GIAO CHỈ San Jose – Cindy Chavez, Trở Về Cố Hương

Cindy Chavez, trở về Cố Hương

Cuối tháng 11 năm 2024, bà Cindy Chavez, giám sát viên khu số 2 của Quận hạt Santa Clara, sẽ chấm dứt chức vụ và di chuyển về tiểu bang New Mexico để nhận công việc mới. Bà đã trải qua ba nhiệm kỳ hoàn tất công tác nội trợ cho khu vực quan trọng của kinh đô điện tử toàn thế giới. Từ một cô sinh viên trẻ tuổi sinh ra tại New Mexico, bà đến San Jose theo học tại SJSU và xây dựng sự nghiệp chính trị từ thành phố qua quận hạt. Năm nay 60 tuổi, bà trở về và tiếp tục làm việc tại cố hương.

Người phụ nữ gốc Mexico này đã trải qua nhiều năm làm nghị viên, rồi phó thị trưởng San Jose. Sau đó, bà đảm nhiệm ba nhiệm kỳ làm giám sát viên Quận Santa Clara trong 12 năm. Khi ra đi, bà Cindy Chavez đã để lại rất nhiều tình cảm của biết bao sắc dân địa phương, bao gồm cả cộng đồng người Việt tị nạn.

Riêng về công việc quản trị khu số 2 của Quận, nơi có 400.000 dân, nay bà sẽ làm quản trị viên cho quận lớn nhất ở New Mexico là Bernalillo với 672.000 dân. Sự khác biệt là từ công tác chính trị chuyển sang nhiệm vụ quản trị hành chánh. Các sắc dân địa phương thường biết đến chính khách qua các kỳ bầu cử, nhưng đối với riêng các giám sát viên quận hạt, mối liên hệ tình cảm lại nhiều hơn danh nghĩa cử tri.

Bà Chavez ra đi là một sự mất mát quan trọng của cả cộng đồng. Chúng tôi còn nhớ lại câu chuyện hơn 20 năm trước, khi có dịp gặp Cindy, phó thị trưởng San Jose đến tham dự buổi ra mắt dự án Việt Museum tại nhà hàng Kobe do luật sư Đinh Thành Châu bảo trợ. Hôm đó, đại tá không quân Vũ Văn Ước hát một bài tình ca tiếng Mexico giọng Tây Ban Nha để tặng cho cô dân cử trẻ tuổi, làm quen với cộng đồng Việt Nam. Tháng sau, cô dân cử thành phố tiếp tục tò mò đến thăm Khu bảo tàng bắt đầu triển lãm trên đường Park.

Ngày nay, Việt Museum chính thức hình thành trong San Jose History Park, nhưng các nhân vật cũ của chúng tôi đã lần lượt ra đi. Đối với riêng cơ quan IRCC, Việt Museum và Dân Sinh Media, chúng tôi đặc biệt trân trọng sự yểm trợ của Quận hạt Santa Clara trong suốt 30 năm công tác hỗ trợ dịch vụ di dân và tị nạn. Tuy nhiên, thành quả cụ thể đáng ghi nhận là tình cảm của hai vị giám sát, ông Dave Cortese và bà Cindy Chavez, đã xây dựng cho cộng đồng Việt một trung tâm dịch vụ Việt-Mỹ trị giá 70 triệu Mỹ kim. Thêm vào đó, Quận hạt đã dành số ngân khoản quan trọng hoàn tất bức tường Chiến sĩ Mỹ-Việt trong chiến tranh Việt Nam tại Vườn Truyền Thống Việt.

Chúng tôi phải thành thực ghi nhận rằng trong số 58 quận hạt tại California và tổng số 3071 quận hạt toàn quốc, không nơi nào có được một trung tâm danh dự như thế. Thêm một ý nghĩa đáng trân trọng là bà giám sát viên hết nhiệm kỳ đã tin tưởng và yểm trợ cho cô luật sư goc Viet Betty Duong tranh cử thay thế để tiếp tục con đường làm việc cho các sắc dân thuộc khu số 2. Một quyết định rất có tình và hợp lý. Phần còn lại do Trời quyết định.;Phần bà Chavez, gia đình nhà cửa vẫn còn ở San Jose, người sẽ trở lại…..download.webpdownload (6).jfif

Cindy Chavez, Returning to Her Roots

At the end of November 2024, Cindy Chavez, supervisor of District 2 in Santa Clara County, will step down from her position and move to New Mexico to take on a new role. She has completed three terms serving this critical region in the heart of the global tech capital. From a young student born in New Mexico, she came to San Jose to attend SJSU and built her political career from the city to the county level. Now, at 60 years old, she returns to her roots to continue her work.

This woman of Latino descent spent years as a councilmember and then as vice mayor of San Jose. After that, she served three terms as a Santa Clara County supervisor, a total of 12 years. When she departs, Cindy Chavez will leave behind the warm sentiments of many local communities, including the Vietnamese refugee community.

In her role overseeing District 2, which has 400,000 residents, she will now transition to becoming an administrator for Bernalillo, the largest county in New Mexico, with 672,000 residents. This marks a shift from political work to administrative governance. While local communities often recognize politicians through elections, for county supervisors, the relationships tend to go beyond just the voter-candidate dynamic, forming more personal connections.

Cindy Chavez’s departure is a significant loss for the entire community. We fondly recall more than 20 years ago when we had the chance to meet Cindy, then vice mayor of San Jose, at the launch of the Viet Museum project at Kobe Restaurant, sponsored by attorney Dinh Thanh Chau. That day, Colonel Vu Van Uoc sang a Mexican love song in Spanish to welcome the young public official to the Vietnamese community. The following month, this curious city councilmember continued her interest by visiting the exhibition at the Museum site on Park Avenue.

Today, the Viet Museum is officially part of the San Jose History Park, but many of our original figures have since passed. For IRCC, the Viet Museum, and Dan Sinh Media, we especially appreciate the support Santa Clara County has provided over 30 years of assisting refugee and immigrant services. Notably, the deep care from two key supervisors, Dave Cortese and Cindy Chavez, helped the Vietnamese community build a Vietnamese-American service center worth 70 million dollars. Additionally, the county allocated significant funds to complete the Vietnam War Veterans Memorial at the Viet Heritage Garden.

We must sincerely acknowledge that among the 58 counties in California and the total 3,071 counties nationwide, no other place has such an honorary center. Another noteworthy gesture is that Supervisor Chavez, upon completing her term, has endorsed and supported attorney Betty Duong, a Vietnamese-American candidate, to succeed her and continue working for the diverse communities in District 2. It was a thoughtful and sensible decision, and the rest will be left to fate.   

Giao Chi San Jose.   giaochi12@gmail.com  (408) 316 8393




THĂNG HOA CUỘC ĐỜI – Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng

THĂNG HOA CUỘC ĐỜI

Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng

Kỳ 77 Núi Lam Sanh Đế Vị

  Mây đen kéo tới vào khoảng xế trưa thì chạng vạng trời đổ mưa như thác lũ, đồng ruộng vốn hạn hán từ mùa hè năm Giáp Thân nên trận mưa này là một ân sủng cho nông gia, nhưng thành An Tôn lại bị sạt lở lũy tây nam, cuốn hết những kỳ hoa dị thảo trong vườn thượng uyển trôi ra sông Mã (Sông Mã là một con sông của Việt Nam và Lào có chiều dài 512 km, trong đó phần trên lãnh thổ Việt Nam dài 410 km và phần trên lãnh thổ Lào dài 102 km. Lưu vực của sông Mã rộng 28.400 km², cao trung bình 762 m, độ dốc trung bình 17,6%, mật độ sông suối toàn lưu vực 0,66 km/km²Phù sa sông Mã là nguồn chủ yếu tạo nên đồng bằng Thanh Hóa lớn thứ ba ở Việt Nam. Sông Mã bắt đầu bằng hợp lưu các suối ở vùng biên giới Việt – Lào tại xã Mường Lói phía Nam huyện Điện Biên ngày nay)

Thật ra thành An Tôn tức Tây Đô mới vừa xây vào tháng Giêng năm Đinh Sửu (1397) dưới triều Trần Thuận Tông niên hiệu Quang Thái thứ Mười, tổng công trình sư do quyền thần Hồ Quý Ly đương kim giữ chức vụ Nhập nội Phụ chánh Thái Sư Bình chương quân quốc trọng sự tước Tuyên Trung Vệ quốc Đại vương Tể tướng chỉ huy. Hoàn tất trong thời gian ngắn, họ Hồ đã nuôi mộng soán ngôi để di dời cố đô vào nơi đây cai trị, do đó mà ba năm sau tức năm Canh Thìn (1400) ông lật đổ nhà Trần rồi lập nên nhà Hồ, liền quyết định thay đổi cơ cấu trung ương.

 Thành xây trên đất Tây Giai và Xuân Giai thuộc tỉnh Thanh Hóa để làm kinh đô nước Đại Ngu bằng đá ong đặc biệt với lối kiến trúc tinh vi, độc đáo hiếm có thời bấy giờ; những thành lũy bằng những phiến đá rất lớn xây dựng chớp nhoáng trong vòng ba tháng mà đến bảy thế kỷ sau vẫn còn tồn tại, đó là điều khó lý giải những đặc thù kiến trúc thời trung cổ.

Mục tiêu của Hồ quý Ly là phế bỏ triều Trần mạt vận, sáng lập vương triều mới để thực thi một loạt chính sách cải cách về các mặt chính trị, kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục nhằm thay đổi cuộc khủng hoảng di lụy bởi cuối triều Trần đặng củng cố chính quyền trung ương và chuẩn bị cuộc kháng chiến chống nhà Minh xâm lược. Đây là cuộc cách mạng táo bạo mà Hồ Quý Ly dám thực hiện, với cái nhìn khách quan thì ông ta là một nhà cải cách lớn với một hệ thống chính sách và biện pháp khá toàn diện, quy mô.

Tây Đô xây cất nơi địa thế đầy hiểm trở, có lợi thế về phòng ngự quân sự, bảo vệ quốc phòng bởi sông nước bao quanh, có núi non trùng điệp, vừa mang ý nghĩa chiến lược phòng thủ, vừa phát huy được ưu thế giao thông thủy bộ; nhưng về mặt chính trị, thương mại thì vô cùng khó khăn. Lối kiến trúc bao gồm thành nội và thành ngoại, phía ngoài được đắp bằng đất với số lượng gần trăm ngàn mét khối, trên trồng tre gai dày đặc cùng với một khoảng hào sâu có bề mặt rộng gần tới năm mươi thước bao quanh.

Bên trong là thành nội có mặt bằng hình chữ nhật chiều bắc nam và đông tây dài gần một cây số, phía ngoài của thành nội ghép thẳng đứng bằng đá khối kích thước trung bình dài hai thước, rộng một thước và dày  bảy phân, mặt trong đắp đất. Bốn cổng thành theo chính hướng tiền nam, hậu bắc, tả đông, hữu tây đều xây kiểu vòm cuốn, đá xếp múi bưởi, trong đó to nhất là cổng chính Nam gồm ba cửa cuốn dài ba mươi bốn thước, cao mười thước, rộng mười lăm thước; các phiến đá xây đặc biệt lớn có độ dài tới bảy mét, cao gần hai mét, và nặng chừng mười lăm tấn.

Sức người như vậy phải điểm tô non sông hùng vĩ hơn, các triều đại hưng thịnh hay suy trầm đều nghĩ đến việc rèn luyện nhuệ khí thanh niên, kiến thiết nơi quyền lực kiên cố để lãnh đạo muôn dân bảo vệ giang sơn.

Người dân bao đời vẫn một nắng hai sương, triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần cũng vậy mà sau này cũng chẳng đổi thay nhiều. Cánh đồng bát ngát phía chính nam luôn trù phú, trúng mùa nên con trâu có phần mập mạp mà ruộng rẫy phía tây cũng sản sinh bao nhiêu ngô khoai đậu sắn khả dĩ làm phong phú cuộc sống nhân dân.

 Tây đô nằm giữa sông Mã và sông Bưởi, thuộc địa giới của Vĩnh Tiến, Vĩnh Thành, Vĩnh Long, Vĩnh Yên, Vĩnh Quang, Vĩnh Ninh, Vĩnh Khang, Vĩnh Lộc và Vĩnh Phúc. Những chữ “Vĩnh” này là một ý chí của tiền nhân trong sự nghiệp bảo vệ dân tộc vĩnh cửu trường tồn.

Làng Cổ Định nằm trên hữu ngạn sông Mã, một vùng quê với ruộng đồng trù phú, phong cảnh hữu tình mà dân cư lại vô cùng khai phóng. Trong làng từ buổi ban sơ đã có người thi đỗ đại khoa. Xuyên suốt dòng lịch sử các triều đại Lý, Trần thì làng này đã có người được cử làm Chánh sứ sang bang giao với nhà Tống, nhà Nguyên, lại có kẻ làm đến chức Thừa tướng. Cuộc sống của hơn ba nghìn người đầm ấm yên vui, kẻ nông dân chăm lo cày cấy trên đồng, bậc nho sĩ miệt mài sôi kinh nấu sử, trẻ em thành thạo chữ nghĩa thánh hiền, phụ nữ tuân hành tam tòng tứ đức thì tai hoạ ập đến với làng….

Triều đại nhà Hồ đã bị tiêu diệt năm Đinh Hợi (1407) do đoàn quân xâm lược của Minh triều. Tháng Mười năm đó, Trần Ngỗi được Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân phò trợ lên ngôi lấy hiệu là Giản Định Vương. Mưu đồ đại sự của các đại tướng triều hậu Trần này là chiêu dụ nhân tài chống giặc ngoại xâm, nhưng sự nghiệp chưa thành mà Giản Định Vương lại hay nghe lời gièm pha của kẻ nịnh thần nên hai năm sau sát hại các trụ cột triều đình là Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân rồi kéo cờ khởi nghĩa chống Minh, cuộc cờ chưa bao lâu thì Giản Định Vương lại thất bại nên các người con của hai trụ cột triều đình là Đặng Dung (thân tử của Đặng Tất) và Nguyễn Cảnh Dị (Thân tử của Nguyễn Cảnh Chân) lập Trần Quý Khoáng lên ngôi, niên hiệu là Trùng Quang vào năm Kỷ Sửu (1409). Cuộc khởi nghĩa tiếp tục chống quân nhà Minh kéo dài được bốn năm đến mùa Thu năm Quý Tỵ (1413) thì Trùng Quang cũng thất bại và bị tiêu diệt. Trong đoàn quân của triều đình có một võ quan nhỏ xuất thân từ nông dân tên là Nguyễn Chích, sức khỏe mạnh bạo, võ thuật cao cường bèn trốn thoát chạy về núi Hoàng Nghiêu phía tây tỉnh Thanh Hóa gần làng Cổ Định lập căn cứ chống lại giặc Minh.

