CHÚC MỪNG – THƠ Lê Tuấn & Phương Hoa & Hoàng Mai Nhất
Nguồn ảnh: Internet
THƠ:
Chúc mừng Gia đình Anh Lê Tuấn. Chúc Hai Cháu Khoa Lê và Christina Nguyễn Trăm Năm Hạnh Phúc! Ô dzui! Quá xá là dzui! LÊ VĂN HẢI
NẾU
Nếu tình là ly rượu
Anh sẽ uống mỗi ngày
Nếu tình là mật ngọt
Anh thêm men để say.
*
Nếu tình là biển khơi
Anh sẽ là con thuyền
Vượt qua ngàn ngọn sóng
Đến bên bờ bình yên.
*
*
Biển dạt dào sóng vỗ
Anh sẽ hoá đất liền
Ôm lấy bờ, bọt trắng
Cho tình không chao nghiêng.
*
Nếu tình là giấc mơ
Anh viết đầy trang thơ
Viết cho tràn nỗi nhớ
Cho đến khi dại khờ.
*
Sóng dữ dội, êm đềm
Ồn ào và lặng im
Sóng khởi đi từ gió
Tình khi nổi, khi chìm.
Lê Tuấn
CHÚC MỪNG TÂN HÔN
(Kính họa bài NẾU chúc mừng gia đình thi sĩ Lê Tuấn)
CHÚC Tân Hôn mời rượu
Mong hạnh phúc ngày ngày
Đôi uyên ương bền chặt
Tình nồng luôn đắm say
*
CHÚC gia đình thi sĩ
Lướt sóng mượt trên thuyền
Dâu hiền và con thảo
Sống một đời hòa yên
*
CHÚC đời giòn nhạc vỗ
Ân ái mãi kết liền
Chim non ríu rít tổ
Vững bền không sao nghiêng
*
CHÚC tấn tần tròn mơ
Nhạc yêu hòa cùng thơ
Cung đàn dìu dặt mở
Âm hưởng trải tuôn bờ
*
CHÚC mái ấm êm đềm
Gió dịu và sóng êm
Ngày Tân Hôn kỷ niệm
Từ đây liền cánh chim
Phương Hoa – AUG 3rd 2021
THƠ: CÒN TÔI CÒN BÀ – Hoàng Mai Nhất
SÀI GÒN BUỒN – Đỗ Vẫn Trọn
SÀI GÒN BUỒN
Sài Gòn buồn, giờ giới nghiêm Tiếng hàng rao tắt lịm trong đêm Những em bé đánh giày không còn thấy Người bán vé số, kẻ ăn xin, giờ co cụm nơi đâu? Những con đường, ngõ hẻm lặng thinh! Chiều nay được tin em mất! Sài Gòn buồn nhỏ lệ thương đau Xác em giờ ở mãi nơi đâu? Bình Hưng Hòa hay lò thiêu nào đó? Không tang lễ, không người đưa tiễn! Không họ hàng bái biệt hương linh Em cô đơn về nơi vô định Sài Gòn buồn, đánh mất phồn hoa Sài Gòn giờ giới nghiêm Sài Gòn u tịch phảng phất trầm hương
Sài Gòn buồn, giờ giới nghiêm Vườn Tao Đàn vắng hẳn bước chân vui Công viên buồn nhớ bóng ai qua Dáng em ngồi hờ hững giữa mùa thi Phố đi bộ chào quên người viễn khách Nguyễn Trãi về trống vắng hơi đêm Phố xá đìu hiu, trống trải Tiếng còi xe như ngừng thở đêm qua Sài Gòn buồn, giờ giới nghiêm Buổi chiều hẹn không còn nắng rực Bến Bạch Đằng gió lộng theo sau Hoài mong chờ người qua bến đỗ Em đâu rồi! Biền biệt nơi đâu? Nhớ Sài Gòn, lòng giăng nhiều cảm xúc Những bạn bè, hàng quán thân quen Những trưa về đón đợi ở Gia Long Bao nhan sắc làm cho người khốn đốn Sài Gòn buồn, giờ giới nghiêm Chuông giáo đường không còn ngân thánh Đức Bà buồn quy tích trăm năm Tan Lễ về không cùng em xuống phố Chủ nhật hồng đâu nữa trong mắt nhung Bụi đường, xe cộ, đèn xanh/đỏ Lê Thánh Tôn yên ắng lạ thường thay Bàn Cờ, Tân Định hiu hắt đêm về Phạm Ngũ Lão buồn xo người khách lạ Duy Tân đổ bóng chiều hoang phế
Sài Gòn buồn, giờ giới nghiêm Sài Gòn những cơn mưa buổi chiều Không còn dòng người vội vã Đâu xe cộ chen nhau hối hả Không dù che, màu sắc áo mưa thưa Cả mặt đường chỉ mỗi tiếng mưa rơi Anh nhớ mãi ngày ta cùng sánh bước Nắm tay em trong nắng sớm ban mai Sài Gòn thả bộ trên đường phố Bóng em về òa vỡ hân hoan Sân trường cũ tóc dài bên áo trắng Anh đứng nhìn quên cả tiếng chuông vang Hàng phượng vĩ ngập đầy trong ánh mắt Con đường về dẫn lối lá me bay Nhớ Sài Gòn như lòng đang chảy máu Nước mắt rơi theo từng người lâm bệnh Sài Gòn của tôi, Sài Gòn của em Giờ như chiếc lá vàng ủ rũ Người quét đường ngơ ngẩn nhìn theo Sài Gòn ơi! Sài Gòn đầy kỷ niệm Góc thiên đường còn mãi đâu đây
Sài Gòn buồn, giờ giới nghiêm Sài Gòn đầy thương nhớ! Sài Gòn bật khóc Sài Gòn im lặng đáng sợ! Sài Gòn của tôi đâu? Bóng kiêu hãnh giai nhân huyền thoại Ủ rũ lòng một thoáng nhớ hương xưa Sài Gòn, nhịp sống như ngừng thở Kẻ tật nguyền mất hẳn trong đêm
Sài Gòn buồn, giờ giới nghiêm Những chiếc xe nối đuôi về quê cũ Tìm an bình nơi những cánh đồng xanh Mơ Sài Gòn lặng lẽ hồi sinh Thầm ao ước một ngày trở lại Sài Gòn buồn như chưa từng có Khắc khoải lòng thương nhớ, Sài Gòn ơi!
Nhà văn Đỗ Vẫn Trọn San Jose, ngày 28 tháng Bảy năm 2021
THƠ: CỤ VĂN THƯỢNG ĐÀI – CÔNG CHA – CÔNG ƠN SINH DƯỠNG – Thơ & Thơ Song Ngữ – Trường Giang & Thanh Thanh
CHIA BUỒN Văn Thi Sĩ NGUYỄN TRUNG DŨNG Đã Ra Đi – Lê Văn Hải – Lê Tuấn – Thư Khanh – Phương Hoa – Hoàng Mai Nhất
Đôi nét về Nhà văn, Nhà thơ Nguyễn Trung Dũng. Ông sinh tại Phú Thọ, làng Yên Mẫn, tỉnh Bắc Ninh. Trước 1954 sinh sống tại Hà Nội, sau đó di cư vào Nam. Học trường Chu Văn An và là một Sỹ quan QLVNCH. Những tác phẩm đã xuất bản tại Sài Gòn trước 75: -Trong Thành Phố (1966) -Ngoài Mặt Trận (1966) -Bên Này Sông, Bên Kia Sông (1968) -Vết Đạn Thù (1969) Những tác phẩm đã xuất bản tại Hải Ngoại: – Vết Đạn Thù (Tái bản 2004) -Thù Nước Chưa Xong, Đầu Đã Bạc! (2005) -Đêm Nghe Tiếng Đế Gáy (2006) -Cúc Vàng (Thơ 2011) -Bèo Dạt Mây Trôi (Dự tính xuất bản!) Ngoài ra Ông còn cộng tác với rất nhiều tạp chí, tuần báo, nhật báo, trên nhiều diễn đàn: Văn Uyển, Suối Văn, Tân Văn, Sài Gòn Nhỏ, Việt Nam Nhật Báo, Tuần Báo Thằng Mõ, Văn Thơ Lạc Việt…
ĐI TÌM NGƯỜI KHÔNG NHÀ CHO QUÀ -Kiều Mỹ Duyên
Cho nhiều hơn nhận thì sẽ được nhận nhiều hơn cho.
Chuyên viên địa ốc ở văn phòng Ana Real Estate rất có lòng, trong suốt thời gian dịch bệnh cùng mọi người đi làm công việc xã hội không ngừng nghỉ. Tiền vào hay không không biết, nhưng làm việc từ thiện vẫn làm. Mọi người làm việc xã hội theo cá tính của mình, riêng chuyên viên địa ốc Tuấn Lưu quanh năm suốt tháng đều đi cho người không nhà thực phẩm: bánh mì thịt, bánh mì sandwich, nước lọc, nước ngọt, nước cam, nước chanh, sữa tươi, bánh ngọt, kẹo, chocolate, trái cây, v.v.
Mục sư David Huỳnh nhắc đến Tuấn Lưu và khuyến khích nên tham gia chiến dịch cho quà của nhà thờ. Tuấn thường đi một mình thăm người không nhà và cho quà, đôi khi đi với vài bằng hữu phát quà từ Anaheim, Santa Ana, Garden Grove, quanh Little Saigon. Tuấn thường đi từ 6 giờ chiều đến 9- 10 giờ tối, phát hết quà trong xe, Tuấn mới về. Xe của Tuấn lớn, rộng rãi, thực phẩm để đầy băng sau và trong cốp xe.
Tôi thường nói với Tuấn:
– Cô sẽ đi phát quà với con.
Nhưng vào các buổi chiều, tôi thường đi thăm những người già ở viện dưỡng lão hoặc ở xung quanh Little Saigon, chưa có dịp đi cùng Tuấn Lưu.
Chiều thứ bảy vừa qua, chúng tôi cũng đã sắp xếp đi tặng quà cùng Tuấn Lưu. Phái đoàn gồm có Tuấn Lưu, Phượng Lê và con gái Phượng Lê là Lê Bảo Vy. Bảo Vy hiền lành, nụ cười rất dễ mến, có đai đen võ Karate, dáng rất đẹp. Cô gái nào học võ dáng cũng rất đẹp, nhìn Bảo Vy ít ai biết cô gái xinh đẹp này có mặt thường xuyên ở võ đường. Hai chị em của Bảo Vy đều yêu thích võ thuật và thích làm việc từ thiện.
Phượng Lê nói:
– Thưa cô, cháu đang bận, nhưng con bảo đi cho quà người không nhà, cháu đi ngay.
Tôi không ngờ thành phố Garden Grove, Westminster, có quá nhiều người không nhà, trong đó có người Việt Nam. Ngày xưa, tôi đi theo phái đoàn Phật tử của chùa Bảo Quang hàng tuần cho cơm người không nhà ở công viên gần tòa án Santa Ana, không bao giờ tôi gặp người Việt Nam đi xin cơm. Tôi rất hãnh diện về người Việt Nam tị nạn, tôi thường nói với bằng hữu ở khắp nơi trên thế giới về đây thăm viếng bà con rằng người Việt Nam tị nạn của chúng tôi đi phát cơm, đi cho cơm chứ chúng tôi không đi xin cơm. Đi đến đâu mà tôi biết có những hội từ thiện tổ chức cho cơm cho người không nhà là tôi tham gia ngay. Đi phát cơm cho người không may mắn để nghe tâm sự của họ tại sao họ không nhà, tại sao họ ở ngoài đường?
Mấy chục năm trước, khi tôi đến San Jose thăm bằng hữu: nữ ký giả Phan Trần Mai, Lê Diễm, Bích Loan và hội ái hữu Trưng Vương, được bằng hữu đưa đến thăm cựu đại tá Không Quân Vũ Văn Lộc, chúng tôi được mời đi phát cơm cho người không nhà. Ở đó chúng tôi gặp rất nhiều người đến lấy cơm. Tôi gặp một gia đình mà tôi nhớ mãi khuôn mặt xinh đẹp của người phụ nữ Mỹ da trắng. Bà ngồi ở bàn và đọc sách triết, trong lúc những đứa nhỏ xung quanh và ông chồng đi lấy cơm. Bà có bằng Master, chồng là kỹ sư điện. Ông bà thất nghiệp vì công ty đổi đi tiểu bang khác, các con ông bà đang học, nên ông bà không đi theo công ty của họ, đành thất nghiệp. Ông bà trú ngụ trong nhà từ thiện, chờ đi xin việc làm. Những đứa nhỏ hiền lành ngồi bên cạnh mẹ.
Ở miền Bắc và ở miền Nam California, tôi đã từng tham gia cho cơm của chùa Bảo Quang 26 năm vào trưa thứ ba hằng tuần, chưa bao giờ tôi gặp người Việt Nam cho cơm cho người không nhà.
Thứ bảy ngày 24/7/2021, đi cùng phái đoàn cho thức ăn cho người không nhà với Tuấn Lưu. Vừa lên xe, Tuấn Lưu nói ngay:
– Homeless nhiều lắm cô ơi.
Xe chạy vừa qua 3 ngả tư, Tuấn quẹo xe vào gần chợ Hòa Bình. Tuấn nói tiếp:
– Chỗ nào cũng có homeless cô ơi.
Góc đường Brookhurst và Westminster, bên trái, bên phải, 4 góc đường, chỗ nào cũng có homeless ban ngày, ban đêm trú ngụ. Cuộc sống của họ rất giản dị, một cái mền, một túi đồ, thế là xong. Ban đêm, họ tụ tập từng nhóm 5- 7 người.
Chúng tôi ngừng xe, Phượng, Tuấn nói với những người đứng ở góc đường và đang ngồi dưới gốc cây:
– Các anh lại xe chúng tôi lấy quà.
Khuôn mặt của họ rạng rỡ, vui tươi. Tuấn quen với họ vì đã đi phát quà nhiều năm, nên thấy xe Tuấn là họ biết ngay Tuấn đem quà tới, họ đưa tay vẫy vẫy Tuấn. Tuấn biết tính tình từng người, từng nhóm. Một ông ngồi bất động dưới đất trước một cửa hàng, mắt ngơ ngác nhìn trời. Tuấn nói:
– Cô ơi, ông này không lấy quà, nhưng bạn của ông ấy lấy qua đưa thì ông ấy ăn ngay.
Phượng Lê (đứng bên trái) và Tuấn Lưu (nón xám) đang phát thực phẩm cho người không nhà. (Ảnh do Kiều Mỹ Duyên chụp)
Chúng tôi ngừng xe ở tiệm Lee Sandwich. 5 người vui vẻ nhận quà: Mỹ, Mễ, và có một người trẻ Việt Nam. Không phải thức ăn nào cho người không nhà họ đều nhận đâu nhé, họ thích thứ nào thì nhận thứ đó, không phải nhận một lúc nhiều thứ. Khi chúng tôi từ trong chợ trở ra thì thấy họ để tất cả thức ăn xuống đất, rồi mọi người ngồi quây quần cùng ăn vui vẻ. Chúng tôi nghe được tiếng cười reo vui của họ, không ai dành ăn, họ nhường nhịn lẫn nhau. Bây giờ tôi mới hiểu tại sao mỗi người họ đều lấy thức ăn khác nhau.
Người không nhà tụ tập mỗi nơi chừng 3- 5 người. Tuấn nói:
– Ngày xưa họ tụ tập từng nhóm đông lắm, bây giờ chia ra rải rác nhiều nơi khác nhau vì an ninh đuổi. Chủ cơ sở thương mại sợ mất khách hàng vì thấy homeless họ không đến, nhất là phụ nữ đi chợ hay đi mua đồ ban đêm.
Trên đường Westminster, từ đường Euclid đến đường Newland, chỉ một đoạn đường ngắn mấy cột đèn, mà có 10 nhóm người không nhà. Đường Westminster ở hướng Bắc thuộc thành phố Garden Grove, ở hướng Nam thuộc thành phố Westminster, khu thương mại nào cũng có người không nhà. Chúng tôi nghĩ chính quyền địa phương cũng biết tình trạng này của thành phố?
Trong hơn 2 giờ đi cho thực phẩm cho người không nhà, tôi chưa gặp phụ nữ nào đi xin cơm. Tôi hỏi Tuấn thì Tuấn trả lời như sau:
– Có phụ nữ chứ cô, có cả phụ nữ Việt Nam, nhưng hôm nay có lẽ họ dời địa điểm khác.
Tôi cũng đã từng gặp một phụ nữ lớn tuổi ngồi trước tiệm ăn. Tôi đang ngồi ăn bên trong tiệm, nhìn ra cửa sổ thấy người phụ nữ Việt Nam ốm nhom, ngồi im lặng như thiền. Tôi đem tiền đến cho và hỏi cô ấy có ăn không thì tôi mua thức ăn ở nhà thờ đến. Giọng nói của người phụ nữ rất hiền lành:
– Cảm ơn.
Sau khi tâm sự, tôi mới biết bà đang mướn garage của người quen, chưa xin được trợ cấp xã hội, chồng bảo lãnh sang rồi bỏ, vì ông xã có vợ khác rồi. Người phụ nữ kể tôi nghe hoàn cảnh của cô ấy mà nước mắt rưng rưng.
Con cò ốm nhom đang ngóng cổ chờ ai? Chờ thức ăn hay chờ người cho thức ăn?
(Trang Nguyễn chụp tặng Kiều Mỹ Duyên)
Hôm đó chúng tôi đi đến 10 địa điểm trên đường Westminster. Địa điểm cuối cùng là góc đường Brookhurst và đường 15, thành phố Garden Grove, ở đây có 11 người không nhà tụ họp ở lề đường, có người ngồi trên xe lăn. Một người bàn tay rung rung đến xe chúng tôi lấy sữa, bánh mì, nước uống cho những người khác đang tụ họp. Họ rất đoàn kết và thương yêu nhau, hình như trong nhóm có lãnh tụ, tôi đoán như thế. Họ sống ở lề đường, ở góc phố, ở gốc cây. Đồng hương đi ngang chỗ chúng tôi đang nói chuyện và phát quà cho người không nhà, mặc dù chúng tôi mang mask, họ không biết chúng tôi là ai, nhưng cũng đưa tay vẫy chào.
Người ở xa về California thăm Little Saigon, đi ngang qua các nẻo đường, thấy đầy rẫy homeless, chỗ nào cũng có homeless và đường nào cũng có homeless. Họ nói với chúng tôi:
– Nếu tình trạng homeless đầy đường thì sợ ảnh hưởng nhiều đến các cơ sở thương mại và ảnh hưởng nhiều đến những đứa trẻ đi đến trường.
Tôi nói với các bằng hữu:
– Họ hiền lắm, tôi chưa nghe người homeless nào cướp giật hay chọc ghẹo người đi đến cơ sở thương mại bao giờ. Nếu chủ phố gọi Cảnh Sát thì họ đi, nhưng rồi cũng trở lại những nơi họ yêu thích.
Khi còn làm Đại Bồi Thẩm Đoàn của Tòa Thượng Thẩm Orange County, chúng tôi đi thăm nhiều nhà tạm trú của Orange County nhưng không có người Việt Nam ở. Những người không nhà không thích sống ở trong nhà, có người già, người trẻ. Có lẽ số phận của con người là thế, người này thế này, người khác thế khác, làm sao biết được?
