THƠ VỀ MẸ – Mẹ Là Ánh Trăng & Bó Hồng Tặng Mẹ – LÊ TUẤN
Thơ Về MẸ & Cha: Thuở Hay Nhè & Nằm Mơ Bố Về – THƯ KHANH
THƠ VỀ MẸ – Minh Thúy Thành Nội
THƠ SONG NGỮ PHÁP + VIỆT, “L’AMOUR “MATERNEL: TÌNH MẸ” & “MA MÈRE: MẸ TÔI” – Thi sĩ Đỗ Quang Vinh.
CHÙM THƠ NGÀY TỪ MẪU – Phương Hoa
CHÚC MỪNG & GIỚI THIỆU THI PHẨM Của Nhà Thơ Lê Tuấn
Chuyện lạ! Đàn ông mà lại sinh con!…(tinh thần!)
Tin rất vui! Xin gởi lời khen tặng. Nhân tiện, Anh Tuấn cho Hải “order” 5 cuốn, giữ lại cho mình và tặng bạn bè.
Cám ơn Anh.
Lê Văn Hải

CHÚC MỪNG NHÀ THƠ LÊ TUẤN
(Kính giới thiệu cùng thành viên và thân hữu VTLV)
Thay mặt Ban Biên Tập VTLV
Phương Hoa – MAY 6th 2021

Khánh Thúc Hà (KHANH HA)
Ngôi Sao Việt Tỏa Sáng Trên Vòm Trời Văn Học Hoa Kỳ
Phương Hoa
C & R Press today announced the winners of its 2020 Poetry, Fiction, and Nonfiction. In the fiction category, the winner is Khanh Ha’s story collection “A Mother’s Tale and Other Stories.”
Slated for publication in the Fall 2021, it is praised by the publisher:
“This was a decided favorite among readers and the unanimous choice. We could go on but A Mother’s Tale is poignant, illustrates a tremendous understanding of voice, and, while casting a sharp eye on the tragedy of war, is hauntingly beautiful in many ways.”
https://www.theusreview.com/reviews-1/A-Mothers-Tale-and-Other-Stories-by-Khanh-Ha.html#.YJIl5rVKiM9
(Bài đã đăng trên Việt Báo: https://vietbao.com/p301420a305547/khanh-thuc-ha-khanh-ha-ngoi-sao-viet-toa-sang-tren-vom-troi-van-hoc-hoa-ky )

Nhà văn Khanh Ha (Hà Thúc Khánh)
Vừa qua, Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ (VNHNVĐB HK) mà tôi tham gia, nhận được một tin vui thật lớn, làm rộn ràng cả diễn đàn Văn Bút. Đó là tin văn sĩ gốc Việt Hà Thúc Khánh (Khánh Hà), phu quân của thành viên Văn Bút văn thi sĩ Nguyễn Phương Thúy, đã đoạt cùng lúc hai giải thưởng văn học giá trị của Hoa Kỳ chỉ cách nhau có một tháng. Giải truyện ngắn “2020 WILLIAM FAULKNER Literary Competition” hồi tháng 9, và đến nay, gần cuối tháng 10, anh lại đoạt tiếp giải “THE 2020 ORISON ANTHOLOGY Award in Fiction” trong cùng một tác phẩm, “THE WOMAN-CHILD.”
Ngoài việc cùng chung sinh hoạt trong Văn Bút VNHNVĐB HK, tôi còn là thành viên nhóm Cô Gái Việt (CGV) cũng ở Hoa Kỳ, một diễn đàn quy tụ toàn nữ văn, thi, nhạc sĩ Việt, do Phương Thúy điều hành. Cô cũng là chủ nhiệm kiêm chủ bút Tuyển Tập Cô Gái Việt, phát hành mỗi năm một lần, gồm những bài viết của thành viên CGV trên nước Mỹ và thế giới, với mục đích góp phần bảo tồn Việt Ngữ và giữ gìn văn hóa Việt Nam nơi hải ngoại, v.v. Nhờ vậy, tôi mới có dịp may được quen biết nhà văn Khánh Hà (Nv KH). Xin kính chia sẻ cùng quý độc giả cuộc trao đổi đầy thú vị dưới đây giữa người viết và Nv KH:
Thưa anh Khánh Hà,
Trước hết, Phương Hoa xin trân trọng chúc mừng anh đã đoạt được hai giải thưởng văn học giá trị vừa rồi, và cám ơn anh dành cho P. Hoa cuộc đổi trao, chia sẻ thật đặc biệt, thật vinh dự này. Là một người viết văn tiếng Việt, và chỉ mới bắt đầu tập tò viết chút ít tiếng Anh gần đây, nên P. Hoa vô cùng khâm phục sự thành công tuyệt vời mà anh giành được khi hội nhập vô dòng chính của văn học Hoa Kỳ. P. Hoa xin phép được hỏi anh đôi điều, mong anh vui lòng chia sẻ để độc giả Việt Báo và bà con đồng hương Việt khắp nơi cùng chia vui với anh.
Nv KH: Xin cám ơn chị P. Hoa đã có nhã ý giới thiệu tôi, một Vietnamese American writer, cho độc giả Việt Báo. Rất hân hạnh được tiếp chuyện với chị hôm nay.
P.Hoa: Dạ cám ơn anh. Thưa anh, xin anh cho biết thêm chi tiết về hai giải thưởng truyện ngắn của WILLIAM FAULKNER Literary Competition” và “ORISON ANTHOLOGY Award in Fiction” đã trao cho tác phẩm “THE WOMAN-CHILD” cùng giá trị văn học của chúng, và lý do tại sao anh dự thi hai giải thưởng ở hai nơi lại cùng một tác phẩm? Và nếu tiện, xin anh tóm tắt đôi điều về tác phẩm “THE WOMAN-CHILD” đã đoạt giải?
Nv KH: Thưa chị, giải William Faulkner Literary Competition trao giải nhưng không xuất bản truyện đoạt giải; còn giải Orison Anthology Award in Fiction sau khi trao giải sẽ xuất bản truyện—lịch trình là mùa thu năm 2021. Tóm lại, không có sự mâu thuẫn hay bất đồng giữa hai giải về sự đệ trình của mỗi truyện tranh giải. Truyện “The Woman-Child” được tóm lược như sau:
Set in Vietnam 20 years after the end of the war in a coastal habitat being ruined by modern aquaculture industry, “The Woman-Child” tells a story of a tender relationship between Vietnam-born Minh who as a Vietnamese expatriate living in the United States visits the country as a graduate student, and a young local girl who lives on the seaside with its ever-present ocean and its ecological beauty, set against a backdrop of the Vietnam’s environmental degradation caused by shrimp aquaculture, when half a million hectares of coastal mangrove forests had been razed to become prawn farms to feed the American market.
(P.Hoa xin tạm dịch: Truyện lấy bối cảnh ở Việt Nam, 20 năm sau chiến tranh, trong một môi trường sống ven biển đang bị hủy hoại bởi kỹ nghệ thủy sản tân tiến. “The Woman-Child” kể câu chuyện về mối quan hệ mong manh giữa nhân vật tên Minh, một Việt kiều Mỹ, sau khi tốt nghiệp trở về thăm quê hương, và một cô gái trẻ địa phương sống ven biển với đại dương mênh mông cùng vẻ đẹp sinh thái thiên nhiên tự thuở nào của nó, giờ đây phải đối diện với sự suy thoái môi trường tại Việt Nam do kỹ thuật nuôi tôm, khi nửa triệu mẫu rừng cây đuốc ở ven biển đã bị san bằng để làm khu nuôi tôm cung cấp cho thị trường Mỹ.)
P.Hoa: Tuyệt vời. Thưa anh, ngoài hai giải thưởng này ra, theo chỗ P. Hoa được biết, anh đã từng nhận “không biết cơ man nào” (cười) thành tích. Ví dụ như, 7 lần anh được đề cử vào giải “Pushcart Prize,” một giải thưởng văn học được vinh danh nhiều nhất nước Mỹ kể từ năm 1976, là hội văn học mà hầu hết các nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học, viết tiểu luận nổi tiếng ở Hoa Kỳ tham gia từ 1976 cho đến nay. Rồi thì tác phẩm của anh cũng từng vào chung kết giải thưởng “The Mary McCarthy,” “Many Voices Project,” “Prairie Schooner Book Prize,” “The William Faulkner-Wisdom Creative Writing Award,” là những giải thưởng nổi tiếng, và giải “The Sand Hills” dành cho sách hư cấu hay nhất, tiếp đến là giải “Robert Watson” của Greensboro Review về tiểu thuyết hay, và còn nữa…
Ôi, đúng là đếm muốn… hụt hơi luôn rồi (cười). Nhờ anh điều chỉnh lại cho đúng, bổ sung thêm những giải thưởng P. Hoa nêu còn thiếu trong danh sách này? Vì P. Hoa biết còn nhiều giải thưởng khác chưa được cập nhật. Đặc biệt, xin anh cho biết, giải thưởng anh nhận đầu tiên là giải thưởng gì? Nhận được năm nào? Và tác phẩm đó tên là gì?
Nv KH: Cám ơn chị đã quá khen, và cũng xin cám ơn chị đã liệt kê đầy đủ. Sự thật là tất cả các giải thưởng đều nặng phần chủ quan, từ giải thưởng nhỏ đến giải thưởng lớn. Nếu có tâm đầu ý hợp với ban giám khảo—on the same vibrations—thì tỷ lệ thắng sẽ cao hơn, với điều kiện tiên quyết là sáng tác phải có giá trị. Tin vui thường đến rất bất ngờ vì có lẽ những gì mình mong muốn thường không bao giờ đến. Giải thưởng văn chương đầu tiên tôi nhận được là Robert Watson Prize, năm 2013 (see link in blue). Truyện ngắn nhan đề Heartbreak Grass (see link in blue).
P.Hoa: “Nếu có tâm đầu ý hợp với ban giám khảo” Nghe “ngồ ngộ” nhưng có lý lắm! (smile). Thưa anh, trong tất cả những giải thưởng của anh, giải thưởng nào mà anh tâm đắc nhất? Giá trị cao nhất? Có kỷ niệm nào đặc biệt đáng nhớ, vui buồn, trong những lần anh được giải, hoặc nhận giải, hoặc khi viết về tác phẩm?
Nv KH: Hai truyện ngắn tâm đắc nhất của tôi là “Heartbreak Grass” và “The Woman-Child.” Trong mỗi truyện người đọc có thể cảm nhận được sự linh động chân thành của những nhân vật và qua bối cảnh của truyện. Thưa chị, viết truyện đã khó thì đoạt một giải văn chương càng khó hơn. Cá vượt vũ môn trong thực tế chỉ là một ảo tượng cho biết bao nhiêu nhà văn. Nhưng tôi rất vui mỗi khi nhận được tin thắng giải mà nói theo tiếng Anh là “a pure joy.”
P.Hoa: Dạ anh. P. Hoa đã từng may mắn đọc qua truyện ngắn “Heartbreak Grass” của anh, nói về người thương phế binh Cộng sản được gọi là “Uncle Chung,” trở về sau trận chiến với hai mắt bị mù và tứ chi đều mất hết, rất sống động và cảm động… nên anh “đánh bại” hết các tác giả khác cũng đúng thôi. Và thưa anh, P. Hoa cũng được biết, truyện “Mrs. Rossi’s Dream” của anh mới xuất bản năm 2019 cũng đã nhận quá nhiều kết quả đẹp. Anh được “Foreword Reviews INDIES” trao cho huy chương Bạc về “Historical Adult Fiction” là tiểu thuyết lịch sử dành cho người lớn, và huy chương Đồng về “War & Military Adult Fiction” tiểu thuyết chiến tranh & quân đội dành cho người lớn, và “Booklist” đã vinh danh là sách mới hay nhất. Anh có thể cho biết chút ít về quyển sách này, anh lấy ý tưởng từ câu chuyện thật hay hư cấu? Và phải mất thời gian bao lâu thì anh hoàn tất quyển sách này?
Nv KH: Tiểu thuyết của tôi thường thành hình bắt đầu từ một hình ảnh. Hình ảnh nguyên thủy chuyển biến thành quyển sách “Mrs. Rossi’s Dream” đến từ một documentary film. Ở đó một bà đồng bóng dẫn một phụ nữ Mỹ đến một nấm mồ nơi thi thể con bà đã được an táng cách đó 20 năm. Lúc bấy giờ tôi đã sống ở đất Mỹ rất lâu và hình ảnh đó vẫn sống trong tôi qua nhiều năm nữa cho đến một hôm tôi cảm nhận được sự thôi thúc phải viết về hình ảnh đó. Trong suốt thời gian viết tôi ngỡ như mình là một đứa bé đang học những điều lạ lùng ở trái đất này, một môi trường đầy đam mê và quyến rũ, đầy những con người đủ chủng tộc, đầy bí ẩn, đầy tham lam, gian ác và hung dữ, nhưng ngược lại cũng đầy tình thương và tha thứ. Một buổi sáng sau hai năm viết liên tục, tôi bước ra ngoài và đứng nhìn cây Hương Đào đang trổ bông rực một góc nhà. Và ve sầu bắt đầu kêu.
P.Hoa: Wow! Thiệt là phải… nín thở khi nghe anh kể (cười), vì có thể thấy sự quyết tâm, cũng như trí tưởng tượng quá phong phú của anh đã thuyết phục được độc giả Mỹ, một điều không phải dễ cho tất cả các nhà văn viết tiếng Anh, nhất là khi tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai. Và, P. Hoa được biết anh tốt nghiệp ban Văn Chương/Báo Chí ở đại học Ohio, xin cho hỏi, anh có xử dụng bằng cấp này cho việc làm nào khác hay là anh chỉ chuyên viết văn? Về viết văn, cho tới hiện tại anh đã xuất bản được bao nhiêu tác phẩm? Truyện ngắn? Truyện dài?
Nv KH: Tôi không có cơ hội để áp dụng học thức của mình về ngành báo chí; nhưng cách viết của báo thật sự giúp tôi khi viết văn—hành văn của báo chí là ngắn, gọn, gãy, đủ—nói khác hơn là cách diễn đạt phải ngắn gọn và rõ ràng. Đọc Ernest Hemingway có lẽ quí độc giả sẽ thấy tính chất đó. Tác phẩm đầu tiên của tôi là “Flesh,” kế đến là “The Demon Who Peddled Longing,” và tác phẩm gần đây nhất là “Mrs. Rossi’s Dream.” Riêng về truyện ngắn thì tôi có trên 30 truyện đã xuất bản qua nhiều tạp chí văn chương Mỹ–phần lớn là những tạp chí của những chương trình Master of Fine Arts (MFA) do những sinh viên cao học quản lý và điều hành từ các trường đại học khác nhau.
P.Hoa: Dạ, cám ơn anh. Xin cho hỏi, anh có nhà văn thần tượng nào cho phong cách viết của anh không? Và anh có thể cho biết anh có những gửi gắm gì, nhắn gửi gì cho độc giả trong những câu chuyện về chiến tranh như “Mrs. Rossi’s Dream” chẳng hạn?
Nv KH: Thần tượng về văn chương thì tôi không có; tuy nhiên tôi thích đọc Ernest Hemingway, William Faulkner, Cormac McCarthy, Robert Penn Warren. Tác phẩm “Mrs. Rossi’s Dream” hoàn toàn đứng riêng về phương diện chiến tranh. Nó chỉ mô tả sự tàn bạo vô nhân của chiến tranh và sự mất mát của chúng ta trong tình nhân loại. Là một nhà văn tôi chỉ viết khách quan nên không bao giờ có tham vọng biểu dương một chủ đề hay gởi đời một bài thuyết pháp.
P.Hoa: Dạ anh. Nhưng dù anh có khiêm nhường mà nói thế, độc giả vẫn có thể nhận ra những “sự tàn bạo vô nhân của chiến tranh” anh mô tả trong truyện, là những nhắn gửi, những lời kêu gọi thống thiết lương tâm loài người về đạo đức, về lòng nhân, và về tình người với nhau. Cho P. Hoa hỏi tiếp, truyện đầu tay bằng tiếng Anh anh viết là khi nào, và đó là chuyện gì? Điều gì đã giúp anh “đánh đâu thắng đó” khi gửi bài dự thi? Anh đã luôn “đoán trước” được chủ ý và yêu cầu của ban giám khảo?
Nv KH: Thưa chị, truyện đầu tay Anh ngữ của tôi được viết lúc tôi là một senior ở trường đại học Ohio University, Athens, trong khi theo học một khóa Creative Writing. Giáo sư của tôi lúc bấy giờ là nhà văn nổi tiếng Daniel Keyes, tác giả của tác phẩm “Flowers for Algernon.” Cuối khóa ông chọn truyện ngắn của tôi và xin phép tôi cho ông gửi đăng trên tờ tạp chí Ohio Review. Nhan đề truyện ngắn là “A Woman from Saigon.” Tôi quên gần hết câu chuyện vì cũng hơn 30 năm rồi. Về việc gửi bài dự thi và “đoán được” chủ ý lẫn yêu cầu của ban giám khảo thì tôi xin lập lại một sự thật, một chân lý cho tất cả tác phẩm dự thi: Tất cả kết quả đều dựa trên sở thích cá nhân; cho nên nếu hợp tính, hợp thẩm mỹ với nhau thì tác phẩm đó sẽ thắng.
P.Hoa: Thưa anh, P. Hoa đã được đọc nhiều truyện ngắn tiếng Việt anh viết cho tờ Tuổi Hoa trước năm 1975. Khi đó anh còn trong tuổi học trò, mà những truyện ngắn anh viết như “Săn Người,” “Hoa Đầu Mùa,” hay “Tổ Ấm,” trên Tuổi Hoa, ngòi bút của anh khi ấy đã rất chững chạc, sắc sảo, rất hay, và đầy vẻ huyền bí không thua gì những nhà văn nổi tiếng. Một tương lai sáng lạn về văn học Việt Nam như thế, tại sao về sau ra nước ngoài anh không tiếp tục viết tiếng Việt nữa, mà chỉ chuyên viết sách tiếng Anh? Còn nữa, anh có dự định dịch sang Việt ngữ những tác phẩm của anh để bà con mình những người không biết nhiều tiếng Anh có thể đọc?
Nv KH: Thưa chị, thưở còn viết cho Tuổi Hoa tôi đang ở tuổi 13-15 và chỉ biết viết vì đam mê. Bao nhiêu năm, sau khi đã trưởng thành tôi không còn sự ngây thơ đó nữa, vì sự tự hào, dù đó là một hảo huyền, đã thúc đẩy tôi sáng tác qua Anh ngữ để đạt một số độc giả rộng lớn hơn. Việc chuyển dịch những gì đã viết từ Anh ngữ sang Việt văn đòi hỏi rất nhiều thì giờ và một tinh thần tận tụy mà tôi không làm được vì đã để hết tâm viết truyện bằng Anh ngữ. Ngoài ra, nếu muốn dịch hay thì nên để một dịch giả khác mình làm chuyện đó. Rất ít có tác giả nào tự dịch những gì mình viết.
P.Hoa: Dạ anh nói đúng lắm. Còn điều này, P. Hoa từng đọc một bài viết dễ thương từ phu nhân Phương Thúy của anh, tựa đề là “Giận”:
(http://nguyenpthuy.jigsy.com/files/documents/0a73d5cd-ab52-4c15-991e-b054ec2934ec.pdf)
Trong đó có đề cập đến một bài tình thơ bằng tiếng Anh, “Gasoline Rainbow” rất ngọt ngào, rất lãng mạn, anh viết cho nàng khi hai người mới yêu nhau. Xem ra hồn thơ Anh ngữ của anh cũng khá là… lai láng (cười). Như vậy, ngoài viết sách, anh có làm thơ tiếng Anh không?
Nv KH: Thưa chị có; nhưng đó cũng như so sánh một chef với một sous-chef. Tình yêu có thể gợi cảm hứng diễn đạt qua vần thơ để bắt giữ những sắc màu lãng mạn lúc đó, và tôi đã làm thơ khi tôi biết yêu. Nhưng cuối cùng tôi vẫn là một nhà văn.
P.Hoa: Anh đối đáp duyên dáng lắm (cười). Là một nhà văn gốc Việt rất thành công trong dòng chính văn học Mỹ quốc, anh thuộc vào hàng “tiền bối” của những cây viết mới bắt đầu, anh có lời khuyên gì, nhắn nhủ gì, bí quyết gì, để dẫn đến sự thành công vượt bực đó mà anh có thể chia sẻ cho những “hậu bối” trên con đường viết lách bằng Anh ngữ, và cả những cơ hội có thể thắng giải văn chương như anh?
Nv KH: Viết văn cũng như tập nấu ăn, thưa chị. Nếu có người chỉ dạy đó chỉ là mắm muối thêm vào thôi. Sự trưởng thành của một nhà văn đến từ chính mình, có nghĩa là viết và viết. Và đọc. Đọc nhiều để bồi bổ kiến thức cho kỹ thuật viết, và viết nhiều để tôi luyện kỹ thuật hầu tìm được tiếng nói của riêng mình. Một nhà văn không có tiếng nói đặc thù cũng giống như “generic drug” so sánh với “brand-name drug.” Nếu đây có thể xem là một lời khuyên thì xin chị chấp nhận.
P.Hoa: Dạ anh, tất nhiên đó là những lời khuyên vô giá! Câu hỏi chót là về sự nghiệp văn chương của anh: Mục tiêu sắp tới của anh là gì? Anh có dự định tranh đoạt những giải thưởng văn học nào trong tương lai? Và hiện anh có đang chuẩn bị in sách mới?
Nv KH: Tôi luôn bận với sáng tác. Lúc đang viết một tiểu thuyết thì tôi đã có một hình ảnh của sáng tác khác sau đó. Tiểu thuyết tôi vừa viết xong đã có một số truyện ngắn trích ra từ đó, đã và sẽ đăng trên một số tạp chí văn chương của Mỹ–Waccamaw Journal, Solstice Literary Magazine, Evening Street Press. Hiện tôi sắp kết thúc phần tham khảo cho sáng tác mới và sẽ bắt đầu viết vào năm tới.
P.Hoa: Hết sảy! Chúc mừng anh! Thật là ngưỡng mộ sức viết ngút ngàn như gió cuốn, như mây bay, như nước chảy của anh, những đức tính và sự quyết tâm ấy không phải nhà văn nào cũng làm được. Và, nếu không có gì bất tiện, anh có thể cho biết anh đến Mỹ năm nào và thuộc diện gì?
Nv KH: Thưa chị tôi du học ở Ohio University, Athens, vào thập niên 70, trước khi chúng ta mất nước vào tay Cộng sản.
P.Hoa: Dạ cám ơn anh. Để kết thúc cuộc trao đổi này, P. Hoa xin chân thành cám ơn anh Khánh Hà rất nhiều, đã bỏ thì giờ quý báu để chia sẻ nhiều điều thú vị và bổ ích cho những cây viết tiếng Anh “mầm non” gốc Việt (như P. Hoa) trong cuộc trò chuyện này. Kính chúc anh cùng gia đình vui khỏe, hạnh phúc, và riêng anh, chúc anh luôn tiến mãi trong sự nghiệp văn chương trên quê hương thứ hai này.
Nv KH: Xin thành thật cám ơn chị. Chúc chị và gia quyến được bình an trong thời COVID-19 này.
P.Hoa: Dạ cám ơn và kính chào anh.
Xin giới thiệu sách mới sắp xuất bản của Khánh Hà:
https://www.crpress.org/shop/a-mothers-tale-other-stories/
Quý độc giả nếu muốn đọc các truyện ngắn Việt ngữ của nhà văn Khánh Hà đăng trên báo Tuổi Hoa trước 1975 xin mời vô những đường link sau đây. (copy link bỏ lên Google để mở)
*Truyện Ngắn: “Săn Người” trang 79, — TUỔI HOA số 85 & 86 — Xuân Mậu Thân 1968: https://drive.google.com/file/d/0B9E44PtYv9V-bG0wN09Sb29aOEU/view
*“Hoa Đầu Mùa” — TUỔI HOA số 76, 1967:
*“Tổ Ấm” — TUỔi HOA số 52, 1966 (serialized Part 1):
*“Tổ Ấm”– TUỔi HOA số 53, 1966 (serialized Part 2):
*“Tổ Ấm” — TUỔi HOA số 54, 1966 (serialized Part 3):
*“Tổ Ấm” — TUỔi HOA số 55, 1966 (serialized Part 4):
*“Tổ Ấm” — TUỔi HOA số 56, 1966 (serialized Part 5):
*“Tổ Ấm” — TUỔi HOA số 57, 1966 (serialized Part 6):
Phương Hoa
Sách mới nhà văn Khánh Hà sắp xuất bản, mà đã được giải nhất.
TÌNH MẸ TUYỆT VỜI
KIỀU MỸ DUYÊN

