Thơ MỪNG CHIỀU HỘI NGỘ – Phương Hoa + Bài Họa Minh Thúy & Thơ CHÚC MỪNG – Thư Khanh & Bài viết + YouTube Mạc Phương Đình




Thơ NGÀY HỘI NGỘ, Thơ CHÚC MỪNG của nhà thơ THƯ KHANH, & Tường Thuật của nhà thơ, nhà báo MẠC PHƯƠNG ĐÌNH




Thơ Xướng Họa: THIỀN VÀ MÙA XUÂN – Lê Tuấn, Minh Thúy, & Phương Hoa




Thành Kính Phân Ưu: BÉ KÝ, NỮ HỌA SĨ TIÊU BIỂU, NỔI DANH NHẤT VIỆT NAM VỪA TỪ TRẦN!

THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

**

VĂN THƠ đưa tiển một nhân tài

LẠC VIỆT chia buồn, thương tiếc thay

BÉ KÝ một đời danh sáng mãi

Cọ Tiên trọn kiếp tiếng lưu hoài

Phối màu nét trải tranh rồng lượn

Tốc họa bút vờn ảnh phụng bay

Đã hết nợ trần rời thế tục

Chúc người an lạc chốn Thiên Thai

Văn Thơ Lạc Việt

Phương Hoa – May 13th 2021

Bé Ký Khi còn trẻ

Nữ họa sĩ Bé Ký, một tên tuổi gắn liền với nền hội họa của người Việt Nam, được giới hội họa ngoại quốc biết đến nhất, vừa qua đời, vào chiều hôm qua, Thứ Tư, 12 Tháng Năm, tại tư gia ở Westminster, hưởng thọ 83 tuổi.

Tin này được Ông Cung, con trai của họa sĩ Bé Ký xác nhận và thông báo cho các bạn hữu.

Ông Cung kể: “Mẹ mất vào khoảng 2 giờ đến 6 giờ chiều. Tôi về nhà thì thấy bà mất trong lúc ngủ và đang nắm tay ba. Mẹ tôi không chỉ là một người mẹ bình thường, và còn là một họa sĩ rất thành công mà nhiều người đã biết.”

Nữ Họa sĩ Bé Ký, tên thật là Nguyễn Thị Bé, sinh năm 1938 ở Hải Dương, Bắc Việt. Bà mồ côi cha mẹ từ lúc 8 tuổi. Thiếu tình thương, vì vậy, điều đó ảnh hưởng nhiều tác phẩm của bà, đã tạo ra những bức tranh với nội dung tràn đầy tình mẫu tử.

Sau khi di cư, bà sống với cha mẹ nuôi, khi vào miền Nam. Sau đó, tìm lại được cha mẹ ruột sau năm 1975, nhưng tất cả đã qua đời.

Về hội họa, bà tự học vẽ từ nhỏ và được các họa sĩ như Trần Đắc, Trần Văn Thọ và Văn Đen chỉ dẫn.

Bà là nữ họa sĩ có nhiều cuộc triển lãm nhất, chính vì thế mà hội họa thế giới biết về bà nhiều nhất. Từ năm 1957 đến 1975, bà có đến 16 cuộc triển lãm ở Sài Gòn, có tranh bán nhiều nhất! có giá nhất!

Sau khi đến Hoa Kỳ vào năm 1989, bà cùng chồng là họa sĩ Hồ Thành Đức và gia đình sống ở thành phố Westminster, California. Các tác phẩm của bà cũng được trưng bày tại nhiều cuộc triển lãm tại rất nhiều tiểu bang, và còn được trưng bày tại nhiều Học Viện nổi tiếng của Hoa Kỳ.

Sự ra đi của nữ họa sĩ Bé Ký là một mất mát lớn đối với nền hội họa của người Việt Nam, vì bà có rất nhiều tác phẩm cống hiến độc đáo trong lãnh vực này.

Họa sĩ Bé Ký là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên theo con đường hội họa, với nét tốc họa theo đường lối mới, rất đặc biệt. Nét vẽ của bà khó ai có, khó ai bắt chước được. Bà tự học vẽ từ nhỏ, và bắt đầu vẽ tranh từ lúc còn rất trẻ.

Những tác phẩm của họa sĩ Bé Ký rất phóng khoáng, đầy tinh thần, tình tự đáng yêu của dân tộc, thể hiện được nhiều mặt sinh hoạt của xã hội.

Tranh của bà có đề tài rất gần gũi với đời sống, lúc thì

 vẽ người bán hàng ngoài đường, thợ hớt tóc, lấy ráy tai, đá gà, đi chợ…nên ai cũng thích. Từ lúc trẻ, bà đã được báo chí Pháp, Âu Châu ca ngợi rất nhiều.

Sự ra đi của bà là mất mát lớn nền hội họa Việt Nam, nhất là đối với phái nữ, vì bà là đại diện tài năng vẽ cho họ trong nhiều năm, trong lãnh vực hội họa thế giới. Cho đến bây giờ vẫn chưa thấy họa sĩ nữ nào thay thế vị trí này được cả.

Văn Thơ Lạc Việt xin gởi lời chia buồn đến Họa sĩ Hồ Thành Đức và Tang Gia. Quý vị vừa mất một người thân, Việt Nam trong lãnh vực hội họa, mất một Họa sĩ tài năng hiến có.

Focus on six candles in foreground.

(Lê Văn Hải Theo NV)




GIỚI THIỆU: Thi Tập Thơ Xướng Họa Cao Mỵ Nhân & Trịnh Cơ -Phương Hoa

Thi Tập Thơ Xướng Họa Cao Mỵ Nhân & Trịnh Cơ

Phương Hoa

Tôi quen biết nhị vị thi sĩ Cao Mỵ Nhân (Hoa Kỳ) và Trịnh Cơ (Pháp Quốc) cũng đã được mấy năm, khởi đầu từ trên những diễn đàn Đường Thi xướng họa. Tôi rất quý mến và ngưỡng mộ họ, và tôi cũng biết, cả hai đều từng là quân nhân Việt Nam Cộng Hoà, là anh kiệt và anh thư phục vụ nước nhà từ trước 1975 cho đến ngày tan đàn xẻ nghé.

Nhà thơ đàn chị Cao Mỵ Nhân thì tôi đã có dịp gặp mặt về sau tại Văn Thơ Lạc Việt, San Jose, Hoa Kỳ. Chị nhìn hiền hoà, rất trang nhã, nhưng ít nói, nét mặt có chút nghiêm nghị và hơi… kỳ bí, kỳ bí như những vần thơ du dương nhưng đầy ẩn ý ẩn tình của chị.  Tôi thích mê sự kỳ bí ấy, cũng thích mê sự phong phú về chữ nghĩa của nhà thơ, và niềm mê thích này đã làm cho tôi đôi khi xúc động tận tâm can chỉ vì đọc được một vài câu độc đáo trong các bài thơ của chị. Mỗi lần đọc thơ Cao Mỵ Nhân tôi thường hay nghiền ngẫm, tìm tòi, để nhận chân và thưởng thức cho kỳ hết những tinh tuý của bài thơ trước khi đặt bút đáp họa.

Riêng về thi sĩ Trịnh Cơ thì tôi chỉ gặp anh qua… bóng. Trong tấm hình, có một chiếc bóng nhìn từ phía sau lưng, dáng người dong dỏng cao với mái tóc hoa râm đang bước độc hành trên con đường dài hun hút tận bên trời Paris, Pháp Quốc.  Dù với dáng vẻ cô đơn lẻ loi ấy, nhưng tâm hồn Trịnh Cơ lại chất chứa ngập tràn những búp nụ, những mầm thơ mượt mà, ngào ngạt hương thơm.  Dù chưa bao giờ diện kiến, nhưng tôi luôn thích đọc thơ của thi sĩ và cố gắng họa lại bài xướng của anh mỗi khi chúng xuất hiện trên các diễn đàn nếu tôi có thời gian.

Trên các diễn đàn, hai nhà thơ nổi trội Cao Mỵ Nhân và Trịnh Cơ vẫn thường xuyên xướng họa cùng chúng tôi trong vẻ vô tư. Nhưng tôi thật bất ngờ, bất ngờ đến giật cả mình, khi hôm nay nhận được tập thơ mà hai vị đang chuẩn bị in chung. Bao ý nghĩ ngộ nghĩnh chợt nảy ra trong đầu tôi, như có lẽ họ đã từng là một cặp “thanh mai trúc mã” ngày xưa, từng bị cách chia kẻ chân trời người góc bể vì quê hương loạn lạc bây giờ gặp lại, có lẽ vì sự trắc trở ấy đã khiến cho hai tâm hồn xao động nên ý thơ mới ngùn ngụt, hồn thơ mới dạt dào, và tình thơ mới lai láng đến thế.  Lòng rộn ràng với những ý nghĩ tò mò đầy thú vị đó, tôi vội buông bỏ tất cả mọi thứ bận rộn đời thường để mở tập thơ ra mà nghiền ngẫm, mà thưởng thức một cách… “triệt để.”

Thấy bài thơ đầu tiên “ANH VÀ 2019” là của thi sĩ Cao Mỵ Nhân, tôi cười thầm trong thích thú. Nhà thơ Trịnh Cơ hiện đang sống ở phương Tây nên thực hiện đúng cái câu “Lady’s First,” phụ nữ luôn ưu tiên số một, để nhường nữ thi sĩ “ra tay trình làng” trước, chứ không phải như phong tục Á Đông mình, đã xem thường thân phận cánh quần thoa, lại còn cho là “Phụ nhân nan hóa,” phụ nữ không dễ gì dạy dỗ, cảm hóa được, và mỗi khi ra đường, người đàn bà thường phải đi phía sau để cho phù hợp với câu “Núp bóng tùng quân” cổ hủ.

Bài đầu tiên trong thi tập, “ANH VÀ 2019,” là bài thơ Lục Bát Cao Mỵ Nhân viết lúc đón Giao Thừa, khi thi sĩ đang ngồi cùng “người ấy” (hay tưởng tượng có người ấy ngồi cùng) nhìn TV chờ đếm phút quả cầu Chào Mừng Năm Mới vỡ tung, nhưng trong lòng không có chút hơi hướm mừng vui hạnh phúc vì được đón Giao Thừa, mà lại chứa đựng ngập tràn tâm tư sầu nhớ.  Hình ảnh sống động nhất tác giả cho thấy trong bài thơ, là nữ thi sĩ đưa tay chặn lên trái tim lúc trái cầu sắp vỡ và nhìn vào TV thấy trời đêm rõ ràng nhưng lại không thấy cố quốc nơi đâu. Nỗi niềm thương nhớ về quê Mẹ Việt Nam trong thời điểm giao Xuân của người con ly hương đã gói trọn vào mấy câu thơ làm xao động lòng người:

“Ở đây không có… Việt Nam

Quả cầu quê mẹ cơ hàn héo khô

Trái tim thất nhịp mơ hồ

Đêm đen đổ xuống nấm mồ giao xuân…” (Anh Và 2019 – CMN – tr. 12)

Người ta nói, thơ Lục Bát dễ làm nhưng làm rất khó hay, và họa thơ Lục Bát thì lại càng không dễ. Chữ nghĩa cần phải lưu loát mượt mà, ý tứ phải sâu xa, và vần điệu phải phù hợp mới là một bài họa hấp dẫn khiến độc giả chăm chú thưởng thức; và quan trọng nhất là, phải tránh tình trạng làm thơ Lục Bát đọc lên nghe như…ca dao, khiến người ta chỉ lướt phớt qua rồi đánh giá bài họa có đúng vần đúng luật hay chăng.  Ở đây chúng ta có thể thấy nữ thi sĩ Cao Mỵ Nhân gặp phải “Kỳ phùng địch thủ.” Nhà thơ Trịnh Cơ đã gom được đủ các yêu cầu ấy trong bài họa “2019 ĐỐI MẶT.”  Chưa kể đến những đối đáp xướng họa khá lý thú trong khổ thơ đầu về chuyện cả hai mơ ước cùng ngồi bên nhau, cùng đưa tay đặt lên tim khi nhìn TV trong giờ Giao Thừa chỉ thấy bầu trời đêm, và đôi bên người thì “xin còn mãi nhau,” kẻ hứa “sẽ còn với nhau,” xin mời quý vị cùng thưởng thức vế họa tuyệt vời của thi sĩ Trịnh Cơ, cũng bày tỏ cái tâm trạng đau buồn vì mất quê hương trong giờ Trừ Tịch cùng với thi nhân:

“Nhìn kỹ… đâu có Việt Nam

Đêm đông lạnh lẽo nỗi hàn lạnh khô

Cây kim đếm nhịp đồng hồ

Như là đưa tiễn đến mồ ngày Xuân” (2019 Đối Mặt – TC- tr. 13)

Tiếp theo, trải dài, xuyên suốt hơn phân nửa tập thơ là phần xướng họa “Cao Mỵ Nhân & Trịnh Cơ.  Hai thi nhân với hồn thơ lai láng cứ thế mà thoải mái vung bút trải vần, xướng họa với nhau, chữ nghĩa giao duyên, ý tình hòa điệu, phát họa lên những đường nét sống động, bừng sáng từng chữ từng câu trên từng trang sách gọi mời, khiến cho người đọc mãi mê theo tiếp hết bài này sang bài khác, không thể dừng lại.  Mời bạn hãy xem, bài Lục Bát 4 câu rất mượt mà “Bên Đó” của Cao Mỵ Nhân với những lời than làm nhói lòng người:

“Sao mưa lại lạnh trời thu

Khiến người bên đó thương ru bên này

Mưa đêm thấm ướt hồn say

Người bên đó ngó mưa bay thẫn thờ…” (Bên Đó – CMN – tr. 14)

Thì tiếp theo ngay, bài họa “Bên Này” của Trịnh Cơ cũng làm cho trái tim ai trật nhịp:

“Giọt mưa rỉ rả đêm Thu

Nhớ người bên đó lời ru luống này

Mơ màng trong giấc mộng say

Nửa đêm nghe tiếng lá bay ơ thờ.” (Bên Này – TC – tr 15)

Thơ Lục Bát đã hay đến vậy, đọc những bài Đường Thi xướng họa của hai nhà thơ lão thành càng khiến tôi như bị lạc vào “mê hồn trận.” Đọc một hồi những bài thơ kế tiếp, tôi đột nhiên…nín thở, khi mắt chạm vào bài thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú “Mảnh Trăng Thơ” của thi sĩ Cao Mỵ Nhân.  Chỉ hai câu mở đầu thôi đã có thể nói là tuyệt tác, và tôi bị chấn động tận tâm can, “Từ lâu, để mực đọng nghiên vàng/Bút cũng âm thầm ngại điểm trang.” Một sự ví von tuyệt hảo! Lời lẽ tuy đơn giản nhẹ nhàng nhưng thật thâm thúy, làm cho người đọc cảm nhận được đây là những tiếng than xé lòng của kẻ cô đơn. Mực đã bị bỏ đọng bơ vơ ở nghiên vàng, thì bút còn điểm trang để làm gì cơ chứ! Hai cặp đối cũng thật tuyệt vời, nhưng tôi phải giữ lại để cho độc giả tự mình thưởng thức mới là thú vị.  Chỉ xin chia sẻ cùng quý vị nơi đây hai câu kết, vì hai câu này đã làm tăng thêm phần đặt sắc cho bài thơ. Bơ vơ thì mặc bơ vơ, tác giả tự nhủ, ta cứ vui cứ đối bóng với thơ, để rồi còn tìm cách bay theo trăng để đi xé nửa cái thiên đàng đã mất. Tự cổ chí kim, chỉ mới có Thi Tiên Lý Bạch đời Đường bên Tàu nhảy xuống sông để vớt trăng lên, giờ đây lại có thi nữ Việt là Cao Mỵ Nhân đòi theo trăng đi xé nửa cái thiên đàng. Những điều kỳ thú ngoạn mục như vậy chỉ có những nhà thơ “siêu việt” mới tính làm, hoặc nghĩ ra!

“Thì cứ cùng thơ vui đối bóng

Theo trăng đi xé nửa thiên đàng.” (Mảnh Trăng Thơ – CMN – tr. 73)

Riêng bài họa của nhà thơ Trịnh Cơ “Nhớ Cảnh Trường Xưa” trong trường hợp này, tuy không đáp ứng với ý nghĩa của bài xướng, mà chỉ là họa nương vận, nhưng cũng phải kể là một bài họa hay.  Trong khi bài xướng của Cao Mỵ Nhân chứa đầy lãng mạn về tình yêu nam nữ, than thở với bút nghiên, với trăng và thơ, thương mây khóc gió cho sự bơ vơ…, thì bài họa của Trịnh Cơ cũng tràn ngập sự nhớ nhung tiếc nuối, nhưng mà là nhớ về tình yêu đất nước, về một thời được đào tạo dưới mái trường quân đội với những bước chân “ắc ê” gọn gàng, và những chuyến hải hành bảo vệ quê hương. Để rồi cuối cùng thi sĩ thốt lên tiếng than:

“Nước non xả tắc thời vi diệu

Nay chẳng còn đâu chốn địa đàng.” (Nhớ Cảnh Trường Xưa – TC – tr. 74)

Bài thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt vận trắc “Nỗi Buồn Vô Cớ” của thi nữ Cao Mỵ Nhân dưới đây cũng đưa người yêu thơ vào một khung trời đầy mộng ảo, “Có những nỗi buồn vô cớ lắm/Mà sao thổn thức đến trăm năm.” Đã làm người thì ít nhiều gì ai cũng có những tâm sự thầm kín. Chắc độc giả sẽ đồng cảm khi được nhà thơ “nói giùm” giải bày giùm cho những băng khoăn, những nỗi buồn âm ỷ đang giấu giếm trong lòng, và sau cùng thì …xúi người ta thổ lộ:

“Thì cứ tự nhiên ngồi thổ lộ

Tỏ bày như chẳng có chi ngăn

Tỏ bày tình tiết sầu thương đó

Khổ luỵ trong tim nức nở thầm…” (Nỗi Buồn Vô Cớ – CMN – tr. 93)

Và để đáp lại nỗi niềm của thi nhân, Trịnh Cơ đã họa bài “Buồn…Cũng Vậy Thôi” thật duyên dáng trữ tình, để bày tỏ với đối phương, rằng thì là bên nớ chỉ có những nỗi buồn, nhưng bên ni là cả vạn điều buồn, chúng cứ mãi đong đưa trên hố thẳm, rồi “Khi sầu khi chán lại như câm” mà thi nhân không thố lộ nên nào ai hay biết,“Ta giữ trong tim không hé lộ/Ai nào có biết để can ngăn…”(Buồn…Cũng Vậy Thôi – TC)  Đây quả thật đúng là tri kỷ.

Đặc biệt, bài thơ thể tự do Ngũ Ngôn “Viết Sau 10:00 PM” của Cao Mỵ Nhân cũng làm tôi xao xuyến. Nhà thơ đã trải lòng, trút cạn nhớ nhung vào thơ lúc 10 giờ khuya, cùng tâm sự với những con chim biển cũng đang cô đơn giữa màn đêm, và nghe được chúng thốt lên những tiếng kêu thầm hò hẹn trong tuyệt vọng.

“Em cũng như chim biển

Cô đơn giữa thế gian

Chim kêu thầm hò hẹn

Nỗi u tình chứa chan…” (Viết Sau 10:00 PM – CMN – tr. 125)

Người ta nói “Thần giao cách cảm” có lẽ chính xác nhất để dùng trong trường hợp này.  Thì ra từ chốn xa xăm chàng thi nhân kia cũng đâu có ngủ được lúc 10 giờ đêm. Ta hãy nghe Trịnh Cơ tâm sự cùng nàng thơ nơi viễn xứ trong bài họa “Đêm Về”, “Tiếng chuông gõ 10 giờ/Sao cứ còn thương nhớ,” và “trần tình” rằng vì thi sĩ vẫn còn yêu biển, yêu nguồn vui thế gian, nên đã quên lời hẹn ước, tuy vậy tình yêu say đắm thì vẫn mãi chan hòa:

“Ta vẫn còn yêu biển,

Nguồn vui giữa nhân gian,

Cứ quên lời ước hẹn.