Chuyên viên địa ốc Phượng Lê nói chuyện với khách hàng từ tốn, chậm rãi, ăn uống hay đi đứng cũng vậy, mà không hiểu tại sao đi cho thực phẩm cho người không nhà lại bước đi rất nhanh, phân phát thực phẩm cũng rất nhanh. Phượng Lê ân cần hỏi mọi người không nhà lấy thực phẩm nào mà họ thích, không thích là họ không nhận. Nhìn ánh mắt, nụ cười của những người không nhà, chúng tôi cảm nhận được một điều họ vui thật, họ rất hồn nhiên.
Đi cho thực phẩm người không nhà, tự nhiên tôi nhớ đến Chủ Tịch Hội đồng Giám Sát Orange County, luật sư Andrew Đỗ, từ khi nhậm chức Giám Sát, ông lo cho người homeless, ông mua một tòa nhà ở thành phố Santa Ana cho người vô gia cư, tôi đã đến đó nhiều lần vào ban đêm để làm phóng sự, cũng là bệnh viện cho người bệnh tâm thần. Luật sư Andrew Đỗ đã làm được nhiều việc cho người bất hạnh mà trước đây không ai làm được. Đó là lý do tại sao người Việt tị nạn hãnh diện về người trẻ Việt Nam đã vào dòng chánh trị và làm được nhiều việc mà người khác không làm được.
Chủ Tịch Hội đồng Giám Sát Orange County, luật sư Andrew Đỗ, ngủ qua đêm tại Homeless Shelter năm 2016. (Luật sư Andrew Đỗ áo đỏ, ngồi giữa)
Chủ Tịch Hội đồng Giám Sát Orange County, luật sư Andrew Đỗ, phát thực phẩm cho người dân. (Luật sư Andrew Đỗ, áo xanh tay dài, bên trái)
Khi trở lại văn phòng, chúng tôi ngừng lại tiệm cơm chay, và đề tài người không nhà được kể tiếp, thực khách trong tiệm lắng nghe. Chúng tôi rất cảm động vì nhiều người Việt có lòng quảng đại.
Ông chủ nhà hàng nói:
– Cô ơi, cô lớn tuổi rồi, buổi tối ra đường cẩn thận, và sức khỏe của cô nữa.
Đời sống rất đẹp vì người quan tâm đến người. Làm việc gì giúp đỡ người khác, dù nhỏ xíu trong lòng sẽ thấy vui vui.
Ông chủ nhà hàng nói:
– Cô cho thực phẩm người không nhà, nên hôm nay thấy cô rất vui.
Khi về, tôi kể chuyện cho một đồng hương, mà vợ chồng họ làm việc xã hội quanh năm suốt tháng. Tôi kể về Tuấn Lưu cho thực phẩm người homeless hàng tuần. Vị đồng hương đó đề nghị:
– Bạn tôi hàng ngày nấu 5000 phần cơm để giá rẻ, nếu cần tôi sẽ giới thiệu.
Đề tài về người không nhà nhiều lắm. Người thì bị bệnh, người thì bị vợ bỏ, giao nhà cho vợ rồi ra đường ở, buồn quá vào sở không làm việc chuyên cần, bị thất nghiệp, v.v. Nhiều lý do để trở thành người không nhà lắm.
Tuấn Lưu nói:
– Cô ơi, đi cho cơm cho homeless quen rồi, hôm nào không có thực phẩm, không đi cho họ thì con thấy nhớ họ.
Khi vào làm địa ốc với văn phòng Ana Real Estate, Tuấn Lưu kể:
– Mẹ của con trước khi mất, mẹ con làm công quả ở Thánh Thất Cao Đài, Tây Ninh. Con mong dành dụm một số tiền để về Tây Ninh giúp người nghèo.
Ước mơ của Tuấn giản dị như thế nhưng chưa thực hiện được. Ba Tuấn định cư theo diện H.O, ba là nhà binh cũng là nhạc sĩ, dạy nhạc tại nhà. Qua cách nói chuyện, tôi biết Tuấn thương mẹ lắm. Cả nhà ăn chay. Tuấn thường nhắc về người mẹ qua đời ở Việt Nam. Tuấn mơ ước về Tây Ninh làm từ thiện, nhưng làm được bao nhiêu, Tuấn đều mua thức ăn cho người không nhà, nên ước mơ của Tuấn về thăm Thánh Thất Cao Đài ở Tây Ninh, hay thăm mộ mẹ, chắc còn lâu lắm mới thực hiện được, trừ khi trúng vé số.
Người có lòng thì nhiều lắm. Người có lòng quảng đại ở khắp nơi trên thế giới. Thế giới này vui vẻ vì nhờ có nhiều người tốt, người này quan tâm đến người kia.
Hạnh phúc là biết cho đi.
Một buổi tối thăm người không nhà, nhìn những người không nhà, không tài sản, không tiền bạc nhưng họ sống rất vui, đùm bọc lẫn nhau, có thức ăn chia cho nhau, dù sống ở dưới gốc cây, lề đường. Dù không nhà nhưng có người có cây đàn guitare, với tiếng đàn vui tươi, cũng làm cho đời sống của họ thêm phong phú.
Hy vọng chính quyền địa phương quan tâm đến người không nhà hơn nữa, vì trước đây khi họ chưa bệnh, họ cũng đã từng đi làm việc và đóng thuế cho chính phủ.
Mong các vị lãnh đạo tôn giáo, các nhà hảo tâm giúp đỡ những người không nhà, để cuộc sống của họ khá hơn.
Xin Thượng Đế ban phúc lành cho tất cả những người bất hạnh khắp nơi trên thế giới.
Orange County, 26/7/2021
KIỀU MỸ DUYÊN
(kieumyduyen1@yahoo.com)
SÁU CUỐN SÁCH ĐẤU TRANH CỦA PHẠM ĐOAN TRANG – Trịnh Bình An
Phạm Đoan Trang bị bắt ngày 6/10/2020 sau khi đã bị hàng loạt khủng bố, kể cả từng bị đánh gẫy chân. Từ một nhà báo viết cho hơn mười tờ báo chính tại Việt Nam, Đoan Trang trở thành một nhà hoạt động chống cường quyền. Năm 2014, cô được học bổng Feuchtwanger của Villa Aurora ở Los Angeles (dành riêng cho những nhà văn, nhà báo đấu tranh cho nhân quyền). Nhưng sau khi hoàn thành việc học, Đoan Trang đã từ chối ở lại Hoa Kỳ mà quyết định trở về Việt Nam dù biết con đường phía trước đầy dẫy hiểm nguy.
Tại sao cộng sản lại khiếp sợ cô gái này đến thế?
Phạm Đoan Trang là tác giả/dịch giả của gần 10 cuốn sách và rất nhiều bài viết đấu tranh.
“NẾU TÔI CÓ ĐI TÙ…”
“Gửi các anh chị em, bạn bè thân yêu của tôi.
Không ai mong muốn phải ngồi tù, nhưng nếu nhà tù là chỗ tất yếu ai đấu tranh cho tự do cũng phải đến, và nếu vào tù là để thực hiện một mục đích nào đó ta đã định trước, thì ta nên đi tù.
Tôi có một số mục đích định trước như vậy. Thế nhưng đi tù chỉ là bước đầu để thực hiện các mục đích này, còn muốn hoàn thành thì rất, rất cần sự tiếp sức của các bạn”.
Trên đây là trích đoạn lá tâm thư của Phạm Đoan Trang viết ngày 27/5/2019 – hơn một năm trước ngày cô bị bắt. Trang đã nhờ người cộng sự Will Nguyễn phổ biến trong trường hợp cô bị bắt.
Mời đọc “Nếu Tôi Có Đi Tù…” trên trang mạng báo Tiếng Dân theo link sau:
Trong tâm thư, Phạm Đoan Trang nhấn mạnh: “Tôi mong rằng việc mình bị bắt, đi tù hoặc gặp bất kỳ điều gì khác, nhất là đi tù, sẽ là cơ hội để quảng bá các cuốn sách tôi viết, giúp sách được nhiều người đọc hơn”.
Trong bài viết này, xin mời các bạn cùng điểm qua 6 cuốn sách tiêu biểu nhất của Trang như một cách ủng hộ tinh thần người con gái can đảm ấy.
1. CHÍNH TRỊ BÌNH DÂN (2017)
Ngày 28/8/2009 – khi còn là phóng viên của VietNamNet và đã gây tiếng vang lớn với các bài viết sắc sảo về vấn đề Biển Đông, Trung Quốc cũng như các bình luận chính trị – Phạm Đoan Trang bị giam giữ chín ngày tại Trại Tạm Giam B14 (Hà Nội). Sự kiện đó là bước ngoặt khiến nhà báo “lề phải” Đoan Trang dấn thân vào con đường đấu tranh.
Viết trên Facebook về biến cố này, Đoan Trang cho biết:
“Trong những ngày ấy và những tháng rất đen tối sau đó, tôi sợ công an lắm. Nhưng trong đầu tôi cũng hình thành một câu hỏi: Tôi là nhà báo, nghĩa là tạm được gọi là có nghề nghiệp, học vấn, địa vị trong xã hội, mà còn bị công an đè bẹp như một con gián, để từ chỗ vô tội trở thành có tội, nhận tội như bổ củi. Vậy thì những người dân thấp cổ bé họng, khi giáp mặt cơ quan công quyền, họ còn bị chà đạp tới mức nào? Ai bảo vệ họ? Ai xót thương họ? Ai cứu họ?”
Và, “Chính Trị Bình Dân” ra đời!
Sách trình bày những vấn đề như sau:
Chính Trị Là Gì?[Định nghĩa chính trị – Chính trị ảnh hưởng đến tất cả chúng ta – Hoạt động chính trị – Vì các vị độc tài, chúng tôi mới phải đi vận động quốc tế cho nhân quyền – Mặt trái của biểu tình – Về môn học “Khoa Học Chính Trị”]
Chính Quyền Và Nhà Nước [Định nghĩa chính quyền – Tính chính danh – Nhà nước]
Dân Chủ [Định nghĩa dân chủ – Các hình thức đại diện – Bốn cột trụ của dân chủ – Dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện – Lợi ích và mặt trái của dân chủ]
Các Chủ Nghĩa [Thế nào là một chủ nghĩa? – Chủ nghĩa tự do – Chủ nghĩa bảo tồn – Chủ nghĩa xã hội và dân chủ xã hội – Một số chủ nghĩa khác – Nếu đàn ông có kinh nguyệt – Dân túy và mị dân – Tinh thần yêu nước – Yêu nước là gì? – Ý thức hệ có cần thiết không?]
Tương Tác Chính Trị [Thay đổi xã hội – Làm truyền thông: công luận, truyền thông chính trị, và tuyên truyền – Công luận và việc làm chính sách – Tự do báo chí kiểu Việt Nam – Đảng và hệ thống đảng – Bầu cử – ABC về bầu cử quốc hội ở Việt Nam – Hội nghị cử tri, nét quái đản trong cơ chế bầu cử quốc hội – Tại sao đảng cố “lùa” dân đi bầu cử? – Tổ chức và nhóm lợi ích – Khi có quá nhiều một thứ tốt đẹp – Cái gì quyết định sự phát triển của phe nhóm lợi ích?]
Xã Hội Dân Sự [Xây dựng không gian cho xã hội dân sự – Xã hội ảo… nhưng thật – Phong trào xã hội – Bộ máy nhà nước, Hiến pháp và pháp luật – Bản hiến pháp vang vọng tiếng dân – Lược sử cuộc sửa đổi hiến pháp Việt Nam – Lập pháp – 10 đầu việc của một đại biểu quốc hội – Cách đo chất lượng hoạt động của quốc hội – Hành pháp – Nhánh hành pháp ở Mỹ – Tư pháp – Tòa án độc lập – Chế độ đại nghị và chế độ tổng thống – Bộ máy hành chính]
Hệ thống chính trị CHXHCN Việt Nam [Quân đội và công an – Nghề công an trong chế độ dân chủ – Nguyên tắc “dân quản quân” và vấn đề tướng lĩnh nắm quyền cơ quan dân sự Việt Nam]
Phụ lục [Kỹ thuật tuyên truyền– Tài liệu tham khảo – Từ điển thuật ngữ]
Tải sách dạng pdf từ trang Luật Khoa (luatkhoa.org) theo link sau:
Nội dung sách trình bày những nguyên tắc căn bản và kinh nghiệm đấu tranh phi bạo lực dựa theo tác phẩm “Blueprint for Revolution” của tác giả Srdja Popovic. Đoan Trang mô tả ngắn gọn những nguyên tắc đấu tranh và đưa ra ứng dụng vào tình hình Việt Nam.
Hiểu đối thủ – Làm tốt từng việc nhỏ “Tôi được gì trong chuyện này?” – Tốt gỗ, tốt cả nước sơn – Vô hiệu hóa sự đàn áp – Đại chiến hành tinh khỉ: “Cùng nhau, khỉ sẽ mạnh” – Cần cả chiến lược lẫn chiến thuật – Phi bạo lực, phi bạo lực, phi bạo lực – Trí tuệ và lòng dũng cảm sẽ được tưởng thưởng – Nhà hoạt động hiệu quả – Chống nạn thu phí ở BOT Cai Lậy: mẫu mực về phản kháng dân sự phi bạo lực.
Tải sách dạng pdf từ trang Luật Khoa (luatkhoa.org) theo link sau:
“Đây là cuốn sách đầu tiên ở Việt Nam dành cho những gia đình có người thân bị tù, đặc biệt khi người thân là tù nhân lương tâm, tù chính trị. Nó nêu rõ, cụ thể, chi tiết tất cả những gì gia đình phải làm để hỗ trợ và bảo vệ người thân trong trại giam/nhà tù, suốt từ những ngày đầu khi mới bị bắt, trải qua giai đoạn tạm giam chờ xét xử, rồi ra tòa và có án, cho đến những năm tháng thụ án”.
“Cẩm Nang Nuôi Tù” không chỉ được đúc kết ra từ kinh nghiệm tù tội của riêng Đoan Trang. Đây là bản tổng kết quá trình tác giả theo dõi hoạt động của công an và hệ thống cơ quan tư pháp Việt Nam qua nhiều vụ án chính trị và hình sự. Đoan Trang vạch trần các thủ đoạn công an thường xử dụng, gọi tắt là: trấn-phân-cô-kéo, nghĩa là trấn áp, phân hóa, cô lập và lôi kéo; Một biến thể từ thủ đoạn thâm độc: “Thứ nhất rỉ tai – Thứ hai mã tấu”.
“Cẩm Nang Nuôi Tù” tuy chỉ dày 300 trang nhưng bao gồm nhiều vấn đề quan trọng sau:
1. Vì sao bạn nên đọc cuốn sách này?[Giải thích một số khái niệm căn bản]
2.Khi sự khủng khiếp bắt đầu:[Dỗ dành, đe dọa, sách nhiễu – Bắt bớ, khám xét: Những việc cần làm ngay – Làm gì khi nhận giấy mời, giấy triệu tập? – Tại sao an ninh bắt một nhà hoạt động? – Đối phó với “kiêu binh”]
3.Nhà nước cảnh sát: [Đặc điểm của nhà nước cảnh sát – Vài đặc điểm tâm lý của công an trong chế độ công an trị – Trấn-phân-cô-kéo: Chiến lược, sách lược chống phản động – Tính chất khủng bố của lực lượng an ninh bảo vệ Đảng •]
4.Đấu tranh pháp lý: [Theo luật quốc tế – Theo luật Việt Nam – Nhà nước Việt Nam lách luật quốc tế như thế nào? – Tìm kiếm luật sư – Tạm giam điều tra: sự tàn phá thể xác và hủy hoại lương tâm con người]
5.Làm truyền thông: [“Làm truyền thông” là làm gì? – “Làm truyền thông cho người bị bắt” – Làm truyền thông như thế nào? – Tuyên truyền phản tuyên truyền – Chống nạn dư luận viên – Giải đáp một số thắc mắc thường gặp về làm truyền thông – Vượt qua nỗi sợ hãi – Công an cũng… làm truyền thông!]
6.Vận động: [Vận động là gì? – Tại sao nên vận động cho tù nhân lương tâm? – Vận động trong nước – Vận động quốc tế – Giải đáp một số thắc mắc thường gặp về vận động quốc tế – Làm thế nào vận dụng cơ chế LHQ để bảo vệ nhân quyền? – Những lá thư gửi người trong ngục]
7.Bảo mật: [Tại sao phải bảo mật? – Cần bảo mật những gì? – Tại sao lại bị lộ? – Bảo mật vật lý – Bảo mật thiết bị – Quyền im lặng gây “phiền nhiễu” như thế nào? – Chặn xuất cảnh]
8.Thăm nuôi: [Vẫn cần biết luật – Chuyện thăm gặp – Chuẩn bị đồ ăn và đồ dùng sinh hoạt – Đương đầu với những khó khăn do trại giam gây ra – Làm truyền thông về chuyện thăm nuôi – Cai ngục thời nay]
Tải sách dạng pdf từ trang Luật Khoa (luatkhoa.org) theo link sau:
Nếu muốn trình bày về chính trị Việt Nam ngày nay cho người không biết tiếng Việt, bạn chỉ cần đưa cho họ cuốn cẩm nang mỏng này.
Gói gọn trong 150 trang, sách tóm tắt những điều chính yếu nhất từ hai cuốn sách “Chính Trị Bình Dân” và “Cẩm Nang Nuôi Tù”.
* VOLUME I: POLITICS FOR THE COMMON PEOPLE
What is politics? – The government and the state – Pro-government Mob Harasses Activists – Democracy – Ideologies – Political interaction – How a society changes from dictatorship to democracy – Public opinion, political communication, and propaganda – Further reading: Freedom of the Press, Vietnam style – Parties and party systems – Election – A Guide to the National Assembly Election – Political organizations and interest groups – Civil society – Cyber Civil Society… But It Is Real – Social movements – Timeline of the Tree-felling Projects and Tree-protecting Campaign in Hanoi – Machinery of government – The Constitution That Echoed All People’s Voices – A Chronology of the Constitutional Amendment in Vietnam – Crazy about “High Consensus”.
* VOLUME II: A HANDBOOK FOR FAMILIES OF PRISONERS
Why should you read this book? – Basic law concepts you need to know – When the terror begins – Encountering the police – Further reading: Four Ways the Vietnamese Government Controls Religious Practitioners – Using the law to fight – The Danger That Is Article 258: How Law Criminalizes Disagreement – Communication and mass media as your tool – If You Fail to Conduct Communication, the Police Will Do – Advocacy campaigning – Your personal and digital security – Basic supplies for prisoners – Conclusion – The story of an independent journalist under totalitarianism.
Tải sách dạng pdf từ trang the88project.org theo link sau:
Nguyên tác “Fighting Impunity – A Guide on How Civil Society Can Use Magnitsky Acts to Sanction Human Rights Violators”. Phạm Đoan Trang cùng một số dịch giả trẻ chuyển ngữ với tựa đề: “Tội Ác Phải Bị Trừng Phạt: Hướng Dẫn Áp Dụng Luật Magnitsky Để Trừng Phạt Kẻ Vi Phạm Nhân Quyền”.
Luật Magnitsky được dùng để trừng phạt các quan chức, cá nhân, doanh nghiệp vi phạm nhân quyền bằng cách cấm nhập cảnh và tịch thu tài sản của họ.
