THƠ NGƯỜI TRONG NƯỚC: Uất Nghẹn – TRƯƠNG CHI

UẤT NGHẸN
Một nhà thơ trẻ, một anh hùng xuất hiện!
Ít nhất quý vị cũng nên đọc 1 lần và phổ biến rộng rãi
***
1. Tôi sinh ra giữa lòng Cộng Sản
Và lớn lên dưới ảnh Bác Hồ
Bao nhiêu năm viết “Độc lập – Tự do
và Hạnh phúc” nhưng chưa từng thấy thế
*
2. Đất nước tôi có bao người tuổi trẻ
Đều lầm tin vào lịch sử Đảng truyền
Họ nói rằng: Bác là thánh, là tiên
Người đưa Nước thoát khỏi vòng nô lệ
*
3. Nhưng trong tôi thắp muôn vàn lý lẽ
Cuộc chiến nào mà Đảng thắng – Nước thua?
Dân làm giặc mà Đảng lại làm vua
Trên danh nghĩa “kẻ tôi đòi trung hiếu”
*
4. Đất nước tôi tất thảy do Đảng liệu
Đảng phân công, quản lý hết cuộc đời
Từ cây kim, sợi chỉ đến chén cơm, manh áo dù rách nát, nhỏ nhoi
Thì tất cả đều nhờ ơn của Đảng
*
5. “Yêu Tổ quốc” có nghĩa là “yêu Đảng”
“Chống chính quyền” là “phản bội quê hương”
Bao người vì non sông với niềm tin vào ngày mai nước Việt hùng cường
Đều lần lượt chịu tù đày, khổ ải
*
6. Đất nước tôi có gì không độc hại
Từ thức ăn, nước uống đến không khí ô nhiễm tràn lan
Từ nhu yếu phẩm của đứa trẻ sơ sinh đến cụ già sắp lìa khỏi trần gian
Đều tẩm độc vào xác – hồn nước Việt
*
7. Có nơi đâu mà người dân thua thiệt
Bằng thiên đường Xã Hội Chủ Nghĩa thế này không?
Máu dân oan đã nhuộm đỏ sông Hồng
Loài hung bạo chiếm hết trời – đất – biển…
*
8. Đất nước tôi với mọi điều trái ngược
Ngược văn minh, ngược tiến hóa loài người
Những phát ngôn của quan chức nực cười
Ngược đời thế, nhưng “tài tình lãnh đạo”
*
9. Ươn hèn nhất, bọn bút nô – Tuyên giáo!
Với hàng trăm tờ báo, đài vô tuyến – truyền hình
Ngoài mị dân, ru ngủ, chỉ những tin “cướp – giết – hiếp” hay bản nhạc “đúng quy trình”
Còn nhục nước họa dân thì muôn đời nín lặng
*
10.. Đất nước tôi với sưu cao thuế nặng
Còn hơn thời phong kiến, thực dân
Những trạm BOT mọc lên khắp tỉnh thành
Cùng hàng vạn “áo vàng” chực rình thu mãi lộ
*
11. Ôi chân lý mà bao người “giác ngộ”
Làm suy đồi đạo đức mấy ngàn năm
Đưa quốc dân vào chia rẽ – thù hằn
Và kiềm tỏa đường tương lai dân tộc
*
12. Đất nước tôi mất dần vào Trung Quốc
Mất Hoàng Sa, rồi mất đến Trường Sa
Mất Biển Đông, Bản Giốc, rồi những nơi trọng yếu của nước nhà
Đảng biết rõ, nhưng làm ngơ tất cả
*
13. Từ có Đảng, biết bao điều tai họa
Như mệnh trời muốn thử thách người Nam
Mà Đảng vẫn huênh hoang nào “thắng lợi vẻ vang”
Nào “thời đại Hồ Chí Minh”, nào “dân giàu nước mạnh”
*
14. Đảng hào nhoáng với ngai vàng lấp lánh
Còn dân đen thì đói khổ, nghèo nàn
Những ủy ban, hội đồng… đều mang mác “nhân dân”
Chỉ kho bạc là của riêng “nhà nước”
*
15. “Đổi mới” rồi “kiến tạo” với bao đời Thủ tướng
Bao đời Tổng Bí thư từ Chinh, Duẩn, Linh, Mười…
Bao sai lầm mà Đảng chẳng nên người
Sợi kinh nghiệm rút kiếp nào cho hết
*
16. Đảng cứ sống và dân thì cứ chết
Cứ chết dần trong mơ ước tàn phai
Trong căn bệnh ung thư hay tai nạn giao thông… rồi sẽ đến một mai
“Chết từ từ” để giết nòi giống Việt
*
17. Tôi xấu hổ khi nói cùng thứ tiếng
Và viết chung ngôn ngữ với một đảng đê hèn
Hít thở bầu khí quyển màu đen
Bóp nghẹt Tự Do ở dưới triều Cộng Sản