Tình yêu vẫn hòa chan…” (Đêm Về – TC – tr. 127)

Qua nhiều năm cùng theo đòi xướng họa trong các diễn đàn thơ, tôi đã thưởng thức đủ các thể loại mà nhà thơ Cao Mỵ Nhân đã sáng tác. Bài thơ 8 chữ “Trái Tim Lửa” này cũng là một trong các bài thơ tự do đặc sắc của thi nữ. Lúc này trái tim yêu của thi nhân hừng hực bốc cháy vì tình, cho nên mặc kệ những chông gai, mặc kệ bao trở ngại, nàng thơ chỉ thấy “Xuân sẽ đến bốn mùa đều tươi thắm/Đẹp hồn ta đang bốc cháy hoang sơ.” Thông điệp gửi đi cho người trong mộng thật dạt dào, chất chứa ngập lụt say mê, chờ đợi chỉ cần một tiếng hót khẽ của loài chim quý là sẽ được cả trái tim nàng:

 “Nhưng Chim Quí một lần thôi hót khẽ

Ta tặng người nguyên vẹn trái tim thơ…”(Trái Tim Lửa – CMN – tr 136)

Đáp lại khối tình “bốc lửa bốc khói” này, chàng thi sĩ cũng đâu có kém. Bài họa “Về Nghe Cô Đơn” của Trịnh Cơ càng chất chứa lắm nỗi niềm. Chàng còn “bạo gan” nhắc lại chuyện xưa, cái thuở cùng nhau bàn tính “Chuyện ngày ấy bàn về ăn trái cấm/Ở Thiên Đường cây đẹp, lá nghiêng chờ.” Nhưng cuối cùng rồi mấy lời trách cứ cũng được trao lại cho ai kia:

Nhìn xuống dưới, âm thầm rơi giọt lệ

Lụy trần ai khiến ta phải ơ thờ

Quay trở lại hầu nghe lời kể lể

Tình bay xa, còn lại mấy câu thơ… (Về Nghe Cô Đơn – TC – tr.137)

Sự sắp xếp trong thi tập này thật là thú vị, quá bán trong phần đầu là những bài thơ Cao Mỵ Nhân xướng – Trịnh Cơ họa.  Đọc một hơi, thưởng thức hết phần đầu thì tiếp theo phần sau đổi ngược lại Trịnh Cơ xướng – Cao Mỵ Nhân họa.  Dòng thơ trữ tình, mượt mà, nhưng lại chất chứa nhiều nỗi niềm riêng của thi sĩ Trịnh Cơ lâu nay cũng rất được các nhóm xướng họa bạn bè chúng tôi yêu thích, không kém gì nữ sĩ Cao Mỵ Nhân. Thi sĩ Trịnh Cơ rất “có duyên” với thơ tứ tuyệt, lời thơ giản dị không gút mắc, nhưng ý tứ rất phong phú, làm xúc động người đọc, cho nên thơ của anh cũng đã được nhiều người đáp họa. Bài thơ “Biết Đâu” đong đầy cảm xúc của Trịnh Cơ sau đây khiến những người đang yêu phải chạnh lòng xót xa. Chàng cùng người ấy lâu lâu mới gặp một lần, nhưng có nỗi đau nào hơn khi “Nụ hôn vừa dứt rồi ly biệt/Ở cuối chân trời giấc mộng tan.” Sự xa cách như thế đã khiến cho nhà thơ e ngại. Chúng ta hãy đọc những lời lo âu khắc khoải của chàng, “Đâu biết lần này sẽ gặp nhau/Còn yêu tha thiết tựa ban đầu?” và:

“Hay là hờ hững như người lạ

Để lại cho anh cả mối sầu!” (Biết Đâu – TC – tr. 155)

Và thú vị vô cùng, nàng thơ Cao Mỵ Nhân đã vội vàng đáp lại bài họa ngọt ngào, “Đành Thôi” với những lời cảm thông, trần tình, vỗ về “ai kia,” bỡi vì không hợp mới tan, “Kẻ ở người đi ôi giã biệt/Bởi không hợp được mới đành tan.” Và:

“Hoàng hôn cũng nguội theo tình lạ

Tuổi tác đầy thêm mộng mị sầu…” (Đành Thôi – CMN – tr. 156)

Bài thơ “Có Ai” của thi sĩ Trịnh Cơ tiếp theo đây nói lên nỗi niềm cô độc làm cho người ta phải xót xa. Một người có cuộc sống mà muốn “Nói chuyện… tâm tình chẳng có ai/Đêm đêm trằn trọc suốt canh dài” thì quả là buồn vô kể. Lời thơ như nức nở, ý thơ như trách móc ai đó sao nỡ đành “bỏ ta một mình,” và một chút ước mơ được có người bên cạnh:

“Bởi ta đang sống đời hiu quạnh

Thiếu vắng ai bên cạnh, đỡ sầu.” (Có Ai – TC – tr. 157)

Tuyệt thay, đàng này bài “Có Ai” của Trịnh Cơ than thở bị bỏ cô đơn, thì đàng kia, Cao Mỵ Nhân đã trải lòng cảm thông thay cho “ai đó” của nhà thơ, bằng bài họa “Vẫn Ông” rất duyên dáng, thêm chút dí dỏm, nhưng có thể thấy trong lời thơ ẩn hiện chút …hờn ghen nhè nhẹ rất dễ thương. Bởi vì ngày xưa bay bướm quá, đa đoan quá, có cả chục giai nhân quanh mình, cho nên bây giờ…ráng chịu chứ than thở mà làm chi:

“Giờ thì đầu bạc trắng hơn xưa

Cả chục giai nhân bỗng ngó hờ

Bởi lẽ đa đoan nên khổ luỵ

Đâu còn thanh thản mà làm ngơ”(Vẫn Ông – CMN – tr. 158)

Thi sĩ Trịnh Cơ từng là một sĩ quan Hải Quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Bài thơ “Lời Cuối” của anh tôi đọc mà rưng rưng cảm phục. “Tôi chết đi… xin chớ phủ cờ.” Đây là lời di chúc, dặn lại khi thi sĩ mất đi thì không nên phủ cờ Quốc Gia như bao người vẫn làm lâu nay nơi hải ngoại.  Dù vận nước đảo điên là do thế cuộc tạo nên, chứ quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa chúng ta thuở ấy vẫn một lòng chiến đấu rất anh dũng, thi sĩ vẫn cho rằng mình không làm tròn viêc giữ nước nên không xứng đáng, mà chỉ có những người vị quốc vong thân mới xúng đáng được phủ cờ:

“Phủ cờ cho kẻ đáng tôn vinh

Ngã gục thân trai, hiến phận mình

Bỏ mạng sa trường cho đất nước

Đã bao cay đắng lúc đăng trình…” (Lời Cuối – TC – tr. 169)

Nhà thơ Cao Mỵ Nhân cũng từng là một sĩ quan QLVNCH. Cho nên bài họa “Vàng Sắc Nhớ” của chị là một đồng cảm, kiêm ý trách móc những kẻ đã bỏ lại thành xưa bóng cờ tổ quốc, nhưng rồi lại quên bẳng đi, để mãi lơ ngơ với dáng vẻ phạc phờ của người không biết đâu là quê hương. Dù ai có quên, nhưng nhà thơ thì vẫn nhớ,

 vẫn giữ lại vuông cờ khi giã từ trận mạc:

“Giã từ trận mạc giữ vuông cờ

Hiu hắt vàng hong nắng nhuộm tơ

Bạn hỏi buồn thương xa đất tổ

Chứa chan tình nghĩa chẳng phai mờ…” (Vàng Sắc Nhớ – CMN – tr.170)

Bài thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú của nhà thơ Trịnh Cơ “Tàn Đông” là một bài thơ buồn, nhưng chữ nghĩa lại xôn xao tràn đầy cảm xúc. Đó là nỗi u buồn bất chợt, chính thi sĩ cũng “Không biết vì đâu cảm thấy buồn.” Hai câu thực đã làm cho hồn tôi xao xuyến. Cái hình ảnh sống động trước mắt với đàn chim rét mướt bay vật vờ về tổ, và con suối thì chênh chao khi nhớ lại cội nguồn, diễn tả một tâm trạng đau thương khiến cho những kẻ ly hương, tan tác vì mất nước như tôi càng thêm nhói cả cõi lòng:

“Đàn chim rét mướt bay về tổ

Con suối chênh chao nhớ lại nguồn”(Tàn Đông – TC – tr. 185)

May mắn thay, nhà thơ Cao Mỵ Nhân đã…cứu bồ bằng bài họa “Paris Buồn” giúp tôi có thêm “sinh khí,” tươi tắn lên một chút để tôi khỏi “đổ thừa” thi sĩ Trịnh Cơ đã làm cho lòng tôi héo úa khi sắp kết thúc bài viết này.  Cao Mỵ Nhân đã an ủi “người ta” là tại vì Paris quá lãng mạn mới khiến cho buồn, chứ thực ra thì mùa đông đã tàn, tuyết cũng tan chờ Xuân đến:

“Chim én mừng xuân tươi sắc cội

Tao nhân đón khách lộng thơ nguồn..” (Paris Buồn – CMN – tr. 186)

Tới đây thì tôi xin phép được tạm dừng vì bài viết đã khá dài. Thực ra thì còn nhiều, nhiều lắm những bài tình thơ có thể nói là tuyệt tác trong thi phẩm “Xướng Họa” của nhị vị Cao Mỵ Nhân và Trịnh Cơ.  Điều tôi muốn nói ở đây là “cặp bài trùng” này quá ư tuyệt vời trong các thể thơ xướng họa. Họ đã quá hoà hợp, quá “nhập vai,” nhâp vai trong việc trải lòng như là tâm sự của chính một đôi trai tài gái sắc từng yêu nhau, bị trắc trở, và rồi khi gặp lại thì đã muộn màng nhưng hồn thơ vẫn còn réo rắc, chứa đựng ngập tràn nỗi nhớ, niềm thương. Cho nên xuyên suốt thời gian từng bước đọc thơ và ghi lại cảm nhận của mình, Phương Hoa tôi cũng đã “nhập vai” trong cái cảm xúc họ là “một đôi” thật sự. Nếu sự thật hai người trước đây chưa từng yêu nhau, chưa bao giờ quen biết nhau, mà đây chỉ là “bình thủy tương phùng” trên những dòng thơ xướng họa nơi hải ngoại rồi trở thành bạn thiết, thì quả là thi tài của họ đã lên đến đỉnh cao, nguồn tình thơ quá lai láng dạt dào.

Cuối cùng, thi tập “XƯỚNG HỌA” của hai nhà thơ Cao Mỵ Nhân và Trịnh Cơ là một tác phẩm văn học có giá trị, chẳng những rất đáng đọc, mà cần phải đọc thật kỹ mới thưởng thức hết những cái hay cái đẹp cái ý cái tình của mỗi một bài thơ. Tôi tin rằng quý vị sẽ thích thú với sự phong phú chữ nghĩa của những bài thơ tình thật ngọt ngào, thật lãng mạn, trong tập thơ này.

Xin trân trọng kính giới thiệu cùng với quý độc giả thi tập “XƯỚNG HỌA” của Cao Mỵ Nhân & Trịnh Cơ.

 Muốn mua sách Xin Liên lạc Tác giả:

Trịnh cơ – Cao Mỵ Nhân

trinhco@gmail.com

caomynhan91@yahoo.com

Liên lạc Nhà xuất bản:

Nhân Ảnh

han.le3359@gmail.com

(408) 722-5626

Phương Hoa – Miền Bắc California




Xin giới thiệu với quý vị “TẬP THÁI CỰC DƯỠNG SINH”- Đỗ Quang Vinh

Đỗ Quang Vinh




VIPASSANA: Môn Thiền Cho Mọi Tôn Giáo – “MÙA XUÂN NỞ HOA TRONG TÔI” – Tác giả Phương Hoa. (Update thêm “Tranh Thiền Ngôn” của chủ tịch VTLV Lê Văn Hải & Cảm Nhận Và Chia Sẻ Ý Nghĩa Về Thiền Của nhà thơ Lê Tuấn)

Tranh và “Thiền Ngôn” (trên) của Chủ Tịch VTLV Lê Văn Hải

Bạn có từng than vãn, “Đời là bể khổ?”

Bạn có bao giờ đi tìm kiếm sự bình yên cho tâm hồn?

Bạn đang bị căng thẳng vì cuộc sống tất bật, vì gia đình, hay vì tình yêu?

Bạn muốn thoát khỏi khổ đau và tìm hạnh phúc thực sự cho đời mình?

Mời bạn theo dõi bài ký sự dưới đây. Tác giả nhờ có duyên may tìm được giải pháp cho sự an định thân tâm, để có thể gạt bỏ những “hỉ nộ ái ố” của đời thường, và biến mình trở thành một người hoàn toàn mới. Xin chia sẻ lại những kinh nghiệm và thành quả này như là món quà Xuân tặng quý bạn đọc trong Năm Mới Kỷ Hợi, để bạn “nhâm nhi” cùng bánh mứt trong ba ngày Tết, và biết đâu từ đó bạn có thể tìm được hướng đi mới, tìm được niềm an lạc và hạnh phúc thật sự cho đời mình.

****

“Người tràn đầy năng lượng. Đầu óc thanh thản. Tâm bừng sáng. Bước chân lâng lâng. Tinh thần vững như… bàn thạch.”

Đó là những gì bản thân tôi cảm thấy, khi đứng dậy từ thiền đường sau buổi tịnh tọa cuối cùng của khóa thiền 10 ngày Vipassana, tại trung tâm Dhamma Delaware. Nhìn quanh, các bạn thiền sinh khác cũng lục tục đứng lên, người cầm gối chêm, kẻ ôm bồ đoàn, người gấp khăn choàng, mặt mũi ai nấy đều đầy vẻ hân hoan, nhìn tươi roi rói.

Để có được cái kết quả như vừa nói, chúng tôi đã chăm chú tôi luyện suốt cả 10 ngày. Nói thật quý vị nghe, với cái lưng bao năm bị “xi cà que”, trước kia tôi ngồi chừng hơn nửa tiếng đồng hồ đã là khó chịu. Vậy mà suốt khóa học, tôi vào thiền đường ngồi cả chục giờ mỗi ngày, dù chỉ bắt buộc có ba giờ ngồi thiền chung cả lớp, và một giờ pháp thoại vào buổi tối. Những giờ khác ai muốn ngồi trong thiền đường hay tịnh tọa tại phòng mình cũng không sao. Tuy nhiên, thiền đường lúc nào cũng kín chỗ vì ít người muốn ngồi một mình.

Về phòng cất dụng cụ xong tôi đi qua nhà ăn. Trong suốt khóa tu, chúng tôi được dạy mọi vật đều vô thường, sinh diệt, sinh diệt… Cho nên, có niềm vui không bám víu, có nỗi buồn không chán ghét để làm khổ tâm mình, vì tất cả sinh ra rồi cũng sẽ diệt đi. Vậy mà lúc này đây trong tôi vẫn dâng lên đầy ắp niềm vui không thể kềm nén. Thôi thì tôi tự cho tôi… phá giới một lúc, khi về nhà sẽ tiếp tục thực hiện theo lời thầy. Hôm nay là ngày kết thúc “Sự Im Lặng Thánh Thiện”. Tôi sắp được mở miệng nói chuyện cùng các bạn thiền sinh, và nhất là tìm xem ông xã tôi có khỏe hay không. Mấy bữa trời mưa, trong thiền đường có tiếng nhiều người ho và sịt mũi bên phía thiền sinh nam, mà lọ thuốc Tylenol chuẩn bị sẵn lại nằm trong hành lý của tôi, nên dù cố gắng tập trung, mỗi lần nghe tiếng ho ai đó có âm vang giông giống ông ấy thì tôi lại bị phân tâm hết một chốc. Nhưng tôi không biết làm cách nào đưa lọ thuốc cho “chàng” phòng khi cần đến. Mười ngày qua, mọi người “im hơi lặng tiếng”, nam nữ cách biệt, tịnh thân, tịnh khẩu, tịnh ý, thiền sinh được yêu cầu không tiếp xúc hay nói chuyện với bất cứ ai, kể cả ra dấu, nhìn, nhắn tin, hoặc ghi chép, dù chồng vợ hay người nhà hay bạn thiền cùng phòng. Tất cả thiết bị điện tử, cell phone, máy tính, iPad, bút mực, sách vở đều phải giao nộp cho trung tâm cất giữ, để thiền sinh không bị phân tâm trong suốt thời gian hành thiền.

Cho đến giờ, tôi vẫn như chưa tin được cái nhân duyên đã đưa chúng tôi đến với pháp môn Vipassana quý báu này. Số là mấy năm gần đây sức khỏe nhà tôi không ổn. Cái chứng Vertigo đã làm cho ông khốn đốn, lâu lâu đầu óc quay mòng mòng rồi ngã cái đùng bất tỉnh nhân sự khiến tôi bao phen mất vía. Bác sĩ Kaiser nói đó là chứng bệnh già, khi nó đến với ta thì phải “sống chung hòa bình” suốt đời với nó, vì không có thuốc gì chữa khỏi chứng bệnh này. Cho nên ông ấy bắt đầu nghiên cứu về thiền định để giúp tịnh tâm, an ổn thần kinh, và giữ gìn thân tâm an lạc. Tôi “nối gót theo chàng” cùng nhau tìm hiểu, vì tôi cũng muốn học thiền để giữ gìn sức khỏe, cho đầu óc minh mẫn và tinh thần nhẹ bớt những sầu muộn lo âu. Chúng tôi đã nghe rất nhiều về thiền Vipassana. Nhưng càng tìm hiểu lại càng như bị “tẩu hỏa nhập ma” vì có quá nhiều nơi nhiều chỗ dạy thiền Vipassana nên chẳng biết làm sao mà chọn.

May mắn đến, tôi tìm ra trang web của trung tâm Vipassana Meditation. Pháp môn này do thiền sư S. N. Goenka giảng dạy. Người là đệ tử truyền thừa của đại thiền sư Sayagyi U Ba Khin người Miến Điện. Theo lịch sử từ trung tâm, Vipassana là môn thiền cổ xưa nhất ở Ấn độ mà Đức Gotama (Phật Thích Ca) tìm thấy lại từ hơn 2500 năm về trước và gom góp những tinh túy mà ngài đã thực hành giảng dạy cho chúng sinh trong 45 năm. Thời kỳ Đức Phật còn tại thế, thiền Vipassana đã cứu rỗi biết bao người đủ mọi thành phần xã hội Ấn Độ thoát khỏi khổ đau.

Điều gây ấn tượng tốt cho ông xã tôi chọn môn thiền này, là Vipassana của thiền sư Goenka không bắt buộc thiền sinh phải lệ thuộc vào một tôn giáo hay tông phái nào. Trong gần năm chục năm, thiền sư Goenka đã truyền bá Vipassana ra gần cả trăm quốc gia trên thế giới, Trung Hoa, Nga, Hoa Kỳ, Cuba, Tây Bá Lợi Á, Úc Châu, Việt Nam, Thụy Sĩ, và hàng chục trung tâm ở Bắc Mỹ. Ngài đã được mời phát biểu tại những diễn đàn nổi tiếng, như Hội Nghị Thượng Đỉnh Thiên Niên Kỷ Thế Giới tại Liên Hiệp Quốc, Hội Nghị Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Switzerland…Và mặc dù thiền sư viên tịch cách đây 5 năm, hiện Hoa Kỳ và các nước thiền Vipassana vẫn phát triển mạnh với nhiều trung tâm đang được dự tính xây thêm vì số người chờ ngày càng đông. Còn nữa, trọn khóa học thiền sinh phải trường trai (ăn chay suốt những ngày ở đây – ngày thường ở nhà tùy ý), tuân theo năm giới cấm: không sát sanh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ, và chất gây say nghiện, là những giới cấm giữ gìn đạo đức. Đặc biệt với pháp môn này, thiền sư Goenka chỉ giảng dạy duy nhất một điều, là giúp thiền sinh tự mình thanh lọc thân tâm để thoát khỏi khổ đau, để được hạnh phúc mãi mãi. Chắc chắn đây phải là một phương pháp thiền rất tốt. Nhà tôi nói.

Phần tôi thì sở thích có hơi…ngộ nghĩnh. Điều thú vị nhất, hấp dẫn tôi nhất, lại là cái ý tưởng độc đáo “Sự Im Lặng Thánh Thiện” trong suốt khóa thiền. Chưa chi tôi đã cảm thấy hồi hộp. Chẳng biết cảm giác mình sẽ như thế nào khi 10 ngày không mở miệng nói chuyện, không điện thoại, vi tính, hay ghi chép, là những việc tôi làm hằng ngày. Sở thích viết lách đã khiến tôi từ bé vốn rất e thẹn và sợ đám đông, khi lớn lên trở nên một người dạn dĩ lúc nói trước công chúng, và luôn trò chuyện xã giao với người chung quanh để tìm đề tài cho các bài viết của mình. Giờ đây phải “án binh” khép miệng đến những 10 ngày. Tôi có làm được không đây?

Điều nổi trội nữa làm chúng tôi thích, là số người đến với Vipassana gồm đủ các tôn giáo, nhiều vị tăng, ni cô, linh mục, ma-sơ, cư sĩ, đã thực tập Vipassana thành công. Có một câu trong bài giảng tại Thụy Sĩ năm 1980 của thiền sư S. N. Goenka tìm thấy trên internet làm chúng tôi xúc động, “Bệnh là bệnh chung, do đó thuốc chữa phải là thuốc chữa chung. Ví dụ, khi chúng ta nóng giận, sự nóng giận này không phải là sự nóng giận của người theo Thiên Chúa Giáo hoặc Hồi Giáo, sự nóng giận của người Trung Hoa hoặc người Mỹ. Tương tự, sự thương yêu và lòng từ bi không dành riêng cho bất cứ một sắc dân hoặc một nhóm người nào.”

Nhà tôi quyết định xong, tôi vô trang web ghi danh. Các trung tâm thiền dạy bởi ngài Goenka ở Hoa Kỳ hằng tháng đều mở mấy khóa Anh Ngữ 10 ngày cho người lớn, trẻ em, và sinh viên học sinh, có cả Vipassana tại những trung tâm cải huấn cho các tù nhân nữa. Về tiếng Việt thì hiện tại có 6 trung tâm Vipassana, mỗi năm mở ít nhất một khóa thiền song ngữ Anh Việt ở Toronto, Canada, Delaware, Georgia, Texas, Bắc và Nam California. Delaware và Toronto cũng có các khóa học với thông dịch viên tiếng Việt. Chúng tôi tiếc hùi hụi, vì người ta đã biết pháp môn này từ mấy chục năm nay, mà mình đến giờ mới biết. Cả Hoa Kỳ khi ấy chỉ có trung tâm Dhamma Delaware là còn chỗ trống cho khóa Anh Việt. Gì chứ học thiền thì phải nghe bằng chính ngôn ngữ của mình mới thấu hiểu hết những tinh túy của pháp môn. Ghi danh xong tôi book vé máy bay rồi hồi hộp chờ ngày lên đường.

Trung tâm Vipassana còn chu đáo lo cả việc giúp đưa đón thiền sinh. Ai ở xa đi máy bay, tàu lửa, Greyhound, sẽ được những thiện nguyện viên đến đón ở phi trường và các trạm. Những người ở lân cận có thể được sắp xếp đi chung xe. Tôi vô mục “đi chung xe” và nhờ đón chúng tôi ở phi trường. Vì ở xa, tôi xin đến sớm một ngày cho khỏi bị trễ giờ khai giảng khoá học vào 5g chiều hôm sau và được trung tâm đồng ý.

Khi người phục vụ đến phi trường Philadelphia đón vợ chồng tôi, trên xe đã có sẵn hai vị sư cô, một đến từ California, và một từ Washington. Anh thiện nguyện viên rất nhiệt tình và thân thiện, đã giới thiệu và giải thích cho chúng tôi những danh lam thắng cảnh, các di tích lịch sử của Philadelphia và Delaware cùng những nơi thuộc về lịch sử Độc Lập của Hoa Kỳ mỗi khi xe chạy ngang qua. Thật là được một dịp cho chúng tôi “mở mắt”.

