Dịch Giả THÁI NỮ LAN Sưu Tầm: HƠN 100 NĂM SAU VẪN BỒI HỒI ‘TÔI ĐI HỌC’ 

HƠN 100 NĂM SAU VẪN BỒI HỒI ‘TÔI ĐI HỌC’ 

(FaceBook Minh Tự)

“Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường…”.

Tui đọc được bài đó từ nhỏ. Đến khi lấy chồng mới biết ông nhà văn đó là ba chồng mình thì vui lắm.

Bà Nguyễn Thị Quýt (con dâu nhà văn Thanh Tịnh)

———

Đó là đoạn mở đầu bài văn Tôi đi học của nhà văn Thanh Tịnh thường được nhắc đến mỗi khi bắt đầu năm học mới. Nếu tính từ ngày đầu đi học của nhà văn (sinh 1911), “buổi mai hôm ấy” đến nay cũng đã hơn 100 năm. Một ngày đầu tháng 9, chúng tôi tìm lại ngôi trường làng 100 năm trước cậu học trò Trần Thanh Tịnh đã khởi đầu với bài Tôi đi học.

Nhà văn Thanh Tịnh sinh ra ở xóm Gia Lạc thuộc làng Dương Nỗ, một làng quê ngoại ô phía đông thành Huế. Nhà nghiên cứu Trần Đại Vinh, người làng Dương Nỗ, cũng là người hiếm hoi biết về thời niên thiếu của nhà văn Thanh Tịnh. 

Ông Vinh cho hay ngôi trường Mỹ Lý trong truyện ngắn Tôi đi học là ngôi trường trong trí tưởng tượng bay bổng của nhà văn. Và làng Mỹ Lý mà ông viết trong rất nhiều truyện ngắn in trong tập Quê mẹ (1941) cũng là cái tên làng trong văn chương. 

Vậy ngôi trường tiểu học, nơi cậu bé Trần Thanh Tịnh (lúc nhỏ có tên là Trần Văn Ninh) bắt đầu đi học là trường nào?

Đó là ngôi trường mà Thanh Tịnh miêu tả rất thực trong bài thơ Trường học làng tôi mà ông đã làm vào năm 19 tuổi: Trường học làng tôi ở cạnh đình / Một trường ba lớp vẻ xinh xinh / Trước trường có mấy cây đào lớn / Thường quyến lòng tôi những cảm tình / Trường tôi mặt trước ngó ra sông / Còn mặt đằng sau ngó cánh đồng… 

Nhà nghiên cứu Trần Đại Vinh xác định ngôi trường đó là trường tiểu học của làng Dương Nỗ xưa. Thuở đó, người ta lấy khu nhà tăng của đình làm trường làng. 

Chúng tôi tìm đến đình Dương Nỗ, ngôi đình đẹp nổi tiếng ở xứ Huế, xây dựng từ đời vua Lê Thánh Tông (1471), tọa lạc bên dòng sông Phổ Lợi, đã được công nhận là di tích cấp quốc gia.

Người làng không còn ai biết về ngôi trường này, nhưng nhắc đến bài Tôi đi học thì ai cũng gật đầu “có biết, có biết”.

Từ lời tự sự của Thanh Tịnh trong bài thơ Trường học làng tôi, ráp nối với các tư liệu về cuộc đời ông, có thể hiểu rằng ông học ở trường này ba năm đầu tiểu học, sau đó lên học tiếp ở Trường tiểu học Đông Ba, rồi học trung học ở Trường Pellerin ở cạnh ga Huế. 

Nhà nghiên cứu Trần Đại Vinh cho biết ngôi nhà của nhà văn Thanh Tịnh ở xóm Gia Lạc, nằm ngay chỗ bây giờ đã giải tỏa để xây cầu Chợ Dinh. Mỗi buổi mai, cậu học trò Trần Thanh Tịnh đi bộ từ đó, theo con đường ven sông Phổ Lợi về trường làng Dương Nỗ.

Chúng tôi trở lại và đi trên con đường đó để hình dung con đường đi học năm xưa của Thanh Tịnh. Con đường mà ông đã viết: “Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: hôm nay tôi đi học”.

Năm 1946, Thanh Tịnh lúc đó là tổng thư ký Hội Văn hóa cứu quốc Trung Bộ, ra Bắc dự đại hội thì kháng chiến bùng nổ, ông gia nhập quân đội, rồi làm đến chủ nhiệm tạp chí Văn Nghệ Quân Đội và sống một mình đến khi mất (1988). 

Ít ai biết rằng trong ngôi nhà bên bờ sông Hương ở xóm Gia Lạc, ông từng có một gia đình với vợ và hai con. Người con gái tên là Mỹ Lý, cái tên làng trong truyện Tôi đi học của ông. Người con trai tên là Trần Thanh Vệ, vừa mới qua đời năm ngoái ở Huế.

Nhắc đến bài Tôi đi học, bà Quýt nói ngay: “Bài đó không ai mà không biết. Tui đọc được bài đó từ nhỏ, đến khi lấy chồng mới biết ông nhà văn đó là ba chồng mình thì vui lắm”. 

Đàn con của bà thì đã gặp và sống với ông nội, nhưng đàn cháu thì sinh ra khi ông cố đã mất. “Bây giờ con cháu tôi ở Nha Trang, Sài Gòn, cả nước ngoài. 

Đứa mô cũng thuộc bài Tôi đi học và tự hào về ông nội, ông cố lắm”, bà Quýt nói.

Nhà thơ Mai Văn Hoan – nhà giáo dạy văn nổi tiếng ở Huế – cho rằng ngôi trường ấy dù là trong trí tưởng tượng nhưng Tôi đi học lại giống như một mẩu hồi ức hơn là truyện ngắn. 

Bởi vì nhà văn đã diễn tả chân thực và chi tiết diễn biến của cậu bé lần đầu tiên cắp sách đến trường. 

Đó là cái buổi sáng “đầy sương thu và gió lạnh”. 

Đó là con đường thân quen mà “cảnh vật chung quanh đều thay đổi”. 