Mẹ Kiều Mỹ Duyên và cô Hoàng Minh Thúy, Chủ báo Xây Dựng, Houston
Mẹ tôi đã qua đời năm 1996. Mẹ tôi đã đi xa nhưng mẹ tôi vẫn còn ở đây, trong trái tim của tôi. Tôi cứ tưởng mẹ tôi đi du lịch, và mẹ tôi sẽ trở về. Nhiều khi tôi nhìn những bụi cây trước nhà, tôi cứ tưởng mẹ tôi đang chăm sóc hoa và cây kiểng.
Sáng nay trời rất đẹp, gió dìu dịu, những con chim sẻ ngoài vườn vô tư nhảy nhót và hót líu lo, chuyền từ cành cây này đến cành cây khác. Đời rất đẹp, thanh bình, vui tươi với nắng ấm chói chang cho một ngày đẹp bắt đầu.
Cháu tôi, Hưng Nguyễn, con của em ruột hỏi:
– Cô hai uống cà phê không?
– Uống, nhưng cà phê phải thật nhạt. Tôi đáp.
Hưng Nguyễn nói tiếp:
– Có trái cây nhiều lắm, cô hai ăn đi.
Giọng nói của cháu lúc nào cũng reo vui. Ai mà giận Hưng nhưng nghe thấy tiếng nói reo vui và tiếng cười giòn tan vô tư của cháu là hết giận ngay. Hưng đang học Tiến Sĩ, vất vả còn hơn cày bừa. Buổi sáng cháu thức dậy thật sớm, ăn sáng, uống cà phê rồi lên đường, đường từ Orange County đến Los Angeles không xa nhưng nếu kẹt xe thi phải đi thật sớm hoặc sẽ bị kẹt xe trên xa lộ hàng giờ. Một chuyến đi mỗi ngày mất 3- 4 giờ thật quá nhiều. Cái bằng Tiến Sĩ phải trả bằng tiền, thì giờ, và sức lực.
Hưng cầm trái chuối vàng óng ả đưa cho tôi và nói:
– Cô hai ăn đi. Con nhớ bà nội nói thứ gì ngon mới mời người khác, nhà mình ngày xưa nhiều trái cây lắm.

Hưng Nguyễn, Tiến Sĩ kinh tế
Tôi nhớ nhà chúng tôi trên khu đất rộng. Trước nhà có hàng dừa xanh mướt, lúc nào cũng quằn trái, cành lá xanh mướt làm cho căn nhà trở thành màu xanh. Chúng tôi sinh ra và lớn lên ở ngôi nhà này, hàng ngày uống nước dừa ngọt lịm, hái xuống ăn ngay, ăn cơm dừa và uống cả nước. Nước dừa ngọt lịm, bên hông nhà là hàng rào trúc, sau nhà và xung quanh nhà lá ổi xanh rì, mãng cầu, đu đủ, mía lau, xoài cát, và chuối. Trước nhà có cây vú sữa thật to, cao, cành lá xum xuê, quanh năm có trái ngọt lịm.
Hồi nhỏ tôi thường trèo lên cây vú sữa hái trái. Trước sân nhà mẹ tôi trồng nhiều loại hoa: thược dược, hoa cúc, hoa mai cao hơn đầu của tôi, mùi thơm ngào ngạt. Tôi không ở nhà, tôi sống với cô của tôi gần trường, gần quận, mỗi tuần về một lần.
Hồi chị em tôi còn nhỏ, mẹ tôi thường hái trái cây, rửa thật sạch để cúng Phật ở trên bàn thờ và bàn thiên, đem trái cây vào chùa. Mẹ tôi đi nhiều chùa khác nhau, thường là những ngôi chùa nhỏ và nghèo. Mẹ tôi thường giúp nhiều người, đem cháu về nhà nuôi. Anh tư Tốt, con của cậu tư chúng tôi, mẹ anh mất sớm nên mẹ tôi đem về ở với chúng tôi. Rồi chị Thức, con của người cậu khác cũng về ở với chúng tôi.
Ba mẹ tôi thương cháu như con ruột của mình. Lòng thương yêu của ba mẹ tôi được những người cháu này đáp lại bằng cách học hành rất giỏi, dễ thương, các anh chị lớn hơn chúng tôi nhưng không ai ăn hiếp chúng tôi, một lòng nhường nhịn và thương yêu nhau.
Mẹ tôi thường dạy chúng tôi:
– Mình tặng trái cây cho ai thì phải chọn thật ngon, thật tươi, khi mời ai ăn cũng vậy.
Một nồi bắp vừa chín, đổ ra khỏi nồi, mùi thơm ngào ngạt bốc lên, người nào bưng dĩa bắp mời từng người trong nhà, phải để người ta chọn trước, mình chọn sau. Và người chọn trước bao giờ cũng chọn trái nhỏ nhất, để người sau trái lớn nhất. Chúng tôi sống trong gia đình vui vẻ từ sáng đến tối. Buổi tối, mẹ tôi thường nấu chè khoai môn, có nước cốt dừa, em gái tôi gần gũi với mẹ tôi thường hơn tôi nên sau này em tôi nấu chè và nấu ăn rất ngon.
Tôi học được tính của cha mẹ tôi là giúp gì cho người khác là làm ngay không đợi người ta năn nỉ nhưng không hiểu sao tôi không học được tính nấu nướng rất ngon của mẹ tôi, có lẽ tôi thiếu tính nhẫn nại và tỉ mỉ. Nấu một nồi phở 6- 8 giờ, nấu cho bắp cải, củ cải thành nước lèo thật ngọt, ngọt vị xương thịt hay vị rau cải, tôi không làm được. Có lẽ trời sinh ra người nào thích ở ngoài đường, thích ở vận động trường, thích ở hồ bơi, ở sân tennis, bàn ping pong thì không thể nào nấu ăn ngon, không biết có đúng hay không? Có lẽ vì thế tôi nhận thấy phụ nữ nào nấu ăn cũng ngon, tôi thường được mời đến nhà bạn bè ăn. Tôi ăn xong, lúc nào tôi cũng khen chưa bao giờ chê, bởi vì các bà, các cô người nào cũng giỏi hơn tôi gấp vạn lần. Tôi ăn uống rất dễ, ăn cho xong một bữa, sống không phải để ăn tôi quan niệm như thế.
Mấy chục năm nay ăn chay, lại càng dễ hơn, một chút nước tương, một dĩa rau tươi, một chén cơm trắng là xong một bữa ăn. Dễ quá ai cũng có thể mời tôi ăn tối dễ dàng cho một ngày.
Mẹ tôi thường dạy chúng tôi rằng phước đức là do mình làm nên, chứ không phải phúc đức là đi xin. Mẹ tôi cũng dạy rằng nên làm việc từ thiện. Hạnh phúc là giúp đỡ cho người khác, chứ không phải nhận sự giúp đỡ của người khác.
Khi tôi sinh ra, ông bà ngoại đã qua đời, tôi chưa một lần được nhìn thấy ông bà ngoại, bà nội cũng qua đời, chỉ còn ông nội, nhưng một thời gian sau rất ngắn thì ông nội cũng qua đời, lúc tôi được mấy tháng gì đó. Tôi là cháu nội đầu tiên của ông bà nội tôi. Ba tôi là con trưởng trong gia đình có 2 anh em, tôi không được diễm phúc như những đứa trẻ khác có ông bà nội, ông bà ngọai để được hưởng tình cảm của ông bà dành cho mình. Tôi chỉ còn tình cảm của ba mẹ tôi và dì tôi. Mẹ tôi sinh ra trong gia đình có 9 anh chị em. Dì sáu tôi lập gia đình rất sớm, chồng chết, dì đem một người con gái con của dì bảy về nuôi, dì thương chúng tôi vô cùng. Dì là người mẹ thứ hai của chúng tôi, chúng tôi cũng thương dì nhiều lắm.
Dì thương chúng tôi lắm, cháu nào dì cũng thương, nhưng có lẽ trong những người cháu của dì, tôi gần gũi dì nhiều nhất. Mỗi lần muốn làm việc từ thiện, tôi không có tiền thì tôi xin tiền mẹ tôi và dì tôi. Dì tôi hiền như mẹ tôi, ít nói, dễ thương và phúc hậu. Mẹ tôi hiền lắm, hay giúp người. Mẹ tôi và dì tôi làm việc từ thiện thường xuyên. Ba tôi dạy võ miễn phí cho trai trẻ trong làng. Mẹ tôi hay thương người, nhà tôi có cái giếng đào quanh năm nước trong vắt, mỗi lần có tân binh quân dịch tập luyện ở bãi tập, mẹ tôi gánh nước cho anh em uống. Sau này khi tôi lớn lên hình ảnh làm việc thiện tuyệt vời của mẹ tôi in vào đầu tôi, một người phụ nữ hiền lành, ốm yếu, nụ cười thật tươi gánh nước cho tân binh quân dịch uống. Quý vị khó tưởng tượng được nhưng đây là sự thật đã xảy ra thập niên 50 quý vị ạ. Những tân binh này còn sống sót cũng lớn tuổi hơn chị em chúng tôi nhiều.

Mỗi lần có tân binh quân dịch tập luyện ở bãi tập thì mẹ tôi gánh nước cho anh em uống.
Kỷ niệm về mẹ tôi nhiều lắm. Chúng tôi sống trong ngôi nhà rộng, đất rộng. Nhà đầu tiên được xây trên đất của ông nội chúng tôi để lại. Sau này, ba mẹ tôi mua một miếng đất khác rộng rồi xây nhà. Xung quanh là cây xanh, yên tĩnh, chúng tôi lớn lên trong ngôi nhà này, bình yên và hạnh phúc, ngôi nhà có tiếng cười suốt ngày. Nhà chúng tôi nuôi nhiều chó, có những con chó thật to, chó giữ nhà, chó thương chủ nhà, chó đưa chủ nhà ra tận cổng khi chủ nhà đi chợ hay đi đâu đó, chó đón chủ nhà trở về. Có một điều rất lạ mà chúng tôi không hiểu nổi khi thấy một đàn chó chạy ra cổng mừng rỡ đón chủ nhà trở về mà không có tiếng sủa, nhưng nếu có người lạ đến là chó cất tiếng sủa rất to.
Mẹ tôi chỉ cần nói một tiếng rất nhỏ:
– Đi vào các con.
Đàn chó ngoan ngoãn đi vào sau vườn ngay. Mẹ tôi không bao giờ lớn tiếng với con cháu và các con. Các cháu đều nghe lời mẹ tôi, không ai cãi lại một lời.
Trước khi vào lớp học gặp người lớn là chúng tôi cúi đầu chào, và rời khỏi lớp học cũng vậy, gặp người lớn cũng cúi đầu chào hỏi rất lễ phép.
Mẹ tôi thường cúng Phật ở nhà, trên bàn thờ lúc nào cũng có trái cây tươi, hoa tươi và nước lọc.Trái cây ngoài vườn, hoa ngoài vườn hái đem vào cúng Phật. Mẹ tôi thường đi chùa đem trái cây, hoa quả cúng Phật và mẹ tôi cũng làm công quả ở chùa. Mẹ tôi là Phật tử thuận thành, mẹ tôi cầu nguyện mỗi ngày, cầu nguyện cho gia đình, cho người thân và cầu nguyện cho người nghèo, mẹ tôi ăn chay ngày rằm, ngày lễ.
Nói về mẹ tôi nói hoài không hết. Mẹ tôi hay giúp người đó là điều đặc biệt không bao giờ tôi quên. Tôi giống tính mẹ tôi nhất ở điểm này. Vào chùa, mẹ tôi thấy việc gì làm việc đó, từ trong nhà bếp ra ngoài vườn, mẹ tôi thích nấu nướng, dọn dẹp trong bếp, ngoài vườn. Mẹ tôi thích chăm sóc cây cỏ, nên đến chùa nào mẹ tôi cũng có nhiều việc lắm.
Mẹ tôi thường nói:
– Người ta ăn thì còn, mình ăn thì hết, nên giúp người.
Hồi tôi còn nhỏ xíu, tôi cũng biết xung quanh mình cũng có nhiều trẻ em không cha không mẹ, có người vừa sinh ra là mất cha, có người vừa sinh ra là mất mẹ, ít có ai được một gia đình có ông nội bà nội, ông ngoại bà ngoại,và cha mẹ đầy đủ bên cạnh cho đến khi khôn lớn.
Gia đình nào đầy đủ mọi người là điều hạnh phúc nhất trần gian, là phúc đức. Tôi không được như thế cho nên thấy gia đình nào còn ông bà thì tôi thèm lắm, thôi thì kiếp sau vậy.
Mẹ tôi nhỏ người, gầy nhưng sức chịu đựng và làm việc không thể tưởng được. Tôi vượt biên trước, sau đó có thẻ xanh, tôi bảo lãnh mẹ tôi và em tôi sang Hoa Kỳ. Tôi cầu nguyện cho mẹ tôi và em tôi được định cư thì tôi ăn chay để trả ơn Trời Phật gia hộ. Sau đó mẹ tôi bệnh, tôi cầu nguyện cho mẹ tôi hết bệnh và sau này mẹ mất, tôi cầu nguyện cho mẹ tôi siêu thoát và tôi ăn chay luôn cho đến bây giờ, thoáng mà đã mấy chục năm rồi.
Những ngày ở Việt Nam, sau 1975, gia đình tôi khổ, mọi người cùng khổ. Tôi có cháu, con của người anh họ du học ở Pháp, tôi nhờ cháu chuyển tiền về Việt Nam để giúp gia đình, nhưng sau này tôi biết được gia đình tôi cũng ăn bo bo, khoai sắn trộn cơm như mọi người vì mẹ tôi không dám xài tiền, vì không biết ngày mai ra sao? Người phụ nữ Việt Nam nào cũng lo xa, sợ con cháu của mình đói, nhất là sống trong xã hội chủ nghĩa không biết chuyện gì sẽ xảy ra, nên dành dụm là tốt nhất.
Tôi có 4 chị em gái, chết 2 còn lại một em và tôi. Sau này, mẹ tôi sinh được một đứa con trai. Em trai của tôi rất thông minh, thích binh chủng Không Quân nên sau này vào Không Quân được du học ở Mỹ 2 lần sửa máy bay F5. Em trai tôi cưới vợ làm nghề dạy học và sinh được 2 con, một trai một gái. Đứa con trai đầu lòng của em tôi mẹ tôi nâng niu như trứng. Nó cũng biết là được bà nội thương lắm, cho nên nó nhớ nhiều nhất là bà nội. Bà nội ẵm bồng cháu trên tay khi cháu còn nhỏ xíu. Cháu trai này mang tính nhà binh của bố, khi nó vừa ra đời tôi ẵm nó ở nhà thương. Tôi nói:
– Mai này con lớn lên đi nhiều như cô hai nghen con.
Không ngờ lời nói của tôi thành sự thật. Sau này, nó đi làm nhiều quốc gia khác nhau: Á Châu, Anh, Úc. Nó sinh con ở Úc, và hiện nay ở Hoa Kỳ, đang học Tiến Sĩ ở Los Angeles mà chúng tôi vừa kể đến ở trên là Hưng Nguyễn.
Nó nhớ bà nội và nói:
– Mời người ta ăn phải chọn thứ gì ngon nhất, cho người ta trái cây cũng phải chọn trái cây nào ngon nhất.

Hưng Nguyễn trong lễ tốt nghiệp Tiến Sĩ kinh tế ngày 22/06/2018

Hưng Nguyễn bên gia đình trong lễ tốt nghiệp Tiến Sĩ kinh tế ngày 22/06/2018
Bây giờ, Hưng đỗ Tiến Sĩ kinh tế. Ngày nhận bằng tốt nghiệp, đầy đủ mọi người trong gia đình đến chúc mừng: cô hai, cô ba, mẹ, vợ và con gái, nhưng chỉ thiếu bà nội. Hưng nói ước gì bà nội còn sống đến dự lễ và chung vui với con hôm nay. Con muốn tặng bà nội bó hoa này để cảm ơn bà nội luôn thương yêu và khuyến khích con cháu học hành. Tấm bằng danh dự này có công sức của bà nội và gia đình luôn bên cạnh ủng hộ con. Con cảm ơn bà nội và nhớ nội nhiều lắm, nội biết không?
Cha mẹ nào cũng có nhiều đề tài để con cháu viết truyện, viết sách. Mẹ tôi cũng vậy, sự mộc mạc chất phát của mẹ tôi, tình thương người của mẹ tôi cũng đủ để tôi viết dài dài.
Tôi chờ đợi hơn 10 năm, mẹ và em tôi mới được định cư ở Hoa Kỳ. Ngày mẹ đến phi trường, chúng tôi đón mẹ tôi và em gái tôi, trên đường về nhà mẹ tôi nhìn hai bên đường chăm chú, mẹ tôi không nhìn thấy những cánh đồng xanh mướt như ở Việt Nam. Mẹ tôi không nói gì, nhưng về nhà tôi, mẹ đi ngoài vườn và nói:
– Nhân viên của con về thăm mẹ, nói con khá lắm, vườn rộng lắm, nhưng đi bộ có chút là đụng bức tường.
Đất gần 1/4 mẫu, mẹ tôi vẫn thấy nhỏ so với đất rộng mênh mông nhà của tôi ở Việt Nam. Vậy là đúng rồi.
Mẹ tôi là người hoạt động, không bao giờ ngồi yên, thấy nhà tôi cỏ xanh mướt, mẹ tôi muốn trồng rau, trồng cây ăn trái cũng không nói.Sau này, mẹ tôi ở nhà riêng tôi mới biết điều này, vì sau này mẹ tôi trồng mía, đu đủ, giàn nho, đào, ớt, cam, quýt, khế.
Ai đến nhà thăm mẹ tôi cũng hái trái cây tặng, hái ngay ngoài vườn tươi lắm, tặng liền, mẹ tôi rất hiếu khách, ai đến nhà mẹ tôi ân cần niềm nở như người thân trong gia đình. Bạn tôi rất thương mẹ tôi nên có những người bạn của tôi như vợ chồng Hoàng Minh Chính, Lê Hiếu Nghĩa thăm mẹ tôi nhiều hơn thăm tôi. Gia đình Báu Nguyễn ở Riverside cũng thường xuyên thăm mẹ tôi. Mẹ rất thương mến bạn của chúng tôi, ai đến nhà mẹ tôi và em gái tôi hay mời dùng cơm và cho trái cây đem về. Những người già ngày xưa là như thế, như đến ăn đám giỗ, sau đó mỗi người đều xách thức ăn đem về.
Mẹ tôi và em gái tôi có nhà riêng ở Little Saigon, đi bộ ra Bolsa và Magnolia. Nhà này tôi mua lâu lắm rồi để đợi mẹ tôi và em gái tôi sang có nơi trú ngụ. Mẹ tôi và em gái của tôi sang ở với chúng tôi hơn một năm trước khi ra ở riêng.
Mẹ tôi lúc nào cũng tươi cười. Tôi rất biết ơn thầy Minh Mẫn, viện chủ của chùa Huệ Quang, thành phố Santa Ana, đã bảo bọc cho mẹ và em gái tôi. Tôi cũng không quên cám ơn các cụ trong chùa chăm sóc cho mẹ tôi, dù ở trong chùa 1 tuần lễ nhưng mẹ tôi nhớ mãi những ngày mới sang. Ngày nào cũng có người đến chùa làm công quả, tiếng cười tiếng nói reo vui suốt ngày.
Người nào trong cũng rất tử tế với mẹ tôi, ân cần thăm hỏi vì họ biết mẹ tôi mới định cư ở Hoa Kỳ.
Tôi còn nhớ ngày mẹ tôi vừa đến phi trường John Ways, chúng tôi đi đón, rất cảm động. Lê Châu Trí, một chuyên viên địa ốc của chúng tôi thu hình mẹ tôi và em gái tôi ốm nhom, ốm ngoài sức tưởng tượng của tôi, nhưng những bước đi vẫn thoăn thoắt và trí óc vẫn minh mẫn.
Mẹ tôi có trí nhớ rất tốt. Anh Trần Bảo ở Úc sang chơi có mua tặng mẹ tôi một cây ăn trái, khi có trái chín, mẹ tôi nói với em tôi:
– Gởi trái cây này cho chú Bảo.
Và một anh sinh viên khóa 4 trường đại học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt tặng cho mẹ tôi một cây ớt. Ớt quằn trái suốt năm tháng, mẹ tôi thường nhắc đến người sĩ quan này.