Xe dừng trước cổng thiền viện. Tấm bảng nhỏ ghi “Dhamma Delaware Center” được dựng khiêm nhường bên cạnh khóm hoa vạn thọ, nhưng nhìn vào bên trong thì sâu hun hút, ngút ngàn với nhiều cây xanh cao tốt giống như một khu rừng thiên nhiên. Mọi người xuống xe. Tôi hít thở một hơi thật sâu để rũ bớt bụi đường. Người tài xế bước lại mở cổng. Đột nhiên tôi cảm giác như có một nguồn năng lượng đặc biệt rung động từ bên trong tỏa nhẹ ra làm cho tâm trạng thật là dễ chịu, thật ấm áp. Và tôi quên hết bao mệt nhọc của chuyến bay dài.

Không chỉ mình tôi, sư cô QD cũng có vẻ xúc động khi bước vào cổng nhìn thấy quang cảnh thoáng mát, trang nghiêm, và yên tĩnh của trung tâm thiền.

– Chỉ bước đến đây, đã cảm thấy bầu không khí đầy vẻ thiêng liêng rồi! Cô buột miệng.

Chúng tôi được chiêu đãi một bữa tối thịnh soạn với món phở chay độc đáo. Ăn xong chúng tôi đi nhận phòng ở tạm một đêm rồi mai mới chính thức được sắp xếp. Sự yên tĩnh và khung cảnh trang nghiêm có chút hoang dã núi rừng với tiếng côn trùng rỉ rả xen lẫn tiếng gió vi vu từ rừng cây xung quanh đã giúp tôi có một giấc ngủ thật đầy, thật ngon không mộng mị, dù thường ngày tôi hơi khó ngủ và giờ giấc giữa Cali, miền Đông khác nhau đến 3 giờ.

Tôi thức giấc giữa tiếng ríu rít của chim chóc bên ngoài cửa sổ. Nằm sấp người lại một cách lười biếng, tôi vẹt rèm nhìn ra. Nắng đã lên, rừng cây xanh lay động dịu dàng vì những cơn gió nhẹ thổi qua mơn man cành lá. Trên thảm cỏ xanh tươi xen lẫn vài cây rau mã đề hoang dại, vài chú sóc xinh xắn vểnh cong cái đuôi như một vòng cung bông lau chúi mũi xuống đất dùng hai chân trước miệt mài đào bới. Khi vớ được chiếc nấm dại hay thứ gì đó, sóc ta ôm chặt lấy rồi đứng dựng lên cho vào mồm gặm lia gặm lịa. Trông thật là dễ thương, nhàn nhã và an bình. Đây quả đúng là chốn để tịnh tâm.

Vì đến sớm, ba người chúng tôi rảnh nguyên một ngày. Vì chưa khai giảng, chưa vô khuôn khổ, chúng tôi rủ nhau đi bộ ra cổng, vòng quanh khu vực trung tâm, trước thể dục sau “thăm dân cho biết sự tình”. Buổi sớm mai không khí thật mát mẻ trong lành. Ba người vừa chậm rãi đếm bước vừa hít thở theo kiểu thiền hành. Từng dạy học cho đám nhóc tì Mỹ và dạy thể dục cho những vị cao niên ở trung tâm dưỡng lão, nên tôi có thói quen thường bước đi lắc lư theo kiểu thể dục nhịp điệu mỗi lần đi bộ thư giãn. Bây giờ đang đi cùng hai sư cô nên dù có “ngứa ngáy tay chân” muốn đánh nhịp hay bước nhanh tôi cũng phải kiềm nén lại, vì không dám tỏ ra mình… vô phép.

Nhưng có lẽ do sự từ tốn khoan thai của chúng tôi chẳng “dọa” được lũ côn trùng, nên đã xảy ra một chuyện tệ hại vô cùng. Đang đi, sư cô QD bỗng dưng la “oái” một tiếng rồi cúi xuống ôm lấy cổ chân, mặt cô tái lại với vẻ đau đớn tột cùng. Một vết đỏ nổi lên, máu tươi tươm ra từ vết cắn. Tôi thấy sư cô dù đau đến nhăn cả mặt mày cũng không hề oán thán, mà chỉ tỏ vẻ chấp nhận.

– Vậy là phải trả “cái món nợ” nào ở chốn này đây! Sư cô ôn tồn nói.

Từ chuyện cỏn con này mà tôi cảm nhận được từ tâm của bậc tu hành. Nếu là tôi, đau đến cỡ đó chắc tôi phải rủa thầm cái con bọ chết tiệt nào nỡ đang tâm chào đón tôi buổi sáng bằng một phát độc ác như thế. Tưởng là chuyện nhỏ, nhưng vết cắn đã sưng lên lan đỏ khắp cổ chân và đau đớn khiến sư cô phải đi cà nhắc hết một hồi.

Buổi chiều, các thiền sinh lần lượt đến. Trung tâm như sôi động, rộn ràng hẳn lên. Mọi người làm việc tất bật, nhưng nét mặt ai nấy đều hiện rõ nét thân thiện vui tươi. Thấy một bà cụ kéo cái vali bự bước vào, tôi đến chào. Trông cụ mệt mỏi, nhưng tinh thần lại rất vững vàng, nhìn uy nghi và đầy thần lực. Cụ ở xa, đi từ sáng sớm vì phải chuyển đổi bốn năm trạm xe, tàu điện, xe buýt, greyhound và còn đi bộ nhiều đoạn. Tôi tròn mắt thán phục khi biết đây là lần thứ năm cụ tham dự khóa 10 ngày của thầy Goenka. Cụ nói trước kia cụ rất khó tính, từng bị mổ đầu gối lắp vào thanh sắt, đau đớn khó chịu nên thường căng thẳng. Và thiền Vipassana giúp cụ tĩnh tâm, cảm thấy an lạc nên cụ liên tục tham gia. Khi vào khóa học, dù có những giờ được phép thiền tọa tại phòng khỏi vô thiền đường, vậy mà cụ vẫn luôn có mặt, chăm chú ngồi yên trên ghế. Cụ là người làm cho tôi phải nhìn vào mỗi lần có ý định bỏ cuộc.

Thủ tục ghi danh khá đơn giản. Khóa thiền cung cấp hoàn toàn miễn phí, từ nơi ăn chốn ở, đến tọa cụ bồ đoàn, cả ghế và nệm tựa lưng cho những người bị đau lưng, đau chân không thể ngồi xếp bằng. Các thiền sư phụ tá, ban điều hành và người phục vụ đều làm việc vô vụ lợi. Thiền sinh mới vô không phải đóng bất cứ món tiền nào. Sau khóa học, nếu cảm thấy hưởng được lợi lạc thì tự nguyện hiến tặng để cho người kế tiếp cùng được hưởng như mình, còn nếu không có khả năng đóng góp cũng chẳng sao.

Bắt đầu là một cuộc tiền hội nghị để ban quản trị dặn dò điều lệ và giới thiệu hai vị thiền sư phụ tá với mọi người. Thầy TĐ và cô LĐ là vợ chồng, họ đến từ Nam California, sẽ phụ tá hướng dẫn cho khóa thiền Anh Việt này. Đến tối mọi người mới được đặt chân vô thiền đường nhận vị trí có tên mình và bắt đầu khóa tu. “Noble Silence” cũng có hiệu lực từ giây phút này.

Ngày thứ nhất, ba tiếng chuông báo thức vang lên lúc 4 giờ sáng. Mọi người trờ dậy làm vệ sinh cá nhân xong là đúng 4 giờ 30, chuông báo hiệu tập trung vào thiền đường. Hai vị thiền sư phụ tá ngồi bên trên, cùng mọi người lặng im theo dõi và làm theo băng đĩa hướng dẫn của cố thiền sư Goenka. Lúc sanh tiền, thiền sư đã sắp xếp cách dạy này cho tất cả mọi trung tâm thiền trên thế giới để được thống nhất. Các thiền sư phụ tá có mặt ở đó, khi nào cần giải đáp thắc mắc cho thiền sinh về những khó khăn khi ngồi thiền, về những cảm giác mới khám phá và về kỹ thuật ngồi tịnh tọa. Tuyệt đối họ không hề giảng dạy hay thêm bớt một lời nào ngoài những bài giảng của ngài Goenka. Ngày đầu tiên cho đến ngày thứ ba, mọi người tập thở, hay là “thiền Anappana”. Chú tâm quan sát hơi thở vào ra nơi hai lỗ mũi, thở và nhận biết hơi thở đang vào ra. Đây là cách tập trung tư tưởng giúp thiền sinh phát triển khả năng chú ý.

Về tư thế ngồi, thiền sinh không cần phải ngồi theo một kiểu nào nhất định, kiểu nào cũng được, miễn cảm thấy dễ chịu, bán già, kiết già, kiểu Miến Điện chân trước chân sau, quỳ gối kiểu Nhật, hoặc ngồi trên ghế. Điều này quá là dễ dàng cho mọi người. Nhưng vì cái lưng tôi đau nên thử kiểu nào tôi cũng bị hành hạ. Cuối cùng tôi giữ kiểu kiết già mà tôi đã tập qua khi ở nhà, vì nó vững vàng hơn, giúp cái lưng tôi cân bằng hơn. Dù sau mỗi giờ thiền đều có nghỉ giải lao, chân và đùi tôi vẫn đau điếng, đôi khi tê cứng phải đổi chân liên tục. Tôi tưởng mình là “đệ nhất nhúc nhích” trong thiền đường, nhưng không, dù mắt nhắm tôi vẫn nghe rõ mồn một những tiếng sột soạt xung quanh. Đến tối, ngài Goenka có một giờ pháp thoại tuyệt vời giảng giải tỉ mỉ về ý nghĩa và lợi ích của việc quan sát hơi thở. Vì hơi thở liên hệ mật thiết với trạng thái tâm của ta, cho nên bất cứ lúc nào phiền não khởi sinh trong tâm thì hơi thở ta sẽ đổi khác, nhanh hơn và nặng nề hơn. Rồi khi sự phiền não qua đi, hơi thở sẽ ổn định trở lại. Vì vậy quan sát hơi thở ta “có thể khám phá thực tại không chỉ ở thân thể mà còn ở tâm thức nữa và làm cho nó trở nên thanh tịnh”. Nghe rất hay, nhưng sao tôi vẫn chưa thông suốt được.

Ngày thứ hai cũng còn quan sát hơi thở, nhưng chú ý của chúng tôi được hướng vào việc cảm nhận sự vào ra và nhiệt độ của hơi thở, hơi lạnh khi nó đi vào, hơi ấm khi nó đi ra. Vì sự nhức mỏi “lấn sân” cho nên dù cố gắng hết cỡ, phải “năm thì mười họa” tôi mới cảm nhận được chút xíu âm ấm ngay cửa mũi khi hơi thở đi ra.

Ngày thứ ba là tìm kiếm và tập trung vào bất kỳ cảm giác nào, như rung động, nóng, lạnh, có thể cảm nhận ở vùng tam giác bên dưới lỗ mũi, để chuẩn bị cho ngày thứ tư là bắt đầu áp dụng thiền Vipassana, là phép quan sát toàn thân. Tôi ngồi quan sát hơi thở vào ra mà lòng băn khoăn vì không tìm thấy một chút “cảm giác” gì như lời thầy nói. Đau mỏi bức rức, tôi cứ ngọ ngoạy như con giun. Khi nào ngồi yên được một chút thì cái tâm tôi nó lại đi lang thang, chạy hết chỗ này sang chỗ khác, những chuyện quá khứ từ đời nảo đời nao ào ạt hiện về. Quá căng thẳng, tôi bị no hơi ngang. Bụng căng tròn như quả bóng, cổ tôi rướn lên ngáp ngáp giống kẻ sắp lên đồng dù cố kiềm nén. Tôi bắt đầu tính đến chuyện rủ ông xã bỏ về. Lại nghĩ, chẳng lẽ từ Cali bay qua đến nửa vòng… nước Mỹ mà giờ đành phải bỏ cuộc hay sao.

Sau khi ăn trưa, tôi cùng vài người ra khoảng sân trống thật rộng từ thiền đường đến nhà ăn, khu vực dành cho nữ giới thiền hành giải lao. Đang từ từ đếm bước, dù bị cấm nói chuyện và đừng nhìn ngó đến ai, mắt tôi vẫn vô tình lướt qua phía nhà ăn. Một cô tình nguyện viên người Mỹ từ bếp bước ra. Ngực đeo tạp dề, tóc búi cao, tay cô cầm tấm thảm nhỏ loại chùi chân đập mạnh vào thành rào rồi gác lên phơi. Xong cô chụp lấy cây chổi và quét lia lịa. Mắt tôi lại lang thang qua building số 1. Xuyên qua cửa kính tôi thấy cô thiền sinh cũ người Việt đang lau sàn nhà. Bỗng đâu ba tiếng chuông vang lên báo hiệu giờ thiền kế tiếp. Mọi người đang đi bộ đồng loạt dừng lại quay vào.

Tôi chợt xúc động, trái tim như mềm đi khi nhìn thấy cô gái Mỹ lúc nãy từ nhà bếp cũng khăn áo đề huề tất tả bước thoăn thoắt qua thiền đường cùng chúng tôi, kể cả cô phục vụ vừa mới lau sàn nhà bên building #1 cũng vội bước vào. Tôi xúc động vì tôi đã nhận ra “Tâm Từ” của những thiền sinh cũ này. Họ cũng đến dự khóa thiền như chúng tôi, còn bỏ công sức ra để phục vụ thiện nguyện. Nhờ những tấm lòng như họ mà cả trung tâm, từ thiền đường, đến phòng ốc, thậm chí nhà vệ sinh, nhà bếp trong ngoài đâu đâu cũng đều sạch bóng. Nhờ những tấm lòng ấy, mà các thiền sinh mới như tôi có được những chỗ ngủ tốt, những bữa ăn ngon, và an tâm chuyên chú hành thiền. Sau bữa ăn trước khi tiếp tục đi tọa thiền, họ lại bận tíu tít, dọn dẹp lau chùi để những

 thiền sinh mới chúng tôi có thì giờ nhẩn nha, tà tà đi bộ.

Dù đã “phạm lỗi” nhìn ngó lung tung làm cho tâm mình dao động, tôi chấp nhận, vì tôi đã biết mình phải làm gì. Tôi tự hứa với lòng sẽ cố gắng ngồi thiền chăm chỉ hơn, chú tâm hơn, vì sự thành công của tôi sẽ đáp lại tấm thịnh tình và tâm từ của những thiền sinh cũ này.

Sáng ngày thứ tư một chị bạn cùng phòng bỏ chạy vì lý do sức khỏe, nhưng tôi đã có quyết tâm nên nhất định phải theo tới cùng. Buổi chiều hôm nay rất quan trọng, thiền Vipassana, hay là phép quan sát toàn thân bắt đầu. Chúng tôi được dạy quan sát từ đầu tới chân rồi từ chân lên tới đỉnh đầu. “Quan sát sự việc như nó là” và giữ sự bình tâm không phản ứng, thiền sư dạy thế. Kỹ thuật này thật khó giải thích, phải vào thực hành mới cảm nhận được hết cái tinh túy của pháp môn. Ngày đầu tiên tôi rất khó tập trung, vì sự đau đã lấn át tịnh tâm. Nhưng tối đó bài pháp thoại của thiền sư đã cho tôi sức mạnh. Phải cố gắng ghi nhận bất kỳ cảm giác nào có được, dù thô hay tế, dễ chịu hay khó chịu, và nhìn chúng với sự bình tâm, với sự hiểu biết rằng tất cả chúng đều vô thường, sinh rồi diệt. Từ đó về sau, ngày này qua ngày khác tôi chăm chú thực hành theo lời thầy và dần dần lấy được sự tĩnh tâm khi quán sát khắp châu thân. Tuyệt vời thay, khi tôi cố gắng giữ được tâm bình thản, chấp nhận chứ không thèm bực mình hay tỏ ý khó chịu với các cảm giác nhức nhối, các cơn đau cuối cùng rồi cũng tan đi. Quả đúng là chúng tự sinh tự diệt! Đến ngày thứ tám, thì điều kỳ diệu đã xảy ra. Tôi vượt qua thông suốt một giờ thiền, ngồi kiểu kiết già không hề đổi chân hay nhúc nhích. Đó là điều “không tưởng” cho cái lưng của tôi trước khi tôi đến với Vipassana.

Và tôi đã làm được cho tới ngày cuối khóa! Như có phép mầu, chỉ sau 10 ngày tĩnh tâm thiền tọa kiết già các cơn đau lưng của tôi biến mất không còn chút tăm hơi. Tôi thấy rõ hiệu quả của phép quán sát toàn thân Vipassana. Nhờ nghe lời giảng kết hợp thực tập chăm chú, tôi đã lãnh hội những lời dạy của thiền sư về kỹ thuật này. Theo ngài, pháp môn Vipassana thuộc về tâm lý học cơ bản – tâm ảnh hưởng đến thân và thân ảnh hưởng đến tâm – cho nên kỹ thuật quan sát toàn thân rất có hiệu quả và cuối cùng sự an lạc sẽ xuất hiện. Nhận biết rõ điều này thì bất cứ cảm giác nào, thí dụ quá vui khi thành công, được nổi tiếng, hay phát tài, hoặc quá thất vọng vì mất mát, vì không đạt được ước mơ, thì tâm ta cũng sẽ không bị dao động vì ta đã biết về tính sinh diệt vô thường của chúng. Như vậy là tìm thấy an lạc.

Bên cạnh sự giảng dạy rõ ràng tỉ mỉ của thiền sư Goenka, mỗi cuối buổi tọa thiền, thầy cô thiền sư phụ tá gọi một số thiền sinh lên phỏng vấn, hỏi han về những gì chúng tôi cảm nhận được, và chỉ vẽ thêm làm sao cho đúng, sau đó cùng ngồi thiền chung dăm phút với thầy cô. Điều này giúp ích rất nhiều, chúng tôi tự tin hơn và thực hành hiệu quả hơn.

Ngày cuối ngài Goenka dạy chúng tôi phải duy trì sự tỉnh giác tự nhiên của tâm thức để xem những tham ái, sân hận, vô minh và dao động có mặt hiện tại trên thân ta hay không. Thầy nói những phiền não ngủ ngầm sâu kín, bị chôn lấp trong vô thức lâu nay bây giờ bắt đầu xuất hiện lên bề mặt tâm thức. Đó là sự phát triển tốt, vì nếu những phiền não đó không hiện ra trên bề mặt, thì không thể nào diệt được. “Khi chúng nó khởi lên, ta quán sát chúng một cách bình thản, và chúng nó sẽ tuần tự tiêu đi theo thứ lớp. Đó là ta đã đạt được tới sự giải thoát.” Trong giờ thiền sau cùng, thầy dặn dò nhiều điều hữu ích, khuyến khích chúng tôi tiếp tục hành thiền khi về nhà. Những lời kinh tiếng Pali thiền Tâm Từ “Metta” là tâm thương yêu, tha thứ, và chia sẻ tình thương với tất cả chúng sinh, được thầy đọc lên, và lời chúc lành cầu mong cho mọi chúng sinh được bình an, rồi những câu chúc phúc cho mọi người, “Hãy hạnh phúc! Hãy hạnh phúc!” của thầy như mãi vọng theo khi chúng tôi bước ra khỏi thiền đường…

Qua đến nhà ăn thì gặp ông xã tôi đứng bên ngoài. Đó là lần đầu tiên sau 10 ngày “cấm cửa” chúng tôi mới thấy mặt nhau. Nhà tôi giới thiệu tôi với người bạn Mỹ cùng phòng đang đứng bên cạnh. Ông ấy chào tôi rất thân thiện nên tôi “tiện tay” hỏi chuyện ông vài câu. Đây là khóa thiền Vipassana đầu tiên mà ông đến học nhưng rất thích. Là người có đạo Tin Lành, là giáo sư đại học, ông từng dạy English và Music và còn là thầy dạy Yoga nữa. Khi được hỏi điều gì từ khóa thiền này làm ông thích thú nhất, ông giáo sư sôi nổi nói:

– Everything! Tất cả! Nhưng tôi thích sự thông thái của thiền sư Goenka, và đặc biệt cái pháp quan sát toàn thân ông dạy cũng quá tuyệt vời! Thật là thú vị khi ngồi quan sát chính bản thân mình, nhìn từng cảm giác đến rồi đi, những điều vô thường sinh diệt này trước đây tôi chưa bao giờ nghe biết đến. Quá hay!

– Vậy thì ông sẽ giới thiệu thiền Vipassana với những người khác chứ? Tôi hỏi vui.

– “Absolutely!” Tất nhiên rồi! Ông nói với nụ cười rạng rỡ.

Tôi cũng nói chuyện với hai người đứng cạnh giáo sư. Một người theo “Maronite Antiochian” là đạo Công Giáo Liban, một trong những Giáo hội Công giáo lớn nhất ở Liban và khắp vùng Trung Đông, và người kia cũng vui vẻ kể, anh có đạo Hindu tức Ấn Độ Giáo. Hai người đều nói thiền Vipassana mang lại cho họ nhiều điều tốt, nhất là cách để giữ tâm yên tĩnh và mở lòng vị tha đối với mọi người xung quanh. Quả là thiền Vipassana đã đến với tất cả các tôn giáo.

Tôi chào vị giáo sư, và theo thói quen tôi đưa tay ra định bắt tay từ giã ông. Tôi nghĩ hôm nay đã “xả trại” không còn lệnh cấm nói chuyện thì một cái bắt tay từ giã với người Mỹ là chuyện bình thường. Không ngờ vị giáo sư này “thuộc bài” còn kỹ hơn tôi. Thay vì đưa tay ra, ông vội chắp hai tay lại và xá nhẹ một cái theo kiểu chào của các nhà tu. Tôi “quê một cục” vội chắp tay đáp lễ, trong lòng cảm thấy rất mắc cỡ. Sau về nhà đọc kỹ những thông tin thầy phụ tá cho, tôi mới biết luật cấm đụng chạm thân thể giữa các thiền sinh dù khác phái hay cùng phái được áp dụng mọi lúc mọi nơi trong toàn khu vực trung tâm thiền.

