền
Ngàn đời lòng tôi mến yêu.




Thiên hùng Ca QLVNCH

Thiên hùng Ca QLVNCH





Nhạc sĩ Nguyễn Đức Đạt

NGUYỄN ĐỨC ĐẠT FLAMENCO, ÂM THANH & ÁNH SÁNG GIỮA LÒNG NGƯỜI. 

Nhận định : Phạm Lễ.  

Flamenco “Tiếng đàn đi cùng năm tháng” là nghệ thuật trong truyền thống văn hoá dân tộc vùng Andalucia miền Nam Tây Ban Nha,  âm thanh rung động cảm xúc từ con tim và nhịp đập diễn tả những vinh quang, bi kịch của dân tộc này qua nhiều thế kỷ bị ngoại xâm. Nhưng ở Nguyễn Đức Đạt thì Flamanco lại giúp cho anh thoát ra khỏi “Đáy Sâu Vực Thẳm” đã quá bất hạnh trong những khổ đau, qua âm nhạc là phương tiện diễn tả xúc cảm để ra khỏi mọi nghịch cảnh đau thương tìm lại đưọc những an nhiên tự tại với thương yêu của tình người.

Flamenco được diễn tả bằng nhiều phong cách:

Hát với phần đệm guitar, múa Flamenco, độc tấu guitar Flamenco. Những người Di-Gan thời trước ăn mặc trang điểm màu sặc sỡ như chim hồng hạc, nên gọi là: "flamencòs”, gần đồng âm với chữ "flamengo" (hồng hạc). Được xem là tuyệt đỉnh văn hoá truyền thống dân tộc trong sáng tạo nghệ thuật của Tây Ban Nha, vũ điệu Flamenco đi kèm với yếu tố quan trọng khác, là: "Những tiếng giậm chân, những tiếng vỗ tay phức tạp hỗn hợp và điểm vào đó những tiếng hét "Ole!" đúng nhịp".

Theo nhà phê bình âm nhạc Phạm Văn Kỳ Thanh (tức luật sư Phạm Mỹ Lộc ở San Jose) các công trình nghiên cứu âm nhạc từ nhạc cụ, thẩm âm và sáng tác thì cả hai nhà phê bình âm nhạc qua nhiều năm tháng giảng dạy về tây ban cầm tại âm nhạc viện Bach ở Saigòn trước khi du học Hoa Kỳ vào cuối thập niên 1960 đã cho biết:  

Trước hết, muốn trình diễn một bài nhạc Flamanco, người nhạc sĩ trình diễn hay sáng tác phải biết tập hợp của một số đoạn nhạc ngắn, gọi là “Compas”. Mỗi đơn vị căn bản này gồm có bốn ô nhịp theo thể 3/4 , tức là mỗi compass sẽ có 12 phách.Những phách cần nhấn mạnh trong một compass là ba(3), sáu(6), tám(8), mưòi(10) và mười hai(12). Riêng phách mưòi hai thì không bắt buộc và có thề bỏ qua không cần nhấn mạnh ở đây.

Bên dưới phách mười một và mười hai lại ghi hai số một (1) và hai(2) là để đếm cho dễ đọc. Vì đọc “một, hai” dễ hơn là “mười một,mười hai”. Như vậy thì cá phách trong một “compass” sẽ được đọc như sau :

1-2-3-4-5-6-7-8-9-10-(1)-(2) và cứ tiếp tục cho đến cuối bài nhạc. Chúng ta cố dùng hai compass để thấy là phải lập lại 1,2 ở cuối câu trước và ở đầu câu sau.

Ban đầu thì nên vỗ tay chậm rồi tăng dần tốc độ sao giữ nhịp cho thật đều. Nên vỗ theo lối Palmas sordas trước rồi sau đó mới chuyển sang palmas Fuertes. Để cho dễ nhớ cấu trúc của những compass này, chúng ta có thể chia các phách thành hai nhóm 3 và ba nhóm 2

  3/4   1-2-3-4-5-6-7-8-9-10-(1)-(2)   1-2-3-4-5-6-7-8-9-10-(1)-(2)

Đó là những phương pháp  căn bản thực tập đầu tiên về thể nhịp của loại nhạc Flamanco trước khi chúng ta đi vào sáng tác hay hòa âm cho thể điệu nhịp theo Flamanco.

Ở Việt Nam, từ 1963 trình diễn Flamenco guitar được khởi đầu bởi các nhạc sĩ Hoàng Bữu, Trần Văn Phú, Cam Sành…  Một số người chơi Tây ban Cầm ở  VN thời giưã thập niên 1950 sau khi chia đôi đất nước, trong giới thanh niên sinh viên Saigòn thời đó có anh Đoàn Châu Nhi (là trưởng nam của cố tài tử Đoàn Châu Mậu) từng nhiều lần biểu diễn trước hàng ngàn khán thính giả. Sau đó có một số người say mê với những nhịp điệu, âm thanh của Flaminco. Âm Nhạc Viện Quốc Gia thời VNCH nhạc sĩ Dương Thiệu Tước một vị thày khả kính trong nền âm nhạc Việt nam dạy các môn sinh của ông về trình tấu guitar nhạc cổ điển nhiều hơn là loại Flamanco.

Đến nay sau gần nửa thập kỷ, tôi đến với buổi trình diễn của Nguyễn Đức Đạt do Nhóm Thân Hữu Truyền Thông và Ban Hoa Hậu Áo Dài Bắc Cali tổ chức lần thứ nhì tại San Jose, người nghệ sĩ guitar flamenco khiếm thị này được giới am hiểu về âm nhạc nhìn nhận là đã khai thác và biểu diễn khá chuẩn xác thể loại guitar Flamenco truyền thống Tây Ban Nha. Sau nhiều năm tập luyện và nghiên cứu đã nhận bằng âm nhạc về nghệ thuật này tại Fullerton .Nhiều lần biểu diễn khắp nơi , với kỹ thuật điêu luyện anh không những làm khán giả say mê mà thậm chí còn làm kinh ngạc các guitarist đến từ xứ sở của nghệ thuật này.

Đến nay ý nguyện của Nguyễn Đức Đạt đã thực hiện được qua nhịp tim cuả tần số rung, với khối óc thiên phú phản xạ của Thalamus Hypothesis là đưa kỹ thuật Flamenco truyền thống và những kỹ thuật mới của anh vào các tác phẩm hợp soạn của mình như Mây Vô Xứ, Tình Hoang, Hồn Vọng Phu, How Can I Tell Her, Cây Đàn Bỏ Quên…; cũng như chuyển soạn các ca khúc Việt Nam theo phong cách Flamenco.

Thành công của anh đã thực sự đem đến cho kỹ thuật độc tấu guitar theo thể điệu Flamanco, cũng như những tác phẩm Việt Nam được anh chuyển soạn cho guitar độc tấu mang đến cho người nghe những ấn tượng âm thanh vang vọng đầy cảm xúc và tràn đày màu sắc mới lạ.

Ngày 15.08.2009, tại San Jose mặc dù khoảng không gian chưa được trang nghiêm đúng mức cho một buổi trình diễn âm nhạc thính phòng trong căn phòng chưá khoảng 200 người không đủ hơi mát, tuy nhiên buổi cuối hè biểu diễn của anh đã đưa chúng ta đến  những âm thanh guitar Flamenco huyền diệu với những bài độc tấu đặc sắc, đầy cảm xúc với cá tính riêng, đánh dấu những tháng năm cầm đàn của anh.

 

Lần đầu tiên những âm thanh Flamanco là giòng nhạc đặc trưng của nền văn hoá Colombia và Tây Ban Nha như Aranjuez, Solea, Colombianas, Fandagos, Levante, Alegrias…mà người có trình độ thẩm thấu âm thanh đã có dịp nghe những nghệ sĩ hàng đầu của Tây ban Nha trình bày như José Luis Ordonez, Pilar Andujar Grech và Jesus Matias Solano giới thiệu đến khán giả trong những đêm dành riêng cho dòng nhạc quyến rũ trước đây thì phải nói lần trình diễn này của Nguyễn Đức Đạt là một nhạc sĩ chuyên chơi dòng nhạc của Việt Nam bằng nhạc cụ guitar theo tiết tấu Nam Mỹ mới và vô cùng đa dạng ở thể loại Flamanco.

Nguyễn Đức Đạt cũng hướng theo con đường của José Luis Ordonez vừa là nghệ sĩ guitar flamenco, vừa là ca sĩ có khả năng biểu diễn nhiều loại nhạc khác nhau. Nghệ sĩ có phong cách khá đặc biệt này, đã từng theo học flamenco tại Fullerton và chơi flamenco tại khá nhiều địa điểm trình diễn âm nhạc ở khắp nơi…

Nhân vật nổi tiếng nhất trong ban nhạc đang đắt sô hiện nay về Flamenco – là nhạc sĩ Lê Minh Sơn ở Việt Nam. Nhưng sự chú ý của khán giả đối với Nguyễn Đức Đạt trong lần thứ nhì đến với Thung Lũng Hoa Vàng đã dành cho anh nhiều ái mộ đối với tài năng qua kỹ thuật trình diễn rất đặc sắc ở đôi tay truyền cảm bén nhạy và linh động trong những nhịp rung của giây đàn. Đặc biệt trong bài Hồn Vọng Phu với trình độ khá điêu luyện anh đã nhập giây thứ sáu (E) vào giây thứ 5 (A) để chuyển âm thanh trở thành tiếng trống luyến láy quện vào âm thanh những ngón tay nhịp xuống thùng đàn như vó câu muôn dậm ngựa phi, đôi khi vẫn bị hút sang những bông hồng có phong cách biểu diễn thật sôi động và quyến rũ – như  Ngọc Dung đến từ Canada giữa Mây Vô Xứ , Thu Nga với Cây Đàn Bỏ quên của San Jose.

Không phải con nhà nòi, nhưng rất đơn côi và nhiều bất hạnh từ năm 6 tuổi, Nguyễn Đức Đạt đã trải qua những giai đoạn đau thương nhất trong thời niên thiếu với sự khiếm thị oan nghiệt, trong  hướng đi của cuộc đời đầy bất định đã đột biến làm cho anh học nhạc. Sớm bộc lộ năng khiếu và cả mối duyên với cây đàn guitar, anh đã quyết tâm theo đuổi nhạc Flamanco. Ngay khi tốt nghiệp loại giỏi về guitar tại Fullerton.

Tuy vậy, những người yêu nhạc và khán giả lại ít quen thuộc với người nghệ sĩ khiếm thị guitar Flamenco này trong vai trò thành viên của nhạc Flamenco, do đó có những nhận xét chưa mấy chính xác về người nghệ sĩ này. Người nhạc sĩ này từng là nhân vật nổi bật của nhiều chương trình.

 Chuẩn bị cho giải  Hoa hậu Áo Dài Việt Nam 2010, Ông Vũ Ngọc Ân một người bạn cố tri từ thời niên thiếu của chúng tôi đã cùng cô Huyền Trân Trưởng Ban Thi Hoa Hậu Áo dài hàng năm đã phối hợp với 12 thân hữu để tổ chức Liveshow này cho Nguyễn Đức Đạt, và những người bạn…

Nhịp điệu trẻ của âm nhạc khá đặc biệt này cũng có hẳn một chương trình giới thiệu về Flamenco cho Nguyễn Đức Đạt từ những người lần đầu giới thiệu anh với Thung Lũng Hoa Vàng.