*
18.. Tôi sinh ra giữa lòng Cộng Sản
Nhưng tôi là một người Việt Tự Do
Trong tim tôi là lý tưởng Quốc Gia
Và chính nghĩa là chủ trương dân tộc
*
19. Xin cảm ơn những tấm gương bất phục
Và những người yêu Nước của hôm nay
Đã dấn thân vào những chốn đọa đày
Vẫn khí khái cất cao lời tranh đấu
*
20. “Ghét Cộng Sản” chẳng bao giờ là xấu
Yêu đồng bào” từ giòng máu Việt Nam
Chúng ta là con cháu xứ Văn Lang
Và thề quyết làm sáng danh Hồng – Lạc
*
21.. Hỡi những người trai, cô gái Việt
Hãy đứng lên vì non nước lầm than
Diệt bá quyền, lật đổ lũ tham tàn
Cho không thẹn với hồn thiêng sông núi
*
22. Hãy bước đi theo tiếng đời thúc gọi
Triệu tấm lòng vì đất nước – quê hương
Sẽ noi gương anh dũng của Trưng Vương
Mang ý chí Diên Hồng xây đắp nền Cộng Hòa tự chủ.
*
TRƯƠNG CHI
CHÙM TÌNH THƠ Cao Mỵ Nhân & Bài Viết “Ở MỘT GÓC PHỐ”
PHÚT TỪ LY CỦA XÃ ĐOÀI. CAO MỴ NHÂN
*
Tôi còn nhớ
Ngày Xã Đoài về phương tây
Có con chim cú mầu hoàng kim rực rỡ
Đậu trên ngọn cây
Thả rơi tiếng kêu
Xót thương người tình lỡ
*
Một bầy quạ mặc áo choàng đen
Hót lên lời sầu muộn
Sau lễ nửa đêm
Xã nằm cô đơn nghe chuông cầu nguyện
Không có ai thân quyến
Không có ai bạn bè*
*
Giờ khắc tử sinh
Tôi co mình trong mộng mị
Xã nhớ tôi không nhỉ
Chắc chắn gọi tên ” Mỵ ”
( Em ở đâu
Sao không đến bên nhau )
*
Ôi, ” mối tình đầu “
Hay giây phút cuối
Lỡ cuộc tình sau
Say mê, đắm đuối
Xã Đoài về phương tây
Đôi mi khép che nỗi buồn tiếc nuối …
*
Hawthorne 22 – 4 – 2022
CAO MỴ NHÂN
BẤY NHIÊU THÔI. CAO MỴ NHÂN
*
Mới sớm tinh mơ
Bầy chim sẻ ngủ ở đầu hồi đêm qua
chưa thức giấc
Vị sư công phu đã lên đường đi hành khất
Trên bình bát để cuốn pháp ký
” Có bấy nhiêu thôi “
Của Ngài Kim Triệu Khippapanono.
*
Tôi là một Phật Tử tình cờ
Chưa bao giờ tụng hết một cuốn kinh mỏng
Chỉ chúi đầu vào những tập tình thơ
Nên cứ băn khoăn dòng chữ :
” I will go with you ” cả đời tôi đơn lẻ
Làm sao có chuyện đồng hành
Nên chỉ muốn đi bên cạnh anh
*
Đi bên cạnh anh
Nhưng anh đang định đi tu
Thì anh cứ việc đi tu
Cứ suy nghiệm bao lý đạo, tình đời
Anh đã có pháp danh là ” Thích Tuyệt Vời ”
*
Tôi rời khỏi đường tu
Nơi trồng toàn hoa vô ưu tưởng tượng
Ngắt đọt lá xanh rờn
dưới tàng cây cao ngất
Nghe lời kệ ” Có bấy nhiêu thôi ”
Vâng, tôi cũng chỉ viết được
Có bấy nhiêu thôi …
*
CAO MỴ NHÂN
KHI HOA ĐÀM NỞ. CAO MỴ NHÂN
*
Bao giờ khói tản đồi mơ
Sương tan dưới lũng, cho thơ mộng về
Tình rồi cũng hết u mê
Gió tha phương cuốn lời thề lên cao
*
Bấy giờ trăng bỏ muôn sao
Cô đơn trôi giữa chiêm bao đất trời
Cây trường sinh suốt cuộc đời
Không hề rụng lá, hoa vời nguyệt tan
*
Thế rồi hồn lịm than van
Thoắt chơi vơi giữa hoang tàn mênh mông
Sô tang gói chặt phiêu bồng
Đưa chân tri kỷ, tiễn hồng nhan đi
*
Ôi chao tử biệt, sinh ly
Là thôi, trả lại từ bi cho người
Ma ma Phật Phật, nụ cười
Đoá ưu đàm nở trên môi muộn màng …
*
CAO MỴ NHÂN
Ở MỘT GÓC PHỐ. CAO MỴ NHÂN
Ông với tôi đúng là một cặp chị em không biên giới, bởi vì nếu đem 2 tờ giấy khai sinh ra đo, rõ ràng chúng tôi không cùng cha mẹ, ông họ Nguyễn, tôi họ Lê, tôi tên Lê Thanh Quỳnh Phương, tạm gọi thế.
