KIỀU MỸ DUYÊN: VALENTINE, NGÀY CỦA TÌNH YÊU

VALENTINE, NGÀY CỦA TÌNH YÊU

KIỀU MỸ DUYÊN




VĂN: Một Quảng Đời Đã Qua – Nguyễn Phúc Vĩnh Đương

Một Quảng Đời Đã Qua

Nguyễn Phúc Vĩnh Đương

Sau khi đưa tờ giấy hẹn gặp Counselor cho người thư ký tại Văn phòng, tôi chọn một chỗ ngồi cuối dãy hành lang chờ đợi tên mình được gọi. Mấy hàng ghế đầu là một tốp sinh viên trẻ đang líu lo trò chuyện về việc chọn môn học cho mùa Fall này. Tôi nghĩ đến những môn mà tôi đã ghi danh để theo học không giống ai cả như lớp Máy lạnh xe hơi (Air Conditioning) lớp Chụp hình căn bản (Photo basic) lớp Pháp Văn căn bản (French 180). lớp ESL 1…Sở dĩ tôi chọn những môn học này đều không phải bỏ nhiều thì giờ để làm bài hoặc học bài, vì tôi phải còn đi làm để kiếm tiền nuôi gia đình nữa. Về môn tiếng Pháp thì tôi ghi cho có lớp, chứ trước kia tôi đã học chương trình Pháp và đã đậu bằng Trung học Pháp (Brevet) rồi. Dù cho học hết các lớp của môn này đối với tôi cũng không khó khăn gì. Còn môn Anh Văn thì tôi cũng đã từng đi dạy ở các Trung Tâm ở Sài gòn hơn mười mấy năm sau khi đi tù cải tạo về.

Tôi đang lo không biết ăn nói làm sao với Counselor  đây khi cô ta hỏi “Major” của tôi trong việc chọn lựa môn học cho mùa Fall này. Tôi ghi danh học không phải để tiến thân hoặc lấy cấp bằng mà mục đích duy nhất là lấy tiền trợ cấp (Financial Aid).

Đang suy nghĩ miên man thì bà thư ký gọi tên, và chỉ tôi vào cái phòng trước bàn giấy của bà ta. Tôi gõ cửa bước vào, hơi mát của phòng máy lạnh làm tôi cảm thấy thoải mái dễ chịu. Counselor của tôi, cho đến lúc này, tôi mới biết là người Việt, vì trong giấy hẹn gặp Counselor, tôi chỉ biết rằng hôm nay, giờ này, tôi phải có mặt tại trường để gặp Ms.Vanessa.

Tôi chưa kịp chào cô ta thì cô ta đã làm cho tôi thật ngỡ ngàng khi đứng lên nói :

“ Chào thầy ! Thầy còn nhớ em không?”

Tôi cố hết sức để nhớ lại, nhưng thật sự tôi không còn nhớ nỗi nữa, chỉ thấy quen quen…

Sau những năm tháng trong các trại cải tạo, sau những ngày cơ cực, vật lộn với cuộc sống đã làm cho trí nhớ của tôi cùn đi, không còn được như xưa nữa. Có thể cô ta là một học sinh của tôi trước đây, mà học sinh trước hay sau 1975. Trước 75 trong thời gian dạy tại trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam tại Đà lạt tôi cũng từng dạy nhiều trường tư như Trí Đức, Việt Anh, Văn Học, Quang Trung, còn sau khi đi tù cài tạo về, ngoài những trường công lập ở Sài gòn, tôi còn dạy cho các trung tâm Anh Văn của Hội Trí Thức Yêu Nước, của Trung Tâm Nghiên Cứu Dịch Thuật.

Học trò có thể nhớ thầy, nhưng thầy thì không thể nhớ hết học trò của mình trong suốt mấy chục năm đứng trên bục giảng với phấn trắng bảng đen.

Để đánh tan sư ngạc nhiên và bối rối của tôi, cô ta nói tiếp :

“Em là Vân Huyền học trò thầy ở lớp 12 trường Văn Học ở Đà lạt.”

Từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, tôi nghĩ rằng có thể nào cô học trò trước năm 75 đã một lần đi chơi với tổ hợp lâm sản và đã gặp tôi ở Nha Trang ngày nào, nay lại là Counselor của tôi ? Huyền đã khác xưa nhiều lắm, từ phong cách cho đến thể hình và cách ăn mặc, nên tôi không nhận ra, duy chỉ có đôi mắt đen, to và ươn ướt như hồi còn đi học.

-“Chắc thầy ngạc nhiên lắm khi gặp lại em ở đây. Chuyện còn dài em sẽ kể cho thầy nghe sau.”

Huyền nói tiếp :

-“Khi bà thư ký đưa giấy hẹn của thầy, em thấy tên thầy, em nghĩ không biết có phải  là thầy hay không, cái tên hai chữ của thầy làm thế nào em quên được, cho nên em đã đi ra để nhận diện mà thầy không hay biết. Đúng là thầy ! Thầy già đi nhiều, không còn phong độ và đẹp trai như ngày xưa nữa.”

Tôi mỉm cười :

– “Già rồi ! mấy chục năm rồi còn gì !”

Huyền nói :

– “Thôi, bây giờ thầy và em ra ngoài này nói chuyện.”

Huyền dẫn tôi ra khỏi phòng, đến ngay bàn bà thư ký, giới thiệu với bà ta, tôi là thầy cũ của Huyền ở Việt Nam. Bà ta bắt tay chào hỏi tôi một cách thân mật, rồi Huyền và bà ta trao đổi với nhau một vài câu gì đó mà tôi không nghe rõ. Huyền đưa tôi ra một tiệm McDonald’s phía bên kia đường. Vừa đi Huyền vừa hỏi về đời sống của tôi hiện tại :

-“Thầy qua đây đã lâu chưa ? Hiện giờ thầy làm gì ? Em biết thầy đi học chỉ để lấy tiền ‘Financial Aid’ mà thôi. Ai qua đây, mới đầu cũng vậy hết. Thầy dạy Anh Văn mà lại ghi học ESL1”

Tôi tình thiệt nói với Huyền là tôi đang làm Assembler cho một hãng điện tử, cái nghề tay chân, không cần bằng cấp và tay nghề, mà phần đông những người mới qua làm để kiếm tiền trong những ngày đầu định cư tại Mỹ, trong khi chờ kiếm được một công việc khá hơn. Lương tiền không đủ để trả tiền thuê apartment nên tôi phải ghi danh đi học vào những giờ nghỉ hay buổi tối để được tiền Financial Aid.

Vào đến tiệm, Huyền chọn một cái bàn trong góc, mời tôi ngồi rồi đi ngay đến quầy hàng…                                                                  

Những hoài niệm cũ ngày xưa phút chốc trở về…tràn ngập trong trí nhớ của tôi. Ngày đó, thời gian đó là những tháng năm nhàn nhã và đẹp nhất của tôi ở Đà lạt. Ngoài hai giờ dạy môn Luật và Kinh tế cho SVSQ trường VBQGVN mỗi ngày, thời gian còn lại chỉ đi uống cà phê, uống rượu, lang thang khu Hoà Bình. Đêm nào không ứng chiến hay trực  lại đánh bài, xoa mạt chược…có khi thức trắng hai đêm liền. Để bớt rong chơi và kiếm thêm thu nhập một số Sĩ Quan Giáo Sư đã xin phép để được đi dạy thêm ở các trường tư thục. Huyền lúc đó là học sinh của tôi ở lớp 12 trường Văn Học, một trường tư nổi tiếng ở Đà lạt. Tôi còn nhớ rất rõ Huyền ngồi ở bàn cuối lớp. Huyền có đôi mắt đen, to và ươn ướt, lúc nào cũng như muốn khóc, ít nói và trầm buồn… Huyền không đẹp lắm nhưng nhờ có mái tóc dài nên có nét quyến rũ liêu trai.

Hằng ngày tôi đi dạy bằng chiếc xe jeep cũ mà tôi đã mua từ Nha Trang, nhưng đến năm 72 khi Hiệp Định Paris được ký kết, quân Mỹ rút khỏi Việt Nam, vật giá bắt đầu gia tăng, nhất là nhiên liệu. Giá xăng lên vùn vụt, tôi không thể dùng xe đó để làm phương tiện di chuyển nữa. Khi một tổ hợp lâm sản có ý định thuê lại, tôi bằng lòng ngay. Hàng tháng họ trả tiền cho tôi sòng phẳng, ngoài ra họ thường rủ tôi đi ăn nhậu hoặc đi chơi xa trong những ngày cuối tuần hay những ngày nghỉ lễ.

Một buổi sáng Thứ Bảy, từ trường Võ Bị ra, tôi gặp Sơn, tổ trưởng tổ lâm sản, rủ tôi ra Nha Trang tắm biển, chiều Chủ Nhật về. Tôi nhận lời ngay, vì muốn thay đổi không khí và không muốn hai ngày nghỉ lại ngồi xoa mạt chược nữa.

Chiều hôm đó Sơn đến đón tôi tại khách sạn Thủy Tiên 2, cư xá giáo sư độc thân của trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam .

Chúng tôi đến Nha Trang sau 4 giờ lái xe. Sơn đã đặt sẵn phòng cho tôi ở khách sạn Grand Hotel nằm trên đường Trần Quí Cáp. 

Tối hôm đó Sơn đã đẩy Huyền vào phòng tôi. Vừa nhận ra tôi Huyền biến sắc tôi thấy ngay sự bối rối và tình huống khó xử của Huyền, lanh trí tôi trấn an Huyền trước :

-“Em cũng quen anh Sơn à ? Em ra đây lúc nào vậy ?” Huyền như vớ được phao, lí nhí trả lời :

-“Em ra đây với mấy người bạn của anh Sơn vào buổi sáng.”…

Suốt đêm hôm đó Huyền đã thành thật kể cho tôi nghe hết những gì xảy ra cho Huyền trong những năm qua. Huyền cho tôi biết cha của Huyền cũng là một Sĩ Quan, xuất thân từ trường Bộ Binh Thủ Đức và đã hy sinh trong một cuộc giao tranh ác liệt khi Huyền mới 10 tuổi. Từ đó Huyền được bà Nội đem về nuôi dưỡng, để cho mẹ rảnh tay đi buôn bán kiếm sống qua ngày. Bốn năm sau, bà nội mất và mẹ của Huyền cũng tái giá với một thương gia người Hoa giàu có, Huyền lại về sống với mẹ. Người dượng ghẻ là một tay thu mua gạo ở các tỉnh miền Tây, ông ta xin cho mẹ Huyền một môn bài bán gạo ở chợ Bình Tây trong Chợ Lớn. Ông ta thường đi đây, đi đó, ít khi về nhà.

Huyền kể: “Năm em 16 tuổi, một hôm mẹ phải đi nhận gạo ở tỉnh,  ông ta bất ngờ trở về nhà lúc nửa đêm và đã dùng vũ lực để cưỡng bức  em…Ấn tượng đó trong đời em không bao giờ có thể quên được. Em đã nói hết cho mẹ em nghe, mẹ em sợ tai tiếng nên không làm lớn chuyện, cắn răng chịu đựng, âm thầm đau khổ. Đến bây giờ em mới thấm thía khi nghe những lời người ta thường ru con ngủ:

Trời mưa bong bóng phập phồng

Mẹ đi lấy chồng con ở với ai

Con đói thì con ăn khoai

  Đừng ở với dượng điếc tai láng giềng…

Sau đó mẹ em gửi em lên Đà lạt ở với người dì, không chồng con, bán rau quả ở chợ để tiếp tục đi học lớp 10. Hàng tháng mẹ gửi tiền ăn học cho em. Nhưng một năm sau đó, trong một cuộc gây lộn kịch liệt với ông dượng quý hóa kia, và cũng vì bệnh cao áp huyết, thêm buồn phiền về chuyện của em, mẹ em đã bị tai biến mạch máu não rồi mất sau hai ngày hôn mê ở bệnh viện.

Mẹ em mất không để lại gì, từ đó Dì em chỉ lo đủ cho em cơm ngày hai bữa, tiền học thì tháng có tháng không, nhiều lúc em phải tự xoay xở lấy. Lúc đó em đang theo học lớp 11, em tự nhủ là phải lấy cho bằng được bằng Tú Tài để đi tìm việc nuôi thân. Em tỏ ra bất cần đời, buông xuôi mọi thứ. Thỉnh thoảng em đi chơi xa với nhóm anh Sơn mà thôi…”

Tôi cũng kể cho Huyền nghe về cuộc đời cơ cực, trôi nổi và tự lập của tôi từ nhỏ để an ủi và thông cảm với Huyền. Tôi khuyên Huyền cố học để thi cho đậu, nếu gặp khó khăn trong vấn đề học hành hay tài chánh thì cho tôi biết, tôi sẽ giúp Huyền trong khả năng của tôi.

                                            *****

Tuần lễ kế tiếp, vào lớp dạy, tôi không thấy Huyền đi học. Tôi muốn hỏi hai nữ sinh ngồi cạnh Huyền, nhưng ái ngại. Sau khi viết đề bài lên bảng cho học sinh làm, tôi mở sổ điểm danh và sổ điểm để xem Huyền không đi học giờ của tôi hay tất cả các môn khác nữa. Huyền đã nghỉ học 2 ngày rồi.

Chiều hôm đó, trong lúc lang thang trên khu phố Hòa Bình, tôi thấy Huyền từ dưới chợ đi lên. Gặp tôi quá bất ngờ Huyền không thể tránh được, miễn cưỡng gật đầu chào. Tôi nhìn thẳng mặt Huyền và hỏi ngay:

 -“Tại sao em nghỉ học ? chỉ còn 2 tháng nữa thôi em sẽ phải thi rồi, không thể bỏ ngang xương như vậy được. Trong mọi hoàn cảnh chứng tỏ khả năng. Hãy quên đi mọi chuyện, để nghĩ đến tương lai. Lời khuyên cuối cùng của tôi đó.”

Huyền không dám nhìn thẳng mặt tôi, cúi đầu nói :

-“Mấy hôm nay dì của em bệnh, em phải ở nhà để giúp cho dì, ngày mai em sẽ đi học lại. Cám ơn thầy đã khuyên bảo em.” rồi xin phép đi.

Tôi biết Huyền nói dối vì chiều hôm qua tôi và một người bạn ghé sạp của dì Huyền mua một bắp sú để về xào trứng cho buổi ăn tối. Nhưng thôi, tôi biết Huyền đang bị khủng hoảng tinh thần, và mặc cảm vì người biết rõ chuyện thầm kín của Huyền chính là tôi. Hôm sau Huyền đi học lại, vào lớp Huyền cũng như tôi không còn được tự nhiên như trước. Tôi tránh  nhìn Huyền và Huyền cũng vậy.

                                            *****

 Hai tuần sau kỳ thi Tú Tài, Huyền đã đến tìm tôi tại cư xá Thủy Tiên 2, báo cho tôi biết Huyền thi đậu và mời tôi đi ăn cơm tối. Thực sự tôi đã biết trước khi thầy Hiệu Trưởng lấy danh sách học sinh của trường thi đậu đem về, Huyền là một trong 3 học sinh của trường đậu hạng Bình thứ. Trường Văn Học có tỷ lệ đậu khá cao trong niên học này. Thầy Hiệu Trưởng có vẻ hài lòng, tỏ ra vui vẻ với giáo sư hơn các ngày thường.

Huyền và tôi đi bộ xuống Chic Shangai, một tiệm ăn khá thanh lịch, ngay dưới dốc cư xá, cạnh khu phố Hòa Bình. Trong bữa ăn, Huyền cho tôi biết ý định muốn về Sài gòn tìm việc làm, và nếu có phương tiện, thì sẽ học thêm Anh ngữ. Huyền còn nói nhiều về “Thủy Tiên 2” cư xá của những Sĩ Quan Giáo Sư Văn Hóa Vụ, đối diện Ký Túc Xá của nữ sinh viên Viện Đại Học Đà lạt. Tôi thật không ngờ Huyền biết tên của nhiều người bạn của tôi ở cùng khách sạn và cả tên ông bạn già của tôi nữa. Thường đã cùng tôi đi mua Lan mỗi buổi sáng do người thượng đem ra bán ở khu Hòa Bình). Không những Huyền biết tên mà còn biết cả biệt danh (nickname) của từng người nữa.

 Huyền nói :

 -“Em biết các bạn thường gọi thầy là ‘Râu hay Nhím’ có đúng không vậy? ” Tôi mỉm cười hỏi lại :

– “Sao em biết ?” Huyền không trả lời câu hỏi của tôi mà nói tiếp :

-“Em có con bạn nó mết thầy lắm, nó khen thầy đẹp trai. Nó thích nhất là khi thầy mặc bộ Jaspé, bộ quân phục dạo phố mùa Đông mà vào lớp dạy, những lúc đó trông thầy giống Robert Taylor trong phim La valse dans l’ombre (Điệu Vũ Trong Bóng Mờ). Hôm ấy trông Huyền vui vẻ và nói hơi nhiều…

Sau bữa cơm, trước khi từ giã Huyền, với những kinh nghiệm của riêng trong cuộc sống, tôi chân thành khuyên Huyền cố gắng quên đi những buồn phiền, những gì không tốt đẹp trong một quảng đời đã qua, để vươn lên. Tôi nói :

-“Không ai thương mình bằng chính mình. Trong mọi hoàn cảnh chứng tỏ khả năng. Cuộc đời là một chuỗi ngày tháng tìm kiếm hạnh phúc cho bản thân mình, trên con đường dài ấy có mấy ai chưa từng vấp ngã. Giá trị của con người không nằm trên sự vinh hiển thuận buồm xuôi gió, mà ở chỗ có vượt qua được những tai ương bất hạnh hay không. Nếu em muốn thành công , em sẽ thành công.” Huyền có vẻ bùi ngùi, trước khi về Huyền nắm chặt tay tôi. Rồi từ  đó tôi không gặp lại Huyền nữa.