Nguyễn Đức Đạt tham gia Flamenco với ít nhiều sự hiếu kỳ muốn thử sức với dòng nhạc trẻ trung, sôi động khác hẳn với thế giới nhạc cổ điển bấy lâu quen thuộc của mình. Vậy mà gần như ngay lập tức, anh bị cuốn hút bởi sự nồng nhiệt, sự sống, sức trẻ trong những giai điệu Flamenco. Ngoài đời là một người hơi trầm tính, yêu đời không mặc cảm, không ngần ngại bộc bạch niềm hy vọng và hân hoan chưá chan  ngay cả khi lên sân khấu, Nguyễn Đức Đạt lại có phong cách mạnh mẽ đầy tự tin, quyến rũ toàn bộ người dự khán.

Không chỉ là một nghệ sĩ guitar Flamanco tài năng, Nguyễn Đức Đạt còn được nhìn nhận như một nhạc sĩ trẻ nhiều triển vọng. Theo học chuyên ngành sáng tác một cách bài bản, đã ấp ủ những tác phẩm đầu tay từ khá lâu, nhưng anh cũng chỉ mới gửi gắm tới công chúng một số bài hát tâm đắc của mình qua giọng ca của bằng hữu và chính anh phụ soạn. Lịch biểu diễn của anh tuy không dày đặc với các sân khấu, dường như là một ái lực không nhỏ với Nguyễn Đức Đạt, nhưng nghệ sĩ này cảm thấy hạnh phúc với sự bận rộn của mình.

Mười ngón tay ngà trong kỹ thuật reo dây “tremolo” – Tây ban cầm độc tấu theo thể loại Flamanco của Tây ban Nha. Người tạo được tiếng đàn mang âm hưởng flamenco khá hiệu quả trong lần trình diễn thứ nhì tại San Jose là nhạc sĩ Nguyễn Đức Đạt người có kỹ thuật tạo cho người dự khán không thể bỏ rơi bất cứ nốt nhạc nào do bàn tay điêu luyện của anh tạo ra… còn hiện nay thì gần như không có ai theo đuổi nghệ thuật Flamenco – dòng nhạc đặc trưng của xứ sở đấu bò tót, âm điệu rộn ràng, cuồng nhiệt, cuốn hút nhiều khán giả yêu nhạc trên thế giới.

Thế nhưng ở San Jose, tìm một nơi thưởng thức flamenco đúng nghĩa không phải là chuyện muốn là được.  Chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với guitarist Nguyễn Đức Đạt, người gần 5 năm qua đã biểu diễn và sáng tác nhiều tác phẩm flamenco cho guitar…

Anh có thể giới thiệu đôi nét về nhạc flamenco?

– Có thể khái lược rằng flamenco là nghệ thuật độc đáo, hấp dẫn, ra đời từ âm nhạc dân gian ở miền nam Tây Ban Nha (TBN), gắn bó mật thiết với dân tộc người Gypsy. Khi nói đến flamenco không ai có thể quên hình ảnh cây đàn guitar huyền thoại, bởi nó là linh hồn của loại nghệ thuật này. Guitar, flamenco, đó là niềm tự hào của người dân TBN và ngày nay flamenco được xem là một trong những biểu trưng di sản văn hóa của đất nước này.

Theo anh, những điều quyến rũ ở flamenco là gì?

– Flamenco dựa trên 3 yếu tố chính là bài hát, vũ điệu và đàn guitar. Cũng có những giai điệu bài hát u buồn, đau xót nhưng đa phần là mang tính chất sôi nổi, hào hứng, cháy bỏng… Các vũ công thường mặc trang phục rực rỡ, nữ thường mặc váy xòe nhiều lớp ôm sát người, guitar với những âm hưởng mạnh mẽ, sôi động cuồng nhiệt. Flamenco với phong cách tự do, phóng khoáng, nhiều ngẫu hứng. Những ca sĩ, nhạc công và vũ công thường có những ngẫu hứng sáng tạo bất chợt hòa quyện trong không gian âm nhạc cuồng nhiệt. Theo tôi đó là nét đặc trưng quyến rũ nhất.

Để có thể chơi flamenco, guitarist cần những chất hay yếu t nào?

– Ngoài sự đam mê và tinh thần âm nhạc “cháy bỏng”, để chơi được flamenco, cần nhiều chất hay yếu tố như: sức mạnh của bàn tay (bàn tay to, ngón tay dài, móng tay cứng) để đạt được tốc độ nhanh và cường độ mạnh; có khả năng bắt chuớc và ngẫu hứng sáng tạo tốt và phải thành thạo những kỹ năng, kỹ thuật phức tạp của flamenco.

 Nếu một tối bất chợt muốn nghe flamenco,?

Nếu là flamenco “tinh tuyền” thì không có, nhưng nếu muốn nghe “new flamenco” quí vị chỉ có thể  và duy nhất là nên mua một điã nhạc của chính Nguyễn Đức Đạt. Tuy chưa có thể so sánh với những bậc thầy về guitar Flamanco như Juan Grecos hay Juan Martin…Nhưng từ điã nhạc này của Đạt cũng sẽ giúp cho qúy vị vơi đi những ưu phiền chan chưá, và thay vào đó là những niềm vui nho nhỏ làm cho trái tim người nghe thổn thức trong giây phút…

Hiện nay, giới trẻ có xu hướng chung là thích nhạc HipHop, Rock, Rap… Theo anh Guitar Flamanco sẽ đi đến đâu?

Tôi thấy giới trẻ có rất nhiều bạn mê guitar đấy chứ. Cụ thể là những chương trình chúng tôi tổ chức có nhiều khán giả là các bạn thanh niên lắm. Vả lại chúng tôi tự tin với con đường của mình. Tôi rất thích một câu nói của một nghệ sĩ saxsophone tên tuổi: "Âm nhạc đỉnh cao không thể bình thường và không nên tầm thường", vấn đề chỉ còn là thời gian.

Khuynh hướng mới trong nghệ thuật trình diễn Guitar đương đại của anh là gì?

Là cách thể hiện mới trong nghệ thuật trình diễn Guitar Flamanco. Ví dụ: Cùng một cây đàn tôi có thể mô phỏng nhiều nhạc cụ dân tộc Việt Nam thông qua việc biến đổi âm thanh hay màu sắc, thể hiện tính năng đa dạng, phong phú của cây đàn Guitar khi trình diễn thể nhạc Flamanco.

Cùng một cây đàn Guitar tôi có thể làm tiếng trống trên thân đàn: Từ trống cơm đến trống hội, mõ, phách… mô phỏng các nhạc cụ như đàn Tranh, đàn Bầu, đàn Nguyệt đến các loại khí nhạc Tây Nguyên như: Cồng, Chiêng, T"Rưng, Klongpút. Điều này sẽ tạo nên sự bất ngờ đối với người nghe đó là sự quyến rũ của Guitar. (PL ghi nhận)

 

                                    

Thưa quý vị,

Chiều hôm qua, chủ nhật 16/8/2009, một chương trình nhạc "bất thường", hiểu theo nghĩa không giống ai, do 1 nhóm truyền thông & thân hữu tại  San Jose ái mộ & mến thương nguời nhạc sĩ trẻ đa tài nhưng nhiều bất hạnh, chung góp một số tiền nho nhỏ đứng ra tổ chức.
 Sở dĩ có  buổi trình diễn đặc biệt này vì một số anh em thân hữu & truyền thông,  mà ý tưởng khởi đầu là nhà báo Thư Sinh  xướng lên, sau khi tham dự buổi  trình diễn đầu tiên của Nguyễn đức Đạt tại San Jose do Ban Hoa Hậu áo dài Bắc Cali tổ chức vào tháng 7 năm 2009 tại Santa Clara Convention để gây quỹ cho các em bé mồ côi tại VN, nghe và xem Nguyễn đức Đạt ca hát, độc tấu Tây Ban Cầm quá xuất sắc, bèn có ý nghĩa sẽ tổ chức thêm một lần nữa để mình và các thân hữu chưa có dịp nghe và xem tài năng trình diễn của người nghệ sĩ mù này.
Các anh em thân hữu liền tiếp xúc trực tiếp với Nguyễn đức Đạt ngay sau buổi trình diễn để hỏi xem chi phí  trình diễn ( nói nôm na là tiền cát xê) là bao nhiêu, và được Đạt trả lời là : các chú đưa cho cháu chút đỉnh thôi, cộng thêm tiền vé máy bay là được rồi. Còn chi phí ăn ở di chuyển thì không cần  vì cháu sẽ ở tại nhà một chú trong Ban tổ chức Hoa Hậu Áo dài. Ở nhà chú này rất thuận tiện vì có chú " dẫn đường, chỉ lối " chứ ở khách sạn một mình buồn lắm, vả lại không có ai giúp đỡ cháu đi lại trong sinh hoạt  bình thường được.
Nhận thấy số tiền  chi phí không lớn lắm, các anh em bèn xúc tiến việc tổ chức .  Và công việc đang tiến hành tốt đẹp, thì người khởi xướng đầu đàn là nhà báo Thư Sinh phải về VN thọ tang bà nhạc mẫu.
Tuy vậy , các anh em cũng vấn tiếp tục công việc tổ chức . Và cuối cùng  buổi trình diễn đã thành công tốt đẹp với hơn hai trăm khán thính giả tham dự.
Đã gọi là một buổi tổ chức " không giống ai "( không bán vé, tham dự hoàn toàn  miễn phí ), có thể chưa có một Ban tổ chức ca nhạc nào tại San Jose đã từng công khai công bố tài chính, Ban Tổ chức  cũng xin làm" một việc không giống ai " là xin báo cáo tình hình tài chánh  công khai cho mọi  người cùng biết.
Rút kinh nghiệm sinh hoạt cộng đồng tại San Jose, báo cáo lạng quạng tài chính coi chừng bị " RECALL "
Tổng số tiền thu được do sự đóng góp của một số anh em thân hữu và sự ủng hộ vào giờ phút  cuối trước 30 phút  của buổi trình diễn của một số khán giả tham dự biết được khi nghe thông báo trên đài phát thanh là : $1,460.00( một ngàn bốn trăm sáu mươi đô la )
Tổng số chi ( gồm  các số tiền " cát xê ", chi phí âm thanh, banner, tiền thuê nhân công dọn dẹp hội trường, thuê sân khấu , tiền nước uống cho các ca sĩ, nhân viên âm thanh ) là :  $1,778.00 ( một ngàn bảy trăm bẩy mươi tám đồng )
Như  vậy, Ban tổ chức phải bù lỗ là : $ 318.00 ( Ba trăm mười tám đồng )
Một anh trong Ban Hoa Hậu áo dài và một vài thân hữu sẽ bù lỗ phần này. Ham vui thì  cũng phải ráng chịu mà thôi.
 Xin mời quý vị đọc một vài chi tiết nhỏ về cuộc đời bất hạnh,  rất đáng thương  của Nguyễn đức   Đạt và xem một vài tấm hình chụp rất đẹp của  một thân hữu gửi  đến  dưới đây

Em sáng mắt dắt người anh mù lòa đi xin ăn
Nguyễn đức Đạt sinh năm 1970 tại Saìgon. Anh bị mù từ lúc bẩm sinh. Anh mang hai dòng máu Mỹ Việt. Năm 1971, cha của Anh là một cựu quân nhân Hoa Kỳ tham chiến tại VN , trở về Hoa Kỳ để lại Mẹ và Anh ở lại VN.
 Một  năm sau. Mẹ Anh đi thêm một bước nữa và Anh có thêm một  một người em gái " cùng mẹ, khác cha tên  Dung
Người cha dượng sau này là người VN.
Sau biến có đau buồn 1975, người cha dượng và Mẹ của Anh lần lượt qua đời, bỏ lại Anh và em gái bơ vơ giữa chợ đời. Hai anh em, người em gái sáng mắt dắt người Anh trai mù lòa đi xin ăn để sống còn trong cái bối cảnh tang thương, nghèo khó  lạc hậu của xã hội dưới chế độ Cộng sản chuyên chế VN. Hai anh em nương tựa vào nhau ở một vùng ngoại ô nghèo nàn, ven biên thành phố Saigon hoa lệ.
 
