Classic Hits

View Post




Nghe “Đền Em” Cung Trầm Tưởng – diễn ngâm bởi Hoàng Khai Nhan

Source: PK-Người Việt Tây Bắc- (Nguoi Viet NW)

Seattle -NVTB – (24-1-2021) Buổi chiều hôm nay thời tiết nắng đẹp- còn hơn nửa tháng là đến Tết ta. Tin thời tiết báo sang tuần có tuyết – Thôi thúc đi uống cà phê ngoài phố trước những ngày sẽ… lạnh; nhân thăm tiệm café rang xay tại chỗ, hạt cafe từ Pleiku -Ban Mê Thuột, gửi hãng chuyên aromé tại Seattle; và còn được uống “Trà Lá Xanh – Lâm Đồng”..

Dù trong thời Covid Vũ Hán hoành hành, nhóm trẻ Friends Of Little Sài Gòn vẫn mới vừa khai trương khai trương, sau hai năm chuẩn bị thiết kế… mang tên: “Café Hello Em” , sắp xếp chung trong tòa nhà “Creative Space” của The Friends of Little Saigon, tại 1227 S. Weller St., Seattle.

Trước đó trên đường tới Seattle, nhân tiện tạt ngang một vòng dạo quanh đảo Mercer Island, vòng quanh đường bờ hồ Washington… nhớ lại kỷ niệm một ngày nơi này có mấy anh chị em đến chuẩn bị cho vài tiết mục cống hiến vào “Ngày 30-4-2015″.. nhắc đến các bài thơ tù Hoàng Liên Sơn, trong đó có cả “Nguyện Cầu Mùa Thu” thơ CTT, “Hoa Trắng” Nguyễn Văn Thu (*) 

Cười cười vì cái tên khá ngộ nghĩnh với .. “Hello Em Café“, rồi lại thấy có một tiệm phở khác trong Mercer Island lại cũng có tên “Em” đó lại là “Phở Em”… Sau một ngày vui với nắng, gió… Rồi khuya về, nghe một bài hát… qua cel phone lại thấy một Youtube trên FaceBook, thấy giới thiệu tiếng thơ “diễn ngâm bởi Hoàng Khai Nhan”.. Bài “Đền Em” – thơ Cung Trầm Tưởng viết từ năm 1956, và tiếp nối bằng ca khúc phổ nhạc bởi Phạm Duy qua tiếng hát Thái Thanh.

Bài thơ này đã xuất hiện trên tạp chí Trẻ năm 1959- của thế kỷ 20. Trình bày đẹp tập tặng không (phát hành toàn quốc – song hành với nguyệt san Thế Giới Tự Do Cơ Quan Viện Trợ Văn Hóa Hoa Kỳ (USAID) (**)

Lắng nghe, và thao thức mất ngủ, với “Đền Em.” . Tiếng “Em” ngọt ngào qua text của gọi tắt : – “Em” hay “M” v.v…

Đền Em chỉ giản dị – là những điều còn nợ nhau – có khi bị “bắt đền” hay tự nguyện- mà hỏi có cách nào “để trả được món nợ” đây. Hay còn có đền bù, hoặc chỉ cụt ngủn “” – là muốn “lắp đầy” giúp “ai đó” vươn tới một ước mơ- từ người mình thân yêu, tha thiết, cho người muốn đạt tới một chỗ vinh quang, bay cao xa hơn!

Nghe Hoàng Khai Nhan diễn ngâm bài thơ ngắn của Cung Trầm Tưởng, mà tưởng như ai đó đang khẩn khoản những lời xin lỗi, lấp liếm đi “những hò hẹn với ước mơ không với tới”, trong đó có cả khí phách của một người thanh niên muốn học thành đạt cống hiến cho “quê hương” còn trẻ (nhớ về Non sông bóng mẹ sầu u– Mòn trông ngưỡng cửa, chiều lu mái sầu ) … Khi nghe sáng tác, tưởng chỉ là một chuyện tình đẹp, hát khi đã buông xuôi… mà ta gọi là “hò hẹn với mai sau“, hay “Kiếp sau”, hoặc còn được gọi là “Thiên Thu” lại là một lời nhắn gửi khác với … (mòn trông ngưỡng cửa- chiều lu mái sầu)

Nghe mãi video “Thi Nhạc Giao Duyên”, để thấy niềm vui thời tươi trẻ hẹn với non sông, khi bao người mới rời đất Bắc vào Nam, Rồi lại một lần nữa rời miền Nam sang đến đất Mỹ v.v.. và khúc hát đi với thơ nhạc mang một cảm giác mênh mang buồn như thời còn nghe Tao Đàn.. còn sống chết thề nguyền.., và mường tượng ra thấy mình gần gũi biết bao với “các món nợ”, mà dẫu mình chẳng hề vay xin – mà đã là để đời chưa trả hết…

Cũng xin được Đền được Bù ở kiếp mai ..

Tiếng “Bù” cho ta tưởng tượng ra ý nguyện muốn tự nguyện “lắp đầy”, khi nhận ra những thiếu vắng khẩn thiết của em, của con, của người thân, và với Cung Trầm Tưởng còn “đền bù” với cả “Non Sông- Bóng Mẹ Sầu U” nữa. Và còn muốn đền bù, cho cả người đã không có chút đầm ấm từ cha hay mẹ, của cả Em bé thơ bị gửi vào ký túc xá, như trong phim: “Les Dimanches de Ville d’Avray – (Sundays and Cybele) – thực hiện năm 1962, mà những gì cô bé xin (rất thân yêu) cũng nhỏ nhoi như những viên kẹo, con búp bê bằng vải có khuôn mặt nhọ lem, hay con gà trống đồng trên đỉnh tháp nhà thờ d’Avray… em từng “khẩn khoản” muốn được! – Mà ai đó trong chúng ta khó cầm lòng, với ao ước “lắp đầy” muốn tặng không- cho em đạt ước muốn bay cao , bay xa trong những mơ ước lẻ loi, vốn em cưu mang đôi cánh cháy….

Muốn bù cho em, đền cho em và lắp đầy những mơ ước của Em- chỉ vì đôi mắt em tha thiết được bay ra khỏi cảnh tội nghiệp và bay cao xa, như mọi ước mơ được chắp cánh. Ảnh trên là một bích chương quảng cáo ở SàiGòn Việt Nam, cuốn phim đen trắng, chàng cựu Không Quân phi hành, trầm cảm từ giã chiến trường lang thang, gnhìn qua hàng rào cổng tòa nhà khó kín , nạn nhân của hoàn cảnh, phải sống trong (viện Dục Anh- hay ký túc xá- chỉ được về nhà khi có thân nhân.

Thật tình trong cuộc đời: Cả khi ta không: vay, nợ hay xin – và cả khi Em cũng chẳng bao bao giờ “bắt đền”, để phải lo “Đền Bù Em“..

***

Trong bao nỗi niềm đó, cảm xúc yêu mến: những dòng thơ Cung Trầm Tưởng, những dòng thơ phổ thành ca khúc của Phạm Duy, những hình minh họa và nét chữ viết nhan đề ca khúc của Ngy Cao Uyên – có từ 65 năm qua- lơ lửng như đám mây trắng- bàng bạc trở về. để nhắc nhở một chút gì đã mượn, đã đón nhận, từ Em, cho cả đến món nợ quê hương – Xin được Đền – Bù, Lắp Đầy cho nhau qua tác phẩm: “Đền Em

“Thơ Đền Em”- hay “Kiếp Sau”, là bài hát thứ hai trong số 5 ca khúc phổ nhạc từ 13 bài trong tập thơ Cung Trầm Tưởng, minh họa Ngy Cao Uyên

Xuất hiện trên tạp chí Trẻ do USAID ấn hành thời xa xưa… Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng, (trái) Nhạc Sĩ Phạm Duy (giữa), và Họa Sĩ Ngy Cao Uyên,, chính là một đột phá từ sinh hoạt nghệ thuật Hoa Kỳ vào xứ sở vốn yêu thi ca-nhạc.

Xin bấm vào mũi tên trong video YouTube bên dưới để thưởng thức: Nhạc Phạm Duy, Thơ Cung Trầm Tưởng, Tiếng hát Thái Thanh, Hình ảnh Trần Công Mỹ & Phần diễn ngâm cùng dàn dựng video bởi: Hoàng Khai Nhan:

Hoàng Khai Nhan, diễn ngâm và giới thiệu “Đền Em” qua music video.

Hai bài thơ dưới đây đây do Ts Thư Khanh và Ts Phương Hoa cảm hứng xướng họa khi nghe Hoàng Khai Nhan diễn ngâm bài thơ “Kiếp sau”

Mở nghe Ai đó Ngâm Thơ : 

” Buồn như chấu cắn ngỡ như …”Thất Tình ” ?!

Buồn vì đất nước điêu linh ,

Giặc Cộng tàn phá tan tành bấy nay.

Nỗi buồn sao cứ tăng đầy,

Giọng sao tha thiết … – như ngày dấu yêu …

THƯ KHANH Seattle 

 

CẢM XÚC

(Kính góp họa cùng thi hữu Thư Khanh)

Đền Em” rót mật vào thơ

Lòng Cung Trầm Tưởng hoang mơ vì tình

Thi nhân chữ nghĩa lung linh

Giọng ngâm dường đã tập tành lâu nay

Tiếng tơ réo rắt đong đầy

“Kiếp Sau” vẫn nhớ những ngày đã yêu

Phương Hoa – FEB 2nd 2021

 

“Đền Em” được nhắc tới nhiều, như là một ca khúc hay vượt trội hơn cả trong kết hợp thơ nhạc, từ bài thơ rất ngắn (1956) mang dáng dấp như ca dao đứng đầu 13 bài trong thi tập “Tình Ca” (chữ viết tay đẹp lạ của Ngy Cao Uyên)….

5 bài được phổ nhạc trong tập thơ “Tình Ca” ngày xưa ấy với minh họa kèm theo các bài thơ và music sheets của Ngy Cao Uyên, đó là:

  1. Mùa Thu Paris
  2. Kiếp Sau (phổ từ bài thơ Bù Em- ngắn ngủn với 6 câu lục bát, như lục bát ca dao…). Trong bài hát này, nhạc sĩ đã không đánh mất hai câu thơ ý nghĩa nhất, được mang vào phần kết thúc: “Non sông bóng mẹ sầu u, Mòn trông ngưỡng cửa, chiều lu mái sầu…”
  3. Về Đây
  4. Khoác Kín
  5. Chưa Bao Giờ Buồn Thế (từ bài thơ Khép Kín)

Hai chữ mở đầu của bài thơ “Bù em” sau khi ở lại, vì Sài Gòn từ 1975 thất thủ, rồi nhà thơ chịu tù đầy 10 năm, bao gồm cả những tháng Hoàng Liên Sơn, Hoàng Liên Sơn – nơi cựu Trung Tá Không Quân, Cung Trầm Tưởng có bài thơ dành cho mẹ sầu Quê Hương mang tên “Nguyện Cầu Mùa Thu” (1977).

(Source: PK-Nguoi Viet NW)

Chú thích:

(*) Ghi chú phần bổ sung lạc ra ngoài đề tài:

(*) Có những nhắc nhớ ghi lại cảm xúc thời mới nhìn thấy “Tình Ca”, Khác hẳn cảm xúc sau khi chính mình cũng là một người đồng cảnh tù… Trước đó trên đường tới Seattle, nhân tiện tạt ngang một vòng dạo quanh đảo Mercer Island, vòng quanh đường bờ hồ Washington… nhớ lại kỷ niệm một ngày nơi này có mấy anh chị em đến chuẩn bị cho vài tiết mục thơ nhạc Mẹ Quê Hương mòn trông và Tù Đầy.. cống hiến vào “Ngày 30-4-2015”..

Mùa này đi trên đường vắng của East Mercer Way (ven bờ đảo) không thấy có hoa trắng rơi rải trắng lấm tấm khắp trên vài con đường vắng – như trong ký ức tôi 65 năm xưa… thảm hoa trắng nhỏ từ một cây vú sữa “già cội” rải khắp sân, của chủ phố Louis Lê Cang Đảm (cháu nội của cụ “Nhất Sỹ” -Lê Phát Đạt, ông ngoại của Nam Phương Hoàng Hậu– Nhà này ở gần nhà thờ Huyện Sĩ, “khi mới Di Cư Từ Bắc Vào Nam”, nơi gia đình tôi may mắn được cho “ở đậu” tá túc mà có thể cũng là người giúp cho có việc làm đầu tiên ở Phòng Thông Tin Usaid, sau này in báo Trẻ và Báo Thế Giới Tự Do..?, còn lưu lại trong ký ức từ 1955-1956.. Rồi mãi mươi năm sau bạn học tôi ở các năm trung học lại chính là con trai ông, tên anh là Louis Đảm, và 16 năm trước cha của anh cũng lại là học trò của Sư Huynh Phạm Ngọc Hóa trường Taberd (là anh ruột của bố tôi)… Tôi phải dài dòng thế, vì rất thích Báo Thế Giới Tự Do và Tạp Chí Trẻ, chính nơi đây đã tặng Free kèm theo báo Trẻ, insert tập “Tình Ca”, in giấy trắng láng- chữ “Tình Ca” mực đen in cùng size với tạp chí Trẻ để insert trong báo – được cơ quan USAID tâng không… vào thời điểm đó… Kể lại dài dòng chỉ vì vậy thôi! Bài thơ này đã xuất hiện trên tạp chí Trẻ năm 1959- của thế kỷ 20. Trình bày đẹp tập tặng không (phát hành toàn quốc – song hành với nguyệt san Thế Giới Tự Do Cơ Quan Viện Trợ Văn Hóa Hoa Kỳ (USAID)

(**) Bài thơ này đã xuất hiện trên tạp chí Trẻ năm 1959in trong một số báo chủ đề “Phạm Duy – Cung Trầm Tưởng và Họa Sĩ Ngy Cao Uyên”. Nhớ nhiều đến bố có việc làm công nhân viên ở đấy, và ông mang về nhà rất nhiều sách in bìa giấy trắng dầy của nhà xuất bản Phượng Giang, Tự Lực Văn Đoàn, Sáng Tạo cũng từ nơi này “hỗ trợ ” phổ biến (?), cũng chỉ để mang tặng không cho người quen… (PK)

 




Những Mùa Thu Qua Trên Cuộc Tình Tôi (Trường Sa)

Source: PK-Người Việt Tây Bắc- (Nguoi Viet NW)

https://www.youtube.com/watch?v=erMQ6SnOzN4&feature=emb_logo

Sáng tác: Trường Sa
Hát: Hoàng Khai Nhan
Hình: Sài Gòn Xưa từ Internet
Phim: Hồ Con Rùa Quay Từ Trên Cao bởi V.Thai Minh
Thực hiện video: Hoàng Khai Nhan

Những Mùa Thu Qua Trên Cuộc Tình Tôi là một là một sáng tác soạn sau này của nhạc sĩ Hải Quân VNCH Trường Sa, trong số 44 ca khúc do ông không ngưng nghỉ sáng tác từ trước 1975. Trong số này có những bài hát dành cho cuộc sống cùng đại dương thời quân ngũ. Có những bài hát sáng tác sau này, sau khi ông về SàiGòn trên chuyến tầu Việt Nam Thương Tín; để rồi phải chịu nhận những năm tháng tù đày dài ngày nghiệt ngã sau khi trở về (1975).

Trong thương nhớ sự ra đi mới đây của ca sĩ Lệ Thu, cũng khiến nhiều người nhắc đến tên các ca khúc Trường Sa gắn liền với tình yêu, kỷ niệm và sự lãng mạn; chẳng riêng Lệ Thu hát hay, mà nhiều người yêu nhạc, một số ca sĩ khác cũng vẫn yêu thích hát như: Xin Còn Gọi Tên Nhau, Rồi Mai Tôi Đưa Em, Một Mai Em Đi.v.v. .

