NGƯỜI MUÔN NĂM CŨ -Giới Thiệu Sách Của Nhà Văn Phạm Gia Đại – KIỀU MỸ DUYÊN
THĂNG HOA CUỘC ĐỜI – Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng. Kỳ 48: Hoành Sơn Nhất Đới, Vạn Đại Dung Thân. Kỳ 49: Mở Nước Phương Nam. Kỳ 50: Rồng Bay Về Nam. Kỳ 51:Trịnh Nguyễn Phân Tranh
THĂNG HOA CUỘC ĐỜI
Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng
Kỳ 48 Hoành Sơn Nhất Đới, Vạn Đại Dung Thân
Núi Yên Tử xanh ngát, từng cụm mây trắng, hồng lãng đãng phủ trên đầu theo gió xuân tan dần khi ánh sớm mai chiếu rọi. Những cụm tùng già nua với các nhánh gãy bởi thời gian còn vương vấn níu kéo tạo biết bao khúc khuỷu đu đưa giữa trời mây lơ lửng nửa chừng. Từng bầy sơn ca túa về từ khắp nẻo như chào đón ánh thái dương vừa chớm bừng lên.
Bến sông Tuyết giang rẽ giữa mạn trung du đã có kẻ đợi đò từ lúc chưa hừng sáng. Họ là những cư dân trong vùng hoặc vài kẻ lãng du đây đó trong chốn hồng trần. Hôm ấy là tiết Thanh minh, khí trời dìu dịu làm ngây ngất lòng người, lại càng se se lâng lâng những tâm hồn thoát tục đang muốn tìm một nơi ẩn dật, tiêu dao thú sơn thủy hữu tình.
Trên bờ sông, ánh thái dương chiếu tia nắng vàng nhạt xuyên qua từng bước chân lữ hành tạo chiếc bóng ngả dài di động về phương tây cùng nhịp nhàng, đều đặn dìu dặt với đôi chân lão đạo sĩ đang tiến đến dãy núi Ngọa sơn. Con đường đất vốn phủ một lớp bụi vàng bị sương khuya rơi hạt làm ướt dẻo mặt lộ tạo những dấu chân in đậm nét khoang dung của lão đạo sĩ như triện ấn vừa đóng xuống chưa kịp ráo mực nơi chốn đương quyền.
Đạo sĩ, vâng, đúng là một đạo sĩ, người lão cao vừa tầm thước, vóc dáng còn sót nét lẫm liệt của thời hùng anh cái thế, nhưng đôi mắt không dấu sự phúc hậu nhân từ của bậc đức hạnh cứu nhân độ thế. Đầu tóc lão búi theo hình trái tim buộc bởi miếng vải điều vắt vẻo ngang vai trong tư thế đường bệ. Chiếc áo đỏ ngả sang màu nâu nhạt đã nói lên dấu tích của kẻ từ quan chán mùi trần tục. Đôi mắt lão đạo sĩ chợt nhìn lên bầu trời, ngừng một giây qua cách suy tư rồi như bừng sáng lên trong ý nghĩ, lão quay sang thúc giục chú tiểu đồng đang lửng thửng bước sau:
-Nào nhanh lên, có khách đang đợi ta ở am Long Vân sơn môn đấy!.
Dứt lời thì lão đạo sĩ đã cận kề bến đò, chiếc ghe cắm sào xôn xao rước khách thương hồ, chờ kẻ cuối cùng lên khoan, thầy trò lão đạo sĩ mới tiếp tục bước xuống ngồi sát mũi ghe. Dòng nước êm ả đưa đẩy chiếc thuyền xuôi chiều dưới nắng ban mai hòa nhịp với đôi bàn tay rắn chắc của cô lái đò duyên dáng khua động cặp chèo lướt nhẹ trên sông.
Giữa sông nước hữu tình đón nhận buổi bình minh rạng rỡ, lão đạo sĩ ngồi yên trong chốc lát chợt như bất thần nhìn nước chảy rồi khe khẽ than rằng: “Lại một trận tranh bá đồ vương!!!”.
Đò cập bến nãy giờ, khách lên bờ đã hết mà đạo sĩ vẫn còn ngồi đấy đăm chiêu. Chú tiểu đồng xớ rớ một hồi rồi lên tiếng:
-Lão trượng! lão trượng! đã đến bờ rồi.
Tâm thần Tuyết Giang Phu Tử như đắm chìm trong nỗi suy tư về thế sự, đạo sĩ buông tiếng thở dài rồi ung dung đứng dậy trả tiền đò, trở bước khỏi khoan cùng tiểu đồng hướng về cửa núi.
Mặt trời bỗng chốc lên cao, nắng xuân bắt đầu đẩy đưa những tia nóng xuống chốn trần thế khiến bộ hành có vẻ khó chịu. Thầy trò đạo sĩ đi ngang qua làng dương liễu theo hướng ngược lên xóm Tràng Xuân, nơi am thất của lão; hai bên vệ đường, những ngôi mộ cổ xưa cùng mả mồ hoang liêu đã được dân quê giẫy cỏ, sửa sang hương khói nhân tiết Thanh Minh khiến quang cảnh chung quanh đượm chút hữu tình “âm dương đồng nhất lý”.
Trúc vàng lên măng sau mùa đông dài năm ngoái đã xanh tốt đến nỗi tàng lá phủ kín lối đi trước am Long Vân sơn môn. Cây bàng phía trái cổng ra vào vươn nhành lộc ôm ấp hàng hiên cùng nửa góc ao bên hòn giả sơn bốn mùa bất động. Cảnh vật xung quanh thật yên lặng, bình an!
Khách là một đại nhân trung niên mặt mày thông thiên bát cổ nhưng cách ăn bận, phục sức thì quả như một sĩ phu ẩn danh. Áo trắng ngả màu vàng nhạt, trên đầu quấn chiếc khăn nâu trong tư thế vóc người khanh khảnh cao cao. Đôi hài đen phủ một lớp bụi đường chứng tỏ khách là một kẻ phương xa mới đến. Bên cột nhà ngoài hiên, chiếc yên ngựa và roi da nằm sờ sờ một góc nói thêm rằng khách phải đi ngựa từ vạn dặm đến đây tìm chủ nhân có chuyện cậy nhờ.
Vừa thấy đạo sĩ bước vào dưới tàng diệp trúc vòng qua mé hiên, người khách mặt mày hớn hở chấp tay vái chào rồi tự xưng danh tánh:
-Tôi đây họ Nguyễn tự là Hoàng xin bái kiến Trình Tuyền Hầu Thái Phó Trình Quốc Công.
-Không dám, không dám! hóa ra ngài là Đoan Quận Công đấy à. Bấy lâu lão phu chỉ được nghe danh tướng công mà chưa hân hạnh gặp mặt. Chẳng hay tướng công quang lâm tệ xá của lão phu có điều chi chăng?
…Nguyên, Mạc Đăng Dung soán đoạt ngôi vua, giết chết Lê Chiêu Tông, tự lên ngôi hoàng đế lập ra triều đại nhà Mạc. Biết bao kẻ bất bình và phẩn uất trước sự soán đoạt của họ Mạc, trong đó có con trai của Nguyễn Hoằng Dụ là Nguyễn Kim làm chức Hữu Vệ Điện Tiền Tướng Công An Thành Hầu dựng cờ khởi nghĩa chống lại Mạc Đăng Dung. Tướng Công An Thành Hầu Nguyễn Kim tìm được người con của Lê Chiêu Tông là Hoàng tử Lê Duy Ninh lập lên làm vua tức là Hoàng đế Lê Trang Tông.
Thế lực nhà Mạc đang hồi thạnh phát, quyền bính tập hợp trong tay Mạc Đăng Dung nên lòng dân càng khiếp sợ. Để đối chọi với họ Mạc một cách hữu hiệu, Nguyễn Kim tập hợp toàn lực binh mã giao cho con rễ là Trịnh Kiểm và con trai trưởng là Nguyễn Uông ngày đêm tập dượt. Nguyễn Kim còn ra sức chiêu nạp binh lương, sai con thứ là Nguyễn Hoàng dò la tung tích các vị quan, tướng bất mãn với nhà Mạc đặng gây thành một thế lực, chung tay góp sức lấy lại cơ đồ nhà Lê từ Mạc Đăng Dung.
Cờ chính nghĩa dựng lên được muôn dân nhất tề ủng hộ. Binh sĩ có kỷ cương, quân lương có trật tự, tinh thần hưng chấn quy phục Lê triều càng ngày càng đông, mà lý tưởng trừ gian diệt ác lại càng ngày càng được hỗ trợ, nên đoàn quân của Nguyễn Kim trở thành thế lực vững chải đủ sức chống lại quan quân nhà Mạc. Được tin động trời như vậy, Mạc Đăng Dung mua chuộc Dương Chấp Nhất tìm cách đánh thuốc độc sát hại Nguyễn Kim.
Trịnh Kiểm điều khiển toàn bộ binh quyền sau khi Nguyễn Kim bị sát hại nên được vua Lê Trang Tông sở cậy đại nghiệp khôi phục cơ đồ. Trịnh Kiểm khởi binh tiến đánh nhà Mạc, đi đến đâu nhân dân hưởng ứng đến đó nên chẳng mấy chốc mà Trịnh Kiểm đã lấy được thành Thanh Hóa, dựng Lê triều đại kỳ chạy từ Thanh Hóa vào đến cực nam.
Trịnh Kiểm là kẻ thời cơ chủ nghĩa, lòng dạ gian manh, thao túng tất cả quyền hành Lê triều, một tay sanh sát trên dưới, tự tung lèo lái non sông. Thoạt đầu, Nguyễn Uông cũng ở vị trí ngang quyền với Trịnh Kiểm, nhưng dần dà Trịnh Kiểm tiêu diệt tay chân thân tín của Nguyễn Uông khiến vị tướng khai quốc công thần này phải lên tiếng phản đối. Họ Trịnh biết mình khó bề thao túng hoàng cung nếu Lạng quận Công Nguyễn Uông còn là vị trụ tướng Lê triều, Trịnh Kiểm tìm cách ám hại họ Nguyễn và sát hại hàng tuỳ tướng của Nguyễn Uông làm cho những kẻ phản đối Trịnh Kiểm cũng không dám một phen hó hé.
Trước tình cảnh chém giết để tranh giành thế lực xảy ra trong cùng một đại gia đình của đệ nhất công thần Nguyễn Kim, Trịnh Kiểm càng ngày càng tỏ ra hống hách và biết bao công, hầu, khanh, tướng tận trung với nhà Lê đều phải chết dưới gươm họ Trịnh. Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng trở nên cô đơn, sống trong triều Lê mà như ngủ dưới lưỡi hái của tử thần, ăn trong bát vàng mà tưởng chừng như nuốt từng liều độc dược. Muốn báo thù cho anh mà trong tay chỉ còn lại trơ trọi những lằng chỉ chi chít vô tình, Nguyễn Hoàng như kẻ sầu đời cho qua những ngày đèn treo trước gió. Trịnh Kiểm càng ngày càng áp đảo vua Lê mà bá quan văn, võ không có ai đủ bản lĩnh lên tiếng can ngăn. Hoặc giã nhiều kẻ sợ liên lụy đến gia quyến mà rũ áo từ quan vui thú điền viên thơi thảnh. Hoặc có kẻ điêu ngoa xảo quyệt được một phen hùa với lũ gian thần đặng kiếm chút quyền hành, bổng lộc. Nói tóm lại, trong triều Lê chỉ còn lại bọn chó săn cho Trịnh, hoặc những kẻ cơ cầu đui, điếc, bất tri. Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng sực nhớ đến vị lý số tài ba nơi am Long Vân sơn môn bên giòng Tuyết giang mà bao đêm họ Nguyễn nghĩ rằng người này có thể hóa giải cơ trời, giúp ta khôi phục uy quyền của vua Lê cùng báo thù luôn cái hận giết anh để nắm trọn quyền bính trong tay. Vì vậy Nguyễn Hoàng giả cách đi săn đặng lặn lội xa xôi gặp cho bằng được Thái phó Trình Quốc Công tức Nguyễn Bỉnh Khiêm tiên sinh.
Là đệ tử chân truyền của cụ Bảng nhãn Lương Đắc Bắc, một lý số gia tinh thông Thái Ất Thần Kinh nên Nguyễn Bỉnh Khiêm được thọ giáo tất cả những nẻo huyền cơ chi mật từ người thầy quán thông kim, cổ. Nguyễn Bỉnh Khiêm nổi tiếng là bậc nhân hậu, pháp thuật cao cường, đây đó chu du mà dùng phép mầu diệu dụng đặng giúp ích thế nhân. Năm Đại Chánh thứ sáu triều đại Mạc Đăng Doanh, Nguyễn Bỉnh Khiêm thi đỗ trạng nguyên, phong tới chức Tả Thị Lang, rồi thăng hàm lên Đông Các Đại Học Sĩ .
Mặc dù có chức tước cao trọng như thế, nhưng kẻ sĩ thà “ngày ba bửa vỗ bụng rau bình bịch” còn hơn là phò vua không anh minh, soán đoạt cơ đồ của Lê triều như Mạc Đăng Dung; thì dù được phong tới chức Tể tướng, lão cũng không màn. Nguyễn Bỉnh Khiêm nhất định từ quan, về ẩn dật nơi am thất cửa núi Long Vân, cạnh giòng Tuyết giang để hằng ngày ngao du sơn thủy.
Biết Trình Quốc Công trú ngụ nơi làng quê hẻo lánh này, Nguyễn Hoàng cỡi ngựa thân hành trực chỉ nam phương đặng bái yết tiên sinh thỉnh ý. Nghe câu hỏi vừa dứt, Nguyễn Hoàng nhập đề không chút do dự:
-Thưa lão trượng! Tôi đây có miệng như câm, có tai như điếc, thấy bào huynh bị giết mà chẳng dám nhỏ giọt lệ xót thương. Riêng bổn mạng của tôi chẳng khác nào sợi chỉ treo cả ngàn cân, càng để lâu lại càng nguy đốn. Xin Tiên sinh vì lòng hào hiệp chỉ bảo cho tôi được mở mắt nhìn đời.
Vẫn đứng yên trong tư thế ung dung tự tại, Trình Quốc Công nhìn thẳng vào mắt Nguyễn Hoàng rồi nhết mép cười, đáp:
-Bấy lâu nay lão phu xa lánh việc đời, chuyện trần tục gác bỏ ngoài tai nên thế sự xoay vần mà lão nào có để ý.
Nguyễn Hoàng hạ thấp giọng năn nỉ:
-Thật là khó khăn vô cùng mới tìm được đến nơi tiên sinh, nếu tiên sinh không chỉ bảo đôi điều thì Hoàng này trở về cũng chết.
Ngẫm nghĩ một đỗi lâu, Trình Quốc Công gật gù rồi bảo:
-Nếu Quận công có lòng chí thành muốn biết kiết hung về đường bổn mạng thì phải ăn chay ba ngày, chí thành khẩn nguyện âm dương. Đúng giờ Tý ngày Mậu thìn lão phu sẽ xủ quẻ Tiên Thiên để đoán xem vận hậu Quận công thế nào.
-Đa tạ tiên sinh.
Khách vừa bước ra, Nguyễn Bỉnh Khiêm tiễn tận cổng núi Long Vân cho đến khi Nguyễn Hoàng lên ngựa ra roi. Mặt trời đã gần chính ngọ, nắng tháng Ba bắt đầu oi bức mà Trình Quốc Công cảm thấy tê dại trong lòng. Trở gót bước vào thư phòng, vừa đi, Nguyễn Bỉnh Khiêm vừa như nói với chính mình: “Quốc gia loạn lạc đến kỳ, rồi đây muôn dân còn thêm đồ thán, âu cũng là định mệnh thiên cơ muốn đất nước chia thành hai nẻo.”
Đêm xuống thật sâu, bóng trăng mờ nhạt khó khăn tỏa ánh chiếu đục ngầu qua làn sương khuya, vầng trăng không còn rõ nét như một vệt lân tinh chênh chếch chân đồi. Dưới tàng trúc, ánh trăng xuyên qua kẽ lá vẽ lên mặt đất những hình thù kỳ quái, loang lổ. Nguyễn Bỉnh Khiêm tựa lưng vào mỏm đá cạnh hòn giả sơn, mặt quay về núi Yên Tử tìm một phút an nhiên trong thiền định. Trớ trêu thay, càng tập trung tư tưởng bao nhiêu, những hình thù loang lổ dưới chân như múa may quay cuồng bấy nhiêu để đùa giỡn với nỗi niềm dâu bể mà chính tiên sinh chưa dám nghĩ đến. Một làn gió lạnh thổi qua, chiếc áo choàng không còn dịp phần phật rung rinh vì sương khuya như nhuộm ướt cả y trang và thấm sâu vào tâm khảm của người.
Gà rừng cất giọng đầu canh, tiếng gáy mang chút hoang dã, cô đơn bỗng trở thành tiếng kêu vô vọng. Nguyễn Bỉnh Khiêm bừng mắt, vươn vai như trải qua một cơn mộng ảo. Tiên sinh vừa đi mà tâm trí vẫn còn vướng mắc một nỗi xốn xang chưa hề ngưng đọng: cái hậu quả khốc liệt mà quốc dân phải gánh chịu lâu dài khi mình không cải được ý trời. Thật ra, từ khi sang xuân, tiết Nguyên đán nhân ngày chánh nhật, Tiên sinh đã thu đạt cơ trời nhân xủ quẻ đầu năm khai bút. Chuyện gì đến sẽ đến là lẽ mầu nhiệm của đất trời, một con người như hột cát mỏng manh múa may quay cuồng theo hướng gió, thì Nguyễn Bỉnh Khiêm ta đây cũng chỉ là hạt bụi mong manh dùng thiên cơ để tiết lộ uyên nguyên của vô thường. Vừa suy nghĩ như vậy, tiên sinh như nhận ra chân lý đích thực của hồng trần bèn khe khẽ ngâm nga:
“Non sông nào phải buổi bình thời,
Thù đánh nhau chi khéo nực cười.
Cá vực chim rừng ai khiến đuổi,
Núi xương, sông huyết thảm đầy vơi…”
Tiếng ngâm vừa dứt, Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng bước ra trước mặt Trình Quốc Công rồi cúi rạp người vái chào tiên sinh, nhân tiện cất tiếng hỏi:
-Chẳng hay lão trượng vừa ngâm bài thơ ý tứ súc tích, lời lẽ trầm hồn, đấy có phải là lời chỉ bảo cho Hoàng đây không?
Nguyễn Bỉnh Khiêm trầm ngâm giây lát rồi gật đầu nhè nhẹ:
-Cơ trời hiển hiện, nhân gian nào ai chống đỡ được đâu! Thôi, giờ tý đã đến, chúng ta vào trong, Quận công chí thành lễ tổ để lão phu chuẩn bị xủ quẻ âm dương.
Ánh sáng tờ mờ của ngọn đèn mù u chỉ đủ rọi một khoảnh nhỏ chiếu lên chiếc đĩa bạc nạm rồng. Khói trầm tỏa ra từ chiếc lư đồng xông ngát chung quanh phảng phất bầu không gian thật trầm mịch, u linh. Nguyễn Hoàng quỳ trước điện tiền, hai tay chấp hình búp sen bất động. Sau một hồi khấn vái trang nghiêm qua những câu thần phù bí hiểm, tiên sinh nâng tráp gỗ ngang vầng trán rồi xá xá mấy lần đặng mở hộp lấy ra sáu đồng tiền đúc. Không gian chìm đắm trong sự tín thành, Nguyễn tiên sinh kính cẩn gieo từng đồng vào đĩa bạc, tiếng kêu canh cách vang lên một cách khô khan. Mỗi lượt gieo đủ sáu lần tiền, Trình Quốc Công dùng bút lông gạch xuống tấm vải điều theo hình bát quái một lằn rồi đọc to cho cả Nguyễn Hoàng cùng nghe:
-“Càn tam liên tây bắc Tuất Hợi: Triệt” = (Cung Càn trong bát quái đồ hình gồm ba gạch liên tục nằm về hướng Tây bắc thuộc cung Tuất và Hợi, không tốt)
Nguyễn Bỉnh Khiêm gieo đến lần thứ tám thì mồ hôi toát ra từ gáy đến tận trung khu thần kinh khi Nguyễn Hoàng nghe tiếp câu:
-“Ly trung hư chánh nam đương Ngọ: Vượng” = (Cung Ly trong bát quái đồ hình gồm gạch trên liền, gạch giữa chia hai và gạch dưới liền thuộc hướng Nam, cung Ngọ, thuận lợi).
Nguyễn tiên sinh nhắm mắt bất động. Thân thể và tâm ý ông như theo làn khói nhan trên bàn thờ tổ bay bổng lên hư không. Đoan Quận Công vẫn trong tư thế kính cẩn chí thành quỳ trước điện tiền. Họ không nói với nhau nửa lời vì sợ sự di động nào đó sẽ tan biến đi cái huyền diệu u tịch vô cùng trọng đại này. Cuối cùng Nguyễn Bỉnh Khiêm mở mắt ra nhìn thẳng vào mặt Nguyễn Hoàng rồi chậm rãi nói:
-“Hoành Sơn Nhất Đới, Vạn Đại Dung Thân” = (Một dãy hoành sơn chia cắt, hãy vào phía nam xây dựng cơ đồ thì an ổn nghìn năm).
Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng nghe xong, toát mồ hôi hột rồi đứng lên vái chào Trình Quốc Công và lập tức phóng lên yên ngựa trực chỉ phương Nam.
Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng
***********
THĂNG HOA CUỘC ĐỜI
Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng
Kỳ 49 Mở Nước Phương Nam
Chủ khách từ giã xong, đợi cho Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng phi ngựa ra khỏi thảo am, Trình Quốc Công Nguyễn Bỉnh Khiêm đánh thức tiểu đồng pha trà và đốt thêm một tuần trầm để xông cõi trần thế ô trược này. Lòng tiên sinh cứ bồn chồn khó chịu vì áy náy với chính mình: đành rằng thiên cơ đã định nhưng mình lý giải ra thì chẳng khác nào như vạch đường cho cơ đồ phân ly chia cách. Một chung trà nóng ngát thơm khiến tiên sinh giảm bớt tạp niệm. Gà rừng gáy thêm chặp nữa, ánh sáng tờ mờ khởi chút vừng hồng tỏa rạng ở phương đông. Giờ Dần đã đến, Tiên sinh ngồi kiết già tỉnh tọa trước điện thờ chư vị Thánh Hiền, nửa canh giờ trôi qua như thế cuộc diễn nhanh trong tâm tưởng, tiên sinh sụp lạy rồi khấn vái thật chí thành để tự mình xủ quẻ Tiên Thiên bói đại vận:
“Xem Thái Ất thần kinh ứng chỉ, đất nước này sẽ chia cắt đến vài trăm năm. Phải có một đại nhân xuất hiện, thống nhất sơn hà thành một mối”. Ta tiếc cho già này không còn sống để chiêm ngưỡng vị minh quân ra đời.
Bình minh trên sườn đồi đã thức giấc. Nguyễn Bỉnh Khiêm đứng dậy nắm những đồng tiền xủ quẻ trong tay, tiên sinh trực chỉ hướng đông nam nơi giòng Tuyết giang bốn mùa trôi chảy. Gió sông gờn lạnh hắt hiu quạt vào mặt như một sự trừng phạt vô hình. Nguyễn tiên sinh nói với chính mình như mượn làn gió sớm làm chứng nhân cho lời thệ nguyện: “Thiên cơ bất khả lậu, ta xin chấm dứt từ đây những lý số ứng linh cho can qua khổ nạn”. Nói xong, những đồng tiền xủ quẻ vụt bay vèo xuống dòng nước không một chút ngân vang để gợn tròn lăn tăn đây đó.
Trình Quốc Công gật đầu ra chiều thỏa mãn, nhìn về hướng tây bắc, ngọn núi Yên Tử của phái Trúc Lâm đang thỉnh chuông cho thời công phu sáng ngân nga tận cõi lòng dẫn tiên sinh vào cảnh u hoài tịch tịnh. Kể từ đấy thế nhân hết dịp gặp lại Nguyễn Bỉnh Khiêm, Long Vân sơn môn quán chỉ còn chú tiểu đồng ngày nọ qua tháng kia đợi tiên sinh trở về dùng bữa cơm chiều trong tuyệt vọng.
Ngọc Ninh phủ hôm nay treo đèn kết hoa vô cùng lộng lẫy, gia nhân tất bật nhộn nhịp, lăng xăng sửa sọan cho thật nghiêm trang từ những cành hoa tươi trên bàn đến các chậu kiểng ngoài hàng hiên, đâu đâu cũng hết sức chu đáo, mỹ lệ. Quân lính bên ngoài được lệnh canh phòng vô cùng cẩn mật vì Trịnh Kiểm chuẩn bị đón rước vua Lê Trang Tông ngự tiệc nhân tiết Đoan ngọ mùng Năm tháng Năm. Từ cổng tam quan sặc sỡ đèn hoa, hai hàng cung nữ như những nàng tiên hạ giới đang nghiêm chỉnh trong xiêm y lộng lẫy để rước thiên tử ngự tiệc chí đến sân Ngọc Ninh phủ vốn đã uy nghi từ trước nay lại còn tăng thêm vẻ trang trọng ác liệt.
Ngọc Bảo Quận Chúa ngồi trong chánh thất, lộng lẫy với trang phục diễm kiều có một không hai. Vài tỳ nữ lúc nào cũng chầu chực để được sai khiến bên trong tấm rèm hoa, thị vệ tả hữu túc trực phía ngoài với khí thế đằng đằng, trên tay lăm lăm đốc kiếm.
-“Bẩm quận chúa, Đoan Quận Công phía ngoài xin được vào yết kiến quận chúa”. Một tỳ nữ khúm núm đang tấu trình. Đã bấy lâu, lòng Ngọc Bảo luôn thương tưởng đến người em tài hoa này mà không sao tìm được dịp ghé thăm. Kể từ ngày Lạng Quận Công Nguyễn Uông bị chồng ám hại, tình gia quyến trở nên tương tàn. Nguyễn Hoàng tìm cách xa lánh những hội hè đình đám, một mình giam hãm trong nhà đôi lúc cả năm trời không tham gia một lần giỗ chạp. Ngọc Bảo đang phân vân, chẳng hay ngọn gió tường vân nào đưa đẩy người em thân yêu của ta đến thăm đúng vào dịp thượng hoàng ngự tiệc?
Nguyễn Kim sinh được một gái hai trai đều là tướng của Lê triều. Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng được sắc phong Quận Công. Ngọc Bảo là chánh thất của Trịnh Kiểm nên cả nhà Nguyễn Kim được trọng vọng vào bậc nhất hoàng triều. Tính tình Trịnh Kiểm thì khó lường trước được, lúc nóng giận như hỏa diệm sơn, lúc lạnh tiền như băng tuyết, khi ngọt ngào như từ mẫu âu yếm con cầu, khi điêu ngoa gian hùng chẳng khác nào Tào Tháo khiến quần thần sĩ tốt chẳng biết hư thật thế nào, ngay cả Ngọc Bảo cũng khó lòng đoán biết được chân tướng của lang quân mưa nắng mấy hồi. Nghĩ như vậy rồi lại nhớ đến sự an vui dĩ vãng của gia tộc, bỗng dưng quận chúa xúc động vô độ đến cái chết tức tưởi của Lạng bào huynh dưới gươm của chồng mình, bà vội vàng bước xuống thềm và giục tỳ nữ lập tức mời Đoan Quận Công vào trong phủ để chị em được dịp vấn an.
Vừa thấy bóng em bước vào đầy vẻ khắc khổ phong sương như một người ẩn dật, bộ võ bào trên thân đã sờn cũ, đôi hia mốc thếch bụi đường như kẻ tha phương vừa đến. Quận chúa lộ vẻ xúc động trước tình cảnh thương tâm của gia tộc, nụ cười như chiếu lệ không nở nỗi giữa mặt ủ mày ê. Ngọc Bảo ngồi trên chiếc đôn có nét hoa văn với hình thù kỳ lân sặc sỡ mà tưởng chừng như ngồi trên sự tủi nhục oán hờn. Nguyễn Hoàng liếc nhìn xung quanh, mừng mừng, tủi tủi thăm hỏi qua loa. Biết không có Trịnh Kiểm gần đây nên Đoan Quận Công lựa lời nhờ vả:
-Bấy lâu nay phía Nam không người cai quản, Chiêm Thành ngày đêm rục rịch tiến đánh nước ta, phía ngoài thì họ Mạc hăm he gây hấn, nếu ta không chuẩn bị trước, có lúc trở tay không kịp. Từ ngày thân phụ chúng ta ngộ độc, em vẫn theo phò Lê vương báo đền ơn đức nhưng chưa lập nên công trạng gì để báo bổ non sông. Hôm nay nhân đại yến linh đình, chị cố gắng trình lên Điện hạ chiếu chỉ cho em vào đất Thuận Hóa trấn thủ, như vậy vừa có tướng ở chốn biên thùy án ngữ quân Chiêm, vừa là cách chiêu dân cho triều đình đó. Từ xưa giờ ta vẫn lấy câu “cẩn tắc vô ưu” để phòng hoạn nạn là lẽ thường tình.
-Chuyện em muốn thì cũng không khó, ngặt nỗi sơn lam chướng khí vùng Thuận Hóa kinh hoàng, chị e rằng em vào trấn nhậm chưa tới đâu thì chị lại phải nghe tin buồn em vùi thây nơi rừng thiêng nước độc. Ngọc Bảo có ý cản ngăn.
-Cám ơn chị đã đoái thương cho đứa em máu mủ này. Nhưng thiết nghĩ, làm thân trai ngàn dặm da ngựa bọc thây, sá gì chốn sơn lam cùng cực. Ngặt chỉ mỗi một điều là lâu ngày mới trở về vấn an tôn nhan chị được.
Biết tính khí Nguyễn Hoàng từ thuở ấu thời, một khi lòng đã quyết thì dù có cản ngăn trăm phương ngàn kế chi đi nữa, họ Nguyễn này nhất định phải tìm cách làm cho bằng được. Thôi thì cũng hợp lẽ người mà an ninh cho cả triều đình thì có gì phải từ chối lời thỉnh cầu của cậu em trai. Nghĩ như thế, Ngọc Bảo quận chúa hứa lời:
-Thôi cũng được, chuyện này để chị tấu trình qua lang huynh của em, thế nào cũng thuận. Còn hơn nửa khắc nữa đại yến cung nghinh hoàng thượng giá lâm ngự tiệc sẽ khai mạc, em hãy nán lại chung vui với phủ Ngọc Ninh rồi vái chào lang huynh của em một thể.
-Cám ơn sự săn sóc chu đáo của chị. Em phải về ngay Long Vân quán, ngày mai là húy nhật, kỵ giỗ Lạng Quận Công đại huynh, chị chẳng nhớ sao ?