"Tôi ngồi trong bóng tối, nghe đời đi xa xa" (1)
Tuy bị mù nhưng Anh rất thích nghe nhạc. May mắn thay,  trong xóm của Anh có một Ông chủ hiệu một tiệm nhỏ chuyên sửa Radio & TV. Suốt ngày Ô. chủ hiệu này mở  đủ mọi loại nhạc để nghe, vừa để thử máy và cũng nhân dịp nghe nhạc cho đỡ buồn. Anh bắt đầu mê  âm nhạc  từ lúc đó. Đôi khi Anh nhờ người em gái dẫn Anh ra tiệm hớt tóc gần nhà để hớt tóc và  trong khi chờ đợi, Anh thường gõ nhịp trên bàn  hoà theo tiếng đàn tiếng hát của các ca sĩ phát ra từ  cái Radio  của tiệm.
Môt hôm có một Ông khách và đồng thời cũng là một Ông bầu  có ban nhạc trình diễn các đám cưới, cũng ra tiệm hớt tóc, nhận thấy cậu bé 7,8 tuổi này có  năng khiếu về âm nhạc đặc biệt là đánh trống( vì cậu bé này gõ nhịp theo rất hay), nên Ông khách này kéo về nhà và dậy Anh học đánh trống.
Từ đó Anh đi theo ban nhạc đánh trống kiếm thêm tiền vào lúc 8 tuổi
Năm 1991, Anh và em gái đến Hoa Kỳ định cư tại miền Nam California theo diện con lai.
Nhờ có năng khiếu về âm nhạc và với sự giúp đỡ của một nhạc sĩ Hoa Kỳ, Anh ghi danh theo học âm nhạc tại Đại học Fullerton . Năm 1999, Anh tốt nghiệp cử nhân âm nhạc Đại học Fullerton tại miền Nam Californnia.
"Anh nghèo, em cũng chẳng cao sang" (1)

 Tại Hoa Kỳ, Anh lập gia đình với một thiếu nữ VN cũng bị khuyết tật như Anh.  Chị bị bệnh tê liệt ( polio ) từ nhỏ, nên phải di chuyển bằng xe lăn.  Hai cuộc đời bất hạnh gặp nhau,  thông cảm nhau và yêu nhau. "Anh nghèo, em cũng chẳng cao sang" (1) nhưng chúng ta thương yêu nhau chân tình, khác chi những cặp vợ chồng lành lặn khác.
Anh chị đã có một cháu gái Elaine, 16 tháng tuổi. Trời đất ngó lại, cháu gái lành lặn, không mù, không liệt
 
(1) Trích lời 1 số bản nhạc phổ thông VN ngày xưa
CIMG_1618.jpg picture by hinhkhong
Nguyễn Đức Đạt và tiếng đàn Hạ Uy Cầm bất hủ. Chồng mù, vợ tê liệt nhưng NDD luôn luôn nở những
nụ cười thật tươi.
 
CIMG_1623.jpg picture by hinhkhong
Ngoài khả năng sử dụng guitar nhuần nhuyễn, Nguyễn Đức Đạt còn điêu luyện trong 1 nhạc cụ của dân
da đỏ: cây sáo 2 ống. Hình trên, NDD và Tiếng Sáo Bồ Đề
 
CIMG_1645.jpg picture by hinhkhong
Ban Hoa Hậu Áo Dài Bắc Cali tích cực yểm trợ NĐĐ. Nghe nói các cô hoa hậu đẹp lắm, Đạt cười thật 
vui. Cười chơi vậy thôi chứ cả đời anh chưa bao giờ được đi xem thi hoa hậu và cũng biét hoa hậu thế
nào là đẹp: anh bị khiếm thị từ thuở sơ sanh.
Hình từ trái sang phải :  Ca sĩ Ngọc Dung ( từ Canada sang ), MC Huyền Trân, ca sĩ Thu Nga ( San Jose)
và các hoa hậu áo dài Bắc   Cali
 




10 ngàn bản nhạc trước 1975

 

 

Xin quí vị click vào hình để chọn nhạc và nghe.




Nhạc đấu tranh : NS Nguyễn Tân.

Cho Tao Chửơi Mày Một Tiếng

Vì Quê Hương Vẹn Tòan      

Xin quí vị click vào link trên để nghe nhạc. 




Đại Hợp Xướng Thơ Nguyễn Du : TRUYỆN KIỀU…..

Đại  Hợp Xướng 

 
TRUYỆN KIỀU 

Việt Nam, Trích Hợp xướng Truyện Kiều, Thơ: Đại Thi hào NGUYỄN DU, Âm Nhạc: VŨ ĐÌNH ÂN, Cố vấn nghệ thuật Giáo sư Nhạc sĩ CA LÊ THUẦN, Biểu diễn Ban hợp xướng Thạch Đà và Suối Việt, Nghệ sĩ ưu tú…




THÁNG TƯ ĐEN 1975 : Hoài niệm thương đau …

THÁNG TƯ ĐEN 1975 : Hoài niệm thương đau …

               Bấm vào SÀI GÒN THƯƠNG NHỚ  để nghe toàn bộ 20 bản nhạc
                                       hay bấm vào tên từng bản nhạc sau đây để nghe:
1. Nước Non Ngàn Dặm Ra Đi Nhạc: Phạm Duy – Tiếng hát: Thái Thanh & Duy Khánh
2. Sài Gòn Ơi, Vĩnh Biệt Nhạc, lời, trình bày: Nam Lộc 3. Một Lần Đi Nhạc, lời, trình bày: Nguyệt Ánh
4. Sài Gòn Thành Phố Kỷ Niệm Thơ: Vũ Hối Diễn ngâm: Thúy Vân  5. Sài Gòn Nắng Nhớ Mưa Thương Nhạc: Nhật Bằng – Ý thơ: Nguyễn Thị Ngọc Dung
     Hòa âm: Nguyễn Ngọc Châu – Tiếng hát: Thái Phượng

6. Nhớ Em Một Ngày Nắng Sài Gòn Nhạc, lời: Thanh Trang Tiếng hát: Quang Tuấn
7. Biết Bao Giờ Trở Lại Nhạc, lời: Ngô Thụy Miên Tiếng hát: T. Thái Hòa
8. Nhớ Sài Gòn Nhạc, lời: Phạm Anh Dũng (CA)Tiếng hát: Xuân Thanh
9. Những Con Đường Thành Phố Tôi Yêu Nhạc, lời: Thanh Trang Tiếng hát: Tâm Hảo
10. Sài Gòn Chiều Mưa Nhạc, lời: Trần Chí Phúc Tiếng hát: Quỳnh Hương

11. Đêm Nhớ Trăng Sài GònNhạc: Phạm Đình ChươngThơ: Du Tử LêTiếng hát: T. Thái Hòa
12. Sài Gòn Mưa Nắng Nhạc, lời: Khanh Phương – Tiếng hát: Hạnh Nguyên-Tuấn Huy
13. Sài Gòn Một Thoáng 30 Năm Nhạc, lời, trình bày: Trần Chí Phúc
14. Sài Gòn Niềm Hy Vọng Nhạc: Phan Anh Dũng Ý thơ: Trần Quốc Bảo 
         Hòa âm: Nguyễn Ngọc Châu Tiếng hát: Tâm Hảo

15. Sài Gòn Gần, Sài Gòn Xa Nhạc: Trần Thiện Thanh – Thơ: Vũ Hối – Tiếng hát: Nhật Trường
16. Sài Gòn Trong Tôi – Nhạc: Nguyễn Ngọc Thiện – Tiếng hát: Hồng Mơ
17. Ghé Bến Sài Gòn Nhạc: Văn Phụng – Hòa âm & đàn: Nguyễn Ngọc Châu
18. Em Vẫn Mơ Một Ngày Về Nhạc, lời, trình bày: Nguyệt Ánh
19. Sài Gòn Nhớ, Sài Gòn Thương Nhạc: Thanh Trang – Tiếng hát: Trung Hiền
20. Bên Bờ Đại Dương Nhạc, lời: Hoàng Trọng – Tiếng hát: Hoàng Cung Fa




Thái Lộc : Diễm Xưa

"DIỄM",  TRONG CA KHÚC ” diễm xưa ! "

                          
Chủ Nhật, 14/03/2010, 07:18 (GMT+7)Diễm và cuộc gặp sau 50 nămở HuếTT – Sau gần 50 năm, Diễm trong ca khúc Diễm xưa của cố nhạc
sĩ Trịnh Công Sơn đã bất ngờ xuất hiện trong chương trình giao lưu tại 
Trung tâm Văn hóa Phật giáo Liễu Quán, Huế vào tối 12-3.

1.  Diễm Xưa
DiemXua-1.jpg picture by nguyenduoc

2. Diễm ngày nay
Diemngaynay.jpg picture by nguyenduoc

 

Buổi giao lưu đầy bất ngờ vì là quyết định trong thoáng chốc của GS.TS Thái Kim Lan – nhan dip bà Ngô Vũ Bích Diễm ghé Huế theo đoàn Phật giáo làm từ thiện đến từ Los Angeles, California, Mỹ.
Có đến hơn 100 thân hữu của nhạc sĩ quá cố và công chúng Huế tập trung, và nói như nhà văn Bửu Ý, "nhiều người tới đây để nhìn mặt Bích Diễm xem có thật hay chỉ là huyền thoại…".
Ðêm giao lưu diễn ra trong không khí đầm ấm, thân mật, với những giọng ca đồng thời là những người mê nhạc Trịnh qua những cung trầm, cung bổng mượt mà, đầy chất thơ, chất triết lý với Ca dao mẹ, Ở trọ, Tiến thoái lưỡng nan, Ðể gió cuốn đi, và tất nhiên, với Diễm xưa như là chủ đề chính xuyên suốt.
 
Về "huyền thoại Diễm" trong bài hát Diễm xưa, "người xưa" tâm sự: "Trong bài này anh Trịnh Công Sơn viết về vẻ đẹp của Huế nhiều hơn là về… tôi. Tôi nghĩ vậy. Ðó là bóng dáng của Thành nội cổ kính, của dòng sông Hương xanh mát và huyền hoặc, là không khí lãng đãng của thơ, của nhạc".
"Nhiều người tò mò vì sao Diễm im lặng trong suốt mấy mươi năm?". "Vì tính tôi như vậy, không muốn ra trước công chúng. Tôi cũng không biết nói gì và không biết có ai cần gì ở mình hay không. Và cũng bởi vì bóng dáng to lớn của anh Trịnh Công Sơn đã đủ rồi!", "Diễm xưa" nói.

Diễm của những ngày xưa

Thuở ấy có một người con gái rất mong manh, đi qua những hàng cây long não lá li ti xanh mướt để đến trường đại học văn khoa ở Huế.