Cuộc chiến càng ngày càng khốc liệt, quân Bắc Việt đã chiếm hầu hết các tỉnh miền Trung, và khi nghe Đà Nẵng thất thủ, tôi và nhiều SVSQ đã khóc. Vận nước nổi trôi, cái ngày đau thương nhất của Miền Nam Việt Nam đã đến -ngày 30 tháng 4 năm 1975- Tôi cùng với hàng trăm ngàn Quân, Cán, Chính khác đã khăn gói vào trại tập trung.

Sau hơn 3 năm trong các trại cải tạo Trảng Lớn, Đồng Bang, Kà Tum, Bùi Gia Mập, Phước Long, tôi đã được thả. Về địa phương trình diện, chính quyền không cho tôi tạm trú mà chỉ định cho tôi vào một nông trường tận mãi Cà Mau. Hằng ngày phải ngâm mình trong các mương rạch để đốn cây đước đem về cất nhà cho cán bộ. Tôi quyết định trốn về Sài gòn, trong thâm tâm tôi nghĩ rằng nếu có bị bắt lại, đưa vào trại cải tạo một lần nữa vẫn còn dễ thở hơn ở đây.

Về Sài gòn tôi không dám về nhà vì sợ liên lụy đến gia đình bên vợ, tôi lang thang đi xin việc làm tại một tổ hợp đóng thùng gỗ của một tư nhân trong Chợ Lớn cùng với một người bạn dạy Võ Bị vừa mới ra trại, và anh đã chết một năm sau đó. Ban đêm, với một tấm vải nhựa, có khi tôi ngủ tại nhà ga xe lửa ở đường Phạm Ngũ Lão (khi nhà ga chưa dời qua Bình Triệu), khi thì ngủ dưới mái hiên của những tiệm buôn dọc theo đường Lê Lợi, khi thì về tá túc nhà bạn thân (Khoa Nhân Văn) ở Phú Nhuận. Thỉnh thoảng tôi đến đưa mấy đứa con của một người bạn cùng Khoa Luật và Lãnh Đạo (đã chết vì đói trong trại cải tạo ở miền Bắc) đi sở thú. Tôi đã sống như vậy trong hơn hai năm trời…

Cho mãi đến khi Thành Ủy ra quyết định những người có văn bằng Đại Học được ở lại thành phố, tôi ra trình diện và được chấp thuận cho tạm trú, sau hơn một giờ xét hỏi văn bằng, giấy tờ, hạch hỏi và đe dọa. Mấy ngày sau tôi ghi danh vào Hội “Trí Thức Yêu Nước” mà chúng tôi thường đùa khi thêm một chữ Ngoài sau chữ Nước, vì chính giáo sư Hội Trưởng Lê Văn Thới cũng đã vượt biên mà không lọt.

Tôi được cho theo học một lớp “Bồi Dưỡng Trí Thức” để được đi dạy lại.

Trong thời gian này tôi vừa đi học vừa đi bán rượu lậu để sinh sống. Ngày nào cũng vậy, tôi đi học với hai thùng rượu nếp than 40 lít sau xe đạp, học xong là “tranh thủ” đi bỏ mối ngay. Để được ra cổng bất cứ lúc nào tôi cũng phải “hối lộ” cho bảo vệ mỗi tuần một lít.

Chỉ còn 2 tháng nữa thì mãn khóa học, một người bạn của tôi cũng là giáo sư Văn Hóa Vụ vừa được ra trại đến thăm và rủ tôi vượt biên bằng đường bộ khi nghe người bạn cùng khoá  với tôi là anh TĐH làm trưởng khoa Thể Chất của trường đi trót lọt. Không may tôi bị bắt và bị giam tại Campuchia. Hai tháng sau được đưa về khám Chí Hòa, tôi đã nghĩ tình trạng xấu nhất sẽ đến với tôi nên yên chí với số phận hẩm hiu của mình.

Trong khi đó, ở lớp học bồi dưỡng, một người bạn thân cùng học không những điểm danh‘có mặt’cho tôi hàng ngày,mà còn làm bài thi cuối khóa cho tôi nữa! (Tôi thành thật biết ơn bạn Trần Đình Ph, một Sĩ Quan Không Quân hiện cư ngụ tại San José, vì tình bạn đã làm công việc táo bạo này. (A friend in need is a friend indeed)

Tôi được bố trí dạy Anh Văn cho một trường Trung Học tại Quận 1, trong khi tôi còn đang nằm trong tù. May mắn thay, sáu tháng sau tôi được thả ra, có lẽ nhờ khai man lý lịch…

Cầm quyết định bổ nhiệm của Sở Giáo Dục, tôi đến trình diện trường để nhận nhiệm sở. Nhờ có 3 tháng nghỉ Hè nên tôi chỉ trễ một tháng. Tôi lấy lý do bị bệnh thương hàn phải nằm bệnh viện, để chứng minh tôi lấy mũ ra cho ông Hiệu Trưởng thấy cái đầu vừa mới mọc tóc của tôi (thật sự tôi đã bị cạo trọc khi ngồi tù)

Trong thời gian dạy ở trường công, lương giáo viên không đủ sống, tôi đầu quân vào Trung Tâm Nghiên Cứu Dịch Thuật và Hội Trí Thức Yêu Nước để dạy các lớp luyện dịch ở Hội, trường Cao Đẳng Sư Phạm. Nói về khả năng Anh ngữ, tôi không thể so sánh được với các anh trong Khoa Anh Văn của TVBQGVN như anh NVS, TVT, và các giáo sư khác, nhưng các lớp luyện dịch của tôi học viên rất đông. Sở dĩ được như vậy vì học viên của tôi đậu khá nhiều trong các kỳ thi tuyển vào Đại Học, nhờ tôi đã dùng giáo trình của Bộ Giáo Dục Xã Hội Chủ Nghĩa.

Tôi đã giúp học viên dịch thật nhiều đề tài thời sự nóng bỏng, liên quan đến chính trị, kinh tế, các bài diễn văn, lời phát biểu của các Tổng Bí Thư. của ‘Bác Hồ’ đúng vào trọng điểm lúc bấy giờ, với lối dịch và dùng từ khá đặc biệt của nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa. Như muốn dịch “Đảng Cộng Sản Việt Nam” thay vì “The Vietnamese Communist Party” thì phải dịch “The Communist Party of Viet Nam”. Theo họ nước ta là một nước lớn, không được dùng tên nước làm tỉnh tự (adjective). Như câu “Việt Nam là một nước nhỏ nằm bên bờ Thái Bình Dương” thì chữ NHỎ phải dịch “đất không rộng, người không đông” chứ không được dùng chữ NHỎ.

Một hôm, trong lớp luyện dịch 6 của tôi, khi học về “possessive case” dùng với “reciprocal pronouns” tôi đã viết một câu : “Những hoàn cảnh khắc nghiệt đã xô đẩy tôi vào tay người này đến tay người khác” lên bảng cho cả lớp dịch. Khi học viên đang chăm chú dịch, nhìn xuống lớp, tôi bắt gặp một đôi mắt nhìn tôi có vẻ trách móc, tôi nhận ra ngay chính là Huyền. Tôi đâu có ngờ gặp lại Huyền trong lớp của tôi 10 năm sau. Câu tôi cho học viên dịch không nhằm ám chỉ ai cả, và nếu biết có Huyền trong lớp thì tôi không bao giờ cho dịch một câu như vậy. Giờ giải lao, Huyền đến chào tôi nói chuyện, tôi xin lỗi Huyền vô tình đã khơi lại một quảng đời đã qua. Huyền cho tôi biết đã lấy chồng và đang làm việc cho một xí nghiệp nhà nước.

Chồng của Huyền là con của một thương gia giàu có trước kia. Gia đình chồng phần đông đều ở Mỹ. Vợ chồng Huyền đang chờ đi theo diện bảo lãnh, trong thời gian chờ đợi cả hai vợ chồng đi học thêm Anh Văn. Huyền đang theo học một lớp đàm thoại và một lớp luyện dịch tại đây. Đó là lần thứ hai tôi gặp lại Huyền và mãi cho đến ngày tôi được qua Mỹ theo diện HO gặp lại Huyền trong một bối cảnh khác. Huyền nay là Counselor của tôi…Ngày xưa Huyền được đẩy vào phòng tôi tại khách sạn, hôm nay tôi lại phải trình diện Huyền tại một văn phòng cố vấn của một trường Đại Học Mỹ. Tôi nhớ đến mấy câu trong bài thơ “Nghe Em Vào Đại Học”của Giang Nam :

Ngày xưa anh dạy em học chữ

Bây giờ anh về, em lại dạy chữ cho anh

Không phải bằng than đen vẽ gạch thềm đình

Không phải phập phồng giữa vòng đai giặc                                          

Trở lại bàn với hai khay thức ăn, Huyền nói :

-“Em order trứng và chả lụa cho thầy, nhưng tiệm Mỹ không có chả nên thế bằng bacon, thầy dùng tạm vậy. Em biết thầy hay ăn món này vì hồi ở Đà lạt, em biết đêm nào đánh bài ăn là sáng hôm sau thầy và các bạn thường ra quán chị Sáu, ở dưới bến xe uống cà phê và ăn món này.”

Tôi không hiểu sao mà Huyền biết được những chuyện như vậy. Trong buổi ăn sáng, Huyền nhắc lại những kỷ niệm ngày xưa ở Đà lạt, thành phố đối với Huyền có rất nhiều sầu, nhiều luyến thương, thành phố với buổi sáng, buổi chiều mây bay sương phủ. Huyền cho biết một tháng sau khi gặp lại tôi trong lớp luyện dịch, hai vợ chồng Huyền đã nhận được giấy đi Mỹ. Vì gia đình chồng tương đối khá nên cả hai đã được đi học lại. Huyền đã lấy văn bằng Master về Counseling, còn chồng là một kỹ sư điện tử, đang làm cho một hãng computer. Vợ chồng đã có hai con, một trai một gái.

Huyền nói :

-“Em luôn nhớ lời khuyên và sự khích lệ của thầy để thực hiện những gì em muốn. Sự quả cảm đã giúp em ngẩng đầu cao để đối diện khó khăn và bất hạnh.”

Huyền rút trong ví ra một danh thiếp đưa cho tôi và nói tiếp :

-“Đây là địa chỉ của em, khi nào rảnh mời thầy đến nhà cho biết, thầy cho em số phone của thầy luôn. Em sẽ tìm cho thầy một việc thích hợp với khả năng của thầy hơn”

Ăn xong Huyền đưa tôi đến bãi đậu xe của nhà trường, trước khi tôi vào xe, Huyền còn nhắc lại lời bài hát “Tạ Ơn Đời” của Phạm Duy : “…biết bao nhiêu lần gian dối, biết bao eo sèo nhân thế, đời vẫn ban cho ngọt bùi, thầy ạ !”

Tôi phụ theo :

-“Em nói đúng, nhưng điều đáng khâm phục nhất của đời người là biết vươn lên sau khi ngã”

Huyền mỉm cười, nhìn tôi, cảm thông và đồng tình với ý tưởng tôi vừa nói.

Một tuần sau Huyền gọi điện thoại hẹn tôi đến trường để đi xin việc với Huyền. Huyền đã xin được cho tôi làm “Teacher Aid” tại một trường Juvenile High School, trường quản chế những thanh thiếu niên phạm pháp (từ 12 đến 18 tuổi) của Tòa Án trên đường Yale ở thành phố Santa Ana.

Tôi đến để bà Hiệu Trưởng interview, lương $10.75 một giờ (gấp 2 lần lương của tôi lúc bấy giờ) và đầy đủ benefit. Sau hơn 30 phút khảo sát, bà Hiệu Trưởng nhận tôi ngay, nhất là khi bà ta biết tôi trước đây đã dạy lính ( SVSQ/TVBQGVN)  Tôi cám ơn Huyền về sự quan tâm tìm việc cho tôi.

Ngay tuần sau đó tôi nhận lớp, thành thật mà nói tôi đã dạy một trường có kỷ cương như trường VBQGVN nay phải đứng trước một lũ học trò “đầu trộm, đuôi cướp” thì tôi không chịu nổi, nên sau khi lãnh cái paycheck đầu tiên cũng là lúc tôi đưa đơn xin nghỉ việc.

Một quảng đời đã đi qua, thành công hay thất bại đều do chính mình. Huyền cũng như tôi đều lấy câu của Dale Carnegie làm châm ngôn cho cuộc sống “Believe that you will succeed and you will”.

Nguyễn Phúc Vĩnh Đương (K.17)                            

(Cali mùa của Trời gửi tình cho Đất)




CA KHÚC ÁO TRẮNG SÀI GÒN – THƠ Nhật Thụy Vi – NHẠC Lê Ngọc Châu




SEN NGƯỜI SEN TA – GS TS MAI THANH TRUYẾT




CAO MỴ NHÂN – ĐOẠN ĐƯỜNG MÒN

ĐOẠN ĐƯỜNG MÒN.    CAO MỴ NHÂN     

Cuộc sống phải thế nào mới có ý nghĩa ? Buổi đó tôi đi bộ một mình trên bờ sông Rạch Bắp, đoạn đường ngắn độ 1 Km thôi …chạy ngang yếu khu tam giác sắt , mà quý quan với quân lên đường, đều đã tới tham chiến, hành quân , hay nghe đồn thủa binh đao trước 30 – 4 – 1975. 

Tôi phải dừng lại ở chỗ đợi đò, mà quen miệng dân quanh đó gọi là ” Bến đò “, để chờ đò ngang chở qua bên kia sông, vô địa phận Quận Củ Chi. 

Cái đoạn đường 1 Km  đó, trong 2 năm trời tôi thường tới lui thật vắng vẻ, nếu nói đúng ra là hoang vu dễ sợ . 

Một bên là sông có viền cỏ dại, cao tới gần đầu người , một bên là cây rừng nhiệt đới, tức cây cối tự mọc lên vô tổ chức, chằng chịt vào nhau.

Lối mòn từ khá lâu năm, mới biến thành lối đi trơn bóng đất đỏ mầu hổ phách, không một sợi cỏ chằng qua …

Đó là đường trong,sát bờ sông …

Còn đường ngoài chạy song song với nó, đường trong, mặt trải nhựa cũng từ lâu rồi, nên lỗ chỗ ổ gà . Đường ngoài này có xe hơi cọc cạch, chỉ bộ máy bằng sắt thép, còn toàn bộ thùng xe bằng gỗ .  

Xe chạy từ Bình Dương lên Rạch Bắp, một chuyến duy nhất trong ngày, nên ai có việc, hay không việc, hoặc rảnh việc, đều có thể chọn con đường nhỏ này tới bến qua sông …

Đoạn đường 1 cây số ấy, không gây cho bất cứ ai sự lo lắng, nỗi phiền buồn gì …

Ngoài những con cuốn chiếu rừng, mầu đen nhẫy , có độ dài khoảng 20 phân tây, chúng đủng đỉnh bò từ bìa rừng bên này…băng qua  lối mòn, tới mép sông bên kia …thì không còn sinh vật nào khác nữa …

Thoạt đầu tôi sợ rắn rít lắm, kế tới sợ người ta, biết đâu mà lần, bất trắc là lẽ dĩ nhiên …

Nhưng sau chả thấy gì, chỉ có cái bóng mình in trên lối mòn đó, bâng khuâng, bơ vơ chi lạ …

Một cây  bằng lăng trổ hoa mầu tím, sao tôi thấy lúc nào cũng như có hoa trên vòm lá thấp đó .

Đứng bên thân cây bằng lăng nhiều lần để đợi đò, tôi vẫn chưa trả lời được thế nào cuộc đời mới có ý nghĩa cho riêng mỗi con người . 

Cũng chẳng tự hỏi mình là: Sẽ ở nơi buồn bã đó tới bao lâu mới rời hẳn đi …

Đoạn đường 1 Km ngây ngô, vô tư hay đã thực sự vô cảm với người đời …Nó, đoạn đường đau khổ, tuyệt vọng vì ai, vì đâu . 

Nó thực sự vô tư, vô cảm trước hành trình tôi sắp bỏ về xa …tôi phải về sống dưới mái nhà ấm áp của tôi, chứ sao lại ở mãi trong ngôi nhà trên lưng chừng đồi với 7 người của 7 gia đình khác nhau, họ có là 7 chú lùn đâu mà tôi trở thành cô Bạch Tuyết .

Buổi đó là ngày cuối cùng tôi thấp thoáng trên đoạn đường 1Km, lối mòn kỷ niệm rồi …

Đứng ở Bến đò một lúc, ngó lại vạt đồi chênh vênh như cuộc đời của mình …mấy mái tranh buồn nhớ …người, đúng là một phần tâm trạng bài ” Quê Nghèo ” của Phạm Duy 

Tôi đã thực sự sống như vậy 2 năm ở nông trường Tây Nam, Rạch Bắp, để trồng cây xuất khẩu ”  Hạt Điều ” do chỉ định hậu cải tạo, không phải là nằm mơ…

Nếu có nằm mơ cũng chỉ là giấc mơ bình thường của những người nghèo khổ, bất lực, bế tắc bởi nỗi khó khăn của xã hội gọi là ” Xã hội Chủ nghĩa.” 

