ĐÓN XUÂN NHÂM DẦN VỚI KHÁCH KHÔNG NHÀ – Lê văn Hải
Kính Chuyển Một Bản Tin Sinh Hoạt Cộng Đồng. Chân thành cảm tạ.
Đánh Dấu 28 Năm! Nhóm Mõ Nhân Ái Đem Không Khí Tết Nhâm Dần 2022 Đến Với Khách Không Nhà (Homeless!)
Sáng Thứ Năm, ngày 20 tháng 1/2022, chỉ còn hơn một tuần lễ nữa, là đến Tết Nguyên Đán, một trong những ngày vui nhất, truyền thống trong năm của người Việt.
Thời tiết quang đãng, không một áng mây mờ, pha chút nắng ấm Mùa Xuân. Sau bữa ăn sáng thường lệ, 2 ngày trong tuần, với cà phê, chén súp, dĩa đồ ăn nóng hổi, trước khi nhận bao giấy thực phẩm khô, vật dụng mang về. Khách còn được tham gia một sinh hoạt Xuân, do Anh Lê Văn Hải, trưởng nhóm Mõ Nhân Ái điều động, đón Tết, vui vẻ, đầm ấm tình thương, tình mến, như người trong gia đình.
Đây là một trong những mục đích, chủ trương độc đáo của nhóm. “Của cho, không bằng cách cho!” đem không khí yêu thương ngày lễ, đến với những người khốn khổ, bơ vơ, bị đẩy ra lề xã hội, đang thèm chút tình thương. Đây là một món qùa tinh thần quý báu, mà họ còn trân quý, hân hoan đón nhận, hơn là giúp họ vật chất. (Chính vì lý do, sống trên đời mà không có lấy một người thân này, mà họ đã tủi thân, qua đời nhiều nhất vào những dịp lễ cuối năm. Năm nay, cũng có vài người VN.)
Có lẽ, một điều lạ lùng, dù họ là người Mỹ, đủ loại sắc tộc, mầu da, mà lại nhớ đến Tết Việt Nam, còn hơn cả…nhiều người Việt! Sau khi ăn Tết Tây, họ biết sắp được lại ăn Tết Ta! (Truyền thống sinh hoạt này, kéo dài cả gần chục năm nay, nên họ rất nhớ.) Nhiều người còn biết cả tiếng Việt, khi nhận được bao Lì Xì, biết nói tiếng Việt không dấu “cam on” và “chuc mung nam moi!” rất thân thiện.
Nhất là những người trúng những lô xổ số, họ biết ý nghĩa trò chơi này, nếu họ trúng, sẽ có được sự may mắn cho suốt cả năm! Nên ai trúng, đều nhảy lên, la lớn mừng rỡ. “Tôi là người may mắn nhất!”
Rất nhiều người tâm sự với anh Hải “Cám ơn Nhóm, đã không quên, năm nào cũng nhớ mang không khí tưng bừng ngày Tết của người Việt đến với họ. Thật là vui, lại nhận được phong bao đỏ mừng tuổi, mục mà họ thích nhất!”
Họ còn biết Năm Mới là năm Con Cọp! con vật tượng trưng vô địch về sức khỏe, nhanh nhẹn, dẻo dai, xứng danh “Chúa Sơn Lâm!” Sẽ vồ, xực hết, xơi tái ngon lành các Cô Víc, Cô Vy, Cô Na, Cô Ôm, Cô Míc, Cô Con, cho thế giới được an bình! Niềm mong ước Mùa Xuân năm nay.
Chúc Mừng Năm Mới!
Chùm THƠ Xuân – Hoàng Phong Linh – VÕ ĐẠI TÔN