Ông nhỏ thua tôi mấy tuổi chả biết, song chẳng cần nhỏ lớn, xã giao thôi, tôi đã giữ vai chị là cái chắc rồi .
Nhưng ngoài những điều nêu trên, đứng giữa cuộc đời, tôi chẳng thể nào làm chị ông được.
Chỉ cần nhận định một số việc từ đơn giản đến phức tạp, ông đã chẳng ngang hàng, mà vượt lên cao, có lẽ gấp …nhiều lần tôi lắm, trong tất cả mọi vấn đề .
Sự kiện không khiến tôi mắc cở, ganh ghét hay vân vân gì khác, mà tôi còn cảm thấy hãnh diện là khác.
Nếu trong võ lâm cổ điển, tôi sẽ xưng tụng ông là ” hiền đệ ” để xoa dịu tự ái của cả hai “chị em” , nhưng đang trong thế giới văn minh, khoa học thế này, rõ ràng ông đáng bậc thầy tôi về kiến thức và phẩm chất phong thái, tính tình .
Nên nếu đúng ra mà nói ông có tư cách của một người …chủ soái .
Song đôi khi tôi mến mộ ông quá, lại gây cho ông những phiền toái tầm thường, mới đáng tiếc.
Và tôi sợ hãi không dám nghĩ thêm, đừng nói viết thêm .
Tôi đã thực sự mất hút một cánh chim trời viễn mộng lâu năm, tôi bỗng giận tôi ghê gớm.
Chao ôi hình ảnh con gà nuốt giây thung là tôi, cảm giác tự mình bức hại mình dù vô tình.
Tôi tìm hũ đậu vàng mà thủa tôi hạnh ngộ nhà báo, bình luận gia tên tuổi lão thành Như Phong Lê Văn Tiến vừa xong tù cải tạo chính trị ở vncs, qua Hoa Kỳ năm 1994, tặng cho tôi.
Sau khi nhà báo lịch duyệt trên, hỗ trợ tôi một vòng đi nói chuyện về ” Dòng Thơ Trong Tù ” nhân dịp bạn lính Cao Mỵ Nhân ra mắt cuốn tạp ghi ” CHỐN BỤI HỒNG ” vào mùa hạ năm 1994 ở San Jose và San Diego .
Hũ đậu vàng đơn điệu, mỗi ngày tôi bỏ vô hũ một hột đậu vàng, kiểu 2 hũ đậu trắng, đen mà người xưa khuyên : Mỗi ngày bỏ vô hũ một hột đậu trắng là đã làm được việc tốt, bỏ vô hũ một hột đậu đen là lỡ làm chuyện xấu .
Cứ ngó vào số đậu trong hũ là rõ mình trắng đen ra sao .
Nhà báo quá cố đó dặn tôi : Nếu chơi hai mầu đen trắng, vẫn có thể gian dối với mọi người và ngay với chính mình .
Còn hũ đậu vàng thôi, như là tự chế ngự nếu đầu óc manh nha làm điều không tốt, hoặc hạn chế những điều không tốt ấy , đánh giá theo yếu tố thời gian.
Như vậy phải bao lâu mới đầy hũ đậu vàng chứ .
Song le, nào có cần chế ngự vv…đâu, khi được thoải mái tự do, con người ta dễ tha thứ cho mình lắm.
Tôi đã bỏ quên hũ đậu vàng quá lâu, nên hôm nay tìm thấy, tất cả hũ đậu đã mọt, tôi đổ vô thùng rác .
Ngồi buồn lại mở báo chí gần xa ra đọc. Không biết ai đã viết vào sổ ghi chép của tôi câu ” Loạn độc thư cao ” .
Thì đúng rồi thời loạn mà đọc sách thì cao giá trị con người ,
” Vạn ban giai hạ phẩm, duy hữu độc thư cao ” .