Chiếc đò nhỏ tức xuồng ba lá cập Bến, bà lái đò cất giọng nói lớn vì nghĩ chỗ trống vắng loãng khí  trời, tôi không nghe được chăng …

Tôi lầm lũi xuống chỗ đất lài, rồi lên đò …

Lại cũng chỉ có mình tôi qua đò …như trước đó mình tôi đi bộ trên lối mòn đoạn đường 1 Km . 

Bà lái đò hỏi thăm: ”  sao hôm nay cô đi một chắc dzậy , mấy người kia đâu rồi  ? ” .

Tôi ngó mặt sông, nước đang dâng đầy, sóng gợn thầm thì như tiếng thở dài xót xa…

…Ồ , mấy người kia mắc công việc nông trường, tôi về thành phố để mua thức ăn cho họ. 

Bà đò hỏi tiếp : chiều hay mai lên ? 

Tôi định trả lời không bao giờ lên nữa, nhưng sợ bà đò hỏi tiếp, tôi nói : ” chưa biết ” . 

Quả là tôi không lên Rạch Bắp nữa, cho tới bây giờ lại càng xem như chuyện dở hơi nếu tôi trở lại đoạn đường mòn 1 Km ấy . 

Có lẽ ở trên đời , còn rất nhiều đoạn đường mòn, ngắn hay dài tuỳ theo nơi cư trú của mình, nhớ hay quên tuỳ theo nỗi buồn vui của mình…

Kể cả những con người dẫu có ở cạnh nhau, hay suốt kiếp chưa hề biết mặt nhau …vẫn phải chấp nhận sự chia tay vĩnh  viễn …vì thời gian tưởng là dài thê thiết , có đâu ngờ chớp mắt đã trăm năm …

Qua sông rồi, là mênh mông bãi hố bom xếp lên nhau chồng chất, năm đó 1980, năm năm chưa đủ san bằng một nghịch cảnh bi thương của lịch sử …

Đi qua cánh đồng hố bom này, còn đầy bất trắc, nguy hiểm hơn đoạn đường mòn 1 Km trên bờ sông vừa mới đi qua …

Bởi vì, bom rơi, đạn bắn … từ hồi đó, lúc chiến tranh, chưa kịp nổ, hoặc giả nó không nổ nổi tại sao đó, ai đâu mà hỏi, ngoại trừ quý ông làm ra nó, xử dụng nó, bom đạn không đủ độ sát thế nhân chẳng hạn . 

Bao nhiêu mộng mơ biến sạch, chỉ còn sự chết nếu sơ ý, hay tới hồi sui tận mạng, một ngòi nổ nào tự tháo gỡ , nổ tung lên …thế là xong, là hết …

Tôi không dám để cho tim thổn thức vì ai , vì đâu, những cánh chim bay soải cánh  mịt mù sông nước …

Mà , mắt phải dán chặt vào con đường gập ghềnh trước mặt để kịp thời tránh né hiểm nguy…dù vẫn biết chiến tranh là vậy, tất cả đều bình thường, chỉ có một điều bất thường, không thường …đó là sự xếp đặt của Thượng Đế mà loài người phải biết …để cầu nguyện thôi…

       CAO MỴ NHÂN 




NỮ-SĨ VI KHUÊ – Lê Xuân Nhuận

NỮ-SĨ VI KHUÊ

TRỤ-SỞ Ðài Phát-Thanh Huế tọa-lạc ngay trên bờ Hữu-Ngạn của Sông Hương, cạnh mé Tây của đầu Cầu Trường-Tiền, đối-diện Đại-Khách-Sạn Morin bên kia Đường Lê-Lợi sát góc Đường Duy-Tân.

Thuở ấy, chưa có các Ðài cấp Tỉnh, Ðài Huế là Tiếng Nói chung của cả Miền Trung, nên máy phát rất mạnh (không thua Ðài Quốc-Gia và Ðài Pháp-Á [Radio France-Asie] của Pháp ở Sài-Gòn), nghe được cả ở Miền Bắc lẫn Miền Nam Việt-Nam.

Cả nước chưa có hệ-thống truyền-hình; cả Miền Trung chỉ có vài ba tờ nhật-báo ở Huế mà thời-sự thì dựa theo tin-tức-đọc-chậm của Ðài Sài-Gòn. Trong tình-hình đó, Ðài Huế là món ăn tinh-thần hằng ngày của đồng-bào Miền Trung, và của cả những người ở phiá Ngozi Tỉnh Thanh-Hoá và ở phiá trong Tỉnh Bình-Thuận mà có gốc-gác hoặc liên-hệ đời sống ở Miền Trung.

Ngoài những tiếng hát của các nam+nữ ca-sĩ mà một số về sau vào Sài-Gòn thì trở thành danh-ca của toàn-dân, giọng bình và ngâm thơ của các thi+kịch-sĩ tên-tuổi một thời, tiếng hát của các danh-ca quốc-tế trong các chương-trình nhạc ngoại-quốc do thính-giả yêu-cầu, và giọng đọc xì-xồ của mấy người Pháp trong chương-trình vô-tuyến của Service d’Information, những ai đã từng nghe Ðài Huế cũng đều xác-nhận rằng người nữ-xướng-ngôn chính của Ðài này có một giọng đọc truyền-cảm vô-cùng. Giọng đọc của người con gái Huế ấy chẳng những dịu-dàng, ngọt-ngào, ấm-cúng, hấp-dẫn, mà còn trí-thức (vì không bao giờ vấp phạm lỗi-lầm khiến thính-giả khó chịu hoặc làm sai lạc ý-nghiã của câu văn).

Những người hiếu-kỳ đi ngang qua Ðài Huế thường để ý thấy có một thiếu-nữ be-bé xinh-xinh, cư-ngụ trong một căn phòng khiêm-tốn ở tầng trên của một buồng-kho bên hông trụ-sở Ðài. Một cầu thang nhiều bậc xi-măng từ mặt đất bắc lên cửa phòng làm cho căn phòng có vẻ cao hơn, khiến các thanh-niên ái-mộ đặt cho người-đẹp và căn phòng ấy cái mỹ-danh “nàng bồ-câu trên chuồng bồ-câu”.  

Ðó chính là cô xướng-ngôn nói trên.

Sau ngày hồi-cư vào đầu năm 1947, tôi thường đến Ðài Huế để góp phần vào các chương-trình kịch vô-tuyến hằng tuần, kể cả việc trình-bày một số kịch thơ dã-sử và xã-hội của tôi, trong đó nhạc-sĩ Trịnh Văn Ngân là một trong những cây ngâm tuyệt-vời.

Do đó, tôi quen biết “nàng bồ-câu trên chuồng bồ-câu”. Tên nàng là Trần Trinh Thuận, tức nữ-sĩ Vi Khuê, một biên-tập-viên chính-ngạch có giọng-nói-trời-cho nên kiêm luôn phần-vụ xướng-ngôn.

Tuy Vi-Khuê làm việc ở một cơ-quan thông-tin tuyên-truyền đậm màu chính-trị, nhưng những bài thơ của nàng hồi đó chỉ là tâm-tình của bạn gái ở lứa tuổi hai mươi, dễ thương như “con nai vàng ngơ-ngác, đạp trên lá vàng khô”.

*

Tôi thì lăn xả vào giữa tình-hình rối-ren cuả Quê Hương.

Dù đã từng bị giặc Pháp tù đày, tôi vẫn giao-du tuy không đồng-ý với Hồng Quang, chủ-nhiệm báo “Ý Dân”, là người chỉ chọn vũ-lực để chống chủ-nghiã thực-dân; và vẫn cộng-tác tuy không thuận-tình với Phạm Bá Nguyên, chủ-nhiệm báo “Công Lý,” là kẻ nhận Ðệ-Tứ thay cho Ðệ-Tam. Tôi lui+tới với Duy Sinh nhưng chưa yên tâm vì huyền-thoại văn-hoá điệp-báo của Nguyễn Bách Khoa. Tôi rất đau lòng vì đồng-bào đói khổ, nhưng chỉ hiệu-chính giùm thi-pháp chứ không tán-thành nội-dung khích-động giai-cấp đấu-tranh trong thi-tập “Tiếng Nói của Dân Nghèo” cuả Vân Sơn PMT [Phan Mỹ Trúc]. Tôi thân+thương Trụ Vũ và Quách Thoại nhưng không hợp tính với họ vì lối sống phóng-túng của hai nghệ-sĩ thân-nhân ấy của Vi Khuê. Tôi tiếp-xúc với tác-giả nhưng không khép mình trong triết-thuyết bi-quan trong “Con Thuyền Không Bến” cuả Nguyễn Vũ Ban. Tôi thả hồn lên cõi siêu-nhiên nhưng không bước vào nương nhờ Cửa Thiền trong “Không Bến Hạn” cuả Huyền Không.

Tôi ủng-hộ cả hai đường-lối phục-hồi độc-lập quốc-gia: công-nghiệp kháng-chiến vũ-trang chân-chính của người dân, và nỗ-lực ngoại-vận ôn-hoà của các chính-trị-gia không-cộng-sản trong lòng Thế-Giới Tự-Do.

Riêng ở phiá bên này lằn ranh, tôi nhận thấy Cựu-Hoàng Bảo Ðại thì quá yếu mềm mà Đế-Quốc Pháp thì còn luyến tiếc giấc mơ đô-hộ Việt Nam, nên viết cuốn truyện dã-sử “Trai Thời Loạn” để gửi gắm ý mình, và kết-quả là tôi bị cơ-quan An-Ninh Quốc-Gia bắt giam; sau nhờ có chính-khách Cao Văn Chiểu, Giám-Đốc Thông-Tin Lê Tảo, cùng nhiều nhân-sĩ khác, can-thiệp với Thủ-Hiến Phan Văn Giáo, tôi mới được thả ra.

Ðể tạo một thế đứng vững-vàng hơn, tôi thành-lập Thi+Văn Ðoàn “Xây-Dựng”, xuất-bản các tác-phẩm của mình và của các bạn từ Bắc chí Nam. Mới bắt đầu thì Nhất Hiên [Phan Nhật Hiến] bỏ theo Việt Minh, và nửa chừng thì Như Trị [Bùi Chánh Thời] cũng nhảy lên chiến-khu.

Tôi hướng về nền dân-chủ và lòng hào-hiệp cuả Hoa Kỳ như tia sáng ở cuối đường hầm.

*

Tháng 4 năm 1954, tôi vào phục-vụ tại Phòng 5 Bộ Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu với tư-cách văn-nghệ-sĩ & ký-giả bị/được động-viên chuyên-môn. Lê Ðình Thạch và Huy Vân thì kỳ-cựu, Tô Kiều Ngân gốc Nha Thông-Tin cũng đã thành quân-nhân. Tchya [Ðái Ðức Tuấn] và Nhất Lang thì được đồng-hoá sĩ-quan.

Ngoài việc viết bài cho báo “Tiếng Kèn”, cho các đơn-vị Võ-Trang Tuyên-Truyền ở tuyến đầu, và cho chính tôi đi vận-động trong dân-nhân, tôi còn là phóng-viên chiến-tranh và biên-tập-viên chính cuả Ðài “Tiếng Nói Quân Ðội” tại Miền Trung.

Do chương-trình phát-thanh này, mà tôi là giám-đốc, tôi mới đặt phòng-giấy ngay tại trụ-sở của Ðài Phát-Thanh Huế, và gặp mặt Vi Khuê thường-xuyên.

Thay chỗ nhạc-sĩ Anh Chương, tôi cử Lâm Tuyền làm Trưởng Ban Tân-Nhạc; nhưng rồi tôi làm lơ cho Lâm Tuyền đào-ngũ vì anh quá chán chuyện đời.

Tôi đưa Văn Giảng lên thay.

Hà Thanh mới bắt đầu vào nghề.

Những lần xe Jeep bị hư, tôi đạp xe-đạp qua chở Kim Tước từ cư-xá Nha Thông-Tin ở bên kia Cầu Trường-Tiền. Cặp Châu-Kỳ−Mộc-Lan của giới ca-nhạc, cũng như cặp Hoàng-Pha−Phương-Khanh của giới văn+thơ, cũng đã từng ở đây.

*

Rồi Thoả-Ước Geneva ra đời.

Trong hội-nghị quốc-tế ấy, có ba nhân-vật Việt-Nam đã được thế-giới chú ý hàng đầu: Cô Thiên-Hương, con gái của nhà văn Hồ Hữu Tường, là nữ ký-giả duy-nhất, nói được nhiều ngoại-ngữ và trẻ đẹp nhất trong giới truyền thông; Cụ Võ-Thành-Minh, một lão-thi-sĩ, từ Huế đến, đã bí-mật vượt hàng rào Cảnh-Sát Thụy-Sĩ vào cắm trại trên Bờ Hồ Leman trước hội-đường, tuyệt-thực thổi sáo nói lên nỗi lòng của người dân Việt-Nam mong-muốn Thống-Nhất và khao-khát Tự-Do; và Ông Nguyễn-Quốc-Ðịnh, Ngoại-Trưởng cầm đầu Phái-Ðoàn Quốc-Gia Việt-Nam của chính-phủ Bảo Ðại, đã từ-chức để khỏi ký tên vào văn-bản thừa-nhận việc đất nước bị qua-phân.

Thủ-Tướng Ngô Ðình Diệm cử Ông Trần-Văn-Ðỗ đến thay. Pháp và Việt-Minh thoả-thuận ngưng bắn, lấy vĩ-tuyến 17 ngang sông Bến Hai làm ranh-giới Bắc–Nam.

*

Ðại-Tá Trương Văn Xương, Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu, thuộc cánh Tổng-Tham-Mưu-Trưởng là Trung-Tướng Nguyễn Văn Hinh [con của cựu Thủ-Tướng Nguyễn Văn Tâm, thân-Pháp], mở một chiến-dịch đưa quân từ Huế vào tiếp-thu các Tỉnh phiá trong. Theo chương-trình chính-thức thì Thủ-Tướng Diệm sẽ từ Sài-Gòn ra chủ-toạ lễ thiết-lập Chính-Quyền Quốc-Gia tại vùng đất mới lấy lại này. Theo kế-hoạch riêng của cặp Hinh+Xương thì Diệm, trên đường đi từ Huế vào Quảng-Ngãi, sẽ bị lính và dân dàn chào bằng tiếng hô “Đả Đảo” cùng với trứng thối và cà chua. Câu hỏi nổi bật là “Mười vé phi-cơ cho gia-đình họ Ngô, hay là mạng sống cuả cả trăm ngàn binh sĩ Quốc-Gia?” Các bức tường vẽ khẩu-hiệu đã được xây lên; và biểu-ngữ, bích-chương, cùng truyền-đơn liên-hệ đã được chuẩn-bị sẵn dọc đường rồi.

Phòng 5 Quân-Khu đương-nhiên đảm-trách công-tác Tác-Động Tinh-Thần này.

Thành-Phố Huế ngẫu-nhiên được chia thành hai trận-tuyến. Bộ Tư-Lệnh Quân-Khu thì đóng trong Ðại-Nội, phiá Bắc của Sông Hương; nhà Ông Ngô-Ðình-Cẩn, trung-tâm quy-tụ cuả gia-đình Họ Ngô, thì nằm trên Xóm Phú-Cam, phiá Nam của Sông Hương. Bộ-phận “Tiếng Nói Quân-Ðội” của tôi lại đặt trụ-sở tại Ðài Huế, trên bờ phiá Nam. Ðể biểu-dương lực-lượng, Quân-Khu phái đến hai chiếc xe-tăng, án-ngữ hai bên sân, trước Ðài Phát-Thanh. Các chương-trình vô-tuyến dân-chính chỉ có nội-dung lập-lờ, thông-tin hàng-hai.

Ở Quảng-Ngãi, cán-bộ Việt Minh gài lại xúi giục dân-chúng phản-kháng lực-lượng tiếp-thu, vì thấy vẫn có Cố-Vấn Pháp trong hàng-ngũ Quốc-Gia; súng nổ, người chết; Ủy-Hội Quốc-Tế Kiểm-Soát xen vào.

Ðảng Cần-Lao, qua nhạc-sĩ Ngọc Linh, móc nối tôi.

Tôi không theo đảng-phái nào hết, nhưng quyết-định ủng-hộ Thủ-Tướng Diệm, với chủ-trương “Ðả Thực, Bài Phong, Diệt Cộng”, để được sự giúp-đỡ cuả Hoa-Kỳ. Quốc-gia giàu mạnh nhất thế-giới này đã dìu-dắt Tây-Ðức, nâng-nhấc Nhật-Bản, và cứu-vớt Ðại-Hàn. Trung-Tá Nguyễn Văn Bông, Tư-Lệnh Mặt Trận Nam–Ngãi, đã phát-biểu với Trung-Tá Nguyễn Văn Tố, Phó Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu, trong khi Bông lái xe ra đón Tố vào:

– Mình cộng-tác với thằng giàu thì hẳn sướng hơn phục-vụ cho thằng nghèo!

Tôi thảo truyền-đơn, tài-liệu, viết bài tuyên-truyền cho chí-sĩ họ Ngô.

Bộ Tham-Mưu của Xương không tin-tưởng ở tôi. Họ lập hẳn một Ðài Phát-Thanh riêng, trong Thành-Nội― dân-chúng gọi là “Đài bí-mật”để tự mình phổ-biến lập-trường chống-Diệm và hô-hào dân-chúng nổi lên.

Không còn bị Cấp Trên ràng buộc, tôi công-khai dùng “Tiếng Nói Quân Ðội” để hậu-thuẫn cho Diệm và Hoa-Kỳ.