“Tội Ác Phải Bị Trừng Phạt” – cuốn cẩm nang chỉ dày 50 trang này gói ghém nhiều kiến thức hữu ích như sau:
PHẦN I – Những khái niệm căn bản: [Luật Magnitsky là gì? – Luật Magnitsky có những ảnh hưởng gì? – Ai có quyền áp đặt các chế tài của Luật Magnitsky? – Hướng dẫn từng bước: Quy trình thực hiện một hồ sơ Magnitsky]
PHẦN II – Quy trình: [Vụ của tôi có áp dụng Luật Magnitsky được không? – Tôi phải nộp hồ sơ ở đâu? – Trước khi nộp hồ sơ, cần xác định các đối tác – Thời hạn, thời hiệu – Bảo mật danh tính]
PHẦN III – Làm hồ sơ: [Danh mục các việc cần làm – Xác định đối tượng cần nhắm tới – Thông tin nhân thân – Lập hồ sơ vụ việc: thu thập bằng chứng – Các luận điểm về “lợi ích quốc gia” – Tình tiết bào chữa – Nộp hồ sơ]
PHẦN IV – Các kỹ thuật điều tra: [Tổng quát – Phương pháp lập hồ sơ – Tìm kiếm online – Một vài ví dụ]
PHẦN V: Vận động – phần tiếp sau công đoạn nộp hồ sơ: [Điều gì xảy ra sau khi bạn nộp hồ sơ? – Vai trò của vận động trong các vụ kiện theo Luật Magnitsky – Làm thế nào kết nối và liên lạc với nhà nước một cách hiệu quả? – Tiếp cận các tổ chức chuyên vận động – Thông tin bổ sung]
Phụ lục:[Thông tin cần biết về Luật Magnitsky ở Mỹ và Canada – Những câu hỏi thường gặp về Luật Magnitsky của Mỹ – Mẫu hồ sơ theo Luật Magnitsky của Mỹ]
Nội dung của “Báo Cáo Đồng Tâm” xoay quanh vụ công an tấn công vào thôn Hoành, xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức (Hà Nội) đêm 8/01/2020, và các diễn biến kể từ đó cho tới hết phiên xét xử sơ thẩm (14/9/2020).
“Báo Cáo Đồng Tâm” (ấn bản thứ ba) được hai nhà hoạt động Phạm Đoan Trang và Will Nguyễn công bố vào cuối tháng 9 năm 2020. Trong dịp này, Đoan Trang đã trả lời cuộc phỏng vấn của đài Á Châu Tự Do (RFA), trình bày những động lực đưa tới việc cô cùng các thân hữu quyết tâm thực hiện và phổ biến bản Báo Cáo này.
“Chúng tôi hay nói đùa rằng “Nhà Sản sợ văn bản”, tức là, cái gì được ghi lại thì cộng sản ghét và sợ. Bởi vì, họ quen với mọi thứ bằng miệng, tin nhắn, lệnh miệng… để dễ chối tội sau này. Đặc biệt họ rất ghét những hành động sai trái, những tội ác của họ bị ghi chép lại. Dù chưa được công bố thì họ cũng vẫn ghét và sợ. […] Chúng tôi muốn Báo Cáo được viết một cách khoa học, tức là phải dựa vào sự thật, bằng chứng… nhưng phải được viết dễ hiểu, ai đọc cũng hiểu. tức là, những người không hiểu biết gì về pháp luật, không cần biết gì về lịch sử tranh chấp đất đai ở Đồng Tâm… Họ chỉ cần đọc Báo Cáo này thì có thể hiểu toàn bộ vụ án”. (PĐT)
“Báo Cáo Đồng Tâm – A Report on the Dong Tam Village Attack”bao gồm 11 Chương và 5 Phụ Lục như sau:
1 – Tóm tắt sự kiện (Event summary)
2 – Hỏi nhanh đáp gọn về vụ Đồng Tâm (Brief Q&A regarding the Dong Tam attack)
3 – Bối cảnh vụ tranh chấp đất đai ở Đồng Tâm (Background of the Dong Tam land dispute)
4 – Các mốc thời gian trong vụ tranh chấp đất đai ở Đồng Tâm (Chronology of the Dong Tam land dispute)
5 – Đối sách của chính quyền: thông tin bất nhất và đàn áp (Government response: inconsistent information and suppression)
6 – Các điểm còn gây tranh cãi trong vụ tấn công (Points of contention around the Jan 9 attack)
7 – Phiên tòa sơ thẩm (The preliminary September trial)
8 – Bình luận và lời chứng về vụ tấn công Đồng Tâm và phiên xử sơ thẩm (Commentaries and testimonies on Dong Tam attack)
9 – Các vi phạm của cơ quan tố tụng đối với chính luật pháp Việt Nam (Legal violations of Vietnamese domestic laws)
10 – Các vi phạm xét theo tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế (Violations of international human rights standards)
11- Khuyến nghị (Recommendations): (A) Dữ kiện và số liệu thực tế về vụ tấn công Đồng Tâm – (B) Bào chữa của luật sư – (C) Lê Đình Công trả lời luật sư trước tòa – (D) Bản câu hỏi của tạp chí Luật Khoa gửi Bộ trưởng Công An – (E) Những câu hỏi sau phiên tòa sơ thẩm.
Tải sách (song ngữ Anh Việt) dạng pdf từ trang phonhonews.com theo link sau:
Trong tâm bút “Tôi Đi Tìm Một Cuốn Sách Để Giúp Mình Nuôi Hy Vọng” trên trang mạng www.luatkhoa.org, tác giả Nguyên Sa có viết như sau:
“Ở Việt Nam bây giờ cũng tối. Trong mắt tôi, những động lực thay đổi chưa từng yếu như lúc này. […] Chuyện có thêm ai đó bị bắt không nên khiến tôi tuyệt vọng, thay vào đó, tôi nên bắt đầu tìm hiểu về những việc họ làm trước khi bị bắt, và kể lại những thay đổi nhỏ mà họ đã góp phần tạo ra. Những ký ức đó sẽ giúp chúng ta không bị hiện tại tối tăm đánh lừa rằng mọi thứ lâu nay vẫn thế”.
Chẳng lẽ sự tối tăm sẽ mãi phủ trùm đất nước hay sao?
Phạm Đoan Trang bị bắt giữ trong năm 2020, khi đại dịch Covid-19 phủ trùm khắp toàn cầu. Người Việt truyền cho nhau những “bài thuốc” chữa bệnh với mong mỏi bạn bè thân thuộc sẽ tai qua nạn khỏi. Vậy, với “đại dịch cộng sản” đã hành hạ dân tộc ta suốt gần một thế kỷ thì sao? Chúng ta có bài thuốc nào không?
Phạm Đoan Trang đã dám sắn tay áo “kê toa, bốc thuốc” qua những cuốn sách của cô. Khó nói tác dụng sẽ được tới đâu, nhưng khi cộng sản phải bắt giam Phạm Đoan Trang chứng tỏ “thuốc” có tác dụng.
Trong lá tâm thư “Nếu Tôi Có Đi Tù...”, Phạm Đoan Trang nhấn mạnh:
“Tôi sẽ không nhận tội, không xin khoan hồng, cho nên mọi điều công an nói hoặc làm mà có thể khiến dư luận tưởng như vậy thì đều là bịa đặt, lừa dối.
“(Nhưng) tôi nhận hành vi: Tôi luôn khẳng định tôi là tác giả của các cuốn “Chính Trị Bình Dân”, “Cẩm Nang Nuôi Tù”, “Phản Kháng Phi Bạo Lực”, cũng như tất cả các sách và báo cáo khác tôi từng viết và để tên thật. Tôi cũng khẳng định là tôi luôn muốn xóa bỏ chế độ độc tài ở Việt Nam. Tôi muốn được mọi người nhắc đến như một người viết, luôn cố gắng để góp phần khai dân trí về các giá trị tự do, dân chủ, và luôn đấu tranh để thay đổi xã hội”.
Nếu bạn đã đọc tới những dòng chữ này, xin chân thành cảm tạ. Và cũng mong bạn hãy chuyển bài viết tới người khác. Vì, khi nào còn “đại dịch cộng sản” thì không ai trong chúng ta có thể được sống bình an.
Trịnh Bình An
(Tháng 7/2021, khi Covid-19 bùng phát tại Việt Nam)
Desire – Lý Thuyết Ham Muốn -Mai Thanh Truyết
Desire – Lý Thuyết Ham Muốn
de·sire
dəˈzī(ə)r
Danh từ: Một cảm giác mạnh mẽ “muốn có” một cái gì đó hoặc “mong muốn” một cái gì đó xảy ra.
Động từ: Ham muốn mạnh mẽ trong việc “cho” hoặc “muốn’ một cái gì đó.
Lý thuyết ham muốn
cho rằng việc thực hiện một ham muốn đóng góp cho hạnh phúc của một người bất kể lượng niềm vui (hay sự không hài lòng). Một lợi thế rõ ràng của lý thuyết Desire là nó có thể hiểu theo cung cách diễn đạt của Wittgenstein. Ludwig Wittgenstein là một triết gia bị ám ảnh bởi những khó khăn về cách diễn đạt ngôn ngữ, muốn giúp chúng ta tìm cách thoát khỏi một số vũng bùn mà chúng ta gặp phải trong giao tế, trong diễn đạt, và ngay cả trong suy tư…
Cung cách đó được hiểu theo “Meaning of Language” dưới đây:
Từ đó, chúng ta thấy từ ngữ DESIRE được hiểu theo từng tâm cảm, từng thể trạng của mỗi con người.
Và bài viết chỉ mong trình bày một số suy nghĩ góp nhặt cát đá, suy diễn theo suy nghĩ chủ quan của người viết nhằm mục đích chia xẻ cùng bạn đọc về một khía cạnh của tư tưởng và tâm ý.
Desire – Ham muốn là gì?
Ham muốn – Desire, Thèm muốn – Craving, Khao khát – Longing. Những từ trên gợi ra cho chúng ta cái cảm giác thúc đẩy con người đạt được hoặc sở hữu một cái gì đó. Ham muốn là một cảm giác mạnh mẽ, xứng đáng hoặc không xứng đáng, đúng đắn hoặc không đúng đắn, thúc đẩysự chiếm đoạt được hoặc sở hữu một cái gì đó (trong thực tế hoặc trí tưởng tượng).
Ham muốn là ở trong một trạng thái đặc biệt của tâm lý. Đó là một trạng thái tâm lý quen thuộc với tất cả những người đã từng muốn uống nước, muốn ăn một món ăn… hoặc muốn biết những sự kiện gì đã xảy ra cho một người bạn cũ. Nhưng từ sự quen thuộc đó không làm cho chúng ta dễ dàng đưa ra một lý thuyết về ham muốn. Mặc dù có sự tranh chấp trong chính mỗi ham muốn của bản thân, nhưng dù sao chúng ta cũng có thể tự khắc phục ham muốn của chính mình.
Ham muốn là một trạng thái của tâm – ý (heartily spirit) (người viết tự nghĩ ra từ ngữ nầy, không biết có đúng không, xin nhờ chỉ giáo) thường liên quan đến một số hiệu ứng khác nhau: một người ham muốn có xu hướng hành động theo những cách nhất định, cảm nhận theo những cách nhất định và suy nghĩ theo những cách nhất định.
Nếu tôi mong muốn uống trà chẳng hạn, thì tôi thường sẽ tự pha cho mình một tách trà; và nếu tôi không tự cảm thấy mình cần uống trà ngay lập tức, tôi sẽ không cảm thấy cái thôi thúc phải nấu nước sôi để pha trà… Tôi, lúc ấy sẽ thấy ý nghĩ về trà rất dễ chịu (vì không phải làm gì cả!). Từ đó, tôi sẽ thấy suy nghĩ của mình liên tục chuyển sang ý tưởng về trà. Từ đây, tôi sẽ đánh giá rằng trà có vẻ như là một ý tưởng tốt. Và như thế, như thế tiếp tục. Những hiệu ứng khác nhau này đã là trọng tâm trong tâm-ý của tôi về những nỗ lực để phát triển các lý thuyết; và đó chính là lý thuyết của ham muốn.
Triết lý về sự ham muốn
Hiểu được ham muốn đòi hỏi ít nhất hai điều kiện:
Thứ nhất, có một lý thuyết về bản thân ham muốn – desire itself;
Thứ hai, có một số quen thuộc với các loại ham muốn có được – desire that there are.
Một khi nắm được một sự hiểu biết về ham muốn, chính ta có thể làm sáng tỏ một số tranh cãi chung quanh những điều ham muốn.
Lý thuyết thỏa mãn ham muốn là một dạng chủ nghĩa chủ quan về hạnh phúc theo nghĩa thông thường, theo đó, để có được một cuộc sống tốt (tốt theo suy nghĩ riêng của từng cá nhân) phải làm với thái độ của một người tạo dựng ra một cuộc sống theo lòng ham muốn của mình hơn là bản chất thực sự của cuộc sống.
Có nhiều hình thức khác của chủ nghĩa “chủ quan” (subjectivism):
Lý thuyết mục tiêu thành tựu – Aim-achievement theories;
Lý thuyết hiện thực hóa giá trị – Value-realization theories;
Lý thuyết hạnh phúc – Happiness theories;
Và một số hình thức của chủ nghĩa khoái lạc – Hedonism.
Nhưng thực sự, tựu trung tất cả những lý thuyết trên chỉ nhằm thực hiện mục tiêu của lý thuyết “hoàn tất ham muốn” – desire-fulfillment mà thôi.
Còn đối với chủ nghĩa khách quan (objectivism) thì sao?
Các lý thuyết khách quan về hạnh phúc – well-being gồm:
Lý thuyết cầu toàn – perfectionism;
Và lý thuyết “danh sách khách quan” – objective- list theories.
Hai quan điểm trên trái ngược với chủ nghĩa chủ quan là: – Ít nhất một số điều liên quan đến bản chất tốt hay xấu (pro/con – attitudes) đối với chúng ta về căn bản nhưng không liên quan đến thái độ của chúng ta. Sự “hoàn tất ham muốn” cũng đóng một vai trò trung tâm trong một số lý thuyết về hạnh phúc, trong đó kết hợp lại các yếu tố chủ quan và khách quan.
Vì vậy, lý thuyết thực hiện ham muốn ngày nay chắc chắn là một trong những lý thuyết hàng đầu về hạnh phúc.
Một số nhà triết học coi “lý thuyết hoàn tất ham muốn” là lý thuyết hàng đầu.
Nếu đó là lý thuyết ngự trị của thế kỷ 20 và 21, lý thuyết nầy không mang lại sự chú ý thời trước đó. Một số nhà triết học cổ đại và trung cổ hàng đầu đã đưa ra quan điểm để từ chối nó. Ví dụ, trong Plato’s Gorgias (C. 380 BCE), chính Callicles, một đệ tử của Socrates đã khẳng quyết rằng:”Ông, người thực sự muốn sống nhằm cho phép những ham muốn của mình được đánh bóng tối đa (he who would truly live ought to allow his desires to wax to the uttermost).
Trong De Trinitate (C. 416 C.E.), Thánh Augustine đã thảo luận ngắn gọn về ý tưởng “tất cả đều được ban phước, bất cứ ai cùng sống như nhau” (all are blessed, whoever live as they will). Augustine tiếp tục khẳng quyết, tuy nhiên, lòng ham muốn (hoặc ý chí) đó là điều tối thiểu của sự cần thiết cho hạnh phúc.
Các căn bản trong việc/sự ham muốn
Như vậy, thực sự ra, lòng ham muốn có căn bản nơi đâu và là gì?
• Sự chấp nhận, nhu cầu cần được chuẩn duyệt – Acceptance, the need for approval.
• Sự tò mò, nhu cầu học hỏi – Curiosity, the need to learn.
• Nét ăn uống, nhu cầu thực phẩm – Eating, the need for food.
• Gia đình, nhu cầu nuôi con – Family, the need to raise children.
• Danh dự, sự cần thiết phải trung thành với các giá trị truyền thống – Honor, the need to be loyal to the tradition values.
• Chủ nghĩa lý tưởng, sự cần thiết của công bằng xã hội – Idealism, the need for social justice.
• Độc lập, nhu cần cần thiết cho mọi cá thể – Independence, the need for individuality.
• Đặt hàng, nhu cầu cho (mọi việc) có tổ chức và ổn định – Order, the need for organized, stable,
Và một số ham muốn nguyên thủy (primal desire) của con người là gì?
“Sống còn”: Sống một cuộc sống bền lâu và khỏe mạnh – Survival: Live a long and healthy life.
Bảo vệ: An toàn, chăm sóc và bảo vệ cho chính bạn và những người thân yêu – Protection: Safety, care and protection for yourself and loved ones.
Tự do: Tự do khỏi sự nguy hiểm, sợ hãi và đau đớn – Freedom: Freedom from danger, fear and pain.
Tiện nghi: Điều kiện sống thoải mái – Comfort: Comfortable living conditions.
Niềm vui: Thưởng thức đồ ăn, đồ uống và trải nghiệm – Pleasure: Enjoy food, beverages and experiences.
Ham muốn thâm sâu nhứt của con người là gì?
Ham muốn thâm sâu nhất (deepest desire) của bất kỳ con người nào là được Yêu Thương và được Trân Trọng.
Không có ai trên thế giới này không muốn được xem là đẹp đẻ hay tài giỏi hết.
Sẽ không có ai phải nhăn mặt (frown) khi được nghe “I love you” đến từ của miệng của người mình thương hết!
Ham muốn mạnh nhứt (strongest) của con người là gì?
TS Erica Goodstone nhận định rằng:”Ham muốn tình dục là thứ ham muốn mạnh mẽ nhứt của con người. Khi được thúc đẩy bởi năng lực của ham muốn này, quý ông và quý bà phát triển một số phẩm chất đáng kinh ngạc, bao gồm nhãn quan và trí tưởng tượng, lòng can đảm và ý chí cùng khả năng kiên nhẫn liên tục bất chấp mọi trở ngại và khó khăn” (visualization and imagination, courage and willpower and ability to persist in spite of all obstacles and difficulties).
e- Như vậy, có phải ham muốn có nghĩa là tình yêu?
Tình yêu là ham muốn, không có định nghĩa nào khác hơn nữa… Đối với một số người, đó là sự đáp lại tình cảm của họ, một số người khao khát được gần gũi với người yêu. hoặc người mình yêu. Nhưng cũng có vài ngoại lệ, là ai đó nghĩ rằng “có thể chỉ muốn người mình yêu hạnh phúc mà thôi, không cần thiết để được đáp lại” (tình yêu đơn côi chăng?)
Chỉ có những người dối lòng là những người nói
rằng tình yêu đích thực không có ham muốn!
Ham muốn có ý nghĩa gì trong Phật giáo?
Trong Phật giáo, dục vọng, vô minh, và chấp ngã nằm ở gốc rễ của mọi đau khổ. Theo dục vọng, Phật tử đề cập đến tham ái, vật chất và bất tử, tất cả đều là những ham muốn không bao giờ có thể được thỏa mãn cho mỗi con người.
Làm thế nào để một Phật tử thoát khỏi phải “chấp ngã”?
Có vài thực tiễn dưới đây để cho mỗi chúng ta cùng suy nghiệm nhằm “bớt đi” tính chấp ngã của chính mình:
* Thiền – Meditation: Thiền chỉ đơn giản là ngồi yên và cố gắng chú ý đến thời điểm hiện tại cho dù đó là hơi thở của bạn, cơ thể bạn hay những gì đang xảy ra xung quanh bạn ngay bây giờ;
* Từ bi – Compassion;
* Sự phụ thuộc lẫn nhau – Inter-independence;
* Chấp nhận – Accepting;
* Mở rộng – Expansiveness.
