CÁNH HOA ĐÀO YÊU – Nhạc Và Lời: Giang Thiên Tường – Tiếng Hát Thanh Thúy




BẢN THÁNH CA: LÒNG TRỜI – VĂN DUY TÙNG

Thưa Quý Vị và Các Bạn,

Nếu sinh hoạt trong âm nhạc, có lẽ chúng ta ai cũng biết đến một ca khúc rất cổ của nước Á Nhĩ Lan. Bài hát mang tên Londonderry Air, hay được gọi là “Danny Boy”.  

Sau khi được trình bày, ca khúc này đã được đón nhận khắp nơi trên thế giới, và đến bây giờ vẫn là ca khúc được chọn hàng đầu trong những dịp trình diễn về âm nhạc, những buổi hòa nhạc giao hưởng, thậm chí các ban nhạc Orchestra trong các trường trung học hay đại học của Hoa Kỳ, cũng không thiếu bài này cho những dịp nói trên. Thế nên ca khúc này không còn sở hữu cho một riêng ai, hay riêng cho một quốc gia sương mù Ireland.

Cũng dễ hiểu thôi, vì ca khúc quá tuyệt vời và ý nghĩa; giai điệu đẹp, hay và quá ngọt ngào – dễ “xâm nhập” vào lòng người một cách êm ái và nhẹ nhàng, để lại trong lòng giới thưởng mộ khó phai nhạt. Tuy nhiên, đây không phải là mục đích tôi muốn giới thiệu ca khúc này nếu không được Linh mục Vũ Khởi Phụng viết lời Việt. Chính những lời Việt này đã cho tôi cảm nghiệm thêm về tình yêu của Thiên Chúa, về Lòng Trời : Ngài đến thế gian – tìm đến mỗi chúng ta – sống và cứu rỗi – cuối cùng chết vì tội lỗi chúng ta.

Vậy, cha Vũ Khởi Phụng đã viết gì thêm trong ca khúc này nữa không ?

Thưa Quý Vị và Các Bạn, tôi lấy làm tiếc vì cha Vũ Khởi Phụng đã không còn trên cõi đời này nữa. Ngài cũng vừa được Chúa gọi về cách đây không lâu. Tuy nhiên, tôi chợt nghĩ có một vị có thể chia sẻ thấu đáo về cha Vũ Khởi Phụng và những liên quan trong ca khúc này. Thế rồi tôi đã gửi email mời Linh mục Quang Uy, xin ngài chia sẻ tâm tình của chính mình qua bài hát, cũng như quá trình cha Vũ Khởi Phụng viết lời Việt.

Như là một bài suy niệm về Lòng Chúa Thương Xót qua bài Lòng Trời trong Tuần Thánh này, kính mời Quý Vị và Các Bạn lắng nghe chia sẻ của Cha Quang Uy sau đây :

“Năm 1980, khi sinh hoạt trong Nhóm Mai Khôi, hát Lễ chiều ngày thường của cha cố Mai Văn Hùng ở Nhà Nguyện Mai Khôi bé nhỏ đường Tú Xương, tôi được tập và hát bài Lòng Trời. Tôi nhớ ra giai điệu từng được ba ở nhà cho nghe nhạc cổ điển bài O Danny Boy, bây giờ đọc ghi chú trên đầu trang bài Thánh Ca mới biết gốc tích là một cổ ca của người Ireland, lại thấy ghi lời Việt: VKP, tôi cũng không chú ý tìm hiểu thêm VKP là tác giả nào, ở đâu…

Rồi khoảng nửa năm sau, giữa tháng 8 thì vị Linh Hướng của Nhóm MK, cha Tiến Lộc bị bắt đi tù Chí Hòa lần thứ hai, Nhóm MK ngơ ngác bơ vơ không người dẫn dắt, mấy anh em đứng đầu Nhóm chúng tôi ngồi họp với nhau, bàn xem phải chạy đi gõ cửa xin cha nào giúp đây. Bạn trưởng Nhóm vừa kịp nghĩ ra tên cha Phụng, thì cũng đúng lúc ấy, chuông nhà vang lên, chạy ra mở cửa thì không ngờ là chính cha Vũ Khởi Phụng, DCCT. Ngài hỏi: Có phải đây là các bạn Nhóm MK không ? Cha Tiến Lộc trước khi đi “tĩnh tâm dài hạn” có nhờ tôi đi tìm giúp Nhóm MK thay ngài…

“Trời ơi, cầu được ước thấy, chúng tôi mừng rỡ vô cùng mời cha Phụng vào nhà, cũng là vào với Nhóm, cũng là vào với cuộc đời chúng tôi. Khi ấy cha Phụng 40, chúng tôi hơn kém 20 tuổi đời giữa bối cảnh một đất nước tan hoang xám đen vì bắt bớ, vì Kinh Tế Mới, bán chợ trời, nghĩa vụ quân sự, trại cải tạo, vượt biên, và ăn độn bo bo với rau muống !