-À! em không nhắc chị nào có nhớ. Ngặt một nỗi, đức lang quân của chị lúc nào cũng muốn chị quên phức chuyện cũ ấy đi, nên mấy lần huý kỵ mà lang huynh em không thuận cho chị trở về Long Vân quán để đốt hương tưởng niệm huynh đài. Thôi tiện đây chị gởi chút đỉnh trầm hương, ngày mai em đốt hộ thay chị để Lạng Quận Công bào huynh chứng tri cho.
Nguyễn Hoàng bước tới đở lấy gói trầm. Nghe tiếng thở dài mang bao nỗi sầu lụy bi ai của chị thoát ra, Nguyễn Hoàng cảm động vô cùng rồi rưng rưng như xoa dịu sự đớn đau chảy tràn vào hồn cả hai:
-Chị đừng bi lụy mà héo hắt ngọc diệp kim chi, chuyện sinh tử trong thế gian đều theo duyên nghiệp sanh sanh hoại hoại. Kìa các vị tướng quốc đã tấp nập đến rồi; ngày mốt vào giờ Dậu em trở lại nhận ấn chỉ vào Nam. Chị cố lo cho, em xin đa tạ chị muôn vàng.
Màn đêm khó phủ xuống cung thành khi ánh hoa đăng rực rỡ hắt thứ ánh sáng chói ngời lên ngọ môn nơi bức hoành khắc ba chử “Ngọc Ninh Phủ” lồ lộ, oai phong như lưỡi kiếm sẵn sàng chém xuống đầu những kẻ nghịch mạng lai vãng chốn công quyền đầy uy phong bạo lực.
Tiệc tàn lúc canh hai, khách khứa say tuý lúy. Lê Trang Tông ngà ngà nhưng cố giữ nét oai phong của bậc vương gia. Vài ba quan văn, dăm ông quan võ sợ uy của Trịnh Kiểm nên chen nhau chúc tụng chủ nhân không tiếc lời. Nào Trịnh Kiểm đại nhân đại đức, nào Trịnh Kiểm văn võ song toàn, nào chúa Trịnh quán thông kim, cổ…làm cho vua Lê cũng áy náy không cùng. Quan văn Phùng Khắc Khoan nhìn Đỗ Uông và Nguyễn Nhân Thiện lắc đầu ra chiều chán nản cái cảnh cúc cung của bọn gia nô. Những vị quan văn này nể lời của Trịnh Kiểm nên phải tới dự, song họ không dùng rượu như đám gian thần vô tài bất tướng. Võ quan Hoàng Đình Ái và Nguyễn Hữu Liêu ngồi tận góc đại sảnh, uống lấy lệ từng ngụm rượu hoa đào mà ngao ngán nhìn thiên hạ kiêu ngạo chúc phúc cho nhau. Không mấy kẻ chú ý đến nhà vua khi hoàng đế Lê Trang Tông có ý ra về, Phùng Khắc Khoan kéo tay Hoàng Đình Ái, hai người đứng lên như hộ giá cho vua Lê rời Ngọc Ninh phủ vào cuối giờ Hợi. Đoàn kiệu giá đưa hoàng thượng hơi quá nửa sân, Trịnh Kiểm giả vờ chạy ra có ý luyến tiếc tiệc tàn hơi sớm kèm vài lời cám tạ ân đức Lê triều.
Sự chuyên chế của Trịnh Kiểm càng ngày càng lộ rõ, lấn áp quyền hành của Lê Trang Tông, tiền trảm hậu tấu khiến quần thần nhiều kẻ khiếp đảo, nhu nhược. Sau khi giết chết Lạng Quận Công Nguyễn Uông, ít ai còn dịp lên tiếng phản đối hành động bạo ngược của họ Trịnh. Nhiều kẻ thấy vậy a dua theo, nhưng cũng không ít người khinh khi, bất phục.
Đợi cho gia nhân dọn dẹp xong xuôi, đèn đuốc được hạ xuống và cổng ngọ môn đã đóng chặt, quân lính ngoại thành đánh cồng báo hiệu sang canh thì quận chúa Ngọc Bảo rón rén tới cạnh phu quân thỏ thẻ:
-Đại yến hôm nay thật là sung mãn. Hoàng thượng và quần thần hết sức hoan hỷ. Thiếp nghe hoàng thượng ban khen cho phu quân tới sáu tuần mỹ tửu lận đấy.
-Đúng vậy! đúng vậy! nhưng hoàng thượng ban khen cho lấy lệ chứ đáng ra ta ban khen cho nhà vua mới phải lẽ!!! Sau một tràng cười khoái chí ra chiều đạt đến trạng thái thống khoái nhất trần gian, bỗng dưng Trịnh Kiểm ngưng ngang, nghiêm sắc mặt, nhìn thẳng vào mắt Ngọc Bảo, hất hàm hạch hỏi:
-Lúc chạng vạng có người báo cho ta biết Nguyễn Hoàng đến đây gặp nàng với dụng ý gì?
Bị hỏi quá sức bất ngờ, hồn vía quận chúa hồn phi thất đảm, nhưng vốn là một bậc nữ lưu có tiếng thông minh hữu hạng ở kinh thành, Ngọc Bảo định thần trong chớp nhoáng rồi bình thản trả lời như thể không có gì xảy ra:
-Đoan Quận Công ghé đây thăm thiếp và lang quân. Thiếp cố mời cậu ấy nán lại để dự đại yến nhưng cậu ấy không thể ở lâu. Dạo này bị bịnh đau gan, vàng ửng cả mắt lẫn da nên phải cần thuốc thang hàng ngày. Thật là tội nghiệp! Cậu ấy than rằng phương Nam triều đình ít chú ý, phòng thủ; nếu Chiêm Thành cử đại binh Bắc tiến thì thật là nguy cập, lúc ra về cậu ấy thưa rằng nếu tướng công rảnh rỗi thì bẩm báo với tướng công định đoạt.
-À ra thế, ta cũng có nghĩ thoáng qua nhưng công việc chống đỡ nhà Mạc phương Bắc đã mất hết thời gian. Hay là, này quận chúa! Ta thấy Đoan Quận Công ở triều ca cũng chẳng làm gì, chi bằng sắc phong cho cậu ấy trấn nhậm vùng Thuận Hóa thì hay biết mấy. Trịnh Kiểm nhìn vợ thăm dò, Ngọc bảo nghe như vậy thì lòng mừng thầm vì dẫu sao cũng giúp em toại ý, nhưng nàng giả bộ giẫy nẩy:
-Trời ơi! vùng Thuận Hóa đầy sơn lam chướng khí, đất rộng, người thưa vô cùng hiểm độc. Tướng công sai khiến cậu ấy vào nam thì chắc gì có dịp hàng năm trở về thăm thiếp.
Trịnh Kiểm đưa tay gãi đầu ra chiều ngại ngùng:
-À! đừng nghĩ vậy mà oan cho ta. Trịnh Kiểm giải thích:
-Đoan Quận Công là người có tài, có trí, lanh lẹ khôn ngoan. Người như vậy không dễ gì bó tay trước những trở lực của sơn lam chướng khí. Quận chúa nghĩ thử ý ta có đúng không?
Sợ phu quân bất ngờ thay đổi ý kiến thì hỏng công việc của em, Ngọc Bảo thở dài một tiếng ra điều khổ não rồi đến bên chồng âu yếm thưa rằng:
-Dòng họ của thiếp chỉ còn Đoan Quận Công, được tướng công đoái hoài thì cũng là phước báu. Thôi thì, chuyện quốc gia bảo vệ biên thùy là việc đại sự không nên chần chừ. Nếu lòng đã quyết, sáng mai thiếp triệu Đoan Quận Công diện kiến cho phu quân sai bảo.
Thật ra, từ khi sát hại Lạng Quận Công Nguyễn Uông thì tâm ý của Trịnh Kiểm ngày đêm lo ngại Nguyễn Hoàng phục hận. Do đó, Trịnh Kiểm nhiều lần mưu hại Nguyễn Hoàng cho bớt nỗi lo canh cánh bên lòng. Ngặt một điều, Đoan Quận Công là người thông minh dĩnh ngộ, nhân hậu khiêm cung, được lòng các tướng bề trên, không một lỗi nhỏ nên kẻ dưới luôn kính yêu, ngưỡng mộ. Vua Lê Trang Tôn tỏ ra quý mến người tài mà sợ Trịnh Kiểm can ngăn nên mấy lần định sắc phong phẩm trật thì lại hủy bỏ. Nguyễn Hoàng thừa biết chuyện ấy nhưng lúc nào cũng tỏ ra bất cần danh vọng, lại ăn nói lễ độ, khôn ngoan nên Trịnh Kiểm khó lòng trừ khử. Cây gai trước mắt xốn xan con ngươi chưa biết cách nào nhổ bỏ, hơn nữa chuyện sát hại Nguyễn Uông vẫn còn âm ỉ khiến hàng Văn, Võ có kẻ không phục thì Nguyễn Hoàng dù có gì đi nữa cũng phải hạ hồi phân giải. Mặt khác, Ngọc Bảo lúc nào cũng lấy lời lẽ dịu ngọt mà che chở cho em nên khiến Trịnh Kiểm chưa nỡ ra tay sát hại. Trịnh Kiểm như kẻ chết đuối vớt được chiếc phao, bỗng dưng có lời đề nghị cao minh như vậy thì quý hóa vô ngần. Giết không được thì nên đày đi cho đỡ lo lắng, đó là kế hoạch nảy nở trong đầu họ Trịnh.
-Ta đã nghe cấp báo nhiều lần về việc Chiêm Thành động binh quấy phá mạn Nam. Chuyện này như cứu hỏa, trễ nải một ngày thì an nguy bá tánh khôn lường. Ngày mai ta sẽ tâu trình hoàng thượng để xin chiếu chỉ cho Đoan Quận Công trấn nhậm Nam phương. Trịnh Kiểm nở nụ cười khoái chí như vừa trút được gánh nặng ngàn cân.
Trống đã điểm canh hai, gia nhân dọn dẹp xong cũng vừa đi ngủ. Toán thị vệ tuần tra phía Thiên Bửu phủ nghe bước chân rầm rập vang vọng trong đêm vắng. Ngọc Bảo sửa soạn chăn mùng mời chồng an giấc, Trịnh Kiểm vẫn còn men rượu nên vừa nằm xuống thì tiếng ngáy vang như sấm bắt đầu trổi lên pha với mùi mai quế tửu nồng nặc gian phòng.
Khác với chồng, Ngọc Bảo không tài nào ngủ được. Quận chúa cố dỗ giấc ngủ bằng sự tỉnh tâm nhưng rồi trống đã sang canh mà thân bồ liễu vẫn còn trăn trở. Càng định tâm chừng nào thì hình bóng của Lạng Quận Công càng vởn vơ trong đầu chừng nấy. Quận chúa ngồi dậy uống nước, lần bước ra tự đường đốt một nén nhang rồi quay trở lại. Vừa chợp mắt một xíu, quận chúa thấy một điềm mộng rất đỗi kinh hoàng. Ngọc Bảo ú ớ không thành lời rồi cuối cùng hét lên thất thanh.
-Cái gì vậy quận chúa? tỉnh lại! tỉnh lại! giọng Trịnh Kiểm vẫn còn ngái ngủ.
-Ái dào! thiếp vừa trải qua một điềm chiêm bao rùng rợn hãi hùng. Thôi tướng công ngủ tiếp đi rồi ngày mai thiếp kể cho nghe.
Trịnh Kiểm ngồi dậy, vươn vai, vỗ trán lấy lại sự tỉnh táo sau một giấc mê mệt.
-Ta cũng hết buồn ngủ rồi. Hãy kể cho ta nghe thử nào, không khéo ngày mai lại quên mất.
Quận chúa ngồi dậy, mắt vẫn nhìn đăm chiêu ra cửa, hai bàn tay úp trên ngực rồi kể giấc chiêm bao cho chồng nghe trong hơi thở hồi hộp:
-Thiếp thấy một con rồng vàng bay trên Ngọc Ninh phủ bảy vòng rồi hạ xuống trước đỉnh đồng ngoài sân. Nó đi thẳng vào tự đường, dùng chân đá thốc vào chính giữa cửa rồi nhảy lên bàn thờ quậy phá lung tung. Cuối cùng con rồng gắp chiếc bài vị của phụ thân thiếp bay lên cao hướng về phương Nam. Thấy như vậy nên thiếp đuổi theo và rơi vào hang đá bên vực thẳm thiên nhai.
Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng.
******************
Kỳ 50 Rồng Bay Về Nam
Nguyên năm Đinh Mão (1567) Quận chúa Ngọc Bảo đang thọ thai được tròn ba tháng, mưa thuận gió hòa và dân chúng làm ăn có phần dễ chịu hơn mấy năm trước. Nhiều nơi trong nhân gian đã làm cối xay gạo hầu sắp đặt gặt hái xong thì lúa sẵn sàng được xay. Để chuẩn bị cho đứa con ra đời với cái tên gắn liền đến sự phát triển của muôn dân, Trịnh Kiểm đã ngẫm nghĩ đặt danh tánh cho đứa bé này phải là cái cối xay cho trăm họ nhờ vả, vì vậy mà sau này cái bào thai đó ra đời mang tên ngộ nghĩnh: Trịnh Cối. Nghe vợ vừa kể điềm chiêm bao rằng, thiếp thấy một con rồng vàng bay trên Ngọc Ninh phủ bảy vòng rồi hạ xuống trước đỉnh đồng ngoài sân. Nó đi thẳng vào tự đường gắp chiếc bài vị của phụ thân thiếp bay lên cao hướng về phương Nam. Thấy như vậy nên thiếp đuổi theo và rơi vào hang đá bên vực thẳm thiên nhai. Dứt câu chuyện, Trịnh Kiểm khoái chí đứng dậy cười vang vang ra chiều đắc thắng. Tiếng cười ha hả vang vọng trong thinh không khiến đội tuần tra phải mấy lần dừng lại kiểm soát.
-Như ý của ta, như ý của ta! Trịnh Kiểm tự thốt lên lời.
Từ khi sát hại Nguyễn Uông để tóm thâu quyền lực trong tay, Trịnh Kiểm lấn áp triều đình, coi thường hoàng đế, một mình chuyên quyền định liệu mọi việc hưng suy của quốc gia. Mộng của họ Trịnh là phải lên ngôi thiên tử như nhà Mạc đương thời đóng đô ở phía bắc. Ngặt một nỗi từ trên các đại thần quan tước, đến dưới muôn vạn nhân dân đều tỏ ra không ưa nhà Trịnh mà chuyện soán ngôi thì thiên hạ phỉ khinh. Từ năm Mậu Thân (Tây lịch 1548) khi vua Trang Tông băng hà thì ý niệm soán ngôi đã hình thành trong đầu Trịnh Kiểm. Thái tử Duy Huyến được bá quan văn võ trong triều tung hô vạn tuế để kế thừa ngôi báu đã làm hỏng kế hoạch của họ Trịnh. Thái tử Huyến lấy hiệu là Lê Trung Tôn lại là người hiền từ nhưng không có con cái để nối dõi tông đường. Sau tám năm trị vì, nhà vua đột nhiên băng hà là cơ hội vô cùng quý giá cho họ Trịnh một lần nữa. Trịnh Kiểm họp bàn cùng chư tướng và quần thần thì trăm người như một là muốn tìm lại con cháu Lê triều để kế thừa đại nghiệp. Tính tới, tính lui phân vân trăm kế ngàn phương, bổng Trịnh Kiểm nhớ đến một người mà nhân gian tôn sùng như vị thánh sống “thượng thông thiên đường, hạ triệt địa phủ. (Trên thì thông hiểu thiên văn, tinh tú, dưới thì thấu biết địa lý, âm ty). Vì vậy Trịnh Kiểm sai một người thân tín đi tìm Trình Quốc Công lý giải.
Trình Quốc Công không còn ở trong Sơn môn quán, kẻ dò tìm phải mất nhiều ngày đêm vượt núi băng ngàn, đến tận núi Yên Tử, qua Thanh Hóa, đến Hải Dương với nhiều lụa là gấm vóc tưởng cầu thỉnh ý tiên sinh. Nào ngờ đi mãi theo lời đồn đãi của thiên hạ mà chả thấy tăm hơi. Hơn mười ngày đêm gian truân tìm kiếm khắp chốn, kẻ thân tín định bụng quay về thì vừa đi ngang qua đò trên giòng sông Tuyết Giang, bỗng dưng Trình Quốc Công đứng đó chờ đợi. Kẻ thân tín của Trịnh Kiểm mừng rỡ vô cùng vội vàng dâng lụa là, gấm vóc xin thỉnh ý của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tiên sinh nghe xong thì châu mày rồi nói như thét vào tai kẻ đối diện:
“-Tìm giống cũ mà gieo mạ thì mùa màng hưng thịnh, bằng trái ý tìm lúa mới thì chẳng những thất thu mà còn bị nạn đói hoành hành suốt kiếp”. (Lời khuyên rằng hãy giữ vai trò nguyên trạng, không nên soán nghịch, nếu không thì sẽ bị tai ương).
Được kể lại tỉ mỉ về câu nói ẩn ý của Trình Quốc Công, Trịnh Kiểm ngẫm nghĩ suốt mấy đêm trường rồi bỏ ý đồ cướp ngôi và thân hành đi tìm cháu, chắt của nhà Lê lập đại nghiệp cho chính danh. Hành trình truy tìm hậu duệ nhà Lê cũng không mấy vất vả. Nguyên, bào huynh của vua Lê Thái Tổ là Lê Trử có một người cháu huyền tôn là Lê Duy Bang. Trịnh Kiểm bất đắc dĩ mới lập vị tân vương này với danh hiệu là Lê Anh Tông trị vì. Quyền bính lúc này hầu hết vào tay Trịnh Kiểm, mọi định đoạt tối thượng đều phải có sự đồng ý của họ Trịnh, việc đối nội, đối ngoại, an ninh, quốc phòng kể cả binh mã đều tóm gọn trong tay một người nên Vua Lê Anh Tông như thể một loại trang sức cho họ Trịnh thao túng.
Mặc dù tin lời tiên tri của Trình Quốc Công nhưng ý đồ soán đoạt ngôi thiêntử chưa hẳn đã dứt, Trịnh Kiểm ngày đêm tìm cách tốt nhất để đưa con cháu của họ Trịnh thay thế họ Lê cai trị bá tánh. Do vậy, khi nghe Quận chúa Ngọc Bảo kể câu chuyện chiêm bao vừa xong, Trịnh Kiểm nghĩ ngay đến uớc nguyện của mình và cho đó là điềm cát tường. Rồi đây cái bào thai trong bụng Ngọc Bảo sẽ trở thành Hoàng đế vì rồng vàng lượn ở trời nam đã báo hiệu cho họ Trịnh ngày mai vô cùng hiển hách.
Vừa tản sáng, Trịnh Kiểm thay đổi xiêm y đặng vào cung yết kiến Lê Trang Tông. Mục đích của cuộc yết kiến này là xin được chiếu chỉ cho Nguyễn Hoàng đặng vào Nam trấn ải Thuận Hoá. Vừa nghe tấu trình xong, vua Trang Tông cau mày tỏ vẻ không ưng thuận vì dù sao Đoan quận Công Nguyễn Hoàng cũng là một trụ tướng của triều ca. Hơn nữa, Nguyễn Hoàng không những là người hiền đức mà còn là nơi thân tình của nhà Lê thì khó mà vua đồng ý với Trịnh Kiểm. Họ Trịnh là người hiểu tâm lý, giỏi thuyết phục, nhưng vua Lê cũng không phải là người vô trí nên vương gia đành bình tâm nghe Trịnh Kiểm phân bày:
-Phía Bắc hiện thời họ Mạc ngày đêm chiêu tập binh mã, lăm le lấy đất Lê vương. Phía Nam Chiêm thành rục rịch lấn sang biên cương lãnh địa. Bắc không phòng, Nam không thủ, thử hỏi bệ hạ ngồi đây thù tạc với kẻ tâm huyết được bao lâu? Ngai vàng là của bệ hạ, xã tắc là của hoàng triều, nếu bệ hạ không nghe những gì tấu trình thì ngày mai chớ xin hờn trách.
Nghe xong, Lê Trang Tông vội vã đứng dậy rồi cười cười nói vớt Trịnh Kiểm: -Khoan khoan! đừng nóng quá, trẫm không nghĩ như vậy. Bấy lâu nay khôi phục giang sơn họ Lê này cũng nhờ vào một tay khanh lèo lái, chuyện phòng thủ phải lưu tâm đúng mức là diệu kế xưa nay. Thôi để ta bảo Phùng Khắc Khoan soạn chiếu chỉ đặng kịp ngày Thìn giờ Thân tiến chỉ.
…Nguyễn Hoàng lăng xăng tiếp khách từ bốn phương về Long Vân quán huý kỵ Lạng Quận Công Nguyễn Uông. Vốn ăn nói hoạt bát, thông văn, thuộc sử lại nghiên cứu kỹ lưỡng về binh thư, đồ trận nên Nguyễn Hoàng rất được nể trọng, từ hàng phẩm trật cung triều cho đến kẻ ngao du sơn thủy, ai ai cũng thích cùng tướng quân đàm đạo kiếm cung. Khách đến đây không những với tấm lòng tưởng nhớ Lạng quận công Nguyễn Uông một thời hưng chấn triều đình, đốt nén hương cầu siêu cho người oan trái, nhưng cũng là dịp mà khách tứ phương đối ẩm với Nguyễn Hoàng bàn luận kim cổ, đông tây. Chính vì vậy mà hừng đông chưa tỏ đã có kẻ lữ hành lò dò thăm hỏi Long Vân toạ lạc nơi nào.
Long Vân quán không nguy nga đồ sộ như Ngọc Ninh Phủ, cũng không hẳn tôn nghiêm như cổ tự Linh Sơn mà ngược lại, nó khiêm tốn ẩn mình dưới hàng tre dày đặc về phía nam cung thành Lê triều vài ba mươi dặm. Long vân quán dựa lưng vào ngọn đồi thoai thoải nhìn ra giòng nước chảy về đông của con sông không tên không tuổi. Từ xa nhìn hướng tây nam, ngọn đồi nhấp nhô trên giòng sông khiến người khéo tưởng tượng thấy con rồng uốn khúc trên mây nên chẳng mấy chốc, chiếc am nhỏ của Nguyễn Hoàng thờ tự bào huynh lại mang tên Long Vân quán.
Tục truyền, ông Nguyễn Hoằng Dụ sinh thời thích uống rượu, ngâm thơ. Vào một đêm trăng sáng, ông vào trong một cái quán ven đường với bầu rượu trên vai. Chủ quán là một ông lão châm thêm rượu cho khách đến nỗi Nguyễn Hoằng Dụ say túy lúy rồi ngủ trên chiếc chõng tre có đến mấy ngày đêm. Tỉnh ra ông thấy mình tọa vị trên phiến đá bằng phẳng, có tàng cây bao phủ như nóc nhà với cảnh trí thiên nhiên vô cùng đẹp đẽ. Từ đó ông quyết định lập nên một thư quán để kẻ mặc khách tao nhân xa gần quy tụ lại chuyện trò thế sự, uống rượu ngâm thơ. Long Vân quán ra đời thật là tự nhiên như hàng tre xanh tốt tự nguyện chở che và Nguyễn Hoàng dùng nơi ấy như một chỗ an vị hương khói bào huynh.
Sau khi Trịnh Kiểm sát hại Lạng quận công xong, thi hài của Nguyễn Uông được mai táng ở núi Ngũ Châu và thờ tự tại quán Long Vân vì Lạng quận công Nguyễn Uông chính là đích tôn của Nguyễn Hoằng Dụ.
Nguyễn Hoàng nhìn mặt trời đang xế về tây, lòng bồn chồn muốn tiễn biệt khách khứa hầu kịp đến Ngọc Ninh phủ theo lời hẹn của bào tỷ đặng dò la quyết định của Trịnh Kiểm hư thực thế nào. Ngặt nỗi, cả năm mới kỵ một lần, tứ xứ anh hùng hào kiệt sum vầy luận đàm thế thái nhân tình cùng những chuyện thiên địa phong vũ cả hồi lâu mới từ tạ ra về.
Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng vừa giáp mặt chị đã thấy Ngọc Bảo tươi tỉnh kể công: -Hoàng thượng đã hạ chỉ nội trong vòng ba ngày em phải vào trấn thủ Thuận Hoá. Rồi hạ giọng vừa đủ cho hai người nghe câu tâm sự như một thành tích lớn lao: -Chị phải thúc lang huynh em cả mấy lần mới được đó.
-Dạ vâng, xin cám ơn chị. Chuyện gì nan giải đến tay chị cũng thành dễ dàng. Nguyễn Hoàng cười nụ như đáp lại tấm lòng của chị mà cũng là sự đắc ý khi thấy kế hoạch tẩu thoát của mình được chấp nhận để ra khỏi lãnh địa triều ca, nơi mà Nguyễn Hoàng hằng ngày bị dòm ngó theo dõi kỹ càng.
Ngoài trời chỉ còn bóng mờ của cái chạng vạng giao hòa giữa âm dương sáng tối. Nói chuyện một đổi về ngày giỗ Lạng Quận Công năm nay đông đủ thế nào, Ngọc Bảo cúi đầu như một phút mặc niệm đến người anh tài hoa bị bức hại đặng an lòng nơi chín suối. Nguyễn Hoàng vội vã cám ơn rồi từ giả bà chị thân yêu với mớ suy tư lộn xộn trong đầu. Viễn ảnh lờ mờ trước mặt mà chính Hoàng sẽ phải đối diện không dễ dàng như bước lên bực đá cheo leo. Nó sẽ khó ngàn vạn lần hơn vì thử thách của gan dạ cùng ý chí đối diện với thực tế hoang sơ man rợ.
-“Hoặc tối, hoặc sáng, đừng tạo cảnh lờ mờ để bóng đêm tràn lan nhận chìm tất cả vào khoảng không vô tận”. Hoàng vừa đi vừa nghĩ mông lung mà bước chân vô tình đã dẫn đến Tây cung hồi nào không biết. Tây cung là nơi thờ tự những vị tiền hiền, anh hùng liệt nữ cũng như những bậc khai quốc công thần, bên cạnh phía hữu là tự đường nơi thiết trí cung nghinh những long vị, bài vị, linh vị của Nguyễn tự đường. Nguyễn Hoàng đứng đó, trước bức hoành phi khảm xa cừ có 4 chữ “Trung Nghĩa Liêm Tiết” với sự thề nguyền phải làm tỏ mặt các đấng tiên liệt, và quyết chí mở rộng bờ cõi thẳng tiến nam phương. Nguyễn Hoàng chấp tay đảnh lễ rồi vội vàng lách mình ra dãy hành lang phía tây để hướng về nam phương trực chỉ.
Rằm tháng Ba khí trời lành lạnh, những bông lê trắng xóa nở rộ chốn hoàng cung thì Ngọc Ninh Phủ cũng bắt đầu việc tế tự Thanh Minh và đại lễ kỵ giỗ Trịnh đường tiên hiền phái. Đây cũng là nơi đặt linh vị của các bậc khai quốc công thần triều Lê đương đại. Gia nhân đang lăng xăng quét dọn trong ngoài, giẫy cỏ ngoài sân, tỉa gọn những cành quất đang trĩu trái trên các chậu sành đời Tống, kê ghế, lau bàn, chưng bình đơm quả. Người quản gia cẩn thận lấy tay quẹt vào đỉnh đồng để chứng tỏ sự sạch sẽ đến độ tuyệt đối trước khi cung nghinh chư vị thượng khách cùng quần thần Lê triều.
Trịnh Kiểm vận thanh bào có thêu những chữ Thọ tròn trĩnh từ cổ xuống chân, chiếc đai nịt màu hồng nhung có điểm vài hạt dạ châu, đôi hài tía cong vút mới thêu hình con bạch hổ trông thật oai nghiêm. Ông chấp tay sau lưng qua lại vài lần trước đại sảnh đường để kiểm tra những gì thiếu sót. Vừa bước tới trước sạp gụ cẩn xa cừ nơi làm bình phong trước bàn hương áng, họ Trịnh chợt nhớ lại điềm chiêm bao của Ngọc Bảo đã nói tuần qua, nên ông tiến thêm vài bước nữa vào trong điện thờ các vị khai quốc công thần. Nhìn qua rồi nhìn lại, dường như không thấy một cái gì, Trịnh Kiểm trầm ngâm rồi tự vấn một mình :
-Ủa, cái long vị thờ Hữu Vệ Điện Tiền Tướng Quân An Thành Hầu đặt đâu rồi nhỉ ?
-Ủa, sao lạ vậy à ? Trịnh Kiểm rướn mình nhìn sâu bên trong, cả cái lư hương cũng biến đi mất !. Như một linh tính thoáng trong đầu óc hoài nghi, Trịnh Kiểm vội vã quay ngược lại rồi nghĩ sao lại tiến thẳng vào nội cung khi vua Trang Tông chuẩn bị yết triều.
Nghe bước chân có vẻ khẩn cấp, vua Lê vừa nhìn ra thì đã nghe cao giọng của họ Trịnh :
-Khải bẩm hoàng thượng, hạ thần vừa suy nghĩ lại, rằng không nên tiến chỉ Nguyễn Hoàng trấn thủ phương nam. Xin bệ hạ thu hồi chiếu chỉ, bắt Nguyễn Hoàng trở lại triều ca gấp gấp. Trịnh Kiểm đang nghi ngờ những hành động ám muội của Nguyễn Hoàng nên mới hồ đồ, bốp chác như vậy, chứ bình nhật thì họ Trịnh một mặt ra chiều cung cúc nhà vua rất phải phép. Nghe xong thì Lê Trang Tông hơi nhíu mày, khó hiểu bèn nêu thắc mắc :
-Tướng công mới vừa đề nghị rồi nay cũng tướng công khẩn khoảng triệu hồi. Việc trấn giữ phương nam cũng vô cùng quan trọng, nếu không đưa Nguyễn Hoàng cai quản thì ai xứng đáng để trông nom thay thế ?
Bị hỏi đột ngột, Trịnh Kiểm chưa chuẩn bị nhân sự trong đầu thì từ ngọ môn, võ quan Hoàng Đình Ái xăm xăm bước tới, Trịnh Kiểm như mở cờ trong bụng liền ứng đáp lập tức:
-Phía nam có tả tướng quân Hoàng Đình Ái thì hợp cách vô cùng !
Vua Trang Tông dường như cũng hiểu ra một điều bất tường nào đó cho Đoan quận công Nguyễn Hoàng mà cái chết tức tử của Lạng quận công Nguyễn Uông cũng chưa phôi pha. Đang tìm cách cứu nguy Nguyễn Hoàng thì Hoàng Đình Ái không kịp chờ đến buổi yết triều mà quỳ trước long đường tấu trình :
-Khải tấu hoàng thượng! hạ thần vừa được cấp báo, phía bắc Mạc Đăng Doanh vận chuyển binh mã đang tấn công vào vùng đất giáp giới kinh thành. Xin bệ hạ thiết triều thảo luận phương pháp đối địch ngay tức khắc.