 Tướng giặc là Trương Phụ, Mộc Thạnh nhiều lần mang quân đến vây diệt, nhưng lần nào cũng thất bại nặng nề. Giặc Minh nhận thấy, ngoài căn cứ Hoàng Nghiêu, thì cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Chích phụ thuộc nhiều vào việc cung cấp lương thực và quân binh của nhân dân quanh vùng, trong đó có làng Cổ Định. Vì thế, năm Ất Mùi (1415), tướng giặc Trương Phụ xua quân đến vây giết cả làng. Hơn ba nghìn người bị sát hại, một số bị bắt đưa về Trung Quốc, chỉ còn mười tám người chạy thoát. Trong số trai tráng trốn thoát ấy có năm người thanh niên tên là Lê Lôi, Doãn Nổ, Lê Thìn, Lê Luận và Lê Lai.

Ngược thời gian về những năm tháng trước đây thì gia đình của Tiến sĩ Thanh Vận Sứ Lê Duy Luật trong thời đại cuối nhà Trần có ba người con trai tên là Lê Luận, Lê Lai và Lê Lôi đều là những người trai tráng sức khỏe cang cường. Khi Trương Phụ xua quân tới đánh giết dân làng thì ba anh em họ Lê bị bắt áp giải mang về Tàu. Trên đường lội bộ với quân Minh thì Lê Luận giả đò làm kẻ ngu đần, điếc lác, vừa la, vừa khóc, vừa cười nên bọn binh lính nhà Minh không thèm để ý. Khi đi ngang qua vùng núi hiểm trở ở Thanh Hóa vào ban đêm thì Lê Luận cùng hai em là Lê Lai và Lê Lôi trốn thoát vào rừng. Trong khi vượt thoát đầy hiểm nguy thì Doãn Nổ và Lê Thìn cũng tìm cách thoát thân, chạy theo ba anh em Lê Luận đào tẩu xuống hướng đông dọc bờ biển rồi tìm cách quy tụ dân làng quyết khởi nghĩa chống lại ngoại bang.

Đất Lam Sơn thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa là nơi có phong thủy hữu tình, cây cối tươi tốt, ruộng đồng phì nhiêu và dân tình khoáng đạt. Từ cuối đời nhà Trần thì nơi đây hoang vu, chướng khí được gọi là Lộ Khả Lam như những làng xã của thời cận đại. Một hôm có chàng thanh niên nho nhã đi dạo chơi ven bờ rừng thấy bầy chim bay lượn trên không ra chiều đất lành chim đậu. Chàng thanh niên sau đó có vợ và nghĩ đến vùng đất có nhiều bầy chim bay về làm tổ nên cùng vợ đến đây khai hoang, lập ấp. Người thanh niên đầy gan dạ ấy là ông Lê Hối cùng vợ là bà Nguyễn thị Ngọc Duyên ngày đêm phát gai làm ruộng, đốn cây làm chòi, chăm lo đồng áng, một nắng hai sương. Chẳng bao lâu sau, nơi ấy đã quy tụ vài chục nóc gia gồm những người thân tộc và hàng xóm kéo về đây cùng khai hoang, xây dựng tổ ấm. Ông Lê Hối là người tiên khởi nên được dân làng bầu làm Trưởng Lộ, hàng ngày lo việc phát triển xóm giềng, mở trường dạy học và xây dựng trại ấp lớn mạnh. Sau vài năm chung sống, Ông Lê Hối sinh được người con trai là Lê Đinh thông minh, cường tráng, Lê Đinh lấy bà Nguyễn Thị Quách được dân làng yêu mến tôn làm Hào Trưởng. Con trai của Lê Đinh là Lê Khoáng tính tình điềm đạm, hiền hòa, hiếu khách nên nhà cửa lúc nào cũng có bạn bè tứ phương thăm viếng. Lê Khoáng lấy vợ là bà Trịnh Thị Thương thì gia trang trở nên trù phú, sung túc mọi bề. Danh tiếng của dòng họ nhà Lê đất Lam Sơn trở nên uy tín vì sự chăm chỉ khai khẩn đất đai trở thành hào phú, vì thế mà dân làng kính nể, mến phục và nhiều người ở những địa phương khác cũng muốn  dời nhà đến đây lập nghiệp.

Vào giờ tý ngày mùng sáu tháng tám năm Giáp Tuất (1384) bà Trịnh thị Thương đã khai hoa nở nhụy sinh cho chồng một cậu quý tử mặt mày khôi ngô tuấn tú. Người con trai chào đời thì gia đình ắt phải đầy lộc, đầy tài, đầy phước, đầy hạnh nên được đặt tên là Lê Lợi. Quả nhiên, Lê Lợi càng lớn lên thì gia trang càng mở rộng, trâu bò heo gà từng đàn, ruộng nương khai khẩn hàng ngàn mẫu và những phúc lợi cho dân được hình thành để đất Lam Sơn sống trong hạnh phúc, thanh bình.

====

THĂNG HOA CUỘC ĐỜI

Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng

Kỳ 78  Anh Hùng Lê Lợi

  Thực ra Lê Lợi sinh tại quê mẹ nơi Bản Chủ Sơn, Huyện Lôi Dương tức là làng Chủa, còn đất Lam Sơn tục danh là làng Cham, vì thế người đời thường gọi quê quán của Lê Lợi là “Nội Cham, Ngoại Chủa” để khẳng định gốc gác xuất thân từ đấy. Thuở nhỏ, Lê Lợi có thiên tư tuấn tú khác thường, tinh thần và dáng người tinh anh, mạnh mẽ, mắt sáng như sao, miệng rộng hình cánh cung, răng đều với vai u thịt bắp có nốt ruồi bên phía trái. Lê Lợi có giọng nói sang sảng như chuông đồng, đi mạnh như rồng, bước lẹ như hổ, kẻ thức giả nhìn thấy đều biết rằng đây là bậc phi thường. Ông có ba anh em trai là Lê Học, Lê Trừ và Lê Lợi đều theo nghiệp cha coi sóc điền trang, ngày đêm lấy việc đọc sách và đem điều hay nói cho những người thuộc hạ học hỏi, noi theo.

Năm ngoài hai mươi tuổi, Lê Lợi cưới bà vợ cả họ Trịnh Thị sinh ra Tư Tề, và bà vợ thứ là Phạm Thị sinh ra Nguyên Long. Năm ông hai mươi lăm tuổi thì anh cả là Lê Học qua đời, Lê Trừ bịnh hoạn nên Lê Lợi đảm nhận chức Trại chủ Lam Sơn, coi sóc việc điền trang rộng lớn. Đất rộng người thưa, ông cho khai vỡ đất hoang, xây dựng xóm làng nên người bốn phương tụ về đông đúc. Những con sông chạy quanh Lam Sơn như sông Lường là mạch nước tưới tiêu, ruộng đồng phì nhiêu phát triển, đường thủy lộ thuận tiện giao thông nên việc mua bán cũng trở nên sầm uất. Từ thời lập nghiệp các cụ tổ của dòng họ Lê là những bậc tôn trưởng có phẩm chất đạo đức và lòng nhân hậu từ tâm nên được mọi người trọng vọng nể vì. Lê Lợi tiếp tục thừa hưởng nền đạo đức gia phong đó nên phẩm chất của ông cũng đượm nghĩa đồng bào bởi không nỡ thấy cảnh chèn ép, đô hộ của giặc Minh mà làm ngơ, cúi đầu cam chịu. Hàng ngày chăm sóc công việc gia trang, Lê Lợi thường chong đèn đọc sách binh thư, thao lược, nghiền ngẫm về binh pháp, kinh văn. Trong thơ Nguyễn Trãi có câu: “Ức tích Lam Sơn ngoạn võ kinh, Đương thời chí dị tại thương sinh” nghĩa là xưa kia tại Lam Sơn đã đọc võ kinh, binh thư nên cái chí vì dân vì nước đã tỏ lộ từ đấy. Quả thật, là một người chủ trại giàu có nhưng Lê Lợi luôn băn khoăn về niềm uất hận của toàn dân trước cảnh nô lệ ngoại xâm. Ông quyết nuôi chí phục thù, rửa hận cho quê hương, thách đố đối với những kẻ đã gây nên khổ nạn cho nhân dân, gieo đau thương, tai hoạ đến đồng bào khiến mảnh đất không còn đơm hoa nẩy lộc.

Trong buổi gian truân này, biết bao sĩ phu phải ngao ngán than trời trách đất như “bạc đầu không phụ ái dân tâm” nghĩa là đầu bạc nghĩ phụ tấm lòng dân thương mà chưa làm gì cho họ được. Lê Lợi cũng vậy, ông cũng đau buồn và uất hận, nhìn tình cảnh của quần chúng sa sút, ông đã chỉ đích danh kẻ thù là nguyên nhân đày đọa dân tình. Lê Lợi đã vạch mặt bọn xâm lăng, tố cáo kẻ ác độc mà giờ đây đọc lại áng văn phẫn uất, chúng ta đồng thừa nhận nó trở thành văn kiện lịch sử của văn học cổ truyền dân tộc như trong sách Lam Sơn thực lục(1) có chép rành rành:

“Tội ác của giặc đầy dẫy, thần và người đều căm giận. Chúng đào mồ mả của ta, bắt bớ dân ta, chém giết người trung lương, ngược đãi kẻ cô đơn, góa bụa, nhân dân trong nước không thể sống nổi: pháp luật và hình phạt của chúng thì hà khắc, càn rỡ, chẳng việc gì là chúng không làm, nào là cấm mắm muối làm cho nhân dân khốn đốn về việc ăn uống, nào phu phen thuế má nặng nề, làm cho của cải nhân dân cạn kiệt. Chúng bắt dân lặn biển mò châu, đào núi lấy vàng, ngà voi, sừng tê, lông trả, gỗ thơm. Bất kể những thứ gì ta có, là chúng cố hết sức vơ vét, không sót tí nào để lấp cái lòng tham muốn sâu như hang hốc. Còn người dân nước ta, chúng bảo là người phản trắc khó trị; trước hết chúng dùng mẹo, lừa bịp, buộc dân dời đi nơi khác, hòng dễ bắt lính, gây chuyện binh đao không chán. Chúng lại xây đắp hàng chục tòa thành, chia quân lính đóng giữ để trấn áp lòng người, làm cho những bậc sĩ phu mưu trí của ta không thể nhấc chân, múa tay gì được. Chúng xảo quyệt đặt dinh này, ấp nọ, xếp đặt nào quan, nào tước, lừa bắt sĩ phu ta đưa về triều rồi đem họ đi an trí ở đất Bắc, v.v..”

Những sự kiện khổ đau của nhân dân đã khiến ông quan tâm lo lắng. Trại chủ Lam Sơn đã tiếp đón biết bao nhiêu số phận hẩm hiu của đồng bào, những cảnh ngộ éo le gây nên bởi giặc Minh tàn ác. Từ những nỗi niềm đó mà Lê Lợi đã biến thành hành động, ông thiết lập Lam Sơn thành nơi trú ẩn cho người sa cơ, nuôi kẻ mưu sĩ chuẩn bị thời cơ, phất cờ khởi nghĩa đánh đuổi ngoại xâm.

Phải thừa nhận Lê Lợi là người mưu trí, trại Lam Sơn cách thành Tây Đô khoảng nửa ngày đường, sát nách quân thù mà hành động không bị lộ liễu. Chủ soái Lam Sơn được thương mến và là nơi quy tụ của anh hùng hào kiệt cả nước là do lòng nhân từ, đạo đức, tâm hỷ xả từ bi; vì điều tốt lành này mà nhân dân kính trọng chắc chắn giặc Minh cũng biết mà không hại được Lê Lợi, cho thấy sự khôn ngoan và uyển chuyển của ông đã đến hàng thượng thặng. Lê Lợi thường nói: “Kẻ trượng phu ở đời nên cứu nạn lớn, lập công to, để tiếng thơm muôn đời, chứ đâu chịu bo bo làm đầy tớ người ta…Ta dấy quân đánh giặc không phải vì tham phú quý mà vì muốn cho ngàn đời sau biết rằng ta không chịu thần phục quân giặc tàn ngược(2)”. Chính những lời tuyên bố dõng dạc này đã nói lên tư cách của một anh hùng, không dễ gì bị giặc mua chuộc, không nao núng trước quân thù, không lơ là đến nỗi thống khổ của đồng bào và quyết tâm đánh đuổi ngoại xâm, xây dựng một quốc gia độc lập.

Năm ba mươi bốn tuổi, bước vào ngưỡng cửa trung niên ông quy tụ nghĩa binh, chiêu mộ anh hùng nhân kiệt, tích tụ lương thảo, phất cờ khởi nghĩa ngày Mùng hai tháng Giêng năm Mậu Tuất (1418), ròng rã kháng chiến liên tục mười năm, cuối cùng cũng đuổi bọn xâm lược Minh triều cuốn cờ trốn về phương Bắc, dựng xây nền tự chủ, độc lập cho nước nhà.