Cũng phải ít lâu sau chính tôi mới vỡ lẽ tên viết tắt trên góc hàng loạt bài Thánh Ca 4 bè chúng tôi thường hát: VKP là… Vũ Khởi Phụng ! Loáng một cái đã gần 40 năm, hôm nay tôi 60 tuổi, ngồi xe lăn gõ computer những giòng hồi ức riêng cho bài LÒNG TRỜI, thì anh em DCCT chúng tôi cũng vừa giỗ cha Phụng mãn tang 3 năm. Tôi bồi hồi xúc động, cảm nhận một niềm biết ơn với cha Tiến Lộc, với cha Khởi Phụng. Một vị đã cho cánh trẻ chúng tôi chiều xa, chiều rộng để dấn thân vào đời, yêu cho ra yêu; một vị lại cho chúng tôi chiều cao và chiều sâu để xác tín vào Thiên Chúa và Hội Thánh, sống cho ra sống.

Mở lại clip bài LÒNG TRỜI, lần đầu tiên tôi chú ý đến những điển tích Kinh Thánh Tin Mừng cha Phụng đã vận dụng để diễn tả được LÒNG TRỜI đối với con người, đối với chính chúng ta.

Xin mời cứ dõi theo từng phiên khúc của bài hát. Hai câu cuối của mỗi phiên khúc luôn luôn là một lời ngỏ với nhau hoặc là một lời nguyện với Chúa.

Đầu tiên là dụ ngôn “Con chiên đi lạc” của Tin Mừng theo Luca chương 15. Câu chuyện quá đỗi quen thuộc lại được cha Phụng phác họa thành một bức tranh có sắc màu chuyển dịch tài tình: mở đầu là trần gian u tối đã sáng dần lên, vui hẳn lên với một happy ending Thiên Đàng dâng cao niềm vui; mở đầu là con chiên đi lạc đã thoát xác thành tội nhận biết hoán cải trở về. Câu chuyện lại được điểm xuyết bởi những từ ngữ thuần Việt giàu cảm xúc: các động từ long đong, kiếm tìm, dõi theo, nệ hà, ẵm… và các trạng từ chan hòa, mênh mang, xôn xao…


Trần gian u tối, vì đâu Chúa long đong kiếm tìm, 

Tựa người chăn chiên dõi theo chiên lạc đã xa, 
Vượt miền hoang vắng, dù gian khó cũng không nệ hà,
Chỉ mong tìm thấy, ẵm chiên vui mừng chan hòa.
Một người tội lỗi, nếu biết thoát ly xiềng xích tham tàn,
Niềm vui dâng cao, mênh mang xôn xao Thiên Đàng.

Như một hạnh ngộ, cha Phụng bật thốt lên: “Lòng Trời là thế !”

Xin lan man thêm một chút: Sau dụ ngôn “Con chiên đi lạc” là dụ ngôn “Đồng bạc bị mất”, mức độ đầu tư Lòng Thương Xót của Thiên Chúa đã từ 1% tăng vọt lên 10%. Rồi thấy chuyện chỉ mới loanh quanh ở ví dụ về con vật và đồ vật, Chúa Giêsu đẩy cao lên với chuyện con người ở dụ ngôn “Người con đã chết mà nay được sống”, Lòng thương xót bây giờ đã cao ngất ngưởng, lên tới mức 50%.

Cuối cùng, nói mãi, kể mãi, dạy mãi mà hình như con người ta vẫn chưa chịu hiểu ra LÒNG TRỜI là thế nào, Thiên Chúa đành phải bộc bạch tất cả, vét sạch trọn vẹn tấm lòng của mình để mặc khải một tình thương không gì so sánh nổi: “yêu đến nỗi ban chính Con Một của mình để những ai tin vào Người thì không phải chết, nhưng được sống muôn đời” ( Ga 3, 16 ). Mức đầu tư đụng trần, không thể cao hơn được nữa: 100% !