Chuyện này làm tôi nhớ lại, và hiểu ra, luật lệ khóa thiền và mọi điều cấm kỵ có lý do của nó mà khi “đụng chuyện” tôi mới thấy cảm phục thiền sư Goenka khi thầy đưa ra những điều lệ này. Đặc biệt lệnh cấm thiền sinh không được đụng chạm thân thể nhau. Lần kia vì thấy mỗi khi ra nghỉ giải lao tôi đấm chân liên tục, có cô gái người Việt tốt bụng bước lại bảo để cô ấy chỉ cho cách tập sẽ hết đau nhanh. Tôi chưa kịp phản ứng, cô bé nhanh nhẹn đẩy tôi vào sát tường, chụp lấy hai tay tôi đưa lên cao miệng kêu tôi nhón gót. Ngay lập tức, cô phục vụ chạy lại ngăn cản. Vì điều này mà tôi bị cô thiền sư phụ tá gọi lên gặp riêng. Tôi hớn hở bước vô phòng mang theo những câu thắc mắc vì ngỡ cô muốn giúp. Nào ngờ sau khi giải đáp cho tôi xong, cô nhắc nhở nhẹ nhàng về việc “đụng chạm thân thể” với thiền sinh khác. Thì ra việc phạm cấm kỵ của tôi đã được báo cho cô. Nhưng tôi không phiền vì biết lỗi của mình.

Cô LĐ nói, sự đụng chạm thân thể ngoài việc khiến cho thiền sinh phân tán tư tưởng, ở đây mỗi ngày ngồi tĩnh toạ ai cũng cố quán thân tâm để đẩy ra ngoài cho sạch những uế trược, những bất tịnh chất chứa lâu đời đang dần trồi lên từ trong tiềm thức. Sự đụng chạm này có khi còn truyền cho nhau những điện năng, từ trường xấu của đối phương, nếu có, và mình sẽ rất khó mà định tâm. Nghe vậy tôi… sáng mắt ra, nhớ lại chuyện tôi và các bạn cùng phòng gặp phải, và đã “trả giá” cách đó mấy hôm. Sau khi xin lỗi cô giáo, tôi “tự thú trước bình minh”:

– Thưa cô, cô nói đúng quá! Giờ em mới nhớ lại cái hôm chị cùng phòng cảm thấy mệt không thể tiếp tục cho hết khoá thiền. Sau khi lên gặp cô về phòng chị ấy “phá giới” nói lời từ giã mọi người. Chị khóc và nói nghe cô phân tích thật cảm động muốn ở lại, nhưng sức khỏe tệ quá. Thế là mấy chị em cùng phòng thương quá xúm nhau khuyên chị ở lại, và ôm từ giã mỗi người một cái. Tôi “khai” luôn:

– Tối đó cả phòng không ai ngủ được hết cô ơi, người này nằm nghe người kia trằn trọc trở mình, vì bọn em đã bị những lời trao đổi, sự đụng chạm đó ám ảnh.

Cô tròn mắt nhìn tôi:

– Cả phòng nói chuyện? Và còn ôm nhau nữa?

– Dạ chỉ ba người thưa cô! Tôi đáp trong ân hận. – Người trẻ nhất phòng là thiền sinh cũ. Cô ấy giữ giới kỹ càng, từ đầu đến cuối im thin thít, nên tối đó cổ ngủ im re.

Thực ra đâu phải chỉ có cánh nữ chúng tôi là dễ dàng phạm cái giới “cấm nói chuyện”.

Ông xã tôi khi đọc tới đoạn này đã ngồi cười một mình. Gạn tra mãi chàng mới… bật mí, kể lại chuyện phá giới của cánh… liền ông. Người bạn cùng phòng với ông ấy bị chứng thoái vị đĩa đệm phải ngồi thiền trên ghế. Đến ngày thứ ba không cảm nhận được gì, phần bị cái xương sống nó hành, nên anh muốn bỏ chạy cho rồi. Nhưng hết ngày thứ tư đột nhiên anh ấy “nhập định” được, quán sát toàn thân thông suốt. Mừng quá tối đó về phòng anh chàng muốn khoe thành quả cho bạn. Sợ phạm luật không dám nói to nên ghé miệng vào tai bạn thì thầm, mắt thì nhìn láo liên nhìn ra cửa sợ bị những người phục vụ bắt gặp. Ông xã tôi bụng cũng muốn nghe xem bạn nói gì mà tâm lại “sợ tội” nên nào dám hỏi, chỉ kê lỗ tai lại gần ông bạn hơn. Khổ nỗi hai “anh cụ” đều vượt quá xa “cổ lai hy”, mắt đã mờ tai lại… lờ đờ hơn. Cho nên “ông nghỉnh rình ông ngảng” người vểnh tai kẻ nghểnh cổ, mà anh xã nhà tôi chỉ nghe hơi thở xì xào và thấy cái miệng nhóp nhép lập bập của ông bạn chứ chẳng hiểu được gì. Chợt nghe có tiếng người đi qua, hai chàng … hết hồn ai vọt về giường nấy mà trong lòng ấm ức “kẻ muốn nói còn chưa nói được, người muốn nghe cũng chửa nghe xong!” Về nhà đến nay anh bạn tọa thiền cũng rất thành công, rất thông suốt, và hai anh bạn già thường liên lạc nói chuyện với nhau về thiền.

Tôi “vái chào” ông giáo sư rồi bước vào bên trong nhà ăn. Xin nói sơ một chút về thức ăn của nhà bếp. Chắc những người không biết ăn chay sẽ e ngại vì học ở đây phải ăn chay suốt 10 ngày. Và chỉ có hai bữa chính sáng, trưa, buổi chiều ăn nhẹ trái cây, uống sữa, hoặc sữa đậu nành, sữa gạo. Nhưng tôi bảo đảm, khi về nhà các bạn sẽ nhớ những bữa ăn chay phong phú và đầy bổ dưỡng ở đây không thua gì các món mặn, còn “healthy” hơn là khác. Chu đáo nhất, ngày nào cũng có món súp mận khô ngừa táo bón, giúp thiền sinh khỏi bị… bí vì ngồi lâu. Thực đơn thay đổi mỗi ngày và rất đa dạng để mọi người tự chọn. Các món Á Châu như canh rong biển đậu hũ, canh táo tàu phổ tai, cháo nấm đậu hũ, đậu nành hột đút lò, đậu hũ đút lò, xào thập cẩm, và nhiều món Tây phương, salad trộn các loại hạt, pho mát, bơ thực vật, bánh mì gạo lức, sữa tươi, sữa đậu nành… hầu hết là thực phẩm hữu cơ “organic.” Gia vị phụ mật ong, dầu olive, bột nghệ, bột flaxseed, và các loại trà, cà phê, nhiều loại không có “cà phê in”, và những loại dành cho người kiêng béo, mặn, ngọt.

Tôi chợt nhớ lời thiền sư Goenka, hiến tặng vật chất cho các trung tâm thiền Vipassana rất quan trọng, vì sẽ giúp cho những người đến sau có cơ hội hành thiền, nhưng đem phổ biến rộng rãi pháp môn này càng quan trọng hơn. Tôi liền qua gặp cô thiền sư phụ tá LĐ, xin phép cô cho tôi hỏi thêm một ít thông tin để khi về nhà tôi viết bài tường thuật về khóa thiền, hầu chia sẻ cho cộng đồng Việt về môn thiền Vipassana quý giá này. Tôi biết người Việt mình phần đông theo đạo Phật, có lẽ chưa có nhiều người hiểu rõ về môn thiền Vipassana, họ sợ sẽ phải cải đạo khi đến với pháp môn, nên chưa có đông người Việt tham gia như người Mỹ hoặc các sắc dân khác. Cô cũng đồng ý với tôi nên vui vẻ cho tôi cái hẹn gặp cả thầy cô. Sau khi trò chuyện, hai vị đã cho tôi nhiều thông tin quý giá và tài liệu về Vipassana. Cô LĐ kể lại, thấy được lợi ích của thiền Vipassana, và pháp môn này được hoằng khai ra thế giới, thầy cô mong muốn làm chút gì để có thể truyền bá cho đồng bào bên quê nhà. Nhờ nhân duyên dẫn dắt, năm 2006 hai người và bạn đồng hành của họ đã đưa được mấy chục người Việt qua một thiền đường Cam Bốt học thiền Vipassana rồi đưa trở về, dẫn đến nhiều người biết, và mở rộng pháp môn này ở quê nhà như hiện giờ. Cô nói đó là những kỷ niệm khó quên về con đường hành thiền Vipassana của thầy cô. Thầy TĐ cho chúng tôi biết, hiện nay tại Việt Nam có một trung tâm Vipassana rất quy mô dạy thiền theo truyền thống ngài Goenka, hoạt động dưới sự bảo trợ của tổ chức thế giới UNESCO ở Củ Chi, miền Nam, và một trung tâm nữa cũng do UNESCO bảo trợ vừa bắt đầu hoạt động năm nay 2018 tại Sóc Sơn, Hà Nội.

Khi được hỏi thầy cô có điều gì muốn nhắn nhủ hay chia sẻ với đồng hương Việt mình về thiền Vipassana không, thì cô LĐ cười hiền hòa nói:

– Pháp môn thiền Vipassana có quá nhiều lợi ích, tôi mong là ngày càng được cộng đồng mình biết đến rộng rãi hơn và tham gia nhiều như người Mỹ và các sắc dân khác trên thế giới, để đem lại niềm vui, hạnh phúc, và an lạc cho bản thân và gia đình mọi người…

Sau đó thiền sinh tập trung lại để nghe tuyên bố mãn khóa. Ông trưởng ban điều hành trung tâm phát biểu chúc mừng khóa thiền thành công. Tiếp đến ông Việt Nam quản lý khóa thiền ghi danh sách những thiền sinh tự nguyện làm công tác dọn dẹp, làm vệ sinh, cũng như sắp xếp các thứ để chuẩn bị cho khoá thiền kế tiếp. Mọi người, kể cả các sư cô đều vui vẻ xung phong nhận lãnh công việc dọn dẹp trong buổi cuối cùng. Đến mục đi nhờ xe, người ta hỏi và ghi danh những ai cần đi nhờ xe về nhà, ra phi trường, trạm xe buýt. Và những ai có thể đưa giùm người. Thật cảm động, cuộc trao đổi “kẻ ban người nhận” diễn ra rất rộn rã bằng thứ tình cảm giúp đỡ thật lòng. Nếu ai có thời gian là tình nguyện giúp ngay, dù tiện đường hay không.

Chúng tôi may mắn làm quen vợ chồng anh thiền sinh cũ H. & G. cùng anh P. bạn của họ. Họ sẽ cùng lái xe về nhà anh ấy ở tận Canada. Khi nghe nói chúng tôi book vé máy bay dư một tuần sau khoá thiền để đi thăm tượng Nữ Thần Tự Do ở New York, dù không phải tiện đường cho lắm hai anh này cũng tình nguyện sẽ chở giùm.

Ngày thứ 11, chúng tôi giã từ thiền viện Delaware với một tâm trạng luyến lưu khó tả. Nhớ cảnh thanh bình yên tĩnh, nhớ mấy người bạn thiền dễ thương vừa quen. Nhớ cô bạn HL tâm từ đi tọa thiền mà khệ nệ khênh mấy chục chai nước lọc. Không biết là trung tâm có máy lọc nước, cô mua nhiều “để chia sẻ cho những thiền sinh ở xa không mang theo được.” Và ngày nào cô cũng thảy trên bàn cho mỗi người một chai. Trên xe của anh bạn, mọi người chuyện trò rôm rả về thiền Vipassana. Anh P. người Canada cũng là một thiền sinh Vipassana kỳ cựu. Người điềm đạm, trình độ hiểu biết về thiền Vipassana rất sâu. Anh cho biết ý nguyện của anh là cố gắng tu tập nhiều thêm nữa để tiến xa hơn với pháp môn này. Còn chuyện của anh H. người Nam Cali thì vô cùng hấp dẫn. Có lần một người từ Anh Quốc bay qua Canada để tham dự khóa thiền Vipassana đã book lộn vé máy bay đến Mỹ. Anh H. đã “ra tay nghĩa hiệp” chở dùm cô ấy đi hơn một nghìn dặm đường để đến trung tâm mà cô đã ghi danh. Mấy ngày đầu, cô người Anh chịu cực không nổi nhiều lần định bỏ về, nhưng vì nghĩ đến tấm lòng của người thiền sinh cũ vượt bao nhiêu dặm đường đưa cô đến đó nên cô ráng ở lại. Và cô đã hoàn thành viên mãn khóa thiền. Tâm từ của anh H. đã lan tỏa, cảm hóa được người thiền sinh mới. Anh còn kể chúng tôi nghe chuyện một ca sĩ – nhạc sĩ người Mỹ anh biết, nhờ ngồi thiền Vipassana mà có thể sáng tác những tuyệt phẩm âm nhạc “Platinum”. Anh chàng này sau đó hiến tặng một số lớn hiện kim để xây dựng trung tâm thiền Vipassana. Và chuyện một thiền sinh nữ người Việt hành thiền Vipassana mà tự chữa lành căn bệnh ung thư lá lách hiểm nghèo, căn bệnh nan y đã lấy đi mạng sống của Steve Jobs. Tôi nghe hấp dẫn quá, nên nói đùa kêu anh khi nào gặp chàng ca nhạc sĩ đó thì nhớ giới thiệu để tôi phỏng vấn và viết một bài. Đến New York, mấy người bạn mới đã tìm đường đến khách sạn, mang giúp hành lý lên tận phòng cho chúng tôi và rồi cùng đi dạo Time Square một lúc mới từ giã chạy qua Canada. Tình cảm thiền sinh Vipassana đối với nhau quả thật đậm đà, đúng với câu bốn bể đều là anh em.

Về nhà tôi đọc kỹ những tài liệu thầy TĐ thiền sư phụ tá đã cho. Có nhiều câu chuyện thú vị và cảm động về việc ngài Goenka đưa thiền Vipassana vô trong tù, xin tóm tắt lại vài điều chia sẻ với các bạn. Thầy Goenka đã từng dạy thiền, cảm hóa hàng nghìn tù nhân Ấn Độ, hầu hết đều là tù trọng án. Khi cai ngục đưa các tù nhân ra học thiền, họ bị xiềng xích tay chân. Thiền sư Goenka buộc nhà tù phải mở hết xiềng. Quản trị nhà tù không chịu, sợ tù nhân nổi loạn giết người bỏ trốn, và vì an toàn cho thiền sư, họ buộc ngài phải trú ngụ bên ngoài, mỗi ngày vào tù giảng dạy. Thiền sư nhất định không chịu, đòi phải mở hết xiềng và cùng ở cùng ăn với tù nhân. Ban quản trị nói luật nhà tù là chỗ chỉ dành cho tù nhân. Tôi muốn khóc khi đọc câu đáp lại của ngài Goenka, “Vậy thì các anh hãy kết án tôi đi! Tôi nhất định phải ở trong tù cùng với các tù nhân để dạy thiền cho họ.” Cuối cùng ban giám đốc nhà tù phải nhượng bộ, làm ra một dự luật cho phép thiền sư sống trong tù và cởi xiềng xích cho các trọng phạm để họ ngồi thiền.

Sau khi học xong khóa thiền 10 ngày với thầy Goenka các tù nhân đã giác ngộ, khóc lóc xin nạn nhân tha thứ, và vui vẻ chấp nhận đền tội chứ không còn muốn chống án. Thông tin còn cho thấy nhà tù đầu tiên tại Mỹ đưa Vipassana vào dạy cho phạm nhân từ 1977 đến 2002, và mở lại vào năm 2006 là Trung Tâm Cải Huấn Bắc Mỹ (NRF-King County North Rehabilitation Facility) ở Seattle, Washington. Nhờ kết quả rất tốt của những khóa thiền 10 ngày tại đây mà năm 2002, Viện Y Tế Quốc Gia Hoa Kỳ đã cấp cho đại học Washington kinh phí ba năm để nghiên cứu về lợi ích của thiền Vipassana đối với tù nhân. Cũng đã có vài khóa thiền Vipassana được tổ chức tại nhà tù San Francisco, California.

Đọc xong tôi tìm lên trang web của Trung Tâm Cải Huấn Bắc Mỹ (King County North Rehabilitation Facility) thì quả đúng là như vậy. Trên mạng tôi còn đọc được chuyện thiền Vipassana trong tù đã hấp dẫn nữ đạo diễn Jenny Phillips. Và bà cũng đã tham dự một khóa thiền Vipassana 10 ngày. Bộ phim “Dhamma Brothers” của bà nói về những tội nhân đang thọ trọng án tại trại Cải Huấn Donaldson, Alabama đã được cảm hóa sau khi tham dự khóa thiền 10 ngày Vipassana của ngài Goenka. Phim được quay năm 1999 đã được 2 giải thưởng, từ Woods Hole Film Festival 2007, và từ NCCD (National Council on Crime and Delinquency) 2007.

Theo tài liệu từ Trung Tâm Nghiên Cứu Thiền Vipassana Ấn Độ, các nhà lãnh đạo Giáo Hội Công Giáo La Mã nhận thấy thiền Vipassana không mang tính chất tông phái và tốt cho tất cả mọi người, nên cho phép giáo dân tham gia. Mẹ Bề Trên Mary và Cha Lawrence là vài người trong những nhà lãnh đạo Công Giáo đầu tiên học Vipassana. Trung tâm nghiên cứu Thiền Vipassana Ấn Độ ghi nhận, có hơn 6.000 linh mục và bà Sơ, Mẹ Bề Trên tham dự thiền Vipassana, trong đó có một Sơ đã là Thiền sư. Và một trung tâm dành riêng cho các vị này được mở gần Munbai, Ấn Độ. Tôi cũng đọc được bài viết của Đức Cha Lawrence trong tài liệu. Ngài công nhận kỹ thuật thiền Vipassana bao gồm đạo đức, là những điều tương ứng với Mười Điều Răn Công giáo, và mục đích của thiền Vipassana chẳng phải để biến thế giới thành Phật tử, mà là biến đổi con người trở nên tốt đẹp hơn, dù người ấy theo hay không theo tín ngưỡng nào.

Còn Mary, Mẹ Bề Trên của một trường dạy nữ tu ở Dalhousie cũng chia sẻ, thiềnVipassana giúp người ta kiểm soát được tư tưởng, các loại tình cảm đố kỵ, chán ghét, đau khổ, ham muốn, và thay thế chúng bằng tình cảm thương yêu và từ bi. “Khóa thiền này không dựa trên một giáo điều nào, nó là một thứ kỹ thuật, mà nếu hiểu rõ, và thực hành hằng ngày khoảng hai tiếng đồng hồ, sẽ giúp chúng ta phát triển mọi tiềm năng, giúp chúng ta trở thành một người Công giáo tốt hơn, một người Hindu, một người Hồi giáo, hay một Phật tử tốt hơn.” Mẹ Bề Trên đã viết thế.

Tôi không phải là người Công Giáo, nhưng nhận xét và chia sẻ kinh nghiệm chân tình của các vị chân tu này làm cho tôi rất tâm đắc, tự hứa với lòng phải cố gắng hơn nữa, tập trung vào việc hành thiền, và sắp tới sẽ tiếp tục tham gia các khóa thiền Vipassana. Xin kính lời cám ơn thầy cô thiền sư phụ tá TĐ & LĐ đã chia sẻ những thông tin quý giá.

Từ việc quan sát hơi thở và tự quán sát toàn thân theo kỹ thuật thiền Vipassana, chúng tôi, mới tham gia chỉ một khóa đầu tiên, không dám nói là đã “đạt thành chánh quả” như các bậc chân tu, nhưng có thể khẳng định rằng, trong cuộc sống hằng ngày chúng tôi đã tìm thấy được cách sống cho an nhiên tự tại. Vipassana như có phép mầu, đã chuyển đổi được tâm tính con người, một điều mà ông bà mình vẫn thường nói, “Non sông dễ đổi, bản tính khó dời”. Nhờ luôn luôn chú ý đến hơi thở, tôi nhận ra ngay những điều bất tịnh vừa chớm nẩy trong tâm để dừng lại kịp lúc, và nhờ phép quan sát toàn thân, tôi hiểu được sự vô thường của vạn vật, biết chấp nhận sự sinh ra và diệt đi và quên khổ đau. Trước kia vì vô minh để tâm vọng động, tôi đã tự làm khổ mình không ít. Mỗi lần có tin buồn, dì cậu hay bà con, những người tôi yêu quý bên nhà qua đời, hay sự thất bại khi đứa con làm thủ tục bán “short-sale” ngôi nhà đẹp, tôi đau khổ đến mất ăn mất ngủ. Và lúc có chuyện vui, như những lần đoạt giải cao viết văn chẳng hạn, tôi quá vui mừng trước sự chúc tụng của bạn bè, lên khán đài phát biểu, được TV phỏng vấn, chụp hình cùng các vị dân cử… Những ánh hào quang đó cũng làm tôi mất ngủ quên ăn. Giờ tôi hiểu ra, những thứ buồn vui hay danh vọng ấy chẳng qua cũng là phù du, đến rồi đi, buồn quá hay mừng lắm chỉ làm cho tâm mình thêm khổ não. Phải chi tôi biết Vipassana sớm thì đã đón nhận chúng với cái tâm bình thản, có lẽ giờ này tôi cũng giảm được vài nếp nhăn trên trán, hoặc chí ít, cũng không để cho mấy sợi “tóc muối” có cơ hội đứng ngang hàng chen lẫn cùng đám “tóc tiêu” như bây giờ.

Ngày trước, có khi những chuyện “nhỏ như cọng cỏ” là giận hờn vu vơ với cái “người dưng khác họ” cũng làm cho tôi đau khổ vô biên. Bây giờ mỗi lần ông ấy có chuyện không vừa ý nổi giận cau mày, thay vì “làm mình làm mẩy” tôi chỉ nói nhẹ nhàng, “Lấy sự nhăn nhó khó chịu ấy về đi, không ai nhận đâu!” Thế là sắc mặt chàng tươi trở lại. Dù bây giờ đã là “bà già trầu” nhưng thỉnh thoảng tôi lại quên mất, cứ ngỡ mình vẫn còn là “em bé ngày xưa ấy” của chàng nên giở trò mè nheo, hờn dỗi, khiến bực mình. Nếu trước kia, là người ít nói nhưng tính nóng còn hơn “Trương Phi” ông ấy sẽ nổi doá cự lại làm mọi chuyện lớn thêm, còn bây giờ chàng chỉ nói, “Tâm bất tịnh rồi, quán thân đi!” Vậy là cùng nhau cười xoà hết chuyện. Chúng tôi thường đùa tụi mình giờ là “Tình 3B”, “Bạn đời, Bạn già, và Bạn thiền.” Ngày ngày ăn chay, ngồi tịnh tọa chung, tháng tháng cùng đi ngồi thiền nhóm, và thỉnh thoảng dắt nhau đi phục vụ Dhamma (giáo pháp – tiếng Pali) cho các khóa thiền Vipassana trong vùng. Bấy nhiêu đó là đủ vui cho cái tuổi về chiều, “cố gắng sống thảnh thơi để chờ thời đi…dzìa trển!” Nhà tôi nói như vậy.