Chu choa, mọi sự đều thấp kém, chỉ có đọc sách mới cao thượng.
Ông có cách xử thế bình tĩnh, đầy sức ” thuyết phục “, chẳng có chi làm khó bà chị cả …
Đó chỉ là công chuyện bình thường, cần và nên thay đổi chút cho sự việc ở đời lúc nào cũng mới mẻ, tân tiến dễ thành công.
Thay vì làm chị thân thương trong đại tộc nào đó, cũng đòi hỏi lòng vị tha, mới có thể em em, chị chị được chứ .
Tôi có vẻ không vui lắm, tai bỗng ù lên, loáng thoáng nghe được câu : ” chị nói như dỗi ” . Đúng rồi, rõ ràng tôi ru tôi vào cảnh dỗi hờn vô lý nhất .
Chẳng có gì lạ, đối với phụ nữ, thiếu nữ thì đã đành, phụ lão có lúc cũng như trẻ con, tôi ngồi thừ khi ” người em ” đã biến dạng trên đường giây đàm thoại.
Tại sao tôi dở thế ? Không phải dở đâu, mà vì được ưu đãi quá, nay bị hụt hẫng một chút thôi, cứ nghĩ là không vẹn tròn .
Vài hôm sau tôi bình tĩnh lại, tôi lên một cơn cười thú vị, tôi vui tươi thực sự, bình thản thực lòng , tôi viết thư cho người bạn ở xa tít mù xa .
Người bạn xa tít mù xa của tôi lúc nào cũng lặng lẽ, nhưng ông ta sẽ xử dụng ” văn chương ” hồi âm tư tưởng hay là suy nghĩ của tôi thì đúng hơn .
Vị bạn võ lâm trong phong cách tiêu dao đã lần lần kéo tôi ra khỏi đám mù sương, khiến tôi phục quá .
Có phải chúng ta lớn quá rồi , như trái chín sắp vỡ, hay sắp rụng, chúng ta chỉ còn thì giờ ngắm …thành quả thôi, không nên gọi gió lớn gây mưa bão .
Tôi sợ quá, sợ thực sự thời gian dồn dập đến, không còn kịp nở nụ cười bầy tỏ lòng thương yêu chân chính, thành thật .
Nỗi khó không phải ở tha nhân nhìn về, mà khó vô cùng từ chính chúng ta không hiểu rõ chúng ta, rất hồn nhiên, vô tư .
Tôi thầm lặng nhớ nhung anh, và thiếp đi trong giấc ngủ vừa kịp tới .
CAO MỴ NHÂN
CA KHÚC: HƯƠNG VỊ TÌNH – THƠ SA CHI LỆ – Nhạc Duy Tuấn – Ca sĩ Ngọc Châu
BẢN THÁNH CA: LỮ KHÁCH BÌNH AN -Văn Duy Tùng
LỮ KHÁCH BÌNH AN
Bình an là một ân huệ cao quý mà Thiên Chúa tặng ban cho nhân loại. Vì, bình an vừa là trạng thái hạnh phúc sống động lại vừa mang dấu ấn của Chúa Thánh Linh. Thật vậy, khi Chúa Giêsu phục sinh, Ngài chỉ ban cho các tông đồ một “món quà” duy nhất là “Bình an cho anh em”. (Ga 20,19.20.26)
Như thế, bình an là cái mà nhân loại luôn luôn khao khát và mong ước đạt đến, thế nhưng nhân loại sẽ không bao giờ đạt được nếu không có Đấng Phục sinh ban bình an. Thánh Luca đã thuật lại : khi Đức Giêsu hiện ra với hai môn đệ trên đường Emmau với dáng vẻ một lữ khách, nhưng rất bình an, bình an đến độ bình thường nên hai môn đệ không nhận ra Ngài. Khi Chúa lên tiếng hỏi họ : « Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy ? » (Lc 24,17). Chưa được câu trả lời thì Chúa đã bị trách là người đứng ngoài cuộc : « Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giêrusalem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay » (Lc24,18). Vì là khách nên bàng quang, nên không hay biết chuyện gì, chuyện cả thế gian đều biết riêng chỉ có mình ông là không biết… và vì là khách nên hai môn đệ mới mời Đức Giêsu ở lại: « Mời ông ở lại…» (Lc24, 28).
Cũng vậy, Thánh Gioan tường thuật, khi bà Maria Macdala đến mồ Chúa, không thấy Chúa, bà khóc lóc; nhưng khi Chúa đứng trước mặt thì bà lại tưởng là người làm vườn (Ga 20,15). Với Maria, Đức Giêsu chẳng những bình thường mà còn rất tầm thường nữa, bình thường như một người làm vườn và tầm thường như một người lấy cắp xác người chết : « Thưa ông, nếu ông đã đem Người đi thì xin nói cho tôi biết ông để Người ở đâu, tôi sẽ đem Người về. » (Ga20, 15).