Kể cả chiếc áo “vải dù đen dài” đang mặc, cái giật mình khi nghe thầy giáo gọi tên, cảm giác lần đầu rời xa mẹ… đều được tái hiện cặn kẽ. 

“Chỉ một là mẫu hồi ức thôi mà làm rung động trái tim bao thế hệ độc giả” – thầy Hoan nói.

Minh Tự

—————

1) Di ảnh nhà văn Thanh Tịnh 

2) Đường Thanh Tịnh ở Huế. Từ đây đi theo con đường làng Lại Thế sẽ đến xóm Gia Lạc của Thanh Tịnh. (Ảnh Minh Tự)




THƠ TRẦN CÔNG/LÃO MÃ SƠN: Hè Trên Đất Khách

HÈ TRÊN ĐẤT KHÁCH

Mùa Xuân tàn, trở thành dĩ vãng
Thay thế Xuân, thời tiết sang Hè.
Rừng Phong vang vội tiếng nhạc Ve
Cỏ cây hoa lá tàn phai sắc
Phố vắng người đi, ngập lá me.
Người lữ khách, nhớ Hè quê Mẹ
Nhớ thuở còn cắp sách đến trường.
Mỗi độ Hè là mùa hoa Phượng
Tuổi mười lăm, tình yêu chớm nở
Nhặt cánh phượng ướp vào tập vở
Làm kỷ vật tặng người yêu trẻ
Để nhớ nhau hai tháng nghỉ Hè.

*

Rời nhà trường, xa cây Phượng đỏ
Những kỷ niệm thời tuổi học trò
Theo thời gian dĩ vãng vùi  chôn
Gái trưởng thành, cất bước theo chồng
Trai đầu quân chống giữ non sông
Mỗi độ Hè về trên đất khách
Tôi nghe lòng thương nhớ mênh mông!

Hoa Đô (Lockwood House)
Trần Công/ Lão Mã Sơn.




SƯƠNG LAM Sưu Tầm: CHUYỆN BỐN PHƯƠNG

LỜI NHẮN GỬI TỪ MỘT NGƯỜI BẠN

Một tiếng gõ cửa lớn vang lên. Cậu bé ra mở cửa. Một người đàn ông lạ mặt xuất hiện trong một bộ quần áo nhàu nát. Anh ta cười, trên tay mang một chiếc giỏ đầy thức ăn cho ngày lễ tạ ơn.

Cả gia đình rất đỗi ngạc nhiên. Người đàn ông nói: “Món quà này từ một người biết các bạn đang cần và mong muốn các bạn hiểu rằng các bạn được quan tâm và yêu mến”. Lúc đầu ông bố không muốn nhận, nhưng người đàn ông nói: “Tôi chỉ là người mang đến hộ”. Và anh ta đặt chiếc giỏ vào tay cậu bé đang đứng gần cửa rồi quay đi.

Vào giây phút đó, cuộc đời của cậu bé đã thay đổi vĩnh viễn. Qua hành động đơn giản của lòng tốt đó cậu bé hiểu rằng có nhiều người – kể cả “người không quen biết” – thật sự quan tâm. Cậu cảm thấy biết ơn vô hạn và hứa với lòng mình rằng một ngày nào đó cậu sẹ tặng những người khác bằng cách tương tự. Vào năm 18 tuổi, chàng trai trẻ bắt đầu thực hiện lời hứa. Với thu nhập ít ỏi của mình, anh chạy đi mua thức ăn, rau quả và bánh kẹo, không
phải cho bản thân mà cho hai gia đình nghèo mà anh biết họ rất cần. Anh lái xe đi tặng những giỏ thức ăn trong bộ quần áo cũ như thể anh là người giao hàng. Khi anh đến căn nhà dột nát đầu tiên, anh gặp một người phụ nữ nhìn anh đầy vẻ nghi ngờ. Cô ta có sáu đứa con.

Chàng trai trẻ nói: “Tôi mang hộ những thứ này đến cho bà”. Anh mang ra những giỏ thức ăn và bánh kẹo. Người phụ nữ sửng sốt. Còn lũ trẻ thì reo lên sung sướng. Bà mẹ trẻ ôm lấy chàng trai và hôn anh ta. Cô ta lắp bắp: “Anh đúng là món quà của Thượng đế. Thượng đế đã phái đến!”.

“Không, không-Chàng trai nói-Tôi chỉ là người giao hàng. Đây là món quà từ một người bạn”. Anh chìa cho người phụ nữ một mẫu giấy trên đó viết: “Đây là một lời nhắn gửi từ một người bạn. Bạn và gia đình bạn xứng đáng có nó. Hãy biết rằng bạn được yêu thương. Và một ngày nào đó, nếu bạn có cơ hội, hãy làm điều tương tự đối với những người khác”.

Chàng trai trẻ tiếp tục mang những giỏ thức ăn cho nhiều người khác. Anh cảm thấy vui sướng và tràn đầy thương yêu. Mỗi lần anh quay ra từ một căn nhà, anh cảm thấy rất xúc động. Khi ngoái đầu nhìn lại, những gương mặt tươi cười của những người anh đã giúp đỡ, anh cảm thấy “Cái ngày khủng khiếp” trong quá khứ đã dẫn dắt anh đến một cuộc sống đầy ý nghĩa.

Chắc các bạn cũng muốn biết chàng trai trẻ trong câu chuyện trên là ai và hiện có đang tiếp tục thực hiện lời hứa của mình hay không. Chàng trai trẻ đó chính là Anthony Robbin, hiện là người sáng lập và chủ tịch của Anthony Robbin Companies, một công ty nổi tiếng trong lãnh vực tư vấn phát triển tài năng. Robins đã tư vấn về phát triển tài năng cho rất nhiều lãnh đạo cấp cao, cho rất nhiều công ty như IBM, AT&T, American Express, McDonnell-Douglas và US Army cũng như nhiều câu lạc bộ thể thao chuyên nghiệp Los Angeles Kings và nhiều vận động viên đoạt huy chương vàng Olympic.

