Vừa chuyển lên FB và gửi qua email chia xẻ cùng bè bạn bài tản mạn vui về…Những tam giác thiên thần, có nhiều phản hồi từ khắp nơi như sau:
Một chiến hữu già từ Paris viết qua:”Sao toa lại khều “Chống Tàu Diệt Việt Cộng” vào đây làm loãng đi tính dí dỏm của bài viết?”
Có một người bạn khác trên FB tuổi trên dưới 60 (do một người bạn khác cho biết) phán:””Em” tức tác giả còn quá trẻ trung”.
Một người bạn trong Nhóm chụp hình COFFA cho ý kiến:”Ha ha, anh bấy giờ lại có ý nghĩ …lợn cợn rồi đây. Ý nói là kỷ niệm xưa của tam giác tt thôi bác ah!!! nhớ ngày xưa các nữ sinh trung học phải mặc áo lót phía trong áo dài nữa, nên tam giác tt phải đợi tới cuối tuần!!!”
Nhận định của một nữ nhân trên FB:”Cám ơn anh những nhận định về tam giác thiên thần bên chiếc áo dài VN, một nhận định không giống phàm phu tục tử mà nó thuộc hàng tao nhân mặc khách. Hiện nay giới trẻ họ thích cách tân nhưng áo dài truyền thống với tam giác thiên thần vẫn còn hiện diện xuất hiện nhiều nhất ở các con chiên đi lễ nhà thờ Công giáo.”
Một người trẻ khác góp ý:”Chiếc áo dài với tam giác thiên thần của tác giả hiện giờ đã thành hiếm lạ tại quê nhà rồi, người ta chỉ thích Tây đầm cho sang trọng thôi!?”
Một nữ nhân vui tính viết lên mạng:”Mới đọc đến hình tam giác đã …hết hồn rồi.”
Một BS ở Việt Nam, Đại diện cho Quỹ Khuyến học Cao Đài xuất khẩu thành thơ:”Thấp thoáng em về trong giấc mơ – Chập chờn áo lụa tóc buông hờ – Em là ảo vọng hay mây trắng – Để lại hương thầm cho khách thơ.
Thân tặng ai còn mơ áo dài.”
Và để giữ lời hứa, hôm nay người viết bắt đầu truy tìm trên mạng về những hình ảnh biếm họa về những tam giác thiên thần trong chiếc áo bà ba. Có khó khăn gặp phải là các hình ảnh chiếc áo bà ba cổ truyền dành cho các cô gái miền Đồng bằng sông Cửu Long chơn chất hầu như không còn nữa. Đó là hình ảnh chiếc áo bà ba cổ tròn đơn sơ, vạt áo ngắn vừa đủ để che phủ “bàn tọa” và chiếc quần lãnh đen óng ánh màu xanh đậm do phẩm màu từ trái mặc nưa mọc đầy rẫy ở vùng Châu Đốc dọc theo biên giới Miên – Việt.
Có thể nói, hình trên mạng bây giờ chỉ trình bày những chiếc áo bà ba đủ màu sặc sỡ, có tà áo rất dài đôi khi chỉ ngắn hơn tà áo dài chút xíu mà thôi. Và chiếc quần lãnh đen được thay thế bằng các màu tổng hợp, nhiều khi áo bà ba và quần cùng một màu không thể nào so sánh được với chiếc quần lãnh đen dân tộc được!. Tất cả biến thể không còn là chiếc áo bà ba nguyên thủy nữa, không khác chi biến thể Delta của con Covid Wuhan!
Trở lại hình ảnh tam giác thiên thần qua chiếc áo ba ba, đây cũng là một trong những hình ảnh đặc thu của miền Nam sông nước. Chiếc áo bà ba hiện diện khắp nơi trong mọi sinh hoạt của người dân dù nam hay nữ, trong tư thế ngồi, lúc giã gạo, lúc giặt quần áo bên bờ sông, khi chèo ghe, lúc hong tóc ngoài nắng sớm… Và nhiều nhiều nữa. Đây mới chính thức là một nét văn hóa Nam Kỳ (Từ nhỏ từ những năm cuối thập niên 40 của thế kỷ trước, tôi đã từng học, từng đọc là Nam Kỳ, chứ có nào nghe “Nam Bộ” như trong hầu hết các bài viết ở hải ngoại khi nói về địa danh nầy).
Thưa bạn,
Tôi sắp nói đến sự khác biệt giữa hai “tam giác thiên thần” của chiếc áo dài và áo bà ba đây.
Các bạn có thấy điều gì khác không? Có lẽ không, tôi trả lời dùm cho bạn đó.
Nhưng đối với riêng tôi, có một khác biệt rất lớn làm cho “người ngắm” có những rung động với “nồng độ” của mức …”sững sờ” khác nhau.
Vì sao?
Thứ nhứt, hai tà áo dài rất dài phủ tận chân và được kết nối nhau bằng một nút bóp, hay một móc áo, hoặc một dây kéo (fermeture), từ đó làm cho hai mép áo tạo ra hai cạnh của tam giác khó di động được qua nhịp bước đi hay do gió…và tam giác thiên thần không linh động hay “lung linh” nếu không nói là…tam giác chết.
Ngược lại, với chiếc áo bà ba, hai tà áo ngắn do đó hai cạnh của tam giác thiên thần tương đối dễ di động hơn và cạnh huyền của tam giác là ranh giới của lưng quần lãnh đen. Khi xưa lưng quần được luồn bằng sợi dây thun cho nết không bám chặt vào thân thể người mặc. Qua hai đặc tính trên, mỗi khi đi đứng hay làm bất cứ một công việc gì, chúng ta có thể thấy được ba cạnh của tam giác thiên thần…di chuyển, lung linh, mờ mờ, ảo ảo…Từ đó càng làm cho …lòng trai rộn ràng hơn những tam giác thiên thần của chiếc áo dài.
Các bạn nghĩ người viết phân tích như vậy có đúng hay không?
Xin được nghe và đọc ý kiến phản hồi của các bạn, nhứt là trong phái nữ, người viết có một câu hỏi phụ thêm
là:”Khi bạn đang mặc một chiếc áo bà bà với quần lãnh đen, được một người nam đứng ngó trân trân (tôi không dùng chữ …nhìn), bạn cảm thấy thế nào? Bạn có lúng túng…vân vê tà áo không?
Người viết rất muốn nghe tiếng nói của các bạn.
Riêng phần người viết, những điều ghi lại trên đây, tuy viết qua ký ức từ hơn 60 năm về trước. Nhưng hôm nay, kỷ niệm lại về, một kỷ niệm cách đây 9 năm tại phi trường Hobby, Houston. Hình ảnh một ông già, 70 tuổi bước ra khỏi phi trường sau khi lấy hành lý xong. Hình bóng một chiếc áo bà ba màu “beige” quyện khúc với chiếc quần lãnh đen đứng chờ bên cạnh xe. Chính buổi tao ngộ nầy làm dừng bước giang hồ của một lãng tử …già!
Xin dừng lại đây, và chúc các bạn có được vài giây phút trở về thời hoa niên và chiêm nghiệm lại khoảng thời gian đẹp nhứt của đời người: chiếc áo bà ba.
Mai Thanh Truyết
Cô đơn-Cô độc-Cô liêu-Emptiness-Nothingness
Houston – Thứ sáu 13-8-2021
Truyện Ngắn: GIÓ NGÀN & Tham Luận: SỨ MẠNG VĂN HÓA VIỆT NAM – Chu Tấn
GIÓ NGÀN (truyện ngắn) * Chu Tấn.
“Đi sông bến lạnh lên ngàn
Khóc thời xa cũ đã tàn thanh âm.”
(Hoài Khanh)
PHẦN I .
1
Nhân đang theo chiếc thuyền lớn bằng 2 bàn tay chạy vào bờ thì nghe tiếng nói: Anh ấy đấy. Anh Nhân ơi… Nhìn lên, nhận ra người gọi là Dũng, người bạn đi thả thuyền với Nhân hơn một tuần nay, Nhân cúi xuống vớt chiếc thuyền cầm tay, bước lên bãi cát, cười gật đầu chào lại cô gái đứng cạnh Dũng, rồi nói:
tranh “Thiếu Nữ Dâng Trà” của Lê Phổ
– Tưởng hôm nay cậu không đi, tôi ra đây cả tiếng rồi.
– Em đi hơi trễ, vì chị Điệp em đây cũng muốn đi coi thả thuyền, rồi lại tìm anh ở phía bên kia mất khá lâu.
– Mình thay chỗ coi xem sao, phía này gió dìu hơn – Nhân nói, rồi nhìn cô gái: Điệp đã đi thả thuyền bao giờ chưa?
– Dạ chưa. Mấy hôm nay nghe Dũng nói nhiều về chuyện thả thuyền với anh, nên Điệp muốn đi coi cho biết.
– Vậy Điệp xuống nước thả thuyền với chúng tôi hay đứng trên bãi cát.
– Điệp ở trên bờ coi thôi.
Trong khi Nhân và Dũng lội ra xa, Điệp nhìn cảnh tượng xao động dưới nước, cả trên trăm người thả thuyền với những tiếng gọi và tiếng cười. Những con sóng nhỏ trào vào bãi cát vàng thoai thoải, nhưng những con thuyền nhỏ lại không bị sóng cuốn theo. Chúng dập dềnh chạy ngang hay chạy theo vòng tròn. Thỉnh thoảng có chiếc bị lật úp thì chủ chiếc thuyền bị lật vội vớt thuyền lên, dốc cho nước chảy hết, điều chỉnh lại buồm và bánh lái, rồi lại thả cho thuyền đuổi theo những chiếc đang chạy trước. Theo những lượn sóng, những chiếc thuyền dài chừng 2 hay 3 gang tay với những cánh buồm nâu, trắng, xanh, đỏ tỏa rộng khắp khu vịnh nông, đã đem đến nguồn vui trong buổi chiều lộng gió cho cả người trẻ lẫn người già.
Ở phía xa, nước sâu quá đầu gối, Dũng nhập vào một toán cả chục cậu ngang tuổi, còn Nhân đang thả thuyền một mình. Nhìn chiếc thuyền chạy vát quanh mình mấy vòng, Nhân vớt thuyền lên, điều chỉnh bánh lái và buồm cho thuyền chạy vát vào bờ, rồi bước theo con thuyền cho tới khi những con sóng sắp trào lên giải cát thì Nhân vớt thuyến lên đi đến chỗ Điệp.
– Vui nhỉ, anh Nhân. Ra Cát Bà mấy hè mà hôm nay Điệp mới biết trò chơi thả thuyền.
Nhân nói:
– Điệp ra đây mà không vào khu vịnh làng chài thì làm sao thấy. Chỉ vùng vịnh này, biển nông, bãi cát thoai thoải chạy ra xa, mới có thể lội xuống nước thả và đi với thuyền. Hè năm ngoái ra đây, đi lang thang gặp mấy cậu cỡ tuổi Dũng, mỗi cậu cầm một chiếc thuyền, tôi hỏi đem thuyền đi đâu? Mấy cậu ấy trả lời là đi thả thuyền. Tôi đi theo, thấy trò chơi thú vị nên kết. Rồi mấy ngày sau tôi tới đây nhập bọn với chiếc thuyền tôi làm.
– Làm thuyền có khó không, anh?
– Tôi đi coi hai buổi, quan sát những chiếc thuyền lớn nhỏ, chiếc nào cũng làm bằng một khúc gỗ thông khô. Phải gọt thành thuyền, rồi đục khoang, làm bánh lái, làm cột buồm và buồm. Khó thì không khó, nhưng phải làm tỉ mỉ. Rồi tới lúc thả, phải tập điều chỉnh bánh lái, buồm, cho thuyền chạy thẳng, chạy vòng, chạy vát theo gió, theo sóng – Nhân cười: Điều chỉnh khó, tôi phải quan sát người thả điều chỉnh ra sao, phải hỏi mấy cậu thành thạo, rồi tự tập một mình cả tuần mới có thể nhập toán đua. Mấy tháng hè, sẵn gỗ, tôi làm cả chục chiếc thuyền lớn, nhỏ, thay đổi hình dáng theo ý mình.
Điệp đưa tay:
– Anh cho Điệp coi chiếc thuyền.
Cầm chiếc thuyền, nhìn trên dưới, bánh lái và buồm, Điệp nói:
– Anh khéo tay, chiếc thuyền này đâu có thua gì những chiếc thuyền bày bán trong mấy cửa hiệu đồ chơi ở Hà Nội.
Nhân cười, lắc đầu:
– Không bằng thuyền của cửa hiệu đâu. Tôi chưa thấy những chiếc thuyền đó, nhưng biết chắc là nó đẹp và tinh sảo hơn, vì do thợ chuyên môn làm. Họ làm nhiều và có đủ dụng cụ. Còn mình thì làm bằng mấy con dao nhà bếp với chiếc đục cùn.
Điệp cười, đưa lại Nhân chiếc thuyền:
– Cả tuần nay, ngày nào Dũng cũng say sưa nói về chuyện đi thả thuyền và đang làm một chiếc lớn hơn chiếc này. Mê thuyền đến độ quên cả sách vở.
– Nghỉ hè mà sách vở gì.
– Nghỉ nhưng vẫn phải ôn toán cũ và học toán mới để khi vào lớp mới, học cho dễ.
– Điệp và Dũng chăm chỉ đến vậy đấy hả. Còn tôi thì hè chỉ đi chơi và đọc truyện.
– Anh đọc loại truyện gì?
– Kiếm hiệp, tiểu thuyết và trinh thám… Ngày ở tiểu học thì chỉ đọc kiếm hiệp, còn bây giờ đọc thêm tiểu thuyết và trinh thám. Điệp có đọc truyện không?
Điệp đáp:
– Ở tiểu học không đọc, nhưng lên trung học Điệp đọc tiểu thuyết của một số nhà văn như Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Nguyễn Công Hoan và Hoàng Công Khanh.
Có tiếng cười reo hò ở phía xa. Nhân quay nhìn bật cười. Cả mấy chục người lớn nhỏ đang đua thuyền. Họ reo hò, hình như để trợ lực cho thuyền của mình. Điệp nhìn chăm chú xuống đám người đua thuyền, bỗng hỏi:
– Dũng thả thuyền thạo chưa anh Nhân?
Nhân cười:
– Học rất nhanh. Bây giờ đua thuyền với Dũng, tôi thua luôn, nên Dũng kết với mấy người khác để thi có hào hứng hơn. Tôi ít đua, thường chỉ cho thuyền chạy một mình để xem sự điều chỉnh bánh lái và buồm được chính xác tới đâu. Quê tôi cũng đảo, nhưng không có trò chơi làm thuyền, thả thuyền. Ra đây mới biết thú vui này.
– Quê anh ở đảo nào?
– Đảo Vạn Hoa.
– Tên hay quá, Điệp chưa nghe.
– Tên hay nhưng không hùng vĩ, ngoạn mục bằng đảo Cát Bà.
– Bây giờ anh vẫn ở Vạn Hoa?
– Không, tôi đã theo ba tôi vào Quảng Yên để đi học. Đảo Vạn Hoa nhỏ, ít dân, nên trường học chỉ có tới lớp ba. Muốn học lên, phải vào thành phố như Cửa Ông, Cẩm Phả.
Điệp hỏi:
– Ở Quảng Yên có mấy trường trung học?
– Một trường, trường Trần Quốc Tuấn và chỉ có tới lớp đệ tứ. Muốn học lên phải qua Hải Phòng hay lên Hà Nội. Ở tỉnh lẻ đi học khó lắm, chứ không có sự thuận lợi như Điệp là gia đình ở Hà Nội.
Nhân ngừng lại, quay nhìn đám đông đang reo hò. Họ reo hò cho những chiếc thuyền đang trên sóng nước hay sắp tới mức đến. Cả một bên bầu trời ngoài biển vàng đỏ chói chang. Những dãy núi cao như những lớp trường thành của đảo biến thành xanh, xám và tím. Dưới biển đã bớt người thả thuyền, nhưng những tiếng reo hò xa gần vẫn vang lên. Để ý tìm Dũng không thấy, Nhân nói: Mải tranh đua, Dũng quên cả về – Rồi hỏi: Lên trung học, Điệp học trường nào?
– Trưng Vương, anh ạ. Thi vào đệ thất khó lắm, nhưng Điệp may mà đỗ được.
Nhân nói:
– Chăm chỉ và thông minh như chị em Điệp thì thi đỗ là chuyện thường. Nghỉ hè, tôi chỉ cầm mấy cuốn truyện, còn Điệp vẫn cặm cụi với sách vở.
Điệp cười:
– Điệp cũng đọc truyện, nhưng đọc vào buổi tối, còn ban ngày học ôn. Anh bảo học chăm thì đúng, còn thông minh thì không. Điệp học toán, lý, hóa chậm lắm. Có điều đặc biệt là mấy năm nay, từ ngày ba Điệp ra đây làm việc, cứ đến hè là Điệp háo hức nghĩ đến cái vui đi nghỉ hè xa. Bạn bè đa số ở lại Hà Nội, còn Điệp ra biển mà biển đó lại là biển vịnh Hạ Long.
Nhân hỏi:
– Từ Hà Nội ra đây, đi như thế nào, mất bao lâu?
– Mất hai ngày, anh ạ. Một ngày xuống Hải Phòng, sáng hôm sau đi tàu từ Hải Phòng ra Hòn Gai. Rồi từ Hòn Gai đi tàu hoặc thuyền ra Cát Bà. Tàu Hải Phòng – oHòn Gai dừng lại Bến Ngự cả tiếng, nhưng Điệp chưa lên phố Quảng Yên lần nào.
– Ông còn làm việc ở Cát Bà thì Điệp sẽ có dịp biết Quảng Yên. Tỉnh nhỏ, chỉ có mấy con phố, nhưng buổi chiều thì đầy lính, vì Quảng Yên có nhiều trại lính với mấy trung tâm huấn luyện lính mới.
Điệp hỏi:
– Học xong ở Quảng Yên, anh sẽ tiếp tục học ở đâu?
– Hải Phòng, vì tôi có gia đình ông chú ở Hải Phòng. Nhưng hy vọng một, hai năm nữa trường Trần Quốc Tuấn sẽ có những lớp tam, nhị, nhất thì khỏi phải đi xa.
Nhìn chiếc thuyền trên cát, Nhân cười thầm là mê mải chuyện trò, quên cả việc thả thuyền. Nhân tính lên bảo Điệp xuống gần nước để chỉ cho Điệp thấy việc điều chỉnh bánh lái và buồm cho thuyền chạy theo ý muốn ra sao, nhưng Điệp đã dẫn Nhân đi xa, và Nhân cũng bỏ mất ý định ban đầu. Điệp hồn nhiên và phong phanh chiếc áo cánh lụa trắng và chiếc áo đã làm nổi lên khuôn cổ cao tròn với nét mặt tươi rạng rỡ ở đôi môi và đôi mắt đen sắc. Theo những điều Điệp hỏi cùng với sự hồn nhiên, Nhân cảm thấy một nguồn vui dâng lên khi thấy Điệp tự nhiên như đã quen biết Nhân từ lâu. Bỗng nhớ lại việc đọc truyện, Nhân hỏi:
– Từ ngày đọc truyện, Điệp đã đọc truyện kiếm hiệp bao giờ chưa?
– Chưa, anh.
– Tôi có đem theo mấy bộ. Muốn đọc thử thì ngày mai qua tôi, lấy một bộ về đọc cho biết.
– Vâng, ngày mai anh cho Điệp mượn một bộ – ngừng một lát, Điệp hỏi: Lại sắp hết hè, hôm nào anh về Quảng Yên?
– Khoảng cuối tháng, về trước ngày tựu trường một tuần.
– Vậy Điệp về Hà Nội trước anh một tuần. Anh cũng đi tàu thủy?
– Không, tôi đi xe hàng từ Hòn Gai về Quảng Yên.
Điệp trầm ngâm một lúc, rồi nói:
– Tàu thủy hay xe thì anh cũng chỉ mất một ngày, còn Điệp phải mất hai ngày. Nhưng về Hà Nội lại nhớ trời xanh, biển xanh buổi sáng và nhớ những con sóng lóng lánh leo lên những ngọn núi chơ vơ giữa biển.
– Cát Bà ở giữa núi non trùng điệp, uy nghi hùng vĩ, nhưng tôi nhớ nhất là những cánh buồm ở ngoài khơi vào buổi chiều, vì nghĩ đến con thuyền cô độc giữa biển trong đêm – Nhân nhìn ra biển một lúc – Dũng đua thuyền quên cả về. Bây giờ phải qua bên kia tìm cậu ấy.
Bỗng Điệp chỉ tay nói:
– Dũng đang chạy tới kia.
Nhìn theo hướng tay Điệp, Nhân bật cười:
– Từ đây mà đưa thuyền đua tới bên kia.
2
Trên đường về nhà, Nhân dừng lại coi toán lính chơi bóng chuyền trước sân dinh Phó Tỉnh Trưởng Quảng Yên, bỗng nhận ra một người:
– Dũng ơi.
Cầu thủ nhỏ nhất trong đội bóng quay lại, vẫy tay cười vui, chạy băng ra đường, ôm lấy Nhân:
– Em tìm anh cả tuần nay.
– Không biết địa chỉ, tìm ở đâu?
– Em hỏi mấy ông lính.
– Bằng tên anh hay tên ba anh?
– Cả tên anh và tên ba anh.
Nhân cười nói:
– Anh không quen mấy người lính gác dinh phó tỉnh trưởng, còn ba anh mấy năm nay đều làm việc ở các quận, nên họ không biết đâu.
– Vậy nếu anh không qua đây thì phải chịu chớ làm sao tìm.
– Rồi cũng sẽ gặp, vì anh ở phía sau dinh phó tỉnh, trên phố Hoàng Hoa Thám. Cổng sau dinh đi ra Hoàng Hoa Thám, gần căn nhà anh.
Nhân nắm tay Dũng băng qua đường đi tới một quán nước lộ thiên dưới một cây bàng lớn. Đến trước chị bán quán, Nhân nói: Chị cho 2 cốc thạch găng – Rồi cùng Dũng ngồi xuống hai cái ghế thấp, bên chiếc bàn gỗ tạp.
– Quán này gọi là quán Cây Bàng, chỉ bán thạch găng và nước chanh. Không biết thạch găng ở Hà Nội thế nào, chớ ở Quảng Yên thì thạch găng quán này đứng hạng nhất – Chủ quán nghe khen, cười nhìn Nhân – Thấy thế Nhân hỏi:
– Thạch găng ở đây làm bằng lá găng trên rừng hay găng trong vườn, chị?
– Phần lớn làm bằng găng trên rừng, khi nào không đủ mới phải dùng găng vườn. Lá găng trên rừng xanh trong và ngon hơn như em vừa nói.
– Nhà chị có trồng không?
Chủ quán lắc đầu:
– Không, trồng găng phải có nhiều đất. Chị không có đất. Chị có mối lá găng rừng, người ta cung cấp khá đều.
Dũng khuấy cốc thạch găng, rồi xúc uống mấy thìa:
– Ở Hà Nội chỉ có thạch đen, thạch trắng, chớ em không biết loại thạch này.
Nhân nói:
– Thạch găng tự nó có mùi thơm của lá găng, còn mùi thơm của thạch đen, thạch trắng là mùi thơm của dầu chuối… Cũng có người cho thêm vài giọt dầu chuối vào thạch găng. Còn anh thì không. Em thử ăn không dầu chuối xem sao…. À, thế gia đình em xuống đây ngày nào, còn ba em vẫn ở Cát Bà?
– Không, anh. Ba em về Quảng Yên từ tháng trước, còn gia đình em xuống đây đã hơn 2 tuần rồi.
Nghĩ đến cái mê thả thuyền của Dũng, Nhân cười hỏi:
– Về Hà Nội có thả thuyền không?
Dũng cười:
– Dạ, có. Em thả thuyền trong ao nhà, chỉ mình em. Chị Điệp ở Cát Bà thì đòi đi xem thả thuyền, còn ở Hà Nội thì không để mắt tới.
– Ở Cát Bà, mấy trăm người thả mấy trăm chiếc thuyền, đông vui như ngày hội. Còn ở Hà Nội chỉ một mình cậu, một chiếc thuyền trong ao tù thì có gì vui mà coi.
Dũng gật đầu:
– Hai năm trước ở Cát Bà về Hà Nội, em không có gì nhớ. Còn năm ngoái về thì nhớ những buổi chiều thả thuyền và cứ mong tới hè ra Cát Bà. Nhưng từ nay thì hết được ra đó. Ở đây có chỗ nào thả thuyền không anh?
– Ở đây có sông, có những hồ nước cạnh sông, nhưng không thể thả thuyền như ở biển, vì sông hồ sâu, mình chỉ đứng trên bờ chớ không lội xuống được. Thả thuyền ở sông hồ thì thuyền đi luôn hay mình phải xuống bơi theo nó.
Ăn hết cốc thạch găng, Dũng đặt cốc xuống nói:
– Thạch găng ngon hơn thạch đen, thạch trắng.
– Vậy ăn thêm một cốc nữa.
Dũng lắc đầu:
– Thôi anh ạ, để lần khác. Em còn ở đây lâu.
Nhân đứng dậy vào quán trả tiền, mượn cây bút ghi địa chỉ đưa cho Dũng.
– Sáng mai tới anh chơi. Đi cổng sau tới nhà gần hơn. Bây giờ mình về.
3
Nghe tiếng nói: Nhà số 8 đây, Nhân bước ra cửa, vừa lúc Điệp và Dũng bước lên thềm. Nhân nắm tay Dũng: Năm ngoái Điệp ước được lên Quảng Yên thì nay điều ước đã thành. Câu nói đã giúp Nhân che bớt sự lúng túng trước cái nhìn của Điệp. Mới một năm mà Điệp đã thay đổi nhiều, cao lên với những đường nét mềm mại, thuôn thả, mặc dù Điệp vẫn mặc chiếc áo lụa cổ tròn.
Vừa ngồi xuống ghế, Điệp nói:
– Chỉ ở cách nhau khoảng 400 mét mà hai tuần không nhìn thấy nhau. Điệp ở trong nhà không nói làm gì, còn Dũng có mấy khi ở trong nhà.
Nhân cười nói:
– Dũng ở ngoài sân, nên chiều qua tôi mới nhìn thấy. Gần thế chớ cũng khó gặp, vì tôi ở phía sau và từ đầu phố Hoàng Hoa Thám có thể băng qua sân vận động để ra phố chợ mà không cần đi ngang qua phố Lê Lợi trước dinh. Vậy mà gặp được nhau cũng là nhanh rồi.
Điệp mở cái xách lấy ra 1 hộp bánh Petit Beure và 1 cuốn sách để lên bàn:
– Từ Hà Nội xuống mà đi như chạy loạn, nên Điệp không kịp mua cho anh quà Hà Nội. Em và Dũng đem cho anh hộp bánh và cuốn truyện.
– Cám ơn Điệp và Dũng, chạy loạn mà vẫn nhớ đến bạn. Nhân nhìn bìa tập truyện, rồi nói:
– Cuốn Nắng Đào của Nguyễn Xuân Huy, tôi đã đọc bài phê bình trong báo từ lâu, nhưng nhà sách ở đây không có.
– Còn Điệp thì có người bạn giới thiệu, đọc thấy hay nên mua thêm một cuốn dành cho anh – Điệp nói rồi hỏi:
– Chỉ có một mình anh ở nhà thôi ư?
– Có hai em, chúng nó đang chơi với chị người làm ở phía sau. Còn mẹ tôi bán hàng ở chợ, mãi đến tối mới về. Ba tôi đã về Quảng Yên, nhưng đã đi làm từ sáng. Nghe Dũng nói ông Bang đã về Quảng Yên từ tháng trước.
– Sau Hiệp Định Đình Chiến, ba Điệp lên Hà Nội đón gia đình xuống đây.
– Hà Nội như thế nào mà Điệp nói là chạy loạn?
– Người ta hoảng sợ, bỏ nhà cửa, lũ lượt chạy xuống Hải Phòng để di cư vào Nam. Gia đình Điệp cũng bỏ nhà chạy như thế.
– Hiệp Định có ấn định thời gian cho từng tỉnh. Hà Nội thì Việt Minh được tiếp thu sớm, nên dân Hà Nội phải chạy. Quảng Yên thì còn thời gian. Bây giờ người ta gặp nhau chỉ để nói chuyện đi chuyện ở với nhiều lo lắng tương lai.
Nhân đứng dậy tới kệ sách lấy ra cả chục cuốn để xuống bàn:
– Có mấy bộ kiếm hiệp hay, tôi tặng Điệp bộ Giao Trì Hiệp Nữ, còn Dũng bộ Nhất Chi Mai – Rồi chỉ lên mấy kệ sách: Trên này hầu hết là truyện kiếm hiệp, trinh thám và tiểu thuyết. Điệp và Dũng cần đọc cứ qua lấy.
Thấy Điệp và Dũng xếp gọn bộ truyện cầm trong tay, Nhân nói:
– Cứ để truyện lại đây, lúc về sẽ lấy, bây giờ mình đi ăn sáng. Năm ngoái ở Cát Bà, Điệp và Dũng cho tôi ăn nhiều thứ: mì, bánh bao, phẳn, cháo gà ở mấy hiệu Tàu. Hôm nay đến phiên tôi mời lại, Quảng Yên có nhiều thứ như mì, phở, xôi, bánh bao, bánh tôm và bún riêu cua đồng…, Điệp và Dũng chọn thứ gì, tùy ý.
– Điệp ăn bánh tôm.
Dũng lưỡng lự một lát rồi nói:
– Em ăn bún riêu.
Nhân cười:
– Bánh tôm và bún riêu đều là món đặc biệt của Quảng Yên. Bây giờ chúng ta tới một quán có cả hai thứ đó.
Nhân ra sau, đóng cửa lại, dẫn hai người đi hết phố Hoàng Hoa Thám, rồi đi dọc phố Lê Lợi bên Sân Vận Động.
Dũng chỉ sân vận động:
– Sân rộng và có tường đẹp thế mà như bỏ hoang.
– Sân này dài hơn cây số, chiều rộng cũng tới 7 hay 800 mét. Do chiến tranh không được tu sửa, nhưng vẫn đẹp, vì có nhiều loại cây như phượng vĩ, đại và bàng.
Dũng nói:
– Chiều nay em đãi anh và chị Điệp thạch găng ở quán Cây Bàng.
Điệp cười, nói:
– Không biết thạch găng quán Cây Bàng ngon thế nào mà từ chiều qua Dũng nói mãi về cái quán này.
– Quán lụp sụp, nhưng món thạch găng thì ngon. Chiều tới sẽ biết – Nhân nói, rồi ra dấu cho Điệp rẽ vào một cái cổng gỗ đầy hoa giấy màu tím. Quán ở trong sân, ngay cổng một ngôi nhà gạch lớn kiểu cổ.
Nhìn thấy Nhân, bà chủ quán nói:
– Cậu Nhân hôm nay lại có bạn nữa.
– Thưa bà, bạn cháu từ Hà Nội xuống đấy ạ.
Nhân ngồi xuống chiếc bàn ở ngoài sân, rồi nói:
– Bà cho hai đĩa bánh tôm, mỗi đĩa 3 cái, và một bát bún riêu.
Điệp nói lại:
– Bà cho 1 đĩa 2 cái thôi.
Dũng lưỡng lự, rồi nói với Nhân:
– Em đổi, anh cho em bánh tôm luôn.
Nhân hướng về phía bà chủ quán:
– Chú em tôi đổi ý bỏ bún riêu, lấy bánh tôm. Bà cho thêm một đĩa bánh tôm.
Khi bà quán đem bánh đến, Nhân cắt bánh cho Điệp và Dũng. Đẩy đĩa bánh đến trước Dũng, Nhân nói:
– Ngày khác mình sẽ ăn bún riêu, xem bún riêu Quảng Yên hơn thua bún riêu Hà Nội ra sao.
Trong khi ăn kẹo chè lam và uống nước chè tươi, Điệp nói:
– Về Hà Nội sau kỳ nghỉ hè năm ngoái, Điệp và Dũng cứ nhắc lại việc anh dẫn đi thả thuyền, đi đáp cá, đi vào làng mua hồng, và những lần đi trên con đường đá sát biển từ Bang vào làng chài, đường dài trên cây số mà nước đập vào những khe đá, bắn tung tóe lên chân, lên quần và nao nức nghĩ đến hè năm nay… Thế là vĩnh biệt Cát Bà.
Nhân nói:
– Không ra Cát Bà thì xuống Quảng Yên. Ở đây cũng có nhiều chỗ, nhiều thứ đặc biệt, chẳng hạn đê sông Chanh, buổi chiều trong những ngày nắng đẹp có thể nhìn thấy những ngọn núi của Vịnh Hạ Long. Làng La Khê có nhãn, hạt nhỏ như hạt bắp. Làng Quỳnh Lâu có những đồi ổi, từ dưới đồi đã dậy mùi thơm. Có hai rạp ciné là Lido và Majestic. Có phở Bạch Đằng, kem Á Đông, và gần chúng ta hơn là một gia đình chuyên làm bánh dầy, bánh giò và bánh khoai sọ có tiếng. Có thể đêm nay Điệp và Dũng sẽ nghe tiếng rao: Bánh dầy, bánh giò… bánh khoai… Đó là tiếng rao của cụ Nhâm đẩy xe đi bán ba thứ bánh đã gần 40 năm.
– Hè năm ngoái đi với anh, Điệp mới biết nhiều nơi đẹp và những thú vui ở Cát Bà, còn trước đó chỉ biết khu bãi biển trước Bang, khu phố chợ và những ngọn núi giữa biển.
– Tôi đi chơi với mấy người bạn ở làng chài nên mới biết được nhiều nơi. Bây giờ ở Quảng Yên, tôi lại làm hướng đạo.
4
Ciné Majestic đã đầy người khi Nhân, Điệp và Dũng tới. Người dẫn ghế đưa 3 người tới khoảng giữa, chỉ vào 3 ghế trống, Dũng vào trước, đến Điệp rồi Nhân. Chương trình đang chiếu phim phụ. Chợt nhớ mấy gói lạc rang mua của ông già Tàu khi Điệp và Dũng vào mua vé, Nhân đưa cho Điệp và Dũng mỗi người một gói. Gần 2 tuần, sau khi Nhân gặp lại Điệp, ngày hôm qua chị em Điệp tới Nhân cho biết là gia đình Điệp sẽ qua Hải Phòng để đi vào Sài Gòn bằng máy bay. Chuyện di cư vào Nam là chuyện người ta nói hàng ngày sau Hiệp Định Đình Chiến Geneve, và qua báo chí, Nhân biết là Hiệp Định Geneve đã chia đôi Việt Nam ở vĩ tuyến 17, phía bắc tỉnh Quảng Trị. Chính phủ Quốc Gia Bảo Đại và Pháp được phần lãnh thổ từ phía nam vĩ tuyến 17 trở vào nam. Còn chính phủ Việt Minh được phần lãnh thổ từ vĩ tuyến 17 trở ra bắc. Theo Hiệp Định, các tỉnh phía Bắc và phía Nam đều có thời gian ấn định để quân và dân chúng ở hai miền có thời gian chuẩn bị vào Nam hay ra Bắc theo ý muốn. Với miền Bắc thì Hải Phòng là địa điểm tập trung quân và dân và cũng là địa điểm cuối cùng để người dân tới và đi vào Nam bằng tàu thủy hay máy bay.
Việc gia đình Điệp xuống Quảng Yên để di cư là chuyện Nhân đã biết, nhưng không ngờ lại đi sớm như thế. Khi gặp Điệp và biết chuyện, Nhân nghĩ là gia đình Điệp sẽ ở lại Quảng Yên lâu, vì thời gian ấn định còn tới bốn tháng và nghĩ thầm là biết đâu hai gia đình sẽ cùng đi trên một chiếc tàu.
Chương trình đã đi vào phim chính. Đó là một phim Cao Bồi miền viễn tây Hoa Kỳ. Nhìn lên màn ảnh, nhưng Nhân không để ý gì đến phim mà chỉ nghĩ đến ngày Điệp vào Nam và sẽ không cách nào gặp lại. Năm ngoái ở Cát Bà, hơn một tháng biết Điệp đã đem đến cho Nhân một cái nhớ và một niềm vui khi nhìn thấy Điệp. Những lúc ấy nhìn ánh mắt Điệp, Nhân cảm được là Điệp cũng ở tâm trạng như mình, nhưng chỉ có thế. Và hàng ngày nguồn vui sẽ kéo dài trong một buổi thả thuyền, một buổi đi vào thôn xa, một buổi đi ăn mì ở phố chợ, bên bờ vách đá nước xanh của biển. Điệp về Hà Nội một năm Nhân không biết tin, cả hai trong ngày từ giã không có lời hẹn, tuy vậy Nhân vẫn nghĩ là tới hè sẽ gặp lại. Hè là một lời hẹn. Nhưng lần này thì muốn hẹn cũng không được, vì người đi trước, người đi sau, đều không biết mình sẽ tới đâu. Vì thế Nhân nghĩ lần này là lần gặp cuối cùng của người mới lớn đi vào vòng hệ lụy.
Nhân tựa đầu vào nệm ghế, đặt cánh tay sát cánh tay Điệp. Hai đầu gần nhau. Người Điệp toát ra một mùi thơm, mùi hương Nhân đã gặp theo làn gió biển khi ngồi với Điệp trên một tảng đá hay đi trên đường ven biển. Nhân nhìn ngang và bắt gặp ánh mắt Điệp. Trong bóng tối của màn ảnh trong đêm trăng mờ, ẩn hiện đàn ngựa đi dưới chân đồi. Điệp ngồi thẳng và mùi hương vẫn phảng phất. Một nỗi sợ cùng với sự khao khát bỗng dâng lên đưa bàn tay Nhân nắm lấy bàn tay Điệp và cảm thấy bàn tay Điệp ấm lên trong tay mình theo nhịp đập của tim. Nhân buông tay Điệp khi ánh sáng bừng lên trên màn ảnh. Điệp cúi xuống lâu. Khi màn ảnh đi vào bóng đêm, Điệp ngồi thẳng lên, nắm bàn tay Nhân một lúc và để lại trong tay Nhân chiếc khăn tay. Nhân bỏ chiếc khăn tay gấp nhỏ vào túi, rồi tìm bàn tay Điệp và hai bàn tay không rời nhau nữa.
Trên màn ảnh trận chiến giữa hai phe trải rộng trên một cánh đồng mênh mông với những dẫy đồi thấp. Ngựa phi từng lớp băng qua cánh đồng, tiếng súng và những kỵ mã trúng đạn, thân bật về phía sau. Qua trang phục và phụ đề, Nhân hiểu đây là một trận chiến giữa một bộ tộc Da Đỏ và những người da trắng trên đường lấn chiếm.
Nhân nhắm mắt lại nghĩ đến dụng ý của Điệp trong việc mời Nhân đi ciné và khi đi vào cửa Điệp đã đi giữa Dũng và Nhân. Hôm nay, lần đầu tiên Nhân thấy Điệp mặc áo dài lụa màu mỡ gà. Tà áo vàng nhạt vời quần trắng mỏng đã biến Điệp thành một giải lụa mềm khi bước nhẹ trên hè đường và Nhân đã ngẩn ngơ bên mái tóc xõa trên giải lụa ấy. Còn những ngày ở Cát Bà và tuần vừa qua đi đâu cũng chiếc áo cánh cổ tròn. Trưa nay hai chị em qua Nhân sớm và Điệp đã nói với Nhân là cho Điệp đi qua một con đường đẹp nhất Quảng Yên để nhớ một thành phố chỉ đến được một lần. Nghe thế, Nhân bảo Quảng Yên có mấy con đường đẹp, theo cảm quan của mình, nhưng không thể nói con đường nào là đường đẹp nhất, vì mỗi đường có cảnh sắc và nét riêng của nó. Chẳng hạn con đường đê ở Bến Ngự, đi về phía phố Khê Chanh, quanh bước đi là sông, ao đầm, còn phía xa tít mù tắp là những dãy núi của Vịnh Hạ Long. Con đường đó Điệp đã đi và khen là đẹp. Con đường thứ nhì, Điệp cũng đã đi và khen là đường Lam Sơn, chạy dọc một bên Sân Vận Động, nhà nào cũng cổng xây theo lối cổ với bờ tre, dậu dâm bụt, và trong sân nhiều nhà có hàng chục gốc hồng, hoa nở quanh năm. Và trưa nay Nhân đã dẫn hai chị em Điệp đi qua con phố Yết Kiêu, đường dài khoảng hơn cây số, hai bên đường có những ngôi nhà cổ, nhà mới xây và cả những nhà lợp tranh, nhưng nhà nào cũng có dàn hoa giấy đỏ tím lan theo bờ tường hoặc bờ dậu. Cạnh đó là những cái ao nhỏ nuôi bèo và thả rau muống. Đi hết con đường sẽ vào giữa phố Độc Lập, con phố thương mại, trung tâm thị tứ của thành phố. Khi ngồi ăn kem ở Á Đông để chờ tới giờ vào Ciné, Điệp nói là trong ba đường Điệp đã đi thì đường hôm nay đẹp nhất.
Nhân cười hỏi:
– Đẹp nhất, tại sao?
– Con phố yên tĩnh, đơn sơ mà đậm đà. Điệp chưa thấy ở đâu nhiều hoa giấy như ở phố Yết Kiêu, hai bên đường như hai tường hoa tím thẫm.
Nhân gật đầu:
– Mấy năm ở Quảng Yên, khi nào ra phố Độc Lập tôi cũng đi theo phố Yết Kiêu và nhận ra rằng từ sự ồn ào, người xe và bụi bặm của Độc Lập mà rẽ vào Yết Kiêu sẽ thấy nhẹ người.
Qua mấy lời yên tĩnh, đơn sơ mà đậm đà, Nhân chợt nghĩ đến chiếc áo cánh lụa Điệp thường mặc. Lâu nay Nhân cảm một điều gì đó, nhưng không nghĩ ra thì hôm nay Điệp đã nói lên thành lời. Cảm nghĩ ấy đã dấy lên trong lần đi với chị em Điệp vào một thôn sâu trong đảo mua hồng. Dũng chạy tung tăng từ cây này qua cây kia, hình như cậu ấy không biết dừng ở đâu vì cây nào cũng trĩu quả. Còn Nhân ở trên cây hái hồng đưa xuống cho Điệp, và lúc ấy mỗi lần Điệp giơ tay đỡ túi hồng, Nhân chỉ nhìn thấy đôi mắt đen sắc và cái cổ áo tròn bọc khuôn cổ Điệp, và rồi cái cổ áo cũng biến mất chỉ còn cái cổ và đôi vai.
Bây giờ không như ở Cát Bà, người trên cây kẻ dưới đất, mà tay trong tay, nhưng Nhân lại cảm thấy bâng khuâng lo sợ. Gặp lại sau một năm, Điệp tặng cuốn Nắng Đào, có ý nghĩa sâu đậm hơn là Nhân tặng lại bộ Giao Trì Hiệp Nữ, vì mỗi trang Nắng Đào đượm tình, còn Giao Trì Hiệp Nữ chỉ là những trang giấy mua vui, tiêu khiển. Tặng rồi mới nhận ra là với Điệp, Nhân đã hiểu sau và đi sau.
Nhân buông bàn tay Điệp khi trên màn ảnh bừng lên với đoàn kỵ mã đi thành hàng bên rừng, còn phía sau là ánh lửa dài cả cây số của ngôi làng bị đốt.
PHẦN II
1
Dựng chiếc xe đạp trước nhà sách Phú Nhuận, Nhân cầm xấp báo đi vào, vừa nói: Chào bà – vừa đặt tờ Tự Do trên quầy. Bà chủ tươi cười: Chào cậu – Rồi như chợt nhớ ra, bà nói: A, hôm nay cuối tháng rồi, để tôi đưa cậu tiền báo – Bà mở ngăn kéo lấy tiền đưa cho Nhân.
– Cám ơn bà, chào bà.
Nhân bỏ tiền vào túi, vừa định bước ra thì có người cầm tay kéo lại. Nhân ngước nhìn chưa kịp nói thì người kéo tay hỏi:
– Anh còn nhớ em không?
– A, Dũng! Nhân vừa nói vừa choàng tay qua vai Dũng kéo ra ngoài.
Dũng nói:
– Nghe tiếng “chào bà”, em nhìn lại, nhận ra anh ngay.
– Thời buổi loạn ly mà chúng ta vẫn gặp lại nhau. Ở Quảng Yên thì tôi nhìn thấy cậu trong dinh phó tỉnh, còn ở Sài Gòn thì cậu nhận ra tôi trong tiệm sách.
Dũng giơ cuốn “Kim Chỉ Nam Của Học Sinh” ra trước mặt Nhân:
– Nhờ vào nhà sách tìm cuốn này mà gặp được anh, thật may.
Nhân nói:
– Cậu ghi cho tôi địa chỉ. Bây giờ phải đi, ngày mai tôi sẽ tới.
Dũng nói:
– Nhà gần đây, anh ghé nhà ít phút cho biết, rồi hãy đi.
– Nhà gần đây ư, vậy thì tốt quá – Nhân cười, bỏ xấp báo vào cái giỏ ở trước ghi đông, rồi nói: Cậu ngồi lên đây, tôi chở đi cho nhanh.
Dũng nói:
– Em cao lớn thế này, ngồi lên sợ gẫy xe mất. Thôi đi bộ, anh ạ.
Buổi chiều, giờ đi làm về, đường Võ Di Nguy, dưới mặt đường là những dòng xe đạp, xe gắn máy đi sát nhau, còn trên lề thì người đi bộ, có chỗ gần như chen nhau. Dũng muốn đi ngang Nhân, nhưng rừng người cứ đẩy Nhân với chiếc xe về phía sau, nên Dũng phải đi trước.
Tới ngã tư Phú Nhuận, Dũng quẹo trái đường Võ Tánh, đi chừng hơn 300 mét thì dừng lại trước một ngôi nhà lầu có giàn hoa giấy trên cổng.
– Nhà đây anh – Dũng nói rồi đẩy cánh cổng cho Nhân dắt xe vào sân.
– Chị Điệp ơi, chị Điệp. Ra đây em cần nói chuyện này.
Điệp xuất hiện ở cửa, chợt sững người lại khi nhìn thấy người đứng với Dũng ở giữa sân.
– Chị nhận ra ai không?
– Anh Nhân! Điệp bước vội ra như muốn ôm chầm lấy Nhân, nhưng Nhân đã giơ tay cầm tay Điệp cùng đi vào nhà.
Điệp kéo Nhân tới ghế salon:
– Anh ngồi đây, để Điệp đi lấy nước.
Điệp đi vào đem ra một chai cam vàng và một cái ly có nước đá, rồi rót nước vào ly để trước Nhân.
– Anh uống nước.