Thật ra Lam Sơn là vùng núi rừng bao phủ bởi những ngọn đồi chập chùng mà dân địa phương quen gọi là núi Rồng ở hướng Tây Bắc, núi Hổ, núi Voi ở phía Tây Nam, núi Dầu ở hướng Bắc và núi Cốc ở hướng Đông Nam. Tất cả địa danh núi rừng nơi đây đều gắn liền với sự kiện lịch sử mà hàng hậu bối từng bùi ngùi khi nghe lại một khúc quanh lịch sử đầy hào khí song hành với sự nghiệp chống nhà Minh xâm lược của trại chủ đất Lam Sơn. Trước khi đi vào rừng núi ấy phải ngang qua ngọn núi Dầu, đất màu nâu và cây sậy cây lau mọc um tùm phủ kín. Tương truyền rằng, Trần Nguyên Hãn và Nguyễn Trãi đi tìm minh chủ ở đất Lam Sơn nhưng không gặp được, Trần Nguyên Hãn đã giả làm một người bán dầu, đội trên đầu một thùng lớn đi bán dạo, ngang qua khu núi nầy thì dầu tung tóe đổ ra làm cho đất trở nên nâu sẫm và lau sậy ở đây dễ đốt cháy, sau này chính loại lau sậy nơi đó đã góp phần trong công tác hỏa binh, đốt cháy biết bao đồn  giặc, tạo nên thắng lợi cho nghĩa quân.  Cũng từ chân núi này có một bà lão thường mang dầu tiếp tế cho nghĩa quân bằng ngọn đèn leo lét trong đêm khuya. Bà là một người yêu nước tình nguyện đốt đuốc chỉ đường cho ai muốn tìm về đất Lam Sơn hội tụ. Nhiều anh tài tuấn kiệt đến được với Lê Lợi cũng nhờ ánh đèn trong đêm khuya thanh vắng đó. Sau này giặc Minh dò xét được và bắt bà giết tại ngọn núi màu nâu ấy. Chủ Trại Lam Sơn cảm niệm và thương xót hành động vì đại nghĩa nên đặt tên đỉnh ấy là núi Dầu và di chúc cho con cháu nhớ giỗ bà hàng dầu kế sau ngày Lê Lợi mất. Thành ngữ có câu, “hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi, hăm ba giỗ bà hàng Dầu” là ý nghĩa đấy.

Dòng sông xanh thẳm và uốn lượn, bao bọc núi rừng Lam Sơn phát xuất từ thượng nguồn Sầm Nưa bên đất Thượng Lào có tên là sông Chu dài khoảng một trăm ba mươi lăm dặm mà người địa phương thích gọi là tên sông Lường. Mãi về sau, sông Lường được đổi sang âm Hán Việt là Lương Giang Hà đã đi vào lịch sử dân tộc Đại Việt chống quân Minh trong giai đoạn tiền khởi nghĩa. Trong Đại Nam quốc sử diễn ca có câu: “Lương Giang trời mở châu nhân, Vua Lê Thái Tổ ứng tuần mới ra”.

Suốt năm tháng hình thành để chuẩn bị mọi mặt cho cuộc khởi nghĩa Lam Sơn mà Lê Lợi là người khởi xưóng ra cuộc tranh đấu ấy đã đề ra chủ trương, trực tiếp đứng lên tập hợp lực lượng, xây dựng tổ chức, tạo nên cơ đồ của một cuộc khỏi nghĩa đi từ phôi thai đến binh bị hùng cường và cuối cùng giành thắng lợi kinh hoàng dưới lá cờ đại nghĩa Lam Sơn là một kỳ tích vô tiền khoáng hậu. Trước đó những phong trào chống Minh phát xuất từ nhiều xu hướng chính trị khác nhau như phong trào Hậu Trần do một số quý tộc họ Trần lãnh đạo để chống Minh, khôi phục vương triều Trần gia nhưng thời thế đã khác, nhân dân chán ngán các đời vua nhu nhược nên phong trào đó dù dấy lên mạnh mẽ một thời cũng không huy động được quần chúng ủng hộ và kết quả nhanh chóng tan rã, đi đến thất bại, tàn rụi theo năm tháng.

Cũng có những cuộc khởi nghĩa chống Minh của con cháu Hồ Quý Ly nhưng dù biểu hiện lòng yêu nước, khát vọng chống ngoại xâm nhưng lãnh tụ thường cục bộ, những khuynh hướng chính trị hẹp hòi, không đoàn kết đem theo bao nhược điểm và sai lầm chủ quan dẫn cuộc kháng chiến chống Minh đến chỗ bại vong.

Từ những bài học kinh nghiệm chết người đó mà cuộc khởi nghĩa Lam Sơn từ lúc bình minh, Lê Lợi đã chuẩn bị ngã theo một hướng đoàn kết cùng sinh tử có nhau. Mười chín thanh niên yêu nước đồng tham dự hội thề Lũng Nhai cùng hơn năm mươi tướng văn, tướng võ của nghĩa quân cho một quyết tâm lấy sanh mạng làm niềm tin quyết thắng.

Từ núi rừng Lam Sơn và Thanh Hóa đã đón chào những công dân ưu tú của mọi miền đất nước chung lòng, đồng sức,   cùng hội tụ về đây: nào Nguyễn Xí từ Thượng Xá, Nghệ An; Nguyễn Trãi từ Thăng Long, Hà Nội; Phạm Văn Xảo từ vùng kinh lộ, Thăng Long; Trần Nguyên Hãn từ Sơn Đông, Vĩnh Phúc; Bùi Quốc Hưng từ Cống Khê, Hà Tây; Lưu Nhân Chú cùng cha là Lưu Trung, anh rể là Phạm Cuống từ Đại Từ, Thái Nguyên… và hàng trăm thanh niên ưu tú nhất tề tập hợp thêm anh hùng hào kiệt bốn phương xây nên binh hùng tướng mạnh Lam Sơn tụ nghĩa.

Nhờ sự tổng hợp của trí thức, hoàng gia, nông dân, thợ thuyền, nhân dân nam nữ các cấp một lòng yêu nước nên dễ dàng thu nhiếp những cuộc khởi nghĩa khác quy về một mối như trên đất Thanh Hóa, Nguyễn Chích là một nông dân nghèo đã cầm đầu một cuộc khởi nghĩa khá lâu từ căn cứ núi Nghiêu-Hoàng đã mở rộng hoạt động khắp vùng nam Thanh Hóa, bắc Nghệ An nhưng rồi nghe danh Lam Sơn nên Nguyễn Chích đã sớm hưởng ứng hịch cứu nước của Lê Lợi,  đem toàn bộ lực lượng gia nhập khởi nghĩa Lam Sơn.

Hữu xạ tự nhiên hương, đất Nghệ An có các lực lượng chống Minh như Phan Liêu, Lộ Vãn Luật ở Ngọc Ma, Nguyễn Biên ở Động Choác, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh; Nguyễn Vĩnh Lộc ở Trang Niên, Yên Thành, Nghệ An; đều tự nguyện gia nhập hàng ngũ nghĩa quân Lam Sơn, đứng dưới lá cờ cứu nước của Bình Định Vương Lê Lợi.

Nhờ sự tài tình vận dụng được sức mạnh muôn dân thì kháng chiến chống Minh đến cuối cùng nhất định phải thắng lợi. Đó là yếu tính nhân quả của văn hóa dân tộc Đại Việt từ ngàn xưa, niềm tin quyết thắng.

====

     

THĂNG HOA CUỘC ĐỜI

Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng

Kỳ 79 Quân Sư Nguyễn Trãi Anh Tài 

   Lam Sơn nằm ở hợp lưu sông Âm và sông Lương tức sông Khải Lam, chảy theo tả ngạn có sông Sảo ngược lên Bát Mọt, phía hữu ngạn có sông Dặt chảy qua vùng Trịnh Vạn là căn cứ địa của các triều Lê Trung Hưng thế kỷ thứ mười tám sau này. Phía tây bắc có huyện Lạc Thủy, phía nam là huyện Cổ Lôi thuộc thị trấn Lôi Dương với vùng đất Ba Cồn xảy ra trận huyết chiến với Mộc Thạnh nên còn đền thờ tên giặc này ở ngay bờ sông Khải Lam cạnh bến phà Mục Sơn nối hai miền Thượng du ngược và miền Kinh xuôi , thông qua ngả thị xã Thanh Hóa đến vùng Thọ Xuân băng ngang đập Sóp Sim thuộc miền Quan Hóa nơi hai tráng sĩ Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn hơn một lần dò hỏi người cầm đầu khởi nghĩa chống quân Minh.

Bến phà Mục Sơn rất sầm uất kẻ qua người lại, thuyền chài tấp nập thương lái buôn bán ngược xuôi. Một hôm người chài lưới tên Nguyễn Thận ra giữa dòng sông quăng lưới kéo lên được thanh kiếm sắt, ông thả lại sông rồi tiếp tục chài lưới. Cả ba lần kéo lên bỏ xuống đều chài được thanh kiếm sắt này nên đành mang về nhà. Khi Lê Thận gia nhập đoàn quân khởi nghĩa Lam Sơn với nhiều thành tích vào sinh ra tử nơi trận mạc để tiêu diệt lũ giặc ngoại xâm, nhân cơ hội chủ tướng Lê Lợi đến nhà Lê Thận ăn giỗ rồi phát hiện trong gian phòng tối om lại có luồng hào quang từ thanh sắt tóe lên ánh sáng thần kỳ. Lê Lợi đến gần cầm lấy xem và nhận ra có hai chữ “Thuận Thiên” khắc sâu vào lưỡi kiếm, vì Thuận Thiên nên trao cho Lê Lợi bởi ý nghĩa từ lòng nước, phải do con người năng động tạo nên văn hóa sông nước lúa khoai để trao cho người xứng đáng, người chài lưới vẫn không quên sứ mệnh trao lại lưỡi gươm thần bảo quốc an dân cho chủ soái Lam Sơn làm thống suất. Lúc ra về, Lê Lợi bắt gặp một chuôi kiếm thật đẹp nằm trên vệ đường liền nhặt lên rồi lắp lưỡi vào chuôi thì kỳ lạ thay, vừa vặn khớp nhau.

Đất Lam Sơn bao bọc một vùng rừng núi trù phú với các địa điểm từng ghi dấu ấn của cuộc khởi nghĩa chống nhà Minh. Uyên Thọ Xuân, Ngọc Lặc, Thường Xuân đến những nơi xa hơn như Thiệu Hóa, Đông Sơn Hoằng Hóa, Quảng Xương đều lưu lại những chứng tích hoặc di tích hay huyền thoại không kém phần linh ứng. Rừng Lim gần Lam Sơn là quân trường thao tập cho nghĩa quân ngày đêm, có những vòng tròn từng cây lim cổ thụ là nơi Nghĩa Quân thường buộc chân voi. Xã Thọ Hải có dốc Hương là nơi dân chúng tụ hội đốt hương đón chào đoàn quân khởi nghĩa ca khúc khải hoàn, làng Xuân Phá sản sinh những quyền thuật lồng dưới điệu múa Bình Ngô phá trận, chư hầu lai triều để rèn luyện thanh niên nam nữ ứng biến nhanh lẹ trong nghệ thuật phòng thân, phản công hay chiến đấu trong điều kiện tay không. Mỗi làng xã đã khẳng định tấm lòng yêu nước của người dân quê đầy trung hậu nhưng kiên quyết, đầy nhân từ nhưng luôn cảnh giác cao độ.

Ca dao có câu “Sông Cầu Chày chó lội đứt đuôi” đã nhắc đến sự tích người nông dân đánh lừa đoàn quân Minh để giúp Lê Lợi có thời gian chạy thoát khi quân giặc bao vây vùng yên Định hướng đông bắc Lam Sơn. Mấy tháng sau, khi Lê Lợi đem nghĩa quân ngang qua huyện Ngọc Lặc thì thấy một thây ma vô chủ đang chết giữa đường, động lòng nhân từ, ông bèn sai đào huyệt chôn cất tử tế thì vừa lúc ấy quân nhà Minh mai phục xông lên vây đánh. Lê Lợi chạy vào gốc cây Xé thật to thì quân Minh vừa trờ tới, chúng lấy giáo đâm túi bụi vào gốc cây Xé trúng vào đùi Lê Lợi, ông vội lấy vạt áo chùi máu nên không bị phát hiện. Đến lượt chó ngao đánh hơi thì một chú kỳ đà từ trên cao nhảy xuống khiến lũ chó đuổi theo bắt kỳ đà, nhờ vậy mà Lê Lợi thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Do đó mà cánh đồng chó đã nên danh từ đấy và gốc cây Xé trở nên linh mộc được dựng miếu thờ tự. Chính chú kỳ đà là hiện thân của người đàn bà xấu số vừa được an táng nên báo ơn cứu mạng Lê Lợi khiến người dân ở vùng Kiên Thọ, Nguyệt Ấn thuộc huyện Ngọc Lặc không bao giờ săn bắt kỳ đà làm thịt. Kiên Thọ cũng là quê hương của Tráng Sĩ “dịch bào thế quốc” Lê Lai, tức là người anh hùng đổi áo thay mặt vua, vị quốc vong thân. Vùng Ngọc Lặc có nhiều đồng bào Mường cư ngụ, xa hơn về hướng tây bắc ở đất Lạng Thánh, Bá Thước thì có dân tộc Thái cư trú; những sắc dân thiểu số này đã hợp lực với người Kinh để chống quân Minh là một tình cảm thiêng liêng tiêu biểu cho tinh thần đoàn kết dân tộc chống ngoại xâm thời kỳ chống bắc thuộc lần thứ tư.

Phía tây nam Lam Sơn có huyện Thường Xuân, Như Xuân và Trường Xuân là vùng đất có đặc sản quý hiếm về loài dược mộc tức cây quế đã nổi danh khắp nước từ xưa đến nay. Trên vùng đồi Thường Xuân có một hòn đá phẳng phiu day mặt về dòng Lam Giang là nơi nghĩa quân quy tụ dưới trăng mài kiếm tập luyện thi thố tài năng. Một hôm Lê Lợi cùng nghĩa quân đang nghỉ chân trên hòn đá lớn thì các bô lão trong làng mang một bình rượu hiến tặng. Cảm kích tấm lòng của những người dân chất phác nhưng chỉ có một vò rượu mà quân sĩ quá đông, Lê Lợi bèn mang chum rượu đổ xuống dòng sông Lam Giang rồi cùng ba quân tướng sĩ múc uống, ai nấy cùng hoan hỷ vô ngần nên từ đó hòn đá được đặt tên là hòn Khao, tức là khao quân đãi tiệc. Trong Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi có viết nên câu: “Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào” phải chăng diễn tả lúc ba quân đồng lòng hiệp sức mà mang đến thành tựu vẻ vang, dựng  độc lập, tự chủ cho nước nhà muôn thuở.