-

Tranh Hoàng Phong Linh
LỜI GỬI MÙA XUÂN
Võ Đại Tôn
Trong lúc chờ Mùa Xuân Dân Tộc
Vĩnh cửu đến cùng Núi Sông.
Xin cho một sợi nắng hồng
Sưởi ấm con tôi ngồi bên bãi rác.
Bụng đói tay run, mắt nhìn ngơ ngác
Tìm chút gì ăn trong đống hôi nồng.
Lũ chuột vây quanh, giòi bọ chạy rông
Đời con tôi còn thua giòi chuột.
Một miếng ăn thừa, “đại gia” không thèm nuốt
Nuôi thân con thêm giọt máu trong người.
Nhưng nào đâu ? hàng triệu kiếp con tôi
Sống không có mùa Xuân trong đời bóng tối !
* * *
Xin cho một sợi nắng hồng
Rọi vào chốn hang cùng ngõ hẻm
Đàn em tôi, kiếp còn thua kém
Món hàng rong rao bán xứ người.
Bọn giàu sang hay tàn tật vui chơi
Ngồi chọn lọc, mua em làm nô lệ.
Từ thuở đàn con theo Cha ra bể
Chưa bao giờ tủi nhục như nay.
Vì miếng cơm em khóc từng ngày
Làm dâu Đại Hàn, Mã Lai, Trung Quốc.
Như cỏ dại, đời em bật gốc
Lê thân tàn, khô máu nghìn đêm.
* * *
Xin cho một sợi nắng hồng
Trên thân mẹ già khô cằn gánh vác
Mồ hôi chảy dài tóc đau sợi bạc,
Một đời lam lũ còng lưng.
Trong bóng đêm, nhìn yến tiệc tưng bừng
Của bao kẻ trị dân bằng sắt thép.
Trên thân cha, mắt mờ qua cửa hẹp
Nhìn khung trời toàn máu đỏ cờ sao.
Tuổi hoàng hôn, giòng lệ sót nghẹn ngào
Thầm mơ ước được một ngày no ấm.
Biết làm sao ? – chung quanh toàn bảng Cấm,
Cấm ước mơ, luôn cả Cấm làm Người !
* * *
Xin cho một sợi nắng hồng
Rọi vào xà lim tăm tối.
Anh-chị-em tôi, những người vô tội
Bị giam cầm vì Yêu Nước, Tự Do.
Vì không muốn tim bị đúc chung lò
Con-người-máy cúi đầu theo lệnh đảng.
Những người đấu tranh không ra ngoài giới hạn
Của Lòng Dân đòi Lẽ Sống, Công Bình.
Chỉ mong nhìn được chút nắng bình minh
Trên quê hương đã chìm sâu đáy vực.
Đảng dùng dối gian, hung tàn bạo lực
Bao năm rồi phá nát cả non sông.
* * *
Xin cho một sợi nắng hồng
Thêm sức sống vào mỗi tim dân Việt
Máu hòa chung, cùng đấu tranh quyết liệt
Đòi lại Quyền Dân, đứng dậy làm Người.
Tiếng khóc không còn giữa nắng hồng tươi
Toàn Dân Tộc viết ngàn trang Sử mới.
Xuân vĩnh cửu từ bao năm mong đợi
Sẽ bừng hoa trên khắp nẻo đường quê.
Tiếng thét Diên Hồng từ lịch sử chung thề
Vang dội lại, quyết tâm gìn giữ Nước.
Đàn em thơ cùng mẹ già chung bước
Bản đồng ca Nhân Bản dậy trời Nam.
* * *
Lời tôi gửi mùa Xuân
Trên hành trình từ bao năm gian khổ
Cùng Toàn Dân máu chung đã đổ
Trong xà lim bóng tối tù lao.
Không phải ngồi và lên tiếng thét gào
Làm gọng kính mạ vàng trong phòng lạnh,
Vỏ chai bia dưới gầm bàn hô đánh
Rồi chờ mong và chỉ có ước mơ.
Tôi gọi Xuân, xin tiếp nắng xây bờ
Chung chiến tuyến vì Hồn Thiêng Tổ Quốc.
Cho chúng tôi song hành cùng Dân Tộc
Thêm lửa tim, thêm một sợi nắng hồng.
Trời đất mênh mông
Không gian chẳng hề cách biệt.
Gọi Xuân về, thêm hoa vàng lá biếc
Cùng chúng tôi đi trọn hành trình.
Một ngày mai Tổ Quốc quang vinh
Trời đất Việt sẽ bừng Xuân vĩnh cửu !.
Võ Đại Tôn. / Hải ngoại,
*
MÙA XUÂN DÂN TỘC
GIỮA HỒN TÔI
Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh)
1.
Nửa đêm tôi tỉnh giấc
Tưởng mình còn quê hương.
Bờ Mê hay Bến Thật
Sao sóng dậy trùng dương ?
Bước Xuân về thơm nhẹ gót vương hương
Mà nghe hồn trĩu nặng.
Dòng sông tôi giữa đêm trường hoang vắng
Chảy về Quê tìm lại bến Xuân xưa.
Tóc Em thơm, hương thoảng dầu dừa
Tay giặt áo, lén soi nhìn bóng nước.
Em cúi thẹn, chớp rèm mi nhung mượt
Cả trời Thơ vờn dáng mộng Em Thơ.
Tranh thủy mạc đẹp hơn cả nguồn mơ
Cho tôi sống những giờ đau viễn xứ.
Qua bóng hình Em, tôi yêu giòng Lịch Sử,
Núi sông còn thơm giữ trọn Tình Quê.
Bước chân khô Mẹ về
Rổ nghèo tan phiên chợ.
Từ Động Đình Hồ, sông than núi thở
Một đời Mẹ gánh Trăm Con.
Đường Mẹ đi, chân cứng đá mòn
Dăm củ sắn mà vuông tròn Đạo Lý.
Mẹ ngẩng cao đầu, trống đồng vang ngựa hí,
Nhìn đàn con lẫm liệt giữ Quê Cha.
Bờ Sông Hồng trăng chiếu ánh phù sa,
Hương Giang mộng, chập chờn xuôi Mái Đẩy.
Chín Rồng Thiêng thành Cửu Long sóng quẫy
Nắng hồng Xuân duyên kết lúa Nàng Hương.
Một nghìn năm chống giữ biên cương
Vẫn kiên cường khí phách.
Tám mươi năm, lòng chung huyết mạch
Thu về trọn dải non sông.
Mẹ ôm con, chưa vui thỏa tấc lòng
Bỗng nghe trời Xuân khóc.
Xác triệu con bên vệ đường tang tóc
Đói mòn Ất Dậu năm xưa.
Từng thân khô, trần trụi nắng mưa
Như đống rác giữa tồn sinh nhân loại.
Rồi Mậu Thân, vang tiếng cười lang sói
Nửa đàn con vì chủ thuyết lai căng
Vung cuốc lên, tay sát khí đằng đằng
Chôn tập thể, cạn khô tình Dân Tộc.
2.
Tôi tỉnh giấc, sao còn đây tiếng khóc
Dù đăng trình tôi vẫn quyết tâm đi.
Bao nhiêu năm không mỏi gót chỉ vì
Nghe tiếng trống Hà Hồi vang thúc giục.
Xuân Đống Đa, dù tay nghèo gậy trúc
Cũng lừng danh vạn thuở giống Rồng Tiên.
Tôi sẽ về – tìm dáng mộng trinh nguyên
Tranh thủy mạc ngày xưa – Em xỏa tóc
Bên bờ sông – sắc Xuân vờn châu ngọc
Nụ cười Em nhung mượt một đời Thơ.
Tôi sẽ về – không “vô cảm”, thờ ơ
Vênh váo cười vang trên lầm than Tổ Quốc.
Không đùa vui trên thân em gầy guộc
Chỉ bằng tuổi cháu con !
Tôi sẽ xin – vì lẽ sống còn
Của Dân Tộc – cùng hòa chung nhịp bước.
Tuổi cuối đời chỉ mong tròn nguyện ước
Cùng Toàn Dân đòi lại quyền Người.
Nghe cả trời Xuân vang dậy tiếng cười
Khi quỳ ôm chân Mẹ.
Được hôn lên từng nếp da nứt nẻ
Vì lịch sử oan khiên
Vì nửa đàn con quên cả hịch truyền
Dựng xây Mùa Xuân Dân Tộc.
Tôi thành trẻ thơ nhoài ôm Tổ Quốc
Như con tìm Mẹ, thơm ngủ mơ vàng.
Mẹ dẫn con đi, cuốc lại đồng hoang
Cho lúa mọc lừng hương trời Đông Á.
Bầy em con không còn ai trả giá
Bán buôn nô lệ da vàng.
Cho con khỏi nhục khi nhìn cảnh suy tàn
Vì giống Việt đang cằn khô Đạo Lý.
Bạo lực vùi chôn Nhân Vị
Đường hầm heo hút tương lai.
Đời tạm dung, trong mê-tỉnh đêm dài
Tôi vẫn thấy đẹp trời Xuân Dân Tộc.
Xuân giữa hồn tôi, hồi sinh Tổ Quốc,
Nhạc bừng reo, hoa tỏa ngát hương nồng.
Hồn sông tôi trôi chảy, vẫn xuôi dòng
Len sỏi đá, về Biển Đông tìm Mẹ.
Xin chờ con – dù hành trang gánh nhẹ
Nhưng nặng lòng vì Lẽ Sống Quê Hương.
Em hãy chờ tôi, bóng nước soi gương
Hồng lên má, nụ cười xưa giấu thẹn.
Tôi sẽ về – không quên lời ước hẹn
Giữa triều dâng bừng dậy sắc Xuân sang.
Xuân của đời tôi xin được hưởng Vinh Quang
Toàn Dân Tộc – nắng Xuân hồng phơi phới.
Trời Việt Nam lụa là thay áo mới
Trẩy hội lên đường, vui đón Tự Do.
*
Võ Đại Tôn. (Hoàng Phong Linh)
Hải ngoại.
*
NÀNG THƠ VÀ TẾT ĐÊM TÙ
(Mười Tết trong xà lim biệt giam – Hà Nội –
“Hỏi nơi này ? = Ai cũng nói Việt Nam !”)
Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh)
Thân kính tặng Quý Bạn Tù Nhân Lương Tâm.
- TẾT đêm về, Nàng Thơ tôi dạo gót
Từng buồng giam thăm viếng bạn tù chung.
Nghe tâm sự tận đáy lòng đau xót
Của bao người trong kiếp sống lao lung.
- Mỗi một người, một tâm tư sầu não
Vạn lời Thơ không chép hết bi thương.
Tiếng thở dài cuốn theo trời giông bão
Lời oán than chìm đáy nước trùng dương.
- Có những kẻ tuổi già nua cô độc
Nhìn tường giam như vách đá mồ chôn.
Bao tâm sự rụng dần theo mái tóc
Bước Thời Gian giẫm nát cả tâm hồn.
- Lần ngón tay, đếm năm tù tủi nhục
Hai bàn tay mười ngón đủ mười năm.
Giữa trần gian sao đây là địa ngục
Đâu thiên đường ? – mờ mịt cõi xa xăm !
- Có những kẻ nằm mơ đàn con dại
Sống lạc loài như lũ trẻ mồ côi.
Nhẫm tên con mà nghe lòng tê tái
Đứa sau cùng đói sữa, khóc trong nôi.
- Nghe tiếng chó sủa đêm ngoài xóm vắng
Mơ về thăm từng giấc ngủ con thơ.
Theo gió đưa chuyến tàu khuya còi vẳng
Đường ngược xuôi thương cảm vợ bơ vơ.
- Thấy nắng khô cũng lo mùa hạn hán
Cơn bão về cũng sợ cảnh nhà tan.
Bữa cơm tù nước rau đầy hay cạn
Cũng âm thầm lo ngại giá leo thang.
- Có những kẻ tuổi Xuân vừa chớm mộng
Mà thân tàn còn lại chút xương da.
Đêm nằm mơ cánh chim trời bay bổng
Về quê xưa tìm lại tháng năm qua.
- Tìm gặp lại người yêu thương bé nhỏ
Tình sinh viên đại học của ngày xưa.
Nhưng giờ đây sách trường quen đã bỏ
Làm công nhân dầu dãi nắng cùng mưa.
- Đi trở lại những đường xưa nẻo cũ
Thuở em về tan học nắng dâng hương.
Chỉ cầm tay mà đêm trường không ngủ
Tên người yêu thành luận án đề cương.
- Xin được sống nơi quê nhà hạnh phúc
Bên mẹ cha cùng em trẻ ngây thơ.
Nhưng còn đâu ? – Nơi đây tràn khổ nhục
Thở bằng hương dĩ vãng, sống bằng mơ.
- Có những kẻ nằm rên trong bệnh hoạn
Chữa cơn đau bằng những tiếng thở dài.
Lời kêu cứu từng gào lên ai oán
Biết gào ai ? – Gió thoảng bỏ ngoài tai.
- Nằm mơ ước được vài viên thuốc bổ
Ly sữa đầy – nước mắt bỗng trào ra.
Trong tự điển nghĩa “Con Người” in nhỏ
Và từ lâu nét mực đã phai nhòa.
- Có những kẻ vẫn gan lỳ chai đá
Thách thời gian, không muốn sống bằng mơ.
Vui chấp nhận khúc quanh đời nghiệt ngã
Chí Hùng Tâm đâu có cạn bao giờ !
- Người yêu thương cách muôn trùng vạn lý
Nên sầu đau chỉ thoáng thấy trong Thơ.
Tháng ngày qua vẫn bền gan vững chí
Nằm nghĩ suy thêm thế Nước cuộc cờ.
- Tuy lòng đau nhưng còn nguyên giáp trụ
Bao quanh hồn nghìn tảng đá hoa cương.
Mỗi ngày qua – một huy chương nhận đủ
Trao cho Đời – xin chuyển lại Quê Hương.
- Và cứ thế, Nàng Thơ tôi lặng lẽ
Mỗi đêm về ghi chép vạn nguồn mơ.
Tìm vần vui nhưng sao toàn thấy lệ
Lao tù này chỉ có máu trong Thơ.
- Nàng thông cảm, lắng nghe dòng tâm sự
Từng bạn tù trong bóng tối viếng thăm.
Hỏi tên tuổi thì bao người do dự
Hỏi nơi này ? – AI CŨNG NÓI : VIỆT-NAM !!!
*
Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh)
(sáng tác qua trí nhớ trong tù biệt giam, nay ghi chép lại, lưu niệm một quảng đời…).
PHIẾM HỔ PHÚ – Cao Bồi Già
PHIẾM HỔ PHÚ
**
Kìa thấp thoáng không khí xuân về;
Đà râm ran tạch đùng pháo nổ.
Tống tiễn năm Trâu;
Nghinh chào niên Hổ.
Mừng xuân tân kỷ, mạo bàn tếu táo muôn sự thế chuyện đời;
Nhân tết Nhâm Dần, lạm phiếm tào lao về họ miêu nhà Hổ.
Đời lắm tên gọi: Nào Ông Ba Mươi rồi Kễnh – khái – Dần;
Người đặt nhiều danh: Đây Chúa Sơn Lâm hoặc Hùm – cọp – Hổ..
Tộc dòng Mão, nhưng bơi lội thực tài;
Nòi giống mèo, nhưng trèo leo vụng dở.
Dũng mãnh nòi chi sánh Hùm;
Dữ dằn giống nào hơn Hổ.
Lang thang bơi lội quanh đầm nước sông hồ;
Sinh sống rập rình khắp rừng xanh đồng cỏ.
Ông Ba mươi vốn ung dung dạo khắp núi rừng;
Chúa Sơn Lâm ắt uy nghiêm quản riêng lãnh thổ.
Giương oai xua loài beo gấu, hề đoái chi lũ cáo bầy lang;
Khoái khẩu xơi bọn hươu nai, chứ thèm chi đùi gà thịt thỏ.
Vì nỗi tan tành núi đỏ, khiến Hùm – Cọp đau thương lâm cảnh rỗng ruột tiệt nòi;
Bởi người phá nát rừng xanh, nên Kễnh – Dần tức giận về làng tha trâu bắt chó.
Nay chỉ tồn sinh vài chốn rừng sâu;
Giờ đang dẫn đầu trên trang sách đỏ.
Tiệt nòi tiệt giống, hoang vắng trên cõi Đông Dương;
Đông họ đông hàng, thoải mái quanh vùng Ấn Độ .
Là biểu tượng của lắm đoàn quân ;
Là Lo – go của nhiều lãnh thổ.
“Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt”, ông hổ sa cơ quặn nỗi nhớ rừng; (1)
Ôm bao mối muộn sầu chốn thành đô, gã hùm thất thế buông lời than thở.
*
Truyền thuyết rằng:
xưa ngạo chê trâu, cam để lão người khiển,mãi kéo ách bừa xác nhọc mỏi ê; .(2)
Rồi nằm cuộn chão, hòng thấy cái trí khôn, nên hứng lửa thiêu lông thành vằn vọ.
truyện Thủy Hử, chỉ vài thế tuyệt chiêu, đấm vỡ đầu cọp, thật nổi danh tài cự phách là gã Võ Tòng;
Sử nước Nam, với đôi tay dũng mãnh, đòn gãy cổ hùm, kém thua chi sức phi thường có Ngài Như Hổ. (3)
*
Ca dao lắm ngữ luận kim;
Tục ngữ nhiều câu bình cổ:
Duyên cần giữ, “nữ thực như miêu”;
Sức để cầy, “nam xực như Hổ”.
Ba cô đập chột một chàng;
Quần hồ cắn nhừ mãnh hổ.(4)
liều lĩnh “vuốt râu hùm”;
dại dột “sờ dái ngọ”.
“Ky cóp cho Cọp nó xơi”;
Khoe khoang cho trộm nó thó.
Đời chẳng lạ, gan sứa mà múa miệng Hùm;(5)
Đời cũng hay, tài còm lại cong mồm nổ.
“Cọp chết để da”, ngai rồng một mảnh, còn phủ rạng sắc vằn;
“Người chết để tiếng”, bia miệng ngàn năm, mãi truyền trơ nỗi hổ.(6)
Hùm thiêng thất thế cúi hèn; (7)
quân tử sa cơ tất bó .
“Rung cây nhát khỉ”, đòn tâm lý cao thủ giỏi bày;
“Điệu hổ ly sơn”, mưu kế xưa tướng tài khéo trổ.
Chớ vênh kiêu như “cáo đội lốt hùm”;
Rồi khốn nạn như “khỉ ngồi lưng hổ”.
*
Phiếm chuyện Hổ xọ sang chuyện đời:
Có lắm kẻ vênh râu cáo, bởi mượn oai hùm;
Lại nhiều gã hiếp người đời, khi ngồi ngai hổ.
Hùm đói không xơi xác thúi, ấy lắm quan ăn bẩn mới kinh;
“Hổ dữ chẳng ăn thịt con”, vậy mà người phá thai sao nỡ ?
Người có biết leo lên ngôi chẳng xứng, kỳ “dễ tựa tróc Hùm”;
Kẻ có hay thoái lui mạng muốn toàn,lại “nan tuồng phóng Hổ”.
Giữa lúc tranh giành, lắm kẻ vì phần thua miếng thắng, liền giở thói cáo cáo cầy cầy;
Trong cơn kích động, nhiều anh chửa tường lời đúng lẽ sai, vội xử sự hùm hùm hổ hổ.
Hóa hư bột hư đường;
Đâm mẻ đầu mẻ cổ.
*
Chữ xưa rằng:
Biết người biết mặt, chứ làm sao hiểu tận lòng người;
Họa dáng họa bì, rõ nan chi vẽ tường cốt Hổ.(8)
Cọp trong chuồng tựa hồ trong chảo, dễ nấu cao giỏi gì mà khoe;
“Tửu nhập lâm như hổ nhập tâm”, tránh xa bợm cớ chi phải hổ. (9)
Bả lợi danh, chớ tham lam vét phần vơ miếng, kẻo rồi rơi tõm miệng Hùm;
Đường quan lộ, đừng mưu mẹo leo ghế chạy quyền, coi chừng lâm thế cỡi hổ.
*
Tin chẳng mới, đã dăm năm đọc nghe muốn nhàm;
Chuyện không đùa, thật trăm phần đến xem thì rõ:
Nuôi hổ như nuôi mèo;
Sát cọp tuồng sát chó.
chuyên kiếm mối lợi, làng Đô Thành lớn mật nấu cao;
Chẳng gờm di họa, dân Nghệ An to gan dưỡng Hổ.(10)
Đem nấu cốt, món quan ông lắm mộng thòm thèm;
Lột lấy da, thứ đại phú muôn tiền ham hố.
Ai chê kiểu cách sinh kế liều ;
Ai bĩu mô hình kinh tế nhỏ?
Năm mới năm me:
Hình tượng Hổ, tạo uy dũng cánh “Mai Lộc” khoe vàng;
Chậu gốm Hùm, tăng cốt cách gốc “Đào Phai” thắm đỏ.(11)
lên bìa lên lịch, phô tính cách kiêu hùng Chúa Sơn Lâm tỏ vương quyền đế vương;
tràn báo tràn phim, khoe dáng vẻ oai lẫm Ông Ba Mươi không hổ danh nhà Hổ.
Tiễn Sửu Vương thoái vị, mong trời cuốn sạch sành sanh dịch họa tai ương;
Nghinh Hổ Đế đăng quang, vọng đời tràn ẵm ăm ắp phúc tài lộc thọ .
*
Nhắn Hùm Vương:
Ngai tới lượt, phân sao tỏ phường nịnh tôi trung;
Cờ đến cơ, phất sao đặng xứng đầu đáng mỏ.
Tha hết phường tham nhũng quẳng kho;
Vồ sạch bọn quỷ ma ăn cỗ.
Cho xã hội công bằng ;
Để đồng bào đỡ khổ.
Mang cơm no áo ấm, lạc nghiệp muôn nhà;
Trị quốc thái dân an, ấm yên trăm họ.
Năm Sửu năm Ngưu khứ, muôn họa phắn chiều lòng, trăm họ tết an khang;
Niên Dần niên Hổ lai, vạn sự hanh như ý, muôn nhà xuân hạnh ngộ.
Chúc thương gia buôn bán đắt hàng;
Chúc nông gia bội thu đầy khố.
Dân lao động, đều sống thừa dư;
Người công nhân thoát đời nghèo khó.
Nụ cười tươi nở môi người;
Tiếng hát hoan tràn xóm ngõ.
Chúc kẻ kẻ năng động hơn Hùm;
Chúc người người sức cường như Hổ.
đáo hội đáo hè, phiếm linh tinh vớ vẩn, đôi điều nghe lóm đó đây ;
Vui xuân vui tết, bàn tếu táo tào lao,mươi chuyện nhặt gom kim cổ..
*
CAO BỒI GIÀ
25-01-2022
*
**Ghi chú:
(1): Câu đầu trong bài thơ Nhớ Rừng của Thế Lữ.
(2): Truyện cổ tích xưa kể rằng: Hổ thấy trâu cứ phục tùng nông dân kéo cầy, nên chê trâu là dại sao lại sợ lão người nhỏ bé kia. Trâu nói rằng người tuy bé nhỏ, nhưng có trí khôn hơn muôn loài. Hổ gặp người và đòi cho xem cái trí khôn, người bảo đang để cái trí khôn ở nhà. Hổ bảo người về lấy cho ta xem. Người nói lỡ ta về mi chạy trốn thì sao. Hổ bảo cứ trói ta lại rồi về lấy, ta làm gì phải trốn. Thế là cọp để người trói mình lại và người nông dân đã đốt lửa thiêu hổ rồi nói đó trí khôn của ta đó. Hổ đau quá vùng vẫy khiến dây đứt rồi chạy vào rừng. Từ đó lông hổ thành vằn vện do lửa chưa bén vào các chỗ thừng trói.
(3): Lê Như Hổ là biệt danh của Lê văn Khôi, người con nuôi của Tả quân Lê văn Duyệt.
(4): Từ câu tục ngữ” mãnh hổ nan địch quần hồ”
(5): Từ câu tục ngữ “gan sứa miệng hùm”.
(6): Từ câu tục ngữ “cọp chết để da, người ta chết để tiếng”.
(7): Từ câu tục ngữ “hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn”
(8): Từ câu: Họa hổ họa bì nan họa cốt/ Tri nhân tri diện bất tri tâm”
(9): Từ câu “Tửu nhập tâm như hổ nhập tâm”
(10) Ở làng Đô Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An dân xây chuồng nuôi hổ như heo để bán thịt da, cao cốt.
(11): Năm nay hoa mai và đào được trưng bày trong các chậu gốm hình Hổ dáng cọp.
Vận động Giải Nobel Hòa Bình 2023 cho Phạm Đoan Trang – GIAO CHỈ San Jose
Vận động Giải Nobel Hòa Bình 2023 cho Phạm Đoan Trang
(Việc tham dự rất đơn giản. Sau khi đọc hết tài liệu này quý vị xin gừi cho chúng tôi qua email vietmuseumsj@gmail.com cho biết tán thành ghi danh đề nghị giải Nobel hòa bình cho Đoan Trang.Họ và tên, nghề nghiệp, tổ chức hay cơ quan đoàn thể, chức vụ hay đoàn viên. tel email và địa chỉ nhận thư. Chúng tôi sẽ tổng hơp danh sách và thông báo tin tưc )
Quý vị tại vùng San Jose xin mời dự tiếp tân hội Tết Xuân Văn hóa, tết Nhân quyền lúc 12:30 pm thứ bẩy 29 tháng 1-2022 tại Viet Museum số 1650 Senter Rd. San Jose CA. Nói chuyện về Doan Trang và chuyên Nhân quyen tai Viet Nam)
MO DAU “Ủy Ban Giải Nobel Na Uy đã quyết định trao giải Nobel Hòa Bình 2021 cho Maria Ressa và Dmitry Muratov vì những nỗ lực của họ để bảo vệ quyền tự do ngôn luận, một điều kiện tiên quyết cho dân chủ và hòa bình lâu dài”. Cong dong Viet Nam ben Canada dang van dong cho Pham Doan Trang lanh giai nam 2022 nhung co the qua muon vi thoi han cuoi la 31 thang 1 nam 2022. Chung toi de nghi de nghi cong dong Bac CA bat dau van dong cho nam 2023. Chung ta co ca nam dai de lam viec.
VAI HANG VE DOAN TRANG: Co 44 tuoi sinh nam 1978 tai Ha Noi, la nguoi truong thanh trong the gioi cong san tu mien Bac, Doan Trang la nguoi thong minh, hieu hoc da duoc nhan hoc bong du hoc Hoa Ky. Muoi nam truoc sau khi tot nghiep tren duong ve Viet Nam co da ghe lai tham Viet Museum va binh tinh chup hinh voi ngon co vang tai nhieu noi sinh hoat voi cong dong, Duoc hoi co dieu kieu sau khong o lai hoc them va song luon voi nguoi Viet hai ngoai. Co tu choi va cho rang da hoc duoc nhung kien thuc tai My phai ve giup dong bao. Co da tro ve va miệt mài suốt hơn 10 năm trên con đường bảo vệ nhân quyền như vậy, nhà báo Pham Đoan Trang không hề chùn bước ngay cả khi hai chân Cô bị công an đánh gẫy, đầu bị chấn thương, cộng với những vết thương khác trên thân xác và tinh thần. Dù biết trước sẽ hứng chịu những đàn áp dã man như thế nhưng Cô vẫn dửng dưng trước cơ hội ở lại Hoa Kỳ sau một năm học bổng, và dũng cảm trở về Việt Nam để tiếp tục dùng ngòi bút vận động cho tự do và dân chủ.
THANH TICH DAU TRANH:Với mục đích truyền bá kiến thức, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền, Cô và các bạn thành lập Tạp Chí Luật Khoa chuyên về luật, chính trị và nhân quyền năm 2014. Cô đã soạn thảo và phổ biến nhiều sách báo từ vấn đề quyền của giới tính thứ ba, bảo vệ môi trường, bênh vực quyền con người, nhưng có lẽ quyển sách làm nhà nước CSVN hoảng sợ và có những phản ứng hung bạo nhất là quyển sách thứ 9: Chính Trị Bình Dân, xuất bản năm 2017, nhằm phổ biến kiến thức cơ bản về chính trị cho mọi người dân, nhất là giới trẻ. Cô đã bị bắt cóc, đánh đập dã man, đến nỗi phải sống lẩn trốn. Dù vậy, Cô vẫn tiếp tục viết và hoàn thành những cuốn sách giá trị như Chính Trị của Nhà Nước Công An Trị, Phản Kháng Phi Bạo Lực, Cẩm Nang Nuôi Tù, và những quyển viết chung như Cánh Đồng Sênh: Báo Cáo Vụ Tấn Công Đồng Tâm, sách dịch Tội Ác Phải Bị Trừng Phạt. Cuộc tranh đấu bền bỉ của Cô Phạm Đoan Trang qua bao nhiêu bài viết và những quyển sách giá trị được hỗ trợ mạnh mẽ trên thế giới.
CAC GIAI THUONG :Cô được trao các giải thưởng sau đây: –
Năm 2017, giải thưởng Homo Homini của tổ chức nhân quyền People in Need tại Tiệp –
Năm 2019: Press Freedom Prize của Reporters without Borders –
Năm 2020: IPA (International Publishers Association) Prix Voltaire, trao cho Nhà Xuất Bản Tự Do (Liberal Publishing House) do Cô thành lập năm 2019.
Sau hơn 2 năm ẩn trốn, cô bị bắt ngày 6-10-2020. Ngay sau đó, các cơ quan truyền thông quốc tế như The New York Times, CNN, The Guadian, AP, Reuters, Washington Post, Economist, Bloomberg, DW, VOA, BBC, Al Jazeera, Independent, Le Monde, v.v… đưa tin với lời mô tả sự đàn áp nhân quyền tại Việt Nam. Một số các tổ chức nhân quyền chỉ trích việc bắt giam này và yêu cầu chính quyền Việt Nam phải trả tự do lập tức cho Cô như: Amnesty International, Pen International, Reporters without Borders, Human Rights Watch, Committee to Protect Journalists, Front Line Defenders, International Federation for Human Rights, International Federation of Journalists, Institute for War and Peace Reporting, v.v. Sau khi Cô Phạm Đoan Trang bị bắt, Ngoại trưởng Cộng Hòa Tiệp Tomáš Petříček nhắc lại rằng Cô được trao giải thưởng Homini vì lòng dũng cảm và sự đóng góp của Cô trong nỗ lực bảo vệ nhân quyền, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ đặc trách Dân chủ, Nhân quyền và Lao động, ông Robert A. Destro, lên án chính quyền Việt Nam về việc bắt giữ Cô và kêu gọi trả tự do ngay lập tức cho Cô và xoá bỏ tất cả những tôi phạm mà Cô bị truy tố.
Về phía các chuyên gia về nhân quyền của Liên Hiệp Quốc, họ ra thông cáo phản đối việc công tố viện Việt Nam kết tội hình sự Cô với chứng cớ là 3 bản tường trình về tai hoạ Formosa cho môi trường biển, bộ luật về tôn giáo năm 2016, và những vấn đề nhân quyền tổng quát tại Việt Nam mà Cô là đồng tác giả.
PHIEN TOA LICH SU; Cô Phạm Đoan Trang bị đưa ra xử ngày 14-12-2021 tại Toà Án Nhân Dân Hà Nội trong một phiên toà được thế giới đặc biệt chú ý với sự hiện diện của đại diện các toà đại sứ Canada (đại diện cho cả Tân Tây Lan, Na Uy, Thuỵ Sĩ), Hoa Kỳ, Liên Hiệp Âu Châu, Anh, Pháp, Đức, Hoà Lan và Tiệp. Bất chấp sự bất bình trên thế giới, Toà Án Nhân Dân Hà Nội kết án Cô 9 năm tù về tội “Tuyên truyền chống Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa”.
Hy sinh cả tuổi thanh xuân để tranh đấu cho lý tưởng tự do, Cô Phạm Đoan Trang xứng đáng được đề cử Giải Nobel Hòa Bình để đại diện cho tất cả những nạn nhân đã bị chế độ Cộng Sản Việt Nam bức hại suốt gần 70 năm qua vì đã tranh đấu cho các quyền căn bản của con người.
CONG DONG VIET NAM CANADA VAN DONG
Chúng tôi kêu gọi tất cả các cá nhân, hội đoàn tranh đấu cho nhân quyền tại quốc nội cũng như ở hải ngoại hãy cùng nhau hiệp lực vận đông cho Cô Phạm Đoan Trang được danh dự này bằng cách gấp rút vận động vị Dân Biểu tại địa phương đề nghị Giải Nobel Hoà Bình cho Cô trước ngày hạn chót, 31-1-2022. (Thoi han nay se khong kip. Hay ghi danh cho nam 2023, se con thoi gian dai de van dong)
CAC HOI DOAN DONG KY TEN :
1. Thanh Niên Canada Tranh Đấu cho Nhân Quyền tại Việt Nam (CYHRV, BS Nguyễn Khuê-Tú, Vancouver) 2. Cộng Đồng Người Việt Tự . . Do Ottawa (Nguyễn Thị Hà Quyên, Ottawa) 3. Tổ Chức Văn Hoá Việt Ottawa (Trần Phương Thu, Ottawa)) 4. Canadian Vietnamese . . . . Network (James Nguyễn, Toronto) 5. Hội Người Việt Nova Scotia (Trương Thoại Siêu, Halifax) 6. Voice Canada (Đỗ Kỳ Anh, Toronto) 7. Cộng Đồng Người Việt Tự Do Manitoba (Nguyễn Văn Ba, Winnipeg) 3 8. Hội Cựu Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà – Ontario (Đồng Văn Minh, Toronto) 9. Cộng Đồng Người Việt Vùng Greater Vancouver (Mai Phú Hưng, . Vancouver) 10. Hội Yểm Trợ Nhân Quyền Montréal (Hà Tuấn Chương) 11.Swiss Vietnam Committee COSUNAM (Sébastien Desfayes, Genève, Suisse) 12.Hội Cassava – Montréal (Bùi Xuân Mai, Montréal) . . . 13.Hội Hưng Việt (BS Dương Đình Huy, Montréal) 14.Hội Y Sĩ Việt Nam tại Canada (BS Nguyễn Hữu Trâm Anh, Montréal) 15.Hội Bảo Vệ Di Sản Việt Nam (Ngô Anh Võ, Montréal) 16.Hội Bảo Tồn Văn Hoá -Lịch Sử Việt Nam tại Canada (Trần Quốc Tuý, Montréal)
. 17.Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam trên Thế Giới (Vũ Văn Thái, Montréal)
. 18.Viện bào tàng Thuyền nhân và VNCH (Dai Ta Vu Van Loc San Jose.CA USA) (còn tiếp)
— Vận động Giải Nobel Hòa Bình 2023 cho Phạm Đoan Trang
(Việc tham dự rất đơn giản. Sau khi đọc hết tài liệu này quý vị xin gừi cho chúng tôi qua email vietmuseumsj@gmail.com cho biết tán thành ghi danh đề nghị giải Nobel hòa bình cho Đoan Trang.Họ và tên, nghề nghiệp, tổ chức hay cơ quan đoàn thể, chức vụ hay đoàn viên. tel email và địa chỉ nhận thư. Chúng tôi sẽ tổng hơp danh sách và thông báo tin tưc )
Quý vị tại vùng San Jose xin mời dự tiếp tân hội Tết Xuân Văn hóa, tết Nhân quyền lúc 12:30 pm thứ bẩy 29 tháng 1-2022 tại Viet Museum số 1650 Senter Rd. San Jose CA. Nói chuyện về Doan Trang và chuyên Nhân quyen tai Viet Nam)
Việc nhà báo Phạm Đoan Trang nhận giải nhân quyền “như cái tát vào mặt chính quyền”
RFA
2022.01.20