Với ước nguyện của mình, anh luôn luôn dành nhiều thời gian, công sức và tiền bạc để giúp đỡ rất nhiều người vượt qua khó khăn và số phận khắc nghiệt. Năm 1991, anh thành lập tổ chức từ thiện Anthony Robbins để giúp những trẻ em khuyết tật, những người vô gia cư, những người già. Cho đến nay, với thu nhập hàng năm lên đến nhiều triệu USD, Anthony Robbins vẫn cùng những người thân trong gia đình và cả một đội ngũ đông đảo những người tình nguyện đi tặng những món quà cho hơn 10.000 gia đình trong 400 cộng đồng khác nhau ở Mỹ và Canada.

Anthony Robbins vẫn được biết đến với cái tên Tony Robbins. Sinh ngày 29 tháng 2 năm 1960 tại bang California của Hoa Kỳ. Ông là một tác giả, doanh nhân, nhà từ thiện và là một trong những nhà huấn luyện về thành công hàng đầu trên thế giới. Là người sáng tạo ra hệ thống phát triển cá nhân chuyên nghiệp số một ở mọi thời đại, Robbins đã được Accenture trao giải là “Top 50 Trí Tuệ Kinh doanh Trên Thế Giới”. Amerian Express bình chọn ông là một trong 6 nhà lãnh đạo kinh doanh hàng đầu thế giới và International Chamber of Commerce chọn ông là “Top 10 người xuất sắc nhất thế giới”. Robbins là một trong 6 chuyên gia tư vấn được yêu thích nhất theo khảo sát của American Express (chuyên gia huấn luyện chuyên nghiệp duy nhất).

Cuộc sống là một món quà, và tất cả chúng ta khi có khả năng phải nhớ rằng chúng ta có trách nhiệm cho lại những người khác. Hãy cùng nhau giúp những người kém may mắn hơn có những gì tốt hơn trong cuộc sống.

Đó chính là “Lời nhắn gởi từ một người bạn”.

Ảnh trên:

Anthony Robbins vẫn được biết đến với cái tên Tony Robbins. Sinh ngày 29 tháng 2 năm 1960 tại bang California của Hoa Kỳ.

———-

#Câu chuyện bốn phương 




PHẠM PHAN LANG: Thầy Tư. Tác Phẩm Việt Ngữ và Anh Ngữ

Thầy Tư

Vào đêm Giao Thừa Tết Âm Lịch năm 1952, khi tôi vừa tròn hai tuổi, tôi suýt chút nữa thì không qua khỏi. Dĩ nhiên, tôi không nhớ rõ lắm về chuyện đó, nhưng Mẹ đã kể đi kể lại nhiều lần đến mức tôi có cảm giác như mình đã chứng kiến tất cả.

Lúc đó, tôi bị bệnh sởi rất nặng. Các thầy thuốc Trung Hoa kê đủ loại thuốc, nhưng tình trạng của tôi chẳng cải thiện chút nào, càng ngày càng tệ hơn. Tuyệt vọng, ba mẹ tôi đành đưa tôi đi gặp các bác sĩ Tây y. Vị bác sĩ cuối cùng, vào đúng ngày trước Tết Nguyên Đán, khuyên ba mẹ tôi đưa tôi về nhà vì “không còn hy vọng gì nữa.” Ý của ông rõ ràng là tôi sắp chết.

Hồi đó, các nhà tang lễ chưa phổ biến, nên tục lệ là giữ thi hài ở nhà để người thân, bạn bè và hàng xóm đến viếng. Nhưng Tết là dịp mọi hoạt động phải ngừng lại trong sáu ngày, nên Ba phải vội vã lo sắm một cái hòm cho tôi trước khi các cửa hàng đóng cửa. Tệ hơn nữa, có lẽ không có gì xui xẻo hơn là có một người chết trong nhà ngay dịp Tết.

Tôi hầu như bất tỉnh và quá nhỏ để hiểu được chuyện gì đang xảy ra, nhưng rõ ràng là ba mẹ tôi đang đối diện với một tình huống kinh khủng, khi vừa phải lo cho tôi, vừa phải lo tránh đại họa xui xẻo trong dịp năm mới.

Và rồi, một phép màu đã bắt đầu…

Một người bạn của gia đình đến thăm. Người này nói với Ma rằng có một ông thầy pháp tên Thầy Tư sống ở một làng quê cách nhà khoảng mười dặm. Có thể ông ấy sẽ cứu được tôi, vì tiếng tăm của ông đã vang xa. Không chần chừ, Mẹ bọc tôi lại và ngay lập tức đưa tôi đến chỗ ông. Ba phải ở nhà lo cho hai anh trai tôi và làm lễ mời tổ tiên về ăn Tết trên bàn thờ.

Khi chúng tôi đến, đã khoảng 6 giờ tối đêm Giao Thừa. Sau khi khám cho tôi, Thầy Tư bắt đầu “trị liệu” ngay. Ông viết vài chữ Hán trên một tờ giấy trắng đặc biệt, đặt lên người tôi, rồi bắt đầu đọc kinh cầu nguyện để trừ tà ma đang ám tôi. Sau đó, ông đốt tờ giấy, bỏ tro vào nước mưa mà ông đã hứng sẵn và cho tôi uống. Nếu tôi còn tỉnh táo, chắc chắn tôi sẽ khóc thét lên vì sợ!

Tiếp theo, ông sai người giúp việc hái một nhánh cây dâu trong vườn. Với nhánh cây nhỏ đó, ông gõ nhẹ lên toàn bộ cơ thể tôi, như thể đánh đuổi con ma quỷ đang bám lấy tôi. Sau cùng, ông dùng một cây bút nhọn đặc biệt, chấm vào mực xăm và xăm một dấu chữ thập ngay giữa trán tôi.