– Cám ơn Điệp.
Điệp ngồi xuống ghế đối diện với Nhân:
– Đường phố đông người mà nhận ra nhau. Sao lại có chuyện ngẫu nhiên như vậy nhỉ?
Dũng nói:
– Không phải gặp ngoài đường. Em vào nhà sách Phú Nhuận tìm cuốn “Kim Chỉ Nam Của Học Sinh” của Nguyễn Hiến Lê và gặp anh trong nhà sách.
Nhân nói:
– May mà cùng vào nhà sách, chớ ở ngoài đường Võ Di Nguy thì khó có thể nhận ra nhau. Dũng cao lớn, mập mạp, thay đổi nhiều.
Điệp nhìn Nhân:
– Anh cao lên, nhưng gầy đi, khuôn mặt thì vẫn vậy.
Bà mẹ Điệp bước ra, Nhân đứng dậy:
– Chào bác, con là bạn của Dũng ở Quảng Yên.
Bà nhìn Nhân một lát, vui vẻ:
– Tôi nhớ rồi. Ngày chúng tôi rời Quảng Yên sang Hải Phòng, cậu đã ra bến xe tiễn chúng tôi với một gói bánh giò và một gói bánh khoai sọ …, Mấy năm rồi mới gặp lại, ai nhận ra ai trước.
– Thưa bác, Dũng nhận ra con trước.
– Vào Sài Gòn, bây giờ gia đình cậu ở đâu?
– Dạ, con ở khu ngã ba Ông Tạ.
– Vậy thì cũng không xa đây, nhưng khu Ông Tạ với khu Phú Nhuận trái đường nên gặp được nhau cũng khó lắm. Mới đó mà đã 3 năm, người nào cũng cao lớn cả rồi. Thôi, cậu ngồi chơi với các em. Đã gặp lại nhau, nhớ năng đến chơi.
– Dạ, cám ơn bác. Con sẽ đến luôn ạ.
Sau khi mẹ Điệp vào nhà được một lát, Nhân uống cạn ly nước, rồi nói:
– Bây giờ tôi phải đi có việc. Để hôm khác sẽ đến chơi.
Điệp và Dũng đi với Nhân ra đường. Khi Nhân ngồi lên yên xe, Điệp nói:
– Anh nhớ đến chơi, đến buổi sáng. Buổi chiều Điệp đi học.
– Tôi cũng học buổi chiều – Nhân gật đầu cười nói, rồi đạp xe trở lại ngã tư Phú Nhuận, ngược lên đường Chi Lăng, vào mấy hẻm bỏ nốt những số báo Tự Do, Ngôn Luận còn lại.
Trên đường về, khi qua nhà Điệp, Nhân nghĩ hơn một năm đi bỏ báo qua con đường này mà không bao giờ gặp Điệp hay Dũng. Đêm nào Nhân cũng dừng lại chiếc xe chiên bánh tiêu và dầu cháo quẩy gần phía đối diện với nhà Điệp, mua một cái bánh tiêu, rồi vừa đạp xe vừa ăn. Gặp lại Điệp lòng Nhân trĩu nặng và giao động vì thấy sự cách biệt giữa hai đời sống.
Vào Sài Gòn ba Nhân giải ngũ và thất nghiệp. Mẹ Nhân buôn tần bán tảo ở chợ Ông Tạ. Có cái may là được bạn hàng chỉ dẫn, cha mẹ Nhân mua được một mảnh đất diện tích trên 500 mét vuông trong ấp Cả Trắc. Với cây, gỗ, ván tạp, ba Nhân và một người bạn đã làm được ngôi nhà lá 3 gian. Thế là yên được chỗ ở, nhưng còn sinh kế thì khó khăn, nên Nhân đã phải theo mấy người bạn đi bỏ báo tháng để tìm cách tự túc cho việc đi học.
Còn gia đình Điệp, chỉ nhìn bề ngoài qua ngôi nhà hai tầng lớn ở mặt tiền đường phố và qua nét đài các của mẹ Điệp và Điệp, Nhân thấy là dù di cư, nhưng gia đình Điệp vẫn ở tầng lớp giàu có hay trung lưu như ngày còn ở ngoài Bắc. Gặp Điệp Nhân sửng sốt trước sự thay đổi của Điệp, vì Điệp đã trở thành một thiếu nữ khuê các lồ lộ đường nét căng đầy. Nhìn lại mình, quần một manh áo một mảnh, mỗi tối đi bỏ mấy chục tờ báo với chiếc xe đạp để ở đâu cũng không cần khóa, Nhân cảm thấy Điệp đã quá xa cách. Gặp Nhân, Điệp mừng cũng như Dũng đã cầm tay Nhân kéo lại, nhưng Nhân thầm nghĩ có lẽ giờ này Điệp đang nghĩ về mình cũng như mình đang nghĩ về Điệp. Đừng để cho Điệp phải khó xử về chuyện gặp lại – Nhân lẩm bẩm: Phải giải thoát cho cô ấy. Và lòng Nhân bỗng chùng xuống khi đi đến quyết định là cứ đến Điệp một, hai lần, rồi sẽ đi luôn không trở lại nữa.
2
Sáng chủ nhật Nhân đến cà phê Gió Bấc ở đường Phan Đình Phùng được chừng 15 phút thì Điệp tới. Điệp mặc áo dài màu xanh dương, khóa chiếc Velo Solex, rồi xách một gói lớn đi vào quán. Điệp cười khi nhìn thấy Nhân và thản nhiên trước những cái nhìn của khách cà phê.
– Anh đợi em có lâu không?
Nhân cầm tay Điệp khi nàng ngồi xuống ghế:
– Không lâu, anh cũng mới đến – Nhân đáp, rồi nói: Bên cạnh đây có quán bánh cuốn. Em ăn bánh cuốn?
– Em ăn ở nhà rồi, uống cà phê thôi anh ạ.
Cô tiếp viên đến, Nhân hỏi Điệp: Em uống cà phê sữa?
– Dạ.
– Cô cho tôi hai cà phê sữa.
Khi cô tiếp viên bước đi Nhân nói:
– Mấy năm, anh vẫn nghĩ là gia đình chúng ta đều sống ở Sài Gòn cả, loanh quanh ở những khu tập trung nhiều dân di cư như Phú Thọ, ngã ba Ông Tạ, ngã tư Bảy Hiền, đường Trương Minh Giảng, đường lê Văn Duyệt, khu Bàn Cờ và vẫn hy vọng là một buổi chiều nào đó sẽ gặp em trên đường Lê Lợi.
Điệp nhìn Nhân một lúc:
– Em cũng nghĩ như anh, nhưng thời gian cứ đi, nên hy vọng cũng nhạt dần.
– Có một điều, sau khi gặp em, anh mới chợt nhận ra là nếu anh thông minh, nhanh trí một chút thì anh đã gặp em từ lâu. Đầu óc quá chậm nên đến nay mới nhờ cái đụng đầu Dũng trong nhà sách mà tìm lại được cô Điệp Cát Bà.
Điệp bật cười, rồi nói:
– Anh nói em không hiểu.
Nhân cười:
– Có gì mà không hiểu. Ở Hà Nội em là học sinh Trưng Vương thì vào đây em cũng học Trưng Vương. Nếu nghĩ ra sớm, anh đến đứng ở trước cổng Trưng Vương thì sẽ thấy Điệp. Một việc đơn giản như thế mà mấy năm không nghĩ ra.
Điệp ngẩn ra một lúc, nhìn Nhân:
– Không nghĩ ra nên mới mất ba năm… Nhiều lần đi ăn kem với Dũng ở Mai Hương, em thường ngồi lâu vì hy vọng sẽ trông thấy anh trên hè đường Lê Lợi. Thật tiếc, khi chạy khỏi Hà Nội, mọi người hoảng loạn cả, em đâu biết Trưng Vương sẽ di cư. Nếu biết Trưng Vương cũng vào Sài Gòn thì em đã dặn anh. Khi từ giã, em sợ mình sẽ lạc nhau, vì chúng ta cùng đi tới một nơi không có địa chỉ.
Nhân hỏi:
– Gia đình em ở lại Hải Phòng bao lâu?
– Trên hai tuần, anh ạ. Gia đình em vào Sài Gòn bằng máy bay, ở trại tạm cư Bình Đông 2 được hơn hai tháng thì ba em vào và đi làm ở Bộ Nội Vụ, nên me em thuê nhà ở đường 20, nay là đường Phan Thanh Giản.
– Gia đình em lên đường Võ Tánh từ năm nào?
– Khoảng giữa năm 1955, chỉ thuê nhà mấy tháng thôi. Me em mua nhà ở mặt tiền để bán gạo.
Nhân cười:
– Vậy là trên một năm qua, ngày nào anh cũng đi qua nhà em mà không bao giờ thấy người.
– Anh không thấy ai cũng phải, vì mặt ngoài là cửa hàng bán gạo. Em ít khi ra đó. Hơn nữa anh lại đi vào buổi tối khi nhà đã đóng cửa.
Thấy phin cà phê đã chảy hết, Nhân bỏ phin ra, đổ thêm nước vào 2 tách, khuấy cho sữa tan đều rồi đặt tách cà phê trước Điệp.
Nhìn Điệp hồn nhiên như những ngày ở Cát Bà và Quảng Yên, Nhân băn khoăn về những điều mình nghĩ về Điệp. Chủ nhật tuần trước đến Điệp, Nhân đã ngạc nhiên trước những lời ân cần của nàng: Em đã lớn và được phép giao du bạn bè. Ở nhà khách ra vào mua gạo, rồi có me em, mình chẳng nói được gì. Có chỗ nào, thỉnh thoảng mình đi chơi với nhau. Em vẫn nhớ những ngày ở Cát Bà và Quảng Yên. Nhân bảo: Chỗ đi chơi trong thành phố có Ciné, công viên và những quán cà phê yên tĩnh, còn ngoài thành phố ở đâu anh không biết mà mình cũng không có phương tiện đi xa. Nghe thế, Điệp đã chọn quán cà phê và Nhân đã hẹn Điệp ở Cà phê Gió Bấc, đường Phan Đình Phùng, nơi thỉnh thoảng Nhân đã tới để làm quen với hương vị cà phê miền Bắc, cả mùi thơm lẫn phong cách uống.
Nâng tách cà phê uống mấy hớp, rồi Nhân nói:
– Gia đình em may mắn, đi sớm, lại đi máy bay. Rồi vào đây, gia đình vẫn giữ được nếp sống ở ngoài Bắc. Còn gia đình anh khó khăn hơn. Mãi tháng 10 mới qua Hải Phòng, 3 tuần sau đi tàu Mỹ vào Sài Gòn, ở trại tạm cư Bình Đông 3 được chừng một tháng thì ra ngoài thuê nhà ở cho thoải mái và phải tính chuyện làm ăn.
– Từ Bình Đông 3, gia đình di chuyển thẳng tới ngã ba Ông Tạ?
Nhân lắc đầu:
– Đâu có nhanh và gọn vậy em. Từ Bình Đông 3 tới Phú Thọ trường đua, rồi Phú Thọ Hòa. Cuối năm 55 mới tới khu Ông Tạ. Đó là chuyện ở, còn chuyện sống thì vào Nam, ba anh thuộc quân đội nên phải giải ngũ và thất nghiệp. Cách đây mấy tháng ông mới xin được một việc trên tàu đánh cá biển. Mẹ anh vào đây phải tần tảo ngay sau khi ra khỏi trại tạm cư. Tới chợ Ông Tạ, khởi đầu bán bún riêu, sau đó kiếm được một chỗ tốt, bà đổi sang bán cơm.
Nhân dừng lại, nâng tách cà phê uống mấy hớp:
– Trước hoàn cảnh gia đình như thế, anh may mắn xin được vào trường Chu Văn An, vì là học sinh trường trung học Trần Quốc Tuấn, và là con binh sĩ, nhưng phải tìm cách tự túc đỡ cho cha mẹ, nên anh đã theo mấy người bạn, xuất thân từ Trại Học Sinh Phú Thọ, đi bán báo Tự Do và Ngôn Luận vào buổi tối. Khởi đầu phải bán rao, nhưng sau đó nhiều gia đình mua thường xuyên nên chuyển thành mối. Cứ 7 giờ chiều tới nhà in lấy báo, rồi đi bỏ mối. Bỏ mấy chục mối báo mất nhiều thì giờ, vì phải đi nhiều đường. Trước kia anh lên cả Xóm Mới, nhưng xa quá nên phải bỏ…. Thời gian đầu đi rao báo, thường thì đi vào mấy ngõ hẻm, anh nhớ lại tiếng rao “bánh dầy, bánh giò, bánh khoai” của cụ Nhâm ở Quảng Yên. Tiếng rao của cụ lanh lảnh, nhất là trong những đêm mưa. Anh không biết tiếng rao của mình ra sao trong những đêm mưa, nhưng vào mấy ngõ sâu, anh nghe tiếng rao như lạc mất trong mưa.
Nhân nâng tách cà phê lên, rồi lại bỏ xuống:
– Buổi chiều gặp được Dũng là do anh tới đưa báo cho nhà sách Phú Nhuận. Anh bỏ báo ở đó cả năm rồi. Và khu vực anh bỏ báo là đường Võ Di nguy, Chi Lăng, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Huệ, vòng trở lại Võ Di Nguy nối dài. Hơn năm nay, anh thường đi lại đường Võ Tánh và đêm nào khi bỏ báo xong, anh cũng phải đi qua Võ Tánh để về nhà.
– Vậy từ ngày mai anh bỏ báo Tự Do cho nhà em, có Văn Nghệ Tiền Phong thì bỏ cho em luôn.
– Hiện tại em lấy báo của ai?
Điệp lắc đầu:
– Không, nhà không lấy báo của ai. Hàng ngày mua ở sạp báo đối diện trước nhà. Rồi em sẽ giới thiệu cho anh mấy mối nữa trên đường Chi Lăng.
– Em phải hỏi những gia đình đó là đang lấy báo của ai. Nếu họ bảo đã có người bỏ báo thì thôi. Vì số anh em đi bỏ báo không nhiều mà cũng biết nhau cả.
Nhìn mấy ông đọc báo Tự Do với tách cà phê và điếu thuốc, Nhân nói:
– Quán này là của dân Bắc, chắc là đồng hương Hà Nội với em, và khách cũng toàn dân Bắc. Ở Quảng Yên, mấy tiệm ăn đều có ghi cà phê, nhưng cà phê hình như không thông dụng, thành ra mấy năm ở Quảng Yên anh chỉ được uống ít lần, loại cà phê sữa bột Nestlé của Pháp. Vào đây chỉ một thời gian ngắn là quen vị cà phê đen, quán cà phê ở khắp nơi.
Điệp hỏi:
– Nhà ở khu Ông Tạ mà sao anh lên tận đây uống cà phê?
– Chỉ thỉnh thoảng thôi, nhưng tới đây vì cà phê có hương vị đặc biệt, quán của người lớn tuổi và yên tĩnh. Mình bỏ miền Bắc vào tuổi mới lớn, chưa được sống nhiều, nhưng hai chữ Gió Bấc có âm hưởng quyến rũ gợi nhớ gió biển Cát Bà, gió bấc mưa phùn Quảng Yên và những rặng núi xanh, xám mùa đông.
Thò tay vào túi quần, Nhân lấy ra chiếc khăn tay màu hồng lợt và từ túi áo lấy ra tấm ảnh nhỏ kẹp trong mảnh giấy vuông. Vừa nhìn thấy chiếc khăn tay, Điệp xúc động:
– Anh vẫn còn giữ được…
Nhân nhìn Điệp: Cả cuốn Nắng Đào – Nhân cũng xúc động nên yên lặng một lúc lâu mới tiếp: Mảnh giấy nhỏ trong khăn tay em ghi ít chữ với địa chỉ ở Hải Phòng. Tháng 10 qua Hải Phòng, anh đã tìm đến hiệu bánh Phúc Châu, nhưng tiệm đóng cửa và nhà bên cạnh cho biết là gia đình Phúc Châu đã di cư vào Nam.
– Gia đình em đi với gia đình Phúc Châu. Căn nhà ở Võ Tánh cũng do người em của Phúc Châu giới thiệu.
Điệp nhìn tấm ảnh bán thân nàng chụp cuối năm 1953, gói trong chiếc khăn tay tặng Nhân buổi đi coi Ciné ở Quảng Yên:
– Bây giờ em khác nhiều, anh nhỉ?
Nhân không để ý đến điều Điệp hỏi mà tiếp tục theo dòng ý nghĩ của mình:
– Hy vọng gặp em ở Hải Phòng sẽ có địa chỉ ở Sài Gòn, nhưng em đã đi, nên chỗ cuối cùng anh bấu víu là ba anh, vì hy vọng ông sẽ biết ba Điệp ở đâu. Nhưng anh đã sai, vì hành chính và quân đội không có liên hệ gì với nhau, vào Nam thời gian cũng khác nhau. Rồi ba anh giải ngũ, thế là hết dấu vết.
Điệp gấp lại chiếc khăn với tấm ảnh và rót cho Nhân chén nước:
– Anh uống nước, rồi mình về. Chẳng cần dấu vết mà mình vẫn gặp nhau, ngẫu nhiên như ở Cát Bà và Quảng Yên.
Quán còn ít khách, Điệp nhìn lên những bức tranh treo trên tường, và chú ý bức ảnh chụp Hồ Hoàn Kiếm trong mưa phùn và Tháp Rùa như lẫn vào màn mưa. Điệp bồi hồi nhìn bức ảnh, nhớ lại những ngày mưa phùn trắng thành phố, nàng đã đi qua đây. Giờ thì đã xa quá, nhưng mỗi lần nàng nghĩ đến Hà Nội thì hình ảnh tháp rùa lặng lẽ trong nắng, dưới mưa, uy nghi mà thân tình lại ập trở về…
Khi Nhân uống cạn chén trà, Điệp cầm gói giấy mà nàng đã đem theo đưa cho Nhân:
– Em mua cho anh một ít vải để may quần áo và tập truyện “Trăng Nước Đồng Nai” của Nguyễn Hoạt.
Nhân nhìn Điệp một lúc lâu:
– Em còn là học sinh, sao lại cho anh nhiều thế?
– Ba và me cho, em để dành. Vải quần áo cũng như mì, bánh bao, phẳn ở Cát Bà hay bún riêu, thạch găng, kem Á Đông ở Quảng Yên.
Nhân cầm gói giấy: Cám ơn em – Rồi đứng dậy nói: Mình về, Điệp.
Nhân đứng lại quầy trả tiền, rồi theo Điệp ra chỗ để xe, dắt chiếc Solex xuống đường cho nàng. Dưới ánh nắng gắt, Điệp đưa tay cho Nhân nắm một lúc, rồi xỏ tay vào đôi găng trắng:
– Thôi em về.
Chiếc Solex lao đi với tà áo xanh trong dòng xe đạp trên đường Phan Đình Phùng.
3
Nghe tiếng xe Solex dừng ở cổng, Nhân đi vội ra đỡ xe cho Điệp:
– Em tìm nhà dễ dàng chứ?
– Em theo những điều anh ghi và vẽ trên giấy.
Nhân dựng xe ở sân, rồi dắt Điệp vào nhà.
Ngồi xuống ghế Điệp hỏi:
– Ở nhà chỉ có mình anh thôi ư?
Nhân đáp:
– Hai em đi học, ba anh đi biển đánh cá, còn mẹ ở chợ tới 2, 3 giờ mới về.
Điệp nói:
– Nhà rộng, vườn rộng, lại ở giữa một cái làng đầy cây thế này thì yên tĩnh và mát. Nhà trên phố quạt máy suốt ngày đêm, đến gió từ quạt cũng nóng lên.
Nhân vừa rót nước trà ra tách, vừa nói:
– Cái làng này cũng gần giống con phố Yết Kiêu, con phố em bảo là đẹp nhất Quảng Yên, phần lớn nhà cửa vách ván, lợp lá, chừng 1/3 lợp tôn và ngói. Đường đất nhỏ, nhưng chỉ ra khỏi làng là gặp những con đường lớn, xe và người tấp nập.
Điệp hỏi:
– Nhờ ai chỉ dẫn mà ông bà lại mua được đất nhà trong làng, một chỗ tốt như thế này?
– À, khi mới tới khu Ông Tạ, phải ở nhà thuê và mẹ anh sang được một cái sạp nhỏ ở chợ Ông Tạ bán bún riêu. Sau đó chuyển qua bán cơm, chính khách ăn cơm đã chỉ cho bà khu đất này – Nhân ngừng một lát, rồi tiếp: Gia đình anh là dân di cư vào làng này đầu tiên. Hồi mới tới, con đường vào đây, hai bên là lũy tre với những khu vườn trồng hoa và rau. Ở đầu đường là một tiệm mì và cà phê vợt mà anh đã làm quen với cà phê ở tiệm này. Bây giờ thay đổi khá nhiều. Dân di cư mua đất, đã phá bờ tre ở phía đầu đường để làm nhà và mua tiệm mì, rồi phá đi xây thành nhà hai tầng, mở lò bánh mì Hạnh Phúc.
Điệp nói:
– Con đường đất cát lồi lõm, nhưng đi vào thấy mát mắt với màu xanh của bụi tre, vườn và cây cối.
Nhân gật đầu:
– Ngày đó em vào tới đây là thấy những vườn hoa cúc, hoa huệ, hoa mào gà và vườn rau cải, sà lách và rau thơm bao quanh những ngôi nhà nhỏ. Dân Bắc di cư tràn tới, dân Nam bán đất đi chỗ khác. Bây giờ chỉ còn một số dân Nam sống về nghề trồng hoa, trồng rau ở mãi phía trong – Nhân chỉ qua cửa sổ: Nhà bên cạnh kia vách ván, lợp ngói cong, tiêu biểu cho nhà cửa của ấp này, họ buôn bán và chạy xe ngựa đường Ông Tạ – chợ Cầu Ông Lãnh.. Những buổi sáng dậy sớm, anh thường nghe tiếng chặc lưỡi gọi ngựa và tiếng vó ngựa lịch kịch kéo xe ra đường.
Điệp nói:
– Cách đường lớn không bao xa mà điện vẫn chưa vào tới đây. Ban đêm tối tăm quá, đúng là cảnh thôn dã chớ không như đường Yết Kiêu, thôn dã mà có điện, có nước máy và đường trải nhựa.
Nhân chỉ ra sân:
– Trước bếp là cái giếng sâu trên 3 mét, nước ngọt và rất trong. Em thấy đời sống ở đây là nước giếng, rau vườn và đèn dầu. Những đêm mưa gió thì mịt mù với tiếng ễnh ương, ếch nhái. Còn những đêm trăng thì mờ ảo.
Nhân chỉ lên kệ sách:
– Anh có bộ Liêu Trai Chí Dị do Đào Trinh Nhất dịch. Đọc Liêu Trai trong những đêm mưa bên ánh đèn dầu mới cảm được sự huyền ảo ma quái trong Liêu Trai. Em có đọc Liêu Trai không?
– Dạ, em mới đọc một số truyện do Nguyễn Hoạt dịch – Như chợt nhớ ra, Điệp hỏi: Anh đã đọc “Trăng Nước Đồng Nai” chưa?
– Đọc rồi. Trăng Nước Đồng Nai bắt mình nghĩ nhiều về cái làng cù lao giữa sông Đồng Nai, ở giữa 2 cây cầu dài… sông nước, trăng, người và hoa bưởi. Có dịp nào, chúng ta thử tới cái làng đó hái bưởi cũng như đi vào sơn thôn có mấy chục nóc nhà hái hồng ở Cát Bà. Có thể em không để ý, nhưng do anh thường đọc Liêu Trai, lại đọc trong khung cảnh làng quê, tối tăm đèn dầu với tiếng giun dế, nên anh để ý đoạn Nguyễn Hoạt nói về tính chất Liêu Trai của những cái cổng và những cái tháp trong mấy nghĩa trang ở bên đường đối diện với núi Châu Thới. Con đường Sài Gòn – Biên Hòa, mình đã đi biết bao nhiêu lần, nhưng không để ý đến những cái cổng và tháp nghĩa trang – Nhân cười – Có lẽ Nguyễn Hoạt dịch Liêu Trai Chí Dị nên ông đã bắt được khung cảnh ấy để đưa vào Trăng Nước Đồng Nai.
Điệp hỏi:
– Ngoài Trăng Nước Đồng Nai, Nguyễn Hoạt còn có tác phẩm gì khác nữa không anh?
– Xuất bản thì hình như chỉ có Trăng Nước Đồng Nai, còn truyện đang đăng báo thì có Tỵ Bái trên Tự Do. Ông còn viết mục Đàn Ngang Cung trên Tự Do với bút hiệu Hiếu Chân.
Nhân tới kệ sách lấy một cuốn bìa nâu đưa cho Điệp:
– Anh đóng bìa đẹp thế này ư? Em giữ được bộ Giao Trì Hiệp Nữ, và thường đọc lại nhiều đoạn, nhưng em đã quên việc đóng bìa.
Nhân đặt tay lên vai Điệp:
– Thấy Nắng Đào cũng như thấy em, cảm được điều em muốn nói. Vì thế, ba năm em biệt tích anh đã sống với Nắng Đào, tấm ảnh và cái khăn tay. Ông bà mình kiêng tặng nhau khăn tay, vì khăn tay để lau nước mắt… Từ Nắng Đào anh nhớ Cát Bà với những ngày đi trên con đường lát đá cạnh núi với sóng biển dạt dào, nhìn em kéo quần tránh nước đập vào đá tung tóe lên đường, nhìn sóng biển leo núi ngoài khơi, với ngày đi hái hồng, anh nhớ cổ áo tròn với đôi mắt sắc mà nồng nàn ngước lên đỡ túi hồng. Từ Nắng Đào, anh nhớ Quảng Yên. Hôm đi coi Ciné, anh không để ý đến phim mà suốt buổi chỉ nghĩ đến việc em đi. Buổi sáng từ giã ở bến xe, anh dõi theo chiếc xe hàng màu vàng cổ dụt chạy ra đường, rồi mất hút trên đường Khê Chanh. Trên đường về, anh đi theo phố Yết Kiêu, nghĩ là giờ này, chiếc xe vàng đã dừng lại ở bến Rừng, qua phà sông Rừng, rồi đi qua dãy núi Tràng Kênh. Đến trưa anh nghĩ giờ này xe đã qua núi Đèo tới bến đò Bính, qua phà, vào bến. Em xuống xe và mất hút, vì anh không còn …
Điệp bật khóc:
– Anh đừng nói nữa – Nàng lấy khăn tay lau nước mắt, yên lặng một lúc lâu, rồi nói:
– Khi vào Nam em sợ, nhưng mấy năm qua em vẫn tin là mình sẽ gặp lại nhau, niềm tin mơ hồ, nhưng em vẫn tin như thế. Chúng ta còn đi học, hoàn cảnh của anh khó khăn hơn em. Đêm đêm lăn lộn với mấy chục tờ báo, nhưng đó là cách thích nghi với hoàn cảnh. Và bây giờ, nhà chỉ mình anh mà khu vườn tươi tốt thế kia.
– Cám ơn Điệp đã nghĩ như thế. Ai cũng bận nên vườn không có gì nhiều. Cây ăn trái có ổi, đu đủ và chuối, còn rau thì chỉ có mồng tơi, rau đay và rau thơm.
Nhân để cuốn Năng Đào lên kệ sách, rồi nắm tay Điệp:
– Bây giờ mình đi hái ít ổi và đu đủ.
Ra tới sân, Nhân đi nhanh xuống bếp lấy một cái rổ và một cái túi xách bằng cói. Đưa cho Điệp cái túi xách và chỉ mấy cây ổi, Nhân nói:
– Em hái ổi, còn anh đi coi mấy cây đu đủ xem có trái nào chín.
Nhân bưng 3 trái đu đủ trở lại hàng ổi, trong khi Điệp vẫn đang đứng nhìn từng cây, ngắm nghía những trái ổi vàng bóng.
– Em hái được nhiều chưa?
– Dạ, được chừng hơn chục trái, anh ạ, mà sao trồng cùng thời gian mà có những cây lớn nhỏ khác nhau?
Nhân cười:
– Mấy cây lớn là do chủ cũ trồng, còn những cây nhỏ mình trồng và phải 2 năm nữa mới có trái.
Nhân tới một cây cao, vin cành, chỉ: Em hái mấy trái này – Rồi cứ thế vin cành cho Điệp hái.
Thấy giỏ đã nặng, Điệp nói:
– Thôi anh ạ, nặng rồi. Em sợ cái giỏ này không đựng hết 3 trái đu đủ.
– Có thể đủ, để thử coi – Nhìn trái thứ ba, gần sát miệng giỏ, Nhân cười: Em thấy chưa, vừa vặn. Rồi một tay xách giỏ, một tay dắt Điệp vào nhà.
Nhìn đồng hồ, thấy đã hơn 11 giờ, Điệp nói:
– Em về, anh ạ.
– Trưa rồi, phải kiếm cái gì ăn. Đi ăn phở với anh.
Nhân đang loay hoay buộc giỏ ổi vào cái giỏ sắt sau xe Solex thì nghe tiếng:
– Thưa anh, em đi học về.
– Chào chị.
Nhân nhìn lên, nói:
– Phượng, em gái út – rồi chỉ Điệp: Chị Điệp, bạn của anh.
Điệp cầm tay Phượng:
– Phượng học trường xa hay gần em?
– Dạ, em học trường Khuông Việt gần đây.
Điệp lấy trong sắc tờ 20 đồng đưa cho Phượng:
– Chị cho em để mua sách, mua quà.
Phượng nhìn anh.
Nhân nói:
– Chị cho, em cầm lấy.
– Em cám ơn chị.
– Anh đi với chị Điệp ra ngã ba Ông Tạ. Em hâm cơm và đồ ăn, chờ Thanh về ăn một thể – Nhân dặn em, rồi nói:
– Thôi, mình đi, Điệp.
Nhân dắt xe đạp đi trước, Điệp dắt Solex theo sau. Ra tới cổng, Nhân chỉ khu vườn đối diện:
– Kiểu nhà với vườn trồng hoa và rau kia là tiêu biểu của ấp này. Nhà mình lúc mới mua cũng thế, chỉ khác là nhà lợp tranh.
Điệp nhìn một lúc:
– Người ta trồng rau cải, hoa cúc và hoa huệ.
– Vào sâu một đoạn nữa, vườn nào cũng rau, hoa cúc, huệ và mào gà.
Đi hết đoạn đường nhỏ, tới đoạn có bờ tre, đường rộng hơn, Điệp dắt xe đi song song với Nhân.
– Bố mẹ mua nhà ở ấp này, nên anh được sống giữa làng hoa, huệ và cúc, nhưng chỉ có thế. Anh không biết làng hoa Nghi Tàm ở Hà Nội đẹp thế nào mà nhiều nhà văn đã viết về cái làng hoa đó. Thời ở Hà Nội, em đã tới Nghi Tàm chưa?
– Em đã tới những làng hoa này nhiều lần. Nghi Tàm ở bên Hồ Tây, nên là một thắng cảnh. Làng hoa ở Nghi Tàm trồng nhiều thứ hoa như cúc, hồng, lay ơn, cẩm chướng, mẫu đơn, hoa ly…, đặc biệt là đào và quất. Cuối tuần dân Hà Nội thường xuống đây chơi, nhất là vào dịp Tết, người ta xuống Nghi Tàm để mua đào và quất. Em có một ít ảnh chụp trong mấy làng hoa Nghi Tàm, hôm nào em đưa anh coi. Anh sẽ thấy, vào đến làng hoa Nghi Tàm là vào rừng hoa với màu xanh, đỏ, tím, vàng, trắng – Điệp cười – Chớ không chỉ một màu xanh của lá cây và rau như làng hoa của anh.
– Đó là ban ngày, còn ban đêm em vào đây thì chỉ thấy một màu đen với đom đóm lập lòe và thỉnh thoảng đôi ánh đèn dầu leo lét từ mấy căn nhà vườn.
– Thế những đêm mưa tối tăm, đường lồi lõm thế này thì đi làm sao?
– Ở đâu quen đó, em ạ.
Đến đầu ngõ ra Thoại Ngọc Hầu, Nhân nói:
– Bây giờ em đi trước, Solex theo sau anh sẽ khó đi. Tới ngã ba Thoại Ngọc Hầu – Lê Văn Duyệt thì quẹo trái chừng hơn 200 mét sẽ thấy phở Thiên Thai ở bên trái.
Điệp gật đầu, lên xe, gài tà áo dài vào sau xe, đạp chừng chục mét rồi hạ máy, chiếc xe lao đi.
Nhân đạp xe theo sau và thấy tà áo dài xanh của Điệp bung lên như cánh buồm no gió.
4
Nhân dừng xe bên đường đối diện với núi Châu Thới, nhìn vào cái cổng mái cong và mấy cái tháp. Điệp chỉ vào phía cổng mái cong gần nhất:
– Khu này là khu Liêu Trai của Nguyễn Hoạt. Đồng hoang chỗ thấp, chỗ cao bát ngát màu xanh, xám, giờ này chớ buổi chiều thì đúng là miền đất của hồ ly, ma qủi.
– Em lên xe, mình vào chỗ cái cổng kia tìm chỗ nghỉ chân – Nhân nói rồi đạp máy, cho xe đi chậm khoảng 300 mét thì quẹo vào con đường đất đỏ, hai bên đường là những bụi cây thấp. Nhân dừng lại trước cái cổng mái cong. Đó là khu nghĩa địa với những ngôi mộ xây. Ở phía dưới chừng 500 mét có một cái cổng mái cong nhỏ hơn.
Nhân dựng xe:
– Mình ngồi đây một lúc. Thật may, đi chơi lại gặp ngày nắng nhẹ, chớ ngày nắng gắt thì cái mũ không che kín hai má em đâu. Nhân lấy bình nước đưa cho Điệp. Hai người ngồi trên bực xi măng của cái cổng gạch mái cong.
– Khu này người Tàu mua làm nghĩa trang, nhưng họ không xây qui mô như nhiều nơi ở ngoại ô Sài Gòn – Nhân chỉ lên mấy chữ Hán ở Cổng: Anh đọc được hai chữ Triều Châu, chắc là nghĩa trang của Bang Triều Châu thuộc Biên Hòa.
Điệp ngả người tựa vào vai Nhân:
– Họ làm nghĩa trang theo từng Bang chớ không làm chung hả anh?
– Người Tàu ở Việt Nam có tổ chức chặt chẽ với những Bang Hội, qui tụ những người cùng tỉnh thành một Bang, như ở Sài Gòn anh thường nghe Bang Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu. Có lẽ dân ở mấy tỉnh này qua Việt Nam nhiều. Họ sống theo Bang để trợ giúp nhau và khi chết thì cùng nằm một chỗ, thành ra mỗi Bang có nghĩa trang riêng – Vừa nói Nhân vừa nắm tay Điệp để lên đầu gối mình.
Từ ngày Điệp tới nhà Nhân tới giờ, nàng đã tới 3 lần nữa, một lần đi với Dũng để ăn giỗ, và lần nào nàng cũng xin phép mẹ. Còn Dũng đã kể lại chuyện gặp Nhân ở Cát Bà và ở Quảng Yên mà theo Điệp nói thì bà vui vẻ, khen Nhân chững chạc và có chí. Còn Nhân và Điệp sau lần hẹn nhau ở Cà phê Gió Bấc thì hai người còn hẹn nhau nhiều lần nữa, nhưng chỉ loanh quanh ở trung tâm thành phố như đi Ciné, nghe nhạc, vào Sở Thú hay công viên Tao Đàn. Mới đây mượn được chiếc xe gắn máy Capri của người bạn thân, Nhân đã chở Điệp xuống Nhà Bè ăn ở nhà hàng bên sông. Hôm nay đi núi Châu Thới, đi tới vùng đất Liêu Trai của Nguyễn Hoạt và dự trù vài tuần nữa sẽ đi tới làng cù lao giữa sông Đồng Nai ở Biên Hòa. Thấy Điệp yên lặng, Nhân đặt tay vào trán vào cổ Điệp.
– Em có sao đâu – Nàng ngồi thẳng lại rồi nói: Buổi sáng mà ở đây vắng quá.
Nhân cười:
– Khu nghĩa địa, ai tới làm gì, ngoại trừ những người đi tìm hồ ly, ma quái.
– Buổi chiều, buổi tối ai dám vào đây?
– Có Bồ Tùng Linh, nếu ông ấy tái sinh ở Việt Nam.
Điệp cười rồi hỏi:
– Anh có nhớ bài thơ Cô Vọng Ngôn Chi gì đó của một nhà văn, viết cảm đề cho Liêu Trai Chí Dị?
– A, bài tứ tuyệt của Vương Ngư Dương, mỗi lần giở tập Liêu Trai của Đào Trinh Nhất đều đọc nên nhớ:
Cô vọng ngôn chi, vọng thính chi
Đậu bằng qua giá vũ như ti
Liệu ưng yếm tác nhân gian ngữ
Ái độc thu phần quỷ xướng thi.
Nghĩa của 4 câu này:
Nói lời lảm nhảm, nghe lời lảm nhảm
Mưa như tơ trên giàn dưa, giàn đậu
Giọng đời đã chán không muốn nhắc tới nữa
Chỉ thích nghe quỷ dưới mồ mùa thu ngâm thơ.
Bài thơ hay nói lên được tâm sự của Bồ Tùng Linh qua Liêu Trai Chí Dị, đã có nhiều người dịch, nhưng anh chỉ nhớ bài của Tản Đà, có thể nhớ sai vài chữ vì lẫn bài nọ qua bài kia:
Nói láo mà chơi, nghe láo chơi
Giàn dưa lất phất hạt mưa rơi
Chuyện đời âu hẳn ta đà chán
Thơ thẩn nghe ma hát mấy lời.
Điệp nói:
– Như vậy chắc Vương và Bồ là hai bạn tâm giao.
– Không phải. Họ Vương đậu tiến sĩ, làm quan tới thượng thư và là nhà thơ, nhà văn. Còn họ Bồ chỉ dạy học ở tư gia và nghèo. Khi Vương làm quan ở Sơn Đông, quê của Bồ Tùng Linh, đọc Liêu Trai Chí Dị, khen và viết Liêu Trai đề từ gửi cho Bồ Tùng Linh – Nhân ngừng lại nhìn ra xa một lúc rồi nói: Cả một đời lận đận thi cử và nghèo, nhưng Bồ Tùng Linh đã giàu và phong lưu trong thế giới hồ ly, ma quỷ. Ông tung hoành múa bút trong thế giới này thành ra ông muốn lià thực để sống trong mộng:
Chuyện đời âu hẳn ta đà chán
Thơ thẩn nghe ma hát mấy lời.
– Bây giờ đi được chưa cô? Nhân nâng cằm, nhìn vào mắt Điệp hỏi, rồi đứng dậy cầm tay Điệp kéo lên, nhưng Điệp đã quàng tay qua cổ Nhân, đu người khi Nhân bước xuống mấy bực xi măng.
Con đường đi vào núi Châu Thới khoảng hơn một cây số, cũng đất đá, đầy cỏ nhưng rộng. Đến chân núi, Nhân dừng xe trước cổng đá, có mấy chữ: Châu Thới Sơn Tự bằng chữ Việt và chữ Hán, rồi nhìn lên những bậc đá của đường lên chùa với cây rợp bóng và cỏ mọc lan vào đá. Dắt xe đến một cây lớn, Nhân chỉ vào mấy tảng đá:
– Ngồi đây một lúc em ạ.
Điệp chỉ con đường lên chùa:
– Nhìn những tảng đá mòn với rêu phong kia có thể đoán tuổi của chùa Châu Thới.
– Thế em đoán bao nhiêu?
– Trên trăm năm.
Nhân lắc đầu:
– Em đoán thế thì chùa này còn mới quá. Theo tài liệu anh đọc nhân câu chuyện mình nói về vùng đất Liêu Trai của Nguyễn Hoạt và núi Châu Thới thì chùa Châu Thới được xây dựng từ cuối thế kỷ 17 và là một trong nhưng ngôi chùa cổ nổi tiếng của đất Gia Định ngày xưa. Núi cao trên 80 mét và con đường kia phải trên dưới 200 bậc. Đi bộ thì thú vị đấy…
– Em tưởng ở đây có đường cho xe hay có chỗ gửi xe.
– Anh cũng nghĩ thế, nhưng chỉ có con đường bậc đá kia. Có lẽ vào những ngày lễ như Phật Đản, Vu Lan hay Tết, người ta mới làm bãi giữ xe ở những khu đất dưới chân núi. Muốn viếng chùa thì phải đi vào mấy ngày lễ đó.
Điệp nói:
– Thôi để dịp khác, Sài Gòn tới đây đâu có bao xa. Hôm nay mình đi vòng dưới chân núi rồi tìm chỗ nào mát ngồi chơi anh ạ.
– Phải vậy thôi.
Nhân đạp máy xe, nhìn con đường đi vào phía trong vắng vẻ, cây cối rậm rạp như rừng, nên đi trở ra và vòng theo chân núi ở phía ngoài. Nhưng chỉ đi được khoảng hơn nửa cây số thì con đường đi vào khu rừng cao su, Nhân thầm nghĩ, phía ngoài này là rừng cao su thì không đi thêm nữa và cho xe đi vào giữa rừng phía gần chân núi. Gặp một vùng cỏ xanh dưới bóng mát của cây cao su, Nhân dừng lại một khu nhiều bóng râm.
– Ở đây có thể ngồi chơi được, mát mà có thể nhìn xa – chàng nói, rồi dựng xe cạnh một cây cao su lớn.
Sau khi lấy cái túi xách đựng đồ ăn, nước uống để trên tấm vải nhựa trải trên cỏ, Nhân đi quanh ra phía bờ ranh rừng cao su, vừa để vận động chân tay, vừa quan sát khu nhiều cây cối rậm rạp dưới chân núi. Khi trở lại, chàng thấy Điệp trong tà áo dài nâu, đang đi giữa những hàng cây. Lần đầu tiên nàng mặc áo dài nâu, nâu thẫm, còn lâu nay Nhân chỉ thấy nàng mặc áo màu xanh, màu trắng và vàng nhạt. Sáng nay thấy Điệp mặc áo nâu, Nhân nghĩ, đi chơi xa và lên chùa nên nàng mặc áo nâu, nhưng Điệp có biết đâu là áo dài nâu cổ thấp đã nâng khuôn cổ cao và làm nổi lên làn da trắng như ngó cần ở cổ và ở hai chỗ xẻ tà.
Khi đến gần thấy Nhân nhìn mình đăm đăm, Điệp đi nhanh, vừa ngả người vào Nhân, vừa nói: Quanh núi Châu Thới, chỗ nào cũng vắng quá.
– Núi xa làng thì lấy đâu ra người, ngoại trừ những người đi tìm Bồ Tùng Linh – Nhân cười, đỡ Điệp rồi cầm tay đi đến chỗ tấm vải nhựa:
– Lên chùa không được thì vào rừng. Bây giờ ăn, khoảng 1 giờ mình về.
Điệp ngồi xuống tấm vải nhựa:
– Sáng ăn phở còn no, anh cho em trái quít.
Nhân lấy trái quít, dùng con dao nhỏ bóc quanh phần trên rồi đưa cho Điệp.
Điệp hỏi:
– Anh ăn pâté chaud hay croissant?
– Anh cũng còn no, thôi theo em ăn quít.
Điệp cười, đưa trái quít đã bóc vỏ cho Nhân:
– Vậy anh ăn trái này, đưa em trái khác. Quít lớn quá, em ăn nửa trái thôi.
– Thế mỗi người một nửa, khỏi phải bóc thêm.
Ăn xong nửa trái quít, uống mấy hớp nước, Điệp ngồi tựa vào vai Nhân:
– Mẹ em và Dũng quí anh lắm đó. Nghe Dũng kể chuyện đi đáp cá, hái hồng ở Cát Bà và chuyện đi ăn bánh tôm, bún riêu ở Quảng Yên, bà bảo là sao ở Quảng Yên không cho bà đi theo.
Nhân nói:
– Như thế may cho chúng ta. Bà vui tính và phúc hậu, còn gặp những bà mẹ khó tính thì rất khó.
Từ thế tựa, Điệp xoay người nằm gối đầu lên đùi Nhân. Ánh mắt nồng nàn với đôi môi hồng đã kéo Nhân cúi xuống. Rừng cây im lặng như tờ, đây đó ánh nắng xuyên qua kẽ lá thành những vệt sáng trên cỏ. Nhân ngước đầu lên nhìn cổ Điệp và phần căng lên ở ngực, núm vú hằn lên dưới lớp vải nâu mỏng. Cái cổ áo lụa tròn biến mất ngày đi hái hồng ở Cát Bà đã theo Nhân suốt mấy năm, bây giờ hiện hình, chỉ cách mặt Nhân một gang tay. Chàng cúi xuống đặt môi mình lên hai phần căng ở ngực. Điệp vòng tay qua ngực kéo khuy áo. Mấy tiếng kêu nhẹ và phần áo ở ngực bung ra và Nhân đã tìm thấy chỗ biến mất theo cổ áo lụa ở Cát Bà. Nhân ngạt thở và ngước lên. Bụng Điệp mịn trắng lồ lộ trên phần vải ở đùi trong căng ra theo thế chân duỗi. Chàng cúi xuống, bỗng giật mình ngồi dậy với ý nghĩ xẹt qua đầu: Còn là học trò nghèo. Nhân không dám nhìn xuống dưới mà kéo lại vạt áo dài, cài lại khuy.
– Anh xin lỗi em.
Điệp nhìn Nhân một lúc, rồi ngồi dậy bật khóc. Nàng khóc nức nở, hai vai rung lên từng hồi.
– Đừng khóc nữa, anh xin lỗi em – Nhân nói như van xin, nhưng tiếng nói đã đưa tiếng khóc lên cao hơn.
Nhìn Điệp cúi đầu trên gối nức nở với quần áo xộc xệch, Nhân cũng bật khóc và chàng muốn lấy tiếng khóc để chuộc cái lỗi đã gây ra tình cảnh này, nên để cho nước mắt dàn dụa cho đến khi thấy vai Điệp thôi rung mới lấy khăn lau mặt. Nắm chiếc khăn ướt đẫm, Nhân ngồi yên lặng nhìn những hàng cây cao su và không dám nói vì sợ Điệp khóc nữa.
Chừng nửa giờ sau, Điệp đứng dậy nói:
– Cho em về.
Nhân gấp miếng vải nhựa để vào túi xách, quàng lên xe, rồi không biết nói điều gì nên lặng lẽ ngồi lên xe đạp máy. Trên đường về chàng dừng lại ở Thủ Đức để đổ săng và vào một tiệm kem để Điệp có chỗ lau mặt.