Thú thật, chàng xã của tôi “thấm nhuần” Vipassana còn kỹ hơn tôi, ngồi thiền giỏi hơn tôi, tịnh tâm dễ hơn tôi, và thay vì “cà kê dê ngỗng” như tôi, ông ấy tóm gọn sự lợi ích, hiệu quả, và chân lý của pháp môn Vipassana chỉ trong một bài thơ Đường Luật mà rất là đầy đủ:

“Hữu duyên hạnh ngộ PASSANA (Vipassana)

Giáo pháp lọc tâm diệt ý tà.

Tham, dục, ngày ngày thôi bám víu,

Sân, si, chốc chốc cũng lìa xa.

Mắt tai mũi lưỡi cần an tịnh,

Trí tuệ lòng từ sẽ hiện ra.

Trì giới quán thân từng khoảnh khắc,

Sống đời hạnh phúc với DHAMMA (giáo pháp).”

Tân Khoa

Chúng tôi đã kết nối được với một nhóm ngồi thiền Vipassana (Vipassana Group Sitting) gần vùng cư ngụ và đến ngồi thiền chung mỗi tháng vài lần. Lần đầu đến dự, tôi ngạc nhiên và khâm phục những thiền sinh Mỹ này. Hầu hết là người trí thức trẻ, còn đi làm, vậy mà cùng nhau họp lại, và tự đóng góp tài chính thuê một gian phòng trong trung tâm dạy Yoga, chuẩn bị đầy đủ bàn ghế bồ đoàn toạ cụ cho việc ngồi thiền. Mỗi ngày đều có tổ chức suất ngồi thiền một giờ sáng sớm và một giờ vào buổi tối, để những ai trên đường đi làm và đi làm về ghé qua cùng ngồi chung. Và mỗi tháng có hai khoá tọa thiền nguyên một ngày cuối tuần, có cả thiền sư phụ tá giám sát và hướng dẫn. Dù chỉ là khóa thiền một ngày, mọi thứ được sắp xếp y hệt như khi học ở trung tâm. Cũng ngồi theo băng đĩa giảng dạy của thiền sư Goenka, ăn chay nguyên ngày, giữ sự im lặng thánh thiện, và giờ giấc cũng giống nhau. Đi ngồi thiền nhóm cùng với các thiền sinh Mỹ tôi mới khám phá ra hệ thống Vipassana của thiền sư Goenka là hệ thống hoạt động toàn cầu. Đã là thiền sinh cũ của thầy Goenka thì tên tuổi chúng tôi được lưu lại vĩnh viễn trên hệ thống. Nếu tôi có dịp đến bất cứ nước nào trên thế giới mà có ý định tìm một khóa thiền Vipassana tu tập, thì cũng sẽ được hưởng tất cả mọi quyền lợi “thiền sinh cũ Vipassana” của truyền thống Goenka, các thiền sinh bạn ở đó sẽ giúp đỡ, đưa đón và lo nơi ăn chốn ở đàng hoàng. Thầy Goenka nói ngồi thiền chung với nhóm nhiều người sẽ rất có lợi vì được sự trợ lực từ những người xung quanh. Tôi thấy đúng lắm, ngồi chung với nhóm tôi cảm nhận được điện lực từ trường và tâm từ của mọi người lan tỏa.

Vừa rồi tôi cũng đã đi phục vụ khoá thiền một ngày “Children And Teenager Course” tại chỗ ngồi thiền nhóm này. Khóa thiền mở dành cho các cháu độ tuổi 8 đến 15. Dù đây chỉ là một cái “Hall” do nhóm thiền sinh Mỹ tự nguyện tổ chức, vẫn phải trực thuộc vào hệ thống và dưới sự quản lý nghiêm nhặt của trung tâm chính Vipassana California với một ban điều hành rất là bài bản. Khi vợ chồng tôi ghi danh đi phục vụ cho khoá thiền này, chúng tôi phải vào trang web trung tâm điền đơn xin phục vụ cung cấp đầy đủ thông tin cá nhân, và phải điền đơn để họ làm “Background Check” lý lịch “trong trắng” thì mới được nhận. Khóa thiền cũng có hai thiền sư phụ tá đến trợ giảng, một nam giúp cho boys và một nữ giúp cho girls. Cũng phải giữ “Sự Im lặng Thánh Thiện”, phục vụ ăn trưa miễn phí cho các cháu, và nhiều “trò chơi thông minh” được các thiện nguyện viên chúng tôi hướng dẫn trong những giờ giải lao. Mọi người cùng nhau thực hiện thành công khóa thiền một ngày. Các em khi mới vào còn quậy, nhảy nhót lung tung, nói lý lẽ với người lớn, nhưng đến cuối khóa chúng trở nên ngoan ngoãn dễ thương vô cùng. Cô thầy thiền sư phụ tá “khảo bài” về những gì các cháu đã học được trong ngày hôm ấy, và các cháu hào hứng sôi nổi đưa tay lên giành nhau trả lời đúng chính xác những gì các cháu vừa được dạy.

Sinh hoạt với các thiền sinh Mỹ và thiền sinh các nước khác, tôi biết được cái tâm của họ lớn vô cùng. Hỏi chuyện thì nhiều người nói “không thể đếm” được bao nhiêu khóa thiền họ đã học. Đối với những người đã tìm thấy và gặt hái được chân lý của Vipassana cho tâm hồn và cuộc đời họ, thì việc hiến tặng tiền bạc những vật ngoại thân để xây dựng thiền đường chỉ là “chuyện nhỏ”. Như vừa rồi Vipassana hệ thống Goenka Bắc Cali đã mua một trang trại 54 mẫu Anh gần thung lũng điện tử San Jose, giá 2 triệu 1 Mỹ Kim. Chương trình sắp tới, bước một, thiền viện thứ tư của Cali sẽ được xây dựng với kinh phí khoảng 8 triệu để có đủ chỗ ở và thiền cho 80 thiền sinh. Bước hai sẽ mở ra cho đủ thâu nhận 150 người. Thật là một con số đáng kinh ngạc, những chương trình quy mô như thế mà toàn bộ đều đến từ sự cúng dường, có thể thấy lòng từ tâm của thiền sinh Vipassana to lớn cỡ nào. Họ đã gặt hái kết quả từ thiền Vipassna, nên hiến tặng của cải, vật chất, và công sức không mong cầu báo đáp, chỉ để giúp cơ hội cho nhiều người khác được học về pháp môn Vipassana.

Cho đến giờ, những lời giảng quý giá của thiền sư Goenka như luôn vang vọng trong tôi. Ngài nói luật tự nhiên và thiên nhiên rất công bằng. Tâm ta sẽ nhận được sự tưởng thưởng hay trừng phạt là tuỳ vào cách suy nghĩ và hành xử của chính ta. Nếu tâm chúng ta thanh tịnh, ban phát hoà ái và tình thương cho mọi người, mọi loài, thì sẽ hưởng được sự an nhiên tự tại và hạnh phúc viên mãn. Nếu tâm ta bất thiện, mang sự thù hằn, ghét bỏ, mê đắm tham lam, thèm muốn những thứ không phải của mình, hay hại người, thì sẽ bị luật tự nhiên trừng phạt, mà là trừng phạt ngay lập tức. Cho dù chỉ là sự bất thiện trong ý nghĩ, thì sự trừng phạt sẽ làm cho tâm ta vật vã, suy nghĩ bất an, còn nếu như đã gây ra những điều ác, xấu cho người, thì tâm ta sẽ bị dằn vặt, cắn rứt cho đến cuối đời, tận giờ phút lâm chung thì mọi điều bất thiện đó sẽ hiện lên không thiếu một mảy may. Thầy nói người hành thiền Vipassana phải luôn luôn sống trong trí tuệ, nhìn và quan sát thân tâm, ý thức rõ từng lời nói và việc làm để biết dừng lại kịp lúc, xóa bỏ nó đi và trong tâm không còn sự thèm muốn hay thù ghét nữa, chắc chắn ta sẽ được giải thoát khỏi những ràng buộc đau khổ để sống đời hạnh phúc thật sự.

Tóm lại, Vipassana là con đường dẫn đến giải thoát khổ não đời người, nó giúp diệt trừ thèm muốn, giận ghét, và vô minh, là những căn nguyên gây khổ đau cho nhân loại. Bạn đã đọc đến đây, kể như bạn cũng có duyên lành. Biết đâu cơ duyên dẫn dắt, đem được kỹ thuật thiền nguyên thủy Vipassana của bậc giác ngộ gần hai nghìn sáu trăm năm trước hòa quyện vào đời sống tất bật hằng ngày của bạn để giúp bạn có một cuộc sống thanh thản yêu đời và an lạc hơn.

Nguyện cho bài viết này mang lại chút ít lợi lạc cho ai đó. Nguyện cho tất cả chúng sinh trên thế giới này đều được an lành và hạnh phúc trong Năm Mới Kỷ Hợi và mãi mãi…

Viết với tâm từ.

Phương Hoa – Xuân Kỷ Hợi 2019

(Khóa thiền ngày 19 tháng 9 năm 2018 tại Dhamma Delaware )

*Nếu muốn tìm hiểu thêm về Vipassana, bạn có thể vào đây:

https://www.dhamma.org/en-US/index – Tiếng Anh

http://www.vn.dhamma.org/ – Tiếng Việt

*Những câu hỏi và trả lời thú vị nếu bạn muốn biết về Vipassana trong tù ở Mỹ:

https://www.prison.dhamma.org/prisonqa.htm

Cảm Nhận Và Chia Sẻ Thêm Ý Nghĩa Về Thiền Của Nhà Thơ Lễ Tuấn:

Cám ơn bài viết của nữ sĩ Phương Hoa.

Bài viết rất hay. Giới thiệu về Phương Pháp Thiền  (Thiền Vipassana là gì?) Nói đúng hơn đây là phương pháp Thiền minh sát trí tuệ.  phương pháp Thiền Quán, không phải Thiền Định.  Thiền Vipassana thuộc loại thiền quán, chú trọng đến tương quan mật thiết giữa tâm và thân từ đó loại bỏ được những suy nghĩ, hành động tiêu cực và để đạt được sự an nhàn, vui vẻ, nguồn năng lượng tích cực. Bởi Vipassana có nghĩa là “thấy mọi sự vật như bản chất thật của chúng ngay trong lúc quan sát”, nó là một tiến trình logic của việc thanh lọc tâm tưởng bằng cách tự quán chiếu bản thân mình. Đây là một phương pháp Thiền rất tuyệt vời (rất hay). 

Tuy nhiên theo tôi nhận xét. Muốn xoá bỏ một (tâm thức u tối) hay phiền não, nhất định người thiền định, phải dùng đến một năng lượng để triệt tiêu. (chữ năng lượng ở đây có nghĩa “năng lượng từ bản thân” phải dùng đến một kỹ năng quan sát trí tuệ rồi triệt tiêu nó). Tôi thường suy nghĩ:Nếu ta nhìn thấy bất cứ khoảng đen tối nào trong tâm hồn, thì hãy mở tung cánh cửa đó ra, để cho ánh sáng của Chân Thiện Mỹ tràn vào. Việc mở tung cánh cửa, của một ngăn tối trong tư tưởng, nếu bất cứ ai đạt đến cảnh giới cao siêu, thì đều làm được và làm một cách rất tự nhiên (không cần năng lượng).

Bản thân tôi cũng tìm hiểu về nhiều triết lý về Thiền, và cuối cùng tôi tự tìm ra một chân lý. Đó là triết lý “Chủng Thể Nẩy Sinh” sự nẩy sinh trong mọi vấn đề thì đó là nhân tố thứ 3. Anh A gặp Anh B, hai người nói chuyện, qua câu chuyện, sẽ nẩy sinh một yếu tố thứ 3, yếu tố thứ 3 hoàn toàn phụ thuộc vào tính chất câu chuyện, nếu câu chuyện hoà thuận, thì chủng thể thứ 3 sẽ là nguồn năng lượng (Tình thương sự đồng cảm). Nếu câu chuyện dẫn đến bất đồng, đi đến to tiếng, thi chủ thể thứ 3 sẽ là sự giận giữ (lòng thù hận, ganh ghét).Nếu trong lúc ngồi thiền mà tâm bị động, để cho dòng suy tư bị nhiễu loạn thì ngay lập tức (Chủng thể thứ 3) xuất hiện và thôi thúc, ngôi thứ ba sẽ thôi thúc, hãy làm đi hay hãy bỏ cuộc.  Giải thích một chút về (Chủng Thể Thứ 3) Dòng suy tư xuất phát từ tâm hồn (đây là chủng thể thứ 1) đưa suy nghĩ đến một vấn đề (Thánh thiện hay đen tối) đây là (Chủng Thể Thứ 2) và sự xuất hiện của tư tưởng dẫn đến hành động, đây là (Chủng Thể Thứ 3). Đây chỉ là một ví dụ rất nhỏ, nếu bàn thêm thi bao la vô cùng.

Bài viết về Thiền Vipassana của Phương Hoa, đã gợi nhớ trong tôi nhiều tư tưởng, nhiều triết lý đã đọc qua. Cám ơn bài viết rất hay của Nữ Sĩ Phương Hoa. Chúc thật vui và bình an, như trọng tâm của Thiền Vipassana

Trân Trọng

Lê Tuấn




THƯƠNG VỀ MẸ – Thơ Hoàng Mai Nhất




NGHÌN THU VĨNH BIỆT – Thơ Mặc Khách & Vu Lan Nhớ Mẹ: THƠ DIỄN NGÂM




THƠ VỀ MẸ – Mẹ Là Ánh Trăng & Bó Hồng Tặng Mẹ – LÊ TUẤN




Thơ Về MẸ & Cha: Thuở Hay Nhè & Nằm Mơ Bố Về – THƯ KHANH




THƠ VỀ MẸ – Minh Thúy Thành Nội




THƠ SONG NGỮ PHÁP + VIỆT, “L’AMOUR “MATERNEL: TÌNH MẸ” & “MA MÈRE: MẸ TÔI” – Thi sĩ Đỗ Quang Vinh.




CHÙM THƠ NGÀY TỪ MẪU – Phương Hoa




CHÚC MỪNG & GIỚI THIỆU THI PHẨM Của Nhà Thơ Lê Tuấn

Chuyện lạ! Đàn ông mà lại sinh con!…(tinh thần!)

Tin rất vui! Xin gởi lời khen tặng. Nhân tiện, Anh Tuấn cho Hải “order” 5 cuốn, giữ lại cho mình và tặng bạn bè.

Cám ơn Anh.

Lê Văn Hải

CHÚC MỪNG NHÀ THƠ LÊ TUẤN

(Kính giới thiệu cùng thành viên và thân hữu VTLV)

Thay mặt Ban Biên Tập VTLV

Phương Hoa – MAY 6th 2021




Khánh Thúc Hà (KHANH HA)

Ngôi Sao Việt Tỏa Sáng Trên Vòm Trời Văn Học Hoa Kỳ

Phương Hoa

C & R Press today announced the winners of its 2020 Poetry, Fiction, and Nonfiction. In the fiction category, the winner is Khanh Ha’s story collection “A Mother’s Tale and Other Stories.”

Slated for publication in the  Fall 2021, it is praised by the publisher:

“This was a decided favorite among readers and the unanimous choice. We could go on but A Mother’s Tale is poignant, illustrates a tremendous understanding of voice, and, while casting a sharp eye on the tragedy of war, is hauntingly beautiful in many ways.”

https://www.theusreview.com/reviews-1/A-Mothers-Tale-and-Other-Stories-by-Khanh-Ha.html#.YJIl5rVKiM9

(Bài đã đăng trên Việt Báo: https://vietbao.com/p301420a305547/khanh-thuc-ha-khanh-ha-ngoi-sao-viet-toa-sang-tren-vom-troi-van-hoc-hoa-ky )

Nhà văn Khanh Ha (Hà Thúc Khánh)

Vừa qua, Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ (VNHNVĐB HK) mà tôi tham gia, nhận được một tin vui thật lớn, làm rộn ràng cả diễn đàn Văn Bút.  Đó là tin văn sĩ gốc Việt Hà Thúc Khánh (Khánh Hà), phu quân của thành viên Văn Bút văn thi sĩ Nguyễn Phương Thúy, đã đoạt cùng lúc hai giải thưởng văn học giá trị của Hoa Kỳ chỉ cách nhau có một tháng.  Giải truyện ngắn “2020 WILLIAM FAULKNER Literary Competition” hồi tháng 9, và đến nay, gần cuối tháng 10, anh lại đoạt tiếp giải “THE 2020 ORISON ANTHOLOGY Award in Fiction” trong cùng một tác phẩm, “THE WOMAN-CHILD.”

Ngoài việc cùng chung sinh hoạt trong Văn Bút VNHNVĐB HK, tôi còn là thành viên nhóm Cô Gái Việt (CGV) cũng ở Hoa Kỳ, một diễn đàn quy tụ toàn nữ văn, thi, nhạc sĩ Việt, do Phương Thúy điều hành. Cô cũng là chủ nhiệm kiêm chủ bút Tuyển Tập Cô Gái Việt, phát hành mỗi năm một lần, gồm những bài viết của thành viên CGV trên nước Mỹ và thế giới, với mục đích góp phần bảo tồn Việt Ngữ và giữ gìn văn hóa Việt Nam nơi hải ngoại, v.v.  Nhờ vậy, tôi mới có dịp may được quen biết nhà văn Khánh Hà (Nv KH). Xin kính chia sẻ cùng quý độc giả cuộc trao đổi đầy thú vị dưới đây giữa người viết và Nv KH:

Thưa anh Khánh Hà,

Trước hết, Phương Hoa xin trân trọng chúc mừng anh đã đoạt được hai giải thưởng văn học giá trị vừa rồi, và cám ơn anh dành cho P. Hoa cuộc đổi trao, chia sẻ thật đặc biệt, thật vinh dự này.  Là một người viết văn tiếng Việt, và chỉ mới bắt đầu tập tò viết chút ít tiếng Anh gần đây, nên P. Hoa vô cùng khâm phục sự thành công tuyệt vời mà anh giành được khi hội nhập vô dòng chính của văn học Hoa Kỳ. P. Hoa xin phép được hỏi anh đôi điều, mong anh vui lòng chia sẻ để độc giả Việt Báo và bà con đồng hương Việt khắp nơi cùng chia vui với anh.

Nv KH: Xin cám ơn chị P. Hoa đã có nhã ý giới thiệu tôi, một Vietnamese American writer, cho độc giả Việt Báo. Rất hân hạnh được tiếp chuyện với chị hôm nay.

P.Hoa: Dạ cám ơn anh. Thưa anh, xin anh cho biết thêm chi tiết về hai giải thưởng truyện ngắn của WILLIAM FAULKNER Literary Competition” và “ORISON ANTHOLOGY Award in Fiction” đã trao cho tác phẩm “THE WOMAN-CHILD” cùng giá trị văn học của chúng, và lý do tại sao anh dự thi hai giải thưởng ở hai nơi lại cùng một tác phẩm? Và nếu tiện, xin anh tóm tắt đôi điều về tác phẩm “THE WOMAN-CHILD” đã đoạt giải?

Nv KH: Thưa chị, giải William Faulkner Literary Competition trao giải nhưng không xuất bản truyện đoạt giải; còn giải Orison Anthology Award in Fiction sau khi trao giải sẽ xuất bản truyện—lịch trình là mùa thu năm 2021. Tóm lại, không có sự mâu thuẫn hay bất đồng giữa hai giải về sự đệ trình của mỗi truyện tranh giải. Truyện “The Woman-Child” được tóm lược như sau:

Set in Vietnam 20 years after the end of the war in a coastal  habitat being ruined  by modern  aquaculture industry, “The  Woman-Child” tells a story of a tender relationship between Vietnam-born Minh who as a Vietnamese expatriate living in the United States visits the country as a graduate student, and a young local girl who lives  on the  seaside with its  ever-present ocean and its ecological beauty, set against a backdrop of the Vietnam’s environmental degradation caused by shrimp aquaculture, when half a million hectares of coastal mangrove forests had been razed to become prawn farms to feed the American market.

(P.Hoa xin tạm dịch: Truyện lấy bối cảnh ở Việt Nam, 20 năm sau chiến tranh, trong một môi trường sống ven biển đang bị hủy hoại bởi kỹ nghệ thủy sản tân tiến. “The Woman-Child” kể câu chuyện về mối quan hệ mong manh giữa nhân vật tên Minh, một Việt kiều Mỹ, sau khi tốt nghiệp trở về thăm quê hương, và một cô gái trẻ địa phương sống ven biển với đại dương mênh mông cùng vẻ đẹp sinh thái thiên nhiên tự thuở nào của nó, giờ đây phải đối diện với sự suy thoái môi trường tại Việt Nam do kỹ thuật nuôi tôm, khi nửa triệu mẫu rừng cây đuốc ở ven biển đã bị san bằng để làm khu nuôi tôm cung cấp cho thị trường Mỹ.)