Hồi ấy, chỉ có một số trong giới Nho-học lớn-tuổi nghe danh Ông Ngô-Ðình-Khả, còn đa-số dân-chúng nói chung thì ít ai biết tên Ông Ngô-Ðình-Diệm, ngoại-trừ một nhóm trong giới Kitô-Giáo có đọc tờ báo “Tinh Thần” thời-gian gần đó.

Chương-trình phát-thanh của tôi có ảnh-hưởng rất lớn trong quần-chúng, vì làn sóng của Ðài Huế phát đi rất mạnh và xa, trong lúc “Ðài bí-mật” thì nhỏ và yếu, chỉ lẩn-quẩn vùng gần, lại khi-có khi-không.

Tôi đã lèo-lái để người dân xứ Huế, nghe Đài “của tôi” và trông thấy hai chiếc xe-tăng trấn đóng trước Ðài mà tưởng và tin là phe mạnh nhất trong Quân-Lực đã đứng hẳn qua phía Diệm, nên biệt-phái chiến-xa đến cho tôi để bảo-vệ Tiếng Nói của mình, chống lại phe yếu thế Hinh–Xương.

Toàn-quốc, nhất là Sài-Gòn, hướng về xứ Huế, gốc-gác của họ Ngô, lấy đó làm chỉ-dấu mà lên tinh-thần.

Từ đó, các phần-tử thân-Diệm mới dám đứng ra khỏi vòng giới-hạn của mình mà hoạt-động rộng-rãi trước mắt mọi người.

*

Trong những tháng ngày gay-cấn ấy, cứ mỗi lần từ các cuộc hành-quân hoặc từ các hoạt-vực bên ngoài trở về với phòng-giấy tại Ðài, tôi lại cảm thấy nhẹ-nhõm cả người, khi gặp mặt lại những nữ-nghệ-sĩ trẻ đẹp tươi vui, như bướm, như hoa, tô thắm cuộc đời. Trong vườn thanh+sắc ấy, Vi Khuê của giới thi+văn vẫn gần-gũi với tôi hơn các bạn bên giới cầm+ca. Nhưng “nàng bồ-câu” vẫn vô-tư-lự như mọi ngày, đâu biết đầu-óc tôi đã bỏng-rát những tính-toán mưu-mô, thân-xác tôi đã bầm-dập những gian-nan nguy-khốn, và chỉ trở về văn-phòng để thư-giãn cho những căng-thẳng thần-kinh.

*

Thủ-Tướng Ngô Đình Diệm thắng phe Hinh+Xương.

Hoa-Kỳ mở Phòng Thông-Tin tại Đại-Khách-Sạn Morin. Giám-Ðốc Thompson A. Grunwald là viên-chức dân-sự Mỹ đầu tiên đặt chân đến Miền Trung. Tôi tổ-chức dạy tiếng Anh trên Ðài, có Tôn Thất Ðát phụ-lực; tham-gia thường xuyên là Thompson, và bất-thường là bất-cứ người ngoại-quốc nào nói tiếng Anh mà tôi gặp được, bắt đầu từ Đại-Tá Richardson, Trưởng Phái-Ðoàn quân-sự Hoa-Kỳ T.R.I.M.

Lớp dạy tiếng Anh của tôi là lớp đầu tiên trong lịch-sử dạy tiếng Anh qua làn sóng truyền-thanh cho thính-giả Việt-Nam.

A picture containing text, indoor, person
Description automatically generated

Nguyễn Cửu Tú (Phó Giám-Đốc Đài), Thompson và Nhuận

Ðại-Tá Nguyễn Quang Hoành lên thay Trương Văn Xương, rồi vì bất-đồng chính-kiến nên lại nhường chỗ cho Thiếu-Tướng Lê Văn Nghiêm.

Ðại-Úy Ngô Văn Hùng thay thế nhạc-sĩ Ngọc Linh, làm Trưởng Phòng 5. Văn Giảng ra đi, tôi cử Lê Trọng Nguyễn lên thay. Nguyễn vừa dịch tài-liệu vừa sáng-tác nhạc; bên cạnh giai-phẩm “Nắng Chiều” là “Hoan-Hô Lê Thiếu-Tướng” theo lệnh của Hùng  (bắt chước “Hoan Hô Ngô Thủ-Tướng”). Ðể giúp Tôn Thất Ðậu chọn nhạc ngoại-quốc do thính-giả yêu-cầu, tôi liên-lạc với hàng chục Toà Ðại-Sứ ở Sài-Gòn, viết lời mở đầu về nền âm-nhạc của mỗi nước, và đặc-tính của mỗi bản nhạc, để giới-thiệu trước khi trình-bày. Giáo-Sư Lê Hữu Mục có đến chơi đàn; nữ-sĩ Như Thu đến góp bài; thi-sĩ Hồ Ðình Phương đến ngâm thơ. Trình-bày “Mục Thi-Ca” của tôi là Trần Anh Tuấn, Ðinh Lợi, Lan Hương, và Tâm Thanh [Tôn Nữ Kim Ninh].

*

Ở các Tỉnh Cao-Nguyên và miền núi Tỉnh Quảng-Ngãi, phong-trào đòi tự-trị của người Thượng nổi lên. 

Chính-Quyền Diệm gom các phần-tử chủ chốt “Thượng Tự-Trị” về tập-trung ở đầu Cầu Nam-Giao. Một Nha Chiến-Tranh Tâm-Lý được lập nên, đặt trụ-sở ở đầu Cầu Phú-Cam. Đại-Úy Hùng kiêm-nhiệm Nha này. Tôi cũng kiêm thêm một số phần-vụ ở cơ-quan này, nên dời bàn-giấy đến đây.

Bộ Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu dời tổng-hành-dinh qua Hữu-Ngạn sông Hương.

Nước Việt-Nam Cộng-Hoà, với sự hậu-thuẫn của Hiệp-Chủng Quốc Hoa-Kỳ,  được Thế-Giới Tự-Do nhìn-nhận.

*

Trong những năm trẻ-trung của Nền Ðệ-Nhất Cộng-Hòa ấy, Liên-Xô, Hoa-Cộng, và Cộng-Sản Bắc-Việt, là những bên chủ-trương chia đôi đất nước Việt-Nam, chưa sẵn-sàng thực-hiện vũ-trang xâm-lược Miền Nam, mà Hoa-Kỳ thì viện-trợ tối-đa cả tinh-thần lẫn vật-chất cho con bài của mình và cái tiền-đồn mới lập này của họ ở Ðông Nam Á, nên tình-hình an-ninh khả-quan, chế-độ bắt đầu vững-vàng.

Thế là nhiều người liền tranh nhau mưu-quyền thủ-lợi riêng. Hầu hết chiến-công giữ nước, cũng như thành-tích dựng nước, được dùng để dâng lên Ngô Tổng-Thống, chỉ là những cử-chỉ qụy-lụy, những lời-lẽ tâng-bốc, những thái-độ tôn-thờ, dành cho toàn-thể gia-đình họ Ngô, được các tay+chân thân-tín của Cụ xét thấy êm tai đẹp mắt nên tường-trình lên mà thôi.

Ông Ngô-Ðình-Khôi, bào-huynh của Diệm, từ-trần đâu cả chục năm trước kia, không ai biết đến; nay dời mộ-phần thì có cả tá cấp-cao chức-lớn gây lộn nhau để giành làm Trưởng Nam danh-dự hầu-cận bên quan-tài; nhiều năm về sau, hễ nhắc đến ông, nhiều kẻ còn khóc-lóc thảm-thương. Ông Ngô-Ðình-Luyện làm đại-sứ tận bên nước Anh, người dân không hề thấy mặt, thế mà khi nhắc đến ổng thì ai nấy đều vẽ-vời ra vô-vàn tài-cao đức-trọng, để ngợi-ca cho vừa lòng thế-gia. Huống chi các “Cố Vấn” hùng-cứ trong nước mà uy-quyền có khi lấn át cả ông anh. Dù không muốn nhập-cuộc, đa-số vẫn phải nhắc đi nhai lại, để được yên thân, những sáo-ngữ đã thành công-thức chót lưỡi đầu môi: “Nhờ ơn Ngô Tổng-Thống và các bào-huynh, bào-đệ cuả Người!” Thế là lắm kẻ được đặc-cách tiến-chức thăng-quan.

Trung-Tướng Thái Quang Hoàng thay thế Thiếu-Tướng Lê Văn Nghiêm.

Nhà văn Bùi Tuân trở thành Dân-Biểu, không còn viết thuê xã-luận cho Ðài của tôi, mà diện lễ-phục lái xe-hơi di diễu khắp phố-phường. Nhạc-sĩ Ngô Ganh không còn lập-dị, mặc bộ com-lê may bằng dạ chăn đi dưới nắng hè, bên trong là chiếc áo ngủ cổ kiềng mà mỗi lần đi đâu thì chỉ cần gài thêm vào đó một cái cổ áo trắng có đính sẵn ca-vát là khỏi phải tốn thêm nguyên cả chiếc áo sơ-mi; bây giờ ảnh làm Quản-Ðốc Ðài, kiêm Ðại-Diện Nhân-Dân Miền Trung, ngồi chung dãy ghế danh-dự với Ðại-Biểu Chính-Phủ, Tư-Lệnh Quân-Khu, v.v… trong những buổi lễ công-cộng trên khán-đài Phu Văn Lâu.

Trong lúc đó, tôi bị cơ quan An-Ninh Quân-Ðội thẩm-vấn tới, điều-tra lui. Họ vin vào cớ tôi đã là Trưởng Ðài Quân-Ðội từ khi còn Hinh+Xương.

Một hôm, Tổng-Thống Diệm ra Huế và ở lại đêm. Sáng sau, tôi nghe hàng-xóm kháo chuyện với nhau: “May mà bắt được, chứ không thì quân khủng-bố đã ám-hại Tổng Thống đêm qua rồi!” Ðến sở, tôi hỏi Đại-Úy Ngô Văn Hùng thực/hư thế nào; ổng liền gọi điện-thoại cho An-Ninh Quân-Đội, và cơ-quan này đến bắt tôi. Truy-cứu mới biết: chính-quyền sở-tại và thân-tộc có tổ-chức nhiều vòng đai an-ninh xung quanh nhà-thờ Phú Cam, nơi Diệm đến tiếp-xúc với giáo-dân; có một nhân-viên chìm, thuộc vòng-đai trong, vì đến trễ nên bị chận soát ở vòng-đai ngoài; thấy y có vũ-khí giấu trong người, đồng-bào tưởng lầm là Việt Minh. Chỉ có thế thôi, nhưng vì Diệm đã được thần-thánh-hoá, nên câu hỏi của tôi, dù là để phối-kiểm với mục-đích dùng Đài Quân-Đội mà trấn-an dư-luận đồng-bào, cũng đã bị xem là một sự xúc-phạm tày trời.

Ngày xưa, phần lớn văn-nghệ-sĩ đều phục-vụ trong ngành truyền-thông, nên tôi đã từng mong được chuyển nghề qua làm việc trong cơ-quan Thông Tin, để được quần-chúng độc-giả khán+thính-giả trọng-vọng hơn. Bây giờ đã ở trong ngành Tác Ðộng Tinh Thần, dù của Quân Lực nhưng cũng là thông-tin tuyên-truyền, tôi mới thấy mặt trái của tấm huy-chương.

Lần đó, nhà bác-học Bửu Hội, thân-thích của Cựu-Hoàng Bảo Đại, nhân dịp từ Pháp về thăm nhà, đến nói chuyện về y-học với đồng-bào Huế tại Rạp Chiếu Bóng Morin. Một số văn+thi-sĩ tùng-sự tại Nha Thông-Tin Trung-Phần đã nêu lên nhiều câu hỏi về thời-sự, mục-đích là để gài Hội phải phát-ngôn ủng-hộ Diệm, hoặc ngược lại thì có bằng-chứng để dễ ra tay. Mặc dù Hội đã nhấn mạnh rằng ông không về Việt Nam với mục-đích chính-trị, và xin miễn đề-cập đến các vấn-đề ngoài phạm-vi y-học, đồng-thời số đông trong cử-tọa cũng đã huýt gió phản-đối những câu hỏi lạc-đề, nhưng nhà văn Ðỗ Tấn [Đỗ Tấn Xuân] vẫn trơ-tráo đứng dậy đặt thêm cho được vài câu hỏi nữa.

Bác-Sĩ Trần Văn Thọ, Tổng Giám-Ðốc Thông-Tin, mà còn tranh tài với Bác-Sĩ Trần Kim Tuyến (Giám-Ðốc Nha Nghiên-Cứu [tức cơ-quan Tình-Báo] thuộc Phủ Tổng-Thống), thảo nào mà nhà-văn này cũng không chịu lép vế các nhà-văn khác trong thành-tích bao vây những ai bị nghi là, bị cho là có thể đối-kháng chế-độ đương-quyền.

Một số nhà-thơ giành nhau chức-vụ lãnh-đạo ngành Thông-Tin, khởi đầu bằng địa-vị Chủ-Tịch Hội Văn-Nghệ-Sĩ & Ký-Giả Miền Trung.

Nhà-thơ Đỗ Tấn Xuân nhai lại cái bã Tố Hữu tán-tụng Staline, in hẳn cả một tập thơnhan đề “Mùa Hoa Sim Nở”trong đó có câu “Tiếng đầu lòng con gọi: Cụ Ngô!”

Họ sợ vướng tôi nên tìm cách loại tôi, lùng thu thi-tập “Ánh Trời Mai” của tôi, v.v…

Thế nhưng hầu hết các nam+nữ tân+cổ+nhạc thi+ca+kịch-sĩ cộng-tác với tôi thì chỉ thấy tôi là một nhà thơ trẻ trai, hiền-lành, hòa-đồng với họ trong từng bộ-môn, chứ không biết gì về những khó-khăn của tôi.

Họ cũng không quan-tâm gì đến mục-đích chính-trị của Ðài, mà lại đinh-ninh rằng trọng-tâm hoạt-động và lý-do cùng ý-nghĩa của sự hiện-diện của Ðài chỉ là phần diễn-ngâm ca-tấu giải-trí văn-nghệ mà họ cống-hiến cho số thính-giả gần xa ái-mộ họ mà thôi.

Vi Khuê thì trầm-lặng hơn họ và có một thế đứng riêng. Nàng không ca hát nhưng số khán+thính-giả địa-phương hằng ngày háo-hức đến xúm dán mũi vào cửa kính để xem tận mắt các nữ-danh-ca hát thật cũng như dượt bài, đều không bỏ lỡ cơ hội nhìn ngắm cô biên-tập-viên duyên-dáng của Ðài. Các người-đẹp trình-diễn thì chỉ xuất-hiện vào giờ có chương-trình liên-quan, còn Vi Khuê thì có mặt ở đó suốt ngày, để những lúc trở về Ðài tôi nhìn thấy nàng mà dịu-vợi ưu-tư…

*

Thế rồi tôi giã-từ quân-ngũ, rời khỏi Ðài, ra ngoài hoạt-động văn-nghệ nhiều hơn trong một môi-trường rộng-lớn và khoảng-khoát hơn.

Ngoài các nỗ-lực tích-cực trong Quân-Ðội và sau đó là trong ngành Cảnh-Sát Công-An, tôi còn hăng say dùng hoạt-động văn-nghệ riêng tư để góp phần xây-dựng và củng-cố chế-độ Ðệ-Nhất Cộng-Hoà, thí-dụ: viết báo, đi thuyết-trình trong Cảnh-Sát & Công-An và ngoài dân-chúng; sáng-tác và trình-diễn khắp nhiều Tỉnh vở kịch thơ “Gươm Chính-Nghiã” của tôi đề-cao Tổng-Thống Ngô Ðình Diệm, kêu gọi sĩ-phu khắp nơi, đặc-biệt từ Miền Bắc, về với Chính-Nghiã Miền Nam; sáng-tác và xuất-bản tập thơ “Tuần Trăng Mật” vinh-danh tình yêu vợ+chồng, mà nguồn cảm-hứng sáng-tạo thì đi trước và sau đó lại phù-hợp với tinh-thần canh-tân trong Luật Gia-Ðình của Bà Ngô-Ðình Nhu…

Tôi giữ Mục “Vườn Thơ” trên tuần-báo “Rạng Ðông” của Lê Hữu Mục, họp làm đặc-san với Tôn Thất Dương Tiềm, xuất-bản thơ của các bạn gần+xa và của chính mình, kết-thân với các nhóm như Hồ Mộng Thiệp, Thanh Phượng, Anh Ðộ, Tô Như, và Quốc Dân… ở Ðà-Nẵng; đồng nhóm Xây-Dựng là Xuân Huyền, Tường Vi, Huyền Chi, Hoài Minh, Bàng Bá Lân, v.v… ở Sài-Gòn. Trong đó, tôi giữ mục “Hội Thơ” (do Hồ Đình Phương trung-gian) trên tuần-báo Văn-Nghệ Tiền-Phong của Hồ Anh, và có nhạc-sĩ Lê Mộng Bảo giúp phần ấn-loát & phát-hành sách và đặc-san.

