Danh từ: Một cảm giác mạnh mẽ “muốn có” một cái gì đó hoặc “mong muốn” một cái gì đó xảy ra.
Động từ: Ham muốn mạnh mẽ trong việc “cho” hoặc “muốn’ một cái gì đó.
Lý thuyết ham muốn
cho rằng việc thực hiện một ham muốn đóng góp cho hạnh phúc của một người bất kể lượng niềm vui (hay sự không hài lòng). Một lợi thế rõ ràng của lý thuyết Desire là nó có thể hiểu theo cung cách diễn đạt của Wittgenstein. Ludwig Wittgenstein là một triết gia bị ám ảnh bởi những khó khăn về cách diễn đạt ngôn ngữ, muốn giúp chúng ta tìm cách thoát khỏi một số vũng bùn mà chúng ta gặp phải trong giao tế, trong diễn đạt, và ngay cả trong suy tư…
Cung cách đó được hiểu theo “Meaning of Language” dưới đây:
Từ đó, chúng ta thấy từ ngữ DESIRE được hiểu theo từng tâm cảm, từng thể trạng của mỗi con người.
Và bài viết chỉ mong trình bày một số suy nghĩ góp nhặt cát đá, suy diễn theo suy nghĩ chủ quan của người viết nhằm mục đích chia xẻ cùng bạn đọc về một khía cạnh của tư tưởng và tâm ý.
Desire – Ham muốn là gì?
Ham muốn – Desire, Thèm muốn – Craving, Khao khát – Longing. Những từ trên gợi ra cho chúng ta cái cảm giác thúc đẩy con người đạt được hoặc sở hữu một cái gì đó. Ham muốn là một cảm giác mạnh mẽ, xứng đáng hoặc không xứng đáng, đúng đắn hoặc không đúng đắn, thúc đẩysự chiếm đoạt được hoặc sở hữu một cái gì đó (trong thực tế hoặc trí tưởng tượng).
Ham muốn là ở trong một trạng thái đặc biệt của tâm lý. Đó là một trạng thái tâm lý quen thuộc với tất cả những người đã từng muốn uống nước, muốn ăn một món ăn… hoặc muốn biết những sự kiện gì đã xảy ra cho một người bạn cũ. Nhưng từ sự quen thuộc đó không làm cho chúng ta dễ dàng đưa ra một lý thuyết về ham muốn. Mặc dù có sự tranh chấp trong chính mỗi ham muốn của bản thân, nhưng dù sao chúng ta cũng có thể tự khắc phục ham muốn của chính mình.
Ham muốn là một trạng thái của tâm – ý (heartily spirit) (người viết tự nghĩ ra từ ngữ nầy, không biết có đúng không, xin nhờ chỉ giáo) thường liên quan đến một số hiệu ứng khác nhau: một người ham muốn có xu hướng hành động theo những cách nhất định, cảm nhận theo những cách nhất định và suy nghĩ theo những cách nhất định.
Nếu tôi mong muốn uống trà chẳng hạn, thì tôi thường sẽ tự pha cho mình một tách trà; và nếu tôi không tự cảm thấy mình cần uống trà ngay lập tức, tôi sẽ không cảm thấy cái thôi thúc phải nấu nước sôi để pha trà… Tôi, lúc ấy sẽ thấy ý nghĩ về trà rất dễ chịu (vì không phải làm gì cả!). Từ đó, tôi sẽ thấy suy nghĩ của mình liên tục chuyển sang ý tưởng về trà. Từ đây, tôi sẽ đánh giá rằng trà có vẻ như là một ý tưởng tốt. Và như thế, như thế tiếp tục. Những hiệu ứng khác nhau này đã là trọng tâm trong tâm-ý của tôi về những nỗ lực để phát triển các lý thuyết; và đó chính là lý thuyết của ham muốn.
Triết lý về sự ham muốn
Hiểu được ham muốn đòi hỏi ít nhất hai điều kiện:
Thứ nhất, có một lý thuyết về bản thân ham muốn – desire itself;
Thứ hai, có một số quen thuộc với các loại ham muốn có được – desire that there are.
Một khi nắm được một sự hiểu biết về ham muốn, chính ta có thể làm sáng tỏ một số tranh cãi chung quanh những điều ham muốn.
Lý thuyết thỏa mãn ham muốn là một dạng chủ nghĩa chủ quan về hạnh phúc theo nghĩa thông thường, theo đó, để có được một cuộc sống tốt (tốt theo suy nghĩ riêng của từng cá nhân) phải làm với thái độ của một người tạo dựng ra một cuộc sống theo lòng ham muốn của mình hơn là bản chất thực sự của cuộc sống.
Có nhiều hình thức khác của chủ nghĩa “chủ quan” (subjectivism):
Lý thuyết mục tiêu thành tựu – Aim-achievement theories;
Lý thuyết hiện thực hóa giá trị – Value-realization theories;
Lý thuyết hạnh phúc – Happiness theories;
Và một số hình thức của chủ nghĩa khoái lạc – Hedonism.
Nhưng thực sự, tựu trung tất cả những lý thuyết trên chỉ nhằm thực hiện mục tiêu của lý thuyết “hoàn tất ham muốn” – desire-fulfillment mà thôi.
Còn đối với chủ nghĩa khách quan (objectivism) thì sao?
Các lý thuyết khách quan về hạnh phúc – well-being gồm:
Lý thuyết cầu toàn – perfectionism;
Và lý thuyết “danh sách khách quan” – objective- list theories.
Hai quan điểm trên trái ngược với chủ nghĩa chủ quan là: – Ít nhất một số điều liên quan đến bản chất tốt hay xấu (pro/con – attitudes) đối với chúng ta về căn bản nhưng không liên quan đến thái độ của chúng ta. Sự “hoàn tất ham muốn” cũng đóng một vai trò trung tâm trong một số lý thuyết về hạnh phúc, trong đó kết hợp lại các yếu tố chủ quan và khách quan.
Vì vậy, lý thuyết thực hiện ham muốn ngày nay chắc chắn là một trong những lý thuyết hàng đầu về hạnh phúc.
Một số nhà triết học coi “lý thuyết hoàn tất ham muốn” là lý thuyết hàng đầu.
Nếu đó là lý thuyết ngự trị của thế kỷ 20 và 21, lý thuyết nầy không mang lại sự chú ý thời trước đó. Một số nhà triết học cổ đại và trung cổ hàng đầu đã đưa ra quan điểm để từ chối nó. Ví dụ, trong Plato’s Gorgias (C. 380 BCE), chính Callicles, một đệ tử của Socrates đã khẳng quyết rằng:”Ông, người thực sự muốn sống nhằm cho phép những ham muốn của mình được đánh bóng tối đa (he who would truly live ought to allow his desires to wax to the uttermost).
Trong De Trinitate (C. 416 C.E.), Thánh Augustine đã thảo luận ngắn gọn về ý tưởng “tất cả đều được ban phước, bất cứ ai cùng sống như nhau” (all are blessed, whoever live as they will). Augustine tiếp tục khẳng quyết, tuy nhiên, lòng ham muốn (hoặc ý chí) đó là điều tối thiểu của sự cần thiết cho hạnh phúc.
Các căn bản trong việc/sự ham muốn
Như vậy, thực sự ra, lòng ham muốn có căn bản nơi đâu và là gì?
• Sự chấp nhận, nhu cầu cần được chuẩn duyệt – Acceptance, the need for approval.
• Sự tò mò, nhu cầu học hỏi – Curiosity, the need to learn.
• Nét ăn uống, nhu cầu thực phẩm – Eating, the need for food.
• Gia đình, nhu cầu nuôi con – Family, the need to raise children.
• Danh dự, sự cần thiết phải trung thành với các giá trị truyền thống – Honor, the need to be loyal to the tradition values.
• Chủ nghĩa lý tưởng, sự cần thiết của công bằng xã hội – Idealism, the need for social justice.
• Độc lập, nhu cần cần thiết cho mọi cá thể – Independence, the need for individuality.
• Đặt hàng, nhu cầu cho (mọi việc) có tổ chức và ổn định – Order, the need for organized, stable,
Và một số ham muốn nguyên thủy (primal desire) của con người là gì?
“Sống còn”: Sống một cuộc sống bền lâu và khỏe mạnh – Survival: Live a long and healthy life.
Bảo vệ: An toàn, chăm sóc và bảo vệ cho chính bạn và những người thân yêu – Protection: Safety, care and protection for yourself and loved ones.
Tự do: Tự do khỏi sự nguy hiểm, sợ hãi và đau đớn – Freedom: Freedom from danger, fear and pain.
Tiện nghi: Điều kiện sống thoải mái – Comfort: Comfortable living conditions.
Niềm vui: Thưởng thức đồ ăn, đồ uống và trải nghiệm – Pleasure: Enjoy food, beverages and experiences.
Ham muốn thâm sâu nhứt của con người là gì?
Ham muốn thâm sâu nhất (deepest desire) của bất kỳ con người nào là được Yêu Thương và được Trân Trọng.
Không có ai trên thế giới này không muốn được xem là đẹp đẻ hay tài giỏi hết.
Sẽ không có ai phải nhăn mặt (frown) khi được nghe “I love you” đến từ của miệng của người mình thương hết!
Ham muốn mạnh nhứt (strongest) của con người là gì?
TS Erica Goodstone nhận định rằng:”Ham muốn tình dục là thứ ham muốn mạnh mẽ nhứt của con người. Khi được thúc đẩy bởi năng lực của ham muốn này, quý ông và quý bà phát triển một số phẩm chất đáng kinh ngạc, bao gồm nhãn quan và trí tưởng tượng, lòng can đảm và ý chí cùng khả năng kiên nhẫn liên tục bất chấp mọi trở ngại và khó khăn” (visualization and imagination, courage and willpower and ability to persist in spite of all obstacles and difficulties).
e- Như vậy, có phải ham muốn có nghĩa là tình yêu?
Tình yêu là ham muốn, không có định nghĩa nào khác hơn nữa… Đối với một số người, đó là sự đáp lại tình cảm của họ, một số người khao khát được gần gũi với người yêu. hoặc người mình yêu. Nhưng cũng có vài ngoại lệ, là ai đó nghĩ rằng “có thể chỉ muốn người mình yêu hạnh phúc mà thôi, không cần thiết để được đáp lại” (tình yêu đơn côi chăng?)
Chỉ có những người dối lòng là những người nói
rằng tình yêu đích thực không có ham muốn!
Ham muốn có ý nghĩa gì trong Phật giáo?
Trong Phật giáo, dục vọng, vô minh, và chấp ngã nằm ở gốc rễ của mọi đau khổ. Theo dục vọng, Phật tử đề cập đến tham ái, vật chất và bất tử, tất cả đều là những ham muốn không bao giờ có thể được thỏa mãn cho mỗi con người.
Làm thế nào để một Phật tử thoát khỏi phải “chấp ngã”?
Có vài thực tiễn dưới đây để cho mỗi chúng ta cùng suy nghiệm nhằm “bớt đi” tính chấp ngã của chính mình:
* Thiền – Meditation: Thiền chỉ đơn giản là ngồi yên và cố gắng chú ý đến thời điểm hiện tại cho dù đó là hơi thở của bạn, cơ thể bạn hay những gì đang xảy ra xung quanh bạn ngay bây giờ;
* Từ bi – Compassion;
* Sự phụ thuộc lẫn nhau – Inter-independence;
* Chấp nhận – Accepting;
* Mở rộng – Expansiveness.
5-Tam giác vàng
Điều gì là tuyệt vời về tam giác này?
Thực sự nó có ý nghĩa gì?
Một số người thành công nhứt đã theo hướng nầy và họ thành công vì “Năng lực của một tư duy tuyệt vời”.
Cuộc hành trình đến tam giác vàng bắt đầu với Ham muốn – Desire. Đó là sân ga từ nơi con tàu vận mạng bắt đầu lăn bánh. Con tàu sẽ dừng lại sau mỗi trạm và những người không có đủ kiên nhẫn sẽ rời khỏi tàu. Còn những người ở lại là người có đức tin (tùy theo suy nghĩ của bạn, có thể là đức tin (faith) mà cũng có thể là niềm tin (believe). Đây là một thuộc tính quan trọng thứ hai để thành công.
Trong sự so sánh nầy, Đức tin kiên định – Consistent Faith và Khát vọng – Desire vững chắc chuyển Tâm Ý thành Hành động – Action.
Hành động giúp chúng ta tăng thêm ham muốn. Kết quả của Hành động làm cho Đức tin mạnh mẽ hơn và thêm một lần nữa, Hành động được tăng thêm, và từ đó tiếp tục mãi mãi Hành động.
Phản ứng dây chuyền không kiểm soát của hành động này sẽ đưa chúng ta đến nơi chúng ta thực sự thuộc về… (actually belong).
Thay lời kết
Quý bạn vừa thả lòng với những định nghĩa, nhận đình cùng suy diễn hết sức trừu tượng về một danh từ hay động từ “Desire” tạm dịch là “Ham muốn” từ những suy nghĩ của các triết gia cho đến suy nghĩ của đời thường trong cõi ta bà nầy.
Để rồi bạn chuyển qua một vài suy diễn trong tinh thần Phật giáo…
Người viết không dám nói thêm nhiều nữa, chỉ mong mỗi người trong chúng ta nhìn về, nghĩ về “Ham muốn” trong chiều hướng nào?
Và dù trong chiều hướng nào đi nữa chỉ mong Quý Bạn vẫn còn tỉnh táo để biết chính mình:
Đang nghĩ gì?
Đang làm gì?
Và suy nghĩ gì, làm gì đó có thích hợp với đạo lý của “Đời thường” không?
Xin chia xẻ vài suy nghĩ cùng Bạn trong mùa chay tịnh của Thiên Chúa giáo và mùa “cách ly tự nguyện” vì cô Coronavirus.
Và đây cũng là những suy nghĩ mà chính người viết cũng cần suy gẫm!
Phổ Lập Mai Thanh Truyết
An Nhiên Tự Tại
Houston, 26/3/2020
Phụ chú:
Kính Thưa Anh Truyết và các Anh Chi Em,
Bài viết anh phân tách về sự Ham Muốn rất hay. Tôi xin góp một chút ý kiến. Sau khi tất cả diễn biến về những thể loại ham muốn, thì chính ta nhìn lại chính mình, những ham muốn đó có đạt hiệu quả hay không, có khi được, nếu sự ham muốn đó trong tầm tay, có khi xa vời vì quá to lớn viển vong, có khi vì cái ta muốn thắng vì tự ái cá nhân.
Nói chung tất cả ham muốn đó do ta tự vẽ ra để trở thành một mục đích mà ta phải thực hiện dù tốt hay xấu.
Vậy làm sao sống cho có những mục tiêu tốt, chính là ta phải tự nhìn lại trong ta, vì ta muốn cái này, muốn cái kia, nói chung muốn đủ thứ trên đời, khi không đạt được thì phiền muộn, bất bình, hoặc đau khổ.
Như lời Phật dạy đó là Tham, Sân, Si. Những thứ đó chỉ là trừu tượng và viễn vong, nhưng nếu không có Ý muốn đó, chúng ta sẽ đứng giữa ngã ba đường, mà ta phải chọn một con đường để đi.
Vậy ta phải vạch ra con đường, sao cho dung hòa . Đó là một con đường chính giữa không có dính mắc hai bên.. Phải luôn nhìn lại chính mình, cảnh giác cái ham muốn thắng, mà phải quên mình nghĩ đến cái chung trong hiện tai.
Tôi đã luôn suy nghĩ ( đó cũng là cái ta xấu xí) tai sao ta có mặt trong đời này, tai sao ta không là cây cỏ, con chim, cái kiến , hoặc là, người giàu có, hoặc nữ hoàng hay là những người nổi tiếng. Vậy thì cuộc sống này phải có lý do, mổi người mổi nhiệm vu, có trách nhiệm phải chu toàn đối với cha me sinh ra ta, với gia đình ta đang có mặt, lo cho con cái cháu chắt trong tương lai. Và với xã hội ta đang sống. Tai sao mình không sanh trong một nước khác mà mình sanh trong nước Việt Nam, vậy ta cũng có trách nhiệm đối với tổ quốc,
Ta phải làm tất cả những gì trong đời này với tất cả lòng biết ơn, đã cho ta có cuộc sống có ý nghĩa, dù có phong ba bão táp, và vui sống. Nếu những ai đã từng đi vượt biên, sẽ hiểu được cái chết trong tích tắc giữa đai dương mênh mông không bến bờ. Hoặc đi máy bay nhìn xuống thấy con người mất hút trong quả đất.Trời đất bao la , ta chỉ là một sinh vật nhỏ bé trong vũ trụ .
Chúng ta cũng may mắn là sanh ra được toàn vẹn, không tật nguyền, còn biết suy nghĩ phải trái, nếu không may sanh ra mà bị chứng bệnh vô não ngẩn ngơ thiếu hiểu biết, thì chúng ta sẽ ra sao. Chúng ta lai được các đấng vĩ nhân hướng dẫn tâm linh biết nhân quả nghiệp báo, giống con rùa mù mà gặp bọng cây, đã mù làm sao thấy được bọng cây, Quả là may mắn. Chúng ta sanh ra không tự chọn, chúng ta chết đi cũng không biết được ngày.
Vậy chúng ta hôm nay gặp nhau đây là một cái duyên hanh ngộ thật đáng vui mừng, nên chúng ta phải quý trọng lẫn nhau.
MAI THANH TRUYẾT
DĨ VÃNG SÂU & TÌNH BUỒN DA DIẾT – Mặc Trần Ai – Đời Đóng Lại – Chùm Thơ & Tranh Họa Của Huu-Thien Paul Phạm
Tưởng Niệm Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm – Giao Chỉ – San Jose
Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm
Tưởng niệm Thủ tướng Trần Thiện Khiêm Giao Chỉ Vũ Văn Lộc
Tuổi hoa niên cùng mặc áo chinh y, Lòng mở rộng giữa dòng đời ấm áp, Chín mươi năm, cuộc đời như gió thoảng, Chiều cô đơn về chậm lúc cao niên.
Nhà văn Giao Chỉ tưởng niệm Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm vừa qua đời ngày 24/6/2021 tại California.
⭐️ Những đại tướng VNCH Quý vị có biết quân đội chúng ta có bao nhiêu ông đại tướng. Cao cấp và thâm niên nhất là đại tướng Lê Văn Tỵ, khi ông qua đời thời kỳ quốc trưởng Nguyễn Khánh đã truy thăng ông lên Thống Tướng. Các vị đại tướng khác là tổng thống Dương Văn Minh, quốc trưởng Nguyễn Khánh, Tổng tham mưu truong Cao Văn Viên và thủ tướng Trần Thiện Khiêm. ⭐️ Hoàng hôn của các đại tướng Ngoại trừ tướng Cao Văn Viên ra đi từ miền Đông, tất cả các vị đại tướng đều trải qua những ngày cuối cùng tại tiểu bang CA Hoa Kỳ. Nước Mỹ đã từng là đồng minh của các tướng lãnh cầm quyền. Rồi đã quay lưng bỏ rơi, nhưng sau cùng Hoa Kỳ cũng vẫn là nơi quý vị gửi nắm xương tàn. Tôi có dịp nói chuyện với đại tướng Cao Văn Viên tại cao ốc cao niên xứ Virginia, với quốc trưởng Nguyễn Khánh và thủ tướng Khiêm tại Việt Museum San Jose. Không hỏi về chiến tranh và quốc sự. Chỉ hỏi về tuổi hoa niên. Còn tuổi nào là tuổi của tình yêu lúc mới vào đời. Tình yêu nước, yêu người và yêu chính mình. Các niên trưởng đều đồng ý là tuổi 20. Thời kỳ trước 1954, ở Secteur Hưng Yên đã có 3 vị sĩ quan trẻ tình cờ gặp nhau trên chiến trường Bắc Việt. Trung úy Nguyễn Văn Thiệu gốc Phan Rang, Trung Kỳ. Trung Úy Cao Văn Viên gia đình từ Lào trở về Hà Nội, Bắc Kỳ. Đại úy Trần Thiện Khiêm, quê Long An, Nam Kỳ. Không ai biết rằng sau này sẽ trở thành tổng thống, thủ tướng và tổng tham mưu trưởng. Cũng vào thời kỳ đó đại úy Nguyễn Khánh từ Sài Gòn ra hành quân Hà Nội đã lấy cô vợ của 36 phố phường. Nửa thế kỳ sau tôi hỏi niên trưởng Khánh ai lái xe đưa ngài từ Sactramento về thăm bảo tàng Việt Museum tại San Jose ? Ông nói ngon lành. “Moi” lái chứ ai. Lại hỏi ai ngồi ghế chỉ huy bên cạnh? Bà ngoại hàng Đào của đám Bắc Kỳ nhà anh chứ còn ai. Mấy năm sau cả hai ông bà cùng vào ở chung một phòng trong nhà già bác sĩ Ngải. Luật nursing home là nam nữ bất khả chung phòng, ngoại trừ phòng của ông bà quốc trưởng. Khi quốc trưởng ra đi, khách vào thăm, cô gái hàng Đào Bắc Kỳ, một thời đệ nhất phu nhân hồn nhiên nói rằng anh Khánh đi công tác. Không có nhà. Bà đã thăng hoa ngay trước khi tình Bắc duyên Nam vẫn còn nguyên vẹn. Ông Khánh lấy vợ Bắc nhưng ông đại úy Khiêm thì vẫn một lòng một dạ với tình yêu Nam Kỳ. Ông lấy vợ Rạch Giá. Trong quân đội cấp bậc của chúng tôi xa cách. Trong chính quyền vai trò của chúng tôi lại càng cách biệt, nhưng về đường tình duyên chúng tôi chẳng khác biệt bao nhiêu. Nhà tôi cũng là nữ sinh trường Nguyễn Trung Trực cùng với chị em bà Trần Thiện Khiêm. Khi cùng ngồi nói chuyện tôi thưa rằng từ Bắc vào Nam tìm thấy hồ Than Thở ở Đà Lạt. Ai ngờ đi hành quân ở Hậu Giang thấy Rạch Giá cũng có hồ Than Thở. Xếp Khiêm vỗ đùi nói rằng: “Toi”nói đúng, “moi”lấy vợ Rạch Giá cũng thấy cái hồ Than Thở Mệt lắm. ⭐️ Nói đến thủ tướng Trần Thiện Khiêm ai cũng tiếc rằng ông Thiệu ông Khiêm đều không ông nào để lại hồi ký. Lúc sinh thời thủ tướng Khiêm nổi tiếng là người ít nói dù trước năm 1975 hay sau này trải qua gần nửa thế kỷ lưu vong. Ngày xưa trong một buổi đại hội tại Vũng Tàu do tổng thống Thiệu chủ tọa có cả nội các và tướng lãnh tham dự. Hội trường có cả trăm người chiếu trực tiếp trên TV. Tổng thống thao thao bất tuyệt. Ông nói thẳng những điều cấm kỵ. Về bang giao Việt Mỹ, ông không ngần ngại nói rằng ảnh hưởng Hoa Kỳ Việt Nam rất quan trọng và trực tiếp. Bên Mỹ hắt hơi là bên ta sổ mũi. Suốt buổi thủ tướng ngồi bên cạnh, đeo kính mát, yên lặng và bình tĩnh. Báo chí gọi là ông Tư mắt Kính. Không nói. Không lỡ lời. Không sai lầm. Đó có thể là khuyết điểm của chính khách. Đó cũng có thể là ưu điểm của chính trị gia. Sau này ra hải ngoại cũng như thế. Dư luận có thể thêu vẽ và bình luận về vai trò của đại tướng trong chính trường Việt Nam từ binh biến 63 cho đến ngày tàn cuộc 75, nhưng không hề khai thác được điều gì trực tiếp từ niên trưởng Khiêm. Tất cả chỉ là suy diễn. ⭐️ Những ngày sau cùng. Những năm gần đây niên trưởng Khiêm quanh quẩn tại San Jose. Vóc dáng cao lớn và khỏe mạnh với tuổi ngoài 90. Ông không ngần ngại xuất hiện trong các buổi họp mặt đông đảo. Cùng với niên trưởng đô đốc hải quân Trần văn Chơn và tham mưu trưởng Nguyễn Khắc Bình, quý vị làm thành bộ ba tương đắc của QLVNCH. Thêm vào sự hiện diện của tổng trưởng kinh tế Nguyễn Đức Cường và dân biểu dược sĩ Nguyễn văn Bẩy. Dù sao cũng chỉ còn vang bóng một thời. Chung quanh là những người biết chuyện nhưng không nói và người không biết tha hồ lên tiếng. Văng vẳng đâu đây là lời nói than vãn của trung tướng Thiệu: Mất nước là mất tất cả. Trong hoàn cảnh cả cộng đồng Việt hải ngoại chia rẽ giữa 2 đảng Cộng Hóa và Dân Chủ, ông đại tướng cuối cùng của Việt Nam Cộng Hoà lặng lẽ ra đi. Lúc cư ngụ ở San Jose niên trưởng Khiêm bị té và đau chân. Ông nằm trong Nursing home một mình. Hồ Than thở xứ Kiên Giang của ông đã bỏ đi từ lâu sau một thời gian rất dài ông phải săn sóc cho bà. Ông thủ tướng đã trải qua giai đoạn rất vất vả nuôi vợ mệt mỏi hơn cả lúc cầm quyền. Ông vẫn nằm chờ đợi một mình. Một hôm có vị linh mục là cha xứ gốc Việt của miền Senter vào thăm thân phụ. Quan sát thấy tình cha con trong vòng đạo lý tôn giáo. Cha vào thăm con hay con vào thăm cha. Đại tướng bèn mời linh mục đến gặp. Ông muốn tìm về niềm tin tôn giáo vào những ngày cuối của cuộc đời. Tôi tưởng rằng niên trưởng Khiêm lẽ ra phải theo đạo từ thời ông Diệm, nhưng tôi nhầm. Thời đó mà rửa tội có thể do ảnh hưởng chính trị. Nhưng đến năm 2021 mà theo đạo là do tiếng gọi của con tim. Đại tướng hỏi vị chủ chiên tên họ là gì. Thầy tu thưa rằng họ Lê chữ đệm là Trung, tên gọi là Tướng. Lê Trung Tướng. Chuyện đơn giản thành phức tạp. Vào ngày đẹp trời. Ngay tại Nursing Home có ông Trung Tướng họ Lê rửa tội cho đại tướng thủ tướng họ Trần tại San Jose. Cuối tuần qua lễ tang đã tổ chức cho niên trưởng Khiêm tại San Diego nhưng hoàn cảnh hiện nầy mọi chuyện đều phải xếp hàng. Niên trưởng của chúng tôi, vị đại tướng cuối cùng của QLVNCH cũng đang xếp hàng nằm chờ chưa đến lượt hỏa thiêu. ⭐️ Con người một thời lẫm liệt, kiến trúc sư của biết bao nhiêu cuộc cách mạng và binh biến. Người đã từng chờ đợi Được làm Vua và Thua làm đại sứ. Đã gần 50 năm lưu lạc xứ người. 10 năm nuôi vợ đau yếu và sau cùng hồn thiêng đã bay về cố hương nhưng xác tục vẫn nằm chờ trong phòng lạnh để hỏa thiêu cùng thiên hạ. Đại tướng Khánh, đại tướng Viên, đại tướng Khiêm ai cũng nghĩ rằng cuộc đời đẹp nhất ở tuổi cấp úy ngoài 20. Nếu phải được trở lại làm tuổi trẻ 20 sẽ làm lại từ đầu. Sáng suốt hơn, xây dựng hơn, bao dung hơn và giúp được biết bao nhiêu cho đất nước cho dân tộc và cho chính mình. Giao Chỉ VVL ⭐️ https://youtu.be/Tt7DdtjN0hw
Thủ Tương Trần Thiện Khiêm cùng các tướng lãnh VNCH viếng thăm Việt Museum San Jose .
— Giao Chi San Jose. giaochi12@gmail.com (408) 316 8393ReplyReply allForward
THÀNH XÂY KHÓI BIẾC – NON PHƠI ÁNH VÀNG – Cao Mỵ Nhân
CÒN NHÌN THẤY NHAU – Kiều Mỹ Duyên
KIỀU MỸ DUYÊN
Hình từ trái sang phải: Phạm Lang (chủ nhà), nhà văn Phương Hoa, Như Hảo, Minh Thúy, Đỗ Dung, Lê Diễm và Kiều Mỹ Duyên.
(Hình do cô Phạm Lang cung cấp.)
Nhiều người lớn tuổi nói với nhau:
– Bây giờ chúng ta còn nhìn thấy nhau là quý lắm rồi.
Đúng vậy, thấy đó rồi mất đó.
Một phái đoàn đến từ San Jose, gồm có Lê Diễm, Đỗ Dung, Phương Hoa và Minh Thúy. Họ là những nhà văn nữ có tác phẩm đã phát hành. Trong phái đoàn này chỉ có một ông, mọi người chọc ông Sơn là gươm lạc giữa rừng hoa. Phụ nữ dù lớn nhưng gặp lại bạn cũ thì ăn nói rất tự nhiên. Nơi gặp gỡ tại một ngôi nhà thật đẹp ở gần biển, có cổng an toàn. Gió biển lồng lộng dù trời đang nóng như lửa. Các bà ăn mặc rất đẹp, vẫn còn đang kiêu sa của một thời vàng son. Một ông khách và ông chủ nhà, Tiến Sĩ Barry từng là giáo sư dạy ở Đại học Hawaii, và là Giám đốc kỹ thuật Lực Lượng Chống Tàu Ngầm, Hạm Đội khu vực Thái Bình Dương của Hoa Kỳ.
Nhà đẹp từ trước nhà vào trong nhà. Hoa nở rực rỡ, nơi nào cũng có hoa tươi. Phụ nữ chiếm đa số, chỉ có hai ông phải chụp hình, quay phim các nữ nhà văn này.
Bước vào hành lang của ngôi nhà, chúng tôi thấy một phụ nữ với bình dưỡng khí bên mình. Người phụ nữ đẹp này tươi cười như hoa. Cách đây không lâu, bác sĩ bảo cô ấy chỉ sống được 2 năm nữa, nhưng năm nay là năm thứ sáu, cô ấy vẫn sống vui vẻ. Trời nóng trên 90 độ mà từ San Jose đi một đoạn đường thật xa đến thăm bằng hữu ở Orange County thì còn gì quý bằng?
Họ chỉ ở lại một đêm thứ bảy, rồi Chúa nhật trở về San Jose. Tình bằng hữu tuyệt vời, có sức mạnh mãnh liệt khiến những người phụ nữ này phải đi 6 giờ và về 6 giờ, trong lúc Trời nóng như thiêu như đốt. Tôi phục những người phụ nữ yếu ớt nhưng có sức mạnh tinh thần mãnh liệt.
Sức mạnh tinh thần khiến họ đâu cũng tới, đến đâu cũng được. Hai vợ chồng chủ nhà rất nhiệt tình tiếp khách. Người chồng là người Mỹ không nói được tiếng Việt, nhưng rất nể vợ. Nếu không nể vợ thì đâu có tiếp một phái đoàn đông như thế? Trong lúc mọi người nói chuyện ào ào, ông chủ nhà không hiểu gì hết? Bà chủ nhà là thi sĩ, các nhạc sĩ đã sáng tác nhiều bản nhạc hay từ thơ của cô. Thức ăn nhiều quá, món nào cũng ngon. Mọi người nói chuyện xưa, chuyện nay, và ăn uống, không còn thì giờ để nhắc đến các tác phcủa chủ nhà. Thôi thì để khi khác vậy?
Hình từ trái sang phải: Đỗ Dung, Minh Thúy, ông Sơn, Bary Root (chủ nhà, chồng cô Phạm Lang), Phương Hoa, Kiều Mỹ Duyên, Lê Diễm và Như Hảo.