Chúng ta hãy được tại sao cha Phụng không cầm được niềm vui hân hoan, đã hô to lên, đã la vang lên cho mọi người: thôi đừng giả điếc làm ngơ nữa, hãy chạy ùa thật nhanh về bên Chúa Giêsu…

Lòng Trời là thế, anh em ta ơi hãy mau quay về,
Tạ ơn Thiên Chúa, dẫu tháng năm qua vẫn chờ đợi ta…

Sang đến phiên khúc thứ nhì, cha Phụng dẫn chúng ta vào vào với Bữa Ăn Cuối Cùng (The Last Supper, không phải bữa Tiệc Ly như thường dịch sai, nói sai ). Chúng ta được ngồi xen vào giữa các Tông Đồ, hay có thể nói là điền luôn vào cái chỗ trống Giuđa đã bỏ uổng. Và chúng ta như được thấy tận mắt, được nghe tận tai, được cảm nhận Thầy Giêsu của mình tâm sự, dặn dò, trăn trối trước khi ra đi vác thập giá lên đồi.

Đến đây, cha Phụng đẩy thật nhanh câu chuyện, vượt qua cái chết đến với vinh quang phục sinh, cha dùng đến một dụ ngôn thấm thía: “Hạt lúa gieo vào lòng đất”, dụ ngôn của Tân Ước nhưng đã được báo trước từ Cựu Ước với “mùa về đơm bông, thơm hương nương đồng” của Thánh Vịnh 125.

Ngôn từ của phân đoạn thứ hai này vẫn thuần Việt, bóng bẩy, nuột nà, gợi thanh, gợi ảnh, gợi cảm xúc như: trông mong, bồi hồi, chứa chan, xao xuyến, vô vàn, ngất cao, mỡ mầu, đơm bông, thơm hương, nương đồng…

Dọc đường dương thế, nhiều phen Chúa trông mong bồi hồi,
Ngày nào dâng hiến, máu tươi thanh tẩy chứa chan,
Và giờ đã đến, giờ xao xuyến đau thương vô vàn,
Một cây thập giá ngất cao thay cờ khải hoàn.
Tựa như hạt lúa ai đem gieo trong lòng đất mỡ màu,
Mùa về đơm bông, thơm hương vui sao nương đồng.

Cuối của phiên khúc vẫn là một lời ngỏ với chính mình, với nhau, với cả muôn dân gần xa: còn chần chờ chi nữa, đã có một Đấng chết thay cho ta được sống, phải lũ lượt trẩy hội quay về với cội nguồn Tình Yêu ấy thôi !Vì Người đã chết cho ta biết đường sống tuyệt vời,

Đoàn con Thiên Chúa khắp nơi phương xa quay về nguồn vui…Phiên khúc cuối cùng, không còn là dụ ngôn, mà là một cuộc đối thoại lạ lùng tuyệt vời, thật an tĩnh giữa bao nhiêu những náo động, chửi bới, miệt thị, những kêu la gào thét xen giữa những khóc lóc nức nở ( Lc 23, 42 – 43 ).

Cha Phụng thủ cả hai vai đạo diễn và cameraman, cho hai con người tội nghiệp quay nhìn vào mắt nhau thật ân cần trân trọng. Một bên không hề kêu oan, van xin được tha thứ chi cả, chỉ xin một chuyện rất khiêm tốn, rất nhỏ hèn, đó là “nhớ đến tôi” ( remember me – souviens-toi de moi ); một bên mỉm cười nhẹ nhàng hứa: “anh sẽ được ở cùng tôi ( shalt thou be with me – tu seras avec moi ).

Ở trên thập giá, kế bên Chúa có anh gian tà,
Một đời tan hoang, thốt lên đôi lời thiết tha:
“Ngày nào, lạy Chúa, Ngài đến giữa uy linh huy hoàng,
Thì xin thương đoái, xót con ngu dại hoang đàng…”
Lời xin chưa dứt, Chúa đã ban cho lời hứa diệu kỳ,
“Ngày hôm nay đây, Ta đưa ngươi lên Thiên Đàng.”

Cuối phân đoạn ba cũng là lời kết cho toàn bộ câu chuyện LÒNG TRỜI, lần này là một lời nguyện da diết kêu lên với Chúa Giêsu của tất cả những người đang “gian nan lưu lạc trần ai”, những nạn nhân của gia đình đổ vỡ, của xã hội bất công, của đất nước ly loạn, của thế giới nhiễu nhương…Này Ngài đã đến, vinh quang uy hùng khắp đất trời,
Thì xin thương xót chúng con gian nan lưu lạc trần ai.

