Chùm Thơ CAO MỴ NHÂN – VĂN: MÙA XUÂN BẤT TẬN

THƠ CAO MỴ NHÂN

MẦU HOANG THẦN THOẠI.      CAO MỴ NHÂN        

Em để lẫn thời gian hoà nước mắt

Từng giọt sầu lấp lánh rơi mê man

Anh như đại dương nổi sóng bạt ngàn 

Vừa mới đó mà tháng năm chồng chất 

*

Rồi thấy được tuổi thơ dần mất mát

Mới biết rằng biển mặn thoắt tan nồng

Lệ tình đầy như lũ chảy thành sông

Nhìn khổ luỵ mịt mùng trong mây nước

*

Con đò nát chở đầy hồn mơ ước 

Anh ngậm ngùi : ” thôi nhé mình xa nhau “

Không có gì phụ bạc xưa hay sau

Trời đất vẫn một mầu hoang thần thoại 

*

Giọt nước mắt mang thời gian tồn tại 

Đến bao giờ tan loãng hết thương yêu

Cho nhân gian không phải xót xa nhiều

Ôi bất tận, những phút giây huyền diệu 

*

             CAO MỴ NHÂN

ĐỒNG LOÃ .      CAO MỴ NHÂN 

Trước khi vào giấc ngủ

Anh có đọc thơ tình

Như một người đầu thú 

Tội yêu đương của mình

*

Khi vào giấc ngủ rồi 

Anh có thấy hồn vơi

Ảnh hình em trong đó

Vừa trốn anh rong chơi

*

Ngủ một đêm thảnh thơi

Sáng dậy như mất mát

Giấc mơ đẹp tuyệt vời 

Lời thơ và tiếng hát

*

Em là tên tội phạm 

Soi mói cuộc tình anh

Chẳng phải tình riêng anh 

Chúng ta cùng đồng loã

*

Nên, trước khi đi ngủ

Nhớ đọc lại thơ tình

Để tâm hồn bỏ ngỏ

Cho cuộc tình phiêu linh …

    CAO MỴ NHÂN 

THỦA NÀY.  –   CAO MỴ NHÂN

Tình chưa thật hết người yêu cũ

Sao đã cho lòng thổn thức ai

Sao đã bâng khuâng bao nỗi nhớ

Nửa khuya trằn trọc, vấn vương hoài

*

Kẻ đến, người đi, buồn điệp điệp

Ngọn sầu lay lắt, gió lưa thưa

Hoang liêu trùm kín hồn len lén

Chuyện đã pha phôi còn vẩn vơ

*

Ngàn năm sự nghiệp là hư ảo

Thành thử người yêu cũng chán mình

Tuổi chất đầy vai, tràn sống áo

Nghênh tân, tống cựu, nghĩ mà kinh

*

Giấc mộng hoang đường nay đã thực

Ngồi ôm kỷ niệm trong vòng tay

Mai sau ai sẽ hồi quyền chức

Cho một người chung thuỷ thủa này…

CAO MỴ NHÂN (HNPD)