Nhà báo Phạm Đoan Trang và bản báo cáo về vụ Đồng Tâm FBNV/ RFA editedViệc nhà báo Phạm Đoan Trang nhận giải nhân quyền “như cái tát vào mặt chính quyền”00:00/00:00
Nhà báo Phạm Đoan Trang, người bị Tòa án Hà Nội tuyên đến 9 năm tù giam, vừa được công bố hôm 19 tháng 1 là một trong ba khôi nguyên của giải Martin Ennals năm 2022, đây được ví như giải Nobel trong lĩnh vực nhân quyền.
Nhà báo nổi tiếng này là người Việt Nam đầu tiên trong số gần 30 nhà hoạt động nhân quyền được trao giải từ năm 1993 đến nay.
Các đề cử và khôi nguyên của giải Martin Ennals được một hội đồng tuyển chọn gồm 10 thành viên của các tổ chức nhân quyền phi chính phủ hàng đầu thế giới. Giải thưởng nhằm bảo vệ và ủng hộ các nhà bảo vệ nhân quyền đang gặp nguy khốn.
Trong bối cảnh người được trao giải năm nay là bà Phạm Đoan Trang đang bị cầm tù, người đại diện của bà là ông Trịnh Hữu Long, Tổng biên tập Luật Khoa Tạp chí, đã thay mặt tham dự lễ công bố giải thưởng.
Trao đổi với Đài Á châu Tự do, ông Long cho biết ý nghĩa của việc giải thưởng được trao cho tù nhân lương tâm này:
“Cái giải thưởng này nó là một sự công nhận của không những các tổ chức nhân quyền quốc tế, mà còn của chính quyền thành phố Geneva (Thụy Sĩ) với những nỗ lực của Đoan Trang, và nó một lần nữa khẳng định những việc Đoan Trang làm là đúng.
Và chúng ta cũng cần bảo vệ những người như Đoan Trang, hơn nữa là tiếp nối những công việc mà Đoan Trang đã từng làm. Và chúng ta cần phải có thêm nhiều Đoan Trang hơn nữa thì chúng ta mới có thể tạo ra những thay đổi tích cực trong cái tình hình nhân quyền của Việt Nam được.”
Nhà báo Phạm Đoan Trang được giới thiệu là “Một nhà báo hàng đầu và nhà đấu tranh cho quyền tự do ngôn luận, bà ấy truyền cảm hứng cho những người khác lên tiếng”. Ảnh chụp màn hình Youtube Martin Ennals Award
Còn nhà hoạt động Phạm Thanh Nghiên thì cho biết rằng, thực tế có rất nhiều người hoạt động ở Việt Nam cũng xứng đáng được vinh danh, dù họ làm việc công khai hay âm thầm, nhưng với việc nhà báo Phạm Đoan Trang được trao giải năm nay thì đó là chuyện đáng vui mừng, bà nói thêm:
“Phải thừa nhận rằng Phạm Đoan Trang là một gương mặt tiêu biểu trong vài năm trở lại đây và giải thưởng dành cho cô ấy rất là xứng đáng. Và tôi nghĩ rằng không riêng gì tôi vui mừng đâu, mà cả gia đình, bạn bè, những người ủng hộ, những người yêu mến Phạm Đoan Trang trong những năm qua đều rất lấy làm vinh dự, và thấy một phần có mình ở đó.
Và đối với những người hoạt động nhân quyền thì tôi nghĩ rằng không có lý gì để mà không vui mừng trước một cái tin đầu năm rất là đẹp đẽ thế này, bên cạnh những chuyện bắt bớ, những phiên tòa bất công vẫn xảy ra trong bối cảnh này.”
Ông Phil Robertson, Phó giám đốc khu vực châu Á của tổ chức Human Rights Watch đồng thời là một thành viên ban giám khảo của giải thưởng nhận xét cho rằng, Phạm Đoan Trang là một người truyền lửa cho rất nhiều nhà hoạt động và nhà báo ở Việt Nam, nơi mà tự do biểu đạt bị xem là mối đe dọa.
Bàn về ý nghĩa của việc một công dân Việt Nam bị nhà nước của mình tuyên án tù nặng nề, nhưng lại được quốc tế vinh danh, bà Nghiên nói:
“Về phía nhà cầm quyền thì mỗi lần có một cái giải thưởng về những nỗ lực vận động cho nhân quyền, cho những quyền tự do dân chủ, thì đối với nhà cầm quyền người ta vẫn nói là như một cái tát đập vào mặt. Tôi nghĩ rằng một cái giải thưởng như thế này thì càng làm cho nhà cầm quyền bẽ mặt thôi.”
Nhà hoạt động này cũng cho rằng có thể chính quyền Việt Nam sẽ phản ứng trước thông tin này theo hai khuynh hướng, hoặc sẽ tỏ ra dè dặt hơn trong việc đối xử với bà Trang trong trại giam, hoặc sẽ trở nên hung hăng hơn.
Bà Nghiên cũng lấy ví dụ về cách mà chính quyền Trung Quốc đối xử với ông Lưu Hiểu Ba, người dành giải Nobel Hòa Bình năm 2010, nhưng đã bị giam cầm trong tù cho đến chết. Nhưng bà cũng hy vọng rằng chính quyền Việt Nam sẽ không hành xử tương tự như cách chính quyền Trung Quốc đã làm.
Giải Martin Ennals là phần thưởng quốc tế mới nhất dành cho bà Phạm Đoan Trang. Mỗi người được giải này sẽ được tặng tiền thưởng từ 20.000-30.000 franc Thụy Sĩ, khoảng từ 500 triệu đến 800 triệu đồng Việt Nam.
Hồi năm 2017, bà được trao giải Homo Homini của tổ chức People In Need. Năm 2018, bà nhận được giải của Mạng Lưới Nhân quyền Việt Nam. Năm 2019, bà được giải hạng mục ‘Tầm Ảnh hưởng’ của tổ chức Phóng viên Không Biên giới.
Nhà báo Phạm Đoan Trang bị bắt vào tháng 10 năm 2020, bà bị giam giữ đến tháng 12 năm 2021 mới được đưa ra xét xử.
Trong phiên tòa sơ thẩm diễn ra vào ngày 14 tháng 12, bà bị buộc tội “tuyên truyền chống nhà nước” theo điều 88 của Bộ luật Hình sự năm 1999, và bị kết án chín năm tù.
Giao Chi San Jose. giaochi12@gmail.com (408) 316 8393
GS TS MAI THANH TRUYẾT – Bài Viết
CHÙM THƠ: Cao Mỵ Nhân