Đêm ấy Nhân nghĩ là chỉ một, hai ngày mọi chuyện sẽ qua và Điệp sẽ lại vui cười đón Nhân khi chàng đến đưa báo. Nhưng mấy buổi tối kế tiếp không có Điệp đón chờ. Rồi đêm thứ tư, Dũng đưa cho Nhân bức thư của Điệp. Nóng lòng muốn biết Điệp nói gì, Nhân đã dừng xe bên một cột điện, nghĩ là Điệp sẽ viết nhiều để bày tỏ nỗi lòng, nhưng không, cả một tờ giấy chỉ có mấy hàng:
Anh Nhân,
Em không ngờ anh lại như thế. Anh coi thường và xúc phạm em. Em ân hận và xin nói với anh một điều là chuyện của chúng ta kết thúc ở đây.
Vĩnh biệt anh.
Nhân bỏ tờ giấy vào túi, rồi lảo đảo đạp xe đi. Trời đêm gió mát, nhưng Nhân toát mồ hôi ướt áo. Chuyện đến thế kia sao? Tình cảm trai gái, nếu là lỗi thì đâu phải lỗi một người… Ánh mắt nồng nàn đắm đuối của Điệp ngày gặp lại ở Quảng Yên, tiếng kêu “anh Nhân” như reo lên khi gặp lại ở Phú Nhuận và tiếng khóc giữa rừng cao su Châu Thới, tất cả đều là sự biểu lộ tình cảm… Nhưng sao tình cảm ấy lại có thể lấy kéo cắt như cắt sợi dây… Nhân không hiểu và mải nghĩ nên quên rẽ vào con đường ấp Cả Trắc. Chàng quay lại, đi vào con đường hai bên bờ tre tối tăm, từ xa chỉ có những ánh đom đóm lập lòe.
PHẦN III
1
Nhân bước ra khỏi Barracks trong khi mọi người còn ngủ. Chàng đi lên dốc đường, rẽ vào quán cà phê. Chủ quán cười, gật đầu chào.
– Chào chị. Chị cho tôi ly cà phê sữa.
Chị chủ quán đem cà phê đến, đặt ra bàn, rồi nói:
– Hôm qua phái đoàn Mỹ đến, anh lại bận rộn cả tuần.
Nhân nói:
– Bận rộn mà vui, chị ạ. Vui vì bà con, anh em đến tấp nập đầy phòng, đầy sân chờ vào phỏng vấn và vui vì nghĩ là sắp đến phiên mình.
– Diện của anh nhanh lắm, chỉ 4 hay 5 tháng thôi – Chủ quán vừa bước đi vừa nói.
Nhìn hộp thuốc Dunhill màu nâu với ly cà phê và nghe Hà Thanh hát Mấy Dặm Sơn Khê từ máy cassette, Nhân thấy những năm tháng vừa qua ở Việt Nam như một giấc mộng dữ, và nay chàng hy vọng là sẽ tìm lại được đời sống của mình. Đời sống đó là yên vui, không sợ hãi những người quanh mình, và có thể nghĩ đến tương lai. Trên tàu Cao Ủy Tỵ Nan đi nhặt những người vượt biển bị trôi giạt vào những đảo nhỏ thuộc Indonesia, Nhân đã hỏi người đại diện Cao Ủy là ở Galang chúng tôi có thể làm gì? Ông cười trả lời: “Đảo chứa mấy chục ngàn người, nên phải có những cơ sở phục vụ như bệnh viện, Kho thực phẩm, vệ sinh, trường học… Các anh có thể làm việc trong những cơ sở ấy. Nhưng quan trọng hơn là các anh phải học tiếng Anh để chuẩn bị cho ngày đi định cư”. Vì thế chỉ mới lên đảo được hai tuần chàng đã nhận lời làm trưởng toán phụ giúp cơ quan JVA (Joint Voluntary Agency) của Mỹ thay thế ông thiếu tá không quân tên Long đi định cư, qua sự giới thiệu của Ban Đại Diện Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản ở Galang.
Khách cà phê đã bắt đầu vào nhiều. Hai người mới vào đến bên Nhân:
– Chào anh.
– Chào hai anh – Nhân chào lại, rồi nói: Nhìn sắc diện, tôi đoán hai anh có tên vào phỏng vấn kỳ này.
– Anh đoán thật hay. Bọn em nghe tên trên loa phóng thanh từ chiều hôm qua.
– Xin mừng hai anh – Nhân đứng dậy bắt tay hai người, rồi nói: Uống cà phê rồi lên cho sớm.
Hai người chào Nhân, rồi nhập bọn với hai người khác mới vào đi đến chiếc bàn ở góc trong.
Một người trong toán hỏi với qua một bàn khác:
– Sơn, mày cũng có tên kỳ này?
Người tên Sơn cười:
– Gia đình tao và cả họ nhà thằng Phong nữa. Kỳ này đi hết, giã từ Galang.
Nghe những lời rộn ràng và nghe loa phóng thanh liên tục đọc tên những người được vào phỏng vấn sáng nay, Nhân cười nghĩ đến việc mình với mấy người thuộc toán JVA Việt Nam đã làm suốt chiều qua để có kết quả của việc gọi tên những người được vào phỏng vấn.
Quán đã đông và ồn ào. Nhân nghe hết bản “Cuối cùng cho một tình yêu” do Khánh Ly hát, rồi đứng dậy tới quầy trả tiền. Bước ra khỏi quán, đi lên đoạn đường dốc thoai thoải, Nhân thấy nhẹ người và tận hưởng những cơn gió mát của Galang vào sáng sớm. Chàng chưa quen cái nắng và nóng của nơi gần xích đạo làm ẩm người, dù Galang là đảo với núi rừng bạt ngàn. Nhưng đặc biệt là khoảng chiều tối, khi mặt trời đã khuất thì những cơn gió mát trở về đưa tới cái lạnh trong đêm.
Lên hết dốc, rẽ vào Trung Tâm JVA, Nhân tưởng mình tới sớm, nhưng vừa lên tới sân đã nghe những tiếng cười nói của mấy chục anh em nam nữ đang xếp dọn lại bàn ghế.
– Chào anh.
– Chào chú.
– Morning…
Nhân cười:
– Chào các bạn. Các cô các cậu đều ở Galang 2 mà tới đây trước tôi.
– Những ngày JVA làm việc là những ngày vui trên đảo, nên bọn em dậy sớm đi uống cà phê để đón chào những người được may mắn đi sớm.
Nhân nói:
– Trước sau chúng ta cũng sẽ đi hết. Hôm nay mình vui với cái vui của bà con, ngày mai mình sẽ vui với cái vui của mình. Biết đâu kỳ này sẽ có một số anh em chúng ta vào phỏng vấn, chẳng hạn cô Vân, cô Thanh và cậu Tuấn …, nhưng khi Vân, Thanh đi rồi thì khó có thể tìm được cô nào có thuật đánh máy như mưa rơi trên mái tôn của hai cô (có những tiếng cười), còn Tuấn mà đi thì chúng ta mất một người trẻ, đẹp trai và nói tiếng Mỹ như người Mỹ. Và còn ai nữa, toán chúng ta trên 30 người mà người nào cũng đáng yêu đáng quí… ra đi thì sẽ nhớ nhau…, (có những tiếng cười khúch khích)
– Anh Nhân nói đúng. Chúng ta nhớ nhau và sẽ đi định cư cùng nhau.
– Ghép form thì đi định cư chung chớ khó gì.
Những tiếng cười rộ lên của toán JVA đã kéo theo tiếng cười của những người lên chờ vào phỏng vấn.
Đúng 8 giờ, toán JVA Mỹ tới, người nào cũng tay xách và ôm những cặp hồ sơ. Cùng với những tiếng chào nhau, toán thanh niên JVA Việt Nam đã xuống đường giúp toán Mỹ khiêng lên những thùng Coca, Pepsy và Seven Up ngâm nước đá, những thùng bánh mì sandwich và chocolate. Lần này toán JVA gồm 6 người, ngoài bà Nancy là toán trưởng, còn 5 người phụ trách phỏng vấn.
Sau khi nhân viên Mỹ và những người thông dịch đã ngồi vào bàn, Nhân nói với người phụ trách gọi tên: Bắt đầu đi anh Châu – Rồi cầm một xấp danh sách đi qua chỗ hai cô đánh máy:
– Cô Vân đánh danh sách ngày mai, còn cô Thanh, danh sách ngày mốt.
Nhân trở về chỗ coi lại xấp danh sách, rồi lẩm bẩm: Đây mới một nửa. Như vậy họ phải ở lại cả tuần. Chợt Nhân mỉm cười với xấp danh sách dày và nghĩ đến niềm vui của những cái tên sẽ được gọi trong tuần này.
– Anh Nhân, tứ diệu đế và bát chánh đạo dịch thế nào?
Nhìn về phía người hỏi, ông Đại Đức Tâm Hòa ở chùa Galang 2 và người thông dịch đang chờ, Nhân lấy tờ giấy đi đến vừa nói vừa viết: The Four Noble Truths and Noble Eightfold Path, và dịch cho ông sư một câu rồi trở về chỗ.
Vừa định đọc tiếp tập danh sách thì Nhân nghe tiếng gọi:
– Anh Nhân.
– Nhân nhìn lên, đứng bật dậy sửng sốt: Điệp – và phải đứng một lúc mới có thể bước ra: Gặp Điệp ở đây ư? Chàng nói rồi bước qua chỗ bàn đánh máy lấy chiếc ghế đem về để trước bàn:
– Điệp ngồi đây.
Điệp ngồi xuống, vừa định nói thì nước mắt trào ra, nên vội lấy khăn lau những dòng nước mắt lăn xuống má.
– Đừng khóc nữa …, tôi chưa biết gia đình Điệp ra sao, nhưng Điệp thoát được tới đây là bước qua một cuộc đời khác – Nhân chờ một lúc rồi hỏi: Điệp đi với những ai?
– Em đi một mình và tới đây từ tháng 7 năm ngoái – Điệp ngừng lại đưa khăn lên mắt… bị trục trặc giấy tờ nên mãi tới tháng 2 năm nay mới được gọi lên phỏng vấn, nhưng không may lại bị lây dịch đau mắt đỏ, nên bị hoãn… Mắt mới hết đỏ từ tháng trước. Hôm nay em định tới đây hỏi xem những người bị hoãn đến bao giờ sẽ được phỏng vấn, không ngờ lại gặp anh.
Nhân nhìn Điệp một lúc rồi nói:
– Mọi chuyện sẽ nói sau, còn bây giờ tôi sẽ hỏi bà Trưởng Phòng Nancy xem có thể giúp gì trong trường hợp của Điệp.
Vừa lúc ấy bà Nancy bước ra khỏi phòng đi đến chỗ để thùng Coca ướp đá lấy một lon.
– May quá, bà ấy ra kia, đi theo tôi, Nhân vừa nói vừa bước nhanh tới chỗ Nancy:
– Excuse me, Ms. Nancy, I would like to talk to you some words and I hope you’ll give me a favor.
Nancy cười:
– What can I do for you?
Nhân chỉ Điệp:
– Bà Điệp là bạn tôi từ thuở nhỏ tôi mới vừa gặp lại, được vào danh sách phỏng vấn từ tháng 2/1985, nhưng bị bệnh mắt đỏ nên bị hoãn. Nay bệnh đã hết, bà Điệp nhờ tôi hỏi bà xem bà có thể giúp gì trong trường hợp này.
Bà Nancy nhìn Điệp, rồi nói:
– Việc đó dễ, tôi có thể cho bà Điệp phỏng vấn kỳ này. Anh lên trụ sở JVA lục tìm hồ sơ của bà Điệp, rồi ghép vào danh sách phỏng vấn ngày mai.
Bà Nancy nói rồi tới bàn của Nhân lấy một tờ giấy viết mấy hàng đưa cho Nhân:
– Anh đưa tờ giấy này cho ông John. Ông ấy sẽ mở cửa văn phòng. Anh vào tìm thùng có mấy chữ “Bệnh Mắt Đỏ”. Hồ sơ của bà Điệp trong thùng đó.
Bà Nancy quay lại Điệp:
– Mừng bà gặp được bạn cũ trên một đảo tỵ nạn Cộng Sản.
Điệp nói:
– Cám ơn bà đã giúp tôi.
– Tôi rất vui là đã giúp được bà, vì đó là việc của tôi – Nancy nói rồi quay lại Nhân: Bây giờ anh có thể đi chứ?
– Vâng, cám ơn bà, tôi đi ngay bây giờ và trong khi tôi vắng mặt, nếu bà cần gì, xin gọi Cường.
– Được rồi – Nancy gật đầu nói rồi đi vào phòng.
Nhân để tập danh sách vào ngăn kéo, rồi cùng Điệp đi ra sân.
Điệp hỏi:
– Em có thể đi với anh được không?
– Trời nắng, Điệp chờ ở đây để tôi đi một mình cho nhanh. Chỉ có một thùng hồ sơ thì dễ tìm – Nhân nói rồi đi nhanh xuống những bậc xi măng ra đường.
Khoảng hơn một giờ sau Nhân về, tay cầm một kẹp giấy, vừa bước lên mấy bậc xi măng đã thấy Điệp bước ra:
– Tìm được hồ sơ rồi, hả anh?
Nhân đưa kẹp giấy cho Điệp:
– Tìm thì nhanh, nhưng phải chờ ông John khá lâu.
Chàng đứng lại dưới bóng râm của mấy cây dương, nhìn lại Điệp sau gần 30 năm: Vẫn dáng thanh tú, dù hơi đẫy đà. Mặt vẫn tươi, hồng nhuận với đôi môi và đôi mắt đen sắc. Cổ vẫn tròn cao trong cổ áo sơ mi rộng. Nhìn bàn chân, bàn tay, Nhân thầm nghĩ: Chân tay thế kia thì sau 75 Điệp không vất vả.
Điệp lật coi qua hồ sơ, rồi đưa lại cho Nhân:
– Cám ơn anh, không gặp anh thì chẳng biết đến bao giờ họ mới xét lại hồ sơ của những người đau mắt.
– Tôi nói với bà Nancy cũng là cầu may vậy thôi. Có thể bà ấy có thiện cảm với Điệp nên đã quyết định nhanh chóng. Cứ cho đó là cái may của Điệp ngày hôm nay – Nhân đưa tay cầm tay Điệp: Chúc mừng Điệp. Bây giờ Điệp về nghỉ để chuẩn bị cho ngày mai.
Điệp lấy quyển sổ trong cái túi xách, xé một tờ, ghi số Barracks đưa cho Nhân:
– Em ở Barracks 16, phòng 4, Galang 2. Chiều nay anh lên em được không?
– Chiều nay tôi phải sắp xếp một số việc ở đây, lên Điệp thì muộn quá. Thôi để sau phỏng vấn.
2
Sau bữa cơm chiều, Điệp đưa Nhân lên quán cà phê Gió trên giải đồi cao, gần khu Barracks. Hai người chọn chiếc bàn ngoài trời gần mấy tảng đá lớn.
Chủ quán là một thanh niên đi nhanh tới, đon đả:
– Chào anh, chào chị Điệp, đã khá lâu không thấy chị lên uống cà phê. Anh chị uống chi ạ?
Nhân nói:
– Anh cho tôi cà phê sữa và một bao DunHill – rồi hỏi: Em cũng cà phê sữa?
Điệp đáp:
– Không, em không uống cà phê – rồi nhìn chủ quán: Anh cho tôi Milo thêm sữa.
Chủ quán đi nhanh vào quán, một lúc sau có tiếng hát từ máy cassette vọng ra.
Nhân lắng nghe bản Nhà Anh Nhà Em một lúc, rồi nói:
– Bao nhiêu năm, hôm nay mới nghe lại giọng lả lơi của Trúc Mai. Quán Cà phê trên đồi này thật đắc địa. Dưới đường lên không bao xa, rồi lại gần những Barracks.
– Thế mà khách không bao nhiêu, anh ạ. Có lẽ người ta ngại lên dốc. Quán ở dưới đường đông khách hơn.
Khi chủ quán bưng khay cà phê, milo đến để ra bàn, Nhân hỏi:
– Ở đảo thế này, anh mua cà phê, milo, thuốc lá và những thứ hàng khác ở đâu?
Chủ quán đáp:
– Ở đây hàng tuần có chuyến tàu đi Penang. Chúng tôi xin phép đi những chuyến tàu đó, sáng đi chiều về. Penang là đảo lớn, là thành phố, hàng hóa như núi.
– Anh mở quán thế này, khi được đi định cư thì tính sao?
– Sang cho người khác. Gọi sang là có người bắt ngay. Quán Gió này tới nay đã qua tay nhiều người. Tôi sang quán đã được trên 2 năm, và mong sớm có ngày kêu người sang lại để ra đi.
Nhân cười:
– Galang có những tên quán thật hay, không quán nào đề bảng, nhưng có tên mà ai cũng biết như Tống Biệt, Vượt Biển, Biển Đen, Người Ở Người Đi… Quán này lấy tên Gió thật tuyệt, vì ở trên đỉnh đồi cao, gió biển gió núi đều bay thổi đây.
Chủ quán cười, vừa bước đi vừa tiếp: Còn Tình Sù, Tình Nhớ, Tình Câm… Thôi mời anh chị.
Nhân cười nhìn theo chủ quán, rồi nói:
– Năm 1957, gặp lại em ở Sài Gòn, anh mời em tới cà phê Gió Bấc. Năm 1985, gặp em ở đảo Galang, em đưa anh tới cà phê Gió… Ở đây phải gọi là Gió Biển hay Gió Ngàn. Năm 57, anh chỉ uống cà phê, còn năm 85 thêm thuốc lá – Nhân mở bao DunHill, rút một điếu xoay vòng ngắm nghía, rồi bật diêm châm – Đêm từ tàu Cao Ủy lên bến tàu Galang, trong khi ngồi xếp hàng để người ta gọi tên, kiểm lại người, Ban Đại Diện Người Việt Tỵ Nạn mời mỗi người một điếu thuốc 3 số 5. Đêm gió mát, với cái vui cập bến đã biến điếu thuốc thành hương vị đặc biệt. Anh chưa bao giờ được hút một điếu thuốc ngọt ngào và ý vị đến như thế.
– Tàu vượt biên vào đảo nào mà tàu Cao Ủy phải tới đón?
– Tàu anh đi là tàu đánh cá loại nhỏ, chạy được một đêm một ngày thì bể máy, và trôi theo sóng gió một ngày một đêm thì dạt vào đảo Subii, một đảo nhỏ, dân số chừng trên 500. Anh phải ở đó 3 tuần thì được tàu Cao Ủy, trong chuyến đi nhặt người tỵ nạn giạt vào các đảo nhỏ, nhặt về.
Điệp đang nâng ly Milo uống, nghe thế bỏ xuống:
– Tàu em đi cũng lạc vào một đảo nhỏ, tên dài khó nhớ và phải ở đó trên 3 tháng. Dân trên đảo thiếu gạo, phải ăn độn khoai lang và củ mì, nhưng rất tốt, chia cho mình từng ký gạo, ký khoai.
– Em vượt biên một mình, thế gia đình em và các cụ đâu?
Điệp lặng đi một lúc, mắt chơm chớp như muốn khóc:
– Toàn là chuyện buồn cả anh ạ. Ba em đi tù cải tạo về và mất đầu năm 1982, còn bà cụ mất cuối năm 1982. Dũng đi Thủ Đức sau Mậu Thân, tình nguyện vào Thủy Quân Lục Chiến và chết ở Quảng Trị năm 1972 – Điệp ngưng lại một lúc lâu – Còn em, sau chuyện của chúng ta, em buồn, lấy học làm vui. Xong tú tài em vào được Đại Học Sư Phạm, ra trường phải xuống Cần Thơ dạy và lấy chồng, một giáo sư dạy cùng trường. Sau 75, anh ấy dạy toán nên vẫn được tiếp tục dạy, còn em dạy văn, sử địa nên phải nghỉ. Năm 81, chồng em và đứa con trai, đứa con duy nhất, vượt biên. Tàu bị hải tặc cướp và phá vỡ ở vịnh Thái Lan…. Mẹ em để lại cho em một số vàng, nhưng vượt biên mấy lần cụt hết vốn. Không biết làm gì để sống nên em liều. Gia đình rủi cả, chỉ có em may tới được Galang và gặp được anh.
Trời về chiều với những cơn gió cuốn đi cái nóng ban trưa, và quán đã nhiều khách. Cả một khu đồi rộn lên tiếng nói, tiếng cười với mùi cà phê và thuốc lá.
Nhân hỏi:
– Trước 75 ông cụ còn đi làm hay đã về hưu?
– Ba em về hưu năm 72. Sau 30/4/75 ông không đi trình diện, nên tháng 6/75, họ tới nhà bắt và phải đi cải tạo ở trại Long Giao, rồi Z30A, Xuân Lộc, Long Khánh. Cuối năm 81 ba em được về, nhưng chỉ được 3 tháng thì mất – Điệp ngừng một lúc rồi hỏi:
– Còn anh phải đi cải tạo ở đâu?
Nhân châm điếu thuốc khác, hút mấy hơi:
– Cùng với đội quân tan rã ở Thừa Thiên tháng 3/75, anh bị bắt và bị giam ở nhiều nơi, rồi sau tháng 4/75 một thời gian được chuyển tới trại cải tạo Bình Điền, Thừa Thiên.
– Anh chỉ ở một trại cải tạo hay phải qua nhiều trại?
Anh chỉ ở Bình Điền cho tới ngày được tha, cuối năm 82. Hoàn cảnh của anh không khác em. Chỉ khác là phải đi tù cực khổ hơn. Khi được về thì gia đình cũng chẳng còn ai. Ông bà cụ mất sau 75 một hai năm, em vượt biên vào những ngày sau 30/4/75 và mất tích, còn vợ con, anh cũng chỉ có một đứa gái, đi kinh tế mới đã chết, con đi trước, mẹ đi sau, vì thiếu ăn và bệnh.
Điệp nói:
– Khoảng đầu năm 58, Dũng đã tới anh nhiều lần và lần nào cũng kể em nghe những gì Dũng và anh đã nói với nhau. Và đến hè 1958 thì Dũng cho em biết gia đình anh đã bán nhà và chủ nhà mới cho biết là gia đình anh di chuyển lên Đà Lạt. Em ngạc nhiên, vì gia đình anh đã yên ổn ở khu Ông Tạ. Ai cũng có việc, tại sao lại bỏ để đi lên một chỗ mới, một thành phố nhỏ, làm ăn sẽ khó khăn hơn.
– À, gia đình di chuyển lên Đà Lạt vì ông cụ xin được việc làm ở Bệnh Viện Đà Lạt, bà cụ tiếp tục bán cơm ở chợ, còn anh có thể xin chuyển vào trường Trần Hưng Đạo. Nhưng đúng như em nói, ở Sài Gòn anh có việc bán báo, còn lên Đà Lạt thì chẳng biết làm gì. Vì thế, lên đó được chừng hơn một tháng, anh trở lại Sài Gòn. Thời gian đầu ở nhà người bạn đã cho anh mượn chiếc xe gắn máy Capri để chở em đi chơi. Sau đó, anh kiếm được một chỗ kèm trẻ ở tư gia, và thuê được một căn gác xép ở cuối đường Trương Minh Giảng. Vẫn đi bỏ những mối báo cũ nên thường đi qua khu Phú Nhuận và thỉnh thoảng buổi chiều, anh thấy em trên đường Hai Bà Trưng hay Võ Di Nguy, vẫn áo dài xanh, trắng và mỡ gà, thêm màu nâu nữa, lao xe Solex vun vút giữa phố đông người.
Điệp xúc động:
– Anh vẫn nhìn thấy em ư…, vậy anh ở Sài Gòn đến năm nào?
– Hết hè năm 60, xong tú tài, anh lên Đà Lạt kiếm chỗ dạy học và làm vườn cho đến năm 66 phải động viên vào Thủ Đức. Chín tháng ở trường Bộ Binh Thủ Đức, những ngày thứ Bảy, Chủ Nhật được nghỉ phép về Sài Gòn, anh vẫn thường đi qua đường Hai Bà Trưng, Võ Tánh và mong có một buổi chiều nhìn thấy Điệp.
Mắt Điệp chơm chớp:
– Thời gian này em đã xuống Cần Thơ dạy học.
Nhân nói:
– Trong những năm quân ngũ ở chiến trường Thừa Thiên, Quảng Trị anh thường nghĩ là em vẫn còn ở Sài Gòn. Sau khi ra tù, sống ở Sài Gòn, đi qua đường Võ Tánh thấy nhà em thay đổi với những người lạ và sân không còn giàn hoa giấy nữa, anh lại nghĩ là gia đình em đã vượt biên.
– Nhà bị họ chiếm sau khi bà cụ mất, vì em đã sống ở Cần Thơ từ năm 66 nên không có hộ khẩu, còn người cháu gái con ông bác ở với bà cụ đã bị đuổi ra khỏi nhà. Chuyện vượt biên với gia đình em và họ hàng bên em là một thảm kịch, vì hai gia đình chú bác sạt nghiệp vì vượt biên mà con cái đều chết cả. Phần em thì đi ba lần mới thoát, cũng có cái may là không bị bắt lần nào.
Bỗng Nhân đứng dậy nói:
– Anh vào gọi thêm cà phê. Em uống Milo nữa không?
– Dạ, anh cho em một ly nữa.
Nhân đi vào quán và khoảng 15 phút sau bưng một cái khay có cà phê, Milo và một gói bánh quế. Chàng khuấy ly Milo để trước Điệp, rồi bóc gói bánh quế, lấy một cái đưa cho Điệp:
– Bánh này làm ở Singapore, em ăn xem có bằng bánh quế Sài Gòn không?
Điệp ăn chiếc bánh quế rồi nói:
– Trước kia em ít ăn bánh quế nên không nhớ hương vị ra sao, nhưng em nghĩ bánh sản xuất ở Singapore phải ngon hơn, vì họ làm để xuất cảng, phải cạnh tranh. Còn mình làm chỉ để tiêu thụ trong nước.
– Ở Sài Gòn không biết có mấy nhà sản xuất bánh quế, nhưng anh chỉ nhớ bánh quế Bảo Hiên Rồng Vàng, chuyên dùng cho những đám hỏi – Nhân cười: Thời gian ở Đà Lạt mỗi lần nhà được biếu quà đám hỏi, anh thường thấy một hộp bánh quế Bảo Hiên, một hộp trà Chính Thái hoặc trà Bảo Lộc, một quả cau và mấy lá trầu, đôi khi có thêm hai chiếc bánh xu xê.
Nghe hai tiếng đám hỏi, Điệp nhìn Nhân một lúc, rồi hỏi:
– Trong mấy năm đầu xa nhau, có bao giờ anh có ý định tìm gặp lại em không?
– Có nghĩ chứ. Bao giờ anh cũng nhớ em, nhưng không dám gặp.
Nhân nâng ly cà phê uống mấy hớp, rồi để xuống:
– Cuối năm 57, Dũng thường đến anh và lần nào cũng bảo anh tìm cách gặp lại em và Dũng sẵn sàng làm trung gian để giải hòa. Anh cảm động vì Dũng qúi mến anh và quá nhiệt thành muốn chúng ta trở lại với nhau. Anh cũng muốn thế, nhưng nghĩ đến mấy dòng chữ quyết liệt của em, nên đã nói với Dũng là khi tình cảm đã chết là hết, chẳng có gì nối lại được. Bao nhiêu năm nay nghĩ lại, thật sự anh không hiểu em và cứ truy vấn mãi về cái lỗi của mình – Nhân ngừng lại châm điếu thuốc khác. Trăng đã lên cao, soi tỏ những hàng cây trên đồi. Giữa không gian ấy có tiếng hát, tiếng nhạc từ một quán nhỏ vọng ra. Tiếng hát Việt Nam vang lên giữa núi rừng ở một xứ xa lạ. Bỗng Nhân nghẹn thở với ý nghĩ là chàng đang nói lại chuyện tình cho người tình của 30 năm trước nghe, trên đỉnh đồi của một hòn đảo cưu mang người Việt trên đường chạy trốn khỏi quê nhà. Nhân uống cà phê và hút mấy hơi thuốc cho dịu cơn xúc động, rồi tiếp: Anh truy vấn mãi về cái lỗi của mình. Nhưng có phải cái lỗi đó chỉ mình anh gây ra?
Điệp nói:
– Lỗi ở em. Bao nhiêu năm em ân hận về sự tự ái vô lý của mình. Lúc đó thái độ bất ngờ và lạ lùng của anh đã làm em nổi giận vì xấu hổ và tự ái.
– Bất ngờ và lạ lùng, em nói đúng, vì anh đã giật mình ngừng lại với ý nghĩ: Học trò nghèo. Em thử nghĩ, nếu chúng ta đi tới và em có thai thì cuộc đời của chúng ta sẽ ra sao? Anh có thể nói gì với mẹ em khi bà tin yêu mình?
– Sao anh không nói những điều này ngay lúc ấy?
Nhân lắc đầu:
– Không thể nói, phải tự hiểu. Anh nghĩ em hiểu vì chúng ta đã lớn chớ đâu còn như thời đi thả thuyền ở Cát Bà.
Điệp nói:
– Em không nghĩ như thế mà nghĩ là anh coi thường em và chê em nên em hận.
Nhân nhìn Điệp một lúc:
– Sao lại có thể nghĩ như thế Điệp? Chúng ta là gì của nhau mà coi thường nhau? Nghĩ vậy là em quên mất lúc anh nắm bàn tay em suốt buổi ciné ở Quảng Yên, quên mất lời anh nói là ba năm em biệt tích khi di cư vào Nam, anh đã coi chiếc khăn tay, bức ảnh và cuốn Nắng Đào như sự hiện hình của em… Mà sao em không viết thư nói những điều này, vì nếu viết như thế anh sẽ có thư trần tình và chúng ta sẽ cùng hiểu một lẽ chớ không có tình trạng mỗi người hiểu một cách để phải đoạn tuyệt nhau – Nhân ngừng lại uống mấy hớp cà phê, rồi tiếp: Cái đêm mà sáng hôm sau gia đình anh di chuyển lên Đà Lạt, anh với người bạn tên là Vịnh, người cho mượn chiếc xe Capri, đã đi bộ lên đường Võ Tánh. Khi anh rủ Vịnh đi bộ lên ngã tư Phú Nhuận, Vịnh hỏi: Có xe sao lại phải đi bộ?. Anh trả lời: Mấy năm bán báo, đi lại nhiều con đường thuộc khu Phú Nhuận, Chi Lăng, nhưng tôi nhớ nhất đường Võ Tánh, vì Võ Tánh là đường về mỗi đêm. Đêm nay là đêm cuối cùng tôi muốn đi để ghi nhớ những ngày vui, buồn, mưa nắng trên đường này và đi bộ để giã từ nó. Nghe thế, Vịnh cười, gật đầu.
Tới ngã tư Phú Nhuận, anh quay lại và dừng ở chỗ cái xe bán bánh tiêu, dầu chao quẩy, ở phía trước nhà em, em nhớ cái xe đó chớ?
– Dạ nhớ, em cũng thường mua bánh tiêu, dầu chao quẩy ở đó.
– Anh mua 2 cái bánh tiêu, đưa Vịnh một cái và nói: Mấy năm bán báo, tôi đã ăn không biết bao nhiên cái bánh tiêu ở đây. Cứ mỗi đêm khi về là mua một cái. Vịnh đứng, anh ngồi trên cái ghế đẩu ở gần cột điện, nhìn lên phía gác, phòng của em, lúc đó khoảng hơn 10 giờ, hình dung là em đang ngồi học bài hay đọc sách và cảm được sự kín cổng cao tường của một tiểu thư khuê các. Vịnh mua thêm bánh tiêu, đưa anh một cái và nói: Ăn bánh tiêu nóng kiểu này ngon hơn ở nhà. Hai tay cầm hai cái bánh tiêu, anh vẫn nhìn lên phía cửa sổ có ánh đèn vàng… và lúc ấy anh mới cảm được là em đã ở xa và cao quá, với không tới.
– Với không tới hay là chê?
Nhân nhìn Điệp:
– Em vẫn giữ ý nghĩ đó ư?
Điệp cầm tay Nhân:
– Em buột miệng nói đùa, xin lỗi anh.
Nhân nâng ly cà phê uống mấy hớp, rồi nói:
Thời gian đó anh đọc một truyện ngắn của nhà văn Trung Hoa do Vi Huyền Đắc dịch, trong đó có hai câu thơ:
Thiên nhai hải giác hữu cùng thì
Duy chỉ tương tư vô tận xứ.
(Chân trời góc bể còn đi tới
Chỉ có tương tư không bến bờ)
Cả tập truyện anh chỉ nhớ hai câu và hai câu ấy đã đi theo anh mấy chục năm.
Điệp lấy khăn tay lau những dòng nước mắt chảy dài trên má, rồi nắm tay Nhân:
– Sao lúc đó không đi tìm em? Anh đi tìm, em sẽ hết tự ái, hết hận.
– Thư đoạn tuyệt viết như thế, sao dám đi tìm.
– Em xin lỗi anh. Lỗi ở em, sự kiêu hãnh, tự ái của tuổi trẻ – Điệp bật khóc …. nghẹn lời – đã làm đời chúng ta dang dở.
– Chuyện đã gần 30 năm, mất nửa đời. Bây giờ gặp nhau mà hiểu được chuyện ngày trước thì đời chúng ta vẫn còn đó. Đừng khóc nữa Điệp… Hãy nghĩ đến hai cái vui em đang có trong tay: Cái vui thoát nạn và cái vui lưu lạc chân trời góc biển mà gặp được nhau.
Điệp ngước lên với cái khăn tay trên má:
– Cám ơn anh đã giải tỏa cho em cái hận ngày trước.
Nhân nói:
– Chuyện cũ buồn, nhưng đã qua. Chúng ta thả nó ra biển để nghĩ đến chuyện ngày mai.
Hai người yên lặng. Nhân lắng nghe Hà Thanh hát bản Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa và đang định nói với Điệp về chuyện đi định cư thì Điệp hỏi:
– Anh có biết ngày nào đợt được phỏng vấn kỳ ày sẽ đi Bataan không?
– Anh không biết rõ, nhưng theo lịch trình thuờng lệ thì khoảng 2 hay 3 tuần họ sẽ đưa em qua Singapore, rồi từ Singapore đi máy bay qua Phi Luật Tân. Em sẽ ở Bataan 6 tháng để học tiếng Anh và văn hóa Mỹ. Thời gian này cũng là thời gian để người tỵ nạn tìm người bảo lãnh ở Mỹ.
Điệp Nói:
– Em có người bạn thân ở Denver, tiểu bang Colorado. Chị ấy sẽ bảo lãnh em.
– Thế thì yên đường đi định cư.
– Vậy còn anh?
– Anh có mấy người bạn ở Cali, Texas và Washington, nhưng chưa định nhờ ai bảo lãnh. Khi nào qua Bataan sẽ tính. Theo bà Nancy thì những sĩ quan đi cải tạo, dễ xác minh, nên sẽ được phỏng vấn trong vòng 4 hay 5 tháng. Có thể anh sẽ gặp em ở Bataan 1 hay 2 tháng trước khi em đi Mỹ – Nhân cười – Biết đâu mình sẽ có dịp đi với nhau ra Manila.
Điệp như reo lên:
– Cứ hy vọng như thế đi anh.
Nhân nhìn Điệp một lúc, rồi nói:
– Mấy người bạn ở Mỹ gửi cho mấy trăm. Anh chia cho em một ít – vừa nói Nhân vừa với tay bỏ vào túi áo Điệp 200.
Điệp nói:
– Anh còn ở đây lâu, lại thời gian ở Bataan nữa, cho em rồi anh lấy gì chi dùng?
– Phụ nữ có nhiều nhu cầu hơn… Về thôi em ạ, kẻo lạnh – Nhân nói rồi đứng dậy vào quán trả tiền.
Dưới ánh trăng, Điệp cầm tay Nhân đi xuống đồi. Đến trước Barracks 16, thấy có nhiều người kê ghế ngồi ở hàng hiên, nên Điệp chỉ nắm chặt tay Nhân một lúc, rồi nói:
– Chiều mai anh lên ăn cơm với em.
Nhân gật đầu:
– Chiều mai anh lên.
oOo
Khi Nhân tới bến tàu Galang thì bến đã đầy người đưa tiễn. Sân trong là một cái nền xi măng dài lợp tôn với vách gỗ chỉ tới nửa người, đã có 5 hàng người ngồi chờ. Chừng 20 phút sau, 4 chiếc xe kiểu GMC chở đầy người từ Galang 2 tới. Nhân cười vẫy tay khi nhìn thấy Điệp trên xe thứ hai. Người trên xe xuống xếp hàng đi vào sân trong. Nhân đứng cạnh lối vào nên khi Điệp đi tới, chàng giơ tay nắm tay Điệp: Em đi may mắn, khỏe mạnh. Điệp nói: Anh ở lại khỏe mạnh. Hẹn gặp anh ở Bataan.
Đã tới giờ xuống tàu. Những người xếp hàng, nghe gọi tên, lần lượt đi xuống 4 con tàu sơn trắng, đậu dọc kè bến. Khoảng 15 phút sau thì tàu nổ máy, tháo dây buộc. Khi 4 con tàu rời bến thì trên bến có người khóc, người cười, người vẫy tay.
Nhân đứng tựa vào vách ván nhìn Điệp xuống tàu thứ ba, và đã nhìn theo con tàu cho tới khi màu trắng của tàu biến mất trong màu xanh của biển.
Nhân rút điếu thuốc, bật diêm châm. Hơn hai tháng trước đến đây vào đêm nên Nhân không thấy gì, chỉ biết là mình đã ngồi xếp hàng trên cái nền có mái tôn để người ta gọi tên, được một điếu thuốc thơm rồi lên xe về Barracks. Hôm nay Nhân mới thấy toàn cảnh bến tàu Galang. Công trình xây dựng đơn giản, thô sơ, gồm mấy ngôi nhà lợp tôn và một bến dài mà tàu lớn có thể vào như chiếc tàu của Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc đã đi nhặt những thuyền nhân tỵ nạn trên các đảo nhỏ vừa qua. Đối diện với bến tàu là một đảo nhỏ án ngữ, cách bến khoảng gần một cây số với rừng cây xanh biếc. Màu xanh của eo biển nhập vào màu xanh của đảo xanh thành một bức tranh. Bến tàu Galang là một bức tranh hiền hòa mà ngoạn mục. Nơi đây đã chứng kiến niềm vui của người cập bến và người rời bến.
Nhân nhìn ra khơi, biển xanh thẫm lóng lánh màu nắng vàng và nhủ thầm chỉ vài giờ nữa Điệp sẽ lên Singapore. Năm 1953 ở đảo Cát Bà, Nhân đã tiễn Điệp đi Hải phòng, cũng trên chiếc tàu sơn trắng mà Nhân đã nhìn theo cho tới khi tàu khuất sau những hòn núi giữa biển. Hơn 30 năm sau, trên đảo của xứ người, Nhân tiễn Điệp đi về một nơi bình yên không phải quê hương mình. Đứng lặng dõi theo những đám mây trắng ở chân trời, Nhân lẩm bẩm: Rồi mình cũng sẽ tới đó.
* Chu Tấn
******************
SỨ MẠNG VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI TOÀN CẦU HÓA
(CHU TẤN)
SỨ MẠNG VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI TOÀN CẦU HÓA (CHU TẤN)
Tháng 8 27, 2019
”…vấn đề “SỨ MẠNG VĂN HÓA” cần phải làm sáng tỏ và tiến hành một cách dũng mãnh hơn. Chúng ta khẳng định “Văn hóa Việt Nam có sứ mênh “Chống cái Ác để mưu cầu Tư Do, Dân Chủ và Nhân Quyền cho Con Người và Xã Hội…”
– Văn hóa là cái gì còn lại khi tất cả những cái khác bị quên đi, là cái vẫn thiếu khi người ta đã học tất cả. (Edouard Herriot)
– Văn hóa là tiếng khóc của con người khi đối mặt với số phận. (Albert Camus) – Tôi không muốn ngôi nhà của mình bị vây kín giữa những bức tường và những khung cửa sổ luôn luôn bịt chặt, tôi muốn văn hóa của mọi miền đất tự do thổi vào ngôi nhà đó. Nhưng tôi sẽ không bị cuốn đi bởi bất cứ ngọn gió nào. (Mahatma Gandhi)
I. DẪN NHẬP:
Người xưa thường đề cập tới VĂN KINH CHÍNH GIÁO một cách rất trang trọng. Vậy VĂN KINH CHÍNH GIÁO là gì? Xin thưa đây là nói tắt của 4 bộ môn quan trọng ảnh hưởng đến quyền lợi, họa phúc của người dân và sự hưng vong của Quốc Gia Dân Tộc. Bốn bộ môn đó là VĂN HÓA, KINH TẾ, CHÍNH TRỊ và GIÁO DỤC. Mỗi bộ môn này đều có vai trò, chức năng và sứ mạng riêng song đều hướng đến một cứu cánh chung là phục vụ người dân được sống trong thanh bình, an lạc hạnh phúc,và đem lại sự giầu mạnh vinh quang cho Đất Nước. Đứng về mặt “cứu cánh” mà xét, thì đây là “Nguyên Tắc kinh điển”, là “Chính Nghĩa” hay “Đạo Thống Quốc Gia”. Nhưng chúng ta không quên là cả bốn bộ môn chính yếu này đều do con người sáng tạo và thiết dựng lên, nên trong tiến trình “hiện thực hóa” văn hóa chính trị, kinh tế, giáo dục …. không phải lúc nào cũng theo một “chiều thuận”, “tiến bộ” mà thường theo “chiều nghịch” “tha hóa” “suy đồi”. Tại sao lại có hiện tượng Văn hóa tiến bộ và Văn hóa suy đồi? Tại sao lại có chính trị cấp tiến và chính trị bảo thủ dẫn đến suy vong? Tại sao lại có nền kinh tế thịnh vượng và kinh tế lụn bại tụt hậu? Tại sao lại có nền giáo dục “Nhân bản” “Dân tộc”, “Khai phóng” và nền giáo dục “phi nhân bản”, “phi dân tộc”, “phản khoa học”, cổ hủ lỗi thời? Riêng bộ môn Văn hóa, bộ môn quan trọng nhất có vai trò, chức năng và sứ mạng nào trước các vấn nạn của thời đại ? Nhất là trong thời đại toàn cầu hóa? Nhằm làm sáng tỏ các câu hỏi trên, trong bài tiểu luận này chúng tôi xin thảo luận cùng quí bạn đọc các điểm sau:
– Tương quan Văn Hóa Chính Trị
– Họa phúc của người dân tùy thuộc cá nhân hay tập đoàn cầm quyền tốt hay xấu và tùy thuộc cơ chế chính trị xưa và nay như thế nào?
– Văn hóa Quốc Gia trong thời đại Toàn cầu Hóa
– Vai trò và chức năng Văn Hóa.
– Sứ mệnh Văn Hóa trong thời Đại Toàn Cầu Hóa.
II. TƯƠNG QUAN VĂN HÓA CHÍNH TRỊ:
Trong bốn bộ môn VĂN KINH CHÍNH GIÁO, người xưa xếp Văn hóa đứng hàng đầu là rất đúng vì về phương diện chuyên môn, người ta phân tách ra thành các bộ môn khác nhau, nhưng đích thực theo nghĩa rộng và tổng quát nhất thì cả 3 bộ môn kia: kinh tế, chính trị, giáo dục hay nhiều bộ môn khác như tôn giáo, xã hội, luật pháp, y tế, địa lý, lịch sử, dân tộc học, nhân chủng học v..v… đều có liên quan ít hay nhiều, và đều thuộc về bộ môn Văn hóa cả. Có điều nổi bật nhất, đặc biệt nhất mà chúng ta cần chú ý là Văn hóa có tính chất lý thuyết, nặng về “phần TRI”, còn Chính trị thiên về “phần HÀNH” (Thực tế, thực tiễn, thực dụng, thực quyền, thực hành, điều hành….). Do đó mới đầu phát sinh ra 2 hiện tượng, rồi sau trở thành 2 chiều hướng lớn trong lịch sử nhân loại:
Khi văn hóa (TRI) và chính trị (HÀNH) cùng “song hành”, “thuận chiều” với nhau trong sứ mạng phục vụ người dân và phụng sự đất nước – vì nền văn hóa nào xuất hiện, sẽ có một nền chính trị “tương ứng” hay “đồng dạng” – TRI HÀNH HỢP NHẤT theo lối nói của triết gia Vương Dương Minh thì đây là điều ĐẠI PHÚC cho Quốc Gia Dân Tộc (sẽ đem lại kết quả “Dân giàu nước mạnh”, quốc gia văn hiến, văn minh).
Ngược lại khi Chính trị “không song hành”, “không thuận chiều” theo văn hóa, mà vì quyền lợi của cá nhân, phe nhóm, hay đảng phái lợi dụng khi nắm được chính quyền lũng đoạn chính trị, biến chính trị thành vai trò THỐNG SOÁI LÃNH ĐẠO tất cả, coi văn hóa, kinh tế giáo dục, pháp luật đều chỉ là “công cụ” của Chính tri thì đây là ĐẠI THẢM HỌA của Quốc Gia Dân aTộc.Nếu nền chính trị độc tôn, độc tài toàn trị này lại nhân danh một Ý Thức Hệ (Như ý thức hệ Cộng sản), đề cao “cách mạng bạo lực”, “thượng tôn giai cấp cầm quyền” theo chủ trương “vô sản chuyên chính” thì nền chính trị này không còn là nền chính trị phục vụ con người, phụng sự Tổ Quốc mà là nền chính trị phản dân hại nước, đầy đọa con người, giam hãm con người trong địa ngục trần gian, gieo rắc đau thương đói khổ kinh hoàng cho dân cho nước,tai họa không thể nào kể xiết đươc.
III. HỌA PHÚC CỦA NGƯỜI DÂN TÙY THUỘC CÁ NHÂN HAY TẬP ĐOÀN CẦM QUYỀN TỐT HAY XẤU VÀ TÙY THUỘC CƠ CHẾ CHÍNH TRỊ XƯA VÀ NAY NHƯ THẾ NÀO?
Họa phúc của người dân tùy thuộc cá nhân hay tập đoàn cầm quyền tốt hay xấu xưa và nay như thế nào?