Ông còn làm cho tôi một cái vòng cổ, dây làm bằng những sợi chỉ màu được xoắn chặt, và mặt vòng là một miếng vải vuông khoảng hai inch. Miếng vải thực ra là một chiếc túi nhỏ chứa “vật thiêng” bên trong để trừ tà. Tôi không bao giờ biết bên trong đó có gì vì nếu mở ra sẽ phá hủy nó. Thầy dặn Ma rằng tôi phải đeo vòng này suốt, trừ khi tắm, lúc đó phải để nó ở nơi sạch sẽ. Ông cũng khuyên không nên cho tôi đi dưới dây phơi quần áo, vì theo ông, đó là thứ dơ bẩn có thể chứa khăn vệ sinh của phụ nữ. Thầy còn cảnh báo rằng dấu thập trên trán tôi phải được giữ mãi mãi, không được xóa, vì làm vậy có thể nguy hiểm đến tính mạng.

Sau tất cả, Thầy bảo Mẹ đưa tôi về. Vì không thấy có dấu hiệu thay đổi nào nên Mẹ do dự, nhưng Thầy trấn an: “Đừng lo, cô bé sẽ ổn thôi.” Mẹ vẫn không tin, nài nỉ được ở lại đến khi tôi tỉnh dậy, nhưng Thầy nói: “Tôi chắc chắn cô bé sẽ khỏi. Nếu không, nếu cô bé chết, bà cứ việc mang xác đến quăng giữa nhà tôi vào đúng ngày Tết.” Nghe đến thế, Mẹ chẳng còn làm gì được ngoài việc mang tôi về và chờ đợi.

Và vào đúng nửa đêm Giao Thừa, tôi tỉnh dậy, ngồi dậy, đứng lên, cười tươi như thể chưa từng bị bệnh. Ba mẹ tôi, cả gia đình và hàng xóm đều kinh ngạc và vui mừng. Sáng sớm hôm sau, Mẹ quyết định đưa tôi trở lại nhà Thầy để cảm ơn. Mẹ kể rằng tôi lúc đó nói khá rõ ràng dù mới hai tuổi, và dù chẳng biết Thầy đã làm gì, khi vừa thấy ông, tôi chạy đến và nói: “Thầy của con!”

Từ đó trở đi, năm nào Mẹ cũng đưa tôi đến gặp Thầy Tư vào dịp Tết để lấy vòng cổ thay thế. Điều này kéo dài cho đến khi tôi kết hôn, chín năm sau khi nhận chiếc vòng cuối cùng. Sau khi tôi không còn đeo vòng chỉ màu, Mẹ tặng tôi sợi dây chuyền vàng có mặt Quan Âm bằng ngọc, mà tôi đeo trong nhiều năm cho đến khi bị mất khi trốn khỏi quê hương vào ngày 29/4/1975 sau khi miền Nam rơi vào tay Cộng Sản.

Những chuyến đi thăm Thầy Tư luôn đầy ắp tiếng cười và niềm vui. Tôi được tha hồ chạy nhảy trong khu vườn rộng lớn, leo trèo cây xoài, cây ổi, chơi đùa với lũ trẻ khác, mà nhiều đứa cũng từng được Thầy cứu sống. Nhà Thầy lúc nào cũng có đầy đồ ăn ngon, quà biếu từ những người mẹ biết ơn như Mẹ.

Dĩ nhiên, tôi ghét cái vòng cổ và hình xăm trên trán mà Thầy đã làm cho tôi. Chúng xấu xí và khiến tôi khác biệt, đến mức bạn bè thường trêu chọc. Đến giờ, tôi vẫn còn giữ hình xăm đó—dấu ấn của sự sống. Hồi nhỏ, tôi thường để mái che đi, còn giờ thì dùng phấn che lại, nhưng dấu đó vẫn sẽ luôn ở đó.

Thật không may, Mẹ không hoàn toàn từ bỏ các thầy thuốc Bấc. Họ có thể chế ra những loại thuốc nước khó uống nhất trên đời. Mỗi khi tôi có triệu chứng bệnh, Mẹ lại vội vã đun sẵn những thứ thuốc Bắc kinh khủng đó. Dù tôi có chống cự thế nào, Ba và các anh trai thường phải giữ tay chân tôi để Mẹ đổ thuốc vào miệng. Đổi lại, tôi thường được dỗ dành bằng kẹo hoặc chuối để ngưng khóc.

Giờ đây, tôi hiểu tại sao Mẹ lại lo lắng cho sức khỏe của tôi đến vậy, mặc dù từ lúc hai tuổi, tôi ít khi bị bệnh. Tuy nhiên, nỗi ám ảnh về thuốc vẫn đeo bám tôi đến tận bây giờ, đặc biệt là thuốc nước. Tôi thà chịu đau đầu cả đêm còn hơn là uống thuốc, vì chỉ cần nhớ đến hương vị là đủ khiến tôi lạnh sống lưng.

Mẹ đã qua đời hơn 17 năm, và nỗi nhớ Mẹ trong tôi vẫn không nguôi ngoai.

Phạm Phan Lang
23/11/2020

==========

Tiếng Anh

The Shaman

On Lunar New Year’s Eve in 1952, at the tender age of two, I almost didn’t make it. Of course, I don’t remember much of the ordeal, but Me retold the story so many times that it feels like I was there for every moment.

I had a severe case of the measles. The Chinese doctors prescribed medicines, but nothing worked. In fact, I just got worse and worse. My desperate parents then turned to Western doctors. The last one, on the day before Lunar New Year, advised my parents to take me home because there was nothing more that could be done. To him, it was clear—I was going to die.

In those days, funeral parlors weren’t common, and the tradition was to keep the body at home so family, friends, and neighbors could come and pay their respects. But there was a catch: Lunar New Year celebrations shut everything down for six days. Ba had to rush to get a coffin for me before everything closed, as the mere thought of having a dead body in the house during the New Year was seen as the worst omen imaginable.

I was mostly comatose and blissfully unaware of all the chaos swirling around me. But my parents? They were facing the prospect of not only losing a child but also bringing catastrophic bad luck to the family during the most important holiday of the year.

Then, just as hope seemed to be fading, a miracle knocked at our door.