VỀ GỌI MÙA XUÂN . – CAO MỴ NHÂN
*
Em về cuốc núi trồng hoa
Lệ rơi thấm đá, rừng xa xót buồn
Tình anh chan chứa trong hồn
Ngẩng nhìn sương khói bay dồn lũng khơi
*
Đá trong tay, đá thay lời
Vàng hoa sẽ đổi sắc trời quê hương
Mình em hiu quạnh trên đường
Những nơi anh với sa trường dở dang
*
Trưa rồi , mây trắng lang thang
Chiến hào xưa chất ngổn ngang muộn sầu
Em về mang nặng niềm đau
Bâng khuâng anh gởi tuyến đầu nhớ nhung
*
Núi ơi, đá mọc tuyệt cùng
Nguồn thương yêu xẻ thành sông êm đềm
Một rừng mai nở vàng thêm
Mùa xuân trở lại cho em hẹn hò …
*
CAO MỴ NHÂN (HNPD)
*
MỘT LẦN XUÂN GỌI – CAO MỴ NHÂN
*
Cành thay lá mới
Em đổi áo xanh
Rồi ngồi yên đợi
Sương rơi long lanh
*
Mùa xuân chưa tới
Nên anh chưa qua
Áo xanh như lưới
Nhện đang giăng tơ
*
Năm cùng tháng cuối
Tuổi vẫn mộng mơ
Tóc em như suối
Chảy trên dòng thơ
*
Hay là anh gọi
Mùa xuân sớm về
Để em thay áo
Mầu sắc đam mê
*
Em sẽ mời xuân
Nếu anh ở lại
Bên em một lần
Nhớ anh mãi mãi …
*
CAO MỴ NHÂN (HNPD)
*
MÙA XUÂN LỮ THỨ. CAO MỴ NHÂN
*
Có người nói với em
Đã nằm chờ giấc ngủ
Thì đừng nghĩ gì thêm
Về anh, dù thương nhớ
*
Nhưng mùa xuân đến đó
Tình anh vẫn còn đầy
Làm sao em ngủ được
Khi vắng một vòng tay
*
Anh bảo rằng đắm say
Cho em nhiều thi tứ
Thì cứ thả thơ bay
Theo mùa xuân lữ thứ
*
Anh còn mải bâng khuâng
Giữa bao la tình tự
Tặng em những mùa xuân
Vạn đoá hoa rực rỡ
*
Em mang vào giấc ngủ
Một hình ảnh mơ hồ
Trong gối chăn ấp ủ
Nồng nàn xuân vẩn vơ…
*
CAO MỴ NHÂN