5-Tam giác vàng
Điều gì là tuyệt vời về tam giác này?
Thực sự nó có ý nghĩa gì?
Một số người thành công nhứt đã theo hướng nầy và họ thành công vì “Năng lực của một tư duy tuyệt vời”.
Cuộc hành trình đến tam giác vàng bắt đầu với Ham muốn – Desire. Đó là sân ga từ nơi con tàu vận mạng bắt đầu lăn bánh. Con tàu sẽ dừng lại sau mỗi trạm và những người không có đủ kiên nhẫn sẽ rời khỏi tàu. Còn những người ở lại là người có đức tin (tùy theo suy nghĩ của bạn, có thể là đức tin (faith) mà cũng có thể là niềm tin (believe). Đây là một thuộc tính quan trọng thứ hai để thành công.
Trong sự so sánh nầy, Đức tin kiên định – Consistent Faith và Khát vọng – Desire vững chắc chuyển Tâm Ý thành Hành động – Action.
Hành động giúp chúng ta tăng thêm ham muốn. Kết quả của Hành động làm cho Đức tin mạnh mẽ hơn và thêm một lần nữa, Hành động được tăng thêm, và từ đó tiếp tục mãi mãi Hành động.
Phản ứng dây chuyền không kiểm soát của hành động này sẽ đưa chúng ta đến nơi chúng ta thực sự thuộc về… (actually belong).
Thay lời kết
Quý bạn vừa thả lòng với những định nghĩa, nhận đình cùng suy diễn hết sức trừu tượng về một danh từ hay động từ “Desire” tạm dịch là “Ham muốn” từ những suy nghĩ của các triết gia cho đến suy nghĩ của đời thường trong cõi ta bà nầy.
Để rồi bạn chuyển qua một vài suy diễn trong tinh thần Phật giáo…
Người viết không dám nói thêm nhiều nữa, chỉ mong mỗi người trong chúng ta nhìn về, nghĩ về “Ham muốn” trong chiều hướng nào?
Và dù trong chiều hướng nào đi nữa chỉ mong Quý Bạn vẫn còn tỉnh táo để biết chính mình:
Đang nghĩ gì?
Đang làm gì?
Và suy nghĩ gì, làm gì đó có thích hợp với đạo lý của “Đời thường” không?
Xin chia xẻ vài suy nghĩ cùng Bạn trong mùa chay tịnh của Thiên Chúa giáo và mùa “cách ly tự nguyện” vì cô Coronavirus.
Và đây cũng là những suy nghĩ mà chính người viết cũng cần suy gẫm!
Phổ Lập Mai Thanh Truyết
An Nhiên Tự Tại
Houston, 26/3/2020
Phụ chú:
Kính Thưa Anh Truyết và các Anh Chi Em,
Bài viết anh phân tách về sự Ham Muốn rất hay. Tôi xin góp một chút ý kiến. Sau khi tất cả diễn biến về những thể loại ham muốn, thì chính ta nhìn lại chính mình, những ham muốn đó có đạt hiệu quả hay không, có khi được, nếu sự ham muốn đó trong tầm tay, có khi xa vời vì quá to lớn viển vong, có khi vì cái ta muốn thắng vì tự ái cá nhân.
Nói chung tất cả ham muốn đó do ta tự vẽ ra để trở thành một mục đích mà ta phải thực hiện dù tốt hay xấu.
Vậy làm sao sống cho có những mục tiêu tốt, chính là ta phải tự nhìn lại trong ta, vì ta muốn cái này, muốn cái kia, nói chung muốn đủ thứ trên đời, khi không đạt được thì phiền muộn, bất bình, hoặc đau khổ.
Như lời Phật dạy đó là Tham, Sân, Si. Những thứ đó chỉ là trừu tượng và viễn vong, nhưng nếu không có Ý muốn đó, chúng ta sẽ đứng giữa ngã ba đường, mà ta phải chọn một con đường để đi.
Vậy ta phải vạch ra con đường, sao cho dung hòa . Đó là một con đường chính giữa không có dính mắc hai bên.. Phải luôn nhìn lại chính mình, cảnh giác cái ham muốn thắng, mà phải quên mình nghĩ đến cái chung trong hiện tai.
Tôi đã luôn suy nghĩ ( đó cũng là cái ta xấu xí) tai sao ta có mặt trong đời này, tai sao ta không là cây cỏ, con chim, cái kiến , hoặc là, người giàu có, hoặc nữ hoàng hay là những người nổi tiếng. Vậy thì cuộc sống này phải có lý do, mổi người mổi nhiệm vu, có trách nhiệm phải chu toàn đối với cha me sinh ra ta, với gia đình ta đang có mặt, lo cho con cái cháu chắt trong tương lai. Và với xã hội ta đang sống. Tai sao mình không sanh trong một nước khác mà mình sanh trong nước Việt Nam, vậy ta cũng có trách nhiệm đối với tổ quốc,
Ta phải làm tất cả những gì trong đời này với tất cả lòng biết ơn, đã cho ta có cuộc sống có ý nghĩa, dù có phong ba bão táp, và vui sống. Nếu những ai đã từng đi vượt biên, sẽ hiểu được cái chết trong tích tắc giữa đai dương mênh mông không bến bờ. Hoặc đi máy bay nhìn xuống thấy con người mất hút trong quả đất.Trời đất bao la , ta chỉ là một sinh vật nhỏ bé trong vũ trụ .
Chúng ta cũng may mắn là sanh ra được toàn vẹn, không tật nguyền, còn biết suy nghĩ phải trái, nếu không may sanh ra mà bị chứng bệnh vô não ngẩn ngơ thiếu hiểu biết, thì chúng ta sẽ ra sao. Chúng ta lai được các đấng vĩ nhân hướng dẫn tâm linh biết nhân quả nghiệp báo, giống con rùa mù mà gặp bọng cây, đã mù làm sao thấy được bọng cây, Quả là may mắn. Chúng ta sanh ra không tự chọn, chúng ta chết đi cũng không biết được ngày.
Vậy chúng ta hôm nay gặp nhau đây là một cái duyên hanh ngộ thật đáng vui mừng, nên chúng ta phải quý trọng lẫn nhau.
MAI THANH TRUYẾT
DĨ VÃNG SÂU & TÌNH BUỒN DA DIẾT – Mặc Trần Ai – Đời Đóng Lại – Chùm Thơ & Tranh Họa Của Huu-Thien Paul Phạm
Tưởng Niệm Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm – Giao Chỉ – San Jose
Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm
Tưởng niệm Thủ tướng Trần Thiện Khiêm Giao Chỉ Vũ Văn Lộc
Tuổi hoa niên cùng mặc áo chinh y, Lòng mở rộng giữa dòng đời ấm áp, Chín mươi năm, cuộc đời như gió thoảng, Chiều cô đơn về chậm lúc cao niên.
Nhà văn Giao Chỉ tưởng niệm Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm vừa qua đời ngày 24/6/2021 tại California.
⭐️ Những đại tướng VNCH Quý vị có biết quân đội chúng ta có bao nhiêu ông đại tướng. Cao cấp và thâm niên nhất là đại tướng Lê Văn Tỵ, khi ông qua đời thời kỳ quốc trưởng Nguyễn Khánh đã truy thăng ông lên Thống Tướng. Các vị đại tướng khác là tổng thống Dương Văn Minh, quốc trưởng Nguyễn Khánh, Tổng tham mưu truong Cao Văn Viên và thủ tướng Trần Thiện Khiêm. ⭐️ Hoàng hôn của các đại tướng Ngoại trừ tướng Cao Văn Viên ra đi từ miền Đông, tất cả các vị đại tướng đều trải qua những ngày cuối cùng tại tiểu bang CA Hoa Kỳ. Nước Mỹ đã từng là đồng minh của các tướng lãnh cầm quyền. Rồi đã quay lưng bỏ rơi, nhưng sau cùng Hoa Kỳ cũng vẫn là nơi quý vị gửi nắm xương tàn. Tôi có dịp nói chuyện với đại tướng Cao Văn Viên tại cao ốc cao niên xứ Virginia, với quốc trưởng Nguyễn Khánh và thủ tướng Khiêm tại Việt Museum San Jose. Không hỏi về chiến tranh và quốc sự. Chỉ hỏi về tuổi hoa niên. Còn tuổi nào là tuổi của tình yêu lúc mới vào đời. Tình yêu nước, yêu người và yêu chính mình. Các niên trưởng đều đồng ý là tuổi 20. Thời kỳ trước 1954, ở Secteur Hưng Yên đã có 3 vị sĩ quan trẻ tình cờ gặp nhau trên chiến trường Bắc Việt. Trung úy Nguyễn Văn Thiệu gốc Phan Rang, Trung Kỳ. Trung Úy Cao Văn Viên gia đình từ Lào trở về Hà Nội, Bắc Kỳ. Đại úy Trần Thiện Khiêm, quê Long An, Nam Kỳ. Không ai biết rằng sau này sẽ trở thành tổng thống, thủ tướng và tổng tham mưu trưởng. Cũng vào thời kỳ đó đại úy Nguyễn Khánh từ Sài Gòn ra hành quân Hà Nội đã lấy cô vợ của 36 phố phường. Nửa thế kỳ sau tôi hỏi niên trưởng Khánh ai lái xe đưa ngài từ Sactramento về thăm bảo tàng Việt Museum tại San Jose ? Ông nói ngon lành. “Moi” lái chứ ai. Lại hỏi ai ngồi ghế chỉ huy bên cạnh? Bà ngoại hàng Đào của đám Bắc Kỳ nhà anh chứ còn ai. Mấy năm sau cả hai ông bà cùng vào ở chung một phòng trong nhà già bác sĩ Ngải. Luật nursing home là nam nữ bất khả chung phòng, ngoại trừ phòng của ông bà quốc trưởng. Khi quốc trưởng ra đi, khách vào thăm, cô gái hàng Đào Bắc Kỳ, một thời đệ nhất phu nhân hồn nhiên nói rằng anh Khánh đi công tác. Không có nhà. Bà đã thăng hoa ngay trước khi tình Bắc duyên Nam vẫn còn nguyên vẹn. Ông Khánh lấy vợ Bắc nhưng ông đại úy Khiêm thì vẫn một lòng một dạ với tình yêu Nam Kỳ. Ông lấy vợ Rạch Giá. Trong quân đội cấp bậc của chúng tôi xa cách. Trong chính quyền vai trò của chúng tôi lại càng cách biệt, nhưng về đường tình duyên chúng tôi chẳng khác biệt bao nhiêu. Nhà tôi cũng là nữ sinh trường Nguyễn Trung Trực cùng với chị em bà Trần Thiện Khiêm. Khi cùng ngồi nói chuyện tôi thưa rằng từ Bắc vào Nam tìm thấy hồ Than Thở ở Đà Lạt. Ai ngờ đi hành quân ở Hậu Giang thấy Rạch Giá cũng có hồ Than Thở. Xếp Khiêm vỗ đùi nói rằng: “Toi”nói đúng, “moi”lấy vợ Rạch Giá cũng thấy cái hồ Than Thở Mệt lắm. ⭐️ Nói đến thủ tướng Trần Thiện Khiêm ai cũng tiếc rằng ông Thiệu ông Khiêm đều không ông nào để lại hồi ký. Lúc sinh thời thủ tướng Khiêm nổi tiếng là người ít nói dù trước năm 1975 hay sau này trải qua gần nửa thế kỷ lưu vong. Ngày xưa trong một buổi đại hội tại Vũng Tàu do tổng thống Thiệu chủ tọa có cả nội các và tướng lãnh tham dự. Hội trường có cả trăm người chiếu trực tiếp trên TV. Tổng thống thao thao bất tuyệt. Ông nói thẳng những điều cấm kỵ. Về bang giao Việt Mỹ, ông không ngần ngại nói rằng ảnh hưởng Hoa Kỳ Việt Nam rất quan trọng và trực tiếp. Bên Mỹ hắt hơi là bên ta sổ mũi. Suốt buổi thủ tướng ngồi bên cạnh, đeo kính mát, yên lặng và bình tĩnh. Báo chí gọi là ông Tư mắt Kính. Không nói. Không lỡ lời. Không sai lầm. Đó có thể là khuyết điểm của chính khách. Đó cũng có thể là ưu điểm của chính trị gia. Sau này ra hải ngoại cũng như thế. Dư luận có thể thêu vẽ và bình luận về vai trò của đại tướng trong chính trường Việt Nam từ binh biến 63 cho đến ngày tàn cuộc 75, nhưng không hề khai thác được điều gì trực tiếp từ niên trưởng Khiêm. Tất cả chỉ là suy diễn. ⭐️ Những ngày sau cùng. Những năm gần đây niên trưởng Khiêm quanh quẩn tại San Jose. Vóc dáng cao lớn và khỏe mạnh với tuổi ngoài 90. Ông không ngần ngại xuất hiện trong các buổi họp mặt đông đảo. Cùng với niên trưởng đô đốc hải quân Trần văn Chơn và tham mưu trưởng Nguyễn Khắc Bình, quý vị làm thành bộ ba tương đắc của QLVNCH. Thêm vào sự hiện diện của tổng trưởng kinh tế Nguyễn Đức Cường và dân biểu dược sĩ Nguyễn văn Bẩy. Dù sao cũng chỉ còn vang bóng một thời. Chung quanh là những người biết chuyện nhưng không nói và người không biết tha hồ lên tiếng. Văng vẳng đâu đây là lời nói than vãn của trung tướng Thiệu: Mất nước là mất tất cả. Trong hoàn cảnh cả cộng đồng Việt hải ngoại chia rẽ giữa 2 đảng Cộng Hóa và Dân Chủ, ông đại tướng cuối cùng của Việt Nam Cộng Hoà lặng lẽ ra đi. Lúc cư ngụ ở San Jose niên trưởng Khiêm bị té và đau chân. Ông nằm trong Nursing home một mình. Hồ Than thở xứ Kiên Giang của ông đã bỏ đi từ lâu sau một thời gian rất dài ông phải săn sóc cho bà. Ông thủ tướng đã trải qua giai đoạn rất vất vả nuôi vợ mệt mỏi hơn cả lúc cầm quyền. Ông vẫn nằm chờ đợi một mình. Một hôm có vị linh mục là cha xứ gốc Việt của miền Senter vào thăm thân phụ. Quan sát thấy tình cha con trong vòng đạo lý tôn giáo. Cha vào thăm con hay con vào thăm cha. Đại tướng bèn mời linh mục đến gặp. Ông muốn tìm về niềm tin tôn giáo vào những ngày cuối của cuộc đời. Tôi tưởng rằng niên trưởng Khiêm lẽ ra phải theo đạo từ thời ông Diệm, nhưng tôi nhầm. Thời đó mà rửa tội có thể do ảnh hưởng chính trị. Nhưng đến năm 2021 mà theo đạo là do tiếng gọi của con tim. Đại tướng hỏi vị chủ chiên tên họ là gì. Thầy tu thưa rằng họ Lê chữ đệm là Trung, tên gọi là Tướng. Lê Trung Tướng. Chuyện đơn giản thành phức tạp. Vào ngày đẹp trời. Ngay tại Nursing Home có ông Trung Tướng họ Lê rửa tội cho đại tướng thủ tướng họ Trần tại San Jose. Cuối tuần qua lễ tang đã tổ chức cho niên trưởng Khiêm tại San Diego nhưng hoàn cảnh hiện nầy mọi chuyện đều phải xếp hàng. Niên trưởng của chúng tôi, vị đại tướng cuối cùng của QLVNCH cũng đang xếp hàng nằm chờ chưa đến lượt hỏa thiêu. ⭐️ Con người một thời lẫm liệt, kiến trúc sư của biết bao nhiêu cuộc cách mạng và binh biến. Người đã từng chờ đợi Được làm Vua và Thua làm đại sứ. Đã gần 50 năm lưu lạc xứ người. 10 năm nuôi vợ đau yếu và sau cùng hồn thiêng đã bay về cố hương nhưng xác tục vẫn nằm chờ trong phòng lạnh để hỏa thiêu cùng thiên hạ. Đại tướng Khánh, đại tướng Viên, đại tướng Khiêm ai cũng nghĩ rằng cuộc đời đẹp nhất ở tuổi cấp úy ngoài 20. Nếu phải được trở lại làm tuổi trẻ 20 sẽ làm lại từ đầu. Sáng suốt hơn, xây dựng hơn, bao dung hơn và giúp được biết bao nhiêu cho đất nước cho dân tộc và cho chính mình. Giao Chỉ VVL ⭐️ https://youtu.be/Tt7DdtjN0hw
Thủ Tương Trần Thiện Khiêm cùng các tướng lãnh VNCH viếng thăm Việt Museum San Jose .
— Giao Chi San Jose. giaochi12@gmail.com (408) 316 8393ReplyReply allForward
THÀNH XÂY KHÓI BIẾC – NON PHƠI ÁNH VÀNG – Cao Mỵ Nhân
CÒN NHÌN THẤY NHAU – Kiều Mỹ Duyên
KIỀU MỸ DUYÊN
Hình từ trái sang phải: Phạm Lang (chủ nhà), nhà văn Phương Hoa, Như Hảo, Minh Thúy, Đỗ Dung, Lê Diễm và Kiều Mỹ Duyên.
(Hình do cô Phạm Lang cung cấp.)
Nhiều người lớn tuổi nói với nhau:
– Bây giờ chúng ta còn nhìn thấy nhau là quý lắm rồi.
Đúng vậy, thấy đó rồi mất đó.
Một phái đoàn đến từ San Jose, gồm có Lê Diễm, Đỗ Dung, Phương Hoa và Minh Thúy. Họ là những nhà văn nữ có tác phẩm đã phát hành. Trong phái đoàn này chỉ có một ông, mọi người chọc ông Sơn là gươm lạc giữa rừng hoa. Phụ nữ dù lớn nhưng gặp lại bạn cũ thì ăn nói rất tự nhiên. Nơi gặp gỡ tại một ngôi nhà thật đẹp ở gần biển, có cổng an toàn. Gió biển lồng lộng dù trời đang nóng như lửa. Các bà ăn mặc rất đẹp, vẫn còn đang kiêu sa của một thời vàng son. Một ông khách và ông chủ nhà, Tiến Sĩ Barry từng là giáo sư dạy ở Đại học Hawaii, và là Giám đốc kỹ thuật Lực Lượng Chống Tàu Ngầm, Hạm Đội khu vực Thái Bình Dương của Hoa Kỳ.
Nhà đẹp từ trước nhà vào trong nhà. Hoa nở rực rỡ, nơi nào cũng có hoa tươi. Phụ nữ chiếm đa số, chỉ có hai ông phải chụp hình, quay phim các nữ nhà văn này.
Bước vào hành lang của ngôi nhà, chúng tôi thấy một phụ nữ với bình dưỡng khí bên mình. Người phụ nữ đẹp này tươi cười như hoa. Cách đây không lâu, bác sĩ bảo cô ấy chỉ sống được 2 năm nữa, nhưng năm nay là năm thứ sáu, cô ấy vẫn sống vui vẻ. Trời nóng trên 90 độ mà từ San Jose đi một đoạn đường thật xa đến thăm bằng hữu ở Orange County thì còn gì quý bằng?