Ca/nhạc sĩ Hoàng Khai Nhan, cũng là một quân nhân- yêu Tổ Quốc-Không Gian, cùng chịu nỗi gian nan, và có nhiều điểm đồng cảm với nhạc sĩ Trường Sa yêu Tổ Quôsc -Đại Dương, đặc biệt là Mùa Thu, những cuộc tình… và một nơi chốn, vẫn “còn chút gì để nhớ” về: SàiGòn (như Anh Bằng-BH) với: “Nhớ Đêm Mưa Sài Gòn“, thấm đầy qua lời ca khúc và con đường Duy Tân ngày nào xa xưa, với những thước phim (nơi hồ phun nước đài Con Rùa và ngọn đuốc cao vọi ghi ơn các quốc gia đồng minh của VNCH-, rất gần trường Luật. Nơi đây đông kín những sinh viên nam nữ, bước ra vào cổng trường bằng gỗ mầu huyết dụ giản dị, giữa sân là cây hoa sứ già cỗi… luôn nở hoa. (như Phạm Duy-Nguyễn Tất Nhiên) với: “Trả Lại Em Yêu“… hay “người từ trăm năm- về qua trường Luật- Thi hỏng tú tài ta đợi ngày đi”.. (Từ nhạc sĩ Trường Sa, đã dắt nỗi nhớ sang tới nhạc Anh Bằng,như một liên khúc rồi tới: “Thà Như Giọt Mưa” phổ thơ Nguyễn Tất Nhiên nữa! Những ca khúc một thời ở Miền Nam mang ta về tháng ngày Sài Gòn cũ, những dòng nhạc tình từ những chiếc máy Akai trước 1975,… cũng chất chứa nhiều ca khúc tha thiết của Trường Sa.. Chính vì thế khi ca nhạc sĩ chọn hát và phổ biến ca khúc này đã lay động trái tim người yêu nhạc, nhớ Sài Gòn và tự hào, qua những kỷ niệm trên cuộc tình mình, qua một thời Không Quân đáng ghi nhớ…

Riêng với lãnh vực nhiếp ảmh của Hoàng Khai Nhan, phần lớn là góc cạnh sinh hoạt một không gian xung quanh thường gặp trong ký ức… Riêng với số ảnh mà ông chụp từ quê nhà, mỗi bức ảnh không chỉ là thơ mộng đẹp hoặc mầu sắc lung linh đầy chất sống, mà còn chất chứa nhiều suy tư gửi đến người thưởng ngoạn như: “Chị gánh hàng rong trên đồi cát Phan Rang”, “Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn” (ngày nay), dấy lên những cảm xúc.. cho người xem có những ấn tượng mạnh về một Sài Gòn đã khác, và ông đã nắm bắt kịp được những sâu thẳm của sự mất mát… khiến người xem bừng dậy những nỗi nhớ SàiGòn… với bao nỗi niềm ngập tràn cảm giác hoài niệm bâng khuâng,…

Ghi chú: Một số ảnh Hoàng Khai Nhan chụp, đã được khá nhiều nơi xử dụng bao gồm cả các video Thúy Nga, cũng như báo tuần và online của Người Việt Tây Bắc (Nguoi Viet NW) vẫn giới thiệu qua từng cơ hội minh họa nổi bật… như dấu mốc thời gian, với những bức ảnh từ Hoàng Khai Nhan, từng cùng ta đi suốt 4 mùa ngày ấy Sài Gòn, và quê nhà… trên trang bìa báo NVTB./. (PK-Người Việt NW)- Bài viết này cũng được phổ biến trên FB của Hoàng Khai Nha và “Trang Nhà của Asia Entertainment”. v,v,,




OUR WAY BACK HOME (1989)

Xin mời vào website

www.phammanhdat.com




Video Nhạc Xuân 2021-Phạm Mạnh Đạt

Xin mời vào website

www.phammanhdat.com




Mừng Sinh Nhật Cuối




Giọt Lệ Khóc Cho Quê Hương




Biển Xanh




Hoàng Nguyên, người nhạc sỹ lãng mạn và tài hoa

  NGUYỄN TRỌNG TẠO

   

Hoàng Nguyên, người nhạc sỹ lãng mạn và  tài hoa

Hơn nửa thế kỷ nhầm nơi sinh quê quán.

Thật lạ là hơn nửa thế kỷ người ta tin là nhạc sĩ Hoàng Nguyên sinh ở Quảng Trị. Tất cả tiểu sử giới thiệu tác giả, đều ghi quê quán Quàng Trị, đến nỗi từ điển Bách khoa toàn thư Wikipedia ghi rõ: “Hoàng Nguyên (19321973) là một nhạc sĩ tên tuổi, tác giả các ca khúc nổi danh như Ai lên xứ hoa đào, Cho người tình lỡ… Ông tên thật là Cao Cự Phúc, sinh 3 tháng 11932 tại Quảng Trị. Lúc nhỏ theo học trường Quốc học Huế. Đầu thập niên 1950, Hoàng Nguyên có tham gia kháng chiến nhưng rồi từ bỏ quay về thành phố”.

Các tư liệu ấy có 2 cái nhầm: Nơi sinh và năm sinh của ông.

Sự thực, ông sinh ra tại xã Diễn Bình, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Tên thật ông là Cao Cự Phúc, sinh ngày 3.1.1930 (sau này ông khai là sinh năm 1932), mất ngày 21.8.1973.

Tôi quen với Giáo sư Cao Cự Bội sinh năm 1936 tại Diễn Bình là chú của Cao Cự Phúc, nhưng cháu hơn chú 6 tuổi, lớn lên lại biết dạy võ cho chú. Tất nhiên tuổi thiếu thời của Phúc sống và học tập ở quê cùng chú Bội gần chục năm mới rời quê hương. Anh Phúc rời quê là vì mẹ đã mất sớm, cha đi làm sở điện, đến lúc anh 15-16 tuổi theo ông nội vào Vinh học và tham gia quân đội chống Pháp khi còn trẻ. Tổ chức thấy anh thông minh, giao ông nhiệm vụ vào tìm bố làm việc bưu điện ở Quảng Trị để hoạt động bí mật. Anh Phúc vào học xong ở Huế rồi bị bắt vì làm nhạc trong phong trào Hòa bình. Được thả, 1955 lên Đà Lạt dạy Anh văn và âm nhạc, hướng nghiệp cho Nguyễn Ánh 9 sau này trở thành nhạc sĩ. Năm 1957 bị bắt đày ra Côn Đảo vì thành phần Việt minh cũ và cất trữ bản nhạc Tiến quân caTrương Chi của nhạc sĩ Văn Cao. Ra tù, 1961 học thêm đại học Sư phạm Sài Gòn, dạy học, sáng tác âm nhạc. Năm 1965, Hoàng Nguyên bị động viên vào Trường Bộ Binh Thủ Đức. Sau khi ra trường chuyển về Cục Quân Cụ, dưới quyền của Đại tá nhạc sĩ Anh Việt và được giao phụ trách ban nhạc Hương Thời Gian.1973 mất vì tai nạn xe hơi ở Vũng Tàu.

Gần đây tôi có gặp ông Lương Tử Miên, người xã Diễn Bình kém anh mấy tuổi có biết anh Phúc. Ông kể: sau năm 1945, anh Cao Cự Phúc đang ở nhà ông bà nội anh ấy (ở cùng xóm với tôi cách nhà nhau chừng 100m). Hàng ngày tôi vẫn vào nhà học nhóm với chú ruột Cao cự Phúc là Cao Cự An và gặp anh Cao Cự Phúc. Có lần Cao Cự Phúc hướng dẫn cho chúng tôi về âm nhạc. Cao Cự Phúc cũng học Trường Nguyễn Xuân Ôn, trên chúng tôi 2 lớp. Quảng năm 1948 anh Cao Cự Phúc rời nhà ông bà nôi sang nhà bà Hàn Lương cháu nội cụ Nguyễn Xuân Ôn ở xã Diễn Thái vừa làm gia sư vừa đi học tiếp trung học. Từ đó cho đến khi tôi đi lính thì không gặp anh Cao Cự Phúc nữa. Khoảng năm 1949-1950 nghe tin anh Cao Cự Phúc tham gia đoàn tuyên truyền kháng chiên liên khu 4 cùng với nhà văn Bửu Tiến và anh Cao Xuân Hạo (sau này là giáo sư ngôn ngữ học) đi vào chiến khu Ba Lòng (Cam Lộ – Quảng Trị) hoạt động tuyên truyền kháng chiến. Thông tin về Cao Cự Phúc sau đó không có nhiều ở quê nên ít người biết. Còn nói về gốc gác quê hương bản quán và tuổi trẻ thì phải nói anh Phúc quê ở Xóm Chợ xã Diễn Bình huyện Diễn Châu – Nghệ An bây giờ

Như vậy, Cao Cự Phúc xuất hiện ở Quảng Trị đi tìm bố, từ khoảng 19 tuổi, khi ấy anh đã học nhạc ở ban nhạc họ Cao Diễn Châu, học nhạc Nguyễn Văn Thương quen ông nội ở Vinh và sáng tác âm nhạc. Mẹ đẻ anh mất lúc 2 tuổi, mấy năm sau bố anh là ông Thông Bàng lấy vợ kế, sinh con ở Quảng Trị. Từ khi tìm bố ở Quảng Trị, Cao Cự Phúc vào học ở Huế khai tụt 2 tuổi và lấy bút danh Hoàng Nguyên. Sự kiện 1955 bị bắt và được thả đã thôi thúc ra đi, và thẳng Đà Lạt dạy Việt văn, Anh văn và âm nhạc, xuất hiện chùm ca khúc Đà Lạt nổi tiếng của Hoàng Nguyên: Ai lên xứ hoa đào, Bài thơ hoa đào, Đà Lạt mưa bay. Không ai ngờ rằng, Hoàng Nguyên là người nhạc sĩ tài hoa quê tận Diễn Châu, Nghệ An.

Âm nhạc cuộc sống và lãng mạn.

Nếu nói về sáng tác âm nhạc thì Cao Cự Phúc – Hoàng Nguyên là một nhạc sĩ rất nổi tiếng thập niên 50, 60 thế kỷ trước. Ông không chỉ sáng tác nhạc mà còn dạy nhạc, dàn dựng tác phẩm và phát hiện bồi dưỡng những nhạc sĩ trẻ. Nguyễn Ánh 9 là một nhân tố mà ông yêu quý, chăm sóc trở thành người nhạc sĩ tài hoa sau này. Người học trò thuở đấy đã nghĩ về Hoàng Nguyên là một con người có lý tưởng chống Pháp, và âm nhạc của anh đã hiện rõ lý tưởng đó: Có lẽ trong lòng những người yêu nhạc sẽ mãi mãi vang vọng những giai điệu đầy kỷ niệm của thời kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp… “Nếu hiểu rằng anh đi vì lũ giặc tham tàn, thì em ơi, em chớ sầu thương chi! Em thấy chăng khói súng của giặc thù còn mịt mùng và còn che khuất mờ…”. Nhạc sĩ Hoàng Nguyên đã viết ca khúc Anh Đi Mai Về này ở tuổi 20 tràn đầy nhiệt huyết trong bối cảnh cả dân tộc đang trường kỳ kháng chiến. Bài hát tức khắc được đón nhận nồng nhiệt và phổ biến rộng khắp. Hiếm có những nhạc sĩ trẻ xưa nay tìm được thành công dứt khoát ngay tác phẩm đầu tay của mình và nhanh chóng thành danh như anh.

Có lúc Hoàng Nguyên đã sáng tác ca khúc khi làm tuyên truyền quân khu 4, cùng tinh thần sáng tác ca khúc với Cao Xuân Hạo đồng hương, nhưng rồi do nhiệm vụ khác nhau. Hoàng Nguyên học ở Huế, các hoạt động Việt Minh bị cách trở thấy xa xăm. Nhiều đêm anh nhớ cảnh hoạt động cùng đồng đội mà vẫn phải chịu đựng qua ngày tháng:

Quên đi những chiều nhìn mây vương sau đèo

Nắng vàng đùa thông reo bên bờ dòng suối lắng

Cùng nhau vỗ súng ca cho đời biên khu

Xa rồi ơi đàn

Đâu đêm trăng vàng cùng chung vui bên rừng

Tiếng trầm hùng vang vang, bóng từng đoàn chiến sĩ,

nguyền dâng sức sống cho quê nhà

Đêm nay xa rồi ơi đàn

Đàn ơi xa rồi,

Lòng vắng mơ chi ngày về, đàn ơi dứt đi đường tơ

Đàn ơi xa rồi, tơ lòng đừng vương vấn

Buồn chi khi non sông còn vương máu, và chiến chinh đang tràn lan

(Đàn Ơi, Xa Rồi)

Ngay cho đến khi đất nước chia đôi, tinh thần thống nhất đất nước vẫn luôn trỗi lên trong anh. Tất cả những mối liên lạc hoạt động như mất hết với anh, và niềm khắc khoải day dứt cùng lý tưởng chỉ lặng lẽ với anh. Anh nghĩ tới “cách chia”, “chia lìa” và vẫn “nhớ thương”, “mong chờ”. Chính vì vậy mà bài hát “Em chờ anh trở lại” đã ra đời sau hiệp thương 1954 như một khao khát nước nhà thống nhất:

Ngày anh ra đi, đường nắng chưa phai màu

Dòng sông chia ly, lờ lững chưa hoen sầu

Ngờ đâu chân anh, lạc bước khi qua cầu

Chiều nay bâng khuâng, chợt xót thương đời nhau.

Ngày anh ra đi, rặng liễu chưa xanh màu

Mà nay bên sông, liễu khuất bến giang đầu

Mười mấy năm qua rồi còn gì đâu? Còn gì đâu

Có chăng là đớn đau.

Em chờ anh trở lại chốn đây

Đường xưa còn đó sánh đôi vai gầy

Em chờ anh tìm về lối cũ

Có em còn đây bên sông này

Đợi chờ ai đến trong vòng tay.

Bài hát là bài tình khúc, khao khát và chia lìa, lãng mạn trên đau khổ. Những bài hát như vẫn phảng phất lý tưởng dân tộc trong đất nước chia đôi. Đó chính là lý tưởng của người nhạc sĩ Hoàng Nguyên trong một giai đoạn lịch sử hiện thực chi phối cả dân tộc.