VĂN – ĐỈNH HOA VÀNG – Cao Mỵ Nhân
ĐỈNH HOA VÀNG
Trong HNPD cả net lẫn com của quan Đồ Ngu tức nhà văn Nguyễn Trọng Hoàn của …tôi, tôi hay xí phần lắm, nếu điều gì đó phảng phất có tôi trong đó, có một bài viết về nhà thơ béo xụ, to ù Phạm Thiên Thư, với tuồng tích ” Ngày xưa Hoàng thị…”, có kèm hình ổng mới nhất, tuần trước.
Tôi vốn cũng không xa với nữ sĩ Tuệ Mai, người đưa ông lên đỉnh hoa vàng, xin lỗi tôi không xài danh xưng ” động hoa vàng ” như ai yêu thơ cũng theo dõi và biết phần nào.
Bài này đặc biệt chỉ kể về chuyện ở động hoa vàng thôi .
Ô mà với Phạm Thiên Thư thì có lẽ ” Động hoa vàng” là chính điểm cho bàn dân độc giả thơ mến mộ, chứ dẫu Thi sĩ Phạm Thiên Thư có lối hành văn thơ khá đặc biệt, nghĩa là có ngôn ngữ riêng, như kiểu lời nhạc đặc biệt Trịnh Công Sơn cùng thời, thí dụ:
Đoạn trường sổ gói tên hoa
Xưa là giọt lệ, nay là hạt châu …
( Đoạn trường vô thanh – Phạm Thiên Thư )
Lại cũng biện luận bằng câu: tiểu sử, thành tích, tác phẩm Thi sĩ Phạm Thiên Thư thì đã đầy trong sách báo đương thời, tôi chỉ lướt qua những kỷ niệm rất chân tình, còn nếu nói về mức độ đúng, sai…thì thưa quý vị, nó, kỷ niệm sắp đơn cử ra, thật đến độ quý vị có lòng, phải thẫn thờ buồn mãi …
Theo đề nghị của quý nữ sĩ trong thi đàn Quỳnh Dao, một hội thơ nữ lưu rất danh tiếng về mọi mặt, tôi đã nhận cái việc là sẽ tới lui chăm sóc cho nữ sĩ Tuệ Mai những ngày tháng sau cùng, khi bịnh ung thư của chị đã đến hồi bó tay, chỉ còn xài ” morphine” chế ngự các cơn đau dồn dập tới thôi.
Đó là những tháng cuối năm 1981, qua đầu 1982.
Tuy bịnh nặng như thế, mà cũng còn những khoảnh khắc chị có thể tâm sự với tôi về hành trình viết lách chưa gọi là xong của chị .
Tất nhiên làm sao xong được với một cây bút còn đầy sức sống, chỉ có sức khỏe người cầm bút ấy bị hao hụt dần, nhất là không ai chia xẻ với mình về mặt tâm tư tình cảm đúng đắn , đối với một phụ nữ sắp sáu chục tuổi, đầy mơ mộng .
Tôi có lẽ may mắn là thủa đó, mấy năm đầu thập niên 80 thế kỷ trước, mới xong tù cải tạo và lao động nông trường về, đối với tôi cuộc sống là quý giá lắm, nên tôi thông cảm ngay .
Mỗi ngày, vào buổi trưa, trên căn gác nhỏ ngôi nhà số K8
Đường Nguyễn Chí Thanh, tên mới, tôi không để ý tên cũ là đường gì . Chị vẫn có thể cười nói rằng:
Này Cao Mỵ Nhân, đã gặp Phạm Thiên Thư chưa ?
Tôi lưỡng lự: ” Chưa chính thức gặp, nhưng em có thấy anh ấy ở đâu rồi ”
Nữ sĩ Tuệ Mai cứ lúc khép lúc mở mắt, có lẽ chị đang mơ mộng, với giọng đều đều :
Thư, là thi sĩ Phạm Thiên Thư, chị Tuệ Mai luôn kêu Phạm Thiên Thư là ” Thư ” thôi, khác với nữ văn sĩ Nguyễn Thị Vinh thì bao giờ cũng ” Anh Nhật” tức nhà văn, điêu khác gia Nguyễn Hữu Nhật .
Thư vui lắm em ạ, khi chị khám phá ra Thư là một thiên tài, mình, là nữ sĩ Tuệ Mai, nói Thư phải đưa các tác phẩm xuất sắc đó lên cao hơn, vì giá trị của lời thơ …
Cao Mỵ Nhân đọc hết các sách thơ của Phạm Thiên Thư chưa ?
Sự thực tôi chưa đọc hết, song nhìn chị Tuệ Mai gần đất xa trời quá rồi, tôi gật gật đầu : ” Em có đọc …”
Chị Tuệ Mai tiếp : Cơ duyên đã khiến chị gần Thư, sau khi Thư rời hẳn Chùa ra đời, Thư là con trai duy nhất của cụ bà Thư Lâm, chị đặt cho cụ phương danh này, thì cứ việc sống bình thường trong xã hội Saigon, ở Chùa làm chi, cho dẫu Thư có tâm tu đi nữa.
Thế rồi Thư có ý định thành hôn với chị ( Tuệ Mai ) là lúc chị đã 50 tuổi, còn Thư 32 tuổi, 1972, cùng lượt với nữ sĩ Nguyễn Thị Vinh ( 48 tuổi ) và nhà thơ họa sĩ điêu khắc gia Nguyễn Hữu Nhật ( 30 tuổi ) .
Chị Vinh thì mới mẻ, bạo dạn và lãng mạn hơn chị nhiều, chị Vinh luôn làm chủ cuộc đời chị ấy, chứ chị ( Tuệ Mai ) thì … ngại quá, chị còn cái đại gia đình nặng trĩu phong kiến, cụ thân sinh vẫn đang tại thế, tức thi sĩ quá lão thành Á Nam Trần Tuấn Khải.
Chị còn bầy em gái 5 cô con bà dì, chị có 2 Con gái nuôi là Thanh Nhu có gia đình rồi, đang tá túc với chị trên căn gác ấy, cô con nuôi thứ hai đã đi tản, ở Mỹ , và là người luôn quà cáp về VN cho chị sau này .
Nên, Thư cũng …ngần ngừ, rồi quyết định thưa với cụ thân mẫu Thư, đoạn, Cao Mỵ Nhân biết không, chính bên nhà Thư đã tiến hành cho chị một đám cưới đàng hoàng, bằng chính tiền để dành, em ạ , đập cái hũ vàng ra, để mà lo sính lễ đấy .
Tôi có biết gì về giai thoại này, hơn nữa trước 30-4-1975 tôi còn ở QĐI/QKI của…tôi, 1972 là cái tuyến lửa quân nhân các cấp VNCH đang tái chiếm cổ thành Quảng Trị, tôi đang phờ phạc về công tác xã hội hậu phương, thương binh tử sĩ ở các quân y viện Huế, Đà Nẵng, có thì giờ đâu theo dõi chuyện tình thành phố chứ, tôi ậm ừ: ” Thế ạ ” .
Sau khi cưới nhau chính thức, chị về nhà Thư là ngôi nhà giống như biệt thự, tức là có hoa lá cây cảnh ở con đường XXX bên Gia Định, tức Quận Bình Thạnh.
Nhưng vẫn đi đi về về nhà chị, số K8 đường nêu trên .
Vài năm sau, nữ sĩ Tuệ Mai nghĩ là: Thi sĩ Phạm Thiên Thư có trữ tình , lãng mạn đến mấy, cũng cần có con cháu để nối dõi tông đường, nên chính chị là người hỗ trợ thiết tha việc cưới cho thi sĩ Phạm Thiên Thư đệ nhị ái thê, nguyên là ái nữ của nhà văn Hoàng Ly, người chuyên viết chuyện đường rừng thượng du Bắc Việt xưa.
Buồn cười lắm Cao Mỵ Nhân ạ, bấy giờ chị chưa rời hẳn nhà Thư đâu, bởi vì nơi đó chính là cái động hoa vàng được hình thành, hoa cúc vàng, rồi mùa xuân thì những cành mai vàng nở rộ biết không?
Nữ sĩ Tuệ Mai, tác giả 7 tập thơ trước 1975, đang ấp ủ 2 cuốn truyện dài :
Lưu Bình, Dương Lễ và nàng Châu Long mới,
Huyền Trân Công chúa .
đã ngã bịnh …vô Bịnh viện Bình Dân, để rồi cay đắng biết mình sẽ từ giã cõi đời .
Ngày tôi từ nông trường về thành phố, là chị đã giải phẫu xong khá lâu, nhưng vẫn trong ưu tư không còn cơ hội viết 2 cuốn tiểu thuyết nếu trên .
Chị giao cho nữ sĩ Như Hiên cũng trong Hội thơ Quỳnh Dao viết ” Nàng Châu Long mới “, để làm sao đánh bật cái tư tưởng phụ nữ cao vời, chứ không phải được Quan xưa Dương Lễ ngoắc ra truyền lệnh cho đi nuôi Lưu Bình, vì Châu Long là vợ 3 của Dương Lễ.
Chị có nhã ý giao cho tôi viết tiếp mấy chương để kết thúc cuốn Huyền Trân Công Chúa, với ý đồ là tôi phải làm nổi bật được vai trò công chúa Huyền Trân vốn nhà họ Trần của chị : nữ sĩ Tuệ Mai Trần Thị Gia Mình.
Nhưng tôi bận lo chuyện cơm áo, rồi chuyện ra đi theo diện HO của …tôi sau này, tôi không nhớ mình đã xếp 2 chương bản thảo công chúa Huyền Trân của chị ở chỗ nào nữa .
Một ngày được tin thi sĩ Phạm Thiên Thư sẽ ghé thăm chị Tuệ Mai, chị thản nhiên như bạn tầm phơ, không nghĩ đã một thời chị cùng thi sĩ họ Phạm đó kết nghĩa tào khang.
Tôi loay hoay vì lo cái chuyện cách đó ít lâu, nhà thơ Trụ Vũ đã chở Honda tôi tới tiệm hớt tóc ở Lăng Cha Cả, giới thiệu tôi giả đò là cán bộ văn hoá từ Hanoi vô Saigon, để chờ đi Cote d’ Ivoire công tác . ..muốn làm quen thi sĩ nổi tiếng miền nam, mà nhà thơ Trụ Vũ cảm thấy chỉ có Phạm Thiên Thư là hay không tưởng được .
Dịp đó, Phạm Thiên Thư đã lấy làm hãnh diện, và còn muốn cũng được đi Phi Châu như tôi chứ.
Lý do thi sĩ Phạm Thiên Thư và tôi chưa hề diện kiến nhau, nên Trụ Vũ kêu tôi là ” chị Đỗ Mai A ” .
Nay thi sĩ Phạm Thiên Thư tới thăm nữ sĩ Tuệ Mai, thì thế nào đây ?
Phạm Thiên Thư đã lên thang gác, tôi quýnh quá, trốn ngay vào nhà tắm sát phòng chị Tuệ Mai.
Nhị vị thi sĩ tên tuổi ngó nhau nhiều hơn là phải nói, một lúc thấy lâu, chị Tuệ Mai kêu:
Cao Mỵ Nhân đâu rồi, ra đây chứ, Thư tới này .
Tôi đành phải ra chào, cười hoà hoãn, Thi sĩ Phạm Thiên Thư nhìn tôi, tay chỉ chỉ : ” Trời, dám cùng Trụ Vũ phá tôi hả ? ”
Thi sĩ Phạm Thiên Thư cáo biệt rồi, thấy chị có vẻ buồn xa vắng, tôi kể cho chị Tuệ Mai nghe chuyện nhà thơ Trụ Vũ đùa cợt xem thử Phạm Thiên Thư thế nao, khi Trụ Vũ ” phỏng vấn” Phạm Thiển Thư là : Nam thi sĩ miền nam nổi tiếng là Phạm Thiên Thư rồi, còn nữ thi sĩ nổi tiếng miền nam là ai, anh có thể cho chị Đỗ Mai A đây một ví dụ .
Phạm Thiên Thư cười cười không trả lời, Trụ Vũ hỏi tới luôn:
” Chớ anh nghĩ thế nào về nữ thi sĩ Tuệ Mai ? ”
Thì Phạm Thiên Thư im lặng .
Nhưng tôi không kể chi tiết này ra với chị, vì chị đang đau, mà thái độ của Thi sĩ Phạm Thiên Thư cũng chằng …hào hoa mã thượng gì .
Ít ngày sau, nữ sĩ Tuệ Mai mất. Chúng tôi có thông báo bằng hữu văn chương biết ngày tiễn nữ sĩ Tuệ Mai về cõi vô cùng. Chị mất chiều mùng một tết, đưa ma sáng mùng bốn tết âm lịch năm ấy( 1982) vừa đúng hoa giáp .
Song nhà thơ Phạm Thiên Thư không đến tiễn biệt nữ sĩ Tuệ Mai, người đã đưa ông lên đỉnh hoa vàng, trong lúc khá đông thi văn sĩ Saigon xưa tới chia buồn cùng hương linh chị.
Đáng ngợi ca nhất là nữ văn sĩ Nguyễn Thị Vinh đã xin để tang nữ sĩ Tuệ Mai, viết 4 câu thơ và yêu cầu tôi đốt trước quan tài nữ sĩ Tuệ Mai lúc ở hỏa tháp Thủ Đức.
Nhà văn Nguyễn Thị Vinh nói cho tôi hay rằng: trong nghĩa cử bạn bè văn nghệ, chị phải để tang 4 người, 2 vị kia tôi không quen biết, còn 2 nữ sĩ Quỳ Hương và Tuệ Mai trong hội thơ Quỳnh Dao, tôi là em út thi đàn này, tôi phải biết chuyện đó.
Nhà văn Nguyễn Thị Vinh còn thủ thỉ: ” Em ơi, chính Tuệ Mai giới thiệu anh Nhật cho chị đấy ” .
Tới chiều hôm sau, thi sĩ Phạm Thiên Thư mới ghé lại ngôi nhà có hình ảnh cuối cùng của nữ sĩ Tuệ Mai, ” Gã từ quan ”
ấy mới lấy làm tiếc là không kịp về đưa đám nữ sĩ Tuệ Mai .
Buồn nhỉ, có lẽ nào như thế không ? Hình như câu ”
nghĩa tử là nghĩa tận ” đôi khi không được nhớ đến …
CAO MỴ NHÂN
LÊ VĂN HẢI – ĐƯA ÔNG TÁO VỀ TRỜI

Tiễn Đưa Ông Táo Về Trời!
Hôm nay tiễn Táo về trời
Gởi bao hy vọng nhờ Người bao dung
Xét theo hoàn cảnh nói chung
Gia đình góp sức chung lưng nên người!
Cuộc đời đôi lúc khóc cười
Nhưng ta đã cố vượt thời vươn lên
Sang năm may mắn gặp hên
Cháu con thành đạt, không quên cội nguồn!
Giữ cho tươi sáng tâm hồn
Lạc quan tiến bước vuông tròn nghĩa nhân
Khó khăn tháo gỡ lần lần
Chắp tay xin Táo góp phần giúp cho!
Bếp núc luôn được ấm no
Bàn tay tần tảo chăm lo hằng ngày
Cảm ơn ông Táo từ rày
Siêng năng lao động việc hay chẳng từ!
Giữ gìn truyền thống cần cù
Việc nhà việc nước giữ cho rạch ròi
Quyết tâm xây dựng giống nòi
Tự Do Dân Chủ dân thời yên vui.
(Phan Hạnh) – Lê Văn Hải (sưu tầm)

KIỀU MỸ DUYÊN- CHÚC MỪNG NĂM MỚI
KIỀU MỸ DUYÊN: Một Sự Bất Tín, Vạn Sự Bất Tin
Mai Thanh Truyết: Một nhà báo, nhà chính trị hay một nhà Khoa Học?
Tài liệu sưu tầm. Nguồn: Internet