Tôi tái-tổ-chức họp bạn hằng tuần; ngày xưa thì có Nhân Hậu, Vĩnh Thao, Hạnh Lang, Trúc Lang, Võ Ngọc Trác, Xuân Dưỡng, Giang Tuyền, Kiêm Minh, Lê Mộng Hoà, Nhân Nam, v.v…; bây giờ thì có Hoàng Hương Trang, Tuyết Lộc, Kim Lan, Nguyên Xuân Tứ, Hữu Ðỗ, Khang Lang, Hoài Tâm, Hương Thu, Xuân Nghị, Thanh Thuyền, Thế Viên, v.v…; có lần có cả Trần Minh Phú từ Hàng Me đến, Diên Nghị từ đơn-vị về, Hồ Ðình Phương từ Long-An ra…

Ðại-Hội Văn-Hoá Toàn-Quốc dưới thời Ðệ-Nhất Cộng-Hoà (khai-mạc ngày 11 tháng 1 năm 1957) đã đem lại cho tôi một phần thưởng tinh-thần: “Xây-Dựng” cuả tôi được nhìn-nhận là một cành của Cây Ða Văn-Hiến Việt-Nam.

Text
Description automatically generated

Trong thời-gian đó, Vi Khuê lên xe hoa. Và đôi uyên-ương đưa nhau lên xây tổ ấm trên đồi núi Ðà-Lạt sương mù, bỏ lại “chuồng bồ câu” trống lạnh như nỗi thiếu vắng trong lòng của những ai ai…

*

Sau khi bản-thân tôi gặp nhiều khó-khăn vì không chịu cải-đạo; sau khi người ta giết chết cả hai vợ+chồng thầu-khoán Nguyễn Văn Yến; sau khi người ta dùng ngay phòng họp là nơi tôi hướng-dẫn học-tập “Ðạo-Ðức của Ngô Tổng-Thống” cho các cấp chỉ-huy Cảnh-Sát Huế trong các buổi “học-tập Chính-Trị và Công-Dân Giáo-Dục” hằng tuần, để làm nơi tra khảo và giết chết thầu-khoán Nguyễn Ðắc Phương rồi ném xác xuống sân tri-hô là Phương nhảy lầu tự tử; sau khi nhận được vô-số bài-vở của anh+chị+em Cảnh-Sát Công-An gửi về tôi để xin đăng lên tờ nội-san “Phục Vụ” do tôi chủ-biên, nội-dung tố-cáo nhiều, quá nhiều, hành-động tham-lam, tàn-bạo, kể cả giết người, dựa quyền cuả ông Cố-Vấn Ngô Ðình Cẩn; v.v…

Do đó, tôi đã liều-lĩnh đứng lên công-khai nêu ra một số khuyết-điểm của chế-độ họ Ngô, trong một buổi học-tập tại cơ-quan vào ngày Lễ Hai Bà Trưng (3-3-1960).

Biến-cố này đã gây chấn-động cả Miền Trung.

Kết-qủa là tôi bị quản-thúc điều-tra ba tháng, gây tranh-cãi giữa hai ông Cố-Vấn Cẩn và Nhu…

Rồi tôi bị đày lên Cao Nguyên “vùng nước độc và nguy-hiểm” với bụi đỏ mù trời.

Đời sống chính-trị tạo thi-hứng cho tôi sáng-tác và đăng báo rời-rạc các bài thơ mà sau Cách-Mạng 1-11-1963 mới được gom lại ấn-hành thành tập “Với Thượng-Ðế”, tập thơ thứ bảy cuả mình.

*

Qua đến Ðệ-Nhị Cộng-Hoà, tôi cũng lại gặp rắc-rối, vì tôi công-khai phản-đối những sai trái, nhất là chiều-hướng quân-phiệt trong chế-độ Nguyễn Văn Thiệu, bằng một bức thư trần-tình gửi lên Cấp Trên**.

Sau cùng tôi được (hay bị?) đưa về lại Miền Trung để giải-quyết giùm (và tôi đã giải-quyết được) những khó-khăn nội-bộ tại vùng đất này mà trước đó Trung-Ương hầu như bó tay…

Giờ đây, tôi trở về Huế lại.

Ngồi trên ghế đá công-viên trước Ðài Phát-Thanh Huế, tôi nhắm mắt mường-tượng những gì đã xảy ra tại đây vào buổi tối 8-5-1963phản-ứng của giới Phật-Tử bị cấm treo cờ Phật-Giáo vào ngày lễ Phật, Phật-Giáo-Đồ tập-trung, chất nổ, người chết, sức mạnh quần-chúng…

Rồi lịch-sử đã sang trang…

Lắc đầu xua đi những ảnh-hình thế-sự, tôi thả hồn sống lại quãng đời thơ trẻ đã qua.

Những khuôn mặt cuả Huế một thời, mà tôi nhớ thêm: các nhà văn Bửu Kế, Phan Khoang…; các nhà thơ Phan Văn Dật, Nguyễn Anh, Tô Kiều Ngân…; nhà khảo-cứu Bửu Cầm; hoạ-sĩ Phi Hùng; nhà dựng kịch Lê Hữu Khải; các kịch-sĩ Vũ Ðức Duy, Vĩnh Phan, Minh Mão, Hà Nguyên Chi…; các nhạc-sĩ Nguyễn Hữu Ba, Lê Quang Nhạc, Ưng Lang, Hoàng Thi Thơ, Lê Tất Vịnh, Hoàng Nguyên…; các ca-sĩ Minh Trang, Thanh Nhạn, Tôn Thất Niệm, Ngọc Cẩm–Nguyễn Hữu Thiết, Bạch Yến, Thiện Nhân, Hương Việt, Diệu Hương…

Tôi không gặp lại Phương Như, Bằng Trình của Huế, Anh-Ðộ [Ðỗ Cẩm Khê] của Ðà-Nẵng, và mất liên-lạc với Huyền-Chi từ sau khi nàng lấy chồng. Trước đó, bóng người áo trắng Kiều-Ngọc đã vuột khỏi tầm tay tôi.

Nhưng tôi vẫn còn nhớ rõ buổi hoàng-hôn ấy tôi lái xe Lambretta-2-bánh chở Trần Dạ Từ từ khách-sạn Khê-Ký lên Bến-Ngự để anh gặp Nhã Ca; và buổi sáng chủ-nhật kia Hy Văn Mộng đến nhà tôi chơi bị cháu nhỏ tè ướt cả quần khi anh bế nó lên hôn.

Có những bạn thân không còn, hoặc còn nhưng phai thân…

Nhưng Vi-Khuê thì vẫn còn là một người bạn thân. Cuả vợ+chồng chúng tôi.

Trong cuốn lưu-bút “Kỷ-Niệm Vàng” mà tôi giữ kỹ, bây giờ vẫn còn tờ giấy bạc “anh gánh dưa” một đồng mới toanh mà Vi-Khuê đã ký tặng mừng tuổi tôi vào dịp Tết năm nào.

Hình-ảnh ấy càng đậm nét khi nàng đưa Vân-Anh, cả hai phất-phơ tà áo màu qua cánh đồng An-Cựu vàng rực mùa lúa gie, đến thăm tôi vào thuở ban đầu, để rồi sau đó thì nàng làm chứng-nhân cho cuộc lễ thành-hôn của tôi với người bạn thân ấy của nàng.

*

Giờ đây Thành-Phố Huế đã bị giáng bậc xuống làm Thị-Xã, tước mấtngoại-trừ về phần văn-hóa và lịch-sử cái địa-vị thủ-phủ của Miền Trung; hoa-khôi Ðồng Khánh ngày càng hiếm-hoi; Ðài Huế xuống cấp làm Ðài Tỉnh nhỏ; các xướng-ngôn-viên và ca-sĩ chỉ gợi tiếc những giọng oanh vàng và hương sắc ngày xưa…

Ðệ-Nhất Cộng-Hoà thế kia, Ðệ-Nhị Cộng-Hoà thế này. Mỗi chế-độ có những vấn-đề khác nhau, nhưng đều giống nhau ở vận nước chông-chênh.

Liệu những biến-thiên của cuộc đời sẽ còn đem lại những đổi thay nào khác nữa cho Đồng-Bào, cho Quê-Hương?

Huế vẫn còn đây, Ðài Huế vẫn còn đây, và tôi trở về ngồi đây.

Nhưng tôi không còn tìm thấy lại được, sau mỗi chặng đườngcũng vẫn gian-nan một mình chống-chọi với ma-quỷ còn sót lại trong thời buổi mớisự thanh-thản, dù trong chốc-lát, cho tâm-hồn mình, như những ngày nào xa xôi…

LÊ XUÂN NHUẬN  




VĂN THƠ Võ Đại Tôn: Mậu Thân Tang Thương – KỶ NIỆM CHIẾN THẮNG ĐỐNG ĐA – MÙA XUÂN DÂN TỘC GIỮA HỒN TÔI

KỶ NIỆM CHIẾN THẮNG ĐỐNG ĐA

(Mồng 5 Tết Kỷ Dậu (1789)

*

Hôm nay

Ngày kỷ niệm chiến thắng Đống Đa

Lừng danh Lịch Sử.

Chúng tôi, đàn con lưu vong viễn xứ

Xin cúi đầu lạy tạ Cha Ông.

Những bậc Anh Hùng bảo vệ núi sông

Qua chiến tích nghìn thu dũng liệt.

Đuổi xâm lăng, rạng ngời trang Sử Việt

Nét vàng son Tự Chủ giống Rồng Tiên.

Bành tượng uy nghi tỏa khí hùng thiêng

Quân thần tốc băng sông vượt suối.

Hẹn về Thăng Long xô thành bạt núi

Dựng cao cờ trên đỉnh trời Xuân.

Vì Tổ Quốc đâu quản ngại gian truân

Đem xương máu lót đường hoa Đại Nghĩa.

Tiếng voi đi, ngựa hí, rền vang trận địa

Lộng tinh kỳ Đại Đế gió bừng say.

Bắc Bình Vương uy dũng dáo vèo mây

Vung thần kiếm oai linh ngời tinh đẩu.

Đánh cho tan loài Bắc phương thảo khấu

Diệt cho tàn quân cướp nước xâm lăng.

Đại Việt ta, nền tự chủ vĩnh hằng

Không cúi nhục, giữ sơn hà xã tắc.

Một trận tiến công, quân thù xanh mặt

Trống Ngọc Hồi thay pháo Tết mừng Xuân.

Hai trận tiến công, Quân-Tướng hợp quần

Như vũ bão, đạp phăng thành Khương Thượng.

Sầm-Nghi-Đống bơ vơ dưới trướng

Đành sát thân, quân vỡ mật tan hàng.

Núi Loa Sơn thây giặc máu nồng loang

Hồn chưa thoát nỗi kinh hoàng khiếp vía.

Đống Đa, nơi quân thù tuyệt địa

Thành mồ chôn, tan vỡ mộng Thanh triều.

Hai mươi vạn hùng binh với tướng ngạo quân kiêu

Trong phút chốc phải tan đàn rã đám.

Trời Bắc phương mây mù ảm đạm

Quân xâm lăng cởi giáp quy hàng.

Lũ đuôi sam quỳ lạy kêu van,

Tôn-Sĩ-Nghị  trốn chui về biên giới.

Thành Thăng Long tinh kỳ phất phới

Triệu lòng dân mở hội hoa đăng.

Một mùa Xuân Chiến Thắng vĩnh hằng

Trang sử mới trời phương Nam định vị.

Đến muôn đời, nét vàng son cao quý

Vinh danh Người Áo Vải đất Tây Sơn.

                                 *

                              *     *

Ngày hôm nay

Cả non sông đang dậy sóng căm hờn

Mộng xâm lăng từ Bắc phương tái diễn.

Bản Giốc, Nam Quan, Hoàng Sa đảo biển

Rừng Tây Nguyên thành sứ quận chư hầu.

Cộng Sản Việt Nam xin dâng hiến cúi đầu

Quên sử cũ, vì đảng riêng toàn trị.

Chúng tôi đây, nguyện bền gan vững chí

Dù tha phương xin vẹn giữ Tâm thành.

Cúi lạy Tiền Nhân từng lẫm liệt uy danh

Xin dẫn bước cho Toàn Dân quyết thắng.

Xuân Dân Tộc trời phương Nam rạng nắng

Hoa Tự Do nở đẹp bước quân hành.

Cờ Quang Trung lồng lộng giữa trời xanh

Gương Tự Chủ một thời đang chỉ hướng.

Quê Hương cội nguồn một ngày mai hưng vượng

Đàn con về chung máu giữ non sông !.

*

Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh)

******

MÙA XUÂN DÂN TỘC

GIỮA HỒN TÔI

Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh)

1.

Nửa đêm tôi tỉnh giấc

Tưởng mình còn quê hương.

Bờ Mê hay Bến Thật

Sao sóng dậy trùng dương ?

Bước Xuân về thơm nhẹ gót vương hương

Mà nghe hồn trĩu nặng.

Dòng sông tôi giữa đêm trường hoang vắng

Chảy về Quê tìm lại bến Xuân xưa.

Tóc Em thơm, hương thoảng dầu dừa

Tay giặt áo, lén soi nhìn bóng nước.

Em cúi thẹn, chớp rèm mi nhung mượt

Cả trời Thơ vờn dáng mộng Em Thơ.

Tranh thủy mạc đẹp hơn cả nguồn mơ

Cho tôi sống những giờ đau viễn xứ.

Qua bóng hình Em, tôi yêu giòng Lịch Sử,

Núi sông còn thơm giữ trọn Tình Quê.

Bước chân khô Mẹ về

Rổ nghèo tan phiên chợ.

Từ Động Đình Hồ, sông than núi thở

Một đời Mẹ gánh Trăm Con.

Đường Mẹ đi, chân cứng đá mòn

Dăm củ sắn mà vuông tròn Đạo Lý.

Mẹ ngẩng cao đầu, trống đồng vang ngựa hí,

Nhìn đàn con lẫm liệt giữ Quê Cha.

Bờ Sông Hồng trăng chiếu ánh phù sa,

Hương Giang mộng, chập chờn xuôi Mái Đẩy.

Chín Rồng Thiêng thành Cửu Long sóng quẫy

Nắng hồng Xuân duyên kết lúa Nàng Hương.

Một nghìn năm chống giữ biên cương

Vẫn kiên cường khí phách.

Tám mươi năm, lòng chung huyết mạch

Thu về trọn dải non sông.

Mẹ ôm con, chưa vui thỏa tấc lòng

Bỗng nghe trời Xuân khóc.

Xác triệu con bên vệ đường tang tóc

Đói mòn Ất Dậu năm xưa.

Từng thân khô, trần trụi nắng mưa

Như đống rác giữa tồn sinh nhân loại.

Rồi Mậu Thân, vang tiếng cười lang sói

Nửa đàn con vì chủ thuyết lai căng

Vung cuốc lên, tay sát khí đằng đằng

Chôn tập thể, cạn khô tình Dân Tộc.

2.

Tôi tỉnh giấc, sao còn đây tiếng khóc

Dù đăng trình tôi vẫn quyết tâm đi.

Bao nhiêu năm không mỏi gót chỉ vì

Nghe tiếng trống Hà Hồi vang thúc giục.

Xuân Đống Đa, dù tay nghèo gậy trúc

Cũng lừng danh vạn thuở giống Rồng Tiên.

Tôi sẽ về – tìm dáng mộng trinh nguyên

Tranh thủy mạc ngày xưa – Em xỏa tóc

Bên bờ sông – sắc Xuân vờn châu ngọc

Nụ cười Em nhung mượt một đời Thơ.

Tôi sẽ về – không “vô cảm”, thờ ơ

Vênh váo cười vang trên lầm than Tổ Quốc.

Không đùa vui trên thân em gầy guộc

Chỉ bằng tuổi cháu con !

Tôi sẽ xin – vì lẽ sống còn

Của Dân Tộc – cùng hòa chung nhịp bước.

Tuổi cuối đời chỉ mong tròn nguyện ước

Cùng Toàn Dân đòi lại quyền Người.

Nghe cả trời Xuân vang dậy tiếng cười

Khi quỳ ôm chân Mẹ.

Được hôn lên từng nếp da nứt nẻ

Vì lịch sử oan khiên

Vì nửa đàn con quên cả hịch truyền

Dựng xây Mùa Xuân Dân Tộc.

Tôi thành trẻ thơ nhoài ôm Tổ Quốc

Như con tìm Mẹ, thơm ngủ mơ vàng.

Mẹ dẫn con đi, cuốc lại đồng hoang

Cho lúa mọc lừng hương trời Đông Á.

Bầy em con không còn ai trả giá

Bán buôn nô lệ da vàng.

Cho con khỏi nhục khi nhìn cảnh suy tàn

Vì giống Việt đang cằn khô Đạo Lý.

Bạo lực vùi chôn Nhân Vị

Đường hầm heo hút tương lai.

Đời tạm dung, trong mê-tỉnh đêm dài

Tôi vẫn thấy đẹp trời Xuân Dân Tộc.

Xuân giữa hồn tôi, hồi sinh Tổ Quốc,

Nhạc bừng reo, hoa tỏa ngát hương nồng.

Hồn sông tôi trôi chảy, vẫn xuôi dòng

Len sỏi đá, về Biển Đông tìm Mẹ.

Xin chờ con – dù hành trang gánh nhẹ

Nhưng nặng lòng vì Lẽ Sống Quê Hương.

Em hãy chờ tôi, bóng nước soi gương

Hồng lên má, nụ cười xưa giấu thẹn.

Tôi sẽ về – không quên lời ước hẹn

Giữa triều dâng bừng dậy sắc Xuân sang.

Xuân của đời tôi xin được hưởng Vinh Quang

Toàn Dân Tộc – nắng Xuân hồng phơi phới.

Trời Việt Nam lụa là thay áo mới

Trẩy hội lên đường, vui đón Tự Do.