(Hình do cô Phạm Lang cung cấp.)
Tình bạn ngọt ngào như thế? Quen nhau mấy chục năm, hiểu nhau mấy chục năm, tình bằng hữu nếu hiểu nhau dù xa cũng gần. Người ở bên này đại dương và người ở bên kia đại dương vẫn thương mến nhau, vẫn thấy gần nhau, vẫn hiểu nhau, nhưng gặp mặt nhau vẫn tốt hơn, nhìn ánh mắt của nhau đâu cần nói nhiều. Có người đi đến một nơi xa dự một cuộc họp nào đó chỉ cần gặp một người, đâu cần gặp tất cả thiên hạ, hạnh phúc được gặp người đó, chỉ chào hỏi nhau, hay nói vài câu cũng đủ. Tình cảm là như thế, có những việc làm không ai hiểu nổi, không ai giải thích được, không ai phân tích và hỏi tại sao?
Kiều Mỹ Duyên cầu mong mọi người sống yêu thương và bình an.
Còn nhìn thấy nhau là quý lắm.
(Hình chụp ở Costa Rica)
Thế giới này nếu có tình người, cha mẹ thương con, con thương yêu ông bà, cha mẹ, bằng hữu thương nhau như ruột thịt, người này giúp đỡ người kia thì thế giới không có chiến tranh, không có hận thù, không có nhà tù, không có Cảnh Sát, không có quân đội.
Chúng tôi đã từng đến một quốc gia tuyệt vời như thế. Chúng tôi đến Costa Rica dự lễ Quốc Khánh của Tòa Thánh Vatican theo lời mời của Khâm sai Sứ thần Tòa Thánh Vatican, Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Tốt. Chúng tôi rất ngạc nhiên vì ra đường không thấy Cảnh Sát. Mỗi cây đèn đều có cây Thánh Giá ở góc đường, nơi đó có nhà thờ. Nhà thờ khắp nơi, Đông, Tây, Nam, Bắc, chỗ nào cũng có nhà thờ. Một quốc gia có 4 triệu dân, có 94 % là đạo Công Giáo, xứ sở không có Cảnh Sát, không có nhà tù. Costa Rica cách California 3 giờ đồng hồ đi máy bay. Nơi đây là Thiên Đường của những người yêu thiên nhiên, yêu không khí trong lành. Người dân có tuổi thọ rất cao vì họ sống với biển, với gió biển, suối, rừng, cây xanh khắp nơi.
Khâm sai Sứ thần Tòa Thánh Vatican, Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Tốt.
Khi về tới California, mọi người trong phái đoàn ai cũng nhắc đến biển, đến nơi Đức Mẹ hiện ra, và đặc biệt nhớ một xứ sở thanh bình không có Cảnh Sát. Suốt hành trình viếng thăm Costa Rica, đi khắp nơi không thấy bóng dáng một Cảnh Sát nào hết. Một xứ sở bình yên, tối ngủ không cần khóa cổng, khóa cửa, tuyệt lắm đồng hương ơi.
Tôi mong đồng hương, nhất là những nhà văn nên đến Costa Rica một chuyến. Hãy để cho mình một thời gian sống với biển, suối, rừng cây xanh, ăn thật nhiều trái cây ngọt lịm, sẽ thấy đời đẹp hơn, vui hơn, đáng sống hơn, không lo lắng gì hết, quên hết muộn phiền, mệt mỏi, vất vả của cuộc sống thường ngày. Hãy nhìn từng đàn chim bay trên mặt biển. Hãy nhìn những khuôn mặt vô tư, nhảy múa, ca hát suốt ngày, vui như vui thời trẻ thơ, vui như sống ở Thiên Đường, không có chiến tranh, không có người ăn mày trên đường phố. Những người nào có tính nghệ sĩ sẽ tha hồ sáng tác những bản tình ca tuyệt diệu, những bài thơ, bài văn, đem niềm vui và lẽ sống cho người khác.
Kiều Mỹ Duyên đi giữa rừng cây ở Costa Rica.
Nếu tôi là ca sĩ, tôi sẽ ca những bản nhạc tuyệt vời về tình người. Nếu tôi là thi sĩ, tôi sẽ làm những bài thơ về tình người tuyệt vời. Nếu tôi là văn sĩ, tôi sẽ viết về những mối tình bất hủ. Tôi ca ngợi hòa bình, không có chiến tranh, không có ai sản xuất vũ khí, không có người giết người, chỉ có người yêu người mà thôi.
Tôi thích nói về tình yêu hơn thù hận. Yêu thương nhẹ nhàng hơn, thù hận sẽ làm cho đầu óc mình nặng nề, khó thở. Hãy thương nhau, hãy cho nhau nụ cười hay lời thăm hỏi ân cần, ấm áp. Hãy nhìn những người ra đi nhưng lòng không muốn từ giã cõi đời này. Ai mà không thích sống với gia đình và người thân của mình mãi mãi chứ?
Đã nhiều năm, chiều nào chúng tôi cũng vào thăm đồng hương ở viện dưỡng lão. Tôi đã từng nghe:
– Tôi không muốn chết, tôi không muốn chết.
Tiếng rên rỉ của bệnh nhân làm cho người nghe xúc động, nhưng rồi thần chết cũng đến và đem người bệnh ra đi về cõi nào đó không ai biết?
Còn sống thì còn yêu thương. Tình yêu ơi đừng cất cánh bay cao, bay xa. Tình yêu vĩnh cửu!
Tôi rất trân quý tình yêu, tôi rất trân quý những buổi gặp gỡ với các bằng hữu từ xa đến. Họ đến từ những nơi rất xa, từ San Jose, Arizona, Florida, Chicago, Michigan, Boston, D.C, Seattle, Pháp, Úc, Á Châu, v.v.
Tôi tự hỏi mai này mình còn gặp những bằng hữu này nữa không?
Xin chúc sức khỏe, bình yên và hạnh phúc cho tất cả mọi người.
Orange County, 21/7/2021
KIỀU MỸ DUYÊN
(kieumyduyen1@yahoo.com)
CHÀO MỪNG NHÀ VĂN HỒNG THỦY GIA NHẬP VTLV – Lê Văn Hải – Thơ Phương Hoa + Minh Thúy + Dương Huệ Anh & Truyện (Ra mắt) Hồng Thủy –
Tóm tắt tiểu sử:
*Viết văn từ 1958, Bút hiệu Mộng Huyền
*Ngừng viết khi lập gia đình. Viết lại tại Hoa Kỳ 1986
Đã xuất bản:
*Những Cánh Hoa Dại Mầu Vàng, 2010
*Hoa Tương Tư, 2017
*Góp mặt trong:
*Truyện ngắn Phụ nữ Việt, 1994
*Tuyển tập Phụ nữ Việt, 2006, 2008
*Hương đời kỳ diệu, 2007
*Du Tử Lê Tác giả và Tác phẩm
*Tuyển tập Thơ Cỏ Thơm
*Tuyển tập Văn chương Phụ nữ, 2013
*Hồi Tưởng Dấu Yêu, 2015
*Tuyển tập Cô gái Việt, 2016
*Nguyễn Ngọc Bích, Tấm lòng cho quê hương, 2016
*Chủ bút Nguyệt San Kỷ Nguyên Mới
*Trong Ban biên tập Cỏ Thơm
*Thành Viên Câu lạc bộ Văn Học Nghệ Thuật vùng HTĐ
*Chủ Tịch Văn Bút Hải Ngoại Vùng Ðông Bắc Hoa Kỳ (2018-hiện tại)
***************************
Phương Hoa & Hồng Thủy
ĐÀN BÀ LÀ GÌ NHỈ?
Phiếm –Hồng Thuỷ
Đàn bà là món quà quí giá đặc biệt Thượng Đế tặng cho trái đất. Từ ngày có đàn bà, trái đất sống động vui vẻ hẳn lên. Ngày xưa lúc chưa có đàn bà, đàn ông cảm thấy tâm hồn cằn cỗi chả có đối tượng nào để mà mơ, mà mộng. Cuộc đời chán nản, khô khan. Ăn rồi chỉ muốn nằm chèo queo ở nhà.
Có bóng hồng xuất hiện, mắt các chàng bỗng sáng lên, tâm hồn bỗng phơi phới, yêu đời, đầu óc đâm ra mơ mộng, nghĩ toàn những danh từ thật bóng bẩy ướt át đế tán tỉnh các nàng. Bề ngoài các chàng cũng đẹp trai sáng sủa hẳn ra, vì tối ngày được trau chuốt.
Không đi tán đào, ăn diện làm gì cho mất công, phải không quí vị liền ông? Quên nữa, điều này mới là quan trọng. Có đàn bà các ông sạch sẽ hẳn ra. Ông nào lười biếng không chịu tắm gội, sửa soạn đi gặp đào cũng phải tắm rửa sạch sẽ, đánh răng đánh lợi kỹ càng. Để chắc ăn có ông còn súc miệng thêm bằng Listerine nữa chứ. Tóm lại là nhờ có đàn bà, đàn ông lúc nào cũng phải cố gắng ăn ở hợp vệ sinh thơm tho sạch sẽ. Tưởng tượng ghé vào tai nàng thì thầm mà hơi thở không thơm tho thì các nàng chạy de hết.
Các ông hà tiện không chịu chi tiêu cũng trở nên rộng rãi hào hoa hơn. Đi tán đào thì phải bao các nàng ăn uống. Lâu lâu cũng phải quà cáp đế lấy lòng người đẹp. Thành ra, dù kẹo cách mấy, các ông cũng phải mở bóp chi tiêu. Chi mãi thành quen, tính kẹo đỡ đi được một chút.
Trên đây chỉ là ba cái “công dụng” lẻ tẻ. Cái công dụng có chưởng lực mạnh nhất là đàn bà đã mang lại sự trường tồn cho nhân loại. Không có đàn bà trái đất sẽ vắng hoe. Làm sao loài người có thể sinh sôi, nẩy nở nếu đàn bà không mang nặng đẻ đau? Không có đàn bà chắc chắn loài người sẽ tuyệt chủng.
Như vậy đàn bà xứng đáng được vinh danh là người quan trọng nhất trên trái đất (VIP đấy).
Dù là VIP đàn bà vẫn bị xếp đặt ở một vị trí rất khiêm tốn. Xã hội Việt Nam đặt ra những phong tục tập quán thật bất công với đàn bà. Chắng hạn như “Tại gia tòng phụ.Xuất giá tòng phu. Phu tử tòng tử.”
Về phương diện mê tín dị đoan cũng trọng nam khinh nữ. Hễ ra ngõ gặp trai là hên, gặp gái là xui. Sau khi lập gia đình, người đàn bà phải mang tên của chồng. Tên của mình bị chìm vào quên lãng.
Lớn lên con gái bị lép vế đủ thứ. Trong gia đình, bao giờ người con gái cũng phải làm việc nhiều hơn con trai và không được cưng chiều bằng con trai. Trong việc “bồ bịch” con gái chỉ là người bị động, nghĩa là bị dụ dỗ tán tỉnh. Con trai mới là chủ động, tự mình đi bắt bồ tán gái.
Vậy mà nếu con gái có nhiều bồ vẫn bị coi là đồ gái hư, lăng loàn, trắc nết. Con trai có nhiều bồ lại được khen là “anh chàng “đắt mèo” nhiều gái mê, hào hoa phong nhã.
Khi lập gia đình, ông nào cũng muốn cô dâu phải còn mới toanh trong trắng nguyên vẹn, trong khi các ông đã cũ xì, cũ xịt, xài tới xài lui không biết bao nhiêu lần. Lấy nhau rồi, đàn ông vẫn có quyền “trai năm thê bảy thiếp”, nhưng đàn bà ngược lại “gái chính chuyên chỉ có một chồng.”
Đến lúc có con, đàn bà là người mang nặng, đẻ đau. Thức khuya, dậy sớm, lo cho con cho đến ngày chúng khôn lớn. Người mẹ bao giờ cũng vất vả với con nhiều hơn là bố. Vậy mà hễ cái gì dính dáng đến mẹ thì bị gọi là họ ngoại. Có nghĩa là vòng ngoài, ngoại tộc. Cái gì dính dáng đến bố được gọi là họ nội. Nội là bên trong, gần gũi thân thiết. Bị đối xử bất công như vậy mà đàn bà vẫn chấp nhận vui vẻ, coi đó là cái truyền thống của dân tộc, thử hỏi có tội nghiệp không?
Dù có bất công và theo lối cổ lỗ sĩ, quan niệm “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” coi thường đàn bà tới đâu đi nữa, cũng không ai có thế chối cãi đàn bà đáng yêu vô cùng.
Đọc đến đây, nhiều đấng mày râu bị vợ đì hay bị đào hành hạ sẽ mắng mỏ tôi tới tấp “nhờ chị tí nhé! mấy điều chị nói về đàn bà ở trên chúng tôi nghe đã ngứa tai lắm rồi, nhưng không cãi được vì chị nói có lý quá. Nhưng còn cái câu chị khen đàn bà đáng yêu vô cùng thì phải xét lại. Chả hiểu mấy mụ bà chằng đang hành hạ chúng tôi, nó đáng yêu cái cái chỗ nào.
Bình tĩnh suy nghĩ lại đi các ông ơi! Khởi thủy đàn bà bao giờ cũng đáng yêu. Không đáng yêu các ông dại gì mà theo đuổi, o bế, tán tỉnh. Hứa nhăng hứa cuội đủ điều, rồi mang xe bông rước về làm vợ. Có ai đi tán một con mẹ đáng ghét để mong được làm người yêu hay làm vợ đâu. Bằng chứng cụ thể là thư tình gửi cho đàn bà bao giờ các ông cũng viết “Em yêu”, “Em yêu quí”, “Em yêu dấu”. Cuối thư bao giờ cũng không quên “yêu em nhiều lắm” v.v… và v.v…
Vậy nếu em không đáng yêu, các ông điên gì mà yêu em lắm thế? Vậy thì đàn bà đáng yêu là cái chắc chứ còn phải xét đi xét lại gì nữa. Lấy các ông rồi những người đàn bà đáng yêu nếu có thể trở thành bà chằng đáng ghét cũng chẳng có gì phải ngạc nhiên. Đàn bà vốn thông minh “nhập gia” phải “tùy tục” chứ làm sao hơn được. Ông chồng “quá trời”, cực chắng đã, bà vợ mới phải ra tay. Lý do thật đơn giản, đàn bà vốn mềm dẻo “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”. Ông chồng “quá xá quà xa” mà vợ hiền khô thì coi “hổng hợp”. Đàn bà phải tập thay đổi cho nó “xứng đôi vừa lứa” với chồng.
Như vậy các ông phải khen đàn bà mới phải. Nỡ lòng nào các ông lại gọi đàn bà bằng những cái tên chẳng êm ái tí nào “cọp cái”, “bà chằng”, “sư tử Hà Đông” v.v… Ăn ở kiểu đó là hổng có “phe” đâu à nghe. Trời phạt chết đó. Muốn lên thiên đàng với niết bàn, các ông nên ăn ở có trước có sau. Nghĩ đến đàn bà, các ông nên nghĩ đến những hình ảnh đẹp đầy mộng mị mà các ông mê mẩn ở những giây phút của thưở ban đầu. Hãy nhớ đến căn nhà các ông sống hồi độc thân nó lạnh lẽo, im vắng, chán nản như thế nào. Đến khi có nàng xuất hiện, tất cả đều biến đổi một cách nhiệm mầu. Trong nhà đầy tiếng cười nói ríu rít của trẻ thơ. Căn bếp lúc nào cũng ấm cúng với cơm dẻo canh ngọt, chiếc giường xưa kia lạnh lẽo vì chăn đơn gối chiếc, nay đã được sưởi ấm bằng ái ân nồng thắm của tình nghĩa vợ chồng.
Nghĩ như vậy các ông sẽ thấy đàn bà không chỉ đơn thuần là những người vợ. Đàn bà là những chiếc đũa thần, đã mang sự sống, niềm vui, hạnh phúc đến cho nhân loại. Tưởng tượng thế giới toàn đàn ông sẽ buồn nản đến thế nào. Tim các ông sẽ không có đối tượng để mà rung động. Hồn các ông sẽ không bao giờ có cơ hội để mà nhung nhớ mộng mơ. Các ông sẽ chẳng bao giờ được hưởng niềm vui nhìn đàn trẻ thơ tung tăng đùa giỡn. Và cuối cùng các ông sẽ chẳng bao giờ hiểu được ý nghĩa của tình yêu.
Tôi nhớ mỗi năm khi ngày “Mother’s Day” đến, các ông thường kiếm cớ “em là vợ anh chứ có phải là má anh đâu mà anh phải mua quà.” (Câu này tôi nghe…quen quen quí vị ạ) Dù những người vợ không phải là má của các ông, nhưng là…má của các con ông! Các nàng đã cho các ông những đứa con xinh đẹp ngoan ngoãn. Những người vợ xứng đáng được tặng một món quà trong ngày Mother’s Day, dù nhỏ bé cũng được, nhưng thể hiện cái tình nồng thắm của nghĩa vợ chồng.
Đàn bà dù là…chiếc đũa thần (tự khen đó nha!) nhưng vẫn thèm được chồng yêu, chồng chiều và nhất là “chồng cho quà.”
Các ông đừng bao giờ quên điều đó nhé!
Hồng Thuỷ
BÓNG TRĂNG SOI MẶT HỒ – Thơ Xướng Họa: Lê Tuấn & Phương Hoa + Minh Thúy
Chúc Mừng NHÀ VĂN CHU TẤN Lành Bệnh – Phương Hoa – Lê Tuấn – Thư Khanh – Hoàng Mai Nhất – Minh Thúy
Hoàng Hôn Của Các Đại Tướng – Giao Chỉ, San Jose.
Hoàng hôn của các đại tướng.
Giao Chỉ, San Jose.
Sáng nầy nhận được thư của niên trưởng hàng xóm Nguyễn Khắc Bình. Thứ sáu 16 tháng 7-2021 San Jose tưởng niệm thủ tướng Trần Thiên Khiêm tại nhà thờ Maria Goretti 2980 cầu nguyện lúc 11:30 và thánh lễ lúc 12 giờ. Ban tổ chức là tướng Bình nguyên TMT của đại tướng Khiêm và ông Ng Đức Cường nguyên tổng trưởng kinh tế trong nội các của thủ tướng đệ nhị cộng hòa. Ban tổ chức xin mời toàn thể đồng hương đến dự. Cũng vào dịp tháng 7 vào ngày 20-1974 cách đây 67 năm là dịp tưởng niệm cuộc di cư vĩ đại đưa 1 triệu người từ Bắc vào Nam. Tháng trước anh Dương Phục của Radio Saigon Houston hỏi rằng bác Lộc có biết đại tướng Khiêm ở CA không. Trả lời rằng ngày xưa ở Việt Nam chưa từng có dịp trực diện khi ông tướng còn trong quân đội. Sau này ông làm thủ tướng thì lại càng xa cách. Mấy năm gần đây tướng Bình có dịp mời ông đến thăm Việt Museum nên tôi mới có cơ hội nói chuyện. Nhắc lại chuyện xưa thời kỳ đất nước còn đủ hai đầu Nam Bắc, Sài Gòn Hà Nội cũng thực thú vị.
Những vị đại tướng VNCH.
Quý vị có biết quân đội chúng ta có bao nhiêu ông đại tướng. Cao cấp và thâm niên nhất là đại tướng Lê Văn Tỵ, khi ông qua đời thời kỳ quốc trưởng Nguyễn Khánh đã truy thăng ông lên Thống Tướng. Các vị đại tướng khác là tổng thống Dương Văn Minh, Cố vấn Đặng Văn Quang, quốc trưởng Nguyễn Khánh, Tổng tham mưu truong Cao Văn Viên và thủ tướng Trần Thiện Khiêm.
Hoàng hôn của các đại tướng.
Ngoại trừ tướng Viên ra đi từ miền Đông, tất cả các vị đại tướng đều trải qua những ngày cuối cùng tại tiểu bang CA Hoa Kỳ. Nước Mỹ đã từng là đồng minh của các tướng lãnh cầm quyền. Rồi đã quay lưng bỏ rơi, nhưng sau cùng Hoa Kỳ cũng vẫn là nơi quý vị gửi nắm xương tàn. Tôi có dịp nói chuyện với đại tướng Cao Văn Viên tại cao ốc cao niên xứ Virginia, với quốc trưởng Nguyễn Khánh và thủ tướng Khiêm tại Việt Museum San Jose. Không hỏi về chiến tranh và quốc sự. Chỉ hỏi về tuổi hoa niên. Còn tuổi nào là tuổi của tình yêu lúc mới vào đời. Tình yêu nước, yêu người và yêu chính mình. Các niên trưởng đều đồng ý là tuổi 20. Thời kỳ trước 1954, ở Secteur Hưng Yên đã có 3 vị sĩ quan trẻ tình cờ gặp nhau trên chiến trường Bắc Việt. Trung úy Nguyễn Văn Thiệu gốc Phan Rang, Trung Kỳ. Trung Úy Cao Văn Viên gia đình từ Lào trở về Hà Nội, Bắc Kỳ. Đại úy Trần Thiện Khiêm, quê Long An, Nam Kỳ. Không ai biết rằng sau này sẽ trở thành tổng thống, thủ tướng và tổng tham mưu trưởng. Cũng vào thời kỳ đó đại úy Nguyễn Khánh từ Sài Gòn ra hành quân Hà Nội đã lấy cô vợ của 36 phố phường. Nửa thế kỳ sau tôi hỏi niên trưởng Khánh ai lái xe đưa ngài từ Sacto về thăm bảo tàng của chúng tôi tại San Jose. Ông nói ngon lành. “Moi” lái chứ ai. Lại hỏi ai ngồi ghế chỉ huy bên cạnh. Bà ngoại hàng Đào của đám Bắc Kỳ nhà anh chứ còn ai. Mấy năm sau cả hai ông bà cùng vào ở chung một phòng trong nhà già bác sĩ Ngải. Luật nursing home là nam nữ bất khả chung phòng, ngoại trừ phòng của ông bà quốc trưởng. Khi quốc trưởng ra đi, khách vào thăm, cô gái hàng Đào Bắc Kỳ, một thời đệ nhất phu nhân hồn nhiên nói rằng anh Khánh đi công tác. Không có nhà. Bà đã thăng hoa ngay trước khi tình Bắc duyên Nam vẫn còn nguyên vẹn. Ông Khánh lấy vợ Bắc nhưng ông đại úy Khiêm thì vẫn một lòng một dạ với tình yêu Nam Kỳ. Ông lấy vợ Rạch Giá. Trong quân đội cấp bậc của chúng tôi xa cách. Trong chính quyền vai trò của chúng tôi lại càng cách biệt, nhưng về đường tình duyên chúng tôi chẳng khác biệt bao nhiêu. Nhà tôi cũng là nữ sinh trường Nguyễn Trung Trực cùng với chị em bà Trần Thiện Khiêm. Khi cùng ngồi nói chuyện tôi thưa rằng từ Bắc vào Nam tìm thấy hồ Than Thở ở Đà Lạt. Ai ngờ đi hành quân ở Hậu Giang thấy Rạch Giá cũng có hồ Than Thở. Xếp Khiêm vỗ đùi nói rằng: “Toi”nói đúng, “moi”lấy vợ Rạch Giá cũng thấy cái hồ Than Thở Mệt lắm.
Nói đến thủ tướng Trần Thiện Khiêm ai cũng tiếc rằng ông Thiệu ông Khiêm đều không ông nào để lại hồi ký. Lúc sinh thời thủ tướng Khiêm nổi tiếng là người ít nói dù trước năm 1975 hay sau này trải qua gần nửa thế kỷ lưu vong. Ngày xưa trong một buổi đại hội tại Vũng Tàu do tổng thống Thiệu chủ tọa có cả nội các và tướng lãnh tham dự. Hội trường có cả trăm người chiếu trực tiếp trên TV. Tổng thống thao thao bất tuyệt. Ông nội thẳng những điều cấm kỵ. Về bang giao Việt Mỹ, ông không ngần ngại nói rằng ảnh hưởng Hoa Kỳ Việt Nam rất quan trọng và trực tiếp. Bên Mỹ hắt hơi là bên ta sổ mũi. Suốt buổi thủ tướng ngồi bên cạnh, đeo kính mát, yên lặng và bình tĩnh. Báo chí gọi là ông Tư mắt Kính. Không nói. Không lỡ lời. Không sai lầm. Đó có thể là khuyết điểm của chính khách. Đó cũng có thể là ưu điểm của chính trị gia. Sau này ra hải ngoại cũng như thế. Dư luận có thể thêu vẽ và bình luận về vai trò của đại tướng trong chính trường Việt Nam từ binh biến 63 cho đến ngày tàn cuộc 75, nhưng không hề khai thác được điều gì trực tiếp từ niên trưởng Khi êm. Tất cả chỉ là suy diễn.
Những ngày sau cùng.
Những năm gần đây niên trưởng Khiêm quanh quẩn tại San Jose. Vóc dáng cao lớn và khỏe mạnh với tuổi ngoài 90. Ông không ngần ngại xuất hiện trong các buổi họp mặt đông đảo. Cùng với niên trưởng đô đốc hải quân Trần văn Chơn và tham mưu trưởng Nguyễn Khắc Bình, quý vị làm thành bộ ba tương đắc của QLVNCH. Thêm vào sự hiện diện của tổng trưởng kinh tế Nguyễn Đức Cường và dân biểu dược sĩ Nguyễn văn Bẩy. Dù sao cũng chỉ còn vang bóng một thời. Chung quanh là những người biết chuyện nhưng không nói và người không biết tha hồ lên tiếng. Văng vẳng đâu đây là lời nói than vãn của trung tướng Thiệu: Mất nước là mất tất cả. Trong hoàn cảnh cả cộng đồng Việt hải ngoại chia rẽ giữa 2 đảng Cộng Hóa và Dân Chủ, ông đại tướng cuối cùng của Việt Nam Cộng Hoà lặng lẽ ra đi. Lúc cư ngụ ở San Jose niên trưởng Khiêm bị té và đau chân. Ông nằm trong Nursing home một mình. Hồ Than thở xứ Ki ên Giang của ông đã bỏ đi từ lâu sau một thời gian rất dài ông phải săn sóc cho bà. Ông thủ tướng đã trải qua giai đoạn rất vất vả nuôi vợ mệt mỏi hơn cả lúc cầm quyền. Ông vẫn nằm chờ đợi một mình. Một hôm có vị linh mục là cha xứ gốc Việt của miền Senter vào thăm thân phụ. Quan sát thấy tình cha con trong vòng đạo lý tôn giáo. Cha vào thăm con hay con vào thăm cha. Đại tướng bèn mời linh mục đến gặp. Ông muốn tìm về niềm tin tôn giáo vào những ngày cuối của cuộc đời. Tôi tưởng rằng niên trưởng Khiêm lẽ ra phải theo đạo từ thời ông Diệm, nhưng tôi nhầm. Thời đó mà rửa tội có thể do ảnh hưởng chính trị. Nhưng đến năm 2021 mà theo đạo là do tiếng gọi của con tim. Đại tướng hỏi vị chủ chiên tên họ là gì. Thầy tu thưa rằng họ Lê chữ đệm là Trung, tên gọi là Tướng. Lê Trung Tướng. Chuyện đơn giản thành phức tạp. Vào ngày đẹp trời. Ngay tại Nursing Home có ông Trung Tướng họ Lê rửa tội cho đại tướng thủ tướng họ Trần tại San Jose. Cuối tuần qua lễ tang đã tổ chức cho niên trưởng Khiêm tại San Deago nhưng hoàn cảnh hiện nầy mọi chuyện đều phải xếp hàng. Niên trưởng của chúng tôi, vị đại tướng cuối cùng của QLVNCH cũng đang xếp hàng nằm chờ chưa đến lượt hỏa thiêu. Con người một thời lẫm liệt, kiến trúc sư của biết bao nhiêu cuộc cách mạng và binh biến. Người đã từng chờ đợi Được làm Vua và thua làm đại sứ. Đã gần 50 năm lưu lạc xứ người. 10 năm nuôi vợ đau yếu và sau cùng hồn thiêng đã bay về cố hương nhưng xác tục vẫn nằm chờ trong phòng lạnh để hỏa thiêu cùng thiên hạ. Đại tướng Khánh, đại tướng Viên, đại tướng Khiêm ai cũng nghĩ rằng cuộc đời đẹp nhất ở tuổi cấp úy ngoài 20. Nếu phải được trở lại làm tuổi trẻ 20 sẽ làm lại từ đầu. Sáng suốt hơn, xây dựng hơn, bao dung hơn và giúp được biết bao nhiêu cho đất nước cho dân tộc và cho chính mình.
Tuổi hoa niên cùng mặc áo chinh y, Lòng mở rộng giữa dòng đời ấm áp. Chín mươi năm, cuộc đời như gió thoảng. Chiều cô đơn về chậm hồn cao niên.(Giao Chỉ tưởng niệm niên trưởng Khiêm, cùng hội cùng thuyền những người con rể xứ KiênGiang.)
Thơ Đường qua thể loại thất ngôn bát cú thông thường, với hình thức một bài thơ gồm 8 câu, mỗi câu 7 chữ, 5 vần bằng ở mỗi cuối câu: 1 2 4 6 8, cuối 3 câu: 3 5 7 thì tất nhiên là vần trắc rồi.
Nhưng không phải “chỉ có vậy.” Nó, bài thơ thể loại này, còn bắt ta học gần nửa trăm quy luật: mà mỗi chữ, mỗi câu mang một nhiệm vụ riêng.
Các câu
1/ Phá đề
2/ Thừa đề
3+4 / Thực hay trạng: cặp đối thứ 1
5+6 / Luận: cặp đối thứ 2
7/ Chuyển
8 / Kết.
Xem ra quý vị cứ việc bám sát đề bài, với tinh thần nêu trên là qua cầu vui vẻ rồi.
Tôi nhớ cụ thi sĩ rất tên tuổi trong chiếu thơ Đường hàng chức sắc, nói với tôi rằng:
” Không phải cứ cặp đối 3+4 ( thực trạng ) với nội dung bài là đắc sách đâu, tất nhiên thực hay trạng của bài thơ Đường Luật là quan trọng rồi.
Nhưng, tôi nói cho Cao Mỵ Nhân biết, câu chuyển ( thứ 7 ), là đắt giá nhất, nó tóm gọn toàn bài trước khi kết thúc đấy .” ( Cụ Trình Xuyên ).
Sau khi tôi đã hoàn toàn chấm dứt cái nạn tù cải tạo do csvn áp đặt, đầu năm 1980, tôi bắt đầu sinh hoạt văn nghệ nơi các hội thơ, hội thảo thi ca cổ điển VN …xưa.
Tức là ngoài việc tôi gia nhập thi đàn Quỳnh Dao của quý vị nữ sĩ tên tuổi như Mộng Tuyết, Vân Nương, Quỳ Hương, Uyển Hương, Đinh thị Thục Oanh, Tuệ Mai vv…
Quý vị toàn gấp đôi, gấp rưỡi tuổi tôi, có vài vị nữ sĩ trẻ hơn các niên trưởng nêu trên, như Tuệ Nga, Tôn nữ Hỷ Khương, thì tôi trở thành ” Em út Quỳnh Dao “, có nghĩa là tuổi tác và sức khoẻ tôi còn xài được với thế hệ sau của quý niên trưởng chuyên xướng hoạ Thơ Đường.
Bên cạnh quý vị đương nêu, là quý thi khách Đường Thi như quý cụ Quách Tấn, Đông Hồ ( đã quá cố) , Giản Chi, Vũ Hoàng Chương, Hà Thượng Nhân vv…cũng đã quá cố.