Lòng đời độc ác, Lòng người ngơ ngác… thì đúng lúc ấy, LÒNG TRỜI mở ra để rửa sạch cuộc đời, để chữa lành con người. LÒNG TRỜI vì thế còn có tên gọi khác là Lòng Chúa Xót Thương.

Vâng, ngày xưa, chúng tôi còn trẻ, chúng tôi đã ứa nước mắt khi hát những lời như thế, giai điệu cổ của Ireland có xa chúng tôi bao nhiêu thế kỷ về thời gian, có cách biệt chúng tôi bao nhiêu đặc nét về văn hóa, mặc kệ, không thành vấn đề, đây vẫn là câu chuyện chính Chúa Giêsu kể cho chúng tôi về LÒNG TRỜI, về chính Ngài.

Rồi hôm nay, ngồi viết những dòng bộc bạch này, chúng tôi trên dưới 60 tuổi, nhiều người đã hết hơi, không hát được đúng bè của mình như trước, nhưng click vào link trên Youtube nghe lại, chúng tôi vẫn ứa nước mắt.

Cám ơn cha Vũ Khởi Phụng đã nguệch ngoạc rất nhanh mà viết được lời Việt như thế này thì phải hiểu chính cha đã nghiệm sinh sâu xa ra sao. Ắt hẳn lúc sắp sinh thì ở Hà Nội, cha cũng đã kịp thủ thỉ thì thầm xin với Chúa Giêsu: “Remember me when you come into Your Kingdom”. Và…”

Thưa Quý Vị và Các Bạn,

Cha Quang Uy đã gửi bài viết này cho tôi đúng vào ngày Chúa Nhật Lễ Lá 14.4.2019. Ngài nói : “Tôi đang bị viêm khớp nặng, đau nhứcvô cùng, đi đứng khó khăn nên phải ngồi xe lăn”. 

Tôi nghĩ cha Quang Uy hết sức “can đảm” cố gắng viết chia sẻ cho chúng ta, vì khi đau đớn về thể xác, thậm chí cả tinh thần, con người thường luôn thụ động, tìm nghỉ ngơi, an nhàn… Cha Quang Uy ngược lại, ngài cao rao tình Chúa bất cứ lúc nào, thậm chí trên chiếc xe lăn, trên đôi nạng gỗ, trên những bước đi khó khăn và đau nhức ấy.

Nhiều khi trong đời sống, chúng ta đánh mất sự CAN ĐẢM để đối diện hay chịu đựng với những khó khăn hoặc đau khổ trước mặt, để rồi cũng có người đi tìm cái chết bằng cách tự tử (!) Điều này làm tôi chợt nghĩ ngay đến cái chết tự thắt cổ trên cành cây chết treo thòng lòng của ông Giuđa trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh này. Vì lòng thương xót vô bờ bến “Bảy mươi lần bảy” của LÒNG TRỜI, biết đâu Giuđa cũng được tha nếu trước khi buông tay, ông ấy chỉ cần một lời ĂN NĂN !

Xin cám ơn Cha Quang Uy thật nhiều đã chia sẻ “dòng tâm sự” về ca khúc Lòng Trời, cùng những kỷ niệm trân quý với cha cố Vũ Khởi Phụng.

Kỷ niệm lần gặp gỡ cha Vũ khởi Phụng

Mỗi mùa hè, tôi thường về Hà Nội hướng dẫn các khóa âm nhạc và ca trưởng. Dù đã có dự định ghé thăm cha Vũ Khởi Phụng nhiều lần, nhưng chưa lần nào tôi sắp xếp được. Mãi đến năm 2008, tôi mới có thời gian ghé thăm ngài tại giáo xứ Thái Hà. Phải nói ngay chính vì yêu thích những bài hát thánh ca do ngài viết và chuyển lời Việt, nên đó là động cơ để tôi tìm đến mặc dù trong lúc này; Thái Hà là điểm nóng vì đang có nhiều biến động cướp đất đai của Nhà Dòng Chúa Cứu Thế, nên công an cũng như chính quyền Hà Nội luôn theo dõi, dòm ngó ngày đêm và gây khó khăn mọi mặt.

Lần đầu tiên gặp nhau, thường thì ai cũng e dè và dò dẫm, nhưng tôi đã mạnh dạn đi bước trước sau khi thăm hỏi vài câu xã giao. Tôi vào đề ngay : “Thưa Cha, con rất yêu thích những bài Thánh ca mà cha viết lời Việt”.