Đất Lam Sơn đã đi vào lòng người vì nơi ấy đã trở thành chiến tích, tuy nhiên một địa danh quan trọng trong tiến trình khởi nghĩa vào ngày mùng Hai tháng Giêng năm Mậu Tuất (1814) chính là nơi Mường Tẩm (Mường tẩm tức là Mường chính thuộc xã Quang hiếu, quận Lan chánh ngày nay) xã Quang Hiếu, huyện Lang Chánh, bản Mường này cách Lam Sơn khoảng chừng ba mươi dặm nằm lọt trong khu núi rừng hiểm trở, chung quanh có các bản Mường Rang, Mường Giao Lão đầy cây cao bóng mát phủ che, để đánh lạc hướng của quân địch nhà Minh, Lê Lợi đã chọn một địa thế vừa hiểm trở, vừa bảo mật mà đường giao thông cũng có thể tiến thối an toàn.

   Tại làng Chi Ngại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương có một thanh niên nho sĩ văn hay chữ tốt tên là Nguyễn Ứng Long tức Nguyễn Phi Khanh(Nguyễn Phi Khanh: Ông sinh năm 1355 tại xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, Hà Tây. Ông tên thật là Nguyễn Ứng Long, sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống võ tướng. Nhưng ông lại là người say mê văn chương, am tường kinh sách, thơ phú, nên thuở trẻ khi chưa đỗ đạt, ông được quan Tư đồ Trần Nguyên Đán mời vào dạy học cho con gái đầu là Trần Thị Thái. Đó cũng là cơ duyên để ông trở thành con rể của vị Tư đồ danh tiếng này. Và vì thế, từ trước đến nay, ông được biết đến nhiều có lẽ chủ yếu là vì ông là con rể Trần Nguyên Đán và là cha đẻ của Nguyễn Trãi, người anh hùng dân tộc văn võ kiêm toàn hơn là với tư cách một nhà thơ tiêu biểu của thời Vãn Trần. Ông để lại nhiều tác phẩm có đóng góp quan trọng vào sự phát triển của lịch sử văn học thời đó. Ông bị quân Minh bắt đem về Tàu năm 1407 và mất khoảng năm 1428) cưới con gái của quan Tư đồ Trần Nguyên Đán là Trần Thị Thái sinh ra Nguyễn Trãi năm Canh Thân (1380), tư chất thông minh, học hành thông đạt từ thuở nhỏ. Năm Canh Thìn (1400), Hồ Quý Ly phế truất vua Trần Thiếu Đế, lật đổ nhà Trần,  thành lập nên triều đại nhà Hồ; để kén chọn anh tài giúp nước, cũng trong năm đó, nhà Hồ mở khoa thi Nho học, Nguyễn Trãi tham dự và đỗ Thái học sinh, đứng hàng thứ tư nên được trao chức Ngự sử đài Chính chưởng. Nguyễn Phi Khanh cũng ra làm quan đến chức Hàn Lâm viện học sĩ kiêm Tư nghiệp Quốc Tử Giám. Năm Đinh Hợi (1407), Minh Thành Tổ phái Trương Phụ đem quân xâm lược nước Đại Ngu, nhà Hồ kháng chiến thất bại, Hồ Quý Ly cùng nhiều triều thần bị bắt và bị đem về Tàu, Nguyễn Phi Khanh cũng chung số phận nên trước lúc từ biệt gia đình, dặn dò Nguyễn Trãi phải tìm mọi cách để đánh đuổi giặc ngoại xâm.

   Sau khi từ biệt cha, Nguyễn Trãi lênh đênh khắp chân trời góc biển, ngày nọ qua ngày kia mà không làm sao tìm được minh quân. Suốt chặng đường mười năm phiêu lãng, Nguyễn Trãi có cơ hội nghiên cứu phương sách diệt giặc Minh, cứu muôn dân đồ thán.

   Một hôm Nguyễn Trãi kết giao với người anh em phía ngoại tức Trần Nguyên Hãn và cả hai nghe tiếng của Lê Lợi đất Lam Sơn là người đang chiêu nạp anh tài giúp nước. Hai người ngày đi đêm nghỉ, chẳng bao lâu tới được đất Lam Sơn, bọn họ cùng nán lại giả làm kẻ buôn bán để dò la tin tức. Quả nhiên mỗi ngày đều thấy các anh hùng kéo tới tụ hội khá đông nên Nguyễn Trãi quyết định ra mắt Lê Lợi bằng bản sách nghiên cứu chống Minh tên là Bình Ngô sách lược, trong đó Nguyễn Trãi vạch ra ba kế sách đánh quân Minh mà chủ yếu là “tâm công”, đánh vào lòng người để đi đến chiến thắng.  Lê Lợi xem xong lòng rất hoan hỷ, phục tài hiểu thấu binh thư mà văn phong sáng tỏa uyên thâm, liền trọng vọng rồi mời Nguyễn Trãi vào Ban tham mưu.

         Thật ra, khi nhà Hồ mất, quân Minh xâm lược, trăm họ lầm than, Trần Nguyên Hãn người huyện Lập Thạch, cháu nội Tư đồ Trần Nguyên Đán, có học thức, giỏi binh pháplà nhà quân sự, thông thái thuộc dòng dõi nhà Trần nuôi chí cứu đời giúp dân. Một hôm đến lễ thần ở đền Bạch Hạc, thấy thần ở đền núi Tản Viên bảo với thần ở đền Bạch Hạc rằng trời đã sai Lê Lợi, người ở Lam Sơn làm vua nước An Nam. Vì thế ông mới vào Thanh Hóa tìm Lê Lợi, một lòng theo. Lê Lợi biết tài lược của ông, đãi ngộ rất hậu, cho dự bàn mưu kín, cho theo đánh giặc luôn lập công. Năm Ất Tỵ (1425), ông được Lê Lợi lệnh cho ông cùng Thượng tướng Lê Nỗ, chấp lệnh Lê Đa Bồ đem hơn 1000 quân và một con voi đi đánh các xứ Tân Bình, Thuận Hóa (tức là các tỉnh từ Quảng Bình đến Thừa Thiên-Huế ngày nay), bao vây Đông Quan, công phá thành Xương Giang và chặn đường tiếp tế của quân Minh trong Trận Chi Lăng, Xương Giang đem đến thắng lợi cho nghĩa quân Lam Sơn năm 1427.

====

     

THĂNG HOA CUỘC ĐỜI

Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng

Kỳ 80 Chung Một Lời Thề

   Cùng nhau chung một lời thề; Hết quân xâm lược mới về bên nhau!Để có một đội ngũ những người tâm huyết, tin yêu và trung thành với lý tưởng phục vụ dân tộc, vì đại nghĩa giải phóng đồng bào khỏi ách nô lệ của giặc Minh, sau khi đã có nhiều anh hùng hào kiệt khắp nơi kéo về quy tụ, qua những cuộc bàn bạc về kế sách đánh đuổi giặc Minh, chủ trại Lam Sơn không thể không kết thâm tình cùng sống cùng chết với những anh hùng nghĩa hiệp khác, do đó trong cuộc họp dưới ánh trăng với nhiều nghĩa sĩ khác, Lê Lợi đã đề nghị kết tình thâm nguyện cùng sống chết trung thành tuyệt đối với lý tưởng cao quý đánh đuổi ngoại xâm. Chẳng ngờ vừa đưa ra ý kiến thì toàn bộ ban tham mưu đồng nhất tề hưởng ứng đòi chích máu ăn thề như Lưu Bị, Quan Công, Trương Phi của Hội Bàn Đào (Hội bàn đào là Lưu Bị kết giao với Quan Vũ và Trương Phi ở gốc cây đào sau khi ăn tiệc. Ba người rất thân thiết với nhau, coi nhau như anh em một nhà. Lưu bị làm anh, đến Quan Vũ tức Quan Vân Trường và em út là Trương Phi) ngàn năm về trước.

Bấy giờ giặc Minh lùng sục giữ lắm, Lê Lợi chọn một nơi vừa linh thiêng, vừa bí mật mà cũng là nơi lui tới của nghĩa quân, đó là Lũng Nhai tại làng Lũng Mi, xã Ngọc Phụng, huyện Thường Xuân. Nơi đây có một bãi đất vuông vức, sạch sẽ, cây cối chung quanh che mát. Buổi sáng ngày Mùng Một tháng Hai năm Bính Thân (1416) khi núi rừng còn chìm trong sương sớm, Lê Lai đã chuẩn bị hương hoa trà quả, đèn đuốc sáng trưng, rượu cất mấy vò và bánh mứt vài mâm. Ánh bình minh vừa chiếu tia nắng xuyên qua rừng cây tỏ lộ mọi vật thì mười tám tráng sĩ y phục chỉnh tề cũng vừa kéo đến. Những người này không ai nói với ai, sự trang nghiêm tuyệt đối đó đã toát lên tính chất linh thiêng, huyền diệu mà hồn thiêng sông núi đang tỏa sáng bước đi đại nghĩa của những anh hùng kiệt xuất này. Theo tuần tự thứ lớp, mười tám nghĩa sĩ tề tựu ngay ngắn trước bàn thờ tổ quốc với khói hương nghi ngút gồm có:

Người thứ nhất là Lê Lai (1380 – 1419) là người làng Dựng Tú, sách Đức Giang, huyện Lương Giang, phủ Thanh Hóa. Ông sinh năm Canh Thân (1380), tính tình cương trực, dung mạo khác thường, chí khí cao cả, lẫm liệt, giàu lòng yêu nước, căm thù giặc Minh. Lê Lai cùng Lê Lợi và mười bảy người tổ chức hội thề Lũng Nhai nguyện một lòng đánh giặc cứu nước, ông được trao chức Tổng quản phủ Đô, tước quan nội hầu.

     Ngày 18 tháng 8 năm Kỷ Hợi (1419), khi nghĩa quân bị giặc Minh vây hãm trên núi Chí Linh lần thứ hai, không còn đường rút lui, tình hình trở nên cấp bách, Lê Lợi họp các tướng bàn cách thoát hiểm, nhiều tướng đòi quyết chiến với giặc, riêng Lê Lai đã xin liều mình đổi áo cứu Lê Lợi, bảo toàn lực lượng nghĩa quân, ông nói: “… Bây giờ nguy khốn thế này, nếu ngồi giữ được mảnh đất nguy hiểm, Vua tôi đều bị tiêu diệt, sợ sẽ vô ích, nếu theo kế này may ra có thể thoát được, kẻ trung thần chết vì nước nào có tiếc gì…”, sau đó Lê Lai dẫn hai thớt voi và năm trăm quân sĩ xông tới doanh trại giặc quyết chiến và hi sinh anh dũng năm Kỷ Hợi (1419). Sau khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn giành thắng lợi hoàn toàn, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế năm Thuận Thiên thứ nhất (1428), xét công văn thưởng cho các vị khai quốc công thần, Lê Lai được phong làm công thần hạng nhất, tặng là: “Suy trung đồng đức, hiệp mưu bảo chính Lũng Nhai công thần”, hàm thiếu úy, thụy là Toàn Nghĩa. Tháng Mười hai năm Thuận Thiên thứ hai (1429), vua sai Thượng thư hành khiển Nguyễn Tiến viết hai bản thề ước trước và lời thề ghi nhớ công lao của Lê Lai để trong rương vàng, lại gia phong cho ông hàm Thái úy.

Năm Thái Hòa thứ nhất Quý Hợi (144) đời vua Nhân Tông, Lê Lai được ban tặng là Bình Chương quân quốc Trọng sự, ban cho túi kim ngư (túi cá vàng) và Kim Phù (ấn bằng vàng), tước huyện thượng hầu. Năm Canh Dần, niên hiệu Hồng Đức thứ nhất (1470) – đời vua Lê Thánh Tông, ông được tặng là Diên Phúc  Hầu.

Năm Giáp Thân niên hiệu Hồng Đức thứ mười lăm (1484), ông được tặng Thái úy Quốc công, sau gia phong là Trung Túc Vương.

Người thứ hai là Lê Thận tên thật là Nguyễn Thận, người sách Mục Sơn, huyện Cổ Lôi thuộc thị trấn Lam Sơn, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Lê Thận là một chàng trai khỏe mạnh, thạo nghề đánh cá, vào một đêm Lê Thận quăng lưới kéo được gươm thần từ dòng sông Chu, ông đem dâng Lê Lợi, hôm sau Lê Lợi bắt được chuôi gươm ở gốc đa vừa khớp với lưỡi gươm, từ đó Lê Lợi tin là có điềm tốt và Lê Thận dốc lòng phục vụ Lê Lợi.

 Sau Hội thề Lũng Nhai, Lê Thận đã cùng nhiều nghĩa sĩ tổ chức nhiều trạm đón tiếp các tráng sĩ từ khắp mọi miền gia nhập nghĩa quân Lam Sơn.

  Ngày mùng hai tháng giêng năm Mậu Tuất (1418), Lê Lợi dựng cờ khởi binh đánh giặc, xưng là Bình Định Vương, Lê Thận được trao chức Thứ thụ kỵ binh trong quân thiết đột, Lê Thận cùng Lê Văn An, Lê Văn Linh, Bùi Quốc Hưng,… là những văn thần, võ tướng luôn sát cánh bảo vệ Bình Định Vương Lê Lợi vượt qua bao nguy hiểm, đóng góp nhiều công lao to lớn trong việc đánh đuổi giặc Minh xâm lược, đem độc lập cho dân tộc.

   Sau khi đất nước hoàn toàn hết bóng giặc Minh, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế (1428), Lê Thận được xếp vào hàng thứ hai công thần Lũng Nhai, được phong là Trung Lượng đại phu, coi các vệ quân tả hữu Phủng thần, tước Đại trí tự.

Năm Thuận Thiên thứ hai (1429), Lê Thận được phong Á hầu. Đến đời vua Lê Thái Tông, Lê Thận được phong là Nhập nội Thiếu úy Tham tri việc quân các vệ thuộc Tây đạo. Tháng Sáu năm Đinh Tỵ, niên hiệu Thiệu Bình thứ tư (1437), Lê Thận được đổi sang Tham tri Bắc đạo, sau đó ông được cử giữ chức Tư Mã coi các vệ quân Bắc đạo, tham tri chính sự; tháng Tám cùng năm Lê Thận cùng Đỗ Đại, Lê Xí, Lê Thụ coi việc tứ tụng, đến đời Lê Nhân Tông, niên hiệu Thái Hòa (1443), Lê Thận được thăng chức Nhập nội kiểm hiệu Tư đồ Bình Chương sự. Năm Bính Dần (1446) Lê Thận cùng các tướng Trịnh Khả, Lê Khắc Phục đem quân đi dẹp giặc Chiêm Thành thắng lợi.