Song le, mỗi quý vị nữ sĩ Quỳnh Dao lại giao hảo với số khách Đường Thi riêng, mà khác đường lối chơi thơ cổ điển chung của thi đàn Quỳnh Dao, nên tôi vì là ” Em út Quỳnh Dao ” gần như tôi có bổn phận phải biết từng tích tắc khác biệt đó.
Thí dụ : Nữ sĩ Thu Nga thì thỉnh thoảng xướng hoạ với quý cụ thi sĩ Tế Nhị, Như Ý, Trình Xuyên, Linh Điểu vv…
Đại khái ” xã giao ” thơ, mà lại là thơ luật Đường , không phải đơn giản, chỉ 2 chữ ” Thôi, Xao ” của Giả Đảo đã là một thần thoại thích thú.
Nay, sau cuộc đổi đời 30 -4 -1975, sĩ khí người cầm bút đã gây nhiều mâu thuẫn thời thế, huống hồ chơi thơ luật, là các bậc thịnh Hán, túc Nho, có dịp biểu lộ tinh thần ” chi hồ giả dã ” thời đại ra, để khích bác điều bất như ý.
Do đó thế giới thơ của mỗi vị thì vô cùng …
Chuyện xướng hoạ thơ luật Đường vô hình chung cho ta cảm giác tôn ti trật tự của trước nhất là tuổi tác, các yếu tố khác như địa vị, gia thế vv…và nhất là thơ, có hay ho tới đâu, cũng phải qua ngưỡng cửa ” niên tuế ” khách thơ đang hiện diện ở hội thơ lúc đó.
Trong hội thơ Quỳnh Dao chúng tôi, kể từ ngày tôi tham dự , tôi luôn luôn là người giới thiệu chương trình hội thơ, thường thi đàn tổ chức thay phiên tại các tư gia của các nữ sĩ.
Cũng từ đấy, tôi may mắn được diện kiến các bậc ” Đường thi khách ” lão luyện còn …sót lại, mà tôi rất kính phục như quý cụ Quách Tấn ( Nha Trang ), Bùi Khánh Đản ( Saigon ) Chánh Hà, và nhất là nữ sĩ tiền chiến Ngân Giang, các vị ở Hà Nội từ thủa còn được tôn phong là Hà Thành thanh lịch.
Tức là thời đệ nhất bán thế kỷ vừa qua, không phải mang cái mầu sắc Xã Hội chủ Nghĩa hay vô sản, quý vị vô thăm Saigon và miền nam sau 30 – 4 – 2020, tôi mới có cơ hội được gặp quý cụ ” Đường thi chuyên nghiệp “.
Ngoài việc nữ sĩ chủ nhà buổi hội thơ hôm đó, mời tiệc, hội có thể mời thêm dăm ba khách ” thời thế ” , không làm thơ, nhưng muốn thả hồn theo dòng suy nghĩ riêng tư, thể hiện nơi hội thơ hậu chiến .
Cũng chính vì thế, mà không khí loãng ở một vài hội thơ sau cuộc đổi đời nêu trên, đã có lúc được khách tham dự phải bỏ cuộc, để mau chóng ra về, cho khỏi mang hoạ ” chính trị ” vào thân, vì bị Công An rình mò, bắt bớ.
Thí dụ : Tại tư thất nhà thơ hoàng phái Vĩnh Mạnh Thường Quân vào mùa xuân năm 1982, buổi đó được giới thiệu là có 3 vị thi sĩ lão thành đại diện cho 3 miền, gồm : cụ Vũ Đình Liên ( Bắc) tác giả bài thơ” Ông Đồ “, cụ Vân Giang ( Trung ) và cụ Trác Ngọc ( Nam ) ngồi phía đầu dãy chiếu hoa trải kín nền phòng khách Thạch Động, chủ toạ.
Chúng tôi ngồi chung quanh chu vi chiếu thơ mở rộng.
Sau tất cả các thủ tục ban đầu, gồm giới thiệu thi tướng, thi tài vv… là ai muốn trình bầy ý thơ gì, cứ việc ” phát biểu “.
Nhà thơ ” Đường thi tức vị ” theo thời thế cho yên thân, đã hỏi cụ Vũ Đình Liên rằng :
” Cụ là chứng nhân của 2 thời đại thơ như Ông Đồ trước khi đi …cách mạng, và bài thơ Ông Đồ csvn, bút sắt thay bút lông ngày xưa vốn hoa tay thảo những nét, như phượng múa, rồng bay. Nay, nói theo thời đại ” logic ” tình hình thơ chung và riêng của cụ thế nào ?
Chúng ” cháu ” đã mất hết cảm hứng khi đọc lại bài thơ Ông Đồ xưa của cụ . Và, tại sao các cụ vô đây, để làm cái việc cho xe ba gác chở tất cả thơ hay, thơ đúng nghĩa thơ, của các thi sĩ danh tiếng cả nước, như thơ Vũ Hoàng Chương, thơ Đinh Hùng vv…” đem đi thiêu huỷ ?
Câu hỏi được đặt ra, nhưng không cần chờ nghe câu trả lời, nhà thơ trẻ ( ngoài 30 tuổi, cái tuổi dễ bị bắt nhất ) đứng lên cáo từ, và đi như chạy ra khỏi hội thơ.
Như tôi đã có dịp trình bầy nhiều lần là: Thơ luật Đường Tống đã phổ biến trong xã hội VN từ nhiều đời . Nét tinh hoa của thể luật này, tưởng kết thúc ngay từ đầu thế kỷ 20 vừa qua, với 2 hồi chuông báo tử thất thanh, của quý vị thi sĩ lỗi lạc Đường luật là cụ Tú Xương qua nỗi buồn phải chấp nhận hoàn cảnh tây học :
” Ném bút lông đi, viết bút chì …”
Cùng một cuốn thơ tạ từ năm tháng cũ :
” Mùa Cổ Điển ” của cụ Quách Tấn .
Tôi vốn ưa những điều ” ham hố ” .
Sau đại nạn 30 – 4 – 1975, thay vì đi tìm một ngoại ngữ học để có thể kiếm sống, tôi lại rong chơi ” Thơ Đường “, học hỏi và đi sát quý cụ để thấy được những kỳ bí, mà có lẽ chỉ ở thể loại này, người ta mới dễ bày tỏ, hứa hẹn, dặn dò quyết liệt người được nhận, hay phải trả lời thơ trao, hoặc tặng.
Nghe tin tôi vừa từ trại tù cải tạo về. Thi sĩ danh tiếng Bùi Khánh Đản cùng thi sĩ Bàng Bá Lân ( viết thơ mới nhiều hơn ) đã mỗi cụ một xe đạp mi ni, ghé thăm tôi sức khoẻ và hồn thơ khoảng khoát thế nào.
Cụ Bùi Khánh Đản viết trên một tờ giấy mầu vàng, rộng bằng trang báo lớn, bài thơ tên Quang Vinh như sau:
QUANG VINH
(Bài xướng)
Xiết chặt vòng tay cùng chặn gió
Mở đường kiếm khí dậy hào quang
Nước mây sẽ ấm trời băng lạnh
Cây cỏ rồi thay sắc đoạn trường
Hương chính nghĩa tràn trên đỉnh mộng
Lửa kiêu hùng đốt sạch rừng hoang
Chúng ta bỗng bật tim thành tiếng
” Sử Việt từ nay đẹp chữ vàng “.
Saigon 7/1980
BÙI KHÁNH ĐẢN
Dù mới từ trại tù cải tạo về, tôi cũng quên béng thân phận sĩ quan chế độ VNCH, rất dễ tái tù, khó tránh .
Tôi kính hoạ thơ cụ Bùi Khánh Đản tặng tôi như sau :
GỌI GIÓ VÀNG
(Bài hoạ)
Vẫn thả diều lên, tìm hướng gió
Những ngày xanh biếc bầu trời quang
Để xem bóng nắng bao hy vọng
Còn thấy hơi sương phủ dặm trường
Thật rất vô tình nghe nước chảy
Thà đừng cố ý bước chân hoang
Đôi phen tim thắt vì thương tủi
” Mộng với thơ ai chép sử vàng ? “.
Saigon 11-8-1980
CAO MỴ NHÂN
Cụ Bùi Khánh Đản ( 2010 ) và cụ Đỗ Bằng Đoàn ( 1908 – 1986 ) là đồng tác giả cuốn ” Đường Thi Trích Dịch” in roneo 300 cuốn tại Saigon năm 1959, gồm 503 bài của 133 tác giả.
Mới đây tôi được nghe: nhà xuất bản Văn Học Hà Nội đã in tái bản tác phẩm đồ sộ ” Đường Thi Trích Dịch ” của 2 cụ nêu trên, dày 1271 trang, năm 2006.
Mỗi lần nhật nguyệt lững lờ trôi trên biển trời, cả thế giới
” Đường Thi ” lại như vần vũ gió mưa.
Những thế hệ suy tụng Đường Thi không xếp nếp thời gian, hiện nay ở quốc nội lẫn Hải ngoại, đang vun vén cả rừng hoa tuy bình cũ, nhưng rượu mới, ý thơ bát ngát, thanh sắc lạ lùng, nhưng đầy hứng cảm. Khách yêu thơ cổ điển ưa chuộng những tinh hoa ẩn hiện, linh diệu.
Song cũng chỉ hợp với quý vị tồn cổ, mang cảm giác thầm lặng trước sóng gió phế hưng của thể loại thi ca…đầy nguyên tắc từ xưa tới nay này.
CAO MỴ NHÂN
Đọc ‘Hoa Cỏ Bên Đường’ của nhà báo Kiều Mỹ Duyên – PHAN TẤN HẢI & LÊ TỐNG MỘNG HOA – LÊ VĂN HẢI
Nữ Phóng Viên Chiến Trường Kiều Mỹ Duyên Tôi hân hạnh được quen biết với Chị có lẽ đã trên 30 năm. Từ VN trước 75, tôi đã mến Chị qua bài phóng sự “Bay Trên Bầu Trời Lửa Đạn!” Rồi có duyên gặp Chị tại Hải ngoại. Mỗi lần xuống Nam Cali, có đến văn phòng địa ốc thăm Chị vài lần. Nhiều nhất đượcgặp Chị trong những buổi ra mắt sách. Chị là cây bút hiếm có còn sót lại, gốc từ phóng viên chiến trường, đến nay vẫn sống chết với ngòi bút. Nhớ thời khi Quê hương trong cơn “Binh lửa,” rất nhiều người vẫn theo đõi những bài phóng sự nóng hổi, khét mùi khói súng chiến trường có tên Kiều Mỹ Quyên, trên nhiều nhật báo ở Sài Gòn, nhất là trên nhật báo Hòa Bình. Tác giả bút ký chiến tranh độc đáo, có một không hai “Chinh Chiến Điêu Linh” Qua Mỹ, người Nữ phóng viên nhỏ bé, còn xông sáo, thành công hơn cả trên chiến trường! Chị tốt nghiệp Đại học Cal Fulleton. Chủ nhân Ana Real Estate, một trong những văn phòng địa ốc lâu đời nhất, lớn nhất khu Sài Gòn Nhỏ. Ngòi viết của Chị có mặt khắp nơi, trên khắp mọi phương tiện truyền thông, từ đài truyền hình, trên SBTN, SET, VNA TV, đến những đài phát thanh lớn, như Đài Á Châu Tự Do (RFA)…trên khắp mọi diễn đàn. Giống như “Tề Thiên Đại Thánh,” đâu cũng thấy! VTLV hân hạnh giới thiệu Tác phẩm mới nhất của Chị xuất bản trong năm nay (2021) có tên “Hoa Cỏ Bên Đường” Bảo đảm rất khác với những ngòi bút nữ khác. Vì đã tôi luyện qua biết bao nhiêu chiến trường khốc liệt, dù qua bao nhiêu năm, vẫn sắc bén, như gươm như giáo, như súng như đạn, bắn vào con tim Người đọc, thành những mảng vết thương nhức nhối, mà sẽ…không bao giờ lành! Thử đọc mới biết! LÊ VĂN HẢI
ĐỌC TUYỂN TẬP “HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG” CỦA KIỀU MỸ DUYÊN
LÊ TỐNG MỘNG HOA (VA)
Kiều Mỹ Duyên tham dự đại hội kỷ niệm 15 năm thành lập Đài Việt Nam Hải Ngoại.
Cô Lê Tống Mộng Hoa, một bằng hữu và là ân nhân của Hệ Thống Truyền Thông Việt Nam Hải Ngoại (áo dài vàng bên phải)
Em đã đọc qua các bài giới thiệu tuyển tập HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG của nhà văn Huy Phương, nhà báo Chinh Nguyên và ký giả Mặc Lâm đài VOA. Cả 3 vị đều bộc lộ sự cảm phục và ngưỡng mộ lòng yêu thương, ham mê nghề nghiệp của “phóng viên chiến trường” xông pha vào nhiều chiến địa khốc liệt thập niên 1960 của người “nữ ký giả xuất sắc trong thời gian chiến tranh”: Kiều Mỹ Duyên.
Cả 3 nhà văn, nhà báo này đã viết rất chân tình, rất hay và dẫn dắt độc giả đến gặp một nhà báo lớn thành công, yêu thích nghề làm báo, một ký giả viết phóng sự chiến trường trong nước và viết báo ở hải ngoại qua hơn nửa thế kỷ (1968-2021):
Kiều Mỹ Duyên cũng là một nhà văn với lối hành văn giản dị mà lôi cuốn người đọc vô cùng. Lời giới thiệu tác giả HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG của 3 vị này đã quá đầy đủ và tuyệt dịu, vậy mà chị Kiều Mỹ Duyên vẫn muốn em viết đôi dòng cho tuyển tập này làm chi nữa?
Vì vậy, em xin lỗi không giới thiệu sách HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG nữa mà chỉ “bật mí” những cá tính đặc biệt, đáng yêu của “chị Hai Kiều Mỹ Duyên” như tên gọi thân thương mà nhà văn Chinh Nguyên đã tặng cho chị.
1/ Kiều Mỹ Duyên luôn nói cười vui vẻ, thân thiện mỗi khi gọi điện thoại cho bạn bè.
Có lẽ nhờ duyên lành đưa đẩy mà em gặp và quen biết chị hơn 20 năm qua, mặc dù 2 người có cuộc sống và nghề nghiệp khác nhau. Chị là nhà địa ốc lớn, nhà báo nổi tiếng ăn nói khéo léo, mối giao thiệp lan rộng ra cả toàn cầu; còn em chỉ là “cô giáo dạy tiếng Việt không lương”, một chuyên viên điện toán tầm thường của chính phủ Liên Bang, chỉ giao tiếp trong phạm vi nhỏ hẹp của gia đình, sở làm, trường học tại địa phương. Điều khiến em thích thú nhiều nhất nơi chị là tiếng cười giòn giã, vui tươi mỗi lần chị gọi điện thoại hỏi thăm em.
2/ Kiều Mỹ Duyên, nhà địa ốc giàu xụ luôn đòi “xin ăn” vì đang đói bụng?
Mặc dù rất bận với 2- 3 công tác cùng một lúc, từ xa xôi chị vẫn gọi hỏi thăm và nói chuyện “thế sự gió mưa” với em ít nhất mỗi tuần 1 hoặc 2 lần.
Em luôn cười thỏa thích khi nghe chị bảo: “Hoa ơi, mở cửa cho chị mau đi, chị đang đứng trước cửa đây nè, có gì cho chị ăn không, đói bụng quá!” Không những diễn màn hài hước “xin cơm chay” với em, vì biết em ăn chay trường tuy rằng chúng ta ở xa nhau vạn dặm (từ miền Tây sang miền Đông Hoa Kỳ), mà trong các chuyến đi hội họp ở các tiểu bang xa hoặc ở các quốc gia ngoài Hoa Kỳ, chị cũng “xin ăn” tại các chùa chiền và luôn được quý vị ni sư tiếp đãi ân cần, hậu hỹ. Chị còn được nhiều khách hàng của công ty Ana Real Estate (Broker An Nguyễn) làm thức ăn chay tinh khiết ngon lành mang đến biếu tặng chị vì lòng mến mộ, đến nỗi nhà văn Thu Nga (Tổng Giám Đốc Saigon Dallas Radio AM1600 kiêm Giám Đốc chi nhánh Hệ thống SBTN-TV Texas, bạn của chị ở Texas) đã phải than: “Mấy người này đang mang củi về rừng mà không biết!” Vì nhà nghèo mà lại đem dâng hiến cho nhà giàu, cũng lạ thật!
3/ Hai chị em có chung một MƠ ƯỚC.
Khi ký giả Mặc Lâm (đài VOA) phỏng vấn chị: “Bà có dự định gì cho những ngày sắp tới?”, sau hơn nửa thế kỷ hoạt động thành công trong lãnh vực báo chí truyền thông, chị đã tâm sự: “Cái mơ ước của chúng tôi suốt cuộc đời còn lại là giúp đỡ cho những người nghèo, những đứa trẻ mồ côi không cha không mẹ,haylà những người ở trong những làng quê hẻo lánh mà không được đi học thì mong rằng những đứa trẻ được đến trường, mong rằng những đứa trẻ có áo ấm mặc trong mùa đông và có thuốc men có thức ăn và có một đời sống văn minh cũng như tất cả mọi người.”
Em đã cười vui sướng khi đọc đến đoạn này! Hi hi hi! Ha ha ha! Như vậy là hai chị em có chung một ước mơ, hèn gì tình thân thương giữa hai người tuy ở xa nhau, lối sống khác nhau vẫn còn được bền lâu, vững chãi.
Xin cảm tạ ơn trên Trời Phật đã dẫn dắt cho em được quen biết với chị, một gương sáng hoạt động không ngừng nghỉ và đạt đến thành quả tốt đẹp rực rỡ trong môi trường báo chí, truyền thông cũng như địa ốc!
Cầu mong cho tuyển tập HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG được đồng hương Việt Nam khắp nơi đón đọc thích thú và trở thành “Best Seller Book” năm nay giống như cuốn sách Chinh Chiến Điêu Linh của chị trước đây.
LÊ MỘNG HOÀNG
LÊ TỐNG MỘNG HOA (VA)-7/22/2021
Charity Group of VA Affection Nhóm Từ Thiện Tình Thương VA Caring and Sharing with Affection
Đọc ‘Hoa Cỏ Bên Đường’ của nhà báo Kiều Mỹ Duyên
Phan Tấn Hải
Không kể tới tuyển tập Chinh Chiến Điêu Linh, một tập bút ký xa xưa gồm nhiều bài có chủ đề một thời Chiến Tranh Việt Nam của phóng viên chiến trường Kiều Mỹ Duyên, tôi có nhiều cơ duyên đọc nhiều bài viết ở hải ngoại gần đây của người tôi quen gọi là chị An Nguyễn Kiều Mỹ Duyên, nhà báo của một thế hệ đã vào nghề phóng viên trước tôi nhiều thập niên. Những bài viết của chị gần đây thường là các đề tài bám sát đời thường. Thế rồi chị gom lại thành một tuyển tập có tên là Hoa Cỏ Bên Đường. Nơi đây, tôi chỉ viết về một số ghi nhận rời khi đọc tuyển tập này của nhà báo Kiều Mỹ Duyên, cũng là một người chị về nhiều phương diện.
Điều ghi nhận đầu tiên nơi chị là một thái độ tôn trọng các nhà tu bất kể dị biệt tôn giáo. Cái hay nơi chị là sự hồn nhiên, tôn kính rất mực thuần thành bất kể các tôn giáo khác nhau trong cộng đồng. Có thể đó là nhờ bản năng phụ nữ? Tôi không biết, nhưng hiển nhiên, chị là Phật Tử, điểm hay của chị là đã tiếp cận tất cả các tu sĩ tôn giáo khác như dường không hề dị biệt.
Điều này thực ra tôi đã học từ khi còn thơ ấu. Ba tôi dạy rằng đi qua chùa, nhà thờ, đền, miếu, thì phải cúi chào để bày tỏ lòng tôn kính, chớ có khởi tâm xúc phạm. Nhưng bản thân tôi không hoàn toàn hòa hài tự nhiên với nhiều tôn giáo khác, tuy rằng tôi luôn luôn chắp tay chào mỗi khi gặp linh mục, mục sư, giáo sĩ…
Kiều Mỹ Duyên phỏng vấn Hồng Y Francis George
Tôi đã kết thân, và đã giúp tận lực để in sách, rồi tìm người dịch sách cho Thầy Phó Tế Nguyễn Mạnh San, một người tôi rất mực tôn kính vì đã hoạt động trong cương vị luật sư hơn 2 thập niên trong hệ thống nhà tù Oklahoma. Tôi cũng đã có giao tình rất thân với Mục sư Nguyễn Quang Minh, một huynh trưởng hướng đạo và một thời là người thông dịch tòa án tại Quận Cam. Tôi vẫn còn nhớ cách Mục sư Nguyễn Quang Minh yêu cầu một thanh niên đang trong diện quản chế mỗi tuần hay mỗi hai tuần tới gặp mục sư ở một quán cà phê góc đường Bolsa/Magnolia, chỉ để uống cà phê chừng nửa giờ, rồi Mục sư bảo anh đang trong diện quản chế đó đi đâu gần đó, làm gì chút đỉnh, tới trưa thì cấp giấy là đã hoạt động cộng đồng vài giờ chi đó để tòa án sẽ tính điểm. Những lúc đó, có khi tôi chỉ ngồi nói chuyện với Mục sư Minh thôi, có khi tôi chụp hình rồi về tòa soạn Việt Báo viết một bản tin về tuổi trẻ Việt sinh hoạt cộng đồng theo quy định quản chế. Tôi cũng là nhà báo đầu tiên đăng các lời kêu gọi từ thiện của Mục sư Nguyễn Xuân Bảo, ngươi từng bị đốt nhà thờ; và trong một lần Mục sư Bảo từ Việt Nam ra, khi phi cơ ghé trạm Nam Hàn, nhằm lúc World Cup, Mục sư đã mua một quả bóng túc cầu có huy hiệu đặc biệt của sự kiện đó, về trao cho tôi, nói là Mục sư chỉ duy nhất mua 1 thứ về, và chỉ nghĩ tới tôi thôi, xem như “mua banh World Cup để tặng cho cậu con của anh Hải đấy.” Dù vậy, tôi vẫn thấy luôn luôn có một khoảng cách giữa tôi và các tu sĩ tôn giáo khác. Nhiều vị tu sĩ nói rằng lúc cầu nguyện, vẫn cầu nguyện cho tôi. Như Thầy Phó Tế Nguyễn Mạnh San nói, “Tôi luôn luôn cầu nguyện hàng ngày cho ông Phan Tấn Hải đấy. Ông Hải giúp tôi nhiều quá, nên tôi nghĩ tới ông hoài.” Tôi im lặng, lúng túng, vì bản thân mình là kiểu Phật Tử bên lề, không có thói quen cầu nguyện dù là cho mình hay cho người. Tôi chỉ khởi tâm từ để ước muốn bình an cho mọi người, nhưng không thực sự là cầu nguyện cụ thể. Có vẻ như mình ăn gian, vì họ cầu nguyện cho mình, mà mình không cầu nguyện cho họ. Nội mình lo canh giữ tâm mình cho đừng sai phạm cũng là hết ngày giờ rồi, hơi đâu mà cầu nguyện, nhưng chẳng hiểu sao chưa bao giờ tôi dám nói minh bạch. Chính những khi đó mới thấy mình với người là khác.
Nhưng chị Kiều Mỹ Duyên thì hòa đồng rất mực tự nhiên. Như trong bài Tạ Ơn đầu sách Hoa Cỏ Bên Đường, câu cuối chị viết là: “Cầu xin Thượng Đế ban phúc lành cho quý ân nhân.” Nghe rất tự nhiên, và sẽ làm biết bao nhiêu người hài lòng. Thực ra trong xã hội Hoa Kỳ, câu nói đó là tự nhiên, vì đi đâu cũng gặp chữ “God bless.” Dù vậy, tôi chưa bao giờ nói được hai chữ đó. Hóa ra, tôi mới thấy rằng tự bản thân mình không tự nhiên, khi thắc mắc về chữ nghĩa phức tạp.
Nhà báo Kiều Mỹ Duyên là người có nhiều cơ duyên lớn trong đời. Nếu bạn ghé thăm văn phòng của chị ở khu thương mại nơi góc đường Westminster & Euclid, bạn sẽ thấy trên tường là một tấm hình chị đứng chụp chung với Đức Đạt Lai Lạt Ma đời 14. Đó là một hy hữu, cực kỳ hiếm có.
Rồi những cơ duyên khác của một nhà báo — đúng ra, chị còn là một người hoạt động cộng đồng, và đó là một ưu thế khi so với một nhà báo bình thường như tôi — chị Kiều Mỹ Duyên cũng từng có những cơ hội rất hiếm, như đã phỏng vấn Đức Hồng Y Francis George, khi Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ họp đại hội ở khách sạn Bilmore, Los Angeles, các ngày 15, 16 và 17 tháng 6/2006. Cũng dịp này, chị phỏng vấn Giám Mục William S. Skylstad, về những vấn đề rất trọng đại, như: Sự phát triển Thiên Chúa Giáo ở Hoa Kỳ trong những năm sắp tới, hay là Chủ tịch hội đồng giám mục Hoa Kỳ có ý định đến thăm Việt Nam hay không, và nếu có là khi nào. Để nhắc về tầm quan trọng: Đức Hồng Y Francis George là 1 trong 15 Giám Mục từng nằm trong danh sách được xem là ứng viên vào chức Giáo Hoàng trong đại hội mật nghị “2005 Papal Conclave” ở Vatican để bầu chọn tân Giáo Hoàng sau khi Đức Giáo Hoàng John Paul II băng hà tháng 4/2005.
Bản thân tôi ở trong nghề báo cũng lâu, chứng kiến nhiều sự kiện ở Orange County, nhưng kỷ niệm về phỏng vấn các lãnh tụ thì hoàn toàn thiếu vắng. Có thể, bản thân tôi ưa phỏng vấn các nhà thơ, nhà văn bên lề xã hội hơn. Trong khi đó, chị Kiều Mỹ Duyên có những cơ duyên lớn hơn.
Nhà báo Kiều Mỹ Duyên viết nơi trang 85-86 của sách Hoa Cỏ Bên Đường, trích:
“Nhờ làm nghề truyền thông mà tôi được nhiều cơ hội gặp mọi người, từ anh lính đến Đại tướng, từ người dân đến Tổng Thống, từ một người giáo dân đến Đức Cha chủ tịch Hội Đồng giám mục Hoa Kỳ, Đức Cha chủ tịch Hội Đồng giám mục Việt Nam. Đi đến đâu, tôi cũng được giúp đỡ một cách tận tình để được phỏng vấn.
Tôi phỏng vấn nhiều nhân vật quan trọng trên thế giới và tôi được cử làm phóng sự, thuyết trình, gồm có: Tổng Thống Gerald Rudolph Ford, bộ trưởng Elizabeth Dole, Tổng Thống Nga Mikhail Sergeyevich Gorbachev. Tổng Thống Nga nói sở dĩ nước Nga có tự do, nhờ ông và Tổng Thống George W. Bush làm việc ròng rã suốt 10 năm, thường họp ở Canada. Ông cho biết ông tham gia chánh trị lúc 18 tuổi nhưng chỉ một lần thất bại. Ông bị bắt giam gần bờ biển, chiều chiều nghe tiếng sóng vỗ và nhìn lên núi, ông nhất định phải trở lại chính trường và phải làm Tổng Thống. Khuôn mặt ông rất lạnh, ông có bằng Tiến sĩ toán, cô con gái đi theo ông khuôn mặt cũng rất lạnh. Tôi gặp Tổng Thống Nga hai lần, một lần ở Anaheim. Truyền thông có chỗ ngồi riêng, gần sân khấu, an ninh cho từng người truyền thông rất kỹ, cẩn thận không kém gì lúc tôi gặp Tổng Thống Ronald Reagan ở Anaheim hồi mới sang định cư ở Mỹ, mấy năm đó tôi đang làm báo cho Mỹ.”
Trong tập bút ký Hoa Cỏ Bên Đường, nhà báo Kiều Mỹ Duyên cũng ghi lại những cơ duyên phỏng vấn quý Thầy Phật Giáo VN, như ngài Đại Lão Hòa Thượng Thích Tâm Châu, Thiền sư Thích Thanh Từ, Hòa Thượng Giác Nhiên, Thầy Tuệ Sỹ, Hòa Thượng Thích Quảng Thanh, Hòa Thượng Thích Mãn Giác…
Trong sách này chị Kiều Mỹ Duyên cũng kể lại một vài chi tiết lịch sử, có thể gây xúc động cho Phật Tử. Thí dụ, như chị kể lại nơi trang 94:
“Học trò của Đại Lão Hòa Thượng Thích Tâm Châu rất giỏi, rất giỏi và hiện nay trụ trì nhiều chùa ở khắp nơi trên thế giới. Có lần, thầy nhờ tôi gửi tiền về cho thầy Tuệ Sỹ. Thầy Tuệ Sỹ rất gầy, gầy không thể tưởng tượng được. Năm 2001, tôi cùng với phái đoàn từ thiện quốc tế dành thì giờ ghé thăm thầy Tuệ Sỹ. Chúng tôi đang ngồi quanh thầy thì một cụ bà, sau này chúng tôi biết bà cụ có người con trai làm trụ trì một ngôi chùa, cụ vừa đến quỳ xuống lạy thầy Tuệ Sỹ. Chúng tôi phải vội vội, vàng vàng tránh xa ra. Phòng khách của thầy Tuệ Sỹ nhỏ xíu, thầy ra tù về trú ngụ ở chùa Già Lam, Gò Vấp, không có hộ khẩu, không đi mua gạo được.”
Trong tuyển tập bút ký Hoa Cỏ Bên Đường, nhà báo Kiều Mỹ Duyên còn nhiều bài khác, mang chủ để sinh hoạt cộng đồng, hay khắc họa chân dung nhiều nhân vật — như viết về Hòa Thượng Thích Quảng Thanh, về Giáo sư võ Aikido Đặng Thông Phong, về phóng viên Phan Trần Mai…
Nhà báo Kiều Mỹ Duyên đã trở thành một trụ cột lớn trong cộng đồng qua nhiều hoạt động, trong đó viết sách chỉ là một mảng hoạt động của chị. Gần như là chị có mặt khắp nơi trong cộng đồng. Chị xông xáo làm từ thiện, chị say mê làm đài phát thanh, chị mưu sinh bằng nghề địa ốc, chị tham dự guồng máy đại bồi thẩm đoàn của Orange County, và vân vân.
Nói theo một kiểu từng nghe được, thì nhà báo Kiều Mỹ Duyên có mặt trên từng cây số của cộng đồng Việt. Trong đó, tuyển tập bút ký Hoa Cỏ Bên Đường là một dấu mốc của nhà báo Kiều Mỹ Duyên, nơi đó độc giả sẽ nhìn rõ hơn chân dung và hoạt động của một người đã từng là phóng viên trước 1975 và bây giờ thỉnh thoảng làm phóng viên vì muốn đóng góp cho cộng đồng. Hy hữu mới có người như chị. Dễ dàng đoán được rằng tuyển tập bút ký Hoa Cỏ Bên Đường của nhà báo Kiều Mỹ Duyên hẳn là sẽ được cộng đồng đón nhận nồng nhiệt.
Đôi chim có bạn líu lo, ca hát đêm ngày vui buồn cùng ai.
Một cô gái dễ thương, chủ nhiệm một tờ báo về Orange County dự đại hội kể với tôi rằng có người nói với cô:
– Tôi cho em một hòn đảo nếu em để tôi chăm sóc em trọn đời.
Em trả lời:
– Em yêu người chứ em không yêu hòn đảo, vì hòn đảo không có tiếng nói.