Với nét mặt kham khổ (Nét mặt của những người cho biết họ lao động về trí tuệ quá mức) và cặp kính cận thật dày, miệng điểm nụ cười rất trìu mến, ngài trả lời :

– Thế à ! Anh thích bài gì ?

Thay vì trả lời tên bài hát, tôi xướng lên câu điệp khúc của bài Lòng Trời : “Lòng Trời là thế, anh em ta ơi hãy quay về. Tạ ơn Thiên Chúa dẫu tháng năm qua vẫn chờ đợi ta…” Cha Vũ Khởi Phụng cũng nhập cuộc và cùng hát sau khi tôi xướng lên. Như một phép màu, chúng tôi thấy thân thiện và gần gũi mà không còn một khoảng cách. Nếu “Âm nhạc là con đường ngắn nhất đi vào lòng người” , thì tôi xin khẳng định (affirmed) rằng : Thánh Ca làm con người dễ kết hợp, thân thiện, và nhanh chóng được cảm hóa… Cũng xin chia sẻ một góc rất riêng tư trong suy nghĩ của tôi, rằng : nếu hay giả sử nhân loại không còn một niềm tin nào nữa, thì âm nhạc và thi ca sẽ là “tôn giáo” cuối cùng trên tinh cầu này để họ chọn và đeo đuổi. Nhưng điều đó sẽ không bao giờ hiện thực và xảy ra, vì chúng ta mãi mãi có một niềm tin vào Đức Kitô – Đó là Lòng Trời – Một tôn giáo được lập từ Trời mà không phải dưới thế gian – Tình Yêu cao vời và tuyệt đối như Thánh Gioan đã xác định : “GOD IS LOVE – THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU”.

Ngài mời RỒI dẫn tôi vào phòng khách, thăm hỏi và nói chuyện… Chúng tôi đã có một buổi chiều hát Thánh ca qua những bài mà ngài viết lời Việt. Tôi luôn xướng lên những bài hát từ những bài Lòng Trời, Mong Chờ Giêsu, Xác Thân Làm Bánh, Tantum Ergo, V,v… Đây là những bài nổi tiếng của nhà soạn nhạc cổ điển tây phương : Johann Sebastian Bach mà cha Vũ Khởi Phụng chọn và viết lời Việt.

Tưởng cũng nên biết chút ít về Johann Sebastian Bach (J.S. Bach).

Là nhà soạn nhạc nổi tiếng người Đức ở cuối thế kỷ 16 (khoảng những năm 1686). Ông đã cống hiến cuộc đời của mình cho nhà thờ và soạn trên 1,000 tác phẩm. Những tác phẩm của ông luôn nổi bật cho phong cầm (organ), đại hợp xướng (choir), hòa tấu thính phòng (chamber ensemble), và dàn nhạc giao hưởng (orchestra)… Điều đáng nói là tất cả những tác phẩm của J.S. Bach luôn có âm hưởng của thánh đường, và đấy là những tác phẩm âm nhạc kinh điển qua bao thời đại, nhất là về hòa âm, đối âm. Do đó và có lẽ cha Vũ Khởi Phụng chọn những tác phẩm của ông để viết lời Việt chăng ?

Giáo triều Rôma đã chọn bài Xác Thân Làm Bánh (Ave Sanctum Viaticum) để hát trong lễ đám tang của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolo II – nay là một vị Thánh của chúng ta.

Cá nhân tôi cũng thế, luôn trân trọng những tác phẩm hay, những bài thánh ca thánh thiêng – có sức thay đổi lòng mình từ giai điệu đến ý nghĩa của lời ca, cho ta nhiều cảm xúc với những hình ảnh tượng hình tượng vật mà lời ca miêu tả. Do đó, tôi đã chọn bài Lòng Trời, làm nhạc và tự thu âm, mặc dù tôi biết giọng ca rất giới hạn của mình.

Trong Tuần Thánh này, tôi trân trọng và xin được chia sẻ ca khúc Lòng Trời theo link youtube ở trên. Quý Vị và Các Bạn cũng có thể mở ở đây :  https://www.youtube.com/watch?v=Ge4lQOrt1OYVideo và diễn ảnh do Minh Dương thực hiện. 

Xin cám ơn Cha khả kính đã viết lời Việt, và xin mọi người cầu nguyện cho linh hồn Cha Cố Mathew Vũ Khởi Phụng sớm hưởng phúc thiên đàng. 