     Năm Mậu Thìn (1448), vua Lê Nhân Tông xa giá về Tây Kinh (Lam Kinh), Đại Tư đồ Lê Thận cùng Đô áp nha Lê Bí được giao trọng trách Lưu thủ kinh sư, tháng Bảy năm đó ông mất, được truy tặng là Bình Chương quân quốc trọng sự. Năm Hồng Đức thứ mười lăm (1484) Lê Thận được tặng Thái phó Hoằng quận công.

Người thứ ba là Lê Văn Linh, quê ở xã Bảo Đà, huyện Lôi Dương, phủ Thiệu Thiên, xứ Thanh Hoa. Ngày mùng một  tháng hai năm Bính Thân (1416) Lê Văn Linh là người đứng đầu trong số ba văn thần có mặt trong hội thề Lũng Nhai đó là Lê Văn Linh, Nguyễn Trãi, Bùi Quốc Hưng. Ông là người đứng hàng thứ tư trong số mười chín người tham gia hội thề sau Lê Lợi, Lê Lai và Nguyễn Thận tức Lê Thận.Ông tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn ngay từ những ngày đầu, có những đóng góp to lớn trong việc đánh đuổi giặc ngoại xâm giành độc lập cho nước nhà. Khi Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa thì Lê Văn Linh cùng Nguyễn Tiến và Bùi Quốc Hưng là ba văn thần của nghĩa quân Lam Sơn từng vạch ra sách lược giúp Lê Lợi và được Lê Lợi ủy thác tất cả các việc quân cơ nội vụ. Mùa xuân năm Mậu Thân (1428), sau khi đất nước độc lập, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Thuận thiên năm thứ nhất, khi xét công ban thưởng cho các công thần, binh sĩ. Lê Văn Linh được phong là Bình Ngô khai quốc, Hiệp mưu bảo chính đại công thần, Nhập nội kiểm hiệu Bình Chương quân quốc trọng sự thiếu bảo, tước Khánh An hầu.

Người thứ tư là Lê Văn An sinh năm Giáp Tý (1384) tại sách Mục Sơn huyện Cổ Lôi, trấn Thanh Hoa. Từ năm mười ba tuổi Lê Văn An đã kết bạn với Lê Lợi, hai người lại cùng học một thầy nên thân nhau như anh em ruột. Lê Văn An tính tình điềm đạm, văn võ song toàn, luôn xung phong xông trận, Lê Văn An đã cùng với Lê Sát, Lê Ngân tấn công giặc Minh, bắt sống tướng giặc Chu Kiệt, chém tướng giặc Hoàng Thành tại ải Khả Lưu; cùng với Lê Ngân, Lê Bôi tiến công giải phóng châu Tân Bình và Thuận Hóa; vây hãm buộc giặc tại Nghệ An và thành Diễn Châu phải đầu hàng; cùng với các tướng Lưu Nhân Chú, Lê Sát, Lê Lý, Lê Vấn, Lê Khôi bao vây, truy sát, bắt sống tướng giặc là Thôi Tụ và Hoàng Phúc tại tả ngạn sông Hồng.

Sau mười năm kháng chiến gian khổ, với sự chỉ huy thiên tài của Bình Định Vương Lê Lợi đất nước độc lập. Sau khi lên ngôi, Lê Lợi đã ban thưởng cho Lê Văn An chức Nhập nội Thiếu úy, Tư Mã, suy chung bảo chính công thần, tham dự triều chính. Năm Thuận Thiên thứ hai (1429), Lê Lợi cho khắc biển ghi danh các vị khai quốc công thần, Lê Văn An được phong tước Đình Thượng hầu. Năm Nhâm Tý niên hiệu Thuận Thiên thứ năm (1432), Lê Văn An được gia phong Tán trị hiệp mưu công thần, Nhập nội kiểm hiệu Đại tư không Bình chương quân quốc trọng sự.

Năm Giáp Dần niên hiệu Thiệu Bình thứ nhất (1434), Lê Thái Tông phong cho Lê Văn An tước Đình hầu Duệ quốc công, Cái Bắc đạo Đô đốc Đồng tổng quản, lĩnh ấn tiên phong đem quân ngự tiền, quân thiết đột và quân bắc đi dẹp phản loạn ở Lạng Sơn. Đến đời Lê Thánh Tông, Lê Văn An được gia phong là Khắc quốc công. Cả cuộc đời Lê Văn An, kể từ khi là bạn học với Thái Tổ hoàng đế đến mười năm nếm mật, nằm gai trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh cũng như trong thời bình, Lê Văn An luôn tận tâm, tận lực với dân, với nước, là bề tôi tận trung với Vua.

Người thứ năm là Trịnh Khả sinh năm Quý Mùi (1403) tại làng Sóc Sơn, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa, Trịnh Khả là người đứng hàng thứ năm trong số người cùng Lê Lợi tham gia Hội thề Lũng Nhai. Trong những ngày đầu của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, Trịnh Khả đã có nhiều công trong việc bảo vệ Lê Lợi đồng thời góp phần giao thiệp để Vua Ai Lao ủng hộ quân, lương, khí giới, voi chiến cho nghĩa quân Lam Sơn; Trịnh Khả là tướng dũng cảm trong trận mạc, thường đi tiên phong trong các trận chiến với giặc tại Thanh Hóa, Diễn Châu, Nghệ An, chỉ huy nghĩa quân vây thành Đông Đô, giữ vững ải Lê Hoa và góp phần đánh tan viện binh nhà Minh do Liễu Thăng và Mộc Thạch chỉ huy.

Năm Mậu Thân (1428), sau khi lên ngôi Hoàng đế, Lê Lợi phong cho Trịnh Khả làm Kim tử vinh lộc đại phu Tả Lân hộ vệ tướng quân, được ban túi kim ngư, ngân phù.

Năm Thuận Thiên thứ hai (1429), Lê Thái Tổ cho khắc biển công thần khai quốc, Trịnh Khả được phong là Liệt hầu, coi giữ trong cung điện và giữ chức Đô Thái giám bốn đạo, cai quản mọi việc trong ngoài, kiêm an phủ sứ ở Tuyên Quang, sau đó Trịnh Khả được gia phong chức Hành quân tổng quản xa kỵ quân sự đồng tổng quản, lĩnh các đội Thiết đột. Năm Thuận Thiên thứ sáu (1433), Trịnh Khả được thăng làm Bảo chính công thần gia kim tử vinh lộc đại phu Lương Giang trấn quán quân tướng quân, Nhập nội thiếu bảo tham tri quân sự các vệ thuộc đạo Hải Tây và chức Thái giám, coi các việc trong ngoài, Trụ quốc, ban kim ngân phù. Năm 1484, Lê Thái Tông truy tặng Trịnh Khả làm thiếu phó liệt quốc công, sau lại truy tặng làm Hiển Khánh Vương.

NHƯ NINH NGUYỄN HỒNG DŨNG




LÊ VĂN HẢI: Kính Mời Tham Dự: CHƯƠNG TRÌNH Tiếng Việt Còn, Nước Việt Còn!

Tiếng Việt Còn, Nước Việt Còn!

Trong mục đích lan tỏa và gìn giữ tiếng Việt đến thế hệ trẻ sống ở hải ngoại, vùng Bắc Cali (Vừa vui, vừa học!)

i0-i0o-o-oo-o==p.jfif

-Trân trọng giới thiệu một chương trình văn nghệ đặc sắc quy mô, chuẩn bị công phu cả năm, dành riêng cho giới trẻ, nhất là các em thiếu nhi, trong Mùa Lễ Tạ Ơn năm nay. Vào cửa, thức ăn nhẹ, nước giải khát, giải thưởng các trò chơi, hoàn toàn miễn phí!

Năm ngoái buổi Văn nghệ Tạ Ơn này, do VTLV bảo trợ, tại Cà phê Lover, đã thành công rực rỡ, quán không còn một chỗ trống. Tràn ngập lời khen từ Khách tham dự!

Thừa thắng xông lên! năm nay, BTC đã thuê mướn hội trường, lớn hơn gấp 4 lần, hy vọng mới đủ sức chứa!

Khó có chương trình nào dành riêng cho giới trẻ Việt vùng Bắc Cali, hay hơn chương trình này cả! rất nhiều phụ huynh cổ võ tiếp tục! Một năm mới có một lần, các phụ huynh có con em nhỏ, đây là dịp vui, vừa học tiếng Việt, nét đẹp văn hóa Việt, xin đừng bỏ qua!

Xin coi slideshow đính kèm, để ngạc nhiên, khen ngợi, cho những “nghệ sĩ tí hon!” nhưng tài năng không thua gì người lớn! Giới thiệu một số hình ảnh các em tham dự trình diễn, trong buổi “event” chủ đề “Tạ Ơn” năm nay.

https://youtu.be/MreIlk4l_ns

Nhớ ngày vui này nhé: Thứ Bảy, ngày 9 tháng 11 năm 2024, từ 2 giờ đến 6 giờ chiều

Tại Yerba Buena High School – Student Union Hall

1855 Lucretia Ave, San Jose, Ca 95122

Chương trình với trên hàng chục tiết mục trình diễn, lôi cuốn, trò chơi nào cũng hay, đặc sắc, chưa bao giờ thấy! chưa bao giờ có. Phải tham dự tận mắt mới tin!

(Quý Ân nhân muốn bảo trợ, hay muốn biết thêm chi tiết, xin theo dõi Flyer đính kèm)

the he tre Thanksgiving (2).png

IMG_3596.jpg

Trân trọng kính mời

Trưởng BTC: Anh Lê Văn Hải




KIỀU MỸ DUYÊN: Chương Trình “CÁI NHÀ LÀ NHÀ CỦA TA” Cùng Nhiều Thông Tin Hữu Ích.




KIỀU MỸ DUYÊN: NHÀ VĂN TRỊNH Y THƯ RA MẮT SÁCH.




Mùa Thu Trên Thung Lũng Hoa Vàng -Tùy Bút Louis Tuấn Lê.

image.png

Mùa Thu Trên Thung Lũng Hoa Vàng
San Jose Miến Bắc Cali.
Tùy Bút Louis Tuấn LêMùa thu đến rất âm thầm và thật kín đáo, cây lá từ từ chuyển màu, cảnh vật từ từ thay đổi, nhẹ nhàng xoay chuyển. Bởi vì mùa thu là mùa của tâm thức, mùa của sự lắng nghe hơi thở đến từ tâm hồn, lắng nghe làn sương khuya ẩm ướt phủ lên cây lá, lắng nghe làn sương khói bảng lảng nhạt nhòa, bay bay.
Mùa thu nơi đây chính là mùa cảm nhận bước chuyển đưa xao xuyến của núi đồi, cỏ cây, của phố núi mây trôi. Mùa thu nơi đây chỉ được phát hiện từ tâm hồn thật lãng mạn của một thi nhân, đi tìm những khoảng trống mơ hồ của không gian và thời gian, hay đi tìm một chút hư vô trong làn sương khói nhẹ bay.

Mùa thu Thung Lũng Hoa Vàng dường như mọi thứ như chậm lại một chút, như thể em vừa bừng tỉnh vì buổi trưa quá giấc, uể oải và lơ đãng hơn một chút. Những buổi sớm mai sương khói nhiều hơn bay là đà trên những ngọn cây, làm cho góc phố vơi bớt đi ồn ào trở nên lắng đọng hơn.
Người nghệ sĩ chưa kịp phân biệt mùi hoa cải nơi đây với mùi hoa cả vàng của mùa thu nơi khác. Nhưng dường như cả hai đã tan vào trong nhau vì mùa thu đến nơi đâu thì nơi ấy đều giống nhau.
Tôi ghi lại một vài cảm xúc về mùa thu trên
Thung Lũng Hoa Vàng San Jose.

Người nghệ sĩ lang thang trong tâm tưởng.
Tế Luân

image.png
Thung Lũng Hoa Vàng

Thung lũng hoa vàng hương cải bay
Thảo nguyên cỏ biếc đến nơi này
Làm sao lòng chẳng mê cho được
Mấy độ thu về chén rượu say.

Phố núi bình yên vọng tiếng ru
Đồi cao thấp thoáng khói sương mù
Mùi hoa cải dại thơm hương tóc
Thung lũng hôm nay vàng nắng thu.

Em bước chân về theo lối mòn
Thương màu kỷ niệm dấu hương son
Mùa thu phố núi còn thương nhớ
Nhớ chút hương xưa mộng vẫn còn.

Tế Luân

Mời đọc trang Tùy Bút Những vần Thơ Mùa Thu trên thung Lũng Hoa vàng Xem những hình ảnh đẹphttps://cuocsongthica.blogspot.com/2024/10/nhung-van-tho-mua-thu-tren-thung-lung.html




VBS-KIEU MY DUYEN SHOW – PHỎNG VẤN HÒA THƯỢNG THÍCH NHƯ ĐIỂN & HÒA THƯỢNG THÔNG TRIẾT




BẦU CHO AI? – GIAO CHỈ SAN JOSE

A voter casts a ballot during the Super Tuesday primary at a polling station in an American Legion Post in Hawthorne, California, March 5, 2024. Americans from 15 states and one territory vote simultaneously on “Super Tuesday,” a campaign calendar milestone expected to leave Donald Trump a hair’s breadth from securing the Republican Party’s presidential nomination. (Photo by Patrick T. Fallon / AFP) (Photo by PATRICK T. FALLON/AFP via Getty Images)

Sau nửa thế kỷ công dân, bầu cho người nào?                            

 Giao Chỉ, San Jose.                                                                                                

Hôm nay, gia đình chúng tôi nhận được hồ sơ bầu cử bằng thư. Chuyện bầu cử năm nay xem ra cực kỳ quan trọng, đặc biệt là chức vụ tổng thống. Không quan tâm thì thôi, nếu quan tâm mà lại nhiệt thành với một phía thì rất mệt. Xem qua danh sách tại vùng San Jose, các ứng cử viên hầu hết thuộc Đảng Dân Chủ. Phần lớn đã từng sống ở địa phương này nửa thế kỷ, nên các vị dân cử mới hay cũ chúng ta đều biết tiếng.