 

 

Nhiều ngày, nhiều tháng của thuở ấy, người con gái ấy vẫn đi qua dưới những vòm cây long não. Có rất nhiều mùa nắng và mùa mưa cũng theo qua. Những mùa nắng ve râm ran mở ra khúc hát mùa hè trong lá. Mùa mưa Huế người còn gái ấy đi qua nhòa nhạt trong mưa giữa hai hàng cây long não mờ mịt.

Nhà cô ấy ở bên kia sông, mỗi ngày phải băng qua một cây cầu rồi mới gặp hàng long não để đến trường.

Từ balcon nhà tôi nhìn xuống, cái bóng dáng ấy đi đi về về mỗi ngày bốn bận. Thời buổi ấy những người con gái Huế chưa hề dùng đến phương tiện có máy nổ và có tốc độ chóng mặt như bây giờ. Trừ những người ở quá xa phải đi xe đạp, còn lại đa số cứ đến trường bằng những bước đi thong thả hoàng cung. Đi để được ngắm nhìn, để cảm thấy âm thầm trong lòng, mình là một nhan sắc. Nhan sắc cho nhiều người hoặc chỉ cho một người thì có quan trọng gì đâu. Những bước chân ấy từ mọi phía đổ về những ngôi trường với những cái tên quen thuộc, đôi khi lại quá cũ kỹ.

Đi để được những con mắt chung quanh nhìn ngắm nhưng đồng thời cũng tự mình có thì giờ nhìn ngắm trời đất, sông nước và hoa lá thiên nhiên. Long não, bàng, phượng đỏ, muối, mù u và một giòng sông Hương chảy quanh thành phố đã phả vào tâm hồn thời con gái một lớp sương khói lãng mạn thanh khiết. Huế nhờ vậy không bao giờ cạn nguồn thi hứng. Thành cổ, đền đài, lăng tẩm khiến con người dễ có một hoài niệm man mác về quá khứ hơn và một phần nào cũng cứu rỗi cho con người ta khỏi vành đai tục lụy. Và từ đó Huế đã hình thành cho riêng mình một không gian riêng, một thế giới riêng. Từ đó con người bỗng đâm ra mơ mộng và ước mơ những cõi trời đất như không có thực.

Nhưng thật sự thực và mơ là gì? Thật ra, nói cho cùng, cái này chỉ là ảo ảnh của điều kia. Và với những ảo ảnh đó đã có một thời, khá dài lâu, những con người lớn lên trong thành phố nhỏ nhắn đó đã dệt gấm theo hoa những giấc mơ, giấc mộng của mình. Đó cũng là thời gian mà mỗi sớm tinh mơ, mỗi chiều, mỗi tối, tiếng chuông Linh Mụ vang xa trong không gian, chuyền đi trên dòng sông để đến với từng căn nhà khép hờ hay đang đóng kín cửa.

Thời gian trôi đi ở đây lặng lẽ quá. Lặng lẽ đến độ người không còn cảm giác về thời gian. Một thứ thời gian không bóng hình, không màu sắc. Chỉ có cái chết của những người già, vào mùa đông giá rét, mới làm sực tỉnh và bổng chốc nhận ra tiếng nói thì thầm của lăng miếu, bia mộ ở những vùng đồi núi chung quanh.

Trong không gian tĩnh mịch và mơ màng đó, thêm chìm đắm vào một khí hậu loáng thoáng liêu trai, người con gái ấy vẫn đi qua đều đặn mỗi ngày dưới hai hàng cây long não để đến trường. Đi đến trường mà đôi lúc dường như đi đến một nơi vô định. Định hướng mà không định hướng bởi vì những bước chân ngày nào ấy dường như đang phiêu bồng trên một đám mây hoan lạc của giấc mơ.

Người con gái ấy đã đi qua một cây cầu bắc qua một dòng sông, qua những hàng long não, qua những mùa mưa nắng khắc nghiệt, để cuối cùng đến một nơi hò hẹn. Hò hẹn nhưng không hứa hẹn một điều gì. Bởi vì trong không gian liêu trai ấy hứa hẹn chỉ là một điều hoang đường. Giấc mơ liêu trai nào cũng sẽ không có thực và sẽ biến mất đi.

Người con gái đi qua những hàng cây long não bây giờ đã ở một nơi xa, đã có một đời sống khác. Tất cả chỉ còn là kỷ niệm. Kỷ niệm nào cũng đáng nhớ nhưng cứ phải quên. Người con gái ấy là Diễm của những ngày xưa.

TRỊNH CÔNG SƠN (Trong Một Người Thơ Ca, Một Cõi Đi Về)

Và điều chờ đợi của tất cả mọi người trong đêm, đó là câu chuyện của Diễm: “Tôi là gái Bắc, theo cha vào Huế năm 1952, bố tôi là giáo sư Ngô Đốc Khánh, dạy tiếng Pháp ở Trường Quốc học. Tôi theo học lần lượt ở Trường Đồng Khánh, Quốc học, đến năm 1963 tôi vào học đại học ở Sài Gòn, sau đó sang định cư ở Mỹ. Nhà tôi ở số 46 đường Phan Chu Trinh (cũ), gần cầu Phủ Cam, là nơi gần anh Sơn ở (khu cư xá trên đường Nguyễn Trường Tộ – TP Huế). Lần đầu tôi gặp anh Sơn ngay tại nhà tôi. Anh đi theo anh Đinh Cường đến thăm Nguyễn Việt Hằng, một người bạn thân của tôi lúc đó đang ở lại nhà tôi để học hè. Sau đó thấy anh Sơn một mình quay trở lại. Anh viết nhạc và có tặng tôi mấy bài. Hồi đó còn trẻ lắm nên cũng biết lơ mơ vậy thôi… Sau này tôi mới biết thông qua hai người em của anh Sơn về câu chuyện nhánh dạ lan hương mà tôi tặng anh đã gây một chấn động mạnh nơi anh. Đó là một kỷ niệm thật đẹp, thật liêu trai…!”.

Diễm xưa là một bài hát nổi tiếng của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn viết năm 1960, được phát hành trong băng nhạc Sơn Ca 7, lấy từ ý "Diễm của những ngày xưa". Diễm xưa cũng được dịch ra tiếng Nhật dưới nhan đề Utsukushii mukashi, được xếp hạng 11 trong 20 ca khúc hay nhất trên kênh cáp của Nhật Bản năm 2004.
Năm 2004, Diễm xưa là nhạc phẩm Á Châu đầu tiên được Đại học Kansai Gakuin đưa vào chương trình giáo dục của mình trong môn Văn hoá và Âm nhạc.           (Wikipedia)

 

 




Phạm Kim : NHẠC SĨ NGÔ THỤY MIÊN : MỘT ĐỜI CHO TÌNH CA.

 

 

 

 

 

Xin mời quí vị click vào link để nghe 21 bản tình khúc của Ngô Thụy Miên

http://www.saigonocean.com/nghenhacNgoThuyMien/NTM.htm

———————————————————————————————————————————————

NHẠC SĨ NGÔ THỤY MIÊN : MỘT ĐỜI CHO TÌNH CA.

* Dòng nhạc thính phòng chưa được phát triển đúng mức.
* Kỳ vọng ở lớp sáng tác trẻ hiện nay.

Người Việt Tây Bắc: Nhân dịp nhận giải Pioneer in Music vào ngày 16-10-09 tại Seattle, xin nhạc sĩ Ngô Thụy Miên cho độc giả và khán thính giả ái mộ anh một góc tâm sự. Vào cuối thập niên 1960 sang 1970, khi sáng tác những “ Tình khúc Ngô Thuỵ Miên”, mấy yếu tố tình cảm nào đã chi phối anh nhất?

Ngô Thụy Miên: Thập niên 1960- 1970 khi cuộc chiến giữa hai miền Nam-Bắc Việt Nam đã bùng nổ một cách khốc liệt, tình yêu cuả những ngươì trẻ tuổi chúng tôi lúc bấy giờ chỉ là những vành khăn tang, những giọt nước mắt, những xót xa cuả một thời… Là một người sáng tác trẻ, tràn đầy sức sống cuả tuổi đôi mươi, yêu đời và yêu người, tôi có tham vọng là muốn mang lại cho thế hệ tuổi trẻ chúng tôi một niền tin, một niềm hy vọng mới cho tương lai khi con nguời sẽ thương yêu nhau, sẽ quên đi những mất mát, những hận thù đang xảy ra hàng ngày quanh mình. Qua những bàn tính ca trong sáng, lãng mạn và mộng mơ, tôi hy vọng mình đã mở ra đuợc một cánh cửa khác cho tuổi trẻ cuả thế hệ mình, và ở đó chỉ có tình yêu giữa người và người, tình yêu giữa người và cuộc sống, cũng như cuả thiên nhiên, của thời tiết, khí hậu.. Âm nhạc với tôi là một món quà cuả Thượng Đế, và cũng chính là tình yêu.

NVTB: Thời gian ấy, ở Miền Nam VN, Tình Khúc Ngô Thuỵ Miên được khán thính giả nồng nhiệt ủng hộ, những tình cảm thích thú nào từ họ đến với anh? và đã tạo được những ưu điểm nào cho sự nghiệp sáng tác cuả anh?

NTM: Tôi bắt đầu sáng tác từ năm 1963 lúc còn theo học trường Quốc Gia Âm Nhạc Sàigòn. Năm 1965, tôi hoàn tất nhạc phẩm đầu tay “ Chiều Nay Không Có Em”. Bản tình ca thứ hai đã đượïc các đài phát thanh Sàigòn và Quân Đội cho phổ biến rất nhiều trong hai thập niên 1960- 1970 là ca khúc “ Muà Thu Cho Em”. Đây là bài hát đã mang tên tuổi cuả NTM đến với khán thính giả yêu tân nhạc tại Sàigòn, cũng như ở khắp các thành phố lớn. Từ lòng yêu nhạc, và tình yêu người, tôi đã tiếp tục sáng tác, và cùng với một số thân hữu đi trình diễn ở khắp các giảng đường đại học, các trung tâm văn hoá, và các hội quán văn nghệ Sàigòn để giới thiệu những sáng tác mới cuả mình. Năm 1974, sau khi một số các ca khúc cuả tôi đã được phổ biến rộng rãi, tôi đã cùng một số bạn hữu thực hiện cuốn băng Tình Ca NTM gồm 17 ca khúc, mà trung tâm Thuý Nga đã phát hành ở Sàigòn vào cuối năm 1974. Cuốn băng này được giới yêu nhạc nồng nhiệt ủng hộ; và sau đó tôi cũng cho in một số bản nhạc đang được ưa chuộng, như Mùa Thu Cho Em, Áo Luạ Hà Đông, Chiều Nay Không Có Em, Tuổi 13.. Tôi không bao giờ quên được những tình cảm thích thú từ những giới thưỏng ngoạn nhạc gửi đến một tác giả trẻ như tôi lúc bấy giờ, qua những chuơng trình nhạc yêu cầu, cũng như chính tôi đã chứng kiến một vị thiếu uý trong binh chủng Nhẩy Dù đã ghé vào mua bản nhạc Muà Thu Cho Em và cuốn băng tình ca NTM tại một kiosque trên đường Nguyễn Huệ,..hay trong đêm ra mắt cuốn băng tình ca NTM tại Hội Việt-Mỹ Sàigòn: Tôi đã thực sự xúc động giữa những tiếng vỗ tay, hoan hô nhiệt tình cuả khán thính giả. Từ lâu, tôi đã nhận biết rằng khán thính giả luôn đóng vai trò rất lớn, rất quan trọng trong sự tồn tại cuả một sáng tác phẩm, cuả tác giả sáng tác. Với tình cảm của giới thưởng ngoạn dành cho những sáng tác cuả mình, tôi cảm thấy hạnh phúc, vì những nỗi lòng mình muốn diễn tả ra qua âm nhạc đã được chia xẻ; và tôi đã là một đồng hành tuyệt vời cuả bao khán thính giả. Và dĩ nhiên đó cũng là một động lực thúc nay tôi tiếp tục con đường sáng tác tình ca, để có thể tiếp tục chia xẻ những tình cảm tâm tư riêng cuả mình đến người nghe.