Thật ra từ ngày Lê Duy Ninh lên ngôi hiệu là Lê Trang Tông thì đêm đêm quân nhà Mạc phía bắc tìm mọi cách tiêu diệt nhà Lê. Dù đến đời Mạc Đăng Doanh thay cha trị quốc nhưng nhân tâm và hàng sĩ phu vẫn hướng vọng về tôn thất nhà Lê. Vì vậy mà họ Mạc đã bao phen đánh úp đều bị nhân dân tình báo khai trình nên nhà Lê đã kịp thời cảnh giác, canh phòng. Vừa nghe Hoàng Đình Ái tâu trình như thế, và vị vương đang lo đến an nguy của Nguyễn Hoàng nên dùng kế hoảng binh mà Vua liền phán :
-Lổ rò phải đắp gấp để giữ ruộng nước nuôi lúa. Chuyện phương nam tạm thời để cho Nguyễn Hoàng lo liệu, sau khi ổn định xong thì triệu hồi cũng chưa muộn. Theo ta thì phương bắc cần kíp hơn, sẳn đây ta hạ lịnh cho võ tướng Hoàng Đình Ái chuẩn bị binh lương nội nhật hôm nay tấn binh trừ khử bọn giặc Mạc. Xoay qua Trịnh Kiểm đang phân vân suy nghĩ, nhà vua vặn hỏi :
-Tướng quân, ý ta như vậy có hợp với binh thư đại pháp hay không, tướng công có thiện ý nào nữa chăng ? Trịnh Kiểm cũng hơi ngần ngại nhưng vì chưa tìm ra lý lẽ minh bạch nên cũng du di :
-Tâu bệ hạ, tạm thời như vậy cũng được nhưng đồng thời tìm nhân tuyển thay thế để triệu hồi Nguyễn Hoàng về cung càng sớm càng tốt.
Nhà vua mĩm cười lấp lững : -Hay lắm, thôi để cho Hoàng Đình Ái dẹp xong bọn giặc họ Mạc rồi công cử vào Nam thay thế cũng chẳng muộn màng…
Cực chẳng đã, Trịnh Kiểm gục đầu hài lòng mà tâm tư vẫn còn ấm ức. Giờ này thì Trịnh Kiểm mới tự trách sự sai lầm của mình để cho hổ về rừng mọc cánh. Buổi thiết triều hôm đó chẳng có sự hiện diện của Trịnh Kiểm nên không khí khá hòa nhã, thân thiện, vua tôi luận bàn thế sự mà vui vẻ như đêm ba mươi tết.
Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng.
*****
THĂNG HOA CUỘC ĐỜI
Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng
Kỳ 51: Trịnh Nguyễn Phân Tranh
Thoát khỏi sự kiềm chế của Trịnh Kiểm, Nguyễn Hoàng dẫn gia nhân tùy tùng và một ít binh lính già nua yếu đuối vào trấn nhậm đất Thuận Hóa. Nghe danh Nguyễn Hoàng là người nhân đức, hiền lương và khiêm tốn, nhân dân cũng gồng gánh xuôi nam nên buổi ban sơ khai khẩn đất đai chừng hơn trăm người ôm nhau sinh sống nơi sơn lam chướng khí.
Vốn thông minh, cần cù Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng xem dân như anh em ruột thịt, đối đãi nhau dùng lễ làm đầu nên buổi bình minh của vùng Thuận Hoá lần lần được khai khẩn cho hoa màu và cây trái xanh tươi. Dù thân làm tướng nhưng Nguyễn Hoàng vẫn còn ôm hận vì họ Trịnh giết anh thì ít mà mưu đồ soán đoạt ngôi vua và lấn áp triều đình thì vô cùng to lớn. Biết rằng đại nghịch bất đạo cần phải khử trừ nhưng binh lực họ Trịnh quá mạnh và triều ca lúc này thường phò thịnh chứ chẳng ai buồn ngó đến phò suy. Khi tiến về nam phương lập nghiệp, Nguyễn Hoàng đã vào từ đường thỉnh bát nhang và bài vị phụ thân theo cùng; như y lời của Trình quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm thì sự nghiệp ra đi hết mong ngày trở lại nơi chôn nhau cắt rốn.
Năm Ất Dậu (1558) thiên mệnh như dành sẵn xứ Thuận Hóa cho Tiên Chúa Nguyễn Hoàng, thuộc giòng họ Nguyễn làng Gia Miêu, huyện Tống Sơn, Thanh Hóa. Thúc dục Tiên Chúa dùng Thuận Hóa làm bàn đạp, tiếp bước cha ông, dẫn người Việt đi tiếp đoạn đường trường chinh về phương nam mở rộng cõi bờ.Đất Thuận Hóa hoang sơ như thời tiền sử, không người canh tác, khai khẩn nên sơn lam chướng khí bao quanh càng khiến lòng người mới định cư hoang mang, xao xuyến. Nhưng sự quyết chí của Nguyễn Hoàng, cộng thêm tình người yêu thương gắn bó buổi ban sơ đã xây dựng nên những xóm làng yêu thương, trù phú. Dãy trường sơn trùng trùng điệp điệp như cái xương sống trên vùng đất phía tây đã nẻ ra một dãy Hoành sơn ăn ra tận biển đông chưa có dấu chân người lai vãng. Thú dữ hùm, beo, cọp, sói đã là những chướng ngại nguy nàn khiến không biết bao nhiêu sinh linh mất mạng. Đoàn người đi suốt ngày đêm, cái hừng khí ban đầu tiêu tan thay cho sự chán nản, muốn quay lại kinh thành đô hội, Nguyễn Hoàng an ủi vỗ về và quyết định hạ trại bên giòng sông Hương nơi đất Phú Xuân với bình nguyên bát ngát.
Tấm lòng rộng mở đón chào những hùng anh kiệt hiệt tứ phương của một người đầy đức độ như Nguyễn Hoàng thì chẳng mấy chốc đất Thuận Hóa tràn ngập nhân sĩ; lại nữa đất mới đãi người cần cù nên sau một vụ mùa mà lúa thóc kê đậu dư dả đến nỗi kho độn chất đầy. Dù làm tới tước Quận công nhưng Nguyễn Hoàng ăn bận giản dị, năng nổ cùng người dân cày sâu cuốc bẫm nên danh lừng bốn bể khiến sĩ phu Bắc Hà bất mãn với họ Mạc và chán ghét họ Trịnh chuyên quyền vội tìm vào nam theo Nguyễn Hoàng càng ngày càng đông đúc.
Nhân dân được vỗ về an ủi trong cảnh thái bình với đất rộng, người thưa; thêm vào đó thì sự khai thác về nông nghiệp, lâm nghiệp và hải sản quá ư ưu đãi bởi thiên nhiên nên chẳng mấy chốc mà Thuận Hóa thành khu trù mật khiến Trịnh Kiểm lo ngại khôn nguôi. Lê triều đã có đôi phen triệu hồi mà Nguyễn Hoàng xem chừng như không cần đá động trong khi đất phương Nam cứ thế tiến sâu đầy hoa màu mà bờ cõi cũng một phen mở rộng.
Về phương bắc thì lòng người chán nản sự thoán đạt ngôi vị của nhà Mạc, phần vì sĩ phu, danh tướng của Lê triều cám cảnh nhân tình bị nhà Trịnh bắt nạt chèn ép, kinh tế suy vi, chiến tranh dai dẳng nên càng ngày càng có nhiều nhân tài tìm cách vào Thuận Hóa theo Nguyễn Hoàng lập nghiệp, góp ý xây dựng giang sơn. Những tay anh chị hoàn lương cũng vào nam lập nghiệp mà chẳng mấy chốc đất Thuận Hóa nổi tiếng là trù phú sung túc, hấp dẫn bao thế hệ làm cuộc nam tiến để đổi đời.
Trịnh Kiểm ngồi ở phủ chúa mà lửa đốt tâm can, phần vì chống đở giặc phương bắc do Mạc Đăng Doanh đánh úp, quan quân bất phục rã rời, lòng người than oán tột độ mà vua Lê Trang Tông cũng không mấy can trường, quá nhu nhược nên dân chúng bất mãn dẫy đầy. Tin tức về Nguyễn Hoàng chiêu dụ nhân tài, tích lương luyện mã nên Trịnh Kiểm hối thúc vua Lê triệu Nguyễn Hoàng hồi cung thay thế, nhưng tin đi mà chẳng hồi âm, Nguyễn Hoàng cứ phớt lờ lo củng cố binh lực chống trả.
Sông Linh Giang (còn gọi là sông Gianh thuộc địa phận đèo ngang tỉnh Quảng Bình) cứ lặng lờ trôi nhưng giang sơn nước Việt không dễ thông thương giữa đôi bờ ranh giới. Họ Nguyễn đã ra mặt chống đối họ Trịnh, Trịnh Kiểm xưng chúa thì họ Nguyễn cũng được nhân dân tôn lên làm chúa. Chúa Trịnh đàng ngoài và chúa Nguyễn đàng trong. Một nước có một vì vua: Lê triều; đôi bên cũng giương cờ nhân danh phò Lê diệt kẻ tham tàn.
Năm 1527 Mạc Đăng Dung giết vua Lê Chiêu Tông để tự lên làm vua truyền được năm đời (Mạc Đăng Doanh, Mạc Phúc Hải, Mạc Phúc Nguyên, Mạc Mậu Hợp, Mạc Toàn) thì sự trung hưng của nhà Lê khởi sắc. Nhà Mạc tuy cũng xưng vua nhưng phải bỏ kinh thành Thăng Long mà chạy về Hải Dương rồi tiến lên Lạng Sơn, Cao Bằng nương náu. Đất nước một phen tan hoang, dân chúng ở vùng nào thì bị những kẻ thao túng quyền hành tự tung hành xử như những con cờ trong tay kẻ mạnh. Chiến tranh như lò sát sanh, con cờ ấy được quăng ra chiến trường để sống chết vì một giòng họ mà đất nước tức tưởi cưu mang.
Ai cũng trải qua con đường sanh tử, Trịnh Kiểm có gian hùng hay lương thiện thì cũng chỉ hết một kiếp nhân sanh, năm 1570 thì Trịnh Kiểm qua đời và con trai tên là Trịnh Cối lên thay. Cối là người chất phát, ít mưu lược, không có lập trường nên ai nói gì tin nấy, thích ngâm thơ đọc văn mà chán ghét việc luyện cung tập kiếm nên chẳng bao lâu quyền hành binh lực dần dần về tay Trịnh Tùng, một con người đầy mưu mô xảo quyệt, lập bè lập đảng, lấn áp triều ca, hại kẻ trung thần tiến cử người xu nịnh nên ai ai cũng oán ghét. Lúc bấy giờ vua Lê Anh Tôn đang trị vì thấy kẻ nịnh thần hùa theo Trịnh Tùng, ức hiếp hoàng cung nên lo ngại vô cùng, vương bèn tìm cách họp bàn tính kế với các trung thần còn ít ỏi trong triều, nào dè Trịnh Tùng biết được bèn áp dụng kế sách “tiên hạ thủ vi cường”, ngang nhiên vào cung giết chết Anh Tông rồi lập hoàng tử Duy Đàn lên ngôi vua lấy hiệu là Lê Thế Tôn.
Lòng dân đang hoang mang vì sự việc phế đế làm cho sơn hà cứ thay ngôi đổi chủ, thấy vậy họ Mạc đang ở phương bắc định khởi binh diệt Lê, trừ Trịnh. Trịnh Tùng được mật báo nên vội vã kéo toàn lực binh mã, giương cờ chính nghĩa “phù Lê trung hưng” nên sau mấy ngày đêm Bắc tiến, Trịnh Tùng đã tiêu diệt được toàn bộ binh lực họ Mạc. Dĩ nhiên nhà Mạc phải suy vi vì nhân quả báo ứng, nhưng cũng vì thế mà binh lực của Trịnh Tùng lại quá sức kiêu căng, càng ngày càng làm cho dân chúng muôn phần căm phẩn. Vua Lê Thế Tôn đang ở trong ngôi vị mà nhất cử nhất động đều bị sự giám sát của Trịnh Tùng, quyền hành đối nội, đối ngoại đều phải được thông qua bởi thủ hạ của họ Trịnh nên ngày qua ngày, kẻ trung thần tìm cách ẩn thân mặc cho phe dua nịnh cúc cung tâng bốc, vì vậy mà Tùng tự xưng ngôi vị Chúa Trịnh, vai vế hàng thứ hai, nhưng thực tế thì Trịnh Tùng soán đoạt tất cả quyền hành.
Được tin bất tường như vậy thì phía nam dãy Hoành Sơn, đêm hôm ấy, Nguyễn Hoàng bí mật cùng người hầu cận tìm gặp ẩn sĩ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm tham vấn, khí trời tiết thanh minh dìu dịu trong ánh trăng mờ mờ khuất dưới hàng dương liễu, Trạng Trình ngắt một đóa phù dung còn đọng sương khuya rồi nhìn vào đó mà ngâm bài kệ:
“-Hà thời biện lại vi vương.
Thử thời bắc trận, nam trường xuất bôn.
Chim bằng cất cánh về đâu?
Chết tại trên đầu hai chữ quận công.
Bao giờ trúc mọc sang sông.
Mặt trời sẽ lại đỏ hồng non tây.
Đoài cung một sớm đổi thay.
Chấn cung sao cũng sa ngay chẳng còn.
Đầu cha lộn xuống chân con.
Mười bốn năm tròn hết số thời thôi.!” (Khi nào có biện lại làm vua thì Bắc Lê Trịnh phải dứt mà Nam Chúa Nguyễn cũng phải tìm đường mà chạy. Nguyễn Hữu Chỉnh ví mình với chim Bằng tức Bằng Trung Công bị giết. Tôn Sĩ Nghị bắc một cái cầu nổi bằng tre vào Thăng Long nên Nguyễn Huệ mới xưng Quang Trung Hoàng đế (1788), dẫn quân ra Bắc để đánh đuổi quân Tàu. Ðoài cung là phương tây, ám chỉ Nguyễn Huệ thình lình bị chứng huyết vận chết vào năm (1792). Và chữ Quang có chữ Tiểu trên thì vua Quang Toản có chữ tiểu phía dưới, tất cả làm vua được 14 năm)
Làn gió mang hơi lạnh từ núi Yên Tử hắt vào tấm áo bào mỏng manh của Nguyễn Hoàng, ông vội vă bái chào từ tạ người ẩn sĩ, âm thầm nhẫm đọc những lời ngâm nga của tiên sinh rồi cùng kẻ hầu cận quất ngựa về chốn thành đô trước khi mặt trời ló dạng. Vừa ngồi vào bàn viết, ông đã dùng bút lông viết vào tờ giấy đỏ những lời sấm ký để lúc rảnh rỗi mà suy gẫm ý nghĩa nhiệm mầu ứng hiện ra sao trong những ngày sắp tới.
Mặt trời đỏ rực phản chiếu ánh sáng hừng đông trên mặt nước sông Linh Giang ngày đêm êm đềm trôi chảy. Sáng hôm đó nhân ngày rằm tháng Ba, Nguyễn Hoàng lập tức đăng đàn bái tướng, xưng là chúa phương nam, trấn đóng Thuận Hóa, giương cờ chính nghĩa “diệt Trịnh phù Lê”. Con cháu Lạc Long Quân và Âu Cơ giữa hai bờ sông Linh Giang tự dưng trở thành đối nghịch bởi từ đây đôi ngả phân ly, kẻ Bắc thuộc cơ ngơi Chúa Trịnh cũng treo cờ dóng trống phù Lê, người Nam thuộc biên cương chúa Nguyễn tự nhận mình có trách nhiệm diệt Trịnh phù Lê, tưởng rằng ngày một ngày hai non sông sẽ thu về một mối, nào ngờ đâu thù hận sâu dày, sông Linh Giang làm mốc ngăn tường để hai họ Trịnh Nguyễn phân tranh, lôi cuốn cả dân tộc vào vòng tranh chấp, muôn dân đồ thán, kinh tế eo xèo, tình người nghi kỵ và nền văn hóa bể thành những mảnh vụn của cục bộ, ly khai.
Trong tình thế đối đầu sống chết, cả hai họ đều tìm cách củng cố quyền hành, khai khẩn đất hoang, chiêu hiền đãi sĩ, chuẩn bị binh lực, cầu cạnh thông thương cùng lâng bang kể cả việc chiếm đất những quốc gia phương nam như sách lược bành trướng lãnh thổ. Phía bắc, sau khi diệt được họ Mạc, chúa Trịnh tìm cách lân la với nhà Minh bên Tàu để làm chỗ dựa vững chắc cho công cuộc chống Nguyễn phía đàng trong. Nguyễn Hoàng cho đắp lũy Trường Dực tại Phong Lộc trên dòng sông Nhật Lệ, Đồng Hới còn được gọi là lũy Thầy để chận đứng cuộc tiến quân từ bắc phương, song song với sự chuẩn bị quốc phòng đầy nghiêm mật, các chúa Nguyễn kế tiếp lấy nước Chiêm Thành và Chân Lạp để mở rộng bờ cõi về phuơng nam. Suốt cuộc phân kỳ có đến bảy lần giao chiến giữa nam và bắc, vẫn không chiến thắng và chiến bại giành cho chúa nào ở đàng ngoài lẫn đàng trong nhưng chắc chắn một điều đớn đau cho cả dân tộc với cuộc nội chiến đầy phi lý chỉ vì cái bản ngã quá to đầy tham vọng, vị kỷ và thù hận của hai họ Trịnh Nguyễn gây ra.
Dòng sông Linh Giang cứ thế lặng lờ trôi trên hai trăm năm, người dân Việt hai miền nam, bắc tưởng chừng như hai quốc gia biệt lập đối đầu. Những sĩ phu ưu thời mẫn thế chỉ biết đốt hương khấn nguyện đất trời cho một vị minh vương xuất hiện, niềm tin về vua Lê không còn giá trị mà đối với chúa Trịnh, chúa Nguyễn cũng chỉ là những kẻ thời cơ, hồn dân tộc như âm dương cách trở; nghĩa đồng bào như sớm nắng, chiều mưa. Triều Lê hưng suy bởi sự thạnh suy của đất nước, chiêu bài phò Lê lạc lẽo như nước ốc lạnh tanh… May thay, dù vật đổi sao dời trên hai thế kỷ mà ngôn ngữ trần gian của dân tộc Lạc Hồng vẫn còn nguyên vẹn, du dương huyền nhiệm như thuở khai thiên, và rồi lời khấn nguyện linh thiêng cũng có lần ứng hiện, ban mai đây khi ánh dương tưng bừng khắp chốn thì biết đâu xuất hiện những bậc kiệt hiệt hùng anh vì đại nghĩa dân tộc mà xông pha trận mạc quyết một lòng thống nhất giang sơn hầu nam bắc quy về một mối.
Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng
VĂN: THƯ GỬI CHỊ- NGỌC HẠNH
Chị yêu thương,
Hôm nay vùng HoaThinh Đốn nắng vàng rực rỡ, ấm so với tuần trước
trời am u và lạnh, chẳng ai muốn ra khỏi nhà nếu không có việc
cần. Những khóm hoa daffodill khoe màu vàng tươi hay màu trắng xinh
đẹp. Đào, mai, các loại hoa khác trong xóm và dọc theo đường đi đầy
hoa, chẳng thấy lá. TV cho biết hoa đào ở Tidal Basin, thủ đô Hoa Kỳ
đang nở rộ. Năm nay đào ra hoa sớm có lẻ nhờ mấy hôm trời ấm. Cây
trong vườn bắt đầu nhú nụ và lá non. Cảnh vật thật dễ thương và khí
hâu ôn hòa. Ra đường không cần phải mặc áo khoác dày hay mang
ủng cao nữa.
Em càng vui hơn khi vào nhà mở laptop thấy điện thư chị. Đã lâu không thấy chị xuất hiện trên diễn đàn mọi người cũng lo. Niềm vui không kéo dài và em ngạc nhiên khi chị cho biết không được khỏe, hay phiền muộn và mắc bệnh trầm cảm dù có anh ân cần yêu thương săn sóc. Thưa chị vào tuổi chị ốm đau chút ít không sao tránh khỏi nhưng em không hiểu được khi chị cho biết chị bị bệnh “trầm cảm”. Em đồng ý với chị em là chị được Thượng Đế ưu đãi, có mọi thứ người đời ước mơ: xinh đẹp, tiền tài, có người bạn đời hết lòng yêu thương chiều chuộng, các con thành đạt và hiếu thảo…
Thưa chị theo em có người ao ước được một phần của chị là hạnh phúc rồi thi dụ như nhan sắc hay tiền tài. Ngoài ra chị còn sáng tác văn, thơ, được anh chị em hết lòng thương mến vi chị dịu dàng, hòa nhã với mọi người.
Theo em chị không có lý do để “trầm cảm” , chị được rất nhiều ơn phước so với những người cùng tuổi, cùng trình độ với chị. Không cần đâu xa trong nhóm 9 anh chi em chúng ta, 4 ngườì phải sống lẻ loi do bạn đời sớm ra đi, có người mới góa bụa, có người một nửa ra đi hàng mấy chục năm trước. Nếu chị hắt hơi sổ mũi có anh quan tâm thăm hỏi nhưng những người không có bạn đời bên cạnh, con cháu ở xa thì ai là chăm nom khi đau ốm. Quý vị ấy phải tự lo cho bản thân mà thôi. Có người còn phải chăm sóc chồng ốm đau bệnh tật. Chị tưởng tượng những người đơn thân, sống cu ky một mình, dù con cháu bên cạnh, cũng lẻ loi. Con cháu đâu có thì giờ nghe bà già tỉ tê tâm sự. Ai là người cùng “xem hoa nở hay chờ trăng lên”. Khi các con trưởng thành có gia đình, có tổ ấm riêng tư, không mấy cô, cậu chịu sống chung với
cha mẹ nhất là ở các xứ tự do. Vả lại cha mẹ cũng không muốn ở chung với con, mất tư do của người trẻ tuổi. Thường xuyên thăm viếng nếu ở gần, điện thọai trò chuyện nếu vì công việc làm ăn cô cậu phải định cư tiểu bang khác. Sống tử tế, có nghề nghiệp tốt đẹp cũng đủ làm cha me vui lòng rồi.
Em như các anh chị em khác, mong chị mãi binh an và hạnh phúc. Ước chi em là chuyên gia tâm lý hay bác sĩ để giúp chị khỏi bệnh trầm cảm hoặc khi đau ốm. Nhân tháng tư sắp đến, ngày đổi đời của đồng bào miền Nam, em xin kể chuyện ngày xưa của người quen thân trong gia đình, mong chị giải trí, khuây khỏa chốc lát.
Nếu nói tên có thể chị biết vì chị X cũng là dược sĩ như chị, tuy it tuổi hơn, nên em không cho biết tên thật. Anh X chồng chị ấy là Y sĩ trưởng bệnh viện miền Tây. Chị X bỏ việc ở Saigon , theo chồng về miền Tây, đứng tên cho nhà thuốc trong thành phố gần bệnh viện. Dân chúng miền Tây hiền lành,chất phác, đời sống dễ dàng, thực phẩm, trái cây tươi ngon, tôm cá dồi dào, trường học tốt. Lúc đầu anh chị định sống tạm, làm việc ít lâu rồi trở về thủ đô, nơi có ông bà Nội, Ngoại các cháu cư ngụ. Nhưng sau thời gian làm việc với các bác sĩ, nhân viên y tế và văn phòng, sự chân thật, khả năng, tinh thần trách nhiêm của họ làm anh cảm tình và quyết định chọn miền Tây nước ngọt, đất đai phi nhiêu làm quê hương. Anh chị mua ngôi nhà xinh đẹp từ cuối nắm 1973. Cuộc sống yên lành cho đến tháng 4 năm 1975 mọi việc thay đổi. Anh bị đi cải tạo, nhà nước đổi tiền, ai cũng nghèo, bo bo thay cho cơm trắng gạo ngon, thịt cá hiếm hoi trong bửa cơm hằng ngày:
Đang là Bác sĩ thành tù nhân
Chuyên khoa tài giỏi chẳng ai cần
Xa đàn con dại vợ thân mến
Đốn củi chặt tre phải thực hành…
Khi tình hình đổi thay nghiêm trọng, các cố vấn Mỹ cho biết họ đã dành chỗ gia đinh anh nếu anh muốn đi Mỹ. Bố Mẹ anh chị đều là người Bắc di cư, nhưng các cụ tùy anh quyết đinh. Anh nghĩ thời đại nào cũng cần thày thuốc nhất là những năm chiến tranh, miền Bắc không có thì giờ và phương tiện đào tạo những bác sĩ chuyên khoa nhưng anh lầm. Sau khi bệnh viện bị tiếp thu, anh và một số đồng nghiệp bị đưa đi cải tạo. Nhà thuốc chị đứng tên cũng bị nhà nước tiếp thu. Chị vẫn làm việc nhưng là công nhân viên, lương mấy chục một tháng. Anh chị 6 con, đứa bé nhất khoảng 2 tuổi. Các cháu cách nhau vài tuổi nên trước kia nhà có 3 người
giúp việc kể cả chị bếp.
Anh đi cải tạo, chị đi làm việc, các con nhỏ cần người đưa đi học và trông nom săn sóc. May mắn anh chị có chị bếp lâu năm,siêng năng trung hậu,rất thương mến các em. Lương chị X vài chục một tháng nên chị cho người giúp việc nghỉ bớt. Chị bếp tình nguyện ở lại đến khi ở cải tạo anh về rồi tính sau. Với mọi người chị bếp là bà con. Thời gian ấy không ai dám thuê người làm. Vì là công nhân viên nhà nước nên cái nhà to, đẹp anh chị không bị tịch thâu nhưng các vật dụng , bàn ghế, món gì có giá đều bán đi dần để có tiền đi chợ…
Gần 2 năm sau anh được thả nhưng không được trở về nhiệm sở cũ. Bằng mọi giá anh vượt biên dù các con còn nhỏ. Anh chị mang hết các con theo tuy biết cuộc hành trình nhiều nguy hiểm. Nếu chết thì cả nhà cùng chết. Chiếc thuyền nhỏ chở khoảng hơn 40 người gồm gia đình các y, dược sĩ và số ít sĩ quan, toàn những người liều mạng, đi tìm tự do..Có một người chỉ là hạ sĩ quan nhưng giỏi máy móc và đáng tin cậy đươc đi để trông coi máy tàu. Anh mang vợ con theo miễn phí, khỏi đóng góp tiền bạc chi cả. Chuyến đi tưởng là nằm trong bụng cá nhưng may mắn thành công, đến Thái Lan. Sau cùng anh chị được định cư ở Mỹ nhờ có người
bà con bảo lãnh. Mới đến Mỹ chị X đi làm teller toàn thời gian bằng xe bus ở ngân hàng, về nhà còn lo cơm nước để anh đi học lại lấy bằng Bác sĩ. Các con đi học về đứa lớn trông đứa nhỏ, em bé nhất đi mẫu giáo. Cả nhà ở chung với bà chi thời gian đầu.
Khi anh học xong và xin được việc làm, chị đi học lại để lấy bằng hành nghề Dược Sĩ. Trường cách nhà 3 tiếng, chị phải ở trọ chỉ về nhà những ngày cuối tuần. Chị gầy đi nhưng không bệnh và cũng chẳng phàn nàn. Tuy cực thân như khỏe cái đầu, anh nói thế. Anh chỉ tiếc là do quyết định sai lầm làm khổ lây vợ con. Tuy nhiên trời thương, gia đinh còn đầy đủ trong cuộc hành trình khó khăn, thiếu thốn và nguy hiểm. Cậu Út bé nhất cũng bình an khi đi đường. Anh cho biêt tuy cực nhưng so với lúc đi cải tạo thật chẳng thấm vào đâu.
Thưa chị, cùng là dược sĩ nhưng chị thong dong ở ngoại quốc, của cải không bị mất vì anh làm việc nước ngoài trước năm 1975. Ngoài ra lúc nào anh cũng bên cạnh chị còn người quen em thì phải nuôi chồng trong tù. Đến xứ tự do phải đi còn học dược trở lại tuy thời gian ngắn hơn, mới được hành nghề. Có thể chị chưa bao giờ đi học đi làm bằng xe bus lúc trời nắng nóng nực hay khi tuyết rơi lạnh lẽo như bạn em và chưa bao giờ nuôi người thân bị tù.
Chị yêu thương, theo em so với người cùng học lực, chị thật khỏe như thần tiên, dù ngày nay các con của anh chị X đều thành đạt nhờ nhà nước Hoa Kỳ tạo điều kiện dễ dàng. Sáu người con đã có 5 người theo nghiệp cha làm bác sĩ, chỉ một người theo nghề Mẹ làm dược sĩ. Các cháu học giỏi nên được học bổng, anh chị không tốn kém nhiều. Tuy nhiên anh X đã qua đời hơn 10 năm rồi. Chị X sống mình một dù các con đều nhà cao cửa rộng. Chị không muốn phiền các con nên chỉ ở gần mà không ở chung.Tiếc là quê hương chúng
ta lại mất thêm những người trẻ tuổi thông minh, ưu tú…
Thưa chị mấy ai sống đời đời và có bao nhiêu người tránh khỏi phiền muộn trên thế gian.
Theo em chị là con cưng của gia đinh và của…ôngTrời luôn. Mong chị quẳng gánh lo đi, sống vui và sống khỏe để anh và những yêu mến chị được an lòng.
Cầu xin ơn trên ban phước lành cho anh chị và tất cả đồng bào chúng ta, ở quê hương cũng như hải ngoại…
Thương chi rất nhiều.
TB: Em có mấy câu văn vần tặng chị và quý độc giả:
CHỊ TÔI
Xuân về nắng ấm xuyên cành lá
Mai, đào nở rộ trước sân nhà
Chị hiền thân mến than đau ốm
Trầm cảm không vui lúc tuổi già
Cao tuổi chị tôi vẫn mặn mà
Đẹp xinh, quyến rũ và duyên dáng
Chồng yêu bạn quý con thương mến
Chúc chị an vui, hạnh phúc nha
Ngọc Hạnh
NHẠC TRẦN ĐẠI BẢN – 2 CA KHÚC: MẢNH VỠ TRÁI TIM Thơ Đăng Nguyên & HUẾ ƠI! Thơ Trần Quốc Bảo.
Mảnh Vỡ Trái Tim – Thơ Đăng Nguyên – Nhạc Trần Đại Bản – Ca sĩ Kana Ngọc Thúy
Huế Ơi – Thơ Trần Quốc Bảo _ Nhạc Trần Đại Bản – Ca Sĩ Vân Khánh
CA KHÚC CUỐI ĐƯỜNG MẸ ĐI -Thơ Võ Đại Tôn (1975) – Nhạc Võ Tá Hân (2020) – Tiếng hát Lâm Dung
CUỐI ĐƯỜNG MẸ ĐI -Thơ Võ Đại Tôn (1975) – Nhạc Võ Tá Hân (2020) – Tiếng hát Lâm Dung
THƠ MẶC KHÁCH: TÌNH CHIẾN HỮU & THƠ HỌA