                              17 – 8 – 2022

KHI TA GIÀ ĐI.    CAO MỴ NHÂN  

Khi ta đã già đi

Chẳng còn suy nghĩ gì

Làm theo lời quán tính

Không vướng bận điều chi

*

Khi ta đã già đi

Vui, buồn nhỏ tí ti

Chân trời xa tít tắp

Hình, bóng đứng từ ly

*

Mầu sắc mây huyền vi

Trên không gian mê si

Thuyền tình trôi hờ hững

Khi ta đã già đi

*

Có phải người vô tri

Vở kịch hài hay bi

Màn nhung đang kéo lại

Khi ta đã già đi…

       CAO MỴ NHÂN   

ĐIỀU GÌ LÚC TẬN THẾ.      CAO MỴ NHÂN 

Anh định nói với em

Điều gì lúc . ..tận thế 

Em sợ nhất trái tim 

Đang rò rỉ muốn bể 

*

Nhưng quả đất chai lì 

Như em nhiều mất mát

Đã không còn sợ gì 

Khi anh lên tiếng hát 

*

Tim sẽ cất nơi xa 

Dấu vào trong bóng tối 

Có thật anh xót xa

Nghe bước chân em vội 

*

Hình như bao mỏi mệt 

Đã chìm xuống đại dương

Trên đỉnh đời yêu mến 

Chỉ còn một nguồn thương

*

Chắc là em đùa rỡn 

Để quên cuộc tình buồn 

Ôi lửa tình quá lớn 

Đốt cháy cả hoàng hôn …

     CAO MỴ NHÂN 

ĐỪNG  CHỜ TẬN THẾ.       CAO MỴ NHÂN 

Phải yêu nhau đi thôi

Đừng chờ tận thế nữa 

Mặt trời đang tan vỡ 

Hàng tỷ mảnh vụn đen

*

Phải yêu nhau nhanh lên

Không còn thì giờ thở

Trái đất thôi êm đềm 

Đừng băn khoăn, bỡ ngỡ 

*

Mọi sự sẽ tan hoang

Đâu còn vẻ điêu tàn 

Để làm thơ thống khổ

Mà sợ chuyện dở dang

*

Tại sao anh ngần ngại 

Bởi vì còn nán đợi 

Một giây phút hồi sinh

Tất cả cùng tái thế…

*

   CAO MỴ NHÂN 

ĐIÊU TÀN.      CAO MỴ NHÂN

Em hiện thân của chiến tranh

Mắt, môi rực sáng, quách thành ngả nghiêng

Anh mang trọn nỗi ưu phiền

Từ khi lửa đạn đã nghiền ngẫm thân

–

Bây giờ tất cả phù vân

Đường anh đi cũng trăm năm nghĩa tình

Em không có được hoà bình

Trái tim tan nát đao binh lỡ làng

–

Em hiện thân của dở dang

Son phai, phấn lạt, điêu tàn núi sông

Làm sao anh hỡi bạn lòng

Bao phen bão nổi , mưa giông, gió cuồng

–

Một mình ôm khối tình suông

Quê hương biền biệt khói sương mơ hồ

Bây giờ anh cũng hư vô

Không gian vời vợi đắp mồ xuân xanh…

Hawthorne  21 – 7 – 2023

CAO MỴ NHÂN 

=

THÁNG NGÀY.      CAO MỴ NHÂN

Có lần anh nói với em

Rằng hãy quên đi tất cả

Tháng ngày sẽ được dài thêm

Cuộc đời vô cùng êm ả

–

Em hỏi :  ” Để làm gì anh

Cuộc đời dài thêm ngày tháng ? “

Nhưng em vẫn thấy xuân xanh

Tình càng mông mênh, say đắm

–

Em cũng nói với anh rằng

Vui gì tháng ngày trống vắng

Đời em sẽ mất thăng bằng

Tưởng như không còn sức sống

–

Và rồi ngày tháng trôi qua

Mấy mươi năm chưa kết thúc

Mùa xuân vĩnh viễn trong thơ

Có anh mặt trời mới mọc …

  CAO MỴ NHÂN

-=

TÌM MẶT TRỜI.     CAO MỴ NHÂN

Ngày không có mặt trời

Em tìm anh khắp chốn

Anh ở đâu khắp nơi

Hay là anh đi trốn

*

Ta trốn gì cuộc đời

Đã an bài lẽ sống

Dù không có mặt trời

Biển vẫn tràn dâng sóng

*

Đó là điều tuyệt vời

Anh muốn nói với em

Thật rõ ràng một lời

Chữ “ yêu  “ bừng sáng lên

*

Không gian đang tối đen

Làm sao có mặt trời

Anh lẫn vào bóng đêm

Đừng gọi bình minh đến …

Rancho Palos Verdes  4 – 1 – 2026

          CAO MỴ NHÂN

=

BOLSA MẤY NẺO XA GẦN.     CAO MỴ NHÂN

Con đường độc đạo Bolsa

Vừa dài, vừa rộng, vừa xa, vừa gần

Vừa đầy bạn lính, bạn văN

Vừa tân, vừa cổ, vừa cần, vừa dư

–

Thủ đô tị nạn bây chừ

Đầy người chân giả, thực hư, chính tà

Nơi nào cũng có bóng ta

Chỗ nào cũng thấy ba hoa chích choè

–

Bao nhiêu “chiến hữu ” ê hề

Bấy nhiêu ” chính khách ” bộn bề lưu vong

Bolsa đến ở, đi mong

Thủ đô tị nạn đã không lưu đầy

–

Bây giờ bạn với ai đây

Đầu hôm hỗn loạn, cuối ngày lao đao

Bầy chim vỡ tổ xôn xao

Cánh buồn khép lại, hồn chao dập dồn

–

Bình minh lẫn với hoàng hôn

Một màn bi kịch đang còn diễn ra

Bolsa tới hội, khó hoà

Làm sao dựng lại sơn hà cố hương …

  Rancho Palos Verdes  1 – 4 – 2023

            CAO MỴ NHÂN 

VĂN- MÙA XUÂN BẤT TẬN

MÙA XUÂN BẤT TẬN.      CAO MỴ NHÂN 

Thế là năm mới đã xong 10 cái mùng rồi ( từ mùng 1 tới mùng 10 Tết đó), mười một là chính thức ra giêng, tức tháng giêng , thêm cái rằm lớn đầu năm: thượng nguyên, hay nguyên tiêu, rồi thì là, thì là…

Rồi thì là sao, anh hỏi, cứ đem ba cái chấm ra để dứt một câu ngang phè …

Ngang phè thế nào được, một câu văn hoa che lấp những điều khó nói, những chuyện còn băn khoăn, nên nói thế nào cho khỏi mất lòng nhau. 