***

Từ thời Hoàng Nguyên phiêu bạt vào Đà Lạt, anh tung một chùm bài hát trữ tình, lãng mạn rất tươi đẹp, như cảm xúc của du khách rất yêu đời. Những người du khách, nghệ sĩ nghe nhạc, nhập vào những âm thanh bên hồ, tiếng suối, tiên cảnh nên thơ. Có người nghe nhạc Đà Lạt của Hoàng Nguyên rồi gọi ông là “người đội vương miện cho nhan sắc Đà Lạt”. Vâng, âm nhạc của anh xứng đáng vẻ đẹp và tươi sáng của xứ hoa như vẫy mọi con người. Và lời ca của Hoàng Nguyên rất giàu chất thơ, gây mê người thưởng thức:

“Ai lên xứ hoa đào dừng chân bên hồ nghe chiều rơi

Nghe hơi giá len vào hồn người chiều xuân mây êm trôi

Thông reo bên suối vắng lời dìu dặt như tiếng tơ

Xuân đi trong mắt biếc lòng dạt dào nên ý thơ

Nghe tâm tư mơ ước mộng đào nguyên đẹp như chuyện ngày xưa

Ai lên xứ hoa đào dừng chân bước lần theo đường hoa

Hoa bay đến muôn người ngại ngần rồi hoa theo chân ai

Đường trần nhìn hoa bướm rồi lòng trần mơ bướm hoa

Lâng lâng trong sương khói rồi bàng hoàng theo khói sương

Lạc dần vào quên lãng rồi đường hoa lặng bước trong lãng quên”

Những câu nhạc như dài ra hơn bình thường. Những nốt nhạc lên xuống như núi đồi nối nhau. Những hoa bướm, bướn hoa; những quên lãng, lãng quên như quấn quýt lấy nhau trong một khúc thức mở ra không cùng lấp lánh. Qua bài hát, ta thấy tài năng cả nhạc và lời của Hoàng Nguyên như được trời cho:

Ai lên xứ hoa đào đừng quên mang về một cành hoa 

… Giờ này nhìn sương khói mà thầm mơ màu hoa trên má aị

Có thể nói Hoàng Nguyên đã mê say Đà Lạt trinh nguyên thuở ban đầu. Chỉ trong thời gian ngắn, 2 ca khúc về Đà Lạt được anh sáng tác, và trở thanh 2 ca khúc bất hủ cho vùng đất này. Bài thứ 2 là “Bài thơ Hoa Đào” anh viết trong một căn phòng đơn sơ của một thầy giáo, “trong khuôn viên Trường Bồ Đề Đà Lạt, nơi anh đang dạy Anh văn cho các lớp trung học. Một chiếc giường đơn, một bàn viết bằng gỗ thông và một cây đàn guitar treo trên vách. Thời gian đó, Hoàng Nguyên còn phụ trách các buổi phát thanh của Hội Phật giáo trên làn sóng Đà Lạt”. Nguyễn Ánh 9 đã nhớ lại như vậy, và đã nghe anh hát cho nghe giai điệu đầu tiên đầy quyến rũ:

Ngày nào dừng chân phiêu lãng 

Khách tới đây khi hoa đào vương lối đi 

Màu hoa in dáng trời 

Tình hoa lưu luyến người 

Bồi hồi lòng lữ khách thấy chơi vơi 

…Ôi! Đà Lạt là mơ 

Giấc mơ tiên nữ giáng xuống trần 

Tóc mây buông lơi tha thướt bên hồ 

Đợi tình quân đến trong giấc mơ…

Và vẫn còn “đợi tình quân đến trong giấc mơ” của  anh lính Cao Cự Phúc ngày nào. Với âm nhạc say sưa da diết như vậy, người ta tin là anh đã gắn bó với đất này như thiên đường của tuổi trẻ. Nhưng anhthú nhận với người học trò yêu quý ngay sau khi anh viết xong bài hát này: “Không, anh chỉ ghé chân để tạm mưu sinh và tìm cảm hứng…”. Vâng, sự “ghé chân” đã dâng lên trog bài hát:

Nhưng rồi mùa hoa tàn 

Người hoa sao vắng mãi 

Bao chiều lòng mong chờ 

Đường hoa sao hững hờ 

Để lòng lữ khách tê tái 

Cất bước đi nhớ hoa đào trên má ai 

Màu hoa in trên má 

Làm khách lưu luyến mãi Đà Lạt ơi!

Chính vì tâm sự ấy mà nỗi lòng bâng khuâng mãi với Đà Lạt, bâng khuâng mãi ­­với lữ khách muôn thời.

Cũng với Đà Lạt, anh còn có những bài hát nữa như “Đường nào lên thiên thai”, “Đà Lạt mưa bay”… Bài hát nào cũng muốn cái đẹp của Đà Lạt như Thiên Đường, không bị phai tàn. Có thể đó là mơ mộng:

Cầm tay em anh hỏi

Đường nào lên Thiên Thai,

Đường nào lên Thiên Thai,

Đường nào lên Thiên Thai?

Nơi hoa xuân không hề tàn,

Nơi bướm xuân không hề nhạt,

Nơi tình xuân không úa màu bao giờ

Và Hoàng Nguyên cứ tin cuộc đời là vậy, với đôi mắt trong đẹp ngây thơ:

Nhìn trong đôi mắt đẹp,

lòng chợt vui như say;

kìa đường lên Thiên Thai,

Ấy đường qua ngõ mắt thơ ngây, tiếng nhạc êm lẫn tiếng thơ say,

Đưa hồn anh lạc vào tận tim ai.

Rồi một ngày anh chỉ “ghé chân” nơi Đà Lạt, phải rời xa nơi này bởi tù đày vì yêu đời yêu nhạc yêu ca. Âm nhạc của anh vẫn vang lên cũng cuộc sống:

Chừ anh đi rồi mình tôi còn ở lại 

Dalat buồn mưa mãi mãi không thôi…

Rời Đà Lạt, Hoàng Nguyên tiếp tục một cuộc sống khác, nhưng chỉ mấy năm gắn bó bằng âm nhạc, bằng lời thơ, bằng trái tim yêu đời cùng thành phố hoa thơ mộng, anh đã trở thành “Người nhạc sĩ đội vương miện cho nhan sắc Đà Lạt”.

***

Thời gian “sau Đà Lạt” thì cuộc đời rất phức tạp và éo le với Hoàng Nguyên. Năm 1956, anh bị chính quyền lùng bắt ở Đà Lạt do hoạt động tuyên tuyền Quân khu 4 kháng chiến chống Pháp từ lâu và lấy cớ trong nhà có bản Tiến Quân Ca của nhạc sĩ Văn Cao, người mà Hoàng Nguyên rất ái mộ, nên anh đã bị bắt và đày ra Côn Đảo năm 1957. Bị tù ở Côn Đảo, do tài giỏi, anh được Chủ đảo mời dạy nhạc cho con gái 19 tuổi, thầy trò đã yêu nhau bốc lửa và mang bầu, phải vận động cuộc tự do để thả Hoàng Nguyên ra tù về Sai Gòn theo ý Chủ đảo. Anh ra tù không lấy con Chủ đảo vì éo le, tiếp tục dạy học và theo học Đại học Sư phạm Sài Gòn. Năm 1961, anh quen ông Phạm Ngọc Thìn, thị trưởng thành phố Phan Thiết và bà Huỳnh Khanh là nữ diễn viên mến mộ tài năng nhận anh làm em nuôi, rồi trở thành con rể ông bà. Năm 1965, Hoàng Nguyên bị động viên vào Trường Bộ Binh Thủ Đức, sau đó chuyển về Cục Quân Cụ, lý ban nhạc Hương Thời Gian xuất hiện trên truyền thanh và truyền hình Sài Gòn đến khi bị tai nạn xe hơi kết thúc cuộc đời.

Thời kỳ này âm nhạc miền nam không chỉ nhạc vàng tình yêu, nhạc xanh, nhạc sến mà còn nhạc trẻ, nhạc tây. Hoàng Nguyên từ dòng tiền chiến lãng mạn đến tình yêu sang trọng, rồi nhập vào dòng tân nhạc hay hiện đại. Nhưng câu chuyện tình yêu trong ca nhạc muốn vượt lên, nhưng vẫn phảng phất nỗi niềm tủi đau. Trong khi chuyện gia đình người vợ làm anh u uất không vui, và âm nhạc cũng gieo vào tâm sự:

Những tưởng dài lâu 

như trăng như sao cho đến bạc đầu. 

Nào ngờ trời mưa 

mưa rơi không thôi nát tan tình đầu 

Nước mắt rơi mau 

long lanh giọt sầu xót xa niềm đau. 

(Đừng trách gì nhau)

Ai dám đợi chờ ai 

Và người nay đi xa 

Từ giã bến sông dài 

Để đến hôm nay tôi ngồi đây 

Lặng ngắm hoa soan rơi rụng đầy 

Người ơi! thơ ngây đã lỡ rồi 

Tình xa rồi thì cho tôi chép lại vần thơ xưa.

(Thuở  ấy yêu nhau)

Và bài hát “Cho Người Tình Lỡ”,dù là một chuyện tình đã lỡ, nhưng cái con người nhân văn của nhạc sĩ luôn luôn trĩu nặng trong từng lời thơ nốt nhạc. Âm nhạc cũng mới mẻ lên, nhịp điệu cũng dào dạt hơn, để lại tâm tình càng sâu nặng sau bao yêu thương đau khổ. Bài hát “Cho Người Tình Lỡ”,có gía trị, và được chọn thu vào đĩa 45 vòng do Hãng đĩa Tình Ca Quê Hương sản xuất do Thanh Lan hát cùng bài “Không”của Nguyễn Ánh 9 được Khánh Ly hát. Và đây là đầy đủ lời ca của Hoàng Nguyên”:

Khóc mà chi, yêu thương qua rồi 

Than mà chi, có ngăn được xót xa 

Tiếc mà chi, những phút bên người 

Thương mà chi, nhắc chi chuyện đã qua 

Anh giờ đây như là chim 

Rã rời cánh biết bay phương trời nào 

Em giờ đây như cành hoa 

Trót tả tơi đón đưa ngọn gió nào. 

Mình  nào ngờ, tình rơi như lá rơi. 

Người tình đầy, vòng tay ôm quá lơi. 

Để giờ này một người khóc đêm thâu, 

Một người nén cơn đau nghe mưa mà cúi đầu. 

Thế là hết, nước trôi qua cầu 

Đã chìm sâu những thánh ngày đắm mê 

Thôi đành quên, những tiếng yêu đầu 

Những lời yêu ấy nay đã quá xa. 

Nẻo đường cũ giăng đầy mưa 

Khuất mù lối khiến nên tình đành lỡ 

Ta giờ đây như rừng thu 

Nắng liệm với chiếc lá vàng cuối mùa.

Có thể nói, từ “Ai lên xứ hoa đào”đến“Cho Người Tình Lỡ”,là 2 đỉnh cao của ca khúc đầu đời và cuối đời của nhạc sĩ Hoàng Nguyên.

Hoàng Nguyên – Nhạc sĩ của công chúng.

Thường thì một đời, một sự nghiệp âm nhạc phụ thuộc vào tác phẩm được công chúng yêu thích. Có nhạc sĩ cả nghìn bài đươc 1 bài nổi tiếng, được công chúng ghi danh. Có nhạc sĩ trăm bài được vài bài, dăm bài nổi tiếng là để lại nhiều thế hệ yêu thích. Và có người qua đời, không để lại tác phẩm nào cả. Điều đó là công bằng, tác phẩm được sàng lọc qua thời gian.

Nhạc sĩ Hoàng Nguyên/Cao Cự Phúc mất sớm do tai nạn khi 43 tuổi, không còn từ năm 1973 đến nay đã 45 năm, nhiều bài hát của anh vẫn còn được công chúng yêu thích, được khắc trên đá, được vang trong cuộc sống. Đó là niềm vinh dự của người nhạc sĩ trong cuộc đời này. Có thể nói, các thế hệ không quên những tác phẩm nổi tiếng của anh, và biết ơn anh.

Và anh có quê, quê gốc nhiều đời, quê cha mẹ sinh ra xã Diễn Bình, Diễn Châu của anh; quê tuổi thanh niên Quảng Trị cùng cha đẻ, mẹ kế và các em của anh; và các miền quê phiêu bạt đã làm nên sự nghiệp của anh.

Là một người bắt đầu hoạt động chống Pháp từ khi còn trẻ, dù môi trường công tác khác nhau có thể mất cả đường dây hoạt động, bị khủng bố, tù đày nhưng anh vẫn trở về cuộc sống nhân văn làm gốc với con người, xã hội. Và cho dù làm với bên này bên kia bằng ngòi bút sáng tác, bằng người dạy học mang kiến thức cho mọi người. Thật đáng kính.

Vì vậy những người yêu anh đã khắc những bản nhạc của anh lên đá, những phù điêu hình ảnh của anh nơi công cộng, và cũng có những người đề nghị đặt tên đường cho anh trên đất Đà Lạt, con đường nhạc sĩ Hoàng Nguyên. Và theo tôi, nên đặt cả tên đường của anh trên đất Diễn Châu, Nghệ An và trên đất Quảng Trị.

Vâng, sự nghiệp của anh bằng âm nhạc thật rõ ràng. Anh, Hoàng Nguyên/Cao Cự Phúc là người nhạc sĩ lãng mạn và tài hoa.

Hà Nội, 15.7.2018




Cây đàn tranh kỷ niệm

Cây đàn tranh kỷ niệm

(Ghi theo lời kể)

Như mọi người đã biết kỹ thuật đóng đàn Tranh khó ai qua được tay nghề bác Vĩnh Bảo, ông vừa là một nhạc sư vừa là một nghệ nhân số 1 về đàn Tranh của Việtnam.

Tìm hiểu trên Wikipedia thì được biết:

“ nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo (sinh năm 1918) là nhà nghiên cứu âm nhạc, giáo sư giảng dạy âm nhạc truyền thống. nhạc sĩ trình tấu và nghệ nhân đóng đàn… Và đặc biệt Ông rất yêu thích đờn ca tài tử.

Chính Ông là người đã có nhiều đóng góp và cải tiến đàn tranh từ 16 dây thành đàn tranh 17, 19 và 21 dây với kích thước và âm vực rộng hơn.

Từ năm 1955 cho đến năm 1964, ông dạy môn đàn tranh và cũng là trưởng ban nhạc cổ miền Nam tại Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ ở Sài Gòn. Ngoài ra ông cũng đã đi diễn thuyết giới thiệu và trình tấu âm nhạc dân tộc Việt Nam ở nhiều nơi trên thế giới…”

Dịp may đến khi bạn mình quen biết nghệ sĩ Đặng Lan (đàn Độc Huyền) trong các buổi sinh hoạt âm nhạc tài tử tại San Jose, Calif do giáo sư Ngọc Dung (đàn Tranh) và Cô cũng chính là người thành lập đoàn Tiếng Vọng Quê Huơng (nhằm gìn giữ và phát huy bản sắc dân tộc của nền âm nhạc truyền thống Việtnam tại nước ngoài)

Cần nói thêm, mình được biết khi còn ở Việtnam nghệ sĩ Đặng Lan cùng với NS Văn Hai và các nghệ sĩ cổ nhạc khác trong các dịp rảnh rỗi (không đi diễn) thường ghé nhà bác Vĩnh Bảo để sinh hoạt và trao đổi thân tình về đờn ca tài tử (ít nhất bác cũng dành 1 ngày trong tháng thường thì nhiều hơn tại nhà để họp mặt ) nên từ lâu các anh đã trở thành người nhà của gia đình bác Vĩnh Bảo.

Nghĩ tới các nhạc cụ cổ truyền Việt nam thông dụng. Mình nghĩ ngay tới đàn Tranh và ngỏ lời với anh Đặng Lan muốn có một cây đàn Tranh 25 dây do chính bác Vĩnh Bảo đóng, (thật là quá sức tưởng tượng vì dân nghệ sĩ professional đi biểu diễn cũng chỉ sử dụng cây đàn Tranh 22 dây là quá dư rồi). Thế là anh Đặng Lan và anh Văn Hai đã tận tình giúp và thay mặt mình thưa chuyện chuyện cùng bác Vĩnh Bảo.

Những tình cảm mà bác dành cho các nghệ sĩ chân chính thì thật lớn, riêng các anh Văn Hai, Đặng Lan thì đặc biệt hơn hẳn nên Bác đã nhận lời đóng cây đàn Tranh 25 dây đầu tiên và độc nhất này, (vì từ xưa tới nay bác và gia đình chưa từng đóng cho bất cứ một ai cây đàn Tranh nào lớn và có nhiều dây như thế). Đây có lẽ là cây đàn duy nhất mà bác nhận lời đóng vì khi ấy bác Vĩnh Bảo đã tròn 100 tuổi rồi (2017).

Năm 2018 mình có về Việt nam và được nghe anh Văn Hai thuật lại: hàng tuần hoặc khi rảnh rỗi anh thường ghé thăm bác Vĩnh Bảo vì bác đã lớn tuổi và cũng vì cây đàn đặc biệt này. Anh Văn Hai cũng cho biết thêm Nhạc sư Vĩnh Bảo đã dành rất nhiều thời gian tâm huyết cũng như đã dồn tất cả tình yêu và cả tình tự dân tộc trong tâm hồn cho sự thai nghén đứa con tinh thần này. Chính Bác đã phải đích thân phát thảo từng chi tiết một và cùng gia đình tỉ mỉ đo ni làm khuôn cho cây đàn “Đại” này, vì trước đây xuởng đóng đàn không hề có khuôn lớn.

Kiểu dáng đàn cũng là một vấn đề cần phải nghiên cứu (nếu giữ nguyên dáng kiểu đàn Tranh truyền thống thì nhạc sĩ sẽ không thể chạy ngón lả lướt thật nhanh được trong lúc trình tấu vì phần thân sẽ vồng lên rất to và nhìn đàn sẽ thô kệch, mà đóng kiểu Koto “một loại đàn Tranh của Nhật” thì sẽ mất đi sự riêng biệt và nét dịu dàng duyên dáng cùng sự độc đáo của cây đàn Tranh Việtnam) Bác đã phải tính toán và mất rất nhiều công sức nhằm chọn lựa nhiều giải pháp khác nhau để có được sự hoàn hảo tối ưu như hiện nay.