Trân trọng,

Văn Duy Tùng




TIẾNG KÊU CỨU của một nữ viện trưởng đại học Mỹ gốc Việt bị trù dập! Nguyễn Xuân Nam – Báo Cali Today




THÁO GIÀY – Quyên Di

T H Á O G I À Y
(Bài này không liên quan gì đến chuyện “thầy giáo… tháo giày” và “giáo chức… dức cháo.”)

Tôi nhớ lại một truyện rất lý thú về sự tích đôi giày.

Truyện kể rằng ngày xưa có một ông vua sống rất xa xỉ. Mỗi khi đến đâu, ông bắt dân chúng nơi ấy phải trải thảm nhung trên tất cả những con đường ông đi qua. Càng được đón tiếp long trọng, ông càng thích đi; và ông càng đi, người ta càng phải trải nhiều thảm nhung cho ông bước lên.

Cho đến một ngày, người ta không kịp sản xuất nhung để lót đường cho ông vua. Điều này làm ông tức giận và ra lệnh rằng ông đến đâu mà không có thảm nhung lót đường, cả dân vùng ấy sẽ bị giết chết hết.

Thế nhưng đã có một người đến xin yết kiến vua, ông ta cam đoan rằng nếu vua theo ý ông, vua đi đâu thảm nhung cũng có sẵn mà không phải huy động một ai cả. Vua bằng lòng, và ông nọ dùng hai mảnh nhung nho nhỏ, khâu thành một đôi giày nhung rồi mời vua xỏ chân vào.

Thế là từ đó, vua đi đâu “thảm nhung” đi theo đến đấy.

Kỹ nghệ làm giày từ đó dần dần thành hình và phát triển.

Truyện này khiến tôi suy nghĩ và cảm thấy có liên hệ tới tính chất của những đôi giày. Đôi giày tượng trưng cho sự giàu có, hay ít ra cũng là đủ ăn đủ mặc, đôi giày làm cho người ta trở nên chững chạc, lịch sự. Đi đến nơi nào có vẻ quan trọng một chút, người ta xỏ chân vào đôi giày, tự nhiên trông có vẻ tươm tất ngay. Bà phu nhân của cố tổng thống Phi Luật Tân Marcos có tới vài trăm đôi giày đắt giá (1).

Tôi không biết có ai trong chúng ta có tới vài trăm đôi giày như vậy không, nhưng chừng vài chục đôi thì tôi cũng đã biết có người. Có những người ham thích mua giày, dư tiền một chút, họ đi sắm giày. Những đôi kiểu mới, họ mang thử vào chân, ngắm nghía rồi mua đem về, dù rằng những đôi cũ còn rất tốt, lại có những đôi họ chưa xỏ chân vào lần thứ hai.

Chính vì có nhiều người ham thích mua giày, đóng giày mà kỹ nghệ sản xuất giày phát triển rất mạnh, với nhiều hãng giày nổi tiếng. Có những đôi giày trị giá mấy trăm Mỹ kim (2), trong khi một đôi dép dùng hằng ngày trong nhà có thể chỉ phải mua với giá hai, ba đồng.

Đôi giày làm thành ranh giới của người no đủ và người nghèo đói. Đôi giày cũng làm thành ranh giới của người tự do và người nô lệ. Ngày xưa, trong một số xã hội nào đó, chỉ những người tự do mới được quyền đi giày, còn người nô lệ phải đi đất. Nhưng đôi giày cũng là vật tượng trưng cho sự gò bó. Đôi giày trở nên nỗi cực hình đối với những ai thích cho đôi chân mình được thoải mái. Tôi vốn thích đi dép hoặc xăng đan “cho nó mát.”

Ngày đầu tiên đi dạy học, tôi cũng định lê đôi dép vào trong lớp, nhưng mẹ tôi đã đe: “Nếu con không chịu mua giày và không chịu đi giày, mẹ không cho con tới trường dạy học.” Tôi hoảng quá, đành phải đi sắm giày mà trong lòng lấy làm đau khổ vô cùng. Bây giờ, tôi vẫn có thói quen đi dép hay đi xăng đan. Và đang khi có đôi chân thoải mái như thế, tôi nhìn những người bạn phải đi giày suốt từ sáng đến tối mà thương cho họ. Nhất là những cô phải xỏ chân vào đôi giày cao gót và để đôi giày ấy đeo cứng chân mình, dù đi, dù đứng, dù ngồi; chắc là bí bức, gò bó lắm. Nhưng nói vậy thôi, có nhiều người sẵn sàng chịu sự gò bó để cảm thấy mình đẹp và được khen là đẹp.