Hay chính là một câu dang dở, cả trong chữ viết lẫn ngoài ngôn ngữ . 

Thế anh có bao giờ viết hay nói như vậy không ? 

Tôi á hả? ” Thằng này ” là lính, nói là phải ngay ngắn từng câu , lính mà giấu giếm quanh co, thì làm sao chỉ huy, làm sao thi hành ?

Nè , định nói gì trong 3 cái chấm đó ? Hay ra giêng rồi thế nào? 

Chẳng thế nào cả, ý nói xong tháng giêng rồi là năm sẽ cũ lại như năm ngoái vv… 

Lại vv…3 chấm tiếp . 

Là thế này này, chúng ta đang bắt đầu một năm mới tinh khôi, nó, cái năm mới đó, nó sẽ chỉ còn 11 tháng, nhưng không nguyên vẹn đâu. Nó sẽ cũ thoạt thì còn lịch sự lai rai, sau nó cũ thiệt nhanh …

Nó cũ tới tháng chạp, là chu choa, mọi nhà lại chuẩn bị đưa ông Táo , đón ông bà từ khắp nơi âm phủ trở về . 

Nhưng quý ông bà đang tàng hình bên ta, chung quanh ta, nên ta chẳng thấy gì,  ta còn sợ ông bà soi thấu các sơ sót, lỗi lầm của ta nữa . 

Trở lại 10 mùng cơ bản của mùa tết nhất Việt Nam. 

Bản danh sách quý bậc trưởng thượng và quý thân hữu của tôi, e đã xén bớt 1/4 vì quá date Xuân , quý vị đương nhiên bước vô lâu đài cổ xứ thần tiên rồi. 

Tôi định lười biếng, lấy bút gạch một dấu X chéo trên cái ô ghi chép tên tuổi, địa chỉ, tel, email, fax nếu có …

Nhưng sau thấy mặt giấy ô dề quá, tôi ngồi chép lại ” danh sách ” thủa ban đầu,ta gặp nhau,rồi buổi cuối cùng ta đưa tiễn, đoàn tầu đã ngắn dần, ngắn dần …

Rứa tên tôi đang ở khoảng nào ? Anh hỏi . 

Tôi nhìn kính viễn vọng, thấy anh ngoan hiền quá, tại sao anh lại ngoan, lại hiền thế nhỉ ? 

Tôi nhớ ở hải ngoại này, có một chữ mà chỉ sau cuộc đổi đời 

Khốn nạn nhất, 30- 4 – 1975 mới thấy cộng đồng ta xử dụng, ấy là ” ngoan cường ” . 

Tôi hỏi anh rằng ngoan thì đi đôi với hiền , còn kiên mới đi đôi với cường. Vậy anh thích tôi chúc mừng năm mới anh ngoan hiền hay kiên cường ? 

Anh bảo ở bên Mỹ không cần chúc, vì chúc suốt mấy ngày  tết mệt quá, ta hãy yên lặng nhìn nhau …say đắm là đủ rồi . 

Chu choa, lạ hoắc lạ hươ mà say đắm gì cho tổn thương ngôn ngữ . 

Cả năm ngoái quen miệng cứ say đắm, đắm say cố sát, khiến có nên thân nên phận gì đâu. Năm nay phải thận trọng để vạn sự tốt lành, may mắn trong thơ, ngõ hầu gửi lại 

 cho đời những tập thơ tình đúng nghĩa tình thơ nhé. 

Chứ anh không biết là mình vừa bâng khuâng đình lại cuộc ra mắt tập thơ ” Tình Muộn ” vào giữa tháng 3 sắp tới,  chỉ vì mùa xuân lụp chụp quá. 

Nói tới thơ là phải phong, hoa, tuyết, nguyệt …trái với phương châm: ” thừa thắng xông lên, tái chiếm lãnh thổ “, cho dẫu tác giả cũng là lính nhé. 