Mẹ tôi cùng 2 cháu Quý và Thu từ Úc sang thăm. Cây hoa phía sau do mẹ tôi trồng.
Một bà Phó Đại Sứ Niagara ở Jamaica ghé thăm ở lại vài ba ngày, bà chọn ở lại nhà với mẹ tôi hơn là ở nhà tôi, có lẽ gần Little Saigon để tiện cho bà thăm phố Bolsa một mình. Ngôn ngữ bất đồng nhưng hai người rất vui vẻ, ngôn ngữ bằng tay cũng đưa đến sự cảm thông. Bà Phó Đại sứ thường ăn sáng và ăn tối với mẹ tôi, còn trưa thì bà đi dạo phố. Bà đòi dẫn mẹ tôi đi phố, mẹ tôi lắc đầu vì còn chăm sóc vườn tược. Mẹ tôi tụng kinh mỗi ngày từ 3-6 giờ chiều, bà cụ vừa tụng kinh vừa lần tràng hạt, đều đặn như thế mỗi ngày chờ đến khi em tôi đi làm về.
Kỷ niệm về mẹ thì nhiều lắm. Những ngày mẹ tôi bệnh, em tôi và một chị họ túc trực bên giường bệnh 24/24. Em tôi về thì tôi đến, tôi ở lại ban đêm ngủ trên cái ghế nhỏ, bệnh viện cũng tốt không đuổi tôi ra khỏi bệnh sau giờ hết cho thăm viếng bệnh nhân.
Bây giờ, mỗi lần đi ngang bệnh viện Fountain Valley tôi nhớ mẹ vô cùng.
Mỗi lần nhìn các cụ trong chợ, ngoài phố, người nào ốm nhom là tôi nhớ mẹ tôi.

Hồi nhỏ, Mẹ dạy chúng tôi bài thơ Con Cò. Tôi thấy hình ảnh Mẹ trong đó: tần tảo, chịu thương, chịu khó, lặn lội nuôi con, nhưng luôn giữ tấm lòng trong sạch và thanh cao.
“Con cò mà đi ăn đêm,
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.
Ông ơi! Ông vớt tôi nao,
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng.
Có xáo thì xáo nước trong,
Đừng xáo nước đục đau lòng cò con.”
Niềm vui của người già là đi lễ, và đi mua quà để gửi về Việt Nam cho thân nhân còn ở lại quê nhà. Mẹ tôi rất cẩn thận và kỹ lưỡng. Bao giờ mua quần áo mới, xong về nhà phải giặt, ủi cẩn thận, rồi mới tặng cho người nhà. Quần áo trẻ con để một bên, người lớn để một bên. Cháu nội còn ở Việt Nam. Mẹ tôi thương cháu nội lắm. Cháu là “cục vàng” của bà nội. Chúng tôi thường tặng tiền cho mẹ tôi, để mẹ tôi cần gì thì cứ mua. Bao giờ mẹ tôi cũng dành dụm để mua quà gửi về Việt Nam. Mẹ tôi thích đi chùa làm công quả. Vào chùa, thấy việc gì cũng làm, như lặt rau, bào cà rốt, quét rác ở sân chùa. Mẹ tôi làm việc liên tục, không nghỉ ngơi. Tôi nhớ ơn Hòa Thượng Minh Mẫn, Viện Chủ chùa Huệ Quang. Khi mẹ và em tôi mới sang, tôi vẫn phải đi làm cả ngày. Tôi sợ mẹ tôi và em tôi buồn, nên đưa mẹ tôi và em tôi vào chùa Huệ Quang. Tôi vừa ngỏ ý, tôi muốn mẹ và em tôi vào chùa để làm Phật sự, thầy Minh Mẫn nhận lời ngay không một chút do dự, mặc dù chùa lúc đó rất nhỏ. Thầy mua một ngôi nhà nhỏ bên cạnh cho thiện nam, tín nữ ở xa đến viếng chùa, có thể ở lại chùa. Tôi rất cảm động vì sự giúp đỡ của thầy.
Mẹ tôi đi chùa Huệ Quang, Huê Nghiêm, Hương Tích, Bát Nhã, Minh Quang tịnh xá, A Di Đà, Bảo Quang, chùa Việt Nam, tu viện Hoa Nghiêm, Trúc Lâm, chùa Phật Tổ, chùa Vĩnh Nghiêm, Như Lai Tự ở San Diego, Quốc Tế Học Viện ở Venture, và đi nhiều chùa lắm.
Mẹ tôi hay rầy tôi:
– Ở nhà lúc nào cũng có thức ăn chay, sao con không ăn mà vào chùa ăn làm chùa tốn kém.
– Mẹ đừng lo, con hay ăn vậy chứ hễ thầy nhờ điều gì con làm việc tận lực lắm.
Nói như thế cho mẹ tôi vui, chứ ăn hay không ăn ở chùa nhưng bất cứ chùa nào nhờ thông báo lễ lạc hay bất cứ điều gì mà tôi có thể làm được không bao giờ tôi từ chối.
Viết về mẹ viết ngàn năm cũng không hết, suốt đời con gắn liền với mẹ, mẹ tôi qua đời nhẹ nhàng, một tay tôi nắm tay mẹ tôi như muốn níu kéo không cho mẹ tôi đi, nhưng chân mẹ tôi đã lạnh tôi cũng biết việc gì sẽ đến, một tay tôi gọi điện thoại để gọi em tôi trở vào bệnh viện.
Mẹ tôi đi thanh thản, bác sĩ Hùng Nguyễn vào bệnh viện tức khắc, đầu mẹ tôi còn ấm, thế là chị em tôi đứng lặng người, không khóc, không có tiếng nói.
Mẹ tôi đi nhưng hình ảnh mẹ tôi vẫn còn đây, vẫn còn ngồi trước bàn Phật tụng kinh mỗi buổi chiều, và tiếng reo vui của mẹ tôi khi tôi hỏi:
– Má đi chùa không?
– Đi. Để mẹ sửa soạn.
Tiếng của mẹ tôi thật to, reo vui và rất hạnh phúc.
Mẹ tôi đi chùa bao giờ cũng mặc áo dài rất trang nghiêm, hái trái cây và rau tươi đem vào chùa, mẹ tôi trồng 37 loại rau và trái cây, vườn nhỏ nhưng xum xuê bóng cây xanh mướt.
Mẹ tôi hiền từ, không bao giờ lớn tiếng với bất cứ người nào. Mẹ tôi thường xuyên đi chùa. Mẹ tôi gật đầu đi chùa ngay mỗi khi tôi hỏi:
– Mẹ đi chùa không ?
Không kể trời nắng hay mưa, mẹ tôi nhanh nhẹn trả lời :
– Đi chứ!
Thế là mẹ tôi thay áo dài ngay lập tức. Hình như mẹ tôi sợ chậm một chút là các con đổi ý. Lúc nào mẹ tôi cũng hái rau, trái cây, rửa thật sạch,đợi tôi đến hay gọi em gái tôi đi làm về là đi chùa, chỉ cần chúng tôi mở miệng hỏi:
– Mẹ đi chùa không ?
Chỉ một câu thôi là mẹ tôi lập tức đi mặc áo dài, có lẽ cả ngày, cả tuần mẹ tôi chỉ chờ đợi có thế! Mẹ tôi biết chúng tôi bận rộn với công việc làm, nên không bao giờ bảo chúng tôi chở mẹ tôi đi chùa. Mẹ tôi chỉ chờ chúng tôi hỏi mẹ có đi chùa hay không? Khi được hỏi câu mẹ có đi chùa không? Chỉ cần câu hỏi ngắn và gọn đó là mắt của mẹ tôi rực sáng, chứa chan hạnh phúc, đong đầy trên mặt của mẹ tôi.
Nếu mẹ tôi còn sinh tiền, chắc chắn ngày nào tôi cũng hỏi mẹ câu này. Tôi muốn thường xuyên đưa mẹ tôi đi chùa hơn! Đi chùa như một nhu cầu cần thiết của những tín đồ Phật giáo, trong đó có mẹ tôi.
Mẹ tôi thường đem rau, trái cây do chính mẹ tôi trồng, đến chùa hàng tuần. Mẹ tôi trồng đủ loại rau: rau húng cây, rau dền, rau lang, rau muống, ngò, cần tây, và nhiều loại cây trái khác, như là nho, mía, táo, đu đủ, tắc. Tổng cộng hơn 36 loại rau trái.
Mẹ tôi nâng niu từng trái một. Trái nào thì đem cúng, trái nào nhỏ xíu thì để ở nhà ăn. Mẹ tôi thích từ tay mình hái trái cây, tự tay mình rửa rau, rửa trái cây. Mẹ tôi làm việc này với hạnh phúc. Việc gì làm được cho người khác thì mẹ tôi không bao giờ từ chối.
Bây giờ thì mẹ tôi đã đi rồi, không còn ở với chúng tôi, nhưng tôi thương mẹ tôi lắm.
Mẹ tôi qua đời gần 26 năm nhưng tôi cứ tưởng mẹ tôi vẫn còn quanh quẩn đâu đây. Tôi thương mẹ tôi lắm, tôi cũng biết mọi người thương mẹ của mình lắm, hạnh phúc thay những ai còn cha còn mẹ? Thương cha mẹ nên làm việc phúc đức để hồi hướng công đức cho cha mẹ của mình.
Orange County, 4/5/2021
KIỀU MỸ DUYÊN
PHAN HÀ: Bài Học Thiên An Môn và Một Tia Hy Vọng
THIÊN AN MÔN – PHAN HÀ
NGƯỜI BẢO VỆ NGƯỜI?
-

Cảnh Sát Đức Nguyễn, nguyên là ứng cử viên Cảnh Sát Trưởng của Orange County, thuyết trình tại văn phòng Ana Real Estate
NGƯỜI BẢO VỆ NGƯỜI?
KIỀU MỸ DUYÊN
Chúng tôi thường mời những chuyên viên liên quan đến ngành nghề địa ốc đến văn phòng Ana Real Estate và Ana Funding để chia sẻ kinh nghiệm trong nghề nghiệp, cũng như trong cuộc sống hàng ngày đến với chuyên viên của văn phòng. Thứ bảy tuần rồi là diễn giả Đức Nguyễn, nguyên là ứng cử viên Cảnh Sát Trưởng của Orange County.
Chúng tôi quen Đức Nguyễn lúc Đức Nguyễn ra ứng cử cho đến bây giờ. Bố của Đức Nguyễn là chiến sĩ Nhảy Dù, ở tù 7 năm, ra tù cùng với gia đình vượt biên. Sinh trong gia đình có bố là võ sư Judo, mẹ là võ sư Tawaido, đã từng thượng đài đấu võ. Máu của cha mẹ là võ sĩ nên Đức Nguyễn thừa hưởng tinh thần võ sĩ đạo của bố mẹ.

Đề tài Cảnh Sát Đức Nguyễn trình bày: Bảo vệ an toàn cho chính mình và cho khách hàng
Bao giờ có hẹn thuyết trình, Đức Nguyễn cũng đến trước giờ hẹn. Chuyên viên của chúng tôi chăm chú lắng nghe. Đề tài Đức Nguyễn trình bày tuần này là làm thế nào để bảo vệ an ninh cho chính mình, cho gia đình mình và cho khách hàng đi xem nhà với mình. Chuyên viên địa ốc phải quan tâm đến sự an toàn cho khách hàng, nhất là lúc này có phong trào kỳ thị người Á Châu. Người Á Châu ra đường không ổn, nhất là người già, người bị giựt bóp, người bị đâm. Ngày nào trên đài truyền hình, đài phát thanh và báo chí đều có đăng những tin tức không tốt đẹp.
Chuyên viên của chúng tôi đặt câu hỏi về luật lệ mua súng. Đức Nguyễn với nhiều năm kinh nghiệm trong ngành Cảnh Sát giải thích một cách cặn kẽ:
– Người nào cũng có thể mua súng được nhưng phải đi học một khóa học. Phải có chứng chỉ của khóa học này.
Phương Vũ, chuyên viên trẻ, thích thú và đặt nhiều câu hỏi về việc mua súng và sử dụng súng. Minh Văn cũng hỏi nhiều về vấn đề này.
Phượng Lê đặt câu hỏi liên quan đến ngành địa ốc:
– Làm thế nào để giữ an toàn cho chuyên viên địa ốc và khách hàng trong lúc đi xem nhà, nhất là vào nhà trống, không có chủ nhà ở trong nhà? Lẽ dĩ nhiên, người mua nhà đã đến văn phòng ký giấy tờ Coronavirus , chụp hình bằng lái của họ và người đi xem nhà. Sau đó, chuyên viên địa ốc cho biết địa chỉ, rồi mỗi người tự đi. Chuyên viên địa ốc không chở khách hàng như ngày xưa chưa có dịch cúm Covid-19.
Đức Nguyễn trả lời như sau:
– Chuyên viên địa ốc phải đến căn nhà đó trước. Đừng vào nhà vội, đi từ trước ra sau nhà, xem có cửa sổ nào mở không? Xem có dấu hiệu gì có người lạ ở trong nhà không? Phải quan sát thật kỹ, hỏi hàng xóm xem nhà này có ai ra vào không? Sau khi quan sát tỉ mỉ, xem cửa ra vào, cửa chính và cửa thoát hiểm, mở cửa nhà xe phải quan sát cẩn thận, lối thoát là lối nào để khi bất trắc biết cửa nào thoát ra?

Cảnh Sát Đức Nguyễn chỉ cho các chuyên viên tự vệ khi có người tấn công mình
Vừa nói Đức Nguyễn vừa đứng dậy chỉ cho người tham dự lớp học cách thoát thân nếu nhà đó cháy hay có kẻ lạ hành hung.
Đức Nguyễn nói tiếp:
– Phải mở tất cả đèn, trước khi về sẽ tắt đèn sau. Tất cả cửa sổ cũng phải mở. Trước khi ra về bảo khách hàng ra trước chờ tôi một chút rồi đóng cửa sổ, tắt đèn, đóng cửa nhà xe.
Đức Nguyễn dạy mọi người phải quan sát, phải để ý đến từng ngõ ngách của căn nhà, để hết tâm sức vào vấn đề an ninh cho chính mình và cho khách hàng của mình. Không nên đậu xe trước cửa nhà, nên đậu xe cách đó 1 căn nhà, rồi đi bộ từ từ, quan sát xung quanh trước khi vào nhà.
Đức Nguyễn dạy các chuyên viên địa ốc của chúng tôi thành các thám tử. Một chuyên viên địa ốc nói:
– Vui quá!
Lớp học gần 3 giờ đồng hồ, mọi người thích thú nghe và ghi chép không bỏ sót một chi tiết, một lời nào của Cảnh Sát Đức Nguyễn. Đâu phải Cảnh Sát nào cũng có thì giờ cuối tuần đi dạy học như thế này, cũng như không có nhiều Chánh Án cuối tuần đến dạy học ở văn phongc chúng tôi như Chánh Án James Gray, thân hữu của chúng tôi, cho nên chúng tôi rất quý trọng thì giờ của quý vị ân nhân.
Đức Nguyễn chỉ dẫn tận tình cho chuyên viên chúng tôi về vấn đề an ninh, quan trọng nhất là con mắt. Con mắt của mình phải biết quan sát, quan sát xung quanh căn nhà khi đưa khách đi xem nhà, quan sát trong căn nhà thật tỉ mỉ. Đức Nguyễn nhắc lại nhiều lần quan trọng nhất là lối thoát. Những lời chia sẻ của Đức Nguyễn làm cho tôi nhớ đến các Hướng Đạo sinh đi cắm trại trong rừng, và bài học mưu sinh thoát hiểm chúng tôi nhớ đến bây giờ, vào rừng đói phải biết tìm thức ăn, phải biết hái trái cây, biết làm thế nào để có lửa và phải biết thoát hiểm, v.v. Bây giờ chuyên viên địa ốc đưa khách hàng đi xem nhà cũng giống như Hướng Đạo sinh lên rừng phải mưu sinh và thoát hiểm.
Phải bảo toàn tính mạng của mình, phải bảo vệ an toàn tính mạng của khách hàng của mình. Đây là lần thứ ba cuối tuần Đức Nguyễn hướng dẫn cho chuyên viên của chúng tôi về vấn đề an ninh, làm thế nào với đôi mắt của mình để biết người nào là tình nghi tội phạm?
Đức Nguyễn chỉ dẫn các chuyên viên địa ốc của chúng tôi một cách tận tình. Đức Nguyễn cùng gia đình vượt biên sau khi thân phụ ở tù về. Tôi hỏi Đức Nguyễn:
– Vì sao Đức Nguyễn ứng cử vào làm Cảnh Sát Trưởng? Làm Cảnh Sát khó lắm chứ không phải dễ. Nhiều người nộp đơn nhưng số người được chọn không nhiều. Phải có sức khỏe, phải qua kỳ thi rồi vào trường Cảnh Sát để được huấn luyện, trải qua nhiều giai đoạn khó khăn.
Đức Nguyễn trả lời:
– Cháu ứng cử Cảnh Sát Trưởng vì lúc bấy giờ ở Orange County chỉ có một Cảnh Sát là người Mỹ gốc Việt. Đức muốn giúp cộng đồng Việt Nam. Dù Đức sang Mỹ lúc 10 tuổi, nhưng cha mẹ dạy con tiếng Việt và nhà thờ có dạy tiếng Việt, con phải học.
Đức Nguyễn rất tận tụy trong nghề nghiệp. Sự chỉ dẫn của Đức Nguyễn về vấn đề an ninh cho chính mình, cho gia đình mình, cho hàng xóm và cộng đồng của mình rất hữu ích. Đức Nguyễn chỉ cho anh em tự vệ khi có người tấn công mình, những khí giới hữu hiệu của mình là gì? Một cây bút nhỏ bé có thể là khí giới để bảo toàn tính mạng của mình, một bước chân sát vào đối thủ, con mắt của mình, đầu của mình. Vừa nói Đức Nguyễn vừa thực hành cho mọi người xem. Đức Nguyễn dạy không khác gì võ sư dạy cho các võ sinh của mình để tự vệ.
Ngồi trong lớp mà nghe Đức Nguyễn dạy cách tự vệ vô cùng hào hứng. Nhìn điệu bộ, chúng tôi cũng biết Đức Nguyễn đã từng học võ từ nhỏ. Cha là võ sư, mẹ là võ sư đã từng lên đấu ở võ đài thì làm sao con không giỏi chứ?
Tôi mong tất cả ông bà, cha mẹ nên cho con cháu mình đến trường học võ, nhất là lúc này cần thiết lắm. Học võ không phải để đấu võ đài nhưng học võ để tự vệ, để bảo vệ cho chính mình và cho người yếu thế.