Họ chỉ ở lại một đêm thứ bảy, rồi Chúa nhật trở về San Jose. Tình bằng hữu tuyệt vời, có sức mạnh mãnh liệt khiến những người phụ nữ này phải đi 6 giờ và về 6 giờ, trong lúc Trời nóng như thiêu như đốt. Tôi phục những người phụ nữ yếu ớt nhưng có sức mạnh tinh thần mãnh liệt.
Sức mạnh tinh thần khiến họ đâu cũng tới, đến đâu cũng được. Hai vợ chồng chủ nhà rất nhiệt tình tiếp khách. Người chồng là người Mỹ không nói được tiếng Việt, nhưng rất nể vợ. Nếu không nể vợ thì đâu có tiếp một phái đoàn đông như thế? Trong lúc mọi người nói chuyện ào ào, ông chủ nhà không hiểu gì hết? Bà chủ nhà là thi sĩ, các nhạc sĩ đã sáng tác nhiều bản nhạc hay từ thơ của cô. Thức ăn nhiều quá, món nào cũng ngon. Mọi người nói chuyện xưa, chuyện nay, và ăn uống, không còn thì giờ để nhắc đến các tác phcủa chủ nhà. Thôi thì để khi khác vậy?
Hình từ trái sang phải: Đỗ Dung, Minh Thúy, ông Sơn, Bary Root (chủ nhà, chồng cô Phạm Lang), Phương Hoa, Kiều Mỹ Duyên, Lê Diễm và Như Hảo.
(Hình do cô Phạm Lang cung cấp.)
Tình bạn ngọt ngào như thế? Quen nhau mấy chục năm, hiểu nhau mấy chục năm, tình bằng hữu nếu hiểu nhau dù xa cũng gần. Người ở bên này đại dương và người ở bên kia đại dương vẫn thương mến nhau, vẫn thấy gần nhau, vẫn hiểu nhau, nhưng gặp mặt nhau vẫn tốt hơn, nhìn ánh mắt của nhau đâu cần nói nhiều. Có người đi đến một nơi xa dự một cuộc họp nào đó chỉ cần gặp một người, đâu cần gặp tất cả thiên hạ, hạnh phúc được gặp người đó, chỉ chào hỏi nhau, hay nói vài câu cũng đủ. Tình cảm là như thế, có những việc làm không ai hiểu nổi, không ai giải thích được, không ai phân tích và hỏi tại sao?
Kiều Mỹ Duyên cầu mong mọi người sống yêu thương và bình an.
Còn nhìn thấy nhau là quý lắm.
(Hình chụp ở Costa Rica)
Thế giới này nếu có tình người, cha mẹ thương con, con thương yêu ông bà, cha mẹ, bằng hữu thương nhau như ruột thịt, người này giúp đỡ người kia thì thế giới không có chiến tranh, không có hận thù, không có nhà tù, không có Cảnh Sát, không có quân đội.
Chúng tôi đã từng đến một quốc gia tuyệt vời như thế. Chúng tôi đến Costa Rica dự lễ Quốc Khánh của Tòa Thánh Vatican theo lời mời của Khâm sai Sứ thần Tòa Thánh Vatican, Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Tốt. Chúng tôi rất ngạc nhiên vì ra đường không thấy Cảnh Sát. Mỗi cây đèn đều có cây Thánh Giá ở góc đường, nơi đó có nhà thờ. Nhà thờ khắp nơi, Đông, Tây, Nam, Bắc, chỗ nào cũng có nhà thờ. Một quốc gia có 4 triệu dân, có 94 % là đạo Công Giáo, xứ sở không có Cảnh Sát, không có nhà tù. Costa Rica cách California 3 giờ đồng hồ đi máy bay. Nơi đây là Thiên Đường của những người yêu thiên nhiên, yêu không khí trong lành. Người dân có tuổi thọ rất cao vì họ sống với biển, với gió biển, suối, rừng, cây xanh khắp nơi.
Khâm sai Sứ thần Tòa Thánh Vatican, Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Tốt.
Khi về tới California, mọi người trong phái đoàn ai cũng nhắc đến biển, đến nơi Đức Mẹ hiện ra, và đặc biệt nhớ một xứ sở thanh bình không có Cảnh Sát. Suốt hành trình viếng thăm Costa Rica, đi khắp nơi không thấy bóng dáng một Cảnh Sát nào hết. Một xứ sở bình yên, tối ngủ không cần khóa cổng, khóa cửa, tuyệt lắm đồng hương ơi.
Tôi mong đồng hương, nhất là những nhà văn nên đến Costa Rica một chuyến. Hãy để cho mình một thời gian sống với biển, suối, rừng cây xanh, ăn thật nhiều trái cây ngọt lịm, sẽ thấy đời đẹp hơn, vui hơn, đáng sống hơn, không lo lắng gì hết, quên hết muộn phiền, mệt mỏi, vất vả của cuộc sống thường ngày. Hãy nhìn từng đàn chim bay trên mặt biển. Hãy nhìn những khuôn mặt vô tư, nhảy múa, ca hát suốt ngày, vui như vui thời trẻ thơ, vui như sống ở Thiên Đường, không có chiến tranh, không có người ăn mày trên đường phố. Những người nào có tính nghệ sĩ sẽ tha hồ sáng tác những bản tình ca tuyệt diệu, những bài thơ, bài văn, đem niềm vui và lẽ sống cho người khác.
Kiều Mỹ Duyên đi giữa rừng cây ở Costa Rica.
Nếu tôi là ca sĩ, tôi sẽ ca những bản nhạc tuyệt vời về tình người. Nếu tôi là thi sĩ, tôi sẽ làm những bài thơ về tình người tuyệt vời. Nếu tôi là văn sĩ, tôi sẽ viết về những mối tình bất hủ. Tôi ca ngợi hòa bình, không có chiến tranh, không có ai sản xuất vũ khí, không có người giết người, chỉ có người yêu người mà thôi.
Tôi thích nói về tình yêu hơn thù hận. Yêu thương nhẹ nhàng hơn, thù hận sẽ làm cho đầu óc mình nặng nề, khó thở. Hãy thương nhau, hãy cho nhau nụ cười hay lời thăm hỏi ân cần, ấm áp. Hãy nhìn những người ra đi nhưng lòng không muốn từ giã cõi đời này. Ai mà không thích sống với gia đình và người thân của mình mãi mãi chứ?
Đã nhiều năm, chiều nào chúng tôi cũng vào thăm đồng hương ở viện dưỡng lão. Tôi đã từng nghe:
– Tôi không muốn chết, tôi không muốn chết.
Tiếng rên rỉ của bệnh nhân làm cho người nghe xúc động, nhưng rồi thần chết cũng đến và đem người bệnh ra đi về cõi nào đó không ai biết?
Còn sống thì còn yêu thương. Tình yêu ơi đừng cất cánh bay cao, bay xa. Tình yêu vĩnh cửu!
Tôi rất trân quý tình yêu, tôi rất trân quý những buổi gặp gỡ với các bằng hữu từ xa đến. Họ đến từ những nơi rất xa, từ San Jose, Arizona, Florida, Chicago, Michigan, Boston, D.C, Seattle, Pháp, Úc, Á Châu, v.v.
Tôi tự hỏi mai này mình còn gặp những bằng hữu này nữa không?
Xin chúc sức khỏe, bình yên và hạnh phúc cho tất cả mọi người.
Orange County, 21/7/2021
KIỀU MỸ DUYÊN
(kieumyduyen1@yahoo.com)
CHÀO MỪNG NHÀ VĂN HỒNG THỦY GIA NHẬP VTLV – Lê Văn Hải – Thơ Phương Hoa + Minh Thúy + Dương Huệ Anh & Truyện (Ra mắt) Hồng Thủy –
Tóm tắt tiểu sử:
*Viết văn từ 1958, Bút hiệu Mộng Huyền
*Ngừng viết khi lập gia đình. Viết lại tại Hoa Kỳ 1986
Đã xuất bản:
*Những Cánh Hoa Dại Mầu Vàng, 2010
*Hoa Tương Tư, 2017
*Góp mặt trong:
*Truyện ngắn Phụ nữ Việt, 1994
*Tuyển tập Phụ nữ Việt, 2006, 2008
*Hương đời kỳ diệu, 2007
*Du Tử Lê Tác giả và Tác phẩm
*Tuyển tập Thơ Cỏ Thơm
*Tuyển tập Văn chương Phụ nữ, 2013
*Hồi Tưởng Dấu Yêu, 2015
*Tuyển tập Cô gái Việt, 2016
*Nguyễn Ngọc Bích, Tấm lòng cho quê hương, 2016
*Chủ bút Nguyệt San Kỷ Nguyên Mới
*Trong Ban biên tập Cỏ Thơm
*Thành Viên Câu lạc bộ Văn Học Nghệ Thuật vùng HTĐ
*Chủ Tịch Văn Bút Hải Ngoại Vùng Ðông Bắc Hoa Kỳ (2018-hiện tại)
***************************
Phương Hoa & Hồng Thủy
ĐÀN BÀ LÀ GÌ NHỈ?
Phiếm –Hồng Thuỷ
Đàn bà là món quà quí giá đặc biệt Thượng Đế tặng cho trái đất. Từ ngày có đàn bà, trái đất sống động vui vẻ hẳn lên. Ngày xưa lúc chưa có đàn bà, đàn ông cảm thấy tâm hồn cằn cỗi chả có đối tượng nào để mà mơ, mà mộng. Cuộc đời chán nản, khô khan. Ăn rồi chỉ muốn nằm chèo queo ở nhà.
Có bóng hồng xuất hiện, mắt các chàng bỗng sáng lên, tâm hồn bỗng phơi phới, yêu đời, đầu óc đâm ra mơ mộng, nghĩ toàn những danh từ thật bóng bẩy ướt át đế tán tỉnh các nàng. Bề ngoài các chàng cũng đẹp trai sáng sủa hẳn ra, vì tối ngày được trau chuốt.
Không đi tán đào, ăn diện làm gì cho mất công, phải không quí vị liền ông? Quên nữa, điều này mới là quan trọng. Có đàn bà các ông sạch sẽ hẳn ra. Ông nào lười biếng không chịu tắm gội, sửa soạn đi gặp đào cũng phải tắm rửa sạch sẽ, đánh răng đánh lợi kỹ càng. Để chắc ăn có ông còn súc miệng thêm bằng Listerine nữa chứ. Tóm lại là nhờ có đàn bà, đàn ông lúc nào cũng phải cố gắng ăn ở hợp vệ sinh thơm tho sạch sẽ. Tưởng tượng ghé vào tai nàng thì thầm mà hơi thở không thơm tho thì các nàng chạy de hết.
Các ông hà tiện không chịu chi tiêu cũng trở nên rộng rãi hào hoa hơn. Đi tán đào thì phải bao các nàng ăn uống. Lâu lâu cũng phải quà cáp đế lấy lòng người đẹp. Thành ra, dù kẹo cách mấy, các ông cũng phải mở bóp chi tiêu. Chi mãi thành quen, tính kẹo đỡ đi được một chút.
Trên đây chỉ là ba cái “công dụng” lẻ tẻ. Cái công dụng có chưởng lực mạnh nhất là đàn bà đã mang lại sự trường tồn cho nhân loại. Không có đàn bà trái đất sẽ vắng hoe. Làm sao loài người có thể sinh sôi, nẩy nở nếu đàn bà không mang nặng đẻ đau? Không có đàn bà chắc chắn loài người sẽ tuyệt chủng.
Như vậy đàn bà xứng đáng được vinh danh là người quan trọng nhất trên trái đất (VIP đấy).
Dù là VIP đàn bà vẫn bị xếp đặt ở một vị trí rất khiêm tốn. Xã hội Việt Nam đặt ra những phong tục tập quán thật bất công với đàn bà. Chắng hạn như “Tại gia tòng phụ.Xuất giá tòng phu. Phu tử tòng tử.”
Về phương diện mê tín dị đoan cũng trọng nam khinh nữ. Hễ ra ngõ gặp trai là hên, gặp gái là xui. Sau khi lập gia đình, người đàn bà phải mang tên của chồng. Tên của mình bị chìm vào quên lãng.
Lớn lên con gái bị lép vế đủ thứ. Trong gia đình, bao giờ người con gái cũng phải làm việc nhiều hơn con trai và không được cưng chiều bằng con trai. Trong việc “bồ bịch” con gái chỉ là người bị động, nghĩa là bị dụ dỗ tán tỉnh. Con trai mới là chủ động, tự mình đi bắt bồ tán gái.
Vậy mà nếu con gái có nhiều bồ vẫn bị coi là đồ gái hư, lăng loàn, trắc nết. Con trai có nhiều bồ lại được khen là “anh chàng “đắt mèo” nhiều gái mê, hào hoa phong nhã.
Khi lập gia đình, ông nào cũng muốn cô dâu phải còn mới toanh trong trắng nguyên vẹn, trong khi các ông đã cũ xì, cũ xịt, xài tới xài lui không biết bao nhiêu lần. Lấy nhau rồi, đàn ông vẫn có quyền “trai năm thê bảy thiếp”, nhưng đàn bà ngược lại “gái chính chuyên chỉ có một chồng.”
Đến lúc có con, đàn bà là người mang nặng, đẻ đau. Thức khuya, dậy sớm, lo cho con cho đến ngày chúng khôn lớn. Người mẹ bao giờ cũng vất vả với con nhiều hơn là bố. Vậy mà hễ cái gì dính dáng đến mẹ thì bị gọi là họ ngoại. Có nghĩa là vòng ngoài, ngoại tộc. Cái gì dính dáng đến bố được gọi là họ nội. Nội là bên trong, gần gũi thân thiết. Bị đối xử bất công như vậy mà đàn bà vẫn chấp nhận vui vẻ, coi đó là cái truyền thống của dân tộc, thử hỏi có tội nghiệp không?
Dù có bất công và theo lối cổ lỗ sĩ, quan niệm “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” coi thường đàn bà tới đâu đi nữa, cũng không ai có thế chối cãi đàn bà đáng yêu vô cùng.
Đọc đến đây, nhiều đấng mày râu bị vợ đì hay bị đào hành hạ sẽ mắng mỏ tôi tới tấp “nhờ chị tí nhé! mấy điều chị nói về đàn bà ở trên chúng tôi nghe đã ngứa tai lắm rồi, nhưng không cãi được vì chị nói có lý quá. Nhưng còn cái câu chị khen đàn bà đáng yêu vô cùng thì phải xét lại. Chả hiểu mấy mụ bà chằng đang hành hạ chúng tôi, nó đáng yêu cái cái chỗ nào.
Bình tĩnh suy nghĩ lại đi các ông ơi! Khởi thủy đàn bà bao giờ cũng đáng yêu. Không đáng yêu các ông dại gì mà theo đuổi, o bế, tán tỉnh. Hứa nhăng hứa cuội đủ điều, rồi mang xe bông rước về làm vợ. Có ai đi tán một con mẹ đáng ghét để mong được làm người yêu hay làm vợ đâu. Bằng chứng cụ thể là thư tình gửi cho đàn bà bao giờ các ông cũng viết “Em yêu”, “Em yêu quí”, “Em yêu dấu”. Cuối thư bao giờ cũng không quên “yêu em nhiều lắm” v.v… và v.v…
Vậy nếu em không đáng yêu, các ông điên gì mà yêu em lắm thế? Vậy thì đàn bà đáng yêu là cái chắc chứ còn phải xét đi xét lại gì nữa. Lấy các ông rồi những người đàn bà đáng yêu nếu có thể trở thành bà chằng đáng ghét cũng chẳng có gì phải ngạc nhiên. Đàn bà vốn thông minh “nhập gia” phải “tùy tục” chứ làm sao hơn được. Ông chồng “quá trời”, cực chắng đã, bà vợ mới phải ra tay. Lý do thật đơn giản, đàn bà vốn mềm dẻo “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”. Ông chồng “quá xá quà xa” mà vợ hiền khô thì coi “hổng hợp”. Đàn bà phải tập thay đổi cho nó “xứng đôi vừa lứa” với chồng.
Như vậy các ông phải khen đàn bà mới phải. Nỡ lòng nào các ông lại gọi đàn bà bằng những cái tên chẳng êm ái tí nào “cọp cái”, “bà chằng”, “sư tử Hà Đông” v.v… Ăn ở kiểu đó là hổng có “phe” đâu à nghe. Trời phạt chết đó. Muốn lên thiên đàng với niết bàn, các ông nên ăn ở có trước có sau. Nghĩ đến đàn bà, các ông nên nghĩ đến những hình ảnh đẹp đầy mộng mị mà các ông mê mẩn ở những giây phút của thưở ban đầu. Hãy nhớ đến căn nhà các ông sống hồi độc thân nó lạnh lẽo, im vắng, chán nản như thế nào. Đến khi có nàng xuất hiện, tất cả đều biến đổi một cách nhiệm mầu. Trong nhà đầy tiếng cười nói ríu rít của trẻ thơ. Căn bếp lúc nào cũng ấm cúng với cơm dẻo canh ngọt, chiếc giường xưa kia lạnh lẽo vì chăn đơn gối chiếc, nay đã được sưởi ấm bằng ái ân nồng thắm của tình nghĩa vợ chồng.
Nghĩ như vậy các ông sẽ thấy đàn bà không chỉ đơn thuần là những người vợ. Đàn bà là những chiếc đũa thần, đã mang sự sống, niềm vui, hạnh phúc đến cho nhân loại. Tưởng tượng thế giới toàn đàn ông sẽ buồn nản đến thế nào. Tim các ông sẽ không có đối tượng để mà rung động. Hồn các ông sẽ không bao giờ có cơ hội để mà nhung nhớ mộng mơ. Các ông sẽ chẳng bao giờ được hưởng niềm vui nhìn đàn trẻ thơ tung tăng đùa giỡn. Và cuối cùng các ông sẽ chẳng bao giờ hiểu được ý nghĩa của tình yêu.
Tôi nhớ mỗi năm khi ngày “Mother’s Day” đến, các ông thường kiếm cớ “em là vợ anh chứ có phải là má anh đâu mà anh phải mua quà.” (Câu này tôi nghe…quen quen quí vị ạ) Dù những người vợ không phải là má của các ông, nhưng là…má của các con ông! Các nàng đã cho các ông những đứa con xinh đẹp ngoan ngoãn. Những người vợ xứng đáng được tặng một món quà trong ngày Mother’s Day, dù nhỏ bé cũng được, nhưng thể hiện cái tình nồng thắm của nghĩa vợ chồng.
Đàn bà dù là…chiếc đũa thần (tự khen đó nha!) nhưng vẫn thèm được chồng yêu, chồng chiều và nhất là “chồng cho quà.”
Các ông đừng bao giờ quên điều đó nhé!
Hồng Thuỷ
BÓNG TRĂNG SOI MẶT HỒ – Thơ Xướng Họa: Lê Tuấn & Phương Hoa + Minh Thúy
Chúc Mừng NHÀ VĂN CHU TẤN Lành Bệnh – Phương Hoa – Lê Tuấn – Thư Khanh – Hoàng Mai Nhất – Minh Thúy
Hoàng Hôn Của Các Đại Tướng – Giao Chỉ, San Jose.
Hoàng hôn của các đại tướng.
Giao Chỉ, San Jose.