Anh không tin hẳn điều mình vừa nói về cuốn thơ 

” Tình Muộn ” mình chưa đưa nó đi giới thiệu với làng xóm thơ ca, và khách mộ điệu…chỉ vì mình không thích tình anh đối với mình là một thứ tình muộn, mặc dầu nó muộn đến mấy chục năm . 

Trưa nay ngồi ăn cơm một mình ở cái view từ bếp ngó ra đường. Cứ mỗi muỗng cơm là một giọt nước mắt rơi…

Tại sao thế ? Vì ăn cơm một mình, vì nhớ nhung anh, hay vì không ra mắt tập thơ ” Tình Muộn ” đẹp tuyệt vời đó ?

Mình cảm thấy không tất cả 3 cái lý do trên, hay tổng hợp cả 3 cái lý do rất ” người ” đó , lồng trong khuôn sáo của trời đất, là chúng ta không thoát khỏi lẽ … vô thường . 

Lẽ vô thường hay vạn sự vạn điều đều ở trong quy ước của Thượng Đế, cuộc sống hữu hạn mà vạn vật không thể tách rời …

Chắc anh ngoan hiền của …mình cũng chỉ thở dài thôi, anh sẽ nói rằng: ” Hãy sống cho hôm nay thật trọn vẹn ” . 

Mình nhớ rất không quên một sự kiện, là ngày gặp anh, không phải tình cờ, mà giống như …bất định. Hoá cho nên cũng chẳng nhìn nhau, mà lại thấy …tất cả, sao mình chủ quan thế, anh chỉ cười duy nhất một lần, rất bình thường, khi anh quay lại đằng sau…

Chẳng lẽ anh cười chung với mọi người, mình cũng đứng ở phía sau, vừa nhớ lại giây phút đó, mình thoắt rơi nước mắt nữa . Ô lạ, nếu cứ duy trì ” thảm cảnh” này, mình sẽ trầm cảm nặng thôi. 

Tại sao anh ngoan hiền thế, như một người lính chất phác, mặc dầu anh không là người chất phác …Hình như anh không muốn làm lớn dậy  con người anh ở một khía cạnh khác . 

Thôi thì thôi, như một lời ca trong bài Thánh vịnh dành cho người cùng khổ, mà lời lẽ lại rất cao vời. 

Với Thượng Đế có nhiều mâu thuẫn trầm trọng mà tín hữu tin là hợp lý lắm . 

Mình cũng tin những mâu thuẫn đó họp lại thành bản tình ca không cần chứng minh hay giải thích, Thượng Đế cho ta sự mặc khải lạ lùng, mà thanh thoát làm sao. 

Rồi năm sẽ cũ đi, nhưng tình anh lại cứ mới hoài, khiến mình chạy theo không kịp …thở. 

Thì cứ nín lặng, vì tình đó từ thiên nhiên đem tới, tự bao giờ nó chứa đầy trong trái tim, những phế nang căng phồng dưỡng khí để dự trữ cho một lần thở dồn dập, rồi bặt đi giữa nụ cười …bất định, cũng sẽ bình thường lại, như khi hạnh ngộ anh, vô thường, đừng nói thêm, anh tiếp tục tịnh ngôn đối với mình, mùa xuân an lạc quá chứ. 

Ôi thiên nhiên bình yên, an vui …chúng ta sẽ lại gặp nhau trong những mùa xuân trước mặt, những mùa xuân được kết bằng ngàn vạn sắc hoa tươi thắm mà người khiếm thị  cũng nhận ra, đừng nói là đôi mắt còn sáng rỡ, linh diệu thế kia …

Hỡi anh thân kính, mùa xuân còn bất tận trong đời …               

CAO MỴ NHÂN  




KIỀU MỸ DUYÊN -VĂN: ƯỚC MƠ NĂM MỚI & CHƯƠNG TRÌNH CÁI NHÀ LÀ NHÀ CỦA TA.




GS/TS MAI THANH TRUYẾT -Đọc Thi Phẩm Lao Trung Lãnh Vận Của Cụ Trần Văn Hương




NHƯ NINH NGUYỄN HỒNG DŨNG- THĂNG HOA CUỘC ĐỜI.

THĂNG HOA CUỘC ĐỜI
Kỳ 140 Qua Sông Bỏ Bè

Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng

Trong pháp hội thù thắng tại thành Tỳ Da Ly nơi đức Thế Tôn cùng đại chúng Thanh văn, Bồ Tát quang lâm giảng bày pháp vi diệu thì bấy giờ Cư sĩ Duy Ma Cật thị hiện mang bệnh. Bệnh ấy không phải do nghiệp báo thông thường, mà là phương tiện thiện xảo nhằm khai thị Chánh pháp sâu xa cho hàng hữu học và vô học. Trước đó, khi Phật lần lượt sai các vị đại Thanh văn đến thăm bệnh, tất cả đều khéo bạch rằng mình không đủ năng lực, vì từng bị Cư sĩ Duy Ma Cật dùng trí tuệ Đại thừa phá tan những chấp trước vi tế nơi tự chứng và pháp tu.