A family friend paid us a visit. This friend told Mẹ about a shaman, called Thầy Tư, who lived about ten miles away in a small country village. The Shaman had a reputation for healing people, and maybe, just maybe, he could help me. Without a second thought, Mẹ bundled me up and off we went, leaving Ba behind to tend to my two older brothers and perform the ritual to invite our ancestors to the family altar for the New Year.

When we arrived at the Shaman’s home, it was about 6 PM on Lunar New Year’s Eve. The moment he saw me, he sprang into action. He scribbled Chinese characters on a piece of special white paper, laid it over my body, and began chanting prayers to drive away the bad spirit that had possessed me. Then, as if things couldn’t get any stranger, he burned the paper, mixed the ashes into a cup of rainwater, and made me drink the concoction. If I’d been conscious, I probably would have protested!

Next, he fetched a small branch from a berry tree in his yard and gently “beat” my body with it, as if driving out whatever evil was clinging to me. He capped off the session by tattooing a cross in the middle of my forehead using a sharp, pen-like tool dipped in ink. And then, as a parting gift, he made me a necklace. It was a colorful, twisted thread necklace with a two-inch square pouch attached. The pouch contained “mystical” ingredients I wasn’t allowed to peek at, but it was designed to ward off evil spirits.

Mẹ was instructed that I had to wear the necklace at all times—except during baths—until I turned ten. Oh, and I wasn’t allowed to walk under clotheslines because, according to the Shaman, they were considered impure. The cross tattoo, he warned, must never be removed; doing so would risk my life.

Despite all this, there was no immediate change in my condition. Me was understandably skeptical and wanted to stay until something—anything—happened. But the Shaman, calm as ever, reassured her: “Don’t worry, she will be alright.” Seeing Me’s lingering doubt, he added, “If she isn’t cured and dies, feel free to bring her dead body back and throw it into the middle of my home on New Year’s Day.”

With no other option, Me brought me home and waited.

And just as the clock struck midnight, I woke up. Not only that—I sat up, stood up, smiled, and acted as if I hadn’t been sick a day in my life. It was a miracle! My parents, family, and neighbors were all amazed. The next morning, Me rushed me back to the Shaman, not out of fear this time, but to thank him. Me told me that even though I was only two years old, I ran up to him, hugged his legs, and declared, “You are my dear Master!”

For years after that, Me would take me to visit Thầy Tư every Lunar New Year to receive a replacement necklace. This continued until the year I got married, nine years after I had worn the last necklace. By then, I had outgrown the thread necklaces, and Me gave me a beautiful gold necklace with a jade Quan Yin pendant. Sadly, I lost that necklace when I fled my homeland on April 29, 1975, during the fall of South Vietnam.

I still remember those yearly visits fondly. While Me would chat with the Shaman, I’d run wild on his enormous property, climbing mango and guava trees, splashing in the stream, and playing with the other children—many of whom had also been “saved” by this mystical man. His house was always filled with delicious food, gifts from grateful mothers like Me.

Of course, I despised that ugly thread necklace and the cross tattoo on my forehead. They made me stand out in all the wrong ways, and my friends never missed an opportunity to tease me. Even today, the tattoo remains—my little life mark. The survivor’s badge. As a child, I’d try to hide it under my bangs. Now, I cover it with makeup, but it’s always there.

Sadly, Me never completely abandoned her faith in Chinese medicine. From that point on, at the first sign of illness, she would rush to prepare those awful, bitter concoctions. No matter how much I resisted, my father and brothers would hold me down while Me poured the revolting liquid down my throat. Usually, I got candies or bananas afterward to stop me from crying too much, but the trauma stuck.

I now understand why Me was so protective of my health, though fortunately, I rarely got sick again after that. However, her overzealousness gave me a lifelong phobia of taking liquid medicine. To this day, I’d rather endure a headache all night than take anything for it, simply because the taste brings back too many memories.

Me has been gone for over seventeen years now, and I miss her more than words can say.

Pham Phan Lang
11/23/2020




GIAO CHỈ SAN JOSE -Tiễn Biệt Người Góa Phụ Trung Kiên: Madame HỒ NGỌC CẨN

 – Giao Chỉ

Các Niên Trưởng Đồng Đế cho biết Bà Hồ Ngọc Cẩn , nhũ danh Nguyễn Thị Cảnh vừa ra đi sáng hôm nay 30 / O8/ 2024 tại Stevenson Ranch , Nam California Hoa Kỳ . Nguyện Cầu Linh Hồn Bà sớm về nước Trời hưởng Nhan Thánh Chúa và bình an trong chốn Thiên Đàng . Amen !
 
Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn – Người vợ lính ở Thủ Đức
 
Mùa xuân năm 1959 . Họ đạo Thủ Đức có đám cưới nhà quê . Cô dâu Nguyễn Thị Cảnh mỗi tuần giúp lễ và công tác thiện nguyện cho nhà Thờ . Chú rể là anh Trung sĩ huấn luyện viên của trường bộ binh Thủ Đức .
 
Cha làm phép hôn phối . Họ Đạo tham dự và chúc mừng . Bên nhà gái theo đạo từ thuở xa xưa . Bên nhà trai cũng là gia đình Thiên Chúa Giáo . Cô gái quê ở Thủ Đức , 18 tuổi còn ở với mẹ . Cậu trai 20 tuổi xa nhà từ lâu . Cha cậu là Hạ sĩ quan , gửi con vào Thiếu sinh quân Gia Định từ lúc 13 tuổi . Khi trưởng thành , anh Thiếu sinh quân nhập ngũ . Đi lính năm 1956 . Mấy năm sau đeo lon Trung sĩ .
 
Quê anh ở Rạch Giá , làng Vĩnh Thanh Long , sau này là vùng Chương Thiện . Ngày đám cưới , ông già từ quê lên đại diện nhà trai . Đứng trước bàn thờ , Cha xứ hỏi rằng anh Quân nhân này có nhận cô gái làm vợ không . Chú rể đáp thưa có . Cha hỏi cô gái có nhận anh Trung sĩ này làm chồng , no đói có nhau , gian khổ có nhau ? Cô gái Thủ Đức vui mừng thưa có . Anh Trung sĩ Rạch Giá phục vụ trường bộ binh , đi lễ nhà thờ gặp cô gái xóm đạo Thủ Đức nên kết nghĩa vợ chồng . Cô gái thề trước nhà Chúa , có cả họ Đạo chứng kiến .
 