P.Hoa: Tuyệt vời. Thưa anh, ngoài hai giải thưởng này ra, theo chỗ P. Hoa được biết, anh đã từng nhận “không biết cơ man nào” (cười) thành tích. Ví dụ như, 7 lần anh được đề cử vào giải “Pushcart Prize,” một giải thưởng văn học được vinh danh nhiều nhất nước Mỹ kể từ năm 1976, là hội văn học mà hầu hết các nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học, viết tiểu luận nổi tiếng ở Hoa Kỳ tham gia từ 1976 cho đến nay. Rồi thì tác phẩm của anh cũng từng vào chung kết giải thưởng “The Mary McCarthy,” “Many Voices Project,” “Prairie Schooner Book Prize,” “The William Faulkner-Wisdom Creative Writing Award,” là những giải thưởng nổi tiếng, và giải “The Sand Hills” dành cho sách hư cấu hay nhất, tiếp đến là giải “Robert Watson” của Greensboro Review về tiểu thuyết hay, và còn nữa…

Ôi, đúng là đếm muốn… hụt hơi luôn rồi (cười). Nhờ anh điều chỉnh lại cho đúng, bổ sung thêm những giải thưởng P. Hoa nêu còn thiếu trong danh sách này? Vì P. Hoa biết còn nhiều giải thưởng khác chưa được cập nhật. Đặc biệt, xin anh cho biết, giải thưởng anh nhận đầu tiên là giải thưởng gì? Nhận được năm nào? Và tác phẩm đó tên là gì?

Nv KH: Cám ơn chị đã quá khen, và cũng xin cám ơn chị đã liệt kê đầy đủ. Sự thật là tất cả các giải thưởng đều nặng phần chủ quan, từ giải thưởng nhỏ đến giải thưởng lớn. Nếu có tâm đầu ý hợp với ban giám khảo—on the same vibrations—thì tỷ lệ thắng sẽ cao hơn, với điều kiện tiên quyết là sáng tác phải có giá trị. Tin vui thường đến rất bất ngờ vì có lẽ những gì mình mong muốn thường không bao giờ đến. Giải thưởng văn chương đầu tiên tôi nhận được là Robert Watson Prize, năm 2013 (see link in blue). Truyện ngắn nhan đề Heartbreak Grass (see link in blue).

P.Hoa: “Nếu có tâm đầu ý hợp với ban giám khảo” Nghe “ngồ ngộ” nhưng có lý lắm! (smile). Thưa anh, trong tất cả những giải thưởng của anh, giải thưởng nào mà anh tâm đắc nhất? Giá trị cao nhất? Có kỷ niệm nào đặc biệt đáng nhớ, vui buồn, trong những lần anh được giải, hoặc nhận giải, hoặc khi viết về tác phẩm?

Nv KH: Hai truyện ngắn tâm đắc nhất của tôi là “Heartbreak Grass” và “The Woman-Child.” Trong mỗi truyện người đọc có thể cảm nhận được sự linh động chân thành của những nhân vật và qua bối cảnh của truyện. Thưa chị, viết truyện đã khó thì đoạt một giải văn chương càng khó hơn. Cá vượt vũ môn trong thực tế chỉ là một ảo tượng cho biết bao nhiêu nhà văn. Nhưng tôi rất vui mỗi khi nhận được tin thắng giải mà nói theo tiếng Anh là “a pure joy.”

P.HoaDạ anh. P. Hoa đã từng may mắn đọc qua truyện ngắn “Heartbreak Grass” của anh, nói về người thương phế binh Cộng sản được gọi là “Uncle Chung,” trở về sau trận chiến với hai mắt bị mù và tứ chi đều mất hết, rất sống động và cảm động… nên anh “đánh bại” hết các tác giả khác cũng đúng thôi. Và thưa anh, P. Hoa cũng được biết, truyện “Mrs. Rossi’s Dream” của anh mới xuất bản năm 2019 cũng đã nhận quá nhiều kết quả đẹp. Anh được “Foreword Reviews INDIES” trao cho huy chương Bạc về “Historical Adult Fiction” là tiểu thuyết lịch sử dành cho người lớn, và huy chương Đồng về “War & Military Adult Fiction” tiểu thuyết chiến tranh & quân đội dành cho người lớn, và “Booklist” đã vinh danh là sách mới hay nhất. Anh có thể cho biết chút ít về quyển sách này, anh lấy ý tưởng từ câu chuyện thật hay hư cấu? Và phải mất thời gian bao lâu thì anh hoàn tất quyển sách này?

Nv KH: Tiểu thuyết của tôi thường thành hình bắt đầu từ một hình ảnh. Hình ảnh nguyên thủy chuyển biến thành quyển sách “Mrs. Rossi’s Dream” đến từ một documentary film. Ở đó một bà đồng bóng dẫn một phụ nữ Mỹ đến một nấm mồ nơi thi thể con bà đã được an táng cách đó 20 năm. Lúc bấy giờ tôi đã sống ở đất Mỹ rất lâu và hình ảnh đó vẫn sống trong tôi qua nhiều năm nữa cho đến một hôm tôi cảm nhận được sự thôi thúc phải viết về hình ảnh đó. Trong suốt thời gian viết tôi ngỡ như mình là một đứa bé đang học những điều lạ lùng ở trái đất này, một môi trường đầy đam mê và quyến rũ, đầy những con người đủ chủng tộc, đầy bí ẩn, đầy tham lam, gian ác và hung dữ, nhưng ngược lại cũng đầy tình thương và tha thứ. Một buổi sáng sau hai năm viết liên tục, tôi bước ra ngoài và đứng nhìn cây Hương Đào đang trổ bông rực một góc nhà. Và ve sầu bắt đầu kêu.

P.HoaWow! Thiệt là phải… nín thở khi nghe anh kể (cười), vì có thể thấy sự quyết tâm, cũng như trí tưởng tượng quá phong phú của anh đã thuyết phục được độc giả Mỹ, một điều không phải dễ cho tất cả các nhà văn viết tiếng Anh, nhất là khi tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai. Và, P. Hoa được biết anh tốt nghiệp ban Văn Chương/Báo Chí ở đại học Ohio, xin cho hỏi, anh có xử dụng bằng cấp này cho việc làm nào khác hay là anh chỉ chuyên viết văn? Về viết văn, cho tới hiện tại anh đã xuất bản được bao nhiêu tác phẩm? Truyện ngắn? Truyện dài?

Nv KH: Tôi không có cơ hội để áp dụng học thức của mình về ngành báo chí; nhưng cách viết của báo thật sự giúp tôi khi viết văn—hành văn của báo chí là ngắn, gọn, gãy, đủ—nói khác hơn là cách diễn đạt phải ngắn gọn và rõ ràng. Đọc Ernest Hemingway có lẽ quí độc giả sẽ thấy tính chất đó. Tác phẩm đầu tiên của tôi là “Flesh,” kế đến là “The Demon Who Peddled Longing,” và tác phẩm gần đây nhất là “Mrs. Rossi’s Dream.” Riêng về truyện ngắn thì tôi có trên 30 truyện đã xuất bản qua nhiều tạp chí văn chương Mỹ–phần lớn là những tạp chí của những chương trình Master of Fine Arts (MFA) do những sinh viên cao học quản lý và điều hành từ các trường đại học khác nhau.

P.Hoa: Dạ, cám ơn anh. Xin cho hỏi, anh có nhà văn thần tượng nào cho phong cách viết của anh không? Và anh có thể cho biết anh có những gửi gắm gì, nhắn gửi gì cho độc giả trong những câu chuyện về chiến tranh như “Mrs. Rossi’s Dream” chẳng hạn?

Nv KH: Thần tượng về văn chương thì tôi không có; tuy nhiên tôi thích đọc Ernest Hemingway, William Faulkner, Cormac McCarthy, Robert Penn Warren. Tác phẩm “Mrs. Rossi’s Dream” hoàn toàn đứng riêng về phương diện chiến tranh. Nó chỉ mô tả sự tàn bạo vô nhân của chiến tranh và sự mất mát của chúng ta trong tình nhân loại. Là một nhà văn tôi chỉ viết khách quan nên không bao giờ có tham vọng biểu dương một chủ đề hay gởi đời một bài thuyết pháp.

P.Hoa: Dạ anh. Nhưng dù anh có khiêm nhường mà nói thế, độc giả vẫn có thể nhận ra những “sự tàn bạo vô nhân của chiến tranh” anh mô tả trong truyện, là những nhắn gửi, những lời kêu gọi thống thiết lương tâm loài người về đạo đức, về lòng nhân, và về tình người với nhau. Cho P. Hoa hỏi tiếp, truyện đầu tay bằng tiếng Anh anh viết là khi nào, và đó là chuyện gì? Điều gì đã giúp anh “đánh đâu thắng đó” khi gửi bài dự thi? Anh đã luôn “đoán trước” được chủ ý và yêu cầu của ban giám khảo?

Nv KH: Thưa chị, truyện đầu tay Anh ngữ của tôi được viết lúc tôi là một senior ở trường đại học Ohio University, Athens, trong khi theo học một khóa Creative Writing. Giáo sư của tôi lúc bấy giờ là nhà văn nổi tiếng Daniel Keyes, tác giả của tác phẩm “Flowers for Algernon.” Cuối khóa ông chọn truyện ngắn của tôi và xin phép tôi cho ông gửi đăng trên tờ tạp chí Ohio Review. Nhan đề truyện ngắn là “A Woman from Saigon.” Tôi quên gần hết câu chuyện vì cũng hơn 30 năm rồi. Về việc gửi bài dự thi và “đoán được” chủ ý lẫn yêu cầu của ban giám khảo thì tôi xin lập lại một sự thật, một chân lý cho tất cả tác phẩm dự thi: Tất cả kết quả đều dựa trên sở thích cá nhân; cho nên nếu hợp tính, hợp thẩm mỹ với nhau thì tác phẩm đó sẽ thắng.

P.Hoa: Thưa anh, P. Hoa đã được đọc nhiều truyện ngắn tiếng Việt anh viết cho tờ Tuổi Hoa trước năm 1975. Khi đó anh còn trong tuổi học trò, mà những truyện ngắn anh viết như “Săn Người,” “Hoa Đầu Mùa,” hay “Tổ Ấm,” trên Tuổi Hoa, ngòi bút của anh khi ấy đã rất chững chạc, sắc sảo, rất hay, và đầy vẻ huyền bí không thua gì những nhà văn nổi tiếng. Một tương lai sáng lạn về văn học Việt Nam như thế, tại sao về sau ra nước ngoài anh không tiếp tục viết tiếng Việt nữa, mà chỉ chuyên viết sách tiếng Anh? Còn nữa, anh có dự định dịch sang Việt ngữ những tác phẩm của anh để bà con mình những người không biết nhiều tiếng Anh có thể đọc?

Nv KH: Thưa chị, thưở còn viết cho Tuổi Hoa tôi đang ở tuổi 13-15 và chỉ biết viết vì đam mê. Bao nhiêu năm, sau khi đã trưởng thành tôi không còn sự ngây thơ đó nữa, vì sự tự hào, dù đó là một hảo huyền, đã thúc đẩy tôi sáng tác qua Anh ngữ để đạt một số độc giả rộng lớn hơn. Việc chuyển dịch những gì đã viết từ Anh ngữ sang Việt văn đòi hỏi rất nhiều thì giờ và một tinh thần tận tụy mà tôi không làm được vì đã để hết tâm viết truyện bằng Anh ngữ. Ngoài ra, nếu muốn dịch hay thì nên để một dịch giả khác mình làm chuyện đó. Rất ít có tác giả nào tự dịch những gì mình viết.

P.Hoa: Dạ anh nói đúng lắm. Còn điều này, P. Hoa từng đọc một bài viết dễ thương từ phu nhân Phương Thúy của anh, tựa đề là “Giận”:

(http://nguyenpthuy.jigsy.com/files/documents/0a73d5cd-ab52-4c15-991e-b054ec2934ec.pdf)  

Trong đó có đề cập đến một bài tình thơ bằng tiếng Anh, “Gasoline Rainbow” rất ngọt ngào, rất lãng mạn, anh viết cho nàng khi hai người mới yêu nhau.  Xem ra hồn thơ Anh ngữ của anh cũng khá là… lai láng (cười). Như vậy, ngoài viết sách, anh có làm thơ tiếng Anh không?

Nv KH: Thưa chị có; nhưng đó cũng như so sánh một chef với một sous-chef. Tình yêu có thể gợi cảm hứng diễn đạt qua vần thơ để bắt giữ những sắc màu lãng mạn lúc đó, và tôi đã làm thơ khi tôi biết yêu. Nhưng cuối cùng tôi vẫn là một nhà văn.

P.Hoa: Anh đối đáp duyên dáng lắm (cười). Là một nhà văn gốc Việt rất thành công trong dòng chính văn học Mỹ quốc, anh thuộc vào hàng “tiền bối” của những cây viết mới bắt đầu, anh có lời khuyên gì, nhắn nhủ gì, bí quyết gì, để dẫn đến sự thành công vượt bực đó mà anh có thể chia sẻ cho những “hậu bối” trên con đường viết lách bằng Anh ngữ, và cả những cơ hội có thể thắng giải văn chương như anh?

Nv KH: Viết văn cũng như tập nấu ăn, thưa chị. Nếu có người chỉ dạy đó chỉ là mắm muối thêm vào thôi. Sự trưởng thành của một nhà văn đến từ chính mình, có nghĩa là viết và viết. Và đọc. Đọc nhiều để bồi bổ kiến thức cho kỹ thuật viết, và viết nhiều để tôi luyện kỹ thuật hầu tìm được tiếng nói của riêng mình. Một nhà văn không có tiếng nói đặc thù cũng giống như “generic drug” so sánh với “brand-name drug.” Nếu đây có thể xem là một lời khuyên thì xin chị chấp nhận.

P.Hoa: Dạ anh, tất nhiên đó là những lời khuyên vô giá! Câu hỏi chót là về sự nghiệp văn chương của anh: Mục tiêu sắp tới của anh là gì? Anh có dự định tranh đoạt những giải thưởng văn học nào trong tương lai? Và hiện anh có đang chuẩn bị in sách mới?

Nv KH: Tôi luôn bận với sáng tác. Lúc đang viết một tiểu thuyết thì tôi đã có một hình ảnh của sáng tác khác sau đó. Tiểu thuyết tôi vừa viết xong đã có một số truyện ngắn trích ra từ đó, đã và sẽ đăng trên một số tạp chí văn chương của Mỹ–Waccamaw Journal, Solstice Literary Magazine, Evening Street Press. Hiện tôi sắp kết thúc phần tham khảo cho sáng tác mới và sẽ bắt đầu viết vào năm tới.

P.Hoa: Hết sảy! Chúc mừng anh! Thật là ngưỡng mộ sức viết ngút ngàn như gió cuốn, như mây bay, như nước chảy của anh, những đức tính và sự quyết tâm ấy không phải nhà văn nào cũng làm được. Và, nếu không có gì bất tiện, anh có thể cho biết anh đến Mỹ năm nào và thuộc diện gì?

Nv KH: Thưa chị tôi du học ở Ohio University, Athens, vào thập niên 70, trước khi chúng ta mất nước vào tay Cộng sản.

P.Hoa: Dạ cám ơn anh. Để kết thúc cuộc trao đổi này, P. Hoa xin chân thành cám ơn anh Khánh Hà rất nhiều, đã bỏ thì giờ quý báu để chia sẻ nhiều điều thú vị và bổ ích cho những cây viết tiếng Anh “mầm non” gốc Việt (như P. Hoa) trong cuộc trò chuyện này. Kính chúc anh cùng gia đình vui khỏe, hạnh phúc, và riêng anh, chúc anh luôn tiến mãi trong sự nghiệp văn chương trên quê hương thứ hai này.

Nv KH: Xin thành thật cám ơn chị. Chúc chị và gia quyến được bình an trong thời COVID-19 này.

P.HoaDạ cám ơn và kính chào anh.

Xin giới thiệu sách mới sắp xuất bản của Khánh Hà:

https://www.crpress.org/shop/a-mothers-tale-other-stories/

Quý độc giả nếu muốn đọc các truyện ngắn Việt ngữ của nhà văn Khánh Hà đăng trên báo Tuổi Hoa trước 1975 xin mời vô những đường link sau đây. (copy link bỏ lên Google để mở)

*Truyện Ngắn: “Săn Người”  trang 79, — TUỔI HOA số 85 & 86 — Xuân Mậu Thân 1968: https://drive.google.com/file/d/0B9E44PtYv9V-bG0wN09Sb29aOEU/view

*“Hoa Đầu Mùa” — TUỔI HOA số 76, 1967:

https://drive.google.com/file/d/0B9E44PtYv9V-SUExWFFMSlJRckU/view

*“Tổ Ấm” — TUỔi HOA số 52, 1966 (serialized Part 1):

https://drive.google.com/file/d/0B9E44PtYv9V-RnRQeFdDQVdybGs/view

*“Tổ Ấm”– TUỔi HOA số 53, 1966  (serialized Part 2):

https://drive.google.com/file/d/0B9E44PtYv9V-REl5Z0RDbGZLRmM/view

*“Tổ Ấm” — TUỔi HOA số 54, 1966 (serialized Part 3):

https://drive.google.com/file/d/0B9E44PtYv9V-aGZ2bjhVS0tzZDQ/view

*“Tổ Ấm” — TUỔi HOA số 55, 1966 (serialized Part 4):

https://drive.google.com/file/d/0B9E44PtYv9V-cFc3UEEzWGxEU0E/view

*“Tổ Ấm” — TUỔi HOA số 56, 1966 (serialized Part 5):

https://drive.google.com/file/d/0B9E44PtYv9V-VjJfczJhQVZwUDQ/view

*“Tổ Ấm” — TUỔi HOA số 57, 1966 (serialized Part 6):

https://drive.google.com/file/d/0B9E44PtYv9V-aDFheFlsc2RhSHc/view

Phương Hoa

Sách mới nhà văn Khánh Hà sắp xuất bản, mà đã được giải nhất.




TÌNH MẸ TUYỆT VỜI

KIỀU MỸ DUYÊN

Mẹ Kiều Mỹ Duyên và cô Hoàng Minh Thúy, Chủ báo Xây Dựng, Houston

          Mẹ tôi đã qua đời năm 1996. Mẹ tôi đã đi xa nhưng mẹ tôi vẫn còn ở đây, trong trái tim của tôi. Tôi cứ tưởng mẹ tôi đi du lịch, và mẹ tôi sẽ trở về. Nhiều khi tôi nhìn những bụi cây trước nhà, tôi cứ tưởng mẹ tôi đang chăm sóc  hoa và cây kiểng.

          Sáng nay trời rất đẹp, gió dìu dịu, những con chim sẻ ngoài vườn vô tư nhảy nhót và hót líu lo, chuyền từ cành cây này đến cành cây khác. Đời rất đẹp, thanh bình, vui tươi với nắng ấm chói chang cho một ngày đẹp bắt đầu.

          Cháu tôi, Hưng Nguyễn, con của em ruột hỏi:

– Cô hai uống cà phê không?

– Uống, nhưng cà phê phải thật nhạt. Tôi đáp.

Hưng Nguyễn nói tiếp:

– Có trái cây nhiều lắm, cô hai ăn đi.

          Giọng nói của cháu lúc nào cũng reo vui. Ai mà giận Hưng nhưng nghe thấy tiếng nói reo vui và tiếng cười giòn tan vô tư của cháu là hết giận ngay. Hưng đang học Tiến Sĩ, vất vả còn hơn cày bừa. Buổi sáng cháu thức dậy thật sớm, ăn sáng, uống cà phê rồi lên đường, đường từ Orange County đến Los Angeles không xa nhưng nếu kẹt xe thi phải đi thật sớm hoặc sẽ bị  kẹt xe trên xa lộ hàng giờ. Một chuyến đi mỗi ngày mất 3- 4 giờ thật quá nhiều. Cái bằng Tiến Sĩ phải trả bằng tiền, thì giờ, và sức lực.

          Hưng cầm trái chuối vàng óng ả đưa cho tôi và nói:

– Cô hai ăn đi. Con nhớ bà nội nói thứ gì ngon mới mời người khác, nhà mình ngày xưa nhiều trái cây lắm.

Hưng Nguyễn, Tiến Sĩ kinh tế

Tôi nhớ nhà chúng tôi trên khu đất rộng. Trước nhà có hàng dừa xanh mướt, lúc nào cũng quằn trái, cành lá xanh mướt làm cho căn nhà trở thành màu xanh. Chúng tôi sinh ra và lớn lên ở ngôi nhà này, hàng ngày uống nước dừa ngọt lịm, hái xuống ăn ngay, ăn cơm dừa và uống cả nước. Nước dừa ngọt lịm, bên hông nhà là hàng rào trúc, sau nhà và xung quanh nhà lá ổi xanh rì, mãng cầu, đu đủ, mía lau, xoài cát, và chuối. Trước nhà có cây vú sữa thật to, cao, cành lá xum xuê, quanh năm có trái ngọt lịm.

          Hồi nhỏ tôi thường trèo lên cây vú sữa hái trái. Trước sân nhà mẹ tôi trồng nhiều loại hoa: thược dược, hoa cúc, hoa mai cao hơn đầu của tôi, mùi thơm ngào ngạt. Tôi không ở nhà, tôi sống với cô của tôi gần trường, gần quận, mỗi tuần về một lần. 

          Hồi chị em tôi còn nhỏ, mẹ tôi thường hái trái cây, rửa thật sạch để cúng Phật ở trên bàn thờ và bàn thiên, đem trái cây vào chùa. Mẹ tôi đi nhiều chùa khác nhau, thường là những ngôi chùa nhỏ và nghèo. Mẹ tôi thường giúp nhiều người, đem cháu về nhà nuôi. Anh tư Tốt, con của cậu tư chúng tôi, mẹ anh mất sớm nên mẹ tôi đem về ở với chúng tôi. Rồi chị Thức, con của người cậu khác cũng về ở với chúng tôi.

          Ba mẹ tôi thương cháu như con ruột của mình. Lòng thương yêu của ba mẹ tôi được những người cháu này đáp lại bằng cách học hành rất giỏi, dễ thương, các anh chị lớn hơn chúng tôi nhưng không ai ăn hiếp chúng tôi, một lòng nhường nhịn và thương yêu nhau.

Mẹ tôi thường dạy chúng tôi:  

– Mình tặng trái cây cho ai thì phải chọn thật ngon, thật tươi, khi mời ai ăn cũng vậy.