Quý vị hỏi tôi bầu cho ai? Xin phép trả lời. Chức vụ tổng thống có 6 vị ghi danh. Ông Trump (Cộng Hòa) và bà Harris (Dân Chủ). Còn 4 vị khác ghi danh thuộc các đảng Hòa bình, Độc lập, Tự do, v.v. Đại diện 2 đảng chính là Cộng Hòa và Dân Chủ, đàn ông và đàn bà. Nước Mỹ đã trải qua hơn 300 năm lập quốc. Đã tuyên ngôn độc lập, đã thảo hiến pháp mà mấy chục năm sau mới cho đàn bà đi bầu. Thiên hạ nhiều nơi chấp nhận đàn bà cầm quyền. Hai nước Bắc Mỹ như Canada đã có thời phụ nữ lãnh đạo. Bây giờ Mexico đã có tổng thống đàn bà. Tổng thống Mỹ lần này sẽ là tổng thống nữ. Muộn còn hơn không. Tôi bầu cho đàn bà.                                                                            

Bầu dân biểu quốc hội: Tại địa phương này có 4 khu vực: số 16, 17, 18 và 19. Được biết khu 16 là bà Eshoo năm nay về hưu. Quý vị ở khu này có thể bỏ phiếu cho người quen là nguyên thị trưởng Sam Liccardo. Khu 17 cũng có người quen là Ro Khanna, và khu 19 là Jimmy Panetta. Đặc biệt lưu ý bầu bà Zoe Lofgren, khu 18, tranh cử mỗi 2 năm như thường lệ. Xin nhắc lại chuyện cũ, bà Zoe là thân hữu lâu năm với cộng đồng Việt tại San Jose, người tranh đấu số 1 cho nhân quyền tại Hoa Kỳ và dân quyền tại Việt Nam. Hãy ủng hộ và dồn phiếu cho Zoe Lofgren.

Bầu cử lên tiểu bang: Tại San Jose, chúng ta có 2 vị tranh cử năm nay: Dân biểu Ash Kalra khu 25 và Thượng nghị sĩ khu 15 là ông Dave Cortese. Cử tri gốc Việt đều biết 2 vị này. Tình nghĩa lâu năm rất nặng là ông Dave.          

Cuối cùng là County Santa Clara: Quận hạt kỳ này có khu 2 và 5 quý vị hết nhiệm kỳ. Khu 1 và 4 đến năm 2026 mới bầu lại. Chúng ta nên bỏ phiếu cho ông Otto Lee khu số 3 và rất cần bỏ phiếu cho Betty Dương vào chức vụ giám sát viên khu số 2. Luật sư Dương chắc chắn sẽ là dân cử tốt nhất cho chức vụ này vì đã có nhiều năm kinh nghiệm làm phụ tá cho bà Cindy Chavez tại khu số 2. Bà Cindy cho biết hết sức tin tưởng và yểm trợ cho người xứng đáng nhất sẽ thay thế bà.

Tay cầm lá phiếu phân vân. Bâng khuâng không biết bầu cho người nào?

Xin trả lời:

Dân biểu Quốc hội Zoe Lofgren,

Thượng nghị sĩ tiểu bang Dave Cortese.

Santa Clara County khu 2: Betty Dương và khu số 3: Otto Lee.

Giao Chỉ, San Jose.




Ông Carter Của Chúng Tôi – GIAO CHỈ SAN JOSE

Kính gửi quý vị trong phái đoàn tham dự ngày sinh nhật Tổng Thống 39

Chúng tôi vô cùng cảm động ghi nhận tin tức các bạn đi về bình yên, 

được đón tiếp tốt đẹp, và mọi chuyện đúng như chúng ta cùng mong muốn. 

Chân thành cảm ơn tất cả các bạn. Lời cảm ơn chân tình gửi đến từng quý vị.

Kính mời góp sức với chúng tôi trong chương trình đóng góp và thăm viếng 

Museum và thư viện của 5 vị tổng thống trong chiến tranh Việt Nam và 5 vị thời hậu chiến.

Đồng thời kính mời quý vị tham dự thành thân hữu hội viên của tổ chức IRCC, Việt Museum và Dân Sinh Media.

Trân trọng kính mời. 

Vu van Loc

Ông Carter của chúng tôi

Khi người Việt di tản đến Hoa Kỳ là gặp ngay vị tổng thống hiền lành nhất trong số 40 vị lãnh đạo trải qua khoảng 300 năm lập quốc. Ông Jimmy Carter đứng thứ 39, và ông Reagan đóng vai thứ 40. Sau nhiệm kỳ đầu tiên, ông Dân chủ Carter tranh cử nhiệm kỳ hai, Ông Reagan phe Cộng hòa từ CA nhảy ra tranh cử. Dân Việt vẫn chưa quen với lịch sử chính trị Hoa Kỳ, chợt đọc báo thấy tay ký giả viết phiếm luận vui đùa đưa tin rằng, nước Mỹ chúng ta hết nhân tài nên kỳ này có ông kép hát hạng B tranh cử với ông tổng thống bán đậu phộng tại GA, Atlanta.

Bác Carter của chúng tôi vì không thành công trong vụ trực thăng vận biệt kích tại Trung Đông nên chịu thua ông Cowboy Reagan. Nhưng cả hai vị tổng thống Dân chủ và Cộng hòa đều là ân nhân của người Việt tị nạn. Trong nhiệm kỳ ngắn ngủi của bác Carter, biết bao nhiêu thuyền nhân đã may mắn tìm thấy tự do.

Vào một buổi chiều mưa gió, đồng bào ta biểu tình khóc cho thuyền nhân. Bác Carter đã chợt nghe thấy tiếng than khóc, ông tìm xem lại những tờ báo. Bác biết tin tàu chiến Mỹ gặp thuyền nhân trên Biển Đông chỉ tiếp tế nhưng không vớt. Carter bèn ra lệnh vớt. Ông đi họp quốc tế, hội nghị nào ông cũng nhắc nhở các nước nhận thuyền nhân, phần Hoa Kỳ đã tăng cấp khoản gấp đôi. Ông ký Refugee Act chính thức đón người tị nạn vào Mỹ.

Bác bay qua Hà Nội tuyên bố sẵn sàng giúp tái thiết sau chiến tranh. Mấy tay lãnh đạo cộng sản say men chiến thắng đòi bồi thường, Mỹ bèn tuyệt giao và cấm vận. Nước Việt Nam chiến thắng và thống nhất trở thành quốc gia độc tài bao cấp khốn nạn. Dân Sài Gòn miền Nam phải từ biệt những cột đèn ở lại và lần lượt ra đi khi nghe tin có tàu chiến Mỹ đang chờ đợi ngoài khơi Thái Bình Dương.

Xin ghi thêm câu chuyện bên lề. Khi chúng tôi đến định cư tại San Jose, có gặp ông dân biểu địa phương thấy Việt Nam bị cấm vận nên tuyên bố Mỹ nên tha tội cho Hà Nội vì dân Sài Gòn phải ăn toàn bo bo. Anh em ta biểu tình chống dân biểu San Jose. Tôi có dịp thảo luận với văn phòng dân cử và gặp cô sinh viên luật tập sự tại đây. Cô có tên là Zoe Lofgren. Mới ngày nào mà nay đã trên 40 năm, bà Zoe này đã trở thành vị dân biểu cao niên của miền Bắc CA.

Khi San Jose thành lập Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân, bên nhờ bà Zoe mời tổng thống Carter về dự lễ khánh thành. Đúng dịp này, ông bận đi thu xếp hòa đàm bên Do Thái nên đã đến Atlanta thu một đoạn phim ân tình gửi cho Museum đầu tiên trên thế giới ghi danh Thuyền Nhân. Suốt từ ngày đó đã trải qua 2 thập niên, chúng tôi vẫn mong có dịp đến thăm viếng ngài tổng thống của thuyền nhân nhưng chưa có dịp. Nào ngờ đầu tháng 10 năm nay 2024 đã có cơ hội tổ chức phái đoàn Việt Nam về dự ngày sinh nhật 100 tuổi của tổng thống Carter.

Tại lầu tầng 2 của Museum Việt San Jose có một bản đồ Con Đường Tự Do ghi rõ 20 năm lịch sử thuyền nhân với thống kê 5 đợt ra đi. Tổng cộng 964 ngàn người tìm thấy tự do. 

Chúng tôi hiện cũng có chương trình thực hiện các tài liệu triển lãm đặc biệt về chiến tranh Việt Nam, về cuộc ra đi tìm tự do sau chiến tranh. Đề tài người Việt ra đi đem theo những gì từ đất nước và đã để lại những gì tại quê hương.

Đem theo văn hóa, lá cờ vàng và tấm áo dài, bát phở và khúc bánh mì ăn sáng. Để lại những trại tù, thời bao cấp tem phiếu với kinh tế mới, đổi tiền và đánh tư sản. Tất cả những tài liệu đó sẽ đúc kết thành hình thức triển lãm đặt tại 10 museum và thư viện của 10 vị tổng thống Hoa Kỳ. 5 vị trong thời chiến tranh Việt Nam và 5 vị trong thời hậu chiến. Công việc này sẽ hoàn tất trước và sau 30 tháng tư năm 2025. Xin toàn thể đồng bào tiếp tay.

Sau đây là bản tường thuật rất đầy đủ của Thái Hà về chuyến đi dự 100 năm mừng tuổi tổng thống Carter:

. Phái đoàn chúng tôi bay từ 3 nơi về Atlanta. Gia đình anh Nam Phạm đi từ Boston. Đoàn làm phim và nhà báo từ Nam CA. Chúng tôi bay đêm từ SF hôm trước red eye flight on Sept 30 lúc 10:30 PM và đáp xuống phi trường ATL lúc 6:30 AM . Về đến hotel check in vài tiếng đủ để ăn sáng, sửa soạn cũng kịp giờ đến The Carter Presidential Center lúc 11:30 AM theo chương trình ấn định .

Đại diện Trung Tâm gồm có Dr Evans , Cô Amy và một vài nhân viên ân cần tiếp đón chúng tôi tại lobby và đưa chúng tôi viếng thăm Jimmy Carter Presidential Library and Museum. Trung Tâm này thành lập năm 1986 thuộc downtown Atlanta . Phong cảnh chung quanh rất thiên nhiên hữu tình, tọa lạc giữa  Freedom Park xanh mướt. Đi 1 vòng thăm viện bảo tàng và thư viện khoảng 45 phút, sau đó chương trình nói chuyện  và trao quà được diễn ra ngay trong khu vực triển lãm nói về những dự án nhân đạo của Ngài : Protecting Human Rights , Compassion, Healing Viet Nam … BTC để sẵn 1 bàn dài cho phái đoàn triển lãm plaque tri ân, poster của bác Lộc thiết kế, flyers và lịch 2025 của Việt Museum.Riêng chiếc tàu vượt biên được đặt riêng trang trọng trên 1 cái bục và Tôi không quên gắn thêm cờ việt Mỹ cùng pin logo việt museum lên chiếc tàu. Ai cũng trầm trồ chụp ảnh và thán phục ý nghĩa của chiếc ghe .  Phái đoàn có khoảng 30 mn – 45 mn để trình bày chia sẻ và trao quà . Mỗi đại diện hội đoàn gồm có CDNVQG Georgia , 3 LTV Productions ( sản xuất film tài liệu the book of death ) với Jenny Thái, Alan Vo và Dr Thanh Long, đại diện Báo Los Angeles Tribune – Dr Emily Lê Trân, va Anh Nam Phạm từ Boston( cựu thứ trưởng bộ thương mại tiểu bang Massachusetts ) và phu nhân – đều lần lượt được mời lên phát biểu. Cũng có sự hiện diện của phái đoàn cộng đồng người Việt tại Atlanta.Riêng Việt Museum được Trung Tâm đặc biệt dành phần đúc kết chương trình và trao chi phiếu yểm trợ 10 ngàn US. Mọi người tham dự đều thấy rõ sự trân trọng và quan tâm của The Carter Center dành cho phái đoàn thăm viếng khi họ đã nhận thấy rõ mục đích tri ân ăn quả nhớ kẻ trồng cây của những đại diện tỵ nạn. Sau khi chào từ giã , chúng tôi ra cửa rời khỏi trung tâm thì 4 cô trong nhóm mặc áo dài đều quỳ trước sân cỏ chắp tay và cầu nguyện sức khỏe cho Ngài Tổng Thống . Ngay sau đó tình cờ TV Fox news đến trước cổng chính chờ đón con trai của President Carter, thấy chúng tôi mặc áo dài nên đã tiến tới hỏi chuyện . Alan Vo và Dr Emily Trần đã trả lời phỏng vấn của Fox News khoảng 15 mn và tất cả chúng tôi cùng kết thúc buổi phỏng vấn bằng lời chúc đồng loạt Happy Birthday President Carter trên TV. Sau đây là phần phát biểu của Thái Hà đại diện IRCC/ Việt Museum và Dân Sinh Media tại San Jose CA.   My name is Tana Thái Hà- a board member of Việt Museum in SJ, CA . As a boat people refugee myself, I am so honored and grateful to have the opportunity to speak at this special occasion of President Jimmy Carter’s 100th birthday -who served as the honorary president of the Vietnamese boat people . In 1975, over one million Vietnamese citizens were exiled from their home country, forced to sail aimlessly into the sea, in search of freedom, enduring perilous journeys across Southeast Asia.  Throughout the next two decades, hundreds of thousands of Vietnamese refugees found themselves either stuck in overcrowded refugee camps across Southeast Asia or, even worse, lost at sea. President Jimmy Carter wasted little time stepping in to right these wrongs.In 1979, President Carter took decisive action, ordering the U.S. Navy to rescue refugees stranded at sea and increased the immigration quota, allowing boat people to safely find refuge in the United States. He also urged other countries to allow Vietnamese refugees into their borders. The Vietnamese refugees and boat people around the globe will forever remember the humanitarian spirit of President Carter and also the kindness of the American people. It is because of President Carter’s advocacy that Vietnamese communities continue to grow and thrive across the nation.On behalf of  Mr. Vũ Văn Lộc, the founder of Viet Museum, a 91 year old veteran and former colonel of the Army of the Republic of VN, and all Vietnamese people in the United States, we wish you, our 39th President Jimmy Carter, a wonderful 100th birthday.We will never forget the generosity that you and all American people showed to us during that time and, for that, we express our eternal gratitude. Thank you for your past and continued support of our people. Let me end this note with an uplifting quote from President Carter  “ I have one life and one chance to make it count for something… My faith demands that I do whatever I can, wherever I am, whenever I can, for as long as I can, with whatever I have, to try to make a difference.”Quả là chuyến đi lịch sử quý giá may mắn được thực hiện khi Tổng Thống còn sống vì con trai Ngài có trả lời với media rằng Ngài tuyên bố sẽ cố gắng sống qua ngày bầu cử …Anh Nam Phạm (Boston)có đề nghị người Việt tỵ nạn vượt biên nên gây quỹ để cải tiến khu vực dành cho chiến tranh VN biến thành khu lịch sử thuyền nhân vì mỗi năm có bao nhiêu triệu người viếng thăm museum này và đó là cách bảo tồn lịch sử VNCH qua các thế hệ hữu hiệu hơn . Cá nhân tôi hoan nghênh ý tưởng này và nếu được góp phần xây dựng lịch sử tỵ nạn ngay trong Carter Presidential museum thì quả là 1 Vinh Hạnh và Ơn Huệ lớn cho tập thể người việt tỵ nạn Hải Ngoại.  Được biết President Carter đang dưỡng bệnh tại Tư gia tại Plains, GA cách trung tâm khoảng 2.5 hrs lái xe . BTC có cho địa chỉ nhà riêng của Ngài nhưng vì chúng tôi phải bay về lúc chiều tối nên không kịp giờ đi ngang để chụp ảnh quay phim tài liệu. Được biết vào buổi chiều cùng ngày Oct 1, gia đình thân nhân của Ngài khoảng 30 người sẽ họp mặt tại tư gia mừng sinh nhật 100 Tuổi của Ngài. –