Sáng nầy nhận được thư của niên trưởng hàng xóm Nguyễn Khắc Bình. Thứ sáu 16 tháng 7-2021 San Jose tưởng niệm thủ tướng Trần Thiên Khiêm tại nhà thờ Maria Goretti 2980 cầu nguyện lúc 11:30 và thánh lễ lúc 12 giờ. Ban tổ chức là tướng Bình nguyên TMT của đại tướng Khiêm và ông Ng Đức Cường nguyên tổng trưởng kinh tế trong nội các của thủ tướng đệ nhị cộng hòa. Ban tổ chức xin mời toàn thể đồng hương đến dự. Cũng vào dịp tháng 7 vào ngày 20-1974 cách đây 67 năm là dịp tưởng niệm cuộc di cư vĩ đại đưa 1 triệu người từ Bắc vào Nam. Tháng trước anh Dương Phục của Radio Saigon Houston hỏi rằng bác Lộc có biết đại tướng Khiêm ở CA không. Trả lời rằng ngày xưa ở Việt Nam chưa từng có dịp trực diện khi ông tướng còn trong quân đội. Sau này ông làm thủ tướng thì lại càng xa cách. Mấy năm gần đây tướng Bình có dịp mời ông đến thăm Việt Museum nên tôi mới có cơ hội nói chuyện. Nhắc lại chuyện xưa thời kỳ đất nước còn đủ hai đầu Nam Bắc, Sài Gòn Hà Nội cũng thực thú vị.
Những vị đại tướng VNCH.
Quý vị có biết quân đội chúng ta có bao nhiêu ông đại tướng. Cao cấp và thâm niên nhất là đại tướng Lê Văn Tỵ, khi ông qua đời thời kỳ quốc trưởng Nguyễn Khánh đã truy thăng ông lên Thống Tướng. Các vị đại tướng khác là tổng thống Dương Văn Minh, Cố vấn Đặng Văn Quang, quốc trưởng Nguyễn Khánh, Tổng tham mưu truong Cao Văn Viên và thủ tướng Trần Thiện Khiêm.
Hoàng hôn của các đại tướng.
Ngoại trừ tướng Viên ra đi từ miền Đông, tất cả các vị đại tướng đều trải qua những ngày cuối cùng tại tiểu bang CA Hoa Kỳ. Nước Mỹ đã từng là đồng minh của các tướng lãnh cầm quyền. Rồi đã quay lưng bỏ rơi, nhưng sau cùng Hoa Kỳ cũng vẫn là nơi quý vị gửi nắm xương tàn. Tôi có dịp nói chuyện với đại tướng Cao Văn Viên tại cao ốc cao niên xứ Virginia, với quốc trưởng Nguyễn Khánh và thủ tướng Khiêm tại Việt Museum San Jose. Không hỏi về chiến tranh và quốc sự. Chỉ hỏi về tuổi hoa niên. Còn tuổi nào là tuổi của tình yêu lúc mới vào đời. Tình yêu nước, yêu người và yêu chính mình. Các niên trưởng đều đồng ý là tuổi 20. Thời kỳ trước 1954, ở Secteur Hưng Yên đã có 3 vị sĩ quan trẻ tình cờ gặp nhau trên chiến trường Bắc Việt. Trung úy Nguyễn Văn Thiệu gốc Phan Rang, Trung Kỳ. Trung Úy Cao Văn Viên gia đình từ Lào trở về Hà Nội, Bắc Kỳ. Đại úy Trần Thiện Khiêm, quê Long An, Nam Kỳ. Không ai biết rằng sau này sẽ trở thành tổng thống, thủ tướng và tổng tham mưu trưởng. Cũng vào thời kỳ đó đại úy Nguyễn Khánh từ Sài Gòn ra hành quân Hà Nội đã lấy cô vợ của 36 phố phường. Nửa thế kỳ sau tôi hỏi niên trưởng Khánh ai lái xe đưa ngài từ Sacto về thăm bảo tàng của chúng tôi tại San Jose. Ông nói ngon lành. “Moi” lái chứ ai. Lại hỏi ai ngồi ghế chỉ huy bên cạnh. Bà ngoại hàng Đào của đám Bắc Kỳ nhà anh chứ còn ai. Mấy năm sau cả hai ông bà cùng vào ở chung một phòng trong nhà già bác sĩ Ngải. Luật nursing home là nam nữ bất khả chung phòng, ngoại trừ phòng của ông bà quốc trưởng. Khi quốc trưởng ra đi, khách vào thăm, cô gái hàng Đào Bắc Kỳ, một thời đệ nhất phu nhân hồn nhiên nói rằng anh Khánh đi công tác. Không có nhà. Bà đã thăng hoa ngay trước khi tình Bắc duyên Nam vẫn còn nguyên vẹn. Ông Khánh lấy vợ Bắc nhưng ông đại úy Khiêm thì vẫn một lòng một dạ với tình yêu Nam Kỳ. Ông lấy vợ Rạch Giá. Trong quân đội cấp bậc của chúng tôi xa cách. Trong chính quyền vai trò của chúng tôi lại càng cách biệt, nhưng về đường tình duyên chúng tôi chẳng khác biệt bao nhiêu. Nhà tôi cũng là nữ sinh trường Nguyễn Trung Trực cùng với chị em bà Trần Thiện Khiêm. Khi cùng ngồi nói chuyện tôi thưa rằng từ Bắc vào Nam tìm thấy hồ Than Thở ở Đà Lạt. Ai ngờ đi hành quân ở Hậu Giang thấy Rạch Giá cũng có hồ Than Thở. Xếp Khiêm vỗ đùi nói rằng: “Toi”nói đúng, “moi”lấy vợ Rạch Giá cũng thấy cái hồ Than Thở Mệt lắm.
Nói đến thủ tướng Trần Thiện Khiêm ai cũng tiếc rằng ông Thiệu ông Khiêm đều không ông nào để lại hồi ký. Lúc sinh thời thủ tướng Khiêm nổi tiếng là người ít nói dù trước năm 1975 hay sau này trải qua gần nửa thế kỷ lưu vong. Ngày xưa trong một buổi đại hội tại Vũng Tàu do tổng thống Thiệu chủ tọa có cả nội các và tướng lãnh tham dự. Hội trường có cả trăm người chiếu trực tiếp trên TV. Tổng thống thao thao bất tuyệt. Ông nội thẳng những điều cấm kỵ. Về bang giao Việt Mỹ, ông không ngần ngại nói rằng ảnh hưởng Hoa Kỳ Việt Nam rất quan trọng và trực tiếp. Bên Mỹ hắt hơi là bên ta sổ mũi. Suốt buổi thủ tướng ngồi bên cạnh, đeo kính mát, yên lặng và bình tĩnh. Báo chí gọi là ông Tư mắt Kính. Không nói. Không lỡ lời. Không sai lầm. Đó có thể là khuyết điểm của chính khách. Đó cũng có thể là ưu điểm của chính trị gia. Sau này ra hải ngoại cũng như thế. Dư luận có thể thêu vẽ và bình luận về vai trò của đại tướng trong chính trường Việt Nam từ binh biến 63 cho đến ngày tàn cuộc 75, nhưng không hề khai thác được điều gì trực tiếp từ niên trưởng Khi êm. Tất cả chỉ là suy diễn.
Những ngày sau cùng.
Những năm gần đây niên trưởng Khiêm quanh quẩn tại San Jose. Vóc dáng cao lớn và khỏe mạnh với tuổi ngoài 90. Ông không ngần ngại xuất hiện trong các buổi họp mặt đông đảo. Cùng với niên trưởng đô đốc hải quân Trần văn Chơn và tham mưu trưởng Nguyễn Khắc Bình, quý vị làm thành bộ ba tương đắc của QLVNCH. Thêm vào sự hiện diện của tổng trưởng kinh tế Nguyễn Đức Cường và dân biểu dược sĩ Nguyễn văn Bẩy. Dù sao cũng chỉ còn vang bóng một thời. Chung quanh là những người biết chuyện nhưng không nói và người không biết tha hồ lên tiếng. Văng vẳng đâu đây là lời nói than vãn của trung tướng Thiệu: Mất nước là mất tất cả. Trong hoàn cảnh cả cộng đồng Việt hải ngoại chia rẽ giữa 2 đảng Cộng Hóa và Dân Chủ, ông đại tướng cuối cùng của Việt Nam Cộng Hoà lặng lẽ ra đi. Lúc cư ngụ ở San Jose niên trưởng Khiêm bị té và đau chân. Ông nằm trong Nursing home một mình. Hồ Than thở xứ Ki ên Giang của ông đã bỏ đi từ lâu sau một thời gian rất dài ông phải săn sóc cho bà. Ông thủ tướng đã trải qua giai đoạn rất vất vả nuôi vợ mệt mỏi hơn cả lúc cầm quyền. Ông vẫn nằm chờ đợi một mình. Một hôm có vị linh mục là cha xứ gốc Việt của miền Senter vào thăm thân phụ. Quan sát thấy tình cha con trong vòng đạo lý tôn giáo. Cha vào thăm con hay con vào thăm cha. Đại tướng bèn mời linh mục đến gặp. Ông muốn tìm về niềm tin tôn giáo vào những ngày cuối của cuộc đời. Tôi tưởng rằng niên trưởng Khiêm lẽ ra phải theo đạo từ thời ông Diệm, nhưng tôi nhầm. Thời đó mà rửa tội có thể do ảnh hưởng chính trị. Nhưng đến năm 2021 mà theo đạo là do tiếng gọi của con tim. Đại tướng hỏi vị chủ chiên tên họ là gì. Thầy tu thưa rằng họ Lê chữ đệm là Trung, tên gọi là Tướng. Lê Trung Tướng. Chuyện đơn giản thành phức tạp. Vào ngày đẹp trời. Ngay tại Nursing Home có ông Trung Tướng họ Lê rửa tội cho đại tướng thủ tướng họ Trần tại San Jose. Cuối tuần qua lễ tang đã tổ chức cho niên trưởng Khiêm tại San Deago nhưng hoàn cảnh hiện nầy mọi chuyện đều phải xếp hàng. Niên trưởng của chúng tôi, vị đại tướng cuối cùng của QLVNCH cũng đang xếp hàng nằm chờ chưa đến lượt hỏa thiêu. Con người một thời lẫm liệt, kiến trúc sư của biết bao nhiêu cuộc cách mạng và binh biến. Người đã từng chờ đợi Được làm Vua và thua làm đại sứ. Đã gần 50 năm lưu lạc xứ người. 10 năm nuôi vợ đau yếu và sau cùng hồn thiêng đã bay về cố hương nhưng xác tục vẫn nằm chờ trong phòng lạnh để hỏa thiêu cùng thiên hạ. Đại tướng Khánh, đại tướng Viên, đại tướng Khiêm ai cũng nghĩ rằng cuộc đời đẹp nhất ở tuổi cấp úy ngoài 20. Nếu phải được trở lại làm tuổi trẻ 20 sẽ làm lại từ đầu. Sáng suốt hơn, xây dựng hơn, bao dung hơn và giúp được biết bao nhiêu cho đất nước cho dân tộc và cho chính mình.
Tuổi hoa niên cùng mặc áo chinh y, Lòng mở rộng giữa dòng đời ấm áp. Chín mươi năm, cuộc đời như gió thoảng. Chiều cô đơn về chậm hồn cao niên.(Giao Chỉ tưởng niệm niên trưởng Khiêm, cùng hội cùng thuyền những người con rể xứ KiênGiang.)
Thơ Đường qua thể loại thất ngôn bát cú thông thường, với hình thức một bài thơ gồm 8 câu, mỗi câu 7 chữ, 5 vần bằng ở mỗi cuối câu: 1 2 4 6 8, cuối 3 câu: 3 5 7 thì tất nhiên là vần trắc rồi.
Nhưng không phải “chỉ có vậy.” Nó, bài thơ thể loại này, còn bắt ta học gần nửa trăm quy luật: mà mỗi chữ, mỗi câu mang một nhiệm vụ riêng.
Các câu
1/ Phá đề
2/ Thừa đề
3+4 / Thực hay trạng: cặp đối thứ 1
5+6 / Luận: cặp đối thứ 2
7/ Chuyển
8 / Kết.
Xem ra quý vị cứ việc bám sát đề bài, với tinh thần nêu trên là qua cầu vui vẻ rồi.
Tôi nhớ cụ thi sĩ rất tên tuổi trong chiếu thơ Đường hàng chức sắc, nói với tôi rằng:
” Không phải cứ cặp đối 3+4 ( thực trạng ) với nội dung bài là đắc sách đâu, tất nhiên thực hay trạng của bài thơ Đường Luật là quan trọng rồi.
Nhưng, tôi nói cho Cao Mỵ Nhân biết, câu chuyển ( thứ 7 ), là đắt giá nhất, nó tóm gọn toàn bài trước khi kết thúc đấy .” ( Cụ Trình Xuyên ).
Sau khi tôi đã hoàn toàn chấm dứt cái nạn tù cải tạo do csvn áp đặt, đầu năm 1980, tôi bắt đầu sinh hoạt văn nghệ nơi các hội thơ, hội thảo thi ca cổ điển VN …xưa.
Tức là ngoài việc tôi gia nhập thi đàn Quỳnh Dao của quý vị nữ sĩ tên tuổi như Mộng Tuyết, Vân Nương, Quỳ Hương, Uyển Hương, Đinh thị Thục Oanh, Tuệ Mai vv…
Quý vị toàn gấp đôi, gấp rưỡi tuổi tôi, có vài vị nữ sĩ trẻ hơn các niên trưởng nêu trên, như Tuệ Nga, Tôn nữ Hỷ Khương, thì tôi trở thành ” Em út Quỳnh Dao “, có nghĩa là tuổi tác và sức khoẻ tôi còn xài được với thế hệ sau của quý niên trưởng chuyên xướng hoạ Thơ Đường.
Bên cạnh quý vị đương nêu, là quý thi khách Đường Thi như quý cụ Quách Tấn, Đông Hồ ( đã quá cố) , Giản Chi, Vũ Hoàng Chương, Hà Thượng Nhân vv…cũng đã quá cố.
Song le, mỗi quý vị nữ sĩ Quỳnh Dao lại giao hảo với số khách Đường Thi riêng, mà khác đường lối chơi thơ cổ điển chung của thi đàn Quỳnh Dao, nên tôi vì là ” Em út Quỳnh Dao ” gần như tôi có bổn phận phải biết từng tích tắc khác biệt đó.
Thí dụ : Nữ sĩ Thu Nga thì thỉnh thoảng xướng hoạ với quý cụ thi sĩ Tế Nhị, Như Ý, Trình Xuyên, Linh Điểu vv…
Đại khái ” xã giao ” thơ, mà lại là thơ luật Đường , không phải đơn giản, chỉ 2 chữ ” Thôi, Xao ” của Giả Đảo đã là một thần thoại thích thú.
Nay, sau cuộc đổi đời 30 -4 -1975, sĩ khí người cầm bút đã gây nhiều mâu thuẫn thời thế, huống hồ chơi thơ luật, là các bậc thịnh Hán, túc Nho, có dịp biểu lộ tinh thần ” chi hồ giả dã ” thời đại ra, để khích bác điều bất như ý.
Do đó thế giới thơ của mỗi vị thì vô cùng …
Chuyện xướng hoạ thơ luật Đường vô hình chung cho ta cảm giác tôn ti trật tự của trước nhất là tuổi tác, các yếu tố khác như địa vị, gia thế vv…và nhất là thơ, có hay ho tới đâu, cũng phải qua ngưỡng cửa ” niên tuế ” khách thơ đang hiện diện ở hội thơ lúc đó.
Trong hội thơ Quỳnh Dao chúng tôi, kể từ ngày tôi tham dự , tôi luôn luôn là người giới thiệu chương trình hội thơ, thường thi đàn tổ chức thay phiên tại các tư gia của các nữ sĩ.
Cũng từ đấy, tôi may mắn được diện kiến các bậc ” Đường thi khách ” lão luyện còn …sót lại, mà tôi rất kính phục như quý cụ Quách Tấn ( Nha Trang ), Bùi Khánh Đản ( Saigon ) Chánh Hà, và nhất là nữ sĩ tiền chiến Ngân Giang, các vị ở Hà Nội từ thủa còn được tôn phong là Hà Thành thanh lịch.
Tức là thời đệ nhất bán thế kỷ vừa qua, không phải mang cái mầu sắc Xã Hội chủ Nghĩa hay vô sản, quý vị vô thăm Saigon và miền nam sau 30 – 4 – 2020, tôi mới có cơ hội được gặp quý cụ ” Đường thi chuyên nghiệp “.
Ngoài việc nữ sĩ chủ nhà buổi hội thơ hôm đó, mời tiệc, hội có thể mời thêm dăm ba khách ” thời thế ” , không làm thơ, nhưng muốn thả hồn theo dòng suy nghĩ riêng tư, thể hiện nơi hội thơ hậu chiến .
Cũng chính vì thế, mà không khí loãng ở một vài hội thơ sau cuộc đổi đời nêu trên, đã có lúc được khách tham dự phải bỏ cuộc, để mau chóng ra về, cho khỏi mang hoạ ” chính trị ” vào thân, vì bị Công An rình mò, bắt bớ.
Thí dụ : Tại tư thất nhà thơ hoàng phái Vĩnh Mạnh Thường Quân vào mùa xuân năm 1982, buổi đó được giới thiệu là có 3 vị thi sĩ lão thành đại diện cho 3 miền, gồm : cụ Vũ Đình Liên ( Bắc) tác giả bài thơ” Ông Đồ “, cụ Vân Giang ( Trung ) và cụ Trác Ngọc ( Nam ) ngồi phía đầu dãy chiếu hoa trải kín nền phòng khách Thạch Động, chủ toạ.
Chúng tôi ngồi chung quanh chu vi chiếu thơ mở rộng.
Sau tất cả các thủ tục ban đầu, gồm giới thiệu thi tướng, thi tài vv… là ai muốn trình bầy ý thơ gì, cứ việc ” phát biểu “.
Nhà thơ ” Đường thi tức vị ” theo thời thế cho yên thân, đã hỏi cụ Vũ Đình Liên rằng :
” Cụ là chứng nhân của 2 thời đại thơ như Ông Đồ trước khi đi …cách mạng, và bài thơ Ông Đồ csvn, bút sắt thay bút lông ngày xưa vốn hoa tay thảo những nét, như phượng múa, rồng bay. Nay, nói theo thời đại ” logic ” tình hình thơ chung và riêng của cụ thế nào ?
Chúng ” cháu ” đã mất hết cảm hứng khi đọc lại bài thơ Ông Đồ xưa của cụ . Và, tại sao các cụ vô đây, để làm cái việc cho xe ba gác chở tất cả thơ hay, thơ đúng nghĩa thơ, của các thi sĩ danh tiếng cả nước, như thơ Vũ Hoàng Chương, thơ Đinh Hùng vv…” đem đi thiêu huỷ ?
Câu hỏi được đặt ra, nhưng không cần chờ nghe câu trả lời, nhà thơ trẻ ( ngoài 30 tuổi, cái tuổi dễ bị bắt nhất ) đứng lên cáo từ, và đi như chạy ra khỏi hội thơ.