Kiều Mỹ Duyên mong thế hệ trẻ học võ để khỏe mạnh, tự vệ và bảo vệ người yếu thế
Và nếu có cơ duyên nên học kinh nghiệm của Cảnh Sát nhất là Cảnh Sát tư pháp để tự bảo vệ chính mình.
Xin chúc sự bình yên đến với tất cả đồng hương. Mình đã thoát được Cộng Sản, sang định cư ở nước Tự Do, không ai có quyền hành hạ mình. Thế hệ trẻ vươn lên, có chỗ đứng trong cộng đồng của người bản xứ, đó là niềm hãnh diện cho cộng đồng Việt Nam.
Orange County, 27/4/2021
Kiều Mỹ Duyên
(kieumyduyen1@yahoo.com)
CHÀO MỪNG Nữ Sĩ Phan Hà
CHÀO MỪNG Nữ Sĩ Phan Hà
“Tôi Yêu Tiếng Nước Tôi!”
Văn Thơ Lạc Việt,
Nơi quy tụ những Trái Tim nhiệt huyết nhất, chỉ với mục đích Bảo Tồn và Phát Huy Tiếng Mẹ.
Một trong những Nhóm đông nhất, hoạt động lâu đời nhất, hữu hiệu nhất và yêu thương, giúp đỡ nhau nhất!
“Nào về đây ta hợp đoàn cùng nhau!” Một cánh én không tạo ra mùa xuân, nhưng khi Đàn Én xuất hiện, là dấu báo hiệu…Chúa Xuân về!
Lê Văn Hải – Chủ Tịch VTLV
***
CHÀO MỪNG NỮ SĨ PHAN HÀ
*
WELCOME người mới kính đôi hàng
CHÀO ĐÓN thành viên đã…nhập làng
NỮ SĨ lời hay, tay ngọc nhả
PHAN HÀ ý đẹp, bút hương loang
VĂN THƠ thi phú rồi rôm rả
LẠC VIỆT xướng hòa sẽ rộn vang
Sinh hoạt cùng nhau chờ diện kiến
Niềm vui rạng rỡ xứ Hoa Vàng
Phương Hoa – APR 30th 2021
**
CHÀO MỪNG
Chào đón cô bạn Phan Hà
Bước vào nhập hội một nhà kính tương
VĂN THƠ LẠC VIỆT thân thương
Phú bày thi trải đầy vườn kỳ hoa
Dòng văn ý nghĩa mượt mà
Giữ gìn tiếng Việt nước ta lưu đời
Chúc mừng nữ sĩ đôi lời
Chung lòng hợp thuận tiếng cười rộn vang
Minh Thuý (Thành Nội) – Tháng5/1/2021
Chia Buồn: Linh Mục Gioan Trần Công Nghị
Chia Buồn
Nhận được tin buồn:
Linh Mục Gioan Trần Công Nghị
(Sáng lập, Giám đốc VietCatholic Network.
Bút hiệu Đồng Nhân và Thiên Ân)
Vừa được Chúa gọi về,
Ngày 22 tháng 4 năm 2021
Tại Garden Grove, California, Hoa Kỳ.
Hưởng Thọ 76 Tuổi.
(55 năm trong chức vụ Linh Mục)
Xin gởi lởi chia buồn đến Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam Hoa Kỳ và Tang Quyến.
Nguyện cầu Chúa chí ái, đón nhận Linh hồn Gioan,
người Môn Đệ yêu dấu của Ngài vào nước Thiên Đàng.
Thành Kính Phân Ưu.
-Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt
-LVHải và Tuần Báo Thằng Mõ.
LM Trần Công Nghị, người sáng lập VietCatholic Network, qua đời
GARDEN GROVE, California (NV) – Linh Mục Trần Công Nghị, giám đốc sáng lập VietCatholic Network, vừa qua đời lúc 11 giờ 30 phút sáng Thứ Năm, 22 Tháng Tư, tại nhà riêng ở Garden Grove, hưởng thọ 76 tuổi, trong đó có 50 năm là linh mục, theo trang web VietCatholic cho biết.
Hồi năm 2017, nhân dịp kỷ niệm 20 năm VietCatholic Network, Linh Mục Trần Công Nghị có chia sẻ với nhật báo Người Việt như sau: “Lúc đầu tôi làm trang web VietCatholic Network vì thích thú thôi, chỉ với kỳ vọng đưa cuốn Kinh Thánh bằng tiếng Việt cho mọi người đọc. Vậy mà thoắt cái đã là 20 năm, kể từ ngày trang web tiên phong và đầu tiên bằng Việt Ngữ trên Internet bắt đầu hoạt động vào ngày Lễ Các Thánh, 1 Tháng Mười Một, 1996.”
“Trong suốt thời gian dài hiện diện, chúng tôi cố gắng mang đến cho giáo dân món ăn tinh thần bổ ích, đó là những tin tức từ Giáo Đô Vatican, từ Giáo Hội Việt Nam, và các sinh hoạt đa diện từ các giáo xứ và cộng đoàn Công Giáo Việt Nam khắp nơi trên thế giới. Để có được như ngày hôm nay, tôi tự mình mò mẫm trong suốt những ngày gian khó. Lúc bấy giờ Internet mới phát triển, nhưng tôi thấy nhu cầu này rất ảnh hưởng, do đó tôi tập tành đưa Tin Mừng của Giáo Hội Công Giáo bằng tiếng Việt lên Internet để phổ biến cho mọi người khắp nơi hiểu sứ điệp như thế nào,” vị linh mục giám đốc chia sẻ tiếp.
Cũng từ năm 2017, VietCatholic Network có thêm chương trình trên YouTube được rất nhiều người xem.
Theo VietCatholic Network, Linh Mục Trần Công Nghị có hai bút hiệu là Đồng Nhân và Thiên Ân, sinh ngày 13 Tháng Ba, 1945 tại tỉnh Ninh Bình, thuộc Giáo Phận Phát Diệm.
Từ năm 1957, linh mục theo học tại Tiểu Chủng Viện Phát Diệm, Phú Nhuận, và Đại Chủng Viện Sài Gòn, trước khi sang Rome, Ý, học tại Đại Học Giáo Hoàng Urbano (Pontifical Urban University) trong bốn năm, từ 1967 đến 1971.
Linh Mục Trần Công Nghị (bìa phải) phát biểu nhân dịp 20 thành lập VietCatholic Network. (Hình: Quốc Dũng/Người Việt)
Từ năm 1971 đến năm 1975, ông học ngành khoa học xã hội tại đại học Fordham University, New York.
Năm 1977, ông quay lại Rome, trở lại đại học cũ và học thêm tại Đại Học Giáo Hoàng Grerogy (Pontifical Gregorian University) để lấy bằng tiến sĩ Thần Học.
Từ năm 1983 đến năm 1984, ông làm giáo sư tại Đại Chủng Viện New Orleans, Louisiana.
Từ năm 1987, ông làm giáo sư Chủng Viện Đức Mẹ Nữ Vương Các Thiên Thần (Our Lady Queen of the Angeles) của Tổng Giáo Phận Los Angeles, cho đến năm 1993.
Khi làn sóng người Việt Nam sang định cư tại Hoa Kỳ sau khi cuộc chiến chấm dứt, ông lần lượt đảm trách các chức vụ tuyên úy trưởng trại tị nạn Fort Chaffee, Arkansas; giám đốc Trung Tâm Mục Vụ Việt Nam, Tổng Giáo Phận New Orleans, Lousiana; giám đốc điều hành Indochinese Center, Washington DC; và giám đốc điều hành Trung Tâm Mục Vụ Đông Nam Á, Tổng Giáo Phận Portland, Oregon.
Ngoài ra, Linh Mục Trần Công Nghị cũng từng là phó chủ tịch Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam Hoa Kỳ, chủ tịch Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam Miền Tây Bắc Hoa Kỳ, giám đốc Dự Án Nghiên Cứu Nhu Cầu Mục Vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ, do Văn Phòng Mục Vụ thuộc Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ tài trợ, có văn phòng tại Orange County, Nam California.
Ngoài ra, tại Tổng Giáo Phận Los Angeles, Linh Mục Trần Công Nghị từng phục vụ các giáo xứ St. Paul of the Cross (La Mirada), St. Finbar (Burbank), St. John Fisher (Rancho Palos Verdes), Our Lady of the Assumption (Claremont), và St. Catherine of Alexandria (Avalon). (Đ.D.)
(Lời Chia Buồn này, cũng sẽ được đăng trên Tuần bào Thằng Mõ số tới)
======
THƠ PHÂN ƯU
**
THƠ TIỄN CHA TRẦN CÔNG NGHỊ
Hai năm qua, mệt và buồn,
Thêm lo đại dịch, bạn, còn những ai!?
Máu vẫn đổ, đạn, bom rơi,
Thế Chiến 3, muốn nổ? Trời! Lại nghe…
Cha Trần Công Nghị ra đi….
Đức Chúa Cha mới gọi về thiên cung!
Bẩy sáu tuổi…. đã dầy công
Đem tài, sức…giúp cộng đồng thân thương…
Sống yên, trong đạo lý thường,
Tu, Tề…Nhân, Nghĩa…con đường hòa vui!
Trăm năm, thoáng, sẽ qua thôi,
Lợi, Danh, Quyền… cũng hết…ngoài Tình Yêu!!
A men !!23/4/21 Dương Huệ Anh
**
THÀNH KÍNH PHÂN ƯU
VĂN THƠ phụng tiền cụ Thiên Ân
LẠC VIỆT vinh danh bậc đức nhân
Thương tiếc Cha vừa về nước Chúa
Phân ưu Người mới bỏ hồng trần
TRẦN CÔNG NGHỊ sáng danh Hồng Lạc
LINH MỤC GIOAN ngời tiếng Giáo dân
CATHOLIC NET buồn, xin kính viếng
Gia đình tang quyến bớt sầu dâng
BBT VTLV
Phương Hoa – APR 23rd 2021
TUỔI TRẺ VƯƠN LÊN –
TUỔI TRẺ VƯƠN LÊN
KIỀU MỸ DUYÊN

Người già nghĩ về quá khứ, còn người trẻ nghĩ đến tương lai. Người trẻ Việt Nam đã có mặt trong chính quyền, làm việc ở phủ Tổng Thống, ở Quốc Hội, là Dân Biểu, Thượng Nghị Sĩ, Chánh Án của liên bang, của tiểu bang, làm Tướng và giữ những chức vụ quan trọng ở Bộ Quốc Phòng. Tuổi trẻ Việt Nam là khoa học gia, là thương gia, là giáo sư đại học. Người trẻ có mặt khắp nơi, ở Mỹ, Úc, Á, Âu Châu. Người trẻ Việt Nam tiến rất nhanh.
Ngày Quốc Hận năm nay, tôi không viết về quá khứ đau buồn, mà tôi viết về tuổi trẻ với tương lai rực rỡ trước mắt.
Đi đến quốc gia nào trên thế giới, tôi cũng gặp người Việt Nam với tương lai sáng lạn, tôi đã từng tham dự đại hội giới trẻ thế giới ở Mỹ, Âu Châu, Á Châu, tôi có niềm tin ở người trẻ Việt Nam. Một em trẻ 14 tuổi tham dự đại hội ở Hoa Kỳ, không nói được tiếng Việt, nói bập bẹ như người ngoại quốc nói tiếng Việt, nhưng sau 3 năm tôi gặp lại người trẻ này tại đại hội tổ chức ở Mã Lai, người trẻ này đã nói tiếng Việt thông thạo. Vì sau khi dự đại hội về, em tự học tiếng Việt để 3 năm sau em sẽ nói tiếng Việt thông thạo như các bạn trẻ khác tham dự đại hội. Ông bà, cha mẹ cho con cháu mình dự đại hội để có cơ hội học hỏi và nói tiếng Việt.
Hỡi tuổi trẻ Việt Nam hãy hãnh diện mình là người trẻ, người trẻ Việt Nam nói tiếng Việt thông thạo, lúc nào cũng nhớ mình là người có dòng máu Việt Nam, muôn đời cũng phải nói tiếng Việt thông thạo, dù họ sinh ra và lớn lên ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới.
Người trẻ học giỏi, giỏi toán, giỏi sinh ngữ, giỏi khoa học. Người trẻ làm khoa học gia chế tạo phi thuyền lên cung trăng cũng chưa đủ, hãy hãnh diện mình là người Việt Nam có hơn 4000 năm văn hiến. Ông cha của mình đã đánh đuổi quân Tàu về nước của họ. Người trẻ hãy tranh đấu cho Việt Nam thật sự có Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền và Bảo Toàn Lãnh Thổ, Lãnh Hải.
Người trẻ Việt Nam hãy cầu nguyện cho Việt Nam thoát khỏi sự ảnh hưởng của Tàu Cộng, để cho người dân Việt Nam có cơ hội học hỏi không ngừng, phát triển kinh tế mạnh mẽ như các quốc gia trên thế giới.
Người lớn tuổi hãnh diện về thế hệ trẻ, những ước mơ của thế hệ trước chưa thành thì hy vọng vào thế hệ trẻ nối bước ông cha làm nên sự nghiệp. Người Âu Châu di dân sang Hoa Kỳ thuở khai sơ đâu có ai giàu, nhưng một thời gian sau thì họ rất thành công, giàu cả dòng họ, nắm chánh quyền cả dòng họ, hết đời này đến đời khác. Quý vị nhìn đi dòng họ giàu nhất hiện nay ở Hoa Kỳ từ đâu đến? Họ từ Âu Châu. Họ giàu từ đời này đến đời khác, họ làm chủ ngân hàng, làm chủ đất đai, khu mua sắm và Hollywood, v.v.
Ở Mỹ, người giàu thì giàu thêm. Ông cha giàu, con cháu giàu và mãi mãi giàu. Người di dân đến từ Âu Châu giàu được thì tại sao người đến từ Việt Nam không giàu chứ? Hiện nay có 9 tỷ phú người Mỹ gốc Việt Nam. Người Việt Nam giàu vẫn làm từ thiện ở khắp nơi, nhất là ở Việt Nam, giúp người nghèo, trẻ con mồ côi, người cùi, v.v.
Người Việt Nam giàu hay nghèo vẫn làm việc từ thiện, vẫn đóng góp cho xã hội mà họ đang định cư và giúp cho bà con của họ ở quê nhà đang đói rách. Giúp ai được việc gì thì giúp, người Việt Nam hào phóng thích giúp đỡ người khác, giúp người và giúp đời.

Người trẻ Việt Nam ở Mỹ được tiếp cận với nền tri thức hàng đầu Thế Giới, những tiến bộ khoa học kỹ thuật được áp dụng trong việc giảng dạy và học tập
Người trẻ Việt Nam định cư ở hải ngoại sống lạc quan vì may mắn hơn người trẻ trong nước. Ở đây, họ muốn đi đâu thì đi, không sợ hãi, miễn là đừng làm việc gì bất hợp pháp. Muốn nói, muốn viết những gì mình suy nghĩ thì cứ thực hành theo nguyện vọng của mình. Tôi thương những người có lý tưởng ở Việt Nam. Họ viết lên những tâm tư của mình về Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền, Bảo Toàn Lãnh Thổ, Lãnh Hải thì bị bắt bớ, bị giam cầm, bị hành hạ. Đời sống của tuổi trẻ Việt Nam không có tương lai. Ngay cả những người tốt nghiệp đại học không có công ăn việc làm phải đi lao động ở nước ngoài.
Những kỷ niệm đáng nhớ của tôi là tham dự hội nghị quốc tế ở các nước Bắc Âu và Á Châu. Khi dự hội nghị ở Á Châu, tôi thường thức rất khuya để nói chuyện với các người trẻ Việt Nam đến từ Việt Nam. Họ đi từ Thái Lan, Singapore, Hồng Kông, Úc, v.v. rồi từ đó mới đến Mã Lai. Nhưng than ơi, khi họ về đến Việt Nam thì bị giữ lại để hỏi cung, và sau này họ không được xuất ngoại nữa.

Kiều Mỹ Duyên trò chuyện với các sinh viên tham dự Đại Hội Thanh Niên SinhViên Kỳ VI ở Mã Lai (6/1/2008)
Có những người trẻ đi xe đò đến Cambodia, rồi từ đó đi dự hội nghị ở các nước khác. Tôi thương những người trẻ này, họ rất nhiệt huyết, có lòng với đất nước. Họ mong cho đất nước khá hơn.
Có những người trẻ từ Mỹ đi đến Thượng Hải với phái đoàn từ thiện quốc tế, sau đó đến Việt Nam bằng xe đò, vì qua biên giới không đòi hộ chiếu. Người quyết tâm thì làm gì cũng được, còn là sinh viên bầu nhiệt huyết mạnh mẽ lắm.
Hỡi tuổi trẻ Việt Nam ở khắp nơi trên thế giới hãy luôn luôn hướng về Việt Nam, hãy làm việc gì cho một Việt Nam phú cường. Ông cha mình đã từng đánh đuổi quân xâm lược Tàu về nước Tàu thì người trẻ Việt Nam sẽ làm được những gì mà ông cha mình đã làm để giữ vững bờ cõi nước Việt Nam.

Hy vọng nước Việt Nam sẽ phú cường, giàu mạnh, có Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền
Hỡi hồn thiêng của các chiến sĩ đã hy sinh vì Tổ Quốc phù hộ cho người trong nước và người hải ngoại đoàn kết, thương yêu nhau, đùm bọc nhau để giữ nước, đừng để kẻ thù xâm chiếm nước ta bằng văn hóa hay bằng kinh tế.
Hy vọng nước Việt Nam sẽ phú cường, giàu mạnh để đồng bào Việt Nam đừng khốn khổ, đừng đi làm lao động ở xứ người. Mong những người trẻ du học trở về cứu nước và giúp nước.
Gặp những người trẻ Việt Nam khắp nơi trong các cuộc biểu tình đòi Nhân Quyền cho Việt Nam, trong các cuộc hội thảo quốc tế, trong các buổi cắm trại hè, các em từ 13, 14 tuổi trở lên, tôi có niềm tin người trẻ Việt Nam ở hải ngoại sẽ có chỗ đứng với các quốc gia trên thế giới, vì họ được ông bà, cha mẹ, thầy cô giáo huấn luyện một cách tận tình để trở thành những nhà lãnh đạo thế giới.