Tôi nhìn vào mắt cô gái với sự ngưỡng mộ và thích thú.
Một chàng trai trung niên đến thăm tôi cùng với một cô gái trung niên nói:
– Cô ơi, em có 5 bất động sản, đã trả hết nợ rồi. Cô làm ơn cho tên của cô này vào với em.
Nói xong chàng trai đưa tay chỉ vào cô gái cùng đến thăm tôi.
Chàng trai đưa cho tôi địa chỉ của 5 bất động sản. Tôi đưa cho cô nhân viên tìm ra chủ quyền của 5 bất động sản này.
Khi cô gái vừa bước ra ngoài để tìm báo đọc, tôi nói với chàng trai:
– Em có biết khi em cho tên cô gái vào chủ quyền thì cô gái có phân nửa chủ quyền tài sản của em không?
Chàng trai vừa cười vừa nói:
– Cái mạng của em, em còn cho cô ấy huống chi bất động sản hay tiền bạc?
Tôi nhủ thầm với chính mình tình yêu ơi, tình yêu sao mà dễ thương. Con người sống vì tình yêu, chết vì tình yêu. Tình yêu không thể giải nghĩa được tại sao mình thương yêu người này mà không thương yêu người khác, tình yêu nhẹ như cơn gió thoảng.
Đưa người ta không đưa qua sông Sao có tiếng sóng ở trong lòng? Bóng chiều không thắm, không vàng vọt, Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?
(Tống Biệt Hành- Thâm Tâm)
Làm sao cắt nghĩa được tình yêu!
Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt,
Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu…
(Vì sao- Xuân Diệu)
Tôi được tham dự một tiệc cưới ở Bolsa, chú rể 80 tuổi, là một người nổi tiếng trong cộng đồng vì hoạt động xã hội, cô dâu gần 76 tuổi. 5 thế hệ trong gia đình tham dự tiệc cưới, nhưng 1 năm sau tôi đi thăm và cầu nguyện cho người vừa qua đời, cũng 5 thế hệ đội khăn tang. Tình yêu ơi, tình yêu, họ sống với nhau một năm, một năm hạnh phúc còn gì quý báu hơn? Tình yêu ơi, tình yêu ơi, tình yêu cất cánh cho hai tâm hồn hòa điệu. Tôi nghe chuyện tình của người trẻ, tôi nghe chuyện tình của người già, trái tim có tiếng nói của nó, không cần hỏi tại sao tôi yêu?
Nếu tôi viết chuyện tình của người tôi quen viết hoài không hết. Tôi sợ nhìn những khuôn mặt với nước mắt, tôi thích nhìn nụ cười với những khuôn mặt đang yêu và được yêu rực rỡ thế nào! Tôi thích nghe tiếng cười giòn tan của những người cho trái tim của mình cho người khác. Ôi tình yêu sao mà đẹp quá?
Có người nói thần tượng của tôi phải có tiếng nói, nghe tôi cười, nghe tiếng tôi khóc, khi tôi có việc khẩn cấp như Thần Chết thấp thoáng bên cạnh tôi thì thần tượng hiện hữu bên tôi, thần tượng của tôi không ngồi trên bàn thờ.
Tình yêu vui thật, ngàn màu sắc khác nhau như thơ, lãng mạn, vui tươi, tình yêu không tính toán, khi yêu là yêu không cân nhắc, không phân biệt một thứ gì, không có sự ngăn cách.
Tình yêu, tình yêu ơi, sao mà đẹp thế?
Nếu không có tình yêu người ta sẽ không mặc đẹp, không có tình yêu người ta cũng sẽ không nghe nhạc. Tình yêu ơi sao mà mầu nhiệm? Những cô gái trẻ tâm sự với tôi, con mua áo đẹp để ra đường lọt vào mắt xanh của hoàng tử trong mộng, chàng trai ăn mặc đẹp để lọt vào mắt xanh của công chúa. Tình yêu sao mà tuyệt vời! Nếu không có tình yêu chàng trai sẽ không dành dụm tiền mua nhà rước nàng về dinh. Nếu không có tình yêu, không lập gia đình, không có những đứa trẻ thiên thần thì mua nhà có đất rộng để làm chi? Có vườn rộng rãi, có tiếng cười của trẻ thơ, tình yêu ơi sao mà tuyệt vời?
Tình yêu ơi là tình yêu, có xe đẹp, có nhà đẹp, có tiền dành dụm để cùng người yêu đi du lịch vòng quanh thế giới thăm những kỳ quan trong chuyện cổ tích, tình yêu ơi sao mà đẹp quá?
Nếu mọi người đều yêu thương nhau thì không có chiến tranh, không có nhà tù, không có chém giết lẫn nhau.
Tình yêu ơi, tình yêu sao mà mầu nhiệm? Khi yêu đời sống rất đẹp, đẹp lắm người ơi và tình yêu làm cho người ta lạc quan hơn, yêu đời hơn, thấy gì cũng đẹp, nhìn đời bằng mắt màu hồng. Những người đang yêu hay đang có tình yêu nhìn vào đôi mắt của họ là biết ngay. Đôi mắt rực rỡ, nụ cười thật tươi, vui ơi là vui, tiếng cười nói trong trẻo, reo vui hơn. Tôi mong thế giới đầy tình yêu, người yêu người, Thượng Đế yêu người, chính quyền thương dân lo cho dân, cha mẹ thương con, ông bà đùm bọc con cháu của mình. Ôi tình yêu tuyệt vời, người yêu người, chỉ thấy việc tốt của người xung quanh, và người yêu người đời sống sẽ phong phú hơn, tuyệt vời quá.
Mọi người yêu thương nhau, đầu óc không căng thẳng, không có mưu mô thủ đoạn lường gạt lẫn nhau. Tình yêu lên tiếng gọi, tình yêu ơi! Hãy nghe tiếng chim hót ngoài vườn buổi sáng, hãy nhìn những cánh hoa rực rỡ rung rinh trong gió, nghe mùi hoa lý hương thơm ngát trước sân nhà mà nghĩ đến người mình thương yêu nhất.
Tình yêu ơi, hỡi tình yêu, con người thì đến lúc nào đó phải ra đi nhưng tình yêu vĩnh viễn vẫn còn ở đây, ở trong trái tim của những người thương yêu mình.
Tình yêu sao mà tuyệt vời, tình yêu sao dễ thương và tình yêu vĩnh cửu.
Orange County, 12/07/2021
KIỀU MỸ DUYÊN
(kieumyduyen1@yahoo.com)
Giới Thiệu Tuyển Tập “HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG”- Giáo Sư Nguyễn Tường Tuấn
GS Nguyễn Tường Tuấn
(Giáo sư Nguyễn Tường Tuấn, đồng sáng lập tổ chức Forgotten People Foundation – NGO, Western Oregon University, 2005-2006, cùng Tiến sĩ Jerry Braza. Giáo sư Tuấn Nguyễn, một cựu tù nhân chính trị và đã từng là một thuyền nhân, rất quan tâm đến cuộc sống của người dân Việt Nam. Tổ chức Forgotten People Foundation giúp đỡ trẻ em mồ côi, khuyết tật ở miền Bắc Việt Nam.)
Thế hệ chúng tôi may mắn sinh ra và lớn lên nơi miền Nam tươi sáng. Trong cái hạnh phúc, là công dân của đất nước tự do, chúng tôi cũng phải gánh chịu nỗi bất hạnh của một quốc gia “nồi da xáo thịt“. Anh chị em miền Bắc, chưa bao giờ được hưởng cái không khí an lành của “Hòn ngọc viễn đông” một nửa hình chữ S đã từng là giấc mơ của cố Thủ tướng Tân Gia Ba, Lý Quang Diệu. Họ bị tẩy não ngay từ tấm bé, bằng lời thơ nô bộc “Yêu biết mấy nghe con tập nói – Tiếng đầu lòng con gọi Stalin – Thương cha, thương mẹ, thương chồng – Thương mình thương một, thương ông thương mười“. Chiến tranh xẩy ra vì thế, một nửa đất nước bị đầu độc, dù muốn hay không, thế hệ trẻ miền Bắc phải cầm súng lên đường, họ từ giã cha mẹ, vợ chồng, con cái, người yêu, để hy sinh cho bác và đảng, thực hiện giấc mơ “Sinh Bắc Tử Nam“.
Thanh thiếu niên miền Nam cầm súng ra trận, không vì thằng bác khốn nạn, hay bè lũ đảng lưu manh. Chúng tôi chiến đấu để bảo vệ xóm làng, thành phố bình an. Cho dù phải hy sinh, thân xác phủ cờ vàng, người nằm xuống sẽ muôn đời được “Tổ Quốc ghi ơn”.
Chiến sĩ Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, đã hiên ngang tái chiếm Cổ thành Quảng trị, anh dũng bảo vệ An Lộc, và kiêu hùng trên khắp mọi chiến trường. Trong từng thước đất của tổ quốc, chiếm lại bằng xương máu, người dân miền Nam Việt Nam không thể nào quên tên tuổi một nữ phóng viên chiến trường: Kiều Mỹ Duyên.
Kiều Mỹ Duyên không ngồi tại văn phòng tiện nghi ở Sài Gòn để viết phóng sự. Chị mặc áo giáp, theo từng chuyến bay ra mặt trận, những bài tường thuật của chị là nhân chứng hào hùng cho tuổi trẻ chúng tôi, trong trận chiến bi thương, tàn khốc và bất công.
Vâng, người lính Việt Nam Cộng Hòa đã hứng chịu mọi bất công nhất của thế giới tự do. Họ chiến đấu chống lại một chủ nghĩa cộng sản độc ác mà cả thế giới xa lánh. Tổng thống Hoa Kỳ Eisenhower từng vinh danh Việt Nam Cộng Hòa là thành trì chống cộng của thế giới tự do. Nhưng đám phóng viên, báo chí, truyền thông Mỹ không như thế. Họ ngồi trong phòng lạnh khách sạn Caravell, Majestic, cà phê La Pagode, Givral, Brodard tại Sài Gòn để viết phóng sự chiến tranh. Nếu có chăng, họ đi theo một vài đơn vị chiến đấu của Hoa Kỳ … Quân đội Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu, hy sinh trên 4 vùng Chiến thuật bị bỏ rơi trên báo chí Mỹ. Mậu Thân 1968, chúng tôi đẩy lùi cuộc tổng tấn công lịch sử của Bắc Quân trên khắp các thành phố miền Nam. Charlie, địa danh đi vào lịch sử với tên tuổi cố Đại tá Nguyễn Đình Bảo, báo chí Hoa Kỳ không hề biết.
Trong nỗi cô đơn tội nghiệp đó, người nữ phóng viên chiến trường Kiều Mỹ Duyên đã trở thành “Tiếng nói, cho những người không tiếng nói“. Không những tại Việt Nam, khi đến Hoa Kỳ vào những ngày đầu tiên của thập niên 75, chị như cánh Chim ưng đã thay lông, đổi cánh, tung bay trên bầu trời bao la. Chị theo phi cơ của Cảnh sát Hoa Kỳ để tường thuật săn đuổi tội phạm. Chị vào thăm và làm việc trong nhà tù Mỹ, tham dự không mệt mỏi các hoạt động từ thiện qua tổ chức Y.M.C.A hoạt động tại nhiều quốc gia thứ ba trên thế giới. Kiều Mỹ Duyên là một Barbara Walter của người Việt không những tại Hoa Kỳ mà còn trên nhiều quốc gia khác. Chị phỏng vấn các vị chức sắc cao cấp Công giáo Hoa Kỳ, và Việt Nam; chị cũng có mặt trong những chương trình phỏng vấn những vị Hòa thượng, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất. Về quốc tế, chị đã hỏi cựu Tổng thống Nga Gorbachev, một câu mà tất cả người Việt chúng ta cần nghe: Bao giờ đất nước Việt Nam thoát khỏi ách cộng sản? “Khi nào Trung Hoa cộng sản sụp đổ” đó là câu trả lời ngắn gọn của ông Gorbachev.
Xin mời bạn cùng đọc “Hoa cỏ bên đường” để biết thêm về tầm vóc của chị Kiều Mỹ Duyên, một chiến sĩ tự do chưa hề buông súng.
Giáo sư Nguyễn Tường Tuấn
(Forgotten People Foundation – www.forgottenpeople.net – 2850 S.W Cedar Hills Blvd, Suite 131 | Beaverton, OR 97005)
NGƯỜI GIỮ LỬA – Phương Hoa
Thứ Bảy vừa rồi là ngày Ra Mắt Sách của Giáo Sư Nguyễn Văn Sâm, tại thành phố San Jose, Bắc California. Đi cùng tôi là người bạn văn thơ Minh Thúy, từng đoạt giải nhì Văn cùng năm với tôi trong cuộc thi sáng tác Văn Thơ Lạc Việt 2016. Cô bạn gốc Huế này nhờ nhà ở gần San Jose hơn, lại thường hăng hái tham gia các sinh hoạt của cộng đồng Việt Nam ở đây, nên dù nhà tôi khá xa cũng có cơ hội dự buổi ra mắt sách của GS Sâm nhờ chạy đến nhà rồi bỏ xe đó đi theo xe với bạn.
Hôm ấy chúng tôi đến hơi sớm. Chủ tịch Văn Thơ Lạc Việt (VTLV) Chinh Nguyên đang bận trang trí cho buổi lễ vội vã dừng tay chào đón. Là người luôn nhiệt tình với các chương trình văn hóa Việt, ông chủ tịch Chinh Nguyên đã bỏ thời gian, tâm huyết, và nhiều công sức điều hành rất thành công cơ sở VTLV, tổ chức giải Văn Thơ LV hàng năm, xuất bản Tuyển Tập VTLV thường niên, và liên tục giúp tổ chức ra mắt sách cho rất nhiều tác giả đồng hương Việt.
Từ trái qua: GS Nguyễn Văn Sâm, Chủ Tịch VTLV Chinh Nguyên, Phương Hoa, Minh Thúy
GS Nguyễn Văn Sâm là nhà văn tiền bối mà tôi kính trọng, cũng là một trong các vị giám khảo của cuộc thi VTLV mà tôi đã thắng giải Văn năm trước, nên dù ở khá xa tôi cũng cố gắng đến để ủng hộ người.
Thấy GS Sâm xong việc đến ngồi chỗ bàn ký sách, tôi kéo Minh Thúy lại chào. Thật vui được nói chuyện trực tiếp với vị Giáo Sư mà từ khi quen biết đến giờ tôi chỉ trao đổi qua email và điện thoại. Chúng tôi phải chờ rất lâu mới chụp cùng GS được vài tấm hình kỷ niệm, vì ông bận ký sách liền tay.
Buổi lễ vừa bắt đầu khách đã ngồi kín các dãy ghế trong Câu Lạc Bộ Mây Bốn Phương. Một số người của Ban Tổ Chức và Ban Chấp Hành VTLV phải ra ngồi phía sau hậu trường. Tiến Sĩ Nguyễn Hồng Dũng hướng dẫn các thủ tục chào cờ Mỹ và chào cờ VNCH xong, thì MC Bác Sĩ Trần Văn Nam lên giới thiệu quan khách.
BS Nam quả là người có máu hài hước. Nhân đề cập đến chuyện chữ nghĩa theo thời gian bị “tam sao thất bổn”, ông đã “lẩy” câu Kiều thứ 57 của cụ Tiên Điền Nguyễn Du, “Sờ sờ nắm đất bên đàng…” bị ông làm cho “thất bổn” thành ra, “Xè xè nắm đất…” và đùa, ông đã nói vậy với bịnh nhân tiểu đường của ông, kêu họ phải chú ý tìm… mấy con kiến, làm mọi người cười ồ.
Diễn giả kế tiếp là nhà báo kỳ cựu Lê Văn Hải. Vẫn với giọng Bắc chậm rãi hiền từ như mọi khi, ông bày tỏ những nhận xét thật sâu sắc về tác giả và tác phẩm “Chuyện Đời Xưa” của GS Nguyễn Văn Sâm, và ông cũng ca ngợi nhà ngôn ngữ học Trương Vĩnh Ký là người có công lớn tưới bón cho tiếng Việt. Ông Hải còn cho biết, giới nhà báo như ông đã tôn Pétrus Ký là “Thánh Tổ” của báo Việt Ngữ, vì cụ là người đầu tiên lập ra tờ báo quốc ngữ của nước An Nam ngày ấy, lấy tên là “Gia Định Báo.”
Xen kẽ với quý vị diễn giả, các ca sĩ trong ban văn nghệ, Nguyệt Thanh, Thùy Nga, Khôi Nguyên, Hồng Hạnh… đã trình diễn những bài hát trữ tình rất hay và nhận được những tràng pháo tay vang dội cả hội trường.
Tiếp theo chương trình, TS Nguyễn Hồng Dũng lên giới thiệu tác phẩm “Chuyện Đời Xưa.” TS Dũng thao thao bất tuyệt điểm những câu, những chữ đặc biệt trong quyển sách của cụ Trương Vĩnh Ký mà GS Sâm đã chú thích rõ ràng. Ông còn nêu ra các thông điệp, bài học đạo đức trong cuộc sống mà tác giả muốn nhắn gửi trong nhiều câu chuyện, kèm theo chủ ý của GS Nguyễn Văn Sâm khi chú giải cho quyển sách này.
Đến lượt Chủ Tịch Văn Thơ Lạc Việt Chinh Nguyên giới thiệu về tác giả. GS Nguyễn Văn Sâm gốc Sài Gòn, thời VNCH dạy tại trường Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho, Pétrus Ký Sài Gòn, giảng sư Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, Đại Học Cao Đài Tây Ninh, và nhiều trường đại học khác. Ông cũng nhắc qua về những tác phẩm GS Nguyễn Văn Sâm xuất bản thời VNCH như “Văn Học Nam Hà,” “Văn Chương Nam Bộ…,” và ở hải ngoại đã in “Miền Thượng Uyển Xưa,” Câu Hò Vân Tiên,” cùng nhiều cuốn sách giá trị khác…
Sau đó GS Nguyễn Văn Sâm được mời lên trình bày về tác phẩm của mình. Ông cho biết, quyển “Chuyện Đời Xưa” của Trương Vĩnh Ký là tác phẩm bán chạy nhất và đi vào lòng người nhiều nhất trong số hàng trăm quyển sách khác của cụ Trương ngày ấy. Sách hấp dẫn người đọc vì chứa đựng những câu chuyện vui về giáo dục luân lý, bài học làm người, và cách ứng xử những khi hữu sự. Thêm vào đó, “Chuyện Đời Xưa” được học giả Pétrus Ký viết hơn trăm năm trước, dùng văn nói thường nhật của người miền cực Nam, nên nó có giá trị lịch sử về ngôn ngữ Việt Nam. Và do đó ông mới chọn quyển sách này để in lại và chú thích thật rõ ràng hầu lưu lại cho các thế hệ con cháu Việt đời sau.
Sau đó, nhân thấy GS Sâm có chút thời gian rảnh tôi bước lại xin phép được hỏi ông vài chuyện. Trả lời câu hỏi điều gì đã khiến ông nghĩ đến việc in lại và chú giải quyển “Chuyện Đời Xưa” thay vì quyển sách khác. Giáo Sư cho biết, ông nhận thấy quyển “Truyện Đời Xưa” của Trương Vĩnh Ký bản sớm nhứt in năm 1873 không ai còn tìm thấy, chỉ duy nhứt ấn bản 1914 còn tại thế là nhờ sự lưu giữ của cụ Vương Hồng Sển, vậy thì cần phải nhân bản nó để cho nhiều người có được. Từ sự suy nghĩ nếu in lại thì cũng nên làm chuyện gì có ích lợi cho người đọc, GS Sâm đã nẩy ra ý tưởng chú giải quyển sách.
Khi được hỏi là một nhà văn tiền bối, ông có lời khuyên gì cho những cây viết non trẻ của các thế hệ sau, GS Sâm trả lời khiêm nhường, nhưng là những lời khuyên vàng ngọc rất hữu ích:
– Tôi không dám có lời khuyên đến thế hệ đi sau, nhưng nguyên tắc cầm bút của tôi là tìm vui trong việc viết lách và nghiên cứu, cũng như sử dụng tối đa giờ giấc cho việc nầy. Cố đi với văn chương của mình suốt đời, không nửa chừng bỏ ngang vì bất cứ lý do gì, kể cả sự nghèo khổ bịnh tật, hay sự đánh phá của người khác. Quan trọng nhất, là tìm hướng viết đứng đắn, viết lách cẩn trọng, không viết vì tiền, vì thị hiếu của người nào, hay vì muốn có tiếng tăm, và sự đặt hàng mà mình thấy không hợp.
Giáo Sư Sâm còn tâm sự, trong gần 40 năm cầm bút ở hải ngoại, ông viết truyện bằng văn phong Nam Kỳ lục tỉnh, và đề tài ông chọn thường là đời sống bi đát của người trong nước hoặc hải ngoại, nhưng ông thường nhắm vào mặt tâm hồn hơn là bề ngoài. Hiện tại, ông đã phiên âm rất nhiều tuồng hát bội chữ Nôm, khoảng 100 hồi tuồng Tây Du Ký và 120 hồi tuồng Tam Quốc, nhưng ngại thời nay không còn nhiều người lưu tâm đến nên ông chưa cho trình làng. Hát Bội cũng là một nét văn hoá độc đáo của Việt Nam không thua gì nghệ thuật Cải Lương, hy vọng Giáo Sư sẽ đưa ra sớm để các đoàn hát có cơ hội ra mắt bà con. Sắp tới, trước cuối năm nay ông sẽ cho in tập truyện ngắn thứ 6 “Giọt Nước Nghiêng Mình”.
Chiều đến, nhân tiện đang còn ở San Jose, Minh Thúy muốn kéo tôi qua dự lễ Vu Lan ở chùa Hồng Danh, nên dù chương trình văn nghệ vẫn còn tiếp tục trong buổi RMS, chúng tôi chào GS Sâm và CT Chinh Nguyên rồi len lén rút êm, sợ làm kinh động mọi người mãi mê xem ca nhạc.
Ra đến cửa, tôi gặp GS Lưu Khôn, người từng là Hiệu Trưởng trường Phan Thanh Giản trước 75, cũng là bạn đồng nghiệp của GS Sâm ở đại học Văn Khoa. Tôi mừng quá chụp hỏi thầy mấy câu về GS Sâm để bổ sung cho bài viết, vì khi nãy tôi nghe GS Sâm nói hai người là bạn cũ, còn BS Nam cũng đã giới thiệu GS Sâm là “sư” chữ Nôm và GS Lưu Khôn là “thầy” về Hán tự.
GS Lưu Khôn vui vẻ kể, ngày xưa ông và GS Nguyễn Văn Sâm là bạn cùng dạy ở đại học Văn Khoa và nhiều trường nữa. Ông nói hồi đó ông rất mê Hán Văn còn GS Sâm thì chuộng chữ Nôm. Sau qua Mỹ hai người đều bận rộn nên ít liên lạc với nhau. Lần ra mắt sách này nhờ ông nghe qua truyền thông nên biết GS Sâm sắp ra mắt sách ở Jan Jose và tự đến để ủng hộ bạn.
– Ông ấy thích chữ Nôm và rất chịu khó. GS Khôn nói. – Cả đời ông đi sưu tầm các sách truyện chữ Nôm cổ xưa. Mỗi lần đi đâu ông Sâm đều mang theo tiền mặt, kể cả khi về thăm quê bên Việt Nam, hễ gặp sách cổ là mua liền.
Khi GS Khôn kể ông dịch xong quyển “Bát Thập Tự Tự” của Lâm Ngữ Đường ra Việt Ngữ lúc ông “vừa tròn 80,” tôi thật sự…hết hồn, vì bây giờ trông ông cũng khoảng chừng đó là cùng, chắc nhờ làm việc nhiều bằng trí óc nên người ông cụ trông rất là linh hoạt và minh mẫn. Thấy tôi tròn mắt ngạc nhiên và nói bác đã vượt ngưỡng cửa 80 mà trông còn trẻ lắm, ông cụ cho biết chỉ vài năm nữa là sẽ mừng thọ cửu thập niên! Càng nói chuyện, tôi càng khâm phục ý chí của GS Khôn, một người bị bịnh mắt kém bẩm sinh từ nhỏ mà cố gắng học hành tới nơi tới chốn, giờ gần qua tuổi đại thọ rồi vẫn còn ngồi dịch, biên khảo hàng trăm trang sách bằng cách viết tay, vì không thể nhìn thấy chữ trên máy vi tính.
Thời VNCH, GS Lưu Khôn đã xuất bản nhiều tác phẩm giá trị, “Hán Văn Tự Học” Khai Trí xuất bản, “Phê Bình Văn Học Việt Nam”, và dịch nhiều truyện chữ Hán như “Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa”, ở hải ngoại ông dịch Quỳnh Dao, “Tam Độ Mai” “Cho Trọn Cuộc Tình”…
Sau đó GS Khôn hỏi tôi có biết em học sinh, sinh viên nào nhận đánh máy thuê để ông nhờ đánh máy dùm tập bản thảo cho “Thư Mục Phan Thanh Giản” mà ông sắp hoàn thành. “Soạn để lại nhằm sau này có ai muốn tham khảo về cụ Phan Thanh Giản sẽ có tài liệu khỏi mất công họ đi tìm tòi,” ông nói.
– Nào giờ tôi toàn viết “hú họa” trên giấy, liệu chừng mà viết chứ không có theo hàng lối gì hết cô ơi, vì mắt tôi đâu có thấy hàng kẽ! Cho nên người đánh máy cũng sẽ rất vất vả.
Tôi nghe mà xúc động đến nghẹn lời. Một ông cụ gần chín chục, mắt không nhìn thấy cả đường kẽ hàng, mà còn ráng sưu tầm rồi ngồi mò mẫm viết tay những tác phẩm văn học để lại cho đời. Có thể nói GS Lưu Khôn cũng là một trong những “người giữ lửa” rất quan trọng cho tiếng Việt thân yêu. Ước gì tôi có thời gian để đánh máy giúp ông. Giã từ vị cựu giáo sư uyên bác mà lòng tôi áy náy khôn cùng.
Hôm thứ Bảy là một ngày may mắn cho tôi, được gặp tận mặt, nghe tận tai những lời hay ý đẹp của các diễn giả trí thức, và chuyện trò cũng những vị giáo sư khả kính mà ngày xưa còn nhỏ ở trong nước dù có tình cờ diện kiến quý thầy, “con nhãi” như tôi cũng phải…xanh mặt khép nép cúi đầu né qua một bên, chưa dám nhìn thẳng mặt hay cả gan đụng vào vạt áo của quý thầy, chứ đừng nói chuyện dám tay bắt mặt mừng, chụp hình chung để dành làm kỷ niệm như bây giờ…
*
Là người Việt Nam ai cũng biết, tiếng Việt và văn chương Việt vô cùng phong phú. Nhưng sau khi chúng ta mất miền Nam tự do, nền văn hóa đẹp đẽ và tiếng Việt nguyên thủy đã bị làm sai lạc cả ý nghĩa. Nhờ tấm lòng thủy chung của cộng đồng Việt hải ngoại cùng nhau giữ lửa, nên tiếng Việt và nền văn hóa Việt vẫn được bảo tồn, ít nhất cho đến bây giờ. Công lao này là của rất nhiều người, gồm các nhà giáo dục, quý vị dân cử, nhà văn, nhà báo, các cơ sở truyền thông, và các tổ chức cộng đồng, đặc biệt là các hoạt động văn hóa Việt Nam, điển hình là Văn Thơ Lạc Việt.
Nhiều người lo không biết rồi đây các thế hệ tiếp nối còn được bao người có lòng với quê hương đất nước mà tiếp tục giữ gìn tiếng mẹ đẻ như thế hệ hiện tại? Câu trả lời là, chúng ta vẫn còn hy vọng. Hiện tại các trường học dòng chính Hoa Kỳ, đặc biệt là ở Nam Cali, đã được đưa vào dạy song ngữ Anh-Việt toàn thời gian bắt đầu từ bậc Tiểu Học, và trường đại học Cal State Fullerton cũng đã có chương trình tốt nghiệp bằng Cử Nhân Việt Học. Những kết quả này đều là nhờ sự đấu tranh không mệt mỏi của các nhà giáo dục, các vị dân cử gốc Việt, và cộng đồng Việt Nam chúng ta.
Năm 1873 khi viết quyển “Chuyện Đời Xưa,” cụ Petrus Ký được cho là người giữ lửa cho ngôn ngữ của dân tộc Việt. Hiện tại, 144 năm sau, GS Nguyễn Văn Sâm là người tiếp nối đã bỏ tâm huyết để chú giải rõ ràng rành mạch theo tiếng Việt miền Nam ngày nay và in lại tác phẩm văn học cổ này. Như vậy GS Sâm cũng là một trong những “người giữ lửa” của thời đại chúng ta, cùng chung tay giữ gìn để ngôn ngữ Việt không bị mai một.
Xin trân trọng giới thiệu với quý độc giả tác phẩm “Chuyện Đời Xưa Của Trương Vĩnh Ký – Những Điều Thú Vị” của GS Nguyễn Văn Sâm, vừa ra mắt tại San Jose, miền Bắc Cali, hôm thứ Bảy tuần rồi, và sẽ ra mắt lần thứ hai ở Nam California vào Chúa Nhật 24 tháng 9 do Nha-Văn-Nhạc-Sĩ Cao Minh Hưng tổ chức, với sự góp mặt giúp vui của các thành viên Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ, tại Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu Westminster, Hoa Kỳ
Quý độc giả muốn mua quyển sách rất có giá trị Văn Học Việt Nam này xin mời liên lạc tác giả:
samnguyen20002002@yahoo.com
Phương Hoa
CÓ NÊN KẾT ÁN TỬ HÌNH NHỮNG TRỌNG TỘI KHÔNG??? GS Lê Thị Nguyệt Ánh
CÓ NÊN KẾT ÁN TỬ HÌNH NHỮNG TRỌNG TỘI KHÔNG???
LUẬT PHÁP đặt ra là để bảo vệ AN NINH, giữ gìn TRẬT TỰ, bảo vệ QUYỀN LỢI Con Người với Con Người, bảo vệ MẠNG SỐNG và TÀI SẢN của cá nhân và cộng đồng Gia Đình, Quốc gia và Quốc tế. Những người đứng ra cầm cán cân Công Lý, là Đại Diện Công Lý, là nhân danh Công lý, bao giờ cũng nên Nghiêm minh, Chính trực, Công Bằng, Vô tư phán xét những ai vi phạm luật lệ Nhà Nước đặt ra, cũng chính là để hướng dẫn, giáo dục Con Người cả nước đến với CHÂN THIỆN MỸ. Theo hình luật, ngoài những tội do từng quốcgia qui định còn có những tội sau đây mà không quốc gia nào dung chế, tha thứ cho được, mà còn kịch liệt bài trừ với hình phạt nặng nề gắt gao. Đó là: ‘Tội Giết Người’ (Sát Nhân), ‘Tội Hiếp Dâm’ và ‘Tội Buôn Bán Ma Túy’, ‘Hẻroine’, vì nó giết chết mạng sống, giết chết cả tương lai, cuộc đời của Con Người, nên không một quốc gia nào trên trái đất này chấp nhận được! Tất cả, ai ai cũng đều ‘Muốn Sống’, Không-Ai-Muốn-Chết, nhất là Bị-Giết-Chết, Bị-Tước-Đoạt-Mạng-Sống, Bị-Sát-Hại!!! Vậy tại sao chính ta Muốn Sống, Không-Muốn-Bị-Giết-Hại mà lại đi ‘Bức Tử’, Tàn Sát Người khác?! “Điều gì ta không muốn người khác làm cho ta thì ta không nên làm cho người khác”! Thế mà: 1/ Ai ai cũng vui thích đồng ý đón nhận châm ngôn này, nhưng, trên thực tế, hình như có ít người thực hiện ĐÚNG theo, mà đa số thì lại thản nhiên gây-tạo-cho-người-khác-những-gì-chính-bản-thân-không-muốn-người-khác-làm-cho-ta!