Vì cây đàn cho xứ lạnh nên bác đã chọn gỗ mặt đàn là loại gỗ cây Kiri của Nhật Bản để có được âm thanh thật hay, chuẩn xác. (Kiri là loại gỗ nhẹ, mềm nhưng đặc, và là loại gỗ có độ đàn hồi xoắn cao, không bị rạn nứt, biến dạng và chịu được sự thay đổi của khí hậu, thời tiết của xứ lạnh… ) Vì những lý do trên nên bác không dùng gỗ Ngô Đồng truyền thống được, nó chỉ thích hợp với khí hậu của Việtnam. (Gỗ Ngô Đồng rất phổ biến cho đàn Tranh, vì âm thanh chuẩn và tốt ở Việtnam từ bao đời nay thì mặt đàn phải được đóng bằng gỗ Ngô Đồng)

-Nếu mặt đàn may mắn chọn được đoạn giữa của thân cây và thân gỗ khi phát triển mà quay về hướng mặt trời là tốt nhất, đoạn này ít bị thay đổi (rạn nứt, giãn nở theo thời tiết và thời gian của xứ nhiệt đới) cây đàn sẽ cho âm thanh chắc và vang.

-Nếu mặt đàn chọn gỗ ở phần trên gần ngọn thì âm thanh sẽ mỏng, lép, ít vang.

-còn mặt đàn mà ở phần gần gốc thì âm thanh sẽ tù, đục, không thoát.

Làm mặt cây đàn này phải nhập gỗ Kiri từ bên Nhật nguyên miếng thật lớn (vì là đàn 25 dây nên kích thước cũng lớn hơn hẳn).

Để phân biệt mặt gỗ Kiri (có vân) còn mặt Ngô Đồng (không vân), thường thì mặt đàn không phủ bóng bằng Verni (để mặt mộc) sẽ tạo được độ vang hơn và như thế ta cũng sẽ dễ nhận biết được chất lượng của gỗ.

Khi bán đàn cho mọi người bác vẫn khuyên nên đóng bằng gỗ Ngô Đồng âm thanh vẫn hay mà giá lại rẻ hơn nhiều, để tiết kiệm tiền cho chính khách hàng, có lẽ đây là lương tâm đạo đức và là tính cách rất độc đáo đã từng tạo nên tên tuổi của gia đình bác, sau này chị Thu Anh “con gái bác” cũng theo gương cha, bao giờ truớc khi bán cũng trao đổi thật kỹ với khách và cho những lời khuyên chân thành nhất chứ không vì đồng tiền mà đánh mất lương tâm, rồi chị cũng thú thật cái mà chị sợ nhất vẫn là sợ mất tiếng tăm của gia đình Vĩnh Bảo bao đời nay)

Như mọi người được biết: nhiều nghệ nhân rất giỏi về đóng đàn nhưng mặt khuyết họ thường lại không phải là nhạc sĩ giỏi nên cũng khó phân biệt chi ly, rạch ròi được thế nào là âm thanh chuẩn mực cùng sự ngọt ngào sâu thẳm của từng âm điệu của tiếng đàn Tranh trong khi nhấn nhá, hoặc họ là nghệ sĩ biểu diễn thì được trời phú cho họ có “cái tai” thẩm âm rất chuẩn xác thì lại không rành chi tiết về kỹ thuật đóng đàn. Nghệ nhân kết hợp được cả hai tính chất trên thật là hiếm, đúng là được mặt này thì khuyết ở mặt khác ?

Riêng nhạc sư Vĩnh Bảo thì có  được cả hai. Theo lời Bác kể: năm 10 tuổi bác đã tự tay ráp cái gáo dừa và cần đàn khi được người ta cho cây đàn gáo mà 2 phần rời nhau. Có lẽ bác đã tập mày mò đóng đàn từ khi ấy. Được biết sau thời gian không đi dạy tại trường nhạc trong nước. Bác may mắn có điều kiện ra nước Ngoài để dạy thêm về âm nhạc cổ truyền cho các học trò thế giới và Bác đã quyết chí ghi danh học thêm về kỹ thuật đóng đàn Violin tại trường hẳn hoi, nên có lẽ bác là nghệ nhân đàn dân tộc duy nhất đã được đào tạo từ trường lớp tại Tây Phương.

Những kỹ thuật khéo léo, tinh xảo của cách đóng đàn Violin mà bác đã học được nó đã là một nền móng vững chắc chẳng phải ai cũng có được và sau này đã được bác nhuần nhuyễn áp dụng để hình thành cho cây đàn Tranh Việtnam với thương hiệu Vĩnh Bảo. nhưng để hình thành và tạo nên tên tuổi trong lòng mọi người chắc chắn bác đã phải qua rất nhiều thời gian tìm tòi trải nghiệm, cùng biết bao biến tấu để tạo thành.Ngoài ra chị Thu Anh cũng tiết lộ bí mật kỹ thuật tạo ra tiếng đàn hay nằm ở chỗ hiểu được đặc tính sự giãn nở của từng loại gỗ khi kết hợp với nhau, và gia đình đã dày công nghiên cứu để có hẳn loại keo đặc biệt gia truyền chỉ để dùng riêng cho việc đóng đàn… Chị tâm sự mỗi cây đàn xuất ra đều được thẩm âm thật kỹ trước khi tới tay người dùng… rất tiếc nhiều lần nói chuyện với Chị mà không ghi nhớ được là bao để chia sẻ cùng các bạn.

Điều quan trọng nhất vẫn là được gia đình bác xác nhận: “ chắc chắn đây là cây đàn Tranh 25 dây độc nhất vô nhị cả ở Việtnam cũng như trên thế giới do chính tay bác Vĩnh Bảo đóng và ký tên “.

Khi viết những dòng này thì năm nay bác cũng vừa tròn 103 tuổi, bác cùng gia đình cho biết: “sẽ không hề có ý định và muốn làm lại một cây đàn 25 dây thứ hai như vậy nữa.” Đây thực sự là một món quà tình cảm vô giá mà Bác muốn dành lại cho hậu thế.

Ngoài chữ ký của nhạc sư Vĩnh Bảo, cây đàn này còn may mắn hơn nữa khi được các giáo sư, nghệ sĩ cũng là những người bạn thân của bác Vĩnh Bảo ký tên lưu niệm. Xin cảm ơn Gs tiến sĩ âm nhạc học dân tộc Trần quang Hải (Pháp), Giáo sư đàn Tranh Ngọc Dung (San Jose, Calif), NS Đỗ Lộc, NS Văn Hai, NS Đặng Lan (San Jose, Calif) …

Nay được sở hữu, đó là niềm vui, niềm hãnh diện, và tự hào rất lớn, một lần nữa xin được đặc biệt cảm ơn bác Vĩnh Bảo và gia đình.

Chúc bác nhiều niềm vui trong tuổi hạc.

Hồng Nguyên.

***

– Giáo sư Trần quang Hải nhân dịp qua Hoa Kỳ nhận bằng tưởng lục của trường đại học Long Beach University “ tuyên dương về những đóng góp của Ông trong việc nghiên cứu, phổ biến âm nhạc dân tộc Việtnam trên thế giới.” Đã ký tên trên đàn.

– NS Đỗ Lộc nhân chuyến đi biểu diễn trong “Ao Dai Festival” tại Calif, Hoa Kỳ đã ký tên.

Theo Internet




Thiên hùng Ca QLVNCH

Thiên hùng Ca QLVNCH





Nhạc sĩ Nguyễn Đức Đạt

NGUYỄN ĐỨC ĐẠT FLAMENCO, ÂM THANH & ÁNH SÁNG GIỮA LÒNG NGƯỜI. 

Nhận định : Phạm Lễ.  

Flamenco “Tiếng đàn đi cùng năm tháng” là nghệ thuật trong truyền thống văn hoá dân tộc vùng Andalucia miền Nam Tây Ban Nha,  âm thanh rung động cảm xúc từ con tim và nhịp đập diễn tả những vinh quang, bi kịch của dân tộc này qua nhiều thế kỷ bị ngoại xâm. Nhưng ở Nguyễn Đức Đạt thì Flamanco lại giúp cho anh thoát ra khỏi “Đáy Sâu Vực Thẳm” đã quá bất hạnh trong những khổ đau, qua âm nhạc là phương tiện diễn tả xúc cảm để ra khỏi mọi nghịch cảnh đau thương tìm lại đưọc những an nhiên tự tại với thương yêu của tình người.

Flamenco được diễn tả bằng nhiều phong cách:

Hát với phần đệm guitar, múa Flamenco, độc tấu guitar Flamenco. Những người Di-Gan thời trước ăn mặc trang điểm màu sặc sỡ như chim hồng hạc, nên gọi là: "flamencòs”, gần đồng âm với chữ "flamengo" (hồng hạc). Được xem là tuyệt đỉnh văn hoá truyền thống dân tộc trong sáng tạo nghệ thuật của Tây Ban Nha, vũ điệu Flamenco đi kèm với yếu tố quan trọng khác, là: "Những tiếng giậm chân, những tiếng vỗ tay phức tạp hỗn hợp và điểm vào đó những tiếng hét "Ole!" đúng nhịp".

Theo nhà phê bình âm nhạc Phạm Văn Kỳ Thanh (tức luật sư Phạm Mỹ Lộc ở San Jose) các công trình nghiên cứu âm nhạc từ nhạc cụ, thẩm âm và sáng tác thì cả hai nhà phê bình âm nhạc qua nhiều năm tháng giảng dạy về tây ban cầm tại âm nhạc viện Bach ở Saigòn trước khi du học Hoa Kỳ vào cuối thập niên 1960 đã cho biết:  

Trước hết, muốn trình diễn một bài nhạc Flamanco, người nhạc sĩ trình diễn hay sáng tác phải biết tập hợp của một số đoạn nhạc ngắn, gọi là “Compas”. Mỗi đơn vị căn bản này gồm có bốn ô nhịp theo thể 3/4 , tức là mỗi compass sẽ có 12 phách.Những phách cần nhấn mạnh trong một compass là ba(3), sáu(6), tám(8), mưòi(10) và mười hai(12). Riêng phách mưòi hai thì không bắt buộc và có thề bỏ qua không cần nhấn mạnh ở đây.

Bên dưới phách mười một và mười hai lại ghi hai số một (1) và hai(2) là để đếm cho dễ đọc. Vì đọc “một, hai” dễ hơn là “mười một,mười hai”. Như vậy thì cá phách trong một “compass” sẽ được đọc như sau :

1-2-3-4-5-6-7-8-9-10-(1)-(2) và cứ tiếp tục cho đến cuối bài nhạc. Chúng ta cố dùng hai compass để thấy là phải lập lại 1,2 ở cuối câu trước và ở đầu câu sau.

Ban đầu thì nên vỗ tay chậm rồi tăng dần tốc độ sao giữ nhịp cho thật đều. Nên vỗ theo lối Palmas sordas trước rồi sau đó mới chuyển sang palmas Fuertes. Để cho dễ nhớ cấu trúc của những compass này, chúng ta có thể chia các phách thành hai nhóm 3 và ba nhóm 2

  3/4   1-2-3-4-5-6-7-8-9-10-(1)-(2)   1-2-3-4-5-6-7-8-9-10-(1)-(2)

Đó là những phương pháp  căn bản thực tập đầu tiên về thể nhịp của loại nhạc Flamanco trước khi chúng ta đi vào sáng tác hay hòa âm cho thể điệu nhịp theo Flamanco.

Ở Việt Nam, từ 1963 trình diễn Flamenco guitar được khởi đầu bởi các nhạc sĩ Hoàng Bữu, Trần Văn Phú, Cam Sành…  Một số người chơi Tây ban Cầm ở  VN thời giưã thập niên 1950 sau khi chia đôi đất nước, trong giới thanh niên sinh viên Saigòn thời đó có anh Đoàn Châu Nhi (là trưởng nam của cố tài tử Đoàn Châu Mậu) từng nhiều lần biểu diễn trước hàng ngàn khán thính giả. Sau đó có một số người say mê với những nhịp điệu, âm thanh của Flaminco. Âm Nhạc Viện Quốc Gia thời VNCH nhạc sĩ Dương Thiệu Tước một vị thày khả kính trong nền âm nhạc Việt nam dạy các môn sinh của ông về trình tấu guitar nhạc cổ điển nhiều hơn là loại Flamanco.

Đến nay sau gần nửa thập kỷ, tôi đến với buổi trình diễn của Nguyễn Đức Đạt do Nhóm Thân Hữu Truyền Thông và Ban Hoa Hậu Áo Dài Bắc Cali tổ chức lần thứ nhì tại San Jose, người nghệ sĩ guitar flamenco khiếm thị này được giới am hiểu về âm nhạc nhìn nhận là đã khai thác và biểu diễn khá chuẩn xác thể loại guitar Flamenco truyền thống Tây Ban Nha. Sau nhiều năm tập luyện và nghiên cứu đã nhận bằng âm nhạc về nghệ thuật này tại Fullerton .Nhiều lần biểu diễn khắp nơi , với kỹ thuật điêu luyện anh không những làm khán giả say mê mà thậm chí còn làm kinh ngạc các guitarist đến từ xứ sở của nghệ thuật này.

Đến nay ý nguyện của Nguyễn Đức Đạt đã thực hiện được qua nhịp tim cuả tần số rung, với khối óc thiên phú phản xạ của Thalamus Hypothesis là đưa kỹ thuật Flamenco truyền thống và những kỹ thuật mới của anh vào các tác phẩm hợp soạn của mình như Mây Vô Xứ, Tình Hoang, Hồn Vọng Phu, How Can I Tell Her, Cây Đàn Bỏ Quên…; cũng như chuyển soạn các ca khúc Việt Nam theo phong cách Flamenco.

Thành công của anh đã thực sự đem đến cho kỹ thuật độc tấu guitar theo thể điệu Flamanco, cũng như những tác phẩm Việt Nam được anh chuyển soạn cho guitar độc tấu mang đến cho người nghe những ấn tượng âm thanh vang vọng đầy cảm xúc và tràn đày màu sắc mới lạ.

Ngày 15.08.2009, tại San Jose mặc dù khoảng không gian chưa được trang nghiêm đúng mức cho một buổi trình diễn âm nhạc thính phòng trong căn phòng chưá khoảng 200 người không đủ hơi mát, tuy nhiên buổi cuối hè biểu diễn của anh đã đưa chúng ta đến  những âm thanh guitar Flamenco huyền diệu với những bài độc tấu đặc sắc, đầy cảm xúc với cá tính riêng, đánh dấu những tháng năm cầm đàn của anh.

 

Lần đầu tiên những âm thanh Flamanco là giòng nhạc đặc trưng của nền văn hoá Colombia và Tây Ban Nha như Aranjuez, Solea, Colombianas, Fandagos, Levante, Alegrias…mà người có trình độ thẩm thấu âm thanh đã có dịp nghe những nghệ sĩ hàng đầu của Tây ban Nha trình bày như José Luis Ordonez, Pilar Andujar Grech và Jesus Matias Solano giới thiệu đến khán giả trong những đêm dành riêng cho dòng nhạc quyến rũ trước đây thì phải nói lần trình diễn này của Nguyễn Đức Đạt là một nhạc sĩ chuyên chơi dòng nhạc của Việt Nam bằng nhạc cụ guitar theo tiết tấu Nam Mỹ mới và vô cùng đa dạng ở thể loại Flamanco.