Các sĩ quan người Mỹ gốc Việt trong Quân Lực Hoa Kỳ, gồm cấp Tướng, cấp Tá và cấp Úy, tại đại hội ở Anaheim.
Ngày xưa khi chúng tôi đến nước Mỹ chưa có các đoàn thể, vì mọi người ở xa nhau. Sau này mới thành lập nhiều đoàn thể, hội đoàn, cộng đoàn sinh hoạt chung với nhau. Tổ chức ngày 30 tháng 4 mấy chục ngàn người tham dự, cờ vàng ba sọc đỏ rực rỡ cả một khu phố. Little Saigon được thành lập. Nhiều chùa của người Việt Nam, các nhà thờ Việt có Linh Mục là người Việt Nam, Thánh Thất Cao Đài, Hòa Hảo, trụ sở Phật Giáo được thành hình. Chợ, quán ăn, cơ sở thương mại được thành lập. Đi khắp nơi đều thấy bảng hiệu cơ sở thương mại bằng tiếng Việt.
Đồng hương ở khắp nơi, từ những làng quê hẻo lánh đến Orange County thăm Little Saigon. Ở đây, sách cũ sách mới được in thường xuyên, nhạc không thiếu một đĩa nào từ xưa, và những ca sĩ nổi danh đều về Little Saigon để có cơ hội hát cho đồng bào thưởng thức.
Kiều Mỹ Duyên bên 2 người trẻ lớn lên ở Mỹ tại võ đường Aikido, Westminster của võ sư Đặng Thông Phong. Các em đủ tài, trí, lực và nhiệt huyết để phát triển cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại
Tuổi trẻ Việt Nam là tương lai, là hy vọng của cộng đồng, của đất nước. Người già sẽ ra đi, người trẻ tiếp tục thay thế ông cha của mình làm nên đại sự.
30 tháng 4 năm nay, nhìn về tương lai, tôi có niềm tin tuổi trẻ Việt Nam sẽ làm nên đại sự, sẽ chung tay góp sức để Việt Nam thật sự có Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền, Bảo Toàn Lãnh Thổ, Lãnh Hải.
Xin hồn thiêng sông núi và các chiến sĩ đã hy sinh vì Tổ Quốc phù hộ cho tất cả đồng bào Việt Nam ở trong nước cũng như ở hải ngoại, thương yêu, đùm bọc nhau để thực hiện lý tưởng của mình.
Orange County, 21/4/2021
KIỀU MỸ DUYÊN
(kieumyduyen1@yahoo.com)
Ngã Văn: TÙY CẢM HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG – Kiều Mỹ Duyên
Bài của Ngã Văn
Lễ Phục Sinh, Hill, 2021
Làm người, không có gì hào sảng hơn, là được sinh tử với những gì mình hằng mong sinh tử cùng. Làm phóng viên, không có gì cảm hứng hơn là được thành nhân chứng của những nhân chứng và sự kiện. Cả hai nguyện ước, đời và nghề, đã làm nên một miền hoa cỏ có tên gọi là Kiều Mỹ Duyên. a
Nói là miền bởi trong các tác phẩm dung dị viết ra như không ấy lại nặng trĩu tình người, tình quê hương, và tình nhân loại như là bản nhiên hiện sinh trong góc nhìn báo chí sôi động như lời của tác giả, “Tôi không viết truyện mơ mộng lên cung trăng, tôi viết về người thật việc thật, viết hoài không hết, cần gì bay lên Trời, hay bay lên cung Trăng thăm chị Hằng. Tôi sống thật, thương thì nói là thương, ghét ai thì im, không nói ghét, vì người nào cũng có điểm dễ thương của họ. Họ không thích mình tại vì mình không khéo léo, thế thôi.” Thế thôi- tối giản nên chứa đựng can trường như kẻ đi vào bát phong thị phi mà chẳng ngại ngần.
Trong Chinh Chiến Điêu Linh, Kiều Mỹ Duyên tuyên từ, “chiến trận đối với người phóng viên chiến trường cũng tựa như ánh đèn sân khấu đối với người nghệ sĩ.” Đó quả nhiên là duyên khởi của một nghiệp nữ nhưng chí trượng phu vác bút xông pha chinh chiến trên bốn vùng chiến thuật, được sống với cái chết và được chết với đau thương trong tận cùng giới hạn của bi thảm binh lửa. Âu đó cũng là cái phúc can đảm đời người. Người phóng viên, với kỹ năng làm báo và sự may mắn, có thể trở thành ký giả xuất sắc nhưng nếu không duyên trì tự tính, ắt rằng khó có thể được cửa mở ra với mọi tấm lòng dù hao mòn vân tay gõ. Bút lực và nhãn quan tận hiến, Kiều Mỹ Duyên tiếp cận và đối thoại với mọi đối tượng để chuyển tải thông tin và kể lại những câu chuyện chính sự cũng như bên lề để phụng sự độc giả và khán thính giả. Đa dạng nhưng chẳng hề phân tán, Kiều Mỹ Duyên đi sâu khai thác vào bốn đề tài trở thành máu thịt: Hoạt động tôn giáo, Chính trị Việt Nam, Tri ân chiến hữu chiến sĩ, và Tình tương thân, tương ái cộng đồng vô phân biệt trong và ngoài nước.
Lòng thành, Kiều Mỹ Duyên kết nối mọi tấm tình
Hoa Cỏ Bên Đường cho người đọc được gặp gỡ với bao nhiêu phẩm hạnh đa dạng từ các vị ngôi trên tôn giáo, nhà chính trị lừng danh thế giới cho đến những thân phận con đỏ, con đen xứ Việt và ngoài xứ Việt. Mọi nhân vật hiện ra, dù khác biệt đức tin hay chính kiến, đều bình đẳng trong con chữ mộc mạc chân thành với những hoài bão về một đất nước Việt Nam hạnh phúc và hòa bình, Dân Chủ và Tự Do, một cộng đồng Việt hải ngoại mạnh mẽ và có tiếng nói trong không gian chính trị, tôn giáo, và văn hóa của Hoa Kỳ nói riêng và thế giới.
Niềm thiêng ấy hiện ra trong từng con chữ tràn đầy tự hào và khát vọng khi Kiều Mỹ Duyên viết về những vị chức sắc tôn giáo cao hạnh như “hai viên ngọc kim cương của Phật Giáo Việt Nam” là Thiền Sư- Thi sĩ Tuệ Sỹ và Thiền Sư- Triết Gia Lê Mạnh Thát. Kiều Mỹ Duyên duyên phước được gặp và viết về Hòa Thượng Thích Tâm Châu, vị cao tăng “ kiến thức uyên thâm, đi khắp nơi thế giới hoằng pháp” và không ngơi nghỉ tranh đấu cho một Việt Nam tự do lạc phúc. Kiều Mỹ Duyên là nữ “nang-pa- người ở trong” cõi Phật nhưng thiện tính, chị cũng trong lành một tâm hồn dâng Chúa. Kiều Mỹ Duyên dành sự tri ơn với Hồng Y Phạm Minh Mẫn, Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt, và Linh Mục Anthony Đào Quang Chính. Linh thể phụng sự Chúa, vị cha chánh xứ của nhà thờ Saint Catherine of Alexandria, Temecula, California và Hạt Trưởng hạt Hemet, Giáo Phận San Bernadio, hiếu thảo nhường một phần cơ thể mình để duy trì sự sống của thân phụ. Đạo và đời, tình yêu thương và trí tuệ uyên bác tương giao đã làm nên chân dung Linh Mục Anthony Đào Quang Chính, một vị Linh Mục từ tâm tương liên văn hóa mang trong mình dòng máu Việt.
Quê hương Việt Nam cồn cào ngòi bút của Kiều Mỹ Duyên.
Kể cả khi phỏng vấn các nhà chính trị hay học giả phương tây, Kiều Mỹ Duyên trước sau cũng trọng tâm hướng về nước Việt và con người Việt. Trong câu chuyện với cựu tổng tống Liên Bang Xô Viết Mikhail Sergeyvich Gorbachyov, Kiều Mỹ Duyên cũng không quên đặt vấn đề trực diện về Tự Do và Dân Chủ của Việt Nam. “Bao giờ Trung Quốc có Tự Do thì Việt Nam có Tự Do.” Câu trả lời ngắn gọn mà thấu suốt lịch sử thăng trầm của hai nước Việt- Trung nói lên tầm vóc của một chính trị gia- một nhân vật lịch sử góp phần làm tan băng chiến tranh lạnh- thật đáng để cho các sử gia cũng như người Việt suy ngẫm về thế sự dân tộc từ góc nhìn quan hệ quốc tế đa chiều. Tôi mong một ngày nào đó, Kiều Mỹ Duyên sẽ giới thiệu đầy đủ với bạn đọc tất cả những cuộc phỏng vấn của chị bởi đó là tư liệu sử và báo chí đáng quý.
Lòng tự tôn dân tộc, sự tri ân và chia sẻ với thế hệ đi trước, đặc biệt là với các cựu quân nhân và gia quyến chịu đựng khổ đau trước và sau 1975 là động lực khởi dậy những hoài bão của Kiều Mỹ Duyên về một cộng đồng Việt Nam “có chỗ đứng quan trọng trong các sinh hoạt tôn giáo, chính trị ở khắp nơi trên thế giới. Sự thành công của thế hệ thứ nhất và nhiều thế hệ sau này là niềm hãnh diện của người Việt Nam.”
Việt Nam yêu thương, Việt Nam đau thương, Việt Nam là mảnh đất của máu và nước mắt nhưng cũng là vùng đất thơ mộng và kiêu hùng của những Thiên Thần Mũ Nâu không bao giờ vơi trong ký ức sống của mỗi người Việt. Mỗi con người là mỗi mảnh đất tha hương nhưng không rời bỏ quê hương. Người đọc có thể nghẹn lòng “nghe tiếng nói đau đớn của các quả phụ tử sĩ, của cô nhi về người thân của họ, là tôi muốn khóc. Không ai quên những người đã chết. Họ vẫn còn sống đây với vợ con, cha mẹ. Họ vẫn còn sống ở đây với chiến hữu, đồng bào. Họ vĩnh viễn sống trong trái tim của những người thương mến họ. Hỡi vong linh các chiến sĩ oai hùng, xin phù hộ cho mọi người, nhất là đoàn hậu duệ, nối gót cha ông.”
Đó là lời chứng của một con người đi qua cuộc chiến, mang quá khứ vào hiện tại để nuôi nấng tương lai.
Việt Nam yêu thương, Việt Nam đau thương, Việt Nam Chinh Chiến Điêu Linh máu và nước mắt không bao giờ vơi trong ký ức sống của mỗi người Việt. Mỗi con người là mỗi mảnh đất tha hương nhưng không rời bỏ quê hương. Người đọc có thể nghẹn lòng với mỗi lần tôi nghe tiếng nói đau đớn của các quả phụ tử sĩ, của cô nhi về người thân của họ, là tôi muốn khóc. Không ai quên những người đã chết. Họ vẫn còn sống đây với vợ con, cha mẹ. Họ vẫn còn sống ở đây với chiến hữu, đồng bào. Họ vĩnh viễn sống trong trái tim của những người thương mến họ. Hỡi vong linh các chiến sĩ oai hùng, xin phù hộ cho mọi người, nhất là đoàn hậu duệ, nối gót cha ông.”
Lòng tự tôn dân tộc, sự tri ân và chia sẻ với những thế hệ đi trước, đặc biệt là với các cựu quân nhân và gia quyến chịu đựng khổ đau trước và sau 1975 là động lực khởi dậy những hoài bão của Kiều Mỹ Duyên về một cộng đồng Việt Nam “có chỗ đứng quan trọng trong các sinh hoạt tôn giáo, chính trị ở khắp nơi trên thế giới. Sự thành công của thế hệ thứ nhất và nhiều thế hệ sau này là niềm hãnh diện của người Việt Nam.”
Dòng máu giúp người thương đời của bậc phụ mẫu gieo mầm và nảy nở làm nên tâm hồn đa cảm nhưng không thiếu sự quyết liệt dấn thân vào những chuyến đi, những câu chuyện, những thân phận khác lạ những chẳng hề xa lạ trong đời sống như Kiều Mỹ Duyên tâm tình, rằng: Cha Mẹ nào cũng có nhiều đề tài để con cháu viết truyện viết sách. Mẹ tôi cũng vậy, sự mộc mạc chất phác của Mẹ tôi, tình thương người của Mẹ tôi cũng đủ để tôi viết dài dài. Để viết “dài dài” về một biến cố lịch sử không khó nhưng viết dài dài về một “sự mộc mạc” là không hề dễ dàng. Bằng nụ cười hồn nhiên, bằng nước mắt chia sẻ, chị biến bao nhiêu sự mộc mạc thành phẩm hạnh đời sống chị sống cùng và sống trong nó từng hơi thở.
Mưu sinh thời công nghệ, thời gian dường như ngày càng ngắn lại trong khi con người bận rộn hơn vì vậy tình yêu thương và sự chia sẻ cũng theo đó mà hư hao. Hoa Cỏ Bên Đường, với sự mộc mạc của mình, thức tỉnh lương tâm: “Xin đừng bao giờ nói: tôi bận quá, tôi không có thì giờ, tôi không có thì giờ. Hãy bao dung, hãy rộng lượng, hãy thương người như thể thương thân, thì chúng ta có 24 giờ một ngày là nhiều lắm.Thương người, đây là giá trị tinh thần quan trọng lắm… Thương người nên cho họ những gì thuộc về tinh thần: một lời cầu nguyện chân thành, những nụ cười hiền lành, tiếng cười giòn tan.”
Vậy thì có gì đâu mà chần chừ, 24 giờ dẫu bộn bề, chúng ta hãy cho nhau thời gian, dành chút chia sẻ với những khúc tâm tình Hoa Cỏ Bên Đường của Kiều Mỹ Duyên.
Bởi, có được một tiếng cười giòn tan đâu phải là niềm hạnh phúc chúng ta dành cho người mà còn cho chính bản thân chúng ta.
Bài của Ngã Văn
Lễ Phục Sinh, Hill, 2021
TÙY CẢ
TÙY CẢM HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG KIỀU MỸ DUYÊN
Bài của Ngã Văn
Lễ Phục Sinh, Hill, 2021
Làm người, không có gì hào sảng hơn, là được sinh tử với những gì mình hằng mong sinh tử cùng. Làm phóng viên, không có gì cảm hứng hơn là được thành nhân chứng của những nhân chứng và sự kiện. Cả hai nguyện ước, đời và nghề, đã làm nên một miền hoa cỏ có tên gọi là Kiều Mỹ Duyên. a
Nói là miền bởi trong các tác phẩm dung dị viết ra như không ấy lại nặng trĩu tình người, tình quê hương, và tình nhân loại như là bản nhiên hiện sinh trong góc nhìn báo chí sôi động như lời của tác giả, “Tôi không viết truyện mơ mộng lên cung trăng, tôi viết về người thật việc thật, viết hoài không hết, cần gì bay lên Trời, hay bay lên cung Trăng thăm chị Hằng. Tôi sống thật, thương thì nói là thương, ghét ai thì im, không nói ghét, vì người nào cũng có điểm dễ thương của họ. Họ không thích mình tại vì mình không khéo léo, thế thôi.” Thế thôi- tối giản nên chứa đựng can trường như kẻ đi vào bát phong thị phi mà chẳng ngại ngần.
Trong Chinh Chiến Điêu Linh, Kiều Mỹ Duyên tuyên từ, “chiến trận đối với người phóng viên chiến trường cũng tựa như ánh đèn sân khấu đối với người nghệ sĩ.” Đó quả nhiên là duyên khởi của một nghiệp nữ nhưng chí trượng phu vác bút xông pha chinh chiến trên bốn vùng chiến thuật, được sống với cái chết và được chết với đau thương trong tận cùng giới hạn của bi thảm binh lửa. Âu đó cũng là cái phúc can đảm đời người. Người phóng viên, với kỹ năng làm báo và sự may mắn, có thể trở thành ký giả xuất sắc nhưng nếu không duyên trì tự tính, ắt rằng khó có thể được cửa mở ra với mọi tấm lòng dù hao mòn vân tay gõ. Bút lực và nhãn quan tận hiến, Kiều Mỹ Duyên tiếp cận và đối thoại với mọi đối tượng để chuyển tải thông tin và kể lại những câu chuyện chính sự cũng như bên lề để phụng sự độc giả và khán thính giả. Đa dạng nhưng chẳng hề phân tán, Kiều Mỹ Duyên đi sâu khai thác vào bốn đề tài trở thành máu thịt: Hoạt động tôn giáo, Chính trị Việt Nam, Tri ân chiến hữu chiến sĩ, và Tình tương thân, tương ái cộng đồng vô phân biệt trong và ngoài nước.
Lòng thành, Kiều Mỹ Duyên kết nối mọi tấm tình
Hoa Cỏ Bên Đường cho người đọc được gặp gỡ với bao nhiêu phẩm hạnh đa dạng từ các vị ngôi trên tôn giáo, nhà chính trị lừng danh thế giới cho đến những thân phận con đỏ, con đen xứ Việt và ngoài xứ Việt. Mọi nhân vật hiện ra, dù khác biệt đức tin hay chính kiến, đều bình đẳng trong con chữ mộc mạc chân thành với những hoài bão về một đất nước Việt Nam hạnh phúc và hòa bình, Dân Chủ và Tự Do, một cộng đồng Việt hải ngoại mạnh mẽ và có tiếng nói trong không gian chính trị, tôn giáo, và văn hóa của Hoa Kỳ nói riêng và thế giới.
Niềm thiêng ấy hiện ra trong từng con chữ tràn đầy tự hào và khát vọng khi Kiều Mỹ Duyên viết về những vị chức sắc tôn giáo cao hạnh như “hai viên ngọc kim cương của Phật Giáo Việt Nam” là Thiền Sư- Thi sĩ Tuệ Sỹ và Thiền Sư- Triết Gia Lê Mạnh Thát. Kiều Mỹ Duyên duyên phước được gặp và viết về Hòa Thượng Thích Tâm Châu, vị cao tăng “ kiến thức uyên thâm, đi khắp nơi thế giới hoằng pháp” và không ngơi nghỉ tranh đấu cho một Việt Nam tự do lạc phúc. Kiều Mỹ Duyên là nữ “nang-pa- người ở trong” cõi Phật nhưng thiện tính, chị cũng trong lành một tâm hồn dâng Chúa. Kiều Mỹ Duyên dành sự tri ơn với Hồng Y Phạm Minh Mẫn, Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt, và Linh Mục Anthony Đào Quang Chính. Linh thể phụng sự Chúa, vị cha chánh xứ của nhà thờ Saint Catherine of Alexandria, Temecula, California và Hạt Trưởng hạt Hemet, Giáo Phận San Bernadio, hiếu thảo nhường một phần cơ thể mình để duy trì sự sống của thân phụ. Đạo và đời, tình yêu thương và trí tuệ uyên bác tương giao đã làm nên chân dung Linh Mục Anthony Đào Quang Chính, một vị Linh Mục từ tâm tương liên văn hóa mang trong mình dòng máu Việt.
Quê hương Việt Nam cồn cào ngòi bút của Kiều Mỹ Duyên.
Kể cả khi phỏng vấn các nhà chính trị hay học giả phương tây, Kiều Mỹ Duyên trước sau cũng trọng tâm hướng về nước Việt và con người Việt. Trong câu chuyện với cựu tổng tống Liên Bang Xô Viết Mikhail Sergeyvich Gorbachyov, Kiều Mỹ Duyên cũng không quên đặt vấn đề trực diện về Tự Do và Dân Chủ của Việt Nam. “Bao giờ Trung Quốc có Tự Do thì Việt Nam có Tự Do.” Câu trả lời ngắn gọn mà thấu suốt lịch sử thăng trầm của hai nước Việt- Trung nói lên tầm vóc của một chính trị gia- một nhân vật lịch sử góp phần làm tan băng chiến tranh lạnh- thật đáng để cho các sử gia cũng như người Việt suy ngẫm về thế sự dân tộc từ góc nhìn quan hệ quốc tế đa chiều. Tôi mong một ngày nào đó, Kiều Mỹ Duyên sẽ giới thiệu đầy đủ với bạn đọc tất cả những cuộc phỏng vấn của chị bởi đó là tư liệu sử và báo chí đáng quý.
Lòng tự tôn dân tộc, sự tri ân và chia sẻ với thế hệ đi trước, đặc biệt là với các cựu quân nhân và gia quyến chịu đựng khổ đau trước và sau 1975 là động lực khởi dậy những hoài bão của Kiều Mỹ Duyên về một cộng đồng Việt Nam “có chỗ đứng quan trọng trong các sinh hoạt tôn giáo, chính trị ở khắp nơi trên thế giới. Sự thành công của thế hệ thứ nhất và nhiều thế hệ sau này là niềm hãnh diện của người Việt Nam.”
Việt Nam yêu thương, Việt Nam đau thương, Việt Nam là mảnh đất của máu và nước mắt nhưng cũng là vùng đất thơ mộng và kiêu hùng của những Thiên Thần Mũ Nâu không bao giờ vơi trong ký ức sống của mỗi người Việt. Mỗi con người là mỗi mảnh đất tha hương nhưng không rời bỏ quê hương. Người đọc có thể nghẹn lòng “nghe tiếng nói đau đớn của các quả phụ tử sĩ, của cô nhi về người thân của họ, là tôi muốn khóc. Không ai quên những người đã chết. Họ vẫn còn sống đây với vợ con, cha mẹ. Họ vẫn còn sống ở đây với chiến hữu, đồng bào. Họ vĩnh viễn sống trong trái tim của những người thương mến họ. Hỡi vong linh các chiến sĩ oai hùng, xin phù hộ cho mọi người, nhất là đoàn hậu duệ, nối gót cha ông.”
Đó là lời chứng của một con người đi qua cuộc chiến, mang quá khứ vào hiện tại để nuôi nấng tương lai.
Việt Nam yêu thương, Việt Nam đau thương, Việt Nam Chinh Chiến Điêu Linh máu và nước mắt không bao giờ vơi trong ký ức sống của mỗi người Việt. Mỗi con người là mỗi mảnh đất tha hương nhưng không rời bỏ quê hương. Người đọc có thể nghẹn lòng với mỗi lần tôi nghe tiếng nói đau đớn của các quả phụ tử sĩ, của cô nhi về người thân của họ, là tôi muốn khóc. Không ai quên những người đã chết. Họ vẫn còn sống đây với vợ con, cha mẹ. Họ vẫn còn sống ở đây với chiến hữu, đồng bào. Họ vĩnh viễn sống trong trái tim của những người thương mến họ. Hỡi vong linh các chiến sĩ oai hùng, xin phù hộ cho mọi người, nhất là đoàn hậu duệ, nối gót cha ông.”
Lòng tự tôn dân tộc, sự tri ân và chia sẻ với những thế hệ đi trước, đặc biệt là với các cựu quân nhân và gia quyến chịu đựng khổ đau trước và sau 1975 là động lực khởi dậy những hoài bão của Kiều Mỹ Duyên về một cộng đồng Việt Nam “có chỗ đứng quan trọng trong các sinh hoạt tôn giáo, chính trị ở khắp nơi trên thế giới. Sự thành công của thế hệ thứ nhất và nhiều thế hệ sau này là niềm hãnh diện của người Việt Nam.”
Dòng máu giúp người thương đời của bậc phụ mẫu gieo mầm và nảy nở làm nên tâm hồn đa cảm nhưng không thiếu sự quyết liệt dấn thân vào những chuyến đi, những câu chuyện, những thân phận khác lạ những chẳng hề xa lạ trong đời sống như Kiều Mỹ Duyên tâm tình, rằng: Cha Mẹ nào cũng có nhiều đề tài để con cháu viết truyện viết sách. Mẹ tôi cũng vậy, sự mộc mạc chất phác của Mẹ tôi, tình thương người của Mẹ tôi cũng đủ để tôi viết dài dài. Để viết “dài dài” về một biến cố lịch sử không khó nhưng viết dài dài về một “sự mộc mạc” là không hề dễ dàng. Bằng nụ cười hồn nhiên, bằng nước mắt chia sẻ, chị biến bao nhiêu sự mộc mạc thành phẩm hạnh đời sống chị sống cùng và sống trong nó từng hơi thở.
Mưu sinh thời công nghệ, thời gian dường như ngày càng ngắn lại trong khi con người bận rộn hơn vì vậy tình yêu thương và sự chia sẻ cũng theo đó mà hư hao. Hoa Cỏ Bên Đường, với sự mộc mạc của mình, thức tỉnh lương tâm: “Xin đừng bao giờ nói: tôi bận quá, tôi không có thì giờ, tôi không có thì giờ. Hãy bao dung, hãy rộng lượng, hãy thương người như thể thương thân, thì chúng ta có 24 giờ một ngày là nhiều lắm.Thương người, đây là giá trị tinh thần quan trọng lắm… Thương người nên cho họ những gì thuộc về tinh thần: một lời cầu nguyện chân thành, những nụ cười hiền lành, tiếng cười giòn tan.”
Vậy thì có gì đâu mà chần chừ, 24 giờ dẫu bộn bề, chúng ta hãy cho nhau thời gian, dành chút chia sẻ với những khúc tâm tình Hoa Cỏ Bên Đường của Kiều Mỹ Duyên.
Bởi, có được một tiếng cười giòn tan đâu phải là niềm hạnh phúc chúng ta dành cho người mà còn cho chính bản thân chúng ta.
Bài của Ngã Văn
Lễ Phục Sinh, Hill, 2021
M HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG KIỀU MỸ DUYÊN
Bài của Ngã Văn
Lễ Phục Sinh, Hill, 2021
Làm người, không có gì hào sảng hơn, là được sinh tử với những gì mình hằng mong sinh tử cùng. Làm phóng viên, không có gì cảm hứng hơn là được thành nhân chứng của những nhân chứng và sự kiện. Cả hai nguyện ước, đời và nghề, đã làm nên một miền hoa cỏ có tên gọi là Kiều Mỹ Duyên. a
Nói là miền bởi trong các tác phẩm dung dị viết ra như không ấy lại nặng trĩu tình người, tình quê hương, và tình nhân loại như là bản nhiên hiện sinh trong góc nhìn báo chí sôi động như lời của tác giả, “Tôi không viết truyện mơ mộng lên cung trăng, tôi viết về người thật việc thật, viết hoài không hết, cần gì bay lên Trời, hay bay lên cung Trăng thăm chị Hằng. Tôi sống thật, thương thì nói là thương, ghét ai thì im, không nói ghét, vì người nào cũng có điểm dễ thương của họ. Họ không thích mình tại vì mình không khéo léo, thế thôi.” Thế thôi- tối giản nên chứa đựng can trường như kẻ đi vào bát phong thị phi mà chẳng ngại ngần.
Trong Chinh Chiến Điêu Linh, Kiều Mỹ Duyên tuyên từ, “chiến trận đối với người phóng viên chiến trường cũng tựa như ánh đèn sân khấu đối với người nghệ sĩ.” Đó quả nhiên là duyên khởi của một nghiệp nữ nhưng chí trượng phu vác bút xông pha chinh chiến trên bốn vùng chiến thuật, được sống với cái chết và được chết với đau thương trong tận cùng giới hạn của bi thảm binh lửa. Âu đó cũng là cái phúc can đảm đời người. Người phóng viên, với kỹ năng làm báo và sự may mắn, có thể trở thành ký giả xuất sắc nhưng nếu không duyên trì tự tính, ắt rằng khó có thể được cửa mở ra với mọi tấm lòng dù hao mòn vân tay gõ. Bút lực và nhãn quan tận hiến, Kiều Mỹ Duyên tiếp cận và đối thoại với mọi đối tượng để chuyển tải thông tin và kể lại những câu chuyện chính sự cũng như bên lề để phụng sự độc giả và khán thính giả. Đa dạng nhưng chẳng hề phân tán, Kiều Mỹ Duyên đi sâu khai thác vào bốn đề tài trở thành máu thịt: Hoạt động tôn giáo, Chính trị Việt Nam, Tri ân chiến hữu chiến sĩ, và Tình tương thân, tương ái cộng đồng vô phân biệt trong và ngoài nước.
Lòng thành, Kiều Mỹ Duyên kết nối mọi tấm tình
Hoa Cỏ Bên Đường cho người đọc được gặp gỡ với bao nhiêu phẩm hạnh đa dạng từ các vị ngôi trên tôn giáo, nhà chính trị lừng danh thế giới cho đến những thân phận con đỏ, con đen xứ Việt và ngoài xứ Việt. Mọi nhân vật hiện ra, dù khác biệt đức tin hay chính kiến, đều bình đẳng trong con chữ mộc mạc chân thành với những hoài bão về một đất nước Việt Nam hạnh phúc và hòa bình, Dân Chủ và Tự Do, một cộng đồng Việt hải ngoại mạnh mẽ và có tiếng nói trong không gian chính trị, tôn giáo, và văn hóa của Hoa Kỳ nói riêng và thế giới.
Niềm thiêng ấy hiện ra trong từng con chữ tràn đầy tự hào và khát vọng khi Kiều Mỹ Duyên viết về những vị chức sắc tôn giáo cao hạnh như “hai viên ngọc kim cương của Phật Giáo Việt Nam” là Thiền Sư- Thi sĩ Tuệ Sỹ và Thiền Sư- Triết Gia Lê Mạnh Thát. Kiều Mỹ Duyên duyên phước được gặp và viết về Hòa Thượng Thích Tâm Châu, vị cao tăng “ kiến thức uyên thâm, đi khắp nơi thế giới hoằng pháp” và không ngơi nghỉ tranh đấu cho một Việt Nam tự do lạc phúc. Kiều Mỹ Duyên là nữ “nang-pa- người ở trong” cõi Phật nhưng thiện tính, chị cũng trong lành một tâm hồn dâng Chúa. Kiều Mỹ Duyên dành sự tri ơn với Hồng Y Phạm Minh Mẫn, Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt, và Linh Mục Anthony Đào Quang Chính. Linh thể phụng sự Chúa, vị cha chánh xứ của nhà thờ Saint Catherine of Alexandria, Temecula, California và Hạt Trưởng hạt Hemet, Giáo Phận San Bernadio, hiếu thảo nhường một phần cơ thể mình để duy trì sự sống của thân phụ. Đạo và đời, tình yêu thương và trí tuệ uyên bác tương giao đã làm nên chân dung Linh Mục Anthony Đào Quang Chính, một vị Linh Mục từ tâm tương liên văn hóa mang trong mình dòng máu Việt.
Quê hương Việt Nam cồn cào ngòi bút của Kiều Mỹ Duyên.
Kể cả khi phỏng vấn các nhà chính trị hay học giả phương tây, Kiều Mỹ Duyên trước sau cũng trọng tâm hướng về nước Việt và con người Việt. Trong câu chuyện với cựu tổng tống Liên Bang Xô Viết Mikhail Sergeyvich Gorbachyov, Kiều Mỹ Duyên cũng không quên đặt vấn đề trực diện về Tự Do và Dân Chủ của Việt Nam. “Bao giờ Trung Quốc có Tự Do thì Việt Nam có Tự Do.” Câu trả lời ngắn gọn mà thấu suốt lịch sử thăng trầm của hai nước Việt- Trung nói lên tầm vóc của một chính trị gia- một nhân vật lịch sử góp phần làm tan băng chiến tranh lạnh- thật đáng để cho các sử gia cũng như người Việt suy ngẫm về thế sự dân tộc từ góc nhìn quan hệ quốc tế đa chiều. Tôi mong một ngày nào đó, Kiều Mỹ Duyên sẽ giới thiệu đầy đủ với bạn đọc tất cả những cuộc phỏng vấn của chị bởi đó là tư liệu sử và báo chí đáng quý.
Lòng tự tôn dân tộc, sự tri ân và chia sẻ với thế hệ đi trước, đặc biệt là với các cựu quân nhân và gia quyến chịu đựng khổ đau trước và sau 1975 là động lực khởi dậy những hoài bão của Kiều Mỹ Duyên về một cộng đồng Việt Nam “có chỗ đứng quan trọng trong các sinh hoạt tôn giáo, chính trị ở khắp nơi trên thế giới. Sự thành công của thế hệ thứ nhất và nhiều thế hệ sau này là niềm hãnh diện của người Việt Nam.”
Việt Nam yêu thương, Việt Nam đau thương, Việt Nam là mảnh đất của máu và nước mắt nhưng cũng là vùng đất thơ mộng và kiêu hùng của những Thiên Thần Mũ Nâu không bao giờ vơi trong ký ức sống của mỗi người Việt. Mỗi con người là mỗi mảnh đất tha hương nhưng không rời bỏ quê hương. Người đọc có thể nghẹn lòng “nghe tiếng nói đau đớn của các quả phụ tử sĩ, của cô nhi về người thân của họ, là tôi muốn khóc. Không ai quên những người đã chết. Họ vẫn còn sống đây với vợ con, cha mẹ. Họ vẫn còn sống ở đây với chiến hữu, đồng bào. Họ vĩnh viễn sống trong trái tim của những người thương mến họ. Hỡi vong linh các chiến sĩ oai hùng, xin phù hộ cho mọi người, nhất là đoàn hậu duệ, nối gót cha ông.”
Đó là lời chứng của một con người đi qua cuộc chiến, mang quá khứ vào hiện tại để nuôi nấng tương lai.
Việt Nam yêu thương, Việt Nam đau thương, Việt Nam Chinh Chiến Điêu Linh máu và nước mắt không bao giờ vơi trong ký ức sống của mỗi người Việt. Mỗi con người là mỗi mảnh đất tha hương nhưng không rời bỏ quê hương. Người đọc có thể nghẹn lòng với mỗi lần tôi nghe tiếng nói đau đớn của các quả phụ tử sĩ, của cô nhi về người thân của họ, là tôi muốn khóc. Không ai quên những người đã chết. Họ vẫn còn sống đây với vợ con, cha mẹ. Họ vẫn còn sống ở đây với chiến hữu, đồng bào. Họ vĩnh viễn sống trong trái tim của những người thương mến họ. Hỡi vong linh các chiến sĩ oai hùng, xin phù hộ cho mọi người, nhất là đoàn hậu duệ, nối gót cha ông.”
Lòng tự tôn dân tộc, sự tri ân và chia sẻ với những thế hệ đi trước, đặc biệt là với các cựu quân nhân và gia quyến chịu đựng khổ đau trước và sau 1975 là động lực khởi dậy những hoài bão của Kiều Mỹ Duyên về một cộng đồng Việt Nam “có chỗ đứng quan trọng trong các sinh hoạt tôn giáo, chính trị ở khắp nơi trên thế giới. Sự thành công của thế hệ thứ nhất và nhiều thế hệ sau này là niềm hãnh diện của người Việt Nam.”
Dòng máu giúp người thương đời của bậc phụ mẫu gieo mầm và nảy nở làm nên tâm hồn đa cảm nhưng không thiếu sự quyết liệt dấn thân vào những chuyến đi, những câu chuyện, những thân phận khác lạ những chẳng hề xa lạ trong đời sống như Kiều Mỹ Duyên tâm tình, rằng: Cha Mẹ nào cũng có nhiều đề tài để con cháu viết truyện viết sách. Mẹ tôi cũng vậy, sự mộc mạc chất phác của Mẹ tôi, tình thương người của Mẹ tôi cũng đủ để tôi viết dài dài. Để viết “dài dài” về một biến cố lịch sử không khó nhưng viết dài dài về một “sự mộc mạc” là không hề dễ dàng. Bằng nụ cười hồn nhiên, bằng nước mắt chia sẻ, chị biến bao nhiêu sự mộc mạc thành phẩm hạnh đời sống chị sống cùng và sống trong nó từng hơi thở.
Mưu sinh thời công nghệ, thời gian dường như ngày càng ngắn lại trong khi con người bận rộn hơn vì vậy tình yêu thương và sự chia sẻ cũng theo đó mà hư hao. Hoa Cỏ Bên Đường, với sự mộc mạc của mình, thức tỉnh lương tâm: “Xin đừng bao giờ nói: tôi bận quá, tôi không có thì giờ, tôi không có thì giờ. Hãy bao dung, hãy rộng lượng, hãy thương người như thể thương thân, thì chúng ta có 24 giờ một ngày là nhiều lắm.Thương người, đây là giá trị tinh thần quan trọng lắm… Thương người nên cho họ những gì thuộc về tinh thần: một lời cầu nguyện chân thành, những nụ cười hiền lành, tiếng cười giòn tan.”
Vậy thì có gì đâu mà chần chừ, 24 giờ dẫu bộn bề, chúng ta hãy cho nhau thời gian, dành chút chia sẻ với những khúc tâm tình Hoa Cỏ Bên Đường của Kiều Mỹ Duyên.
Bởi, có được một tiếng cười giòn tan đâu phải là niềm hạnh phúc chúng ta dành cho người mà còn cho chính bản thân chúng ta.
Bài của Ngã Văn
Lễ Phục Sinh, Hill, 2021
HÔM NAY: Mừng Ngày Trái Đất! Lê Văn Hải
-