Một nồi bắp vừa chín, đổ ra khỏi nồi, mùi thơm ngào ngạt bốc lên, người nào bưng dĩa bắp mời từng người trong nhà, phải để người ta chọn trước, mình chọn sau. Và người chọn trước bao giờ cũng chọn trái nhỏ nhất, để người sau trái lớn nhất. Chúng tôi sống trong gia đình vui vẻ từ sáng đến tối. Buổi tối, mẹ tôi thường nấu chè khoai môn, có nước cốt dừa, em gái tôi gần gũi với mẹ tôi thường hơn tôi nên sau này em tôi nấu chè và nấu ăn rất ngon.

          Tôi học được tính của cha mẹ tôi là giúp gì cho người khác là làm ngay không đợi người ta năn nỉ nhưng không hiểu sao tôi không học được tính nấu nướng rất ngon của mẹ tôi, có lẽ tôi thiếu tính nhẫn nại và tỉ mỉ. Nấu một nồi phở 6- 8 giờ, nấu cho bắp cải, củ cải thành nước lèo thật ngọt, ngọt vị xương thịt hay vị rau cải, tôi không làm được. Có lẽ trời sinh ra người nào thích ở ngoài đường, thích ở vận động trường, thích ở hồ bơi, ở sân tennis, bàn ping pong thì không thể nào nấu ăn ngon, không biết có đúng hay không? Có lẽ vì thế tôi nhận thấy phụ nữ nào nấu ăn cũng ngon, tôi thường được mời đến nhà bạn bè ăn. Tôi ăn xong, lúc nào tôi cũng khen chưa bao giờ chê, bởi vì các bà, các cô người nào cũng giỏi hơn tôi gấp vạn lần. Tôi ăn uống rất dễ, ăn cho xong một bữa, sống không phải để ăn tôi quan niệm như thế.

          Mấy chục năm nay ăn chay, lại càng dễ hơn, một chút nước tương, một dĩa rau tươi, một chén cơm trắng là xong một bữa ăn. Dễ quá ai cũng có thể mời tôi ăn tối dễ dàng cho một ngày.

          Mẹ tôi thường dạy chúng tôi rằng phước đức là do mình làm nên, chứ không phải phúc đức là đi xin. Mẹ tôi cũng dạy rằng nên làm việc từ thiện. Hạnh phúc là giúp đỡ cho người khác, chứ không phải nhận sự giúp đỡ của người khác.

          Khi tôi sinh ra, ông bà ngoại đã qua đời, tôi chưa một lần được nhìn thấy ông bà ngoại, bà nội cũng qua đời, chỉ còn ông nội, nhưng một thời gian sau rất ngắn thì ông nội cũng qua đời, lúc tôi được mấy tháng gì đó. Tôi là cháu nội đầu tiên của ông bà nội tôi. Ba tôi là con trưởng trong gia đình có 2 anh em, tôi không được diễm phúc  như những đứa trẻ khác có ông bà nội, ông bà ngọai để được hưởng tình cảm của ông bà dành cho mình. Tôi chỉ còn tình cảm của ba mẹ tôi và dì tôi. Mẹ tôi sinh ra trong gia đình có 9 anh chị em. Dì sáu tôi lập gia đình rất sớm, chồng chết, dì đem một người con gái con của dì bảy về nuôi, dì thương chúng tôi vô cùng. Dì là người mẹ thứ hai của chúng tôi, chúng tôi cũng thương dì nhiều lắm.

          Dì thương chúng tôi lắm, cháu nào dì cũng thương, nhưng có lẽ trong những người cháu của dì, tôi gần gũi dì nhiều nhất. Mỗi lần muốn làm việc từ thiện, tôi không có tiền thì tôi xin tiền mẹ tôi và dì tôi. Dì tôi hiền như mẹ tôi, ít nói, dễ thương và phúc hậu. Mẹ tôi hiền lắm, hay giúp người. Mẹ tôi và dì tôi làm việc từ thiện thường xuyên. Ba tôi dạy võ miễn phí cho trai trẻ trong làng. Mẹ tôi hay thương người, nhà tôi có cái giếng đào quanh năm nước trong vắt, mỗi lần có tân binh quân dịch tập luyện ở bãi tập, mẹ tôi gánh nước cho anh em uống. Sau này khi tôi lớn lên hình ảnh làm việc thiện tuyệt vời của mẹ tôi in vào đầu tôi, một người phụ nữ hiền lành, ốm yếu, nụ cười thật tươi gánh nước cho tân binh quân dịch uống. Quý vị khó tưởng tượng được nhưng đây là sự thật đã xảy ra thập niên 50 quý vị ạ. Những tân binh này còn sống sót cũng lớn tuổi hơn chị em chúng tôi nhiều.

Mỗi lần có tân binh quân dịch tập luyện ở bãi tập thì mẹ tôi gánh nước cho anh em uống.

          Kỷ niệm về mẹ tôi nhiều lắm. Chúng tôi sống trong ngôi nhà rộng, đất rộng. Nhà đầu tiên được xây trên đất của ông nội chúng tôi để lại. Sau này, ba mẹ tôi mua một miếng đất khác rộng rồi xây nhà. Xung quanh là cây xanh, yên tĩnh, chúng tôi lớn lên trong ngôi nhà này, bình yên và hạnh phúc, ngôi nhà có tiếng cười suốt ngày. Nhà chúng tôi nuôi nhiều chó, có những con chó thật to, chó giữ nhà, chó thương chủ nhà, chó đưa chủ nhà ra tận cổng khi chủ nhà đi chợ hay đi đâu đó, chó đón chủ nhà trở về. Có một điều rất lạ mà chúng tôi không hiểu nổi khi thấy một đàn chó chạy ra cổng mừng rỡ đón chủ nhà trở về mà không có tiếng sủa, nhưng nếu có người lạ đến là chó cất tiếng sủa rất to.

Mẹ tôi chỉ cần nói một tiếng rất nhỏ:

– Đi vào các con.

Đàn chó ngoan ngoãn đi vào sau vườn ngay. Mẹ tôi không bao giờ lớn tiếng với con cháu và các con. Các cháu đều nghe lời mẹ tôi, không ai cãi lại một lời.

          Trước khi vào lớp học gặp người lớn là chúng tôi cúi đầu chào, và rời khỏi lớp học cũng vậy, gặp người lớn cũng cúi đầu chào hỏi rất lễ phép.

          Mẹ tôi thường cúng Phật ở nhà, trên bàn thờ lúc nào cũng có trái cây tươi, hoa tươi và nước lọc.Trái cây ngoài vườn, hoa ngoài vườn hái đem vào cúng Phật. Mẹ tôi thường đi chùa đem trái cây, hoa quả cúng Phật và mẹ tôi cũng làm công quả ở chùa. Mẹ tôi là Phật tử thuận thành, mẹ tôi cầu nguyện mỗi ngày, cầu nguyện cho gia đình, cho người thân và cầu nguyện cho người nghèo, mẹ tôi ăn chay ngày rằm, ngày lễ.

           Nói về mẹ tôi nói hoài không hết. Mẹ tôi hay giúp người đó là điều đặc biệt không bao giờ tôi quên. Tôi giống tính mẹ tôi nhất ở điểm này. Vào chùa, mẹ tôi thấy việc gì làm việc đó, từ trong nhà bếp ra ngoài vườn, mẹ tôi thích nấu nướng, dọn dẹp trong bếp, ngoài vườn. Mẹ tôi thích chăm sóc cây cỏ, nên đến chùa nào mẹ tôi cũng có nhiều việc lắm.

          Mẹ tôi thường nói:

– Người ta ăn thì còn, mình ăn thì hết, nên giúp người.

          Hồi tôi còn nhỏ xíu, tôi cũng biết xung quanh mình cũng có nhiều trẻ em không cha không mẹ, có người vừa sinh ra là mất cha, có người vừa sinh ra là mất mẹ, ít có ai được một gia đình có ông nội bà nội, ông ngoại bà ngoại,và cha mẹ đầy đủ bên cạnh cho đến khi khôn lớn.

Gia đình nào đầy đủ mọi người là điều hạnh phúc nhất trần gian, là phúc đức. Tôi không được như thế cho nên thấy gia đình nào còn ông bà thì tôi thèm lắm, thôi thì kiếp sau vậy.

          Mẹ tôi nhỏ người, gầy nhưng sức chịu đựng và làm việc không thể tưởng được. Tôi vượt biên trước, sau đó có thẻ xanh, tôi bảo lãnh mẹ tôi và em tôi sang Hoa Kỳ. Tôi cầu nguyện cho mẹ tôi và em tôi được định cư thì tôi ăn chay để trả ơn Trời Phật gia hộ. Sau đó mẹ tôi bệnh, tôi cầu nguyện cho mẹ tôi hết bệnh và sau này mẹ mất, tôi cầu nguyện cho mẹ tôi siêu thoát và tôi ăn chay luôn cho đến bây giờ, thoáng mà đã mấy chục năm rồi.

          Những ngày ở Việt Nam, sau 1975, gia đình tôi khổ, mọi người cùng khổ. Tôi có cháu, con của người anh họ du học ở Pháp, tôi nhờ cháu chuyển tiền về Việt Nam để giúp gia đình, nhưng sau này tôi biết được gia đình tôi cũng ăn bo bo, khoai sắn trộn cơm như mọi người vì mẹ tôi không dám xài tiền, vì không biết ngày mai ra sao? Người phụ nữ Việt Nam nào cũng lo xa, sợ con cháu của mình đói, nhất là sống trong xã hội chủ nghĩa không biết chuyện gì sẽ xảy ra, nên dành dụm là tốt nhất.

          Tôi có 4 chị em gái, chết 2 còn lại một em và tôi. Sau này, mẹ tôi sinh được một đứa con trai. Em trai của tôi rất thông minh, thích binh chủng Không Quân nên sau này vào Không Quân được du học ở Mỹ 2 lần sửa máy bay F5. Em trai tôi cưới vợ làm nghề dạy học và sinh được 2 con, một trai một gái. Đứa con trai đầu lòng của em tôi mẹ tôi nâng niu như trứng. Nó cũng biết là được bà nội thương lắm, cho nên nó nhớ nhiều nhất là bà nội. Bà nội ẵm bồng cháu trên tay khi cháu còn nhỏ xíu. Cháu trai này mang tính nhà binh của bố, khi nó vừa ra đời tôi ẵm nó ở nhà thương. Tôi nói:

– Mai này con lớn lên đi nhiều như cô hai nghen con.

Không ngờ lời nói của tôi thành sự thật. Sau này, nó đi làm nhiều quốc gia khác nhau: Á Châu, Anh, Úc. Nó sinh con ở Úc, và hiện nay ở Hoa Kỳ, đang học Tiến Sĩ ở Los Angeles mà chúng tôi vừa kể đến ở trên là Hưng Nguyễn.

Nó nhớ bà nội và nói:

– Mời người ta ăn phải chọn thứ gì ngon nhất, cho người ta trái cây cũng phải chọn trái cây nào ngon nhất.

Hưng Nguyễn trong lễ tốt nghiệp Tiến Sĩ kinh tế ngày 22/06/2018

Hưng Nguyễn bên gia đình trong lễ tốt nghiệp Tiến Sĩ kinh tế ngày 22/06/2018

Bây giờ, Hưng đỗ Tiến Sĩ kinh tế. Ngày nhận bằng tốt nghiệp, đầy đủ mọi người trong gia đình đến chúc mừng: cô hai, cô ba, mẹ, vợ và con gái, nhưng chỉ thiếu bà nội. Hưng nói ước gì bà nội còn sống đến dự lễ và chung vui với con hôm nay. Con muốn tặng bà nội bó hoa này để cảm ơn bà nội luôn thương yêu và khuyến khích con cháu học hành. Tấm bằng danh dự này có công sức của bà nội và gia đình luôn bên cạnh ủng hộ con. Con cảm ơn bà nội và nhớ nội nhiều lắm, nội biết không?

          Cha mẹ nào cũng có nhiều đề tài để con cháu viết truyện, viết sách. Mẹ tôi cũng vậy, sự mộc mạc chất phát của mẹ tôi, tình thương người của mẹ tôi cũng đủ để tôi viết dài dài.

       Tôi chờ đợi hơn 10 năm, mẹ và em tôi mới được định cư ở Hoa Kỳ. Ngày mẹ đến phi trường, chúng tôi đón mẹ tôi và em gái tôi, trên đường về nhà mẹ tôi nhìn hai bên đường chăm chú, mẹ tôi không nhìn thấy những cánh đồng xanh mướt như ở Việt Nam. Mẹ tôi không nói gì, nhưng về nhà tôi, mẹ đi ngoài vườn và nói:

– Nhân viên của con về thăm mẹ, nói con khá lắm, vườn rộng lắm, nhưng đi bộ có chút là đụng bức tường.

          Đất gần 1/4 mẫu, mẹ tôi vẫn thấy nhỏ so với đất rộng mênh mông nhà của tôi ở Việt Nam. Vậy là đúng rồi.

          Mẹ tôi là người hoạt động, không bao giờ ngồi yên, thấy nhà tôi cỏ xanh mướt, mẹ tôi muốn trồng rau, trồng cây ăn trái cũng không nói.Sau này, mẹ tôi ở nhà riêng tôi mới biết điều này, vì sau này mẹ tôi trồng mía, đu đủ, giàn nho, đào, ớt, cam, quýt, khế.

          Ai đến nhà thăm mẹ tôi cũng hái trái cây tặng, hái ngay ngoài vườn tươi lắm, tặng liền, mẹ tôi rất hiếu khách, ai đến nhà mẹ tôi ân cần niềm nở như người thân trong gia đình. Bạn tôi rất thương mẹ tôi nên có những người bạn của tôi như vợ chồng Hoàng Minh Chính, Lê Hiếu Nghĩa thăm mẹ tôi nhiều hơn thăm tôi. Gia đình Báu Nguyễn ở Riverside cũng thường xuyên thăm mẹ tôi. Mẹ rất thương mến bạn của chúng tôi, ai đến nhà mẹ tôi và em gái tôi hay mời dùng cơm và cho trái cây đem về. Những người già ngày xưa là như thế, như đến ăn đám giỗ, sau đó mỗi người đều xách thức ăn đem về.

          Mẹ tôi và em gái tôi có nhà riêng ở Little Saigon, đi bộ ra Bolsa và Magnolia. Nhà này tôi mua lâu lắm rồi để đợi mẹ tôi và em gái tôi sang có nơi trú ngụ. Mẹ tôi và em gái của tôi sang ở với chúng tôi hơn một năm trước khi ra ở riêng.

          Mẹ tôi lúc nào cũng tươi cười. Tôi rất biết ơn thầy Minh Mẫn, viện chủ của chùa Huệ Quang, thành phố Santa Ana, đã bảo bọc cho mẹ và em gái tôi. Tôi cũng không quên cám ơn các cụ trong chùa chăm sóc cho mẹ tôi, dù ở trong chùa 1 tuần lễ nhưng mẹ tôi nhớ mãi những ngày mới sang. Ngày nào cũng có người đến chùa làm công quả, tiếng cười tiếng nói reo vui suốt ngày.

          Người nào trong cũng rất tử tế với mẹ tôi, ân cần thăm hỏi vì họ biết mẹ tôi mới định cư ở Hoa Kỳ.

          Tôi còn nhớ ngày mẹ tôi vừa đến phi trường John Ways, chúng tôi đi đón, rất cảm động. Lê Châu Trí, một chuyên viên địa ốc của chúng tôi thu hình mẹ tôi và em gái tôi ốm nhom, ốm ngoài sức tưởng tượng của tôi, nhưng những bước đi vẫn thoăn thoắt và trí óc vẫn minh mẫn.

          Mẹ tôi có trí nhớ rất tốt. Anh Trần Bảo ở Úc sang chơi có mua tặng mẹ tôi một cây ăn trái, khi có trái chín, mẹ tôi nói với em tôi:

– Gởi trái cây này cho chú Bảo.

          Và một  anh  sinh viên khóa 4 trường đại học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt tặng cho mẹ tôi một cây ớt. Ớt quằn trái suốt năm tháng, mẹ tôi thường nhắc đến người sĩ quan này.

Mẹ tôi cùng 2 cháu Quý và Thu tÚc sang thăm. Cây hoa phía sau do mẹ tôi trồng.

Một bà Phó Đại Sứ Niagara ở Jamaica ghé thăm ở lại vài ba ngày, bà chọn ở lại nhà với mẹ tôi hơn là ở nhà tôi, có lẽ gần Little Saigon để tiện cho bà thăm phố Bolsa một mình. Ngôn ngữ bất đồng nhưng hai người rất vui vẻ, ngôn ngữ bằng tay cũng đưa đến sự cảm thông. Bà Phó Đại sứ thường ăn sáng và ăn tối với mẹ tôi, còn trưa thì bà đi dạo phố. Bà đòi dẫn mẹ tôi đi phố, mẹ tôi lắc đầu vì còn chăm sóc vườn tược. Mẹ tôi tụng kinh mỗi ngày từ 3-6 giờ chiều, bà cụ vừa tụng kinh vừa lần tràng hạt, đều đặn như thế mỗi ngày chờ đến khi em tôi đi làm về.

          Kỷ niệm về mẹ thì nhiều lắm. Những ngày mẹ tôi bệnh, em tôi và một chị họ túc trực bên giường bệnh 24/24. Em tôi về thì tôi đến, tôi ở lại ban đêm ngủ trên cái ghế nhỏ, bệnh viện cũng tốt không đuổi tôi ra khỏi bệnh sau giờ hết cho thăm viếng bệnh nhân.

          Bây giờ, mỗi lần đi ngang bệnh viện Fountain Valley tôi nhớ mẹ vô cùng.

Mỗi lần nhìn các cụ trong chợ, ngoài phố, người nào ốm nhom là tôi nhớ mẹ tôi.

          Hồi nhỏ, Mẹ dạy chúng tôi bài thơ Con Cò. Tôi thấy hình ảnh Mẹ trong đó: tần tảo, chịu thương, chịu khó, lặn lội nuôi con, nhưng luôn giữ tấm lòng trong sạch và thanh cao.

“Con cò mà đi ăn đêm,

Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.

Ông ơi! Ông vớt tôi nao,

Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng.

Có xáo thì xáo nước trong,

Đừng xáo nước đục đau lòng cò con.”

          Niềm vui của người già là đi lễ, và đi mua quà để gửi về Việt Nam cho thân nhân còn ở lại quê nhà. Mẹ tôi rất cẩn thận và kỹ lưỡng. Bao giờ mua quần áo mới, xong về nhà phải giặt, ủi cẩn thận, rồi mới tặng cho người nhà. Quần áo trẻ con để một bên, người lớn để một bên. Cháu nội còn ở Việt Nam. Mẹ tôi thương cháu nội lắm. Cháu là “cục vàng” của bà nội. Chúng tôi thường tặng tiền cho mẹ tôi, để mẹ tôi cần gì thì cứ mua. Bao giờ mẹ tôi cũng dành dụm để mua quà gửi về Việt Nam. Mẹ tôi thích đi chùa làm công quả. Vào chùa, thấy việc gì cũng làm, như lặt rau, bào cà rốt, quét rác ở sân chùa. Mẹ tôi làm việc liên tục, không nghỉ ngơi. Tôi nhớ ơn Hòa Thượng Minh Mẫn, Viện Chủ chùa Huệ Quang. Khi mẹ và em tôi mới sang, tôi vẫn phải đi làm cả ngày. Tôi sợ mẹ tôi và em tôi buồn, nên đưa mẹ tôi và em tôi vào chùa Huệ Quang. Tôi vừa ngỏ ý, tôi muốn mẹ và em tôi vào chùa để làm Phật sự, thầy Minh Mẫn nhận lời ngay không một chút do dự, mặc dù chùa lúc đó rất nhỏ. Thầy mua một ngôi nhà nhỏ bên cạnh cho thiện nam, tín nữ ở xa đến viếng chùa, có thể ở lại chùa. Tôi rất cảm động vì sự giúp đỡ của thầy. 

          Mẹ tôi đi chùa Huệ Quang, Huê Nghiêm, Hương Tích, Bát Nhã, Minh Quang tịnh xá, A Di Đà, Bảo Quang, chùa Việt Nam, tu viện Hoa Nghiêm, Trúc Lâm, chùa Phật Tổ, chùa Vĩnh Nghiêm, Như Lai Tự ở San Diego, Quốc Tế Học Viện ở Venture, và đi nhiều chùa lắm.

          Mẹ tôi hay rầy tôi:

– Ở nhà lúc nào cũng có thức ăn chay, sao con không ăn mà vào chùa ăn làm chùa tốn kém.

          – Mẹ đừng lo, con hay ăn vậy chứ hễ thầy nhờ điều gì con làm việc tận lực lắm.

          Nói như thế cho mẹ tôi vui, chứ ăn hay không ăn ở chùa nhưng bất cứ chùa nào nhờ thông báo lễ lạc hay bất cứ điều gì mà tôi có thể làm được không bao giờ tôi từ chối.

          Viết về mẹ viết ngàn năm cũng không hết, suốt đời con gắn liền với mẹ, mẹ tôi qua đời nhẹ nhàng, một tay tôi nắm tay mẹ tôi như muốn níu kéo không cho mẹ tôi đi, nhưng chân mẹ tôi đã lạnh tôi cũng biết việc gì sẽ đến, một tay tôi gọi điện thoại để gọi em tôi trở vào bệnh viện.

          Mẹ tôi đi thanh thản, bác sĩ Hùng Nguyễn vào bệnh viện tức khắc, đầu mẹ tôi còn ấm, thế là chị em tôi đứng lặng người, không khóc, không có tiếng nói.

Mẹ tôi đi nhưng hình ảnh mẹ tôi vẫn còn đây, vẫn còn ngồi trước bàn Phật tụng kinh mỗi buổi chiều, và tiếng reo vui của mẹ tôi khi tôi hỏi:

– Má đi chùa không?

– Đi. Để mẹ sửa soạn.

          Tiếng của mẹ tôi thật to, reo vui và rất hạnh phúc.

          Mẹ tôi đi chùa bao giờ cũng mặc áo dài rất trang nghiêm, hái trái cây và rau tươi đem vào chùa, mẹ tôi trồng 37 loại rau và trái cây, vườn nhỏ nhưng xum xuê bóng cây xanh mướt.

          Mẹ tôi hiền từ, không bao giờ lớn tiếng với bất cứ người nào. Mẹ tôi thường xuyên đi chùa. Mẹ tôi gật đầu đi chùa ngay mỗi khi tôi hỏi:

          – Mẹ đi chùa không ?