Cô đã giữ trọn đời làm vợ người lính . Từ vợ Trung sĩ trại gia binh cho đến phu nhân Đại tá trong dinh Tỉnh trưởng . Cô theo chồng đi khắp 4 phương suốt 16 năm chinh chiến , để rồi 30 tháng 4 năm 1975 trở thành vợ người tử tội .
 
Cô đem con trở về Thủ Đức lánh nạn chờ ngày chồng bị xử bắn . Dù thăng cấp , dù thắng hay bại , dù sống hay chết , chồng cô vẫn là người anh hùng . Cô mãi mãi vẫn là người vợ lính . Anh lính đầu đời chinh phu của cô , lúc lấy nhau đeo lon Trung sĩ và khi ra đi đeo lon Đại tá . Thủy chung cô vẫn sống đời vợ lính . Chồng của cô là Đại tá Hồ Ngọc Cẩn .
 
Hiện nay cô vợ lính gốc Thủ Đức , sau khi tìm đường vượt biên , đem con trai duy nhứt qua Bidong , Mã Lai rồi vào Mỹ sống ở Nam Cali . Cô may thuê , bán quán nuôi con . Con trai lập gia đình có 2 cháu . Người vợ lính năm xưa từ 1975 đến nay , ở vậy thờ chồng , đã trở thành bà nội ở chung một nhà với con cháu . Suốt đời vẫn nghèo , nghèo từ Trung sĩ mà nghèo lên Đại tá . Nghèo từ Thủ Đức mà nghèo qua Chương Thiện . Nghèo từ Việt Nam mà đem theo cái nghèo qua Mỹ . Bởi vì suốt đời chỉ là người vợ lính .
 
Một đời chinh chiến . Chuyện người chồng.
 
Hồ Ngọc Cẩn sinh ngày 24 tháng 3 năm 1938 . Xuất thân Thiếu sinh quân Gia Định , rồi nhập ngũ và lên cấp Trung sĩ , huấn luyện viên vũ khí tại trường Bộ binh . Sau khi lập gia đình có 1 con thì anh Trung sĩ tìm cách tiến thân , xin vào học lớp Sĩ quan đặc biệt tại Đồng Đế . Từ anh sinh viên sĩ quan Đồng Đế 1960 cho đến 15 năm sau , Hồ Ngọc Cẩn trở thành Đại tá Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Chương Thiện , hầu hết cấp bậc đều lên tại mặt trận . Ông đã từng mang mầu áo của Biệt động quân và các sư đoàn Bộ binh . Huy chương và chiến công nhiều vô kể .
 
Suốt một đời chinh chiến từ Trung đội trưởng lên đến Trung đoàn trưởng , Hồ ngọc Cẩn tung hoành khắp Hậu giang và Tiền giang . Năm 1972 ông Thiệu cho lệnh toàn thể sư đoàn 21 từ miền Tây lên tiếp tay cho quân đoàn III , giải tỏa An Lộc . Lại cho lệnh tăng cường thêm 1 Trung đoàn của Sư đoàn 9 . Tư lệnh quân khu , ông Trưởng ( Trung Tướng Ngô Quang Trưởng) nói với ông Lạc (Chuẩn Tướng Huỳnh Văn Lạc) sư đoàn 9 đưa 1 Trung đoàn nào coi cho được .
 
Trung tá Hồ ngọc Cẩn dẫn Trung đoàn 15 lên đường . Trung đoàn ông Cẩn phối hợp cùng nhẩy dù đánh dọc đường 13 tiến vào An Lộc . Anh Đại úy đại đội trưởng của Trung đoàn , suốt mấy tuần giằng co với địch trước phòng tuyến của Tướng Hưng , Tư lệnh An Lộc , nhưng chưa vào được . Lính hai bên chết đều chôn tại chỗ . Thiết vận xa M113 của ta còn phải lui lại phía sau . Chỉ có bộ binh của Trung đoàn 15 nằm chịu trận ở tiền tuyến . Anh sĩ quan kể lại, chợt thấy có một M113 của ta gầm gừ đi tới .
 
A , tay này ngon .
Chợt thấy một ông xếp từ thiết vận xa bước ra , phóng tới phòng tuyến của đại đội . Nhìn ra ông Trung đoàn trưởng Hồ Ngọc Cẩn . Ông quan sát trận địa rồi hô quân tiến vào . Cùng với tiền đạo của Nhẩy dù , Trung đoàn 15 bắt tay với lính phòng thủ An Lộc . Sau khi Bình Long trở thành Bình Long Anh Dũng , ông Thiệu hứa cho mỗi người lên 1 cấp .
 
Trung tá Hồ Ngọc Cẩn ngoài 30 tuổi đeo lon Đại tá , trở về trong vinh quang tại bản doanh Sa Đéc . Rồi ông được đưa về làm Tiểu khu trưởng Chương Thiện . Vùng đất này là sinh quán của ông ngày xưa . Cho đến 30 tháng 4-1975 Sài Gòn đã đầu hàng , nhưng Chương Thiện chưa nhận được lệnh Cần Thơ , nên Chương Thiện chưa chịu hàng .

 
Chiều 29 sang 30 tháng 4 , Tiểu khu trưởng vẫn còn bay trực thăng chỉ huy . Khi radio Sài Gòn tiếp vận về tin buông súng , các đơn vị bên ta rã ngũ . Lính tráng từ Tiểu khu và dinh Tỉnh trưởng tan hàng , Đại tá Tiểu khu trưởng Hồ Ngọc Cẩn bị lính cộng sản vây quanh khi còn ngồi trên xe Jeep với vũ khí , quân phục cấp bậc đầy đủ . Câu chuyện về giờ phút cuối cùng của người chồng , đã được người vợ kể lại cho chúng tôi . Thực là một kỷ niệm hết sức bi thảm .
 