TÌNH CHIẾN HỮU
*
Tóc đã sương pha, Kính bạn già
Chút tình tỵ nạn chớ phôi pha
Văn chương thi phú luôn gìn giữ
Nghệ thuật Tranh Thơ vẫn thiết tha
Quân sử ghi ơn hồn tuấn kiệt
Cờ vàng thấm máu khúc quân ca
Sử xanh còn đó đời nô lệ
Thức tỉnh lòng dân giữ nước nhà
Mặc Khách
*
MỘT KIẾP CHINH NHÂN
(Bài họa )
Quê người tỵ nạn khổ thân già,
Mái tóc giờ đây đã muối pha.
Khổ luỵ quê hương luôn mãi nghĩ,
Hận thù đất mẹ chẳng hề tha.
Quân hành vẫn nhớ hùng câu hát,
Chính khí còn nghe rộn tiếng ca !
Một kiếp chinh nhân tình chiến hữu…
Lòng son tưởng niệm mãi quê nhà !
Nhật Hồng Nguyễn Thanh Vân
*
TÌNH ĐỒNG ĐỘI
(Bài họa)
Ôi tình chiến hữu mãi không già !!!!
Nhớ thuở nâng ly rượu máu pha.
Đồng đội, thề nguyền – nên gắn bó;
Kẻ thù, nhất quyết – chớ dung tha.
Cam tâm cuốn vó, quân Nam tủi;
Khoái chí vung cờ, giặc Bắc ca.
Nước mất, nhà tan, thân “cải tạo”;
Lưu vong đất khách nhớ quê nhà.
Thảo Chương Trần Quốc Việt
MỜI NGHE 2 CA KHÚC: 1)-Mảnh Vỡ Trái Tim – Thơ Đăng Nguyên – Nhạc Trần Đại Bản – Ca sĩ Kana Ngọc Thúy – 2)- Huế Ơi – Thơ Trần Quốc Bảo – Nhạc Trần Đại Bản – Ca Sĩ Vân Khánh.
Mảnh Vỡ Trái Tim Thơ Đăng Nguyên – Nhạc Trần Đại Bản Ca sĩ Kana Ngọc Thúy
Huế Ơi – Thơ Trần Quốc Bảo – Nhạc Trần Đại Bản – Ca Sĩ Vân Khánh.
KÍNH MỜI NGHE 3 CA KHÚC: 1)- TÓC RỐI – Thơ: Phạm Phan Lang – Nhạc NguyễnTâmHàn – Ca sĩ: Hương Giang. 2)- THĂM ANH NGÀY CUỐI NĂM – Thơ: PhamPhanLang – Nhạc: Mai Hoài Thu – Ca sĩ: Lan Phương. 3)- QUÊ HƯƠNG ƠI TA NHỚ – Thơ phamphanlang – Nhạc Mộc Thiêng – Ca sĩ Thụy Long.
TÓC RỐI – Thơ: Phạm Phan Lang – Nhạc NguyễnTâmHàn – Ca sĩ: Hương Giang.
THĂM ANH NGÀY CUỐI NĂM – Thơ: PhamPhanLang – Nhạc: Mai Hoài Thu – Ca sĩ: Lan Phương.
QUÊ HƯƠNG ƠI TA NHỚ – Thơ phamphanlang – Nhạc Mộc Thiêng – Ca sĩ Thụy Long.
TÓC RỐI – THƠ Phạm Phan Lang * Nhạc NguyễnTâmHàn * Hương Giang
Thơ Song Ngữ: BẢN ÁN của HOÀNG HƯƠNG TRANG & THANH-THANH