A.1- Thời đại Quân chủ phong kiến xưa:
Dù là tại Trung Hoa hay Việt Nam trong thời đại Quân Chủ Phong kiến, đều có các đấng Minh Quân (Vua sáng suốt) điển hình như Vua Lý Thánh Tông (1054-1072) của Việt Nam, Vua có lòng nhân từ, “biết thương dân như con đỏ”… và các quan lại “thanh liêm”, “chính trực” “có đức có tài “ hết lòng chăm sóc đời sống của dân chúng, lo cho dân được an cư lạc nghiệp, được cơm no, áo ấm, đời sống sung túc, giầu có hạnh phúc… Nhưng tiếp theo những vị “Chúa Sáng Tôi Hiền” kể trên, cũng thường xuất hiện những Hôn quân (Vua u tối-chỉ biết sống xa hoa trụy lạc – không ngó ngàng gì đến đời sống đói khổ của dân chúng ) và bọn quan lại vô tài kém đức, chỉ biết hành hạ dân, bóc lột dân bằng nhiều hình thức sưu cao thuế nặng, không bình trị được đất nước, khiến chiến tranh triền miên, lại thêm tệ nạn tham nhũng, cường hào ác bá khiến người dân chịu khổ cực trăm chiều… Nhà ái quốc Phan Bội Châu đã không tiếc lời lên án loại vua quan hủ lậu đó bằng lời thơ vô cùng thấm thía:
“Một là Vua sự dân chẳng biết Hai là quan chẳng thiết gì dân Ba là dân chỉ biết dân Mặc quân với quốc, mặc thần với ai”
(Trích trong “Hải Ngoại Huyết Thư)
Thực ra khi vua thì u tối, quan lại tham ô nhũng lạm thì thân phận người dân bị áp bức bóc lột đến tận cùng … Người dân “thấp cổ bé miệng” nào biết nương dựa vào ai, trông cậy vào ai, kêu cứu nơi đâu để giải oan cho bao nỗi oan khuất, bất công phi lý mà mình phải chịu đựng…. Ca dao Việt Nam cũng đã cực tả thân phận “thấp cổ bé miệng” của người dân dưới chế độ chuyên chế thối nát thời quân chủ phong kiến
“Ếch kêu dưới vũng tre ngâm Ếch kêu mặc ếch, tre dầm mặc tre” …
A-2: Thời Cộng sản Thống trị nay:
Thời quân chủ phong kiến, nhà vua nắm toàn quyền cai trị đất nước, sang thời đại Cộng sản, Đảng chính là “Vua Tập thể” cai trị dân bằng đường lối chính sách vô cùng độc hại và tinh vi hơn nhiều. Sự sai lầm độc ác, không còn trong phạm vi cá nhân mà trở thành sự sai lầm, độc ác có tính hệ thống … gieo rắc đại họa cho dân, chưa từng thấy trong lịch sử loài người! Ngoại trừ những đảng viên cộng sản gộc, nay nghiễm nhiên trở thành “giai cấp thống trị mới”, còn toàn thể dân chúng, dù thuộc thành phần “nông dân”, “công nhân” đến “trí thức” đều là nạn nhân của chế độ CS:
Thân phận giai cấp Nông Dân:
“Nông dân là khối người đông đảo chiếm đến trên 70% dân số cả nước.Khi chưa chiếm được chính quyền Đảng CS ra sức ve vãn, phủ dụ nông dân, gọi nông dân là «hậu bị quân», là “một trong những chủ lực quân” của “cách mạng” để họ “sướng cái bụng” đem tiền của, sức lực và thậm chí cả thân mạng của mình hết lòng ủng hộ ĐCS với niềm tin vững chắc mà ngây thơ là khi cách mạng thành công, ĐCS sẽ thực hiện “ước mơ ngàn đời” của mình là “người cày có ruộng”! Nhưng thực tế lại quá phũ phàng cho bà con nông dân nước ta!
Quả lừa tiếp theo là ĐCS “phát động cải cách ruộng đất” nói là để tiêu diệt giai cấp địa chủ, tước đoạt ruộng đất của giai cấp này chia cho dân cày, trước nhất là bần cố nông. “Thắng lợi vẻ vang” (!) của cuộc Cải Cách Ruộng Đất hồi giữa thập niên 50 của thế kỷ trước, báo chí đã nói nhiều, giờ chỉ xin nhắc lại vài điều thôi. CCRĐ thực sự là một cuộc thảm sát có tính diệt chủng đã làm cho 172 nghìn 008 người dân ở nông thôn, chủ yếu là nông dân, trở thành nạn nhân, nghĩa là bị bắn giết, đọa đày đến chết, trong số đó 123 nghìn 266 người (tức là 71,66%) về sau được xác nhận là oan; riêng 26 nghìn 453 người bị quy là địa chủ cường hào gian ác thì có đến 20 nghìn 493 người (tức là 74,4%) được xác nhận là oan! Còn 62 nghìn người bị quy là phú nông thì có đến 51 nghìn 003 người (tức là 82%) được xác nhận là oan! Trong số những người bị oan cũng có hàng nghìn cán bộ, đảng viên cộng sản (tài liệu chính thức trích từ cuốn Lịch sử kinh tế Việt Nam, tập 2). Đó là chưa nói đến những hậu quả nguy hại khác của cuộc tàn phá khủng khiếp ở nông thôn mà ĐCS gọi là “cuộc cách mạng long trời lở đất” là: bằng cuộc CCRĐ theo khuôn mẫu Mao-ít, ĐCS đã phá vỡ truyền thống tốt đẹp,hòa hiếu, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau ở nông thôn mà cha ông ta đã tạo dựng hàng mấy nghìn năm trước; đã phá hoại đạo lý, luân thường của dân tộc và tạo nên một lối sống giả dối, man trá, điêu ngoa, vu khống, bất nhân mở đầu cho sự băng hoại đạo đức, nhân cách sau này; đã phá hủy cuộc sống tâm linh vốn có lâu đời, vì chùa chiền, miếu mạo, nhà thờ, những nơi thờ tự… đều bị phá phách, triệt hạ… CCRĐ kết thúc, một số bần cố nông hớn hở được nhận ruộng tưởng rằng “ước mơ ngàn đời” của họ đã bắt đầu được thực hiện. Họ được chụp ảnh, quay phim để ĐCS tuyên truyền khoe khoang “công ơn” của đảng đối với nông dân, thì… chưa đầy một năm sau, ĐCS đã lùa những bần cố nông đó, cùng các nông dân khác bắt họ đem ruộng đất tư vốn có của họ vào hợp tác xã, vô hình trung ĐCS tước đoạt mất quyền tư hữu mà giao ruộng đất của họ cho các chủ nhiệm hợp tác xã quản lý. Đấy, ĐCS đã thực hiện khẩu hiệu “người cày có ruộng” một cách bịp bợm như vậy!
Đến quả lừa “vĩ đại”, tồi tệ nhất của ĐCSVN đối với nông dân và nói chung cả với toàn dân ta, là… khi soạn thảo và thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1980, bằng điều 19 của Hiến pháp, ĐCS đã nhẹ nhàng, gần như thầm lặng, không “long trời lở đất” tí nào, chuyển quyền tư hữu đất đai (tức là toàn bộ thổ canh thổ cư, nói nôm na là ruộng đất) của nông dân và của nhân dân nói chung sang cái gọi là “sở hữu toàn dân”! Từ đây, thực tế ĐCS đã “quốc hữu hóa”, hay nói chính xác hơn “đảng hữu hóa” ruộng đất của nông dân và nhân dân. Từ đây, quyền tư hữu ruộng đất của người dân hoàn toàn bị xóa bỏ, và ruộng đất bây giờ thực tế nằm trong tay sở hữu của ĐCS là đảng độc tôn thống trị đất nước” (1*) Từ đây dẫn tới hiện tượng DÂN OAN….. lại càng bi thảm gấp bội, gây bao đau thương cho nhân dân không bút nào tả xiết ….
Thân phận giai cấp Công Nhân
Theo ông Trần Quang Thành một đảng viên CS đã bỏ đảng trốn ra nước ngoài để vận động Quốc tế yểm trợ cho việc thành lập Cộng Đoàn Độc Lập ở trong nước, đã cho biết về số phận người công nhân dưới quyền thống trị của CS hiện nay như sau:
“Năm 2006 thấy tình hình Việt nam có những cuộc đình công mà không có cuộc hướng dẫn của ai cả thì một số anh em trong nước và ngoài nước thấy cần thiết phải thành lập Công Đoàn độc lập. Ngày 20/10/2006 tại Hà Nội đã tuyên bố thành lập Công Đoàn độc lập Việt Nam.Và cũng kêu gọi chính phủ Việt nam cho phép Công Đoàn độc lập được hoạt động để giúp đỡ những người công nhân Việt Nam.
Sau đó 1 tuần tại Warsaw, thủ đô nước Cộng Hòa Ba Lan, chúng tôi đã tổ chức hội nghị về quyền lao động quốc tế gồm trên 70 thành viên,gồm cộng đồng người Việt và quan khách Quốc Tế trong nhà Quốc hội Ba Lan. Mục đích của cuộc họp đó để yểm trợ Công Đoàn độc lập trong nước.Cuộc họp đó được chính phủ Ba Lan hết sức ủng hộ, ngồi ghế chủ tọa là ông Phó chủ tịch Cộng đoàn Đoàn kết và ông Chủ Tịch Hiệp Hội Tự Do Ngôn Luận.
Nhưng một điều đáng tiếc là sau khi Việt Nam họ gia nhập tổ chức WTO và họ tổ chức thành công hội nghị APEC tại Hà Nội thì họ nuốt lời hứa và quay ra đàn áp những người tranh đấu vì quyền nghiệp đoàn của công nhân. Những người sáng lập và cổ vũ cho nghiệp đoàn như là luật Sư lê Thị Công Nhân, Luật Sư Nguyễn Văn Đài đều bị bắt. Anh Lê Trí Tuệ là Phó chủ Tịch Công đoàn độc lập bị truy đuổi và sau đó phải trốn chạy sang Cam Pu Chia, nhưng cũng bị nhà cầm quyền Việt Nam bắt và đến nay không rõ tung tích.
Năm 2008 một nhóm các anh em hoạt động dưới cái tên là Phong trào lao động Việt tiếp tục hoạt động bán công khai, giúp đỡ những người công nhân.
Khi nhà máy Mỹ Phong ở Trà Vinh quịt lương của công nhân, quịt bảo hiểm xã hội thì anh em đã hướng dẫn trên 10 ngàn công nhân đình công trong vòng 1 tuần. Giới chủ nhân đã đáp ứng phần lớn yêu cầu của công nhân. Nhưng sau đó nhà cầm quyền bắt ba người hướng dẫn trực tiếp cho công nhân. Họ tuyên án anh Nguyễn Hoàng Quốc Hùng 9 năm tù, Cô Đỗ Thị Minh Hạnh, cũng như anh Đoàn Huy Chương 7 năm tù.
Ngoài ra chúng tôi cũng nói rõ cho thế giới biết rằng hiện nay Việt Nam có Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam, nhưng họ là cánh tay nối dài của Đảng Cộng sản. Tổng liên Đoàn Lao Động Việt nam từ khi ra đời từ năm 1946 đến giờ chỉ giữ vai trò thay mặt đảng kiềm tỏa người công nhân chứ không tranh đấu cho quyền lợi của người công nhân !!!
Cộng việc của chúng tôi rất là thầm lặng. Anh em ở trong nước hoạt động hầu như là bí mật”… (2*).
Thân phận người Trí Thức:
Tại Việt Nam chỉ có các cá nhân các nhà trí thức, chứ không có tập thể trí thức. Đa số giới trí thức đều sơ hãi cam tâm làm công cụ cho Đảng CS, nói theo lệnh Đảng! Một thiểu số can đảm nói lên tiếng nói của Dân, đòi hỏi Dân Chủ Tự Do và Nhân quyền cho mọi người công dân Việt Nam. Họ là những người bất đồng chính kiến với nhà cầm quyền và thường bị gán ghép chụp mũ là những phần tử phản động bị theo dõi, trù dập bắt bớ tù đầy, hay bị ám hại thủ tiêu! Một số người bị tra tấn, đánh chết ngay trong đồn công an rồi vu cho chết vì bệnh ác tính hay treo cổ tự tử !!!….
Họa phúc người dân còn tùy thuộc vào Cơ Chế Chính Trị Xưa và Nay như thế nào?
B1- Thời Quân Chủ Phong Kiến Xưa:
Tại Đông phương,trong thời đại quân chủ phong kiến xưa, có 3 đường lối cai trị dân nổi bật nhất, và được nhiều người bàn luận nhiều nhất, sôi nổi nhất là : ĐẾ ĐẠO, VƯƠNG ĐẠO và BÁ ĐẠO.
– ĐẾ ĐẠO:
Đây là đường lối cai trị dân bằng Đạo Đức (còn có tên gọi khác là “Đạo trị” hay “Đức Trị”) của các bậc Thánh Vương mang tính chất Hoàng kim thời Đại -thời vua Nghiêu, vua Thuấn. Mục đích của Đế Đạo là xây dựng một xã hội lý tưởng, đặt nền tảng trên tình thương lòng nhân ái. Thông qua “lễ nghi và giáo dục” mọi người dân biết yêu thương tha thứ bao dung nâng đỡ nhau, không hề có sự tranh giành chém giết lẫn nhau… Nhà vua và các quan lại đều là những nhà đạo đức, nêu gương sáng cho dân, noi theo, giáo hóa dân xa lánh điều ác, thực hiện những điều thiện, tạo nên thuần phong mỹ tục, đưa việc hành thiện trở thành thói quen thường ngày của con người. Đưa xã-hội đi vào con đường Chân Thiện Mỹ một cách tự-nguyện, tự-giác chính là mục-đích của Đế-Đạo. Kết quả của xã hội “Đế Đạo”: Nhà nhà đi ngủ mà không cần đóng cửa. Ngoài đường không có ai nhặt lươm của rơi… Thật là lý tưởng, thật đáng mong ước!
Đế Đạo lấy việc thuyết phục giáo hóa làm tôn chỉ hướng dẫn và uốn nắn xã hội. Đế Đạo không dùng đến pháp luật, nên không cần xây dựng nhà tù hay các biện pháp chế tài nào khác…
Nếu bất đắc dĩ mới phải dùng đến biện pháp chế tài! Mà khi đã dùng đến biện pháp chế tài thì có nghĩa là đường lối, tôn chỉ Đế Đạo đã thất bại !!?? “Lý tưởng Đế Đạo đã bị sụp đổ !! Đế Đạo chưa bao giờ nếm mùi thất bại và sụp đổ, lý do dễ hiểu vì Đế Đạo chưa bao giờ được thực hiện trên trái đất – bất kỳ ở Đông hay Tây Phương! Đế Đạo thực chất chỉ có trong tưởng tượng hay trong ước mơ của loài người! Dẫu sao Đế Đạo cũng đem lại cho người đời một GIẤC MƠ ĐẸP không kém GIẤC MƠ THIÊN ĐƯỜNG…
Trong lịch sử Trung Quốc có nhắc đến Đế Đạo thời Vua Nghiêu (2337-2258 TCN) vua Thuấn ( ?- 2184 TCN) – được coi như khuôn vàng thước ngọc của Hoàng Kim Thời Đại! Theo Trúc Thư Kỉ niên: Việc Vua Nghiêu truyền ngôi cho Thuấn chứ không truyền ngôi cho con là Đan Chu thường được sử sách đời sau xem là tấm gương mẫu mực của việc chọn người tài đức chứ không vì lợi ích riêng tư của dòng họ.(3*)
Trong thiên Thái Bá sách Luận ngữ, Khổng Tử ca ngợi Đế Nghiêu: “làm vua như Nghiêu thật là vĩ đại! Thật là cao quí thay! Chỉ có trời là cao lớn nhất, cũng chỉ có Nghiêu thật là người biết đựa vào đạo trời. Công đức vua Nghiêu to lớn khôn cùng, dân chúng không thể ca ngợi cho xiết. Công lao của Nghiêu vô cùng vĩ đại. Chế độ lễ nhạc do Nghiêu đặt ra vô cùng sáng tỏ, chiếu tỏa hào quang khắp mọi nơi”
Các thế hệ sau Khổng Tử thường nêu lên câu hỏi: Tam Hoàng Ngũ Đế thời sơ sử của Trung Quốc có phải là những con người bằng xương bằng thịt hay đó chỉ là “Huyền Thoại”? Liệu có một Thời hoàng kim thật sự thời Vua Nghiêu vua Thuấn? Tại sao Đức Khổng Tử hết sức ca ngợi công lao của Vua Nghiêu mà không nói rõ bí quyết hay đường lối trị nước theo Đế Đạo của Vua Nghiêu như thế nào? Nếu “Đế đạo chỉ là giấc mơ không có thật trong thực tế thì lời khen công đức của Vua Nghiêu của Không Tử cũng chỉ là “huyền thoại? hay “hư chiêu” mà thôi ư ??
Theo quan điểm của chúng tôi: Sở dĩ Đức Khổng Tử hết lời klhen ngợi công lao của Vua Nghiêu vì quả tình Vua Nghiêu là người Đạo cao Đức trọng thật sự… Hơn nữa Không Tử muốn lấy Tấm gương Vua Nghiêu làm khuôn vàng thước ngọc cho các thế hệ Vua Chúa sau này, lấy đó để làm ĐIỂN MẪU cho việc cai trị dân đúng theo Đạo Trời – nhằm giúp cho thế hệ các Vua sau này nếu không theo được ĐỀ ĐẠO thì ít ra cũng là theo VƯƠNG ĐẠO, chứ đừng đi theo BÁ ĐẠO hay TÀ ĐẠO… Đây là “Chiến thuật” hay “Đạo thuật” của Không Tử áp dụng phương pháp:“Thác Cổ Cải Chế”(Thác lời người Xưa để răn dạy Người Thời Nay… Thiết nghĩ đây cũng chính là Bản Tâm của Đức Khổng Tử vậy..).
VƯƠNG ĐẠO:
Nói vắn tắt Vương Đạo là dùng Đức trị, hay Nhân Trị còn bá đạo dung lực trị, “Dĩ lực phục nhơn giả Bá, dĩ đức phục nhơn giả Vương (Mạnh Tử Công Tôn Sửu) Dùng võ lực mà thu phục người là “Bá đạo”. Dùng đức mà thu phục người là “Vương đạo”…Theo triết gia Linh Mục Kim Định, chúng ta cần xác định lập trường hay chủ trương đó bằng đưa ra những điểm khác nhau theo 5 nguyên tắc sau đây:
Nguyên Tắc Thứ Nhất: Cử Hiền
Trước câu hỏi quyền bính thuộc về ai? Người có tài đức hay võ lực, hoặc dòng tộc?
Vương đạo chủ trương thuộc người hiền đức, cắt đặt người hiền tài có năng lực (cử hiền dữ năng) Khi Mặc Tử viết: “Thượng hiền cử năng vi chính” “tôn trọng người có đức, dùng người có tài năng làm chính sách (Chương Thượng Hiền) là tỏ ra Mặc Tử còn trung thành với Khổng trong phương diện này). Chủ trương đó chống với câu “Bất thượng hiền sử dân bất tranh” của Lão Tử và cũng là đối lập với câu “kế thừa huyết thống Thượng Đế” của quí tộc, xây trên thần thoại với chế độ kế tử “cha truyền con nối” kể cả trong hàng quan lại. Đó là chủ trương “thiên hạ vi gia các thần kỳ thân” lấy thiên hạ làm của riêng gia đình ngược với câu Luận ngữ “Phiếm ái chúng nhi thân nhân”, “Rộng yêu mọi người nhưng thân hơn với người nhân đức” (L.N.16) sẽ được giảng diễn ra thành thuyết “Đại đồng” trình bầy trong Thiên Lễ vận“ Đại đạo chi hành dã, thiên hạ vi công”.
Nắm chủ trương then chốt đó rồi ta dễ dàng hiểu những câu khác. Chẳng hạn câu “Thiên mệnh mỹ thường” trong Kinh Thi, thiên Đại Nhã, thiên mênh không phải trường tồn, có đức thì còn, mất đức thì hết, vì quyền bính thuộc người Hiền Đức chứ không thuộc dòng tộc. Câu đó thường được nhắc nhở luôn dưới nhiều hình thức. Mạnh Tử nói:“Lập hiền vô phương”,(IV B.20) cắt đặt người hiền thì không kể đến phương, tức nơi xuất xứ, cũng lại Mạnh Tử viết: “Tam đại chi đắc thiên hạ giả dĩ nhân, kỳ thất thiên hạ giả dĩ bất nhân” “Ba đời vua trước được thiên hạ vì có đức nhân, mà mất thiên hạ vì không có đức nhân: Nhà Hạ lên với Vũ có nhân, mất với Kiệt bất nhân. Nhà Thương được thiên hạ với Thành Thang có nhân, mất thiên hạ với Văn Võ, Châu Công nhân đức, mất thiên hạ với U lệ bất nhân (Mạnh,VII3). Theo nguyên lý đó Khổng Tử chỉ chú trọng tài đức mà không kể đến dòng họ. Trọng Cung có tài đức mà không được đắc dụng chỉ vì thuộc tầng lớp thường dân. Khổng ví Cung với con bò tơ sắc đỏ sừng tốt (đủ đều kiện để tế) người ta không dám dùng để tế vì mẹ nó lang, nhưng thần sông núi có từ đâu? (L.N.VI.4) Theo chủ trương kế hiền thì Trọng Cung không những nên cử làm quan mà cả đến làm Vua “Ung giả sử nam diện” Trò Ung (tức Trọng Cung) có thể bầu làm Vua (L.N.VI.1).Ông thường khen Tử Lộ mặc dầu áo thường cũng không ngại đứng vào hàng đại thần (L.N.IX.25) và hy vọng lớn nhất của ông đặt vào một người bình dân nghèo xác sơ trong nhóm môn đệ tức Nhan Hồi. Cũng trong tư tưởng đó Khổng Tử đề cao sự quan trọng của chức quan Đại Thần.Do đó ông đặt việc Vua Nghiêu sợ ông Thuấn không ra giúp mình, Thuấn sợ ông Cao Dao bất hợp tác (Mạnh III.4) Trọng Cung vấn chính viết “tiên hữu ty, xá tiểu quá, cử hiền tài” (XIII.2) Dưới con mắt Khổng lúc nhà Châu thịnh đạt nhất là thời nhiếp chính của ông Chu Công.Trong L.N.XIV.20 hỏi tại sao Vệ Linh Công vô đạo mà nước còn? Được trả lời là tại biết giao cho quan đại thần cai trị (Trọng Thú Ngữ giữ ngoại giao, Chúc Đài giữ nội vụ. Vương Tôn Giả giữ bộ binh) vì thế mà nước còn. Đó là chủ trương “quan cai tri vua kiểm soát” tức sự quan trọng đặt nơi quan chứ không nơi vua, quan phải trung với đạo chứ không trung với cá nhân vua “dĩ đạo sư quân, bất khả tắc chỉ” (L.N.XI.23). Chủ trương đó sau này Mạnh Tử đặt nổi bằng câu “Dân vi quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” hoặc câu của Tuân Tử “Trụ bạo quốc chi quân nhược tru độc phu” (Tuân Tử chính luận) giết vua tàn bạo cũng như giết kẻ độc phu (chẳng thần thánh gì). Thật là sớm sủa khi ta so sánh với sự kinh hoàng của bao người Tây Phương coi việc giết Louis XIV như một tội phạm sự thánh. Chung qui đó là hậu quả của thuyết kế Hiền.
Nguyên Tắc Thứ Hai: Giáo Chi
Chủ trương cử hiền tài như trên thật đúng là Tinh Thần dân chủ chỉ chưa có phổ thông đầu phiếu. Nhưng bù lại ông đã có sự bình dân hóa việc học cố gắng giật cái độc quyền học thức ra khỏi tay phái quyền quí để mở rộng ra trong quần chúng, không phân biệt quí tiện: “Hữu giáo vô loại”(l.N.XV.38) trong việc giáo hóa không có phân biệt giai cấp quí tiện sang hèn. Với chúng ta hiện nay, điều này quá tầm thường nhưng đời Khổng thì đó là một cuộc cách mạng tận nền. Điều đó dễ hiểu khi ta nhận xét bên các nước Âu Mỹ có tiếng là tiên tiến mà mãi tới năm 1850 mới mở cửa giáo dục cho toàn dân. Còn trước kia dành riêng cho quí tộc (C.C 152) Như thế ta thấy việc của Khổng thật là táo bạo sớm sủa và là một cú chí tử đánh vào thể chế “Quyền quý thế tập” dưới con mắt của họ việc nhận người nghèo hèn, người thường dân vào trường dạy cai trị là một việc phá rối quốc gia. Đời ông việc giáo dục toàn dân chưa được mở rộng, số người chống đối vì thế còn ít, sau nhờ môn đệ hết sức nối chí Khổng Tử là dạy đời không biết mỏi mệt (Hối nhân bất quyện) nên mới gây ra nhiều phản đối pháp gia chủ trương giữ độc quyền giáo dục cho quyền quý thế tộc.
Ở đây nên ghi nhận câu trong Luận Ngữ “dân chỉ có thể theo chứ không thể hiểu được” (dân khả sử do chi, bất khả sử tri chi) (L.N.VII 10.) coi như nghịch với chủ trương trên đây. Nhưng nên chú ý, nếu câu đó thật là của Khổng Tử thì chúng ta không biết được trong trường hợp nào ông đã nói câu đó và nhân đấy giới hạn câu đó đến đâu (C.C.219). Do đấy có thể dịch khác nhau, hoặc “dân chỉ cần sai khiến, không cần dạy bảo” như thường thấy. Dịch thế là đi ngược với chủ trương “giáo chi” vừa nói trên… Hoặc là “dân chỉ có thể theo mà không biết được” thì dẫu ngày nay cũng không có gì đáng trách cả, bởi nói về đạo lý hay cả về chính trị, thì làm sao cho toàn dân hiểu được. Ngay đời ta giáo dục phổ thông đã tràn ngập mà đại chúng còn chưa hiểu nổi chính trị và đạo lý phương chi đời ấy. Nên thánh hiền theo nguyên lý tùy năng lực, ai có khiếu học hiểu thì đi học mà làm quan để làm chính trị, còn nếu không đủ năng lực thì nên làm theo. Nếu không chịu hiểu như thế thì câu trên phải cho là xen vào sau, nó giống với câu Lão trong Đạo Đức Kinh 65 “dân mà khó cai trị là tại nó học biết” Câu đó đi ngược với câu “tiểu nhân học đạo tắc dị sử giã” (L.N.17-24) người thường dân có học đạo thì dễ cai trị.
Nguyên tắc Thứ Ba: Phú Chi
Muốn cho dân nhờ giáo dục thì phải có của dư dả mới tìm ra thì giờ nhàn rỗi đi học, nếu như bụng đói thì hết có thể nói đến học với hành, có hô hào cũng vô ích. Vì thế tất cả sách Mạnh Tử phản chiếu mối lo âu làm sao dân giàu “dân khả sử phú dã” (Mạnh Tử VII.23) không có sách nào trong triết học tha thiết về vấn đề làm giàu bằng, nên trước khi nói “giáo chi” Khổng Tử đặt “phú chi” Điểm này cũng phản lại pháp gia chủ trương làm giàu Chúa, yếu dân (phú quốc, cường binh) Khổng trái lại làm giàu dân: “bá tánh bất túc, quân thục dữ túc” (L.N.XII.9) bá tánh không đủ ăn thì vua đủ ăn với ai. Ông đã từ Nhiễm Hữu là người đi sái tinh thần “phú chi” bằng câu “quân tử chu cấp bất kể phú”( L.N.VI 3) “người quân tử thì cấp phát cho khắp hết, chứ không gia thêm cho người giàu”. Kinh Dịch quẻ Ích . “Tổn thượng ích hạ, dân duyệt vô cương” “Lời Thoán nói rằng: quẻ Ích là lấy bớt của người trên mà thêm cho người dưới thì dân ủng hộ vô bờ bến”.
Chính Khổng Tử thường tuyên bố coi phú quí phi nghĩa như phù vân (L.N.VII 15). Muốn hiểu câu này, nên chú trọng thời đó chưa có kỹ nghệ, buôn bán chưa mở mang, người ta không có cách làm giàu nào mau chóng hơn là làm quan để bóc lột dân chúng. Chính vì tình trạng đó có câu “vi nhân bất phú, vi phú bất nhân (Mạnh Tử III3). Vì thế Khổng nói “Nước vô đạo mà giàu có phú quí là điều đáng sỉ nhục, cũng như nước có đạo mà mình nghèo nàn bần tiện cũng là đáng sỉ hổ” (L.NVIII.14). Khi Quí Khương Tử ngỏ ý sợ dân ăn trộm, Khổng Tử liền trả lời thẳng: Nếu ông trút bỏ được lòng tham, thì có thưởng dân cũng không thèm ăn trộm (cẩu tử bất dục, tuy thưởng chi bất thiết) (L.N.XIII.17)
Điều lo âu của ông vẫn là “bất hoạn quả như hoạn bất quân (L.N. XVI.1). Không lo không có của mà lo có của nhưng chia không đều, vì nó dễ chảy vô vào tay mấy người có quyền thế.
Nguyên tắc quân phân tài sản đó sau này được Mạnh Tử phát huy rộng trong chủ trương “Minh quân chế dân chi sản” (I,6) bậc minh quân phải lo phân chia tài sản đều cho dân (đọc thêm Mạnh 1,12,36, 38) và làm cho dân giàu thì nước mạnh. Và nhân đấy ông đề cao phép tỉnh điền cũng như Nho giáo chống đối việc bán đất mà sau này đời nhà Tần, Thương Ưởng đã cho phép (Zanker 193. C.A Maspéro314). Cho bán đất tức coi đất là của riêng (thiên hạ vi gia) và nếu coi là công thì phải để chung rồi cứ thời hạn mà phân phát “Quân cấp”đời Lê Lợi cũng như phép hạn chế ruộng không được giữ quá 10 mẫu thời Trần bên ta là hậu quả của thuyết quân phân này. Gọi là công điền hay là đất của Vua chỉ khác danh từ mà thôi. Nhiều người tỏ ý mỉa mai những luật cấm không ai được tậu đất làm của tư kẻo mất quân bình. Mà không thấy rằng từ khi bãi bỏ thể chế đó đã cho phép mua bán đất (Đời Tần) thì sự chênh lệch trở thành quá đáng: đưa đại chúng vào cảnh nông nô cơ cực làm cớ cho cuộc nổi loạn của Vương Mãn, An Lộc Sơn. Ở những kỳ đó thì đất vào tay những đại điền chủ, ruộng công chỉ còn 5% (Xem chẳng hạn Histoire de la Chine de René Grousset: 77,114, 208, và 353) Đây là một thí dụ cụ thể chứng tỏ khi một thể chế được bảo trợ là vì nó gây điều kiện thuận lợi cho chủ trương Vương đạo. Tuyên bố mọi đất của Vua tức là một lối thi hành câu “Thiên hạ vi công” nhờ đó “Người 50 tuổi có lụa mà mặc, 70 tuổi có thịt mà ăn (Mạnh Tử VII.22). Những cải cách điền địa hiện nay, những khẩu hiệu “đất đai thuộc người cày người cấy” tuy khác thể chế mà tinh thần đều là “Hoạn bất quân” của người xưa vậy.Không nên câu chấp danh từ để nhắm mắt trước thực tại.
Nguyên tắc Thứ Tư: Lễ Trị
Con người hễ đã giàu có thì sinh lễ nghĩa, nhân vị cao lên. Bởi vậy tiếp theo chương trình “giáo chi”, “phú chi” ông chủ trương lễ tri “Đạo chi dĩ chính, tề chi dĩ hình, dân miễn vô sỉ. Đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ, hữu sỉ thá cách” Dùng chính trị hình luật mà cai trị thì dân mới chỉ biết tránh phạm luật, dùng đạo đức và lễ nhạc dân mới trau dồi nhân cách”
Việc Lễ trị tuy phe đối lập có chủ trương nhưng muốn dành riêng cho phái quyền quý còn thường dân thì trị bằng luật “lễ bất hạ thứ dân, hình bất thượng đại phu”(Couvreure 153) Tuy câu này có trong Lễ ký, nhưng chắc do Pháp gia đưa vào, vì nó trái với chủ trương không phân biệt quí tiện của Khổng Tử “Quân tử vô chúng quả, vô tiểu đại”(L.N.XX.20). Người quân tử không phân biệt ít hay đông, lớn hay nhỏ, như không phân biệt Kinh Thượng ở đâu cũng phải cư xử cung kính, trung tín “Cư xử cung chấp sự kính. Dữ nhân trung. Tuy chí Di Địch, bất khả khí dã” ( L.N.XIII.19) “cư xử phải tự trọng, khi thi hành việc (với người khác) phải kính tôn. Đối với tha nhân phải trung tín. Giầu sang miền Di Địch (Mường rợ 785) cũng không thể bỏ được những nguyên tắc đó (không được phân biệt Kinh với Thượng trong lối đối xử. Ở đâu cũng là người cả)
Trước kia người ta dành riêng cho quý tộc được quyền đặt tên tự, mãi sau này mới mở rộng đến toàn dân. Đó là việc làm của Thưởng Ưởng nhưng người cổ động đâu tiên là Khổng Tử (C.A. Maspéro P.95). Và lễ gia tiên, ban đầu cũng dành cho quý tộc, về sau nhờ Khổng Tử cổ động nên đã mở rộng tới toàn dân không phân biệt sang hèn (R. Grousser, Histoire de la Chine (P.15). Như thế không thể bảo Khổng Tử phân biệt quý tiện, mà chính ông là người muốn đại chúng hóa lối cai trị bằng Lễ.
Bởi nó là lối cai trị trung dung giữa hai Thái Cực là hình pháp và thả lỏng, và là lối xứng hợp quan niệm con người cao cả hơn hết như sẽ bàn sau.
Nguyên Tắc Thứ Năm: Thành Tín
Lễ trị là một lối cai tri tôn trọng người dân; coi người dân như người cộng tác với chính quyền. Đã nói đến cộng tác thì chữ Tín là cần “Thượng báo Tín tắc dân mạc cảm bất dụng tình (L.NXIII). Nếu người trên thành tín thì không ai không hết tình. Đã tín thì phải coi ý dân làm trọng. Bên phía pháp trị coi trọng thần lực và dùng quyền uy vũ lực, ít chú ý đến lòng dân. Bên Lễ trị thì chủ trương lất tín làm đầu “Kính ư dân hưng, kính ư thần vong” (Tả truyện). Kính nể dân thì hưng thịnh, đi cầu quỉ thần thì sẽ bị diệt vong và “đắc thiên hạ hữu đạo, đắc kỳ dân, tự đắc thiên hạ hỹ (Mạnh Tử IV.9), có một đường lối để được thiên hạ, đó là được lòng dân và “đắc hồ khâu dân nhi vi thiên tử (Mạnh Tử VIIb, 14) được lòng dân ở đồng bái là làm được thiên tử (nên đọc cả câu trong sách)
Trong ba vấn đề “túc thực, túc binh, dân tín nhi dĩ hĩ” thì ông cho Tín là quan trọng hơn cả bởi vì “dân vô tín bất lập” (L.N.XII.7) “Dân không tín nhiệm chính quyền hết đứng nổi”. Do đó chủ trương “Hữu nhơn tắc hữu địa” có dân tự nhiên có đất (ĐH.10) để trả lời vào mặt ông cai trị chuyên lo mở rộng đất đại, tích chứa giầu sang mà không chú ý được lòng dân. Ông ghét nói đến chiến tranh binh lực “Ký bất xưng kỳ lực, xưng kỳ đức dã” (L.N. XIV.35) con ngựa ký được xưng tụng không vì có sức mạnh mà vì đức. Sau này Mạnh Tử đã phát huy chủ trương chống bạo lực rộng rãi “người hiếu chiến thì tội chém chưa đủ đền” (nhất tướng công thành vạn cốt khô) và nhân đó gây ra trong văn hóa Viễn Đông một bầu khí “trọng văn khinh võ” khác hẳn ở xã hội chẳng hạn của Platon “luôn luôn nói đến chiến tranh binh lực”
Thân hữu có thể đọc đầy đủ trong Kim Định Nho giáo nguyên Thủy ) (4*)
BÁ ĐẠO:
Bá đạo là dùng vũ lực và luật pháp (Cũng gọi là Pháp trị) để cai trị dân. Có điều danh từ Pháp trị ở đây chúng ta phải để ý có sự phân biệt rõ rệt như sau:
– Thời quân chủ Bá đạo dùng luật pháp để cai trị dân và gọi đó là “Pháp trị” (Khác với “Đức Trị” “Nhân Trị”của Vương Đạo)
– Thời Dân Chủ cũng dùng luật pháp để cai trị và gọi là thượng tôn luật pháp. Nhưng có sự khác nhau giữa “Quân chủ Pháp trị” và “Dân chủ Pháp Tri
+ Quân chủ Pháp trị= (luật Pháp do nhà Vua và quan lại triều đình tự lập ra – Tất nhiên không có ý kiến của dân chúng)
+ Còn Dân Chủ Pháp trị= (Luật pháp do những vị “Nghị sĩ hay dân biểu” là những người đại diện cho dân soạn thảo ra – tức luật pháp do ý kiến của dân chúng). Luật Pháp của nền “Dân Chủ Pháp trị” do Hiến Pháp qui định.
Tại Trung Hoa Bạo chúa Tần Thủy Hoàng là tiêu biểu cho đường lối Bá đạo (5*)… Bá Đạo là phương pháp dùng vũ lực + luật pháp của kẻ cầm quyền bắt dân chúng phải răm rắp tuân theo. Để thi hành bá đạo Tần Thủy Hoàng chủ trương đốt sách chôn học trò.( học trò là tiếng nói của kẻ sĩ – rất nguy hiểm cho chế độ độc tài cần tiêu diệt từ trong trứng nước – Hai hành động tàn ác này của Tần Thủy Hoàng nhằm “triệt tiêu”mầm chống đối tại trong nước. Không cho tiếng nói chống đối của người dân được cất lên hay thậm chí lời bàn tán xầm xì trong dân chúng! Trên cả nước, chỉ có tiếng nói hay pháp lênh duy nhất – là luật pháp của triều đình ban ra bắt dân phải tuân theo).
B2- Thời Đại Dân Chủ Nay
Cơ chế Tư Do Dân Chủ
“Thế chế hay chế độ chính trị là mô hình tổ chức nhân xã, nói một cách dễ hiểu, là tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội, luật pháp của một cộng đồng con người.
Người ta thấy có chế độ độc tài, chế độ dân chủ. Trong chế độ độc tài có nghĩa là chế độ mà quyền hành trong tay một người hay một nhóm người (oligarchie) Trong chế độ dân chủ là chế độ mà quyền hành nằm trong tay người dân, người dân có quyền quyết định số phận mình, người ta thấy có dân chủ trực tiếp như ở Thụy Sĩ, những quyết định quan trọng đều do trưng cầu dân ý quyết định và chế độ dân chủ gián tiếp người dân bầu ra đại diện của mình trong nhiệm kỳ, những người được bầu này thay mặt dân lấy những quyết định. Hiện nay phần lớn nhũng chế độ dân chủ là những chế độ dân chủ gián tiếp.
Trong chế độ dân chủ gián tiếp, người ta thấy có chế độ tổng thống như ở Hoa Kỳ, chế độ đại nghị như ở bên Anh, và phần lớn các quốc gia trên thế giới. Người ta cũng có thể thêm chế độ nửa tổng thống chế, nửa đại nghị chế như ở bên Pháp.
– Sự quan trọng của thể chế chính trị trong đời sống con người.
Thể chế chính trị giữ một vai trò quan trọng trong sự phát triển đời sống con người. Vì vậy có người ví thể chế chính trị như mảnh đất và người dân như hạt mầm. Con người dù là da vàng, da trắng hay da đen có thể ví như hạt mầm, nếu hạt mầm này được gieo vào một mảnh đất tốt, tức sống dưới một chế độ tốt, chế độ tôn trọng con người, những quyền căn bản của con người được bảo đảm, đồng thời được hướng dẫn, dìu dắt bởi một nền giáo dục tốt, một hệ thống an sinh xã hội tốt, thì hạt mầm này sẽ kết bông nẩy trái… người dân sẽ sống trong an lạc hạnh phúc… Điển hình như quốc gia Nam Hàn. Từ khi chế độ độc tài chuyển sang chế độ dân chủ đất nước đã vô cùng phát triển:
“Nển khoa học kỹ thuật tân tiến hiện nay được coi là ngành điện thoại cầm tay, vì trong đó là cả một cái máy điện toán tối tân, thế mà Nam Hàn với hãng Samsung đứng đầu trong việc sản xuất và bán trên thị trường đã lâu, trên cả hãng Apple của Hoa Kỳ và hãng Nokia của Phần Lan. Ngành xe hơi cũng vậy, hãng Kia của Nam Hàn mặc dầu mới xuất hiện nhưng số lượng bán cũng không thua gì những hãng quốc tế nổi tiếng từ lâu đời khác như hãng General Motor, Toyota, Volkswagen, Renault. Nam Hàn từ mấy chục năm nay đã nổi tiếng về giáo dục, người thợ Nam Hàn có một trình độ hiểu biết tổng quát đứng đầu thế giới. Người chuyên viên Nam Hàn cần cù làm việc, chịu khó học hỏi đi làm nơi nào cũng được trọng. Bằng cớ là hai tổ chức quốc tế quan trọng nhất thế giới là Liên Hiệp Quốc và ngân hàng quốc tế, đều được cầm đầu bởi người Nam Hàn.
Được như vậy tất nhiên do nhiều nguyên do, nhưng một trong những lý do chính đó là dân Nam Hàn được sống dưới một chế độ tư do, dân chủ, mặc dầu chế độ này mới được thiết lập vào khoảng thập niên 80..
Không nói đâu xa, chúng ta trở về Việt nam thời cận đại. Hai chế độ miền Nam Việt Nam thời trước 1975 là hai chế độ cộng hòa, Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa. Hai chế độ này, vào thời đó có thể so sánh với những nước dân chủ tiên tiến, nhưng nó là một trong những nước dân chủ đầu tiên ở châu Á, chỉ thua có Nhật. Chính vì vậy mà miền Nam cũng đã phát triển hơn cả Nam Hàn và Đài Loan lúc bấy giờ. Nếu tính theo sản lượng đầu người hàng năm thì vào cuối thời Đệ Nhất Cộng Hòa, sản lượng của miền Nam Việt Nam là 118$ trong khi đó cũng của Nam Hàn và Đài Loan là trên dưới 80$.Sự phát triển của miền Nam được ngay những người cộng sản công nhận, như ông Lê Đăng Doanh, “nhà kinh tế Cộng sản, trong một bài phỏng vấn của đài BBC cũng công nhận là sau 1975 ông vào miền thăm Miền Nam đầu tiên, ông đã phải ngạc nhiên về trình độ phát triển, ông đi thăm những vùng quê, ông thấy nơi nào cũng có điện, có máy cầy, đời sống người dân tương đối đầy đủ. Nhà văn Dương Thu Hương cùng với “đoàn quân chiến thắng” vào miền Nam, trước đời sống dân miền Nam, bà đã sững sờ bà tìm một góc phố, như lời bà kể, để khóc, và sau đó tuyên bố “Tôi đã cùng một đoàn quân chiến thắng nhưng mô hình tổ chức xã hội của kẻ chiến bại lại văn minh hơn mô hình của kẻ chiến thắng.” Chính “Luật người cầy có ruộng” của thời Đệ Nhị Cộng Hòa Việt Nam đã được chính phủ Đài Loan bắt chước và đem áp dụng thành công ở nước này. Chỉ tiếc rằng những gì đã được xây dựng ở miền Nam đã bị cộng sản đổ xuống sông xuống biển. Chính vì vậy mà dân miền Nam đã có câu “Năm đồng đổi lấy một xu, người khôn đi học, thằng ngu làm thày (“6*).
B3- Chế Dộ Độc Tài Toàn Trị Cộng Sản:
Ngược lại với Nam Hàn, chế độ Bắc Hàn là một chế độ cộng sản độc tài, người dân sống dưới chế độ này không những không thể phát triển được mà hàng năm còn bị nạn đói hoành hành từ bao chục năm nay. Ngoài xã hội thì những hãng xưởng thiếu điện để chạy nhà máy, trong khi những công thự chỗ tôn thờ lãnh tụ thì điện chan hòa cả ngày lẫn đêm. Giáo dục là một nền giáo dục nhồi sọ, từ trẻ em cho đến người lớn chỉ biết vâng lời, gọi dạ bảo vâng, nhắc lại những khẩu hiệu tuyên truyền rỗng tuếch… Người ta nói “chế độ độc tài là chế độ cái loa, cái còng và cây súng” là vậy.
Nhìn vào lịch sử cận đại, 2 chế độ cái loa, cái còng và cây súng là chế độ độc tài phát xít Hitler và chế độ cộng sản. Cả hai đều dựa trên quan niệm triết lý, tư tưởng bất bình thường: Hitler cho rằng chủng tộc Aryen là chủng tộc tinh khiết, không pha trộn với những chủng tộc khác. Đây là một điều vô cùng phản khoa học. Theo Hitler dân tộc Đức tiêu biểu cho chủng tộc này, nên thông minh, đáng để cầm đầu thế giới. Chính vì vậy nên Hitler đã không ngần ngại phát động chiến tranh khắp nơi. Marx thì cho rằng lịch sử con người là bạo động, là đấu tranh giai cấp, không ngần ngại mở đầu Bản Tuyên Ngôn Thư Cộng Sản “Lịch sử nhân loại từ xưa tới nay là lịch sử đấu tranh giai cấp”. Đây cũng là một cái nhìn quá phiến diện và tổng quát hóa, chẳng có gì là khoa học, như những người cộng sản bắt đầu bởi Marx thường rêu rao “Khoa học lịch sử, Khoa học biện chứng” không cần chứng minh dài dòng, chúng ta chỉ nhìn chính chúng ta và những người chung quanh, xét cuộc đời thì chúng ta rõ: Bình thường con người muốn sống hòa bình. Con người chỉ dùng bạo động trong những trường hợp bất bình thường. Điều này đúng với cả lịch sử của những quốc gia. Marx và những người cộng sản đã lấy cái bất bình thường làm cái bình thường, nên từ lý thuyết cho đến chế độ đã trở nên bất bình thường, bệnh hoạn. Đấy lại chưa nói đến ngay từ lúc đầu, chế độ cộng sản, bề ngoài thì mang nhãn hiệu “Thế giới đại đồng, anh em cộng sản” nhưng bên trong là chủ nghĩa quốc gia cực đoan, bành trướng. Bề ngoài mang nhãn hiêu “Liên Bang các cộng hòa xã hội sô viết (URSS), nhưng bên trong, Lenine, qua tay em của mình là Staline, vì lúc đó Staline đã đặc trách về vấn đề các dân tộc chung quanh, bắt họ đi theo Liên Xô. Bằng chứng rõ ràng là khi đế quốc Liên Xô sụp đổ năm 1989, thì những dân tộc này nổi lên đòi độc lập.
Chính vì mang đầu óc quốc gia cực đoan, bành trướng, nên đã có những vụ tranh chấp Nga-Hoa ở biên giới vào những năm 60, tranh chấp giữa Việt Cộng và Trung Cộng, rồi đi đến chiến tranh năm 1979, tranh chấp Việt Miên rồi cũng đi đến chiến tranh trước đó năm 1978.