Đức Giêsu, không vì là Đấng ban bình an nên Ngài phải bình an. Nhưng vì Ngài đã yêu đến cùng, yêu đến không còn giữ lại cho riêng mình một khoảng cách, một sự khác biệt nào đó để người khác có thể nhận diện. Ngài trở nên bình thường như một lữ khách, như người làm vườn và tầm thường như một người lấy cắp xác. Tuy nhiên, dung mạo của Đức Giêsu dù là bình thường đến tầm thường đi nữa, nhưng chỉ những ai nhìn ở góc độ tình yêu thì mới có thể nhận ra Ngài. Thật thế, hai môn đệ trên đường Emmau không nhận ra Chúa qua giọng nói, hình dáng, quần áo… mà nhận ra Chúa cầm bánh, dâng lời chúc tụng và bẻ ra trao cho họ (Lc24, 30-31). Còn Maria chỉ nghe Chúa gọi “Maria” là đã nhận ra Thầy. Trong tình yêu có những bí mật thật dễ thương là thế.
Nếu Đức Giêsu được xem là một lữ khách bình an, thì hai môn đệ của Ngài là những lữ khách không bình an. Hai môn đệ trên đường trở về quê hương với sự thất vọng đến chán chường, thất vọng vì cho rằng những quyết định của mình là sai lầm, có lẽ các ông tiếc nuối vì đã bỏ công lao, sức khỏe, thời gian đã qua để đi theo một con người và hy vọng người ấy sẽ khôi phục Israel, hy vọng mình sẽ có một chỗ đứng trong vương quốc ấy. Maria cũng thế, chắc hẳn tuyệt vọng lắm, vì chỉ còn cái xác của Thầy thôi mà cũng bị lấy cắp. So với các tông đồ; Maria đơn giản hơn nhiều, bà không hy vọng Thầy khôi phục Israel hay trông đợi Thầy làm việc gì lớn lao vĩ đại, bà cũng không tranh giành chỗ ngồi bên hữu và bên tả Thầy như hai anh em con ông Giêbêđê. Đối với Maria; đơn giản chỉ là tình yêu. Tuy nhiên với bà, tình yêu đối với Chúa Giêsu có phần trở nên ích kỷ, có phần như sở hữu Chúa cho riêng mình, đành rằng bà rất yêu Chúa. Vì thế, Chúa trong tâm trí bà là do bà vẽ nên – một hình ảnh có phần chủ quan mà bà đã yêu thương. Hơn thế, bà muốn giữ mãi tình yêu đó, muốn Chúa ở mãi trong cuộc đời bà theo cách thức của bà, theo một khuôn mẫu bà vạch sẵn… Nhưng Chúa Giêsu là con người cho mọi người và tình yêu của Ngài được dành cho tất cả nhân loại chứ không của riêng ai. Vì Chúa Giêsu không như bà nghĩ, cho nên, dung mạo Chúa Phục sinh đứng trước bà vừa thân thương nhưng lại vừa xa lạ là thế.
Thế thì, các tông đồ, mỗi người suy nghĩ và muốn Chúa thực hiện chương trình cứu độ của Cha theo cách riêng của mình, nên khi không được như ý thì các ông lại không bình an.
Người lữ khách trong bài hát “LỮ KHÁCH BÌNH AN” của tôi là một lữ khách mang dấu ấn của người con được Thiên Chúa yêu thương. Người lữ khách này không đi trên đường về Emmau như hai môn đệ, cũng không trên đường ra mộ Chúa như Maria… mà đang lữ hành trong thân phận làm người, làm con Thiên Chúa của mình, người lữ khách ấy đang lữ hành trên con đường trần gian và đang tiến về miền đất yêu thương vĩnh cửu.
Khi viết bài hát này, hơn bao giờ hết tôi đã cảm nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa và cảm nghiệm rất sâu sắc thân phận làm người của mình, một người con đã ngụp lặn trong thân phận bất toàn và đã cảm nghiệm hơn bao giờ hết nỗi bất lực ấy. Với những ước muốn rất là con người, rất ư tầm thường mà tôi đã viết lên ca khúc; không chỉ cho chính mình, mà cho cả anh chị em đang sống xung quanh, những người cùng đang chia sẻ thân phận làm người và làm con Thiên Chúa với mình và khao khát “BÌNH AN”.