Bước Ngoặt – Turning Point – MAI THANH TRUYẾT
Bước ngoặt – Turning point

Nếu bạn vào Google tra chữ “Turning point” của Cambridge Advanced Learner’s Dictionary & Thesaurus © Cambridge University Press sẽ thấy định nghĩa như dưới đây:
Thời điểm mà một tình huống bắt đầu thay đổi một cách quan trọng, thông thường là tích cực) – The time at which a situation starts to change in an important way, esp. positive, way.
Trong lãnh vực văn chương nếu nói đến “bước ngoặt” có thể có định nghĩa như sau:
Bước ngoặt trong một tác phẩm văn học là thời điểm hay một chương sách (mô tả) khi hành động bắt đầu tiến tới đoạn gay cấn (phần quan trọng hoặc kích hoạt nhất) – The turning point in a work of literature is the moment or section when the action begins to move toward the climax (the most important or exciting part).

Bước ngoặt xảy ra khi một điều gì đó đổi hướng và khiến bạn phải đưa ra lựa chọn. Đó là thời điểm bạn quyết định rằng mình cần thay đổi và phản ứng khác đi. Có thể những gì đã xảy ra trước đây không còn là điều bạn muốn xảy ra trong tương lai nữa.
Trong cuộc sống của mỗi người có nhiều bước ngoặt trong nhiều giai đoạn của đời người như:
- Các mốc thời gian từ nhỏ cho đến trưởng thành, có vợ con, công ăn việc làm, tuổi già…v.v…
- Học cách nói chuyện với người lạ.
- Thay đổi cơ thể của tôi áp dụng cho cả nam lẫn nữ.
- Học cách yêu thích đọc sách.
- Thực hiện bước nhảy vọt – Taking the leap.
- Nhận được lời khuyên có ảnh hưởng lớn từ người khác.
- Tiến về phía trước từ những tổn thương đã vấp phải.
- Giai đoạn bảy và tám bó: Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc có Tầm nhìn Cá nhân trong những năm này có thể tạo nên sự khác biệt giữa sự sống và cái chết, cả về mặt cảm xúc lẫn thể chất.
- Đặc biệt nhứt đối với người Việt, có hai bước ngoặt lớn nhứt trong thế kỷ 20 là năm 1954 với cuộc di cư từ Bắc vào Nam, và ngày 30/4/1975, cuộc di tản trước và sau ngày kể trên. Có thể nói đây không những là một bước ngoặt lớn có thể được xem như là một cuộc đổi đời của nhiều triệu người Việt trong hai thời điểm trên.
Có hai câu hỏi căn bản thường thấy cho mỗi chúng ta là:
Bước ngoặt có ý nghĩa gì trong mối quan hệ giữa người và người?

Các bước ngoặt thường được định nghĩa là các sự kiện làm biến đổi hoặc thay đổi mối quan hệ theo một cách nào đó (Baxter, 2001; Baxter & Bullis, 1986).
Bạn có định nghĩa nào về bước ngoặt trong cuộc đời mình?
Như trong cột mốc quan trọng, một điểm trong chuỗi sự kiện mà tại đó xảy ra một sự thay đổi quan trọng (chẳng hạn như vận may hay rủi của một người), bước ngoặt đến khi mà cuối cùng rồi cũng thừa nhận mình vừa trải qua một bước ngoặt lớn hay một cuộc đổi đời, hoặc chuyển qua một hướng khác hoàn toàn ngược lại với cuộc sống đã và đang nếm phải!
Nhưng dù sao đi nữa, những bước ngoặt trong cuộc đời có thể tạo ra một mớ bòng bong (mess) hoặc một điều kỳ diệu (miracle) tùy theo bạn chọn lựa.

Bạn có thể nghĩ rằng tất cả những bước ngoặt trong cuộc đời đều phải là những khoảnh khắc huy hoàng làm đảo lộn thế giới quan của bạn và khiến bạn hoảng sợ. Nhưng tất cả các sự kiện trong cuộc sống không được tạo ra giống như nhau.
- Bạn có thể nhận thấy rằng có những lúc bạn đang đi trên con đường vui vẻ của mình và dần dần nhận ra rằng mình đã đến một ngã tư. Đó có thể là sự nghiệp mà bạn từng yêu thích, mà giờ đây bạn cảm thấy khó khăn hơn khi thức dậy vào buổi sáng.
- Rồi một ngày nào đó, bạn có thể trằn trọc và tự hỏi mình đã từng nhìn thấy điều gì ở người đang ngủ bên cạnh mình. Bạn có thể cảm thấy như thể nó đã đột ngột xuất hiện và bạn chưa chuẩn bị sẵn sàng.
- Bạn thậm chí có thể tự hỏi mình, “Tại sao tôi phải lâm vào hoàn cảnh nầy?” Hoặc, “Tôi phải làm gì bây giờ?”
Trong mọi trường hợp, đó là khoảnh khắc của sự thật mà bạn mà chính bạn tự khám phá sau một thời gian dài, và vì không thể bỏ qua được nữa, bạn sẽ tạo ra một bước ngoặt trong tâm thức và trong vô thức. Bước ngoặt trong trường hợp nầy có thể gọi là…một ngã rẽ trong cuộc đời.
Câu hỏi tiếp được đặt ra là, khi bạn nhìn thấy một bước ngoặt cho bạn, và bạn phải hành động như thế nào để thích ứng với b gìước ngoặt mà bạn tự vạch ra?
Bước ngoặt xảy ra khi một điều gì, một sự việc đó đổi hướng và khiến cho bạn phải đưa ra lựa chọn. Đó là thời điểm bạn quyết định rằng mình cần thay đổi và phản ứng khác đi. Có thể những gì đã xảy ra trước đây không còn là điều bạn muốn xảy ra trong tương lai nữa.
Đó là những điều thú vị, hoặc có thể là những u uẩn về những bước ngoặt bạn có thể quyết định thay đổi điều gì đó. Và khi bạn làm vậy, có thể một tương lai bất ổn có thể xảy ra khi bạn chọn bước ngoặt đó!
Tóm lại,
Những bước ngoặt thường đáng sợ. Thành thật mà nói, chúng có thể khiến bạn sợ hãi – đặc biệt là khi chúng bất ngờ xuất hiện. Nhưng ngay cả khi bạn mong đợi một sự thay đổi đáng kể trong cuộc sống của mình thì vẫn có thể có rất nhiều điều không chắc chắn đi kèm với nó như bạn đã hoạch định.
Giống như bất kỳ quá trình chuyển đổi quan trọng nào trong cuộc sống, nó có thể chứa đầy sức mạnh với mọi thứ từ sợ hãi đến lo lắng, đau đớn và đau buồn, choáng ngợp và thiếu tự tin; từ đó có thể đưa đến trầm cảm.
Nếu không có tầm nhìn cá nhân, khi đến một bước ngoặt, bạn có thể mắc một trong hai sai lầm lớn: không làm gì hoặc có những hành động đột ngột, thảm khốc và thiếu cân nhắc sẽ khiến cuộc sống của bạn bị đảo lộn. Việc có tầm nhìn cá nhân mang lại cho bạn một công cụ để xử dụng hiện tại và trong tương lai khi bạn điều hướng sự thay đổi trong tiến trình … chuyển hóa của bạn.
Xin nhớ, mỗi khi một bước ngoặt mới đòi hỏi bạn phải xoay trở và chuyển dịch, bạn có thể lấy những kỷ niệm trước đó làm hành trang hay bỏ lại sau lưng. Tùy bạn thôi!
Một tương lai vô định khi bạn chọn một bước ngoặt, hay một chuyển hướng trong một trạng thái tâm hồn không ổn định và nhứt là quỹ thời gian của bạn không còn nhiều.
BƯỚC NGOẶT đáng sợ là vậy đó!

Riêng đối với người viết, vì đã qua tuổi 80, có nhiều câu hỏi What if? cũng có thể là những bước ngoặt cho chuỗi ngày còn lại của cuộc đời:
- Tôi cảm thấy thế nào về cuộc sống hàng ngày của mình?
- Tôi có thể làm gì để giữ cho mình khỏe mạnh và hạnh phúc?
- Tôi có thể thêm gì vào cuộc sống của mình và người bên cạnh để khiến nó thú vị và có ý nghĩa hơn?
- Tôi có thể cống hiến gì cho những người chung quanh, những người cùng khổ ở quê nhà? Làm thế nào tôi có thể làm điều đó?

- Ai sẽ được hưởng lợi từ kiến thức và kinh nghiệm của tôi?
- Tôi đang phải đối mặt với những tổn thất nào khi quyết định lấy những bước ngoặt đầy bất trắc?
- Tôi muốn thực hiện những thay đổi nào để có được sự cân bằng và kết nối hơn?
- Và mơ màng (vì đang ở trên mây) hơn nữa, ước gì có một phép “thần thông” cho tôi trẻ lại 20 tuổi để… thực hiện nhữn ước mơ còn đang dang dở!
Xin kết thúc một đoản văn tản mạn đúc kết từ những góp nhặt cát đá trên mạng cùng với vài suy nghĩ vụng của một ông già…
Xin Quý Bạn cố tránh chọn lựa những quyết định bước ngoặt trọng đại khi quỷ thời không cho phép.
Mai Thanh Truyết
Houston, 2/29/2024
SÁM HỐI MÙA CHAY – LÊ TUẤN

Sám Hối Mùa Chay
Nhìn vào trong tâm mình
Thần khí ta lặng im
Tĩnh lặng nghe nhịp thở
Tội lỗi đang nhận chìm.
*
Đời hoang tưởng lang thang
Đôi chân bước vô hồn
Trần gian là hoang địa
Đi vào ngôi mộ chôn.
*
Danh vọng là hư ảo
Tiền bạc là hư không
Mọi thứ đều biến mất
Tan theo khói bụi hồng.
*
Mùa chay tịnh thánh linh
Mảnh vải tím chân tình
Vắt ngang trên thập giá
Thiên Chúa gánh nhục hình.
*
Mùa chay cho lòng mình
Thức tỉnh trước bình minh
Yếu đuối trong bóng tối
Đợi hồn ta tái sinh.
*
Thiên Chúa là vô biên
Cửa ngõ vào cõi tiên
Nước trời đang rộng mở
Tình yêu là bình yên.
Lê Tuấn
Cảm nhận về mùa chay
3-14-24
TRANG PHÂN ƯU Và Hình Ảnh Thăm Viếng Tang Lễ Cháu CALVIN LIÊN TRỊNH Của Văn Thơ Lạc Việt & THƯ CẢM TẠ Từ Gia Đình PHƯƠNG HOA.





Nhà thơ Minh Thúy ngâm mấy bài thơ đưa tiễn




CHIA BUỒN TỪ CÁC VĂN THI BẰNG HỮU
XIN CHIA BUỒN CÙNG CHỊ PHƯƠNG HOA
Đau đớn tột cùng nỗi mất con
Chân thành gởi Chị…gọi “Chia buồn”
Làm sao sẻ được niềm tang tóc
Thấu lẽ “vô thường”…lệ vẫn tuôn !
Lý Đức Quỳnh
*
THÀNH KÍNH CHIA BUỒN CÙNG CHỊ PHƯƠNG HOA VÀ GIA ĐÌNH.
Thân kính, Hải Rừng.
*
Sông Thu xin chân thành chia buồn cùng Phương Hoa và gia quyến. Nguyện cầu hương linh cháu sớm siêu thoát, an vui nơi cõi vĩnh hằng. Mong Phương Hoa giữ được tinh thần và sức khỏe, sớm vượt qua nỗi đau này.
ST
*
Lan kính chia buồn cùng Cô Phương Hoa và gia quyến! Cầu linh hồn em sớm về miền cực lạc! chúc Cô sớm vượt qua nỗi đau buồn tử biệt! Cầu mong Cô giữ an tinh thần và sức khỏe!
Lan kính!
*
LỜI BUỒN CHIA SẺ VỚI PHƯƠNG HOA.
Giấc vô thường, giấc xót thương
Giấc oan khiên, giấc đoạn trường cho thơ
Giấc trôi kiếp nạn vật vờ
Để đời nay mẹ con chờ mai sau
Hoa xuân sao lại héo sầu
Vô cùng thương tiếc dòng châu chia buồn
Người đi thanh thản tâm hồn
Cầu xin kẻ ở tự tồn an nhiên …
Rancho Palos Verdes 4 – 3 – 2024
CAO MỴ NHÂN
*
Tỏ Lòng Thương Tiếc…!
Vô thường cháu ra đi thương tiếc
Mà đau lòng vĩnh biệt con thơ
Nguyện cầu cựu vị trông chờ
Tái sinh hội ngộ như mơ giữa đời…
Yêu con trẻ bâng khuâng lặng lẽ
Mãi xót thương mẹ trẻ đau lòng
Nhang trầm lan tỏa cầu mong
Siêu thăng tịnh độ đợi trông an lành…
THÀNH KÍNH PHÂN ƯU
cùng Phương Hoa và tang gia hiếu quyến
Nay kính
Mai Xuân Thanh
Bay Area March 05,2024
*
Trân trọng gởi lời chia buồn đến chị Phương Hoa .
TIỄN BIỆT
Vô thường được mất thắt lòng đau
Ly biệt con yêu lệ thảm sầu
Trân trọng phân ưu lời chuyển đến
Siêu thăng tịnh độ cõi trời cao
Hưng Quốc
*
Xin chia sẻ nỗi đau đớn tột cùng của chị PHƯƠNG HOA trước sự phân ly vĩnh biệt của đứa con yêu dấu. Chúc hương hồn cháu phiêu diêu trong cõi Vĩnh Hằng.
Xin thành kính phân ưu.
Kính
MAi Lộc
*
CHIA BUỒN CÙNG PHƯƠNG HOA
Xin chị Phương Hoa giảm bớt buồn,
Thân tình chia sẻ nỗi đau thương.
Con đi để lại sầu chan chứa,
Mẹ sống ôm tràn nhớ lệ vương.
Trần thế phủi tay sang kiếp khác,
Gia đình tan nát ngợp nhang hương.
Cầu xin Phật độ hồn Liên Trịnh,
Thoát xác an nhàn tịnh phúc phương.
*
Lời nguyện trọn lòng yêu mến thương!
HỒ NGUYỄN
(08-3-2024)
*
Thưa quý anh chị và các bạn,
PH đã đọc hết những lời phân ưu, những bài thơ chia buồn rất cảm động của các anh chị, đọc mà nước mắt cứ tuôn rơi… nhưng vì mới vừa xong tang lễ cháu, PH còn mệt và đuối sức quá nên chưa thể viết cảm ơn riêng cho từng người, mong quý anh chị các bạn cảm thông mà thứ lỗi cho PH.
TÌNH THƯƠNG
(Thay Lời Cảm Ơn các anh chị các bạn)
Tình thương xoa dịu nỗi buồn
Tình thơ cảm xúc lệ tuôn ngập lòng
Tình người hơn cả đợi mong
Tình thi nhân ấy cũng đồng tâm giao
Tình bạn bè đẹp xiết bao!
Tình trao nhau để ngọt ngào thiên thu
Tình đời vốn kiếp phù du
Tình bao la khiến mây mù xóa tan…
Phương Hoa
Một lần nữa P. Hoa xin kính lời cảm ơn tất cả.
*
Hồng Vân đọc tin đã muộn, xin thành thật chia buồn cùng chị P H và gđ, nguyện vong linh người sớm Siêu thoát về miền cực lạc.
*
Xin chia buồn với Phương Hoa qua bài họa YÊU( bài xướng TÌNH THƯƠNG của Phương Hoa)
YÊU
Yêu thương chia sẻ vui buồn,
Yêu người xa chốn mà luôn gần lòng
Yêu nhau xao xuyến ngóng mong
Yêu tha thiết lắm chữ “đồng” hảo giao
Yêu nhiều ngàn dặm là bao!
Yêu dù củc lụn vẫn ngào ngạt thu
Yêu ai mải bước lãng du,
Yêu trời trong khiến sương mù loãng tan!!
Thanh Hoà.
*
Duy Anh thành tâm chia buồn cùng chị Phương Hoa:
TIỄN BIỆT CON
Tết thật buồn…ôi lạnh tím trời
Lá vàng khóc tiễn lá xanh rơi!
Vô thường, nẽo tử nào qua khỏi
Bất định, đường sinh mãi chuyển khơi.
Thế sự xuôi tay lìa gánh nhọc
Trần đời nhắm mắt trút bầu vơi.
Vãn sanh phần thưởng cho người thiện
Cõi Phật con về chốn thảnh thơi!
DUY ANH
03/07/2024
*
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
Yên Hà xin chia buồn với vợ chồng Hiền Muội trước sự mất mác quá lớn này.
Cầu nguyện cháu sớm siêu thăng cõi Thiêng Liêng Hằng Sống..
“Thắt dạ đau lòng con bỏ đi
Tìm nơi thanh tịnh chốn từ bi
Cao xa phần số nào ai cải
Chia xẻ nguyện cầu cháu trúng thi…”
Yên Hà
7/3/2024
*
Thy Lệ Trang xin gửi lời chia buồn đến chi Phương Hoa và gia đình Nguyện cầu linh hồn cháu được an nhiên nói coi Vĩnh hằng.
TLT
*
THÀNH KÍNH PHÂN ƯU.
MN chậm chạp gửi lời chia buồn tới Chị Phương Hoa.
Cầu Xin Cháu Calvin Liên Trịnh sớm tiêu diêu miền cực lạc.
Xin Ơn Trên ban cho Phương Hoa và Tang quyến sức mạnh để vượt qua nỗi buồn to lớn, mất con.
Xin thời gian giúp đỡ Phương Hoa, dần dần xoa dịu nỗi đau này.
Phương Hoa giữ gìn sức khỏe nhá.
Thành kính phân ưu.
Mỹ Ngọc.
THƯ CẢM TẠ & NHỮNG BÀI THƠ TIỄN BIỆT CHÁU CALVIN LIÊN TRỊNH