Giờ đây, đức Phật chuyển sang yêu cầu các vị Bồ Tát là những bậc đã phát tâm rộng lớn, hành đạo lợi sinh đặng đến thăm bệnh cư sĩ. Tuy nhiên, điều kỳ diệu thay là từng vị Bồ Tát cũng lần lượt bạch Phật xin được từ chối, không phải vì thoái tâm hay bất kính mà vì tự nhận thấy trí tuệ và phương tiện của mình vẫn chưa thể sánh kịp với biện tài và thần lực bất khả tư nghì của Cư sĩ Duy Ma Cật.

Trước hết, Phật bảo Bồ Tát Di Lặc thay Ngài đến thăm bệnh. Di Lặc là vị Bồ Tát được thọ ký sẽ thành Phật trong tương lai liền bạch rằng mình không đủ năng lực; rồi ngài kể lại một nhân duyên sâu xa rằng, thuở ấy khi đang ở cung trời Đâu suất giảng pháp cho chư thiên về hạnh bất thối chuyển, Cư sĩ Duy Ma Cật bỗng hiện đến và nêu câu hỏi xoáy thẳng vào gốc rễ của mọi chấp trước về thời gian và chứng đắc.
Cư sĩ Duy Ma Cật hỏi rằng, sự thọ ký của Phật dành cho Di Lặc là nhắm vào đời nào? Nếu là quá khứ thì quá khứ đã diệt; nếu là vị lai thì chưa đến; nếu là hiện tại thì hiện tại không dừng trụ. Ngay nơi một sát na, sinh, già, diệt đã đồng thời hiện hữu; vậy thì lấy gì làm chỗ đứng cho sự thọ ký? Nếu nói vô sinh mà được thọ ký, thì trong vô sinh vốn không có kẻ được thọ ký, cũng không có pháp để chứng đắc. Xa hơn nữa, Cư sĩ Duy Ma Cật chỉ bày rằng Như tánh vốn không sinh không diệt, không hai không khác; đã là

Như thì hết thảy chúng sinh, hết thảy pháp, hết thảy Hiền Thánh đều đồng một thể. Nếu Di Lặc được thọ ký thì cũng đồng nghĩa với việc tất cả chúng sinh đều được thọ ký chăng?
Lời khai thị ấy không nhằm phủ nhận hạnh nguyện của Bồ Tát Di Lặc, mà để phá tan tận gốc ý niệm về một “người riêng biệt” chứng đắc chánh giác. Bồ đề không phải là quả vị để nắm bắt bằng thân hay tâm, mà chính là tịch diệt các tướng, lìa mọi phân biệt đối đãi bởi Bồ đề là bất nhị, bình đẳng như hư không, vô vi, vô thủ, vô xứ, vô tỷ; là trí liễu tri tâm hành của hết thảy chúng sinh mà không rơi vào hội hiệp hay phân ly. Khi Cư sĩ Duy Ma Cật giảng xong pháp này, hai trăm thiên tử chứng được vô sinh pháp nhẫn. Tự thấy mình chưa đủ thâm nhập cảnh giới ấy, Bồ Tát Di Lặc xin được miễn thăm bệnh.

Kế đó, Phật gọi Quang Nghiêm Đồng Tử thì vị này cũng bạch rằng mình không đủ năng lực. Quang Nghiêm kể lại lần gặp Cư sĩ Duy Ma Cật nơi cửa thành Tỳ Da Ly. Khi được hỏi từ đâu về, Cư sĩ Duy Ma Cật đáp: “Từ đạo tràng về.”

Nhưng khi được hỏi đạo tràng ở đâu, ông đã khai mở một chân lý làm rung động tận gốc mọi quan niệm hình thức: đạo tràng không phải là một nơi chốn vật lý, mà chính là toàn bộ đời sống tỉnh thức của Bồ Tát. Tâm chính trực là đạo tràng; tâm bồ đề là đạo tràng; bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ đều là đạo tràng. Từ, bi, hỷ, xả là đạo tràng; phiền não, chúng sinh, tất cả pháp cũng đều là đạo tràng, nếu được thấy bằng trí tuệ vô ngã và tính không. Ngay cả ba cõi sinh tử cũng là đạo tràng, vì Bồ Tát không còn chỗ để đi, cũng không còn nơi để trụ.