Tuy nhiên, tôi cũng thấy có nhiều người, nhất là những người trẻ, bước đi trên đường phố bằng những đôi chân trần không giày dép. Những người trẻ này có lẽ không thích sự gò bó, dù là sự gò bó của đôi giày hay sự gò bó của những luật lệ, định chế xã hội.Có một khoa nhìn giày để đoán ra tính nết người đi đôi giày đó. Người ta nhìn đôi giày mòn ở mũi hay ở đế, mòn phía trong nhiều hay mòn phía ngoài nhiều, rồi từ đó đoán ra người đi đôi giày ấy tính hướng nội hay hướng ngoại, bình tĩnh hay hấp tấp, cương quyết hay e dè v.v…

Tôi không biết những điều ước đoán ấy đúng, sai ra sao, nhưng từ lâu tôi vốn thích ngắm những đôi giày mòn vẹt hơn là nhìn những đôi giày bóng loáng chưa đụng đất trong tiệm bán giày. Giày đẹp mấy mà chưa dùng đến thì cũng chưa đem lại chút lợi ích gì cho con người. Giày càng mòn, càng vẹt bao nhiêu, càng chứng tỏ nó đã giúp cho con người đi chuyển nhiều bấy nhiêu. Đẹp mà không giúp ích cho đời, cũng không quý bằng dù tàn tạ nhưng đã đem lại ích lợi cho đời sống con người.

Ai từng đi giày cũng có một đôi giày mình ưng ý nhất, đôi giày ấy đi vào vừa vặn, bước đi thật êm, nó không cọ xát khiến đôi chân đau bỏng, nó không bó đôi chân lại khiến chân bị tê buốt, nó cũng không lỏng lẻo khiến cho đôi chân muốn tuột ra ngoài. Khi có một đôi giày ưng ý rồi, ta không thích đi đôi giày khác, nhất là không thích dùng giày của người khác. Đôi giày khi đó trở thành vật biểu tượng cho sở thích, cho bản tính của mình.

Có lẽ chính vì thế mà lâu nay người ta có thành ngữ “đi giày nhiều người’.” Thành ngữ này có nghĩa là khi làm việc, ta phải chiều theo tính nết của quá nhiều người thì việc mới thành tựu được. Phải “đi giày nhiều người” là một tình trạng rất khổ tâm của những người muốn hoạt động hữu hiệu cho một mục tiêu cao đẹp, mà cứ phải chiều ý hết người này tới ngườii khác. Mặt khác, “đi giày nhiều người” cũng là câu chê bai dành cho những ai không dám tự quyết, không dám can đảm dấn thân, bất chấp những nhân sự “cản mũi kỳ đà,” mà cứ luôn luôn phải làm theo ý người này, người nọ.

Tôi đã có lần được “tháo giày” một cách hết sức thoải mái.

Chuyện “tháo giày” của tôi không liên quan gì đến nghi lễ tối thứ Năm Tuần Thánh, các viên chức đóng vai mười hai tông đồ, tháo giày ra cho vị linh mục chủ tế, bắt chước Chúa Giê-su, rửa chân cho mình. Chuyện “tháo giày” của tôi hoàn toàn khác. Tôi được gọi đến dự một cuộc tĩnh tâm của giới trẻ. Sau những nghi thức và những bài giảng, đêm đã về khuya. Đây là thời điểm thuận tiện nhất để những người trẻ ngồi lại với nhau, tâm sự về những thao thức, những ước vọng, những suy tư của mình.

Để tạo bầu không khí thân mật, người phụ trách kêu gọi mọi người ngồi xuống đất bên nhau thành vòng tròn, thay vì ngồi trên ghế. Muốn ai cũng có thể ngồi thoải mái, người phụ trách xin mọi người tháo giày ra trước khi ngồi. Khi được lệnh “tháo giày,” tôi là người sung sướng nhất. Lúc nào tôi cũng mong đợi chân mình được tự do! Vừa tháo giày, tôi vừa quan sát những người trẻ chung quanh. Một số tháo giày ra ngay; một số khác còn ngần ngừ, như còn e dè, nuối tiếc gì đó. Nhưng rồi cuối cùng ai cũng tháo giày ra hết. Với đôi chân thoải mái, mọi người ngồi xuống đất, vòng tròn thu hẹp dần, thu hẹp dần, cho đến khi vai người này có thể chạm được vai người khác, đầu người nọ có thể chụm vào đầu người kia. Và họ bắt đầu chia sẻ với nhau về những ưu tư, khát vọng, mơ ước, hạnh phúc, đau khổ của mình.