Cũng như hai môn đệ, Maria và các tông đồ… Người lữ khách ấy là tôi, là anh, là nhân loại đang khắc khoải trong cảm giác không bình an của mình. Không bình an vì nhiều nguyên do; với hai môn đệ và các tông đồ, rào cản cho sự bình an là nỗi thất vọng cho một dự tính nhằm vào vương quốc Israel, nhắm vào quyền hành, vào vị thế… rào cản của Maria là một tình yêu không ban phát. Còn tôi, anh và nhân loại… chắc hẳn mỗi người có một vị thế khác nhau trong xã hội, trong Giáo hội nên chắc chắn mỗi người có những rào cản khác nhau khiến chúng ta không bình an.
Ca khúc thể hiện những cụm từ : tiền tài, danh vọng, kiêu căng, ganh tị và đau khổ… xem ra rất quen thuộc và rất tầm thường ấy nhưng lại là rào cản khó vượt cho những ai khao khát sống bình an. Đặt tâm trạng vào bài hát, sẽ cảm nghiệm những tranh giành ảnh hưởng lên nhau đều bắt nguồn từ mưu lợi; là sức mạnh, là tiếng nói có thế giá của con người, của chế độ. Nó có sức chi phối, thậm chí đè bẹp lên vị thế và nhân phẩm của người khác, khiến Thiên Chúa không còn là nguồn bình an, mà trớ trêu thay, trở thành rào cản cho những toan tính của chúng ta.
Những toan tính ấy chắc chắn sẽ chi phối, sẽ biến thái tình cảm : “ganh ghét, giận hờn, so đo…”, là những ngôn từ thể hiện bản chất rất là con người của lữ khách. Nhưng lữ khách của tôi ý thức được những điều ấy không đẹp lòng Chúa, cũng chẳng hợp lòng nhau. Có thể thành công của người này lại là thất bại của người khác, hạnh phúc của mình có khi là đau khổ của những anh chị em khác. Vì thế, lữ khách của tôi tìm về nguồn xuất phát của sự bình an là Thiên Chúa. Phó thác như Chúa Giêsu đã phó thác vào tay Cha, yêu thương như Chúa Giêsu đã yêu thương, và tha thứ như Chúa Giêsu đã tha thứ… tôi nhận thức rằng, tự bản chất “BÌNH AN” của Thiên Chúa và toan tính của thế nhân sẽ loại trừ nhau. “Bình an” phủ định danh vọng, tiền tài, ganh ghét, giận hờn, kiêu căng hay đau khổ; chúng sẽ không tồn tại bên nhau. Tuy nhiên, vì là con người nên “cỏ lùng và lúa” vẫn phải sống chung trong một ruộng của chủ cho đến ngày tận thế.
Còn tôi, là một dân đen, tôi không có tham vọng khôi phục “vương quốc” hay đạt được một vị trí nào đó trong xã hội hay trong Giáo hội… Vì thế, rào cản làm cho tôi không bình an chắc hẳn không phải là tiền tài, vì tôi không có nhiều tiền đến nỗi phải chi phối cuộc sống của người khác, cũng không phải là danh vọng, thế giá, vì tôi có “danh” đâu mà “vọng”, cũng chẳng có vị thế để đứng trên “giá”. Có thể, với tôi là một kiến thức giới hạn, vì có kiến thức là có suy tính, đúng sai, khoa học… và rồi trong tình yêu tôi cũng sẽ phán đoán đúng sai, cách khoa học như thế với Thiên Chúa, với anh chị em quanh tôi. Trong khi thước đo tình yêu là con tim mà con tim thì không cần kiểm chứng bằng khoa học, cũng như thể việc bác ái không cần phán đoán đúng hay sai… Điều mà xem ra rất nghịch lý nhưng lại rất hợp lý đối với tình bác ái, với tình yêu thương…
Điều chắc chắn là Chúa không bảo tôi – trong xã hội này, hôm nay – yêu đồng loại mà không cần có kiến thức. Nếu như bình an và tính toán loại trừ nhau, thì kiến thức và con tim tồn tại song song bên nhau. Con tim cần có lý trí để thể hiện tình yêu cách phải lẽ. Tình yêu và lý trí bổ sung cho nhau, dung hoà lẫn nhau để tạo lòng bác ái, và để từ đó những lời nói xoa dịu những vết thương lòng, để từ đó phát sinh nghĩa cử, vì như Thánh Giacôbê đã nói : “Đức tin không hành động là đức tin chết”.