*

Võ Đại Tôn. (Hoàng Phong Linh)

Hải ngoại.




VĂN – Trước Tiệc Rượu – CAO MỴ NHÂN

Trước tiệc rượu

Đó là một hội thơ rất quy mô được ông bà nhà giáo tên tuổi Thanh Vân – Nguyễn Duy Nhường tổ chức tại biệt thự, sau đổi thành thư viện Minh Minh Thư Uyển, số V10 bis cư xá Bắc Hải, nay là đường Hương Giang, quận 10 Sài Gòn cũ, vào năm 1985.

Thường trên danh nghĩa một người giới thiệu, tôi hay đặt tên cho những buổi hội thơ sau này ở thành phố bị bạo quyền tước đoạt rồi áp đặt cho một cái tên mà hỏi trăm người như một đều ghét cay ghét đắng vì nó chẳng hay ho gì mà còn thêm mắc cỡ mỗi lần đi năm châu thế giới nói về thành Hồ.

Nên hôm đó tôi cứ giả vờ mán mường, giới thiệu với khách dự là buổi giới thiệu cuốn Truyện Nà Khê của nữ sĩ Như Hiên, phu nhân giáo sư Nguyễn Duy Nhường, vị học giả nguyên hiệu trưởng trường trung học Tương Lai, Nha Trang.

Học giả, giáo sư Thanh Vân – Nguyễn Duy Nhường ( 1919 – 2010 ) là tác giả một cuốn tự điển Hán Việt, thường làm thơ cổ điển, viết cuốn Nụ cười gừng mới xuất bản.

Năm 1985 đó, tại tư thất Minh Minh Thư Uyển nêu trên, giáo sư Thanh Vân đã mời khá đông khách thuộc giới văn học nghệ thuật, đặc biệt có mấy vị sĩ quan cấp tá QL VNCH mới từ trại tù cải tạo về.

Tôi chỉ đan cử số khách chính mà tôi còn nhớ: quý vị đại tá Lê Kim Ngô (Công binh ), đại tá Nguyễn Sùng (Quân nhu) và phu nhân, trung tá Phạm Xuân Ninh tức nhà thơ Hà Thượng Nhân, ông Khai Trí, v.v..

Phía văn nghệ sĩ tên tuổi như nghệ sĩ diễn ngâm Hồ Điệp, ca nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cùng đi với một người bạn được giới thiệu là dịch giả, nhà thơ Thái Bá Tân.

Phần khách cơ hữu vẫn là toàn bộ hội viên hội thơ nữ lưu Quỳnh Dao với quý nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội, Vân Nương, Uyển Hương, Tôn Nữ Hỷ Khương, v.v. và nữ sĩ Như Hiên Nguyễn Ngọc Hiền, tức phu nhân của học giả giáo sư Thanh Vân Nguyễn Duy Nhường, cũng là tác giả cuốn Truyện Nà Khê sắp giới thiệu.

Nhưng bài này cũng không đi sâu vào chi tiết cuốn truyện Nà Khê, chủ yếu chỉ ghi lại chút Kỷ niệm đặc biệt về hai nhân vật tên tuổi đã quá cố: nghệ sĩ diễn ngâm Hồ Điệp và ca nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

Hội hè đình đám nào cũng mở đầu bằng việc giới thiệu quý khách dự…

Hầu như xướng tên quý khách buổi Nà Khê hôm ấy rất O.K nếu không có sự lưu ý của đại tá VNCH Nguyễn Sùng.

Đại tá Nguyễn Sùng vốn tốt nghiệp cử nhân luật bên Pháp, về miền Nam đồng hoá vào chức vụ Hành chánh Tài chánh, sau chuyển làm chỉ huy trưởng Quân nhu QL VNCH.

Song tôi cứ đinh ninh ông cũng viết lách, vì là bạn của chủ nhân Minh Minh Thư Uyển, tôi giới thiệu:

Nhà thơ Nguyễn Sùng…

Tôi thấy ông lắc đầu, bèn đưa ra vài danh xưng khác nhưng ông vẫn lắc đầu.

Tôi chợt hiểu ra ông đang căm tức bọn quỷ phiệt đã khiến ông khổ sở trong tù cải tạo, bèn nghiêm trang giới thiệu:

Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu với quý vị, đại tá VNCH Nguyễn Sùng, mới từ trại tù cải tạo về.

Nguyễn tiên sinh cười gật đầu. Thế là ai nấy cười ồ lên. Chị Hồ Điệp cười tươi nhất vì thấy hội thơ hôm ấy phóng khoáng vô cùng.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vẫn nụ cười cố hữu của ông là chan hoà riêng biệt, nhân diện rất vô tư, như trong đời ông chưa hề đau khổ, tức giận bao giờ.

Bấy giờ tôi mới để ý tới người khách ngồi bên cạnh nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Ông ta mặc quần tây màu nâu cà phê sữa, áo sơ mi tay dài màu trắng, dáng hình hơi mập, lưng hơi còng hay tại ngồi chả biết, nhân diện ôn nhu. Ông ta luôn nhìn xuống nhưng thẳng thắn.

Tôi thực sự chưa biết ông là ai, bạn của Trịnh Công Sơn thì ai cũng biết rồi, mới cùng đi với nhau chứ.

Trịnh Công Sơn thấy tôi ngó ông bạn của nhạc sĩ, anh ta đỡ lời ngay: Thái Bá Tân .

Người bạn tên Thái Bá Tân của Trịnh Công Sơn hơi vui vẻ, kín đáo, gật đầu chào mọi người.

Tất cả khoảng 40 khách dự ngồi trên những chiếc chiếu trải kín sàn phòng khách lớn trên lầu ba biệt thự Minh Minh Thư Uyển đó.

Ở Việt Nam, sau cuộc đổi đời đi xuống hầu như chiếu được sử dụng thay cho bàn ghế rắc rối. Bất cứ ở khuôn viên nào cũng xài chiếu mời khách quần tam, tụ ngũ, nên mọi chuyện trở thành thói quen, rất tự nhiên và còn có vẻ thân mật nữa.

Tất nhiên xướng ngôn viên, ca nhạc sĩ cũng ngồi trình bầy mặc dầu có hay không có micro.

Hội thơ trên những chiếc chiếu trải xít nhau nhưng vẫn giữ được vẻ lịch sự riêng và cũng là một tính chất đặc biệt chỉ xảy ra sau ngày Bên cướp cuộc hiện diện ở miền Nam.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã ôm cây ghi ta sẵn sàng cất tiếng hát trong phong cách một nhạc sĩ trẻ dù đã 46 tuổi, quần jeans, áo sơ mi kẻ sọc xám trắng, lúc nào cũng giữ nụ cười lạc quan.

Nhưng tôi vẫn phải điều hành theo thủ tục một buổi lễ hội bình thường, là vẫn có những mục, tiết tấu để đưa quý vị thi khách nêu trên vào nội dung buổi giới thiệu Truyện Nà Khê của tác giả Như Hiên.

Đó là đọc và tóm tắt câu chuyện của một gia đình người Tày ở thượng du Bắc Việt trước 1954.

Rồi mời khách dự góp ý, thật ra là sự bày tỏ riêng tư về tác giả cùng gia đình chủ nhân Thư Uyển nhiều hơn, sách được trình bày qua loa.

Tất nhiên tôi không quên mời ông bạn Trịnh Công Sơn là Thái Bá Tân cho ý kiến.

Không ngờ tôi mời tịch xướng, Thái Bá Tân hơi giật mình, Trịnh Công Sơn đỡ lời ngay rằng anh Thái Bá Tân chỉ chuyên phê về lãnh vực nghệ thuật. Tức là việc phê phán tác phẩm Nà Khê của nhà văn Như Hiên không thuộc việc của ông ta.

Thực ra, ra mắt sách kiểu bỏ túi ở Việt Nam sau 1975 nơi các nhà quen chế độ cũ chỉ là chuyện thứ yếu, còn chính là họp nhau ăn uống một chút cho vui, hát hò ngâm vịnh lai rai, cho đời bớt ưu tư thời thế thôi…

Năm 1985 chính là năm ông Nguyễn Văn Linh lên đài tuyên bố chính sách Đổi mới.

Các tụ điểm ca nhạc ngoài phố đã bắt đầu hát mấy bài tiền chiến, đôi khi mấy bài mang âm hưởng gió mưa thời thế cũng được thấp thoáng vang đưa từ các ngõ hẻm…

Tôi phải giới thiệu xen kẽ hai tiết mục thơ và nhạc do chỉ hai nhân vật tên tuổi trước 1975 ở miền Nam là ngâm sĩ Hồ Điệp và Trịnh Công Sơn thay phiên trình bày.

Có điều là tới buổi đó Trịnh Công Sơn mới biết giọng ngâm Hồ Điệp. Anh ta nói với tôi một câu đùa mà chị Hồ Điệp trả lời là phạm thượng, ý nói Trịnh Công Sơn còn trẻ hơn chị. Năm đó nghệ sĩ diễn ngâm Hồ Điệp 55 tuổi nhưng rất trẻ trung.

Nghệ sĩ trình diễn nào cũng thích độc quyền thả giọng bay bổng không ngừng nên khi Trịnh Công Sơn đã ôm đàn là định hát hai, ba bài, chị Hồ Điệp thì ngâm một số bài thơ hơi dài nên Trịnh Công Sơn cứ vừa cười vừa lắc đầu, chị Hồ Điệp vừa cười vừa ngâm.

Khiến có lúc tôi phải giả vờ ngắt giọng của nhị vị, vì tôi thì rất được bạn thơ ca nể chút, vì là người giữ chương trình cho buổi hội ngộ được chan hoà vui vẻ.

Sau hết là lời cám ơn và thay mặt chủ nhân mời quý khách hạ sơn dự tiệc rượu.

Mọi người lục tục xuống thang gác, hai lối đi trong và ngoài Thư Uyển Minh Minh ấy.

Chiếc bàn dài được trang trọng với những món ăn gia đình chủ nhân nấu, đủ thịt thà tôm cá song đặc biệt nhất vẫn là những chai rượu Tây đắt tiền, vì học giả giáo sư Thanh Vân Nguyễn Duy Nhường có trưởng nam ở Paris đã mấy chục năm trước rồi.

Nghe tiếng nói cười rộn ràng, tôi kịp thấy nhạc sĩ Trịnh Công Sơn ở chỗ ngồi ghế giữa bàn tiệc, nhưng không thấy người bạn Thái Bá Tân.

Tôi hỏi Trịnh Công Sơn bạn ấy đâu rồi, nhạc sĩ trả lời:

Anh ấy có việc đi rồi.

Thực ra có lẽ Thái Bá Tân nghĩ chúng tôi đều ở bên kia giới tuyến của ông, ngại không cụng ly vì chẳng lẽ trong bàn tiệc ông cũng không nói năng gì như lúc ở chiếu bình văn thơ trước đó sao.

Sân biệt thự Minh Minh Thư Uyển chật nghẹt xe honda. Tôi nhìn ra cửa lớn, Thái Bá Tân vừa lên xe phóng đi thì phải…

CAO MỴ NHÂN




KIỀU MỸ DUYÊN – Xuân Họp Mặt




VĂN: Nốt nhạc rớt trên đồi – Cao Mỵ Nhân

Nốt Nhạc Rớt Trên Đồi

**

Thế rồi con cái ai cũng lớn lên.

Mimi đã lên 17 tuổi, chuẩn bị thi vô đại học.

Tôi thì chưa 40, phải vui mới đúng, đằng này tôi có cảm tưởng mình già đến nơi, bắt đầu làm thơ buồn…

Đó là thời gian hậu tù cải tạo, lại cũng đã đi xây dựng nông trường hai năm, quá đủ điều kiện để về thành phố.

Năm đó tôi cố gắng tổ chức cho con gái đầu lòng một cái tiệc sinh nhật, tất nhiên trong điều kiện… quê mùa Việt Nam thôi, nhưng vẫn đặt một ổ bánh kem khá hấp dẫn.

Ngoài số bạn gái cùng lớp con tôi, tôi thấy có một cậu bé cùng trang lứa mặt mũi rất là đẹp trai, còn dắt thêm đứa em trai nhỏ độ 10 tuổi, giới thiệu là em trai út tên Giang Châu.

Mimi cười nói luôn miệng, lộ vẻ sung sướng vì thủa đó khoảng giữa thập niên 80, liến thoắng hỏi tôi:

Ở trong quân đội má có biết trung tá Vũ Văn Sâm không? Ông ấy là nhạc sĩ Thục Vũ?

Biết, mà sao hỏi thăm ổng chi vậy?

Vì đây là Nguyên, con trai thứ hai của bác nhạc sĩ ấy, học cùng lớp chúng con. Bé Giang Châu sanh vào mùa hè đỏ lửa. Ngày bác Thục Vũ ra đi tù cải tạo, Giang Châu mới 3 tuổi.

Tôi ngắm Giang Châu rồi bỗng nhớ tuồng tích Tàu Tư Mã Giang Châu… Nghệ sĩ nào ở cấp ông gì cũng bảng lảng hồn thơ…

Mimi nói với tôi:

Anh Đan Kỳ vượt biên hụt nên công an phường xoá hộ khẩu, nay trốn ở nhà quen trong khu nhà thờ Ba Chuông này. Vậy mai mốt má cho mẹ Nguyên tới đây gặp anh Kỳ nhé.

Tức là tôi để mẹ Nguyên, phu nhân trung tá Vũ Văn Sâm gặp con trai cả của mình ở phòng khách nhà tôi.

Tôi nói được chứ. Mimi thưa bác cứ tự nhiên, xem như khách, không ai để ý đâu.

Vài ngày sau Đan Kỳ tới nhà tôi trước, đợi mẹ cậu đến để thăm hỏi chuyện nhà và hỗ trợ, v.v..

Phu nhân nhạc sĩ Thục Vũ – trung tá Vũ Văn Sâm có dáng vẻ đài các, sang trọng. Bà còn buôn bán tháo vát, có sạp chạp phô trong chợ Bà Chiểu, quận Bình Thạnh.

Sau vài lời xã giao, bà phu nhân cười vui vẻ, hỏi tôi vì biết tôi làm thơ:

Chị có biết Lệ Khánh không?

Có nghe tên nhưng không quen.

Ấy, ông Sâm nhà này ưa lắm đấy, cô ta có mấy tập thơ “Em là con gái trời bắt xấu” đó.

Tôi chỉ ừ ào, vì sự thực tôi không quen nhà thơ Lệ Khánh.

Sau tôi có dịp tới lui quán Gió Bấc, một cái chòi khá lớn có mặt tiền trên đường Công Lý cũ, nay kêu là Nam Kỳ Khởi Nghĩa, của bà Mỹ Phụng cựu hoa khôi Hồng Kông, Trùng Khánh gì đó từ thời vua Bảo Đại. Bà còn là chủ nhà hàng Mỹ Phụng trên sông Sài Gòn trước 30 – 4 – 1975.

…mới biết là Lệ Khánh vừa qua giai đoạn bán bánh chưng chiên ở cửa quán Gió Bấc.

Lệ Khánh cũng phải tảo tần để nuôi đứa con trai duy nhất mà nhạc sĩ Thục Vũ – trung tá Vũ Văn Sâm kỷ niệm cho… nàng thơ năm 1967.

Quán Gió Bấc là nơi quần tam tụ ngũ giới văn nghệ sĩ Sài Gòn kẹt lại sau 30 – 4 – 1975 và cả các văn nghệ sĩ Cộng sản cũng có thể ghé…

Tất nhiên phe ta nếu không dính tới chính quyền Việt Nam Cộng Hoà thì vẫn ngang nhiên ngồi thả hồn ngó mây bay, nên nào là Phạm Thiên Thư, nào là Trụ Vũ, v.v. vẫn có thể lai rai ở Gió Bấc.

Đặc biệt mấy năm đầu thập niên 80 thế kỷ trước, nghệ sĩ diễn ngâm Hồ Điệp thường ghé Gió Bấc vì buồn và âm hưởng thi ca Tao Đàn xưa vẫn còn đồng vọng.

Với một không khí tạp lục như thế, xét ra chỉ có tôi là liều mạng. Nghĩ mình cũng đã xong tù cải tạo nên ghé Gió Bấc thường xuyên.

Tôi hay cùng chị Hồ Điệp ngồi đợi những đợt dân Sài Gòn đi lãnh đồ Mỹ do thân nhân gởi về trên những chiếc xe xích lô máy phóng bạt mạng vì sợ kẻ gian cướp thùng quà dọc đường đi ngang cửa quán.

Bấy giờ chị Hồ Điệp thì chờ quà của con trai, còn tôi thì chờ quà của ông xã, nhưng đều thất vọng vì hằng ngày cứ biệt vô âm tín tin thân nhân của mình. Chúng tôi chưa đói, chưa rách nhưng nhìn vào hai chị em là biết nỗi tuyệt vọng tới đâu rồi.

Mấy năm sau xa nhau, rồi mấy năm sau nữa liên tiếp nhiều sự đổi thay… song không thuộc phạm vi bài này.

Mặc dầu gia đình nhạc sĩ Thục Vũ – trung tá Vũ Văn Sâm đã nhờ cô con gái lanh lẹ, tháo vát xin vô làm nhà hàng trên bến cảng Sài Gòn, rồi nhờ khách quý giúp trốn đi vượt biên thành công, nhập cư ở Canada rồi bảo lãnh cho cả mẹ và ba em trai Đan Kỳ, Quang Nguyên, Hà Giang, Giang Châu đi đoàn tụ.