2/ Đến như cả các vị phán quan, các quan chánh án cầm cân nẩy mực, ngồi ghế xét xử, khi luận tội những trường hợp như ‘Giết Người’, ‘Hiếp Dâm’, ‘Buôn Bán Ma Túy’ là những ‘Trọng Tội Khó Tha Thứ’ được mà lại như vô tình thản nhiên tuyên “Án Tử Hình” họ!!! Có những trường hợp Giết Người, hay Buôn Bán Ma Túy, cảnh ngộ rất thương Tâm mà các quan không lý tới! Sao lạ vậy, khi mà theo Luật pháp: “Dù dưới hình thức nào, dù bất kỳ nguyên nhân gì, cũng không ai được quyền tước đoạt sinh mệnh của bất kỳ ai!”
3/ “Khó thể tha thứ được” đâu có nghĩa là phải ‘Giết Chết Kẻ Phạm Tội’, như họ đã giết chết ai đó?! Chẳng lẽ không có hình phạt nào dành cho những kẻ ‘Trọng Tội’ khó thể tha thứ được, khiến họ phải đau đớn thống khổ, bi ai, thê thảm nhứt là sự dày vò, ân hận về tinh thần vì tội ác họ đã gây tạo cho người khác, và làm liên lụy đến nhiều người phải khốn khổ theo, là gia đình ‘bị cáo’ và gia đình nạn nhân ‘nguyên cáo’, khiến cho họ, có người phải Sống-Không-Bằng-Chết’ hay sao?! Hình phạt đó không đáng sợ gấp trăm ngàn lần hơn hình phạt họ hải sợ chỉ có mấy ngày, mấy tháng, hay mấy năm, nhất là chỉ một thoáng mấy phút trước giờ ‘Hành Hình’ thôi sao?!
4/ Vả chăng, có thể đó là án OAN!!! Nếu xử tử rồi, về sau có cơ hội nhắc đến, thẩm tra lại, biết họ đã ‘Bị OAN’ thì làm sao cứu chữa ‘SAI LẦM’ vì đã giết họ chết rồi ?!
5/ Và, nếu kẻ có tội chí tình ‘Ăn năn, Sám hối’ tội lỗi họ đã gây tạo, và họ có thể ‘Đới Công Chuộc Tội’ xứng đáng, thì không phải là đáng tiếc lắm sao?! Con Người có ai mà không từng phạm những điều Sai Trái, Lỗi Lầm, dù nhẹ dù nặng?! Điều quan trọng là họ Biết-Nhận-Lỗi-Tội của họ, nhận sự ‘Sai Lầm’, và Biết-Ăn-Năn, Hối cải Lỗi Tội của họ! Đó không phải là điều dễ dàng mà ai cũng dũng cảm làm được!!! Và một khi họ đã không hèn nhát mà can đảm nhận Tội, không trốn tránh, thì sao lại không-giúp-họ-có-thời-gian, cho-họ-có-cơ-hội-để-Ăn-Năn-Cải-Hối-Sữa-Đổi, Đoạn trừ Dứt Lỗi Tội?!
6/ Thưa rằng:’Nếu Giết họ Chết Đi rồi, thì chủng tử Xấu Xa, Độc Ác, Hung Dữ, Nguy Hại đến thế nào đó, sẽ chấm dứt , chứ không phải sẽ vẫn đeo đẳng theo họ suốt từ kiếp này đến kiếp khác sao?! Họ sẽ mãi mãi vẫn còn là người cùng hung cực ác, họ vẫn còn cứ gây bao tai họa cho biết bao người, cứ gây tạo thảm kịch triền miền, biết bao giờ mới chấm dứt, nếu không tạo cho họ có cơ hội để họ thắm thía nỗi thống khổ do ‘Tội Ác’ của họ, để Giúp Họ Tĩnh Thức để Ăn Năn , Sữa Đổi, Đoạn trừ Lỗi Tội ?! “Nhứt nhựt VÔ THƯỜNG tại, “Phương tri mộng lý nhân. “Vạn bang đô bất khứ, “Duy chỉ “NGHIỆP” tùy Thân!”
Một mai Tử Thần đến, Mơ màng biết về đâu?! Vạn nơi khó thể cầu! Họa Phước mãi dính “Thân”!
7/ Đã nhân danh Công Lý, là đại diện cho Công Lý trừng phạt, ngăn ngừa những kẻ ‘PhạmTội’, dù là những tội nặng đến thế nào, như ‘Tội Sát Hại Người’, thì nên chí công và ‘vô tư’ xét xử. Cho điều tra chu đáo: vị tất, không một trường hợp nào mà Kẻ Bị-Hại (‘nguyên cáo’) không có Lỗi, kèm bên ‘Tội’ của kẻ phạm Tội (‘bị cáo’)! Nếu đúng vậy thì cả hai đều phải bị thẩm xét, bị bị ‘luận tội’ và phải bị ‘trừng phạt’, nếu có thể được thì cũng nên giảm án cho phạm nhân, Không nên ‘Bức Tử’?!
8/ Những ‘Tội về Chính trị’, thuộc An Ninh Quốc gia: Người Phạm tội nặng, nhẹ thế nào đó, thì do họ có lập trường, có chánh kiến, có hoài bão, ước vọng, lý tưởng của họ, hoặc có thể do họ bị quyến rủ, bị ép buộc, bị khống chế…! Trên đời, “Không Ai Hoàn Toàn” (“Nul n’est parfait ici-bas”) thì “cũng Không Có Tư Tưởng nào, Lập Trường, Chủ trương, Quan niệm, Chánh kiến, Chế độ, luật lệ nào v.v…’Hoàn Hảo’ hết! Có phải vậy không?! Tốt có, thì Xấu cũng có; Đúng có, Sai Lầm cũng không tránh khỏi; có ích lợi cũng có tai hại; có ưu điểm thì bên cạnh cũng có khuyết điểm. Hể có ‘quân tử thì cũng có ‘Tiểu nhân’ một bên! Cũng như có “Dương” thì cũng có “Âm”, không bao giờ thiếu mất một trong hai. Vậy thì tại sao chúng ta bắt buộc người khác phải chấp nhận theo chủ trương, lý tưởng v.v..của ta mà không được thực hiện lý tưởng của họ, cho là họ SAI, họ LẦM ?! Tại sao ta cho rằng ta ĐÚNG, người khác SAI? Cũng như “5 người Mù xem VOI”! Mỗi người chỉ rờ vào để quan sát một phần nơi cơ thể Con Voi mà thôi! Thế rồi người nào cũng quả quyết cho rằng mình diễn tả hình dáng Con Voi Rất Đúng, rất chính xác, còn tất cả những người khác đều SAI bét?! Hóa ra Ai cũng Đúng, theo sự nhận xét, hay theo kinh nghiệm cá nhân mỗi người, nhưng mà là SAI theo tổng thể, theo nhiều phương diện, nhiều khía cạnh, nhiều mặt, mà vì chưa rõ biết, chưa thấy, chưa từng trãi?! Nếu thấy họ quá-nguy-hiểm-cho-chế-độ của mình, cho sự lãnh đạo, cai trị, lèo lái Con Thuyền Quốc gia mà mình đang đảm trách, thì tại sao không-Giam-Cầm-Họ lại mà lại ‘sát hại’?! Và kiên nhẫn dùng chính sách NHÂN ĐẠO, để cảm kích, để lôi cuốn, để họ tâm phục khẩu phục ?! Nếu không thành công đi nữa, thì cũng Nên-Tôn-Trọng-Ý-Chí, Quyền-Tự-Do-Của-Con-Người, Sự Dũng Cảm của họ. Vậy thì cứ Giam-Cầm-Họ-lại, đối xử tử tế, nhân đạo, để cảm hóa, cho đến khi nào có thể trả lại Tự Do cho họ, không được sao?! Lại còn sẽ gây ảnh hưởng Tốt Đẹp sâu sắc cho Chế độ. Tiếng đồn Lành sẽ vang xa, và sẽ không vô tình ‘Làm Hư Hỏng Chế Độ ! Dù cho có Thất Bại , không thu phục được họ thì vẫn lưu được ‘Tiếng Thơm Tiếng Tốt’ muôn thuở trong sách sử! Có vậy mới đúng là có Chánh Nghĩa! Và Chánh Nghĩa, Công lý bao giờ cũng thắng! 9/Huống chi, Công Lý, là cái lý công bằng, là phải Chí Công, Vô Tư. Chí là hết sức, là rất, Công là công bằng, công minh, công chính, không thiên vị, không nghiêng lệch bên nào! Chí Công là Rất-Rất-Công-Bằng, không thiên vị một ai. Vô là không, tư là tư lự, là tư tưởng, nghĩ ngợi. Vô Tư là không tư tưởng lung tung, không nghĩ ngợi đủ điều lợi hại, là hồn nhiên, trong sáng, không có điều gì vẫn đục, mờ ám, khuất lấp ….. Một khi đã Bất Bình, Không Thể Chấp Nhận Cái Việc Tước Đoạt Sinh Mệnh của Bất Kỳ người nào, thế thì vị Thẩm Phán nếu tỉnh bơ tuyên bố ‘Xử Tử’cái người đang bị xét xứ, ‘Dứt Bỏ Mạng Sống’ của họ thì không phải là mâu thuẩn hay sao???!!! Vì một khi đã Phẩn nộ, đã hết sức bất bình hành vi cùng hung cực ác của Kẻ Sát Hại Nhân Mạng người khác, họ đã nhúng Tay vào Máu, tước Đoạt Mạng Sống của Người khác, thì vị Quan Tòa phải hành động khác họ: Nếu “Xử Tử Hình” người tội nhân ấy, thì không phải đã ‘Ra Tay’ giống y tội nhân đã làm rồi?! Thì chẳng khác nào một người cha thường hay rầy la phản đối kịch liệt người con chớ có “cờ bạc”, rượu chè, mất hết tư cách Con Người, mà người cha thì ngày nào cũng ‘Ghi Số Đề”, và hay được bạn bè mời đi “nhậu lai rai” giải sầu là sao? Thế thì có dạy răn được người con hay không?! Vậy thì, hóa ra “Chẳng có ai được phép, được quyền “Giết Chết” ai, mà chỉ có Quan Tòa, nhà lập pháp, và nhà lãnh đạo Nước MỚI CÓ QUYỀN “XỬ TỬ” người này người nọ thôi?! Luật Pháp đặt ra là để giữ gìn an ninh trật tự trong nước, là để giáo dục toàn dân, dù chức vị lớn cở nào thì cũng phải xử tội, nếu có tội, để ‘Làm Gương” mà không bỏ qua, không tha thứ Lỗi Tội. Đó cũng là bổn phận, là trách nhiệm và cũng là quyền lực của Nhà Lãnh đạo Nước, người quyết định cuối cùng ( là Vua, là Tổng Thống, là Chủ tịch Nước). Cho nên, ‘Nhà Cầm Quyền’ tức ‘Chánh phủ’, nói chung, nhà Lập Pháp và Quan tòa, nói riêng, ‘Không-Kết Án-Tử-Hình dù ai có ‘Trọng Tội’ nào, thì có nghĩa là Tha-Tội-Chết , mà Bắt-Tội-Sống, là “Giam Cầm lại”! Đó là một sự trừng phạt nặng nề, đau khổ nhứt! “Nhứt nhựt tại ‘Tù’, thiên thu tại ngoại!” THA CHẾT là THA-KHÔNG-GIẾT-CHẾT,chứ không phải THA-KHÔNG-BẮT-TỘI mà phải Xử TỘI đã làm! Và tùy theo cách gây tội mà ra hình phạt. Chỉ trừ trường họp “BỊ CÁO” không có LỖI TỘI , hoàn toàn do nguyên cáo. hay rủi ro thế nào đó, thì bị cáo mới được TRẮNG-ÁN.
10/Đã là NGƯỜI thì AI cũng có QUYỀN SỐNG! Và tất cả ai ai cũng đều CÓ-QUYỀN- TỰ-DO! Vì TỰ DO là cái QUYỀN THIÊNG LIÊNG CAO QUÝ NHẤT CỦA CON NGƯỜI ! Con Người mà MẤT ĐI QUYỀN TỰ DO rồi, tức là BỊ TƯỚC ĐOẠT “QUYỀN ĐƯỢC SỐNG” theo Ý Muốn của mỗi người, không-Được-Tự-Mình-Làm-Chủ-Lấy-Mình, Bị khống chế , bị câu thúc, bị bắt buộc nhất nhất phải làm theo lệnh, theo ý người khác, là-bị-tước-đoạt-QUYỀN-LÀM-NGƯỜI, thì còn gì đau đớn, thống khổ, bi ai, cực nhục cho bằng ! Thì Con Người đó chẳng khác gì một ‘CON VẬT”, thì không phải là đáng thương tâm lắm lắm sao?! Họ làm sao sống có Ý Nghĩa, Sống Đẹp, Sống Vui, Sống Hiên Ngang, Hùng Dũng ?! Không-một-ai-có-quyền-Tước-Đoạt ‘Quyền TỰ DO’ thiêng liêng cao quý của bất kỳ ai! Phải vậy không?! Không ai có quyền Bắt-Buộc-Ai-Phải-Sống-Theo-Ý-Của-Ai! Chỉ trừ khi nào:LÀ KẺ CÓ TỘI, Nặng, Nhẹ, tùy theo đó mà Giam Cầm, lâu hay mau! Huống hồ họ còn bị hành hạ khổ sở thế nào đó về thể xác cũng như tinh thần, thì há không phải là họ sẽ Sống-Đau-Thương, Thống-Khổ, Tũi-Nhục, Sống-Không-Bằng-Chết hay sao?! Cần gì phải “Giết Chết”! Nếu suy gẫm cho cùng, chính những kẻ sát nhân, hại người tàn ác thì chính những kẻ đó mới là những Con Người khốn khổ đáng thương. Vì họ còn quá Mê Muội nên mới Thấp Kém, mới Hung Ác. Để rồi, họ sẽ phải ‘Đền Tội’, phải chịu ‘ Quả Báo’ cho việc tàn ác họ đã làm! Và họ sẽ còn thê thảm hơn những người đã bị họ làm khổ! “Ác nhân Ác Báo” không tránh đâu cho khỏi, dù họ có được tha thứ cở nào, họ cũng không tránh được luật “NHÂN QUẢ”, nói nôm na là “Lưới Trời”. Người thế gian dù có xử phạt thế nào vị tất cân xứng với hình phạt của họ phải thọ lãnh!
11/ Có điều, tôi cứ lấy làm lạ và thấy thật đáng tiếc! Vì nghĩ, quý giới chức lãnh đạo quốc gia, đại diện nhân dân, cầm quyền, lèo lái con thuyền quốc gia, và các vị Chánh án, các quan tà, là người đại diện Công Lý, là những người có quý tướng, có địa vị cao sang quyền quý trong xã hội, được mọi người trọng vọng nể kính, thế mà chỉ vì những kẻ ‘Có Tội’ mà lại vô tình khiến tự bản thân bị lôi cuốn theo ‘Kẻ Ác Dữ’, và điềm nhiên tọa thị một cách vô tư vô lự ‘tự Chiêu Lấy Tội Ác’ khi bất bình mà lên ‘án Tử Hình’, buộc kẻ Có Tội Phải Chết (!) là vô tình tự chiêu lấy Sự Nghiệt Ngã cho chính bản thân mình! Một khi ‘Tuyên Án TỬ’, tức là ra lệnh ‘GIẾT CHẾT’, ‘BỨC TỬ’, để rồi phải mang TỘI BÁO thảm hại về sau, thì chẳng phải là đáng tiếc lắm sao?! Sao lại để phải đến nỗi như vậy?! Là người-Vô-Can, sao lại đi Gánh-Lấy-Cái-GÔNG-Vào-Cổ, ôm lấy nỗi đoạn trường cho tự thân về sau này?! Họ GIẾT NGƯỜI, quan tòa đứng ra xét xử, để đem lại ‘An ninh’, ‘Trật tự’ cho xã hội, đem lại sự Bình An cho người người, và hướng Con Người về với CHÂN THIỆN MỸ, mà sao Ra-cái-Lệnh “PHẢI GIẾT CHẾT”, là “Tước Đoạt Mạng Sống của Một Người”, chứ đâu phải bảo giết con heo, con gà, con chó, con dê…cũng có ‘Tội báo’ nữa mà! Vậy thì không phải chính’Quan Tòa’, hay Chủ Tịch Nước, hay Tổng Thống, bị cuốn hút theo kẻ-có-tội nên tỉnh bơ phạm đúng y theo vào cái ‘sự-Giết-Người’, và vô hình chung trở thành là “Người-Sát-Nhân” kế-tiếp theo sau kẻ ác dữ đó hay sao?! Không phải vậy sao?! Sao lại thế hỡi quý quan tòa, hỡi quý vị lãnh đạo quốc gia các nước?!
12/ Không ai phản đối các nhà lãnh đạo nước (Vua, Nữ hoàng, Thổng Thống, Chủ tịch Nước) , thế nhưng mà, theo như Đức Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni đã từng khuyên nhủ chúng sinh rằng: “Trồng Dưa được Dưa. Trồng Đậu được Đậu” . Nếu làm điều lành, tốt, thiện hảo đem lại an vui sung sướng, hạnh phúc cho người khác, thì sẽ được hưởng PHƯỚC BÁO. Còn nếu trái lại, gieo rắc đau thương khổ não cho ai, thì rồi, dù vì bất kỳ lý do gì, một ngày nào đó, sẽ phải hứng lấy TAI HỌA, tức là phải chịu TỘI BÁO, phải ‘đền Tội’ đã gây tạo mà thôi! “Không nên “BẤT MUỘI NHÂN QUẢ!” Đó là LUẬT BÁO ỨNG, là LUẬT NHÂN QUẢ, là gieo ‘Nhân’ nào thì gặt ‘Quả’ đó! Có ai gieo hạt xoài Cát Chu mà lại gặt hái được trái Xoài Cát Hòa Lộc không?! Và một khi một hạt xoài, mít, xoài riêng …chi chi đó, gieo xuống rồi ( gieo ‘hạt’ là gieo‘NHÂN’ ) thì có bao giờ vài ngày hay vài tháng sau là thu hái được quả mít, trái xoài v.v…để ăn được liền không, mà không phải chờ đợi đủ ngày tháng, tùy loại, mới ra hoa, rồi mới kết trái , rồi lại phải chờ thời gian để trái già, chín, mới thu hoạch được sao ( hái ‘trái’ là được‘QUẢ’ )?! Cũng vậy, một khi làm việc Thiện Lành, hay điều Ác Dữ, thì cũng phải chờ một thời gian, tùy việc, phải hội đủ nhân duyên mới được thọ hưởng ‘Phước báo’ (việc Lương thiện ) đã làm, hay gặp khốn khổ thế nào đó (Tai ách, Hoạn họa) phải chịu ‘Tội Báo’ để đền lỗi tội đã làm! Nếu chưa thấy được thọ hưởng ‘Phước’ chi, hay chưa bị trừng phạt, bị ‘Họa, Tai’ chi, nên cho rằng là không có ‘Phước Báo’ hay ‘Tội Báo’ chi hết, nên không hãi sợ, nên cứ điềm nhiên tác ác túa xua, thì không phải là MÊ LẦM lắm sao?! “Trước khi làm việc gì thì phải nghĩ đến kết quả của nó”. Đức Phật đã dẫn dắt Con Người nên dùng lòng Từ Bi Nhân Thiện đối với nhau, để người người được Sung Sướng, An Vui. Ta đem sự sung sướng vui vẻ bình an đến cho người thì người cũng đối lại với ta như vậy, tức là ta cũng sẽ được An Lành, được HƯỞNG PHƯỚC! Làm trái ngược lại, chỉ gieo đau khổ, tạo nhiều nỗi đoạn trường cho ai thì sẽ bị ĐỀN TỘI đã gây tạo, phải KHỐN KHỔ, gặp lắm HỌA TAI, còn khổ hơn họ nhiều. “Gieo Gió thì gặt Bảo!” Như đức Chúa JÉSUS CHRIST đạo Công giáo, đã từng khuyên, từng dẫn dắt các ‘Con Chiên’, tín đồ của Đức CHÚA rằng: “Hãy tra gươm vào vỏ, Những kẻ ‘Dùng Gươm’ thì sẽ phải CHẾT ‘Vì Gươm’!”. Thế thì không phải Đức Chúa đã khuyên răn Con Người nên có lòng ‘Bác ái’ đối với nhau sao? Là ‘Không nên tàn sát nhau, giết hại nhau sao? Vì ‘Giết Người’ thì sẽ bị ‘ Người Giết’ lại! ĐỨC KHỔNG TỬ cũng đã khẳng định : “SÁT NHÂN GIẢ TỬ!”” Đạo TIN LÀNH, cũng là Đạo tôn thờ kính ngưỡng Đức CHÚA JÉSUS CHRIST. Đặc biệt đã cho thành lập “Thành Trú Ẩn”! Đấy là nơi dành cho những người phạm TỘI NẶNG như “GIẾT NGƯỜI”, thì phải mau mau chạy đến ẩn trú nơi ‘cái Thành’ đó, để khỏi-bị-GIẾT-CHẾT! Chả lẽ Đức Chúa Trời lại đi che chở, bảo vệ ‘kẻ Ác dữ’?! Thế nhưng, nơi đây có các vị mục sư hằng ngày chí thành giáo dục về Tâm Linh, khiến cho người tội phạm ý thức được TỘI LỖI của mình mà ĂN NĂN, mà thành tâm SÁM HỐI, SỮA ĐỔI, CHỪA BỎ những thói hư tật xấu, biết Kềm Chế lòng Tham Sân, chịu XẢ BỎ nỗi ai oán, mà dứt trừ sự hung ác v.v… và là để “CHỜ-GIỜ-PHÁN-XÉT”, khỏi nhọc công tìm kiếm truy bắt ! ,là để họ chờ đợi nhận lãnh hình phạt theo tội lỗi họ đã gây ra, chứ không phải là Đức Chúa bao che kẻ có tội,’THA TỘI’ họ!). Thành Trú Ẩn này có mục đích cao cả như vậy là do noi gương ‘Bác Ái’ cao cả của Đức CHÚA JÉSUS, là người vì lòng thương xót Con Người, muốn CỨU CHUỘC TỘI LỖI cho nhân gian nên đã dũng cảm nhận chịu cực hình “ĐÓNG ĐINH TRÊN THẬP TỰ GIÁ”, để phải CHẾT Đi SỐNG Lại bao phen! Và cuối cùng NGÀI đã được PHỤC SINH! Đó là kết quả của TÂM THÁNH THIỆN của Đức Chúa! Đức PHẬT Thích ca Mâu Ni, cùng Chư PHẬT Chư BỒ TÁT đã dẫn dắt chúng sinh hãy nên dùng lòng TỪ BI ban rải. “BI thể giới Lôi chấn”! Lòng TỪ BI (ban rải Tình THƯƠNG, KHÔNG HẬN THÙ ) có thể hóa giải mọi NGUY NAN! Cho nên nếu kính ngưỡng ĐỨC PHẬT, ĐỨCCHÚA… thì nên y giáo phụng hành, nên đem lòng TỪ BI, BÁC Ái đối xử với nhau, Không-Nên-Làm-Khổ-nhau, Tàn-Sát nhau!
“TỪ BI và BÁC ÁI” là sự mềm dẽo của Tình Thương, của sự Nhẫn Nại, của sự HIỂU BIẾT.
13/ Những người xấu ác, không thể làm được những điều Lành Thiện, tốt đẹp, cao quý là vì họ chưa Tiến hóa được cao, tâm linh họ còn mê muội, còn ấu trỉ, không phải sao ?! Ví như một đứa trẻ con còn ấu trỉ thể xác, mới lên 4, lên 5 tuổi. Nếu người lớn để món đồ chi trên cao, hơn vóc dáng đứa trẻ (như để trên bàn, trên kệ, trên đầu tủ) và bắt buộc đứa trẻ phải lấy cho kỳ được món đồ đó! Vậy xin hỏi đứa trẻ con ấy có vói lấy được món đồ ấy hay không, dù có nhón gót cở nào, một khi quá tầm-tay-vói của trẻ con?! Cũng thế, một người còn ấu trỉ tâm linh, thì họ còn u tối, còn thấp kém, nên còn hèn hạ, xấu ác, còn Tham Sân, còn gian xảo, quỷ quyệt, bất nhân, bất nghĩa thế nào đó v.v…tức là tâm họ còn ‘ấu trỉ’ nên còn ‘mê muội’, chưa thanh cao tốt đẹp được! Vì thế cho nên, họ rất cần phải được học hỏi, cần phải được rèn luyện, được un đúc, uốn nắn! Họ rất cần phải được ‘giáo dục’ để Tiến hóa lên, để trở nên ngày một tốt lành hơn; ‘Xả Bỏ’ Tâm Ác, ‘Phát’ Tâm Lành, thì họ mới được là người ngày càng thánh thiện, có nhân, có nghĩa, ít phạm Sai Trái, Sái Quấy, Lỗi Lầm, ít tạo Tội tạo Nghiệp Xấu, Ác, rổi sẽ dứt hẳn tác ác, mới làm được Người tốt đẹp, lương hảo, thanh cao. Những ai được Tiến Hóa cao hơn, ví như người đứng trên cao, kẻ xấu, ác phải ở dưới thấp! Vậy thì người đứng trên cao (tức người Tiền hóa hơn) có nên phun nước bọt xuống người đứng dưới thấp hơn , có nên khinh khi , ghét bỏ, tức giận, phẩn nộ, có nên nhục mạ, hành hạ, người đứng dưới thấp (kém Tiền hóa!) hay không, thì nói gì đến việc “BỨC TỬ” họ, “TƯỚC ĐOẠT MẠNG SỐNG” của họ?! Vậy có nên Từ Bỏ họ, Khử Trừ họ, Giết Chết họ không?! Một khi người đứng trên cao (đã Tiến hóa) mà phun nước bọt, tức khinh thị nhục mạ người đứng dưới thấp thì người đứng dưới thấp (hèn hạ, xấu xa, độc ác v.v..) sẽ phải lãnh đủ sự nhục nhã, xấu xa, họ phải gục mặt tủi hổ, ai cũng chê bai khinh ngạo! Làm sao né tránh cho được?! Và trái lại, nếu người đứng ở dưới thấp hơn mà ngửa mặt phun nước bọt lên người đứng ở trên cao hơn (tức là người có nhân, có đức), thì người càng đứng trên cao chừng nào, tức phẩm hạnh càng lớn, càng cao, thì liệu người đứng dưới thấp có phun trúng tới được người đứng trên cao hơn không ? Và ‘nước bọt ấy’ sẽ phải rơi xuống ngay từ chỗ nó đã xuất phát, phải vậy không?! Tức lả cuối cùng thì kẻ xấu xa, tồi tệ. bạc ác chừng nào thì chính họ sẽ phải lãnh đủ sự nhục nhả, sẽ phải bị khinh chê nhiều chừng ấy. Họ sẽ phải KHỐN KHỔ thôi, theo luật ‘NHÂN QUẢ’. Đó chính là ‘LUẬT BÙ TRỪ’ (‘La Loi de Compensation’) đấy mà thôi!!! Vậy thì, chẳng phải là:Làm điều gì thì sẽ nhận y chang điều đó hay sao, dù THIỆN dù ÁC? Vậy thì, nếu Luật Người Không-Xử thì Luật Hóa Công trong Tạo vật, cũng sẽ xử! “THIÊN VÕNG KHÔI KHÔI, SƠ NHI BẤT LẬU!” Lưới Người có thể Thoát được, nhưng Lưới Trời lồng lộng, không một ai tránh né, thoát đi đâu cho khỏi được! Bao giờ một vật chi, như cục đá, nếu ném vào khoảng trống không thì nó sẽ mất hút, không còn thấy tâm dạng. Còn nếu ném vào vật gì, người nào, ở ngay trước mặt, trúng vào đó, lực càng mạnh, thì nó sẽ ‘Dội Trở Lại’ không sai, và càng mãnh liệt hơn, từ chỗ nó đã xuất phát !
Cho nên, đối với Những KẺ CÓ LỖI, CÓ TỘI, thì nên làm thế nào để họ thấy, biết , hiểu là họ CÓ LỖI, CÓ TỘI!
Không phải là để NHỤC MẠ, PHỈ BÁNG, HÀNH HẠ HỌ , mà là để DẪN DẮT, để giúp họ Ý Thức “LỖI TỘI chỉ đem lại bao ĐAU THƯƠNG THỐNG KHỔ, nhứt là cho chính bản thân, hơn ai hết, khi GÂY ĐAU KHỔ CHO AI!
Một khi họ ý thức được rồi, thì họ sẽ tự động XẢ BỎ, ĐOẠN TRỪ LÀM VIỆC ÁC HẠI NGƯỜI, sẽ KHÔNG TÁI PHẠM nữa!
Vậy cần có biện pháp, phương cách tốt để hướng dẫn, giáo dục sao cho có hiệu quả! Nếu GIẾT CHẾT KẺ CÓ TỘI, mà không DẪN DẮT, KHÔNG CHỈ BÀY, KHÔNG CHO HỌ CÓ CƠ HỘI để cho họ THẤY, BIẾT, HIỂU, để HỌ nhận chân được rằng: những gị họ đã GÂY TẠO Cho Người Khác thì là chính họ sẽ PHẢI NHẬN, PHẢI RƯỚC LẤY, sẽ PHẢI LÃNH ĐỦ những gì họ đã làm, đã gây tạo! Và một khi giúp họ nhận chân được điều đó thì xin thưa rằng: Họ có còn DÁM LÀM VIỆC BẤT PHẢI, CÒN DÁM GÂY TỘI ÁC nữa không, nếu KHÔNG Giải Bày thấu đáo, KHÔNG DẪN DẮT được, và « Không Cho họ Có Cơ Hội » nhận chân “ Triết lý” ấy thì không phải là tàn nhẫn lắm sao, là vô tình lắm sao , là thiếu HIỂU BIẾT, là thiếu lòng TÙ BI THƯƠNG XÓT giữa CON NGƯỜI với CON NGƯỜI lắm lắm hay sao?!
14/ Đó là nói những người phạm tội trong mọi thành phần trong một quốc gia và quốc tế.