NVTB: Theo anh, 34 năm hải ngoại, khuynh hướng sáng tác nhạc nói chung cuả thời trước 1975 tại Miền Nam VN có còn thịnh hành ở ngoài này?

NTM: Tôi đặt chân lên nuớc Mỹ năm 1980. Cũng đã gần 30 năm trôi qua, nhưng tôi vẫn là một người viết tình ca, như tôi đã sáng tác như thế, cuả những ngày tháng cũ (thập niên 1960- 70). Khuynh hướng sáng tác của tôi vẫn không có gì thay đổi. Tôi cảm thấy mình vẫn là “sứ giả cuả tình yêu”, vẫn muốn chia xẻ những tình cảm luôn luôn được uơm chín từ tâm tư riêng cuả một nguời đã yêu và sẽ yêu để đem đến với bất cứ một ai còn muốn lắng nghe tình ca Việt Nam. Cái khác là truớc 1975 khi còn ở Sàigòn với những thân yêu quanh mình, với những luạ là, mưa nắng hai muà, những quán hàng, những đường phố quen thuộc, từng nguời yêu buổi sáng, buổi chiều… đã cho tôi những cảm xúc để viết lên những tình khúc với ý nhạc nhẹ nhàng, trong sáng, những lời ca dịu
dàng, đầy thơ tính. Còn bây giờ, ở hải ngoại, người ta thật vội vàng, xa lạ, bận rộn.. Những thành phố, nhà cửa thật to lớn, nhưng cũng thật là lạnh lẽo, cô đơn.. Tất cả những hoàn cảnh những tình cảm này cũng lại trao cho tôi những hứng khởi mới: Ngày tháng bên này đã và đang để lại trong tôi những nét muộn phiền rất riêng, rất độc đáo, và tôi ghi lại những lời ca “mệt mỏi buồn bã cuả cuộc sống tạm dung”..

NVTB: Là nhạc sĩ chuyên sáng tác các tình khúc qua 40 năm nay, anh nghĩ sao về mọi sinh hoạt của tình khúc nhạc Việt ở hải ngoại và ở trong nước?

NTM: Trong những năm tháng qua, tại hải ngoại chúng ta đang có nhiều người viết trẻ. Họ đã có đầy đủ khả năng, điều kiện sáng tác những tác phẩm tình ca giá trị. Nhưng họ cần được giúp đỡ nhiều hơn để phổ biến những tác phẩm mới đến khán thính giả. Ở hải ngoại chúng ta chỉ có vài, ba trung tâm video ca nhạc đang hoạt động mạnh; các trung tâm băng nhạc nhỏ thì có khá nhiều nhưng hoạt động rời rạc, hạn hẹp. Các trung tâm lớn thì chỉ muốn thâu lại những sáng tác cũ đã được khán thính giả đón nhận từ nhiều năm nay. Và nếu như vậy lấy đâu ra chỗ cho các người viết mới chen chân vào thị trường âm nhạc? Chưa kể đất nước người quá rộng lớn, vấn đề phát hành cũng là một trở ngại không nhỏ! Thực hiện cho mình một cuốn CD mà nếu không có các trung tâm lớn giúp phổ biến hay phát hành thì những tác phẩm này cũng không thể chấp cánh bay bổng trên nền trời âm nhạc Việt Nam được. Hiện nay các mạng lưới Internet đã có khá nhiều diễn đàn văn học nghệ thuật. Ở đây các người viết mới có thể gặp gỡ, trao đổi kinh nghiệm, học hỏi cùng nhau để có thể tiến bộ hơn trong lãnh vực sáng tác. Nhưng dù sao tất cả vẫn còn trong một hoàn cảnh, một môi trường hạn hẹp. Một vấn đề trở ngại lớn khác cho Tình Ca ở hải ngoại là giới trẻ lớn lên ở đây vẫn ít hoặc không nói, không nghe, không viết được tiếng Việt một cách thông thạo nên đã tìm đến âm nhạc Mỹ, và quên đi là mình cũng có những tình ca nhạc Việt tuyệt vời về cả nhạc thuật lẫn ca từ. Tôi nghĩ môi trường sinh hoạt tình ca ở hải ngoại sẽ có thể gặp nhiều khó khăn, trở ngại trong những thập niên sắp tới, khi số lượng người nghe không còn bao nhiêu và số lượng người viết càng thêm ít ỏi!

Nói về môi sinh của tình khúc nhạc Việt ở trong nước ngày nay thì tôi không dám có ý kiến, vì không sống ở đó nên chỉ dựa trên tài liệu báo chí hoặc internet để phán đoán thôi. Tuy nhiên theo thiển ý riêng, tôi thấy với số lượng người nghe và người sáng tác trong nước đông hơn, nhưng phát triển theo chiều hướng nào thì tôi không biết. Trong những năm tháng qua, tại hải ngoại chúng ta đang có nhiều người viết trẻ. Họ đã có đầy đủ khả năng, điều kiện sáng tác những tác phẩm tình ca giá trị. Nhưng họ cần được giúp đỡ nhiều hơn để phổ biến những tác phẩm mới đến khán thính giả.

NVTB: Ngoài lãnh vực sáng tác các tình khúc anh còn có khuynh hướng sáng tác nào khác hiện giờ không?

NTM: Trong các khuynh hướng sáng tác, thông thường người ta nói nói Tình Ca (đôi lứa), Thân Phận, Quê Hương, Tuổi Thơ,… Từ những ngày đầu tiên sáng tác, tôi đã tự chọn cho mình con đường viết tình ca, vì thấy thích hợp với con người, với cá tính lãng mạn, đa cảm, đa sầu của mình, và cũng chỉ vì tình yêu mãi mãi vẫn là một đề tài muôn thuở cho người nghệ sĩ sáng tác.. một lần nào đó tôi đã có nói là: “chỉ xin được nhớ đến như một người viết tình ca không hơn, không kém”. Song trong môi trường xã hội hiện nay, tôi vẫn tiếp tục viết tình ca, vẫn tiếp tục chia xẻ những tình cảm, tâm tư riêng của mình qua những đổi thay, thăng trầm của cuộc sống nơi xứ người, và vẫn mong được gửi những tác phẩm của mình đến với tất cả những ai có lòng tiếp tục thưởng thức ca nhạc Việt Nam nói chung, và tình ca Ngô Thụy Miên nói riêng….

NVTB: Những ca khúc nào, cho đến nay, mang lại cho anh niềm vui, hãnh diện qua sự yêu mến của khán thính giả? hoặc đã chuyển đạt được nhiều nhất những thông điệp từ nội tâm của anh?

NTM: Cá nhân tôi vẫn yêu mến mấy ca khúc đặc biệt mà tôi đã hoàn tất nhạc trước khi đặt lời, bốn ca khúc này mang một chút âm hưởng nhạc cổ điển Tây Phương: Mắt Biếc, Từ Giọng Hát Em, Dốc Mơ, và Miên Khúc. Ngoài ra, hai ca khúc tôi nghĩ đã được nhắc đến nhiều nhất, đã chuyển đạt được gần như tất cả những điều tôi muốn chia xẻ với người về tình yêu, đó là Niệm Khúc Cuối, và Riêng Một Góc Trời. Niệm Khúc Cuối là ca khúc trong sáng lãng mạn, tôi viết từ năm 1971, có thể nói bài hát này đã được thu thanh, thu hình nhiều nhất trong các tác phẩm của tôi: “Tình ơi! Dù sao đi nữa, xin vẫn yêu em”Vâng, đó là điều duy nhất tôi muốn nói về tình yêu. Hãy cho, hãy chấp nhận và hãy tha thứ để tình yêu
vĩnh viễn mãi là niềm tin và hy vọng của chúng ta. Bài hát thứ hai tôi viết ở hải ngoại năm 1996: “Riêng Một Góc Trời”:“Đời như sương khói, mơ hồ trong bóng tối.Em đã xa xôi, tôi vẫn chơi vơi, riêng một góc trời”.Nếu hạnh phúc là những kỷ niệm sáng nắng chiều mưa của một thời, là những tàng lá úa rơi buồn trong nỗi nhớ hay những nụ hôn, những giọt nước mắt lặng lẽ vẫn chìm sâu trong trí tưởng… thì “Riêng Một Góc Trời” đã là một người bạn đồng hành tuyệt vời cho những tâm hồn đã yêu, đang yêu và mãi sẽ còn yêu.

Khi Trung Tâm Thúy Nga phát hành cuốn “Video Tình Ca Ngô Thụy Miên” năm 1992, tôi nhận được nhiều điện thoại cùng những lời khuyến khích đến từ khán thính giả khắp nơi đã xem cuốn video này: Những lời cám ơn đều dành cho một sáng tác tôi viết ở SàiGòn sau năm 1975: “Em Còn Nhớ Mùa Xuân”, một ca khúc tôi viết trong một bối cảnh đặc biệt, kể lại những giao động một thời trên quê hương đất nước, và nói lên tâm sự của một người thanh niên giữa những mất mát đổi thay đang xảy ra quanh mình. Đây là ca khúc duy nhất tôi viết có mang chút bối cảnh xã hội, và cũng đã nói lên được những rung cảm của thanh niên thế hệ trẻ chúng tôi ngày tháng đó. Phải nói đây là một ca khúc đã mang lại cho tôi những niềm vui và hãnh diện đặc biệt trong cuộc đời sáng tác của mình.

NVTB: Anh còn có những cảm nhận nào khác, trong giai đoạn hiện thời về một ngõ mở mới cho những ca sĩ trình diễn các sáng tác của mình, ở thế hệ nối tiếp?

NTM: Dòng nhạc thính phòng đang gặp trở ngại, khó khăn về nhiều phương diện: Người nghe nhạc thính phòng đã ít lại càng ít hơn khi thế hệ người lớn tuổi đã ra đi, và thế hệ trẻ thì tìm niềm vui trong những dòng nhạc khác, hay nhạc ngoại quốc!

Nhạc sĩ -Một số anh em sáng tác cũ đã ra đi. Những người còn lại mệt mỏi với đời sống thường ngày, đã không còn đủ cảm hứng để tiếp tục viết nhạc. Lớp người viết mới thì không có điều kiện phổ biến sáng tác của mình. Thực hiện được một cuốn CD mà nếu không có sự giúp đỡ của các trung tâm thì những tác phẩm đó cũng sẽ dần vào quên lãng! Một ca khúc được sáng tác, nếu không được giới thiệu đến người nghe, không được khán thính giả chấp nhận thì cũng chỉ là một tờ giấy với những nốt nhạc, không hơn không kém! Người nhạc sĩ sẽ có thể là mất dần đi những cảm hứng sáng tác một khi những tác phẩm của mình bị chìm vào quên lãng theo ngày tháng.