Nhưng miền Nam Việt Nam là chỉ có đi… chia ly, gần như chỉ có số ít người cả nhà, cả họ được đoàn tụ, chứ không nhiều thì ít gia đình có những cuộc chia ly mới.

Phu nhân chỉ đưa hai cậu bé Hà Giang, Giang Châu qua Canada, còn hai cậu lớn Kỳ Anh, Quang Nguyên thì có gia đình, phải ở lại…

Mùa xuân năm 1996, tôi được bạn bè ở Denver, Colorado mời qua ăn cưới con gái nhưng quý vị ấy lại kết hợp tổ chức ra mắt sách Chốn bụi hồng cho tôi.

Tại buổi tôi gọi đùa là Sơn Bắc mãi Văn cuốn Chốn bụi hồng của mình, một niên trưởng huynh đệ chi binh là trung tá Mai Quỳ, cựu trào Tâm lý chiến Trường Bộ binh Thủ Đức từ thủa tôi còn đi học nói với tôi:

Này Cao Mỵ Nhân, ông nhạc sĩ Thục Vũ – trung tá Vũ Văn Sâm chết trong tù Hoàng Liên Sơn quê cô đấy. Thục Vũ chôn ở ngọn đồi toàn hoa ban trắng ghê rợn lắm. Tôi đứng chứng kiến cái chết của Vũ Văn Sâm. Nhớ viết một bài đi.

Hôm đó tôi lại bận quá, chưa kịp hỏi thăm thêm gì, rồi sau còn bận thêm nữa nên không phải là quên, mà vẫn nhớ nhưng sự lười biếng cứ chồng chất lên nhau mãi…

Niên trưởng Mai Quỳ nói với thi sĩ trung tá Hoàng Ngọc Liên nhắc Cao Mỵ Nhân là có về thăm quê Sa Pa của cô ấy thì tìm thăm mộ trung tá Vũ Văn Sâm ở đồi hoa ban trắng, nơi đồi hoa ban xem như nghĩa địa của tù cải tạo ở trại Hoàng Liên Sơn.

Thật buồn khi tưởng tượng một vạt đồi hoa ban trắng toát với những làn sương mỏng bay lượn lờ trong âm khí lạnh tanh, phảng phất những linh hồn của huynh đệ chi binh lảng vảng, u hờn xa cách thân nhân hàng vạn dặm trường…

Cao Mỵ Nhân




THƠ ĐƯỜNG XƯỚNG HỌA: NỤ QUỲNH ĐẦU NĂM – Minh Thúy, Cao Mỵ Nhân, Cao Bồi Già, Phương Hoa, Như Thu….và Nhiều Thi Hữu Khác…

NỤ QUỲNH ĐẦU NĂM

*

Sáng hưởng trời Xuân ngắm nụ Quỳnh

Em màu đẹp thắm đóa vàng xinh

Nâng cành khỏa bút ghi vần chữ

Chớp ảnh tranh thơ tạc bóng hình

Gió thổi đường mơ thuyền tĩnh lặng

Nàng gieo ngõ mộng bến an bình

Kề hoa diễm tuyệt hương thơm ngát

Lấp lánh sương mai những giọt tình

Minh Thuý Thành Nội

Tháng 2/5/2022

CÁC BÀI HỌA:

QUỲNH HƯƠNG…

*

Môi mắt ai trông bội đóa quỳnh

Giữa vườn xuân thắm, tuyệt trần xinh

Kim chi nghẹn thẹn thua nhan sắc

Ngọc diệp thầm ghen kém vóc hình

Sưởi nắng, nụ cười hoa rúng động

Ngắm em, chim lặng gió yên bình

Làn hương thoảng lướt qua hồn gã…

Lòng tưởng lịm say chén rượu tình…

CAO BỒI GIÀ

06-02-2022

ĐOÁ VƯƠNG QUỲNH

*

Đầu năm rạng rỡ đoá vương Quỳnh

Hỏi sắc hoa nào tươi thắm xinh

Mùa đã vào Xuân vàng tuyết nắng

Ngày đang còn Tết rực châu hình

Mưa sương sớm tạnh mầu hư ảo

Mây khói như mơ cảnh thái bình

Khai bút thơ dâng hương ngát toả

Đất trời hoà hợp mối giao tình …

*

Hawthorne  6 – 2 – 2022

CAO MỴ NHÂN

QUỲNH NỞ

*

Giòn mỏng như em một đoá Quỳnh

Sương đêm còn ngậm nở tươi xinh

Sắc vàng tình tứ lung linh nhuỵ

Thân nhuyễn mộng mơ lả lướt hình

Đã khiến lòng đây êm lắng đọng

Còn làm trí đó ngập yên bình

Xuân đầu cảm nghiệm-đời sung mãn

Bởi với Hoa kia thật gợi tình.

Thái Huy 2/06/22

QUỲNH HOA

*

Ra vườn thoáng gặp đóa hoa quỳnh

Chúm chím mong manh quả thật xinh

Búp tỏa vàng anh như bức họa

Lá vờn xanh ngát tựa tranh hình

Mỹ miều hoa hé tô xuân sắc

Tha thướt nụ bung đón thái bình

Thoắt hiện sớm mai rồi héo rũ

Mong ai giữ lại chút lưu tình

2/5/22

Thuy Messegee

QUỲNH HƯƠNG

*

Ngờ đâu mới gặp đã yêu Quỳnh!

Khuấy động tâm hồn bởi dáng xinh!

Nhụy hé thẹn thùng xao xuyến gã

Đài nghiêng bẽn lẽn vấn vương hình

Hân hoan thưởng nguyệt rồi vui chén

Hớn hở mời em sẽ cạn bình

Giã biệt đêm này tim thổn thức

Người ơi nào thấu kẻ chung tình!

Như Thu

02/05/2022

QUỲNH HƯƠNG CỦA TÔI

*

Đêm Xuân ra ngắm thấy cành Quỳnh

Hoa nở trắng ngần trông rất xinh

Lá biếc bao quanh che chiếc bóng

Nụ vàng ở giữa hiện nguyên hình

Mơ màng gió thoảng hương thơm ngát

Lóng lánh sương rơi cảnh thạnh  bình

Nâng cánh nhẹ nhàng hồn luyến rũ

Thầm mơ dáng nhỏ một người tình

songquang

20220206

QUỲNH HOA

*

Lấp lánh đầu hiên chợt đóa Quỳnh

Nụ xòe trắng muốt cánh hoa xinh

Dịu dàng dáng ngọc khôn phô sắc

E ấp cành hương khéo ẩn hình

Dưới nguyệt tao thanh mầu tuyệt diễm

Bên trời thơi thảnh vẻ yên bình

Nhàn tâm thưởng lãm… khiêm thời khắc

Đủ để “lão ngông” quyến luyến tình?!

Xuân ND 2022

Nguyễn Huy Khôi

ĐÊM QUỲNH HƯƠNG

*

Hiên vắng trời xuân nhấp chén quỳnh

Nụ Quỳnh chớm nở dáng xinh xinh.

Rung rung đài tím đang bung cánh

Mũm mĩm nhuỵ trong lúc tượng hình.

Trong gió mơ hồ lay ánh nguyệt

Bên hoa e ấp lộng phong bình

Đêm nay thức trắng cùng em nhé

Say đắm hồn ta phút hứng tình.

Mailoc

2-6-22

QUỲNH HƯƠNG

*

Đầu năm nở đẹp đóa hương quỳnh,

Cánh lụa, đài cong, uốn thật xinh.

Gợi cảm tao nhân vì ngọc dáng,

Say lòng mặc khách bởi duyên hình.

Liêu trai dưới nguyệt sương mờ ảo,

Bí ẩn trong đêm bóng bập bình.

Thấp thoáng về khuya rồi héo rụng,

Đời hoa ngắn ngủi, chút lưu tình.

Mỹ Ngọc

Feb.7/2022.

HƯƠNG QUỲNH

*

Nửa đêm nghe thoảng nhẹ hương quỳnh

Bên mé thềm hoang một đóa xinh

Mỏng mảnh cánh hoa sương tỏa bóng

Rung rinh làn nhụy nguyệt soi hình

Hồn trầm lạc lõng tràn mê khúc

Dạ thấm say sưa chạm đáy bình

Chốc thoáng ngạt ngào nơi cõi thế

Trần gian lưu luyến biết bao tình.

Lê Mỹ Hoàn

7/2/2022

ĐẦU XUÂN THƯỞNG QUỲNH

*

Khó sánh khôn so nét đẹp quỳnh

Sắc vàng rực rỡ vóc ngà xinh

Lung linh cánh mượt mây lồng bóng

Lóng lánh đài thanh gió gợn hình

Mặc khách thưởng hoa thơ ngập túi

Tao nhân ngắm nụ rượu lưng bình

Đầu Xuân xướng họa cùng tri kỷ

Tết Cọp niềm vui trọn nghĩa tình

Phương Hoa – FEB 7th 2022

NGẮM ĐÓA HOÀNG QUỲNH

*

Đầu xuân rực rỡ đóa hoàng quỳnh

Dưới ánh mai hồng xinh thật xinh

Gợi nhớ áo dài xưa tạo dáng

Chạnh thương trăng bóng lẻ soi hình

Dìu nhau qua suốt mùa chinh chiến

Lạc bước mất nhau buổi thái bình

Số phận hay lòng xao lãng để…

Nhìn hoa thắm nở,xót xa tìnhLý Đức Quỳnh 10/2/2022

ĐÓA QUỲNH HƯƠNG

*

Trời Xuân vàng thắm đóa hoa quỳnh

Đẹp thật đầu năm sắc quá xinh

Khơi dậy chất thơ qua nét chữ

Như in dáng vẻ tạo nên hình

Tâm duyên vừa đến trong giây phút

Dẫn dắt chân phương trụ cõi bình

Vậy đó yêu đời mà dấn bước

Tự thân say đắm những hương tình

         Hoàng Mai Nhất

HỒ ĐIỆP MÊ QUỲNH

Trà thơm tỏa nhẹ lẫn hương quỳnh

Cõi mộng mơ màng cảnh sắc xinh

Bóng nguyệt lung linh rờ rẫm lá

Lời hoa thủ thỉ gợi muôn hình

Tìm vui thức đợi quên cơn ngủ

Tỉnh giấc tàn canh rượu cạn bình

Bụng chứa trăm sầu quên tuốt luốt

Nằm đây xác bướm nợ vương tình

Chu Hà

UỐNG TRÀ NGẮM QUỲNH

Uống trà ngắm nghía đoá hoa Quỳnh

Mặc áo vàng tươi thấy rất xinh

Sao nỡ bỏ qua ghi mấy chữ

Gọi là đồng cảm với thân hình

Ô hay, năm mới em khoe đẹp

Ngây ngất lòng ai phải bất bình!

Quỳnh nở về đêm thơm bát ngát

Sương khuya còn đọng gợi đêm tình!…

                   Yên Hà

                  10/2/2022

VỊNH ĐOÁ HOA QUỲNH

Đầu năm rực nở đoá hoa Quỳnh,     

Sắc thắm vàng ôi rất đẹp xinh.

Hương ngát mùi thơm đầy bóng nhuỵ,

Thân tươi dáng đẹp rõ nguyên hình. 

Vần thơ say đắm hoà tâm mộng,

Nét hoạ vấn vương đượm ý tình.

Hoàng nữ về đêm danh đã định…

Vườn xuân chan chứa nét yên bình !   

 Liêu Xuyên

TUYỆT ĐÓA HOA QUỲNH 

Nắng Xuân sáng rực bóng nàng Quỳnh,

Em đẹp vô cùng thả dáng xinh.

Cành dẻo đỡ nâng thân mỏng mảnh,

Cánh tươi mở ép nụ khêu hình.

Bướm ghen đờ đẫn bay trêu ghẹo,

Chím ghét nhìn xa hót ngọng bình.

Tuyệt diễm trời cho hoa ngọc hực,

Xoáy tim nhân thế lụy đưa tình.

HỒ NGUYỄN (08-02-2022)

CÁM ƠN MỘT ĐOÁ QUỲNH
Sáng ra lộng lẫy đóa hoàng quỳnh,

Cánh tỏa …xiêm y Ngọc nữ xinh

Gió sớm lay cành ngây ngất sắc

Sương mai đọng giọt diễm kiều hình

Xum xuê nụ tím, đầy thương mến

Phảng phất hương thơm, ngập thái bình

Cảm tạ đất trời cho thưởng ngoạn,

Khai hoa một sớm biết bao tình!

Thanh Hoà


HOA ĐẸP NGÀY XUÂN

Ở dưới sương mai nở nụ Quỳnh

Trông màu vương giả nét tươi xinh

Như nàng khuê các đang đùa chữ

Giống kẻ phiêu lưu cố tạo hình

Xuân đến ngàn hoa cùng hé nở

Gió mơn muôn vật sống yên bình

Bên hoa thoang thoảng mùi nồng thắm

Ngây ngất hồn ai phút gợi tình….

Paris, 08 Fév.2022

TRỊNH CƠ 

MỘT ĐOÁ QUỲNH

Chớm nở đêm qua một đóa Quỳnh

Cánh hoa  trinh trắng thật là xinh

Hương thơm nhè nhẹ lung linh bóng

Cánh mỏng thanh tao diễm lệ hình

Nét đẹp dịu dàng nhưng yểu điệu

Nhụy vàng thon thả rất yên bình

Đầu năm không khí như trầm lặng

Chia xẻ cùng ta chút ẩn tình …

THIÊN LÝ

ƯỚC MỘNG TÌNH ,

Háo hức ngày đêm khắc hoạ Quỳnh

Trong ngần sắc trắng dịu dàng xinh

Tơ đàn réo rắt khoe cung bậc

Nhịp phách vui tươi mở dáng hình

Thanh thoát màu tơ lòng nhẹ nhõm

Hân hoan cánh nhụy dạ yên bình

Ôi chao nét đẹp lung linh ấy

Sáu khắc năm canh ước mộng tình !

PHƯỢNG HỒNG

ĐÊM XƯA…

Thức trắng đêm nao để gặp Quỳnh

Lầu cao, cảnh vật thật yên bình !

Lung linh…cánh nở khoe hương sắc

Lấp lánh…Nguyệt soi lộ dáng hình

Trước gió dịu dàng tay thiếu nữ 

Trong sương mơn mởn nụ hoa xinh

Một lần chạm mặt rồi lưu luyến

 Ai biết lòng ta mãi nặng tình!

Thy Lệ Trang

ĐÓA QUỲNH

Sắc đẹp nào so những đóa Quỳnh

Màu vàng quý tộc sáng tươi xinh

Khoe mình rực rỡ bừng hương nắng

Nở nụ cao sang tỏ ánh hình

Cũng đến tàn rơi về đất lạnh

Rồi thì rũ héo với u minh

Không không có có ai ngờ được

Để lại mai sau một chút tình                  

 Bảo Trâm 

XUÂN QUỲNH

Thắm thiết nhìn say mấy nụ QUỲNH     

Cao vời vương giả ngắm càng xinh        

Màu hoa tươi mát nồng gương lụa      

Nắng gợi đường thơ đẹp dáng hình        

Khép nép trang đài mơ giấc mộng        

E dè quý tộc nét xuân bình        T

ô đời phấn điểm tròn năm tháng        

Khát vọng dâng mang nặng khối tình    

                     Nam Giao 

CHẠM LI BÊN QUỲNH

Cả tổ vui Xuân tiệc ngắm Quỳnh

Hai nàng thơ trẻ xỉnh xình xinh

Một lo bày biện chờ nâng cốc

Một cứ loay hoay hướng chụp hình

Cánh lụa trắng tinh, hương thoáng ngát 

Vầng trăng huyền ảo, nguyệt thanh bình

Xuýt xoa, ánh mắt không rời được

Một rượu một hoa vạn ý tình,

Trần Như Tùng

Mối Xuân Quỳnh 

Vời cao thanh sắc có hoa Quỳnh

Chỉ nở đêm về tuyệt đẹp xinh

Chiêm ngưỡng nhà thơ say đắm tả 

Mến yêu hoạ sĩ  tạo nên hình 

Mãn khai vẻ ngọc người trân quý 

Hàm tiếu  duyên kim mộng thái bình

Một cánh thiên hương thơm ngát toả

Đầu năm man mác mối Xuân tình          

Uyên Quang 

CHÉN QUỲNH ĐẦU NĂM

(Ngũ vận thông)

Sáng uống trà sen tối rượu quỳnh

Đêm nằm mơ giấc mộng xinh xinh

Bên nàng thục nữ mai thần sắc

Cạnh gái thuyền quyên liễu dáng hình

Tết chúc làm ăn hoài thịnh vượng

Xuân cầu sức khỏe mãi khang ninh

Đời người ngẫm lại bao nhiêu chốc

Phải sống làm sao trọn nghĩa tình

Hư Không

8 Feb 2022

Ngắm Nụ Hoa Quỳnh

Chiều Xuân lặng ngắm nụ hoa Quỳnh

Sắc đẹp vàng tươi một đóa xinh

Cành lá vươn nhanh đôi bức ảnh

IPhone chụp lẹ một pô hình

Bên thềm Thánh Thất mơ yên lặng

Cạnh góc Thiền Môn mộng thái bình

Nắng ấm ban mai hương tỏa ngát

Nguyên Tiêu tiết lạnh sớm trao tình…!