THƯ CẢM TẠ
Chân thành kính gửi đến muôn phương
Bằng hữu, thân nhân, hãy tỏ tường
Nhờ lắm sẻ chia vơi khổ lụy
Được nhiều an ủi bớt sầu thương
Những tâm hồn nghẹn giờ thanh tĩnh
Những trái tim đau đã bớt buồn
Tang chủ toàn gia xin cảm tạ
Chân thành kính gửi đến muôn phương.
Thay mặt gia đình Trịnh & Nguyễn
Phương Hoa – MAR 8, 2024
*****
TIỄN CON
Tiếng pháo Tân Niên rộn đất trời
Giật mình hoảng hốt – ánh sao rơi
CALVIN vĩnh biệt về tiên cảnh
TRƯỞNG TỬ lìa thân thoát nợ đời
NHỚ lúc dặn dò câu hiếu đạo
THƯƠNG hồi đối ẩm chén đầy vơi
Tiễn con mực toả lời thơ nghẹn
Cõi Phật con về sống thảnh thơi
*****
Thảnh thơi hồi tưởng lúc bình sanh
Thiên phú nhân tâm vốn thiện lành
Bằng hữu nơi nơi luôn quí mến
Đệ huynh chốn chốn mãi thân tình
Gia đình vẹn giữ lòng hoà hiếu
Xã hội gắng gìn đức háo sanh
Thiên mệnh số trời nay đáo hạn
Quê xưa trở lại chốn an lành
*****
An lành thưởng ngoạn tiết xuân sang
Ngào ngạt hương thơm quyện gió ngàn
Cơm áo gạo tiền đà rảnh nợ
Ưu phiền si ái cũng tiêu tan
Ngao du bốn biển tâm thường lạc
Dạo cảnh đào viên trí nhẹ nhàng
Một kiếp sinh thời tròn đạo nghĩa
Nay về trọn hưởng phước trời ban
Ba của con – Tân Khoa
*
TIỄN BIỆT CON YÊU
Xuân về hạnh phúc khắp muôn nơi
Sao mẹ mất con? Ruột đứt rồi!
Cố nuốt lệ tràn cơn suối lũ
Gắng ghìm tim loạn thủy triều sôi
Lá xanh rơi rụng buồn chăng đất?
Lá úa cuồng quay có thấu trời?
Cầu chúc con về Miền Cực Lạc
Từ nay quên hết nợ duyên đời.
Phương Hoa
Mồng Hai Tết Giáp Thìn – 2024
Bài Họa:
AN GIẤC NHÉ CON!
Chửa ngắm mai đào nở rộ nơi!
Nhìn con nằm ngủ nhói đau rồi!
Cha hoài khóc trẻ buồng tim quặn
Mẹ vẫn xem hình mắt lệ sôi
Thủa nọ đà nghe người bởi số
Giờ đây đã biết mệnh do trời
Tâm an trí ổn thôi phiền muộn
Quẳng gánh sầu tư gửi lại đời!
Như Thu
02/13/2024
*
KHÓC CON
Sáng Tết Calvin Trịnh bước rời
Đau lòng mẹ buốt lệ tràn rơi
Đầu xanh giã biệt xa trần thế
Tuổi trẻ ra đi bỏ cuộc đời
Đã hết con yêu chào viếng hỏi
Không còn hiếu tử đến thăm chơi
Dìm cơn khổ não cầu chư Phật
Độ cháu bình yên thuận cõi trời
Minh Thúy Thành Nội
Mồng Hai Tết Giáp Thìn
**
MỘT ĐÁM TANG
Ngậm ngùi một đám tang
Trời buồn mây lang thang
Đưa người về cát bụi
Màu tang tóc diễn màn
*
Ngậm ngùi một đám tang
Hương khói cuộn gió ngàn
Sắc đen sầu tiễn biệt
Nén cảm xúc khóc than
*
Bạn UC DAVIS
Hung tin khiến ngỡ ngàng
Từ Sac-To đến chật
Nhắc kỷ niệm đầy mang
*
Thủa sinh viên hiếu học
Clip chiếu một thời vang
Bạn bè buồn thương tiếc
Lời ca nghẹn tiếng đàn
*
Các em khăn vải chế
Vợ con bịt vành tang
Tứ thân phụ mẫu nghẹn
Họ hàng thắt ruột gan
*
Dẫu biết SINH và TỬ
Ơn pháp những lời vàng
Vô thường câu Phật dạy.
Đường trần luôn dỡ dang.
*
Cớ sao lòng thổn thức
Bởi lá xanh rụng tàn
Âm dương đường đôi ngả
Khi mùa Xuân mới sang
*
“ A DI ĐÀ PHẬT “ niệm
Từng bước chậm theo hàng
Hương linh về Tịnh Độ
Ngậm ngùi một đám tang
Minh Thúy Thành Nội
Tháng 3/4/2024
NHỮNG TRANG PHÂN ƯU TRÊN BÁO





BÀI THƠ XÓT THƯƠNG CỦA NHÀ THƠ TRẦN TUYẾT VÂN – NHẠC MẪU CỦA CALVIN

VĂN THƠ PHÂN ƯU TỪ DIỄN ĐÀN CÔ GÁI VIỆT






LỄ KỶ NIỆM HAI BÀ TRƯNG & VĂN TẾ TƯỞNG NIỆM HAI BÀ – VÕ ĐẠI TÔN
Giới Thiệu Sinh Hoạt Tuần Này Tại Miền Bắc Cali: Lễ Kỷ Niệm Hai Bà Trưng và Kính Chuyển Tin Việt Nam Hôm Nay Theo Dòng Thời Sự – Lê Văn Hải
Tuần Này Bắc Cali: 2 Nơi Mừng Lễ Kỷ Niệm Hai Bà Trưng! -Hàng năm, đến ngày 6 tháng 2 âm lịch, dân chúng Việt Nam lại nhớ đến ngày lễ Kỷ Niệm Hai Bà Trưng. Đây là một ngày Lễ lớn chính thức trước 1975. Công tư sở và các trường học đều đóng cửa nghỉ lễ. Tại Sài Gòn và các tỉnh lớn đều có tổ chức lễ Kỷ Niệm Hai Bà rất trọng thể. Ngoài ra, Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa còn công nhận Ngày Lễ Kỷ Niệm Hai Bà Trưng là Ngày Phụ Nữ Việt Nam. Vì thế, các bà các cô đều cảm thấy hãnh diện, tự hào vô cùng trong ngày lễ kỷ niệm Hai Bà.
<!>
Tại Hải Ngoại, ngày Lễ Kỷ niệm Hai Bà cũng được tổ chức trang nghiêm tại những địa phương, cộng đồng có đông nhiều người Việt cư ngụ. Riêng tại miền Bắc Cali, năm nay 2024, có 2 nơi tổ chức, để nhắc nhở và nhớ ơn công đức Hai Bà.
Theo sách sử, Bà Trưng Trắc và Bà Trưng Nhị là hai chị em, con quan Lạc Tướng ở Huyện Mê Linh, Phong Châu. Năm 34 Thái Thú Tô Định được vua Hán Quang Vũ sai sang trấn nhậm quận Giao Chỉ. Tô Định là người bạo ngược, chính trị tàn ác nên dân Giao chỉ rất oán hận. Đến năm 40, Tô Định giết ông Thi Sách cũng là con Quan Lạc Tướng, người quận Châu Diên (Vĩnh Yên) , là chồng Bà Trưng Trắc. Vì nợ nước, thù nhà, Bà Trưng Trắc đã cùng em là Trưng Nhị phất cờ khởi nghĩa, đem quân đánh thành Liên Lâu, khiến Tô Định và quân Đông Hán phải bỏ quận Giao Chỉ, chạy trốn về Tàu.
Lúc bấy giờ, các quận Cửu Chân, Nhật Nam (thuộc Việt Nam), và Hợp Phố (Quảng Đông), cùng hưởng ứng nổi lên theo Hai Bà. Chẳng bao lâu, quân Hai Bà đã hạ được 65 thành trì. Hai Bà được tôn lên làm vua, đóng đô ở Mê Linh, tức là Trưng Nữ Vương.
Ba năm sau (năm 43), vua Hán sai Mã Viện chỉ huy một lực lượng quân sự đông đảo, đào rừng khoét núi kéo sang đánh báo thù và xâm chiếm nước ta. Tại mặt trận Lãng Bạc, quân Hai Bà thua, phải rút về Cấm Khê cố thủ. Mã Viện tiến quân vây đánh, quân Hai Bà tan vỡ, chạy đến xã Hát Môn, huyện Phúc Lộc (Sơn Tây), Hai Bà phải gieo mình xuống sông Hát Giang tự trầm để bảo toàn danh tiết. Bấy giờ là ngày mồng 6 tháng 2 năm Quý Mão (năm 43 Tây Lịch). Hiện nay có nhiều đền thờ Hai Bà ở nhiều nơi trong nước, kể cả ở nước ngoài và bên Trung Quốc tại các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Quý Châu và Hồ Nam dưới hình thức “Đạo Kính Vua Bà!” để ghi tạc công đức của hai vị nữ anh hùng dòng giống Việt .
Kỷ Niệm Hai Bà Trưng, chúng ta học được những bài học ý nghĩa như sau:
– Thứ nhất là tinh thần kiên trì bất khuất chống ngoại xâm dành quyền độc lập của dân tộc Việt Nam: Nhà Hán diệt nước Nam Việt năm 111 trước Tây Lịch, thi hành một chính sách đô hộ và đồng hoá dân ta rất là tàn bạo. Sau 151 năm kiên nhẫn chịu đựng, dân Lạc Việt đã cùng nổi dậy theo phò Hai Bà đánh đuổi ngoại xâm, đúng với tinh thần “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, và “Quốc Gia hưng vong, thất phu hữu trách”. Hai Bà Trưng đã mở đường độc lập cho nước nhà.
– Thứ hai là tinh thần bình đẳng, bình quyền dân tộc: Hai Bà thuộc nữ giới, mà người Hán thời đó coi rẻ như trẻ nít ” nhi nữ thường tình”, nhưng đối với dân tộc Việt, đã không hề có sự phân biệt trai, gái, gìa trẻ, lớn bé, tất cả cùng đứng lên theo phò Hai Bà đánh giặc. Phải đợi hàng ngàn năm sau, tinh thần “bình đẳng, bình quyền” này trên thế giới mới được nhiều quốc gia công nhận.
– Thứ ba là cuộc đấu tranh vì chính nghĩa luôn luôn được dân tộc Việt Nam yểm trợ: Chúng ta phân biệt “đấu tranh” khác với “chiến tranh”. Chiến tranh là sức mạnh của kẻ xâm lược dùng bạo lực xâm chiếm và cai trị theo đường lối riêng của họ, còn đấu tranh là vũ khí tự vệ của người dân bị áp bức, là vũ khí bảo vệ hoà bình. Toàn dân Lạc Việt nổi lên theo Hai Bà đánh giặc chính là cuộc đấu tranh đầy chính nghĩa.
– Thứ tư là ý thức, trách nhiệm và danh tiết của nhà lãnh đạo: Hai Bà lãnh đạo toàn quân, toàn dân vào cuộc kháng chiến đánh đuổi Hán quân, chắc chắn phải ý thức được việc mình làm là đúng, là chính nghĩa. Vì thế, trước sau như một, Hai Bà đã giữ đúng trách nhiệm và danh tiết của nhà lãnh đạo, thà chết chứ không chịu khuất phục kẻ thù. Đây chính là bài học quý giá đối với các nhà lãnh đạo Việt Nam đấu tranh cho sự tự do công bằng xã hội trong nước.
Nhân ngày 6 tháng 2 lễ kỷ niệm Hai Bà, chúng con là kẻ hậu sinh nơi Hải Ngoại, xin cùng thắp nén hương lòng tưởng nhớ đến công đức Hai Bà và xin nguyện noi gương Hai Bà. Gìn giữ giang sơn, đánh đuổi quân xâm lăng, không hèn như nhà cầm quyền CS hiện nay, bán đất, bán biển, bán nước! cho ngoại bang cốt chỉ để giữ cái ghế cai trị!
LÊ VĂN HẢI
VĂN: “MÌNH ƠI!” & “THÚ HÓA KIẾP LÀM NGƯỜI” – Hoàng Thị Quỳnh Hoa

MÌNH ƠI!
Đố ai biết hai từ thân thiết dễ thương ni là ai gọi ai, người nữ gọi người nam hay người nam gọi người nữ? Bạn đoán đúng rồi. Người nữ hay người nam đều dùng hai từ ni được để gọi nhau. Nhưng là hai nam nữ đã cưới nhau, thành vợ thành chồng rồi mới dùng hai từ ni được! Mà phải sống với nhau một thời gian dài nữa kìa, đồng cam cọng khổ nhiều năm mới được chứ mới cưới nhau thì không ai dùng hai chữ mình ơi. Chỉ là bồ bịch, dù thân thiết lắm, cũng không dùng được, phải không?
Người Việt may mắn chỉ có một tiếng nói từ Bắc vô Nam, chỉ khác nhau cái giọng thôi. Không như nhiều nơi, trong một nước mà có nhiều ngôn ngữ khác nhau như Ấn Độ, Trung Hoa. Mà không ai biết tại sao mỗi miền lại có giọng nói (accent) khác nhau, là ảnh hưởng của khí hậu, địa dư hay, hay nước uống hay gồm cả ba! Tiếng Việt rất súc tích, phong phú, đa dạng, rõ ràng. Thí dụ người Anh hay Mỹ chỉ có chữ you để chỉ ngôi thứ hai, số ít hay số nhiều thì cũng chỉ một chữ you nghèo nàn! Người Pháp thì có vous, thân mật thì tu cho ngôi thứ hai số ít, còn người Tàu chỉ độc một chữ nị. “Ngộ ái nị” (I love you). Nị hayYou ở đây có thể là người yêu, người cha, người mẹ, người thầy, người bạn, người bà con v.v. Trong khi tiếng Việt ta, để chỉ rõ mối quan hệ giữa mọi người, có rất nhiều từ khác nhau, đôi khi phân biệt từng miền nữa. Nói đến cha mẹ, người Bắc gọi thầy mẹ, thầy u, thầy bu, cậu mợ…. Người Trung gọi cha mẹ, ba mạ, chú mạ, bố mẹ, hay còn gọi bọ mạ. Người Nam gọi ba măng (Việt hóa tiếng Pháp), ba má, tía má (Việt hóa tiếng Hoa)… Để chỉ rõ vai vế của bà con, họ hàng, ta có cả một hệ thống tên gọi bên nội, bên ngoại, bên vợ, bên chồng tràng giang đại hải mà không cách chi dịch qua tiếng Anh, tiếng Pháp được! Lấy một thí dụ, người Bắc gọi anh, chị của cha mẹ và người phối ngẩu của họ là bác để chỉ người vai vế lớn hơn mà không phân biệt bên vợ hay chồng, đàn ông hay đàn bà, hay người ngoại tộc. Chú thím là để chỉ em trai và vợ của cha, cô chú thì là em gái và chồng của cha. Người Trung thì phân biệt nội ngoại. Phái nữ bên nội thì gọi o là chị hay em của cha. Chồng của chị cha thì là bác. Anh hay em trai của mẹ đều là cậu, vợ của cậu là mợ nên khi nghe gọi thì không biết cậu vai lớn hơn hay nhỏ hơn mẹ! Dì để gọi chị hay em gái của mẹ:
Chết cha còn chú,
Chết mẹ thì bú vú dì!
Chồng của dì là dượng. Dường như ngày nay người ta không muốn dùng chữ ‘dượng’ vì chữ ‘dượng’, có nghĩa ngầm không được đẹp vì cũng được dùng để gọi người chồng sau của mẹ. Vợ sau của cha thì là dì ghẻ, hay mẹ ghẻ nhưng chồng sau của mẹ không là cha ghẻ mà là dượng ghẻ, là người dưng không thân thiết chi với mình.
Nay nhiều người cho chữ ‘o’ có vẻ quê nên chuyển sang ‘cô’, ‘bác’ như người Bắc. Tôi thì rất thương chữ ‘o’ vì đã gọi vậy từ khi biết nói, nghĩa là gần 90 năm rồi. Ở Huế có câu phê bình em gái, chị gái, hay em trai của chồng đối với chị dâu:
Một trăm mụ o không chi,
Ông chú thủ thỉ có khi mất chồng.
Đại danh từ ngôi thứ nhất (I/We, Je/Nous, Ngộ) thì ta có : tôi/chúng tôi, ta/chúng ta, tớ/chúng tớ, tau/tụi tau, hay người Nam dùng chữ ‘qua’ rất bình dân. thân tình. Tùy đối tượng của ta là ai mà ta chọn đại danh từ cho hợp như ông bà, cha mẹ, vợ chồng, họ hàng, người trên, kẻ dưới. Vũ Hoàng Chương than thở:
Lũ chúng ta lạc loài năm bảy đứa,
Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh
Đại danh từ ngôi thứ ba: thầy, cô, bà nó, hắn, ai, ông ấy, bà ấy, cô ấy, chị ấy, lão ấy, thằng ấy, mụ ấy, v.v. tùy theo đối tượng liên hệ. Cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị của Huế thì dùng chữ “ai” rất gọn trong câu hò mái đẩy:
Chiều chiều trước bến Vân Lâu,
Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm, ai nhớ, ai thương.
Thuyền ai thấp thoáng bên sông,
Đưa câu mái đẩy, chạnh lòng nước non.
Người đọc biết những chữ “ai” ở đây là ai nếu nhớ chi tiết lịch sử cận đại vua Duy Tân tham gia phong trào kháng Pháp. Có khi chữ ông hay bà được dùng như ngôi thứ nhất để chỉ tâm trạng của chủ nhân mệnh đề ấy như nhà thơ châm biếm Tú Xương trong bài thơ Chúc Tết:
Người bảo ông điên, ông chẳng điên,
Ông thương ông tiếc hóa ông phiền.
Kẻ yêu người ghét hay gì nữa,
Đứa trọng thằng khinh chỉ vị tiền!
Hay chữ bà trong câu hát:
Bà bảo bà không cho con bà đi hát đâu,
Con gái tốt lành ai cho đi mà xem hát chèo!
Ta có nhiều tỉnh từ chỉ liên hệ ứng xử, đối với vợ chồng, người yêu, họ hàng, người trên, kẻ dưới, với sếp, với đồng nghiệp, quen thân, quen sơ… Với người vai vế lớn hơn, hay cấp trên người ta thêm ‘dạ thưa, dạ bẩm’ (dạ thưa ông, dạ bẩm bà) là văn hóa cung kính người trên của xứ ta. Trong gia đình hoàng tộc, chữ mệ hay mụ được thêm trước tên để chỉ cả đàn ông lẫn đàn bà. Hồi nhỏ ở Huế, tôi nhớ người ta gọi công chúa Lương Linh, con gái vua Thành Thái, là Mệ Sen. Sen là nickname của bà. Bảng xe hơi của bà thì ghi rõ Princess Lương Linh nên tôi mới biết tên tộc của mệ! Em trai Mệ Sen là Mệ Kha. Tôi biết vì ông hoàng tử này cưới bà chị họ tôi. Dì tôi có khi gọi ông con rể là Mụ Kha. Mệ cũng là từ thân thiết để gọi bà nội, bà ngoai hay những người đàn bà lớn tuổi. Còn chữ ôn thì để chỉ ông nội, ông ngoại hay người đàn ông lớn tuổi một cách thân tình. Người Nam thì chỉ dùng một chữ Ngoại hay Nội rất dễ thương để chỉ ông bà nội, ngoại nhưng ta không biết là ông hay bà! Chữ mụ cũng được người Huế dùng để chỉ người đàn bà lớn tuổi bán chè, bán cháo hay người đàn bà ăn xin. Người con gái chưa chồng thì được gọi là chị, cô:
Ba cô đội gạo lên chùa,
Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư…
Hay đôi khi là o:
O kia tát nước đầu đình,
Cớ sao o múc ánh trăng vàng o đổ đi!
Người con gái buôn gánh bán bưng hay làm thuê làm mướn cũng được gọi o. O ở đây khác với o là em hay chị của cha. Mụ cũng là một từ thân mật bà mẹ chồng Huế gọi con dâu. Bà không gọi tên con dâu mà gọi mụ và tên con trai (mụ Đắc là vợ con trai tên Đắc). Bạn bè thân thiết thì gọi mi xưng tau. Lứa bạn tôi là U 90 cả mà gặp nhau vẫn mi mi tau tau tíu tít như những ngày còn xoan!
Ngôi thứ ba: he/she/, il/ils, tha của Tàu thì tiếng ta cũng có nhiều cách gọi như họ, nó, hắn, cô ấy, người ấy, chị ấy, anh ấy, ông ấy, bà ấy, em ấy…. hay chỉ một chữ em như trong câu ca dao:
Trúc xinh trúc mọc đầu đình,
Em xinh, em đứng một mình cũng xinh!
Trúc xinh trúc mọc bờ ao,
Em xinh, em đứng nơi nào cũng xinh
Chữ họ cũng thường được dùng trong văn chương:
Họ đã đi rồi, khôn níu lại,
Lòng thương chưa đã, mến chưa bưa.
Hai chữ người ấy thì đây:
Người ấy thường hay vuốt tóc tôi
Thở dài trong lúc thấy tôi vui…
Hay chỉ một chữ người như:
Người đi một nửa hồn tôi mất,
Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ.
Hay:
Cười người chớ vội cười lâu,
Cười người hôm trước, hôm sau người cười.
Ta dùng: chúng nó, tụi nó, hay họ cho số nhiều. Người mình cũng phân biệt kẻ khinh người trọng trong cách xưng hô. Kính nể thì gọi chị ấy, ông ấy, bà ấy. Khinh thì thằng ấy, con ấy hay kẻ ấy (thằng kẻ trộm, kẻ cướp, thằng sở khanh…) và một chữ chúng cho số nhiều cũng được dùng. Còn nhớ mỗi khi quân ta đánh thắng quân Bắc phương thì người viết sử ghi “ta đuổi chúng chạy về Tàu.” hay “chúng cúp đuôi chạy về Tàu.”
Hai từ sui gia hay thông gia là chỉ cha mẹ vợ, cha mẹ chồng của con mình. Thân mật thì họ dùng anh sui, chị sui để gọi nhau. Tiếng Anh dùng từ kép ‘in-law’ để chỉ liên hệ gia đình trước pháp luật. Thêm chữ in-law vào vai vế trong gia đình là ta thấy ngay liên hệ: mother-in-law, father-in-law, son-in-law… Nếu ra tòa ly dị là tức khắc chấm dứt liên hệ! Nhớ câu chuyện năm xưa, khi gặp lại một cô học trò cũ, cô giới thiệu tôi với chồng cô: “Cô giáo của em”, ông chồng – hình như cũng là giáo sư – la lên, “Cô giáo em trẻ quá mà tôi phải gọi bằng cô sao!” Tôi vội vàng an ủi, “Anh chỉ là student-in-law, không cần gọi tôi bằng cô! Chắc anh cũng vui vẻ với lời phân trần ấy!
Đôi khi bà sui gia bị gọi là mụ gia như ở miền Trung nên ca dao có câu:
Thương chồng mà khóc mụ gia,
Chớ tui với mụ không bà con chi!
Có thể nói ba miền có ba ngôn ngữ hơi khác nhau nhưng tự nhiên ngôn ngữ miền Bắc được xem là chuẩn. Có lẽ vì ngày xửa ngày xưa, một thời gian dài, nước Việt ta chỉ là một vùng nhỏ ở châu thổ sông Hồng Hà. Mãi cho đến khi Nguyễn Hoàng chạy vào Nam dưới thời vua Lê và khai khẩn đất đai, tiến dần về phía Nam, chiếm đất của Chiêm Thành và Chân Lạp (một nửa nước Cao Mên), mở mang bờ cõi xuống đến tận Cà Mau thì nước ta mới có đủ ba miền như bây giờ. Viết văn cũng vậy, chuẩn thì phải viết theo tiếng Bắc. Viết thuần túy tiếng Trung hay tiếng Nam thì được coi như ngôn ngữ địa phương. Nhà văn Hồ Biểu Chánh được coi như đặc thù Nam bộ. Nữ ở miền Nam thì có bà Tùng Long. Tôi không biết nhà văn nào chuyên viết tiếng Trung. Ai biết xin chỉ giáo. Trong ca nhạc cũng thế, ca sĩ người Nam hay Trung đều học phát âm theo giọng Bắc trừ ca sĩ Trần Văn Trạch không hề đổi giọng. Ông hát rặt giọng Nam mà rất truyền cảm, rất hay. Chắc vì vậy ông được khán thính giả thương mến tặng danh hiệu Quái kiệt Trần Văn Trạch!
Cách xưng hô giữa chàng và nàng ở Việt Nam rất lý thú. Thuở ban đầu thì tôi-cô rồi đổi qua gọi tên nhau khi “tình trong như đã,” rồi anh-em khi chàng cầm được tay nàng. Sau khi thành vợ, thành chồng thì có đôi vẫn gọi nhau anh-em cho đến răng long đầu bạc, có đôi đổi cách xưng hô gọi nhau là cha mẹ của đứa con đầu lòng, Bố cu Tèo, Mẹ bé Cưng. Những người khác thì sau một thời gian chung sống hạnh phúc, hợp tính hợp tình nên tuy hai người mà như một nên đổi cách xưng hô với tiếng mình thân thiết. chồng cũng mình mà vợ cũng mình. Mình ơi! Chữ mình nhắc tôi nhớ mấy câu ca dao tiếu lâm không biết đã được đọc ở đâu:
Vợ mình là con người ta,
Con mình là vợ đẻ ra,
Nghĩ đi nghĩ lại không bà con chi!
Chữ mình ở đây là tĩnh từ sở hữu (posessive adjective), không phải như “Mình ơi.”
Ngoài chữ mình biểu hiện tình cảm của hai người, tuy hai mà một, tuy một mà hai, người Việt còn dùng hai chữ nhà tôi để chỉ vợ hay chồng mình vì họ tin tưởng chồng hay vợ là chỗ tựa vững vàng cho nhau, vững chắc như cái nhà, đem lại sự thoải mái, đầm ấm, bình an cho nhau.
“Mình ơi, em muốn đi bờ hồ” là một câu cô vợ nũng nịu nói với chồng tôi nhớ mãi từ một cuốn tiểu thuyết nào đó. Nghe câu này thôi là ta đã hình dung được một gia đình hạnh phúc đằm thắm, phu phụ thương yêu nhau, quý mến nhau, đùm bọc nhau. Mình ơi! Mình à! Còn từ nào dịu dàng hơn, êm ái hơn! À, còn một từ nữa cũng dễ thương không kém là chữ cưng của người Nam. “Cưng làm cho anh cái này. Cưng lấy cho em cái kia.”nghe rất bùi tai, ấm lòng. Nhưng người Nam dùng chữ cưng cho bất kỳ ai họ thương hay không ghét chứ không phải chỉ để chỉ người chồng hay người vợ của mình. “Mình ơi” vẫn là hai từ độc nhất mà tôi nghĩ người vợ hay chồng nào cũng muốn được nghe hay được nói mỗi ngày.
Nguyên Ngọc Hoàng Thị Quỳnh Hoa
Cali, đầu tháng 6, 2022