Còn đặc biệt với người lãnh đạo một nước, nếu là Tổng Thống, hay Chủ Tịch Nước, hay vua chúa, nếu có PHẠM TỘI TRỌNG gì, thì trong lúc họ còn tại vị, nếu có quyết định chi mà nhân dân thấy có nguy hại cho người dân, cho đất nước thì, tại sao người người trong cả nước không cùng đứng lên, họp lại dũng cảm can gián, khuyên ngăn chí tình, lại cuối đầu tuân phục lệnh ban ra ?! Rồi đợi đến khi họ mãn nhiệm kỳ, hết Chức hết Quyền, người dân mới nổi lên phản đối, xử TÀN NHẪN, TỆ BẠC, ĐỘC ÁC, công khai Luận Tội Nặng và KẾT ÁN TỬ HÌNH, dù dưới bất kỳ hình thức nào!!! Họ nếu Có TỘI, thì người DÂN KHÔNG CÓ LỖI sao?! Dù họ đã mãn nhiệm kỳ, trở lại làm người bình thường trong Nước, nhưng đó cũng là một người đã từng lãnh đạo nước bao nhiêu năm, không có công lao gì với quốc gia dân tộc hay sao mà lại nở đem ra XỬ TỬ một người đã từng được Tiền-Hô-Hậu-Ủng, bao người phải kính cẩn nghiêng mình chào đón, rước đưa rần rộ, uy nghiêm, hiển hách ?!!! Nếu không-khép-chặt-cửa-lòng, mở rộng lòng Từ Bi Bác Ái Nhân Thiện cho những người phạm tội một ‘Con Đường Sống’ để họ TỈNH THỨC, để ĂN NĂN, HỐI NGỘ, SÁM HỐI LỖI TỘI thì không đáng thương tâm lắm sao! Đối với loài động vật hạ đẳng như con Khỉ, con Ngựa, con kiki, con ột ệt, con Trâu, con Cọp, con Beo, con Voi v.v…mà còn huấn luyện được thay, thì với Con Người có Trái Tim Biết Cảm, có Khối Ốc Biết Nghĩ Suy, thì làm sao Không-Cảm-Hóa được, không rèn luyện, giáo dục được sao?! Và đối với người bình dân còn nên như vậy, huồng hồ từng là một vị nguyên thủ quốc gia của cả nước ?! Nếu có TRỌNG TỘI chi Không-Thể-Tha-Thứ được, thì sao không cho LƯU ĐÀI NGƯỜI ĐI BIỆT XỨ, mà CHẲNG NÊN KHỬ TRỪ, DỨT TUYỆT MẠNG SỐNG để họ có-thì-giờ-rộng-rãi BÌNH TÂM Nghĩ Suy mọi lẽ?! Chắc chắn họ sẽ Ân Hận sâu sắc và sẽ SÁM HỐI !
15/Một điều nữa, nếu cho rằng là ‘tâm linh kẻ Xấu Ác còn Thấp Kém’, cũng không hẳn có nghĩa là họ đều là những Con Người ngu dốt, khờ khạo, hạ tiện, u tối, mà có thể đó là những người cực kỳ thông minh, tài giỏi, cũng chưa biết chừng! Nếu họ Tỉnh Thức ‘quay đầu lại’, quyết chịu dứt trừ xả bỏ tập nhiễm xấu ác độc dữ, tham lam, tàn nhẫn v.v…, thì họ lại là những người rất đặc sắc, tuyệt vời, là người đắc dụng, xã hội rất nhờ cậy! Có giống cây ăn trái, hay bông hoa chi đó, hể đó là một loại cây trái quý hiếm, rất ngon , rất bổ dưỡng, hay là một loại bông hoa vừa đẹp vừa thơm kỳ lạ thì thường rất khó trồng, hay có nhiều sâu bọ! Nếu ‘nhà làm vườn’ biết kiên nhẫn, chịu khó chăm sóc, cắt tỉa lá sâu cành hư, bón phân tưới nước cẩn thận mà-không-nhổ-quăng-vứt-đi, thì rồi sẽ gặt hái được những trái thơm ngon, những đóa hoa tươi đẹp, rất quý hiếm ! Con Người cũng vậy. Không ai là người đáng-phải-BỎ-ĐI, đáng phải Giết, phải Chết! Đến như sạn, sỏi, cát, đá, cây cỏ nhỏ nhoi trên trái đất mà cũng còn hữu ích, huống hồ là một Con Người! Nếu biết cảm hóa, biết hướng dẫn người xấu ác dữ, biết cách ‘chuyển tâm họ’ để họ ‘quay đầu lại’, xả bỏ TÂM ÁC PHÁT TÂM LÀNH thì họ lại là những Người rất năng nổ, đa tài, đắc dụng. Họ dù cùng hung cực ác thế nào cũng có vài đức tính đáng ngưỡng mộ, có ích cho nhân quần, một khi được cảm hóa. “Sắt’ mà ‘được toi’ trong lò luyện với ‘lửa cao độ’ thì sẽ trở nên là “THÉP” rất đắc dụng! ‘Không ai hoàn toàn TỐT LÀNH, THIỆN HẢO!’ Cũng không ai hoàn toàn XẤU ÁC , BẤT NHÂN BẤT THIỆN’! Vậy thì có nên phát tâm TỪ BI, BÁC ÁI, THƯƠNG XÓT, những người còn thấp kém, xấu xa, hèn hạ, nham hiểm, độc dữ , cùng hung cực ác thế nào đó không??? “CÓ HIỂU BIẾT MỚI THƯƠNG YÊU”, MỚI XÓT XA! Đức PHẬT đã dạy khuyên như vậy.
Nói tóm lại, CÔNG LÝ thì phải Nghiêm Minh, Công Bằng, Vô Tư, nhưng cần phải có TỪ BI, BÁC ÁI kèm theo, thì mới tạo được AN VUI HẠNH PHÚC cho người người, giúp nhau TIẾN HÓA!
Một triết gia, trong quyển “Zen và Ý Thức về Ăn Chay’, tr. 220-222 đã than rằng “Kiếp nhân sinh sở dĩ lắm ĐAU THƯƠNG là vì CON NGƯỜI ‘THIẾU LÒNG TỪ BI’ đối với nhau: Con Người khép chặt cửa lòng. Cam tâm ‘nô lệ’ cho SI, THAM, SÂN, ÁI (ái dục và Chấp trước), kiếm đủ cớ để chia rẻ nhau, lửa bịp nhau, lung lạc nhau, ngược đãi nhau, khống chế nhau, hận thù nhau, tranh đoạt nhau, tàn hại nhau, gieo rắc biết bao đau thương thống khổ cho nhau! Nào hay tự mình là người Khổ Trước, trên hết và nhiều hơn hết.” Ni sư AYYA KHÉMA Ấn Độ cũng nhận xét chí lý rằng:” Tất cả chúng tađều là KHÁCH trên trái đất này! Không ai sở hữu được thứ gì, dù là những gì thân, yêu, quý, nhất của ta!” Đức ĐẠT LAI LẠT MA Tây Tạng đã than thở và có ý khuyên răn, nhắn nhủ người đời rằng: “Chào Đời hai bàn tay trắng! “Lìa Đời trắng hai bàn tay! “Sao mãi nhặt cho đầy? “Túi Đời như Mây bay?!” Vậy thì tại sao Con Người không ý thức điều chí lý ấy để HIỂU BIẾT, để kềm chế thất tình lục dục, để cảm thông nhau, để cố gắng ban rải TÌNH THƯƠNG cho nhau, để rồi tha thứ cho nhau, xóa bỏ tất cả ‘oan trái’, ‘hận thù’, không ai làm ‘Đao Phủ’ của ai nữa, thì lo gì khi chết đi phải sa ‘ĐỊA NGỤC’, khi chinh Con Người đã tạo lấy biết bao cảnh Địa Ngục thê thảm nơi trần gian này rồi! Rất nhiều người đã vô tình đóng vai những kẻ ‘Đầu Trâu, Mặt Ngựa’ tay-thước-tay-đao, và biến nhau thành những kẻ “Tội Đồ”, những kẻ “Bị lưu Đày” thê lương, thống khổ?!
Hỡi quý giới chức Lãnh đạo các Nước, hỡi các nhà Lập pháp, hỡi quý vị quan tòa nước VIỆT NAM và trên toàn thế giới, hãy suy gẫm lại xem:“CÓ NÊN LÊN ÁN TỬ HÌNH NHỮNG TRỌNG TỘI KHÔNG???”, dù là Trọng Tội gì, dưới bất kỳ hình thức nào ???
Và các vị lãnh đạo Nước nếu có phạm lỗi chi nặng, thay vi LUẬN TỘI và Lên ÁN XỬ TỬ HÌNH thì người dân có nên chỉ cho « LƯU ĐÀY ĐI BIỆT XỨ », THA TỘI CHẾT mà KHÔNG THA TỘI SỐNG vậy?! CÓ ĐƯỢC KHÔNG???
16/ Và sau đây, xin lạm bàn thêm về vấn đề ‘HẠN CHẾ SINH SẢN’ để bảo vệ SỨC KHỎE CHO NGƯỜI MẸ, là bảo vệ Hạnh Phúc Gia Đình, tức bảo vệ An Vui, Cường Thịnh cho xã hội, cho quốc gia! Nếu-Sanh-Con-Quá-Nhiều thì Nuôi Dạy Cực Khổ và Khó Chu Toàn Cho Tất Cả Các Con, nhất là các trẻ sanh sau chót! Và gây khổ nhọc, thương đau nhất cho người “LÀM MẸ”, người phụ nữ. Nhưng, thay vi Chỉ-Sanh “HAI-CON” mà thôi, thì CÓ-NÊN-CHO-SANH “BA-CON”??? Vì rằng:
1/ Tài nguyên thiên nhiên tối yếu trong vũ trụ là có BA: THIÊN–ĐỊA–NHÂN. Đó là “TAM TÀI”:Trên là TRỜI, Dười là ĐẤT, ở giữa là CON NGƯỜI! TRỜI CHE TA, ĐẤT CHỞ TA. Có BẦU TRỜI CON NGƯỜI mới có Không khí để thở để Sống Còn, có ánh sáng mặt trời, mặt trăng, các vì tinh tú, Con Người mới có sinh khí để Sinh Tồn.
Và CÓ ĐẤT thì CON NGƯỜI mới có nơi ăn chốn ở, mới tạo dựng được nhà cửa để cư trú. CÓ ĐẤT mới trồng trọt, mới có được ruộng vườn, cây trái, hoa mầu; mới có sông, hồ, ao, rạch ; mới có núi đồi, rừng cây, biển cả; mới có các loài động vật, thực vật! Thì, CON NGUÒI mới có gạo, có thức ăn , mới có muông thú v.v.. thì CON NGƯỜI MỚI CÓ THỂ SINH TỒN được! 2/ Đứa Con Thứ Ba thường lại là‘Kinh Nghiệm’ của 2 người ‘Cha và Mẹ’ (Nam-Nữ) chung sống với nhau, có kinh nghiệm trong sự hòa hợp thể xác và tinh thần, về đời sống kinh tế, lịch lãm hơn, vững chải hơn, thoải mái, nhẹ nhàng hơn, về vật chất cũng như tinh thần. Và có sự thương yêu quí mến, trân trọng nhau, hạnh phúc bên nhau hơn, nên khi bào thai được kết tụ sẽ được hưởng nhiều lợi lạc về nhiều phương diện hơn hai lần đầu. Cho nên, các vĩ nhân, những thiên tài, những người con ưu tú về tài đức, thì có thể thường thấy xuất hiện ở người con thứ 3e! Phải vậy chăng? Vậy, “NẾU CẢN” ‘KHÔNG-CHO-SINH-ĐỨA-CON-THỨ-BA’ thì gia đình cũng như xã hội, quốc gia, Đất Nước sẽ Mất-Đi-Biết-Bao-Nhân-Tài, có thể đó là nhà bác học, là bác sĩ, lương y đại tài, là nhạc sĩ, văn sĩ, thi sĩ, hiền triết nổi tiếng, là vĩ nhân, cũng chưa biết chừng v.v… Đó là những Con Người Ưu Tú! 3/a- Vả lại, có thể nói không quá đáng chăng: Nếu không-cho-sanh-đứa-Con-Thứ 3e thì, nếu lở đã kết thành Bào Thai, dù chưa tượng hình hay đã thành hình, người Cha và người Mẹ vì Sợ-Phạm-Luật sẽ bị phạt, nên phải uống thuốc PHÁ-THAI, hay dùng phẩu thuật thì, chẳng khác nào như là XỬ-TỬ-một-Người-đang-còn-trong-Bụng-Mẹ vậy !!! Trẻ đó có TỘI gì mà phải
BỊ XỬ TỬ ?!
3/b- Hoặc, Để-Ngừa ĐẬU THAI, thì người đàn bà Phải-Uống-Thuốc-Ngừa-Thai, RẤT -RẤT-NGUY BIẾN! Đó là cả một Tai-Họa! Vì, Nếu Rủi Đậu Thai thì chắc chắn Đứa-Trẻ-Sanh-ra-Thường-Bị-Dị-TẬT, đủ mọi loại; hoăc Trí Suất IQ RẤT-THẤP-KÉM (!), có khi chẳng khác nào một-loài-động-vật-hạ-đẳng, chỉ biết ĂN UỐNG NGỦ mà thôi ! Ngoài ra không biết sinh hoạt chi hết, ngay như tắm rửa, mặc áo quần, cầm đủa muỗng v.v..cũng không biết làm, có người lại không thể nói năng được, không biết thương yêu giận ghét v.v…thì làm-sao-Làm-Một-Con-Người để Tiến Hóa lên?!!! Đó là một CON NGƯỜI BẤT HẠNH, và là gánh nặng cho gia đình và xã hội!!!
3/c- Hoặc, Nếu đặt-Vòng-Xoắn để TRÁNH ĐẬU THAI’ thì, đó là một vật bằng kim loại, đặt vào bộ phận sinh dục người đàn bà! Đặt vào trong mình lâu ngày có thể sanh bệnh KHÓ-TRỊ (cancer) thì đáng thương biết bao! Một khi người đàn bà trong gia đình BỆNH HOẠN thi biết bao vấn đề bi thảm sẽ đến với gia đình đó!
3/d- Nếu theo luật ÂM DƯƠNG thì ‘HAI’ là ĐÚNG! Nhưng trong vũ trụ có Tài Nguyên Thiên Nhiên là “TAM TÀI”, là 3 BẢO BỐI RẤT QUÝ, thì thiếu mất một rồi vậy!!! Nếu chỉ có BẦU TRỜI và TRÁI ĐẤT mà Không-Có-CON-NGƯỜI, thì đó chỉ là tình trạng sơ khai thuở Tạo-Thiên-Lập-Địa mà thôi!!! Vậy thì “Chẳng-nên-chỉ-cho-sanh-Hai-Trẻ” mà là “NÊN-CHO-SANH “ĐỨA-CON-THỨ-BA”, phải vậy không???!!! Vì đức HIẾU SINH xin có đôi lời trăn trở, xin quý vị Nguyên thủ quốc gia và các Nhà Lập pháp , trong nước và trên thế giới suy gẫm minh triết.
23/02/2020 GIÁC ĐẠO-LÊ THỊ NGUYỆT ÁNH Một Cựu Giáo Chức VĨNH LONG (Cựu Chuyên viên Nghiên cứu Giáo Dục SAIGON trước 1975)
CHÀO MỪNG Thành Viên Mới: Văn Thi Sĩ NHƯ HOA ẤU TÍM & Và THƠ XƯỚNG HỌA Chúc Mừng Các TânThành Viên
“Nhà văn, nhà thơ, nói chung giới nghệ sĩ, là những “Thượng đế nhỏ,” họ có thể sáng tạo ra một…thế giới lạ lùng, hoàn toàn…khác lạ!”
Tin vui
Thật là vui khi Anh Chinh Nguyên thông báo Cây viết nữ “Ấu Tím” nhập đoàn với VTLV.
Đây là cây viết “kỳ cựu,” giọng văn mượt mà, dịu dàng, viết cho rất nhiều tạp chí Văn học nghệ thuật tại hải ngoại, ít ra cũng mấy chục năm nay.
Hải được hân hạnh quen biết cả 2 Anh Chị rất lâu, Phu quân của Chị Ấu Tím, là một Cựu quân nhân VNCH, binh chủng tác chiến…dữ dằn!
Chúc mừng! bình Bông hồng của VTLV thêm một Nụ hồng nữa. Cây bút nữ ở hải ngoại này, rất hiếm rất quý. 5 buổi RMS cây bút nam, chưa chắc có một cây bút nữ! Như vây VTLV chắc có duyên (ngầm), đất tốt, hy vọng sẽ thành Vườn hồng! khoe sắc thắm, hương thơm ngào ngạt, trong vườn hoa Văn học nghệ thuật của người Việt tại hải ngoại.
Kính chúc Quý Chị, những cây bút hiếm quý, sáng tác hăng say, sức khỏe, hạnh phúc và mọi điều như ý, an lành.
Lê Văn Hải
MỪNG NGÀY ĐỘC LẬP HOA KỲ – Văn Thơ Xướng Họa: Lê Tuấn + Chinh Nguyên & Phương Hoa & Minh Thúy
Mừng Lễ Độc Lập Hoa Kỳ
Minh Thúy
Ở trên đất Mỹ này, tôi gặp cô em tên Thanh 10 năm trước, lúc cô còn đang học tại San Jose State ngành Graphic Design, chúng tôi thường gặp gỡ trong vài sinh hoạt từ thiện. Cô rất năng nổ giỏi giang, tốt bụng và đầy tình người.
Mỗi đầu năm cô thường gởi tình thương về các Chùa nuôi cô nhi, các hội người mù với khoảng tiền không nhỏ. Khi còn ở VN cô là một hoạ sĩ, cho nên qua Mỹ cô theo học môn Graphic Design 4 năm, hiện tại làm marketing (quảng cáo) cho một hãng ở San Jose.
Cô lập gia đình với người Mỹ tên Tom, sau cuộc gặp gỡ trên khu đồi, lúc cô đặt giá vẽ bóng chiều trong ánh nắng nhạt nhòa rơi trên những muộn phiền, nỗi nhớ nhà khôn nguôi, với cánh én bay xa về tổ, với gió chiều lao xao giữa cô đơn, với vầng mây lờ lững phiêu lãng …và rồi cô bắt gặp ống kính chụp hình của Tom đang hướng về phía cô.
Từ đó hai người quen và kết nhau ở điểm họ mê cảnh đẹp thiên nhiên, thường trang trải nỗi lòng theo trời mây trăng gió trên nét vẽ, trên máy chụp hình.
Tom làm việc tại nhà với công việc Real Estate Investment, tánh tình rất hiền lành dễ mến. Thanh có thêm một số bạn và chúng tôi họp thành nhóm nhỏ. Các cô còn trẻ tuổi, rất cởi mở vui vẻ luôn miệng nói “Thỉnh thoảng phải gặp nhau để thay đổi không khí”, và ngôi nhà của Thanh là nơi tụ họp với điều kiện chỉ có phụ nữ.
Chúng tôi tổ chức sinh nhật cho nhau, khi có cuộc họp mặt là Tom sáng sớm lái xe ra khỏi nhà tôn trọng điều lệ vợ mình đặt ra, và dĩ nhiên chúng tôi cũng chỉ đến một mình.
Các em khuyến khích tôi tham gia vào sinh hoạt người Mỹ. Đó là việc quá cao đối với khả năng của tôi, vì tôi nghĩ chỉ có những vị đỗ đạt tại các trường học Hoa Kỳ, các vị thông thạo Anh Ngữ mới làm được. Chính những lúc tôi rụt rè thì các em luôn thoải mái đưa ra lập luận:
– Chị có biết xã hội phải muôn mặt, sự hợp lực luôn cần mọi tầng lớp. Ông kỹ sư cũng cần đi cúp tóc, bà bác sĩ cũng cần thợ may quần áo để mặc, em làm mệt nhọc về không nấu nổi cũng cần tiệm bán cơm v..v…như vậy mới thành xã hội.
Các em rủ tôi tham gia đi diễn hành, hoà niềm vui trong ngày lễ Độc Lập của Mỹ
Tại sao lại không nhỉ ? Được diễn hành cùng dân bản xứ và các sắc dân khác nhau trên xứ Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, chẳng phải tìm vinh quang hay thi đua, chỉ đơn giản là để mừng ngày ra đời của một đất nước vĩ đại mà hiện tôi cũng là công dân Mỹ.
Thanh và chồng là Hội viên của ABC club, một tổ chức có tính cách giáo dục, hướng dẫn huấn luyện tuổi trẻ tập dạn dĩ, phải phát biểu ý kiến trước đám đông, tập nói ngắn gọn dễ hiểu để trong tương lai có thể trở thành Leadership (lãnh đạo), hay mọi lãnh vực khác.
Chương trình này đã sinh hoạt gần trăm năm trên nước Mỹ có tên là ABC Toastmasters, gần 15 năm trở lại đây đã mở rộng trên thế giới .ABC Toastmasters thường có cuộc hội họp vào mỗi thứ bảy lúc 10 giờ sáng tại Unitek College nằm trên đường Auto Mall Parkway. Trong cuộc hội họp bất cứ ai cũng có thể lên thực tập, nói đề tài nào đó, các diễn giả lắng nghe và nhận xét phong cách diễn đạt, rồi đúc kết nêu lên khiếm khuyết như nói dài dòng, thế đứng chưa được tự tin, giọng nói còn run ..v..v…
ABC Toastmasters đã đóng góp diễn hành vài năm qua và được xếp hạng nhì năm ngoái.
Bây giờ tôi xin kể tiếp về ngày vui lễ Độc Lập. Sáng sớm tôi lái xe đến nhà Thanh như đã hẹn, trong lúc chờ đợi tôi ra vườn ngắm cảnh thư thả với không khí trong lành. Ánh nắng ban mai thật dễ chịu, thỉnh thoảng có những cơn gió mát, đôi khi hơi lạnh, nhưng rồi những tia nắng ấm kéo lại cảm giác quân bình của thời tiết.
Tách cà phê chủ nhà trao, tôi nhâm nhi từng ngụm, hơi nóng và mùi thơm thấm vào môi lưỡi, tận hưởng những giây phút an nhàn thanh thản. Nhìn ngắm những đoá hoa xinh như mộng mở hé, e ấp đọng những giọt sương mai long lanh như thiếu nữ độ tuổi dậy thì tươi sáng, lòng tôi thấy phơi phới, rộn ràng đón nhận cảm giác vui mừng ngày lễ Độc Lập nơi xứ người.
Đọc Lịch sử, 4 tháng 7 là Independence Day cũng là ngày Quốc khánh của Hoa Kỳ. Năm 1779 bản Tuyên ngôn Độc lập ra đời, tuyên bố rằng mười ba thuộc địa đầu tiên ở Mỹ coi mình là một quốc gia mới, được gọi là Hoa Kỳ. Tác giả của bản Tuyên ngôn Độc Lập cùng đại diện 13 tiểu bang đầu tiên đã ký vào.
Lời mở đầu của bản Tuyên Ngôn là “Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng đấng tạo hoá đã ban cho họ những quyền tất yếu bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do mưu cầu hạnh phúc của mỗi công dân được luật pháp bảo vệ.”
Miên man về lịch sử và nguồn gốc ngày lễ, tôi uống cạn ly cà phê lúc nào không hay khi đang định nâng lên môi tiếp, cũng vừa đúng lúc các bạn réo gọi tập trung lên xe.
Điều đặt biệt là năm nào cũng có sự hiện diện của bà Mary mẹ chồng Thanh. Năm nay bà đã 87 tuổi nhưng tự lái xe một mình từ San Diego lên Fremont mất 8 tiếng đồng hồ cùng tham gia diễn hành.
Tinh thần người Mỹ rất mạnh mẽ và ý chí thật hào hùng. Chúng tôi đến địa điểm … sau hậu trường cảnh đông đúc đang chuẩn bị cho buổi diễn hành. Mọi người đã làm việc cực lực, hăng say, những công việc rất khó, nặng nhọc sửa soạn cho tiết mục của họ. Tôi đi quanh quan sát thấy rất nhiều hội đoàn như trường học, trung tâm thương mãi hay các sắc tộc có những màn riêng về sắc thái của họ. Nơi này các em nhỏ học mầm non được cô giáo tập dợt màn múa đầy hồn nhiên dễ thương. Nơi kia, trường dạy võ đang ôn lại màn kiếm đao, môn Karatedo các thiếu niên diễn thật ngoạn mục. Kìa ban trống nhạc đang sắp xếp vị trí biểu diễn và xem lại dụng cụ. Hàng xe hơi cổ điển được trang trí bằng màu đỏ, trắng, xanh, chứa đựng bộ máy lớn cùng loa và cờ trang trọng. Đoàn người diễn hành mặt mày hớn hở, chú tâm vào công việc của mình, ai ai cũng khoác y phục, đội mũ, mang tất hoặc cài nơ bông trên tóc bằng ba màu xanh trắng đỏ của lá cờ Mỹ.
Cảnh tượng sau hậu trường thật vui nhộn, tôi đi quanh quẩn chụp hình, thoải mái và hoà nhập.Đến giờ diễn hành, tôi được giao phó cầm bảng đi chung với các em Nhật, Phi, Ấn Độ và Việt Nam… theo sau xe classic của Tom (chồng Thanh) lái. Những bản nhạc yêu nước phát ra từ loa trên xe, tiếng nhạc xập xình hùng mạnh diễn hành trên những con đường dài. Chúng tôi khởi hành từ đường Civic Center, rồi đi qua đường chính Paseo Padre chạy dài cho đến khi chấm dứt nơi đường Capitol. Hai bên đường dân chúng mang ghế ra chuẩn bị đón xem, kẻ đứng người ngồi đông đúc chật ních suốt mấy con đường. Tiếng reo hò, cổ vũ chào nhau bằng câu “Happy July 4th”, có người chạy ra tiếp chúng tôi những chai nước lọc vì trời bắt đầu nắng gắt.
Trong nhóm chúng tôi có hai em hăng say dancing giữa đường rất ngoạn mục. Thanh cùng các em trai khác kéo thùng thổi bong bóng nước rất đẹp lôi cuốn các em nhỏ chạy ra theo đùa giỡn, cũng được thổi vào người, những bong bóng bay lên khiến các em nhỏ thích thú dang tay với và nhảy cười sung sướng. Cảnh tượng rất hào hứng đã mang ý nghĩa thiêng liêng của ngày lễ hội đủ sắc dân hợp lại, gây dựng lên quốc gia giàu mạnh, văn minh, tự do và dân chủ.
Buổi diễn hành chấm dứt sau một giờ trưa, trên đường về tôi thấy nhà nhà đều treo cờ trọng thể trước cửa, hầu như mọi người ở xa đều trở về ăn lễ cùng gia đình, các cháu của tôi cũng không ngoại lệ. Về nhà chị em nướng Barbecue gồm bò và gà đã được ướp tối qua, dùng bánh mì lát đơn giản cùng xà lách làm sẵn mua từ Costco.
Đến chiều cả gia đình, anh chị em con cháu hẹn ra bờ hồ Elizabeth, đem theo khăn trải, trái cây, chips, và nước uống để hứng gió sông chờ tối xem bắn pháo bông.
Người ta đông như kiến, vợ chồng, con cái, thậm chí, có bé chỉ mới vài tháng nằm trong car seat quấn khăn cũng được đem theo. Đúng 9 giờ tối bầu trời sáng rực, những bông hoa đủ màu sắc thi đua nhau rơi xuống với âm thanh rộn ràng náo nhiệt, liên tục không ngớt.
Tiếng la, tiếng reo hò, tiếng cười hợp lại tạo không khí tưng bừng náo nhiệt. Khi tiếng pháo từ từ chấm dứt, những bông hoa thưa thớt trả lại nền trời đen tối với các vì sao lấp lánh thì chúng tôi trở về nhà trong sự thoả mãn.
Đêm về… tôi thấm mệt với đôi chân rã rời vì đi bộ hơi nhiều, thỉnh thoảng còn sót tiếng pháo bắn lẻ tẻ đâu đó. Tôi tiếc nuối đứng nhìn qua khung cửa kính, bầu trời lại sáng lên khi một vài hoa pháo rơi xuống.
Tuy giấc ngủ đến muộn nhưng lòng tôi khoan khoái. Nằm trong bóng tối tôi mỉm cười nghĩ miên man về ngày lễ Độc Lập. Quê hương thứ hai đã cho tôi nhiều phước phần, có được điều kiện thực hiện chữ hiếu, giúp người thân nơi quê nhà, thực hiện những việc có ý nghĩa trong cuộc sống, và điều lớn nhất là cho tôi được hưởng bầu không khí tự do, no ấm.
Ngày mai chúng tôi cũng sẽ ăn mừng lễ tiếp với các thức ăn VN, ăn mừng các cháu học xa trở về, ăn mừng các cháu đúng mùa tốt nghiệp đại học, ăn mừng mọi sự thành công trên đất Mỹ.
Xin cảm ơn đất nước Hoa Kỳ, cảm ơn niềm vui hưởng của ngày lễ Độc Lập đầy thú vị.
July 4
Mừng lễ Độc Lập Hoa Kỳ
Ngày bốn tháng bảy đua thi tiệc tùng
Vui chơi liên tục tưng bừng
Cỏ cây hoa lá đón mừng Hạ sang
Nắng lên rực rỡ chói chang
Tô thêm hùng khí vẻ vang đất trời
Diễn hành lễ hội tuyệt vời
Pháo bông toả sắc sáng rơi bầu trời
Tự do Hạnh phúc muôn nơi
Dân giàu, nước mạnh cuộc đời ấm no
Minh Thúy – Lễ Độc Lập Hoa Kỳ 2019
Tản Mạn Về…Nói Với Chính Tôi (Trích từ sách “TÔI”) – TS Mai Thanh Truyết
Kể từ khi có mặt trên cõi ta bà nầy 79 năm, tôi bằng lòng với những gì tôi “được” và những gì tôi “mất”. Hiện tại, sau gần 9 năm “giã từ vũ khí” nghĩa là từ giã công việc áo cơm, ngồi chiêm nghiệm lại những gì đã làm trong quá khứ, tôi có làm nhiều điều đúng và cũng có nhiều điều sai; – Điều đúng làm tôi vui và – Mỗi điều sai là thêm một bài học mới cho tôi. Trong suy nghĩ ấy, tôi xin cám ơn Trời Phật đã ban cho tôi tánh biết nghe và biết phục thiện.
“Cuộc sống vốn đã bất toàn”, lời của Cố GS Nguyễn Văn Trường thường nhắc nhở tôi trong thời gian từ khi tôi quen anh cho đến hôm nay vẫn còn đâu đây sau hơn 50 năm. Và đó vẫn là một “công án” tôi luôn luôn áp dụng mỗi khi giáp mặt với những khó khăn hay phiền muộn trong đời. Nhờ vậy mà tâm hồn tôi có được an nhiên tự tại sau mỗi lần bị trắc trở. Cám ơn người anh lúc nào cũng là cái thắng của con ngựa bất kham nầy.
Thiết nghĩ từ khi mới sanh ra đời, con người vốn bị bao quanh bởi Vô Minh, lớn lên cũng phải sống trong Vô Minh. Nhưng những hình thức vô minh bên ngoài khiến cho ta dễ nhận định và cải sửa; còn chính cái vô minh trong tâm mới thực sự làm tăng trưởng lòng sân hận trong chính ta.
Nhận thức được Vô Minh “nội tại” để hạn chế bớt Sân hận, hạn chế bớt cái NGÃ trong Tâm. Từ đó, mới có thể tiến tới giai đoạn VÔ CHẤP – VÔ TRỤ.
Một khi đã vô chấp, ba quỹ dữ trong tâm là Tham, Sân, Si sẽ không còn cơ hội để phát triển nữa. Từ đó ta có thể trở về gần với tánh Không.
Nhưng trong kinh Bảo Đàn của Lục Tổ Huệ Năng có viết:” Chớ nghe ta nói KHÔNG mà liền chấp KHÔNG. Nếu để TÂM trống KHÔNG mà ngồi yên lặng, tức là chấp cái VÔ KÝ KHÔNG, tức là tánh không tưởng nhớ gì cả. Đó là cái tánh nửa chừng, nó không nhớ và không phân biệt gì cả”.
Tôi chiêm nghiệm rằng, an nhiên tự tại là trực diện với Vô minh trong chính mỗi chúng ta, cộng thêm những bất toàn mà mình phải chấp nhận để từ đó được tôi luyện và thạch hóa tánh Không.
Tôi đang đi vào con đường Đoạn Ái để tiến tới tánh Không, chẳng chấp mà chẳng bỏ, cũng không nhiễm vương, không dính níu, lòng như trống không để tiến bước vào MA HA trong Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh.
Xin thưa cùng tất cả bạn đọc và bè bạn khắp nơi.