Giao Chi San Jose.   giaochi12@gmail.com  (408) 316 8393




KIỀU MỸ DUYÊN: NHỮNG THÔNG TIN HỮU ÍCH




VĂN -THƠ: CAO MỴ NHÂN

CÙNG BIẾT THU VỀ

Quả là mùa thu đến thực rồi, nhưng để làm gì đối với một hoàn cảnh đất nước buồn tênh. Đưa tiêu để thật già lão: “Thu ẩm Hoàng Hoa Tửu” ra, để nói về “Mùa thu… chết” thì thật là tương phản. Nhân tiết thu thanh tao, mát mẻ, quý cụ, đôi khi có cả các vị trung niên, gặp gỡ chỉ để thưởng thức rượu cúc mùa thu.

Rượu cúc mùa thu tinh chế bằng hương cúc quý, hoa của mùa thu, đặc biệt đã ủ trong thơ thưởng ngoạn bốn mùa của Thôi Hiệu (704-754), đã được diễn âm quen thuộc trong văn chương VN từ xưa lắm rồi:

Xuân du phương thảo địa

Hạ thưởng lục hà trì

Thu ẩm hoàng hoa tửu

Đông ngâm bạch tuyết thi

Thành ra hình ảnh quý vị tao nhân mặc khách, quí vị kẻ sĩ, chinh phu… thậm chí cả những khách rượu dân gian, tất cả đều có thể say men hoàng hoa tửu, đón thu trở về cõi thế…

Chỉ với bầu rượu cúc, đấng mày râu lãng đãng bên trời, đã cho thiên hạ cùng biết mùa thu sương khói quanh đây.

Song có cần chi phải vận dụng rượu cúc với khách tài hoa hiện diện giữa đất trời này, mới hay thu đến, mà chỉ cần một chiếc lá rơi rất bình thường thôi, đã thấy vàng võ cả khung thu ảm đạm rồi:

Ngô đồng nhất diệp lạc

Thiên hạ cộng tri thu

Cái điển cổ, điển tích lẫn trong thơ cổ VN, giãi bày ra lời ví von thường nhật, dân tộc ta hầu như thân thuộc hình ảnh lá ngô đồng…

Tất nhiên không phải chỉ ở bên Tàu, mới có ngô đồng, tức cây phong, cây cao, mùa thu thoạt thì lá vàng rực rỡ, rồi lá đỏ sậm đi, lá sẽ khô, rụng xuống…

Thủa nữ sĩ Mộng Tuyết Tiểu Muội còn sinh thời. Tôi hay tới biệt thự Úc Viên ở Sài Gòn để… xướng họa thi ca Đường Luật, một hôm nghe như trời se lanh, bất giác tôi nhớ… tích cũ, đọc khẽ câu:

Ngô đồng nhất diệp lạc

Thiên hạ cộng tri thu…

Còn  cao hứng nói: “Mùa đã vào thu rồi đại tỷ ạ…”

Đại Tỷ Mộng Tuyết, niên trưởng hội thơ Quỳnh Dao của chúng tôi chợt mỉm cười:

“Sao biết mùa thu đã về, ở miền Nam này, chỉ có hai mùa mưa nắng thôi? Và có biết cây ngô đồng, chú vừa nói đó như thế nào không?”

Tôi là em út của quý nữ sĩ Quỳnh Dao, chuyên biệt thể thơ thất ngôn bát cú, nên niên trưởng Mộng Tuyết thường kêu rỡn tôi bằng “chú”, tức chú tiểu đồng.

Tôi ngần ngại trả lời: số là những ngày ở ngoài Trung, em có nghe ngay trong đại nội Huế, có mấy cây ngô đồng, từ thời vua Minh Mạng đưa từ Trung Quốc về.

Rồi em có nghe, người ta nói cây ngô đồng chính là cây vông đồng, lá để gói nem phải không đại tỷ?

Nữ sĩ Mộng Tuyết cười thật kẻ cả nhưng hiền hậu vô cùng, bà vốn cao lớn, mập mạp, người thích hoa cúc mỗi khi mua hoa ngày Tết Nguyên Đán, nên tôi vẫn duy nhất, là người đùa tặng bà danh hiệu “Cúc đại đóa”. Bà vô thư phòng, lật một cuốn sách thật dầy, lấy chiếc lá màu đỏ bầm, trao cho tôi, bảo rằng:

Này là chiếc lá phong, tức ngô đồng ở Đài Loan, hôm xưa đi họp Văn Bút bên đó, ép mấy lá đem về, tặng chú một lá cho biết nhé.

Sau này khi đến Hoa Kỳ, đi chơi mấy tiểu bang ở Đông Bắc Mỹ, đã thấy những rừng lá phong, mới hiu hắt nhớ những câu thơ Đoạn Trường Tân Thanh của thi hào Nguyễn Du:

Rừng thu tầng biếc chen hồng

Nghe chim như giục tấm lòng thần hôn

(Nguyễn Du)

Đó là hình ảnh tầng lớp lá phong ngả sang màu đỏ, còn đầy trên vòm cao, chưa kịp rụng. Mùa thu vốn võ vàng, quạnh vắng, buồn chơi vơi…

Nỗi buồn mùa thu là nỗi buồn lãng mạn, trữ tình, không cần phải có đối tượng mới thở than.

Người yêu thu, thương lá vàng rơi rụng, vẫn có thể thiết tha buồn thảm vì cảnh vật mơ hồ sầu muộn, nên, Guillaume Apo-llinaire (1980-1981) mới viết nên bài thơ Vĩnh Biệt gởi lại người đời… L’adieu…

Nhà thơ Bùi Giáng dịch là Lời Vĩnh Biệt, nhạc sĩ Phạm Duy phổ thơ thành Mùa Thu Chết.

Mùa thu chết còn được gọi là “Hoa thạch thảo”, bởi vì loài ấy, cũng có dáng dấp hoa cúc, màu sắc cúc… mà nếu bàn tới thì cũng có thể cả ngàn chương…

Chỉ cần bàn về hoa cúc, hoa thạch thảo mùa thu, lập tức quý vị sẽ có hàng loạt đề tài…

Nhưng tôi chỉ định… sơ qua một chút sao lại “Mùa thu chết”, cái điều so sánh: uống rượu cúc mùa thu, và ngắt đóa cúc “thạch thảo “để nhắc nhau mùa thu đã chết.

Mùa thu phải sống mãi để năm năm mời nhau uống rượu cúc chứ, song le mùa thu đã chết thực rồi vì đóa cúc thạch thảo trên tay… không còn nữa, như chính chúng ta, từ đây mãi mãi không thấy nhau, từ đây mãi mãi không thấy nhau…

Năm 1965 đó, nhạc sĩ Phạm Duy hoàn toàn cảm hứng bài thơ L’ Adieu của thi sĩ Guillaume Apollinaire, bên cạnh đó là Lời Vĩnh Biệt do thi sĩ Bùi Giáng dịch.

Nhưng độc giả và thính giả, lai cứ kéo ông vào chính trường thơ nhặc, rằng Mùa Thu Chết là nhạc sĩ Phạm Duy khẳng định cái mùa thu 1948 của ông ngoài kháng chiến chết rồi, chết thật rồi.

Mùa thu mà “nhạc tuổi xanh” với câu mở đầu: “Một mùa thu năm xưa cách mạng tiến ra đất Việt…” Đâu phải là câu trả lời, lỡ có ai hỏi nhạc sĩ còn cảm giác gì với cái mùa thu thanh niên Hà Nội  rời năm cửa ô, ra đi chống Pháp, kiểu Tây Tiến của Quang Dũng cùng thời:

Sông Mã xa rồi Tây tiến ơi

Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi…

(Quang Dũng)

Rồi 3 năm sau, 1968, Việt Cộng tấn kích Tết Mậu Thân, lạc lõng trong đô thành Sài Gòn Chợ Lớn, lại cứ bảo (đoán mò) có ai đó vô tận tư thất nhạc sĩ Phạm Duy, hỏi xem âm hưởng mùa thu xưa còn chút gì vẳng vọng, nhạc sĩ bèn trả lời “Mùa thu đó đã chết rồi”

Thật là hay, và cũng thật là ảo vọng.

Tuy nhiên cho dẫu thi ca, âm nhạc có chuyển tải được tư tưởng đó, cũng là điều quý giá.

Trở lại với mùa thu chân nguyên, trong sáng…

Đã qua cảnh nóng nực của mùa hè, chuẩn bị áo lạnh khăn len cho mùa đông để chờ xuân sang ấm áp… thì mùa thu là mùa thư giãn, nghỉ ngơi…

Là mùa của khoan dung, hoan hỉ đợi người về, đón chờ người tới, và tiễn biệt ai đi, tất cả đều… chìm đắm trong khung thơ mơ mộng, an bình, hiếu hỉ từ gia đình đến ngoài thiên hạ…

Cao Mỵ Nhân

Contact Us | About Us

CHÙM THƠ CAO MỴ NHÂN

*****

MẦU LY BIỆT.     CAO MỴ NHÂN

Áo em đã trắng mầu ly biệt

Khăn cũng mơ màng mây trắng bay

Khói trắng rơi trên làn tóc biếc

Còn ai thương nhớ trắng đêm này

*

Thì thôi ngày tháng vào thơ mộng

Cho mối thân tình mãi thiết tha

Đi suốt trăm năm tìm khoảng trống

Gió lùa buốt giá xác yêu ma

*

Lửa hương phút chốc theo hư ảo

Vội vã về đây đốt cháy lòng

Thủa sớm tàn phai danh tiếng hão

Hay là thời vận thả mênh mông

*

Tên anh vừa đó nghe thiên cổ

Hoang vắng, phiêu bồng giữa thế gian

Anh hỡi nơi này không bến đỗ

Bởi vì không có một giang san …

Hawthorne  4 – 10 – 2024

       CAO MỴ NHÂN

**

MỘT CHIẾU THƠ.    CAO MỴ NHÂN

Chao ôi thực sự già rồi

Thì giờ đâu để kiếm lời văn hoa

Với anh, từ cõi người ta

Ngó em ngần ngại như là bâng quơ

*

Ô hay nói chuyện mộng mơ

Chỉ còn một chút trong thơ tội tình

Mấy câu lục bát phiêu linh

Thốt ra cho có vẻ mình làm thơ

*

Mỗi khi ra đợi vào chờ

Lại thương thân phận mịt mờ núi sông

Mắt loà trắng xoá mông lung

Hôm nay nghe nặng giọng trùng quan mai

*

Tháng năm nào hẹn lâu dài

Nhớ hồi khăn áo xiêm hài thủa xưa

Soi gương hỏi lão hay chưa

Ậm ừ …ánh mắt lưa thưa sầu đời …

Hawthorne  30 – 9 – 2024

          CAO MỴ NHÂN

**

GIỮA HƯ KHÔNG.    CAO MỴ NHÂN

Đêm qua thấy lại một người

Áo mầu trinh tuyết đang ngồi rỡn trăng

Trăng cười tròn trịa trên không

Người băng giá ấy mông lung dáng hình

*

Bước vào từ tạ hồ linh

Hồn thơ diễm ảo vô tình trôi đi

Từng lời từng ý lâm ly

Bay theo khói toả trở về hoang sơ

Một phen hốt hoảng, ngẩn ngơ

*

Người thôi rỡn mộng trăng vờ vĩnh xa

Giờ thì chỉ có mình ta

Châu thân lạnh giữa bao la đất trời …

Hawthorne. 16 – 8 – 2001

     CAO MỴ NHÂN 

**

KHÚC VÔ CÙNG CÔ ĐƠN.     CAO MỴ NHÂN

Bây giờ quên hết thời gian

Nửa đêm thức dậy, tưởng đang xế chiều

Thế là mất ngủ liền theo

Bao la tĩnh lặng những điều vu vơ

*

Rồi nằm, lởn vởn câu thơ

Mới vừa ý đó, sao lơ lửng vần

Ô hay chữ nghĩa phù vân

Vừa xa mộng, lại vừa gần mơ hơn

*

Câu thơ mang vẻ tủi hờn

Xưa nay dang dở nguồn cơn tội tình

Thì đừng nghĩ ngợi linh tinh

Dấu yêu cũng chỉ một mình thiết tha

*

Tơ trăng rớt xuống hiên nhà

Áo khăn cổ nguyệt sa đà cõi không

Một vùng sáng lạnh mông lung

Lặng yên đón khúc vô cùng cô đơn . ..