Ca Sĩ – Lớp ca sĩ cũ trình bày nhạc thính phòng như Tuấn Ngọc, Lệ Thu, Khánh Ly, Khánh Hà, Ý Lan…vẫn được khán giả ái mộ, nhưng tất cả cũng còn một thời gian không lâu nữa là sẽ phải từ giã sân khấu. Và thế hệ hát nhạc thính phòng nối tiếp như Y Phương, Nguyên Khang, Diễm Liên, Trần Thái Hòa… hiện nay cũng đang được sự yêu mến và được sự ủng hộ nồng nhiệt của khán thính giả. Họ là những tiếng hát hiếm quý trong vườn âm nhạc Việt Nam ở hải ngoại. Tuy nhiên, nhìn lại số lượng ca sĩ hát nhạc thính phòng còn quá ít, so với những ca sĩ hát nhạc trẻ hay nhạc quê hương…Về các chương trình ca nhạc, có thể nói các show thính phòng được tổ chức trong các cộng đồng Việt Nam khắùp các nơi trên thế giới vẫn rất ít so với các chương trình tạp lục. Khán thính giả của dòng nhạc thính phòng rất chọn lọc nên khi tổ chức, ban tổ chức thông thường chỉ mong được hòa vốn là coi như đã thành công! Các trung tâm băng nhạc thì cần đáp ứng với nhu cầu thưởng ngoạn của mọi tầng lớp khán thính giả, và sự góp mặt của dòng nhạc thính phòng thường chỉ còn là một hoặc hai tiết mục nhỏ trong chương trình.

Tôi vẫn nghĩ, tìm cho được con đường mới để các thế hệ ca sĩ nối tiếp có cơ hội duy trì, phát triển dòng nhạc Thính Phòng ở hải ngoại, không phải là một chuyện dễ làm! Vì ngày nào nhu cầu thưởng ngoạn của khán thính giả dòng nhạc thính phòng không phát triển, ngày nào các ca nhạc sĩ còn vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc trình diễn và phổ biến các tình khúc thì ngày đó dòng nhạc này sẽ vẫn còn gặp nhiều khó khăn.

NVTB: Anh còn có ý kiến gì hơn về tình hình sáng tác của người Việt nói chung có những sự kiện hoặc thành quả nào đáng lưu ý ảnh hưởng đến kích thích những xúc cảm sáng tác hoặc làm chững lại rung cảm sáng tác của riêng Ngô Thụy Miên hoặc với Anh Bằng, Lam Phương, Từ Công Phụng, Vũ Thành An, Đức Huy, Thiện Lý.. thành danh từ trước 1975 hoặc một số người viết mới tại xứ người?

NTM: Trong những năm tháng qua, tại hải ngoại cũng như trong nước đều có những tác giả trẻ, những sáng tác phẩm giá trị. Nhưng hầu hết các tác phẩm được giới thiệu và phổ biến rộng rãi vẫn chỉ là những ca khúc. Chúng ta không thể phủ nhận sự đóng góp quan trọng của ca khúc phổ thông vào vườn hoa âm nhạc Việt Nam, nhưng tôi vẫn kỳ
vọng nhiều hơn nơi những nhạc sĩ trẻ bây giờ. Tôi nghĩ rằng họ đã có cơ hội thật đầy đủ, thật tốt đẹp để nghiên cứu, trau dồi, học hỏi những dòng nhạc mới lạ trên khắp thế giới qua những phương tiện như CDs, Internet, Concerts, Books mà những người viết nhạc chúng tôi 30, 40 năm trước không thể có. Họ là những người có thể làm mới lạ hơn cho âm nhạc Việt của chúng ta với kiến thức tổng hợp của hai nền âm nhạc Đông-Tây. Dĩ nhiên khi viết những tác phẩm này, họ cần phải có cơ hội và môi trường để phổ biến. Tôi hy vọng qua các concerts, hay các chương trình của các trung tâm video, họ sẽ được trang trọng dành cho ít nhất một tiết mục để giới thiệu, đưa giới thưởng ngoạn đến một cuộc hành trình mới vào âm nhạc Việt Nam của chúng ta ở thế kỷ thứ 21 này!

Nếu nói Âm Nhạc là một phương tiện tiêu biểu hiện được những tình cảm giao hòa giữa con người và con người, giữa con người và cuộc sống, giữa con người và thiên nhiên, thời tiết thì tôi cho rằng anh em sáng tác chúng tôi (trước 1975), cho dù là ở trên quê hương, với những tháng ngày, kỷ niệm thân yêu quanh mình hay đang bận rộn trên phần đất tạm dung này với những đổi thay, thăng trầm của cuộc sống, chúng tôi vẫn tiếp tục sáng tác, vẫn tiếp tục gửi đến đời, đến người những tác phẩm được viết từ trái tim còn tuổi trẻ như ngày nào (Riêng Một Góc Trời-1996). Và như vậy, tôi không nghĩ đây là một hiện tượng, khi một số nhạc sĩ chúng tôi vẫn có những tình khúc tuyệt vời (như Anh Bằng mới sáng tác: Anh Còn Yêu Em/thơ PTT, Đừng Xa Em/thơ BH (2009)) vẫn đang viết nhạc tình trong năm 2009) (như Đức Huy-Khóc Một Giòng Sông) mà khán thính giả trên toàn quốc đã hoặc sẽ chia xẻ với tác giả.

Từ ngày ra hải ngoại, tôi cũng như Anh Bằng, Lam Phương, Từ Công Phụng, Vũ Thành An, Đức Huy.., vẫn tiếp tục cống hiến những ca khúc, tác phẩm bất hủ; và tôi hy vọng họ vẫn mãi là người bạn đồng hành bên cạnh những người đã yêu, đang yêu, và mãi sẽ còn yêu!

* Phạm Kim (Người Việt Tây Bắc ) thực hiện 10-09




Link những bản nhạc hay

 

                                                                               

 Xin quí vị click vào đây để nghe

 




Nhạc Nguyễn Đức Tuân : ba nhạc khúc mới : Khóc Người Đáy Biển, Hai Cõi Phù Sinh, Mặc Niệm

Ba nhạc khúc mới nhất của nhạc sĩ Nguyễn Đức Tuấn : Khóc Người Đáy Biển, Hai cõi Phù SinhMặc Niệm.  Xin click vào tựa mỗi bản nhạc để nghe.
Tiếng hát và đàn piano: Kim Mai. Thu âm: 04 tháng Tư, 2010.
 
 
 

Khóc Người Đáy Biển

Lyrics: Ngô Minh Hằng

Music: Nguyễn Đức Tuân

 

Refrain 1:

Bóc tờ lịch. Lại Tháng Tư!

Đau tình sông núi làm thơ khóc đời

Tháng Tư ra biển khóc người

Oan hồn hỡi, từ đáy trùng khơi, xin về

 

Biển chiều vàng ánh tà huy

Dài tay sóng níu bước đi lạc hồn

Đứng trên bờ đá cô đơn

Khóc người bằng tiếng thơ buồn xót xa

 

Ai hay đáy biển là nhà

Máu pha lệ hận chan hòa đại dương

Thịt da nát dưới bạo cuồng

Ngàn trang huyết sử bên đường tử sinh!

 

Refrain 2:

Bóc tờ lịch. Lại Tháng Tư!

Đau tình sông núi làm thơ khóc đời

Tháng Tư ra biển khóc người

Hiển linh,chứng giám đôi lời thơ đau

                                                                                                              

Mắt buồn nhìn sóng biển xanh

Thấy sương khói vẫn vô tình khói sương

Mà lòng đòi đoạn đau thương

Xót người đáy biển đoạn trường chưa nguôi

 

Tôi viễn xứ, người biển sâu

Chung hồn lưu lạc, chung sầu quê hương

Người trên sóng nước trùng dương

Tôi khung cửa hẹp, gió sương bốn mùa

 

Refrain 1:

Bóc tờ lịch. Lại Tháng Tư!

Đau tình sông núi làm thơ khóc đời

Tháng Tư ra biển khóc người

Oan hồn hỡi, từ đáy trùng khơi, xin về

 

Finale:

Người vùi xương trắng biển khơi

Còn tôi sống kiếp dân Hời vì ai?

 

 

Bài thơ nguyên thủy:

http://boatpeople75.tripod.com/KhocNguoiDayBien.html

 

 

Khóc người đáy biển
 


(Viết để khóc cho mình và cho những thuyền nhân kém may
mắn trên đường vượt biển tìm Tự Do sau 1975.- NMH – )

 

Tháng Tư ra biển khóc người
Oan hồn hỡi, đáy trùng khơi, xin về
Biển chiều vàng ánh tà huy
Dài tay sóng níu bước đi vô hồn
Ðứng trên bờ đá cô đơn
Khóc người bằng tiếng thơ buồn xót xa
Ai hay đáy biển là nhà
Máu pha lệ hận chan hòa đại dương
Thịt da nát dưới bạo cuồng
Ngàn trang huyết sử bên đường tử sinh!
Mắt buồn nhìn sóng biển xanh
Thấy sương khói vẫn vô tình khói sương
Mà lòng đòi đoạn đau thương
Xót người đáy biển đoạn trường chưa nguôi
Tháng Tư ra biển khóc người
Hiển linh,chứng giám đôi lời thơ đau
Tôi viễn xứ, người biển sâu
Chung hồn lưu lạc, chung sầu quê hương
Người trên sóng nước trùng dương
Tôi khung cửa hẹp, gió sương bốn mùa
Bóc tờ lịch. Lại Tháng Tư!
Ðau tình sông núi làm thơ khóc người
Người vùi xương trắng biển khơi
Còn tôi sống kiếp dân Hời vì ai?

 

 

Ngô Minh Hằng

Thơ: Nguyễn Hiện Nghiệp
Nhạc: Nguyễn Đúc Tuân
Tiếng hát và Piano: Kim Mai

Hai Cõi Phù Sinh

Nguyễn Hiện Nghiệp

 

Này em, mai về chân bước hồn nhiên

Hái giùm ta nhánh oan khiên trái mùa

 

Như trái đất quay quanh trăm vòng nhân loại

Ta giũ áo, áo thoát hài, nhập hội nhân gian

Một mai xong cuộc trần hoàn

Rũ ta thành khói sương tan giữa trời

 

Hãy đưa tay hứng lấy giọt đời là hạnh phúc

Hãy đưa tay hứng lấy giọt đời

Nắn nót ngàn lần thành chút dư âm

Mời em ghé
Bước vào thăm
Nghe ta hát khúc nguyệt cầm vô thanh

 

Rồi ta sẽ dạo quanh vô cùng vũ trụ

Góp nhặt cho đời những nụ nhân duyên

Này em, mai về chân bước hồn nhiên

Hái giùm ta nhánh oan khiên trái mùa

 

Từ cõi sống ta gọi mình trăm tiếng

Nghe tên mình vọng về

Trên sóng biển giữa bình minh

Trăm năm trong cõi phù sinh

Một ta đi với bóng mình là hai

 

Này em, mai về chân bước hồn nhiên

Hái giùm ta nhánh oan khiên trái mùa

Mặc Niệm

Thơ: Như Ly

Âm điệu: Nguyễn Đức Tuân

Tiếng hát và piano: Kim Mai

 

Em gào. Em thét giữa muôn trùng cơn sóng

Lạnh trong đêm lồng lộng gió ru hồn

Mặc niệm anh thân xác biển vùi chôn

Nhận chìm xuống cuộc đời anh son trẻ

 

Em quy.  Em ngã khi anh rời cõi thế

Đời còn chi trống vắng để cho em

Rồi từ đây trời trở gió trong đêm.

Ôi nhớ quá nụ hôn mềm dạo ấy.