Từng bước chân của Bồ Tát, nếu tương ưng Ba la mật và lợi ích hữu tình thì đều từ đạo tràng mà đến, đều an trú trong Pháp Phật. Lời pháp ấy khiến năm trăm trời người phát tâm cầu giác ngộ vô thượng nên Quang Nghiêm con tự thấy mình chưa đạt được cái nhìn viên dung ấy nên con xin từ chối.
Tiếp theo, Phật bảo Trì Thế Bồ Tát đi thăm bệnh thì Trì Thế cũng bạch rằng mình không đủ năng lực, rồi thuật lại câu chuyện Ma Ba Tuần giả dạng Đế Thích mang theo mười hai ngàn thiên nữ đến cám dỗ. Khi Trì Thế còn đang phân biệt và khước từ theo giới luật hình tướng thì ngay lúc đó Cư sĩ Duy Ma Cật đã xuất hiện, chỉ rõ đó là ma, rồi dùng chính phương tiện nghịch thường để hàng phục ma và hóa độ các thiên nữ.

Cư sĩ Duy Ma Cật chẳng những không bị nhiễm trước bởi sắc dục, mà còn khiến các thiên nữ phát tâm Bồ đề, biết quay lưng với ngũ dục để tìm niềm vui nơi Chánh pháp. Cư sĩ ấy giảng cho họ thế nào là “vui trong Pháp” do vui vì tín Phật, văn Pháp, hộ Tăng; vui vì đoạn trừ tham dục, thấy rõ ngũ uẩn như kẻ thù, bốn đại như rắn độc; vui vì nhổ gốc phiền não, trang nghiêm Phật độ, thành tựu vô lượng công đức. Cao hơn nữa, Ngài còn dạy pháp môn “Vô tận đăng” tức ánh sáng giác ngộ của một Bồ Tát có thể mồi sáng vô lượng ngọn đèn khác mà không hề suy giảm. Thấy rõ trí tuệ và phương tiện ấy nên Trì Thế biết mình chưa thể sánh kịp nên con xin từ chối.

Sau đó, Phật gọi Thiện Đức, con trai một vị trưởng giả thì Thiện Đức cũng bạch rằng mình không đủ năng lực. Anh kể lại việc từng tổ chức một đại hội bố thí suốt bảy ngày để cúng dường khắp mọi tầng lớp. Nhưng Cư sĩ Duy Ma Cật đã đến và chỉ rõ rằng, đó chỉ là tài thí, chưa phải đại hội chân thật. Đại hội chân thật là Pháp thí, là trong một niệm mà khởi đầy đủ tâm Bồ đề, từ, bi, hỷ, xả; là hành lục Ba la mật, tứ nhiếp pháp, tam giải thoát môn; là lấy vô ngã, vô tướng, vô tác làm nền; là vì lợi ích chúng sinh mà khởi nghiệp trí và nghiệp tuệ.

Pháp thí ấy không phân trước sau, không chọn đối tượng, không cầu báo đáp. Người an trú nơi Pháp thí là đại thí chủ, là ruộng phước tối thượng của thế gian. Khi Cư sĩ Duy Ma Cật thị hiện đem vòng trân châu chia cho người hành khất nghèo nhất và cúng dường Như Lai thì tất cả đại chúng đều thấy rõ là bố thí với tâm bình đẳng, vô cầu, chính là đồng với công đức của Phật. Ngay cả người ăn xin thấp hèn nhất cũng phát tâm Bồ đề. Chứng kiến và nghe pháp như vậy nên Thiện Đức biết mình chưa đạt được chiều sâu ấy nên con xin từ chối.

Cuối cùng, tất cả các Bồ Tát đều lần lượt bạch Phật rằng họ không đủ năng lực đi thăm bệnh Cư sĩ Duy Ma Cật. Điều này không làm giảm uy đức của các Ngài, mà trái lại, làm hiển lộ trọn vẹn dụng ý sâu xa của phẩm kinh rằng, Cư sĩ Duy Ma Cật không đại diện cho một cá nhân vượt trội, mà là biểu tượng sống động của trí tuệ Bất Nhị và hạnh Bồ Tát nhập thế.