THÚ HÓA KIẾP LÀM NGƯỜI
Đầu tháng June, 2021, tôi cùng bà chị dâu đi New York City chơi. Cháu tôi ở Manhattan, nhà nhìn ra bờ sông Hudson, có thể nhìn thấy tượng thần Tự Do ở xa xa. Một buổi sáng đẹp trời, vợ chồng cháu đẩy xe lăn cho mẹ đi dạo. Tôi cũng mang mask đi theo vào Rockefeller Park dọc bờ sông rất đẹp. Nam thanh nữ tú qua lại khá đông. Rất nhiều người dẫn theo thú cưng là chó cùng đi dạo. Chó đủ cỡ đủ loại, con nào cũng quá đẹp bắt mình phải ngoái đầu nhìn lại. Có con nhỏ bằng bàn tay đứng trong cái túi trước ngực cô chủ đi xe đạp. Tôi chợt nghĩ đến mấy con chó vàng, chó vện của mình ở quê nhà, chó mực nữa, mấy con chó được nuôi không phải để làm bạn với chủ như ở xứ này!
Đã làm kiếp chó tức là không đủ phước báu để được làm người mà cũng bị kỳ thị, cũng xấu đẹp bị đối xử không công bằng. Tùy theo duyên nghiệp, chó sinh ra ở xứ này có cuộc sống khác hẳn chó sinh ra ở Trung Quốc, Đại Hàn, Việt Nam hay Căm Bốt. Và ngay ở cùng một xứ sở, số phận chó cũng thay đổi tùy theo giòng họ chó. Như con Chihuahua hay Pekingese nào ở Tàu cũng được chủ nâng niu, không như số phận của mấy con chó khác. Nhất định là vì nghiệp báo riêng của mỗi con cẩu mà số phận chúng khác nhau. Tôi thật ngạc nhiên khi tìm kiếm hình ảnh chó trên mạng, thấy rằng có 9 quốc gia cho phép dân chúng hưởng thụ thú xơi thịt cầy mà trong đó có Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ nữa, các bạn có tin không? Thật đó, bán thịt cầy cũng như ăn thịt cầy được cho là hợp pháp (legal!) ở vài tiểu bang của xứ Cờ Hoa này. Hồi tôi đi dạy ở Việt Nam có người cho tôi một con Dachshun con rất đẹp nhưng khổ một nổi là mỗi lần tôi về đến nhà, chị mừng cuống quýt, nhảy tưng bừng và té đái ở phòng khách luôn. Không thể nào dọn nước đái chó mỗi ngày nên tôi đành cho nó đi. Không biết về nhà chủ mới thì số phận nó ra sao, có dạy nó được không. Hồi còn là sinh viên, tôi cũng có nuôi một con Fox Terrier của anh bạn cùng lớp cho. Con chó con lông trắng bé tí rất dễ thương. Bạn dặn phải giữ tên nó là Tiny và phải cắt đuôi khi nó đầy tháng. Hồi ấy ông xã tôi đang là sinh viên y khoa năm thứ Năm. Anh đem dao kéo và thuốc tê đến nhà để cắt đuôi con Tiny. Khi anh vừa chụp nó thì nó la bài hãi làm tôi hoảng quá bảo thả nó ra và ôm nó lại không cho anh cắt đuôi. Vậy là Tiny của tôi là con Fox Terrier độc nhất có đuôi không nhầm lẫn vào đâu được! Lớn lên anh chàng có nhiều đào lắm nên Tiny làm cha nhiều lần. Tiny rất khôn và sạch sẽ không bao giờ làm bậy trong nhà. Nó ở với tôi được 8 năm thì một hôm đi làm về không thấy nó, gọi thì nó ở dưới gầm giường trong phòng tôi lết ra, miệng rỉ máu. Tôi ôm nó lên. Mọi người nói chắc nó ra đường ăn gì bị độc và mấy tiếng sau thì tắt thở. Từ đó tôi không nuôi thú cưng nào nữa và vẫn thương nhớ Tiny.
Trở lại mấy con chó đẹp đẽ được chủ dắt đi dạo công viên ở Manhattan, tôi chợt nghĩ có thể kiếp sau chúng lên làm người vì kiếp chó mà xinh đẹp như vậy cũng đã được nhiều phước báu lắm mà lại được chủ cưng thì tụi nó không có cơ hội làm điều gì độc ác để gây quả báo xấu! Và vui thay, chỉ hai tuần sau tôi được đọc chuyện một cô bé ở Nhật, 2 tuổi, nhớ kiếp trước mình là con chó được nuôi trong nhà ấy. Xưa nay, giai thoại người chết chuyển kiếp thành heo, chó, dê, bò thì nhiều nhưng chưa hề thấy thú vật chuyển kiếp thành người như cô bé Nhật Bổn này. Ngày 21 June, 2021 chuyện cô bé nhớ tiền kiếp của mình được chuyển lên mạng cùng với hình ảnh mũm mĩm dễ thương của cô ở kiếp này và của con chó ở kiếp trước.

Mẹ bé Yu-chan chia sẻ câu chuyện luân hồi của con gái 2 tuổi trên tờ “Yomiuri Shimbun,” một trong năm thời báo quốc gia của nước Nhật. Bà mẹ trẻ cho biết một ngày nọ, bé Yu-chan đang vừa đánh răng vừa trò chuyện với mẹ, bỗng thốt lên: “Yu-chan hồi trước là Mofuzou!” Rồi nói tiếp: “Đồ ăn giòn giòn cho thú cưng rất là ngon.” Bà sững sờ trân trân nhìn con vì Mofuzou là tên con chó bà nuôi lúc còn độc thân. Bà chưa từng nói với con về con chó Mofuzou mà cũng chưa cho con xem hình Mofuzou. Yu-chan nói tiếp là Mofuzou có bạn tên Mofuko cùng chơi đùa. Mẹ cô cũng còn nhớ con chó Mofuko. Bà hỏi con nhiều chi tiết về con chó Mofuzou thì cô bé trả lời đúng hết. Bà đưa ra một lô hình chụp với nhiều thú cưng thì Yu-chan nhận diện được Mofuzou liền không chút do dự. Câu chuyện luân hồi lạ lùng này thu hút được nhiều độc giả và được giải thưởng của tờ Yomiruri năm 2016. Mẹ Yu-chan nói rằng trước kia mình không tin những chuyện kiếp trước kiếp sau nhưng từ khi trải qua chuyện này bà bắt đầu tìm đọc những chuyện trẻ thơ nhớ kiếp trước. Tuy thật là khó tin, nhưng không thể không tin vì chuyện đã xảy ra với chính con gái mình. Nay thì có rất nhiều sách vở ghi lại những công trình nghiên cứu về vấn đề nhớ kiếp trước kiếp sau mà tiêu biểu là cuốn Reincarnation and Biology gồm hai pho sách cả mấy ngàn trang của GS Bác sĩ Ian Stevenson được xuất bản lần đầu năm 1997.
Ai đi qua Sóc Trăng ở miền Tây cũng đều nghe truyền thuyết về một bà mẹ trẻ xin thầy trụ trì cứu bốn đứa con của bà bị đọa làm heo. Năm 2016, Bạnh Tuyết, cô học trò năm xưa, theo tôi đi thăm Cà Mau. Trên đường về chúng tôi ghé Sóc Trăng thăm chùa Dơi, một điểm đến của du khách. Chùa Dơi có tên Miên là Mahatup, đọc trại ra là Mã Tộc, được xây cất bởi người Miên theo Phật giáo Nguyên Thủy từ ngày vùng đất này là một phần của nước Chân Lạp (Căm Bốt ngày nay). Chúng tôi được hướng dẫn ra vườn sau thăm mộ bốn con heo. Tương truyền có một đêm thầy trụ trì nằm mơ thấy một bà mẹ trẻ dẫn 4 đứa con nhỏ đến lạy xin cứu mạng. Sáng ra, con heo nái của chùa sinh bốn heo con. Thầy nghĩ chắc linh ứng với giấc mơ nên thầy cho nuôi bốn con heo này cho đến khi chúng chết thì được chôn ở vườn sau!

Sau đây là câu chuyện người hóa kiếp thành heo mà tôi mới vừa được đọc. Chuyện xảy ra ở Ấp Đông An, xã Vĩnh Chánh, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Con trai tên Võ Thành Đẫm tự Út, 43 tuổi. Vợ là Dương Thị Chơn. Anh Đẫm mơ thấy cha tên Võ Văn Minh chết năm ông 78 tuổi. Giấc mơ thứ nhất xảy ra đêm 21 tháng 10, 2013: “Út ơi, ba chết rồi đầu thai làm heo ở xóm ngoài. Trước mũi của ba có hai lằn rạch xuống, đó chính là râu của ba. Còn ở đùi sau có một cái đốm đen. Khi nào tới chuồng thì ba nhảy lên mừng con.” Thức dậy, anh kể cho vợ nghe, vợ kêu là mê tín không tin. Sáu ngày sau, anh lại mơ thấy y hệt như lần trước nhưng anh vẫn lo đi làm thuê không nghĩ tới. Hai mươi ngày sau, anh lại thấy cha báo mộng, “Sao ba báo cho con hai lần mà con không đi tìm ba. Ba buồn, ba bỏ ăn nên bị người ta đè ra chích thuốc! Ông con không lý tới giấc mộng, vẫn lo đi làm. Đêm 22 tháng 11, cha về báo mộng cho con dâu: “Vợ thằng Út ơi, đi tìm ba đi. Ba khổ lắm. Ba trông đợi lắm.” Rạng ngày 23, chị vợ âm thầm đi tìm “ông già”. Khi đến chuồng heo của chị Lê Mỹ Hạnh ở xóm ngoài, quả nhiên con heo nái mới sanh một bầy bảy con. Bà Phạm Thị Cúc, mẹ chị Hạnh, kể con gái bà nuôi heo để bán thịt, không bán heo con nhưng họ bằng lòng bán con heo ấy với giá 2 triệu rưỡi khi được nghe kể về giấc mơ. Mà cũng lạ là con heo này hay nằm, buồn buồn không giống như sáu con kia. Họ sợ heo bệnh nên đã gọi thú y đến chích thuốc, trùng hợp với giấc mơ của anh Út. Chị vợ kể heo nhảy lên mừng khi chị đến chuồng và khi đem lên xe thì ngồi êm rơ. Bây giờ thì anh Út tin con heo là cha mình nên không dám cho ăn cám mà cho ăn thức ăn như người, cho uống nước trà đường, ngủ mùng. Làng trên xóm dưới chạy đến nhà thăm “cha anh Út”. Và heo cũng vui mừng chạy ra ủi ủi giò nhiều người. Heo rất thích bánh ngọt. Mặc dù trong giấc mơ cha anh có nói sau khi đem về thì cầu nguyện trong ba ngày rồi đem giết đi để ông được siêu thoát nhưng anh Út không dám giết. 41 ngày sau, heo không bị bệnh mà lăn đùng ra chết!
(Nguồn: GUU.VN)
Hoàng Thị Quỳnh Hoa
TT Biden: Giông bão dư luận về chuyến đi Arab Saudi! NGUYỄN XUÂN NAM
CA KHÚC “CÕNG ĐỜI”| Thơ sa Chi Lệ | Nhạc: Duy Tuấn – Ca sĩ Ngọc Thức & Thơ “TÌNH HOA BƯỚM” | Sa Chi Lệ viết & diễn ngâm
TRANG ĐẶC BIỆT NGÀY TỪ PHỤ – FATHER’S DAY 2022 – VTLV VÀ THI VĂN THÂN HỮU

MỪNG NGÀY TỪ PHỤ
(Dĩ đề vi thủ)
MỪNG lễ Father quý bậc Cha
NGÀY vui trọn vẹn khắp muôn nhà
TỪ Nghiêm nghĩa cả luôn trân giữ
PHỤ Tử tình thâm chẳng thể nhoà
VĂN tải lời thành mong phúc thọ
THƠ nương câu kính nguyện an hoà
CẦU cho phúc lộc tài toàn hảo
CHÚC hết người người bách tuế qua
Phương Hoa – Father’s Day