Như tôi đã có dịp trình bầy nhiều lần là: Thơ luật Đường Tống đã phổ biến trong xã hội VN từ nhiều đời . Nét tinh hoa của thể luật này, tưởng kết thúc ngay từ đầu thế kỷ 20 vừa qua, với 2 hồi chuông báo tử thất thanh, của quý vị thi sĩ lỗi lạc Đường luật là cụ Tú Xương qua nỗi buồn phải chấp nhận hoàn cảnh tây học :
” Ném bút lông đi, viết bút chì …”
Cùng một cuốn thơ tạ từ năm tháng cũ :
” Mùa Cổ Điển ” của cụ Quách Tấn .
Tôi vốn ưa những điều ” ham hố ” .
Sau đại nạn 30 – 4 – 1975, thay vì đi tìm một ngoại ngữ học để có thể kiếm sống, tôi lại rong chơi ” Thơ Đường “, học hỏi và đi sát quý cụ để thấy được những kỳ bí, mà có lẽ chỉ ở thể loại này, người ta mới dễ bày tỏ, hứa hẹn, dặn dò quyết liệt người được nhận, hay phải trả lời thơ trao, hoặc tặng.
Nghe tin tôi vừa từ trại tù cải tạo về. Thi sĩ danh tiếng Bùi Khánh Đản cùng thi sĩ Bàng Bá Lân ( viết thơ mới nhiều hơn ) đã mỗi cụ một xe đạp mi ni, ghé thăm tôi sức khoẻ và hồn thơ khoảng khoát thế nào.
Cụ Bùi Khánh Đản viết trên một tờ giấy mầu vàng, rộng bằng trang báo lớn, bài thơ tên Quang Vinh như sau:
QUANG VINH
(Bài xướng)
Xiết chặt vòng tay cùng chặn gió
Mở đường kiếm khí dậy hào quang
Nước mây sẽ ấm trời băng lạnh
Cây cỏ rồi thay sắc đoạn trường
Hương chính nghĩa tràn trên đỉnh mộng
Lửa kiêu hùng đốt sạch rừng hoang
Chúng ta bỗng bật tim thành tiếng
” Sử Việt từ nay đẹp chữ vàng “.
Saigon 7/1980
BÙI KHÁNH ĐẢN
Dù mới từ trại tù cải tạo về, tôi cũng quên béng thân phận sĩ quan chế độ VNCH, rất dễ tái tù, khó tránh .
Tôi kính hoạ thơ cụ Bùi Khánh Đản tặng tôi như sau :
GỌI GIÓ VÀNG
(Bài hoạ)
Vẫn thả diều lên, tìm hướng gió
Những ngày xanh biếc bầu trời quang
Để xem bóng nắng bao hy vọng
Còn thấy hơi sương phủ dặm trường
Thật rất vô tình nghe nước chảy
Thà đừng cố ý bước chân hoang
Đôi phen tim thắt vì thương tủi
” Mộng với thơ ai chép sử vàng ? “.
Saigon 11-8-1980
CAO MỴ NHÂN
Cụ Bùi Khánh Đản ( 2010 ) và cụ Đỗ Bằng Đoàn ( 1908 – 1986 ) là đồng tác giả cuốn ” Đường Thi Trích Dịch” in roneo 300 cuốn tại Saigon năm 1959, gồm 503 bài của 133 tác giả.
Mới đây tôi được nghe: nhà xuất bản Văn Học Hà Nội đã in tái bản tác phẩm đồ sộ ” Đường Thi Trích Dịch ” của 2 cụ nêu trên, dày 1271 trang, năm 2006.
Mỗi lần nhật nguyệt lững lờ trôi trên biển trời, cả thế giới
” Đường Thi ” lại như vần vũ gió mưa.
Những thế hệ suy tụng Đường Thi không xếp nếp thời gian, hiện nay ở quốc nội lẫn Hải ngoại, đang vun vén cả rừng hoa tuy bình cũ, nhưng rượu mới, ý thơ bát ngát, thanh sắc lạ lùng, nhưng đầy hứng cảm. Khách yêu thơ cổ điển ưa chuộng những tinh hoa ẩn hiện, linh diệu.
Song cũng chỉ hợp với quý vị tồn cổ, mang cảm giác thầm lặng trước sóng gió phế hưng của thể loại thi ca…đầy nguyên tắc từ xưa tới nay này.
CAO MỴ NHÂN
Đọc ‘Hoa Cỏ Bên Đường’ của nhà báo Kiều Mỹ Duyên – PHAN TẤN HẢI & LÊ TỐNG MỘNG HOA – LÊ VĂN HẢI
Nữ Phóng Viên Chiến Trường Kiều Mỹ Duyên Tôi hân hạnh được quen biết với Chị có lẽ đã trên 30 năm. Từ VN trước 75, tôi đã mến Chị qua bài phóng sự “Bay Trên Bầu Trời Lửa Đạn!” Rồi có duyên gặp Chị tại Hải ngoại. Mỗi lần xuống Nam Cali, có đến văn phòng địa ốc thăm Chị vài lần. Nhiều nhất đượcgặp Chị trong những buổi ra mắt sách. Chị là cây bút hiếm có còn sót lại, gốc từ phóng viên chiến trường, đến nay vẫn sống chết với ngòi bút. Nhớ thời khi Quê hương trong cơn “Binh lửa,” rất nhiều người vẫn theo đõi những bài phóng sự nóng hổi, khét mùi khói súng chiến trường có tên Kiều Mỹ Quyên, trên nhiều nhật báo ở Sài Gòn, nhất là trên nhật báo Hòa Bình. Tác giả bút ký chiến tranh độc đáo, có một không hai “Chinh Chiến Điêu Linh” Qua Mỹ, người Nữ phóng viên nhỏ bé, còn xông sáo, thành công hơn cả trên chiến trường! Chị tốt nghiệp Đại học Cal Fulleton. Chủ nhân Ana Real Estate, một trong những văn phòng địa ốc lâu đời nhất, lớn nhất khu Sài Gòn Nhỏ. Ngòi viết của Chị có mặt khắp nơi, trên khắp mọi phương tiện truyền thông, từ đài truyền hình, trên SBTN, SET, VNA TV, đến những đài phát thanh lớn, như Đài Á Châu Tự Do (RFA)…trên khắp mọi diễn đàn. Giống như “Tề Thiên Đại Thánh,” đâu cũng thấy! VTLV hân hạnh giới thiệu Tác phẩm mới nhất của Chị xuất bản trong năm nay (2021) có tên “Hoa Cỏ Bên Đường” Bảo đảm rất khác với những ngòi bút nữ khác. Vì đã tôi luyện qua biết bao nhiêu chiến trường khốc liệt, dù qua bao nhiêu năm, vẫn sắc bén, như gươm như giáo, như súng như đạn, bắn vào con tim Người đọc, thành những mảng vết thương nhức nhối, mà sẽ…không bao giờ lành! Thử đọc mới biết! LÊ VĂN HẢI
ĐỌC TUYỂN TẬP “HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG” CỦA KIỀU MỸ DUYÊN
LÊ TỐNG MỘNG HOA (VA)
Kiều Mỹ Duyên tham dự đại hội kỷ niệm 15 năm thành lập Đài Việt Nam Hải Ngoại.
Cô Lê Tống Mộng Hoa, một bằng hữu và là ân nhân của Hệ Thống Truyền Thông Việt Nam Hải Ngoại (áo dài vàng bên phải)
Em đã đọc qua các bài giới thiệu tuyển tập HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG của nhà văn Huy Phương, nhà báo Chinh Nguyên và ký giả Mặc Lâm đài VOA. Cả 3 vị đều bộc lộ sự cảm phục và ngưỡng mộ lòng yêu thương, ham mê nghề nghiệp của “phóng viên chiến trường” xông pha vào nhiều chiến địa khốc liệt thập niên 1960 của người “nữ ký giả xuất sắc trong thời gian chiến tranh”: Kiều Mỹ Duyên.
Cả 3 nhà văn, nhà báo này đã viết rất chân tình, rất hay và dẫn dắt độc giả đến gặp một nhà báo lớn thành công, yêu thích nghề làm báo, một ký giả viết phóng sự chiến trường trong nước và viết báo ở hải ngoại qua hơn nửa thế kỷ (1968-2021):
Kiều Mỹ Duyên cũng là một nhà văn với lối hành văn giản dị mà lôi cuốn người đọc vô cùng. Lời giới thiệu tác giả HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG của 3 vị này đã quá đầy đủ và tuyệt dịu, vậy mà chị Kiều Mỹ Duyên vẫn muốn em viết đôi dòng cho tuyển tập này làm chi nữa?
Vì vậy, em xin lỗi không giới thiệu sách HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG nữa mà chỉ “bật mí” những cá tính đặc biệt, đáng yêu của “chị Hai Kiều Mỹ Duyên” như tên gọi thân thương mà nhà văn Chinh Nguyên đã tặng cho chị.
1/ Kiều Mỹ Duyên luôn nói cười vui vẻ, thân thiện mỗi khi gọi điện thoại cho bạn bè.
Có lẽ nhờ duyên lành đưa đẩy mà em gặp và quen biết chị hơn 20 năm qua, mặc dù 2 người có cuộc sống và nghề nghiệp khác nhau. Chị là nhà địa ốc lớn, nhà báo nổi tiếng ăn nói khéo léo, mối giao thiệp lan rộng ra cả toàn cầu; còn em chỉ là “cô giáo dạy tiếng Việt không lương”, một chuyên viên điện toán tầm thường của chính phủ Liên Bang, chỉ giao tiếp trong phạm vi nhỏ hẹp của gia đình, sở làm, trường học tại địa phương. Điều khiến em thích thú nhiều nhất nơi chị là tiếng cười giòn giã, vui tươi mỗi lần chị gọi điện thoại hỏi thăm em.
2/ Kiều Mỹ Duyên, nhà địa ốc giàu xụ luôn đòi “xin ăn” vì đang đói bụng?
Mặc dù rất bận với 2- 3 công tác cùng một lúc, từ xa xôi chị vẫn gọi hỏi thăm và nói chuyện “thế sự gió mưa” với em ít nhất mỗi tuần 1 hoặc 2 lần.
Em luôn cười thỏa thích khi nghe chị bảo: “Hoa ơi, mở cửa cho chị mau đi, chị đang đứng trước cửa đây nè, có gì cho chị ăn không, đói bụng quá!” Không những diễn màn hài hước “xin cơm chay” với em, vì biết em ăn chay trường tuy rằng chúng ta ở xa nhau vạn dặm (từ miền Tây sang miền Đông Hoa Kỳ), mà trong các chuyến đi hội họp ở các tiểu bang xa hoặc ở các quốc gia ngoài Hoa Kỳ, chị cũng “xin ăn” tại các chùa chiền và luôn được quý vị ni sư tiếp đãi ân cần, hậu hỹ. Chị còn được nhiều khách hàng của công ty Ana Real Estate (Broker An Nguyễn) làm thức ăn chay tinh khiết ngon lành mang đến biếu tặng chị vì lòng mến mộ, đến nỗi nhà văn Thu Nga (Tổng Giám Đốc Saigon Dallas Radio AM1600 kiêm Giám Đốc chi nhánh Hệ thống SBTN-TV Texas, bạn của chị ở Texas) đã phải than: “Mấy người này đang mang củi về rừng mà không biết!” Vì nhà nghèo mà lại đem dâng hiến cho nhà giàu, cũng lạ thật!
3/ Hai chị em có chung một MƠ ƯỚC.
Khi ký giả Mặc Lâm (đài VOA) phỏng vấn chị: “Bà có dự định gì cho những ngày sắp tới?”, sau hơn nửa thế kỷ hoạt động thành công trong lãnh vực báo chí truyền thông, chị đã tâm sự: “Cái mơ ước của chúng tôi suốt cuộc đời còn lại là giúp đỡ cho những người nghèo, những đứa trẻ mồ côi không cha không mẹ,haylà những người ở trong những làng quê hẻo lánh mà không được đi học thì mong rằng những đứa trẻ được đến trường, mong rằng những đứa trẻ có áo ấm mặc trong mùa đông và có thuốc men có thức ăn và có một đời sống văn minh cũng như tất cả mọi người.”
Em đã cười vui sướng khi đọc đến đoạn này! Hi hi hi! Ha ha ha! Như vậy là hai chị em có chung một ước mơ, hèn gì tình thân thương giữa hai người tuy ở xa nhau, lối sống khác nhau vẫn còn được bền lâu, vững chãi.
Xin cảm tạ ơn trên Trời Phật đã dẫn dắt cho em được quen biết với chị, một gương sáng hoạt động không ngừng nghỉ và đạt đến thành quả tốt đẹp rực rỡ trong môi trường báo chí, truyền thông cũng như địa ốc!
Cầu mong cho tuyển tập HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG được đồng hương Việt Nam khắp nơi đón đọc thích thú và trở thành “Best Seller Book” năm nay giống như cuốn sách Chinh Chiến Điêu Linh của chị trước đây.
LÊ MỘNG HOÀNG
LÊ TỐNG MỘNG HOA (VA)-7/22/2021
Charity Group of VA Affection Nhóm Từ Thiện Tình Thương VA Caring and Sharing with Affection
Đọc ‘Hoa Cỏ Bên Đường’ của nhà báo Kiều Mỹ Duyên
Phan Tấn Hải
Không kể tới tuyển tập Chinh Chiến Điêu Linh, một tập bút ký xa xưa gồm nhiều bài có chủ đề một thời Chiến Tranh Việt Nam của phóng viên chiến trường Kiều Mỹ Duyên, tôi có nhiều cơ duyên đọc nhiều bài viết ở hải ngoại gần đây của người tôi quen gọi là chị An Nguyễn Kiều Mỹ Duyên, nhà báo của một thế hệ đã vào nghề phóng viên trước tôi nhiều thập niên. Những bài viết của chị gần đây thường là các đề tài bám sát đời thường. Thế rồi chị gom lại thành một tuyển tập có tên là Hoa Cỏ Bên Đường. Nơi đây, tôi chỉ viết về một số ghi nhận rời khi đọc tuyển tập này của nhà báo Kiều Mỹ Duyên, cũng là một người chị về nhiều phương diện.
Điều ghi nhận đầu tiên nơi chị là một thái độ tôn trọng các nhà tu bất kể dị biệt tôn giáo. Cái hay nơi chị là sự hồn nhiên, tôn kính rất mực thuần thành bất kể các tôn giáo khác nhau trong cộng đồng. Có thể đó là nhờ bản năng phụ nữ? Tôi không biết, nhưng hiển nhiên, chị là Phật Tử, điểm hay của chị là đã tiếp cận tất cả các tu sĩ tôn giáo khác như dường không hề dị biệt.
Điều này thực ra tôi đã học từ khi còn thơ ấu. Ba tôi dạy rằng đi qua chùa, nhà thờ, đền, miếu, thì phải cúi chào để bày tỏ lòng tôn kính, chớ có khởi tâm xúc phạm. Nhưng bản thân tôi không hoàn toàn hòa hài tự nhiên với nhiều tôn giáo khác, tuy rằng tôi luôn luôn chắp tay chào mỗi khi gặp linh mục, mục sư, giáo sĩ…
Kiều Mỹ Duyên phỏng vấn Hồng Y Francis George
Tôi đã kết thân, và đã giúp tận lực để in sách, rồi tìm người dịch sách cho Thầy Phó Tế Nguyễn Mạnh San, một người tôi rất mực tôn kính vì đã hoạt động trong cương vị luật sư hơn 2 thập niên trong hệ thống nhà tù Oklahoma. Tôi cũng đã có giao tình rất thân với Mục sư Nguyễn Quang Minh, một huynh trưởng hướng đạo và một thời là người thông dịch tòa án tại Quận Cam. Tôi vẫn còn nhớ cách Mục sư Nguyễn Quang Minh yêu cầu một thanh niên đang trong diện quản chế mỗi tuần hay mỗi hai tuần tới gặp mục sư ở một quán cà phê góc đường Bolsa/Magnolia, chỉ để uống cà phê chừng nửa giờ, rồi Mục sư bảo anh đang trong diện quản chế đó đi đâu gần đó, làm gì chút đỉnh, tới trưa thì cấp giấy là đã hoạt động cộng đồng vài giờ chi đó để tòa án sẽ tính điểm. Những lúc đó, có khi tôi chỉ ngồi nói chuyện với Mục sư Minh thôi, có khi tôi chụp hình rồi về tòa soạn Việt Báo viết một bản tin về tuổi trẻ Việt sinh hoạt cộng đồng theo quy định quản chế. Tôi cũng là nhà báo đầu tiên đăng các lời kêu gọi từ thiện của Mục sư Nguyễn Xuân Bảo, ngươi từng bị đốt nhà thờ; và trong một lần Mục sư Bảo từ Việt Nam ra, khi phi cơ ghé trạm Nam Hàn, nhằm lúc World Cup, Mục sư đã mua một quả bóng túc cầu có huy hiệu đặc biệt của sự kiện đó, về trao cho tôi, nói là Mục sư chỉ duy nhất mua 1 thứ về, và chỉ nghĩ tới tôi thôi, xem như “mua banh World Cup để tặng cho cậu con của anh Hải đấy.” Dù vậy, tôi vẫn thấy luôn luôn có một khoảng cách giữa tôi và các tu sĩ tôn giáo khác. Nhiều vị tu sĩ nói rằng lúc cầu nguyện, vẫn cầu nguyện cho tôi. Như Thầy Phó Tế Nguyễn Mạnh San nói, “Tôi luôn luôn cầu nguyện hàng ngày cho ông Phan Tấn Hải đấy. Ông Hải giúp tôi nhiều quá, nên tôi nghĩ tới ông hoài.” Tôi im lặng, lúng túng, vì bản thân mình là kiểu Phật Tử bên lề, không có thói quen cầu nguyện dù là cho mình hay cho người. Tôi chỉ khởi tâm từ để ước muốn bình an cho mọi người, nhưng không thực sự là cầu nguyện cụ thể. Có vẻ như mình ăn gian, vì họ cầu nguyện cho mình, mà mình không cầu nguyện cho họ. Nội mình lo canh giữ tâm mình cho đừng sai phạm cũng là hết ngày giờ rồi, hơi đâu mà cầu nguyện, nhưng chẳng hiểu sao chưa bao giờ tôi dám nói minh bạch. Chính những khi đó mới thấy mình với người là khác.
Nhưng chị Kiều Mỹ Duyên thì hòa đồng rất mực tự nhiên. Như trong bài Tạ Ơn đầu sách Hoa Cỏ Bên Đường, câu cuối chị viết là: “Cầu xin Thượng Đế ban phúc lành cho quý ân nhân.” Nghe rất tự nhiên, và sẽ làm biết bao nhiêu người hài lòng. Thực ra trong xã hội Hoa Kỳ, câu nói đó là tự nhiên, vì đi đâu cũng gặp chữ “God bless.” Dù vậy, tôi chưa bao giờ nói được hai chữ đó. Hóa ra, tôi mới thấy rằng tự bản thân mình không tự nhiên, khi thắc mắc về chữ nghĩa phức tạp.
Nhà báo Kiều Mỹ Duyên là người có nhiều cơ duyên lớn trong đời. Nếu bạn ghé thăm văn phòng của chị ở khu thương mại nơi góc đường Westminster & Euclid, bạn sẽ thấy trên tường là một tấm hình chị đứng chụp chung với Đức Đạt Lai Lạt Ma đời 14. Đó là một hy hữu, cực kỳ hiếm có.