“Bệnh” của Cư sĩ Duy Ma Cật chính là tấm gương soi chiếu mọi chấp trước vi tế còn ẩn tàng nơi hàng tu học vì còn chấp thời gian, chấp chứng đắc, chấp đạo tràng, chấp bố thí, chấp thanh tịnh. Khi những chấp ấy được tháo gỡ, thì bệnh và thuốc đều không còn. Đó chính là tinh thần bất khả tư nghì của Đại thừa: lấy phương tiện làm cửa ngõ, lấy trí tuệ làm cứu cánh, và lấy đại bi làm nhịp cầu đưa tất cả chúng sinh cùng đi vào con đường giác ngộ viên mãn.
T

oàn bộ Kinh nêu bật vị trí siêu việt của trí tuệ Bồ tát đạo được thể hiện nơi cư sĩ Cư sĩ Duy Ma Cật hầu phá chấp hình tướng, địa vị và ngôn ngữ trên con đường giác ngộ. Khi Phật yêu cầu các vị Thanh văn đi thăm bệnh, họ đều từ chối vì từng bị Cư sĩ Duy Ma Cật chỉ ra rằng giải thoát không nằm ở hình thức tu tập, vai trò hay sở đắc cá nhân. Đến lượt các

Bồ Tát, tuy ở địa vị cao hơn, các ngài cũng lần lượt từ chối bởi chính họ đã từng bị Cư sĩ Duy Ma Cật khai thị pháp sâu xa vượt ngoài đối đãi, phân biệt. Quả vị Bồ đề không phải là một cái gì để chứng đắc, vì nếu còn thấy “ta chứng” thì chưa phải Bồ đề. Giác ngộ chân thật vốn là Bồ đề, sẵn đủ nơi tự tâm chứ không phải một đối tượng ở bên ngoài để tìm kiếm hay chiếm hữu. Khi còn khởi niệm “ta đang tu”, “ta đã chứng”, thì cái “ngã” vi tế vẫn còn hiện diện, mà nơi nào còn ngã thì nơi đó chưa thể là giác ngộ viên mãn. Bồ đề chỉ hiển lộ khi mọi chấp trước về người tu, pháp tu và quả chứng đều buông rơi; lúc ấy không có kẻ chứng đắc, cũng chẳng có pháp để được chứng mà chỉ còn trí tuệ sáng suốt tự nhiên hiện tiền.
Tất cả pháp đều là “Như” nên không có người được thọ ký riêng lẻ, không có chúng sinh nào thật sự sinh hay diệt bởi mọi hiện tượng đều đồng một tánh chân thật, không sai khác trong bản thể. Vì đã là Như nên không có pháp nào cao thấp để phân biệt, cũng không có một cá nhân riêng lẻ nào được thọ ký theo nghĩa tuyệt đối. Cái gọi là chúng sinh diệt hay sanh chỉ là hiện tướng do duyên tan duyên hợp như sóng nổi rồi lặng trên mặt nước. Bản tánh Như của các pháp thì chưa từng sinh, cũng chưa từng diệt, luôn lặng lẽ thường trụ.

Đạo tràng không ở một nơi chốn, mà chính là nơi tâm hành chánh trực, nơi mỗi hành động lợi tha đều là Phật sự, nó không bị giới hạn bởi chùa chiền hay không gian vật lý, mà được thiết lập ngay nơi tâm ngay thẳng, không tà vạy, không vụ lợi. Khi tâm hành chánh trực, mỗi lời nói, việc làm đều thuận với chánh pháp. Lúc ấy, đi đứng nằm ngồi đều là tu, tiếp người xử việc đều là hành đạo. Bất cứ hành động nào khởi từ lòng từ bi, trí tuệ và lợi ích cho người khác, thì hành động ấy chính là Phật sự. Đạo tràng vì thế hiện diện khắp nơi, theo từng bước chân của người tỉnh thức.

Pháp thí vượt trên tài thí vì chỉ khi khai mở trí tuệ và tâm Bồ đề cho người khác thì phước đức mới viên mãn. Pháp thí là đem chánh pháp, hiểu biết đúng đắn và con đường tỉnh thức chia sẻ cho người khác, giúp họ tự chuyển hóa khổ đau từ gốc rễ. Tài thí chỉ giải quyết nhu cầu trước mắt, còn Pháp thí khai mở trí tuệ, nuôi lớn tâm Bồ đề khiến người nhận có khả năng tự vượt thoát sinh tử và tiếp tục lợi ích cho nhiều người khác. Khi trao truyền ánh sáng hiểu biết, người cho không mất mà phước càng sâu dày. Vì vậy mà pháp thí được xem là vượt trên tài thí, đưa phước đức đến chỗ lâu dài và viên mãn.