Cảm tác theo bài viết “Mừng Ngày Trái Đất” của Chủ Tịch VTLV Lê Văn Hải

(Cảm tác từ bài viết “Hôm Nay: Mừng Ngày Trái Đất!” Của chủ tịch VTLV Lê Văn Hải)
*
Mừng ngày TRÁI ĐẤT hôm nay
Hăm Hai Tháng 4, EARTH DAY toàn cầu
Loài người bốn bể năm châu
Cùng nhau bắt một nhịp cầu thương yêu
Giữ gìn trái đất mỹ miều
Ngôi nhà nhân loại thoát điều hiểm nguy
Nếu không bảo vệ duy trì
Nguồn năng lượng sạch lấy gì nuôi ta
Địa cầu sức nóng vượt xa
Khả năng tai họa gây ra ngút trời
“Chiến Dịch Thế Hệ Xanh” mời
Nơi nơi chung sức, người người chung tay
Trồng cây, tiết kiệm nước ngay!
Dùng năng lượng sạch, rác thay “Circle!”
Phá rừng, khai quặng, nhựa thô,
Nilon, túi gói, thay vô giấy thường
Giúp cho trái đất miên trường
Hành tinh xanh đúng thiên đường thế gian
Sống vui, sống thọ, hân hoan
Vòng quay trái đất vững vàng thiên thu…
Phương Hoa – APR 22nd 2021
Hôm Nay: Mừng Ngày Trái Đất! Hằng năm, Thứ Năm 22 tháng 4, nhiều nơi trên thế giới dành ngày này để mừng “Earth Day!” (Ngày Trái Đất). Ý nghĩa “Ngày Trái Đất” “Ngày Trái Đất” là ngày được dành ra hằng năm, để nhận thức về môi trường, nơi mà loài người sinh sống. Thứ đến, nhằm nhắc nhở mọi người ý thức bảo vệ và duy trì “ngôi nhà trái đất,” nơi độc nhất cư ngụ của tất cả con người.“Ngày Trái Đất” được cử hành vào 22 tháng Tư hằng năm, trên 40 năm nay. Ý niệm lập ra “Earth Day” do Thượng Nghị sĩ Hoa Kỳ, Gaylord Nelson đề xướng vào năm 1970, với mục đích tiến tới một môi trường sạch, lành mạnh cho cuộc sống. Từ năm 2000, bước sang thiên niên kỷ mới 21, “Ngày Trái đất” mở thêm chiến dịch rộng rãi, đối phó với hiện tượng địa cầu ấm, hay nóng dần lên, (gây biết bao nhiêu tai họa) và thúc đẩy việc xử dụng năng lượng sạch.Có trên 5000 nhóm hoạt động cho môi trường tham gia, đưa thông điệp tới hàng tỉ người đến 184 quốc gia. Ngày này, càng ngày càng nhiều nước công nhận và tham gia. Góp tay vào “Chiến Dịch Thế hệ Xanh,” cùng nhau tô mầu cho trái đất xanh trở lại, (trồng cây, không phá rừng) giữ trái đất sạch, tránh xả rác, để trái đất còn có… chỗ thở! Không chung tay gìn giữ, con người không còn chỗ cư ngụ, trong thời gian chưa kiếm được một hành tinh nào khác, có điều kiện sống như trái đất!Nên tất cả chúng ta đều phải nhận thức rằng: Chung tay giữ trái đất sạch, là trách nhiệm tất cả mọi người! Quan niệm “kho Trời vô tận!” muôn đời xài không bao giờ hết! không còn thích hợp nữa. SOS! Báo động đỏ, con người đã xài gần hết rồi! Trái đất sắp sửa cạn kiệt! Nếu con người không biết giữ gìn, bảo vệ, chỉ có 2 nơi con người phải chọn trước mắt để ở mà thôi: Thiên đàng hay Hỏa Ngục!Mừng Ngày Trái Đất mang ý nghĩa “cảnh cáo” dễ sợ, không thể giỡn chơi này. Happy Eath Day 2021! Lê Văn Hải |
THƠ TÌNH NGHĨA ANH EM – TRƯỜNG GIANG Giới Thiệu
TÌNH NGHĨA ANH EM
*
Bài thơ này do Cụ ĐẶNG VĂN KHÔI (Môn sinh của Tam Nguyên YÊN ĐỔ NGUYỄN KHUYẾN) cũng là Thân Phụ của Nhà Thơ TRƯỜNG GIANG sưu tập chép trong cuốn VẠN BẢO QUỐC ÂM CHÂN KINH truyền lại.
Vì thấy Bài Thơ có giá trị Giáo-dục tốt, Trường Giang xin phổ biến đến Quý Vị khắp nơi để có thêm tài liệu giáo dục cho các thế hệ trẻ tuổi trong tương lai.
Chân thành cảm tạ)
Trường Giang
*
THƠ ĐƯỜNG LUẬT
*
Sau trước cùng nhau khúc ruột già,
Chớ nên nấu thịt mượn nồi da.
Cành Kinh (a) phải giữ cho xanh lá,
Thước vải (b) yêu nhau lựa đủ tà.
Những lúc ấm êm đành đã vậy,
Còn khi hoạn nạn nghĩ sao a ?
Anh em ăn ở nên hòa thuận,
Chớ để đau lòng đến mẹ cha…
*
THƠ LỤC BÁT
*
01/68- Anh em chính thực chân tay, (1)
Chân tay đau yếu thân nay hẳn là.
Cùng nhau một cửa sinh ra,
Cùng nhau con mẹ con cha khác gì.
Kể từ lúc bé tí ti,
Ăn, nô, chơi, ngủ, đứng, đi một đoàn.
Có khi thong thả thư nhàn,
Anh em sách vở chuyện bàn với nhau.
Có khi chơ quán chơi cầu,
10/68- Giắt tay anh trước, em sau nhạn hàng.(2)
Quý nhau như bạc, như vàng,
Tình thêm thân ái, nghĩa càng thủy chung (3)
Đến khi đông vợ, đủ chồng,
Trách ai sao nỡ đem lòng đảo điên.(4)
Trúc kia khóm đã không liền,
Riêng nơi trưởng dục (5) riêng miền băng nha. (6)
Đến khi cha mẹ về già,
Anh em chẳng những không hòa lại tranh.
Anh rằng ruộng đất của anh,
20/68- Em rằng thóc cót, bạc giành của em.
Em rằng giở chúc thư (7) xem,
Anh rằng mặt chú mà xem được à ?
Nào là hương hỏa (8) phần ta,
Nào ta lo vệc mẹ cha đã nhiều.
Em rằng bác chỉ nói hươu, (9)
Nào đem cái sổ chi tiêu xem nào.
Anh rằng chú nói hay sao,
Này đây ỷ, khám (10) tôi giao chú thờ.
Thóc tiền chú hỏi bây giờ,
30/68- Trưởng nam (11) chú tính còn nhờ nỗi chi.
Em rằng bác nói thế thì,
Mẹ cha dễ chẳng có gì cho tôi.
Thôi thì thôi, thế thì thôi,
Bác nay chớ có trách tôi tệ tình.
Nó thôi em nghĩ bực mình,
Về nhà xui vợ tỏi hành rang ca. (12)
Làm cho anh rất xấu xa,
Rồi đem mảnh giấy đến Nha (13) kêu trình
Than ôi đã đến tụng đình, (14)
40/68- Thế là đoạn nghĩa, tuyệt tình anh em. (15)
41/68- Còn đâu máu chảy ruột mềm,
Còn đâu hạnh phúc ấm êm thuở nào.
Dù cho nước lã đầy ao, (16)
Không bằng một giọt máu đào cùng nôi. (16)
Vì ai máu trắng như vôi,
Gà cùng một mẹ liên hồi đá nhau. (17)
Lời xưa một ngựa ốm đau, (18)
Cả tầu chê cỏ là câu răn đời. (18)
Ghi lòng tạc dạ con ơi !
50/68- Muốn khôn thì phải nhớ lời mẹ cha.
Dẫu không cùng ở chung nhà,
Thương nhau vạn dặm đường xa cũng gần.
Phải nên nhớ chữ tương thân, (19)
Thăm nom khi ốm, đỡ đần lúc đau.
Nghèo thì con cá, lá rau,
Giàu thì yến tiệc cùng nhau chung bàn.
Một nhà thơm nức huệ lan, (20)
Anh trên, em dưới muôn vàn yêu thương.
Lời quê chắp nhặt nên chương,
60/68- Để cùng suy gẫm làm gương sau này.
Ngang trời chớ để ong bay, (21)
Kẻo rồi chuốc lấy đắng cay vào mình.
Chữ rằng đức tự duy hinh.(22)
Nghìn sau để lại cho mình tiếng khen.
Lời xưa gần mực thì đen,
Gần đèn thì rạng, phải nên để lòng..
Cùng chung huyết thống Tổ Tông,
68/68- Rách lành đùm bọc, gia phong (23) lưu truyền.
6/86 TRƯỜNG GIANG SƯU TẬP
GHI CHÚ : (Chỉ dành riêng cho giới trẻ VIỆT NAM sinh trưởng ở nước ngoài, không biết rành tiếng Việt.
(a)CÀNH KINH: Là một mẩu truyện. Truyện nói về anh em họ Điền trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp Sơ Đẳng kể rằng: “Cha mẹ để gia tài lại cho hai con. Khi anh em chia nhau đến vật cuối cùng là cây cổ thụ sau vườn thì cây này bị héo rủ. Người anh nghĩ rằng, anh em không đoàn kết với nhau, cũng chẳng khác gì cây cổ thụ bị khô héo trước khi anh em họ Điền chặt đổ để chia nhau. Vì vậy, quyết định không chia gia
tài và cùng ăn ở chung một nhà với nhau.”
(b) THƯỚC VẢI: Là một mẩu truyện Hai anh em mua được một số thước vải để may quần áo. Nếu chỉ may cho một mình anh thì số vải sẽ thừa nhưng số vải thừa này cũng không đủ để may cho em. Người anh quyết định may luôn quần áo cho cả hai anh em. Tuy quần áo bị ngắn nhưng cả hai anh em đều có, chứng tỏ anh em biết chia xẻ tình thương yêu, đùm bọc với nhau.
(1) CHÍNH THỰC CHÂN TAY: Hai chân và hai tay là một trong tứ chi của người ta. Nếu chân tay của anh hoặc em bị sứt mẻ, thương tật thì anh hoặc em cũng cảm thấy như chính mình bị đau đớn.
2) ANH TRƯỚC, EM SAU NHẠN HÀNG: Anh em quây quần bên nhau như đàn chim nhạn bay trên vòm trời, lúc nào cũng có một con đầu đàn hướng dẫn để khỏi lạc đàn. Cũng như anh em ruột thịt trong một gia đình, lúc nào cũng thương yêu, đùm bọc, lẫn nhau.
(3) THỦY là khởi đầu, CHUNG là kết thúc. Ý nói trước sau như một, không lúc nào thay đổi
4) TRÁCH AI SAO NỠ ĐEM LÒNG ĐẢO ĐIÊN: Anh em đang hòa thuận trở thành kình chống đánh lộn nhau. Thay đổi không cần gì đến lẽ phải
5) RIÊNG NƠI TRƯỞNG DỤC: Nơi sinh ra và lớn lên.
(6) RIÊNG MIỀN BĂNG NHA: Nơi được coi là chốn hợp quần của anh em, như răng với môi, đúng như câu tục ngữ của Việt Nam “MÔI HỞ RĂNG LẠNH”. Bỗng nhiên kình chống nhau, mỗi người đi ở một nơi riêng biệt.
(7) CHÚC THƯ : Cuốn sách ghi chép lời cha mẹ viết trước khi chết để các con phải theo đúng lời trong sách đó mà thưc hiện ý định của người đã chết.
(8) HƯƠNG HỎA : Gia tài, của cải cha mẹ để lại cho con
(9) NÓI HƯƠU: Nói tào lao, nói bậy bạ không đúng sự thật.
(10) Ỷ KHÁM : Cái ngai nhỏ bằng gỗ để trên bàn thờ Tổ tiên.
(11) TRƯỞNG NAM: Con trai đầu lòng
(12) TỎI HÀNH RANG CA: Bêu riếu, làm nhục nhau.
(13) ĐEM MẢNH GIẤY ĐẾN NHA: Đem đơn kiện đến trụ sở nơi làm việc của người đứng đầu một địa phương (Huyện, Tỉnh)
14) TỤNG ĐÌNH: Xét xử việc kiện tụng của dân chúng tại Tòa Án
15) ĐOẠN NGHĨA TUYỆT TÌNH: Chấm dứt tình nghĩa giữa anh và em
16) NƯỚC LÃ ĐẦY AO: Do câu Tục ngữ : “Một giọt máu đào, hơn ao nước lã”. Ý nói tình anh em bao giờ cũng thân thiết hơn người ngoài.
(17) BÔI MẶT ĐÁ NHAU: Do câu Tục ngữ : “Gà nhà bôi mặt đá nhau”. Ý nói anh em cùng cha mẹ mà gây gổ, đánh lộn nhau là trái đạo làm người.
(18+19) MỘT NGỰA ĐÁ NHAU: Do câu Tục ngữ : “Một con ngựa đau, cả tầu chê cỏ”. Trong một lán nuôi ngựa, nếu có một con bị đau ốm thì những con khác cũng cảm thấy đau buồn, không chịu ăn cỏ. Trong tình anh em cũng vậy, nếu một trong các anh em trong nhà bị đau ốm thì những người khác đều cảm thấy đau buồn. Cùng thương yêu nhau.
(20) THƠM NỨC HUỆ LAN: Hoa huệ và hoa lan là hai loại hoa có mùi thơm. Ý nói, anh em thương yêu, đùm bọc nhau gây tiếng tốt cho mọi người noi theo.
(21) CHỚ ĐỂ ONG BAY: Ong là sinh vật nhỏ nhưng bay rất nhanh. Lời nói của người ta, dù xấu hay tốt cũng theo làn gió bay đi rất nhanh như con ong vậy.Ý nói, lời cha mẹ dạy, phải ghi nhớ trong lòng. Không nghe lời cha mẹ cũng chẳng khác gì lời nói bay theo làn gió thoảng.
(22) ĐỨC TỰ DUY HINH: : Đức độ của người ta tự nó tỏa ra mùi thơm. Ý nói người làm việc tốt lành,phúc đức thì mọi người đều biết.
(23) GIA PHONG : Phong cách, lề lối dạy dỗ của mỗi gia đình./.
Trường Giang
THƠ GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG – Minh Thúy và Thơ Xướng Họa Cùng Phương Hoa & Thi Hữu
-