Mai Thanh Truyết: Một nhà báo, nhà chính trị hay một nhà Khoa Học?
Nói đến Tiến si Mai Thanh Truyết thì đồng bào hải ngoại, nhất là những ai sống ở Nam Cali hẳn không xa lạ. Lại càng không xa lạ đối với những ai hằng quan tâm đến những vấn đề thời sự, khoa học và môi trường v.v…
Nói về những bài viết của Tiến sĩ Mai Thanh Truyết, chúng tôi nhận thấy ông không viết về đề tài nào khác hơn ngoài những vấn đề có liên quan đến khoa học. Ông không viết về một xứ sở nào khác ngoài đất nước Việt Nam cùng với những vấn đề nóng bỏng của nó. Và nếu có đi vào tìm hiểu một số khía cạnh thuộc về môi trường, hoặc phương thức sản xuất của một số nước nào đó thì cung chỉ là cốt để soi sáng cho tình trạng chậm tiến của đất nước Việt Nam. Chúng ta có thể thấy rõ chủ trương (chính trị) của cầm quyền CSVN đã và đang “ăn thông” với CSTQ để làm hại đất nước và người dân về nhiều phương diện. Sự kiện này được thấy rõ qua việc làm vô trách nhiệm cùng thái độ ươn hèn, khuất phục của CSVN đối với sự xâm thực một cách có chiến lược của CSTQ cùng những hiểm hoạ của nó.
Những đề tài mà ông đã nói lên hoặc viết ra thực tình mà nói, trong khuôn khổ một bài nhận định ngắn này, với một kiến thức hạn hẹp của người viết như thế này, không sao kể hết và nói xuể. Sở dĩ như vậy vì các bài viết hoặc nói chuyện của ông vô cùng phong phú và đa dạng. Đại để có thể nói một cách không đắn đo rằng: Dù dưới bất cứ một đề tài nào, ông cũng chứng tỏ một sự vững vàng trong lập luận, chính xác về nguồn tin, rất khoa học khi phân tích và không thể phủ nhận chất hăng hái trong lối trình bày. Nếu bảo rằng ông là một nhà hùng biện thì cũng không đúng, và cũng không đúng hẳn khi nói rằng ông có “khoa ăn nói” như những người có tiếng là nói năng hay. Nhưng ông có một cái độc đáo riêng, “Mai thanh Truyết” là Mai Thanh Truyết. Không thể lầm lẫn với một Phan văn Song hay Nguyễn văn Trần-hai người bạn thân mà trong quá trình hoạt động Cộng Đồng chúng tôi có hân hạnh được biết. Lại càng không giống như Luật sư Trần Thanh Hiệp, một nhà tranh đấu có tiếng từ lâu, và là một trong những người bạn thân cũ của ông.
Điều quan trọng người viết muốn nhấn mạnh ở đây chính là giá trị của những bài viết của ông. Nó phản ảnh rất trung thực con người ông, lời nói cũng như việc làm. Nhất là có một tác dụng đáng kể: vừa chính xác, vừa có tính cách vô vị lợi. Và đó cũng chính là con người của ông. Có thể nói kể ra cũng bằng thừa, những điều ông đã viết, đã lên án, đã vạch trần và đã tố cáo cho mọi người, khắp nơi, trong cũng như ngoài nước biết rõ, biết chính xác về những điều ông thấy, đọc, nghe và nghiên cứu. “Tự giác, giác tha”, ông không chỉ là một nhà khoa học, một ông thầy dạy học, một đảng viên kỳ cưụ của Đại Việt Quốc Dân Đảng, một nhà tranh đấu, và thêm vào đó là một Phật tử chân chính nhưng không câu nệ. Nếu đi sâu vào từng khía cạnh một thì không thể kể hết, nên chỉ còn cách là mời các thức giả vào nghiên cứu những khía cạnh ông viết, nói và chia xẻ.
Những đề tài trong quá trình tranh đấu của Tiến sĩ Mai Thanh Truyết có thể nói “vô tận”, nghĩa là “không có điểm bắt đầu và cũng không có điểm kết thúc” (lời ông nói trong một cuộc phỏng vấn về vấn đề hâm nóng toàn cầu). Một nhà chính trị không lập thuyết, một nhà khoa học không ngồi trong tháp ngà tư tưởng để chỉ nghiên cứu trên lý thuyết, nói cách khác một nhà hoá học thực nghiệm, Ông không chỉ mãn nguyện và an vị trong phòng thí nghiệm là đủ. “Con người” ông quả có nhiều “nghịch lý”. Là một chuyên viên phụ trách vấn đề phát thải tại Mỹ lại thường xuyên nghiên cứu về môi trường mãi tận Việt Nam. Từ bãi rác Đông Thạnh miền Nam đến vấn đề những dòng sông chết ở miền Bắc. Từ vấn đề Đồng Bằng sông Cửu, đến việc khai thác Bauxite tại Cao nguyên Trung phần Việt Nam. Ông “đi” khắp nơi, và đặc biệt chú trọng đến vấn đề môi trường ô nhiễm theo nghĩa toàn diện (không khí, đất và nước…vốn là những điều kiện cần cho cuộc sinh tồn của nhân sinh).
Đó là việc làm và là con người của Tiến sĩ Mai Thanh Truyết. Nhưng vượt trên hết là một con người đấu tranh, đấu tranh theo nghĩa thiết thực nhất. Về điểm này có thể nói, ông còn nặng nợ với núi sông; mà hai điểm chính yếu và nổi bật nhất là đất nước và người dân: Nặng lòng với đất nước, quan tâm cho cuộc sống người dân. Phi tâm huyết, một người không thể làm được như vậy. Rõ ràng là ông đa đoan, cho nên:
Lại mang lấy một chữ tình,
Khư khư mình buộc lấy mình vào trong” (Kiều)
như một nàng Kiều nặng tình với Kim Trọng. Nhưng “tình” đây chính là tình đối với đất nước, thiên nhiên, môi trường thiên nhiên và mối quan tâm đến con người. Và, ông không chịu ngồi yên một chỗ, hết “keo” này, ông bày “keo” khác.
Cho nên khi nói đến việc làm của ông mà không nói đến con nguời thì quả là một điều thiếu sót. Tôi không sống ở Mỹ nhung qua những mẩu đối thoại cá nhân, hoặc những bài nói chuyện với cộng đồng thì có thể biết được ông nghĩ gì và muốn gì… Chưa bao giờ ông đề cập đến con người của ông nhưng qua lối diễn tả, cách tiếp xúc, và lời lẽ đặc biệt “Nam Kỳ“ của ông người ta thấy thể hiện một sự chân chất, không màu mè, kiểu cách. Ông thân thiện với tất cả mọi người, dễ dàng và cởi mở. Quả thực Tiến si MTT có một cái gì làm người ta quý mến và cảm phục. Cảm phục không phải vì “tài năng xuất chúng” nhưng vì sự kiên tâm tranh đấu không mệt mỏi của ông. Đối với cộng đồng chúng tôi thì mối liên hệ với ông Tiến Sĩ họ Mai này lại có phần hơi đặc biệt. Đặc biệt là vì chúng tôi có những ý kiến chia xẻ cùng những nhận định về thời cuộc hay nói chung là về vấn đề liên quan đến Việt Nam. Có thể nói, không “ngoa”, rằng Mai Thanh Truyết là một người có tâm huyết với đất nước, một trong số hiếm những nhà tranh đấu chân chính hiện nay.
Hơn thế nữa, có thể nói khá chính xác rằng hiện nay ở Cali ông là người duy nhất gióng lên tiếng chuông báo động cho đồng bào thường xuyên nhất, tích cực nhất, những điều nóng bỏng nhất và cũng thiết thực nhất . Chỉ nguyên phản ứng của quần chúng đối vấn đề thực phẩm có độc tố, dù là tán thành hay phản đối- mà đa số vì muốn bảo đảm sức khỏe an toàn- đều hưởng ứng khá mạnh mẽ. …cũng đủ thấy việc làm của ông không phải là thừa. Ấy là chưa kể còn nhiều lãnh vực khác mà ông luôn luôn một mình, một ngựa có ông đi hàng đầu”.
Nhưng điều tôi muốn nói ở đây không phải chỉ là vì những hoạt động của ông đối với đất nước trong suốt hai mươi năm qua- Những đóng góp ấy không phải là nhỏ, trái lại rát phong phú và đa dạng. Đa dạng như chính con người của ông – mà là ý nghĩa và cộng đồng chúng tôi được hân hạnh gặp Tiến si Mai Thanh Truyết vào buổi xế chiều một ngày tháng 7 tại một thành phố Miền Tây Canada. Lúc ấy là vào mùa hè nên thời tiết thật đẹp, nắng vàng ấm và không khí trong trẻo. Thời tiết này giúp cho việc tham dự buổi nói chuyện của ông về một đề tài tưởng là khô khan nhưng lại vô cùng hấp dẫn.
Hôm ấy, ông đến với cộng đồng theo lời mời của Hội Ái Hữu Đồng Bằng sông Cửu Long, đồng thời cũng là chỗ anh em thân tình cũ với ông. Chúng tôi đến tham dự buổi nói chuyện của ông về vấn đề “Dioxin và Chất Độc Da Cam” mà ông mới xuất bản không lâu trước đó và đã cho ra mắt, cách đây hai năm. Buổi nói chuyện thật sôi nổi với nhiều câu hỏi sâu sắc được đặt ra. Và ông đã giải đáp thấu đáo với những dẫn chứng cụ thể và chính xác. Thật là cần thiết để đồng bào Việt Nam có thể được nghe chính lời của một nhà hoá học đã chịu bỏ công nghiên cứu kỹ lưỡng; để có thể đưa ra những luận cứ có giá trị, hầu “giải độc” cho mọi người về tất cả những gì mà CSVN đã gây ra, và rêu rao khiến người dân hoang mang.
Nhưng đây chỉ mới là một ví dụ trong nhiều ví dụ về những công việc mà Tiến si Mai thanh Truyết đã và đang theo đuổi. Chỉ trong suốt hai năm qua kể từ ngày đó, ông đã làm không biết bao nhiêu việc. Những thức giả hằng quan tâm đến thời cuộc và theo dõi việc làm của những nhà tranh đấu thì sẽ dễ thấy. Hình như ông không chịu ngồi yên để chỉ “khóc cười theo vận nước nổi trôi” như nhiều người khác, mà ông càng tranh đấu càng hăng say. Ông không chỉ dừng ở địa hạt Dioxin để nói lên cái thực chất của sự giả dối che đậy của nhà nước CSVN khi nhân danh vấn đề nhân đạo để …vòi tiền Mỹ .
Ông còn lưu tâm đến nhiều khía cạnh thiết thực khác như vấn đề ô nhiễm Việt Nam- một sự ô nhiễm toàn diện – và là một vấn đề nóng bỏng hiện nay. Ông đã nêu lên những dẫn chứng thật cụ thể cho việc làm của mình. Ông đã báo động cho mọi người thấy đây là một vấn đề trầm trọng không thể bỏ qua. Như đã nói trên, đây là một vấn đề toàn diện và bao trùm mọi lãnh vực, từ y tế (ô nhiễm dược phẩm), kinh tế (sản xuất hàng loạt thu hoạch lợi nhuận tối đa), cho đến đời sống xã hội (ô nhiễm thực phẩm, môi trường)… Những sự kiện này đã ảnh hưởng nặng nề đến cuộc nhân sinh (vụ nhà máy lọc dầu Dung Quất đã không thực hiện đúng tiêu chuẩn sản xuất nên có khả năng làm hại môi trường, và qua đó ảnh hưởng tai hại cho sức khỏe và cuộc sống người dân nói chung. Mặc dù chẳng bao lâu nhà máy này đã phải đóng cửa vì một số lỗi lầm trong xây cất, ông vẫn thấy có bổn phận phải nêu lên vì còn rất nhiều những công ty sản xuất với tính cách làm ăn tắc trách như vậy .
Hoặc như vụ công ty chế tạo Bột Ngọt Vedan đã mặc sức thải ra lòng sông những chất phế thải mà không hề xót xa cho sự sống của dòng sông. Sự kiện này và nhiều trường hợp tương tự cho thấy các công ty sản xuất tại Việt Nam hầu như chỉ nhắm vào nguồn lợi kinh tế mà không quan tâm đến phẩm chất của việc sản xuất cũng như của những thành phẩm. Và nhất là không hề để ý đến hậu quả của việc làm của họ. Hiện tượng này không những đã làm ô nhiễm môi trường vật lý mà còn ô nhiễm cả cuộc sống người dân v.v… Đứng trước tình cảnh và nông nỗi ấy của đất nước, ông không thể “im lặng là vàng” được.
Là một nhà hoá học, Giám Đốc một cơ quan xử lý chất phế thải (nói nôm na là rác) tại Hoa Kỳ ông đã biết lợi dụng những tiện nghi khoa học, và đem kiến thức gặt hái trong ngành ra ứng dụng vào thực tế để soi rọi vào những gì đang được CSVN thực hiện ngay trên đất nước Việt Nam. Chính cái nhìn “soi mói” cần thiết này đã mang lại tác dụng đôi:
- Một đàng người dân có thể thấy rõ cái sai trái và âm mưu che giấu ở bên trong những việc làm lấy lệ, vô trách nhiệm và vụ lợi của kẻ cầm quyền vô minh nhưng “bá đạo”.
- Mặt khác, việc làm này cũng không ngoài mục đích cảnh báo nhóm người nắm quyền sinh sát ở trong nước về những hiểm họa đang và sẽ xảy ra. Với một niềm mong muốn, họa may họ có còn một chút nhất điểm lương tâm mà thay đổi phương thức quản lý sản xuất và môi trường tử tế hơn. Không khó để nhận thấy rằng trong mọi vấn đề, ông luôn muốn hữu hiệu hoá kiến thức của mình, nghiên cứu, tìm tòi thêm để sau đó mới đúc kết lại và quảng bá cho quần chúng. Về phương diện này, có người đã coi ông như là một học giả và luôn đi tiên phong.
Nói về việc làm của Tiến si Mai Thanh Truyết thì còn nhiều điều để nói. Mối ưu tư toàn diện của ông đối với sự lành mạnh của môi trường là gì nếu không phải xuất phát từ một khối óc hiểu biết và một trái tim sôi sục vì sự tồn vong của đất nước, muốn làm một cái gì ích cho nước, lợi cho dân.
Trên đây, người viết mới chỉ đan cử một vài ví dụ tiêu biểu trong vô số những hoạt động của Tiến si Mai Thanh Truyết mà độc giả có thể thấy trên mạng, trên báo chí, truyền thanh, truyền hình v.v…
Về phương diện chính trị, như đã nói trên, tuy ông không phải là một nhà chính trị thuần túy, hay nhà bình luận thời cuộc vì ông không “sống” vì chính trị, nhưng chính bản thân, ống đã dấn thân vào công cuộc chung. Trong vai trò Đệ Nhất Phó Chủ Tịch của Đại Việt Quốc Dân Đảng Đại Việt, Tiến si Mai Thanh Truyết tin vào sức vươn lên của con người trong nhiều lãnh vực, để tiến tới tương lại. Trong bài viết cũng như trong các mẩu đối thoại, ông chủ trương một thái độ lành mạnh. “Lành” trong chính trị có nghĩa là không chỉ dừng tại chỗ để ca ngợi thành quả đã qua hoặc tiếc thương những gì đã mất. “Mạnh”, vì Ông quả là một con người đa diện, mà “diện” nào cũng dám nói thẳng thắn, không do dự.
Về mặt tôn giáo, ông đã chứng tỏ là một Phật tử sống với chân tâm, không vụ hình thức. Với ông, nhận thức và hành động là một: Ông không thể ngoảnh mặt làm ngơ trước những gì sai trái. Biết mà không nói, không phải là hiểu biết thật sự. Ông không chỉ bo bo giữ cho riêng mình những kiến thức thâu thập trong cuộc sống, trong xã hội, trên thế giới, nhất là trong địa hạt chuyên môn của mình. Cho nên ông phải truyền bá, phổ biến sau khi đã hấp thụ thấu đáo và tiêu hóa. Công việc này xuất phát từ một đam mê, một khối óc hiểu biết và một tấm lòng đối với đất nước.
Nói như thế, để thấy rằng Tiến sĩ họ Mai mặc dù không có ý định làm chính trị, cũng không phải là nhà lập thuyết về chính trị; nhưng cũng như bao nhiêu người có lòng khác, ông đã dấn thân vào đại cuộc từ lâu. Trong vai trò Đệ Nhất Phó Chủ Tịch của Đại Việt Quốc Dân Đảng, ông luôn chứng tỏ một thái độ năng động – của một người lãnh đạo có tinh thần trách nhiệm cao- trong việc hướng dẫn người trẻ nhận định tình hình và đi theo đúng con đường chính bằng một cái nhìn khai phóng và sáng tạo (website daiviet.us)
Từng giữ chức Trưởng Ban Hoá học tại trường Đại học Sư phạm Sài Gòn, và Giám đốc Học Vụ Viện Đại Học Tây Ninh, nơi ông đã từng giảng dạy vừa điều hành, ông đã đem kinh nghiệm giảng dạy và tổ chức trong quá khứ phối hợp với kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn nước ngoài để tiếp tục dìu dắt đàn em đi tiếp con đường tranh đấu cho dân tộc. Ông đã từng nhắn nhủ họ, trong những buổi nói chuyện, hội thảo, nhìn về tương lai với một niềm tin vững chãi. Vai trò hướng dẫn của một người thầy còn được thể hiện trong việc ông tham gia vào các sinh hoạt giáo dục, đóng góp ý kiến, tìm tòi tài liệu, liên lạc mọi giới. Và mỗi khi có cơ hội là ông bắt tay vào để phổ biến những kiến thức và kinh nghiệm của mình.
Để có thể hiểu thấu đáo việc làm của Tiến sĩ đa dạng họ Mai này, theo thiển ý, cách tốt nhất là xin đi vào “Blog” của ông (maithanhtruye.blogspot.com), hoặc vào trang website của Hội khoa Học kỹ Thuật (vastvietnam.com) hay của Đại Việt Quốc Dân Đảng (daiviet.us).
Vancouver, một ngày Mùa Hạ, 2010
Nguyễn thị Ngọc Dung
Nguyên Chủ tịch Cộng đồng vùng Great Vancouver
THƠ – Vùng Ký Ức & Vẫy Gọi Bình Yên – CAO MỴ NHÂN


Ikigai – Khái Niệm Nhật Bản Về “Lý do Của Sự Hiện Hữu” – MAI THANH TRUYẾT
ĐOẠN ÁI – Mai Thanh Truyết
TIN VTLV – Chương Trình Văn Nghệ Xuân Nhâm Dần- Lê Văn Hải.