 

                                                          Có bao giờ anh hỡi được một lần

Một lần nữa ta ôm chặt đời nhau

Nhưng anh ơi, âm dương cách trở

Niềm ân ái chỉ là trong mộng

 

Thế là hết.  Anh bỏ em ở lại

Ngước nhìn trời em thầm hỏi tại ai.

Hai mái đầu xanh dệt bao mộng tương lai

Nay một nửa. Ôi hình hình hài rữa nát

 

Vành khăn trắng em cuốn trọn trái đất

Để tang anh che lấp mặt thời gian

 

 

Bài thơ nguyên thủy của Như Ly:

 

         Mặc Niệm

 

Em gào thét giữa muôn trùng cơn sóng

Lạnh trong đêm lồng lộng gió ru hồn

Mặc niệm anh thân xác , biển vùi chôn

Nhận chìm xuống một đời còn son trẻ

 

Em quỵ ngã khi anh lià cõi thế

Đời còn gì trống vắng để cho em

Rồi từ đây trời trở gió trong đêm

Ôi nhớ quá nụ hôn mềm dạo âý

 

Thế là hết anh bỏ em ở lại

Ngước nhìn trời thầm hỏi tại ai đây

Hai mái đâù dệt nhiều mộng tương lai

Nay một nửa , ôi hình hài rữa nát

 

Vành khăn trắng em cuốn tròn trái dất

Để tang anh che lấp mặt thời gian

Có khi nào anh hỡi được một lần

Âm dương cách trở ái ân đêm mộng

 

Như Ly

26-04-04

 

 

tb: gần đến ngày Quốc hận, NL xin gởi đến các thi hữu, 1 câu chuyện thương tâm,

khi NL vượt biên qua  bên đảo, quen chị Thu. Chị & chồng, mới đi cải  tạo về,

rồi cùng nhau với đưá con vượt biên, họ gặp cướp, và bọn cướp chỉ để cho con nít

& phụ nữ sống, (số phận cuả những phụ nữ này ra sao, thì chắc ai cũng hiểu),

còn tất cả những đàn ông thì họ đẩy hết xuống biển tập thể , ko còn ai sống sót.

Chị Thu ôm đưá con, nhìn chồng & những người đàn ông khác chết từ từ ,

nỗi đau đó làm chị ko thể nào nguôi và chị đã bị mất hết trí nhớ,

sau này fải mổ óc vì những cơn đau thắt giựt cuả caí đầu, vàchị đã mất cách đây 2 năm.

NL làm bài thơ này khi nhớ laị những gì chị kể lại hồi đó, còn bên đảo để

tưởng nhớ những linh hồn  đã bị chết trên biển nhân ngày Quốc hận sắp tới.

 

http://groups.yahoo.com/group/VuonThoTaoDan/message/2762




Link những bản nhạc hay do Tuấn Ngọc trình bày

 

Xin quí vị click vào đây để nghe nhạc 




Đồng Thảo : Giong nhac cho Que Huong

Đồng Thảo tiếng hát liêu trai của miền Bác Cali.

 

 


Để gió đùa hạnh phúc phủ nghiệt oan

Hát đi em mộng tình dâng chất ngất
Ánh trăng vàng ngời sáng cõi ngục tù
Tiếng hát em không gian bừng mở hội
Lóng lánh sao trời đèn ngọc suơng thu

Hát đi em cho thế gian bừng dậy
Trong nắng hồng tình nở bướm hoa say
Cho hận thù không còn là ngăn cách
Người với người luân vũ dấu yêu đầy

Hát đi em khúc Nghê Thường tuyệt diệu
Để ta say quên cả bóng thời gian
Môi nhắp men tình sắc hương tiên nữ
Cửa Thiên Thai mở lối đóa rừng lan

Hát đi em lời tình ca muôn điệu
Như tiếng xuân về, mẹ hát ca dao
mừng đất nở nụ thanh bình khắp nẻo
Trên đường về tiếng guốc nhịp xôn xao.

Chinh Nguyên
 

 http://www.dongthaomusic.com/index.php?option=com_oziogallery2&view=07flickrslidershow&Itemid=63&lang=en

 Xin click vào link trên để thấy những tấm ảnh mê trầm trong tiếng nhạc.

http://www.dongthaomusic.com/index.php?option=com_jukebox&view=category&id=37&Itemid=62&lang=en

Xin click vào link trên để nghe tiếng hát liêu trai của nữ ca sĩ Bắc Cali.

Xin quí vị hổ trợ nứ ca sĩ Đồng Thảo.

 

 




Ca trù Ả Đào

     CA TRÙ Ả ĐÀO 

 

NSND Quách Thị Hồ: Giọng hát ca trù đẹp nhất trời Nam
06/07/2008 09:27



Một người mê ca trù từng nói: “Giọng Nghệ sĩ Nhân dân Quách Thị Hồ, trời cho đã đành, nhưng còn nhờ thâm niên và khổ luyện. Đó là giọng hát đẹp, quý hiếm, “bắt tròn, bắt chợt, buông chữ, nhả chữ”, tiếng nào cũng đầy nhạc cảm, đầy dư âm…”.

Tôi thường gặp bà ở nhà anh trai tôi, nhà thơ Ngô Linh Ngọc, ở 58 Lý Thường Kiệt từ những năm chống Mỹ.

Anh Ngô Linh Ngọc cũng là người mê ca trù, là một người đánh trống chầu có tiếng trong giới thưởng thức ca trù… Ở nhà anh tôi, những bậc gảy đàn đáy nổi tiếng như ông Ban, ông Kỳ, các bậc nghệ sĩ hát ca trù lừng tiếng như bà Quách Thị Hồ, Nguyễn Thị Phúc, Phó Thị Kim Đức thường hay đến… Dạo ấy, tuy ca trù đã được chú ý, nhưng không được phổ biến rộng như những năm sau này. Vả lại, trong chiến tranh, nhà chật, xung quanh còn là cả một khu tập thể, nên những “tài tử giai nhân” còn sót lại của tiếng đàn, câu ca, nhịp phách thuở hát ả đào lừng danh của Hà Nội thường chỉ họp nhau, hồi ức những kỷ niệm xưa…

Cũng có một ngày xuân, đông đủ mọi người, anh tôi cầm trống chầu, bà Hồ hát “Thiên thai” và ông Ban thì chơi đàn đáy… Khi nhìn ra cửa thì người xem đã vòng trong, vòng ngoài.

Bà Quách Thị Hồ từng nổi tiếng là một danh ca xưa. Trong một hồi ký in trên tạp chí Văn, số 36, ra ngày 15/6/1965 ở Sài Gòn, Hoài Điệp Thứ Lang (một bút danh khác của Đinh Hùng) nhắc lại cái đêm nhóm Tự Lực Văn Đoàn, trước năm 1945, xuống nhà hát của danh ca nổi tiếng ở Ngã Tư Sở là Bạch Liên, Nguyễn Tuân bữa đó cũng có mặt, đã tụ họp được cả 4 danh ca ở mấy xóm cô đầu nổi tiếng đất Hà thành xưa (Khâm Thiên, Vạn Thái, Vĩnh Hồ, Ngã Tư Sở…) là: “Hai chị em Chu Thị Bốn, Chu Thị Năm (hai giọng ca đệ nhất thời danh), dì Trương Bẩy (một đào hát đã nhiều tuổi mà giọng hát vẫn còn độc đáo), Bích Thạch Hồn (một danh kỹ hát rất khuôn và có nghệ thuật pha trà tuyệt hảo), Hồ Vạn Thái giỏi chữ nho, nổi tiếng với những bài "Tương Tiến Tửu" và "Tiền, hậu Xích Bích Phú…”.

Hồ Vạn Thái được nhắc ở đây chính là nghệ sĩ Quách Thị Hồ, vì hồi đó bà có nhà hát ả đào ở xóm Vạn Thái…

Nhà nghiên cứu Văn Tâm nhắc lại đêm hát ca trù ở Văn Miếu, bà Quách Thị Hồ, từng hát ca trù cho Bác Hồ nghe. Ông viết: “Hai danh ca Quách Thị Hồ và Nguyễn Thị Phúc, trong một chương trình ca nhạc chung, từng có dịp hát ca trù cho Bác Hồ nghe tại Văn Miếu, Hà Nội. Đó là chiều mồng Một tết Nguyên đán năm Nhâm Dần (5/2/1962).

Ba hôm sau, một cán bộ Bộ Văn hóa tìm gặp nhà thơ Chu Hà (người trong Ban tổ chức) tỏ ý lo ngại: “Hôm mồng Một tết ấy, sao “dám” hát ả đào?”. Chu Hà cho vị cán bộ văn hóa mẫn cán nhưng trình độ nghiệp vụ còn “hạn chế” đó biết, suốt hơn 2 giờ, Bác Hồ “chăm chú xem các tiết mục” (trong đó tất nhiên có ca trù) với vẻ tâm đắc hiếm có” (dẫn theo Nguyễn Đức Mậu, trong “Ca trù nhìn từ nhiều phía”, Nhà xuất bản VHTT – 2003, trang 549).

Là người mê ca trù, nghiên cứu ca trù nhiều năm, nhà thơ Ngô Linh Ngọc, nhắc đến Nghệ sĩ Nhân dân Quách Thị Hồ với những lời mến mộ tài năng, đầy kính nể:

Ca trường mai nhất phẩm(1)
Gom tài tình chi lắm,
chị Hồ ơi!
Giọng Kiều ngân hồn Đỗ(2),
bướm chơi vơi,
Phách ngọc gõ, suối đào,
ca réo rắt
Đã vượt Thiện Tài
riêng cốt cách
Lại thừa Phong Nhã,
chất hào hoa

(Giao thừa xuân mới (1): … mai hàng đầu trong ca trường; (2): Đỗ Mục, nhà thơ lớn đời Đường rất mê ca hát).

Ông còn viết thêm trong một dịp khác: “Hát ca trù chính là hát lên những bài thơ, với yêu cầu diễn cảm ý thơ, tình thơ, cao nhất. Vì vậy, đào nương phải học “nhả chữ” cho thật giỏi. Lão nghệ sĩ Quách Thị Hồ thường dạy các học trò: Khi hát “cái lộc bình nó rơi” thì hình như nó đang rơi thật trước mặt người đang nghe hát. Muốn đạt đến trình độ ấy, phải học “luyến” chữ cho thật khéo. Nghe bà Hồ luyến từng chữ của "Tỳ Bà Hành", thì cứ như mỗi chữ là một cái hình tròn, tiếng hát công phu uốn theo đủ hết các vành tròn của chữ, không để hở một ly nào trong lời thơ…

(Tuyển tập thơ ca trù)

Về phách của bà Quách Thị Hồ, vẫn trong sách đã dẫn trên, ông Ngô Linh Ngọc viết: “Người đào nương học hát đã khó, trong khi hát phải gõ phách, giữ nhịp cho tiếng hát”.

Các ký giả Pháp xem bà Hồ gõ phách ở Văn Miếu, đã trầm trồ thán phục cỗ phách kỳ diệu “cùng hát với tiếng người”.

Thật là tri ân, tri kỷ…

Bà Quách Thị Hồ, mặc dù trong thời bao cấp, sống rất vất vả, tuổi đã cao, song vẫn rất đẹp, phong thái rất Hà Nội. Những ngày chống Mỹ cứu nước, bà thường hay mặc áo lụa ngắn, quần đen, chít khăn vòng dây. Ngồi bên bàn trà hay bên mâm cơm, dáng thường khoan thai, thư thái, thân mật mà vẫn nghiêm trang. Nhưng khi trò chuyện, nhất là với những người thân, chỉ nghe giọng nói, ngữ điệu tự nhiên của bà đã ấm áp, nồng hậu lắm rồi!