Bên trong đền Vua Hùng Vương – Nguồn: Wikipedia
LỄ HÙNG VƯƠNG
(Thể Tam Điệp Thức)
*
Giỗ tổ Hùng Vương, giỗ tổ Hùng
Dưng trời nắng đẹp, đẹp trời dưng
Đền thờ thoả mãn, đền thờ thoả
Lễ hội mừng vui, lễ hội mừng
Nghẹn nhớ nguồn xưa, xưa nhớ nghẹn
Rưng buồn tích cũ, cũ buồn rưng
Tàu tham lấn biển , Tàu tham lấn
Tuổi trẻ ngừng sao, tuổi trẻ ngừng
Minh Thuý(Thành Nội)
Tháng 4/20/2021
*
NHỚ ƠN QUỐC TỔ
(Tam điệp – họa bài Lễ Hùng Vương của Minh Thuý)
*
Quốc Tổ hùng anh, Quốc Tổ Hùng
Mồng Mười dưng lễ, Mồng Mười dưng
Tháng Ba giỗ lớn, tháng Ba giỗ
Tết Sửu mừng to, Tết Sửu mừng
Tâm cảm ái hoài, tâm cảm ái
Dạ sầu rưng tiếc, dạ sầu rưng
Thề noi giữ nước, thề noi giữ
Quyết chẳng ngừng đâu, quyết chẳng ngừng!
Phương Hoa – Ngày giỗ Quốc Tổ – Tháng Ba Âm Lịch, Tân Sửu 2021
GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG
( hoạ bài thầy Đỗ chiêu Đức )
*
Lưu truyền xứ Bắc đất Thăng Long
Sử chép Hùng vương biểu tượng rồng
Đuổi giặc bao thời gìn núi, đất
Xua thù một thủa giữ non sông
Oai phong khí thế đồng chung dạ
Dũng cảm hiên ngang hợp góp lòng
Chữ S hình cong toàn nước Việt
Xin đừng để mất biển trời đông
Minh Thuý (Thành Nội)
Tháng 4/18/2021
NGÀY GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG
(Nhị khúc liên hoàn)
*
Xuân nồng tươi thắm rực màu hoa
Thời tiết dịu dàng đẹp Tháng Ba
Giỗ Tổ Hùng Vương ngày tụ hội
Mồng Mười Âm Lịch buổi giao thoa
Truyền nhân đất Việt năm châu hợp
Con cháu nhà Nam bốn biển hòa
Vọng bái Đền Hùng hương một nén
Khẩn xin Quốc Tổ hộ quê nhà
*
Quê nhà xa cách mấy mươi năm
Buồn đọng đầy tim nghẹn khóc thầm
Biệt xứ hồn đau, đau chẳng dứt
Ly hương mắt lệ, lệ khôn cầm
Nhớ cha chất ngất, nào quay lại
Yêu mẹ trùng trùng, khó viếng thăm
Cầu nguyện anh linh dòng Việt Tộc
Vua Hùng Quốc Tổ giúp nhà Nam
Phương Hoa – Tháng Ba Âm Lịch – Tân Sửu 2021
*
GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG
(Thể Liên Hoàn – Hoạ thơ Phương Hoa)
*
Âm Lịch Mồng Mười đúng tháng Ba
Mùa Xuân sáng rực nắng chan hoà
Ly hương tỏa ấm tình chung nguyện
Biệt xứ trưng nồng nghĩa hợp thoa
Tưởng nhớ Hùng Vương …vua nước Việt
Ghi ơn sử sách …tổ tiên nhà
Đồng lòng tổ chức tròn nghi lễ
Hải ngoại tay người dệt sắc hoa
*
Sắc hoa nhan khói giỗ hàng năm
Nghĩ cảnh xa quê dạ tủi thầm
Hận lũ Tàu gian không chận được
Thù quân Chệt ác chẳng ngăn cầm
Từng đêm nhớ Mẹ đành phone hỏi
Mỗi tối thương người chỉ điện thăm
Mười tám vua Hùng thiêng cứu độ
Yên bờ đuổi giặc đẹp trời Nam
Minh Thuý( Thành Nội)
Tháng Ba Ngày Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương
Con Hồng Cháu Lạc Rộn Rã Vui Mừng
(Dĩ đề vi thủ)
THÁNG BA Âm Lịch đúng Mồng Mười
NGÀY GIỖ hoa đào nở thắm tươi
QUỐC TỔ Thánh ơn, ơn dựng nước
HÙNG VƯƠNG Thần đức, đức răn đời
CON HỒNG muôn thuở luôn ghi huấn
CHÁU LẠC nghìn năm mãi nhớ lời
RỘN RÃ trống cờ tung kiệu rước
VUI MỪNG lễ tiệc khắp nơi nơi…
Phương Hoa – Tháng Ba Tân Sửu
*
NHỚ
(Thủ Nhất Thanh – Hoạ thơ Phương Hoa)
*
NHỚ tháng ba âm lịch chẳn mười
NHỚ mùa hoa lá nở màu tươi
NHỚ công tiên đế gầy nên nghiệp
NHỚ đức rồng vua dựng vững đời
NHỚ mẫu chuẩn kiên cường góp sức
NHỚ khuôn đề quyết liệt chung lời
NHỚ dân nước Việt trông bờ cõi
NHỚ giỗ vua Hùng khắp mọi nơi
Minh Thuý (Thành Nội)
TẠ TỘI – Hoàng Mai Nhất & Ngày Giỗ Hùng Vương – Lê Tuấn
-

Đền thờ Quốc Tổ Hùng Vương Sài Gòn (Nguồn: wikipedia)
Ngâm thơ TẠ TỘI trong ngày giỗ Quốc Tổ
TẠ TỘI
Máu ta đổ cho quê hương ngày ấy
Tuổi trẻ mòn cho đất nước hôm qua
Giờ còn ta nơi xứ người xa lạ
Đường về nhà đã bít lối từ lâu
Tự giận mình kình ngư trên cạn
Sư tử buồn ngoảnh mặt nhớ rừng sâu
Xin tạ tội! Em* yêu ta bỏ lại…
Những đêm dài lặng lẽ cúi đầu!!!
*
Nhưng ta quyết không bao giờ bỏ cuộc
Tìm mọi đường để vực dậy Quê Hương
Không cộng sản bạo tàn trên cố quốc
Lá cờ vàng sẽ mãi mãi tung bay
Trên đất Việt ngàn năm ta yêu quý!!
*
Hôm nay đây trước điện thờ Quốc Tổ
Chúng con là trai Việt phải xa quê
Thắp hương lòng xin Tổ thứ tha cho
Tội không tròn trách nhiệm cứu muôn dân
Cứu đất nước thoát vòng tay cộng đảng
Để bạo tàn ngự trị trên quê hương…
Lòng hổ thẹn trước Tiền Nhân “dựng Nước”
Muôn ngàn lần nhận tội trước “Tổ Tông”
Nén hương này mong Quốc Tổ hiển linh
Độ trì cho nước Việt trường tồn
Thoát cộng sản, thoát vòng nô lệ
Hoàng Mai Nhất
Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương
Người Việt khắp năm châu bốn biển
Nhớ đến ngày Giỗ Tổ, tháng ba
Nhớ ngày truyền thống ông cha
Bốn ngàn năm, tạo sơn hà khắc ghi.
Ngày nước Việt, hào hùng lập quốc
Vua Hùng Vương, các bậc anh tài
Mười tám đời, ngự trên ngai
Khói hương tưởng nhớ, đền đài ghi ơn.
Mẹ Âu Cơ. Con cháu Lạc Hồng
Đánh ngoại xâm, gìn giữ non sông
Ngày nay con cháu một lòng
Hướng về dân tộc, con Rồng cháu Tiên.
Núi sông đã thấm hồng máu đỏ
Máu Việt Nam ghi dấu cội nguồn
Đánh tan lũ giặc điên cuồng
Trống đồng thúc giục, tiếng chuông gọi hồn.
Lê Tuấn
Viết để tưởng nhớ ngày giỗ Tổ Hùng Vương – “song thất lục bát”
Chùm Thơ GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG
CHÙM THƠ NGÀY GIỖ QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG
*
1.NỖI LÒNG NGÀY GIỖ QUỐC TỔ
Tháng Ba Âm lịch, phận ly hương
Nhìn lại quê cha nhớ lạ thường
Bút nghẹn tim sầu ngày Quốc Tổ
Đôi dòng mừng kính lễ Hùng Vương
*
Từ buổi điêu tàn mãi đến nay
Lịch rơi đà bốn mấy năm dài
Lòng luôn đau đáu thương nhà cũ
Nhớ cảnh làng xưa nhớ quắt quay
*
Thuở ấy đình làng, trống Tháng Ba
Mồng Mười giỗ Tổ rộn gần xa
Áo quần nô nức theo chân mẹ
Guốc gỗ ôm nghiêng mũ điệu đà
*
Theo sau đám rước kiệu lên đàng
Nhịp trống thùng thùng tim rộn vang
Cờ ngũ sắc ngời trong gió sớm
Rước linh từ miếu nhập đình làng
*
Sắc Thần Vua tứ, tự nghìn xưa
Bô lão hương thân cung kính đưa
Thượng kiệu cúi đầu nghiêm cẩn cẩn
Rước về đình nội, đúng giờ trưa
*
Hương án khói ngời, trống giục ngân
Heo gà rau trái bày đầy sân
Các bà các chị lo xào nấu
Cờ xí xung quanh gió phật phẩn
*
Tiếng xướng đình trên vọng ngút vang
Sớ dâng Chức Sắc, Việc, nghiêm trang
Tiếng hô: “Giai quị,” rồi văn tế…
Ca ngợi Hùng Vương đức ngập tràn
*
Trống xổ lễ thành, tiếp lịnh ban
Hạ màn, thực phẩm dọn ba gian
Chiếu trên, chiếu dưới, ngồi la liệt…
Nong lớn, dành riêng bọn trẻ ngoan
*
Tiệc tàn, mâm cỗ dư ê hề
Chia miếng thịt làng, người hả hê
Câu nói, “Thịt làng, sàng thịt chợ”
Cười vui, tay xách nách mang về
*
Ngày ấy, nơi nơi hưởng thái bình
Vì đâu đất nước phải điêu linh?
Triệu người lưu lạc, xa lìa xứ
Giờ giỗ Hùng Vương, khóc một mình….
Phương Hoa – Tháng Ba Mồng Mười, Tân Sửu, 2021
***
2. NGÀY GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG
(Nhị khúc liên hoàn)
*
Xuân nồng tươi thắm rực màu hoa
Thời tiết dịu dàng đẹp Tháng Ba
Giỗ Tổ Hùng Vương ngày tụ hội
Mồng Mười Âm Lịch buổi giao thoa
Truyền nhân đất Việt năm châu hợp
Con cháu nhà Nam bốn biển hòa
Vọng bái Đền Hùng hương một nén
Khẩn xin Quốc Tổ hộ quê nhà
*
Quê nhà xa cách mấy mươi năm
Buồn đọng đầy tim nghẹn khóc thầm
Biệt xứ hồn đau, đau chẳng dứt
Ly hương mắt lệ, lệ khôn cầm
Nhớ cha chất ngất, nào quay lại
Yêu mẹ trùng trùng, khó viếng thăm
Cầu nguyện anh linh dòng Việt Tộc
Vua Hùng Quốc Tổ giúp nhà Nam
Phương Hoa – Tháng Ba Âm Lịch – Tân Sửu 2021
***
3.Tháng Ba Ngày Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương
Con Hồng Cháu Lạc Rộn Rã Vui Mừng
(Dĩ đề vi thủ)
*
THÁNG BA Âm Lịch đúng Mồng Mười
NGÀY GIỖ hoa đào nở thắm tươi
QUỐC TỔ Thánh ơn, ơn dựng nước
HÙNG VƯƠNG Thần đức, đức răn đời
CON HỒNG muôn thuở luôn ghi huấn
CHÁU LẠC nghìn năm mãi nhớ lời
RỘN RÃ trống cờ tung kiệu rước
VUI MỪNG lễ tiệc khắp nơi nơi…
Phương Hoa – Mồng Mười Tháng Ba – Tân Sửu
***
4.GIỖ QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG
(Thủ vỹ ngâm – Thuận nghịch độc)
Thuận độc:
Hồng Lạc xứ tiên cõi đẹp xinh
Đất trời xuân tỏa sáng lung linh
Công ghi Quốc Tổ dày tài sức
Đức trải Hùng Vương đậm nghĩa tình
Bông trái phụng đơm đồng kỉnh bái
Cỗ bàn dâng hiến hiệp cung nghinh
Mong cầu Việt Tộc bình an hưởng
Hồng Lạc xứ tiên cõi đẹp xinh
*
Nghịch Độc:
Xinh đẹp cõi tiên xứ Lạc Hồng
Hưởng an bình Tộc Việt cầu mong
Nghinh cung hiệp hiến dâng bàn cỗ
Bái kỉnh đồng đơm phụng trái bông
Tình nghĩa đậm vua Hùng trải đức
Sức tài dày Tổ Quốc ghi công
Linh lung sáng tỏa xuân trời đất
Xinh đẹp cõi tiên xứ Lạc Hồng
Phương Hoa – Tháng Ba Tân Sửu – 2021
***
6.THÁNG BA XUÂN
(Điệp tự)
Tháng Ba Âm Lịch, tháng Ba mừng
Giỗ Tổ Hùng Vương, giỗ Tổ Ân
Mười tám đời Vua, mười tám Đế
Bốn nghìn năm sử, bốn nghìn Xuân
Văn Lang nối gót, Văn Lang tiến
Việt Tộc theo đà, Việt Tộc nâng
Danh tiếng nhà Nam, danh tiếng rạng
Kính tiền Quốc Tổ, kính tiền nhân
Phương Hoa – Tháng Ba Tân Sửu
***
6.LỊCH SỬ NƯỚC VĂN LANG
(Phóng tác theo: “Truyền Thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ”
Nguồn: https://vietnamesetypography.com/samples/lac-long-quan-au-co/)
*
Đất Lĩnh Nam có chàng Lộc Tục
Kinh Dương Vương thuần thục phép thần
Tài cao sức lạ giống Rồng
Lướt băng mặt nước chẳng cần thuyền ghe
*
Động Đình hồ Xuân hè dạo mát
Gặp Tiên nương đài các khôn lường
Nàng là công chúa Long Vương
Ngọc danh Long Nữ đẹp dường gấm hoa
*
Duyên tần tấn giao hoà giai ngẫu
Kết phụ thê đan dấu sắc cầm
Sinh trai Sùng Lãm anh hùng
Đức tài toàn vẹn vượt tầm phụ thân
*
Người nghĩa khí lòng nhân bát ngát
Nối nghiệp cha hiệu Lạc Long Quân
Cũng đạp nước, cũng phân thân
Tay nâng đá tảng nghìn cân như đùa
*
Đất Lĩnh Nam nhân mùa tiết đẹp
Lạc Long Quân thu hẹp đường dài
Ngao du sơn thủy hôm mai
Biển Đông Nam vượt gặp loài Ngư tinh
*
Chém ba khúc đầu, mình, đuôi, rã
“Cầu Đầu Sơn,” đầu hoá núi này
“Cầu Đầu Thuỷ,” mình ở đây
“Bạch Long Vỹ” đảo, đuôi nay vẫn còn
*
Đến Long Biên – Tản Viên, chồn cáo
Sống nghìn năm đại náo xóm làng
Gái lành hãm hại giết oan
Người dân bỏ đất lang thang chạy dài
*
Lạc Long Quân trổ tài oanh liệt
Chồn chín đuôi đánh diệt tinh hồ
Nước sông Cái lấp hang mồ
“Đầm Xác Cáo” chính Tây Hồ ngày nay
*
Đất Phong Châu dạn dày thân Chúa
Dạy người dân trồng lúa, thổi cơm
Nhà sàn cất ở sớm hôm
Học điều lễ nghĩa cha con, vợ chồng
*
Sau Đế Lai từ đông Bắc tới
Công Chúa yêu tên gọi Âu Cơ
Tuyệt trần nhan sắc ươm thơ
Lạc Long Quân gặp ngẩn ngơ lòng vàng
*
Âu Cơ cũng bàng hoàng lưu luyến
Bậc hùng anh uy tướng bất phàm
Tơ hồng phận đẹp duyên cam
Theo về cung điện kết làm phu thê
*
Nồng hương lửa trọn bề ân ái
Tình đơm bông kết trái rỡ ràng
Âu Cơ sinh bọc nhung vàng
Nở ra trăm trứng huy hoàng trăm con
*
Lớn như thổi, lại toàn nam tử
Giống Tiên Rồng lịch sử phát nguyên
Tổ tiên “Bách Việt” lưu truyền
Long Quân con cháu cội nguồn từ đây
*
Đất Phong Châu trao tay trưởng tử
Hiệu Hùng Vương nước chữ “Văn Lang”
Rồng, Tiên chia biệt đôi đàng
Năm mươi xuống biển, lên ngàn năm mươi
*
Quốc Tổ Hùng là người dựng nước
Mở lòng từ từng bước an dân
Lạc hầu, lạc tướng, võ, văn
Đặt ra luật lệ quân thần nghiêm trang
*
Người Bách Việt sống tràn hạnh phước
Mười tám đời nối bước: Hùng Vương
Văn Lang dân tộc quật cường
Học tiền nhân quyết chống phường ngoại xâm
*
Việt Nam Bốn Nghìn Năm Văn Hiến
Trải qua nhiều chinh chiến bể dâu
Dẹp Phiên, đánh Pháp, đuổi Tàu
Hùng Vương hậu duệ dám đâu lơ là
*
Nguồn sử Việt nước nhà oanh liệt
Giống Rồng Tiên hào kiệt khắp nơi
Tháng Ba Âm lịch Mồng Mười
Hùng Vương Quốc Tổ người người nhớ ơn….
Phương Hoa – Mồng Mười tháng Ba – Ngày Giỗ Quốc Tổ – Tân Sửu 2021
Tuyển Tập Kiều Mỹ Duyên: HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG – Việt Hải, Khánh Lan, và Thụỵ Lan
Cách đây khá lâu khi tôi thực hiện tuyển tập Tây Ninh Quê Tôi dịp mỗi năm xuân về, hay ấn hành những đặc san văn hoc như Văn Học Thời Nay và Văn Đàn Đồng Tâm, tác giả Kiều Mỹ Duyên đã gởi bài góp mặt. Tôi thực sự trân quý tấm chân tình yêu văn chương, chữ nghĩa và lối viết hay phong văn bộc bạch chân thật, rõ ràng của bà. Xuyên qua tác phẩm này độc giả sẽ nghiệm ra điều như vậy. Đây là tác phẩm thứ hai sau tác phẩm khá thịnh hành về phóng sự chiến trường Chinh Chiến Điêu Linh của Kiều Mỹ Duyên.
Đọc qua Hoa Cỏ Bên Đường thì sách này gói ghém nhiều câu chuyện đời thường của tác giả khi sinh hoạt trong cộng dồng, dù là truyền thông báo chí, từ thiện xã hội, tôn giáo tâm linh hay địa ốc tài chánh,… của tác giả. Nó tiêu biểu cho những chuyện kể tin tích cực cần chia sẻ như YMCA: Niềm tin và hy vọng cho tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại (trang 157); Cảnh sát là bạn dân (trang 183); Có gan, làm giàu (trang 220); Những nữ tu sĩ dễ thương (trang 358); Hãy cho nhau tiếng cười (trang 429), Cho nhau thì giờ (trang 442) hay Lạc quan yêu ngưới, yêu đời mà sống (trang 452);…; hoặc những chuyện kể tin không vui nhưng chúng ta cần ôn lại nhắc nhớ như tin cộng đồng, những bản tin đồng hương kém may mắn như ở trang 239 tin bà con miền trunng ở quê nhà chịu nạn thiên tai lũ lụt; bài Cứu Người Như Cứu Lửa Cứu Lụt Bà Con Ơi!; bài đi thăm người Việt ở Miên sống khổ cực nơi xứ người; Một Chuyến Đi Ngậm Ngùi (trang 253); Và những bản tin về người quá cố như quý Hoà thượng Thích Tâm Châu, Thích Giác Nhiên, Thích Quảng Thanh, Trung tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn, Nhà văn Đỗ Phương Khanh, Phóng viên chiến trường Phan Trần Mai (trang 413). Bài Nhà sách Tú Quỳnh Giã Từ Đồng Hương (trang 401).
Tuyển tập Kiều Mỹ Duyên: Hoa Cỏ Bên Đường gồm có 41 bài viết gom góp lại từ nhiều năm qua. Sách dầy hơn 460 trang, trình bày kỹ thuật ấn loát do GS. Phạm Hồng Thái đảm nhiệm. Bìa sách do Phương Hoa. Cơ sở Văn Thơ Lạc Việt ấn hành. Sau đây ba anh em chúng tôi: Khánh Lan, Thụỵ Lan và Việt Hải thuộc Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian xin đi tiếp về quan điểm nhận định về tác giả Kiều Mỹ Duyên và tác phẩm Hoa Cỏ Bên Đường.

Nhà bào Kiều Mỹ Duyên tên thật là Nguyễn Thị Ẩn. Mặc dù tác giả Kiều Mỹ Duyên nhiều lần minh định bà không là nhà văn, mà bà chỉ viết báo. Trước 1975, bà viết bài cho các tờ Công Luận, Hòa Bình và Trắng Đen. Từ 1964 bà chuyên viết phóng sự về xã hội và chiến trường. Năm 1976, bà vượt biên và định cư tại miền Nam California, Hoa Kỳ. Bà từng du học Úc Châu qua học bổng Colombo Plan vào cuối thập niên 60 về cử nhân ngành báo chí. Qua Mỹ bà theo học tại trường Đại Học Cal State Fullerton, tốt nghiệp cử nhân các khoa Báo Chí, Chính Trị và Địa Ốc vào năm 1982. Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, bà chuyên viết những phóng sự chiến trường cùng những mảnh đời xã hội tan thương do chiến cuộc. Bước chân của bà ra mặt trận tiền phương theo những cuộc hành quân và nhiều chiến trường sôi động, khốc liệt nhất của thập niên 1970. Tác phẩm Chinh Chiến Điêu Linh ghi nhận giai đoạn này.
Kiều Mỹ Duyên: nhà văn hay nhà báo ?