Sau khi Liên Xô sụp đổ thì Việt Cộng chạy sang thần phục Trung Cộng, mở đầu bằng Hội nghị Thành Đô tháng 3/1990, và không ngừng ký những hiệp ước dâng đất nhượng biển cho Trung Cộng. Nhưng vì Trung Cộng từ xưa đã mang mộng bành trướng đế quốc, nay lại được cấy vào vi trùng bất bình thường Mác Lê, nên mộng bành trướng càng ngày càng mạnh. Mặc dầu cả 2 bên, lúc nào cũng rêu rao “Bốn tốt và mưới sáu chữ vàng” nhưng đùng một cái, Trung Cộng cho đặt giàn khoan, xâm phạm chủ quyền lãnh hải Việt Nam.
Nhiều người vì tin tưởng ở những câu nói đầu môi chót lưỡi của cộng sản “Tình huynh đệ tốt, Môi hở răng lạnh, Tình đồng chí cộng sản” đã ngỡ ngàng về sự việc Trung cộng đặt giàn khoan dầu ở quần đảo Hoàng Sa, thuộc về chủ quyền Việt Nam. Thực ra nếu chúng ta xét lịch sử xa của cộng sản, thì chúng ta không có gì ngạc nhiên.Trung cộng và Việt cộng đã nhiều lần đánh nhau.
Bởi lẽ đó, chừng nào hai dân tộc Việt Nam và Trung Hoa vẫn còn phải mang cái ách chế độ cộng sản, lấy lý thuyết Marx làm nền tảng cho chế độ kêu gọi đấu tranh giai cấp, một lời kêu gọi chiến tranh triền miên, không những chiến tranh chính nội bộ, mà còn chiến tranh với nước ngoài, chừng đó hai dân tộc không thể nào sống hòa bình với các nước chung quanh và với cộng đồng thế giới.
Người dân sống dưới chế độ độc tài phát xít hay độc tài cộng sản không những chỉ như một hạt mầm gieo trên một mảnh đất khô cằn mà còn bị giới lãnh đạo dùng như những bia đỡ đạn cho tham vọng bành trướng và đế quốc của mình.
Vì vậy, ngày hôm nay, những chế độ độc đoán độc tài, không phát triển hay phát triển chậm hơn những chế độ dân chủ và đi ngược lại trào lưu tiến hóa của con người là như vậy.
Quả thực nhân loại đã trải qua 5 nền văn minh, từ trẩy hái qua du mục, quân chủ, tới dân chủ ngày hôm nay, mỗi một nền văn minh tương xứng với một mô hình tổ chức nhân xã khác nhau hay nói một cách rõ hơn, hiện đại hơn là cách tổ chức chính trị, kinh tế khác nhau, từ thể chế gia tộc, bộ lạc, tới quân chủ và dân chủ.
Nước Tàu và Việt nam hiện nay nói riêng và các nước phương Đông nói chung trong đó có cả các nước Trung Đông, những nước này đã có một nền văn minh rất sớm, hơn cả Tây phương. Nhưng tiếc rằng chế độ quân chủ kéo dài quá lâu. Ngày hôm nay chế độ cộng sản ở Tầu và Việt Nam cũng chỉ là một chế độ quân chủ phong kiến trá hình. Chế độ cộng sản để rồi sẽ tắt luôn như một nhóm lửa trước khi tàn.
Tây phương mặc dầu văn minh đến chậm hơn Đông phương, nhưng đã biết từ bỏ sớm chế độ quân chủ để bước sang chế độ dân chủ, và kinh tế thị trường đã phát triển rất mạnh, vượt mặt Đông phương.
Đối với những chế độ quân chủ, từ lạc hậu như ở các nước Trung Đông cấm đoán ngay cả những người phụ nữ làm đủ mọi nghề, ra đường phải bịt mặt, tới chế độ cộng sản tước hết mọi quyền căn bản nhất của con người, người xưa có câu “Trễ còn hơn không”. Hãy từ bỏ thể chế chính trị quân chủ phong kiến, độc tài cộng sản để bước sang chế độ dân chủ tôn trọng những quyền căn bản của con người, trong đó có nam nữ bình quyền, tự do tư tưởng và ngôn luận, thì mới hy vọng theo kịp những nước văn minh. Gương Nam Hàn và Đài Loan cho ta thấy rõ. Hai nước này đã từ bỏ chế độ độc tài vào thập niên 80, để bước sang chề độ dân chủ, thế mà ngày hôm nay cả 2 nước đã có thể sánh cùng với những nước văn minh khác trên thế giới.
Đất nước và dân tộc đang đứng trước hiểm họa diệt vong, trong thì đảng cộng sản mặc tình cấu kết với ngoại bang bán đất dâng biển, hèn với giặc, ác với dân, giết hết tinh anh, triệt mọi cơ hội phát triển của người dân, ngoài thì Tầu cộng lộng hành, ngang nhiên kéo dàn khoan đến vùng biển Việt Nam. Con đường duy nhất để chống ngoại xâm là bằng mọi cách phải thay đổi thể chế chính trị từ độc tài cộng sản qua Dân chủ Tự do, vì có như thế, giới lãnh đạo mới quy tụ được sức mạnh toàn dân, vận động được các quốc gia và cộng đồng yêu chuộng Tự Do và Hòa bình trên thế giới cô lập và bẻ gãy mọi mưu mô bá quyền của Tầu cộng (7*).
IV. VĂN HÓA QUỐC GIA TRONG THỜI ĐẠI TOÀN CẦU HÓA VĂN HÓA:
“Trong hiện tình văn hóa thế giới hôm nay có thể khẳng định rằng bên cạnh quá trình toàn cầu hóa kinh tế đang diễn ra như một xu thế tất yếu và đang trở thành đề tài sôi nổi và nóng bỏng trên thế giới thì chúng ta còn nhận ra một trào lưu toàn cầu hóa, thậm chí còn quyết liệt hơn, sâu sắc hơn,đó là toàn cầu hóa về văn hóa.
Với tình đặc thù và tính độc lập tương đối của mình, quá trình toàn cầu hóa diễn ra rất gần song song với toàn cầu hóa nói chung và toàn cầu hóa kinh tế nói riêng. Trên cơ sở sự tăng cường mạnh mẽ của toàn cầu hóa kinh tế, sự tăng cường mạnh mẽ của các thành tựu khoa hoc, công nghệ, đặc biệt là giao thông và viễn thông; sự tăng cường giao lưu ảnh hưởng và xích lại gần nhau giữa các dân tộc, các quốc gia, khiến văn hóa các dân tộc có nhiều cơ hội giao lưu ảnh hưởng, cọ sát, học hỏi chia sẻ lẫn nhau. Trong quá trình như vậy, một mặt văn hóa các dân tộc vừa phong phú đa dạng hơn, mặt khác cũng không loại trừ sự mất mát, thui chột của các nền văn hóa, các yếu tố văn hóa lỗi thời, không còn sức sống cạnh tranh. Như vậy, cũng như toàn cầu hóa nói chung, mà cốt lõi của nó là toàn cầu hóa kinh tế, thì toàn cầu hóa văn hóa cũng đương nhiên hiện hữu. Vấn đề chỉ còn là toàn cầu hóa văn hóa như thế nào, theo tiêu chuẩn nào, mức độ nào mà thôi. “Toàn cầu hoá văn hoá có thể được hiểu là quá trình văn hoá các dân tộc, thông qua giao lưu, dung hợp, xâm nhập và bổ sung lẫn nhau, không ngừng phá vỡ tính hạn chế về khu vực và về mô hình của văn hoá dân tộc mình và trong sự bình phán và chọn lọc của loài người mà đạt được sự hoà đồng văn hoá, không ngừng chuyển các nguồn khu vực của văn hoá dân tộc mình thành các nguồn hưởng thụ chung, sở hữu chung của loài người. Tuy nhiên, điều cần chú ý là toàn cầu hoá văn hoá là một quá trình bao gồm sự xung đột, giao lưu, dung hợp giữa các nền văn hoá dân tộc, đồng thời bản thân nó cũng là một kết quả, tức là các nguồn khu vực của văn hoá các dân tộc có thể được loài người cùng hưởng cùng sở hữu. Nhưng nó tuyệt nhiên không có nghĩa là sự mất đi của các nền văn hoá dân tộc để hình thành nên một thứ văn hoá có tính toàn cầu thống nhất, liên thông, phổ quát”
Như vậy, toàn cầu hoá văn hoá đã tạo ra những cơ hội, thách thức và rủi ro đối với các nền văn hoá khác nhau trong việc quảng bá nền văn hoá của mình ra bên ngoài. Trong quá trình toàn cầu hoá, các nền văn hoá đều bình đẳng, giao lưu với nhau trong thế bình đẳng, đều có những chỗ “mạnh”, những chỗ “yếu”, đều có “quyền” tự do nhìn nhận, lựa chọn, thử nghiệm để tiếp nhận từ “kẻ khác” những gì mà họ muốn tiếp nhận.
Tuy nhiên, không phải mọi quốc gia đều tham gia vào quá trình toàn cầu hóa với những mức độ giống nhau và đều được bình đẳng như nhau. Khi tham gia vào toàn cầu hóa, các nước phát triển có rất nhiều lợi thế. Phần còn lại của thế giới thì chịu thiệt thòi về nhiều mặt và gặp nhiều thử thách. Mặc dù vậy, trong thế giới ngày nay, các quốc gia không thể tẩy chay hoàn toàn toàn cầu hóa hoặc đứng ngoài quá trình toàn cầu hóa. Vấn đề đối với tất cả các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước kém phát triển, là phải có chiến lược thích ứng và khôn ngoan để vượt qua thử thách và chớp lấy thời cơ; trong quá trình hội nhập thế giới, phải có ý thức, giữ vững chủ quyền quốc gia, độc lập dân tộc, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ để đưa quốc gia dân tộc mình đến chỗ phồn vinh” (8*).
V. VAI TRÒ VÀ CHỨC NĂNG VĂN HÓA:
Càng ngày người ta càng nhận thức rõ tầm quan trọng, quá quan trọng của văn hóa. Có thể nói “Vai trò” và “Chức năng” Văn Hóa giữ vai trò quyết định toàn bộ “Sinh Mênh” con người, xã hội, dân tộc, quốc gia và nhân loại. Vấn đề là chúng ta có “quán chiếu sâu sắc” nhận thức rõ vai trò và chức năng văn hóa để “hiện thực” và “diệu dụng” văn hóa trong thời đại của chúng ta hay không?!
1. Vai Trò Văn Hóa:
Văn Hóa có các vai trò chính yếu sau đây:
a- Văn Hóa giữ vai trò khai sáng trí tuệ con người. Không những trên phương diện Triết học, Văn học, Luật học, Khoa học mà còn trong Chính Trị học, Văn Hóa học, v.v…
b- Văn hóa có vai trò chủ động đấu tranh, giúp con người làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội, vượt thoát, giải thoát chính con người mình…hòa đồng cùng vũ trụ, vạn hữu.
c- Văn hóa giữ vai trò: Truyền sinh: SỐNG CÒN NỐI TIỀN HÓA
d- Văn hóa có vai trò: Chống cái ác, Phát huy cái thiện, dẫn đưa con người tới Chân Thiện Mỹ.
Ngoài 4 vai trò chính yếu trên, Văn hóa còn có các chức năng có tính cách đa năng, đa hiệu như sau
2. Chức Năng Văn Hóa:
a- Văn hóa có chức năng tìm tòi, học hỏi thảo luận nghiên cứu.
b- Văn hóa có chức năng “Ứng xử” với tha nhân, “Thích nghi” với mọi hoàn cảnh…
c- Văn hóa có chức năng “Sáng tạo”, “Phát huy sáng kiến”, “Phát minh” Khoa Học Kỹ Thuật.
d- Văn hóa có chức năng “Giáo dưỡng” “Giáo hóa” con người.
e- Văn hóa có chức năng tạo ra “Xung đột” “Đối kháng” “Mâu thuẫn” “Tán tụ” “Bảo thủ” “Tiến bộ” theo qui luật “Âm Dương” “Sinh Khắc Chế Hóa”.
f- Văn hóa có chức năng “Điều hợp” “Hóa giải” mọi mâu thuẫn trong cuộc sống.
g- Văn hóa có chức năng “Chuyển hóa” thời cuộc. “Thăng hoa con người” và “Thăng hóa xã hội”
h- Văn hóa có chức năng “Thẩm thấu” sâu rễ bền gôc tạo nên Thuần Phong, Mỹ Tục của mỗi Dân Tộc…
i- Văn hóa có chức năng “Hội nhập” con người vào hoàn cảnh mới, cộng đồng mới…
j- Văn hóa có chức năng “Vượt thoát” và “Sáng Hóa”
k- Văn hóa có chức năng “Chọn lọc”, “Tiếp thu” tinh hoa văn hóa của các dân tộc khác, đồng thời “Đào thải” những cổ hủ lỗi thời.
l- Văn hóa có chức năng “Hiện đại hóa” xã hội thời đại.
VI. SỨ MẠNG VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI TOÀN CẦU HÓA:
Có người quan niệm rằng “văn hóa thì “trường cửu”, còn chính trị là “nhất thời” rồi đi đến quan niệm: Cần phải tách “chính trị” ra khỏi “Văn hóa”… Nhận định trên văn hóa có giá trị trường cửu hơn chính trị thì đúng, nhưng nhận định thứ hai “Tách chính trị ra khỏi văn hóa lại là sai! Văn hóa và chính trị tuy là hai bộ môn có những điểm khác nhau, nhưng lại có nhiều điểm giống nhau nhất là về mục đích và cứu cánh. Hơn thế nữa Văn hóa còn là “nguyên lý” “nguyên tắc” hướng dẫn chính trị, phục sự con người. Chỉ có nền chính trị vô nhân, vô đạo như chính trị độc tài “quân phiệt” độc tài “giáo phiệt” kiểu độc tài Hồi giáo cực đoan” hay chính trị “độc tài toàn trị cộng sản” mới lợi dụng văn hóa, dùng văn hóa là công cụ phục vụ “chính trị” bá đạo thì không kể. Trong trường hợp này Văn hóa bị “tha hóa” bởi chính trị và cả hai “văn hóa” cũng như “chính trị” đều bị suy đồi… Không còn là văn hóa, chính trị tiến bộ hay văn hóa chân chính nữa. Chúng ta không bàn đến loại “văn hóa suy đồi” ở đây.
Trở về văn hóa chân chính tiến bộ, chúng ta đã nhận định văn hóa có chức năng và vai trò vô cùng quan trọng như đã nói trên, nên văn hóa có “Sứ mệnh” là điều hiển nhiên và tất yếu, không ai có thể phủ nhận được..
1. Sứ mệnh Văn Hóa theo kinh Dịch:
Theo học giả Nguyễn Đăng Thục, nguyên nghĩa danh từ Văn hóa của tây phương có thể tìm thấy ý nghĩa tương đồng rút từ “Lời thoán” của Kinh Dịch: “Quan thiên văn dĩ sát thời biến, quan nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ” (Nhìn hiện tượng trên trời để xét sự biến đổi của thời tiết. Nhìn hiện tượng của nhân quần xã hội để hóa nên thiên hạ, thay đổi thế giới). Theo cái nhìn của Kinh Dịch: Văn hóa có chức năng và sứ mạng thay đổi nếp sống con người và thay đổi cả vận mạng thế giới. Sứ mạng văn hóa chỉ tóm gọn như vậy thôi. Lối nói của Kinh Dịch là lối nói “cô đọng” “hàm súc” ít lời mà nhiều ý, đòi hỏi chúng ta phải trầm tư sâu sắc mới lĩnh hội được hết ý tứ của người xưa! (Xin xem định nghĩa văn hóa thứ hai trong bài “Bàn về 25 định nghĩa văn hóa của Chu Tấn cũng trong tuyển tập này).
2. Sứ Mạng Văn Hóa Theo Lý Thuyết Gia Lý Đông A
Cụ Nguyễn Hữu Thanh tức Lý Đông A (9 *) Tổng Thư Ký của Đảng Đại Việt Duy Dân và cũng là nhà Văn Hóa lớn của Việt Nam, thế giới có đưa ra 5 lời thề cho các chiến sĩ cách mạng của Đảng Đại Việt Duy Dân như sau:
Thề Giác Biện chứng Lớn
Thề Tu Tính Mệnh Ta
Thề Cứu Nòi Giống Việt
Thề Thương Loài Người Khó
Thề Cùng Vũ Trụ Hòa.
Qua 5 lời thề trên tuy Lý Thuyết gia Lý Đông A không nói đến danh từ “Sứ mạng văn hóa” nhưng xét vào nội dung 5 lời thề nói trên, đích thực chúng ta thấy đây là 5 sứ mệnh lớn của Văn Hóa Chính Trị Việt Nam.
– Lời Thề 1: Thề Giác Biện Chứng Lớn:
“Biện chứng Lớn” ở đây không phải là “Biện chứng pháp Duy Tâm” ( “Idalistic dialectic” của Hegel) hay
“Biện Chứng Pháp Duy Vật” (Materialistic dialectic” của Karl Marx) mà là Duy Dân Tung Hợp Biện Chứng của Lý Đông A).
– Lời Thề 2: Thề Tu Tính Mệnh Ta.
Các cụ ta xưa có câu: “Từ Thiên tử (Vua) cho đến thứ dân ai ai cũng phải lấy việc TU THÂN làm gốc ( Tu thân vi bản)
– Lời Thề 3: Thề Cứu Nòi Giống Việt:
Dân tộc Việt Nam bị “linh lạc” bị “điêu linh thống khổ” dưới ách đo hộ Tầu, thực dân Pháp-Nhật, rồi C.S nên rất cần phải cứu nguy.
– Lời Thề 4:Thề Thương Loài Người Khó:
Chỉ đại đa số nhân loại bị nghèo khổ áp bức bóc lột trên toàn thế giới
– Lời Thế 5:.Thề Cùng Vũ Trụ Hòa:
Chỉ khi nào người dân Việt chúng ta hoàn thành được 4 lời thề trên, tâm hồn mình mới được thảnh thơi, tự tại hòa đồng cùng Vũ Trụ
Năm lời thề của Lý Thuyết Gia Lý Đông A lớn lao thay! Vĩ đại thay! Cao cả vô cùng… Đây cũng chính là Sứ Mạng Cao Tột Của Văn Hóa Chính Trị Việt Nam. Lý thuyết gia Lý Đông A còn gián tiếp, bí nhiệm khuyên chúng ta: “Sinh Mênh Việt Nam Luôn Gắn Bó Với Sinh Mênh Nhân Loại Không Thể Tách Rời”
3. Sứ Mạng Văn Hóa theo Học Giả Hồ Hữu Tường:
Trong cuốn Tương lai Văn Hóa Việt Nam Học giả Hồ Hữu Tường đã định nghĩa “Văn hóa là cái gì làm cho con người trở thành NGƯỜI (Chữ Người viết Hoa). Theo định nghĩa này thì sứ mệnh văn hóa Việt Nam sẽ vô cùng cao quí và lớn lao. Hiện nay dân số Việt Nam ở trong nước là 95 triệu người (Quốc nội và Hải ngoại) xấp xỉ 100 triệu người. Nếu trong tương lai văn hóa VN có thể đào luyện cho 100 triệu người dân thường đều trở thành 100 triệu CON NGƯỜI (Viết Hoa) thì nền văn hóa chính trị Việt Nam sẽ hùng mạnh vinh quang và rực rỡ đến như thế nào… (Đây là “dự phóng” hay “giấc mơ văn hóa” của học giả Hồ Hữu Tường. Xin tất cả độc giả và toàn dân Việt Nam đều nên lắng nghe, chia sẻ và góp phần vào sứ mệnh văn hóa cao cả vĩ đại này. (Xin xem lại định nghĩa văn hóa thứ 6 của học giả Hồ Hữu Tường trong bài “Bàn về 25 định nghĩa văn hóa của Chu Tấn).
4. Sứ Mạng Văn Hóa theo Văn Hào André Malraux:
Nhà văn hào Pháp André Malraux (10*) có định nghĩa Văn hóa như sau:
“Văn hóa là tất cả các hình thái của nghệ thuật, tình yêu và suy nghĩ, những thứ mà trong sự tồi tệ cũng như trải qua bao nhiêu thế kỷ đã khiến cho con người trở nên ít nô dịch hơn”
Trong định nghĩa này nhà văn hào André Malraux tuy xác định văn hóa có sứ mạng giải phóng con người, thoát khỏi các chế độ và tất cả các hình thức “nô dịch” con người. Nhưng tác giả tỏ ra rất bi quan là qua tác dụng và hiệu năng văn hóa trải qua bao nhiêu thế kỷ đã khiến con người trở nên ít nô dịch hơn!”. Có nghĩa là “Thân phận con người- “Condition humaine” trong nhân loại cho đến thế kỷ 20 – thời đại mà André Malaux đưa ra định nghĩa văn hóa vừa nói – Con người vẫn còn bị các hình thức “nô dịch” tồi tệ chưa hết được! Phải thế không?
Thấp hơn hay đặc biệt hơn, Văn hào Albert Camus định nghĩa “Văn Hóa là tiếng khóc của con người khi đối diện với số phận”
Văn hóa chỉ có tính cách “phản ứng” lại bằng “Lời than” hay “tiếng khóc” thôi sao? Điều này chúng ta không lấy làm lạ vì Albert Camus còn là triết gia theo triết thuyết Hiện sinh – Ông cho “cuộc đời là phi lý” – nhưng không buông xuôi theo số phận mà chống lại số phận, phản kháng lại số phận bằng bất cứ biểu hiện nào…dù là “Lời than hay tiếng khóc”…cũng là cách phản kháng ….(11*)
Cùng quan tâm, suy tư về “Sứ mạng Văn Hóa” song Lý thuyết gia Lý Đông A và học giả Hồ Hữu Tường thì hoàn toàn tin tưởng và “lạc quan”. Trái lại hai văn hào André Malraux và Albert Camus thì quá “dè dặt và bi quan”… Vậy người làm văn hóa trong thời đại chúng ta nên có thái độ nào?
Thiết nghĩ, từ cuối thế kỷ 20 và bước sang đầu thế kỷ 21 chúng ta đã kinh qua bốn biến cố lịch sử lớn sau đây:
Một là: Cuối thế kỷ thứ 20 nhân loại đã bùng nổ cuộc cách mạng truyền thông- Internet- có tác dụng thu hẹp không gian và rút ngắn thời gian:Chỉ một biến cố nhỏ xẩy ra-tân Phi Châu hay châu Đại dương –mấy phút sau đã trở thành tin tức lan truyền khắp thế giới,…
Hai là: Năm 1989 chế độ CS tại các nước Đông Âu và đế quốc CS Liên Sô sụp đổ, chấm dứt thời kỳ chiến tranh lạnh và đã đánh dấu thời điểm “cáo chung chủ thuyết sai lầm không tưởng Mac-Xít”.
Ba là: Vào đầu thế kỷ 21 đánh dấu kỷ nguyên “Toàn Cầu hóa” từ văn hóa, chính trị, kinh tế, thương mại…vv…
Bốn là: Năm 2011 “Đợt sóng dân chủ thứ tư” đã chính thức bùng phát và trào dâng trên toàn thế giới… Với bốn biến cố lịch sử này nên “Độ gia tốc chính trị Văn hóa” đã tiến rất nhanh, không còn trì trệ như trước nữa. Đây là 4 chứng cứ lịch sử hùng hồn nhất, cho phép chúng ta khẳng định người làm văn hóa trong thời đại hiện tại, không chỉ có niềm tin lớn, mà còn có thái độ lạc quan có tính cách viễn kiến, thống quan và được kiện chứng bằng thực tiễn lịch sử. Chúng ta cần quan niệm “Sứ mạng Văn Hóa” quan trọng và lớn lao này, nhịp theo đà tiến của Lịch Sử Văn Hóa Toàn Cầu Hóa.
4. Văn Hóa Việt Nam Trong Thời Đại “Toàn Cầu Hóa”:
Có các sứ mệnh sau đây:
Khai sáng trí tuệ con người, hình thành Minh Triết nhân loại.
Giáo hóa con người.
Làm cho cuộc sống lên hương, làm cho cuộc đời thêm tươi thêm đẹp. Văn hóa đem lại nguồn vui sống cho con người.
Thăng tiến con người, phát triển, thăng hóa xã hội trên mọi phương diện.
Văn hóa có sứ mệnh ngăn chặn cái Ác để mưu cầu Tự Do Dân Chủ và Nhân Quyền cho con người và Xã Hội.
Văn hóa có sứ mệnh khuyến khích con người làm việc THIỆN, phụng sự Con Người, Xã Hội,Tổ Quốc và Nhân Loại, Liên Hành Tinh.
Giải Phóng con người ra khỏi mọi chế độ độc tài và nhiều hình thức “nô dịch” “nô lệ hóa” con người.
Thiết dựng chế độ dân chủ (Tam quyền phân lập) trên qui mô thế giới, làm nền tảng căn bản tiến tới chế đô “Nhân Chủ Quốc Gia” và“ Nhân Chủ Toàn Cầu”
Văn hóa có sứ mệnh: Phát huy “Dân tộc Tình”, “ Dân Tộc Tính” và “Dân Tộc Chí”…
Văn hóa có sứ mệnh: Tôn Vinh Đạo Sống, Bảo vệ Sư Sống Phát triển Sư Sống, Thăng Hoa Sự Sống, Khoáng trương Sư Sống và Thành Toàn Sư Sống, con người Dân Tộc, Nhân loại. Liên Hành Tinh.
Văn hóa có sứ mệnh gin giữ hòa bình và xây dựng nền Thái Hòa Nhân Loại
Sau cùng Văn Hóa có sứ mệnh khó khăn nhất và cũng cao đẹp nhất là giúp con người Tự Vượt Và Tự Thắng Chính Mình
VII. KẾT LUẬN:
Từ thời cổ đại, nhân loại đã khám phá ra sức mạnh hay sứ mạng của Văn Hóa. Tuy nhiên theo bản chất văn hóa nặng về phần TRI (Lý thuyết) còn Chính trị nghiêng về phần HÀNH (hành động, thực hiện) nên trong thời quân chủ vẫn thường diễn ra tệ trạng: “Minh quân’ (Vua sáng suốt) thì ít còn “Hôn quân” (Vua u tối) thì nhiều, “Thanh quan” thì ít còn “tham quan ô lại” thì nhiều! Ngay cả sang thời đại Dân Chủ vẫn có một số nước theo chế độ tài kiểu độc tài “Quân phiệt” độc tài “Giáo phiệt” kiểu Hồi giáo cực đoan” hay nền chính trị độc tài toàn trị Cộng Sản!!! Chính vì chính trị lấn át Văn hóa, bắt Văn hóa phải làm “công cụ” cho chế độ độc tài nên “Sứ mạng văn hóa” vẫn chưa được phát huy đúng mức… khiến nhà văn hào Pháp André Malraux đã phải than thở: “Thân phận con người” (Condition humaine) trải qua bao nhiêu thế kỷ vẫn còn bị tình trạng “Nô dịch”hay chính trị “Nô lệ hóa con người”
Tuy nhiên tình trạng tồi tệ này không thể là mãi mãi! Lịch sử phải sang trang….
Bước sang thế kỷ 21 nhân loại đã tiến sang thời đại “Toàn cầu hóa Kinh tế” “Toàn cầu hóa Chính tri” và “Toàn cầu hóa Văn hóa: nên vấn đề “SỨ MẠNG VĂN HÓA” cần phải làm sáng tỏ và tiến hành một cách dũng mãnh hơn. Chúng ta khẳng định “Văn hóa Việt Nam có sứ mênh “Chống cái Ác để mưu cầu Tư Do, Dân Chủ và Nhân Quyền cho Con Người và Xã Hội…
Văn hóa có sứ mệnh thiết dựng chế độ Dân chủ (Tam quyền phân lập) trên qui mô toàn thế giới, làm nền tảng căn bản tiến tới chế độ “Nhân chủ Quốc Gia” và “Nhân Chủ Toàn Cầu” không là lời lẽ “khoa trương” hay “cường điệu” mà là thông điệp Văn Hóa “Minh Nhiên”, “ Tự nhiên” vậy.
Chu Tấn
Tài Liệu Tham Khảo:
(1*) Vấn đề nông dân đầu thế kỷ 21- Nguyễn Minh Cần (Nguồn: Đài RFI ngày 7-09-2012)
(2*) Phỏng Vấn Ông Trần Quang Thành về “Công Đoàn Độc Lập” (Nguồn: Đài RFA)
(3*) Vua Nghiêu: (2337 TCN-2258 TCN )-Bách Khoa Toàn Thư Mở Wikipedia
(6*) Sự quan trọng của Thể chế chính trị trong đời sống con người- Chu Chi Nam-(Nguồn: Đối Thoại 08-6-2014).
(7*) Tại sao chúng ta phải thay đổi thể chế chính trị trước khi chống giặc ngoại xâm- Chu Chi Nam (Nguồn: Đối Thoại 08-6-2014)
(8*)Hue.edu./vn/vi/id129 Nhìn nhận thế nào về Toàn Cầu Hóa Văn Hóa- Đặng Thị Minh Phương…
(9*)Tiểu Sử Lý Đông A (1921-1947) Bách Khoa Toàn Thư Mở Wikipedia.
(10*) Tiểu Sử André Malraux (1901-1975) Bách khoa Toàn Thư Mở Wikipedia.
(11*) Thuyết Hiện Sinh qua Tư Tưởng các Triết Gia-Võ Công Liêm- (Nguồn: NEWVIETAR.COM ).
Truyện NHƯ ÁNG MÂY TRÔI – Đỗ Dung
Nguồn từ Việt Báo
NHƯ ÁNG MÂY TRÔI
Đỗ Dung
Sau lưng chiếc quan tài, một vách tường đá rêu phong, ánh sáng trắng như ánh sáng thiên nhiên từ trên trần cao dịu dàng tỏa xuống. Tiếng nước chảy róc rách quanh những tảng đá rồi nhẹ nhàng rơi xuống mặt hồ. Xung quanh chỗ Tuyết Minh nằm đầy hoa. Căn phòng đầy hoa. Những vòng hoa huệ tây màu tím chen lẫn những bông hồng, cúc… trắng, tím nhẹ, phớt hồng. Tuyết Minh yêu màu tím. Em nằm gọn gàng trong chiếc áo dài màu hoa cà, mái tóc buông xõa, đôi mắt khép lại bình yên. Dáng em nằm thanh thản, êm đềm như nàng công chúa ngủ trong rừng của những truyện cổ tích thần tiên.
Lễ phát tang giản dị. Không Tăng Ni, không ban hộ niệm, không lời tụng kinh, không tiếng chuông mõ. Không Linh Mục, không Mục Sư, không một lời nguyện cầu hướng dẫn vong linh. May mắn còn có bàn thờ hoa tươi thắm, đèn nến lung linh. Khuôn hình em tươi cười, mờ ảo sau chiếc bình hương tỏa khói trầm thơm ngát. Những vòng khăn tang trắng tự quấn cho nhau.
Chín chị em gái mấy chục năm ríu rít chia sẻ ngọt bùi, bây giờ Tuyết Minh nằm đó, sau buổi lễ hỏa táng em tôi thành tro, thành bụi, chúng tôi không bao giờ trông thấy em nữa. Như có vết dao đâm nhói trong tim, đau đớn!
Tôi lặng lẽ chú tâm cầu nguyện cho em và cả tám chị em cùng đem hết tình thương nguyện cầu:
– Ngủ đi Minh, ngủ một giấc thiên thu bình yên. Em hãy giữ tâm an lành về nơi tiên cảnh. Ở đó không còn lo âu, bon chen, tính toán, không có đau đớn, khổ sở, muộn phiền.
– Cầu xin các đấng tối cao, Trời, Phật hay Thiên Chúa, Các Ngài hãy cứu vớt linh hồn em, hướng dẫn em về chốn Vĩnh Hằng, đời đời Hạnh Phúc trong vòng tay che chở của Các Ngài.
– Xin Tổ Tiên, Ông Bà nội ngoại, Bố, Anh Dũng, các Cô, Các Cậu linh thiêng hãy đón em, hướng dẫn, che chở em để em khỏi đi lầm đường, lạc lối.
Gia đình chúng tôi theo Phật Giáo. Bẩy tuần lễ cuối cùng, sau những suy sụp tinh thần và những đau đớn tột cùng của thể xác vì căn bệnh ung thư, em đã gặp một phái đoàn truyền giáo Tin Lành, những người bạn của thời sinh viên Berkeley. Em tin em được cứu rỗi, em đã gặp Thiên Chúa và em xin chuyển đạo. Rất tiếc là thời gian quá ngắn nên em chưa chuẩn bị kỹ càng và gia đình chúng tôi cũng chưa quen với tín ngưỡng mới của em nên có hơi lấn cấn trong phần nghi thức tang lễ.
Mẹ chúng tôi đến, chiếc xe lăn đưa mẹ đến bên chiếc quan tài. Mẹ ôm mặt em, vật vã:
– Con ơi, con có thương mẹ không con? Sao con đành bỏ mẹ mà đi! Sao mẹ lại khổ thế này? Hết chôn anh con bây giờ đến lượt con. Con có biết mẹ khổ như thế nào không hả? Đau đớn cho mẹ quá…con ơi!
Tiếng khóc than, tiếng kể lể của mẹ nghe thật não lòng.
– Mẹ, mẹ bình tĩnh để em ra đi cho thanh thản. Mẹ giữ gìn sức khỏe. Mẹ bình tĩnh đi… mẹ ơi…
Những giọt nước mắt lăn dài. Những tiếng khóc thút thít. Những tiếng nấc nghẹn ngào cố chận lại trong họng không để thoát ra.
Năm mươi năm về trước… Ngày mẹ tôi chuyển dạ, tôi đã đưa mẹ tôi vào nhà bảo sanh của bà Tiến ở xế cửa chợ An Đông. Ngồi ngoài phòng đợi tôi nghe rõ tiếng mẹ rên rỉ, xuýt xoa vì đau. Tiếng bà Tiến vỗ về:
– Xong rồi! Con gái! Tài hoa lắm đây, con bé này có tràng hoa quấn cổ. Xinh đẹp, tài hoa lắm đây này.
Một lúc sau tiếng con bé khóc oe oe.
Khi bố mẹ tôi mới lập gia đình, một ông thày bói đã đoán là bố tôi sẽ có ba người con trai, không kể con gái. Bố tôi mong ba người con trai của ông sẽ anh dũng, tuấn tú, minh mẫn nên đã đặt sẵn bộ tên Anh Dũng, Anh Tuấn và Anh Minh. Anh Dũng khôn ngoan ra ngay đầu tiên nên bà và bố mẹ tôi yên chí có người nối dõi. Sau ba cô con gái, em Tuấn đã xuất hiện đúng lúc để bà khỏi mòn mỏi chờ mong. Tiếp theo em Tuấn, ba nàng Phương Nam, Quỳnh Mai, Anh Thư lần lượt ra đời. Khi mẹ tôi có mang lần này cả nhà yên chí chờ đón cu Anh Minh, tưởng là sẽ theo thứ tự như lần trước. Bụng mẹ tôi mỗi ngày một to ra nhưng không tròn cao mà xệ xuống. Lại thêm một bé gái nữa. Mẹ tôi thở dài: “Thằng Anh Minh đi lạc”. Bố tôi ngẫm nghĩ hay tại thằng nhỏ không thích tên Anh Minh nên bố tôi lấy tên Minh đặt cho con bé này: Đỗ Thị Tuyết Minh.
Hai năm sau mẹ tôi sinh thêm một bé gái cho bà và bố tôi một dây “Ngũ long công chúa” vì theo các cụ ngày xưa nếu sinh được năm cô con gái liền nhau thì bố mẹ sẽ làm ăn khấm khá. Năm con bé xinh như những con búp bê, từ con búp bê Nhật Bổn Phương Nam, mũm mĩm Quỳnh Mai, dịu dàng Anh Thư, mắt tròn xoe “Miko” Tuyết Minh đến con búp bê mắt nhung “Mi Cun” Thiên Hương. Sau Mi Cun thằng con trai thứ ba của bố mới đủng đỉnh ra đời, bố đặt tên em là Đỗ Anh Minh Duy. Cuối cùng mẹ tôi còn sản xuất cô út Đoan Thùy cho trọn vẹn một tá, mười hai người con.
Căn nhà luôn rộn rã tiếng cười đùa của một bày con nít. Chúng tôi đều mang dòng máu văn nghệ của bố, yêu văn chương, thi phú, múa hát, đàn ca. Nhà con đông, lương sĩ quan của bố tôi chỉ đủ cho những nhu cầu căn bản. Mẹ tôi phải tần tảo bán buôn để các con có cuộc sống no đủ, ăn uống phủ phê và hè được đi nghỉ mát Đà Lạt, Nha Trang hay Vũng Tàu… Bố tôi đặt làm một chiếc bàn vừa rộng, vừa dài bằng đá mài màu xanh ngọc láng bóng, chiếm gần hết phòng ăn làm chỗ cả nhà tụ họp quây quần. Những buổi trưa hè nóng nực, cậu Thắng hoặc em Hạnh đạp xe sang hãng kem ở đường Nguyễn Trãi mua cả kí lô. Để tiết kiệm việc rửa ly mẹ tôi đổ kem vào chiếc thố lớn để giữa bàn, cho mỗi đứa một cái muỗng, ăn chung. Mấy con búp bê bò cả lên bàn, chổng mông lên trần, chúi đầu quanh thố kem. Nghêu, sò, ốc, hến mẹ tôi cũng mua cả bao, luộc đầy một nồi rồi để cả nồi lên giữa chiếc bàn đá, cả lũ rào rào ăn như tầm ăn rỗi. Mỗi lần nhà đổ bánh xèo hay tráng bánh cuốn, mấy đứa nhỏ chia nhau chực, hễ chị đổ xong chiếc bành xèo hay tráng gần đầy đĩa bánh cuốn là bưng ngay lên chiếc bàn đá và chỉ một loáng lại có con nhỏ khác cầm chiếc đĩa không xuống bếp ngồi chờ. Buổi chiều sau khi tắm, ăn cơm tối xong cả lũ được túa ra chơi ở vỉa hè trước nhà, như một bầy cò trắng. Đồng phục nhà trường là quần áo trắng nên mẹ tôi mua cả cây vải trắng về may. Mặc sẵn ở nhà, sáng dậy đi học khỏi phải thay quần áo.
Bầy con của bố mẹ tôi cứ nhởn nhơ chơi và phởn phơ lớn. Cuối năm học nào cũng nghễu nghện vác phần thưởng về nhà. Đến tuổi dậy thì trước cửa đã có những cây si. Cả bầy lại rúc rich, ríu rít trêu chọc nhau. Những hỗn danh cho các chàng được thoải mái đưa ra, anh mũi heo, anh mù dở, anh sếu vườn, anh mập, anh lùn… Anh nào qua được cửa ải ông cụ chống nạnh gườm gườm là đến sự phán xét, chấm điểm của lũ “chào mào mổ khế”.
Ngày 30 Tháng Tư, năm 1975, tất cả đổi thay. Ông bố phải đi cải tạo. Hai cô chị lớn, Dung và Thuận đã lập gia đình, hai cậu con trai lớn và Vân Hạnh đi du học. Còn lại sáu đứa con gái đang tuổi lớn và trai út Minh Duy núp bóng mẹ. Mẹ tôi như gà mẹ xù lông che chở bầy gà con xao xác. Một mình mẹ phải chèo chống, đã vất vả càng vất vả hơn để các con dù không được ăn ngon nhưng không bị đói, dù không được diện đẹp nhưng không đến nỗi rách rưới tang thương. Đồ đạc trong nhà được bán đi dần dần nhưng chiếc đàn dương cầm và mấy cây đàn ghi ta mẹ tôi không đem bán vì các con còn gì sau những giờ lao động và vất vả giúp mẹ trong việc mưu sinh. Chút thì giờ rảnh rỗi mấy chị em vẫn tụ họp nhau, thêm mấy người bạn, nhất là mấy người con của Bác Giáo trong xóm cùng nhau ca hát. Anh Hai TDL làm đầu tầu lập Hội Ca Cầm.
Tưởng cứ yên bình như thế, dù nghèo vẫn tìm được những niềm vui trong hoàn cảnh thanh bần, đạm bạc. Đầu năm 1978 nhà mẹ tôi bị kiểm kê, họ niêm phong hết nhà cửa, đồ đạc và đuổi cả nhà đi kinh tế mới với tội danh gia đình ngụy, tư sản mại bản. Năm ấy Phương Nam đang học Nha từ trước năm 1975 nên được học tiếp, Mai và Thư đã xong trung học nhưng không được vào đại học, Tuyết Minh đang học lớp 11, Thiên Hương lớp 9, Minh Duy lớp 7 và Đoan Thùy mới lớp 4. Nhìn bầy con, mẹ bấm bụng thở dài. Tương lai các con đi về đâu. Muốn yên thân chẳng được yên thân. Chịu lam lũ cũng chẳng được làm người lam lũ! Mẹ tôi tìm đường đưa các con ra biển, từng đứa, từng đứa. Mẹ đành ở lại với bé út để nuôi bố trong tù. Nhờ may mắn và hồng phúc tổ tiên nên các em tôi đến bến bờ bình an và từ từ tụ hội.
Tuyết Minh mỏng manh, yếu đuối nhưng rất thông minh, xinh đẹp, tài hoa. Sang Mỹ em vừa tròn 18, bỏ lớp 12, vào thẳng Đại Học Cộng đồng. Chỉ sau hai năm em được nhận vào trường Đại Học Berkeley, nhẹ nhàng lấy bằng Cử Nhân và Cao Học về ngành Kỹ Sư Cơ Khí với hạng danh dự. Dù là một khoa học gia giỏi, giữ nhiều chức vụ then chốt trong sở làm nhưng em vẫn ham mê đàn hát. Tính nết rất lãng mạn và đam mê, khi hát Minh thường để hết tâm tư nên giọng ca rất truyền cảm. Ray rứt như “Nửa Hồn Thương Đau” (nhạc Phạm Đình Chương) hay tha thiết trong “Nghìn Trùng Xa Cách” (nhạc Phạm Duy), em được mệnh danh là con chim sơn ca của Trường Đại Học UC Berkeley.
Tuổi trẻ, tiền bạc, danh vọng, địa vị, nhan sắc, Tuyết Minh đều có. Bao chàng trai theo đuổi. Thế mà định mệnh trớ trêu em không được duyên may, phận đẹp. Đường thênh thang, mượt mà, hoa gấm em không đi mà bước vào những nơi chông gai, bụi rậm…Hạnh phúc gia đình tan vỡ, một nách hai đứa con thơ, vừa làm cha, vừa làm mẹ, em đã mạnh mẽ, can đảm, dùng nghị lực của người thiếu phụ trẻ nuôi dậy các con.
Vì công việc sở Minh được đi khắp thế giới, từ Âu sang Á, từ Mỹ sang Phi. Con người nhạy cảm và tinh tế nên Minh đã hấp thụ được tinh hoa của nhiều nền văn hóa. Nghiên cứu, tìm hiểu từ các ngành nghệ thuật, những phong tục, tập quán địa phương đến ngay cả văn hóa ẩm thực. Trong những buổi tụ họp đại gia đình Minh luôn là đầu bếp chính. Minh nấu ăn rất ngon, trình bày thật khéo và có tài đánh trống lảng để khỏa lấp chuyện thật giỏi. Khi xót xa về số phận long đong của em, mẹ hoặc các chị vừa đề cập tới là em đã vội vàng:
– Mẹ xem con rút xương con gà hay không này!
Hoặc:
– Cái món Prime Rib này chị nhớ bỏ một chút rượu vang nha.
Hí hoáy ngồi viết công thức cho chị rồi cười:
– Đừng quên cho mấy giọt nước mắm… hí hí.
Dù là “single mom” Minh vẫn có nhiều người tử tế muốn chắp nối nhưng nếu hai thằng con trai tỏ ý không bằng lòng thì em phải chấm dứt ngay sợ các con buồn. Mãi đến khi các con khôn lớn em mới kết bạn với “ Anh hàng xóm”, được vài năm hạnh phúc, sanh thêm thằng con trai thứ ba thì tai ương ập xuống, em tôi mắc bệnh ung thư.
Hai chị em cùng bị bệnh ngặt nghèo nên đồng bệnh tương lân. Các con tôi đã trưởng thành, ba đứa con của Minh còn quá nhỏ nên lòng em trĩu nặng âu lo. Minh muốn khỏi bệnh cho nhanh nên đồng ý với bác sĩ dùng chương trình hóa trị ngắn nhất, thuốc liều mạnh nhất nên bị thuốc hành tả tơi. Các cháu ở gần phải đến trông nom dì và giúp dì những lúc dì bị ói mửa. Mái tóc dài mượt như nhung rụng dần, còn lại cái sọ tròn xoe, nhẵn bóng. Chị em đến thăm xót xa. Mẹ tôi đau đớn. Đầu trọc trông em như một ni cô, vẫn trẻ, vẫn đẹp. Minh bị bệnh tất cả anh chị em lao xao, dù đất nước mênh mông, mỗi người đều có gia đình riêng, có công việc riêng để lo toan nhưng hễ nghe tin chẳng lành là anh chị em lại tụ về thăm hỏi, chia sẻ.
Sau một năm làm “chemo” và “radiation” Minh lành bịnh, đi làm trở lại, vẫn lên sân khấu hát trong những dịp được mời để gây quỹ từ thiện. Mái tóc lại dài mượt mà như xưa.
Thảnh thơi được năm năm thì bệnh cũ tái phát. Ung thư vào tới xương. Thương làm sao… Nhìn em, nhìn chị… nghẹn ngào… Bác sĩ nói: Sáu tháng! Biết làm gì hơn là cầu nguyện.
– Tại sao Minh khổ vậy chị?
Nghe Minh hỏi, biết trả lời sao! Mẹ tôi đến thăm em thường và nói em lập bàn thờ Phật, niệm Phật Quan Thế Âm ngài sẽ phù hộ cho tâm hồn thanh thản. Minh tự tay xây lấy một cái am nhỏ sau vườn làm nơi thờ Phật, hàng ngày em cũng thỉnh chuông và thắp nhang nguyện cầu. Như có sự màu nhiệm, sau khi giải phẫu cắt bỏ gần hết mấy cơ quan nội tạng, Minh ra khỏi bệnh viện là đi làm lại ngay, lại lo toan, tính toán, sắp xếp cho tương lai ba thằng con. May mắn Minh gặp ông thày châm cứu giỏi nên cầm cự được hơn ba năm. Nhưng sức người có hạn, ung thư tàn phá xác thân em, hệ thống miễn nhiễm không còn, gan hư, thận hỏng, xương xốp, tế bào ung thư lên đến óc… Thương quá Minh ơi… những cơn đau hành hạ xác thân em.