Đúng lúc ấy tôi nghĩ tới đôi giày mọi người vừa tháo khỏi chân. Đôi giày, nhìn dưới một khía cạnh nào đó, chính là bản chất riêng của mỗi người. Để có thể ngồi sát bên nhau, vai chạm vai, đầu chụm đầu, nghe được nơi nhau những lời chia sẻ thân tình, chúng tôi phải tháo đôi giày, phải cởi bỏ bản chất riêng của mình trước đã, rồi mới có thể hoà đồng trong một bầu khí chung, một tâm tình chung. Những giọt lệ nơi khoé mắt tôi ứa ra một cách kín đáo.

Tôi ước mong trong cuộc sống, tôi và các bạn tôi biết nhận thức rằng: rất nhiều lúc, chúng tôi phải tập “tháo giày,” tập cởi bỏ bản chất riêng để cùng nhau theo đuổi một mục đích chung. Cùng nhau đi chân trần trên đường hướng về lý tưởng, có lẽ thích thú hơn lộp cộp với đôi giày để bước những bước độc hành.Viết riêng cho anh chị em Ki-tô hữu:Dụ ngôn “đứa con hoang đàng” trong Phúc Âm cũng có hình ảnh của đôi giày. Khi đứa con hoang trở về, nghèo đói, rách rưới quỳ xuống chân cha nói lời tạ tội và chỉ mong cha cho trở về, nhận làm kẻ hầu người hạ trong nhà chứ không dám mơ được nhận làm con như trước; người cha nhân lành đã đỡ con dậy, gọi gia nhân đem áo cho mặc, nhẫn cho đeo, giày cho đi. Đôi giày ấy thay cho lời người cha, nói với người con rằng: “Con là con cha, là người tự do, con không phải là kẻ ăn người ở, không phải là hạng nô lệ trong nhà này.”

Có người rất quý trọng đôi giày mòn, vẹt của mình. Người ta kể rằng một tu viện nọ tổ chức một cuộc tĩnh tâm. Cuối ngày, cha tu viện trưởng nói với mọi người để lên bàn vật mình cho là quý nhất. Các tu sĩ lần lượt để lên bàn những báu vật của mình. Người thì đặt lên một cây thánh giá bằng vàng, người khác là một cuốn thánh kinh đóng bìa da công phu, người khác nữa là một cỗ tràng hạt bằng bạc… Đến lần vị tu sĩ kia, ông thản nhiên cúi xuống tháo đôi giày cũ kỹ, mòn vẹt của ông và trịnh trọng đặt lên bàn. Mọi người ồn ào, bất mãn, người ta cho rằng vị tu sĩ kia ngạo mạn và bất kính đối với người khác và đối với những báu vật của họ. Tu viện trưởng ra lệnh cho vị tu sĩ kia giải thích tại sao lại cho đôi giày cũ kỹ bụi bặm kia là vật quý nhất, vị tu sĩ trả lời:

“Vì chính nhờ nó, con đã đem được Tin Mừng của Chúa Ki-tô đến biết bao con người ở những miền đất xa xôi.”

Câu chuyện này khiến tôi liên tưởng đến lời của tiên tri Isaia: “Đẹp thay bước chân người đi gieo rắc Tin Mừng.”Chúng ta học được gì qua hai hình ảnh trên?

QUYÊN DI

(Trích “Nhìn Xuống Cuộc Đời,” 1995)____________________________(1) Bây giờ tôi biết bà Marcos không phải chỉ có vài trăm đôi giày, số giày của bà lên tới con số hàng ngàn.

(2) Tôi thật nhà quê! Giày giá mấy trăm Mỹ kim đã là gì. Có người sẵn sàng bỏ tiền ra mua những đôi giày giá mấy chục ngàn Mỹ kim




Con Tim Biết Nói – Sa Chi Lệ Viết Và Diễn Ngâm

https://www.youtube.com/watch?v=TG3zvrb9_uc



BÀI VIẾT: Tinh Thần Ollin & Sự Hâm Nóng Toàn Cầu – GS TS MAI THANH TRUYẾT

LƯU Ý: XIN BẤM VÀO GÓC TRÁI (DƯỚI) CỦA BÀI ĐỂ LẬT TRANG.