BÓ HOA “FATHER’S DAY ” CAO MỴ NHÂN
Có tiếng gõ cửa nhẹ nhàng…
Con chó Minet nhà tôi gầm lên, chạy ra nhà trước, nó hửi hửi bên trong cánh cửa, coi thử phải người quen không.
Tôi cũng ngạc nhiên, ở Hoa Kỳ từ 1/4 thế kỷ nay, chưa thấy ai tới nhà mà không hẹn trước.
Tôi lén xuống bếp, từ cái view ngó ra cửa sổ, thấy một bà Mỹ trắng ôm bó hoa đẹp lắm, đủ mọi thứ hoa, nhưng toàn thể mầu vàng đủ độ đậm lạt …
Phân vân vài phút, tôi mở cửa gỗ lớn, nói qua cửa lưới sắt hỏi bà tìm ai, nếu tôi có thể giúp bà.
Bà Mỹ cũng thuộc giới cao niên, nhưng khá duyên dáng, trang điểm tương đối kỹ càng .
Bà nói: ” Con gái tôi nhờ tôi mang hoa tới đây, trao cho Mr. Don, tôi muốn gặp ông Don, please…”
Tôi ngạc nhiên quá, nhà tôi có ai tên Don, gọi là Mr. Don, ông Đông, ôi có phải ông ” sông Đông êm đềm ” không đây ?
Don hay Đông đều không có ở đây, chưa nghe ai nói tới tên đó, ở đây .
Tôi xin lỗi trả lời bà lầm nhà, nhà tôi toàn người VN, không có ai tên Don cả.
Bà Mỹ lại giới thiệu thêm:” Tôi tên Nancy, hàng xóm nhà này, bà giơ tay chỉ về phía đầu đường Gerkin.
Rồi tiếp lời : con gái tôi mở tiệm hoa trên down town, hình như mấy lâu nay, vẫn có ai đặt bông như thế này, bà cúi xuống bó hoa vàng tuyệt đẹp, rồi nhỏ giọng hơn : Hay là bà cứ nhận dùm, chắc người nhà đặt mua, ghi đúng địa chỉ đây.
Không, tôi không dám nhận, bà nên mang về trả con gái bà, cô ấy sẽ hiểu mọi chuyện thôi.
Bà Mỹ đành phải ra xe, sau khi đưa cho tôi tấm card nhỏ của tiệm hoa ở tận đường ” Mặt trời mọc ” Los Angeles.
Tôi bâng khuâng với chuyện lạ, và cái tên ông Don nào đó .
Hôm nay, lại cũng đúng giờ đó, 11:00 am, lại có tiếng gõ cửa, tôi lại làm đúng những cử chỉ sáng qua.
Lần này không phải bà Mỹ trắng nữa, mà là một phụ nữ chắc phải 30 tuổi rồi.
Tôi mở cửa : ” Vẫn lại bó hoa à ? Sao cứ tới nhà tôi ? ”
Cô gái xưng tên, rồi nói: ” Bởi vì có lời hứa, là mỗi dịp Father’s
day, cô ấy sẽ tặng cho ông Don một bó hoa mầu vàng thế này ” .
Nói rồi , cô Hanna mở cái điện thoại ra, cho tôi coi tấm hình người đàn ông châu Á đứng trước tiệm hoa, cô ngần ngừ : “Mr . Don đã liên tiếp mua hoa ở tiệm cô từ hơn 10 năm trước, trả hết tiền rồi, năm nay là năm thứ 10, không thấy ông Don đến , nên cô có ý đưa hoa tới tận nhà, cho ông ngạc nhiên ” .
Tôi chẳng biết Mr.Don nào ngạc nhiên, mà chính tôi đang ngạc nhiên. Ông Don châu Á, lại lấy địa chỉ nhà này là sao ?
Tôi xin lỗi cô Hanna đó, và xin được coi lại tấm hình .
Cô bán hoa có vẻ mừng, cho tôi xem lại ông Đông ba vạ nào chẳng biết.
Tôi cứ nhìn và nhìn mãi, vì tấm hình trong Iphone cô ấy rất mờ, có lẽ là hình chụp lại từ một tấm hình ở ngoài .
Cô ấy cứ quan sát tôi, và tôi cứ nhận ra từ từ …
Tôi nhìn lại cô Hanna, như cố nén tiếng thở dài :
” Tôi thấy có vẻ quen quen người này ”
Cô Hanna hét lên mừng rỡ :
Bà biết ông Don này chứ, ông ấy ở căn nhà này, mỗi sáng đi bộ ngang qua nhà chúng tôi, để ra cái tiệm cafe Starbucks ngoài ngã tư kia .
Một dịp tình cờ vào ngày Father’ s day năm đó, tôi gặp ông ở Starbucks down town, tôi thấy ông buồn buồn, thì ra ông ở Mỹ mấy chục năm, mà chưa hưởng được một ngày Father’ s day, ông muốn có cảm giác ấy.
Sẵn gia đình tôi mở tiệm hoa, nên tôi có vẻ thích cái cảm giác được tặng hoa cho một người đang ao ước có kỷ niệm về
Father’ s day.
Sau đó không gặp ông, nhưng mỗi năm vẫn có người tới lấy hoa về cho Mr. Don ,
Năm ngoái không thấy ai tới nhận hoa.
Năm nay chúng tôi thử đi tìm xem Mr.Don đang thế nào ? Đúng lúc 2 hôm nay bà đã thấy chuyện đó .
Tôi cười hiu hắt :
” Quả là ông Đông ấy ở nhà tôi, nhưng ông đã mất 10 năm nay rồi . ”
Hanna lại hét vừa đủ cho cô và tôi kinh ngạc :
Trời , hoá ra Mr. Don không còn nữa, thế mà chúng tôi không được biết .
Thì chúng tôi, là tôi đây, không biết chuyện ông Đông tự đặt tiền mua hoa đó cho ông.
Thôi xin lỗi, cho tôi nhận bó hoa này .
Tôi thấy hình như cô Hanna đó khóc, nước mắt chảy ra .
Cô lắc đầu, rồi vùng ôm bó hoa phiêu lưu 2 ngày vừa qua, lủi thủi ra xe cô đậu ở sát lề nhà tôi .
Tôi không biết nói gì hơn, ngày Father’s day cuối cùng năm 2006, ông xã tôi có ăn bữa ” Ngày của cha ” lần …sau chót ở nhà cùng với chúng tôi .
Thì ra, ông Mr. Don đó là ông D . Cũng tên vần D, nên đã phiên âm cho bà Nancy và cô Hanna là Don cho tiện .
Ông xã tôi có thói quen ít nói, và rất nhiều tình sử, nên tôi không lạ khi tình cờ được nghe hay được thấy một nghịch cảnh nào, nó có vẻ như chuyện ở ngoài đường, không liên hệ tới mình mới lạ.
Song, làm sao biết được những gì xẩy ra trong câu chuyện đã kể đâu đó, hoặc vừa đây.
Điều chỉ biết đối với tôi, từ xưa rồi, không phải mới hôm nay,
là tôi luôn luôn được đặt trước một hoàn cảnh vô cùng lãng mạn, trữ tình …
Hay có thể nói là những cuộc tình thơ đẹp lạ lùng, có thể anh không chấp nhận sự nhẹ dạ, mơ mộng, nhưng chính anh huyễn hoặc, cũng như Mr. Don, đã từng thấy tôi tiếc nuối nhưng không than van bao giờ .
Và nhất là, phải có anh cho tôi thổ lộ …tâm tình huyễn ảo của mình.
Anh mỉm cười lạ lắm, giống như nụ cười của người vô rừng hoang dã, chợt thấy một bông ngải trầm, rất đẹp, rất thơm, nhưng lại sợ hương độc của loài hoa nha phiến nào đó chưa được khám phá …
CAO MỴ NHÂN
BÀI SƯU TẦM TRÊN NET
Ba Tôi! Người Đánh Máy Mướn!
Đoàn Xuân Thu
Năm 1961, thằng em thứ sáu, vừa lên 5 của tôi, bị viêm màng não rồi chết. Thân phụ tôi đang làm Trưởng Ty Bưu Điện Rạch Giá buồn bã quá, xin đổi về Sài Gòn làm ở Bưu Điện Trung Tâm gần Vương Cung Thánh Đường dắt cả gia đình chạy trốn một kỷ niệm buồn đau! Nhà thì chính phủ cho một căn, ở lầu hai cư xá Bưu Điện trên đường Hai Bà Trưng, nằm trong con hẻm lớn, đối diện nhà thờ Tân Định.
Rồi năm 63, cuộc đảo chánh 1/11 của các tướng lãnh. Tổng Thống Ngô Đình Diệm và bào đệ là Cố Vấn Ngô Đình Nhu bị giết. Cái chết của Tổng Thống Diệm đã chấm dứt luôn cuộc sống tương đối dể thở của các công chức bậc trung.
Nhà đông con, vật giá ngày một tăng, con cái ngày một lớn, tiền ăn, tiền quần áo, tiền trường đè nặng lên vai Ba. Nên Ba phải làm thêm ‘job’ nữa. Đánh máy mướn!


Vốn xuất thân từ thư ký, sau vừa làm, vừa học, thi đậu cải ngạch thành Cán Sự Bưu Điện, nên Ba đánh máy rất nhanh, chỉ nhìn vào văn bản mà không cần nhìn vào bàn phím chữ. Đánh bằng mười ngón, tốc độ nhanh, nghe như tiếng rào rào đổ trên mái tôn. Mưa!
Cuối đường Phan Đình Phùng, đi về phía Chợ Lớn, rồi quẹo tay phải sang đường Lý Thái Tổ có rất nhiều tiệm Ronéo. Trong tiệm, ngoài giàn máy Ronéo, còn có vài cái máy đánh chữ, bàn ghế ngồi do chủ tiệm cung cấp. Làm ăn chia, tứ lục, 6/4.
Muốn in Ronéo, phải đánh trên giấy ‘stencil’. Đó là loại giấy có tráng sáp để khi đánh, chữ sẽ khắc dấu trên sáp; rồi khi đưa vào máy, mực sẽ tràn ra phủ đầy trên những dấu lõm. Dán stencil vào máy, rồi quay bằng tay hay bằng điện. Bài viết sẽ lần lượt được in ra.
Khách hàng đến là các giáo sư, mướn đánh máy bài giảng ở trường đại học, bán ‘cours’ cho sinh viên. Khách hàng cũng có thể là các nhà văn chuyên viết truyện dài đăng trên báo hằng ngày mà Miền Nam lúc bấy giờ gọi là viết “feuilleton” như Dương Hà, An Khê, Ngọc Linh, Sơn Nam… Họ mang những bản thảo viết tay, thường là khó đọc, đến mướn đánh máy cho rõ ràng để thợ sắp chữ nhà in dễ đọc, dễ sắp chữ trên bản kẽm rồi in ra thành tiểu thuyết. Giá cả có khác nhau tùy theo khách hàng thường xuyên như các giáo sư hay các nhà văn. Ngoài ra cũng có nhận đánh đơn từ các loại.
danh-may-muon-4Mỗi ngày, Ba cỡi chiếc xe đạp đòn dông, đi làm theo giờ hành chánh từ 7 giờ sáng đến 5 giờ chiều. Tan sở lại phải chạy xuống tiệm Toàn Thắng ở cuối đường Phan Đình Phùng để làm cái ‘job’ thứ hai. Khoảng 9, 10 giờ đêm, mệt mỏi, rã rời sau 16 tiếng đồng hồ làm việc, Ba mới theo đường Phan Thanh Giản, chỉ cho chạy một chiều, để quay trở về Hai Bà Trưng, Tân Định.
Má vẫn thường chờ Ba cơm tối; nhưng 8 anh em tôi thì đã đi ngủ mất rồi. Hôm nào được lãnh lương hoặc đánh máy có tiền nhiều, Ba vẫn thường ghé qua xe bán bánh mì Tám Cẩu ở ngã tư Cao Thắng và Phan Thanh Giản, gần rạp hát Đại Đồng, mua vài ổ bánh mì về cho con. Về nhà Ba vô giường, bế từng đứa dậy, đặt ngồi ngoài bàn, rồi bảo: “Ăn đi con!”. Ăn thì khoái thiệt nhưng ‘bù ngủ’ híp con mắt luôn! Em gái tôi cắn miếng bánh mì nhai, chưa kịp nuốt thì gục xuống bàn… ngủ tiếp. Ba lại bế từng đứa, cho vào giường ngủ.
Người ta thường bảo người mẹ như cánh cò. Cánh cò lặn lội bờ sông… Ba tôi không phải là cánh cò, Ba tôi là đại bàng nhưng con đông quá, bám vào đôi cánh của Ba nặng trĩu. Ba không bay cao, bay xa được mà chỉ bay là đà; nhưng vẫn phải rán mà bay để tìm mồi về cho vợ và con trong thời khốn khó! Ba chưa từng bao giờ từ bỏ ước vọng là con mình sẽ được ăn học đàng hoàng, tới nơi tới chốn để cuộc đời không phải vất vả như ba!
Bước ra đời, nếu mình có thành công, có giỏi hơn người khác thường là bị dèm pha, xúc xiểm, ganh tị… nhưng mỗi thành công dù rất nhỏ trên trường đời của con thì Ba lại tự hào, hãnh diện coi thành công đó là rất lớn và là chính của Ba luôn?
Năm 63, tôi thi đậu vào Petrus Ký. Đỡ cho Ba không phải lo tiền trường. Vì nếu rớt, phải đi học tư, tốn lắm! Việt Nam lúc đó đậu vào một trường công lập nổi tiếng như Petrus Trương Vĩnh Ký cho con trai hay Gia Long cho con gái là rất khó. Trường rất có kỷ luật nên học trò trường công không dám ‘cúp cua’ đi chơi nên thường học giỏi hơn học trò trường tư dù giáo sư trường tư lại nổi tiếng dạy hay hơn! Vì dạy hay hơn nên mới được chủ trường tư mời dạy!
Ngày coi kết quả thi vào Petrus Ký, trời đổ trận mưa to. Thầy Trường, dạy luyện thi đệ thất, có danh sách học trò thi đậu, báo tin vui cho Ba. Ba nhường áo mưa cho con, còn mình đội mưa đến. Thầy và Ba bắt tay nhau, hỉ hả cười rạng rỡ, dù nước mưa còn chảy ròng ròng trên má. Tôi thấy thương Ba quá trời! Sao mà khổ dữ vậy? Tôi thấy đậu vô đệ thất, cho dù là của một trường trung học nổi tiếng nhứt miền Nam đi chăng nữa, thì có gì là lớn đâu? Mấy thằng bạn học chung với tôi cũng thi đậu đó thôi!
Rồi khi thi đậu Tú tài một rồi hai, Ba cũng mừng như chính Ba thi đậu vậy! Khi vào đại học, Ba muốn con học Luật Khoa để trở thành Luật Sư chẳng hạn… Có lẽ đường hoạn lộ công danh của Ba đã từng bị áp bức, bị đối xử bất công quá hay chăng mà Ba không muốn con mình phải gánh chịu. Phải biết Luật để cho tụi nó sợ mà không dám áp bức lại mình?
Tôi thì thấy chồng ‘Cours’ là đã ‘ớn’. Lại phải tốn rất nhiều tiền để mua nên không muốn đi học Luật; dù trường đó, con đường Duy Tân đó, thơ mộng và có biết bao nhiêu là con gái, tiểu thơ con nhà giàu chưng diện, ẹo tới, ẹo lui?
Ba nói một, hai lần thì tôi vẫn giả bộ tảng lờ. Nhưng lần thứ ba thì con Ba, cái thằng bất hiếu, cứng đầu cãi lại: “Con là con ếch, con nhái mà Ba muốn con to bằng con bò! Không được đâu!”. Tôi đã nhẫn tâm làm tan nát niềm ước vọng của Ba tôi rồi; mà tôi cứ ‘thản nhiên’ như không? Trời ạ!
Sau nầy vào Đại học Sư phạm ra trường, đi dạy, một hôm Ba nói: “Thôi không làm luật sư; làm giáo sư cũng được!”. Dù tôi chỉ là Giáo Sư Trung học Đệ nhứt cấp ‘quèn’ mà thôi?!
***
danh-may-muon-5Rồi 75 đến, nhà tôi cũng sống lầm than mà cũng không nghe Ba một tiếng thở than? Đi tù cải tạo sáu tháng vì là viên chức ngụy quyền, cấp trưởng ty.
Trong tù, Ba tôi vẫn ăn mặc một cách đàng hoàng, tề chỉnh. Đêm trong trại, Ba xếp quần áo lại, lót dưới gối trên đầu nằm cho thẳng thớm. Sáng ra, mặc áo bỏ vô quần, mang giày như thuở còn đi làm; bị cán bộ phê bình là còn giữ tác phong ‘tiểu tư sản’?
Ra tù, Ba lại trở về Sài Gòn, ra Lý Thái Tổ ngồi đánh máy mướn để nuôi đàn con mà nhiều đứa em tôi vẫn còn thơ dại. Ba vẫn ăn mặc rất đàng hoàng, vẫn áo trắng bỏ vô quần, vẫn mang giày, dù cũ, ra đánh máy mướn, làm đơn cho bà con cô bác Sài Gòn đi thăm nuôi chồng, con đang ở tù cải tạo.
Bà con ở Hố Nai, có thời đi lính Liên Hiệp Pháp, xuống nhờ Ba đánh đơn gởi Tổng Thống François Mitterrand để xin đi định cư. Là người học chương trình Pháp, Ba viết thơ cảm động làm sao đến nỗi ông Chánh Văn Phòng của Tổng Thống hồi đáp ngay, rồi Ba dịch ra tiếng Việt cho bà con nghe là: “Tổng Thống Cộng Hòa Pháp đã nhận được thơ ông và chỉ thị cho bổn chức chuyển hồ sơ qua Bộ Ngoại Giao để làm các bước tiếp theo!”. Sau đó cũng có vài gia đình được đi Pháp định cư.
Có lần ông chủ một cây xăng ở Rạch Giá bị đánh tư sản, bị đuổi đi vùng kinh tế mới, khổ quá, ông trốn về Sài Gòn và gặp lại Ba. Ông vẫn còn gọi Ba là ông Trưởng Ty như ngày cũ?! Ông nói vì không có hộ khẩu nên không làm được thông hành và chiếu khán nhập cảnh Hoa Kỳ; dù con ông đã gởi đơn về bảo lãnh. Ba lại giúp ông làm đơn gởi cho bộ phận xuất nhập cảnh ở đường Nguyễn Trãi, Chợ Lớn và Tòa Đại Sứ Mỹ ở Bangkok, Thailand. Đơn thành công và ông được ra đi!
Trước ngày đi, bùi ngùi từ giã, ông nói: “Tôi đi rồi không biết chừng nào mới có dịp gặp lại ông Trưởng Ty” Rồi rưng rưng nước mắt, bắt tay chào vĩnh biệt!
Raoul Wallenberg (1912 –1947), nhà ngoại giao Thụy Điển, đã cứu hàng chục ngàn người Do Thái ở Hungary thoát khỏi Holocaust, lò hơi ngạt của Phát Xít Hitler trong Thế chiến thứ hai. Ông đã cấp những thông hành bảo vệ (Schutz-Pass) và cho những người Do Thái ẩn náu trong những tòa nhà thuộc tòa đại sứ Thụy Điển ở hải ngoại. Ngày 17.1.1945, Hồng quân Cộng Sản Liên Xô tiến vào Budapest, Hungary bắt ông giam cầm và ông chết ngày 17.7.1947 trong nhà tù Lubyanka ở Moskva. Trái tim vĩ đại của một con người nhân hậu đã mãi mãi thôi không đập nữa!
Dĩ nhiên thân phụ tôi không thể cứu được nhiều nạn nhân như ông Raoul Wallenberg đã từng làm; nhưng chí ít Ba tôi cũng đã giúp được một số người, dù con số đó rất nhỏ nhoi, được có một cuộc đời khả dĩ tốt đẹp như xưa.
Chỉ có một trái tim nhân đạo mới dám, mới làm được như thế! Ba từng nói: “Giúp được ai, dù là chuyện nhỏ, để làm cho họ bớt thống khổ hơn là điều phải làm con ơi!”
***

Năm 81, thằng em thứ 5 của tôi liều chết vượt biên đến được Pulau Bidong, Mã Lai. Về Adelaide, Nam Úc định cư, nó lần lượt lãnh Ba và các anh em qua. Rồi cả gia đình đoàn tụ!
Đêm nay, ngồi trước bàn phím computer, viết bài nầy nhân Father’s Day bên Mỹ, tôi lại nhớ đến cái bàn máy đánh chữ của Ba. Nhớ mười ngón tay xương xẩu, cong vòng của Ba, gõ trên bàn đánh máy mà ngày xưa người ta thường cảnh báo về già sẽ bị đau tim mà chết. Nhưng Ba không sợ! Mười ngón tay đó của Ba đã nuôi anh em con ăn học, đủ để sống sót và làm lại cuộc đời nơi đất lạ quê người. Tụi con xin cảm ơn Ba!
Ba bỏ tụi con đi, năm nay nữa là 20 năm chẵn. Tiếng gõ trên bàn máy chữ vẫn rào rào như tiếng mưa rơi… vẫn còn vang động đâu đây! Nhớ và thương vô cùng cái dáng của Ba còng lưng trên xe đạp trong những ngày ngược gió.
Nhớ bánh mì Tám Cẩu Ba mua; mà đút vào miệng chưa kịp nhai tụi con đã gục đầu xuống bàn… mà ngủ tiếp. Nhớ cái bắt tay của Ba với thầy Trường ngày con đậu vào đệ thất.
Người ta cần tới Father’s Day, Chúa Nhựt, tuần lễ thứ ba của tháng sáu như ở Hoa Kỳ hay Chúa Nhựt, tuần lễ thứ nhứt của tháng chín ở Úc để kỷ niệm ngày từ phụ, để nhớ tới phụ thân! Còn con, con nhớ Ba mỗi ngày, khi còn sống, cho đến lúc nào đó con sẽ được gặp lại Ba!
đoàn xuân thu
melbourne
“TIẾN SĨ” PHÚ – CAO BỒI GIÀ

“TIẾN SĨ” PHÚ
Ôi thật vẻ vang;
Rõ là hoan hỉ.
Xưa đất Việt nhan nhản anh hùng;
Nay nước Nam rẫy đầy “tiến sĩ”.
Xem kìa:
Anh Phó Phòng ngất ngưởng cấp bằng;
Bác Xã Trưởng vọi vòi học vị.
Đoàn quân hơn hẳn Nhật, Tàu;
Số lượng bỏ xa Pháp, Mỹ.
Bởi trường lớp trui rèn tuyệt cú, cứ vỗ tay lòi phắt “Ông Nghè”;
Nhờ quy trình đào tạo kỳ tài, chỉ tặc lưỡi phọt ngay “Tiến Sĩ”.
Đọc luận án ông kia bảo vệ, bao người toan bể bụng bởi mắc dịch ha ha;
Nghe đề tài chị nọ thuyết trình, khối kẻ phải rách mồm vì lên cơn hi hí.
Nào là:
“Giao tiếp của Xã Trưởng” ôi đẳng cấp thấy ghê;(*)
“Hành vi nịnh trong Việt Ngữ” quả siêu phàm quá nhỉ.(*)
“Điều hưng phấn cho cựu sinh viên Sư phạm” ấy rõ cao tầm;(*)
“SỰ thích ứng của tân giáo viên Tiểu học” đúng là hết ý.(*)
Rõ là:
Toàn vô bổ tốn tiền đề tài viết lếu, ngán cùng đường thôi đành để gói xôi;
Chả lợi dân ích nước, luận án trình liều, hay đến độ chỉ đáng đem cân ký.
Mà vẫn vênh cái danh;
Mà cũng ngốn tiền tỷ.
Ngoại văn ngoại ngữ dẫu biết tẹo teo;
Tiếng Mỹ tiếng Tây chỉ cần ti tí.
Nỏ phải thông minh, cứ chuyên tu cứ tại chức mà lẫm chẫm lên chức “Ông ;Nghè”
Chả cầnxuất sắc, dẫu bổ túc dẫu lưu ban, vẫn thong dong đạt danh “tấn sĩ”.
Thuê kẻ viết luận án mà thoải mái thành danh ;
Lót thầy thẩm đề tài, cứ ung dung đoạt vị.
Thế nên :
Danh “Ông Nghè” chỉ đáng giá nơi quan trường công sở, cứ ầm ĩ khua môi;
Bằng “Tấn sĩ” bị coi khinh chốn doanh nghiệp tư nhân , chỉ âm thầm cất ví.
Giành hết chỗ của kẻ thực tài;
Ngồi trên đầu lắm ngườicao trí.
Lúc xã tắc khó khăn, không mưu chẳng lược, Tấn sĩ ẩn siêu;
Khi nước non hoạn nạn, bặt tiếng câm mồm, Ông Nghè lặn kỹ.
Hỡi ôi:
Bởi nhiều kẻ hám bạc háo danh;
Sinh lắm điều bại phong hoại lý.
Con người thế, còn mong tiến gì;
Đất nước vầy, hỏi sao khá nhỉ?.
CAO BỒI GIÀ
Ghi Chú:
_Chữ “Tiến sĩ” và “Ông Nghè” ở đây xin đặt trong ngoặc kép, để hiểu là hàng dỏm.
_(*): Các chữ trong ngoặc kép là các đề tài luận án “tiến sĩ”