– Tại sao Minh khổ, chị ơi tại sao Minh khổ vậy hả chị?
Minh có biết chị buốt ruột như thế nào khi nghĩ đến nỗi đau đớn của Minh không! Đã nhiều lần chị nói với Minh tất cả đều do nghiệp lực, những nghiệp lực từ đời đời kiếp kiếp nào đó mình đã vướng phải nên nó đẩy đưa ra những chuyện xảy ra ngoài ý muốn của mình. Hãy vui vẻ mà trả nghiệp và thảnh thơi mà sống, quẳng gánh lo đi, buông bỏ hết đi, vui vẻ mà sống.
Minh đã gào lên:
– Tại sao lại vô lý như vậy hả chị? Vậy mình phải trả đến bao giờ mới hết nghiệp của mình? Kiếp sau lại khổ như thế này nữa sao?
– Nếu mình không tạo thêm nghiệp xấu, mình không cố tình làm hại ai mà cố gắng làm những việc tốt lành, chăm làm việc thiện thì nghiệp cũ từ từ sẽ trả dứt. Điều cần nhất là mình giữ tâm thanh thản, buông bỏ hết hệ lụy ở đời. Những chuyện không tốt xảy ra mà mình không cố ý là do nghiệp đưa đẩy còn nếu mình cố ý làm việc xấu thì đó chính là mình tạo thêm nghiệp cho mình.
Một hôm mấy chị em đến thăm Minh, em gầy quá chỉ còn da bọc xương nhưng nét mặt rất vui. Một con cá bông lau thật to nướng vàng thơm phức.
– Ốm đau mà còn bầy vẽ thế này!
– Sáng nay Minh thấy khỏe lắm nên ra chợ mua cá về nướng. Cá tươi nguyên còn bơi trong hồ đó chị.
– Chị không có can đảm chỉ con cá, họ vớt lên đập cho chết! Chị mua cá đông lạnh thôi.
– Nó đã ở trong bể cá ở chợ rồi, mình không mua cũng có người khác mua. Số nó tới ngày chết là nó phải chết thôi chị ạ. Này chị ăn thử xem, cá chắc mà ngọt thịt lắm, khác hẳn cá đông lạnh.
Con cá thật to, đĩa rau sống tươi xanh bên đĩa bún trắng nõn, mắm nêm pha rất ngon, Minh làm bếp thật khéo. Không hẹn trước mà cũng có mặt cả Thuận, cô em liền tôi và Thùy, cô em út. Bốn chị em và tài xế của tôi là anh rể cả quây quần gói cá chấm mắm nêm và ăn đậu hủ chiên xả ớt do cô Thùy đem đến. Vừa ăn vừa ôn lại chuyện ngày xưa chị em thân thiết, đùa nghịch. Minh kể chuyện phá đám mấy anh chàng theo chị PN. Có anh chàng viết tình thư một lá dài như sớ táo quân lọt vào tay Minh, em đưa cho bố, bố cho ngay xuống ghế ngồi lên. Cứ thế kể lại cho nhau nghe chuyện này chuyện kia, chuyện của thời trẻ con, chuyện của thời con gái.
Tuyết Minh đã bước lên chiếc thuyền con lênh đênh vượt biển. Sang đến đây em đã chịu khó học hành, đã thành công trên con đường học vấn cũng như vững vàng trong sự nghiệp trên đất nước Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ này nhưng số phận long đong, em không được duyên may, phận đẹp, rồi em lại vướng phải căn bịnh hiểm nghèo. Thật tội cho em!
Khi chia tay ra về tự nhiên Minh ôm các chị và bật khóc: “Hồi này Minh nghĩ đến các chị em nhiều, Minh mong gặp tất cả mọi người”. Lên xe nhìn dáng gầy còm em đứng nhìn theo mà không cầm được nước mắt.
Ngày 23 Tháng Bẩy, năm 2011, sinh nhật 50 của Minh, các chị em hẹn nhau trở về, chia việc cho nhau. Các cháu gái lớn gần gũi dì hơn, Khanh, con của Hạnh hễ cứ rảnh lại đến thăm và ngủ lại với dì. Bạn bè xa gần kéo về dự ngày sinh nhật cuối cùng của em. Tuyết Minh mặc chiếc áo đầm trắng nằm đó, leo lét như ngọn nến trước gió, cố gắng mỉm cười với mẹ, với chị em, bạn bè. Cậu Thắng từ Oklahoma cũng bay vội sang thăm.
Chỉ hai ngày sau, 25/7 /11 Tuyết Minh đã trút hơi thở cuối cùng trong sự yêu thương của toàn thể gia đình. Chúng tôi ở bên em, bất lực nhìn em, hơi thở yếu dần rồi lịm tắt. Không khóc, không khóc…bảo nhau không được khóc. Nước mắt chảy ngược vào trong. Bảy giờ chiều, giờ định mệnh.
Em mất ngày Thứ Hai, Chủ Nhật là ngày đám tang em.
Các anh chị em, bạn bè lên đọc tiểu sử, đọc điếu văn, nhắc kỷ niệm. Nơi tổ chức nghi lễ kiến trúc như một thánh đường, trần cao vút, những khung cửa sổ kính trang trí đẹp mắt, dài, cao, vuốt nhọn lên tới trần, thanh thoát. Tôi không tin ở mắt tôi. Tôi như người mộng du. Tôi chưa chấp nhận sự thật. Em tôi chết thật rồi sao. Vô lý!
Ngày hôm sau, trước khi đưa em đi, nhóm truyền giáo Tin Lành tới hát thánh ca. Rồi cả nhà đứng quanh chiếc quan tài. Nắp hòm đóng lại. Tim nhói đau. Vĩnh biệt em. Mãi mãi không bao giờ trông thấy em nữa. Đoàn người lặng lẽ đi. Tám chị em gái đi hai bên chiếc quan tài. Trong đầu tôi: Nam Mô A Di Đà Phật. Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát…tiếp tục niệm hồng danh Phật. Chiếc hòm đưa vào cửa lò thiêu.
Một cái bấm nút. Lửa bùng lên… Nam Mô A Di Đà Phật.
Vĩnh biệt em!
Em như một áng mây tới đây và em đã trở về nơi nguyên thủy.
Đỗ Dung
VIẾT VỀ NHỮNG TAM GIÁC THIÊN THẦN – Mai Thanh Truyết
Viết về những tam giác thiên thần
Sáng nay, tôi thức dậy sớm hơn thường lệ tức khoảng 5 giờ sáng. Ngồi trước laptop. Tự dưng nghĩ về những hình ảnh thật xa xưa, trên 60 năm qua, hình ảnh những chiếc áo dài thướt tha xếp hàng, đôi khi có “chen lấn” trước một chiếc cửa sổ nhỏ ở Viện Đại học Saigon nơi công trường Dân chủ tức Công trường Con Rùa đường Duy Tân, Saigon. Đây là nơi các chị, dĩ nhiên là cũng có các anh, nhưng tôi nào chú ý đến đâu(!). Các chị là ai? Là những Cô Tú vừa đậu xong tú tài II đến đây để ghi danh vào các đại học ở Saigon.
Nhìn những nét mặt rạng rỡ, tươi vui có điểm thêm một nét “tự tin” vào tương lai trên mỗi gương mặt dù khác nhau qua những chiếc áo dài thướt tha. Và dĩ nhiên cũng có những chiếc jupe muôn màu tạo thêm nét chấm phá của các Cô Tú bên Marie Curie, Couvent, Regina, hoặc JJ Rousseau nữa…Có thể nói tôi có “cái nhìn” khác nhau so với các bạn trai khác.
Khác nhau ở chỗ:
Các bạn tôi chỉ nhìn thoáng qua tổng thể các chị để rồi tập trung vào “ngực tấn công và mông phòng thủ”. Xin nói trước là những từ ngữ trên chưa hề có trong đầu thập niên ’60 của thế kỷ trước, mà chỉ xuất hiện vài năm trở lại đây thôi.
Còn tôi, chỉ chăm chú vào những “tam giác thiên thần” như tựa đề của bài tản mạn nầy thôi.
Mà tam giác thiên thần là gì? Ở đâu trên người của các chị?
Xin đừng nghĩ bậy bạ các bạn ơi! Ở tuổi hoa niên của thời buổi chúng tôi lúc bấy giờ rất thánh thiện, không chất chứa trong đầu óc những hình ảnh “đen tối” với những ý nghĩ thầm kín giữa đàn ông – đàn bà đâu. Xin nói ngay để bạn đọc khỏi…lùng bùng lỗ tai (!) là tam giác thiên thần chính là nơi hội nhập giữa lưng quần và kẽ hở bên hông chiếc áo dài của các chị đó! Nơi đây để lộ ra một mảng “thịt” trắng…hoàn toàn không có ý gợi dục già cả, mà nói lên một sắc thái đặc biệt có thể thể hiện ra cá tính (?) của từng chị một. Tôi nghiệm ra như thế!
Từ hình tam giác “đều” (ba cạnh bằng nhau) nhỏ nhắn, cho đến tam giác “cân” (hai cạnh bằng nhau thôi) với “đường huyền” rộng hẹp khác nhau! Đôi khi cũng có những tam giác…không giống con giáp nào cả mà tôi không biết mô tả là sao, chỉ trưng hình ra cho các bạn nhìn mà thôi.
Viết đến đây, tôi cũng biết trong đầu các bạn tôi thời bấy giờ lại có ý nghĩ …lợn cợn rồi đây.
Nhưng không sao, tôi sẽ kéo các bạn về thực tế của những tam giác thiên thần nầy. Với tôi, chính là vì ý nghĩ thiên thần cho nên “chữ nghĩa” mới chạy thông suốt tự do trên xa lộ mạng như thế nầy suốt buổi sáng. Cái đẹp dưới nhản quan của một người bị méo mó nghề nghiệp là phân tích “vi mô” (lại dùng từ ngữ của phía bên kia rồi), phân tích từng nguyên tử của hóa học…cho nên tôi nhìn cái đẹp không giống ai cả!
Đó là ánh mắt nai vàng ngơ ngác, đôi mắt lá răm làm người “được ngó” chết sửng!
Đó là cái miệng chưa nói đã cười mời mọc!
Đó là đôi môi chim chím nhưng thầm nhắc rằng …đã “chấm” rồi đó;
Đó là vùng eo thon thả hé lộ… tam giác thiên thần thể hiện một vùng trắng ngần tinh khiết!
Sau cùng, đó là cái duyên của một người con gái!
Chính cái điểm sau cùng tạo nên sắc thái đặc biệt của mỗi thiếu nữ. Cái duyên không định hình được, không thể phân tích hay mô tả mà chỉ có người có cầu nối Van Der Waals hóa học mới kết dính (binding) được người nữ mà thôi. Duyên là vô hình và hữu hình. Bạn nào hiểu được thì hiểu. Không hiểu thì chịu thôi!
Tôi cũng không quên viết tiếp là hiện tại tôi không còn “tuổi” để ngắm những tam giác thiên thần trên hay không còn vui thú khi ngắm nhìn những tam giác thiên thần của thời hoa niên nữa. Tất cả chỉ vì và có lẽ văn minh đã đánh mất đi hình ảnh cách đây gần 60 năm qua thời niên thiếu rồi.
Số là, chiếc áo dài ngày xưa chỉ cài “nút bóp” cho nên tam giác thiên thần hiện ra trọn vẹn, tinh khiết và đơn sơ. Còn ngày nay, áo dài của các chị được kết nối hai tà áo bằng cái “fermeture” vô duyên, đôi khi làm mất đi tính tự nhiên và hồn nhiên của tam giác thiên thần khi các chị sơ ý để đầu dây fermeture đưa ra trên đỉnh của tam giác. Tam giác thiên thần của tôi bị ô uế đi. Rất tiếc.
Viết đến đây tôi chợt nghĩ đến một anh bạn già Quý Mùi của tôi trên FB tên HL, hình ảnh cái tam giác thiên thần của anh ngày xưa đi lấy chồng, và sau bao nhiêu năm trôi qua, tam giác thiên thần của anh đã vào miên viễn rồi mà anh vẫn còn ray rứt thắc mắc tự hỏi: “em không ngờ ta lớn tuổi còn yêu – nên ỷ lại chẳng phòng thân thiếu phụ – và bữa đó có một người lãnh đủ – vầng trăng nghiêng sụp lặn mất sau đồi.” Tôi cũng thuộc loại “nòi tình” nhưng lại chịu thua cách “yêu và nhớ” của anh bạn già nầy.
Không những thế, anh còn nói …vói thêm là:”giai nhân nan tái đắc hề – nên ta cứ phải tình si một đời – dặm ngàn không thể người ơi – trần gian thì sắp hết thời trần gian – ta nhen đóm lửa đêm trường – soi cho biết một cánh hồn ở đâu – em nghiêng mái tóc âu sầu – bay không ngớt cõi đời nhau muộn màng – đành nan tái đắc tình nhân – ơn nhau khép mắt xin đừng ngó theo…”
Viết đến đây, nhận biết có lẽ tam giác thiên thần của anh bạn già của tôi “thiên thần” hơn tôi, cho nên dù người yêu của tuổi hoa niên đi lấy chồng rồi, đi vào bờ giác rồi, mà anh vẫn tiếp tục “Tro bụi bám mảnh quần hồng – Ngoảnh nhìn lại nhớ.. bóng hồng ngày xưa…” Tôi chịu thua là phải rồi.
Thưa các bạn,
Bài tản mạn về những tam giác thiên thần của tôi hôm nay đến đây là hết (chương trình Tùng Lâm). Viết đến đây, tôi hỏi “tôi còn tỉnh táo” hay là đã bắt đầu đi vào tuổi Alzheimer, chỉ biết nhớ chuyện xưa mà quên đi chuyện nay?
Tôi chưa có câu trả lời, nhưng chắc chắn là tôi …viết những dòng tản mạn vui trên đây để cho “bên thắng cuộc” thấy là hiện tại tôi không còn cổ súy và chiến đấu cho công cuộc…Chống Tàu Diệt Việt Cộng nữa, mà chỉ nhằm mục đích “mua vui” trên mạng facebook “mới” của tôi mà thôi. (Xin thưa, FB cũ xây dựng gần 10 năm bị đánh sập chỉ vì tôi làm liên tục công việc vừa nói trên trong hơn 30 năm).
Chắc không đó???
Nghèo mà ham???
Mai Thanh Truyết
Viết trong cơn Alzheimer – 11-8-2021
Ghi chú: Bạn Hoàng Lộc thân mến,
Thành thật xin lỗi về việc trích thơ của bạn mà không xin phép trước cũng vì bạn tuy không nói ra nhưng chắc bạn (?) cũng đã vì những tam giác thiên thần mà “nhả” ra những bài thơ lai láng tình si từ tuổi hoa niên cho đến giai lão…78! Bạn vẫn:”ai biểu cứ thương một lần hạnh ngộ – áo em bay không ngớt gió trong đời – ta khóc ngất bao lần sau bóng áo – chỉ mơ hồ nghe được chút thơm rơi – biền biệt mãi những gì ta tưởng gặp – ngày điêu linh nắng rớt cuối con đường – em yêu dấu, em đã từng ngoảnh mặt – thì sá gì dâu biển phía sau lưng…”
Bạn làm tôi nhớ đến “Chúa nhật nầy Trẫm nhớ Ái khanh không? Của nhà thơ Nhất Tuấn vừa mất tuần trước đây.
Còn phần tôi, những tam giác thiên thần ngày xưa tôi đã bỏ vào “spam” rồi. Làm như thế để cho chứng Alzheimer sẽ phải chậm phát triển lại. Tôi chỉ còn TÔI!
Thưa các Bạn,
Nếu chứng Alzheimer của tôi chậm phát triển, tôi sẽ cố gắng viết vài hàng về chiếc áo bà ba với cái quần lãnh đen óng ánh xanh đậm do thuốc nhuộm từ hột mặc nưa (Châu Đốc), một loại phẩm nhuộm mà tôi tình cờ có dịp dự phần vào việc sản xuất sau 1975 khi còn kẹt lại. Đây cũng là một hình ảnh thiên thần của thời hoa niên của tôi. Hơn 60 năm qua sau thời mới lớn, đến bây giờ tôi mới hiểu sâu hơn và thấm được tình tự dân tộc của những người dân mộc mạc, chất phác của miền Đồng Bằng Sông Cửu Long miền Nam. Quê hương ơi! Quê hương còn đó không?
Giới Thiệu Sách: CHÚT ĐỜI CÒN LẠI TRONG THƠ của nhà thơ H.O. Hoàng Mai Nhất (Lê Anh Thượng) Hưũ Định (Người đưa tin) & THƠ CHÚC MỪNG: Phương Hoa
Nhà Báo, nhà Thơ Kiến Hoa Võ Thành Đông (chủ nhiệm báo Phương Seattle, WA) nhan xét tầp thơ HMN.
Tổng hợp nhận định buổi ra mắt Thi tập “Chút Đời Còn Lại Trong Thơ” của nhà thơ Hoàng Mai Nhất qua các tờ Tuần Báo: Phương Đông, Người Việt Tây Bắc, Người Việt Ngày Nay ở vùng trời Tây Bắc Seattle, TB WA. Hưũ Định (Người đưa tin)
Trưa ngày Chủ Nhật (25/7/21), Thành Phố Seattle, TB WA đã có một sự kiện về Văn Học Hải Ngoại diễn ra (khi mà dịch Covid Tàu cộng đang dần giảm bớt, nhưng vẫn còn chút gì đó của âm hưởng biến chứng mới đang hình thành, phảng phất đâu đây), đó là buổi ra mắt Thi tập “ CHÚT ĐỜI CÒN LẠI TRONG THƠ” của nhà thơ H.O. Hoàng Mai Nhất (Lê Anh Thượng).
Mặc dầu vây, nhưng buổi lễ đã diễn tiến tốt đẹp với sự tham dự ủng hộ tác giả của khoảng 50 đồng hương yêu thích Thơ Văn VN. Trong đó, nhận thấy có một số Văn Thi Sĩ trong TB WA như nhà thơ lão thành Song Xuyên, Tuyết Sơn Nguyễn Văn Thu, Lê Phi Điểu, Kiên Trương, nhà Thơ nhà Báo Kiến Hoa Võ Thành Đông, Phạm Trí Chủ Nhiệm Báo NVNV và nhất là nhà Thơ Trưởng Bối Hoàng Hà Võ Quang Hân, dù sức khỏe yếu kém nhưng cũng đã ráng đến tham dự chia vui cùng nhà thơ hậu bối HMN.
Mở đầu là sự giới thiệu tác phẩm của MC Hoàng Mai Nhì (cũng chính là vợ của tác giả):
Thưa quý vị, Nhạc thì lúc nào, bất kỳ ở đâu ta cũng có thể nghe được; nhưng Thơ thì chỉ có một dịp như thế này để được nghe Thơ và cũng chỉ có một lần mà thôi. Tại sao lại là chút đời còn lại trong thơ? Tại vì trong tập Thơ này, khi đọc; quý vị sẽ thấy có một chút tuổi trẻ thời đi học, một chút đời trai trong chiến tranh, một chút đời tù cải tạo, một chút đời lưu vong…tất cả chỉ là một chút, một chút thôi…nhưng lại là cả một chút gì đó của chúng ta trong cuộc đời này; cho nên tác phẩm mới có tựa là “ Chút Đời Còn Lại Trong Thơ ”.
Nhân đây, chúng tôi chân thành cảm ơn sự tham dự ủng hộ của quý Trưởng Bối, quý Văn Thi Hữu, quý báo NVNN, quý báo Phương Đông và quý đồng hươngđã nhín chùt thì giờ đến dự buổi ra mắt sách ngày hôm nay. Đây cũng chính là sự khích lệ để có những tập Thơ tiếp tục ra đời; giúp cho Thơ Văn Hải Ngoại và tiếng Việt không mất đi…
Buổi lễ bắt đầu lúc 1:00pm với phần ẩm thực ngon miệng và sau đó, khoảng 2:00, đi vào phần chính là ra mắt tác phẩm với lời phát biểu nhận xét mở đầu của nhà thơ Song Xuyên.Kế tiếp là lời phát biểu nhận xét về tập Thơ và Tác Giả của nhà Báo, nhà thơ Kiến Hoa Võ Thành Đông và chị Ngọc Tuyết.
Trong phần phát biểu của mình, nhà thơ Kiến Hoa đã ngỏ lời khen ngợi phu nhân của tác giả là chị Lê Thị Thanh Bình (người đã ủng hộ, yểm trợ và khuyến khích tác giả làm thơ để hôm nay có tác phẩm này ra đời). Một người con gái đáng quý vì đã không chê tác giả, một người tù CS trở về trắng tay, không có gì hết, mất cả tương lai; nhưng vẫn tin yêu chờ đợi và để rồi trở thành người vợ chung thủy cho đến tận hôm nay. Đăc biệt là chị đã đóng góp trong tập thơ này một bài viết cùng tựa đề “Vợ H.O.” (qua hình ảnh của chính mình) với bút hiệu Hoàng Mai Nhì (xin xem bài viết “VỢ H.O.” đăng trong tập thơ này ở trang 186).
Kế tiếp là tác giả đã lên nói về ý nghĩa của tập Thơ và lý do tác giả làm Thơ. Mọi người đã được nghe những bài thơ của tác giả trong Thi tập do chinh tác giả diễn ngâm và trình bày; xen kẻ với những bài hát của đồng hương tham dự và tác giả cũng đóng góp phần ca hát của mình để giúp vui và làm cho không khí thêm sinh động. Mọi người ở lại cho đến gần 5:00pm mới chia tay (mặc dù chương trình dự trù dến 4:00pm là chấm dứt) sau lời cảm ơn của tác giả đến quan khách tham dự.
Nhìn chung buổi ra mắt Thơ đã thành công tốt đẹp trong buổi trưa hè nắng nóng. Hy vọng sẽ là bước khởi đầu cho nhiều sinh hoạt Văn Học Nghệ Thuật và tất cả sinh hoạt khác trong Cộng Đồng khởi sắc hơn lên.
Từ trái qua) nhà thơ Song xuyên; nhà thơ Lê Phi Điểu; nhà thơ, nhà báo Kiến Hoa Võ Thành Đông (chủ nhiệm báo Phương Seattle, WA); nhà thơ Hoàng Mai Nhất Lê Anh Thượng (tác giả ra mắt sách); nhà thơ Tuyết Sơn Nguyễn văn Thu; niên trưởng T/T Nguyễn Văn Bảo (LLĐB); niên trương HQ Tr/T Đinh Mạnh Hùng; Tr/u Quân (BĐQ); Tr/u Lam Sơn (SĐ21BB), một Mạnh Thường Quân nổi tiếng ở Seattle, WA và đã được vinh danh là “Người Đàn Ông của Năm” (Man of the Year Award) ở TB Washington trong năm 2020 (hình các VTH chụp với HMN).
Nhà Thơ Song Xuyên nhận xét thơ HMN
Con gái HMN (áo tím ngoài cùng bên trái) và các bạn của cháu
HMN và MC Hoàng Mai Nhì ̣(vợ tác giả, Lê Thị Thanh Bình)
THƠ: GIỜ ĐÃ ĐIỂM – MAU VƯỢT LÊN- Hình Ảnh – Hoàng Mai Nhất & Cao Mỵ Nhân – Lê Văn Hải
Hòa cùng nhịp đập!
(Với những hình ảnh thê thảm đang diễn ra tại VN)
Danh ngôn đúng nhất tặng Nhà Cầm Quyền CSVN đang hành xử khốn nạn trong mùa dịch: “Kinh tởm nhất, đáng phỉ nhổ nhất, là hình ảnh những con kên kên, vẫn thản nhiên rỉa những bộ lông óng mượt của mình, sau những bữa ăn no nê, moi thây, ăn xác đồng loại của chính nó!”
Cảm tạ Thĩ sĩ Hoàng Mai Nhất, đã có những vần thơ “nổi lửa!” để mọi người cùng ý thức, phải chung tay, đốt sạch cái Đảng tham tàn, độc ác trên Quê Hương VN. Ngày ấy Quê Mẹ của chúng ta mới thực sự có Tự do, Dân chủ! Mong lắm thay!
LÊ VĂN HẢI
Bịnh viện tràn ngập xác chết, ngoài đường người dân ồ ạt di tản. Trẻ thơ 5 tháng tuổi, cũng lấm bụi đường! Đảng đâu? Sao không giúp? mà còn hành hạ, giết dân!
Ủa Thiên đàng XHCH, dưới sự cai trị vinh quang của “Đỉnh cao trí tuệ’ như vầy sao?
LÊ VĂN HẢI
THƠ Chúc Mừng Tin Vui: Ái Nữ A/C Lê Văn Hải Sắp Vu Quy – Lê Tuấn – Phương Hoa Chinh Nguyên – Hoàng Mai Nhất – Minh Thúy + Dương Huệ Anh
KÍNH MỜI QUÝ THÀNH VIÊN VTLV Tham Gia Chương Trình “Tác Giả Và Tác Phẩm” của VTLV- Giới Thiệu Sách Mới Của Mình
Kính quý thành viên VTLV,
Ban truyền thông VTLV sẽ thực hiện một loạt Video với Chủ Đề “Tác Giả Và Tác Phẩm” với sự điều hợp của MC Hạnh Thảo – MC Nguyễn Hồng Dũng, và Trưởng Ban Media Lê Tuấn.
Loạt Video này sẽ được quay tại phòng thu nhà của cựu chủ Tịch Chinh Nguyên.
Để mở đầu cho loạt Video này, nhà thơ Lê Tuấn sẽ là tác giả đầu tiên, (Làm mẫu) trình bày 4 tác phẩm đã ấn hành.
1- Tình yêu Của Tôi
2- Sen Già Nở muộn
3- Hồi Ký Đội Đập Đá Trại Tù Số 6 Nghệ Tĩnh
4- Lang Thang Cõi Người
Lưu ý: Mỗi tác giả muốn tham gia hãy cầm theo tác phẩm của mình và chuẩn bị đôi lời giới thiệu ngắn gọn, trước khi hai MC phỏng vấn, những câu hỏi liên quan đến tác phẩm. Mỗi tác phẩm sẽ là một Video với thời lượng 30 phút.
Bất cứ tác giả thành viên VTLV nào cần giới thiệu tác phẩm, Ban Truyền Thông VTLV sẵn sàng đáp ứng. Xin liên lạc Ban Truyền Thông VTLV để biết thêm chi tiết và sắp xếp lịch thu hình thuận tiện cho thời gian và điều kiện của quý vị.
Trân trọng
Trưởng Ban Truyền Thông VTLV
Lê Tuấn
THƠ SONG NGỮ: Món Quà Vu Lan – Mạc Phương Đình & Thanh Thanh
THƠ Lực Bất Tòng Tâm – Thơ TẶNG Thân Hữu & Thơ: Cảm Nghĩ Về Những Tin Buồn – Dương Huệ Anh
TẠI SAO HỌ HỨA NHIỀU THẾ – Kiều Mỹ Duyên
TẠI SAO HỌ HỨA NHIỀU THẾ?
KIỀU MỸ DUYÊN
Lời hứa- thứ cân đo sức nặng lời nói của một con người.
“Một lần bất tín vạn lần bất tin”, ông bà mình thường nói như thế. Một lần thất tín, nói không giữ lời thì vạn lần người ta không tin. Chữ tín vô cùng quan trọng, tiền đến rồi tiền đi, ở xứ Mỹ làm ra tiền không khó, ai cũng có thể làm ra tiền, nhưng phải có chữ tín, mất chữ tín là mất tất cả. Có người nói mất tình yêu là mất tất cả nhưng theo tôi người đến rồi người đi là bình thường, nhưng chữ tín vô cùng quan trọng, mất chữ tín là mất tất cả. Thời xưa, ông bà mình thường dạy con cháu hãy xem trọng chữ tín hơn cả tánh mạng của mình. Mình hứa với ai phải giữ đúng hẹn, hứa gặp ai cũng phải đúng giờ. Tôi rất phục những người giữ chữ tín, hứa làm điều gì phải thực hiện cho bằng được, hứa gặp ai phải đến đúng giờ, đến trước giờ hẹn. Chúng tôi nhớ ngày xưa học ở Úc, nghỉ hè chuẩn bị về nước, cô giáo dễ thương của chúng tôi mời đến nhà ăn tiệc chia tay. Vừa ngừng xe trước nhà cô giáo, chúng tôi thấy có 1 người Nhật học cùng lớp chúng tôi ở phòng lab đang đứng trước nhà. Tôi hỏi:
– Sao ông không vào nhà cô giáo?
Người Nhật trả lời:
– Tôi đến trước giờ, tôi đợi còn 5 phút nữa tôi sẽ vào là đúng giờ.
Người Nhật rất giữ chữ tín, hứa điều gì thì làm điều đó. Cách chào hỏi của họ cũng rất dễ thương, cúi đầu thật thấp với cô giáo. Họ rất lễ phép và tôn trọng thầy cô giáo của mình, với bằng hữu cũng vậy. Người sinh viên Nhật này là con của người em Nhật Hoàng hiện tại, được giáo dục từ nhỏ, thuộc dòng dõi Hoàng gia Nhật nên cung cách của vua chúa có khác?
Từ nhỏ tôi đã được gia đình và cô giáo huấn luyện phải đúng hẹn đã quen rồi, cho nên thấy ai xem thường chữ tín, một lần, hai lần, sau đó tôi sẽ không giao thiệp nữa. Làm việc trong hội từ thiện quốc tế lâu năm, người già, người trẻ trong Hướng Đạo, hay các hội từ thiện quốc tế đều giữ chữ tín, nói việc gì với ai đều phải ghi chép trong sổ hẹn để còn nhớ. Trong những lớp huấn luyện chuyên viên địa ốc cũng vậy, tôi thường khuyên các chuyên viên của tôi phải hết sức thận trọng lời nói của mình. Nói chuyện với ai phải ngồi xuống bàn, phải ghi chép cẩn thận, nhất là những lời hứa của mình. Chỉ cần trễ hẹn một lần là mất khách hàng, chỉ cần trễ hẹn vài lần là mất bằng hữu, nhất là hứa giúp ai việc gì là phải thực hiện cho bằng được.
Nhiều người than phiền với tôi:
– Sao đất này họ “Hứa” nhiều thế?
“Hứa” nghĩa là hứa lèo, hứa rồi không làm, hứa rồi biến mất. Bây giờ thực tế lắm chứ không lãng mạn như ngày xưa:
Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!
Để lòng buồn tôi dạo khắp trong sân…
Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!
Tôi sẽ trách- cố nhiên! – nhưng rất nhẹ
Nếu trót đi, em hãy gắng quay về…
( Ngập ngừng- Hồ Dzếnh)
Bây giờ hẹn mà không tới thì đừng nhìn mặt nhau, hẹn là phải tới, không tới được thì phải gọi điện xin lỗi, nhắn tin hoặc viết email xin lỗi vì có việc không tới được.
Đừng quá tin vào những lời hứa, vì không phải ai hứa mà họ cũng sẽ làm.
Người làm thương mại chữ tín phải trên hết, hơn cả sinh mạng của mình, thất tín vài ba lần kể như tiêu cuộc đời, đừng hứa nhiều quá mà không làm được. Nhiều người làm thương mại mà là họ Hứa (hứa lèo) sớm muộn gì cũng bỏ nghề, và cũng không ai muốn giao thiệp với người có bệnh hứa mà không làm.
Ở bất cứ nước nào, đừng hứa nhiều mà không làm thì dễ dàng thành công ở thương trường, và đừng nói nhiều, nói đủ để người nghe khỏi chán, nhất là đừng nói về mình, lắng nghe nhiều càng tốt. Người biết lắng nghe và hiểu người khác thì dễ thành công hơn, nhưng ở đời này có được bao nhiêu người biết điều này. Học ở trường, người nào cũng học giống nhau nhưng khi thực hành có ai làm được những gì thầy cô đã dạy mình?
Người nói nhiều mà không có kiến thức, nói thiên thu bất tận rồi không biết mình nói thứ gì? Nói nhiều là bệnh cô đơn, nói như chưa bao giờ được nói, có người còn lẩm bẩm 1 mình, thì nên đi bác sĩ để bác sĩ giải thích bệnh của mình như thế nào? Theo thống kê, người bệnh tâm thần ở xã hội này chiếm 20%, bệnh chưa tới độ trầm trọng phải nằm bệnh viện, nhưng nếu người bệnh biết mình bị bệnh, lo chạy chữa thì có thể khỏi, nhưng nếu để bệnh trầm trọng thì hết thuốc chữa.
Nhiều người họ Hứa, Hứa rất nhiều mà chẳng làm được bao nhiêu. Tôi nhớ lâu lắm rồi, một cựu Bộ Trưởng thời Việt Nam Cộng Hòa có 1 cô em gái. Khi tôi hỏi thăm em gái của ông thì ông trả lời em của tôi bình thường, sau đó tôi hỏi thăm em rể của ông thì ông nói em rể của tôi là họ Hứa. Nói xong ông cười, rồi ông giải thích:
– Cô biết tại sao tôi nói em rể tôi là họ Hứa không? Chuyện là như thế này, trước khi cưới em gái tôi, em rể tôi nói: “Anh sẽ lo cho em hết cuộc đời này. Nếu em không thích đi làm thì em ở nhà đi học, mọi việc có anh lo.” Thế rồi sau khi cưới em rể tôi (anh này cũng từng là luật sư), em gái tôi biết rằng chồng của mình nợ ngập đầu, nợ credit card, nợ xe, nợ tiền học. Em gái tôi lo trả nợ cho chồng, phải làm thêm ngày thứ bảy, chủ nhật và cả ngày lễ.
Cho nên người nào hứa nhiều quá quý vị đừng tin nhé. Người nào hứa nhiều thì cũng là người mắc bệnh, bệnh hứa, bệnh này rất khó trị, vì đã vào máu của họ rồi.
Thứ đắt nhất bây giờ là NIỀM TIN
Thứ rẻ nhất bây giờ là LỜI HỨA
Người nào thường hay trễ hẹn, hứa rồi không đến, hứa làm việc gì đó rồi không làm, chỉ một lần thôi cũng đừng tin. Uy tín cần nhất trong cuộc sống, người không giữ được uy tín của mình kể như xong cuộc đời này. Sống trong xã hội mà không ai tin mình, kể cả ông bà, cha mẹ, anh chị em không tin mình, thì như người chết, sống thêm cũng vậy thôi.
Ông bà mình nói của rẻ là của bèo, hứa nhiều mà chẳng làm được bao nhiêu? Cho nên khi nghe thiên hạ hứa nhiều quá thì đừng tin, nhất là vấn đề tình cảm. Tình cảm chân thật không thể sống vì lời hứa mà không bao giờ thực hiện. Anh sẽ yêu em suốt cuộc đời này, suốt đời này anh chỉ yêu mình em thôi. Từ từ rồi sẽ biết, vì không ai biết được ngày mai. Yêu thương thề non hẹn biển, sống chết có nhau, hỏi có bao nhiêu người giữ được lời thề? Sự thay đổi của con người trong tức khắc, cũng như sự sống của con người thấy đó rồi chết đó. Có bao nhiêu người sống lâu trăm tuổi, có bao nhiêu người giữ được lời hứa của mình, lòng người thay đổi nhanh lắm. Người nào có bệnh “hứa”, nói dối, nói láo, hứa lèo một lần thôi, không có lần thứ hai.
Một sự từ chối rõ ràng luôn luôn tốt hơn một lời hứa giả dối…
Người nào có bệnh hứa, hứa nhiều mà làm chẳng bao nhiêu thì suốt đời không thể khá được. Tiền đến rồi tiền đi, nhưng những ở xung quanh ta vẫn nhớ những lời hứa lèo của ta thì kể như tiêu cuộc đời. Nếu người nào rủi bị bệnh hứa thì nên đến bác sĩ tâm lý, chữa trị thế nào cũng sẽ khỏi nhưng phải kiên trì. Có bệnh thì phải chữa, tự mình chữa không được thì phải nhờ đến bác sĩ tâm thần, bác sĩ có kinh nghiệm sẽ tìm mọi cách để chữa trị cho bệnh nhân. Có người có bệnh hứa lèo, nhưng họ nói một cách tự nhiên như thật, đã nói là bệnh mà, người bị bệnh không biết mình bệnh, tội nghiệp thật?
Xin chúc những người bị bệnh hứa lèo sẽ chữa được bệnh để sống vui vẻ với người thân của mình. Nếu người nào biết người sống xung quanh mình đang mắc bệnh Hứa thì nên khuyên họ đi bác sĩ, nếu để bệnh trầm trọng thì phiền lắm, phiền cho gia đình và phiền cho người xung quanh của mình.
Người nào mắc bệnh tâm thần hay bệnh hứa chỉ cần nói chuyện 5 phút là biết ngay, hy vọng bác sĩ tâm thần giúp người bệnh hứa khỏi bệnh. Mong lắm thay.
Orange County, 9/8/2021
KIỀU MỸ DUYÊN
(kieumyduyen1@yahoo.com)
CHUYỆN NHƯ HUYỀN THOẠI – Phương Hoa
CHUYỆN NHƯ HUYỀN THOẠI
Phương Hoa
(Bài đã đăng trên Việt Báo, California ngày thứ Sáu, AUG 6th, 2021 )
Viết tặng bạn Phạm Phan Lang, cựu nữ Trung Tá Lục Quân Hoa Kỳ
Cái tin cô bạn cựu Trung Tá Lục Quân Hoa Kỳ Phạm Phan Lang (Thực sự thì Phan Lang đã nhận quyết định thăng chức Đại Tá trước khi giải ngũ) từ xứ du lịch bờ biển Hạ Uy Di dọn về California làm nức lòng bè bạn khắp nơi trên đất liền. Nhóm Bắc Cali toàn nữ chúng tôi và Phan Lang cũng đều là thành viên của Văn Thơ Lạc Việt (VTLV), Văn Bút Hải Ngoại Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ, Cô Gái Việt, và Minh Châu Trời Đông, vui mừng điện thoại cho nhau ơi ới mỗi ngày, bàn tính rôm rả chuyện đi Nam Cali thăm nhà mới của “Đứa con gái cưng Mỹ Quốc” nữ Trung Tá gốc Việt đầu tiên của Hoa Kỳ, cũng là “Hậu duệ Hai Bà Trưng Triệu Việt Nam” là những câu chúng tôi thường gọi đùa người bạn gốc quân nhân này.Và tôi bắt đầu chuyện làm thơ cho chị Đỗ Dung viết thư pháp Chúc Mừng Tân Gia.
Trưởng đoàn là chị nhà báo Lê Diễm, trưởng ban Xã Hội VTLV, người luôn mau mắn chu toàn lo cho việc “quan hôn tang tế” của VTLV. Chị chịu trách nhiệm thuê xe kiêm luôn chức bác tài. Sau khi rủ rê hẹn hò ngày giờ đâu đó, chúng tôi thành lập được một phái đoàn thiệt đông, thiệt “oách,” cỡ một tiểu đội quần hồng, bảy tám “nàng” như một tour du lịch chánh hiệu con nai vàng, và chị Lê Diễm book chiếc Van 12 chỗ rộng rãi ngon lành. Nhưng kéo dài theo thời gian, các bông hoa …rơi rụng lia chia, kẻ bận chuyện kia người kẹt chuyện nọ, cuối cùng thì đầu to đuôi teo, số người đi còn lèo tèo chỉ bốn mống, Lê Diễm, Đỗ Dung, Phương Hoa, và Minh Thúy.
Đây là lần đầu tiên sau ngày “mở cửa” qua hơn một năm rưỡi nằm nhà trốn dịch, chị em chúng tôi mới được các đức lang quân cho đi chơi xa, nên ai nấy rộn ràng chuẩn bị. Trước ngày khởi hành, đọc tin thấy dịch biến thể Covid Delta đang hoành hành, lây lan khắp năm chục tiểu bang Hoa Kỳ, nhiều nhất là ở Nam Cali, vùng Los Angeles. Cho nên đêm trước khi đi tôi lo âu không ngủ được vì nghĩ đến chuyện cái con Delta nó lẩn quẩn dưới Nam Cali, và có lúc tôi đã tưởng phải hủy chuyến đi. Nhưng rồi nghĩ đến công lao chị Lê Diễm đã thuê xe và các chị chuẩn bị bữa giờ. Tội nhất người bạn vàng Phan Lang của chúng tôi, điện đàm liên tục, hỏi han về sở thích ăn uống của mỗi người để chuẩn bị. Và hai cái tủ lạnh đầy nhóc các thức ăn chay mặn khi chúng tôi đến nơi đã nói lên tình cảm và sự chu đáo đối với bạn bè của người bạn nhà binh ấy.
Lúc khởi hành, miền Bắc Cali khí hậu thật mát mẻ. Xuống xa dần về phía Nam, trời bắt đầu nóng lên hừng hực, đến nỗi máy lạnh trong xe mở lên cũng chẳng “xi nhê” gì. Nóng bốc khói đã làm tôi vỡ mộng ngắm cảnh dọc đường. Nên nhân lúc mọi người nói cười vui vẻ, bàn tính đi Little SaiGon sẽ mua sắm những gì, tôi lấy điện thoại ra mở đầu cho bài viết của chuyến đi đầy hào hứng. Lần trước Phan Lang từ Hawaii qua Cali thăm con gái làm việc ở Google, nhóm bạn chúng tôi cũng đã gặp nhau và “tâm sự loài chim biển” cả ngày trong bữa tiệc tại nhà Minh Thuý mà không biết chán. Tôi thường liên lạc với Phan Lang nên biết được nhiều điều cảm động về người bạn này. Lịch sử gia đình Phạm Phan Lang gồm một chuỗi dài đầy huyền thoại, kiêu hãnh, ngọt ngào, lẫn đớn đau… mà nghe tới đoạn nào trái tim tôi cũng bị mềm đi theo đoạn ấy…
30 tháng Tư 1975 ngày mất nước, Thiếu Tá Hải Quân của QLVNCH Phạm Văn Diên lái chiếc chiến hạm loại nhỏ PGM 615 rời quê hương mang theo gia đình cùng bố mẹ già, gia đình người anh, một người em vợ, cùng trên dưới hai trăm quân nhân và đồng bào. Người ta chen lấn lên tàu, nhiều người nhét vàng vào tay Thiếu Tá Diên nhưng anh tuyệt đối không nhận của ai một thứ gì. Nhà ba mẹ Phan Lang vốn khá giả, ba là một nhà thầu lớn từng xây nhà cho tướng Tôn Thất Đính và Đỗ Mậu ở Nha Trang. Ngày di tản nàng mang theo một ruột tượng có dollars, vàng, và kim cương nhưng vì say sóng nên tháo ra cất vào hành lý. Chiến hạm đó vừa chiến đấu ở miền Trung trở về đã bị thương tích đầy mình, trên đường ra khơi thì bị trục trặc, nước tràn vào. May gặp một chiếc tàu khác cứu, chỉ vớt người, rồi đánh chìm chiến hạm, mang theo toàn bộ gia tài của bạn tôi xuống lòng đại dương.
Đến Mỹ với hai bàn tay trắng, được bảo trợ về định cư nơi thành phố nhỏ vắng vẻ miền quê, gia đình vợ chồng Phan Lang gồm ba đứa con thơ và bố mẹ chồng già. Nhưng khi người bảo trợ khuyên đi xin trợ cấp thì họ nhất định không chịu, thà là xin việc làm xa thành phố, anh Diên đạp xe đạp đi cả chục cây số mỗi ngày, lương chỉ ba cọc ba đồng. Phan Lang thì xin được chân rửa bát ở nhà hàng. Nghe bạn kể mà tôi muốn rơi nước mắt. Vốn con nhà tiểu thư khuê các, ra đi mất sạch mọi thứ, chỉ còn lại đôi giày cao gót dính vào chân, quen cách điệu đà lúc nào cũng giày cao guốc nhọn, nên lúc đi rửa chén cũng không nghĩ mình sẽ bị vấn đề gì khi mang đôi giày độc nhất đó. Cô nàng làm sao tưởng tượng được, khi nhấc thùng chén đĩa nặng trịch lên và chỉ một bước trên đôi giày cao gót, nàng đã bị trượt chân tới trước rồi ngã uỵch xuống sàn nhà, chén bay đĩa phóng tứ tung, bể tan thành trăm mảnh.
Phan Lang nhớ lại, lúc ấy cái đau vì ngã thì ít, mà cái tủi thân, đau đớn vì hoàn cảnh nước mất nhà tan, mang thân lưu lạc thì nhiều. Và sự đau đớn chảy theo từng dòng lệ trào tuôn đã bừng lên một ý chí mãnh liệt cho Phan Lang. Cần phải đi học. Học để vươn lên. Để kiếm tương lai cho gia đình và con cái, không thể sống với nghề tay chân rửa bát này được. Thời may, nhờ người bảo trợ giúp, đưa gia đình Phan Lang đến ở trong một trại gà, nuôi 60,000 con gà thịt. Cơ hội đến, vợ chồng Phan Lang ghi danh vào University of Maryland, Eastern Shore. Mỗi ngày chỉ 24 tiếng, mà bạn tôi vừa đi học, vừa làm ba job chính và nhiều job phụ, tôi nghe mà bắt…chóng mặt, nhớ không hết. Đi học vừa làm work study, xong chạy về cho gà ăn, cho uống thuốc, tối đi làm ở McDonald’s, đi dạy tiếng Anh cho trẻ Việt mới định cư, nuôi dạy ba đứa con thơ, làm nàng dâu ngoan chăm sóc hầu hạ cơm dâng nước rót cho bố chồng từng là quan Chánh Tổng ngày xưa, và người mẹ chồng mang nhiều thứ bệnh…
Vất vả thế, vậy mà chỉ sau ba năm đến Mỹ, năm 1978, khi còn đang học đại học, Phan Lang cùng anh Diên và vị Giảng Sư Vật Lý đã hoàn thành một nghiên cứu về khoa học và đạt loại xuất sắc, nên được trường chọn đưa đi dự đại hội ở Viện Y Tế Quốc Gia – National Institutes of Health (NIH) tại Atlanta. Anh Diên cũng được chọn đi dự, nhưng Phan Lang đặc biệt hơn, được đề cử đại diện làm người phát ngôn, Speaker của trường, để đọc bài giới thiệu trước đại hội. Chưa hết, cũng trong năm 1978, Phan Lang được chọn là một trong 20 sinh viên xuất sắc toàn quốc trong chương trình Liên Đoàn Nghiên Cứu Nước Ngoài (The Foreign Study League) đi nghiên cứu một tháng qua các nước Anh, Pháp, và Ý.