Mai Xuân Thanh -February 14, 2022 Ngày Lễ Tình Nhân Valentine ( từ Âu châu sang Á châu…có lẽ khắp nơi )

QUỲNH HƯƠNG

Anh gởi cho em một đóa quỳnh

Bảo rằng hoa đẹp giống người xinh

Tinh khôi cánh trắng như màu áo

Duyên dáng đài thon tựa dáng hình

Hương thoảng nhẹ nhàng duyên nhã nhặn

Cành vươn mềm mại nét thanh bình

Ước mơ đôi lứa luôn đầm ấm

Trọn kiếp keo sơn mối diễm tình

Sông Thu( 14/02/2022 )

XA VẮNG QUỲNH

Dù tám năm qua xa vắng Quỳnh (*)

Vẫn còn đậm rõ nốt ruồi xinh

Ôi đôi mắt xếch Phan An nét

Với cặp mày thanh Tống Ngọc hình

Thời chiến cách ngăn vì chiến trận

Hoà bình tù ngục chẳng an bình

Đầu năm thắp nén nhang ngày giỗ

Khấn nguyện linh thiêng thấu nghĩa tình

Kiều Mộng Hà

 Feb 14th2022




CHÙM THƠ Cao Mỵ Nhân – HẠ NÊU-TÌNH VUI – TIẾNG YÊU – NGÔN NGỮ CỦA TRÁI TIM

HẠ NÊU

*  

Anh hạ cây nêu

Pháo nổ tan giòn

Vui hay buồn nhỉ

Đầy sân hoa vàng 

*

Hẹn em sang năm

Trở về tái ngộ

Bụi trúc than van 

Nuôi từng nỗi nhớ

*

 Hôm đưa tiễn Táo 

Lên trời trình tâu

Mênh mang tiếng sáo 

Trên ngọn nêu cao 

*Đã qua khai hạ

Mỗi năm một lần 

Ôi buồn bã lạ

Tuổi xuân vơi dần … 

*

CAO MỴ NHÂN (HNPD)

 TÌNH VUI.     CAO MỴ NHÂN 

*

Valentine !  Valentine 

Có anh hay chẳng có ai bên mình 

Bao nhiêu thiên hạ tỏ tình 

Valentine đợi bóng hình phù vân 

Valentine đúng dịp Xuân 

Ngó em vui quá, cố nhân mỉm cười

Rằng : ” anh vẫn ở bên trời

Nhưng, ngày lễ hội suốt đời nhớ nhau “

Valentine ! trước như sau

Tình xưa là chính tình đầu thủa nay

Lúc nào em cũng đắm say

Valentine tưởng khói mây giao hoà 

Valentine ! Ôi thiết tha

Nồng nàn gió chuyển hương xa tìm về 

Valentine, niềm si mê 

Nụ hôn chan chứa thơ đề tặng anh …

      CAO MỴ NHÂN

TIẾNG YÊU.    CAO MỴ NHÂN 

*

Tiếng Yêu nghe thật dịu dàng 

Như tay anh vẫn thường quàng vai em

Tiếng Yêu nghe sao êm đềm

Như em che cặp mắt nhìn thơ ngây

Tiếng Yêu vẳng vọng đâu đây

Rõ ràng, sao lại tỉnh say giả vờ

Tiếng Yêu chất ngất trong thơ

Cho anh chuyên chở mộng mơ tặng người

Tiếng Yêu ôi quá tuyệt vời

Xin đừng lưỡng lự, kẻo rồi ăn năn

Tiếng Yêu giờ đã trăm năm

Ru em suốt cả giấc xuân êm đềm

Tiếng Yêu em chỉ trao mình

Còn chi để nói mà trình với thưa 

” Biết rồi, em hết Yêu chưa

Tiếng Yêu vốn mới với xưa thuận hoà …”

         CAO MỴ NHÂN 

NGÔN NGỮ CỦA TRÁI TIM.    CAO MỴ NHÂN 

*

Trong ngôn ngữ trái tim

Có những điều sai biệt

Như anh nói với em

Bao nhiêu là tình tiết 

Lời tim thường phân tán 

Theo mỗi lúc, mỗi nơi

Đôi khi tưởng mất mát 

Cách biệt cả khung trời

Cho dẫu em say đắm

Cuộc tình đã rời xa

Nhịp tim đang đều đặn

Bỗng thăng, giáng mù loà

Khi lời lẽ êm đềm 

Lúc cuồng điên, hờn giận

Vẫn là tiếng của tim 

Sao em buồn chất ngất …

   CAO MỴ NHÂN




THƠ – CAO MỴ NHÂN

BIỆT TÍCH XUÂN

*

Năm ngoái xuân biệt tăm 

Năm nay xuân biệt tích 

Hỏi xuân một trăm năm 

Sẽ tàn trong tích tắc

*

Xuân không hề mất mát 

Vẫn hồn nhiên như  thơ 

Mây bay sầu tản mác 

Anh bỏ em mộng mơ

*

Không pháo giao niên nổ 

Còn gì bảo là xuân 

Tiếng chim rơi nhắc nhở 

Anh bây giờ cố nhân 

*

Thì thôi chào người tình 

Chúng mình cùng phiêu bạt 

Vạn vật đang hồi sinh

Cho không gian lãng mạn …

*

Hawthorne  4 – 2 – 2022

        CAO MỴ NHÂN 

*

BIỆT TĂM XUÂN

*

Câu chuyện mùa xuân đã nhạt dần

Nắng chiều từng đốm đổ trên sân

Người ôm kỷ niệm đầy hư ảo 

Một phút trầm tư ngó cố nhân 

*

Vừa mới hôm qua chúc tụng nhau

Xuân này, xuân nữa, những xuân sau

Bao nhiêu xuân vẫn là xuân cũ 

Chỉ có xuân xưa đẹp thủa đầu

*

Tiếng hót vành khuyên thật sáng trong

Đôi chim soải cánh rơi mênh mông

Cố nhân thân thuộc như xa lạ

Chim thoắt bay xa, lạc cõi lòng 

*

Cả một trời xuân, một đất xuân 

Trăm hoa đua nở mấy mươi năm 

Nguyên rừng mai, cúc vàng tri kỷ

Xuân gọi thơ từ chốn biệt tăm …

*

       CAO MỴ NHÂN 




VĂN: BAY ĐƠN- Cao Mỵ Nhân

BAY ĐƠN

Trong Quân lực VNCH, chuyện đoàn trực thăng bay nhiều chiếc, nhiều chuyến là rất bình thường vì công tác chuyển quân của các đơn vị ra chiến trường.

Còn chuồn chuồn cánh quạt bay đơn hay bay đôi chỉ xảy ra nơi những công tác hằng ngày của quan chức tư lệnh hay yếu nhân đi thị sát mặt trận, di chuyển cần thiết khắp lãnh thổ trách nhiệm hoặc các phái đoàn đi công tác không có tính cách tác chiến.

Những chuyến bay đơn như máy bay loại nhỏ L19, L20, Cessna, H34, HUIB gì đó thì ai trong chúng tôi thời chiến đi công tác đều có thể xin phi vụ hay theo phi vụ bay tới các vùng trời thân quen hoặc xa lạ để làm nhiệm vụ.

Những chiếc máy bay nhỏ này có khi bay đơn, có khi bay đôi tuỳ theo giới chức xin phương tiện di chuyển.

Tôi nhớ khoảng giữa thập niên 60 thế kỷ trước, vì nhu cầu công tác xã hội ở vùng hỏa tuyến quá bộn bề, chúng tôi buộc phải di chuyển ngang vùng địch chiếm bằng máy bay các loại nhỏ như Cessna hay trực thăng.

Cũng khoảng thời gian giữa thập niên 60 đó, Bộ Tư lệnh SĐ2BB phải di chuyển từ An Hải, Đà Nẵng vô Quảng Ngãi để nhường cơ sở doanh trại cho Quân đoàn 24 Hoa Kỳ trú đóng.

Bấy giờ tôi đang phụ trách phòng Xã hội SĐ2BB nhưng mới thuyên chuyển từ SĐ9BB Sa Đéc về nên không thể sắp xếp gia đình được, đành phải đi đi về về Đà Nẵng – Quảng Ngãi như… cơm bữa. Đúng ra không phải hằng ngày mà hằng tuần.

Cứ mỗi cuối tuần là tôi ra sân bay Quảng Ngãi ngồi chầu rìa ở trạm tiếp liên chờ máy bay nào đó về Đà Nẵng xin quá giang ngon lành. Đi miết trở thành khách lính quen.

Thế là thay vì lên trực thăng cùng bốn, năm người khác, có khi may mắn lại được ngồi Cessna sang trọng, không bị ngồi cạnh cửa trực thăng lúc nào cũng trống toác, gió phần phật khiếp đảm.

Cũng nhờ đi trực thăng nhiều mà đã mấy lần tận mắt thấy ông súng máy khạc trọn dây đạn xuống vũng lầy, đồng cát trên đường trường vì nghi ngờ địch sắp ngẩng mặt lên ngắm chuồn chuồn…

Rồi cuối ngày Chủ Nhật hay chậm lắm là sớm tinh sương thứ Hai đầu tuần lại kiếm đường bay nào có pilot hay copilot hào hoa cho ké vô tàu rời đô thị lớn về tỉnh lỵ buồn tênh với sông Trà, núi Ấn. Miệt mài công tác cả tuần năm này tháng khác y như thế.

Do đó tôi biết được hằng ngày xuất phát từ Đà Nẵng bay đi có chuyến bay dành cho việc rải truyền đơn của quân ta vào vùng địch.

Công việc đó của phần hành Tâm lý chiến và Thông tin Chiêu hồi. Tôi vốn là bạn khá thân của quý vị binh vận dân vận vừa nêu nên sau là khách bay của bóng dáng L.19, L.20, hình như thời Pháp còn gọi là máy bay bà già, hay máy bay do thám.

Những chiếc L này đừng tưởng là cô đơn lò dò bay nhé. Quý L mà phát hiện được dấu địch ở đâu là lập tức trình báo quý đấng thẩm quyền rót pháo ngay đúng hướng chẳng chơi…

Một lần tôi lên L.20, ông pilot ngồi ghế bay quay cổ xuống nói: Hôm nay vô trong xa đấy, độ nửa giờ thôi. Ông này là phần hành thả truyền đơn, thả hết cái mớ giấy kia xuống xong là có thể về Quảng Ngãi ăn sáng. Thằng U nó đợi tôi. Cô rảnh thì đi theo điểm tâm rồi về chào cờ cũng không muộn.

Tôi im lặng vì chỉ muốn vô Quảng Ngãi cho yên chuyện đi mây về gió Đà Nẵng thăm con còn trứng nước.

Ông bay nghĩ tôi ừ cả làng, lượn vút lên không, cứ bay theo… quán tính, người thả truyền đơn cứ thả để VC tìm về tổ ấm VNCH xong là rời không phận Ba Tơ, Trà Bồng đi Quảng Ngãi.

Bạn ông bay đã ngồi ghế lái xe Jeep chờ sẵn. Tôi nhanh mắt nhìn thấy chiếc H34 vừa đậu, đại uý trưởng phòng ANQĐ SĐ2BB với cặp mắt kiếng đen quen thuộc cũng hướng về hướng tôi đứng.

Tôi nói với ông bay L.20 hẹn ăn sáng ngày khác, bây giờ tôi theo xe sư đoàn về làm việc thôi. Thế là hợp lý quá, lại chẳng mất lòng ai, lại đúng ý mình, an tâm làm việc tới cuối tuần.

Trên xe jeep, đại uý Đoàn M. hỏi: Mỗi tuần Cao Mỵ Nhân mỗi về Đà Nẵng hả?

Tôi trả lời thật lòng: Mới đổi về Sư đoàn, chưa biết tính sao nữa, vả lại tiện dịp thì về thăm nhà thôi ạ.

Tất nhiên đại uý ANQĐ chả bao giờ tin ai ngay, nhưng ANQĐ với tôi lại thân thiện thì cứ như thăm hỏi xã giao vui vẻ.

Đại uý Đoàn M. chẳng hề bỏ mắt kiếng đen ra bao giờ. Ông nói ông quen một vài pilot có gia đình ở Đà Nẵng như ông với tôi, nếu tôi cần ra vô Đà Nẵng – Quảng Ngãi thì nói với ông, ông sẽ nhờ máy bay trực thăng đó cho.

Bay đơn nếu bình thường thì như chim được cất cánh, nhất là bay những đường gần.

Có lần phái đoàn gọi là CTCT, nhưng thành phần chỉ có ba người: trung tá Trần Hữu Phước trưởng phòng Chính huấn, tôi trưởng phòng Xã hội và một cô nhân viên xã hội, đi từ Đà Nẵng vô Quảng Tín (Tam Kỳ) bằng chiếc Cessna.

Máy bay như du lịch, chỉ có một pilot là thiếu tá Không quân tên Th. Tôi đã đổi về QĐI/QKI rồi, đây là đi công tác.

Hôm đó bầu trời quang đãng, rất đẹp, nắng thật vàng rực rỡ.

Thường làm việc với nhau lâu biết hết tính nhau luôn là trung tá Trần Hữu Phước chỉ dã ngoại khi trời trong sáng như pha lê. Ông vốn có tiệm may Tây lớn ở Đà Nẵng xưa, tới khi bận việc quân cơ, ông cho dẹp lâu rồi.

Nhưng trời sanh ra ai có năng khiếu hay khả năng gì thì thường méo mó nghề nghiệp, nên chi cứ nhìn vào quân phục là biết ngay ông chăm chút quân trang super 100%.

Điều quân phục thẳng nếp đến không thể bẻ gẫy được một ly đã khiến quan tư Không quân xốn mắt.

Lượt vô thì vì thể diện quốc gia, quan tá tư để quan tá năm ngay ngắn đứng trước ba quân nói nói năng năng rất là thơm phưng phức.

Tới lượt về, cha ơi, máy bay chuyển dạ. Cessna cứ hết nhịp ba lại tới nhịp bảy lướt ngang, lượn dọc, cứ như cô Kiều gảy đàn: Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày…

Quan năm Trần Hữu Phước thoạt thì ngỡ ngàng sau sinh bẳn gắt, vài sợi gió chiều loáng thoáng đong đưa lá cành, chứ có phải dông gió lên khơi đâu.

Song tới Đà Thành là vừa kịp trang sách Buồn nôn của Jean Paul Sartre (1905 – 1980) khép lại âm thầm.

Bay đơn, có lẽ theo tôi chỉ có những phi vụ tưởng là thường nhật của trung tướng Ngô Quang Trưởng tư lệnh Quân đoàn I / Quân khu I đi thị sát chiến trường do đại uý pilot Kim cùng chiếc trực thăng không đẹp không xấu nhưng chắc phải tốt là ý nghĩa vô cùng.

Vị tướng lúc nào nhân diện cũng trầm tư, lênh bênh trên lãnh thổ miền Trung, tình cảm hướng về Trị Thiên như một tri âm tri kỷ, còn người pilot thì mến thương kính trọng tướng nên cũng lặng lẽ, bâng khuâng…

CAO MỴ NHÂN




THƠ MẶC KHÁCH – NỖI LÒNG




TẾT ĐI THĂM CÁC CHÙA – Kiều Mỹ Duyên




THƠ KHAI BÚT – Hoàng Mai Nhất

*Cây Đào Bonsai này, HMN đã trồng 5 năm; đến năm nay mới
nở nhiều bông như vậy, lại đúng ngay đêm Giao Thừa, nên HMN
đã làm 4 câu Thơ HOA  ĐÀO  NỞ dưới đây xin gởi đến Quý VTH cùng thưởng lãm.

Trân trọng
Hoàng Mai Nhất

Khai bút đu Xuân Nhâm Dần (2022)

 XUÂN  NAY

*

Tết đến Xuân về ở chốn đây
Bên ngoài chỉ thấy tuyết Đông dầy
Ngàn cây lặng lẽ trơ cành đứng
Mấy gốc thông già điểm trắng đầy
Gió lạnh luồn qua từng kẻ lá
Xuân nồng thắm lại mấy ngày này
Trời Xuân thuở ấy còn vương vấn
Để đến bây giờ mắt thấy cay

                               Hoàng Mai Nhất 

*

XUÂN  LẠNH

Mùa Đông đến quá nhanh
Thời gian gõ nhịp canh
Ngoài đường tựa vắng tanh
Đời không muốn giật dành
Nhường cho tuyết phủ cành

Đêm chìm trong lạnh căm
Chờ mùa Xuân đến thăm
Mưa dường như tiếng thầm
Cây vươn mình trổ mầm
Đầy hoa quả cúng mâm
………
Pháo rền vang Cọp gầm
Vui đón Xuân Nhâm Dần
Mặc cơn dịch dọa hăm

                 Hoàng Mai Nhất

*

HOA  ĐÀO  NỞ

Ngắm cây Đào đỏ hoa bừng nở

Chợt thấy cuộc đời vẫn nên thơ

Ngoài kia nắng dát vàng sân cỏ

Xuân của đất trời đẹp ước mơ

                         Hoàng Mai Nhất




THƠ XƯỚNG HỌA: Như Thu & Phương Hoa




THƠ ĐƯỜNG XƯỚNG HỌA : Như Thu, Phương Hoa, Minh Thúy.




THƠ KHAI BÚT ĐẦU NĂM NHÂM DẦN – Phương Hoa




THƠ KHAI BÚT ĐẦU NĂM 2022 – Minh Thúy




THƠ ĐƯỜNG XƯỚNG HỌA MỪNG XUÂN: Ban Biên Tập VTLV, Cùng Các Thi Thân Hữu: Minh Thúy, Cao Mỵ Nhân, Như Thu, Thái Huy, Cao Bồi Già, Thanh Hòa, Phương Hoa, và Nguyễn Huy Khôi.