Giới Thiệu Một Chương Trình Văn Nghệ Độc Đáo, Ý Nghĩa Nhất Xuân Nhâm Dần 2022. Lê Văn Hải
Chiều Nhạc “Xuân và Người Lính VNCH.”
Lúc 2 giờ chiều Chủ Nhật, ngày 23 tháng 1 năm 2022. Tại Quán Cà phê Lover, 1855 Aborn Rd, San José.
*Vào cửa, nước giải khát hoàn toàn miễn phí!
*Đây là dịp Hội Ngộ của những Người Lính Năm Xưa, để cùng đón Mừng Năm Mới với nhau, sau thời gian dài không có dịp gặp gỡ.

Lời Mời
Tết là thời gian thiêng liêng nhất trong năm của người Việt. Tết ngầm mang ý nghĩa sum họp, nói tới Tết, là nghĩ đến niềm ao ước đoàn tụ!
Dù ai buôn bán nơi đâu
Nhớ đến ngày Tết, rủ nhau mà về!
(Ca Dao)
Vâng, đó là truyền thống của tất cả gia đình người Việt chúng ta, từ xưa đến nay. Ngày Tết, không có mặt với cha mẹ, anh em, người thân, người yêu, là một điều bất hạnh nhất! buồn thảm nhất! “Xuân đến làm chi, chỉ thêm sầu!” Nhưng với người Lính “Xuân này con không về!” là chuyện rất bình thường. Cả thời gian cầm súng, hầu như Người Lính nào mà có Mùa Xuân?
Hễ mỗi độ Xuân về, khi Mai Đào hé nụ, ai cũng đều ước muốn sum họp với cha mẹ, gia đình, con cái, người yêu và bạn bè quyến thuộc, để cùng chung vui 3 ngày Tết. Hạnh phúc nào bằng! Cho dù suốt năm phải xa gia đình vì nhiều hoàn cảnh bắt buộc. Tuy nhiên, vẫn có những người gánh chịu nhiều thiệt thòi, phải dầm sương, dãi nắng, ngủ ở ven rừng, bờ suối, chung quanh dày đặc quân thù, để trấn thủ biên thùy, năm này qua tháng nọ. Hoặc xông pha trên chiến trường, mù mịt lửa đạn. Hên, thì Họ chỉ hưởng được chút hương vị Tết, qua những món quà ít ỏi do thân nhân gởi đến. Thiếu hẳn cái không khí Tết vui vẻ, mặn nồng tình thân, giống như người ở hậu phương. Thiếu hẳn đồng bánh chưng, mứt ngọt, dưa hấu, múa lân với tiếng trống, tiếng kèn, rộn ràng. Không có cành đào, hoa cúc “nếu Mai không nở, Anh đâu biết Xuân về hay chưa?” Họ thiếu, thiếu tất cả!
Nhưng họ là ai? Họ chính là những người Lính của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Những người Lính đã một thời anh dũng chiến đấu trong suốt gần 21 năm, để bảo vệ Miền Nam tự do, no ấm. Trong thời gian dài này, hàng trăm ngàn người người Lính đã nằm xuống. Rồi sau 75, một số đã chết trong các trại tù khổ sai, được khoác cho cái mỹ danh là “trại cải tạo”. Rồi rất đông là những người Thương Phế Binh, đói rách, lang thang xin ăn, trên khắp nẻo đường thành phố.
-Để tưởng nhớ và tri ơn Những Người Lính Năm Xưa. Chiều nhạc “Xuân và Người Lính,” nhằm Kính tặng đến tất cả những người Lính VNCH, một thời mặc Bộ Quân Phục, chân mang bốt đờ sô, cầm súng bảo vệ Quê Hương. Cũng như vinh danh sự hy sinh cao cả của Họ, những chiến binh anh dũng năm nào, chiến đấu bảo vệ, để cho chúng ta được sống.
-Chiều Nhạc như thay một lời “Cám Ơn Anh!” Hình ảnh lý tưởng Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm cao đẹp của Họ, sống mãi trong trái tim người Việt yêu chuộng Tự Do. “Tôi viết tên Anh trong trái tim tôi, để còn nhớ thương hoài!”
*Với những giọng ca của nhiều Cựu Quân Nhân một thời Bạc Áo Trận và Nhóm Văn Nghệ Liên Khóa KQ 72-73.
* Không thể bỏ qua, Buổi văn nghệ ý nghĩa nhất, đầy tình Huynh Đệ Chi Binh, một thời chiến đấu, sống chết bên nhau, của Mùa Xuân Nhâm Dẩn năm nay.
Lúc 2 giờ chiều Chủ Nhật, ngày 23 tháng 1 năm 2022. Tại Quán Cà phê Lover, 1855 Aborn Rd, San José.
*Vào cửa, nước giải khát hoàn toàn miễn phí!
Trân Trọng Kính Mời
Trưởng Ban Tổ Chức
Người Lính Lê Văn Hải
THƯ MỜI HỘI CHỢ TẾT – Giao Chỉ Vũ Văn Lộc

TẾT VĂN HÓA VÀ NHÂN QUYỀN
TẠI SAN JOSE 2022
Xin thông báo hội đồng quản trị và cố vấn IRCC/Viet Museum
và thân hữu hội viên.
Kính mời quý vị tham dự.
1)Hội Tết Văn Hóa và Nhân Quyền do ông Lâm Hữu Đức và cô Hoàng Mộng Thu sẽ tổ chức vào 2 ngày trước tết thứ bảy 29 và chủ nhật 30-1-2022 tại Việt Museum trong History Park góc đường Phelan Ave. và Senter Rd. Vào cửa tự do.
2)Xin quý vị đọc thư mời, tờ quảng bá và sơ đồ tổ chức đính kèm gồm có hơn 30 gian hàng, 3 lều Trung Nam Bắc với trên 40 tiết mục trình diễn trong hai ngày.

3)Sẽ có sự hiện diện của các vị dân cử gồm thị trưởng, thượng nghị sĩ CA và giám sát viên County cùng các viên chức chính quyền
4)Vì trong thời gian chống dịch và thời tiết bất thường xin đồng bào thận trọng mang khẩu trang, chuẩn bị mặc đồ ấm, mang ô dù, áo mưa. Ban tổ chức cũng có chuẩn bị nước rửa tay và khẩu trang phát cho mọi người.
5)Trong một thời gian rất ngắn, gặp nhiều hoàn cảnh khó khăn ban tổ chức đã nỗ lực vượt qua mọi trở ngại với nhiều hy vọng sẽ thành công tốt đẹp.
6)Riêng phần Việt Museum hết sức vui mừng thỏa hiệp với danh hiệu Tết Nhân Quyền lần đầu tiên qua hơn 40 năm tổ chức có được tên gọi thiêng liêng làm ấm lòng các tù nhân lương tâm tại Việt Nam.
7) Để góp phần cụ thể trong tết Nhân Quyền, viện bảo tàng Thuyền Nhân và Việt Nam Cộng Hòa sẽ có chương trình triển lãm hết sức đặc biệt chưa từng có trong cộng đồng hải ngoại. Xin mời quý thân hữu đến thăm.
Trân trọng kính mời.
IRCC/Viet Museum.
Giao Chi San Jose. giaochi12@gmail.com (408) 316 8393
VĂN: Làm Giàu Cho Sách – CAO MỴ NHÂN
Làm giàu cho sách

Hồi đó vào khoảng đầu thập niên 80 thế kỷ trước, tôi đã gọi là xong hết mọi việc dính tới chuyện tù cải tạo nên thong dong đi chơi như bạn bè không thuộc nguỵ quân, nguỵ quyền Sài Gòn, tức là họ không phải đi tù tập trung như tôi.
Mỗi buổi sáng, tôi thường rời nhà ở khu nhà thờ Ba Chuông, đi bộ tà tà lên hướng Lăng Cha Cả trên con đường gọi là Trương Minh Ký, nối dài đường Trương Minh Giảng phía trên.
Tới ngã tư đường Thoại Ngọc Hầu thì rẽ phải đi một đoạn ngắn nữa, gặp đường nhỏ Nguyễn Minh Chiếu cắt ngang, rẽ trái đến số nhà 328 (gần cuối đường) bên tay mặt, tôi đứng trước cổng lớn của biệt thự Úc Viên.
Tôi đến chơi với nữ sĩ Mộng Tuyết – Thất Tiểu Muội như cơm bữa vì cũng chẳng có việc chi làm. Một hôm nghe tiếng chuông nhè nhẹ từ ngoài cổng biệt thự Úc Viên vọng vào.
Nữ sĩ Mộng Tuyết ngó đồng hồ rồi nói: Ông Khai Trí đến đó, đúng hẹn quá ha. Bà nói tôi ra mở cửa, đồng thời có định gặp ông Khai Trí thì bà giới thiệu…
Ông Khai Trí ở Sài Gòn trước 30 – 4 – 1975 ai mà không biết… Ông là giám đốc nhà sách Khai Trí ở đường Lê Lợi. Về sau ông vừa làm nhà xuất bản, tổng phát hành nên bộn bề công việc nhưng càng thêm uy tín và thân tình với đông đảo văn nghệ sĩ. Không ai không cảm phục ông về tấm lòng yêu quý sách từ thủa còn đi học.
Những hoạt động mua bán sách và giao tế tuyệt vời của ông với các tác giả cũng như khách hàng mà đa số là sinh viên học sinh thì khỏi nói.
Tôi chỉ đề cập tới một chuyện rất tầm thường nhưng lại… bất thường, chứ không nói tới chữ phi thường vì lớn lao và khôi hài quá!
Số là những ngày ông bị tập trung cải tạo ở Z30C Hàm Tân, cùng trại với anh rể tôi, trong vấn đề phân phối lao động…
Ai đã đi tù chính trị Cộng Sản đều biết cái điều mỗi lần chia tổ lao động, nó đòi hỏi tự nguyện, rồi mới chỉ định.
Thế thì nhà tổng phát hành sách vở, chữ nghĩa cứ thơm phưng phức hàng ngày vui cùng thiên kinh, vạn quyển kia nay tự sung vào cái tổ gánh phân rồi hoà tan thành nước phân bón tưới các rẫy vườn rau, đậu ngoài trại ấy.
Làm như thế thì chỉ phải lao tác nửa ngày, còn nửa ngày cọ rửa cho thân thể sạch sẽ trở lại con người… nhân bản được chút nào hay chút nấy. Khốn nạn cho cái xã hội khốn cùng đó.
Ở ngoài Bắc, dù không đi tù cải tạo người ta vẫn làm cái việc phân bón… thiên nhiên này, đến nỗi cả người lớn lẫn trẻ em đều bị cái bệnh tệ hại nhất thế giới là những cái bụng sán lãi bự chảng, mặt mũi xanh lét.
Ông Khai Trí đã từ ngoài cổng Úc Viên vô tới nửa hành lang, tay dắt xe đạp, trên ghi đông xe đạp còn treo một cái bị cói hơi cũ đựng sách truyện và những thứ cần thiết…
Chẳng biết đường trường kách mệnh của Hồ lão tặc sẽ vượt lên thượng tầng kiến trúc thế nào, chứ cái màn khốn khổ khốn nạn XHCN diễn đi diễn lại khiến cho con người đang từ phong nhã, hào hoa trở thành bần hàn ti tiện làm sao.
Nhưng người lịch thiệp thì cho dẫu đã trở lại bước đường hoa gấm ngày xưa, ông Khai Trí vẫn nhẫn nhịn, hoà nhã, chịu đựng đến độ thành bụt lúc nào không hay.
Cơ ngơi tài sản ông mất nhiều, mất ít thì tôi không rõ, nhưng những năm tháng sau cùng ở Sài Gòn, ông vẫn đi xe đạp, treo giỏ cói ở ghi đông với một nụ cười mà không biết phải diễn tả thế nào mới đúng: hoà đồng, khổ luỵ, buồn thương, chán chường…
Song vẫn đầy nghị lực, vẫn mong ước, chờ đợi một ngân hàng sách, một hệ thống phát hành ở khắp nước Việt Nam để từ đó cái xã hội sách bất khả của họ tự giẫy chết trong nghĩa địa sách mà họ lầm tưởng là có thể để đời…
Tuy nhiên đầu thập niên 90 tiếp theo, ông vẫn đi Hoa Kỳ.
Mộng làm giàu cho sách, chứ không phải sách làm giàu cho ông, vì giai đoạn này các con ông đã nên danh phận và ông đã già (1926 – 2005).
Thế mà có một buổi trưa kia, trên chiếc xe buýt chuyển trạm đường Brookhurst, ông Khai Trí đã khệ nệ bước xuống với mấy bao, giỏ sách thật nặng nề vừa đeo trên vai, vừa ôm trước ngực, vừa… thở hổn hển, mà vẫn tươi cười.
Tôi hỏi sao ông di chuyển sách nặng làm gì khổ thế. Là vì ông phải đi từ Los Angeles xuống ga chuyển Fullerton, rồi từ Fullerton qua buýt khác xuống thủ đô tị nạn Bolsa mà tôi gặp đó, rồi ông sẽ đi một chuyến buýt thứ ba về nhà ông. Thật cực khổ. Năm đó 1993, ông đã gần bảy chục tuổi.
Vài năm sau, ông quyết định về Sài Gòn ở luôn. Sinh hoạt văn chương theo ý ông cùng các văn nghệ sĩ nửa cũ, nửa mới cho tới khi qua đời.
Thời gian ông Khai Trí xây dựng sự nghiệp sách khai phóng và điều hành cái cơ sở đồ sộ những chữ cùng… nghĩa, tôi nghĩ quý vị tác giả biết ông và thân tình với ông nhiều cách khác nhau…
Qua gần 10 năm, sau khi ông đi tù cải tạo về tới trước khi đi Mỹ, tôi được hân hạnh quen biết ông chững chạc hơn, trong giao lưu chưa thật hết văn hoá cũ đã phải tiếp nhận văn hoá mới.
Đó là cái xã hội miền Nam sau 30 – 4 – 1975, ô dề một cách hầm bà lằng…
Sự thực lớp người như ông Khai Trí chẳng… sợ ai gọi là ở chế độ mới. Chưa kể những người từ rừng về mang cảm giác thua kém trước… rừng sách, hay ít nhất một người đủ góc độ nói về văn hoá, văn học, cho nên ông vẫn được số đông người họ Mác, họ Lê, họ Hồ kính nể.
Mặt khác ông vẫn có ý giúp quý văn nghệ sĩ cũ bị kẹt lại hay đi tù cải tạo ra gặp hoàn cảnh khó khăn.
Ngày thi sĩ trung tá Hoàng Ngọc Liên từ tù về, ông Khai Trí đã đeo vào ngón tay cho quan năm thất thế đó chiếc nhẫn một chỉ vàng 24 carat gọi là mừng bạn, chẳng lẽ nói để anh ăn bù thời gian đói khát tù đày vừa qua.
Buồn quá, mỗi lần một người quen mãn phần hay thất lộc thì bâng khuâng rồi, nhưng ông Khai Trí ra đi về cõi vĩnh hằng thì quả là giống như ai đang cầm cuốn sách hiếm quý bị người điên giật lấy rồi xé bỏ trước mặt họ…
CAO MỴ NHÂN
NHẠC – MÌNH ƠI! Phạm Phan Lang
KHÉP MỘT CỬA SỔ – Nữ Sĩ Thụy An & Nữ Sĩ Mộng Tuyết – Cao Mỵ Nhân
-