Và rồi công khó đã được đền bù. Đến năm 1980, sau 5 năm định cư trên đất Mỹ,
Phan Lang tốt nghiệp đại học hạng tối ưu, trên 4:00 GPA, nhận cùng lúc hai tấm bằng Cử Nhân. Một là Cử Nhân Kinh Tế Gia Đình (Home Economics) và một là Dinh Dưỡng Học (Nutrition and Dietetics). Sau khi tốt nghiệp, Phan Lang xin gia nhập quân đội Hoa Kỳ, tham gia vào chương trình thực tập về Dinh Dưỡng của Lục Quân Hoa Kỳ (US Army Dietetic Internship).
Khi nghe bạn kể đến đây tôi không dằn được nên chặn lại và hỏi:
“Phan Lang có thể cho mình biết nguyên do nào bồ nghĩ đến gia nhập quân đội Hoa Kỳ không?”
“Well, mình sẽ không nói những lời sáo ngữ như là vì yêu nước Mỹ hay muốn đền ơn gì gì đó. Phan Lang nói. “Mà thật ra mình vào quân đội vì quân đội có chương trình thực tập dinh dưỡng tốt nhất, và đặc biệt, những quyền lợi (benefits) trong quân đội Hoa Kỳ rất là lý tưởng, không đâu sánh bằng. Hay hơn nữa, chỉ cần phục vụ ba năm là có thể xin giải ngũ nếu muốn, và khi ra ngoài sẽ rất dễ xin việc làm.” Cô nàng cười, tiếp: “Nhưng vào được trường sĩ quan quân đội Lục Quân Hoa Kỳ không phải dễ đâu à nha! Phải có đủ tiêu chuẩn, thứ nhất là tốt nghiệp bằng Cử Nhân loại giỏi và đúng ngành, thứ hai phải dưới ba mươi tuổi, thứ ba phải có quốc tịch Mỹ, cộng thêm với 3 lá thư giới thiệu của những nhân vật quan trọng và một bài viết về tiểu sử. Và đặc biệt là, phải qua được cuộc phỏng vấn rất khó khăn.”
Khi đó Phan Lang bị thiếu hai điều quan trọng nhất: Đã qua tuổi ba mươi và chưa có quốc tịch Mỹ. Nhưng nhờ tốt nghiệp Cử Nhân hạng tối ưu, có nhiều thành tích tốt lúc ở trường đại học, và 3 lá thư giới thiệu nhiệt tình từ ba nhân vật quan trọng trong ngành giáo dục và xã hội, kèm theo bài viết về tiểu sử rất “bắt mắt,” nên họ thấy tiếc nếu không nhận Phan Lang. Và họ đã làm một cuộc phỏng vấn, mất cả nửa ngày trời hỏi toàn những câu hóc búa. Cuối cùng vì quá thích thú khi biết thêm về người thí sinh này, nên họ đã nhận “đặc cách” người phụ nữ Việt đã có gia đình và ba đứa con nhỏ và chưa nộp đầy đủ những gì họ yêu cầu, vào với quân đội Mỹ.
“Wow! Wow!” Tôi nghe mà chỉ biết kêu lên thích thú, vì không có lời nào để ngợi khen bạn cho xứng đáng cả.
Sau một năm học tập và được nhà binh rèn luyện với đầy đủ phong cách một quân nhân, năm 1981 Phan Lang tốt nghiệp, ra trường là một nữ Thiếu Uý. Thật không thể tưởng tượng nổi, đã vào quân đội mà nàng vẫn phải chu toàn việc nhà, rồi còn trở lại trường vào ban đêm học lấy bằng Thạc Sĩ. Chuyện nghe như huyền thoại, như cổ tích “nghìn lẻ một đêm,” mấy ai tin được một sĩ quan của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, mà mỗi ngày sau khi xong nhiệm vụ việc nước thì vội vã chạy về nhà lo nấu ăn, lo con cái, đi học đêm, chăm sóc bố mẹ chồng, nhất là mẹ chồng thân mang nhiều thứ bệnh cần phải nấu thức ăn kiêng. Nàng dâu quân nhân gốc Nha Trang mỗi ngày còn phải tắm rửa, gội đầu, chải mái tóc dài quá gối của bà cụ rồi quấn khăn vành cho bà theo người Bắc. Quả là một nàng dâu đầy hiếu thuận, rất hiếm thấy…
*
Trước ngày đi Nam Cali, tôi nhắn địa chỉ nhà Phan Lang cho đứa cháu dưới đó để nó ghé lại lấy vài món đồ, thì con bé kêu lên, “Chỗ đó là khu nhà giàu, đẹp và sang lắm,” và bây giờ, khi chị Lê Diễm dừng xe loay hoay bấm số code để cổng mở cho xe chạy vào tôi mới thấy nó nói đúng. Đây là một khu gia cư “kín cổng cao tường” đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Khu nhà cao cấp này được chăm sóc rất chu đáo. Trước cửa nhà nào hoa cỏ cũng xinh tươi rực rỡ, đường đi ngang dọc bóng loáng không chút bụi, nhìn thật đã mắt. Phong cảnh trang nhã thanh lịch xung quanh đã làm dịu bớt đi cơn nắng nóng hực lửa đang chào đón khách đến từ Vùng Đông Vịnh mát mẻ.
Đó mới chỉ là toàn cảnh bên ngoài. Vào bên trong, ngôi nhà còn đặc sắc hơn với cách sắp xếp và trang trí nội thất độc đáo của Phan Lang và chàng ông xã. Quả đúng là người về từ Hawaii. Sự trang trí thật mát mắt với phong cảnh miền biển, rải rác khắp nơi là những con cá, mực, vỏ sò, hoa lá, rong rêu… nhìn thật tuyệt. Mọi người ríu rít thi nhau trầm trồ, khen ngợi sự sắp xếp và trang trí trong nhà.
Chàng xã Barry của Phan Lang nghe vậy cười vui vẻ:
“Tất cả là do cô ấy làm hết!”
Tôi nheo mắt ghẹo:
“Tại sao lại là ‘một mình cô ấy’ làm chứ?”
Barry cười lớn hơn, nói đùa một cách duyên dáng, kiêm thêm chút… hãnh diện:
“Bởi vì cô ấy là Trung Tá của Quân Lực Hoa Kỳ!”
Tối hôm đó, vợ chồng một người bạn văn khác, là Chúc Anh và Jeffrey Miller, từ Los Angeles (LA) lên chơi cùng ăn tối với chúng tôi. Chúc Anh và Jeffrey Miller rất nhiệt tình với bạn bè, lái xe mất mấy tiếng đồng hồ vào ban đêm rồi sau mãn tiệc thì chạy về LA lại làm mọi người cảm động. Khỏi phải nói, bữa tối đầy bàn với sơn hảo hải vị thật hấp dẫn. Phan Lang còn chu đáo kèm theo nhiều món chay ngon cho những người không ăn thịt cá như tôi.
Lúc ngồi nhìn Phan Lang, tôi lại nghĩ về câu chuyện tình dễ thương và cảm động của cặp Diên & Lang thời trẻ. Duyên nợ kiếp nào mà chàng sĩ quan Hải Quân của thành phố biển Nha Trang gặp cô bé nữ sinh 13 tuổi đã bị tiếng sét ái tình giáng trúng. Nàng còn quá nhỏ, nên “chàng Bắc Kỳ” mãi âm thầm dõi theo hình bóng của bé, chờ đến khi cô tốt nghiệp và đậu Tú Tài mới xin rước nàng về dinh. Một lần, sau khi được bạn cho xem hình ảnh quá khứ của hai người, tôi có làm tặng cho Phan Lang bài thơ trên đầu bài.
Câu chuyện cựu Thiếu Tá Hải Quân VNCH Phạm Văn Diên lao mình xuống biển cứu 4 đứa trẻ, trong nhóm 13 đứa bị sóng lôi đi trong ngày lễ Độc Lập năm 1985, rồi hy sinh tánh mạng, và được tiểu bang South Carolina tặng bằng vinh danh anh hùng, cũng đã mấy chục năm rồi, nhưng đối với Phan Lang, mỗi lần có ai nhắc lại, cảm giác của nàng giống như sự việc mới xảy ra hôm qua. Tôi để ý quan sát và thấy tình yêu mà bạn tôi dành cho người chồng quá cố thật đậm sâu, có thể gọi là một mối tình bất diệt. Tuy nhiên, chuyện tình đau thương ấy cũng đã tặng lại, bù đắp lại cho Phan Lang một mảnh hồn thơ rất dạt dào, dù đầy u uẩn, đủ để nàng trở thành một thi sĩ. Và đó cũng là nhân tố khiến những bài thơ của Phạm Phan Lang được nhiều nhạc sĩ tài danh để mắt đến. Có hơn 125 bài thơ tình đau khổ nhưng mượt mà của Phan Lang đã được phổ nhạc, và một trong số bài thơ mà tôi tâm đắc nhất là bài “Mắt Nhắm Nghỉ Ngơi” được nhạc sĩ Mai Hoài Thu phổ nhạc và ca sĩ Vân Khánh trình bày. (https://www.youtube.com/watch?v=ofZdUSEmETI).
Lời thơ như ai như oán, điệu nhạc như tiếc như thương, giọng hát kiểu Quan Họ vừa réo rắc vừa thê lương làm cho người nghe xúc động đến rơi nước mắt:
Tôi vừa thương quý vừa hâm mộ người bạn này, nên chi mỗi lần có dịp gặp nhau nghe bạn bè nhắc nhở về người quá cố là tôi quan sát kỹ từng cảm xúc trên nét mặt nhà thơ. Mỗi lần nhắc đến anh Diên, nét mặt và ánh mắt Phan Lang đều sáng hừng lên một niềm yêu thương vô bờ bến.
Tối đó tôi ngồi lặng ngắm đến sững sờ, nghe bạn kể chuyện mà chú ý đến từng chữ từng câu thoát ra từ đôi môi vẫn còn tươi hương sắc ấy. Lại lẩn thẩn nghĩ, và ích kỷ tiếc thầm, không hiểu sao một cánh hoa xinh như mộng thế này, sự nghiệp oai hùng thế này, bị gãy gánh lúc mới nửa chừng xuân thế này, lại không có một “anh hùng Việt Nam” đồng hương nào … thương hương tiếc ngọc nhào vô để thay thế vị anh hùng đã khuất mà chăm sóc cho bạn tôi, lại để nàng “rơi vào tay anh chàng mắt xanh da trắng.” Không biết cặp tình này sống như thế nào nhỉ, bạn tôi có hạnh phúc hay không khi sống với người chồng bất đồng ngôn ngữ. Không biết anh chàng Barry “râu hùm hàm én mày ngài” (Kiều) này có tốt với vợ không đây.
Tôi đang ngồi nhìn bạn chăm chăm, trầm ngâm ngẫm nghĩ bâng quơ như thế, bỗng Phan Lang bất ngờ thốt lên:
“Khi mua ngôi nhà này, Barry và mình đã thoả thuận với nhau, là mỗi lần về đây ông ấy sẽ chỉ ở đây mười ngày rồi về lại nhà bên Hawaii, còn mình cũng nói mỗi lần về lại nhà Hawaii mình sẽ ở mười ngày thôi rồi về lại Cali đất liền. Nhưng từ lúc dọn về Cali đến nay đã gần bốn tháng rồi chưa hề nghe ông ấy nói sẽ đi.”
Tự nhiên tôi có cái cảm giác xúc động vô cớ. Hổng lẽ “ai đó” đã đọc được ý nghĩ của tôi, hiểu được những thắc mắc trong tôi, nên đã khiến cho Phan Lang bất ngờ giải đáp, để chứng tỏ là bạn tôi được yêu chìu và hạnh phúc lắm. Tôi bất chợt rùng mình. Không chừng người quá cố đã “chọn” anh chàng Barry này để gửi gắm vợ mình cũng nên. Tự nhiên như có người “mở miệng” tôi vụt hỏi cô nàng về “phút đầu gặp nhau” của “cuộc tình sau” mà lâu nay chưa hề nghe bạn tôi một lần nhắc đến. Thế là Phan Lang kể hết cho chúng tôi nghe. Barry rất tôn trọng “Anh lớn” Phạm Diên. Mỗi lần tới ngày kỵ giỗ anh đều phụ Phan Lang bày biện cỗ bàn tươm tất và cũng thắp hương nghiêm trang vái lạy đề huề trước bàn thờ như một người Việt thường làm. Trước ngày kết hôn, Barry đã đưa Phan Lang đến phần mộ anh Diên và thắp hương trình bái xin phép “đàn anh.” Hèn chi anh Diên đã “chấp nhận” cho anh ta thế chỗ của mình. Tôi xúc động nghĩ thầm.
Tôi nghĩ thế cũng có nguyên do. Tôi từng nghe P.Lang kể, anh Diên rất hiển linh, tuy anh đã mất nhưng nàng luôn có cảm giác anh lúc nào cũng ẩn hiện quanh mình để hộ trì cho vợ con.
Câu chuyện gặp nhau của “mối tình sau” bạn kể làm tôi tin mình nghĩ đúng. Hình như anh Diên đã “chọn” một người hiền để gửi gắm nàng, chăm sóc cho nàng. Barry thật sự là một người quá hiền lành, một nhà đầy khách bạn vợ đông đảo, mọi người đều nói tiếng Việt chen lẫn tiếng Anh để cho Barry khỏi cảm giác bị bỏ rơi, nhưng anh cả ngày chỉ im lặng mỉm cười, pha cà phê, nướng bánh mời mọi người, dọn dẹp ly tách, bưng ghế, sắp xếp lại các thứ…và bị nàng kêu réo bắt chụp hình cho mọi người hết chỗ nọ đến cảnh kia, báo hại anh chàng xách máy hình chạy theo đến…không kịp thở. Dù có hiểu những chuyện chúng tôi đang nói, Barry cũng chỉ cười cười, hoặc lắc đầu, khi nghe một câu chuyện khôi hài chứ không hề tham gia vào.
Và rồi Phan Lang kể cho chúng tôi nghe về “mối tình sau” của nàng. Chỉ là trong dịp tình cờ không định trước, Phan Lang đi công việc cùng người bạn, bất chợt cô ấy ghé tạt qua một văn phòng môi giới và điền đơn tìm bạn bốn phương. Trong khi Phan Lang ngồi nhìn vẩn vơ đợi bạn, thì người giám đốc công ty bước lại chào, và thấy tay nàng không đeo nhẫn anh ta trổ tài dụ dỗ tham gia chương trình kết bạn. Người bạn của Phan Lang đã phải trả lệ phí môi giới $3,000, nhưng khi nghe nàng từ chối và nói không tin vào những việc như thế này sẽ đi đến đâu, thì ông
ta “nổi máu tự ái nghề nghiệp” lên và thách thức:
“Chúng tôi sẽ phục vụ miễn phí cho cô, để cô thấy là chúng tôi làm việc hiệu quả ra sao!”
Phan Lang vẫn không tin vào trò đùa này, nên chỉ cười từ chối, đứng lên định ra về thì bị cô bạn kia lôi lại giúi hồ sơ vào tay và ép, “Điền đại cho vui, trong khi tôi mất ba nghìn bạn có mất gì đâu mà sợ chứ!” Bất đắc dĩ, cô nàng miễn cưỡng điền bâng quơ vào mẫu đơn theo kiểu đùa chơi, phá chơi, không ghi lý lịch mình là một quân nhân cấp Tá, lại còn ghi chỗ điều kiện chọn người làm bạn phải có ba điều kiện thật khó khăn như một thách thức với công ty môi giới này. Thứ nhất, người đó phải có học vị Tiến Sĩ, thứ hai, phải là một triệu phú, thứ ba, còn độc thân.
Khi ông giám đốc nhận lại hồ sơ, liếc ngang qua chỗ điều kiện, ông nhìn lại cô khách hàng bướng bỉnh bằng một ánh mắt cũng đầy thách thức như muốn nói, “Tôi biết cô muốn làm khó chúng tôi, nhưng mà không sao, hãy đợi đấy!”
Vậy mà trong cuộc “cá cược” này công ty đã tìm ra một người đúng y chang theo yêu cầu “chọc phá” của nàng. Tiến Sĩ Barry là giáo sư dạy ở Đại học Hawaii, và sau là Giám đốc kỹ thuật Lực Lượng Chống Tàu Ngầm, thuộc Hạm Đội khu vực Thái Bình Dương của Hoa Kỳ. Chúng tôi ngồi há hốc ra nghe câu chuyện và hồi hộp dõi theo từng sự kiện và diễn tiến Phan Lang kể. Vì tôi yêu cầu kể bằng tiếng Anh cho Barry cùng nghe để anh khỏi bị buồn chán, anh chàng ngồi nghe từ đầu tới cuối, thỉnh thoảng lấy hai tay che mặt lại ra vẻ “mắc cỡ” rất dễ thương, khi Phan Lang kể lại những lần bị nàng từ chối và anh buồn bã ra sao…Câu chuyện điền đơn kết bạn bốn phương đùa vui này Phan Lang lúc đó kể hết cho mấy đứa con nghe vì lúc này tụi nhỏ cũng đã lớn và có sự hiểu biết. Thấy mẹ nhiều lần từ chối không chịu đi gặp Barry, mấy nhóc cũng muốn mẹ có bạn cho bớt đau buồn nên xúi mẹ cứ đi gặp thử xem sao.
Cuối cùng Phan Lang miễn cưỡng nghe lời con tới cuộc hẹn, nhưng từ chối hết mọi sự sửa soạn quần áo hay điểm trang do con gái phụ giúp, mà chỉ phục sức đơn giản như một phụ nữ bình dân không có đặc biệt gì, mục đích làm nản lòng người sẽ gặp. Và khi gặp Barry nàng nói thẳng thừng là trái tim nàng đã chết, không thể nào yêu ai được nữa. Vậy mà Barry vẫn quyết tâm theo đuổi, chờ đợi, viết thư, gọi điện thoại…bằng mọi cách cố gắng chinh phục. Anh chàng xin được yêu nàng “vô điều kiện,” không đòi hỏi nàng phải yêu lại, cho dù cả đời không yêu anh cũng chẳng sao, chỉ cho phép anh yêu nàng là đủ. Có lẽ vì “mưa dầm thấm lâu” nên sau ba năm kỳ công theo đuổi, và các con của Phan Lang cũng thích Barry khuyên mẹ nhận lời, Phan Lang đồng ý đưa đến mộ anh Diên để anh “xin phép” được kết hôn.
Viết đến đây tôi nhớ lại, Phan Lang từng tâm sự với tôi nhiều “chuyện bên lề” xảy ra trước tai nạn của anh Diên. Người ta nói, những người sắp lìa bỏ cõi đời một cách bất ngờ thường hay có dấu hiệu báo trước, mà sau khi họ đi rồi người ở lại mới thấy. Phan Lang cho biết, anh Diên đã hai lần nói với vợ trước mặt ba đứa con, mà lần sau cùng chỉ vài ngày trước khi anh mất, là, “Nếu một ngày nào anh chết đi em hãy tìm người khác kết hôn để họ chăm sóc cho em,” và khi ấy nàng vô tư cười đùa đáp trả, “Còn em mà đi trước nếu anh cưới ai thì em sẽ về kéo cẳng!” Nhưng điềm báo rõ ràng nhất, tôi nghe Phan Lang kể mà dựng cả chân lông. Là 2 ngày trước khi tai nạn xảy ra, đột nhiên anh Diên nói những lời thật nghiêm trang, những lời anh chưa từng nói trước đây, là cám ơn vợ, cám ơn thật nhiều những gì nàng làm cho anh, lo lắng chăm sóc cho anh, và gia đình. Thương tâm hơn nữa, trong đêm trước ngày Lễ Độc Lập Hoa Kỳ, trên đường tới nhà người bạn họp mặt trước khi ra biển vào sáng sớm hôm sau, anh ngồi ghế trước với vẻ buồn bã vô cớ, không hề nói năng và đưa hai tay ra sau ghế cầm lấy tay nàng suốt trên đường đi, cho dù trên xe có đông người anh vẫn không ngại. Rồi trên đường picnic, lúc gần đến nơi, anh bỗng kêu người bạn lái xe ngừng lại ghé vô trạm xăng, dù xe còn đầy xăng không cần đổ thêm. Lạnh mình hơn nữa, anh dẫn ba đứa con vào trong tiệm 7-Eleven và kêu các con muốn món gì thì chọn ba sẽ mua tặng. Bé út Đài 11 tuổi của anh đã chọn thanh kẹo “Life Saver” là thanh kẹo “Cứu Mạng.” Lên xe, bé chỉ mở ra ăn vài viên và đứa bạn ngồi bên xin kẹo bé nhất quyết không cho mà bỏ vào giỏ cất. Đứa con này đã được anh cứu mạng trên biển chỉ vài giờ sau đó.
Chưa hết, người mẹ có đứa con bị đuối và trôi đi khi anh Diên ra cứu 4 bé, chúng bám vào anh, đuối sức anh chìm và bé đó bị nước cuốn đi – là người lái xe theo sau một người chạy trước dẫn đường đến điểm hẹn mà cả nhóm định tới tắm biển câu cua – chưa tới điểm hẹn mà tự nhiên người mẹ đó vượt trước chiếc xe dẫn đầu, tấp vào bãi biển khác, và kêu mọi người picnic ở đó. Định mạng đã khiến xui cho bà ấy đem đứa con mình và người hùng Phạm Diên đến nơi phần số đã định.
Nơi mà họ dừng chân không dự tính lại là vùng biển nước xoáy ngầm, có tấm bảng cho biết sóng ngầm nguy hiểm nhưng tối hôm trước có gió lớn nên tấm bảng đã bị gió cuốn mất. Trong khi các bà mẹ còn lo đem đồ trên xe xuống thì 13 đứa trẻ của 5 gia đình đã ào xuống biển đùa giỡn trong mé bờ nước cạn. Đột nhiên dòng nước xoáy dâng lên và kéo cả 13 đứa lôi tuột ra xa. Trong khi các ông bố khác bơi ra cứu đám trẻ, anh Diên cũng bơi ra nhóm 4 đứa đang kêu cứu. Anh cứu được út Đài của anh, còn ba đứa trẻ kia anh không nỡ bỏ nên cố gắng kéo luôn chúng vào. Nhưng sức người có hạn, dù người đó từng là một hạm trưởng Hải Quân bơi giỏi, anh bị bốn đứa trẻ níu nên bơi gần tới bờ thì đuối sức chìm dần và bé gái con chị kia cũng bị tuột tay trôi ra biển. Cũng còn may mắn, một bà Mỹ đi tắm sớm chạy ngang qua thấy được ra kéo bé Đài vào, khi hai người bố khác ra kéo hai bé kia. Bé Đài đã kêu khóc không chịu bỏ bố lại mà van xin bà Mỹ hãy cứu bố, nhưng bà không thể bỏ bé ra để cứu người lớn nên đưa bé vào bờ rồi mới ra kéo anh Diên vào, thì đã trễ. Anh bị chìm xuống nước hơn 10 phút nên não bộ hết hoạt động không cứu được. Tuy anh được đưa vào bệnh viện quân đội tận tình cứu chữa, anh không bao giờ tỉnh lại, và một tháng sau anh Diên lìa bỏ cõi đời. Cú sốc nhìn thấy người cha thương yêu trong tai nạn cứu mình nằm lịm trên giường bệnh, bé Đài đau đớn khôn tả. Phan Lang kể, mỗi lần tới bệnh viện bé đều lấy giấy napkin lau mặt và nhổ tóc sâu cho bố. Bé còn nói chuyện với bố, rằng bố còn nợ con tiền nhổ tóc sâu cho bố lúc trước, giờ con cho bố chứ không đòi đâu, bố hãy thức dậy để con nhổ tóc sâu “free” cho bố, không tính tiền. Tôi nghe mà nước mắt tuôn rơi.
Về sau bé Đài lớn lên, trong một lần Phan Lang tình cờ mở hộc bàn riêng của bé thì thấy bé vẫn còn giữ thỏi kẹo “Life Saver” ăn dở dang ngày ấy, tờ giấy gói những sợi tóc sâu của bố con bé nhổ khi bố nằm bệnh viện, những mảnh khăn giấy bé lau nước mắt trong đám tang bố, và một nắm đất nơi người ta đào mộ để bố nằm yên giấc ngàn thu. Thiệt là thương đứt ruột! Đài rất cố gắng học hành, cháu đậu bằng Cử nhân Kinh Tế ở Standford, sau đó cháu nhận được học bỗng Fulbright Scholarship, làm một nghiên cứu (Research) rất xuất sắc ở nước ngoài. Về lại Hoa Kỳ, cháu lấy bằng Thạc Sĩ Quản Trị Kinh Doanh (MBA) từ UC Berkeley. “Bé Đài” giờ là một trong những “sếp lớn” tại bộ chỉ huy Google Mountain View, là Senior Product Marketing Manager.
Anh Diên mất năm 1985, lúc ấy Phan Lang mang cấp bậc Đại Uý và đang chuẩn bị thi lấy bằng Thạc Sĩ. Dù đau đớn nhưng nàng vẫn cố gắng để hoàn thành mục tiêu. Ngày Phan Lang được thăng Thiếu Tá, 1989, ̣9 năm sau khi vào quân đội, và đồng thời cũng được thăng chức mới, làm Trưởng Phân Khoa Dinh Dưỡng, (Director, Nutrition Care Division). Bé Đài yêu cầu được lên đọc diễn văn chúc mừng mẹ. Bài diễn văn của bé đã làm mọi người cảm động đến rơi lệ.
Năm 1996-1999, Phan Lang được thuyên chuyển sang Đức làm Trưởng Phân Khoa Dinh Dưỡng tại bệnh viện Landstuhl Regional Medical Command, đồng thời làm Cố Vấn và Giám Sát cho các phần hành dinh dưỡng của các đơn vị Lục Quân ở Châu Âu. Trong thời gian ở đây Phan Lang được “lên lon” Trung Tá. Nhiệm sở cuối cùng của P.Lang là Tripler Army Medical Center ở Hawaii với chức vụ Trưởng Phân Khoa Dinh Dưỡng, điều hành hơn 100 nhân viên vừa sĩ quan, hạ sĩ quan, và dân sự. Ngoài ra cũng như ở Đức, Phan Lang còn kiêm thêm nhiệm vụ Cố Vấn và Giám Sát phần hành dinh dưỡng các đơn vị Lục Quân trú đóng ở Thái Bình Dương (Nutrition Consultant, Pacific Region), như Nhật Bản và Nam Hàn.
Tôi nghe chuyện mà mắt cứ tròn lên, bụng thì kêu thầm “Nữ anh hùng! Ôi nữ anh hùng!” Năm 2002, người nữ Việt này nhận được quyết định vinh thăng Đại Tá, và phải chuyển về phục vụ trong đất liền. Vì không muốn rời hải đảo Hawaii, nên Phan Lang đành ngậm ngùi xin giải ngũ…Tôi tiếc quá, nói nếu không giải ngũ thì bây giờ bồ đã lên Tướng rồi cũng có khi.
*
Sáng ngày thứ Bảy, chúng tôi phụ Phan Lang chuẩn bị các thứ để đãi cơm trưa cho hai vị khách đặc biệt, đó là nữ ký giả Kiều Mỹ Duyên và nhà truyền thông Như Hảo, giám đốc đài phát thanh Mẹ Việt Nam. Khi các chị đến, tôi vui vì “có đồng minh” là chị Kiều Mỹ Duyên cũng ăn toàn rau trái như mình.
Chuyện trò vui như pháo nổ.
Trong bữa tiệc kiểu “nghìn năm một thuở” nơi hải ngoại gặp lại cố nhân này, các chị Đỗ Dung, Lê Diễm, Kiều Mỹ Duyên, Như Hảo, rộn rã chuyện trò cùng nhau, nhắc lại kỷ niệm xưa từ thời học Trưng Vương tươi trẻ đến thời kỳ mất miền Nam đi buôn gánh bán bưng… Người viết, Minh Thuý, và Phan Lang, đều thuộc lứa tuổi đàn em, lại là dân miền Trung nên chỉ biết ngồi nghe và…cười ké.
Chị Kiều Mỹ Duyên còn mang theo nhiều sách báo làm quà tặng cho mọi người. Hình bóng thì chụp đến no máy luôn. Tiệc tàn tiễn các chị mà lòng lưu luyến bâng khuâng. Trước khi ra về, hai chị mời phái đoàn chúng tôi thăm viếng văn phòng của hai chị vào ngày kế.
Khách đi rồi, tôi lại “lôi” Phan Lang ra hỏi vài câu cho bài viết, kẻo lại quên:
“Bồ có kỷ niệm buồn vui hay cảm động nào đáng nhớ trong thời kỳ quân ngũ để chia sẻ không?”
“Một trong những chuyện vui đời quân ngũ là chuyện tập bắn ở quân trường.” Phan Lang kể. “Tại trường bắn, huấn luyện viên trao cho mỗi người sĩ quan trẻ ba gắp đạn mỗi gắp ba viên, để tập nhắm bắn vào tấm bia. Mọi người được dạy, khi nhắm bắn phải nheo mắt trái lại để mắt phải nhắm vào lỗ châu mai, nhưng chẳng hiểu sao mình không thể nào nheo mắt trái được, nên đành nheo mắt phải. Mình nhắm bắn rõ ràng, đúng chính xác vào tấm bia, và sau khi bắn ba phát đạn đầu tiên, họ kêu nhóm tập bắn tới chỗ tấm bia để kiểm tra thành tích. Mình bước tới coi thì không thấy một lỗ đạn nào cả, thật là… mắc cỡ (cười). Huấn luyện viên cho mọi người bắn tiếp gắp đạn thứ nhì và bắn xong lại chạy tới coi lần thứ hai. Quái lạ, mình kêu lên, vẫn không thấy một lỗ đạn nào trên tấm bia của mình! Tức quá lần thứ ba được lệnh bắn, mình nhắm thật cẩn thận, và chú ý thật kỹ. Thật mừng thấy ba viên đạn đều trúng cả vào tấm bia. Huấn luyện viên kêu mọi người tới coi lại lần cuối. Vẫn không thấy một lỗ đạn nào!
Trong lúc mình bàng hoàng không tin đôi mắt mình thì anh bạn Thiếu Úy bên cạnh hỏi, ‘Này, họ đưa cho mình mấy viên đạn vậy hả?’ Mình trả lời mỗi gắp là ba viên, mỗi người bắn tổng cộng 9 viên.
Anh ta trợn mắt:
“Kỳ thật! Sao tôi cũng bắn chỉ ba gắp đạn, mà trên tấm bia của tôi lại có đến18 lỗ!”
Và những người xung quanh nhìn nhau… hoảng vía. Huấn luyện viên từ đó phải dùng mặt nạ che mắt trái của mình lại, và mỗi lần đến lượt mình bắn thì mọi người… né ra xa hết! Từ đó mình bị mang cái biệt danh là “Thiếu Uý một mắt!”
“Ha ha ha…” Mọi người chúng tôi phá ra cười.
“Còn kỷ niệm buồn thì sao?” Tôi hỏi tiếp.
“Chuyện buồn hay stress trong quân đội thì nhiều lắm, là phận nữ lại là người nhập cư, mình phải đơn thương độc mã chiến đấu để vươn lên, chẳng phải chỉ đối với cấp trên, hay bạn đồng nghiệp, mà còn với thuộc cấp nữa.” Phan Lang nhớ lại: “Một nữ Đại Tá trưởng phân khoa dinh dưỡng tỏ vẻ xem thường vì mình là Đại Úy mới chuyển đến, lại là người nhập cư, nên phân bổ cho mình không đúng vị trí đáng lẽ mình phải có và tìm mọi cách để “đì” mình. Đến khi mình viết được 2 quyển sách bỏ túi, hướng dẫn thực đơn rất hữu ích để các bác sĩ mang theo dùng mỗi lần đi khám cho bệnh nhân, và mình được tuyên dương trước hội đồng, bà Đại Tá mới nể mặt, từ đó trở nên vô cùng thân thiện.”
“Mình hỏi câu nữa nè, bồ là nữ Trung Tá gốc Việt đầu tiên trong quân đội Hoa Kỳ, kể như là đàn chị đi. Với kinh nghiệm hơn 22 năm trong quân ngũ, bồ có những lời khuyên gì, chia sẻ gì cho giới trẻ nữ gốc Việt nếu họ muốn tham gia quân đội Hoa Kỳ? Họ nên theo ngành nào có lợi và phù hợp hơn? Học lực cỡ nào thì vào được trường sĩ quan?” Tôi sẵn dịp hỏi tới một hơi luôn.
“Học bất cứ ngành nào mình thích, vì quân đội có “job” thích hợp cho tất cả các ngành.” Phan Lang nói. “Tuy nhiên cho phái nữ thì ngành y (Pharmacy, Dentistry, Nursing, Optometry, Physical Therapy, Occupational Therapy…) có lẽ thực dụng và công việc nhẹ nhàng hơn. Ít nhất là tốt nghiệp Cử Nhân thì mới vào trường sĩ quan và từ đó có thể học tiếp để tiến lên. Đối với mình, luôn cố gắng và không được thối chí. Ngã xuống thì đứng lên và tiến tới, nếu thất bại thì nhìn lại để học hỏi, không phải để nuối tiếc. Quan trọng là, luôn lạc quan và đặt ra mục tiêu cho cuộc đời mình. Mình ngày trước đã từng đặt ra mục tiêu ngắn hạn, trung hạn, và dài hạn, rồi mình nhìn theo đó để buộc mình bước tới và thực hiện cho đúng.”
“Quả là những lời khuyên chí lý và hữu ích. Cám ơn bồ.” Tôi nói và chấm dứt “hỏi han” từ đó.
Ngày kế, trước khi về lại Bắc Cali, buổi sáng chúng tôi ra biển Huntington Beach lội nước. Đến khu vực này mọi người hơi e dè, vì nhìn xung quanh, phố xá rộn ràng bán buôn, người đi bộ tấp nập dọc hai bên đường, nhưng không thấy người nào đeo mask cả. Cô bạn Minh Thúy nói, tới nơi đây tụi mình nhìn giống như… Mán xuống đồng, vì chỉ có mình đeo khẩu trang thôi. Nhưng tôi nói mặc kệ đi, an toàn là trên hết, mình cứ đeo khẩu trang cho nó… lành.
Bước chân xuống làn nước mát lạnh, tôi thích thú lội ra xa, chọn chỗ vắng người kéo lơi chiếc khẩu trang ra rồi hít một hơi dài đầy buồng phổi. Gió mát lồng lộng, bầu trời trong veo, từng chòm mây trắng la đà vơ vẩn, biển xanh mượt dịu hiền chỉ gợn li ti chút ít sóng thừa, lao xao như vuốt ve mặt nước. Không khí thật thanh bình. Ước gì con Covid-19 đừng hoành hành giết hại thế gian, thì cuộc sống người dân khắp nơi trên trái đất đẹp biết bao, hạnh phúc biết bao!
Buổi trưa chúng tôi kéo nhau đi thăm đài phát thanh Mẹ Việt Nam của chị Như Hảo và nữ ký giả Kiều Mỹ Duyên theo lời mời của hai vị. Tại Đài Mẹ Việt Nam, mọi người tranh nhau chụp hình cùng người phụ nữ nổi danh từ thời VNCH ra đến hải ngoại trong lĩnh vực truyền thông, “có tên” nhưng… “không có tuổi” Như Hảo. Chị thuộc hàng tiền bối của chúng tôi, nhưng trải qua mấy chục năm rồi, tôi cảm giác mình đã già đi, mà thấy chị vẫn còn xinh xắn duyên dáng như xưa không thay đổi. Chị giới thiệu cho mọi người những hình ảnh, bằng khen, posters… trên tường, là những giây phút huy hoàng, những thành tích chị đoạt được trong suốt cuộc đời làm truyền thông. Thật hãnh diện cho cộng đồng Việt nơi hải ngoại khi có được người phụ nữ tài hoa này.
Buổi chiều trên đường về chúng tôi ghé lại văn phòng địa ốc của nữ ký giả Kiều Mỹ Duyên. Tôi như choáng ngợp trước sự quy mô, đồ sộ, của cơ sở “Ana Real Estate.” Trong thời buổi dịch Covid -19 vẫn còn lan tỏa, mà công ty địa ốc của chị Kiều Mỹ Duyên vẫn rộn ràng hoạt động như không có gì xảy ra. Nhân viên rất đông, nhiều bàn làm việc đang hoạt động nhìn tất bật rộn ràng, họ làm việc chăm chú đến độ không ai “thèm” để ý người khách phương xa như tôi bước vào. Điều này cho thấy việc làm ăn vẫn đang rất phát triển. Và tôi càng “phục sát đất” chị Kiều Mỹ Duyên, người nữ ký giả kỳ cựu tuổi cũng đã cao mà sức làm việc vẫn không hề giảm sút. Dù chị bận rộn với cơ sở địa ốc này, mà chị vẫn viết và gửi bài cho Văn Thơ Lạc Việt chúng tôi thường xuyên, nên tôi gọi chị là “cây viết lướt nhanh như gió cuốn.” Nhìn chị miệng nói, chân bước, tay làm… rất bận rộn, nhưng chị vẫn vui vẻ chào đón chúng tôi.
Trước lúc đến đây, tôi có dự định sẽ phỏng vấn người ký giả kỳ cựu này để viết chút gì đó về chị. Nhưng khi thấy chị tất bật như thế, tôi không dám, không nỡ thì đúng hơn, làm phiền, nên đành chờ dịp khác vậy. Tôi chào từ giã, chị tặng cho một số khẩu trang “xịn” tôi đem ra chia cho các bạn mỗi người mấy cái để mang làm kỷ niệm, và chị còn cho tôi chậu hoa cúc đại đóa đẹp mê hồn mà trên miền Bắc chúng tôi khó tìm ra loại cúc nào có hoa lớn như vậy. Cảm động làm sao, khi tôi ra xe, chị Kiều Mỹ Duyên còn chạy theo dúi cho một lô nước ngọt và nước uống để chúng tôi đem theo trên đường về.
Tóm lại, chúng tôi đã có một chuyến “xuôi Nam” đầy ắp niềm vui, sau thời gian dài hơn một năm rưỡi nằm nhà trốn dịch. Nếu viết hết chi tiết thì chắc cũng phải dài gấp mấy lần. Những kỷ niệm về chuyến đi, những bữa tiệc họp mặt bạn bè thân hữu Nam Bắc Cali đầy tiếng cười, và đặc biệt nhất, là câu chuyện tấm gương anh hùng hy sinh thân mình cứu mấy đứa trẻ của cố Thiếu Tá Hải Quân VNCH Phạm Văn Diên… cùng những bài học về sự cố gắng vượt bực để hội nhập, để sinh tồn, và vươn lên như huyền thoại của người bạn nữ, cựu Trung Tá Lục Quân Hoa Kỳ Phạm Phan Lang, chắc chắn chúng tôi sẽ không bao giờ quên…
Cám ơn bạn hiền Phạm Phan Lang. Bồ đã làm rạng danh con cháu Hai Bà Trưng Triệu.
Phương Hoa – Miền Bắc California, tháng 7, 2021
THÀNH KÍNH PHÂN ƯU – Lê Văn Hải & Thơ Phân Ưu: Phương Hoa + Minh Thúy
Vài Nét Về Cố Thi Sĩ Nhất Tuấn.
Đây là khuôn mặt lớn của Văn học Miền Nam. Tên tuổi hầu như trước 75, ai cũng biết. Một trong những Thi sĩ có nhiều bài thơ được các Nhạc sĩ nổi tiếng phổ nhạc nhiều nhất. Như nhạc phẩm “Con Quỳ Lạy Chúa Trên Trời” của Phạm Duy, “Hoa Học Trò” của Đan Thọ, “Chủ Nhật Này Trẫm Nhớ Ái Khanh Không?” Của Trần Thiện Thanh…vv…
Ông sinh ở Nam Định, năm 1954, di cư vào Nam.
Gia nhập Quân Đội, tốt nghiệp trường Võ Bị Đà Lạt. 2 chức vụ nhiều người biết nhất là: Giám Đốc Đài Phát Thanh Quân Đội và Giám Đốc Việt Nam Thông Tấn Xã.
Tên tuổi Ông gắn liền qua những tập thơ: -Truyện Chúng Mình (1956) -Đời Lính (1965) -Tuyển tập thơ “Truyện Chúng Mình” (từ năm 1956 đến năm 2008)
Đêm qua, bầu trời văn nghệ hải ngoại, lại mất đi một ngôi sao sáng!
Lê Văn Hải
VTLV Trân Trọng Giới Thiệu: TUYỂN TẬP THƠ TÌNH & Giữa Đời Hư Thực Của Tác Giả Mặc Khách: Lê Văn Hải – Phương Hoa
Kính xin lỗi tác giả Mặc Khách và quý độc giả, vì lý do trục trặc kỹ thuật nên sách lật của TT Thơ Tình… không mỏ được. Mời quý vị tạm thời đọc sách trong File PDF bên dưới: Click vào góc trái bên dưới để lật trang theo mũi tên lên xuống. Xin cám ơn. BBT VTLV
Vài Nét Về Nhà Thơ Mặc Khách. Là một cây bút trong Quân chủng Không Quân nổi tiếng chuyện trị…Thơ! Các trang nhà của KQ, đều có cả một vườn thơ của Mặc Khách, như “Hội Quán Phi Dũng” chẳng hạn…vv… Mặc Khách chỉ là bút hiệu, tên thật là Trương Lâu, quê Bình Thuận. Là một cựu sinh viên Luật khoa trước khi gia nhập quân đội. Anh là một Sỹ quan của một Quân chủng “đi mây, về gió!” cho đến ngày mất nước. Sau 75, (tốt nghiệp…tiến sĩ!) Vì đã học 7 năm trong Trại Cải Tạo Cộng Sản, 3 năm quản chế, qua Mỹ theo diện HO. Đã xuất bản: Tình Thơ & Một Mảnh Đời (2010), Hồn Thơ & Đất Khách (2015) và năm nay, Thư Tình & Giữa Đời Hư Thực (2021) Anh cũng là một thành viên trong Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại. Có lẽ VTLV rất có duyên với những cây bút yêu mây trời, lấy Không Gian làm Tổ Quốc, nên các Cánh Chim “Bốn Phương” đã quy tụ về đây! cùng hát vang bài ca “Ta Là Doàn Chim Bay Trên Cao Xanh!” Xin hân hạnh giới thiệu tác phẩm mới của một Niên Trưởng KQ quý mến của tôi, dù Anh Em chúng tôi đã bị…gẫy cánh, kẻ thù vùi dập bẻ cánh vỡ vụn! Nhưng chẳng ai có thể mang trời xanh, gió mát, mây trắng, ra khỏi trái tim của những người Lính, một thời “tung cánh chim sắt” vùng vẫy, hiên ngang, gìn giữ bầu trời Quê Mẹ cả. Ội không gian bao nhiêu năm, vẫn…hằn nỗi nhớ! LVHải
Văn Thơ Lạc Việt Trân Trọng Giới Thiệu Thi Tập:
*******
TUYỂN TẬP THƠ TÌNH & GIỮA ĐỜI HƯ THỰC
*
“TUYỂN TẬP THƠ TÌNH” mới nở hoa
“GIỮA ĐỜI HƯ THỰC” ánh quang hòa
TRƯƠNG LÂU “Khoa Luật” gìn quê Mẹ
MẶC KHÁCH “Không Quân” giúp nước nhà
Quốc phá, chinh nhân đành biệt xứ
Gia vong, thi sĩ buộc rời nhà
Dồn bao tâm huyết từng trang sách
Chia sẻ cùng người, chớ bỏ qua!
***
Bỏ qua uổng lắm, “TẬP THƠ TÌNH”
MẶC KHÁCH tỏa ngời nét xảo tinh
Từ ngữ mượt mà như Phượng múa
Cú câu uyển chuyển tựa Loan trình
Đường Thi, Lục Bát… tràn phong cảnh
Thơ Mới, Ngũ Ngôn… quyện ảnh hình
LẠC VIỆT mừng vui xin giới thiệu
VĂN THƠ mời đọc “TẬP THƠ TÌNH”
Phương Hoa – BBT VTLV – AUG 3rd 2021
*********
ĐÔI LỜI TỪ TÁC GIẢ:
Kính chào Quý vị Văn Thi Hữu VanThoLacViet Kính chúc Quy vị và Gia Đình Sức Khỏe – Bình An – Hạnh Phúc.
Lời chia sẻ trong những tháng năm Đại dịch Vu Han (2020….) Thời gian qua mau, ngày tháng của Thế hệ trẻ – cuối cùng của năm 1975 – càng thu nhỏ và, không xa, sẽ không còn hiên diện nơi đây … – Diện tỵ nạn HO. chúng tôi. Thế hệ cuối, cũng nhiều đau thương, cho dù cuộc sống rất đầy đủ, tại nơi đây. Có lẽ quý vị đã hiểu (tuổi trên dưới 70 t) với những đứa con mới sinh ra 1982… và giờ đây … đã trở thành chuyện cổ tích cho những cháu trưởng thành của thế hệ @! và cũng xa vắng…. Vâng, cho tôi lưu lại chút dư vị đời tôi xót xa theo vận nước và cũng là hình bóng của những mảnh đời thân phận làm tù binh (cải tạo), đọa đày! Vâng, vì vận nước, vì nhiều nguyên nhân – Không có sự thù hận….nhưng mãi mãi sẽ hằn sâu một lằn ranh vô hình trong tâm hồn của những người Việt ly hương! Thoảng nghe có sự kỳ thị? Nơi có du học sinh ở hải ngoại, âu chỉ là sự khác nhau về ngôn ngữ, đạo đức, văn hóa, nhân sinh quan hoặc Học Thuyết Hóa. Có gì không đúng kính xin Quý vị chỉ bảo.
Trân trọng
Mặc Khách
—————————–
Lê Văn Hải xin mời quý vị đọc một bài thơ của Mặc Khách dưới đây:
VINH DANH KHÔNG QUÂN
MẶC KHÁCH
Không gian hỡi! kiêu hùng – hằn nỗi nhớ!
Của một thời lồng lộn giữa không trung
Chí làm trai in đậm nét hào hùng
Không nao núng, anh đi vào lửa đạn
*
Xếp bút nghiên, giang đôi tay đón nhận
Nợ ân tình, nợ đất nước điêu linh
Từng lệnh bay, anh chấp nhận hy sinh
Lòng quả cảm khiến bao người thán phục
*
Dưới đôi cánh, quân thù nghe khiếp đảm
Phòng không Sô Viết tua tủa vút cao
Dương cánh bay gào thét lao vào
Giặc phương Bắc, bao phen hồn run sợ!