Xã hội hôm nay có thể nói là một xã hội điện toán, cho nên con người hôm nay là những con người có tính toán; tính như thế nào để có thể tiện lợi, đạt hiệu quả cao nhưng phải rất “nhanh như điện”. Tôi cũng vậy, dù muốn dù không cũng phải sống trong dòng chảy ấy. Và vì thế, trong cuộc sống thay vì tôi phải nằm trong chương trình của Thiên Chúa, phải là công cụ để Chúa điều khiển cho công trình cứu độ của Ngài, phải là người để được Thiên Chúa yêu thương, thì tôi lại đặt Thiên Chúa vào trong chương trình của tôi, vào sự sắp xếp của tôi, tôi chỉ dành riêng cho Chúa một góc trong tâm hồn và một khoảng thời gian giới hạn để gặp gỡ. Nhưng khoảng thời gian gặp gỡ ấy mấy khi được trọn vẹn và ở bên Ngài như ở bên một người xa lạ.
Bài hát “LỮ KHÁCH BÌNH AN” thấm đẫm tâm hồn tôi, vì những tính toán xem ra rất nhỏ nhoi ấy lại là rào cản rất lớn cho bước chân tôi đến với Chúa, đến với với tha nhân. Lời của ai đó làm tôi nhớ mãi : « Đừng thấy nhỏ nhoi mà tưởng trong nó thứ gì cũng nhỏ ». Thật vậy, tội nhỏ mà tôi thường gọi là tội nhẹ, cũng như những tật xấu cỏn con mà tôi xem thường, thật ra, có sức công phá mãnh liệt, và nếu không lưu tâm sẽ có thể làm tôi quỵ ngã bất cứ lúc nào.
Lời bài hát như vừa là một lời thầm nguyện cầu, như vừa khắc khoải sâu lắng từ trong cõi thâm sâu của tâm hồn, như vừa là một bài học nhắc nhở tôi luôn ở lại trong tình yêu của Thiên Chúa là suối nguồn bình an. Nơi ấy, tôi học được bài học phó thác, yêu thương; tôi hiểu được Thiên Chúa sẽ hoàn tất công trình cứu độ của Ngài trên sự yếu đuối, bất toàn của tôi và của anh chị em sống bên tôi.
Xin mời Bạn cùng với tôi, chúng ta hãy bắt đầu nhón gót để làm người “LỮ KHÁCH” bước đi trong “BÌNH AN” cuộc đời.
Xin mở link youtube dưới đây để nghe bài hát LỮ KHÁCH BÌNH AN qua giọng hát của nam danh ca Phan Đinh Tùng, và diễn ảnh do Trúc Tiên thực hiện : https://youtu.be/8JMb6HTO1lA
Văn Duy Tùng
Bữa Ăn Một Mình – Cố Văn Sĩ HUY PHƯƠNG
Nhà văn Huy Phương đã ra đi nhưng còn để lại đời những bài viết rất đồng điệu, thấm thía.
********
Hiện nay tôi đang sống với gia đình cô con gái út. Cháu có một gái đã trưởng thành sống ở tiểu bang khác và một cháu trai đang học năm cuối của trung học. Chồng cháu thỉnh thoảng phải đi làm xa. Hai vợ chồng tôi đã đến tuổi già gần đất xa trời, nên thời khắc biểu của những thành viên trong gia đình rất khác nhau, nên ít khi chúng tôi ngồi lại cạnh nhau cùng ăn chung một bữa cơm. Buổi sáng thức dậy trễ, thì con cái đã đi làm, cháu đã đến trường, vợ thì luẩn quẩn ở sau khu vườn nhỏ, đành ngồi ăn sáng một mình. Buổi tối, thấy cơm canh đã sẵn sàng nhưng chưa thấy ai sẵn sàng cùng ăn với mình. Gọi vợ thì vợ bảo:
“Ông cứ ăn đi, tôi mới ăn củ khoai, còn ngang bụng!”
Gọi con thì con thưa: “Ba cứ dùng cơm đi, con đang bận tay!”
Ðứa cháu thì khi hiện khi biến, chẳng mấy khi gặp mặt, có khi ăn ở trong bếp hay đem phần ăn lên phòng riêng để có sự tự do một mình.
Tôi muốn có những bữa ăn đông người, vui vẻ, có tiếng cười nói rộn ràng, nhưng thường là phải ăn những bữa ăn một mình. Bữa ăn một mình thì đâu cần đến mâm bàn dọn ra ngay ngắn, tươm tất, sao cũng cho xong một bữa ăn. Một tô cơm trộn thức ăn, và một cái muỗng, ngồi trước máy computer hay trước máy truyền hình.
Bạn có nghĩ một bữa ăn như thế có dễ tiêu hoá, có lợi cho sức khoẻ hay không? Và một bữa ăn như thế có buồn không?