Cuốn sách TÔI là cuốn sách cuối cùng tôi trang trải về những ưu tư về đất nước thân yêu của chúng ta, một Đất Nước trong suốt chiều dài lịch sử từ khi lập quốc cho đến ngày nay đã phải chịu nhiều oan nghiệt.
Nhưng tiếc thay, những oan nghiệt trong quá khứ đã đến từ một chủng tộc khác dòng, khác giống; còn nỗi oan nghiệt dân tộc phải chịu ngày hôm nay phát xuất từ một chủng tộc đồng nhứt, nói cùng tiếng nói của cùng một dòng Việt tộc.
Đã cùng là một dòng Việt tộc mà cung cách hành xử còn tệ hại hơn thời thuộc địa Pháp, tệ hại hơn thời Bắc thuộc thưở xa xưa.
Đó chính là nỗi oan khiên nghiệt ngã của Quê hương.
Nỗi oan khiên nầy biết đến bao giờ mới được xóa đi?
TS Yoshiharu Tsuboi, người Nhựt đã trình luận án tiến sĩ năm 1982 tại Paris với đề tài:”Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa 1847-1885” trong đó ông đưa ra một suy nghĩ tương đối mới khi nhận định về nguyên nhân mất nước về tay người Pháp không phải vì vua Tự Đức bế quan toả cảng, mà chính vì vua, quan, và dân bị phân liệt thời bấy giờ, do đó, không thể nào tạo được sự kết đoàn để chống giặc được.
Và ngày nay, trong một tuyên bố gần đây về hiểm họa Hán hóa, ông đã đưa ra một nhận định hơi triết lý nhưng đầy tính nhân bản là: “Cần phải tạo ra thật nhiều con người biết sống trong sạch. Chính họ là sức mạnh cho đất nước Việt Nam”.
Nhu74ng người con Việt ngày nay cần “Trong” trong TÂM và “Sạch” trong HÀNH ĐỘNG.
Làm được hai điều nầy, chắc chắn Việt Nam sẽ thoát khỏi cơn hồng thủy phương Bắc trong một tương lai không xa.
Mai Thanh Truyết
Trích hai trang cuối cùng của sách TÔI-2019
CHÚC BÌNH YÊN CHO NGƯỜI VỪA ĐI -Kiều Mỹ Duyên
Đức Ông Phạm Văn Ninh
Làm nghề truyền thông lâu năm quen nhiều cho nên ngày nào cũng nghe tin người quen ra đi. Tôi chỉ biết cầu nguyện cho người vừa ra đi bình yên.
Tuần rồi tôi đọc bài của Tiến Sĩ Nguyễn Kim Quý ở Portland viết bài tiễn biệt Linh Mục Phạm Văn Ninh, chánh xứ giáo xứ Đức Mẹ La Vang vừa ra đi. Cha Ninh rất hiền. Tôi được biết cha khi chúng tôi đến Portland để làm phóng sự cho đài truyền hình SBTN (Saigon Broadcasting Television Network), phỏng vấn giáo sư Jerry Braza, Health Education của đại học Western Oregon, ông cũng là Chủ Tịch hội từ thiện Forgotten People Foundation (2005). Giáo sư Nguyễn Tường Tuấn và An Nguyễn broker là 2 người trong ban chấp hành hội từ thiện này.
Chúng tôi thăm nhà thờ, chùa trong 2 ngày cuối tuần, làm 6 phóng sự cho đài truyền hình.
Thành phố Portland rất đẹp, cây cỏ xanh mướt vì có nhiều mưa. Người dân hiền lành, hiếu khách. Chúng tôi đến thăm chùa nào cũng được mời ăn cơm. Đặt phòng ở khách sạn, nhưng chúng tôi ở chùa, trụ trì là ni cô, đang học cao học.
Tôi phỏng vấn cha Ninh trước nhà thờ Đức Mẹ La Vang Portland, dưới bóng mát của hàng cây xanh, trên đồi cây cỏ xanh mướt nhìn xuống đồi. Cha Ninh hiền lành. Cha kể về lịch sử Giáo Xứ Đức Mẹ La Vang Portland. Tháng 6/ 1975 chung cư Halsey Square là nơi số đông người tị nạn được đưa về, và cũng chính từ nơi đây Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam Oregon đã ra đời, và là tiền thân của Giáo Xứ La Vang ngày nay. Đến đầu năm 1977, số người tị nạn Công Giáo Việt Nam tại Portland lên đến cả ngàn người. Tháng 2/ 1981, số người tị nạn Công Giáo tại Portland và các vùng phụ cận ngày càng lên cao. Cha Cao Đăng Minh đã mời cha Trần Công Nghị từ California và cha Phạm Văn Ninh từ thành phố Salem, thủ đô của tiểu bang Oregon đến giúp đỡ. Đến tháng 4/ 1997 xây dựng Thánh Đường Đức Mẹ La Vang. Đến năm này, Giáo Xứ Đức Mẹ La Vang đã được tổ chức quy mô hơn. Có ba vị linh mục phục vụ là cha Hồng Phúc, cha Cao Đăng Minh, và cha Phạm Văn Ninh.
Cha Ninh giới thiệu tôi với linh mục Hoài Đăng. Ở Louisiana có lụt lội nên linh mục nhạc sĩ người Mỹ gốc Việt này về Portland sống với cha Ninh.
Cha Ninh hiền lành, khiêm tốn. Tôi hỏi cha Ninh về tình hình nhà thờ có người Việt Nam và sự phát triển Công Giáo Việt Nam ở Portland. Cách đây 20 năm, đài truyền hình SBTN (Saigon Broadcasting Television Network) đi khắp nơi trên nước Mỹ. Nhà người Việt Nam nào cũng xem truyền hình đài tiếng Việt. Đối với khán giả Việt Nam lớn tuổi thì tivi, radio, báo tiếng Việt là nhu cầu cần thiết của họ.
Hưu trí nếu còn khỏe mạnh thì đi câu cá, bắn chim, đi bộ lên núi, đi du thuyền ở sông, ở biển, nhưng nếu không khỏe thì ở nhà xem truyền hình, nghe radio, đọc sách báo, đi thư viện, đi nhà thờ hay đi chùa,.v.v.
Nhu cầu tinh thần cần lắm, nếu còn sức khỏe là còn tất cả.
Khi nghe tin Đức Ông Phạm Văn Ninh qua đời, chúng tôi cầu nguyện cho Đức Ông được sớm về hưởng nhan Thánh Chúa.
LẠI MỘT NGƯỜI VỪA RA ĐI
Đại tướng Trần Thiện Khiêm
Một người ít nói nhưng mỗi lần nói làm cho người nghe cười. Tôi thường gọi điện thoại thăm những người lớn tuổi ở Việt Nam, ở Mỹ hay ở các quốc gia khác. Một lời thăm hỏi ân cần làm vui lòng người lớn tuổi. Có một lần, một vị lớn tuổi nói với tôi:
– Tôi thích tham gia sinh hoạt cộng đồng nhưng tôi không muốn làm phiền người khác. Cuối tuần, tụi nhỏ không đi làm, tôi nhờ chở đi chỗ này chỗ nọ. Thỉnh thoảng, tôi nhờ Đại Tá Cổ Tấn Minh Châu đưa tôi đi sinh hoạt cộng đồng. Anh Châu tốt lắm.
Nói về người trẻ là giáo sư đại học Chapman, ông nói:
– Phương Lan có 2 cha, 2 mẹ.
Tôi chưa hết ngạc nhiên thì ông nói tiếp:
– Cha mẹ ruột của Phương Lan là 2 người, vợ chồng chúng tôi 2 người nữa thành ra 4 người.
Tôi nhớ bé Phương Lan lúc chúng tôi vào nhà chị Tư. Chị Tư cùng các phu nhân thường thường vào 6 giờ sáng vào Tổng y viện Cộng Hòa chăm sóc thương binh, nhất là các chiến sĩ bị thương từ mặt trận mới vừa về đêm qua. Chuẩn bị vào phòng ăn thì tôi thấy một cô gái nhỏ, ngồi trước đàn dương cầm. Bé này vào khoảng trên dưới 10 tuổi, bé đánh đàn dương cầm, tiếng đàn lảnh lót reo vui. Bé Phương Lan sinh ra đời được yêu thương bởi 2 mẹ, 2 cha, cha mẹ ruột và cha mẹ nuôi, bé được mọi người thương yêu. Hai anh của bé Phương Lan: anh trai cả là Dũng học ở Thụy Sỹ, anh kế là Tuấn học xong tú tài toàn phần, tình nguyện vào trường Thủ Đức, sau đó tốt nghiệp ra trường là chuẩn úy.
Người ở đầu giây nói tiếp:
– Hồi ở Việt Nam, tôi đọc sách của Hòa Thượng Tuyên Hóa, chùa Vạn Phật Đường, sang đây hai vợ chồng tôi đến Bắc California thăm Hòa Thượng.
Tôi thường thăm những người tôi quen, tôi đến nhà hay gọi điện thoại lại nhà, tôi còn gọi vào nhà thương hay viện dưỡng lão. Một lần, tôi gọi đến viện dưỡng lão ở miền Bắc, một đồng hương nói chuyện rất vui vẻ. Ông nói với giọng reo vui:
– Cô Duyên à, tôi vừa được rửa tội.
Đồng hương lớn tuổi kể tiếp:
– Trung Tướng vừa rửa tội cho Đại Tướng.
Thì ra tên của Linh Mục rửa tội cho ông là Lê Trung Tướng.
Nghe giọng nói, tôi biết đồng hương lớn tuổi đang rất vui.
Là người lạc quan, tôi thích tiếng cười, đi đến đâu tôi cũng thích nghe tiếng cười reo vui. Lạc quan, yêu đời, yêu người và tôi thích nghe người này nói tốt về người khác.
Nói về cô bé đánh đàn dương cầm khi tôi đến thăm chị Tư, ngôi nhà ở Chợ Lớn. Tôi mê tiếng đàn của cô bé này.
Rồi một ngày đẹp trời, tôi thăm nhà khác, tôi cũng gặp cô bé này, đang ngồi thẳng, đánh đàn ở phòng khách. Thì ra 2 bé đánh đàn này là một.
Có một lần về vùng Hoa Thịnh Đốn họp, qua lời mời của chị Trân, anh Trân là em ruột của chị Tư. Chị Tư là phu nhân của một Đại Tướng, “chị Tư” là tiếng gọi thân thiện của tất cả mọi người cùng làm việc xã hội với chị. Chị Trân chở đến nhà của một đồng hương. Nhà nhỏ, xung quanh là rừng cây xanh mướt. Tôi hỏi chị chủ nhà ông xã của chị đâu rồi? Chị cho biết anh ấy đang quét lá cây. Tôi hỏi:
– Cuối tuần nhiều người đến thăm, sao ông xã của chị không đợi đến cuối tuần để mọi người giúp quét lá cây phụ?
Chị chủ nhà trả lời:
– Ngại lắm, làm việc gì được thì anh ấy tự làm.
Nhà này là condo, nhỏ, xung quanh là rừng cây xanh mướt.
Ăn một tô phở ở một ngôi nhà nhỏ trong rừng cây do chủ nhà tự nấu, bàn ăn nhỏ, gần cầu thang. Khi tôi về California một thời gian thì nghe tin chị chủ nhà té từ cầu thang xuống đất, rồi nằm một chỗ 10 năm. Người chồng chăm sóc vợ rất chu đáo, sau đó người vợ qua đời. Một đời người thoảng như giấc chiêm bao.
Những người thân của tôi ở Hoa Thịnh Đốn lần lượt ra đi như Trung Tướng Phan Trọng Chinh, anh Trân, Đại Tướng Cao Văn Viên và phu nhân qua đời, Đại Tá Nguyễn Văn Y xem tử vi rất xuất sắc và phu nhân qua đời, giáo sư Nguyễn Ngọc An qua đời, tướng Lê Minh Đảo, Đề Đốc Lâm Ngươn Tánh, v.v. Đa số tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa, bộ trưởng Việt Nam đều tị nạn ở vùng Hoa Thịnh Đốn, mỗi lần hội họp ở miền Đông, tôi thường thăm những người tôi quen, rồi thì những cánh chim đại bàng từ từ rơi rụng.
Rừng cây ở Hoa Thịnh Đốn vẫn xanh, vẫn còn đó, tuyết vẫn rơi vào mùa Đông, nhưng người thì lần lượt ra đi nhiều quá.
Rồi Thiếu Tướng Lý Tòng Bá, Tướng Lê Văn Tư, Đại Tá Phạm Văn Chung cũng vừa ra đi, người tốt cũng đi, người không tốt cũng đi. Người còn sống vẫn hoạt động trong cộng đồng, thế hệ thứ hai vẫn hoạt động tích cực. Ngoài lo cho đời sống bình thường của mình, người có lý tưởng vẫn tiếp tục hoạt động cho Việt Nam thật sự có Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền, đến bao giờ người Việt Nam trong nước được sống bình yên như người dân của các nước khác có Tự Do thật sự?
Tôi ao ước, tôi mong cho người đi linh thiêng phù hộ cho người ở lại được sống một đời bình yên.
Ngày xưa, Đại Tướng Trần Thiện Khiêm nghiêm lắm, ít nói, không tuyên bố nhiều. Khi về già ở trong một căn nhà nhỏ giữa rừng cây. Phu nhân của ông cũng âm thầm như ông, sống âm thầm cho đến khi qua đời.
Những người giữ chức vụ lớn có người thương, có người ghét, nhưng rồi cũng như mọi người, dù có người thương người ghét thì bây giờ ông cũng đã rời trần gian ra đi một cách êm ả.
Cầu xin Ơn Trên cho mọi người đến trần gian với tiếng khóc thì khi ra đi với tiếng cười. Cầu xin trong lúc hấp hối đừng đau đớn quá, đừng rên la, chỉ xin giờ ra đi êm ả.
Trong mấy ngày tôi nghe tin 3 người ra đi là cha Phạm Văn Ninh ở Portland, Đại Tướng Trần Thiện Khiêm ở San Diego, và ông Lý Tòng Tôn ở Lancaster, Los Angeles.
Ông Lý Tòng Tôn, em của Tướng Lý Tòng Bá.
(Hình do bác sĩ Đỗ Văn Học cung cấp)
Ông Lý Tòng Tôn cười nhiều hơn nói, phu nhân của ông cũng vậy, cười nhiều hơn nói. Ông thích ca, đi hát nhiều hơn ở nhà. Mong ông sẽ gặp lại các bạn nghệ sĩ đã đi trước xuống suối vàng. Thôi thì đem tiếng cười giòn tan hòa lẫn với gió mây và đem theo lời chúc lành, chúc anh em bằng hữu về thế giới bên kia gặp lại bằng hữu đã đi trước mình sẽ hạnh phúc, sẽ vui tươi hơn.
Ông Lý Tòng Tôn (áo trắng bên phải) hội ngộ các văn nghệ sĩ.
(Hình do nhà văn Việt Hải đứng ngoài cùng bên trái cung cấp)
Nhà văn Việt Hải rất tận tình loan tin về bằng hữu, nhất là văn nghệ sĩ. Ông rất quan tâm đến những người bệnh như anh chị Quang Nguyễn, Minh Đức Hoài Trinh, thi sĩ Cao Mỵ Nhân, Trung Tá Hạnh Nhân, Lưu Anh Tuấn họa sĩ, học trò của tôi.
Thi sĩ Vũ Thùy Nhân vừa vào văn đàn http://thovanyenson.com của anh Việt Hải nói anh Hải có lòng tốt lắm chị ơi.
Cha Ninh ơi, Đại Tướng Trần Thiện Khiêm và anh Lý Tòng Tôn ra đi bình yên, hạnh phúc trong cuộc hành trình về nước Chúa. Xin phù hộ cho người ở lại tiếp tục hành trình tốt đẹp của mình.
Orange County, 1/7/2021
KIỀU MỸ DUYÊN
(kieumyduyen1@yahoo.com)
CÓ NÊN KẾT ÁN TỬ HÌNH NHỮNG TRỌNG TỘI KHÔNG??? – Cựu GS LÊ THỊ NGUYỆT ÁNH
LUẬT PHÁPđặt ra là để bảo vệ AN NINH, giữ gìn TRẬT TỰ, bảo vệ QUYỀN LỢI Con Người với Con Người, bảo vệ MẠNG SỐNG và TÀI SẢN của cá nhân và cộng đồng Gia Đình, Quốc gia và Quốc tế. Những người đứng ra cầm cán cân Công Lý, là Đại Diện Công Lý, là nhân danh Công lý, bao giờ cũng nên Nghiêm minh, Chính trực, Công Bằng, Vô tư phán xét những ai vi phạm luật lệ Nhà Nước đặt ra, cũng chính là để hướng dẫn, giáo dục Con Người cả nước đến với CHÂN THIỆN MỸ. Theo hình luật, ngoài những tội do từng quốcgia qui định còn có những tội sau đây mà không quốc gia nào dung chế, tha thứ cho được, mà còn kịch liệt bài trừ với hình phạt nặng nề gắt gao. Đó là: ‘Tội Giết Người’ (Sát Nhân), ‘Tội Hiếp Dâm’ và ‘Tội Buôn Bán Ma Túy’, ‘Hẻroine’, vì nó giết chết mạng sống, giết chết cả tương lai, cuộc đời của Con Người, nên không một quốc gia nào trên trái đất này chấp nhận được! Tất cả, ai ai cũng đều ‘Muốn Sống’, Không-Ai-Muốn-Chết, nhất là Bị-Giết-Chết, Bị-Tước-Đoạt-Mạng-Sống, Bị-Sát-Hại!!! Vậy tại sao chính ta Muốn Sống, Không-Muốn-Bị-Giết-Hại mà lại đi ‘Bức Tử’, Tàn Sát Người khác?! “Điều gì ta không muốn người khác làm cho ta thì ta không nên làm cho người khác”! Thế mà: 1/ Ai ai cũng vui thích đồng ý đón nhận châm ngôn này, nhưng, trên thực tế, hình như có ít người thực hiện ĐÚNG theo, mà đa số thì lại thản nhiên gây-tạo-cho-người-khác-những-gì-chính-bản-thân-không-muốn-người-khác-làm-cho-ta!
2/ Đến như cả các vị phán quan, các quan chánh án cầm cân nẩy mực, ngồi ghế xét xử, khi luận tội những trường hợp như ‘Giết Người’, ‘Hiếp Dâm’, ‘Buôn Bán Ma Túy’ là những ‘Trọng Tội Khó Tha Thứ’ được mà lại như vô tình thản nhiên tuyên “Án Tử Hình” họ!!! Có những trường hợp Giết Người, hay Buôn Bán Ma Túy, cảnh ngộ rất thương Tâm mà các quan không lý tới! Sao lạ vậy, khi mà theo Luật pháp: “Dù dưới hình thức nào, dù bất kỳ nguyên nhân gì, cũng không ai được quyền tước đoạt sinh mệnh của bất kỳ ai!”
3/ “Khó thể tha thứ được” đâu có nghĩa là phải ‘Giết Chết Kẻ Phạm Tội’, như họ đã giết chết ai đó?! Chẳng lẽ không có hình phạt nào dành cho những kẻ ‘Trọng Tội’ khó thể tha thứ được, khiến họ phải đau đớn thống khổ, bi ai, thê thảm nhứt là sự dày vò, ân hận về tinh thần vì tội ác họ đã gây tạo cho người khác, và làm liên lụy đến nhiều người phải khốn khổ theo, là gia đình ‘bị cáo’ và gia đình nạn nhân ‘nguyên cáo’, khiến cho họ, có người phải Sống-Không-Bằng-Chết’ hay sao?! Hình phạt đó không đáng sợ gấp trăm ngàn lần hơn hình phạt họ hải sợ chỉ có mấy ngày, mấy tháng, hay mấy năm, nhất là chỉ một thoáng mấy phút trước giờ ‘Hành Hình’ thôi sao?!
4/ Vả chăng, có thể đó là án OAN!!! Nếu xử tử rồi, về sau có cơ hội nhắc đến, thẩm tra lại, biết họ đã ‘Bị OAN’ thì làm sao cứu chữa ‘SAI LẦM’ vì đã giết họ chết rồi ?!
5/ Và, nếu kẻ có tội chí tình ‘Ăn năn, Sám hối’ tội lỗi họ đã gây tạo, và họ có thể ‘Đới Công Chuộc Tội’ xứng đáng, thì không phải là đáng tiếc lắm sao?! Con Người có ai mà không từng phạm những điều Sai Trái, Lỗi Lầm, dù nhẹ dù nặng?! Điều quan trọng là họ Biết-Nhận-Lỗi-Tội của họ, nhận sự ‘Sai Lầm’, và Biết-Ăn-Năn, Hối cải Lỗi Tội của họ! Đó không phải là điều dễ dàng mà ai cũng dũng cảm làm được!!! Và một khi họ đã không hèn nhát mà can đảm nhận Tội, không trốn tránh, thì sao lại không-giúp-họ-có-thời-gian, cho-họ-có-cơ-hội-để-Ăn-Năn-Cải-Hối-Sữa-Đổi, Đoạn trừ Dứt Lỗi Tội?!
6/ Thưa rằng:’Nếu Giết họ Chết Đi rồi, thì chủng tử Xấu Xa, Độc Ác, Hung Dữ, Nguy Hại đến thế nào đó, sẽ chấm dứt , chứ không phải sẽ vẫn đeo đẳng theo họ suốt từ kiếp này đến kiếp khác sao?! Họ sẽ mãi mãi vẫn còn là người cùng hung cực ác, họ vẫn còn cứ gây bao tai họa cho biết bao người, cứ gây tạo thảm kịch triền miền, biết bao giờ mới chấm dứt, nếu không tạo cho họ có cơ hội để họ thắm thía nỗi thống khổ do ‘Tội Ác’ của họ, để Giúp Họ Tĩnh Thức để Ăn Năn , Sữa Đổi, Đoạn trừ Lỗi Tội ?! “Nhứt nhựt VÔ THƯỜNG tại, “Phương tri mộng lý nhân. “Vạn bang đô bất khứ, “Duy chỉ “NGHIỆP” tùy Thân!”
Một mai Tử Thần đến, Mơ màng biết về đâu?! Vạn nơi khó thể cầu! Họa Phước mãi dính “Thân”!
7/ Đã nhân danh Công Lý, là đại diện cho Công Lý trừng phạt, ngăn ngừa những kẻ ‘PhạmTội’, dù là những tội nặng đến thế nào, như ‘Tội Sát Hại Người’, thì nên chí công và ‘vô tư’ xét xử. Cho điều tra chu đáo: vị tất, không một trường hợp nào mà Kẻ Bị-Hại (‘nguyên cáo’) không có Lỗi, kèm bên ‘Tội’ của kẻ phạm Tội (‘bị cáo’)! Nếu đúng vậy thì cả hai đều phải bị thẩm xét, bị bị ‘luận tội’ và phải bị ‘trừng phạt’, nếu có thể được thì cũng nên giảm án cho phạm nhân, Không nên ‘Bức Tử’?!
8/ Những ‘Tội về Chính trị’, thuộc An Ninh Quốc gia: Người Phạm tội nặng, nhẹ thế nào đó, thì do họ có lập trường, có chánh kiến, có hoài bão, ước vọng, lý tưởng của họ, hoặc có thể do họ bị quyến rủ, bị ép buộc, bị khống chế…! Trên đời, “Không Ai Hoàn Toàn” (“Nul n’est parfait ici-bas”) thì “cũng Không Có Tư Tưởng nào, Lập Trường, Chủ trương, Quan niệm, Chánh kiến, Chế độ, luật lệ nào v.v…’Hoàn Hảo’ hết! Có phải vậy không?! Tốt có, thì Xấu cũng có; Đúng có, Sai Lầm cũng không tránh khỏi; có ích lợi cũng có tai hại; có ưu điểm thì bên cạnh cũng có khuyết điểm. Hể có ‘quân tử thì cũng có ‘Tiểu nhân’ một bên! Cũng như có “Dương” thì cũng có “Âm”, không bao giờ thiếu mất một trong hai. Vậy thì tại sao chúng ta bắt buộc người khác phải chấp nhận theo chủ trương, lý tưởng v.v..của ta mà không được thực hiện lý tưởng của họ, cho là họ SAI, họ LẦM ?! Tại sao ta cho rằng ta ĐÚNG, người khác SAI? Cũng như “5 người Mù xem VOI”! Mỗi người chỉ rờ vào để quan sát một phần nơi cơ thể Con Voi mà thôi! Thế rồi người nào cũng quả quyết cho rằng mình diễn tả hình dáng Con Voi Rất Đúng, rất chính xác, còn tất cả những người khác đều SAI bét?! Hóa ra Ai cũng Đúng, theo sự nhận xét, hay theo kinh nghiệm cá nhân mỗi người, nhưng mà là SAI theo tổng thể, theo nhiều phương diện, nhiều khía cạnh, nhiều mặt, mà vì chưa rõ biết, chưa thấy, chưa từng trãi?! Nếu thấy họ quá-nguy-hiểm-cho-chế-độ của mình, cho sự lãnh đạo, cai trị, lèo lái Con Thuyền Quốc gia mà mình đang đảm trách, thì tại sao không-Giam-Cầm-Họ lại mà lại ‘sát hại’?! Và kiên nhẫn dùng chính sách NHÂN ĐẠO, để cảm kích, để lôi cuốn, để họ tâm phục khẩu phục ?! Nếu không thành công đi nữa, thì cũng Nên-Tôn-Trọng-Ý-Chí, Quyền-Tự-Do-Của-Con-Người, Sự Dũng Cảm của họ. Vậy thì cứ Giam-Cầm-Họ-lại, đối xử tử tế, nhân đạo, để cảm hóa, cho đến khi nào có thể trả lại Tự Do cho họ, không được sao?! Lại còn sẽ gây ảnh hưởng Tốt Đẹp sâu sắc cho Chế độ. Tiếng đồn Lành sẽ vang xa, và sẽ không vô tình ‘Làm Hư Hỏng Chế Độ ! Dù cho có Thất Bại , không thu phục được họ thì vẫn lưu được ‘Tiếng Thơm Tiếng Tốt’ muôn thuở trong sách sử! Có vậy mới đúng là có Chánh Nghĩa! Và Chánh Nghĩa, Công lý bao giờ cũng thắng! 9/Huống chi, Công Lý, là cái lý công bằng, là phải Chí Công, Vô Tư. Chí là hết sức, là rất, Công là công bằng, công minh, công chính, không thiên vị, không nghiêng lệch bên nào! Chí Công là Rất-Rất-Công-Bằng, không thiên vị một ai. Vô là không, tư là tư lự, là tư tưởng, nghĩ ngợi. Vô Tư là không tư tưởng lung tung, không nghĩ ngợi đủ điều lợi hại, là hồn nhiên, trong sáng, không có điều gì vẫn đục, mờ ám, khuất lấp ….. Một khi đã Bất Bình, Không Thể Chấp Nhận Cái Việc Tước Đoạt Sinh Mệnh của Bất Kỳ người nào, thế thì vị Thẩm Phán nếu tỉnh bơ tuyên bố ‘Xử Tử’cái người đang bị xét xứ, ‘Dứt Bỏ Mạng Sống’ của họ thì không phải là mâu thuẩn hay sao???!!! Vì một khi đã Phẩn nộ, đã hết sức bất bình hành vi cùng hung cực ác của Kẻ Sát Hại Nhân Mạng người khác, họ đã nhúng Tay vào Máu, tước Đoạt Mạng Sống của Người khác, thì vị Quan Tòa phải hành động khác họ: Nếu “Xử Tử Hình” người tội nhân ấy, thì không phải đã ‘Ra Tay’ giống y tội nhân đã làm rồi?! Thì chẳng khác nào một người cha thường hay rầy la phản đối kịch liệt người con chớ có “cờ bạc”, rượu chè, mất hết tư cách Con Người, mà người cha thì ngày nào cũng ‘Ghi Số Đề”, và hay được bạn bè mời đi “nhậu lai rai” giải sầu là sao? Thế thì có dạy răn được người con hay không?! Vậy thì, hóa ra “Chẳng có ai được phép, được quyền “Giết Chết” ai, mà chỉ có Quan Tòa, nhà lập pháp, và nhà lãnh đạo Nước MỚI CÓ QUYỀN “XỬ TỬ” người này người nọ thôi?! Luật Pháp đặt ra là để giữ gìn an ninh trật tự trong nước, là để giáo dục toàn dân, dù chức vị lớn cở nào thì cũng phải xử tội, nếu có tội, để ‘Làm Gương” mà không bỏ qua, không tha thứ Lỗi Tội. Đó cũng là bổn phận, là trách nhiệm và cũng là quyền lực của Nhà Lãnh đạo Nước, người quyết định cuối cùng ( là Vua, là Tổng Thống, là Chủ tịch Nước). Cho nên, ‘Nhà Cầm Quyền’ tức ‘Chánh phủ’, nói chung, nhà Lập Pháp và Quan tòa, nói riêng, ‘Không-Kết Án-Tử-Hình dù ai có ‘Trọng Tội’ nào, thì có nghĩa là Tha-Tội-Chết , mà Bắt-Tội-Sống, là “Giam Cầm lại”! Đó là một sự trừng phạt nặng nề, đau khổ nhứt! “Nhứt nhựt tại ‘Tù’, thiên thu tại ngoại!” THA CHẾT là THA-KHÔNG-GIẾT-CHẾT,chứ không phải THA-KHÔNG-BẮT-TỘI mà phải Xử TỘI đã làm! Và tùy theo cách gây tội mà ra hình phạt. Chỉ trừ trường họp “BỊ CÁO” không có LỖI TỘI , hoàn toàn do nguyên cáo. hay rủi ro thế nào đó, thì bị cáo mới được TRẮNG-ÁN.
10/Đã là NGƯỜI thì AI cũng có QUYỀN SỐNG! Và tất cả ai ai cũng đều CÓ-QUYỀN- TỰ-DO! Vì TỰ DO là cái QUYỀN THIÊNG LIÊNG CAO QUÝ NHẤT CỦA CON NGƯỜI ! Con Người mà MẤT ĐI QUYỀN TỰ DO rồi, tức là BỊ TƯỚC ĐOẠT “QUYỀN ĐƯỢC SỐNG” theo Ý Muốn của mỗi người, không-Được-Tự-Mình-Làm-Chủ-Lấy-Mình, Bị khống chế , bị câu thúc, bị bắt buộc nhất nhất phải làm theo lệnh, theo ý người khác, là-bị-tước-đoạt-QUYỀN-LÀM-NGƯỜI, thì còn gì đau đớn, thống khổ, bi ai, cực nhục cho bằng ! Thì Con Người đó chẳng khác gì một ‘CON VẬT”, thì không phải là đáng thương tâm lắm lắm sao?! Họ làm sao sống có Ý Nghĩa, Sống Đẹp, Sống Vui, Sống Hiên Ngang, Hùng Dũng ?! Không-một-ai-có-quyền-Tước-Đoạt ‘Quyền TỰ DO’ thiêng liêng cao quý của bất kỳ ai! Phải vậy không?! Không ai có quyền Bắt-Buộc-Ai-Phải-Sống-Theo-Ý-Của-Ai! Chỉ trừ khi nào:LÀ KẺ CÓ TỘI, Nặng, Nhẹ, tùy theo đó mà Giam Cầm, lâu hay mau! Huống hồ họ còn bị hành hạ khổ sở thế nào đó về thể xác cũng như tinh thần, thì há không phải là họ sẽ Sống-Đau-Thương, Thống-Khổ, Tũi-Nhục, Sống-Không-Bằng-Chết hay sao?! Cần gì phải “Giết Chết”! Nếu suy gẫm cho cùng, chính những kẻ sát nhân, hại người tàn ác thì chính những kẻ đó mới là những Con Người khốn khổ đáng thương. Vì họ còn quá Mê Muội nên mới Thấp Kém, mới Hung Ác. Để rồi, họ sẽ phải ‘Đền Tội’, phải chịu ‘ Quả Báo’ cho việc tàn ác họ đã làm! Và họ sẽ còn thê thảm hơn những người đã bị họ làm khổ! “Ác nhân Ác Báo” không tránh đâu cho khỏi, dù họ có được tha thứ cở nào, họ cũng không tránh được luật “NHÂN QUẢ”, nói nôm na là “Lưới Trời”. Người thế gian dù có xử phạt thế nào vị tất cân xứng với hình phạt của họ phải thọ lãnh!