Giây phút cuối của Chương Thiện,
 
Bà Cẩn với âm hưởng của miền quê Thủ Đức kể lại qua điện thoại . Cô Cảnh nói rằng suốt cuộc đời chưa ai hỏi thăm người thiếu phụ Thủ Đức về một thời để yêu và một thời để chết . Bà nói :
 
“ Kể lại cho bác rõ , những ngày cuối cùng nhà em vẫn hành quân . Đánh nhau ngay trong Tiểu khu . Anh Cẩn vẫn còn bay hành quân . Nhà bị pháo kích . Tuy gọi là dinh Tỉnh trưởng nhưng cũng chỉ là ngôi nhà thường . Chiều 30 tháng 4 mẹ con em theo các chú lính chạy ra ngoài . Đi lẫn vào dân . Ở Chương Thiện không ai biết em là vợ Tỉnh trưởng . Ai cũng tưởng là vợ lính . Từ xa ngó lại mẹ con em thấy anh Cẩn bị chúng bắt giải đi . Bà con kéo mẹ con em tìm đường chạy về Cần Thơ . Chú lính nói rằng bà không đem con chạy đi chúng nó bắt thì khổ . Em dẫn thằng con nhỏ chạy bộ . Mẹ con vừa đi vừa khóc . Hình ảnh cuối cùng thằng con hơn 10 tuổi nhìn thấy bố ngồi trên xe Jeep , Việt cộng cầm súng vây quanh . Bước xuống xe , anh không chống cự , không dùng dằng , không nói năng . Đưa mắt nhìn về phía dân ở xa , giơ tay phất nhẹ . Như một dấu hiệu mơ hồ cho vợ con . Chạy đi . Đó là hình ảnh cuối cùng đã gần 40 năm qua .
 
Từ đó đến nay mẹ con không bao giờ gặp lại . Thân nhân bên anh Cẩn , mẹ và các chị giữ không cho em và con trai ra mặt . Sợ bị bắt . Được tin anh ra tòa nhận án tử hình . Rồi tin anh bị xử bắn . Thời gian anh bị giam , gia đình bên anh có đi tiếp tế nhưng không thấy mặt . Chỉ giao tiếp tế cho công an rồi về . Hôm anh bị bắn ở sân vận động Cần Thơ , gia đình cũng không ai được báo tin riêng , nhưng tất cả dân Tây Đô đều biết . Mỗi nhà được loan báo gửi một người đi coi . Bà chị họ đi xem thằng em bị bắn . Chị kể lại là không khí im lặng . Từ xa , nhìn qua nước mắt và nín thở . Chị thấy chú Cẩn mặc quần áo thường dân tỏ ý không cần bịt mắt . Nhưng bọn cộng sản vẫn bịt mắt . Bác hỏi em , bà chị có kể lại rõ ràng ngày xử bắn 14 tháng 8 năm 1975 .
 
Mỗi lần nói đến là chị em lại khóc , nên cũng không có gì mà kể lại . Chúng bịt miệng , bịt mắt nên anh Cẩn đâu có nói năng gì . Suốt cuộc đời đi đánh nhau anh vẫn lầm lì như vậy . Vẫn lầm lì chịu bị bắt , không giơ tay đầu hàng , không khai báo , không nói năng gì cho đến chết . Anh làm Trung đội trưởng , Đại đội trưởng , Tiểu đoàn trưởng , Trung đoàn trưởng rồi đến Tiểu khu trưởng . Báo chí , anh em nói gì thì nói , anh Cẩn chả nói gì hết . Bác hỏi em là mồ mả ra sao . Em và con về nhà mẹ ở Thủ Đức . Gia đình không cho em ra mặt . Bà chị và mẹ anh Cẩn đi xin xác không được . Chúng đem chôn ở phía sau Trung tâm nhập ngũ Cần Thơ . Mấy năm sau mới xin được đem về Rạch Giá .
 
Rồi đến khi khu này bị giải tỏa , nên lại hỏa thiêu đem tro cốt về nhà ông chú bên Long Xuyên . Ngày nay , em nói để bác mừng là sau khi vượt biên qua Mỹ em đã đưa di hài anh Cẩn qua bên này . Anh Cẩn bây giờ cũng đoàn tụ bên Mỹ với gia đình . “
 
“ Cô đi năm nào ”, tôi hỏi bà Cẩn .
“ Mẹ con em ở Thủ Đức ba năm sau 1975 . Đến 1978 thì vượt biên qua Pulo Bidong . Ở trại 8 tháng thì bà con bảo trợ qua Mỹ . Qua bên này mình chả biết ai , không ai biết mình . Cũng như bao nhiêu thuyền nhơn , mẹ con ở với nhau . Em đi làm nghề may , rồi đi bán quán cho tiệm Mỹ . Bây giờ cháu trai duy nhứt của anh Cẩn đã có gia đình sinh được 2 con .”
 
Chuyện đời người vợ lính thời chinh chiến với kết thúc bi thảm và anh hùng , tôi nghe kể lại thấy lòng xót xa lắng đọng .Tôi bèn quay qua hỏi chị Cẩn sang đề tài khác . “ Nãy giờ nói toàn chuyện buồn , cô nhớ lại xem suốt đời từ đám cưới cho tới năm 1975 , cô có những kỷ niệm nào vui không .”
 
Bà Cẩn ngừng lại suy nghĩ .
“ Em thấy năm nào tháng nào cũng vậy thôi . Toàn lo việc nhà , nội trợ nuôi con . Anh Cẩn đi đâu thì mẹ con cũng đi theo . Từ Trại gia binh đến cư xá Sĩ quan . Chúng em không có nhà riêng , không có xe hơi , không có xe gắn máy . Từ Sa Đéc , Trung đoàn 15 qua đến Tiểu khu Chương Thiện , toàn là ở trại lính ”.
 