Nguyễn Đức Đạt cũng hướng theo con đường của José Luis Ordonez vừa là nghệ sĩ guitar flamenco, vừa là ca sĩ có khả năng biểu diễn nhiều loại nhạc khác nhau. Nghệ sĩ có phong cách khá đặc biệt này, đã từng theo học flamenco tại Fullerton và chơi flamenco tại khá nhiều địa điểm trình diễn âm nhạc ở khắp nơi…

Nhân vật nổi tiếng nhất trong ban nhạc đang đắt sô hiện nay về Flamenco – là nhạc sĩ Lê Minh Sơn ở Việt Nam. Nhưng sự chú ý của khán giả đối với Nguyễn Đức Đạt trong lần thứ nhì đến với Thung Lũng Hoa Vàng đã dành cho anh nhiều ái mộ đối với tài năng qua kỹ thuật trình diễn rất đặc sắc ở đôi tay truyền cảm bén nhạy và linh động trong những nhịp rung của giây đàn. Đặc biệt trong bài Hồn Vọng Phu với trình độ khá điêu luyện anh đã nhập giây thứ sáu (E) vào giây thứ 5 (A) để chuyển âm thanh trở thành tiếng trống luyến láy quện vào âm thanh những ngón tay nhịp xuống thùng đàn như vó câu muôn dậm ngựa phi, đôi khi vẫn bị hút sang những bông hồng có phong cách biểu diễn thật sôi động và quyến rũ – như  Ngọc Dung đến từ Canada giữa Mây Vô Xứ , Thu Nga với Cây Đàn Bỏ quên của San Jose.

Không phải con nhà nòi, nhưng rất đơn côi và nhiều bất hạnh từ năm 6 tuổi, Nguyễn Đức Đạt đã trải qua những giai đoạn đau thương nhất trong thời niên thiếu với sự khiếm thị oan nghiệt, trong  hướng đi của cuộc đời đầy bất định đã đột biến làm cho anh học nhạc. Sớm bộc lộ năng khiếu và cả mối duyên với cây đàn guitar, anh đã quyết tâm theo đuổi nhạc Flamanco. Ngay khi tốt nghiệp loại giỏi về guitar tại Fullerton.

Tuy vậy, những người yêu nhạc và khán giả lại ít quen thuộc với người nghệ sĩ khiếm thị guitar Flamenco này trong vai trò thành viên của nhạc Flamenco, do đó có những nhận xét chưa mấy chính xác về người nghệ sĩ này. Người nhạc sĩ này từng là nhân vật nổi bật của nhiều chương trình.

 Chuẩn bị cho giải  Hoa hậu Áo Dài Việt Nam 2010, Ông Vũ Ngọc Ân một người bạn cố tri từ thời niên thiếu của chúng tôi đã cùng cô Huyền Trân Trưởng Ban Thi Hoa Hậu Áo dài hàng năm đã phối hợp với 12 thân hữu để tổ chức Liveshow này cho Nguyễn Đức Đạt, và những người bạn…

Nhịp điệu trẻ của âm nhạc khá đặc biệt này cũng có hẳn một chương trình giới thiệu về Flamenco cho Nguyễn Đức Đạt từ những người lần đầu giới thiệu anh với Thung Lũng Hoa Vàng.

Nguyễn Đức Đạt tham gia Flamenco với ít nhiều sự hiếu kỳ muốn thử sức với dòng nhạc trẻ trung, sôi động khác hẳn với thế giới nhạc cổ điển bấy lâu quen thuộc của mình. Vậy mà gần như ngay lập tức, anh bị cuốn hút bởi sự nồng nhiệt, sự sống, sức trẻ trong những giai điệu Flamenco. Ngoài đời là một người hơi trầm tính, yêu đời không mặc cảm, không ngần ngại bộc bạch niềm hy vọng và hân hoan chưá chan  ngay cả khi lên sân khấu, Nguyễn Đức Đạt lại có phong cách mạnh mẽ đầy tự tin, quyến rũ toàn bộ người dự khán.

Không chỉ là một nghệ sĩ guitar Flamanco tài năng, Nguyễn Đức Đạt còn được nhìn nhận như một nhạc sĩ trẻ nhiều triển vọng. Theo học chuyên ngành sáng tác một cách bài bản, đã ấp ủ những tác phẩm đầu tay từ khá lâu, nhưng anh cũng chỉ mới gửi gắm tới công chúng một số bài hát tâm đắc của mình qua giọng ca của bằng hữu và chính anh phụ soạn. Lịch biểu diễn của anh tuy không dày đặc với các sân khấu, dường như là một ái lực không nhỏ với Nguyễn Đức Đạt, nhưng nghệ sĩ này cảm thấy hạnh phúc với sự bận rộn của mình.

Mười ngón tay ngà trong kỹ thuật reo dây “tremolo” – Tây ban cầm độc tấu theo thể loại Flamanco của Tây ban Nha. Người tạo được tiếng đàn mang âm hưởng flamenco khá hiệu quả trong lần trình diễn thứ nhì tại San Jose là nhạc sĩ Nguyễn Đức Đạt người có kỹ thuật tạo cho người dự khán không thể bỏ rơi bất cứ nốt nhạc nào do bàn tay điêu luyện của anh tạo ra… còn hiện nay thì gần như không có ai theo đuổi nghệ thuật Flamenco – dòng nhạc đặc trưng của xứ sở đấu bò tót, âm điệu rộn ràng, cuồng nhiệt, cuốn hút nhiều khán giả yêu nhạc trên thế giới.

Thế nhưng ở San Jose, tìm một nơi thưởng thức flamenco đúng nghĩa không phải là chuyện muốn là được.  Chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với guitarist Nguyễn Đức Đạt, người gần 5 năm qua đã biểu diễn và sáng tác nhiều tác phẩm flamenco cho guitar…

Anh có thể giới thiệu đôi nét về nhạc flamenco?

– Có thể khái lược rằng flamenco là nghệ thuật độc đáo, hấp dẫn, ra đời từ âm nhạc dân gian ở miền nam Tây Ban Nha (TBN), gắn bó mật thiết với dân tộc người Gypsy. Khi nói đến flamenco không ai có thể quên hình ảnh cây đàn guitar huyền thoại, bởi nó là linh hồn của loại nghệ thuật này. Guitar, flamenco, đó là niềm tự hào của người dân TBN và ngày nay flamenco được xem là một trong những biểu trưng di sản văn hóa của đất nước này.

Theo anh, những điều quyến rũ ở flamenco là gì?

– Flamenco dựa trên 3 yếu tố chính là bài hát, vũ điệu và đàn guitar. Cũng có những giai điệu bài hát u buồn, đau xót nhưng đa phần là mang tính chất sôi nổi, hào hứng, cháy bỏng… Các vũ công thường mặc trang phục rực rỡ, nữ thường mặc váy xòe nhiều lớp ôm sát người, guitar với những âm hưởng mạnh mẽ, sôi động cuồng nhiệt. Flamenco với phong cách tự do, phóng khoáng, nhiều ngẫu hứng. Những ca sĩ, nhạc công và vũ công thường có những ngẫu hứng sáng tạo bất chợt hòa quyện trong không gian âm nhạc cuồng nhiệt. Theo tôi đó là nét đặc trưng quyến rũ nhất.

Để có thể chơi flamenco, guitarist cần những chất hay yếu t nào?

– Ngoài sự đam mê và tinh thần âm nhạc “cháy bỏng”, để chơi được flamenco, cần nhiều chất hay yếu tố như: sức mạnh của bàn tay (bàn tay to, ngón tay dài, móng tay cứng) để đạt được tốc độ nhanh và cường độ mạnh; có khả năng bắt chuớc và ngẫu hứng sáng tạo tốt và phải thành thạo những kỹ năng, kỹ thuật phức tạp của flamenco.

 Nếu một tối bất chợt muốn nghe flamenco,?

Nếu là flamenco “tinh tuyền” thì không có, nhưng nếu muốn nghe “new flamenco” quí vị chỉ có thể  và duy nhất là nên mua một điã nhạc của chính Nguyễn Đức Đạt. Tuy chưa có thể so sánh với những bậc thầy về guitar Flamanco như Juan Grecos hay Juan Martin…Nhưng từ điã nhạc này của Đạt cũng sẽ giúp cho qúy vị vơi đi những ưu phiền chan chưá, và thay vào đó là những niềm vui nho nhỏ làm cho trái tim người nghe thổn thức trong giây phút…

Hiện nay, giới trẻ có xu hướng chung là thích nhạc HipHop, Rock, Rap… Theo anh Guitar Flamanco sẽ đi đến đâu?

Tôi thấy giới trẻ có rất nhiều bạn mê guitar đấy chứ. Cụ thể là những chương trình chúng tôi tổ chức có nhiều khán giả là các bạn thanh niên lắm. Vả lại chúng tôi tự tin với con đường của mình. Tôi rất thích một câu nói của một nghệ sĩ saxsophone tên tuổi: "Âm nhạc đỉnh cao không thể bình thường và không nên tầm thường", vấn đề chỉ còn là thời gian.

Khuynh hướng mới trong nghệ thuật trình diễn Guitar đương đại của anh là gì?

Là cách thể hiện mới trong nghệ thuật trình diễn Guitar Flamanco. Ví dụ: Cùng một cây đàn tôi có thể mô phỏng nhiều nhạc cụ dân tộc Việt Nam thông qua việc biến đổi âm thanh hay màu sắc, thể hiện tính năng đa dạng, phong phú của cây đàn Guitar khi trình diễn thể nhạc Flamanco.

Cùng một cây đàn Guitar tôi có thể làm tiếng trống trên thân đàn: Từ trống cơm đến trống hội, mõ, phách… mô phỏng các nhạc cụ như đàn Tranh, đàn Bầu, đàn Nguyệt đến các loại khí nhạc Tây Nguyên như: Cồng, Chiêng, T"Rưng, Klongpút. Điều này sẽ tạo nên sự bất ngờ đối với người nghe đó là sự quyến rũ của Guitar. (PL ghi nhận)

 

                                    

Thưa quý vị,

Chiều hôm qua, chủ nhật 16/8/2009, một chương trình nhạc "bất thường", hiểu theo nghĩa không giống ai, do 1 nhóm truyền thông & thân hữu tại  San Jose ái mộ & mến thương nguời nhạc sĩ trẻ đa tài nhưng nhiều bất hạnh, chung góp một số tiền nho nhỏ đứng ra tổ chức.
 Sở dĩ có  buổi trình diễn đặc biệt này vì một số anh em thân hữu & truyền thông,  mà ý tưởng khởi đầu là nhà báo Thư Sinh  xướng lên, sau khi tham dự buổi  trình diễn đầu tiên của Nguyễn đức Đạt tại San Jose do Ban Hoa Hậu áo dài Bắc Cali tổ chức vào tháng 7 năm 2009 tại Santa Clara Convention để gây quỹ cho các em bé mồ côi tại VN, nghe và xem Nguyễn đức Đạt ca hát, độc tấu Tây Ban Cầm quá xuất sắc, bèn có ý nghĩa sẽ tổ chức thêm một lần nữa để mình và các thân hữu chưa có dịp nghe và xem tài năng trình diễn của người nghệ sĩ mù này.
Các anh em thân hữu liền tiếp xúc trực tiếp với Nguyễn đức Đạt ngay sau buổi trình diễn để hỏi xem chi phí  trình diễn ( nói nôm na là tiền cát xê) là bao nhiêu, và được Đạt trả lời là : các chú đưa cho cháu chút đỉnh thôi, cộng thêm tiền vé máy bay là được rồi. Còn chi phí ăn ở di chuyển thì không cần  vì cháu sẽ ở tại nhà một chú trong Ban tổ chức Hoa Hậu Áo dài. Ở nhà chú này rất thuận tiện vì có chú " dẫn đường, chỉ lối " chứ ở khách sạn một mình buồn lắm, vả lại không có ai giúp đỡ cháu đi lại trong sinh hoạt  bình thường được.
Nhận thấy số tiền  chi phí không lớn lắm, các anh em bèn xúc tiến việc tổ chức .  Và công việc đang tiến hành tốt đẹp, thì người khởi xướng đầu đàn là nhà báo Thư Sinh phải về VN thọ tang bà nhạc mẫu.
Tuy vậy , các anh em cũng vấn tiếp tục công việc tổ chức . Và cuối cùng  buổi trình diễn đã thành công tốt đẹp với hơn hai trăm khán thính giả tham dự.
Đã gọi là một buổi tổ chức " không giống ai "( không bán vé, tham dự hoàn toàn  miễn phí ), có thể chưa có một Ban tổ chức ca nhạc nào tại San Jose đã từng công khai công bố tài chính, Ban Tổ chức  cũng xin làm" một việc không giống ai " là xin báo cáo tình hình tài chánh  công khai cho mọi  người cùng biết.
Rút kinh nghiệm sinh hoạt cộng đồng tại San Jose, báo cáo lạng quạng tài chính coi chừng bị " RECALL "
Tổng số tiền thu được do sự đóng góp của một số anh em thân hữu và sự ủng hộ vào giờ phút  cuối trước 30 phút  của buổi trình diễn của một số khán giả tham dự biết được khi nghe thông báo trên đài phát thanh là : $1,460.00( một ngàn bốn trăm sáu mươi đô la )
Tổng số chi ( gồm  các số tiền " cát xê ", chi phí âm thanh, banner, tiền thuê nhân công dọn dẹp hội trường, thuê sân khấu , tiền nước uống cho các ca sĩ, nhân viên âm thanh ) là :  $1,778.00 ( một ngàn bảy trăm bẩy mươi tám đồng )
Như  vậy, Ban tổ chức phải bù lỗ là : $ 318.00 ( Ba trăm mười tám đồng )
Một anh trong Ban Hoa Hậu áo dài và một vài thân hữu sẽ bù lỗ phần này. Ham vui thì  cũng phải ráng chịu mà thôi.
 Xin mời quý vị đọc một vài chi tiết nhỏ về cuộc đời bất hạnh,  rất đáng thương  của Nguyễn đức   Đạt và xem một vài tấm hình chụp rất đẹp của  một thân hữu gửi  đến  dưới đây

Em sáng mắt dắt người anh mù lòa đi xin ăn
Nguyễn đức Đạt sinh năm 1970 tại Saìgon. Anh bị mù từ lúc bẩm sinh. Anh mang hai dòng máu Mỹ Việt. Năm 1971, cha của Anh là một cựu quân nhân Hoa Kỳ tham chiến tại VN , trở về Hoa Kỳ để lại Mẹ và Anh ở lại VN.
 Một  năm sau. Mẹ Anh đi thêm một bước nữa và Anh có thêm một  một người em gái " cùng mẹ, khác cha tên  Dung
Người cha dượng sau này là người VN.
Sau biến có đau buồn 1975, người cha dượng và Mẹ của Anh lần lượt qua đời, bỏ lại Anh và em gái bơ vơ giữa chợ đời. Hai anh em, người em gái sáng mắt dắt người Anh trai mù lòa đi xin ăn để sống còn trong cái bối cảnh tang thương, nghèo khó  lạc hậu của xã hội dưới chế độ Cộng sản chuyên chế VN. Hai anh em nương tựa vào nhau ở một vùng ngoại ô nghèo nàn, ven biên thành phố Saigon hoa lệ.
 