Theo 2 bạn văn Thụỵ Lan và Khánh Lan cho là 2 phương vị này đều đúng với bà. Tôi đồng ý như vậy. Hãy tìm hiểu phần vụ của mỗi phương vị.
1/ Nhà văn là người chuyên sáng tác ra các tác phẩm văn học, đã có tác phẩm được công bố ra công chúng và ít nhiều được độc giả thừa nhận giá trị của một số tác phẩm. Kỹ năng của các nhà văn qua việc sử dụng ngôn ngữ để mô tả một ý tưởng, một câu chuyện hay qua bối cảnh, dù đó là do chuyện thực tế hay hư cấu.
2/ Còn nhà báo là người làm công việc đưa tin tức chuyên nghiệp, có nhiệm vụ tìm kiếm các tin tức sau khi phối kiểm tính xác thực của nguồn tin. Nhà báo chịu trách nhiệm bài viết của mình khi đưa tin ra công luận.
Hai tác phẩm của Kiều Mỹ Duyên như sách Chinh Chiến Điêu Linh khiến tác giả vừa là ký giả chiến trường kiêm nhà văn kể chuyện chiến tranh. Tác phẩm Hoa Cỏ Bên Đường lại là thể loại văn tạp ghi hay tạp bút với nhiều chủ đề.
Trên thực tế biên giới giữa nhà văn và nhà báo bị trùng lặp, trùng nhau, bởi vì báo đăng văn, văn đăng trên báo, ví du như Những Cột Trụ Chống Giữ Quê Hương (Phan Nhật Nam); Cửu Long Cạn Dòng Biển Đông Dậy Sóng (Ngô Thế Vinh); Bánh Mì Ai Cập, Cá Việt Nam, Khát Vọng Con Người (Trần Trung Đạo); hay Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch (Ngô Thế Vinh); …
Nhà báo viết văn, nhà văn viết báo cũng là chuyện chẳng phải gì lạ cả. Viết báo, viết văn vốn ở thể văn xuôi (prose). Phải chăng văn chương và báo chí vẫn thường được ví như hai anh em chung mái nhà chữ nghĩa. Bên phương trời Tây Âu họ như bên ta. Quý ông “văn kiêm báo” hay “báo kiêm văn” như những Daniel Defoe, Samuel Richardson, Henry Fielding, Lawrence Sterne, … (novelists or journalists), ví dụ như nhà văn nhà báo Jonathan Swift với danh tác Gulliver’s Travels, và nhà văn nhà báo Daniel Defoe với danh tác Robinson Crusoe.
Tác phẩm Chinh Chiến Điêu Linh cho thấy Kiều Mỹ Duyên đóng vai trò nhà báo khá rõ ràng, nhà báo xông pha nơi chiến trường viết tường trình sống động, 100% ta không bàn thảo. Và ở tác phẩm mới Hoa Cỏ Bên Đường nhà văn Khánh Lan (một học trò Văn Hoá Quân Đội của GS. Nguyễn Thị Ẩn, môn Công Dân ngày xưa) đọc bài viết do nhà văn Kiều Mỹ Duyên, dẫn dụ những bài viết mô tả những đặc tính văn chương của Kiều tác giả như sau:
“Buổi sáng thức dậy, tôi vẫn nghe tiếng hát reo vui của những con chim nhỏ vui đùa chuyền từ cành cây này sang cành cây khác. Những trái đào vàng rực rỡ trên cây, những trái ổi óng ả quằn cành cây từng chùm, từng chùm. Ôi, đời sao đẹp quá! Cảnh thiên nhiên dễ thương, vô tư làm cho những nỗi buồn bay xa, bay cao, không còn ở trần gian này nữa.” (trích bài Có Tin Vui Giữa Giờ Tuyệt Vọng. 24/12/2020. Kiều Mỹ Duyên).
Một ví dụ khác cho thấy sự thi vị của văn chương của nhà văn Kiều Mỹ Duyên trong sự mô tả không gian bối cảnh:
“Hàng tre trúc xanh mướt
Những bạn bè tôi đã đến Tây Ninh, họ có dịp ghé qua và nhớ về một địa danh đã ghi sâu dấu ấn vào âm nhạc, và đó là Tha La Xóm Đạo, nơi có những hàng tre trúc xanh mướt mà tàn cây đan vào nhau như ngày xưa tôi đã chiêm ngưỡng. Ở đây có bóng dáng những cô gái mỹ miều trong chiếc áo dài thiết tha dự lễ tại giáo đường. Hỡi ai còn nhớ câu thơ của Vũ Anh Khanh…
“Đây Tha La Đây Xóm Đạo hoang tàn
Mây trời vây quanh màu tang khói lửa
Bao năm qua, Tha La còn chờ đó
Đoàn người đi giết thù đã hẹn về từ dạo ấy
Lòng viễn khách, bồi hồi như thương tiếc
Mùa thu nắng hanh vàng…”
(Hận Tha La, nhạc và lời Sơn Thảo)”, (Kiều Mỹ Duyên, Đặc san Tây Ninh Quê tôi, Xuân Đinh Hợi 2007, “Tây Ninh: Hẹn Một Ngày Về”).
Thấy chưa nhỉ, văn phong bóng bẩy, mượt mà đáng yêu với những lãng đãng chất văn chương lãng mạn, có khác nào những Mai Thảo, Nguyên Sa, Nhật Tiến, Thạch Lam hay Nguyễn Xuân Hoàng,… theo ý tưởng thiển nghĩ của anh em tôi.
Còn nhà văn Thụy Lan đọc văn chương Kiều Mỹ Duyên, cô chú trọng về nét bao dung, từ tâm của tác giả Hoa Cỏ Bên Đường, trích đoạn sau:
“Người hạnh phúc và vui vẻ thì sống lâu, sức khỏe dồi dào, không đau bệnh. Người lạc quan, cười nhiều sống lâu hơn người hay than thở, chán nản. Ai cũng thích sống với người lạc quan hơn người bi quan. Hàng ngày, chúng tôi gặp nhiều người tươi cười như ngày hội Tết, lúc nào cũng cười, khuôn mặt tươi như hoa, tiếng nói như chim hót mùa Xuân. Những người này làm việc gì cũng thành công. Người thành công là người hạnh phúc, vì hạnh phúc nên thành công. Người lạc quan thì trẻ mãi không già. Sống vui, sống khỏe, sống hạnh phúc, ai cũng mong có đời sống như thế. Nhưng có bao nhiêu người trong chúng ta được đời sống hanh thông như thế?”, (Hạnh Phúc Cho Đi. 04/03/2021, Kiều Mỹ Duyên).
Ví dụ khác: Hãy yêu mình, hãy yêu người xung quanh mình…
“Hãy yêu mình, hãy yêu người xung quanh mình. Yêu người nhưng phải tự trọng, vì yêu người không phải đi xin thứ này, thứ nọ của người đó, nhất là xin thì giờ, xin kiến thức. Kiến thức phải đến trường học và học với nhiều người, nhiều ngành khác nhau, không phải chỉ học với một người. Chúng ta vào trường đại học cùng học với nhiều người chứ không chỉ học với một giáo sư duy nhất.”, (bđd, Hạnh Phúc Cho Đi. 04/03/2021, Kiều Mỹ Duyên).
Ý tưởng chân tâm, vị tha khi ta sống san sẻ, hạnh phúc lạc quan như Mẹ Teresa từng chia sẻ: “Chúng ta hãy luôn mỉm cười gặp nhau, vì nụ cười là khởi đầu của tình yêu.” (Let us always meet each other with smile, for the smile is the beginning of love). Hay như triết gia Ần quốc Debasish Mridha ghi nhận trong danh tác của ông Verses of Happiness: “Cuộc sống đơn giản và ngắn ngủi nhưng tình yêu là vô hạn và vĩnh cửu. Vì vậy, hãy cho đi nhiều nhất có thể được, không cần phải phán xét bất cứ ai ”(Life is simple and short but love is infinite and eternal. So give it away, as much as you can, without judging anyone.).
Phải chăng trong tâm tư nhà văn Kiều Mỹ Duyên chất chứa nét triết lý duy tâm nhẹ nhàng trong phong văn. Đọc Kiều Mỹ Duyên, tôi nghiệm ra rằng bà có quan điểm tựa như GS. y khoa Henri de Mondeville cho là “Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ” ( Le rire est la meilleure médecine), hay triết gia Bertrand Russel nhận định là “Tiếng cười là liều thuốc kỳ diệu rẻ tiền nhất và hiệu quả nhất” (Le rire est le médicament miracle le moins coûteux et le plus efficace); hoặc như văn hào Victor Hugo ghi nhận: “Làm được cho mọi người cười là làm cho mọi người quên thì thật là một ân nhân trên quả đất này, là một nhà phân phối của sự lãng quên!” (Faire rire, c’est faire oublier. Quel bienfaiteur sur la terre qu’un distributeur d’oubli !); hay như nhạc sĩ tài hoa Frédéric Chopin cho cảm nghĩ: “Những người không bao giờ cười không phải là những người nghiêm túc.” (Les gens qui ne rient jamais ne sont pas des gens sérieux). Kiều Mỹ Duyên chủ trương sống thoải mái, triết lý sống thanh tao, đơn giản và san sẻ, bà nhìn cuộc đời bằng trái tim mở rộng cảm thông, bà lạc quan trong nhân sinh quan của chính mình.
Trong bài viết Cho Nhau Thì Giờ (25/02/2021), Kiều Mỹ Duyên viết: “Vậy thì khi người nào đó nói với bạn rằng tôi không có thì giờ hoặc tôi bận quá, bạn hãy tự hỏi mình người đó thân với bạn như thế nào? Khi một người nói với bạn tôi không có thì giờ thì bạn phải nghĩ rằng người đó không có thì giờ cho bạn, trong con mắt của người đó hoặc trong trái tim của người đó, bạn không phải là người thân. Nếu là người thân thì không bao giờ nói câu tôi bận quá, tôi không có thì giờ. Thì giờ người nào cũng bằng nhau, 24 giờ một ngày. Với 24 giờ, làm sao sử dụng cho hết: làm việc, ăn, ngủ, chơi, xem tivi, nghe radio, đọc sách, điện thoại, hoặc email cho người này hay người nọ. Nên bạn phải biết mình là ai khi nghe người nào nói rằng tôi có đọc email của bạn hay nhận điện thoại của bạn, nhưng rất tiếc tôi bận quá, tôi không có thì giờ trả lời…. Người nào cũng có việc làm, có bổn phận, trách nhiệm, không phải ai cũng có thì giờ nghĩ đến người khác, có thì giờ quan tâm đến những người xung quanh mình, nhưng nếu biết sắp xếp thì mọi chuyện đều có thể làm được.”
Bài Cho Nhau Thì Giờ có đoạn hay của nó: “Có những chuyện trong cuộc sống xảy ra rất đỗi bình thường nhưng lại có kết thúc bất ngờ. Một cụ bà nằm trong viện dưỡng lão, con cháu không có thì giờ đến thăm, chỉ riêng có cô y tá chăm sóc cho cụ bà hàng ngày. Vào những ngày nghỉ hoặc ngày lễ, cô nhớ cụ bà, cô vào viện thăm cụ. Cụ bà cũng rất thương cô y tá này. Rồi một ngày kia, cụ bà qua đời. Luật sư của cụ bà gọi cô y tá đến văn phòng luật sư để nghe di chúc của cụ bà ở viện dưỡng lão. Cô y tá ngạc nhiên và vô cùng xúc động, không ngờ cụ bà để lại tài sản cho cô thay vì để lại cho con cháu của mình.”
Cũng trong bài viết trên, nụ cười trong cuộc sống được nhà văn Kiều Mỹ Duyên cổ võ, quảng bá ở Nam Cali trên các hệ thống truyền thanh cũng như truyền hình: “Bà con ơi, Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ”, tôi vẫn nghe rõ nhự in. Hãy đọc tiếp bà viết: ” Cho nhau tiếng cười, cho nhau một chút thì giờ có gì quá đáng? Hãy tự hỏi mỗi ngày mình bỏ bao nhiêu thì giờ xem tivi, nghe radio, đọc sách báo, nghe nhạc thì tại sao cho người khác một chút thì giờ thì lại phiền? Chỉ có lòng mình chưa đủ để quan tâm đến người bạn của mình mà thôi?
Xin đừng bao giờ nói: tôi bận quá, tôi không có thì giờ, tôi không có thì giờ. Mỗi ngày 24 giờ là nhiều lắm, nếu mình sử dụng hết 24 giờ này ngoài việc ăn, ngủ, làm việc thì còn thì giờ nhiều lắm. Nếu mình quan tâm đến người khác thì xin đừng bao giờ nói: tôi bận quá, tôi không có thì giờ. Hãy bao dung, hãy rộng lượng, hãy thương người như thể thương thân, thì chúng ta có 24 giờ một ngày là nhiều lắm…”.
Kiều Mỹ Duyên vốn dĩ vui vẻ, hoạt bát và từ tâm, Bà ăn chay, tránh sát sinh. Trong bài viết Hãy Cho Nhau Tiếng Cười, xin trích đoạn: “Hãy cho nhau tiếng cười reo vui, đời sống ngắn lắm, sự sống và sự chết gần nhau lắm, như sợi chỉ. Chỉ một cơn mê, chỉ một vài phút không thở, tim ngừng đập là lên đường ra đi mãi mãi, không bao giờ trở lại. Hãy cho nhau nụ cười cho người còn hiện hữu, đừng đợi người ra đi rồi luyến tiếc. Muốn gặp ai thì cứ gặp, đừng chần chờ, vì không biết ngày mai mình còn thức dậy? Gặp người mình muốn gặp vài ba giây cũng đủ, nghe vài tiếng nói cũng đủ. Đâu cần ngồi bên cạnh cả ngày, cả tháng, cả đời? Biết đủ là đủ…”.
Đọc trích đoạn người nữ tu yêu tiếng cười nhân hậu, hiền hoà, “Đời sống quá ư vất vả, ai cũng thích tiếng cười. Tiếng cười đem niềm vui và sức sống cho người xung quanh. Sống lạc quan khi có nụ cười, tiếng cười. Sự linh hoạt của đời sống là sự vui vẻ, yêu đời và lạc quan. Càng lớn tuổi, tôi càng thích tiếng cười. Tôi thích những người đem niềm tin đến cho mình, tôi cũng thích chính mình đem niềm tin đến cho người khác. Đem nỗi buồn làm phiền người khác để làm gì? Thương ai nên đem cho họ nụ cười, tiếng cười. Ngay cả người bệnh nằm trong viện dưỡng lão mà mình đem tiếng cười đến cho họ, nhìn vào mắt của bệnh nhân mình sẽ cảm thấy mắt của họ tươi hơn, khuôn mặt của họ có hồn hơn.
Hãy cho nhau nụ cười, cho nhau tiếng cười. Nếu mình có niềm vui trong lòng thì tiếng cười sẽ reo vui hơn, giòn tan hơn. Yêu người, yêu đời qua tiếng cười. Hãy yêu thương, lòng rộng mở, tiếng cười của mình sẽ hồn nhiên hơn, giòn giã hơn. Tôi yêu tiếng cười của trẻ thơ khắp nơi, nhất là các em trong viện mồ côi. Hãy ôm chặt các em trong tay với trái tim nồng nàn, chúng ta sẽ tìm thấy tình người trong vòng tay ấm áp của mình. Hãy nắm chặt tay người già trong viện dưỡng lão, chúng ta sẽ cảm nhận được người cần người dù trong chốc lát. Có người suốt đời đi tìm nụ cười đã mất, tìm hoài, tìm mãi không được, vì người có nụ cười thân thiện, thương yêu đã không còn nữa, cho nên khi còn hiện hữu, gặp bằng hữu, chúng ta nên cười vui vẻ, tự nhiên mà cười, nếu không ngày mai không còn kịp nữa.
Tôi được may mắn quen nhiều người có tiếng cười reo vui. Catherine bận rộn suốt ngày, làm việc không có ngày nghỉ. Vậy mà lúc nào cũng nở nụ cười trên môi và tiếng cười reo vui…. Catherine đem nụ cười đến với những người nghèo, trẻ em mồ côi. Catherine giúp họ rất tận tình như người mẹ chăm sóc con cái của mình. Những đứa trẻ ở Miên rất thương Catherine…Tiếng cười của bạn tôi vẫn reo vang. Năm nào, bạn tôi cũng gọi cho tôi với tiếng cười lạc quan pha chút nghịch ngợm của trẻ thơ vào ngày đầu năm. Tiếng cười vui vẻ không thay thế được cơm gạo, nhưng tiếng cười hồn nhiên của trẻ thơ, của người già vẫn là nhu cầu cần thiết của người nghe, của bằng hữu. Bạn tôi không gọi tôi thường xuyên nhưng mùng 1 Tết năm nào cũng gọi. Trước khi đi xa gọi, trở về gọi, có chuyện vui đều gọi tôi. Bạn tôi rất hồn nhiên, chỉ kể chuyện vui, không bao giờ kể chuyện buồn”.
Đoạn kết của bài viết thì cuộc đời này muôn thuở vẫn cần tiếng cười:
“Mãi đến bây giờ, tôi mới nhận ra một điều quan trọng là chúng ta rất cần nụ cười, cần tiếng cười trong đời sống hàng ngày: tiếng cười hồn nhiên của trẻ thơ, nụ cười héo hon của người già gần đất xa trời, giọng cười giòn tan của bạn bè, thân hữu,… Đúng là một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ?
Hạnh phúc thay cho những ai có tiếng cười giòn tan thường đến với mình trong 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Tiếng cười hồn nhiên pha lẫn chút nghịch ngợm của trẻ thơ làm cho người nghe lạc quan, yêu người, yêu đời mà sống, vượt qua những nỗi khó khăn ở hiện tại. Xin cảm ơn những nụ cười, những tiếng cười mà tôi đã được gặp, được nghe trong đời sống hàng ngày, nhất là vào mùa Xuân.
Kiều Mỹ Duyên, Orange County, 15/02/2021″.
Đọc Tuyển tập Kiều Mỹ Duyên qua tác phẩm mới Hoa Cỏ Bên Đường để chúng tôi, ba anh em: Thuỵ Lan, Khánh Lan và Việt Hải chia vui cùng tác giả Kiều Mỹ Duyên. Một nhà báo chuyên nghiệp đã ghi dấu giầy trên chiến trường xưa. Kiều Mỹ Duyên lặn lôi theo các mặt trận Quảng Trị qua danh trấn Mỹ Chánh, Hải Lăng, Đông Hà, La Vang, Gio Linh, cùng Huế như Cổ Thành, thung lũng Ashau, sang Quảng Ngãi với Ba Tơ, Quế Sơn, rồi Cao nguyên sương mù màu khói súng tại Tam Biên, Benhet, Dakto, Tân Cảnh, Pleiku, Kontum, Polei Kleng, Chu Pao, Bình Long, An Lộc,… Ngày hôm nay nếu chúng tôi nhận định Kiều Mỹ Duyên là một nhà báo nghiệp dư vì nhớ nghề xưa, hay một nhà truyền thông tài tử (amateur), hoặc giả là một phóng viên tự do (freelance) sẽ không ngoa. Và bà không làm vì tài chánh. Kiều Mỹ Duyên đã có nguồn cơm gạo từ hai cơ sở kinh doanh là Ana Real Estate và Ana Funding lo cho dạ dày. Hãy nói sự thật để được lòng người nghe. Sự thật hay chân lý là đích điểm đắc nhân tâm, như trường hợp nhà bác học Albert Einstein ghi nhận: “Những lý tưởng luôn luôn tỏa sáng trước mặt tôi và nó khiến tôi đầy ắp niềm vui về cái thiện, cái đẹp và chân lý” (The ideals which have always shone before me and filled me with joy are goodness, beauty, and truth). Tương tự, văn hào Nga Fyodor Dostoevsky cho ý tưởng: “Trên đời này không có gì khó hơn là nói ra sự thật lòng, không có gì dễ hơn là sự xu nịnh” (Nothing in this world is harder than speaking the truth, nothing easier than flattery).
oOo
Hoa Cỏ Bên Đường là tác phẩm chuyển tải nội dung những mẫu chuyện về chân thiện mỹ trong đời sống xã hội. Khi “Gõ Cửa, Cửa Sẽ Mở”, như khi “Mở lòng, lòng thanh thản”; Hoa Cỏ Bên Đường là tác phẩm đề cao tiếng cười, bởi vì “Hãy Cho Nhau Tiếng Cười”, cũng bởi vì tiếng cười là nhu cầu, là niềm tin yêu của đời sống; Trong đời sống hãy “Cho Nhau Thì Giờ”, dành thì giờ cho yêu thương nhân đạo, nhân đức; Hoa Cỏ Bên Đường là tác phẩm cho thấy triết lý sống mà tác giả đề nghị về tư tưởng lạc quan. Tuyển tập Kiều Mỹ Duyên nhấn mạnh đặc tính nhân bản với nhân sinh quan hãy “Lạc Quan, Yêu Người, Yêu Đời Mà Sống”, nhũng tâm tư, tâm tình của tác giả chắt chiu từng con chữ, nắn nót từng ý tưởng nội tâm, để rồi Cơ Sở Lạc Việt gom góp in ấn hình thành tác phẩm này.
Đọc một tác phẩm, xin hãy tìm hiểu chiều sâu tâm hồn, những ngõ ngách của trí não qua ngòi bút của nhà văn, hãy truy nguyên sự góp mặt của tác phẩm, và xin hãy rộng mở chào đón tác phẩm như một viên gạch mới tô điểm ngôi nhà văn học Việt Nam hải ngoại. Chúng tôi xin chúc mừng nhà văn Kiều Mỹ Duyên với tác phẩm Hoa Cỏ Bên Đường như tiếng lòng gởi đến mọi người.
Việt Hải – Song Lan, Nam California. Mùa Xuân, 10/04/2021.