Tôi không bao giờ quên được những bữa ăn gia đình thời thơ ấu. Tất cả mọi người trong gia đình đều chờ nhau vào mâm cơm một lượt, dù là buổi sáng giờ trưa hay bữa chiều tối. Bữa cơm có cả ông bà nội, cha mẹ, cả anh chị cùng mấy đứa em nhỏ, kể cả thành viên nhỏ bé của đại gia đình là con mèo vàng luẩn quẩn chờ miếng ăn trong lòng bà nội tôi.
Rồi thời gian qua đi, kẻ còn, người mất, gia đình mỗi người một nơi. Tôi lớn lên, tạo lập một gia đình nhỏ, có những bữa ăn sum họp gia đình, nhưng không quên được những người đã đi xa, không còn hiện diện trên cuộc đời này nữa.Rồi chiến tranh, tù đày, xô đẩy con người mỗi người đi mỗi hướng.
Trong một trại tù nào đó, trên cái chõng tre tập thể, hay bữa trưa ngoài bìa rừng, tôi ngồi dùng đũa đếm những hạt ngô bung, xót xa nhớ đến những bữa cơm gia đình. Khi tôi từ nhà tù trở về, thì bữa cơm không còn là bữa cơm nữa. Con tản mát, vợ chạy gạo mỗi ngày, nồi cơm lạnh lẽo trên bếp, ai thấy thì ăn.
Thời Cộng Sản vào nhà, không còn hai chữ “sum họp,” cũng chẳng còn câu “ngồi lại với nhau.”
Ra hải ngoại, thì cái văn hoá “bữa cơm gia đình” cũng đã mờ nhạt. Ly cà phê bữa sáng trên xe, cái hamburger cùng ly coke vào giờ lunch và những buổi tối về nhà trong giờ giấc trước sau không đồng nhất. Phải chờ đến những ngày Lễ Tết, sinh nhật, cha con, anh chị em họa hoằn mới có dịp ngồi lại trong những bữa tiệc cuối tuần.
Các bạn còn trẻ có lẽ chưa cảm nhận được nỗi buồn khi phải ngồi ăn một mình. Thức ăn có ngon đến đâu, bổ dưỡng đến đâu mà không “dịch vị” của tiếng cười, niềm vui, chỉ còn “gia vị” của cô đơn, buồn nản, thì bữa ăn ấy chỉ còn là bổn phận ăn để sống.
Chính các vị y sĩ cũng đã khuyên người già “ăn uống phải có bạn, nên ăn chung với gia đình hay con cháu. Về phần con cháu, cũng không nên để cho cha mẹ mình ăn uống trong cô đơn buồn tẻ, vì khi ăn một mình, sẽ kém vui, và ăn ít đi, không tốt cho sức khoẻ. Sự cô đơn sẽ làm miếng ăn thêm cay đắng.”
Rõ ràng là tâm lý đã tác dụng vào sinh lý. Dù đau yếu, suy kiệt, mòn mỏi nhưng tôi vẫn nghĩ rằng những người sống chung với con cháu, hay còn vợ chồng có khả năng sống lâu hơn là những ông bà cụ già hiện đang sống một mình trong những căn phòng lạnh lẽo của những căn “nursing home.”
Trong nhà dưỡng hưu, tôi đã thấy những bữa cơm gọn gàng trong những cái khay nhỏ do nhà bếp đưa đến tận giường, để cả giờ nguội lạnh mà các ông bà vẫn chưa muốn ăn.
Tôi đã đến thăm nhà thơ Nguyễn Chí Thiện lẻ loi trong căn nhà già ở Santa Ana lúc ông chưa vào bệnh viện. Lúc ấy vào buổi xế trưa, mà từ sáng đến giờ, nồi cơm điện còn nguyên chưa được xới ra trên bếp, thức ăn còn để lạnh ngắt trong tủ lạnh. Ông thú nhận là ông không muốn ăn, mà chỉ ăn vì “nghĩa vụ,” một nghĩa vụ nặng nề! Chung quy cũng vì nỗi buồn cô đơn, thui thủi một mình.
Keith Ferrazzi, tác giả cuốn sách “Ðừng bao giờ đi ăn một mình (Never eat alone) không nói về sự cô đơn mà nói về sự giao tiếp đưa đến sự thành công và hạnh phúc cho cuộc sống.
Chúng ta không bàn đến chuyện “ăn một mình” theo lối này.
Ðã đi hết một chặng đường dài, đã lo toan cho mọi thứ, nhưng cuối cùng tuổi già cô độc bên mâm cơm, lặng lẽ một mình.
Những bậc cha mẹ già không mong con tặng quà, phải chi con ghé nhà thăm, ngồi ăn với cha hay mẹ một bữa cơm, nói cười như thuở ấu thơ.
Huy Phương