Rồi những cơ duyên khác của một nhà báo — đúng ra, chị còn là một người hoạt động cộng đồng, và đó là một ưu thế khi so với một nhà báo bình thường như tôi — chị Kiều Mỹ Duyên cũng từng có những cơ hội rất hiếm, như đã phỏng vấn Đức Hồng Y Francis George, khi Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ họp đại hội ở khách sạn Bilmore, Los Angeles, các ngày 15, 16 và 17 tháng 6/2006. Cũng dịp này, chị phỏng vấn Giám Mục William S. Skylstad, về những vấn đề rất trọng đại, như: Sự phát triển Thiên Chúa Giáo ở Hoa Kỳ trong những năm sắp tới, hay là Chủ tịch hội đồng giám mục Hoa Kỳ có ý định đến thăm Việt Nam hay không, và nếu có là khi nào. Để nhắc về tầm quan trọng: Đức Hồng Y Francis George là 1 trong 15 Giám Mục từng nằm trong danh sách được xem là ứng viên vào chức Giáo Hoàng trong đại hội mật nghị “2005 Papal Conclave” ở Vatican để bầu chọn tân Giáo Hoàng sau khi Đức Giáo Hoàng John Paul II băng hà tháng 4/2005.
Bản thân tôi ở trong nghề báo cũng lâu, chứng kiến nhiều sự kiện ở Orange County, nhưng kỷ niệm về phỏng vấn các lãnh tụ thì hoàn toàn thiếu vắng. Có thể, bản thân tôi ưa phỏng vấn các nhà thơ, nhà văn bên lề xã hội hơn. Trong khi đó, chị Kiều Mỹ Duyên có những cơ duyên lớn hơn.
Nhà báo Kiều Mỹ Duyên viết nơi trang 85-86 của sách Hoa Cỏ Bên Đường, trích:
“Nhờ làm nghề truyền thông mà tôi được nhiều cơ hội gặp mọi người, từ anh lính đến Đại tướng, từ người dân đến Tổng Thống, từ một người giáo dân đến Đức Cha chủ tịch Hội Đồng giám mục Hoa Kỳ, Đức Cha chủ tịch Hội Đồng giám mục Việt Nam. Đi đến đâu, tôi cũng được giúp đỡ một cách tận tình để được phỏng vấn.
Tôi phỏng vấn nhiều nhân vật quan trọng trên thế giới và tôi được cử làm phóng sự, thuyết trình, gồm có: Tổng Thống Gerald Rudolph Ford, bộ trưởng Elizabeth Dole, Tổng Thống Nga Mikhail Sergeyevich Gorbachev. Tổng Thống Nga nói sở dĩ nước Nga có tự do, nhờ ông và Tổng Thống George W. Bush làm việc ròng rã suốt 10 năm, thường họp ở Canada. Ông cho biết ông tham gia chánh trị lúc 18 tuổi nhưng chỉ một lần thất bại. Ông bị bắt giam gần bờ biển, chiều chiều nghe tiếng sóng vỗ và nhìn lên núi, ông nhất định phải trở lại chính trường và phải làm Tổng Thống. Khuôn mặt ông rất lạnh, ông có bằng Tiến sĩ toán, cô con gái đi theo ông khuôn mặt cũng rất lạnh. Tôi gặp Tổng Thống Nga hai lần, một lần ở Anaheim. Truyền thông có chỗ ngồi riêng, gần sân khấu, an ninh cho từng người truyền thông rất kỹ, cẩn thận không kém gì lúc tôi gặp Tổng Thống Ronald Reagan ở Anaheim hồi mới sang định cư ở Mỹ, mấy năm đó tôi đang làm báo cho Mỹ.”
Trong tập bút ký Hoa Cỏ Bên Đường, nhà báo Kiều Mỹ Duyên cũng ghi lại những cơ duyên phỏng vấn quý Thầy Phật Giáo VN, như ngài Đại Lão Hòa Thượng Thích Tâm Châu, Thiền sư Thích Thanh Từ, Hòa Thượng Giác Nhiên, Thầy Tuệ Sỹ, Hòa Thượng Thích Quảng Thanh, Hòa Thượng Thích Mãn Giác…
Trong sách này chị Kiều Mỹ Duyên cũng kể lại một vài chi tiết lịch sử, có thể gây xúc động cho Phật Tử. Thí dụ, như chị kể lại nơi trang 94:
“Học trò của Đại Lão Hòa Thượng Thích Tâm Châu rất giỏi, rất giỏi và hiện nay trụ trì nhiều chùa ở khắp nơi trên thế giới. Có lần, thầy nhờ tôi gửi tiền về cho thầy Tuệ Sỹ. Thầy Tuệ Sỹ rất gầy, gầy không thể tưởng tượng được. Năm 2001, tôi cùng với phái đoàn từ thiện quốc tế dành thì giờ ghé thăm thầy Tuệ Sỹ. Chúng tôi đang ngồi quanh thầy thì một cụ bà, sau này chúng tôi biết bà cụ có người con trai làm trụ trì một ngôi chùa, cụ vừa đến quỳ xuống lạy thầy Tuệ Sỹ. Chúng tôi phải vội vội, vàng vàng tránh xa ra. Phòng khách của thầy Tuệ Sỹ nhỏ xíu, thầy ra tù về trú ngụ ở chùa Già Lam, Gò Vấp, không có hộ khẩu, không đi mua gạo được.”
Trong tuyển tập bút ký Hoa Cỏ Bên Đường, nhà báo Kiều Mỹ Duyên còn nhiều bài khác, mang chủ để sinh hoạt cộng đồng, hay khắc họa chân dung nhiều nhân vật — như viết về Hòa Thượng Thích Quảng Thanh, về Giáo sư võ Aikido Đặng Thông Phong, về phóng viên Phan Trần Mai…
Nhà báo Kiều Mỹ Duyên đã trở thành một trụ cột lớn trong cộng đồng qua nhiều hoạt động, trong đó viết sách chỉ là một mảng hoạt động của chị. Gần như là chị có mặt khắp nơi trong cộng đồng. Chị xông xáo làm từ thiện, chị say mê làm đài phát thanh, chị mưu sinh bằng nghề địa ốc, chị tham dự guồng máy đại bồi thẩm đoàn của Orange County, và vân vân.
Nói theo một kiểu từng nghe được, thì nhà báo Kiều Mỹ Duyên có mặt trên từng cây số của cộng đồng Việt. Trong đó, tuyển tập bút ký Hoa Cỏ Bên Đường là một dấu mốc của nhà báo Kiều Mỹ Duyên, nơi đó độc giả sẽ nhìn rõ hơn chân dung và hoạt động của một người đã từng là phóng viên trước 1975 và bây giờ thỉnh thoảng làm phóng viên vì muốn đóng góp cho cộng đồng. Hy hữu mới có người như chị. Dễ dàng đoán được rằng tuyển tập bút ký Hoa Cỏ Bên Đường của nhà báo Kiều Mỹ Duyên hẳn là sẽ được cộng đồng đón nhận nồng nhiệt.
Đôi chim có bạn líu lo, ca hát đêm ngày vui buồn cùng ai.
Một cô gái dễ thương, chủ nhiệm một tờ báo về Orange County dự đại hội kể với tôi rằng có người nói với cô:
– Tôi cho em một hòn đảo nếu em để tôi chăm sóc em trọn đời.
Em trả lời:
– Em yêu người chứ em không yêu hòn đảo, vì hòn đảo không có tiếng nói.
Tôi nhìn vào mắt cô gái với sự ngưỡng mộ và thích thú.
Một chàng trai trung niên đến thăm tôi cùng với một cô gái trung niên nói:
– Cô ơi, em có 5 bất động sản, đã trả hết nợ rồi. Cô làm ơn cho tên của cô này vào với em.
Nói xong chàng trai đưa tay chỉ vào cô gái cùng đến thăm tôi.
Chàng trai đưa cho tôi địa chỉ của 5 bất động sản. Tôi đưa cho cô nhân viên tìm ra chủ quyền của 5 bất động sản này.
Khi cô gái vừa bước ra ngoài để tìm báo đọc, tôi nói với chàng trai:
– Em có biết khi em cho tên cô gái vào chủ quyền thì cô gái có phân nửa chủ quyền tài sản của em không?
Chàng trai vừa cười vừa nói:
– Cái mạng của em, em còn cho cô ấy huống chi bất động sản hay tiền bạc?
Tôi nhủ thầm với chính mình tình yêu ơi, tình yêu sao mà dễ thương. Con người sống vì tình yêu, chết vì tình yêu. Tình yêu không thể giải nghĩa được tại sao mình thương yêu người này mà không thương yêu người khác, tình yêu nhẹ như cơn gió thoảng.
Đưa người ta không đưa qua sông Sao có tiếng sóng ở trong lòng? Bóng chiều không thắm, không vàng vọt, Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?
(Tống Biệt Hành- Thâm Tâm)
Làm sao cắt nghĩa được tình yêu!
Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt,
Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu…
(Vì sao- Xuân Diệu)
Tôi được tham dự một tiệc cưới ở Bolsa, chú rể 80 tuổi, là một người nổi tiếng trong cộng đồng vì hoạt động xã hội, cô dâu gần 76 tuổi. 5 thế hệ trong gia đình tham dự tiệc cưới, nhưng 1 năm sau tôi đi thăm và cầu nguyện cho người vừa qua đời, cũng 5 thế hệ đội khăn tang. Tình yêu ơi, tình yêu, họ sống với nhau một năm, một năm hạnh phúc còn gì quý báu hơn? Tình yêu ơi, tình yêu ơi, tình yêu cất cánh cho hai tâm hồn hòa điệu. Tôi nghe chuyện tình của người trẻ, tôi nghe chuyện tình của người già, trái tim có tiếng nói của nó, không cần hỏi tại sao tôi yêu?
Nếu tôi viết chuyện tình của người tôi quen viết hoài không hết. Tôi sợ nhìn những khuôn mặt với nước mắt, tôi thích nhìn nụ cười với những khuôn mặt đang yêu và được yêu rực rỡ thế nào! Tôi thích nghe tiếng cười giòn tan của những người cho trái tim của mình cho người khác. Ôi tình yêu sao mà đẹp quá?
Có người nói thần tượng của tôi phải có tiếng nói, nghe tôi cười, nghe tiếng tôi khóc, khi tôi có việc khẩn cấp như Thần Chết thấp thoáng bên cạnh tôi thì thần tượng hiện hữu bên tôi, thần tượng của tôi không ngồi trên bàn thờ.
Tình yêu vui thật, ngàn màu sắc khác nhau như thơ, lãng mạn, vui tươi, tình yêu không tính toán, khi yêu là yêu không cân nhắc, không phân biệt một thứ gì, không có sự ngăn cách.
Tình yêu, tình yêu ơi, sao mà đẹp thế?
Nếu không có tình yêu người ta sẽ không mặc đẹp, không có tình yêu người ta cũng sẽ không nghe nhạc. Tình yêu ơi sao mà mầu nhiệm? Những cô gái trẻ tâm sự với tôi, con mua áo đẹp để ra đường lọt vào mắt xanh của hoàng tử trong mộng, chàng trai ăn mặc đẹp để lọt vào mắt xanh của công chúa. Tình yêu sao mà tuyệt vời! Nếu không có tình yêu chàng trai sẽ không dành dụm tiền mua nhà rước nàng về dinh. Nếu không có tình yêu, không lập gia đình, không có những đứa trẻ thiên thần thì mua nhà có đất rộng để làm chi? Có vườn rộng rãi, có tiếng cười của trẻ thơ, tình yêu ơi sao mà tuyệt vời?
Tình yêu ơi là tình yêu, có xe đẹp, có nhà đẹp, có tiền dành dụm để cùng người yêu đi du lịch vòng quanh thế giới thăm những kỳ quan trong chuyện cổ tích, tình yêu ơi sao mà đẹp quá?
Nếu mọi người đều yêu thương nhau thì không có chiến tranh, không có nhà tù, không có chém giết lẫn nhau.
Tình yêu ơi, tình yêu sao mà mầu nhiệm? Khi yêu đời sống rất đẹp, đẹp lắm người ơi và tình yêu làm cho người ta lạc quan hơn, yêu đời hơn, thấy gì cũng đẹp, nhìn đời bằng mắt màu hồng. Những người đang yêu hay đang có tình yêu nhìn vào đôi mắt của họ là biết ngay. Đôi mắt rực rỡ, nụ cười thật tươi, vui ơi là vui, tiếng cười nói trong trẻo, reo vui hơn. Tôi mong thế giới đầy tình yêu, người yêu người, Thượng Đế yêu người, chính quyền thương dân lo cho dân, cha mẹ thương con, ông bà đùm bọc con cháu của mình. Ôi tình yêu tuyệt vời, người yêu người, chỉ thấy việc tốt của người xung quanh, và người yêu người đời sống sẽ phong phú hơn, tuyệt vời quá.
Mọi người yêu thương nhau, đầu óc không căng thẳng, không có mưu mô thủ đoạn lường gạt lẫn nhau. Tình yêu lên tiếng gọi, tình yêu ơi! Hãy nghe tiếng chim hót ngoài vườn buổi sáng, hãy nhìn những cánh hoa rực rỡ rung rinh trong gió, nghe mùi hoa lý hương thơm ngát trước sân nhà mà nghĩ đến người mình thương yêu nhất.
Tình yêu ơi, hỡi tình yêu, con người thì đến lúc nào đó phải ra đi nhưng tình yêu vĩnh viễn vẫn còn ở đây, ở trong trái tim của những người thương yêu mình.
Tình yêu sao mà tuyệt vời, tình yêu sao dễ thương và tình yêu vĩnh cửu.
Orange County, 12/07/2021
KIỀU MỸ DUYÊN
(kieumyduyen1@yahoo.com)
Giới Thiệu Tuyển Tập “HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG”- Giáo Sư Nguyễn Tường Tuấn
GS Nguyễn Tường Tuấn
(Giáo sư Nguyễn Tường Tuấn, đồng sáng lập tổ chức Forgotten People Foundation – NGO, Western Oregon University, 2005-2006, cùng Tiến sĩ Jerry Braza. Giáo sư Tuấn Nguyễn, một cựu tù nhân chính trị và đã từng là một thuyền nhân, rất quan tâm đến cuộc sống của người dân Việt Nam. Tổ chức Forgotten People Foundation giúp đỡ trẻ em mồ côi, khuyết tật ở miền Bắc Việt Nam.)
Thế hệ chúng tôi may mắn sinh ra và lớn lên nơi miền Nam tươi sáng. Trong cái hạnh phúc, là công dân của đất nước tự do, chúng tôi cũng phải gánh chịu nỗi bất hạnh của một quốc gia “nồi da xáo thịt“. Anh chị em miền Bắc, chưa bao giờ được hưởng cái không khí an lành của “Hòn ngọc viễn đông” một nửa hình chữ S đã từng là giấc mơ của cố Thủ tướng Tân Gia Ba, Lý Quang Diệu. Họ bị tẩy não ngay từ tấm bé, bằng lời thơ nô bộc “Yêu biết mấy nghe con tập nói – Tiếng đầu lòng con gọi Stalin – Thương cha, thương mẹ, thương chồng – Thương mình thương một, thương ông thương mười“. Chiến tranh xẩy ra vì thế, một nửa đất nước bị đầu độc, dù muốn hay không, thế hệ trẻ miền Bắc phải cầm súng lên đường, họ từ giã cha mẹ, vợ chồng, con cái, người yêu, để hy sinh cho bác và đảng, thực hiện giấc mơ “Sinh Bắc Tử Nam“.
Thanh thiếu niên miền Nam cầm súng ra trận, không vì thằng bác khốn nạn, hay bè lũ đảng lưu manh. Chúng tôi chiến đấu để bảo vệ xóm làng, thành phố bình an. Cho dù phải hy sinh, thân xác phủ cờ vàng, người nằm xuống sẽ muôn đời được “Tổ Quốc ghi ơn”.
Chiến sĩ Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, đã hiên ngang tái chiếm Cổ thành Quảng trị, anh dũng bảo vệ An Lộc, và kiêu hùng trên khắp mọi chiến trường. Trong từng thước đất của tổ quốc, chiếm lại bằng xương máu, người dân miền Nam Việt Nam không thể nào quên tên tuổi một nữ phóng viên chiến trường: Kiều Mỹ Duyên.
Kiều Mỹ Duyên không ngồi tại văn phòng tiện nghi ở Sài Gòn để viết phóng sự. Chị mặc áo giáp, theo từng chuyến bay ra mặt trận, những bài tường thuật của chị là nhân chứng hào hùng cho tuổi trẻ chúng tôi, trong trận chiến bi thương, tàn khốc và bất công.
Vâng, người lính Việt Nam Cộng Hòa đã hứng chịu mọi bất công nhất của thế giới tự do. Họ chiến đấu chống lại một chủ nghĩa cộng sản độc ác mà cả thế giới xa lánh. Tổng thống Hoa Kỳ Eisenhower từng vinh danh Việt Nam Cộng Hòa là thành trì chống cộng của thế giới tự do. Nhưng đám phóng viên, báo chí, truyền thông Mỹ không như thế. Họ ngồi trong phòng lạnh khách sạn Caravell, Majestic, cà phê La Pagode, Givral, Brodard tại Sài Gòn để viết phóng sự chiến tranh. Nếu có chăng, họ đi theo một vài đơn vị chiến đấu của Hoa Kỳ … Quân đội Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu, hy sinh trên 4 vùng Chiến thuật bị bỏ rơi trên báo chí Mỹ. Mậu Thân 1968, chúng tôi đẩy lùi cuộc tổng tấn công lịch sử của Bắc Quân trên khắp các thành phố miền Nam. Charlie, địa danh đi vào lịch sử với tên tuổi cố Đại tá Nguyễn Đình Bảo, báo chí Hoa Kỳ không hề biết.
Trong nỗi cô đơn tội nghiệp đó, người nữ phóng viên chiến trường Kiều Mỹ Duyên đã trở thành “Tiếng nói, cho những người không tiếng nói“. Không những tại Việt Nam, khi đến Hoa Kỳ vào những ngày đầu tiên của thập niên 75, chị như cánh Chim ưng đã thay lông, đổi cánh, tung bay trên bầu trời bao la. Chị theo phi cơ của Cảnh sát Hoa Kỳ để tường thuật săn đuổi tội phạm. Chị vào thăm và làm việc trong nhà tù Mỹ, tham dự không mệt mỏi các hoạt động từ thiện qua tổ chức Y.M.C.A hoạt động tại nhiều quốc gia thứ ba trên thế giới. Kiều Mỹ Duyên là một Barbara Walter của người Việt không những tại Hoa Kỳ mà còn trên nhiều quốc gia khác. Chị phỏng vấn các vị chức sắc cao cấp Công giáo Hoa Kỳ, và Việt Nam; chị cũng có mặt trong những chương trình phỏng vấn những vị Hòa thượng, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất. Về quốc tế, chị đã hỏi cựu Tổng thống Nga Gorbachev, một câu mà tất cả người Việt chúng ta cần nghe: Bao giờ đất nước Việt Nam thoát khỏi ách cộng sản? “Khi nào Trung Hoa cộng sản sụp đổ” đó là câu trả lời ngắn gọn của ông Gorbachev.
Xin mời bạn cùng đọc “Hoa cỏ bên đường” để biết thêm về tầm vóc của chị Kiều Mỹ Duyên, một chiến sĩ tự do chưa hề buông súng.
Giáo sư Nguyễn Tường Tuấn
(Forgotten People Foundation – www.forgottenpeople.net – 2850 S.W Cedar Hills Blvd, Suite 131 | Beaverton, OR 97005)