Ma và Phật không ở ngoài tâm, nếu có trí tuệ và phương tiện thì ngay nơi cảnh ma cũng hóa độ chúng sinh bởi vì Ma và Phật không phải hai thực thể đối lập ở bên ngoài, mà đều phát sinh từ tâm con người. Khi tâm mê lầm, tham chấp thì cảnh hiện ra thành ma; khi tâm sáng suốt, từ bi thì ngay hoàn cảnh ấy liền hiện Phật đạo. Người có trí tuệ thấy rõ bản chất các pháp, lại có phương tiện thiện xảo, sẽ không sợ cảnh ma, mà dùng chính nghịch duyên để giáo hóa chúng sinh.

Vì vậy, không cần trốn tránh hay tiêu diệt, chỉ cần chuyển hóa tâm, thì nơi nào cũng có thể thành đạo tràng. Niềm vui chân thật là vui trong chánh pháp, không phải trong dục lạc hay phước báu hữu lậu. Niềm vui chân thật không lệ thuộc vào cảm giác khoái lạc hay phước báu đời sau, vì những thứ ấy đều vô thường và dễ dẫn đến tham chấp.

Vui trong Chánh pháp là niềm vui của sự hiểu biết, buông xả và an ổn nội tâm. Khi sống đúng chánh kiến, chánh niệm, chánh hạnh, tâm nhẹ nhàng, không bị lôi kéo bởi được mất hơn thua. Niềm vui ấy không làm người say đắm mà càng khiến trí tuệ sáng hơn, từ bi lớn hơn, và tự do hơn trước mọi biến động của cuộc đời. Việc tất cả Bồ Tát đều từ chối đi thăm bệnh Cư sĩ Duy Ma Cật không nhằm tôn vinh cá nhân cư sĩ mà để làm nổi bật tinh thần then chốt của kinh này rằng, trí tuệ giác ngộ không bị giới hạn bởi hình thức xuất gia hay tại gia. Cư sĩ Duy Ma Cật dùng bệnh làm pháp môn, dùng đời sống thế tục để hiển bày đạo lý sâu xa khiến hàng Bồ Tát nhận ra chỗ còn chấp pháp, chấp vai trò của mình; qua đó khẳng định rằng giác ngộ chân thật nằm ở trí tuệ và tâm vô ngã, không ở địa vị hay hình tướng.

Chân lý tối hậu, như phẩm kinh này khéo hiển bày, không phải là điều có thể đạt được bằng sự tích lũy tri thức, bằng công phu tu tập hình tướng hay bằng bất cứ danh xưng thánh thiện nào, bởi hễ còn thấy có cái để nắm bắt, có người để thành tựu, thì chân lý vẫn còn bị che mờ vì đối đãi. Chân lý chỉ hiển lộ khi tâm an trụ trong trí tuệ bất nhị nơi không còn phân chia phàm và thánh, bệnh và lành, sinh tử và Niết-bàn… và khi lòng đại bi vận hành một cách tự nhiên, không điều kiện, không cầu báo đáp.

Trong ánh sáng ấy, “bệnh” của Cư sĩ Duy Ma Cật không còn là một trạng thái thân xác, mà trở thành một pháp môn sống động. Ông mượn thân bệnh để làm tấm gương soi chiếu lại căn bệnh thầm kín của người tu vốn hay chấp vào pháp mình hành, chấp vào cái “ta” đang tu, và chấp vào quả chứng mà mình mong đạt. Chính những chấp thủ vi tế ấy mới là nguồn gốc khiến đạo chưa viên mãn, trí chưa rốt ráo, bi chưa trọn vẹn.

Khi trí tuệ soi thấu, người tu nhận ra rằng bệnh vốn không thật có, thuốc cũng chỉ là phương tiện. Pháp như ghe thuyền dùng để qua sông thì không nên đội trên đầu; đến bờ rồi, cả bệnh lẫn thuốc đều buông xuống thì lúc ấy, không còn người dạy, kẻ học; không còn người bệnh, kẻ thăm mà chỉ còn sự tỉnh thức lặng lẽ, viên dung, đang hiện hữu ngay giữa đời sống thường nhật. Đó chính là ý nghĩa rốt ráo mà kinh này muốn trao truyền rằng, sống đạo ngay trong đời, giác ngộ ngay trong vô thường, và giải thoát ngay khi mọi chấp trước đều tan biến.

Nguyện đem những lời này, hướng đến tất cả vạn loài, mong chúng sanh khắp vũ trụ đều an vui, giải thoát.

Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng
1-1-2026




SƯƠNG LAM – Có Những Niềm Vui Năm Mới




KIỀU MỸ DUYÊN – CÁI NHÀ LÀ NHÀ CỦA TA