"Tôi ngồi trong bóng tối, nghe đời đi xa xa" (1)
Tuy bị mù nhưng Anh rất thích nghe nhạc. May mắn thay,  trong xóm của Anh có một Ông chủ hiệu một tiệm nhỏ chuyên sửa Radio & TV. Suốt ngày Ô. chủ hiệu này mở  đủ mọi loại nhạc để nghe, vừa để thử máy và cũng nhân dịp nghe nhạc cho đỡ buồn. Anh bắt đầu mê  âm nhạc  từ lúc đó. Đôi khi Anh nhờ người em gái dẫn Anh ra tiệm hớt tóc gần nhà để hớt tóc và  trong khi chờ đợi, Anh thường gõ nhịp trên bàn  hoà theo tiếng đàn tiếng hát của các ca sĩ phát ra từ  cái Radio  của tiệm.
Môt hôm có một Ông khách và đồng thời cũng là một Ông bầu  có ban nhạc trình diễn các đám cưới, cũng ra tiệm hớt tóc, nhận thấy cậu bé 7,8 tuổi này có  năng khiếu về âm nhạc đặc biệt là đánh trống( vì cậu bé này gõ nhịp theo rất hay), nên Ông khách này kéo về nhà và dậy Anh học đánh trống.
Từ đó Anh đi theo ban nhạc đánh trống kiếm thêm tiền vào lúc 8 tuổi
Năm 1991, Anh và em gái đến Hoa Kỳ định cư tại miền Nam California theo diện con lai.
Nhờ có năng khiếu về âm nhạc và với sự giúp đỡ của một nhạc sĩ Hoa Kỳ, Anh ghi danh theo học âm nhạc tại Đại học Fullerton . Năm 1999, Anh tốt nghiệp cử nhân âm nhạc Đại học Fullerton tại miền Nam Californnia.
"Anh nghèo, em cũng chẳng cao sang" (1)

 Tại Hoa Kỳ, Anh lập gia đình với một thiếu nữ VN cũng bị khuyết tật như Anh.  Chị bị bệnh tê liệt ( polio ) từ nhỏ, nên phải di chuyển bằng xe lăn.  Hai cuộc đời bất hạnh gặp nhau,  thông cảm nhau và yêu nhau. "Anh nghèo, em cũng chẳng cao sang" (1) nhưng chúng ta thương yêu nhau chân tình, khác chi những cặp vợ chồng lành lặn khác.
Anh chị đã có một cháu gái Elaine, 16 tháng tuổi. Trời đất ngó lại, cháu gái lành lặn, không mù, không liệt
 
(1) Trích lời 1 số bản nhạc phổ thông VN ngày xưa
CIMG_1618.jpg picture by hinhkhong
Nguyễn Đức Đạt và tiếng đàn Hạ Uy Cầm bất hủ. Chồng mù, vợ tê liệt nhưng NDD luôn luôn nở những
nụ cười thật tươi.
 
CIMG_1623.jpg picture by hinhkhong
Ngoài khả năng sử dụng guitar nhuần nhuyễn, Nguyễn Đức Đạt còn điêu luyện trong 1 nhạc cụ của dân
da đỏ: cây sáo 2 ống. Hình trên, NDD và Tiếng Sáo Bồ Đề
 
CIMG_1645.jpg picture by hinhkhong
Ban Hoa Hậu Áo Dài Bắc Cali tích cực yểm trợ NĐĐ. Nghe nói các cô hoa hậu đẹp lắm, Đạt cười thật 
vui. Cười chơi vậy thôi chứ cả đời anh chưa bao giờ được đi xem thi hoa hậu và cũng biét hoa hậu thế
nào là đẹp: anh bị khiếm thị từ thuở sơ sanh.
Hình từ trái sang phải :  Ca sĩ Ngọc Dung ( từ Canada sang ), MC Huyền Trân, ca sĩ Thu Nga ( San Jose)
và các hoa hậu áo dài Bắc   Cali
 




10 ngàn bản nhạc trước 1975

 

 

Xin quí vị click vào hình để chọn nhạc và nghe.




Nhạc đấu tranh : NS Nguyễn Tân.

Cho Tao Chửơi Mày Một Tiếng

Vì Quê Hương Vẹn Tòan      

Xin quí vị click vào link trên để nghe nhạc. 




Đại Hợp Xướng Thơ Nguyễn Du : TRUYỆN KIỀU…..

Đại  Hợp Xướng 

 
TRUYỆN KIỀU 

Việt Nam, Trích Hợp xướng Truyện Kiều, Thơ: Đại Thi hào NGUYỄN DU, Âm Nhạc: VŨ ĐÌNH ÂN, Cố vấn nghệ thuật Giáo sư Nhạc sĩ CA LÊ THUẦN, Biểu diễn Ban hợp xướng Thạch Đà và Suối Việt, Nghệ sĩ ưu tú…




THÁNG TƯ ĐEN 1975 : Hoài niệm thương đau …

THÁNG TƯ ĐEN 1975 : Hoài niệm thương đau …

               Bấm vào SÀI GÒN THƯƠNG NHỚ  để nghe toàn bộ 20 bản nhạc
                                       hay bấm vào tên từng bản nhạc sau đây để nghe:
1. Nước Non Ngàn Dặm Ra Đi Nhạc: Phạm Duy – Tiếng hát: Thái Thanh & Duy Khánh
2. Sài Gòn Ơi, Vĩnh Biệt Nhạc, lời, trình bày: Nam Lộc 3. Một Lần Đi Nhạc, lời, trình bày: Nguyệt Ánh
4. Sài Gòn Thành Phố Kỷ Niệm Thơ: Vũ Hối Diễn ngâm: Thúy Vân  5. Sài Gòn Nắng Nhớ Mưa Thương Nhạc: Nhật Bằng – Ý thơ: Nguyễn Thị Ngọc Dung
     Hòa âm: Nguyễn Ngọc Châu – Tiếng hát: Thái Phượng

6. Nhớ Em Một Ngày Nắng Sài Gòn Nhạc, lời: Thanh Trang Tiếng hát: Quang Tuấn
7. Biết Bao Giờ Trở Lại Nhạc, lời: Ngô Thụy Miên Tiếng hát: T. Thái Hòa
8. Nhớ Sài Gòn Nhạc, lời: Phạm Anh Dũng (CA)Tiếng hát: Xuân Thanh
9. Những Con Đường Thành Phố Tôi Yêu Nhạc, lời: Thanh Trang Tiếng hát: Tâm Hảo
10. Sài Gòn Chiều Mưa Nhạc, lời: Trần Chí Phúc Tiếng hát: Quỳnh Hương

11. Đêm Nhớ Trăng Sài GònNhạc: Phạm Đình ChươngThơ: Du Tử LêTiếng hát: T. Thái Hòa
12. Sài Gòn Mưa Nắng Nhạc, lời: Khanh Phương – Tiếng hát: Hạnh Nguyên-Tuấn Huy
13. Sài Gòn Một Thoáng 30 Năm Nhạc, lời, trình bày: Trần Chí Phúc
14. Sài Gòn Niềm Hy Vọng Nhạc: Phan Anh Dũng Ý thơ: Trần Quốc Bảo 
         Hòa âm: Nguyễn Ngọc Châu Tiếng hát: Tâm Hảo

15. Sài Gòn Gần, Sài Gòn Xa Nhạc: Trần Thiện Thanh – Thơ: Vũ Hối – Tiếng hát: Nhật Trường
16. Sài Gòn Trong Tôi – Nhạc: Nguyễn Ngọc Thiện – Tiếng hát: Hồng Mơ
17. Ghé Bến Sài Gòn Nhạc: Văn Phụng – Hòa âm & đàn: Nguyễn Ngọc Châu
18. Em Vẫn Mơ Một Ngày Về Nhạc, lời, trình bày: Nguyệt Ánh
19. Sài Gòn Nhớ, Sài Gòn Thương Nhạc: Thanh Trang – Tiếng hát: Trung Hiền
20. Bên Bờ Đại Dương Nhạc, lời: Hoàng Trọng – Tiếng hát: Hoàng Cung Fa




Thái Lộc : Diễm Xưa

"DIỄM",  TRONG CA KHÚC ” diễm xưa ! "

                          
Chủ Nhật, 14/03/2010, 07:18 (GMT+7)Diễm và cuộc gặp sau 50 nămở HuếTT – Sau gần 50 năm, Diễm trong ca khúc Diễm xưa của cố nhạc
sĩ Trịnh Công Sơn đã bất ngờ xuất hiện trong chương trình giao lưu tại 
Trung tâm Văn hóa Phật giáo Liễu Quán, Huế vào tối 12-3.

1.  Diễm Xưa
DiemXua-1.jpg picture by nguyenduoc

2. Diễm ngày nay
Diemngaynay.jpg picture by nguyenduoc

 

Buổi giao lưu đầy bất ngờ vì là quyết định trong thoáng chốc của GS.TS Thái Kim Lan – nhan dip bà Ngô Vũ Bích Diễm ghé Huế theo đoàn Phật giáo làm từ thiện đến từ Los Angeles, California, Mỹ.
Có đến hơn 100 thân hữu của nhạc sĩ quá cố và công chúng Huế tập trung, và nói như nhà văn Bửu Ý, "nhiều người tới đây để nhìn mặt Bích Diễm xem có thật hay chỉ là huyền thoại…".
Ðêm giao lưu diễn ra trong không khí đầm ấm, thân mật, với những giọng ca đồng thời là những người mê nhạc Trịnh qua những cung trầm, cung bổng mượt mà, đầy chất thơ, chất triết lý với Ca dao mẹ, Ở trọ, Tiến thoái lưỡng nan, Ðể gió cuốn đi, và tất nhiên, với Diễm xưa như là chủ đề chính xuyên suốt.
 
Về "huyền thoại Diễm" trong bài hát Diễm xưa, "người xưa" tâm sự: "Trong bài này anh Trịnh Công Sơn viết về vẻ đẹp của Huế nhiều hơn là về… tôi. Tôi nghĩ vậy. Ðó là bóng dáng của Thành nội cổ kính, của dòng sông Hương xanh mát và huyền hoặc, là không khí lãng đãng của thơ, của nhạc".
"Nhiều người tò mò vì sao Diễm im lặng trong suốt mấy mươi năm?". "Vì tính tôi như vậy, không muốn ra trước công chúng. Tôi cũng không biết nói gì và không biết có ai cần gì ở mình hay không. Và cũng bởi vì bóng dáng to lớn của anh Trịnh Công Sơn đã đủ rồi!", "Diễm xưa" nói.

Diễm của những ngày xưa

Thuở ấy có một người con gái rất mong manh, đi qua những hàng cây long não lá li ti xanh mướt để đến trường đại học văn khoa ở Huế.

 

 

Nhiều ngày, nhiều tháng của thuở ấy, người con gái ấy vẫn đi qua dưới những vòm cây long não. Có rất nhiều mùa nắng và mùa mưa cũng theo qua. Những mùa nắng ve râm ran mở ra khúc hát mùa hè trong lá. Mùa mưa Huế người còn gái ấy đi qua nhòa nhạt trong mưa giữa hai hàng cây long não mờ mịt.

Nhà cô ấy ở bên kia sông, mỗi ngày phải băng qua một cây cầu rồi mới gặp hàng long não để đến trường.

Từ balcon nhà tôi nhìn xuống, cái bóng dáng ấy đi đi về về mỗi ngày bốn bận. Thời buổi ấy những người con gái Huế chưa hề dùng đến phương tiện có máy nổ và có tốc độ chóng mặt như bây giờ. Trừ những người ở quá xa phải đi xe đạp, còn lại đa số cứ đến trường bằng những bước đi thong thả hoàng cung. Đi để được ngắm nhìn, để cảm thấy âm thầm trong lòng, mình là một nhan sắc. Nhan sắc cho nhiều người hoặc chỉ cho một người thì có quan trọng gì đâu. Những bước chân ấy từ mọi phía đổ về những ngôi trường với những cái tên quen thuộc, đôi khi lại quá cũ kỹ.

Đi để được những con mắt chung quanh nhìn ngắm nhưng đồng thời cũng tự mình có thì giờ nhìn ngắm trời đất, sông nước và hoa lá thiên nhiên. Long não, bàng, phượng đỏ, muối, mù u và một giòng sông Hương chảy quanh thành phố đã phả vào tâm hồn thời con gái một lớp sương khói lãng mạn thanh khiết. Huế nhờ vậy không bao giờ cạn nguồn thi hứng. Thành cổ, đền đài, lăng tẩm khiến con người dễ có một hoài niệm man mác về quá khứ hơn và một phần nào cũng cứu rỗi cho con người ta khỏi vành đai tục lụy. Và từ đó Huế đã hình thành cho riêng mình một không gian riêng, một thế giới riêng. Từ đó con người bỗng đâm ra mơ mộng và ước mơ những cõi trời đất như không có thực.

Nhưng thật sự thực và mơ là gì? Thật ra, nói cho cùng, cái này chỉ là ảo ảnh của điều kia. Và với những ảo ảnh đó đã có một thời, khá dài lâu, những con người lớn lên trong thành phố nhỏ nhắn đó đã dệt gấm theo hoa những giấc mơ, giấc mộng của mình. Đó cũng là thời gian mà mỗi sớm tinh mơ, mỗi chiều, mỗi tối, tiếng chuông Linh Mụ vang xa trong không gian, chuyền đi trên dòng sông để đến với từng căn nhà khép hờ hay đang đóng kín cửa.

Thời gian trôi đi ở đây lặng lẽ quá. Lặng lẽ đến độ người không còn cảm giác về thời gian. Một thứ thời gian không bóng hình, không màu sắc. Chỉ có cái chết của những người già, vào mùa đông giá rét, mới làm sực tỉnh và bổng chốc nhận ra tiếng nói thì thầm của lăng miếu, bia mộ ở những vùng đồi núi chung quanh.

Trong không gian tĩnh mịch và mơ màng đó, thêm chìm đắm vào một khí hậu loáng thoáng liêu trai, người con gái ấy vẫn đi qua đều đặn mỗi ngày dưới hai hàng cây long não để đến trường. Đi đến trường mà đôi lúc dường như đi đến một nơi vô định. Định hướng mà không định hướng bởi vì những bước chân ngày nào ấy dường như đang phiêu bồng trên một đám mây hoan lạc của giấc mơ.

Người con gái ấy đã đi qua một cây cầu bắc qua một dòng sông, qua những hàng long não, qua những mùa mưa nắng khắc nghiệt, để cuối cùng đến một nơi hò hẹn. Hò hẹn nhưng không hứa hẹn một điều gì. Bởi vì trong không gian liêu trai ấy hứa hẹn chỉ là một điều hoang đường. Giấc mơ liêu trai nào cũng sẽ không có thực và sẽ biến mất đi.

Người con gái đi qua những hàng cây long não bây giờ đã ở một nơi xa, đã có một đời sống khác. Tất cả chỉ còn là kỷ niệm. Kỷ niệm nào cũng đáng nhớ nhưng cứ phải quên. Người con gái ấy là Diễm của những ngày xưa.

TRỊNH CÔNG SƠN (Trong Một Người Thơ Ca, Một Cõi Đi Về)

Và điều chờ đợi của tất cả mọi người trong đêm, đó là câu chuyện của Diễm: “Tôi là gái Bắc, theo cha vào Huế năm 1952, bố tôi là giáo sư Ngô Đốc Khánh, dạy tiếng Pháp ở Trường Quốc học. Tôi theo học lần lượt ở Trường Đồng Khánh, Quốc học, đến năm 1963 tôi vào học đại học ở Sài Gòn, sau đó sang định cư ở Mỹ. Nhà tôi ở số 46 đường Phan Chu Trinh (cũ), gần cầu Phủ Cam, là nơi gần anh Sơn ở (khu cư xá trên đường Nguyễn Trường Tộ – TP Huế). Lần đầu tôi gặp anh Sơn ngay tại nhà tôi. Anh đi theo anh Đinh Cường đến thăm Nguyễn Việt Hằng, một người bạn thân của tôi lúc đó đang ở lại nhà tôi để học hè. Sau đó thấy anh Sơn một mình quay trở lại. Anh viết nhạc và có tặng tôi mấy bài. Hồi đó còn trẻ lắm nên cũng biết lơ mơ vậy thôi… Sau này tôi mới biết thông qua hai người em của anh Sơn về câu chuyện nhánh dạ lan hương mà tôi tặng anh đã gây một chấn động mạnh nơi anh. Đó là một kỷ niệm thật đẹp, thật liêu trai…!”.

Diễm xưa là một bài hát nổi tiếng của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn viết năm 1960, được phát hành trong băng nhạc Sơn Ca 7, lấy từ ý "Diễm của những ngày xưa". Diễm xưa cũng được dịch ra tiếng Nhật dưới nhan đề Utsukushii mukashi, được xếp hạng 11 trong 20 ca khúc hay nhất trên kênh cáp của Nhật Bản năm 2004.
Năm 2004, Diễm xưa là nhạc phẩm Á Châu đầu tiên được Đại học Kansai Gakuin đưa vào chương trình giáo dục của mình trong môn Văn hoá và Âm nhạc.           (Wikipedia)

 

 




Phạm Kim : NHẠC SĨ NGÔ THỤY MIÊN : MỘT ĐỜI CHO TÌNH CA.