11/ Có điều, tôi cứ lấy làm lạ và thấy thật đáng tiếc! Vì nghĩ, quý giới chức lãnh đạo quốc gia, đại diện nhân dân, cầm quyền, lèo lái con thuyền quốc gia, và các vị Chánh án, các quan tà, là người đại diện Công Lý, là những người có quý tướng, có địa vị cao sang quyền quý trong xã hội, được mọi người trọng vọng nể kính, thế mà chỉ vì những kẻ ‘Có Tội’ mà lại vô tình khiến tự bản thân bị lôi cuốn theo ‘Kẻ Ác Dữ’, và điềm nhiên tọa thị một cách vô tư vô lự ‘tự Chiêu Lấy Tội Ác’ khi bất bình mà lên ‘án Tử Hình’, buộc kẻ Có Tội Phải Chết (!) là vô tình tự chiêu lấy Sự Nghiệt Ngã cho chính bản thân mình! Một khi ‘Tuyên Án TỬ’, tức là ra lệnh ‘GIẾT CHẾT’, ‘BỨC TỬ’, để rồi phải mang TỘI BÁO thảm hại về sau, thì chẳng phải là đáng tiếc lắm sao?! Sao lại để phải đến nỗi như vậy?! Là người-Vô-Can, sao lại đi Gánh-Lấy-Cái-GÔNG-Vào-Cổ, ôm lấy nỗi đoạn trường cho tự thân về sau này?! Họ GIẾT NGƯỜI, quan tòa đứng ra xét xử, để đem lại ‘An ninh’, ‘Trật tự’ cho xã hội, đem lại sự Bình An cho người người, và hướng Con Người về với CHÂN THIỆN MỸ, mà sao Ra-cái-Lệnh “PHẢI GIẾT CHẾT”, là “Tước Đoạt Mạng Sống của Một Người”, chứ đâu phải bảo giết con heo, con gà, con chó, con dê…cũng có ‘Tội báo’ nữa mà! Vậy thì không phải chính’Quan Tòa’, hay Chủ Tịch Nước, hay Tổng Thống, bị cuốn hút theo kẻ-có-tội nên tỉnh bơ phạm đúng y theo vào cái ‘sự-Giết-Người’, và vô hình chung trở thành là “Người-Sát-Nhân” kế-tiếp theo sau kẻ ác dữ đó hay sao?! Không phải vậy sao?! Sao lại thế hỡi quý quan tòa, hỡi quý vị lãnh đạo quốc gia các nước?!
12/ Không ai phản đối các nhà lãnh đạo nước (Vua, Nữ hoàng, Thổng Thống, Chủ tịch Nước) , thế nhưng mà, theo như Đức Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni đã từng khuyên nhủ chúng sinh rằng: “Trồng Dưa được Dưa. Trồng Đậu được Đậu” . Nếu làm điều lành, tốt, thiện hảo đem lại an vui sung sướng, hạnh phúc cho người khác, thì sẽ được hưởng PHƯỚC BÁO. Còn nếu trái lại, gieo rắc đau thương khổ não cho ai, thì rồi, dù vì bất kỳ lý do gì, một ngày nào đó, sẽ phải hứng lấy TAI HỌA, tức là phải chịu TỘI BÁO, phải ‘đền Tội’ đã gây tạo mà thôi! “Không nên “BẤT MUỘI NHÂN QUẢ!” Đó là LUẬT BÁO ỨNG, là LUẬT NHÂN QUẢ, là gieo ‘Nhân’ nào thì gặt ‘Quả’ đó! Có ai gieo hạt xoài Cát Chu mà lại gặt hái được trái Xoài Cát Hòa Lộc không?! Và một khi một hạt xoài, mít, xoài riêng …chi chi đó, gieo xuống rồi ( gieo ‘hạt’ là gieo‘NHÂN’ ) thì có bao giờ vài ngày hay vài tháng sau là thu hái được quả mít, trái xoài v.v…để ăn được liền không, mà không phải chờ đợi đủ ngày tháng, tùy loại, mới ra hoa, rồi mới kết trái , rồi lại phải chờ thời gian để trái già, chín, mới thu hoạch được sao ( hái ‘trái’ là được‘QUẢ’ )?! Cũng vậy, một khi làm việc Thiện Lành, hay điều Ác Dữ, thì cũng phải chờ một thời gian, tùy việc, phải hội đủ nhân duyên mới được thọ hưởng ‘Phước báo’ (việc Lương thiện ) đã làm, hay gặp khốn khổ thế nào đó (Tai ách, Hoạn họa) phải chịu ‘Tội Báo’ để đền lỗi tội đã làm! Nếu chưa thấy được thọ hưởng ‘Phước’ chi, hay chưa bị trừng phạt, bị ‘Họa, Tai’ chi, nên cho rằng là không có ‘Phước Báo’ hay ‘Tội Báo’ chi hết, nên không hãi sợ, nên cứ điềm nhiên tác ác túa xua, thì không phải là MÊ LẦM lắm sao?! “Trước khi làm việc gì thì phải nghĩ đến kết quả của nó”. Đức Phật đã dẫn dắt Con Người nên dùng lòng Từ Bi Nhân Thiện đối với nhau, để người người được Sung Sướng, An Vui. Ta đem sự sung sướng vui vẻ bình an đến cho người thì người cũng đối lại với ta như vậy, tức là ta cũng sẽ được An Lành, được HƯỞNG PHƯỚC! Làm trái ngược lại, chỉ gieo đau khổ, tạo nhiều nỗi đoạn trường cho ai thì sẽ bị ĐỀN TỘI đã gây tạo, phải KHỐN KHỔ, gặp lắm HỌA TAI, còn khổ hơn họ nhiều. “Gieo Gió thì gặt Bảo!” Như đức Chúa JÉSUS CHRIST đạo Công giáo, đã từng khuyên, từng dẫn dắt các ‘Con Chiên’, tín đồ của Đức CHÚA rằng: “Hãy tra gươm vào vỏ, Những kẻ ‘Dùng Gươm’ thì sẽ phải CHẾT ‘Vì Gươm’!”. Thế thì không phải Đức Chúa đã khuyên răn Con Người nên có lòng ‘Bác ái’ đối với nhau sao? Là ‘Không nên tàn sát nhau, giết hại nhau sao? Vì ‘Giết Người’ thì sẽ bị ‘ Người Giết’ lại! ĐỨC KHỔNG TỬ cũng đã khẳng định : “SÁT NHÂN GIẢ TỬ!”” Đạo TIN LÀNH, cũng là Đạo tôn thờ kính ngưỡng Đức CHÚA JÉSUS CHRIST. Đặc biệt đã cho thành lập “Thành Trú Ẩn”! Đấy là nơi dành cho những người phạm TỘI NẶNG như “GIẾT NGƯỜI”, thì phải mau mau chạy đến ẩn trú nơi ‘cái Thành’ đó, để khỏi-bị-GIẾT-CHẾT! Chả lẽ Đức Chúa Trời lại đi che chở, bảo vệ ‘kẻ Ác dữ’?! Thế nhưng, nơi đây có các vị mục sư hằng ngày chí thành giáo dục về Tâm Linh, khiến cho người tội phạm ý thức được TỘI LỖI của mình mà ĂN NĂN, mà thành tâm SÁM HỐI, SỮA ĐỔI, CHỪA BỎ những thói hư tật xấu, biết Kềm Chế lòng Tham Sân, chịu XẢ BỎ nỗi ai oán, mà dứt trừ sự hung ác v.v… và là để “CHỜ-GIỜ-PHÁN-XÉT”, khỏi nhọc công tìm kiếm truy bắt ! ,là để họ chờ đợi nhận lãnh hình phạt theo tội lỗi họ đã gây ra, chứ không phải là Đức Chúa bao che kẻ có tội,’THA TỘI’ họ!). Thành Trú Ẩn này có mục đích cao cả như vậy là do noi gương ‘Bác Ái’ cao cả của Đức CHÚA JÉSUS, là người vì lòng thương xót Con Người, muốn CỨU CHUỘC TỘI LỖI cho nhân gian nên đã dũng cảm nhận chịu cực hình “ĐÓNG ĐINH TRÊN THẬP TỰ GIÁ”, để phải CHẾT Đi SỐNG Lại bao phen! Và cuối cùng NGÀI đã được PHỤC SINH! Đó là kết quả của TÂM THÁNH THIỆN của Đức Chúa! Đức PHẬT Thích ca Mâu Ni, cùng Chư PHẬT Chư BỒ TÁT đã dẫn dắt chúng sinh hãy nên dùng lòng TỪ BI ban rải. “BI thể giới Lôi chấn”! Lòng TỪ BI (ban rải Tình THƯƠNG, KHÔNG HẬN THÙ ) có thể hóa giải mọi NGUY NAN! Cho nên nếu kính ngưỡng ĐỨC PHẬT, ĐỨCCHÚA… thì nên y giáo phụng hành, nên đem lòng TỪ BI, BÁC Ái đối xử với nhau, Không-Nên-Làm-Khổ-nhau, Tàn-Sát nhau!
“TỪ BI và BÁC ÁI” là sự mềm dẽo của Tình Thương, của sự Nhẫn Nại, của sự HIỂU BIẾT.
13/ Những người xấu ác, không thể làm được những điều Lành Thiện, tốt đẹp, cao quý là vì họ chưa Tiến hóa được cao, tâm linh họ còn mê muội, còn ấu trỉ, không phải sao ?! Ví như một đứa trẻ con còn ấu trỉ thể xác, mới lên 4, lên 5 tuổi. Nếu người lớn để món đồ chi trên cao, hơn vóc dáng đứa trẻ (như để trên bàn, trên kệ, trên đầu tủ) và bắt buộc đứa trẻ phải lấy cho kỳ được món đồ đó! Vậy xin hỏi đứa trẻ con ấy có vói lấy được món đồ ấy hay không, dù có nhón gót cở nào, một khi quá tầm-tay-vói của trẻ con?! Cũng thế, một người còn ấu trỉ tâm linh, thì họ còn u tối, còn thấp kém, nên còn hèn hạ, xấu ác, còn Tham Sân, còn gian xảo, quỷ quyệt, bất nhân, bất nghĩa thế nào đó v.v…tức là tâm họ còn ‘ấu trỉ’ nên còn ‘mê muội’, chưa thanh cao tốt đẹp được! Vì thế cho nên, họ rất cần phải được học hỏi, cần phải được rèn luyện, được un đúc, uốn nắn! Họ rất cần phải được ‘giáo dục’ để Tiến hóa lên, để trở nên ngày một tốt lành hơn; ‘Xả Bỏ’ Tâm Ác, ‘Phát’ Tâm Lành, thì họ mới được là người ngày càng thánh thiện, có nhân, có nghĩa, ít phạm Sai Trái, Sái Quấy, Lỗi Lầm, ít tạo Tội tạo Nghiệp Xấu, Ác, rổi sẽ dứt hẳn tác ác, mới làm được Người tốt đẹp, lương hảo, thanh cao. Những ai được Tiến Hóa cao hơn, ví như người đứng trên cao, kẻ xấu, ác phải ở dưới thấp! Vậy thì người đứng trên cao (tức người Tiền hóa hơn) có nên phun nước bọt xuống người đứng dưới thấp hơn , có nên khinh khi , ghét bỏ, tức giận, phẩn nộ, có nên nhục mạ, hành hạ, người đứng dưới thấp (kém Tiền hóa!) hay không, thì nói gì đến việc “BỨC TỬ” họ, “TƯỚC ĐOẠT MẠNG SỐNG” của họ?! Vậy có nên Từ Bỏ họ, Khử Trừ họ, Giết Chết họ không?! Một khi người đứng trên cao (đã Tiến hóa) mà phun nước bọt, tức khinh thị nhục mạ người đứng dưới thấp thì người đứng dưới thấp (hèn hạ, xấu xa, độc ác v.v..) sẽ phải lãnh đủ sự nhục nhã, xấu xa, họ phải gục mặt tủi hổ, ai cũng chê bai khinh ngạo! Làm sao né tránh cho được?! Và trái lại, nếu người đứng ở dưới thấp hơn mà ngửa mặt phun nước bọt lên người đứng ở trên cao hơn (tức là người có nhân, có đức), thì người càng đứng trên cao chừng nào, tức phẩm hạnh càng lớn, càng cao, thì liệu người đứng dưới thấp có phun trúng tới được người đứng trên cao hơn không ? Và ‘nước bọt ấy’ sẽ phải rơi xuống ngay từ chỗ nó đã xuất phát, phải vậy không?! Tức lả cuối cùng thì kẻ xấu xa, tồi tệ. bạc ác chừng nào thì chính họ sẽ phải lãnh đủ sự nhục nhả, sẽ phải bị khinh chê nhiều chừng ấy. Họ sẽ phải KHỐN KHỔ thôi, theo luật ‘NHÂN QUẢ’. Đó chính là ‘LUẬT BÙ TRỪ’ (‘La Loi de Compensation’) đấy mà thôi!!! Vậy thì, chẳng phải là:Làm điều gì thì sẽ nhận y chang điều đó hay sao, dù THIỆN dù ÁC? Vậy thì, nếu Luật Người Không-Xử thì Luật Hóa Công trong Tạo vật, cũng sẽ xử! “THIÊN VÕNG KHÔI KHÔI, SƠ NHI BẤT LẬU!” Lưới Người có thể Thoát được, nhưng Lưới Trời lồng lộng, không một ai tránh né, thoát đi đâu cho khỏi được! Bao giờ một vật chi, như cục đá, nếu ném vào khoảng trống không thì nó sẽ mất hút, không còn thấy tâm dạng. Còn nếu ném vào vật gì, người nào, ở ngay trước mặt, trúng vào đó, lực càng mạnh, thì nó sẽ ‘Dội Trở Lại’ không sai, và càng mãnh liệt hơn, từ chỗ nó đã xuất phát !
Cho nên, đối với Những KẺ CÓ LỖI, CÓ TỘI, thì nên làm thế nào để họ thấy, biết , hiểu là họ CÓ LỖI, CÓ TỘI!
Không phải là để NHỤC MẠ, PHỈ BÁNG, HÀNH HẠ HỌ , mà là để DẪN DẮT, để giúp họ Ý Thức “LỖI TỘI chỉ đem lại bao ĐAU THƯƠNG THỐNG KHỔ, nhứt là cho chính bản thân, hơn ai hết, khi GÂY ĐAU KHỔ CHO AI!
Một khi họ ý thức được rồi, thì họ sẽ tự động XẢ BỎ, ĐOẠN TRỪ LÀM VIỆC ÁC HẠI NGƯỜI, sẽ KHÔNG TÁI PHẠM nữa!
Vậy cần có biện pháp, phương cách tốt để hướng dẫn, giáo dục sao cho có hiệu quả! Nếu GIẾT CHẾT KẺ CÓ TỘI, mà không DẪN DẮT, KHÔNG CHỈ BÀY, KHÔNG CHO HỌ CÓ CƠ HỘI để cho họ THẤY, BIẾT, HIỂU, để HỌ nhận chân được rằng: những gị họ đã GÂY TẠO Cho Người Khác thì là chính họ sẽ PHẢI NHẬN, PHẢI RƯỚC LẤY, sẽ PHẢI LÃNH ĐỦ những gì họ đã làm, đã gây tạo! Và một khi giúp họ nhận chân được điều đó thì xin thưa rằng: Họ có còn DÁM LÀM VIỆC BẤT PHẢI, CÒN DÁM GÂY TỘI ÁC nữa không, nếu KHÔNG Giải Bày thấu đáo, KHÔNG DẪN DẮT được, và « Không Cho họ Có Cơ Hội » nhận chân “ Triết lý” ấy thì không phải là tàn nhẫn lắm sao, là vô tình lắm sao , là thiếu HIỂU BIẾT, là thiếu lòng TÙ BI THƯƠNG XÓT giữa CON NGƯỜI với CON NGƯỜI lắm lắm hay sao?!
14/ Đó là nói những người phạm tội trong mọi thành phần trong một quốc gia và quốc tế.
Còn đặc biệt với người lãnh đạo một nước, nếu là Tổng Thống, hay Chủ Tịch Nước, hay vua chúa, nếu có PHẠM TỘI TRỌNG gì, thì trong lúc họ còn tại vị, nếu có quyết định chi mà nhân dân thấy có nguy hại cho người dân, cho đất nước thì, tại sao người người trong cả nước không cùng đứng lên, họp lại dũng cảm can gián, khuyên ngăn chí tình, lại cuối đầu tuân phục lệnh ban ra ?! Rồi đợi đến khi họ mãn nhiệm kỳ, hết Chức hết Quyền, người dân mới nổi lên phản đối, xử TÀN NHẪN, TỆ BẠC, ĐỘC ÁC, công khai Luận Tội Nặng và KẾT ÁN TỬ HÌNH, dù dưới bất kỳ hình thức nào!!! Họ nếu Có TỘI, thì người DÂN KHÔNG CÓ LỖI sao?! Dù họ đã mãn nhiệm kỳ, trở lại làm người bình thường trong Nước, nhưng đó cũng là một người đã từng lãnh đạo nước bao nhiêu năm, không có công lao gì với quốc gia dân tộc hay sao mà lại nở đem ra XỬ TỬ một người đã từng được Tiền-Hô-Hậu-Ủng, bao người phải kính cẩn nghiêng mình chào đón, rước đưa rần rộ, uy nghiêm, hiển hách ?!!! Nếu không-khép-chặt-cửa-lòng, mở rộng lòng Từ Bi Bác Ái Nhân Thiện cho những người phạm tội một ‘Con Đường Sống’ để họ TỈNH THỨC, để ĂN NĂN, HỐI NGỘ, SÁM HỐI LỖI TỘI thì không đáng thương tâm lắm sao! Đối với loài động vật hạ đẳng như con Khỉ, con Ngựa, con kiki, con ột ệt, con Trâu, con Cọp, con Beo, con Voi v.v…mà còn huấn luyện được thay, thì với Con Người có Trái Tim Biết Cảm, có Khối Ốc Biết Nghĩ Suy, thì làm sao Không-Cảm-Hóa được, không rèn luyện, giáo dục được sao?! Và đối với người bình dân còn nên như vậy, huồng hồ từng là một vị nguyên thủ quốc gia của cả nước ?! Nếu có TRỌNG TỘI chi Không-Thể-Tha-Thứ được, thì sao không cho LƯU ĐÀI NGƯỜI ĐI BIỆT XỨ, mà CHẲNG NÊN KHỬ TRỪ, DỨT TUYỆT MẠNG SỐNG để họ có-thì-giờ-rộng-rãi BÌNH TÂM Nghĩ Suy mọi lẽ?! Chắc chắn họ sẽ Ân Hận sâu sắc và sẽ SÁM HỐI !
15/Một điều nữa, nếu cho rằng là ‘tâm linh kẻ Xấu Ác còn Thấp Kém’, cũng không hẳn có nghĩa là họ đều là những Con Người ngu dốt, khờ khạo, hạ tiện, u tối, mà có thể đó là những người cực kỳ thông minh, tài giỏi, cũng chưa biết chừng! Nếu họ Tỉnh Thức ‘quay đầu lại’, quyết chịu dứt trừ xả bỏ tập nhiễm xấu ác độc dữ, tham lam, tàn nhẫn v.v…, thì họ lại là những người rất đặc sắc, tuyệt vời, là người đắc dụng, xã hội rất nhờ cậy! Có giống cây ăn trái, hay bông hoa chi đó, hể đó là một loại cây trái quý hiếm, rất ngon , rất bổ dưỡng, hay là một loại bông hoa vừa đẹp vừa thơm kỳ lạ thì thường rất khó trồng, hay có nhiều sâu bọ! Nếu ‘nhà làm vườn’ biết kiên nhẫn, chịu khó chăm sóc, cắt tỉa lá sâu cành hư, bón phân tưới nước cẩn thận mà-không-nhổ-quăng-vứt-đi, thì rồi sẽ gặt hái được những trái thơm ngon, những đóa hoa tươi đẹp, rất quý hiếm ! Con Người cũng vậy. Không ai là người đáng-phải-BỎ-ĐI, đáng phải Giết, phải Chết! Đến như sạn, sỏi, cát, đá, cây cỏ nhỏ nhoi trên trái đất mà cũng còn hữu ích, huống hồ là một Con Người! Nếu biết cảm hóa, biết hướng dẫn người xấu ác dữ, biết cách ‘chuyển tâm họ’ để họ ‘quay đầu lại’, xả bỏ TÂM ÁC PHÁT TÂM LÀNH thì họ lại là những Người rất năng nổ, đa tài, đắc dụng. Họ dù cùng hung cực ác thế nào cũng có vài đức tính đáng ngưỡng mộ, có ích cho nhân quần, một khi được cảm hóa. “Sắt’ mà ‘được toi’ trong lò luyện với ‘lửa cao độ’ thì sẽ trở nên là “THÉP” rất đắc dụng! ‘Không ai hoàn toàn TỐT LÀNH, THIỆN HẢO!’ Cũng không ai hoàn toàn XẤU ÁC , BẤT NHÂN BẤT THIỆN’! Vậy thì có nên phát tâm TỪ BI, BÁC ÁI, THƯƠNG XÓT, những người còn thấp kém, xấu xa, hèn hạ, nham hiểm, độc dữ , cùng hung cực ác thế nào đó không??? “CÓ HIỂU BIẾT MỚI THƯƠNG YÊU”, MỚI XÓT XA! Đức PHẬT đã dạy khuyên như vậy.
Nói tóm lại, CÔNG LÝ thì phải Nghiêm Minh, Công Bằng, Vô Tư, nhưng cần phải có TỪ BI, BÁC ÁI kèm theo, thì mới tạo được AN VUI HẠNH PHÚC cho người người, giúp nhau TIẾN HÓA!
Một triết gia, trong quyển “Zen và Ý Thức về Ăn Chay’, tr. 220-222 đã than rằng “Kiếp nhân sinh sở dĩ lắm ĐAU THƯƠNG là vì CON NGƯỜI ‘THIẾU LÒNG TỪ BI’ đối với nhau: Con Người khép chặt cửa lòng. Cam tâm ‘nô lệ’ cho SI, THAM, SÂN, ÁI (ái dục và Chấp trước), kiếm đủ cớ để chia rẻ nhau, lửa bịp nhau, lung lạc nhau, ngược đãi nhau, khống chế nhau, hận thù nhau, tranh đoạt nhau, tàn hại nhau, gieo rắc biết bao đau thương thống khổ cho nhau! Nào hay tự mình là người Khổ Trước, trên hết và nhiều hơn hết.” Ni sư AYYA KHÉMA Ấn Độ cũng nhận xét chí lý rằng:” Tất cả chúng tađều là KHÁCH trên trái đất này! Không ai sở hữu được thứ gì, dù là những gì thân, yêu, quý, nhất của ta!” Đức ĐẠT LAI LẠT MA Tây Tạng đã than thở và có ý khuyên răn, nhắn nhủ người đời rằng: “Chào Đời hai bàn tay trắng! “Lìa Đời trắng hai bàn tay! “Sao mãi nhặt cho đầy? “Túi Đời như Mây bay?!” Vậy thì tại sao Con Người không ý thức điều chí lý ấy để HIỂU BIẾT, để kềm chế thất tình lục dục, để cảm thông nhau, để cố gắng ban rải TÌNH THƯƠNG cho nhau, để rồi tha thứ cho nhau, xóa bỏ tất cả ‘oan trái’, ‘hận thù’, không ai làm ‘Đao Phủ’ của ai nữa, thì lo gì khi chết đi phải sa ‘ĐỊA NGỤC’, khi chinh Con Người đã tạo lấy biết bao cảnh Địa Ngục thê thảm nơi trần gian này rồi! Rất nhiều người đã vô tình đóng vai những kẻ ‘Đầu Trâu, Mặt Ngựa’ tay-thước-tay-đao, và biến nhau thành những kẻ “Tội Đồ”, những kẻ “Bị lưu Đày” thê lương, thống khổ?!
Hỡi quý giới chức Lãnh đạo các Nước, hỡi các nhà Lập pháp, hỡi quý vị quan tòa nước VIỆT NAM và trên toàn thế giới, hãy suy gẫm lại xem:“CÓ NÊN LÊN ÁN TỬ HÌNH NHỮNG TRỌNG TỘI KHÔNG???”, dù là Trọng Tội gì, dưới bất kỳ hình thức nào ???
Và các vị lãnh đạo Nước nếu có phạm lỗi chi nặng, thay vi LUẬN TỘI và Lên ÁN XỬ TỬ HÌNH thì người dân có nên chỉ cho « LƯU ĐÀY ĐI BIỆT XỨ », THA TỘI CHẾT mà KHÔNG THA TỘI SỐNG vậy?! CÓ ĐƯỢC KHÔNG???
16/ Và sau đây, xin lạm bàn thêm về vấn đề ‘HẠN CHẾ SINH SẢN’ để bảo vệ SỨC KHỎE CHO NGƯỜI MẸ, là bảo vệ Hạnh Phúc Gia Đình, tức bảo vệ An Vui, Cường Thịnh cho xã hội, cho quốc gia! Nếu-Sanh-Con-Quá-Nhiều thì Nuôi Dạy Cực Khổ và Khó Chu Toàn Cho Tất Cả Các Con, nhất là các trẻ sanh sau chót! Và gây khổ nhọc, thương đau nhất cho người “LÀM MẸ”, người phụ nữ. Nhưng, thay vi Chỉ-Sanh “HAI-CON” mà thôi, thì CÓ-NÊN-CHO-SANH “BA-CON”??? Vì rằng:
1/ Tài nguyên thiên nhiên tối yếu trong vũ trụ là có BA: THIÊN–ĐỊA–NHÂN. Đó là “TAM TÀI”:Trên là TRỜI, Dười là ĐẤT, ở giữa là CON NGƯỜI! TRỜI CHE TA, ĐẤT CHỞ TA. Có BẦU TRỜI CON NGƯỜI mới có Không khí để thở để Sống Còn, có ánh sáng mặt trời, mặt trăng, các vì tinh tú, Con Người mới có sinh khí để Sinh Tồn.
Và CÓ ĐẤT thì CON NGƯỜI mới có nơi ăn chốn ở, mới tạo dựng được nhà cửa để cư trú. CÓ ĐẤT mới trồng trọt, mới có được ruộng vườn, cây trái, hoa mầu; mới có sông, hồ, ao, rạch ; mới có núi đồi, rừng cây, biển cả; mới có các loài động vật, thực vật! Thì, CON NGUÒI mới có gạo, có thức ăn , mới có muông thú v.v.. thì CON NGƯỜI MỚI CÓ THỂ SINH TỒN được! 2/ Đứa Con Thứ Ba thường lại là‘Kinh Nghiệm’ của 2 người ‘Cha và Mẹ’ (Nam-Nữ) chung sống với nhau, có kinh nghiệm trong sự hòa hợp thể xác và tinh thần, về đời sống kinh tế, lịch lãm hơn, vững chải hơn, thoải mái, nhẹ nhàng hơn, về vật chất cũng như tinh thần. Và có sự thương yêu quí mến, trân trọng nhau, hạnh phúc bên nhau hơn, nên khi bào thai được kết tụ sẽ được hưởng nhiều lợi lạc về nhiều phương diện hơn hai lần đầu. Cho nên, các vĩ nhân, những thiên tài, những người con ưu tú về tài đức, thì có thể thường thấy xuất hiện ở người con thứ 3e! Phải vậy chăng? Vậy, “NẾU CẢN” ‘KHÔNG-CHO-SINH-ĐỨA-CON-THỨ-BA’ thì gia đình cũng như xã hội, quốc gia, Đất Nước sẽ Mất-Đi-Biết-Bao-Nhân-Tài, có thể đó là nhà bác học, là bác sĩ, lương y đại tài, là nhạc sĩ, văn sĩ, thi sĩ, hiền triết nổi tiếng, là vĩ nhân, cũng chưa biết chừng v.v… Đó là những Con Người Ưu Tú! 3/a- Vả lại, có thể nói không quá đáng chăng: Nếu không-cho-sanh-đứa-Con-Thứ 3e thì, nếu lở đã kết thành Bào Thai, dù chưa tượng hình hay đã thành hình, người Cha và người Mẹ vì Sợ-Phạm-Luật sẽ bị phạt, nên phải uống thuốc PHÁ-THAI, hay dùng phẩu thuật thì, chẳng khác nào như là XỬ-TỬ-một-Người-đang-còn-trong-Bụng-Mẹ vậy !!! Trẻ đó có TỘI gì mà phải
BỊ XỬ TỬ ?!
3/b- Hoặc, Để-Ngừa ĐẬU THAI, thì người đàn bà Phải-Uống-Thuốc-Ngừa-Thai, RẤT -RẤT-NGUY BIẾN! Đó là cả một Tai-Họa! Vì, Nếu Rủi Đậu Thai thì chắc chắn Đứa-Trẻ-Sanh-ra-Thường-Bị-Dị-TẬT, đủ mọi loại; hoăc Trí Suất IQ RẤT-THẤP-KÉM (!), có khi chẳng khác nào một-loài-động-vật-hạ-đẳng, chỉ biết ĂN UỐNG NGỦ mà thôi ! Ngoài ra không biết sinh hoạt chi hết, ngay như tắm rửa, mặc áo quần, cầm đủa muỗng v.v..cũng không biết làm, có người lại không thể nói năng được, không biết thương yêu giận ghét v.v…thì làm-sao-Làm-Một-Con-Người để Tiến Hóa lên?!!! Đó là một CON NGƯỜI BẤT HẠNH, và là gánh nặng cho gia đình và xã hội!!!
3/c- Hoặc, Nếu đặt-Vòng-Xoắn để TRÁNH ĐẬU THAI’ thì, đó là một vật bằng kim loại, đặt vào bộ phận sinh dục người đàn bà! Đặt vào trong mình lâu ngày có thể sanh bệnh KHÓ-TRỊ (cancer) thì đáng thương biết bao! Một khi người đàn bà trong gia đình BỆNH HOẠN thi biết bao vấn đề bi thảm sẽ đến với gia đình đó!
3/d- Nếu theo luật ÂM DƯƠNG thì ‘HAI’ là ĐÚNG! Nhưng trong vũ trụ có Tài Nguyên Thiên Nhiên là “TAM TÀI”, là 3 BẢO BỐI RẤT QUÝ, thì thiếu mất một rồi vậy!!! Nếu chỉ có BẦU TRỜI và TRÁI ĐẤT mà Không-Có-CON-NGƯỜI, thì đó chỉ là tình trạng sơ khai thuở Tạo-Thiên-Lập-Địa mà thôi!!! Vậy thì “Chẳng-nên-chỉ-cho-sanh-Hai-Trẻ” mà là “NÊN-CHO-SANH “ĐỨA-CON-THỨ-BA”, phải vậy không???!!! Vì đức HIẾU SINH xin có đôi lời trăn trở, xin quý vị Nguyên thủ quốc gia và các Nhà Lập pháp, trong nước và trên thế giới suy gẫm minh triết.
23/02/2020
GIÁC ĐẠO-LÊ THỊ NGUYỆT ÁNH Một Cựu Giáo Chức VĨNH LONG (Cựu Chuyên viên Nghiên cứu Giáo Dục SAIGON trước 1975)