*
Giữa thành phố, chiếc áo bay kiêu hãnh
Từng bước đi, khiêm nhượng dáng oai phong
Chí hiên ngang, lửa đạn chẳng sờn lòng
Muôn ánh mắt, ngước nhìn lòng ngưỡng mộ
*
Cảnh giàu sang, danh vọng đời tình ái
Anh lãng quên tung cánh giữa Trời Sao
Xác thân anh làm đuốc ở trên cao
Gương Anh Dũng muôn đời Tổ Quốc nhớ!
MẶC KHÁCH
CHÚC MỪNG – THƠ Lê Tuấn & Phương Hoa & Hoàng Mai Nhất
Nguồn ảnh: Internet
THƠ:
Chúc mừng Gia đình Anh Lê Tuấn. Chúc Hai Cháu Khoa Lê và Christina Nguyễn Trăm Năm Hạnh Phúc! Ô dzui! Quá xá là dzui! LÊ VĂN HẢI
NẾU
Nếu tình là ly rượu
Anh sẽ uống mỗi ngày
Nếu tình là mật ngọt
Anh thêm men để say.
*
Nếu tình là biển khơi
Anh sẽ là con thuyền
Vượt qua ngàn ngọn sóng
Đến bên bờ bình yên.
*
*
Biển dạt dào sóng vỗ
Anh sẽ hoá đất liền
Ôm lấy bờ, bọt trắng
Cho tình không chao nghiêng.
*
Nếu tình là giấc mơ
Anh viết đầy trang thơ
Viết cho tràn nỗi nhớ
Cho đến khi dại khờ.
*
Sóng dữ dội, êm đềm
Ồn ào và lặng im
Sóng khởi đi từ gió
Tình khi nổi, khi chìm.
Lê Tuấn
CHÚC MỪNG TÂN HÔN
(Kính họa bài NẾU chúc mừng gia đình thi sĩ Lê Tuấn)
CHÚC Tân Hôn mời rượu
Mong hạnh phúc ngày ngày
Đôi uyên ương bền chặt
Tình nồng luôn đắm say
*
CHÚC gia đình thi sĩ
Lướt sóng mượt trên thuyền
Dâu hiền và con thảo
Sống một đời hòa yên
*
CHÚC đời giòn nhạc vỗ
Ân ái mãi kết liền
Chim non ríu rít tổ
Vững bền không sao nghiêng
*
CHÚC tấn tần tròn mơ
Nhạc yêu hòa cùng thơ
Cung đàn dìu dặt mở
Âm hưởng trải tuôn bờ
*
CHÚC mái ấm êm đềm
Gió dịu và sóng êm
Ngày Tân Hôn kỷ niệm
Từ đây liền cánh chim
Phương Hoa – AUG 3rd 2021
THƠ: CÒN TÔI CÒN BÀ – Hoàng Mai Nhất
SÀI GÒN BUỒN – Đỗ Vẫn Trọn
SÀI GÒN BUỒN
Sài Gòn buồn, giờ giới nghiêm Tiếng hàng rao tắt lịm trong đêm Những em bé đánh giày không còn thấy Người bán vé số, kẻ ăn xin, giờ co cụm nơi đâu? Những con đường, ngõ hẻm lặng thinh! Chiều nay được tin em mất! Sài Gòn buồn nhỏ lệ thương đau Xác em giờ ở mãi nơi đâu? Bình Hưng Hòa hay lò thiêu nào đó? Không tang lễ, không người đưa tiễn! Không họ hàng bái biệt hương linh Em cô đơn về nơi vô định Sài Gòn buồn, đánh mất phồn hoa Sài Gòn giờ giới nghiêm Sài Gòn u tịch phảng phất trầm hương
Sài Gòn buồn, giờ giới nghiêm Vườn Tao Đàn vắng hẳn bước chân vui Công viên buồn nhớ bóng ai qua Dáng em ngồi hờ hững giữa mùa thi Phố đi bộ chào quên người viễn khách Nguyễn Trãi về trống vắng hơi đêm Phố xá đìu hiu, trống trải Tiếng còi xe như ngừng thở đêm qua Sài Gòn buồn, giờ giới nghiêm Buổi chiều hẹn không còn nắng rực Bến Bạch Đằng gió lộng theo sau Hoài mong chờ người qua bến đỗ Em đâu rồi! Biền biệt nơi đâu? Nhớ Sài Gòn, lòng giăng nhiều cảm xúc Những bạn bè, hàng quán thân quen Những trưa về đón đợi ở Gia Long Bao nhan sắc làm cho người khốn đốn Sài Gòn buồn, giờ giới nghiêm Chuông giáo đường không còn ngân thánh Đức Bà buồn quy tích trăm năm Tan Lễ về không cùng em xuống phố Chủ nhật hồng đâu nữa trong mắt nhung Bụi đường, xe cộ, đèn xanh/đỏ Lê Thánh Tôn yên ắng lạ thường thay Bàn Cờ, Tân Định hiu hắt đêm về Phạm Ngũ Lão buồn xo người khách lạ Duy Tân đổ bóng chiều hoang phế
Sài Gòn buồn, giờ giới nghiêm Sài Gòn những cơn mưa buổi chiều Không còn dòng người vội vã Đâu xe cộ chen nhau hối hả Không dù che, màu sắc áo mưa thưa Cả mặt đường chỉ mỗi tiếng mưa rơi Anh nhớ mãi ngày ta cùng sánh bước Nắm tay em trong nắng sớm ban mai Sài Gòn thả bộ trên đường phố Bóng em về òa vỡ hân hoan Sân trường cũ tóc dài bên áo trắng Anh đứng nhìn quên cả tiếng chuông vang Hàng phượng vĩ ngập đầy trong ánh mắt Con đường về dẫn lối lá me bay Nhớ Sài Gòn như lòng đang chảy máu Nước mắt rơi theo từng người lâm bệnh Sài Gòn của tôi, Sài Gòn của em Giờ như chiếc lá vàng ủ rũ Người quét đường ngơ ngẩn nhìn theo Sài Gòn ơi! Sài Gòn đầy kỷ niệm Góc thiên đường còn mãi đâu đây
Sài Gòn buồn, giờ giới nghiêm Sài Gòn đầy thương nhớ! Sài Gòn bật khóc Sài Gòn im lặng đáng sợ! Sài Gòn của tôi đâu? Bóng kiêu hãnh giai nhân huyền thoại Ủ rũ lòng một thoáng nhớ hương xưa Sài Gòn, nhịp sống như ngừng thở Kẻ tật nguyền mất hẳn trong đêm
Sài Gòn buồn, giờ giới nghiêm Những chiếc xe nối đuôi về quê cũ Tìm an bình nơi những cánh đồng xanh Mơ Sài Gòn lặng lẽ hồi sinh Thầm ao ước một ngày trở lại Sài Gòn buồn như chưa từng có Khắc khoải lòng thương nhớ, Sài Gòn ơi!
Nhà văn Đỗ Vẫn Trọn San Jose, ngày 28 tháng Bảy năm 2021
THƠ: CỤ VĂN THƯỢNG ĐÀI – CÔNG CHA – CÔNG ƠN SINH DƯỠNG – Thơ & Thơ Song Ngữ – Trường Giang & Thanh Thanh
CHIA BUỒN Văn Thi Sĩ NGUYỄN TRUNG DŨNG Đã Ra Đi – Lê Văn Hải – Lê Tuấn – Thư Khanh – Phương Hoa – Hoàng Mai Nhất
Đôi nét về Nhà văn, Nhà thơ Nguyễn Trung Dũng. Ông sinh tại Phú Thọ, làng Yên Mẫn, tỉnh Bắc Ninh. Trước 1954 sinh sống tại Hà Nội, sau đó di cư vào Nam. Học trường Chu Văn An và là một Sỹ quan QLVNCH. Những tác phẩm đã xuất bản tại Sài Gòn trước 75: -Trong Thành Phố (1966) -Ngoài Mặt Trận (1966) -Bên Này Sông, Bên Kia Sông (1968) -Vết Đạn Thù (1969) Những tác phẩm đã xuất bản tại Hải Ngoại: – Vết Đạn Thù (Tái bản 2004) -Thù Nước Chưa Xong, Đầu Đã Bạc! (2005) -Đêm Nghe Tiếng Đế Gáy (2006) -Cúc Vàng (Thơ 2011) -Bèo Dạt Mây Trôi (Dự tính xuất bản!) Ngoài ra Ông còn cộng tác với rất nhiều tạp chí, tuần báo, nhật báo, trên nhiều diễn đàn: Văn Uyển, Suối Văn, Tân Văn, Sài Gòn Nhỏ, Việt Nam Nhật Báo, Tuần Báo Thằng Mõ, Văn Thơ Lạc Việt…
ĐI TÌM NGƯỜI KHÔNG NHÀ CHO QUÀ -Kiều Mỹ Duyên
Cho nhiều hơn nhận thì sẽ được nhận nhiều hơn cho.
Chuyên viên địa ốc ở văn phòng Ana Real Estate rất có lòng, trong suốt thời gian dịch bệnh cùng mọi người đi làm công việc xã hội không ngừng nghỉ. Tiền vào hay không không biết, nhưng làm việc từ thiện vẫn làm. Mọi người làm việc xã hội theo cá tính của mình, riêng chuyên viên địa ốc Tuấn Lưu quanh năm suốt tháng đều đi cho người không nhà thực phẩm: bánh mì thịt, bánh mì sandwich, nước lọc, nước ngọt, nước cam, nước chanh, sữa tươi, bánh ngọt, kẹo, chocolate, trái cây, v.v.
Mục sư David Huỳnh nhắc đến Tuấn Lưu và khuyến khích nên tham gia chiến dịch cho quà của nhà thờ. Tuấn thường đi một mình thăm người không nhà và cho quà, đôi khi đi với vài bằng hữu phát quà từ Anaheim, Santa Ana, Garden Grove, quanh Little Saigon. Tuấn thường đi từ 6 giờ chiều đến 9- 10 giờ tối, phát hết quà trong xe, Tuấn mới về. Xe của Tuấn lớn, rộng rãi, thực phẩm để đầy băng sau và trong cốp xe.
Tôi thường nói với Tuấn:
– Cô sẽ đi phát quà với con.
Nhưng vào các buổi chiều, tôi thường đi thăm những người già ở viện dưỡng lão hoặc ở xung quanh Little Saigon, chưa có dịp đi cùng Tuấn Lưu.
Chiều thứ bảy vừa qua, chúng tôi cũng đã sắp xếp đi tặng quà cùng Tuấn Lưu. Phái đoàn gồm có Tuấn Lưu, Phượng Lê và con gái Phượng Lê là Lê Bảo Vy. Bảo Vy hiền lành, nụ cười rất dễ mến, có đai đen võ Karate, dáng rất đẹp. Cô gái nào học võ dáng cũng rất đẹp, nhìn Bảo Vy ít ai biết cô gái xinh đẹp này có mặt thường xuyên ở võ đường. Hai chị em của Bảo Vy đều yêu thích võ thuật và thích làm việc từ thiện.
Phượng Lê nói:
– Thưa cô, cháu đang bận, nhưng con bảo đi cho quà người không nhà, cháu đi ngay.
Tôi không ngờ thành phố Garden Grove, Westminster, có quá nhiều người không nhà, trong đó có người Việt Nam. Ngày xưa, tôi đi theo phái đoàn Phật tử của chùa Bảo Quang hàng tuần cho cơm người không nhà ở công viên gần tòa án Santa Ana, không bao giờ tôi gặp người Việt Nam đi xin cơm. Tôi rất hãnh diện về người Việt Nam tị nạn, tôi thường nói với bằng hữu ở khắp nơi trên thế giới về đây thăm viếng bà con rằng người Việt Nam tị nạn của chúng tôi đi phát cơm, đi cho cơm chứ chúng tôi không đi xin cơm. Đi đến đâu mà tôi biết có những hội từ thiện tổ chức cho cơm cho người không nhà là tôi tham gia ngay. Đi phát cơm cho người không may mắn để nghe tâm sự của họ tại sao họ không nhà, tại sao họ ở ngoài đường?
Mấy chục năm trước, khi tôi đến San Jose thăm bằng hữu: nữ ký giả Phan Trần Mai, Lê Diễm, Bích Loan và hội ái hữu Trưng Vương, được bằng hữu đưa đến thăm cựu đại tá Không Quân Vũ Văn Lộc, chúng tôi được mời đi phát cơm cho người không nhà. Ở đó chúng tôi gặp rất nhiều người đến lấy cơm. Tôi gặp một gia đình mà tôi nhớ mãi khuôn mặt xinh đẹp của người phụ nữ Mỹ da trắng. Bà ngồi ở bàn và đọc sách triết, trong lúc những đứa nhỏ xung quanh và ông chồng đi lấy cơm. Bà có bằng Master, chồng là kỹ sư điện. Ông bà thất nghiệp vì công ty đổi đi tiểu bang khác, các con ông bà đang học, nên ông bà không đi theo công ty của họ, đành thất nghiệp. Ông bà trú ngụ trong nhà từ thiện, chờ đi xin việc làm. Những đứa nhỏ hiền lành ngồi bên cạnh mẹ.
Ở miền Bắc và ở miền Nam California, tôi đã từng tham gia cho cơm của chùa Bảo Quang 26 năm vào trưa thứ ba hằng tuần, chưa bao giờ tôi gặp người Việt Nam cho cơm cho người không nhà.
Thứ bảy ngày 24/7/2021, đi cùng phái đoàn cho thức ăn cho người không nhà với Tuấn Lưu. Vừa lên xe, Tuấn Lưu nói ngay:
– Homeless nhiều lắm cô ơi.
Xe chạy vừa qua 3 ngả tư, Tuấn quẹo xe vào gần chợ Hòa Bình. Tuấn nói tiếp:
– Chỗ nào cũng có homeless cô ơi.
Góc đường Brookhurst và Westminster, bên trái, bên phải, 4 góc đường, chỗ nào cũng có homeless ban ngày, ban đêm trú ngụ. Cuộc sống của họ rất giản dị, một cái mền, một túi đồ, thế là xong. Ban đêm, họ tụ tập từng nhóm 5- 7 người.
Chúng tôi ngừng xe, Phượng, Tuấn nói với những người đứng ở góc đường và đang ngồi dưới gốc cây:
– Các anh lại xe chúng tôi lấy quà.
Khuôn mặt của họ rạng rỡ, vui tươi. Tuấn quen với họ vì đã đi phát quà nhiều năm, nên thấy xe Tuấn là họ biết ngay Tuấn đem quà tới, họ đưa tay vẫy vẫy Tuấn. Tuấn biết tính tình từng người, từng nhóm. Một ông ngồi bất động dưới đất trước một cửa hàng, mắt ngơ ngác nhìn trời. Tuấn nói:
– Cô ơi, ông này không lấy quà, nhưng bạn của ông ấy lấy qua đưa thì ông ấy ăn ngay.
Phượng Lê (đứng bên trái) và Tuấn Lưu (nón xám) đang phát thực phẩm cho người không nhà. (Ảnh do Kiều Mỹ Duyên chụp)
Chúng tôi ngừng xe ở tiệm Lee Sandwich. 5 người vui vẻ nhận quà: Mỹ, Mễ, và có một người trẻ Việt Nam. Không phải thức ăn nào cho người không nhà họ đều nhận đâu nhé, họ thích thứ nào thì nhận thứ đó, không phải nhận một lúc nhiều thứ. Khi chúng tôi từ trong chợ trở ra thì thấy họ để tất cả thức ăn xuống đất, rồi mọi người ngồi quây quần cùng ăn vui vẻ. Chúng tôi nghe được tiếng cười reo vui của họ, không ai dành ăn, họ nhường nhịn lẫn nhau. Bây giờ tôi mới hiểu tại sao mỗi người họ đều lấy thức ăn khác nhau.
Người không nhà tụ tập mỗi nơi chừng 3- 5 người. Tuấn nói:
– Ngày xưa họ tụ tập từng nhóm đông lắm, bây giờ chia ra rải rác nhiều nơi khác nhau vì an ninh đuổi. Chủ cơ sở thương mại sợ mất khách hàng vì thấy homeless họ không đến, nhất là phụ nữ đi chợ hay đi mua đồ ban đêm.
Trên đường Westminster, từ đường Euclid đến đường Newland, chỉ một đoạn đường ngắn mấy cột đèn, mà có 10 nhóm người không nhà. Đường Westminster ở hướng Bắc thuộc thành phố Garden Grove, ở hướng Nam thuộc thành phố Westminster, khu thương mại nào cũng có người không nhà. Chúng tôi nghĩ chính quyền địa phương cũng biết tình trạng này của thành phố?
Trong hơn 2 giờ đi cho thực phẩm cho người không nhà, tôi chưa gặp phụ nữ nào đi xin cơm. Tôi hỏi Tuấn thì Tuấn trả lời như sau:
– Có phụ nữ chứ cô, có cả phụ nữ Việt Nam, nhưng hôm nay có lẽ họ dời địa điểm khác.
Tôi cũng đã từng gặp một phụ nữ lớn tuổi ngồi trước tiệm ăn. Tôi đang ngồi ăn bên trong tiệm, nhìn ra cửa sổ thấy người phụ nữ Việt Nam ốm nhom, ngồi im lặng như thiền. Tôi đem tiền đến cho và hỏi cô ấy có ăn không thì tôi mua thức ăn ở nhà thờ đến. Giọng nói của người phụ nữ rất hiền lành:
– Cảm ơn.
Sau khi tâm sự, tôi mới biết bà đang mướn garage của người quen, chưa xin được trợ cấp xã hội, chồng bảo lãnh sang rồi bỏ, vì ông xã có vợ khác rồi. Người phụ nữ kể tôi nghe hoàn cảnh của cô ấy mà nước mắt rưng rưng.
Con cò ốm nhom đang ngóng cổ chờ ai? Chờ thức ăn hay chờ người cho thức ăn?
(Trang Nguyễn chụp tặng Kiều Mỹ Duyên)
Hôm đó chúng tôi đi đến 10 địa điểm trên đường Westminster. Địa điểm cuối cùng là góc đường Brookhurst và đường 15, thành phố Garden Grove, ở đây có 11 người không nhà tụ họp ở lề đường, có người ngồi trên xe lăn. Một người bàn tay rung rung đến xe chúng tôi lấy sữa, bánh mì, nước uống cho những người khác đang tụ họp. Họ rất đoàn kết và thương yêu nhau, hình như trong nhóm có lãnh tụ, tôi đoán như thế. Họ sống ở lề đường, ở góc phố, ở gốc cây. Đồng hương đi ngang chỗ chúng tôi đang nói chuyện và phát quà cho người không nhà, mặc dù chúng tôi mang mask, họ không biết chúng tôi là ai, nhưng cũng đưa tay vẫy chào.
Người ở xa về California thăm Little Saigon, đi ngang qua các nẻo đường, thấy đầy rẫy homeless, chỗ nào cũng có homeless và đường nào cũng có homeless. Họ nói với chúng tôi:
– Nếu tình trạng homeless đầy đường thì sợ ảnh hưởng nhiều đến các cơ sở thương mại và ảnh hưởng nhiều đến những đứa trẻ đi đến trường.
Tôi nói với các bằng hữu:
– Họ hiền lắm, tôi chưa nghe người homeless nào cướp giật hay chọc ghẹo người đi đến cơ sở thương mại bao giờ. Nếu chủ phố gọi Cảnh Sát thì họ đi, nhưng rồi cũng trở lại những nơi họ yêu thích.
Khi còn làm Đại Bồi Thẩm Đoàn của Tòa Thượng Thẩm Orange County, chúng tôi đi thăm nhiều nhà tạm trú của Orange County nhưng không có người Việt Nam ở. Những người không nhà không thích sống ở trong nhà, có người già, người trẻ. Có lẽ số phận của con người là thế, người này thế này, người khác thế khác, làm sao biết được?
Chuyên viên địa ốc Phượng Lê nói chuyện với khách hàng từ tốn, chậm rãi, ăn uống hay đi đứng cũng vậy, mà không hiểu tại sao đi cho thực phẩm cho người không nhà lại bước đi rất nhanh, phân phát thực phẩm cũng rất nhanh. Phượng Lê ân cần hỏi mọi người không nhà lấy thực phẩm nào mà họ thích, không thích là họ không nhận. Nhìn ánh mắt, nụ cười của những người không nhà, chúng tôi cảm nhận được một điều họ vui thật, họ rất hồn nhiên.
Đi cho thực phẩm người không nhà, tự nhiên tôi nhớ đến Chủ Tịch Hội đồng Giám Sát Orange County, luật sư Andrew Đỗ, từ khi nhậm chức Giám Sát, ông lo cho người homeless, ông mua một tòa nhà ở thành phố Santa Ana cho người vô gia cư, tôi đã đến đó nhiều lần vào ban đêm để làm phóng sự, cũng là bệnh viện cho người bệnh tâm thần. Luật sư Andrew Đỗ đã làm được nhiều việc cho người bất hạnh mà trước đây không ai làm được. Đó là lý do tại sao người Việt tị nạn hãnh diện về người trẻ Việt Nam đã vào dòng chánh trị và làm được nhiều việc mà người khác không làm được.
Chủ Tịch Hội đồng Giám Sát Orange County, luật sư Andrew Đỗ, ngủ qua đêm tại Homeless Shelter năm 2016. (Luật sư Andrew Đỗ áo đỏ, ngồi giữa)
Chủ Tịch Hội đồng Giám Sát Orange County, luật sư Andrew Đỗ, phát thực phẩm cho người dân. (Luật sư Andrew Đỗ, áo xanh tay dài, bên trái)
Khi trở lại văn phòng, chúng tôi ngừng lại tiệm cơm chay, và đề tài người không nhà được kể tiếp, thực khách trong tiệm lắng nghe. Chúng tôi rất cảm động vì nhiều người Việt có lòng quảng đại.
Ông chủ nhà hàng nói:
– Cô ơi, cô lớn tuổi rồi, buổi tối ra đường cẩn thận, và sức khỏe của cô nữa.
Đời sống rất đẹp vì người quan tâm đến người. Làm việc gì giúp đỡ người khác, dù nhỏ xíu trong lòng sẽ thấy vui vui.
Ông chủ nhà hàng nói:
– Cô cho thực phẩm người không nhà, nên hôm nay thấy cô rất vui.
Khi về, tôi kể chuyện cho một đồng hương, mà vợ chồng họ làm việc xã hội quanh năm suốt tháng. Tôi kể về Tuấn Lưu cho thực phẩm người homeless hàng tuần. Vị đồng hương đó đề nghị:
– Bạn tôi hàng ngày nấu 5000 phần cơm để giá rẻ, nếu cần tôi sẽ giới thiệu.
Đề tài về người không nhà nhiều lắm. Người thì bị bệnh, người thì bị vợ bỏ, giao nhà cho vợ rồi ra đường ở, buồn quá vào sở không làm việc chuyên cần, bị thất nghiệp, v.v. Nhiều lý do để trở thành người không nhà lắm.
Tuấn Lưu nói:
– Cô ơi, đi cho cơm cho homeless quen rồi, hôm nào không có thực phẩm, không đi cho họ thì con thấy nhớ họ.
Khi vào làm địa ốc với văn phòng Ana Real Estate, Tuấn Lưu kể:
– Mẹ của con trước khi mất, mẹ con làm công quả ở Thánh Thất Cao Đài, Tây Ninh. Con mong dành dụm một số tiền để về Tây Ninh giúp người nghèo.
Ước mơ của Tuấn giản dị như thế nhưng chưa thực hiện được. Ba Tuấn định cư theo diện H.O, ba là nhà binh cũng là nhạc sĩ, dạy nhạc tại nhà. Qua cách nói chuyện, tôi biết Tuấn thương mẹ lắm. Cả nhà ăn chay. Tuấn thường nhắc về người mẹ qua đời ở Việt Nam. Tuấn mơ ước về Tây Ninh làm từ thiện, nhưng làm được bao nhiêu, Tuấn đều mua thức ăn cho người không nhà, nên ước mơ của Tuấn về thăm Thánh Thất Cao Đài ở Tây Ninh, hay thăm mộ mẹ, chắc còn lâu lắm mới thực hiện được, trừ khi trúng vé số.
Người có lòng thì nhiều lắm. Người có lòng quảng đại ở khắp nơi trên thế giới. Thế giới này vui vẻ vì nhờ có nhiều người tốt, người này quan tâm đến người kia.
Hạnh phúc là biết cho đi.
Một buổi tối thăm người không nhà, nhìn những người không nhà, không tài sản, không tiền bạc nhưng họ sống rất vui, đùm bọc lẫn nhau, có thức ăn chia cho nhau, dù sống ở dưới gốc cây, lề đường. Dù không nhà nhưng có người có cây đàn guitare, với tiếng đàn vui tươi, cũng làm cho đời sống của họ thêm phong phú.
Hy vọng chính quyền địa phương quan tâm đến người không nhà hơn nữa, vì trước đây khi họ chưa bệnh, họ cũng đã từng đi làm việc và đóng thuế cho chính phủ.
Mong các vị lãnh đạo tôn giáo, các nhà hảo tâm giúp đỡ những người không nhà, để cuộc sống của họ khá hơn.
Xin Thượng Đế ban phúc lành cho tất cả những người bất hạnh khắp nơi trên thế giới.
Orange County, 26/7/2021
KIỀU MỸ DUYÊN
(kieumyduyen1@yahoo.com)
SÁU CUỐN SÁCH ĐẤU TRANH CỦA PHẠM ĐOAN TRANG – Trịnh Bình An
Phạm Đoan Trang bị bắt ngày 6/10/2020 sau khi đã bị hàng loạt khủng bố, kể cả từng bị đánh gẫy chân. Từ một nhà báo viết cho hơn mười tờ báo chính tại Việt Nam, Đoan Trang trở thành một nhà hoạt động chống cường quyền. Năm 2014, cô được học bổng Feuchtwanger của Villa Aurora ở Los Angeles (dành riêng cho những nhà văn, nhà báo đấu tranh cho nhân quyền). Nhưng sau khi hoàn thành việc học, Đoan Trang đã từ chối ở lại Hoa Kỳ mà quyết định trở về Việt Nam dù biết con đường phía trước đầy dẫy hiểm nguy.
Tại sao cộng sản lại khiếp sợ cô gái này đến thế?
Phạm Đoan Trang là tác giả/dịch giả của gần 10 cuốn sách và rất nhiều bài viết đấu tranh.
“NẾU TÔI CÓ ĐI TÙ…”
“Gửi các anh chị em, bạn bè thân yêu của tôi.
Không ai mong muốn phải ngồi tù, nhưng nếu nhà tù là chỗ tất yếu ai đấu tranh cho tự do cũng phải đến, và nếu vào tù là để thực hiện một mục đích nào đó ta đã định trước, thì ta nên đi tù.
Tôi có một số mục đích định trước như vậy. Thế nhưng đi tù chỉ là bước đầu để thực hiện các mục đích này, còn muốn hoàn thành thì rất, rất cần sự tiếp sức của các bạn”.
Trên đây là trích đoạn lá tâm thư của Phạm Đoan Trang viết ngày 27/5/2019 – hơn một năm trước ngày cô bị bắt. Trang đã nhờ người cộng sự Will Nguyễn phổ biến trong trường hợp cô bị bắt.
Mời đọc “Nếu Tôi Có Đi Tù…” trên trang mạng báo Tiếng Dân theo link sau:
Trong tâm thư, Phạm Đoan Trang nhấn mạnh: “Tôi mong rằng việc mình bị bắt, đi tù hoặc gặp bất kỳ điều gì khác, nhất là đi tù, sẽ là cơ hội để quảng bá các cuốn sách tôi viết, giúp sách được nhiều người đọc hơn”.
Trong bài viết này, xin mời các bạn cùng điểm qua 6 cuốn sách tiêu biểu nhất của Trang như một cách ủng hộ tinh thần người con gái can đảm ấy.
1. CHÍNH TRỊ BÌNH DÂN (2017)
Ngày 28/8/2009 – khi còn là phóng viên của VietNamNet và đã gây tiếng vang lớn với các bài viết sắc sảo về vấn đề Biển Đông, Trung Quốc cũng như các bình luận chính trị – Phạm Đoan Trang bị giam giữ chín ngày tại Trại Tạm Giam B14 (Hà Nội). Sự kiện đó là bước ngoặt khiến nhà báo “lề phải” Đoan Trang dấn thân vào con đường đấu tranh.
Viết trên Facebook về biến cố này, Đoan Trang cho biết:
“Trong những ngày ấy và những tháng rất đen tối sau đó, tôi sợ công an lắm. Nhưng trong đầu tôi cũng hình thành một câu hỏi: Tôi là nhà báo, nghĩa là tạm được gọi là có nghề nghiệp, học vấn, địa vị trong xã hội, mà còn bị công an đè bẹp như một con gián, để từ chỗ vô tội trở thành có tội, nhận tội như bổ củi. Vậy thì những người dân thấp cổ bé họng, khi giáp mặt cơ quan công quyền, họ còn bị chà đạp tới mức nào? Ai bảo vệ họ? Ai xót thương họ? Ai cứu họ?”
Và, “Chính Trị Bình Dân” ra đời!
Sách trình bày những vấn đề như sau:
Chính Trị Là Gì?[Định nghĩa chính trị – Chính trị ảnh hưởng đến tất cả chúng ta – Hoạt động chính trị – Vì các vị độc tài, chúng tôi mới phải đi vận động quốc tế cho nhân quyền – Mặt trái của biểu tình – Về môn học “Khoa Học Chính Trị”]
Chính Quyền Và Nhà Nước [Định nghĩa chính quyền – Tính chính danh – Nhà nước]
Dân Chủ [Định nghĩa dân chủ – Các hình thức đại diện – Bốn cột trụ của dân chủ – Dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện – Lợi ích và mặt trái của dân chủ]
Các Chủ Nghĩa [Thế nào là một chủ nghĩa? – Chủ nghĩa tự do – Chủ nghĩa bảo tồn – Chủ nghĩa xã hội và dân chủ xã hội – Một số chủ nghĩa khác – Nếu đàn ông có kinh nguyệt – Dân túy và mị dân – Tinh thần yêu nước – Yêu nước là gì? – Ý thức hệ có cần thiết không?]
Tương Tác Chính Trị [Thay đổi xã hội – Làm truyền thông: công luận, truyền thông chính trị, và tuyên truyền – Công luận và việc làm chính sách – Tự do báo chí kiểu Việt Nam – Đảng và hệ thống đảng – Bầu cử – ABC về bầu cử quốc hội ở Việt Nam – Hội nghị cử tri, nét quái đản trong cơ chế bầu cử quốc hội – Tại sao đảng cố “lùa” dân đi bầu cử? – Tổ chức và nhóm lợi ích – Khi có quá nhiều một thứ tốt đẹp – Cái gì quyết định sự phát triển của phe nhóm lợi ích?]
Xã Hội Dân Sự [Xây dựng không gian cho xã hội dân sự – Xã hội ảo… nhưng thật – Phong trào xã hội – Bộ máy nhà nước, Hiến pháp và pháp luật – Bản hiến pháp vang vọng tiếng dân – Lược sử cuộc sửa đổi hiến pháp Việt Nam – Lập pháp – 10 đầu việc của một đại biểu quốc hội – Cách đo chất lượng hoạt động của quốc hội – Hành pháp – Nhánh hành pháp ở Mỹ – Tư pháp – Tòa án độc lập – Chế độ đại nghị và chế độ tổng thống – Bộ máy hành chính]
Hệ thống chính trị CHXHCN Việt Nam [Quân đội và công an – Nghề công an trong chế độ dân chủ – Nguyên tắc “dân quản quân” và vấn đề tướng lĩnh nắm quyền cơ quan dân sự Việt Nam]
Phụ lục [Kỹ thuật tuyên truyền– Tài liệu tham khảo – Từ điển thuật ngữ]
Tải sách dạng pdf từ trang Luật Khoa (luatkhoa.org) theo link sau:
Nội dung sách trình bày những nguyên tắc căn bản và kinh nghiệm đấu tranh phi bạo lực dựa theo tác phẩm “Blueprint for Revolution” của tác giả Srdja Popovic. Đoan Trang mô tả ngắn gọn những nguyên tắc đấu tranh và đưa ra ứng dụng vào tình hình Việt Nam.
Hiểu đối thủ – Làm tốt từng việc nhỏ “Tôi được gì trong chuyện này?” – Tốt gỗ, tốt cả nước sơn – Vô hiệu hóa sự đàn áp – Đại chiến hành tinh khỉ: “Cùng nhau, khỉ sẽ mạnh” – Cần cả chiến lược lẫn chiến thuật – Phi bạo lực, phi bạo lực, phi bạo lực – Trí tuệ và lòng dũng cảm sẽ được tưởng thưởng – Nhà hoạt động hiệu quả – Chống nạn thu phí ở BOT Cai Lậy: mẫu mực về phản kháng dân sự phi bạo lực.
Tải sách dạng pdf từ trang Luật Khoa (luatkhoa.org) theo link sau:
“Đây là cuốn sách đầu tiên ở Việt Nam dành cho những gia đình có người thân bị tù, đặc biệt khi người thân là tù nhân lương tâm, tù chính trị. Nó nêu rõ, cụ thể, chi tiết tất cả những gì gia đình phải làm để hỗ trợ và bảo vệ người thân trong trại giam/nhà tù, suốt từ những ngày đầu khi mới bị bắt, trải qua giai đoạn tạm giam chờ xét xử, rồi ra tòa và có án, cho đến những năm tháng thụ án”.
“Cẩm Nang Nuôi Tù” không chỉ được đúc kết ra từ kinh nghiệm tù tội của riêng Đoan Trang. Đây là bản tổng kết quá trình tác giả theo dõi hoạt động của công an và hệ thống cơ quan tư pháp Việt Nam qua nhiều vụ án chính trị và hình sự. Đoan Trang vạch trần các thủ đoạn công an thường xử dụng, gọi tắt là: trấn-phân-cô-kéo, nghĩa là trấn áp, phân hóa, cô lập và lôi kéo; Một biến thể từ thủ đoạn thâm độc: “Thứ nhất rỉ tai – Thứ hai mã tấu”.
“Cẩm Nang Nuôi Tù” tuy chỉ dày 300 trang nhưng bao gồm nhiều vấn đề quan trọng sau:
1. Vì sao bạn nên đọc cuốn sách này?[Giải thích một số khái niệm căn bản]
2.Khi sự khủng khiếp bắt đầu:[Dỗ dành, đe dọa, sách nhiễu – Bắt bớ, khám xét: Những việc cần làm ngay – Làm gì khi nhận giấy mời, giấy triệu tập? – Tại sao an ninh bắt một nhà hoạt động? – Đối phó với “kiêu binh”]
3.Nhà nước cảnh sát: [Đặc điểm của nhà nước cảnh sát – Vài đặc điểm tâm lý của công an trong chế độ công an trị – Trấn-phân-cô-kéo: Chiến lược, sách lược chống phản động – Tính chất khủng bố của lực lượng an ninh bảo vệ Đảng •]
4.Đấu tranh pháp lý: [Theo luật quốc tế – Theo luật Việt Nam – Nhà nước Việt Nam lách luật quốc tế như thế nào? – Tìm kiếm luật sư – Tạm giam điều tra: sự tàn phá thể xác và hủy hoại lương tâm con người]
5.Làm truyền thông: [“Làm truyền thông” là làm gì? – “Làm truyền thông cho người bị bắt” – Làm truyền thông như thế nào? – Tuyên truyền phản tuyên truyền – Chống nạn dư luận viên – Giải đáp một số thắc mắc thường gặp về làm truyền thông – Vượt qua nỗi sợ hãi – Công an cũng… làm truyền thông!]
6.Vận động: [Vận động là gì? – Tại sao nên vận động cho tù nhân lương tâm? – Vận động trong nước – Vận động quốc tế – Giải đáp một số thắc mắc thường gặp về vận động quốc tế – Làm thế nào vận dụng cơ chế LHQ để bảo vệ nhân quyền? – Những lá thư gửi người trong ngục]
7.Bảo mật: [Tại sao phải bảo mật? – Cần bảo mật những gì? – Tại sao lại bị lộ? – Bảo mật vật lý – Bảo mật thiết bị – Quyền im lặng gây “phiền nhiễu” như thế nào? – Chặn xuất cảnh]
8.Thăm nuôi: [Vẫn cần biết luật – Chuyện thăm gặp – Chuẩn bị đồ ăn và đồ dùng sinh hoạt – Đương đầu với những khó khăn do trại giam gây ra – Làm truyền thông về chuyện thăm nuôi – Cai ngục thời nay]
Tải sách dạng pdf từ trang Luật Khoa (luatkhoa.org) theo link sau:
Nếu muốn trình bày về chính trị Việt Nam ngày nay cho người không biết tiếng Việt, bạn chỉ cần đưa cho họ cuốn cẩm nang mỏng này.
Gói gọn trong 150 trang, sách tóm tắt những điều chính yếu nhất từ hai cuốn sách “Chính Trị Bình Dân” và “Cẩm Nang Nuôi Tù”.
* VOLUME I: POLITICS FOR THE COMMON PEOPLE
What is politics? – The government and the state – Pro-government Mob Harasses Activists – Democracy – Ideologies – Political interaction – How a society changes from dictatorship to democracy – Public opinion, political communication, and propaganda – Further reading: Freedom of the Press, Vietnam style – Parties and party systems – Election – A Guide to the National Assembly Election – Political organizations and interest groups – Civil society – Cyber Civil Society… But It Is Real – Social movements – Timeline of the Tree-felling Projects and Tree-protecting Campaign in Hanoi – Machinery of government – The Constitution That Echoed All People’s Voices – A Chronology of the Constitutional Amendment in Vietnam – Crazy about “High Consensus”.
* VOLUME II: A HANDBOOK FOR FAMILIES OF PRISONERS
Why should you read this book? – Basic law concepts you need to know – When the terror begins – Encountering the police – Further reading: Four Ways the Vietnamese Government Controls Religious Practitioners – Using the law to fight – The Danger That Is Article 258: How Law Criminalizes Disagreement – Communication and mass media as your tool – If You Fail to Conduct Communication, the Police Will Do – Advocacy campaigning – Your personal and digital security – Basic supplies for prisoners – Conclusion – The story of an independent journalist under totalitarianism.
Tải sách dạng pdf từ trang the88project.org theo link sau:
Nguyên tác “Fighting Impunity – A Guide on How Civil Society Can Use Magnitsky Acts to Sanction Human Rights Violators”. Phạm Đoan Trang cùng một số dịch giả trẻ chuyển ngữ với tựa đề: “Tội Ác Phải Bị Trừng Phạt: Hướng Dẫn Áp Dụng Luật Magnitsky Để Trừng Phạt Kẻ Vi Phạm Nhân Quyền”.
Luật Magnitsky được dùng để trừng phạt các quan chức, cá nhân, doanh nghiệp vi phạm nhân quyền bằng cách cấm nhập cảnh và tịch thu tài sản của họ.
“Tội Ác Phải Bị Trừng Phạt” – cuốn cẩm nang chỉ dày 50 trang này gói ghém nhiều kiến thức hữu ích như sau:
PHẦN I – Những khái niệm căn bản: [Luật Magnitsky là gì? – Luật Magnitsky có những ảnh hưởng gì? – Ai có quyền áp đặt các chế tài của Luật Magnitsky? – Hướng dẫn từng bước: Quy trình thực hiện một hồ sơ Magnitsky]
PHẦN II – Quy trình: [Vụ của tôi có áp dụng Luật Magnitsky được không? – Tôi phải nộp hồ sơ ở đâu? – Trước khi nộp hồ sơ, cần xác định các đối tác – Thời hạn, thời hiệu – Bảo mật danh tính]
PHẦN III – Làm hồ sơ: [Danh mục các việc cần làm – Xác định đối tượng cần nhắm tới – Thông tin nhân thân – Lập hồ sơ vụ việc: thu thập bằng chứng – Các luận điểm về “lợi ích quốc gia” – Tình tiết bào chữa – Nộp hồ sơ]
PHẦN IV – Các kỹ thuật điều tra: [Tổng quát – Phương pháp lập hồ sơ – Tìm kiếm online – Một vài ví dụ]
PHẦN V: Vận động – phần tiếp sau công đoạn nộp hồ sơ: [Điều gì xảy ra sau khi bạn nộp hồ sơ? – Vai trò của vận động trong các vụ kiện theo Luật Magnitsky – Làm thế nào kết nối và liên lạc với nhà nước một cách hiệu quả? – Tiếp cận các tổ chức chuyên vận động – Thông tin bổ sung]
Phụ lục:[Thông tin cần biết về Luật Magnitsky ở Mỹ và Canada – Những câu hỏi thường gặp về Luật Magnitsky của Mỹ – Mẫu hồ sơ theo Luật Magnitsky của Mỹ]
Nội dung của “Báo Cáo Đồng Tâm” xoay quanh vụ công an tấn công vào thôn Hoành, xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức (Hà Nội) đêm 8/01/2020, và các diễn biến kể từ đó cho tới hết phiên xét xử sơ thẩm (14/9/2020).
“Báo Cáo Đồng Tâm” (ấn bản thứ ba) được hai nhà hoạt động Phạm Đoan Trang và Will Nguyễn công bố vào cuối tháng 9 năm 2020. Trong dịp này, Đoan Trang đã trả lời cuộc phỏng vấn của đài Á Châu Tự Do (RFA), trình bày những động lực đưa tới việc cô cùng các thân hữu quyết tâm thực hiện và phổ biến bản Báo Cáo này.
“Chúng tôi hay nói đùa rằng “Nhà Sản sợ văn bản”, tức là, cái gì được ghi lại thì cộng sản ghét và sợ. Bởi vì, họ quen với mọi thứ bằng miệng, tin nhắn, lệnh miệng… để dễ chối tội sau này. Đặc biệt họ rất ghét những hành động sai trái, những tội ác của họ bị ghi chép lại. Dù chưa được công bố thì họ cũng vẫn ghét và sợ. […] Chúng tôi muốn Báo Cáo được viết một cách khoa học, tức là phải dựa vào sự thật, bằng chứng… nhưng phải được viết dễ hiểu, ai đọc cũng hiểu. tức là, những người không hiểu biết gì về pháp luật, không cần biết gì về lịch sử tranh chấp đất đai ở Đồng Tâm… Họ chỉ cần đọc Báo Cáo này thì có thể hiểu toàn bộ vụ án”. (PĐT)
“Báo Cáo Đồng Tâm – A Report on the Dong Tam Village Attack”bao gồm 11 Chương và 5 Phụ Lục như sau:
1 – Tóm tắt sự kiện (Event summary)
2 – Hỏi nhanh đáp gọn về vụ Đồng Tâm (Brief Q&A regarding the Dong Tam attack)
3 – Bối cảnh vụ tranh chấp đất đai ở Đồng Tâm (Background of the Dong Tam land dispute)
4 – Các mốc thời gian trong vụ tranh chấp đất đai ở Đồng Tâm (Chronology of the Dong Tam land dispute)
5 – Đối sách của chính quyền: thông tin bất nhất và đàn áp (Government response: inconsistent information and suppression)
6 – Các điểm còn gây tranh cãi trong vụ tấn công (Points of contention around the Jan 9 attack)
7 – Phiên tòa sơ thẩm (The preliminary September trial)
8 – Bình luận và lời chứng về vụ tấn công Đồng Tâm và phiên xử sơ thẩm (Commentaries and testimonies on Dong Tam attack)
9 – Các vi phạm của cơ quan tố tụng đối với chính luật pháp Việt Nam (Legal violations of Vietnamese domestic laws)
10 – Các vi phạm xét theo tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế (Violations of international human rights standards)
11- Khuyến nghị (Recommendations): (A) Dữ kiện và số liệu thực tế về vụ tấn công Đồng Tâm – (B) Bào chữa của luật sư – (C) Lê Đình Công trả lời luật sư trước tòa – (D) Bản câu hỏi của tạp chí Luật Khoa gửi Bộ trưởng Công An – (E) Những câu hỏi sau phiên tòa sơ thẩm.
Tải sách (song ngữ Anh Việt) dạng pdf từ trang phonhonews.com theo link sau:
Trong tâm bút “Tôi Đi Tìm Một Cuốn Sách Để Giúp Mình Nuôi Hy Vọng” trên trang mạng www.luatkhoa.org, tác giả Nguyên Sa có viết như sau:
“Ở Việt Nam bây giờ cũng tối. Trong mắt tôi, những động lực thay đổi chưa từng yếu như lúc này. […] Chuyện có thêm ai đó bị bắt không nên khiến tôi tuyệt vọng, thay vào đó, tôi nên bắt đầu tìm hiểu về những việc họ làm trước khi bị bắt, và kể lại những thay đổi nhỏ mà họ đã góp phần tạo ra. Những ký ức đó sẽ giúp chúng ta không bị hiện tại tối tăm đánh lừa rằng mọi thứ lâu nay vẫn thế”.
Chẳng lẽ sự tối tăm sẽ mãi phủ trùm đất nước hay sao?
Phạm Đoan Trang bị bắt giữ trong năm 2020, khi đại dịch Covid-19 phủ trùm khắp toàn cầu. Người Việt truyền cho nhau những “bài thuốc” chữa bệnh với mong mỏi bạn bè thân thuộc sẽ tai qua nạn khỏi. Vậy, với “đại dịch cộng sản” đã hành hạ dân tộc ta suốt gần một thế kỷ thì sao? Chúng ta có bài thuốc nào không?
Phạm Đoan Trang đã dám sắn tay áo “kê toa, bốc thuốc” qua những cuốn sách của cô. Khó nói tác dụng sẽ được tới đâu, nhưng khi cộng sản phải bắt giam Phạm Đoan Trang chứng tỏ “thuốc” có tác dụng.
Trong lá tâm thư “Nếu Tôi Có Đi Tù...”, Phạm Đoan Trang nhấn mạnh:
“Tôi sẽ không nhận tội, không xin khoan hồng, cho nên mọi điều công an nói hoặc làm mà có thể khiến dư luận tưởng như vậy thì đều là bịa đặt, lừa dối.
“(Nhưng) tôi nhận hành vi: Tôi luôn khẳng định tôi là tác giả của các cuốn “Chính Trị Bình Dân”, “Cẩm Nang Nuôi Tù”, “Phản Kháng Phi Bạo Lực”, cũng như tất cả các sách và báo cáo khác tôi từng viết và để tên thật. Tôi cũng khẳng định là tôi luôn muốn xóa bỏ chế độ độc tài ở Việt Nam. Tôi muốn được mọi người nhắc đến như một người viết, luôn cố gắng để góp phần khai dân trí về các giá trị tự do, dân chủ, và luôn đấu tranh để thay đổi xã hội”.
Nếu bạn đã đọc tới những dòng chữ này, xin chân thành cảm tạ. Và cũng mong bạn hãy chuyển bài viết tới người khác. Vì, khi nào còn “đại dịch cộng sản” thì không ai trong chúng ta có thể được sống bình an.
Trịnh Bình An
(Tháng 7/2021, khi Covid-19 bùng phát tại Việt Nam)