 

 

 

 

 

Xin mời quí vị click vào link để nghe 21 bản tình khúc của Ngô Thụy Miên

http://www.saigonocean.com/nghenhacNgoThuyMien/NTM.htm

———————————————————————————————————————————————

NHẠC SĨ NGÔ THỤY MIÊN : MỘT ĐỜI CHO TÌNH CA.

* Dòng nhạc thính phòng chưa được phát triển đúng mức.
* Kỳ vọng ở lớp sáng tác trẻ hiện nay.

Người Việt Tây Bắc: Nhân dịp nhận giải Pioneer in Music vào ngày 16-10-09 tại Seattle, xin nhạc sĩ Ngô Thụy Miên cho độc giả và khán thính giả ái mộ anh một góc tâm sự. Vào cuối thập niên 1960 sang 1970, khi sáng tác những “ Tình khúc Ngô Thuỵ Miên”, mấy yếu tố tình cảm nào đã chi phối anh nhất?

Ngô Thụy Miên: Thập niên 1960- 1970 khi cuộc chiến giữa hai miền Nam-Bắc Việt Nam đã bùng nổ một cách khốc liệt, tình yêu cuả những ngươì trẻ tuổi chúng tôi lúc bấy giờ chỉ là những vành khăn tang, những giọt nước mắt, những xót xa cuả một thời… Là một người sáng tác trẻ, tràn đầy sức sống cuả tuổi đôi mươi, yêu đời và yêu người, tôi có tham vọng là muốn mang lại cho thế hệ tuổi trẻ chúng tôi một niền tin, một niềm hy vọng mới cho tương lai khi con nguời sẽ thương yêu nhau, sẽ quên đi những mất mát, những hận thù đang xảy ra hàng ngày quanh mình. Qua những bàn tính ca trong sáng, lãng mạn và mộng mơ, tôi hy vọng mình đã mở ra đuợc một cánh cửa khác cho tuổi trẻ cuả thế hệ mình, và ở đó chỉ có tình yêu giữa người và người, tình yêu giữa người và cuộc sống, cũng như cuả thiên nhiên, của thời tiết, khí hậu.. Âm nhạc với tôi là một món quà cuả Thượng Đế, và cũng chính là tình yêu.

NVTB: Thời gian ấy, ở Miền Nam VN, Tình Khúc Ngô Thuỵ Miên được khán thính giả nồng nhiệt ủng hộ, những tình cảm thích thú nào từ họ đến với anh? và đã tạo được những ưu điểm nào cho sự nghiệp sáng tác cuả anh?

NTM: Tôi bắt đầu sáng tác từ năm 1963 lúc còn theo học trường Quốc Gia Âm Nhạc Sàigòn. Năm 1965, tôi hoàn tất nhạc phẩm đầu tay “ Chiều Nay Không Có Em”. Bản tình ca thứ hai đã đượïc các đài phát thanh Sàigòn và Quân Đội cho phổ biến rất nhiều trong hai thập niên 1960- 1970 là ca khúc “ Muà Thu Cho Em”. Đây là bài hát đã mang tên tuổi cuả NTM đến với khán thính giả yêu tân nhạc tại Sàigòn, cũng như ở khắp các thành phố lớn. Từ lòng yêu nhạc, và tình yêu người, tôi đã tiếp tục sáng tác, và cùng với một số thân hữu đi trình diễn ở khắp các giảng đường đại học, các trung tâm văn hoá, và các hội quán văn nghệ Sàigòn để giới thiệu những sáng tác mới cuả mình. Năm 1974, sau khi một số các ca khúc cuả tôi đã được phổ biến rộng rãi, tôi đã cùng một số bạn hữu thực hiện cuốn băng Tình Ca NTM gồm 17 ca khúc, mà trung tâm Thuý Nga đã phát hành ở Sàigòn vào cuối năm 1974. Cuốn băng này được giới yêu nhạc nồng nhiệt ủng hộ; và sau đó tôi cũng cho in một số bản nhạc đang được ưa chuộng, như Mùa Thu Cho Em, Áo Luạ Hà Đông, Chiều Nay Không Có Em, Tuổi 13.. Tôi không bao giờ quên được những tình cảm thích thú từ những giới thưỏng ngoạn nhạc gửi đến một tác giả trẻ như tôi lúc bấy giờ, qua những chuơng trình nhạc yêu cầu, cũng như chính tôi đã chứng kiến một vị thiếu uý trong binh chủng Nhẩy Dù đã ghé vào mua bản nhạc Muà Thu Cho Em và cuốn băng tình ca NTM tại một kiosque trên đường Nguyễn Huệ,..hay trong đêm ra mắt cuốn băng tình ca NTM tại Hội Việt-Mỹ Sàigòn: Tôi đã thực sự xúc động giữa những tiếng vỗ tay, hoan hô nhiệt tình cuả khán thính giả. Từ lâu, tôi đã nhận biết rằng khán thính giả luôn đóng vai trò rất lớn, rất quan trọng trong sự tồn tại cuả một sáng tác phẩm, cuả tác giả sáng tác. Với tình cảm của giới thưởng ngoạn dành cho những sáng tác cuả mình, tôi cảm thấy hạnh phúc, vì những nỗi lòng mình muốn diễn tả ra qua âm nhạc đã được chia xẻ; và tôi đã là một đồng hành tuyệt vời cuả bao khán thính giả. Và dĩ nhiên đó cũng là một động lực thúc nay tôi tiếp tục con đường sáng tác tình ca, để có thể tiếp tục chia xẻ những tình cảm tâm tư riêng cuả mình đến người nghe.

NVTB: Theo anh, 34 năm hải ngoại, khuynh hướng sáng tác nhạc nói chung cuả thời trước 1975 tại Miền Nam VN có còn thịnh hành ở ngoài này?

NTM: Tôi đặt chân lên nuớc Mỹ năm 1980. Cũng đã gần 30 năm trôi qua, nhưng tôi vẫn là một người viết tình ca, như tôi đã sáng tác như thế, cuả những ngày tháng cũ (thập niên 1960- 70). Khuynh hướng sáng tác của tôi vẫn không có gì thay đổi. Tôi cảm thấy mình vẫn là “sứ giả cuả tình yêu”, vẫn muốn chia xẻ những tình cảm luôn luôn được uơm chín từ tâm tư riêng cuả một nguời đã yêu và sẽ yêu để đem đến với bất cứ một ai còn muốn lắng nghe tình ca Việt Nam. Cái khác là truớc 1975 khi còn ở Sàigòn với những thân yêu quanh mình, với những luạ là, mưa nắng hai muà, những quán hàng, những đường phố quen thuộc, từng nguời yêu buổi sáng, buổi chiều… đã cho tôi những cảm xúc để viết lên những tình khúc với ý nhạc nhẹ nhàng, trong sáng, những lời ca dịu
dàng, đầy thơ tính. Còn bây giờ, ở hải ngoại, người ta thật vội vàng, xa lạ, bận rộn.. Những thành phố, nhà cửa thật to lớn, nhưng cũng thật là lạnh lẽo, cô đơn.. Tất cả những hoàn cảnh những tình cảm này cũng lại trao cho tôi những hứng khởi mới: Ngày tháng bên này đã và đang để lại trong tôi những nét muộn phiền rất riêng, rất độc đáo, và tôi ghi lại những lời ca “mệt mỏi buồn bã cuả cuộc sống tạm dung”..

NVTB: Là nhạc sĩ chuyên sáng tác các tình khúc qua 40 năm nay, anh nghĩ sao về mọi sinh hoạt của tình khúc nhạc Việt ở hải ngoại và ở trong nước?

NTM: Trong những năm tháng qua, tại hải ngoại chúng ta đang có nhiều người viết trẻ. Họ đã có đầy đủ khả năng, điều kiện sáng tác những tác phẩm tình ca giá trị. Nhưng họ cần được giúp đỡ nhiều hơn để phổ biến những tác phẩm mới đến khán thính giả. Ở hải ngoại chúng ta chỉ có vài, ba trung tâm video ca nhạc đang hoạt động mạnh; các trung tâm băng nhạc nhỏ thì có khá nhiều nhưng hoạt động rời rạc, hạn hẹp. Các trung tâm lớn thì chỉ muốn thâu lại những sáng tác cũ đã được khán thính giả đón nhận từ nhiều năm nay. Và nếu như vậy lấy đâu ra chỗ cho các người viết mới chen chân vào thị trường âm nhạc? Chưa kể đất nước người quá rộng lớn, vấn đề phát hành cũng là một trở ngại không nhỏ! Thực hiện cho mình một cuốn CD mà nếu không có các trung tâm lớn giúp phổ biến hay phát hành thì những tác phẩm này cũng không thể chấp cánh bay bổng trên nền trời âm nhạc Việt Nam được. Hiện nay các mạng lưới Internet đã có khá nhiều diễn đàn văn học nghệ thuật. Ở đây các người viết mới có thể gặp gỡ, trao đổi kinh nghiệm, học hỏi cùng nhau để có thể tiến bộ hơn trong lãnh vực sáng tác. Nhưng dù sao tất cả vẫn còn trong một hoàn cảnh, một môi trường hạn hẹp. Một vấn đề trở ngại lớn khác cho Tình Ca ở hải ngoại là giới trẻ lớn lên ở đây vẫn ít hoặc không nói, không nghe, không viết được tiếng Việt một cách thông thạo nên đã tìm đến âm nhạc Mỹ, và quên đi là mình cũng có những tình ca nhạc Việt tuyệt vời về cả nhạc thuật lẫn ca từ. Tôi nghĩ môi trường sinh hoạt tình ca ở hải ngoại sẽ có thể gặp nhiều khó khăn, trở ngại trong những thập niên sắp tới, khi số lượng người nghe không còn bao nhiêu và số lượng người viết càng thêm ít ỏi!

Nói về môi sinh của tình khúc nhạc Việt ở trong nước ngày nay thì tôi không dám có ý kiến, vì không sống ở đó nên chỉ dựa trên tài liệu báo chí hoặc internet để phán đoán thôi. Tuy nhiên theo thiển ý riêng, tôi thấy với số lượng người nghe và người sáng tác trong nước đông hơn, nhưng phát triển theo chiều hướng nào thì tôi không biết. Trong những năm tháng qua, tại hải ngoại chúng ta đang có nhiều người viết trẻ. Họ đã có đầy đủ khả năng, điều kiện sáng tác những tác phẩm tình ca giá trị. Nhưng họ cần được giúp đỡ nhiều hơn để phổ biến những tác phẩm mới đến khán thính giả.

NVTB: Ngoài lãnh vực sáng tác các tình khúc anh còn có khuynh hướng sáng tác nào khác hiện giờ không?

NTM: Trong các khuynh hướng sáng tác, thông thường người ta nói nói Tình Ca (đôi lứa), Thân Phận, Quê Hương, Tuổi Thơ,… Từ những ngày đầu tiên sáng tác, tôi đã tự chọn cho mình con đường viết tình ca, vì thấy thích hợp với con người, với cá tính lãng mạn, đa cảm, đa sầu của mình, và cũng chỉ vì tình yêu mãi mãi vẫn là một đề tài muôn thuở cho người nghệ sĩ sáng tác.. một lần nào đó tôi đã có nói là: “chỉ xin được nhớ đến như một người viết tình ca không hơn, không kém”. Song trong môi trường xã hội hiện nay, tôi vẫn tiếp tục viết tình ca, vẫn tiếp tục chia xẻ những tình cảm, tâm tư riêng của mình qua những đổi thay, thăng trầm của cuộc sống nơi xứ người, và vẫn mong được gửi những tác phẩm của mình đến với tất cả những ai có lòng tiếp tục thưởng thức ca nhạc Việt Nam nói chung, và tình ca Ngô Thụy Miên nói riêng….

NVTB: Những ca khúc nào, cho đến nay, mang lại cho anh niềm vui, hãnh diện qua sự yêu mến của khán thính giả? hoặc đã chuyển đạt được nhiều nhất những thông điệp từ nội tâm của anh?

NTM: Cá nhân tôi vẫn yêu mến mấy ca khúc đặc biệt mà tôi đã hoàn tất nhạc trước khi đặt lời, bốn ca khúc này mang một chút âm hưởng nhạc cổ điển Tây Phương: Mắt Biếc, Từ Giọng Hát Em, Dốc Mơ, và Miên Khúc. Ngoài ra, hai ca khúc tôi nghĩ đã được nhắc đến nhiều nhất, đã chuyển đạt được gần như tất cả những điều tôi muốn chia xẻ với người về tình yêu, đó là Niệm Khúc Cuối, và Riêng Một Góc Trời. Niệm Khúc Cuối là ca khúc trong sáng lãng mạn, tôi viết từ năm 1971, có thể nói bài hát này đã được thu thanh, thu hình nhiều nhất trong các tác phẩm của tôi: “Tình ơi! Dù sao đi nữa, xin vẫn yêu em”Vâng, đó là điều duy nhất tôi muốn nói về tình yêu. Hãy cho, hãy chấp nhận và hãy tha thứ để tình yêu
vĩnh viễn mãi là niềm tin và hy vọng của chúng ta. Bài hát thứ hai tôi viết ở hải ngoại năm 1996: “Riêng Một Góc Trời”:“Đời như sương khói, mơ hồ trong bóng tối.Em đã xa xôi, tôi vẫn chơi vơi, riêng một góc trời”.Nếu hạnh phúc là những kỷ niệm sáng nắng chiều mưa của một thời, là những tàng lá úa rơi buồn trong nỗi nhớ hay những nụ hôn, những giọt nước mắt lặng lẽ vẫn chìm sâu trong trí tưởng… thì “Riêng Một Góc Trời” đã là một người bạn đồng hành tuyệt vời cho những tâm hồn đã yêu, đang yêu và mãi sẽ còn yêu.

Khi Trung Tâm Thúy Nga phát hành cuốn “Video Tình Ca Ngô Thụy Miên” năm 1992, tôi nhận được nhiều điện thoại cùng những lời khuyến khích đến từ khán thính giả khắp nơi đã xem cuốn video này: Những lời cám ơn đều dành cho một sáng tác tôi viết ở SàiGòn sau năm 1975: “Em Còn Nhớ Mùa Xuân”, một ca khúc tôi viết trong một bối cảnh đặc biệt, kể lại những giao động một thời trên quê hương đất nước, và nói lên tâm sự của một người thanh niên giữa những mất mát đổi thay đang xảy ra quanh mình. Đây là ca khúc duy nhất tôi viết có mang chút bối cảnh xã hội, và cũng đã nói lên được những rung cảm của thanh niên thế hệ trẻ chúng tôi ngày tháng đó. Phải nói đây là một ca khúc đã mang lại cho tôi những niềm vui và hãnh diện đặc biệt trong cuộc đời sáng tác của mình.

NVTB: Anh còn có những cảm nhận nào khác, trong giai đoạn hiện thời về một ngõ mở mới cho những ca sĩ trình diễn các sáng tác của mình, ở thế hệ nối tiếp?

NTM: Dòng nhạc thính phòng đang gặp trở ngại, khó khăn về nhiều phương diện: Người nghe nhạc thính phòng đã ít lại càng ít hơn khi thế hệ người lớn tuổi đã ra đi, và thế hệ trẻ thì tìm niềm vui trong những dòng nhạc khác, hay nhạc ngoại quốc!

Nhạc sĩ -Một số anh em sáng tác cũ đã ra đi. Những người còn lại mệt mỏi với đời sống thường ngày, đã không còn đủ cảm hứng để tiếp tục viết nhạc. Lớp người viết mới thì không có điều kiện phổ biến sáng tác của mình. Thực hiện được một cuốn CD mà nếu không có sự giúp đỡ của các trung tâm thì những tác phẩm đó cũng sẽ dần vào quên lãng! Một ca khúc được sáng tác, nếu không được giới thiệu đến người nghe, không được khán thính giả chấp nhận thì cũng chỉ là một tờ giấy với những nốt nhạc, không hơn không kém! Người nhạc sĩ sẽ có thể là mất dần đi những cảm hứng sáng tác một khi những tác phẩm của mình bị chìm vào quên lãng theo ngày tháng.