Những năm ấy, bà Hồ thường tham gia những buổi phát thanh văn nghệ, buổi “giành cho đồng bào xa Tổ quốc”. Bà hát ca trù, ngâm thơ.

Cũng ở nhà anh Ngọc tôi, sau này, tôi còn được nghe bà hát "Thiên Thai", "Hương Sơn phong cảnh"; "Đào Hồng", "Đào Tuyết" và nhất là bài "Tỳ Bà Hành"…

Bài nào bà hát cũng có cốt cách riêng, những khúc nhấn, luyến riêng, không thể trộn lẫn được. Vẫn phong độ hát ấy, nhưng người nghe đắm đuối khi bà hát, mà sau bài hát là những dư âm, những ảnh hình đọng lại vẫn còn những nét khó quên… Hát "Thiên Thai", đĩnh đạc đàng hoàng… Hát "Hương Sơn phong cảnh" thì núi non như hiện ra trước mắt; còn "Tỳ Bà Hành", đoạn chốt, đoạn cuối câu hát vẫn trong mà cũng nghẹn ngào chia sẻ với cô kỹ nữ bến Tầm Dương và chàng Tư Mã đất Giang Châu…

Một người mê ca trù từng nói: “Giọng Nghệ sĩ Nhân dân Quách Thị Hồ, trời cho đã đành, nhưng còn nhờ thâm niên và khổ luyện. Đó là giọng hát đẹp, quý hiếm, “bắt tròn, bắt chợt, buông chữ, nhả chữ”, tiếng nào cũng đầy nhạc cảm, đầy dư âm…”.

Lên 6 tuổi, bà đã theo mẹ đi hát. Bà được mẹ vỗ lòng và truyền nghề cho. Mẹ bà từng đoạt giải nhì (Á Nguyên) tại cuộc thi hát ở Hải Dương.

Còn bà, nổi tiếng từ những năm 30 của thế kỷ XX. Nhiều người còn kể, khoảng năm 1939-1941, có chầu hát ở nhà bà, quan viên đi hát đã phải chi tới 4 chỉ vàng (100 đồng tiền Đông Dương cũ).

Liên hoan âm nhạc quốc tế năm 1976, bà đoạt giải nhất, được nhận bằng khen ở Iran. Tại Liên hoan Âm nhạc quốc tế 1978 ở Mông Cổ, bà chiếm tới hai giải: giải nhất và giải Hàn Lâm. Bà còn đoạt giải thưởng cao về âm nhạc do UNESCO tổ chức ở Bình Nhưỡng… Bà được phong Nghệ sĩ Nhân dân năm 1988. Nhiều nhà nghiên cứu đương thời như Trần Văn Khê, Ngô Linh Ngọc, Lý Khắc Cung… và nhiều nhà báo đã viết về bà…

Những năm cuối đời, tuổi đã ngoại 80, bà giành thời gian để truyền nghề cho lớp nghệ sĩ thế hệ sau như: Thúy Đạt, Thanh Hoài, Vũ Kim Dung, Ngọc Huyền, Thúy Hòa v.v…

Nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài cũng tìm đến ngôi nhà chật hẹp ở ngõ Văn Chương thăm bà. Họ đến từ Mỹ, Pháp, Australia… nhiều Việt kiều về nước từng nghe bà hát và ngâm thơ trên Đài Tiếng nói Việt Nam, cũng đến thăm với tấm lòng đầy ngưỡng mộ.

Bà mất tháng giêng năm 2001, khiến bao nhiêu người tiếc nuối, vì mất một nghệ sĩ ca trù hàng đầu ở nước ta.

Nhà viết kịch Tào Mạt, tác giả vở chèo bộ ba “Bài ca giữ nước”, sinh thời làm thơ và viết thư pháp, tặng Nghệ sĩ Nhân dân Quách Thị Hồ:

TRANG TẶNG QUÁCH THỊ HỒ NGHỆ SĨ

Bắc cách, nam phong,
cung dữ thương(1)
Hà Mô/ lục tuế/ trại
Thu Nương(2)
Ca trường/ nhạc hội/
mai tiên phẩm
Thất bát hồ cầm hựu
nhất chương

Nghĩa là:

Trân trọng tặng nghệ sĩ Quách Thị Hồ:

Bắc cách, nam phong,
cung với thương
Hà Mô, sáu tuổi, sách
Thu Nương
Sàn ca, hội nhạc,
hương mai ngát
Bảy tám hồ cầm lại
một chương…

Trên Đài Tiếng nói Việt Nam, thỉnh thoảng phát lại giọng hát điêu luyện của bà trong các bài "Hương Sơn phong cảnh", "Tỳ Bà Hành"… về đêm khuya, nghe như thấy núi, thấy mây, thấy tiếng suối tuôn róc rách chảy mau xuống ghềnh!

Theo Ngô Văn Phú (CAND)

 

 

 

 

 

   1/     Gìới thiệu Nghệ Nhân Quách Thị Hồ.

  2/    Gặp lại ả đào Hồng Tuyết 
         (Dương Khuê)

  3/     Người đẹp không thấy lần thứ hai
         (Cao Bá Quát)

  4/    Thông minh nhất nam tử
          (Nguyễn Công Trứ)

  5/     Thu Hướng (Đỗ Phủ)

  6/     Tỳ bà hành ( Bạch Cu Dị)

  7/     Chiều hôm nhớ nhà
          (Bà huyện Thanh Quan)

  8/      Thế sự thăng trầm 
          (Cao Bá Quát)

  9/     Cảm thu (Tản Đà)

  10/   Thú hương sơn
          (Chu Mạnh Trinh)

  11/    Thề non nước
          (Tàn Đà Nguyễn Khắc Hiếu)

   Xin Quí vị click vào tên bản nhạc để nghe.     




Bủi Bảo Sơn : Dòng Nhạc Gợi Nhớ và phim bộ.

                   
Gởi Quý vị một web của Tabert75.
Trang nhạc Quý vị sẽ thích, âm thanh hay.

http://www.taberd75.com/music/am_nhac.html

music%202.gif

Bùi Bảo Sơn CVA65
www.cva646566. com
http://groups. yahoo.com/ group/cva646566/
"When you cannot defend freedom through peaceful means, you have to use arms to fight…" Marek Edelman 

             Nếu quí vị thích coi phim. Xem mệt nghỉ sau khi click vào link dưới: 


www.kenh108. com




Link nhung bản nhạc xuân

Xin click vào hình để nghe nhạc




Phạm Anh Dũng : Tình Yêu Trong Dòng Nhạc Từ Công Phụng

Pham Anh Dung
http://www.youtube. com/phamanhdung1 #g/u

Trước hết xin thành thật cảm ơn tất cả đã hưởng ứng lời kêu gọi của tôi và dành thì giờ quý báu (nhất là trong "mùa nóng bỏng" World Cup và NBA Finals) để soạn hòa âm, thu âm, viết bài, gởi tài liệu v v nhất là khuyến khích việc làm một trang nhạc đặc biệt về NS Từ Công Phụng trên website Cỏ Thơm – như một món quà tặng cho người nhạc sĩ tài hoa của tân nhạc Việt Nam.
 
Mời quý vị thưởng thức và tùy nghi phổ biến khắp nơi:
Bấm vào đây ->  
TINH YEU TRONG DONG NHAC CUA TU CONG PHUNG 
 
Trang này vẫn tiếp tục được update với tài liệu mới. Xin được nghe ý kiến xây dựng của quý anh chị.
 
Chúc tất cả một mùa Hè vui tươi, như ý.
Phan Anh Dũng-Tâm Hảo
Richmond, Virginia – USA
 —-
Note: Gần cuối trang nhạc, có phần về CD và sách nhạc của NS Từ Công Phụng, xin quý anh chị mua làm kỷ niệm với chữ ký của tác giả
 

Quý anh chị thân mến,




DD_Little_Child (LauraMayne & Alain Chennviera)

Xin click vào Hình đẻ xem Flash

MUON VAN XOT XA KHI THAY NGUOI NGOAI QUOC , HAT NHUNG LOI CA BANG ANH VA PHAP NGU,
 DE  XOT THUONG CHO THAN PHAN CUA NHUNG EM BE’ BAT HANH VIET NAM TAI QUE NHA…
…… TRONG KHI CON, CHAU TUI VE.M DDO? QUANG TIEN QUA CUA SO, TIEU PHI BAC NGAN HANG ĐEM….
…. XIN HAY LAU KHO NHUNG DONG NUOC MAT CHO CAC EM…
…… KHONG DE CHO CAC EM CON DOI KHO…
…..XIN HAY CHO CAC EM MOT NU CUOI… MOT CUOC DOI…




HD Nguyên sưu tầm : Tiếng Guitare tay trái tuyệt vời của nhạc sĩ Vô Thường

Mời các bạn thưởng thức tiếng Guitare "tay trái"
                        tuyệt vời của nhạc sĩ  Vô Thường .

 Tưởng nhớ nhạc sĩ Vô Thường

 1940 – 2003

  JUKEBOX 1      JUKEBOX 2      JUKEBOX 3

  JUKEBOX 4      JUKEBOX 5      JUKEBOX 6

 
                                                                                  
Nhạc sĩ Vô Thường từ trần lúc 2:50 trưa ngày 26 tháng 4 năm 2003 bên cạnh sự hiện diện của những người thân thương vì bệnh ung thư phổi tại Nam Cali, sau khi đóng góp cho âm nhạc hải ngoại gần 150 CD nhạc.
Nhạc sĩ Vô Thường sinh năm 1940, quê quán Phan Rang. Thuở thanh niên Ông chơi đàn mandolin, và đã nhiều lần trình tấu trên đài phát thanh. Sau đó chơi trong một ban nhạc chuyên trình diễn cho quân đội Mỹ ở Nha Trang, Đà Nẵng.
 
Rời quê hương trong những ngày loạn lạc 30 tháng 4 năm 1975 và đến Mỹ định cư. Thời gian này Ông đã làm nhiều nghề lao động trên đất Mỹ. Nhưng vốn dĩ có sẵn tâm hồn nghệ sĩ, khoảng năm 1985-86 Ông mở Vũ Trường Ritz, điều hành khoảng 2 năm thì ông sang lại cho nghệ sĩ Ngọc Chánh.
 
Do bạn bè khuyến khích, Ông thử thu lại tiếng đàn bằng những băng cassette và gửi ở một số quán cà phê và được khán thính giả khen ngợi nồng nhiệt. Từ đó Vô Thường chính thức góp phần vào sinh hoạt âm nhạc tại quận Cam. Vô Thường đã trở thành một hiện tượng khi tiếng đàn của Ông được mọi người chú ý và ưa thích. Đâu đâu cũng có thể nghe được tiếng đàn Vô Thường, và không chỉ riêng khán thính giả Việt Nam, mà còn cả số khán thính giả ngoại quốc hết lòng khen ngợi.
 
Vô Thường đã đóng góp cho nền âm nhạc hải ngoại gần 150 CD. Ông còn viết những bài tình ca, và đang thực hiện CD với những ca khúc góp mặt với đời, cơn bạo bệnh đã khiến ông phải ngừng ngang. Ông đã gửi gấm việc thực hiện CD này cho một người em nghệ sĩ, đó là ước nguyện cuối của Ông.