Tôi hỏi tiếp :
“ Cô có đi dự tiệc tùng , mừng lên lon , thăng cấp , dạ hội gì không ?”.
“ Không , em chả có đi đâu . Ở Chương Thiện em cũng không đi chợ . Dân chúng cũng không biết em là ai . Mua bán gì em về Cần Thơ , đông người , cũng chả ai biết em là ai . Em cũng không có nhà cửa nên cũng không mua sắm đồ đạc . Lương nhà binh cũng chẳng có là bao . Em cũng không ăn diện nên chẳng có nhiều quần áo .
 
Năm 1972 ở An Lộc về , anh Cẩn mang lon Đại tá , không biết nghĩ sao anh nói với em , vợ chồng chụp được một tấm hình kỷ niệm . Đây là tấm hình gần như duy nhứt . Xin bác dùng tấm hình này của nhà em mà để lên tấm bia lịch sử ”.
 
Tôi nói rằng , tấm hình của cô và anh Cẩn rõ ràng và đẹp lắm . Hoàng Mộng Thu có đưa cho tôi xem . Chúng tôi sẽ dùng hình này . Nhưng tôi vẫn gặng hỏi : “ Thế bao nhiêu lần anh thăng cấp cô có dự lễ gắn lon không ?”.
 
” Em đâu có biết . Chỉ thấy anh Cẩn đi về đeo lon mới rồi cười cười . Cũng có thể gọi là những giây phút hạnh phúc của đời nhà binh ”.
“ Thế cô chú ở Thủ Đức có khi nào đi chơi Vũng Tàu tắm biển không ?”.
Bà Cẩn thật thà nói rằng :
“ Khi anh Cẩn học ở Đồng Đế thì em và con có ra thăm Nha Trang nên thấy biển . Còn chưa bao giờ được đi với anh Cẩn ra Vũng Tàu . Sau này đến khi vượt biên thì mẹ con em mới thấy biển Vũng Tàu…”
 
Trong số một triệu chiến binh Việt Nam Cộng Hòa , dường như Sĩ quan , anh nào cũng có 1 lần đi với vợ con hay người yêu trên bãi biển Vũng Tàu . Chỉ có hàng binh sĩ , chỉ những người lính là chưa có dịp . Hồ Ngọc Cẩn ở Rạch Giá suốt đời chưa đem vợ đi Vũng Tàu . Vì vậy chị Cẩn suốt đời vẫn chỉ là vợ lính .
 
Trong quân đội , dù là Tướng tá hay Sĩ quan , anh nào mà chả có thời làm lính . Sau đó mới làm quan . Chỉ riêng cô Nguyễn thị Cảnh , hiền thê Đại tá Hồ Ngọc Cẩn là người đóng vai vợ lính suốt đời . Những ngày vui nhất của chị là thời gian được làm vợ anh Trung sĩ hiền lành của trường bộ binh Thủ Đức .
Ngày đó đã xa rồi hơn nửa thế kỷ , ở bên kia địa cầu , trên ngọn đồi Tăng Nhơn Phú , có vợ chồng anh lính trẻ mỗi sáng Chúa nhựt cầm tay nhau để đi lễ nhà thờ .
 
Giao Chỉ 




CHÙM THƠ NHỚ CHỊ – CAO MỴ NHÂN

CHỊ TÔI – BUỒN     

CAO MỴ NHÂN

(Tặng Chị, tên giống tên tôi, khác dấu

trên chữ My : Chị Cao Mỹ Nhân)  

Trong một vòng ôm

Vô cùng thương nhớ

Chim gọi hoàng hôn

Mang vào quá khứ

*

Chị ơi, chị ơi

Mùa thu đang về

Lá bay đầy trời

Chị đừng đi nhél

*

Vòng ôm của em

Không ấm thân buồn

Chị bảo lạnh thêm

Giá buốt tâm hồn

*

Chị ngó hư vô

Những làn mây mờ

Vầng trăng bơ vơ

Thầm lặng mong chờ

*

Chị giơ tay chào

Ai đâu trước mặt

Chúa đợi trên cao

Đôi dòng nước mắt …

CAO MỴ NHÂN

  29 – 8 – 2024

-0-

CÔ ĐỘC HÀNH.    CAO MỴ NHÂN

A Di Đa  A Di Đa

Chị nằm đợi đi thật xa

Một mình trong khu Hospice

” …Near The End of Life…”

*

Chung cuộc hay là kết thúc

A Di Đa  A Di Đa

Hình như chị còn thao thức

Lời kinh tán Phật hoan ca

*

Niềm đau chập chờn, khủng khiếp

Nỗi buồn day dứt miên man

Cơn mê hoang liêu đồng thiếp

Chị khắp rời khỏi thế gian

*

Em không ở lại Hospice

Sợ lắm chị ơi cạn tình

Chị không có ai con cháu

Không ai mong chị hồi sinh

*

Bởi vì chị không…tất cả

Đã cuối hành trình cuộc đời

Lệ rơi …lệ rơi lã chã

Chị về cõi phúc xa khơi…

*

 CAO MỴ NHÂN

  • – 8 – 2024

-0-

NGƯỜI CHỜ.    CAO MỴ NHÂN

*

Người chờ ta gởi trái tim

Về xa tít tắp, nhận chìm yêu thương

Ta đang đi kiếm thiên đường

Giữ tim trong nỗi đoạn trường nhớ nhung

*

Người chờ ta chốn mông lung

Hào quang tình tự bập bùng lửa thiêng

Ta quên ta giữa cõi thiền

Cùng người, thổ lộ ưu phiền đã lâu

*

Người chờ ta ở muôn sau

Sao còn hẹn mãi bên nhau kiếp này

Người rằng vẫn mở vòng tay

Cho ta buông nhẹ thân gầy vào thơ

*

Chao ôi, năm tháng đợi chờ 

Cuộc tình như thể cơn mơ kéo dài

Ta đang mộng mị u hoài

Huyễn hư ma ảnh suốt đời bâng khuâng…

    CAO MỴ NHÂN

  31 – 8 – 2024