Ca Sĩ – Lớp ca sĩ cũ trình bày nhạc thính phòng như Tuấn Ngọc, Lệ Thu, Khánh Ly, Khánh Hà, Ý Lan…vẫn được khán giả ái mộ, nhưng tất cả cũng còn một thời gian không lâu nữa là sẽ phải từ giã sân khấu. Và thế hệ hát nhạc thính phòng nối tiếp như Y Phương, Nguyên Khang, Diễm Liên, Trần Thái Hòa… hiện nay cũng đang được sự yêu mến và được sự ủng hộ nồng nhiệt của khán thính giả. Họ là những tiếng hát hiếm quý trong vườn âm nhạc Việt Nam ở hải ngoại. Tuy nhiên, nhìn lại số lượng ca sĩ hát nhạc thính phòng còn quá ít, so với những ca sĩ hát nhạc trẻ hay nhạc quê hương…Về các chương trình ca nhạc, có thể nói các show thính phòng được tổ chức trong các cộng đồng Việt Nam khắùp các nơi trên thế giới vẫn rất ít so với các chương trình tạp lục. Khán thính giả của dòng nhạc thính phòng rất chọn lọc nên khi tổ chức, ban tổ chức thông thường chỉ mong được hòa vốn là coi như đã thành công! Các trung tâm băng nhạc thì cần đáp ứng với nhu cầu thưởng ngoạn của mọi tầng lớp khán thính giả, và sự góp mặt của dòng nhạc thính phòng thường chỉ còn là một hoặc hai tiết mục nhỏ trong chương trình.

Tôi vẫn nghĩ, tìm cho được con đường mới để các thế hệ ca sĩ nối tiếp có cơ hội duy trì, phát triển dòng nhạc Thính Phòng ở hải ngoại, không phải là một chuyện dễ làm! Vì ngày nào nhu cầu thưởng ngoạn của khán thính giả dòng nhạc thính phòng không phát triển, ngày nào các ca nhạc sĩ còn vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc trình diễn và phổ biến các tình khúc thì ngày đó dòng nhạc này sẽ vẫn còn gặp nhiều khó khăn.

NVTB: Anh còn có ý kiến gì hơn về tình hình sáng tác của người Việt nói chung có những sự kiện hoặc thành quả nào đáng lưu ý ảnh hưởng đến kích thích những xúc cảm sáng tác hoặc làm chững lại rung cảm sáng tác của riêng Ngô Thụy Miên hoặc với Anh Bằng, Lam Phương, Từ Công Phụng, Vũ Thành An, Đức Huy, Thiện Lý.. thành danh từ trước 1975 hoặc một số người viết mới tại xứ người?

NTM: Trong những năm tháng qua, tại hải ngoại cũng như trong nước đều có những tác giả trẻ, những sáng tác phẩm giá trị. Nhưng hầu hết các tác phẩm được giới thiệu và phổ biến rộng rãi vẫn chỉ là những ca khúc. Chúng ta không thể phủ nhận sự đóng góp quan trọng của ca khúc phổ thông vào vườn hoa âm nhạc Việt Nam, nhưng tôi vẫn kỳ
vọng nhiều hơn nơi những nhạc sĩ trẻ bây giờ. Tôi nghĩ rằng họ đã có cơ hội thật đầy đủ, thật tốt đẹp để nghiên cứu, trau dồi, học hỏi những dòng nhạc mới lạ trên khắp thế giới qua những phương tiện như CDs, Internet, Concerts, Books mà những người viết nhạc chúng tôi 30, 40 năm trước không thể có. Họ là những người có thể làm mới lạ hơn cho âm nhạc Việt của chúng ta với kiến thức tổng hợp của hai nền âm nhạc Đông-Tây. Dĩ nhiên khi viết những tác phẩm này, họ cần phải có cơ hội và môi trường để phổ biến. Tôi hy vọng qua các concerts, hay các chương trình của các trung tâm video, họ sẽ được trang trọng dành cho ít nhất một tiết mục để giới thiệu, đưa giới thưởng ngoạn đến một cuộc hành trình mới vào âm nhạc Việt Nam của chúng ta ở thế kỷ thứ 21 này!

Nếu nói Âm Nhạc là một phương tiện tiêu biểu hiện được những tình cảm giao hòa giữa con người và con người, giữa con người và cuộc sống, giữa con người và thiên nhiên, thời tiết thì tôi cho rằng anh em sáng tác chúng tôi (trước 1975), cho dù là ở trên quê hương, với những tháng ngày, kỷ niệm thân yêu quanh mình hay đang bận rộn trên phần đất tạm dung này với những đổi thay, thăng trầm của cuộc sống, chúng tôi vẫn tiếp tục sáng tác, vẫn tiếp tục gửi đến đời, đến người những tác phẩm được viết từ trái tim còn tuổi trẻ như ngày nào (Riêng Một Góc Trời-1996). Và như vậy, tôi không nghĩ đây là một hiện tượng, khi một số nhạc sĩ chúng tôi vẫn có những tình khúc tuyệt vời (như Anh Bằng mới sáng tác: Anh Còn Yêu Em/thơ PTT, Đừng Xa Em/thơ BH (2009)) vẫn đang viết nhạc tình trong năm 2009) (như Đức Huy-Khóc Một Giòng Sông) mà khán thính giả trên toàn quốc đã hoặc sẽ chia xẻ với tác giả.

Từ ngày ra hải ngoại, tôi cũng như Anh Bằng, Lam Phương, Từ Công Phụng, Vũ Thành An, Đức Huy.., vẫn tiếp tục cống hiến những ca khúc, tác phẩm bất hủ; và tôi hy vọng họ vẫn mãi là người bạn đồng hành bên cạnh những người đã yêu, đang yêu, và mãi sẽ còn yêu!

* Phạm Kim (Người Việt Tây Bắc ) thực hiện 10-09




Link những bản nhạc hay

 

                                                                               

 Xin quí vị click vào đây để nghe

 




Nhạc Nguyễn Đức Tuân : ba nhạc khúc mới : Khóc Người Đáy Biển, Hai Cõi Phù Sinh, Mặc Niệm

Ba nhạc khúc mới nhất của nhạc sĩ Nguyễn Đức Tuấn : Khóc Người Đáy Biển, Hai cõi Phù SinhMặc Niệm.  Xin click vào tựa mỗi bản nhạc để nghe.
Tiếng hát và đàn piano: Kim Mai. Thu âm: 04 tháng Tư, 2010.
 
 
 

Khóc Người Đáy Biển

Lyrics: Ngô Minh Hằng

Music: Nguyễn Đức Tuân

 

Refrain 1:

Bóc tờ lịch. Lại Tháng Tư!

Đau tình sông núi làm thơ khóc đời

Tháng Tư ra biển khóc người

Oan hồn hỡi, từ đáy trùng khơi, xin về

 

Biển chiều vàng ánh tà huy

Dài tay sóng níu bước đi lạc hồn

Đứng trên bờ đá cô đơn

Khóc người bằng tiếng thơ buồn xót xa

 

Ai hay đáy biển là nhà

Máu pha lệ hận chan hòa đại dương

Thịt da nát dưới bạo cuồng

Ngàn trang huyết sử bên đường tử sinh!

 

Refrain 2:

Bóc tờ lịch. Lại Tháng Tư!

Đau tình sông núi làm thơ khóc đời

Tháng Tư ra biển khóc người

Hiển linh,chứng giám đôi lời thơ đau

                                                                                                              

Mắt buồn nhìn sóng biển xanh

Thấy sương khói vẫn vô tình khói sương

Mà lòng đòi đoạn đau thương

Xót người đáy biển đoạn trường chưa nguôi

 

Tôi viễn xứ, người biển sâu

Chung hồn lưu lạc, chung sầu quê hương

Người trên sóng nước trùng dương

Tôi khung cửa hẹp, gió sương bốn mùa

 

Refrain 1:

Bóc tờ lịch. Lại Tháng Tư!

Đau tình sông núi làm thơ khóc đời

Tháng Tư ra biển khóc người

Oan hồn hỡi, từ đáy trùng khơi, xin về

 

Finale:

Người vùi xương trắng biển khơi

Còn tôi sống kiếp dân Hời vì ai?

 

 

Bài thơ nguyên thủy:

http://boatpeople75.tripod.com/KhocNguoiDayBien.html

 

 

Khóc người đáy biển
 


(Viết để khóc cho mình và cho những thuyền nhân kém may
mắn trên đường vượt biển tìm Tự Do sau 1975.- NMH – )

 

Tháng Tư ra biển khóc người
Oan hồn hỡi, đáy trùng khơi, xin về
Biển chiều vàng ánh tà huy
Dài tay sóng níu bước đi vô hồn
Ðứng trên bờ đá cô đơn
Khóc người bằng tiếng thơ buồn xót xa
Ai hay đáy biển là nhà
Máu pha lệ hận chan hòa đại dương
Thịt da nát dưới bạo cuồng
Ngàn trang huyết sử bên đường tử sinh!
Mắt buồn nhìn sóng biển xanh
Thấy sương khói vẫn vô tình khói sương
Mà lòng đòi đoạn đau thương
Xót người đáy biển đoạn trường chưa nguôi
Tháng Tư ra biển khóc người
Hiển linh,chứng giám đôi lời thơ đau
Tôi viễn xứ, người biển sâu
Chung hồn lưu lạc, chung sầu quê hương
Người trên sóng nước trùng dương
Tôi khung cửa hẹp, gió sương bốn mùa
Bóc tờ lịch. Lại Tháng Tư!
Ðau tình sông núi làm thơ khóc người
Người vùi xương trắng biển khơi
Còn tôi sống kiếp dân Hời vì ai?

 

 

Ngô Minh Hằng

Thơ: Nguyễn Hiện Nghiệp
Nhạc: Nguyễn Đúc Tuân
Tiếng hát và Piano: Kim Mai

Hai Cõi Phù Sinh

Nguyễn Hiện Nghiệp

 

Này em, mai về chân bước hồn nhiên

Hái giùm ta nhánh oan khiên trái mùa

 

Như trái đất quay quanh trăm vòng nhân loại

Ta giũ áo, áo thoát hài, nhập hội nhân gian

Một mai xong cuộc trần hoàn

Rũ ta thành khói sương tan giữa trời

 

Hãy đưa tay hứng lấy giọt đời là hạnh phúc

Hãy đưa tay hứng lấy giọt đời

Nắn nót ngàn lần thành chút dư âm

Mời em ghé
Bước vào thăm
Nghe ta hát khúc nguyệt cầm vô thanh

 

Rồi ta sẽ dạo quanh vô cùng vũ trụ

Góp nhặt cho đời những nụ nhân duyên

Này em, mai về chân bước hồn nhiên

Hái giùm ta nhánh oan khiên trái mùa

 

Từ cõi sống ta gọi mình trăm tiếng

Nghe tên mình vọng về

Trên sóng biển giữa bình minh

Trăm năm trong cõi phù sinh

Một ta đi với bóng mình là hai

 

Này em, mai về chân bước hồn nhiên

Hái giùm ta nhánh oan khiên trái mùa

Mặc Niệm

Thơ: Như Ly

Âm điệu: Nguyễn Đức Tuân

Tiếng hát và piano: Kim Mai

 

Em gào. Em thét giữa muôn trùng cơn sóng

Lạnh trong đêm lồng lộng gió ru hồn

Mặc niệm anh thân xác biển vùi chôn

Nhận chìm xuống cuộc đời anh son trẻ

 

Em quy.  Em ngã khi anh rời cõi thế

Đời còn chi trống vắng để cho em

Rồi từ đây trời trở gió trong đêm.

Ôi nhớ quá nụ hôn mềm dạo ấy.

 

                                                          Có bao giờ anh hỡi được một lần

Một lần nữa ta ôm chặt đời nhau

Nhưng anh ơi, âm dương cách trở

Niềm ân ái chỉ là trong mộng

 

Thế là hết.  Anh bỏ em ở lại

Ngước nhìn trời em thầm hỏi tại ai.

Hai mái đầu xanh dệt bao mộng tương lai

Nay một nửa. Ôi hình hình hài rữa nát

 

Vành khăn trắng em cuốn trọn trái đất

Để tang anh che lấp mặt thời gian

 

 

Bài thơ nguyên thủy của Như Ly:

 

         Mặc Niệm

 

Em gào thét giữa muôn trùng cơn sóng

Lạnh trong đêm lồng lộng gió ru hồn

Mặc niệm anh thân xác , biển vùi chôn

Nhận chìm xuống một đời còn son trẻ

 

Em quỵ ngã khi anh lià cõi thế

Đời còn gì trống vắng để cho em

Rồi từ đây trời trở gió trong đêm

Ôi nhớ quá nụ hôn mềm dạo âý

 

Thế là hết anh bỏ em ở lại

Ngước nhìn trời thầm hỏi tại ai đây

Hai mái đâù dệt nhiều mộng tương lai

Nay một nửa , ôi hình hài rữa nát

 

Vành khăn trắng em cuốn tròn trái dất

Để tang anh che lấp mặt thời gian

Có khi nào anh hỡi được một lần

Âm dương cách trở ái ân đêm mộng

 

Như Ly

26-04-04

 

 

tb: gần đến ngày Quốc hận, NL xin gởi đến các thi hữu, 1 câu chuyện thương tâm,

khi NL vượt biên qua  bên đảo, quen chị Thu. Chị & chồng, mới đi cải  tạo về,

rồi cùng nhau với đưá con vượt biên, họ gặp cướp, và bọn cướp chỉ để cho con nít

& phụ nữ sống, (số phận cuả những phụ nữ này ra sao, thì chắc ai cũng hiểu),

còn tất cả những đàn ông thì họ đẩy hết xuống biển tập thể , ko còn ai sống sót.

Chị Thu ôm đưá con, nhìn chồng & những người đàn ông khác chết từ từ ,

nỗi đau đó làm chị ko thể nào nguôi và chị đã bị mất hết trí nhớ,

sau này fải mổ óc vì những cơn đau thắt giựt cuả caí đầu, vàchị đã mất cách đây 2 năm.

NL làm bài thơ này khi nhớ laị những gì chị kể lại hồi đó, còn bên đảo để

tưởng nhớ những linh hồn  đã bị chết trên biển nhân ngày Quốc hận sắp tới.

 

http://groups.yahoo.com/group/VuonThoTaoDan/message/2762




Link những bản nhạc hay do Tuấn Ngọc trình bày

 

Xin quí vị click vào đây để nghe nhạc 




Đồng Thảo : Giong nhac cho Que Huong

Đồng Thảo tiếng hát liêu trai của miền Bác Cali.

 

 


Để gió đùa hạnh phúc phủ nghiệt oan

Hát đi em mộng tình dâng chất ngất
Ánh trăng vàng ngời sáng cõi ngục tù
Tiếng hát em không gian bừng mở hội
Lóng lánh sao trời đèn ngọc suơng thu

Hát đi em cho thế gian bừng dậy
Trong nắng hồng tình nở bướm hoa say
Cho hận thù không còn là ngăn cách
Người với người luân vũ dấu yêu đầy

Hát đi em khúc Nghê Thường tuyệt diệu
Để ta say quên cả bóng thời gian
Môi nhắp men tình sắc hương tiên nữ
Cửa Thiên Thai mở lối đóa rừng lan

Hát đi em lời tình ca muôn điệu
Như tiếng xuân về, mẹ hát ca dao
mừng đất nở nụ thanh bình khắp nẻo
Trên đường về tiếng guốc nhịp xôn xao.

Chinh Nguyên
 

 http://www.dongthaomusic.com/index.php?option=com_oziogallery2&view=07flickrslidershow&Itemid=63&lang=en

 Xin click vào link trên để thấy những tấm ảnh mê trầm trong tiếng nhạc.

http://www.dongthaomusic.com/index.php?option=com_jukebox&view=category&id=37&Itemid=62&lang=en

Xin click vào link trên để nghe tiếng hát liêu trai của nữ ca sĩ Bắc Cali.

Xin quí vị hổ trợ nứ ca sĩ Đồng Thảo.