Nữ sĩ Mộng Tuyết

Buổi trưa hôm đó, khoảng mấy năm đầu thập niên 80 thế kỷ trước, nữ sĩ Mộng Tuyết nhắn tôi đến biệt thự Úc Viên tọa lạc cuối đường Nguyễn Minh Chiếu để ăn cơm với bà, nhân dịp có bà nữ sĩ tiền chiến ở ngoài Bắc mới vô.
Nữ sĩ tiền chiến quen biết nữ sĩ Mộng Tuyết thì nhiều lắm: Ngân Giang, Mai Đình, Anh Thơ, v.v…
Không chỉ nữ sĩ, các ông văn thi sĩ tiền chiến quen biết với ông bà từ trước 1954, đều liên tiếp từ ngoài Bắc vô thăm miền Nam cho tận mắt thấy sự văn minh, lớn mạnh ở phần đất Mỹ – Diệm, rồi Mỹ – Thiệu, tức VNCH này.
Tôi từ nhà ở khu nhà thờ Ba Chuông đi lên ngã tư đường Nguyễn Minh Chiếu và Phạm Văn Hai trước 12 giờ trưa để dự bữa trưa có việc đón bà nữ sĩ nào đó mà đại tỷ Mộng Tuyết dặn đừng trễ hẹn vì rất bổ ích cho tôi, nếu như muốn có dịp tổng hợp quý vị nữ sĩ tên tuổi đã hiện diện trong văn học sử Việt Nam. Tới Úc Viên, nữ sĩ Mộng Tuyết cười thú vị:
Biết ngay mà, cô em Bắc Kỳ thế nào cũng dzọt đến liền hà, đâu thử đoán coi ai sắp tới?
Tôi ngẫm nghĩ:
Các bà Anh Thơ, Mai Đình trong đội ngũ văn nghệ miền Bắc đã từng đến Úc viên nhiều lần. Nữ sĩ Ngân Giang không trong bộ máy bạo quyền, chuyên sáng tác thơ cổ điển, mình cũng gặp hai lần rồi. Hai bà Hằng Phương, Vân Đài chỉ gặp tên tuổi trên hình ảnh chứ cũng chưa hề đọc tác phẩm. Bà Mộng Sơn, Thuỵ An đã ở Hà Nội trước 1954, gọi là quý vị không di cư thủa ấy. Vậy là ai chứ.
Tôi bèn lắc đầu: Chịu, em chả biết, vì quý bà ấy thuộc hàng cô, dì với em, ai vậy đại tỷ?
Nữ sĩ Mộng Tuyết – Thất Tiểu Muội, một chỗ ngồi riêng trong các chiếu thơ Việt Nam từ thủa cuối thập niên 30 tới buổi đó năm 1983, là phu nhân thi sĩ giáo sư Hán học đại học Văn khoa Sài Gòn. Nhị vị Đông Hồ –Mộng Tuyết có cả một sự nghiệp văn chương ở Chiêu Anh Các, Hà Tiên, vân vân và vân vân.
Nữ sĩ Mộng Tuyết nghiêm mặt nhưng vẫn vui vẻ:
Phải biết chuyện này nghe cô em. Nữ sĩ Thuỵ An cũng bị trong vụ án Nhân Văn giai phẩm Hà Nội là người phụ nữ có lẽ duy nhất tự tay móc một con mắt, hỏi trên thế giới đã có ai vậy chưa?
Tôi nghe ù cả tai, sự thực mà nói ở cả hai chế độ Nam, Bắc Việt Nam, có lẽ chưa có phụ nữ thứ hai nào uất khí đến nỗi móc mắt mình ra để gọi là phản đối bạo quyền Cộng sản độc tài, tàn bạo.
Đúng lúc chuông reo, ngoài cổng đã có khách tới, nữ sĩ Mộng Tuyết ngó tôi cười: Nào, chúng ta ra đón nữ sĩ Thuỵ An.
Đi dọc theo hành lang, tôi thốt một câu vườn trưa nắng chiếu nhiều ghê lắm… Nữ sĩ Mộng Tuyết cười giòn giã:
Đúng là Cao Mỵ Nhân còn trẻ, hăm hở quá chớ: Đã nhiều còn lắm, nên ghê thật, chớ giỡn đâu.
Tôi đã kéo một bên cánh cửa, cửa Úc Viên rộng có thể chạy xe hơi ra vô được.
Nhân dáng một bậc nữ lưu trạc gần bảy chục tuổi thôi, được nữ sĩ Mộng Tuyết giới thiệu là nữ sĩ Thuỵ An, tên thật là Lưu Thị Yến (1916 – 1989), một nữ tù chính trị. Cộng sản Việt Nam đã kết án bà, bà đã tự chọc mù một mắt để phản đối chế độ vô nhân đạo đó.
Viết về nữ sĩ Thuỵ An thì… dài lắm, vì bà là một người phụ nữ hội đủ mọi lãnh vực văn học, xã hội, chính trị, kể cả mặt tình cảm riêng tư, nhưng tôi chỉ kể giai đoạn sau cuộc đổi đời khốn nạn 30 – 4 – 1975.
Nữ sĩ Thuỵ An mặc áo dài lụa tơ nội hoá, quần satin đen, mang đôi dép thấp, bới tóc gọn lên cao, nên chẳng khó khăn gì khi thấy trên dung nhan bà chỉ còn một con mắt thực sự, vì con mắt bà tự chọc thủng cho mù đã chỉ còn lớp da nhíu lại, trõm sâu.
Tuy nhiên, tôi cũng xin ghi nhận những dấu hiệu tàn tích của cái gọi là Cộng sản Việt Nam. Chúng đã bắt bà năm 1958, kêu án 1960, tới năm 1973 mới thả ra.
Nữ sĩ Thuỵ An vô Nam, thuê một căn nhà nhỏ ở trong hẻm ngay sau lưng biệt thự Úc Viên nên tôi có dịp ghé thăm bà đưa thư hay chuyển lời nhắn của nữ sĩ Mộng Tuyết thời gian sau buổi hạnh ngộ ấy.
Chúng tôi ăn bữa trưa trong nghẹn ngào nước mắt. Nữ sĩ Mộng Tuyết cứ ngừng lại như chính bà đang khổ tâm lắm. Tôi thì vừa xong chuyện tù cải tạo. Đặc biệt là nữ sĩ Thuỵ An không hề tỏ ra xúc động khi ôn lại cái quá trình mà bà bị khổ nhục trong suốt thời gian bà ở lại miền Bắc sau 20 – 7 – 1954.
Kể lại rồi bà lắc đầu, khinh thường bọn chính quyền ấu trĩ Hà Nội, thỉnh thoảng còn bật cười, thật là can đảm và nghị lực.
Bà không hỏi tôi đi tù ra sao, khi chính bà hiểu rằng tôi vẫn có vẻ tươi tắn, hồn nhiên, xem ra tôi mới ở dưới chế độ bà gọi là khốn nạn có 8 năm, bà phải ở tới 21 năm, mà hết 15 năm trong tù, dù bà đã tự hủy hoại một con mắt.
Hình ảnh nữ sĩ Thuỵ An thủa tôi được diện kiến bà lần đầu tiên ở Úc Viên tới sau này khi tôi được gặp nhà thơ ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện trong cuộc biểu tình thu nhỏ đi quanh Westminster Civic Center đầu năm 1996 thấy hao hao giống nhau.
Vì hình ảnh như đang ở cõi chết, sự khô héo, cằn cỗi và rất hận thù của những người bị tước bỏ hết cả nhân cách cuối cùng khiến không còn khả dĩ một đức tin tối thiểu ở đời nữa.
Chúng tôi lặng yên để nữ sĩ Thuỵ An có dịp trút hết nỗi bi thương, thù hận Cộng sản Việt Nam hay bọn cầm quyền ở Hà Nội ra…
Bà vẫn giữ tư thế lịch thiệp của người làm chính trị ngoại giao, còn là vị chủ báo tên tuổi tiền chiến với những sự kiện đáng nể như chủ nhiệm báo Đàn bà mới (Sài Gòn), Phụ nữ tân văn (Sài Gòn), Đàn bà (Hà Nội), từng làm giám đốc Việt tấn xã và phóng viên chiến trường, đủ biết có bao nhiêu… kẻ thù, cả trong và ngoài nghề nghiệp.
Nghe nữ sĩ Mộng Tuyết giới thiệu tôi ở trong quân đội VNCH, hay làm thơ, v.v. bà cười rất bao dung: Vậy em có biết gì về chị không?
Lại một câu hỏi như hôm trước nữ sĩ Ngân Giang cũng hỏi tôi vậy. Vì quý vị nghĩ là tôi ở thế hệ sau quý bà mấy chục năm. Tôi gật đầu, kể lại giai đoạn gia đình ba tôi còn chưa di cư vô Nam:
Thưa chị, khoảng thời gian 1954, các nhật báo Tia sáng, Giang sơn, Liên hiệp ở ngoài Bắc có đăng một tin thật lớn, chiếm luôn nửa trang nhất tờ báo luôn, có lẽ chỉ sau tin Điện Biên Phủ thất thủ, tin: Ai giết Đỗ Đình Đạo, Thuỵ An Hoàng Dân? Tin đó cho rằng chị là người liên hệ tới nội vụ, thậm chí có cả hình chị luôn.
Chị cười hiu hắt: Chứ ngoài ra em không tìm hiểu văn thơ chị à?
Tôi nhìn chị thật lâu, có lẽ nào mọi chuyện đơn giản thế, tôi trả lời vui vẻ: Có thưa chị, em đọc qua cuốn Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan, chị làm thơ và viết tiểu thuyết.
Có lẽ nữ sĩ Mộng Tuyết không thắc mắc lắm, vì trang lứa nữ sĩ Thuỵ An, nhưng tôi hơi tò mò:
Chắc chị bận rộn nhiều thứ việc quá nên đôi khi chưa có dịp nói ra những sự kiện chị đã và đang làm.
Nữ sĩ Thuỵ An gật đầu, vẻ xa vắng: Ồ, đã qua rồi. Cũng không quan trọng lắm. Thôi ăn đi chứ. Sao bà, nữ sĩ Mộng Tuyết, đãi tiệc mà cứ ngồi ngắm thôi à.
Người Bắc xưa cứ đi ăn cơm khách gọi là tiệc cho quan trọng, và ngắm là cứ nhìn hoài.
Sau đó thì chia tay, nữ sĩ Mộng Tuyết hơn nữ sĩ Thuỵ An độ vài tuổi, đã có sẵn quà tặng nữ sĩ Thuỵ An, nhưng quý vị niên trưởng lại từng khách khứa thời… phong lưu xưa nên nói tôi mang quà ấy và đưa nữ sĩ Thuỵ An về vì nhà nữ sĩ Thuỵ An đang ở rất gần nhà nữ sĩ Mộng Tuyết, như tôi trình bày trên.
Chuyện qua đi theo năm tháng…
Có đôi khi sự việc thật quan trọng đối với một nhân vật này nhưng lại không khiến thiên hạ lưu tâm nếu không phải bà con, họ hàng, tri âm, tri kỷ, v.v..
Còn đôi với tha nhân thì thật là khó nói, phải có một tình thương yêu ghê gớm, hay một tấm lòng tha thiết với xã hội cuộc đời, e mới thông cảm và thương cảm chân thành được.
Sau này qua Mỹ rồi, nhà văn Duy Lam gốc đảng phái… chuyên nghiệp mới vô tình nói về nữ sĩ Thuỵ An nhưng cũng trong giới hạn.
Tôi thầm tiếc là đã có dịp gặp gỡ nữ sĩ Thuỵ An mà không chịu thân hơn, để có dịp biết hơn về con người dũng cảm của bà, đồng thời bày tỏ nỗi bức bách tai nạn mà bà đã phải hy sinh một cửa sổ của tâm hồn như thế…
CAO MỴ NHÂN