          Không kể trời nắng hay mưa, mẹ tôi nhanh nhẹn trả lời :

          – Đi chứ!

          Thế là mẹ tôi thay áo dài ngay lập tức. Hình như mẹ  tôi sợ chậm một chút là các con đổi ý. Lúc nào mẹ tôi cũng hái rau, trái cây, rửa thật sạch,đợi tôi đến hay gọi em gái  tôi đi làm về là đi chùa, chỉ cần chúng tôi mở miệng hỏi:

          – Mẹ đi chùa không ?

          Chỉ một câu thôi là mẹ tôi lập tức đi mặc áo dài, có lẽ cả ngày, cả tuần mẹ tôi chỉ chờ đợi có thế! Mẹ tôi biết chúng tôi bận rộn với công việc làm, nên không bao giờ bảo chúng tôi chở mẹ tôi đi chùa. Mẹ tôi chỉ chờ chúng tôi hỏi mẹ có đi chùa hay không? Khi được hỏi câu mẹ có đi chùa không? Chỉ cần câu hỏi ngắn và gọn đó là mắt của mẹ tôi rực sáng, chứa chan hạnh phúc, đong đầy trên mặt của mẹ tôi.

          Nếu mẹ tôi còn sinh tiền, chắc chắn ngày nào tôi cũng hỏi mẹ câu này. Tôi muốn thường xuyên đưa mẹ tôi đi chùa hơn! Đi chùa như một nhu cầu cần thiết của những tín đồ Phật giáo, trong đó có mẹ tôi.

          Mẹ tôi thường đem rau, trái cây do chính mẹ tôi trồng, đến chùa hàng tuần. Mẹ tôi trồng đủ loại rau: rau húng cây, rau dền, rau lang, rau muống, ngò, cần tây, và nhiều loại cây trái khác, như là nho, mía, táo, đu đủ, tắc. Tổng cộng hơn 36 loại rau trái.

          Mẹ tôi nâng niu từng trái một. Trái nào thì đem cúng, trái nào nhỏ xíu thì để ở nhà ăn. Mẹ tôi thích từ tay mình hái trái cây, tự tay mình rửa rau, rửa trái cây. Mẹ tôi làm việc này với hạnh phúc. Việc gì làm được cho người khác thì mẹ tôi không bao giờ từ chối.                                        

          Bây giờ thì mẹ tôi đã đi rồi, không còn ở với chúng tôi, nhưng tôi thương mẹ tôi lắm.

          Mẹ tôi qua đời gần 26 năm nhưng tôi cứ tưởng mẹ tôi vẫn còn quanh quẩn đâu đây. Tôi thương mẹ tôi lắm, tôi cũng biết mọi người thương mẹ của mình lắm, hạnh phúc thay những ai còn cha còn mẹ? Thương cha mẹ nên làm việc phúc đức để hồi hướng công đức cho cha mẹ của mình.

Orange County, 4/5/2021

KIỀU MỸ DUYÊN




PHAN HÀ: Bài Học Thiên An Môn và Một Tia Hy Vọng




THIÊN AN MÔN – PHAN HÀ




NGƯỜI BẢO VỆ NGƯỜI?

NGƯỜI BẢO VỆ NGƯỜI?

KIỀU MỸ DUYÊN

          Chúng tôi thường mời những chuyên viên liên quan đến ngành nghề địa ốc đến văn phòng Ana Real Estate và Ana Funding để chia sẻ kinh nghiệm trong nghề nghiệp, cũng như trong cuộc sống hàng ngày đến với chuyên viên của văn phòng. Thứ bảy tuần rồi là diễn giả Đức Nguyễn, nguyên là ứng cử viên Cảnh Sát Trưởng của Orange County.

          Chúng tôi quen Đức Nguyễn lúc Đức Nguyễn ra ứng cử cho đến bây giờ. Bố của Đức Nguyễn là chiến sĩ Nhảy Dù, ở tù 7 năm, ra tù cùng với gia đình vượt biên. Sinh trong gia đình có bố là võ sư Judo, mẹ là võ sư Tawaido, đã từng thượng đài đấu võ. Máu của cha mẹ là võ sĩ nên Đức Nguyễn thừa hưởng tinh thần võ sĩ đạo của bố mẹ.

Đề tài Cảnh Sát Đức Nguyễn trình bày: Bảo vệ an toàn cho chính mình và cho khách hàng

          Bao giờ có hẹn thuyết trình, Đức Nguyễn cũng đến trước giờ hẹn. Chuyên viên của chúng tôi chăm chú lắng nghe. Đề tài Đức Nguyễn trình bày tuần này là làm thế nào để bảo vệ an ninh cho chính mình, cho gia đình mình và cho khách hàng đi xem nhà với mình. Chuyên viên địa ốc phải quan tâm đến sự an toàn cho khách hàng, nhất là lúc này có phong trào kỳ thị người Á Châu. Người Á Châu ra đường không ổn, nhất là người già, người bị giựt bóp, người bị đâm. Ngày nào trên đài truyền hình, đài phát thanh và báo chí đều có đăng những tin tức không tốt đẹp.

          Chuyên viên của chúng tôi đặt câu hỏi về luật lệ mua súng. Đức Nguyễn với nhiều năm kinh nghiệm trong ngành Cảnh Sát giải thích một cách cặn kẽ:

          – Người nào cũng có thể mua súng được nhưng phải đi học một khóa học. Phải có chứng chỉ của khóa học này.

          Phương Vũ, chuyên viên trẻ, thích thú và đặt nhiều câu hỏi về việc mua súng và sử dụng súng. Minh Văn cũng hỏi nhiều về vấn đề này.

          Phượng Lê đặt câu hỏi liên quan đến ngành địa ốc:

          – Làm thế nào để giữ an toàn cho chuyên viên địa ốc và khách hàng trong lúc đi xem nhà, nhất là vào nhà trống, không có chủ nhà ở trong nhà?   Lẽ dĩ nhiên, người mua nhà đã đến văn phòng ký giấy tờ Coronavirus , chụp hình bằng lái của họ và người đi xem nhà. Sau đó, chuyên viên địa ốc cho biết địa chỉ, rồi mỗi người tự đi. Chuyên viên địa ốc không chở khách hàng như ngày xưa chưa có dịch cúm Covid-19.

          Đức Nguyễn trả lời như sau:

          – Chuyên viên địa ốc phải đến căn nhà đó trước. Đừng vào nhà vội, đi từ trước ra sau nhà, xem có cửa sổ nào mở không? Xem có dấu hiệu gì có người lạ ở trong nhà không? Phải quan sát thật kỹ, hỏi hàng xóm xem nhà này có ai ra vào không? Sau khi quan sát tỉ mỉ, xem cửa ra vào, cửa chính và cửa thoát hiểm, mở cửa nhà xe phải quan sát cẩn thận, lối thoát là lối nào để khi bất trắc biết cửa nào thoát ra?

Cảnh Sát Đức Nguyễn chỉ cho các chuyên viên tự vệ khi có người tấn công mình

          Vừa nói Đức Nguyễn vừa đứng dậy chỉ cho người tham dự lớp học cách thoát thân nếu nhà đó cháy hay có kẻ lạ hành hung.

          Đức Nguyễn nói tiếp:

          – Phải mở tất cả đèn, trước khi về sẽ tắt đèn sau. Tất cả cửa sổ cũng phải  mở. Trước khi ra về bảo khách hàng ra trước chờ tôi một chút rồi đóng cửa sổ, tắt đèn, đóng cửa nhà xe.

          Đức Nguyễn dạy mọi người phải quan sát, phải để ý đến từng ngõ ngách của căn nhà, để hết tâm sức vào vấn đề an ninh cho chính mình và cho khách hàng của mình. Không nên đậu xe trước cửa nhà, nên đậu xe cách đó 1 căn nhà, rồi đi bộ từ từ, quan sát xung quanh trước khi vào nhà.

          Đức Nguyễn dạy các chuyên viên địa ốc của chúng tôi thành các thám tử. Một chuyên viên địa ốc nói:

          – Vui quá!

          Lớp học gần 3 giờ đồng hồ, mọi người thích thú nghe và ghi chép không bỏ sót một chi tiết, một lời nào của Cảnh Sát Đức Nguyễn. Đâu phải Cảnh Sát nào cũng có thì giờ cuối tuần đi dạy học như thế này, cũng như không có nhiều Chánh Án cuối tuần đến dạy học ở văn phongc chúng tôi như Chánh Án James Gray, thân hữu của chúng tôi, cho nên chúng tôi rất quý trọng thì giờ của quý vị ân nhân.

          Đức Nguyễn chỉ dẫn tận tình cho chuyên viên chúng tôi về vấn đề an ninh, quan trọng nhất là con mắt. Con mắt của mình phải biết quan sát, quan sát xung quanh căn nhà khi đưa khách đi xem nhà, quan sát trong căn nhà thật tỉ mỉ. Đức Nguyễn nhắc lại nhiều lần quan trọng nhất là lối thoát. Những lời chia sẻ của Đức Nguyễn làm cho tôi nhớ đến các Hướng Đạo sinh đi cắm trại trong rừng, và bài học mưu sinh thoát hiểm chúng tôi nhớ đến bây giờ, vào rừng đói phải biết tìm thức ăn, phải biết hái trái cây, biết làm thế nào để có lửa và phải biết thoát hiểm, v.v. Bây giờ chuyên viên địa ốc đưa khách hàng đi xem nhà cũng giống như Hướng Đạo sinh lên rừng phải mưu sinh và thoát hiểm.

          Phải bảo toàn tính mạng của mình, phải bảo vệ an toàn tính mạng của khách hàng của mình. Đây là lần thứ ba cuối tuần Đức Nguyễn hướng dẫn cho chuyên viên của chúng tôi về vấn đề an ninh, làm thế nào với đôi mắt của mình để biết người nào là tình nghi tội phạm?

          Đức Nguyễn chỉ dẫn các chuyên viên địa ốc của chúng tôi một cách tận tình. Đức Nguyễn cùng gia đình vượt biên sau khi thân phụ ở tù về. Tôi hỏi Đức Nguyễn:

          – Vì sao Đức Nguyễn ứng cử vào làm Cảnh Sát Trưởng? Làm Cảnh Sát khó lắm chứ không phải dễ. Nhiều người nộp đơn nhưng số người được chọn không nhiều. Phải có sức khỏe, phải qua kỳ thi rồi vào trường Cảnh Sát để được huấn luyện, trải qua nhiều giai đoạn khó khăn.

          Đức Nguyễn trả lời:

          – Cháu ứng cử Cảnh Sát Trưởng vì lúc bấy giờ ở Orange County chỉ có một Cảnh Sát là người Mỹ gốc Việt. Đức muốn giúp cộng đồng Việt Nam. Dù Đức sang Mỹ lúc 10 tuổi, nhưng cha mẹ dạy con tiếng Việt và nhà thờ có dạy tiếng Việt, con phải học.

          Đức Nguyễn rất tận tụy trong nghề nghiệp. Sự chỉ dẫn của Đức Nguyễn về vấn đề an ninh cho chính mình, cho gia đình mình, cho hàng xóm và cộng đồng của mình rất hữu ích. Đức Nguyễn chỉ cho anh em tự vệ khi có người tấn công mình, những khí giới hữu hiệu của mình là gì? Một cây bút nhỏ bé có thể là khí giới để bảo toàn tính mạng của mình, một bước chân sát vào đối thủ, con mắt của mình, đầu của mình. Vừa nói Đức Nguyễn vừa thực hành cho mọi người xem. Đức Nguyễn dạy không khác gì võ sư dạy cho các võ sinh của mình để tự vệ.

          Ngồi trong lớp mà nghe Đức Nguyễn dạy cách tự vệ vô cùng hào hứng. Nhìn điệu bộ, chúng tôi cũng biết Đức Nguyễn đã từng học võ từ nhỏ. Cha là võ sư, mẹ là võ sư đã từng lên đấu ở võ đài thì làm sao con không giỏi chứ?

          Tôi mong tất cả ông bà, cha mẹ nên cho con cháu mình đến trường học võ, nhất là lúc này cần thiết lắm. Học võ không phải để đấu võ đài nhưng học võ để tự vệ, để bảo vệ cho chính mình và cho người yếu thế.

Kiều Mỹ Duyên mong thế hệ trẻ học võ để khỏe mạnh, tự vệ và bảo vệ người yếu thế

          Và nếu có cơ duyên nên học kinh nghiệm của Cảnh Sát nhất là Cảnh Sát tư pháp để tự bảo vệ chính mình.

          Xin chúc sự bình yên đến với tất cả đồng hương. Mình đã thoát được Cộng Sản, sang định cư ở nước Tự Do, không ai có quyền hành hạ mình. Thế hệ trẻ vươn lên, có chỗ đứng trong cộng đồng của người bản xứ, đó là niềm hãnh diện cho cộng đồng Việt Nam.

Orange County, 27/4/2021

Kiều Mỹ Duyên

(kieumyduyen1@yahoo.com)




CHÀO MỪNG Nữ Sĩ Phan Hà

CHÀO MỪNG Nữ Sĩ Phan Hà

“Tôi Yêu Tiếng Nước Tôi!”

Văn Thơ Lạc Việt,

Nơi quy tụ những Trái Tim nhiệt huyết nhất, chỉ với mục đích Bảo Tồn và Phát Huy Tiếng Mẹ.

Một trong những Nhóm đông nhất, hoạt động lâu đời nhất, hữu hiệu nhất và yêu thương, giúp đỡ nhau nhất!

“Nào về đây ta hợp đoàn cùng nhau!” Một cánh én không tạo ra mùa xuân, nhưng khi Đàn Én xuất hiện, là dấu báo hiệu…Chúa Xuân về!

Lê Văn Hải – Chủ Tịch VTLV

***

CHÀO MỪNG NỮ SĨ PHAN HÀ

*

WELCOME người mới kính đôi hàng

CHÀO ĐÓN thành viên đã…nhập làng

NỮ SĨ lời hay, tay ngọc nhả

PHAN HÀ ý đẹp, bút hương loang

VĂN THƠ thi phú rồi rôm rả 

LẠC VIỆT xướng hòa sẽ rộn vang

Sinh hoạt cùng nhau chờ diện kiến

Niềm vui rạng rỡ xứ Hoa Vàng

Phương Hoa – APR 30th 2021

**

CHÀO MỪNG

Chào đón cô bạn Phan Hà 

Bước vào nhập hội một nhà kính tương 

VĂN THƠ LẠC VIỆT thân thương 

Phú bày thi trải đầy vườn kỳ hoa 

Dòng văn ý nghĩa mượt mà 

Giữ gìn tiếng Việt nước ta lưu đời 

Chúc mừng nữ sĩ đôi lời   

Chung lòng hợp thuận tiếng cười rộn vang

     Minh Thuý (Thành Nội) – Tháng5/1/2021




Chia Buồn: Linh Mục Gioan Trần Công Nghị

42c39998b451fa8729d3ac05a4704675.jpg
phan uu final.jpg

Chia Buồn

Nhận được tin buồn:

Linh Mục Gioan Trần Công Nghị

(Sáng lập, Giám đốc VietCatholic Network.

Bút hiệu Đồng Nhân và Thiên Ân)

Vừa được Chúa gọi về,

Ngày 22 tháng 4 năm 2021

Tại Garden Grove, California, Hoa Kỳ.

Hưởng Thọ 76 Tuổi.

(55 năm trong chức vụ Linh Mục)

Xin gởi lởi chia buồn đến Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam Hoa Kỳ và Tang Quyến.

Nguyện cầu Chúa chí ái, đón nhận Linh hồn Gioan,

người Môn Đệ yêu dấu của Ngài vào nước Thiên Đàng.

Thành Kính Phân Ưu.

-Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt

-LVHải và Tuần Báo Thằng Mõ.istockphoto-90392412-612x612.jpg

LM Trần Công Nghị, người sáng lập VietCatholic Network, qua đờiDP-Linh-Muc-Tran-Cong-Nghi-1-1536x1152.jpg

GARDEN GROVE, California (NV) – Linh Mục Trần Công Nghị, giám đốc sáng lập VietCatholic Network, vừa qua đời lúc 11 giờ 30 phút sáng Thứ Năm, 22 Tháng Tư, tại nhà riêng ở Garden Grove, hưởng thọ 76 tuổi, trong đó có 50 năm là linh mục, theo trang web VietCatholic cho biết.

Hồi năm 2017, nhân dịp kỷ niệm 20 năm VietCatholic Network, Linh Mục Trần Công Nghị có chia sẻ với nhật báo Người Việt như sau: “Lúc đầu tôi làm trang web VietCatholic Network vì thích thú thôi, chỉ với kỳ vọng đưa cuốn Kinh Thánh bằng tiếng Việt cho mọi người đọc. Vậy mà thoắt cái đã là 20 năm, kể từ ngày trang web tiên phong và đầu tiên bằng Việt Ngữ trên Internet bắt đầu hoạt động vào ngày Lễ Các Thánh, 1 Tháng Mười Một, 1996.”

“Trong suốt thời gian dài hiện diện, chúng tôi cố gắng mang đến cho giáo dân món ăn tinh thần bổ ích, đó là những tin tức từ Giáo Đô Vatican, từ Giáo Hội Việt Nam, và các sinh hoạt đa diện từ các giáo xứ và cộng đoàn Công Giáo Việt Nam khắp nơi trên thế giới. Để có được như ngày hôm nay, tôi tự mình mò mẫm trong suốt những ngày gian khó. Lúc bấy giờ Internet mới phát triển, nhưng tôi thấy nhu cầu này rất ảnh hưởng, do đó tôi tập tành đưa Tin Mừng của Giáo Hội Công Giáo bằng tiếng Việt lên Internet để phổ biến cho mọi người khắp nơi hiểu sứ điệp như thế nào,” vị linh mục giám đốc chia sẻ tiếp.

Cũng từ năm 2017, VietCatholic Network có thêm chương trình trên YouTube được rất nhiều người xem.

Theo VietCatholic Network, Linh Mục Trần Công Nghị có hai bút hiệu là Đồng Nhân và Thiên Ân, sinh ngày 13 Tháng Ba, 1945 tại tỉnh Ninh Bình, thuộc Giáo Phận Phát Diệm.

Từ năm 1957, linh mục theo học tại Tiểu Chủng Viện Phát Diệm, Phú Nhuận, và Đại Chủng Viện Sài Gòn, trước khi sang Rome, Ý, học tại Đại Học Giáo Hoàng Urbano (Pontifical Urban University) trong bốn năm, từ 1967 đến 1971.

Linh Mục Trần Công Nghị (bìa phải) phát biểu nhân dịp 20 thành lập VietCatholic Network. (Hình: Quốc Dũng/Người Việt)

Từ năm 1971 đến năm 1975, ông học ngành khoa học xã hội tại đại học Fordham University, New York.

Năm 1977, ông quay lại Rome, trở lại đại học cũ và học thêm tại Đại Học Giáo Hoàng Grerogy (Pontifical Gregorian University) để lấy bằng tiến sĩ Thần Học.

Từ năm 1983 đến năm 1984, ông làm giáo sư tại Đại Chủng Viện New Orleans, Louisiana.

Từ năm 1987, ông làm giáo sư Chủng Viện Đức Mẹ Nữ Vương Các Thiên Thần (Our Lady Queen of the Angeles) của Tổng Giáo Phận Los Angeles, cho đến năm 1993.

Khi làn sóng người Việt Nam sang định cư tại Hoa Kỳ sau khi cuộc chiến chấm dứt, ông lần lượt đảm trách các chức vụ tuyên úy trưởng trại tị nạn Fort Chaffee, Arkansas; giám đốc Trung Tâm Mục Vụ Việt Nam, Tổng Giáo Phận New Orleans, Lousiana; giám đốc điều hành Indochinese Center, Washington DC; và giám đốc điều hành Trung Tâm Mục Vụ Đông Nam Á, Tổng Giáo Phận Portland, Oregon.

Ngoài ra, Linh Mục Trần Công Nghị cũng từng là phó chủ tịch Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam Hoa Kỳ, chủ tịch Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam Miền Tây Bắc Hoa Kỳ, giám đốc Dự Án Nghiên Cứu Nhu Cầu Mục Vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ, do Văn Phòng Mục Vụ thuộc Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ tài trợ, có văn phòng tại Orange County, Nam California.

Ngoài ra, tại Tổng Giáo Phận Los Angeles, Linh Mục Trần Công Nghị từng phục vụ các giáo xứ St. Paul of the Cross (La Mirada), St. Finbar (Burbank), St. John Fisher (Rancho Palos Verdes), Our Lady of the Assumption (Claremont), và St. Catherine of Alexandria (Avalon). (Đ.D.)

TINSELMYTHISTLE-201216113656.jpg

(Lời Chia Buồn này, cũng sẽ được đăng trên Tuần bào Thằng Mõ số tới)

======

THƠ PHÂN ƯU

**

THƠ TIỄN CHA TRẦN CÔNG NGHỊ

Hai năm qua, mệt và buồn,

Thêm lo đại dịch, bạn, còn những ai!?

Máu vẫn đổ, đạn, bom rơi,

Thế Chiến 3, muốn nổ? Trời! Lại nghe…

Cha Trần Công Nghị ra đi….

Đức Chúa Cha mới gọi về thiên cung!

Bẩy sáu tuổi…. đã dầy công

Đem tài, sức…giúp cộng đồng thân thương…

Sống yên, trong đạo lý thường,

Tu, Tề…Nhân, Nghĩa…con đường hòa vui!

Trăm năm, thoáng, sẽ qua thôi,

Lợi, Danh, Quyền… cũng hết…ngoài Tình Yêu!!

A men !!23/4/21     Dương Huệ Anh

**

THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

VĂN THƠ phụng tiền cụ Thiên Ân

LẠC VIỆT vinh danh bậc đức nhân

Thương tiếc Cha vừa về nước Chúa

Phân ưu Người mới bỏ hồng trần 

TRẦN CÔNG NGHỊ sáng danh Hồng Lạc

LINH MỤC GIOAN ngời tiếng Giáo dân

CATHOLIC NET buồn, xin kính viếng

Gia đình tang quyến bớt sầu dâng

BBT VTLV 

Phương Hoa – APR 23rd 2021