    Hawthorne  4 – 7 – 2023

             CAO MỴ NHÂN

**

NỬA MẶT TRỜI BUỒN.     CAO MỴ NHÂN

Mây che nửa mặt trời buồn

Em ra cửa đuổi hoàng hôn về rừng

Chim trời lạc điệu xót thương

Mới vừa chan chứa ánh dương sao tà

*

Trở về tìm cõi người ta

Thấy người thầm lặng như là hồn thơ

Phải người cũng thấy bơ vơ

Như em ôm ấp tình cờ gặp anh

*

Phải tình đó rất mong manh

Đời nay đã vậy nên dành kiếp sau

Ngậm ngùi buổi cuối xa nhau

Nay còn một chút sắc mầu thuỷ chung

*

Nói rồi từ tạ mông lung

Em rời điếm cỏ nửa chừng hoang liêu

Đã từng dang dở tình yêu

Mai sau chết, chắc nhớ nhiều hôm nay …

Hawthorne   22 – 9 – 2024

        CAO MỴ NHÂN




PHÁI ĐOÀN HOẰNG PHÁP ÂU MỸ TẠI CALIFORNIA – KIỀU MỸ DUYÊN.




CA KHÚC MỚI: NGÀN NĂM MÂY BAY – LỜI MINH THÚY/ NHẠC LÊ HỮU NGHĨA . CA SĨ KANA NGỌC THÚY.




ĐÀI VOA Phỏng Vấn: TRẢ THIÊN NHIÊN LẠI CHO THIÊN NHIÊN – GS/TS Mai Thanh Truyết.




TRANG VĂN + THƠ: CAO MỴ NHÂN

VĂN – CAO MỴ NHÂN

CHIỀU VÀNG.    CAO MỴ NHÂN

Cái thế hệ ” Chiều vàng ” của chúng tôi, đang lần lượt bước qua lằn ranh quá khứ. Tôi chưa kịp nói hết câu mở đầu, rằng ông trở lại với khán thính giả muốn nghe kỹ hơn về trận chiến Hoàng Sa ngày 19 – 1- 1974.

Vị Thiếu tá bộ binh Ban Lãnh Thổ  thuộc Phòng 3 Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I/ Quân Khu I, tên bình thường là Phạm Văn Hồng, đã mặc nhiên có tên trong Quân Sử VNCH một cách đương nhiên phải thế.

Cách đây ít năm, một cơ quan truyền thông đã phỏng  vấn Thiếu Tá Phạm Văn Hồng, trưởng phái đoàn tù binh VNCH bị quân Trung Cộng đánh chiếm đảo Hoàng Sa bắt, vào giáp tết nguyên đán ngày 19 – 1 – 1974 .

Nhưng trong cuộc phỏng vấn chớp nhoáng ấy còn nhiều hạn chế về thời gian, cả quý vị hỏi lẫn khách trả lời, nhất là Thiếu tá đương sự, còn chưa hết bâng khuâng, căm hận khi nhớ lại tình huống Quân ta bị bắt như có bàn tay ” thế sự ” xếp đặt.

Nên chi cuộc phỏng vấn mới nhất này, của một nhóm có thể là biết tình thế thời sự Hoàng Sa chi tiết hơn.

Tất nhiên, Thiếu tá Phạm Văn Hồng mở rộng tầm nhìn  thật chính xác về một Hoàng Sa bị đánh cướp như thế nào .

Trước tiên, tôi lại xin phép quý vị là trong bài viết này, tôi chỉ kể chuyện ” cũ “, nên không phải là điều nhận định như quý vị thường tìm thấy ở các cây bút ” tham luận ” .

Lý do rất dản dị, là Thiếu tá Phạm Văn Hồng với tôi cùng phục vụ tại Bộ Tư Lệnh QĐI/QKI.

Kế tới, sau khi Thiếu tá Hồng và đoàn ta bị Trung Cộng bắt ở ngay Hoàng Sa, nơi ông phải thực hiện chuyến công tác  vào trung tuần tháng Jan / 1974, Phòng Xã Hội QĐI/QKI đã đi thăm viếng, yểm trợ tinh thần gia đình ông gồm phu  nhân ông và con cái.

Sau cùng, Thiếu tá Phạm Văn Hồng đã từ bên kia bức  màn sắt của Trung Cộng trở về VN, cùng với mấy chục bạn tù hiện diện ở trận Hoàng Sa. ..ông đã viết một tập hồi ký, kèm hình ảnh, với tựa đề : ” Người về từ Trung Cộng.”

Ông có nhờ tôi làm sao để phổ biến trong hàng ngũ huynh đệ chi binh bấy giờ, chứ không phải tham vọng muốn làm nhà văn, nhà viết gì cả.

Và chính yếu tố thứ 3 này, hôm nay tôi mạo muội kể lại quý vị lính nghe.

Từ Phòng 3 QĐI/QKI, Thiếu tá Phạm Văn Hồng xuống Phòng Xã hội QĐI/QKI với tập bản thảo được đánh máy ( kiểu thủ công ngày xưa trước 1975 ), có kèm một số hình ảnh mà lúc ở trại tù bên Quảng Châu do ông thu nhặt được.

Thí dụ : Đại trại , đại khánh, kịch văn công vv…

Tôi rất hào hứng, không phải việc làm của Thiếu tá Hồng có ý gì khác, ngoài ý muốn để người  dân miền nam hiểu thực tế cái xã hội Trung Cộng như thế nào.

Tôi thoáng nghĩ tới cụ nhà văn danh tiếng, hàng xóm nhà ba tôi ở hẻm đầu tiên cư xá Chu Mạnh Trinh Phú Nhuận.

Cư xá có những quý vị tên tuổi ở xã hội miền nam như: nhạc sĩ Phạm Duy, nhạc sĩ Tuấn Khanh, nhà văn Duyên Anh vv…, và cụ nhà văn Nguyễn Mạnh Côn.

Chính là tôi điếc không sợ súng, tôi viết thư gởi cụ lão thành trong nghề báo chí, văn chương là cụ nhà văn Nguyễn Mạnh Côn nêu trên, coi và cho ý kiến phổ biến sách đó.

Thế là Phạm Văn Hồng hăm hở đi Saigon với mong muốn được in ấn, phát hành cuốn hồi ký : ” Người về từ Trung Cộng” của ông.

Mấy ngày sau, Thiếu tá Phạm Văn Hồng về lại Đà Nẵng, nơi Bộ Tư Lệnh QĐI/QKI đồn trú.

Tất nhiên Thiếu tá Hồng không ôm tập bản thảo đó xuống gặp tôi, ông ta đi tay không, thong thả và cười một cách rất lính, rồi nói : ” Cao Mỵ Nhân ạ, cụ ấy sợ gì chẳng rõ, cụ ấy bảo in ra, phát hành không có lợi …” .

Tôi cắt ngang:” Lợi cái gì chứ, sao lại không có lợi ? “.

Thiếu tá Hồng thốt ngắn gọn : ” Thì thôi, không cần, tôi có muốn làm văn sĩ đâu .”

Sau này tôi mới tiếc , là vì Cục Tâm Lý Chiến có cả một nhà in riêng. Tôi bận rộn và có chút tự ái, không muốn in thơ ở đó, nhưng hồi ký quân sự và chính trị ” Người về từ Trung Cộng ” của Thiếu tá Phạm Văn Hồng, thì tại sao tôi không nhớ ra, là trong huynh đệ chi binh có đủ phương tiện, sao tôi không thân chinh cùng Thiếu tá Phạm Văn Hồng đi gặp vị Cục Trưởng Cục Tâm Lý Chiến, là Đại Tá Hoàng Ngọc Tiếu, tức thi sĩ Cao Tiêu, đại tá sẽ giúp đỡ ngay.

Bởi vì hồi đó, tôi quá thần phục quý vị văn nghệ sĩ dân sự. Tôi đã để lỡ một dịp may cho người bạn cùng đơn vị.

Lẽ ra tôi phải hiểu là Thiếu tá Phạm Văn Hồng có nhiều đặc điểm, một sĩ quan cấp tá xuất thân từ Võ Bị Đà Lạt, một Đại đội trưởng Biệt Kích, đã bị thương trong mặt trận Quảng Trị, rồi mới được về Phòng 3 Quân Đoàn. Lại bị tù bên Trung cộng, vv…

Hôm nay nghe cuộc phỏng vấn mới về trận chiến Hoàng Sa 

ngày 19 -1 -1974, thấy Thiếu tá Khoá 20 Võ Bị Đà Lạt vẫn phong độ trong cung cách riêng của quân nhân các cấp Quân Lực VNCH.

 Tôi vẫn kính phục ông, như kính phục huynh đệ chi binh khác, và có chút ân hận là không giúp được ông chuyển tải những gì ông thấy ở trong cũng như ở ngoài phạm vi Quân Lực VNCH, nhất là chuyện phải đi tù ở Trung Cộng, quan thày của Cộng sán bắc việt nói riêng và csvn nói chung .

Tôi liên tưởng tới câu nói của  bí thư nào đó đảng Cộng Sản Bắc việt xưa:  ” Chúng ta đánh Mỹ là đánh cho Nga Tàu ” mà khinh miệt đám người vong bản đó, csvn, từ trong trứng nước cái tư tưởng nô lệ một đại cái bang, tập đoàn bành trướng Bắc Kinh vô thần, vô tổ quốc, vô gia đình …

Thiếu tá Phạm Văn Hồng chắc đã hiểu rằng bây giờ cả Thế giới đã đổi khác, bây giờ có computer, internet…không cần phải ky cóp đánh máy như ông làm cái hồi ký khốn khổ hồi đó nữa…

Thế nên thời nay mọi người đều biết , mọi sự đều được phơi bày nơi truyền thông, báo chí …Những người ở bên kia bức màn sắt, đã đang và sẽ được hiểu biết những gì trên thế giới trong phạm vi sinh hoạt hôm nay…

Những cái mốc lịch sử đã khiến người ta trong hay ngoài cuộc, tự nhiên phải nhớ …để đời.

Tôi được mấy người bạn lính gởi cho cái ” you tube ” giới thiệu cuộc phỏng vấn thiếu tá Phạm Văn Hồng,nhân kỷ niệm cuộc hải chiến Hoàng Sa 19- 1 –  1974.

Nghe lại Thiếu tá Phạm Văn Hồng ở kỳ phỏng vấn này, tôi thấy rõ ràng hơn, đầy đủ hơn, ông quả là một sĩ quan Phòng3 phân tách kỹ, cung cấp đầy đủ những điều mà nếu xem thường sẽ rơi vào khuyết điểm, mặc dù trình bầy sự thật …

Tôi nói với ông là mỗi năm tôi chỉ gặp lại ông vào ngày kỷ niệm trận chiến buồn đó. Và rất tình cờ mỗi lần điện đàm, là một lần nghe ông thông báo một chút về thế hệ ” Chiều vàng” ở Đà Nẵng xưa.

Lần này gặp qua phone, ông thông báo đang thăm người bạn đồng cấp, nguyên là Chánh văn phòng Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn mang số một La Mã mầu đỏ của …tôi.

Người bạn này đang ở giờ thứ 25, Thiếu tá Hoàng Xuân Đạm, thật là buồn, ôi cái thế hệ ” Chiều vàng “, héo hắt những tàn lá mùa thu vàng võ … buồn thiu …lần lượt bay đi mất hút…

               CAO MỴ NHÂN

**

ĐÁM MÂY VÀNG.    CAO MỴ NHÂN

    Buổi sáng ở Denver Colorado, tôi theo gia đình chị Nhàn, nguyên chị là một nữ tiếp viên hàng không, của hãng Hàng Không Việt Nam ( Air Vietnam ) thời đệ nhị Cộng Hoà ( Việt Nam Cộng Hoà ) lên ngọn núi danh tiếng sát ngay thành phố đá đó để ngoạn cảnh.

    Trên đỉnh ngọn núi này, có một ” đại hí trường ”  có thể chứa hàng chục ngàn tân khách.

     Chung quanh đại sảnh trường đó, toàn là vách đá dựng cao ngất, nhưng lòng động lại mái trống, lộ thiên .

     Gia đình chị Nhàn đông đủ dâu rể cháu nội ngoại, tất cả đều tỏ ra thân quen với lâu đài hí trường khổng lồ đó .

     Nghe tiếng gió từ bốn phương đổ về, chị Nhàn nói với tôi một cách trân trọng lắm : ” Mỵ ạ, nơi đây người ta còn gọi là Chiếc đàn  ” Phong cầm gió ” vĩ đại nữa đấy .

     Tôi chỉ biết ngưỡng mộ và thán phục thiên nhiên, Đấng Tạo Hoá đã cho nhân thế này bao nhiêu là công trình tuyệt tác.

     Đang lúc mọi người trầm trồ khen ngợi vũ đình trường gió mưa sương gió thiên nhiên, tự đến, tự đi tới cái động to lớn mịt mù đó, thì nóc động hửng lên một khung nắng rỡ ràng..

      Một đám mây mầu vàng mỡ gà lững thững bay qua, tưởng như tà áo của thiếu nữ nào rơi trên mái động …

      Chị Nhàn và tôi đều sững sờ thốt :

     ” Mây vàng Hà Nội ” .

      Tại sao mây Hà Nội mầu vàng ?

       Ôi phải rất nhiều lời , hay rất nhiều thì giờ mới giải thích được điều thơ mộng đó, chỉ biết rằng nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh ngày xưa, đã mang mây vàng từ trung nguyên về Hà Nội.

       Và gần nhất với tôi thủa là thiếu nữ ở Saigon, đã có một nhà thơ tài tử, Nhị Thu viết cuốn thơ ” Mây Hà Nội ” , năm 1961, cùng lượt với cuốn ” Thơ Mỵ 1961 ” của tôi.

      Tất nhiên tôi chỉ nêu ra hình ảnh mây vàng Hà Nội dĩ vãng , nghĩa là trước 20 – 7 – 1954, hay trước khi chúng tôi di cư vào Nam thời sông Bến Hải  chia đôi đất nước .

   Đám mây vàng lặng lẽ rời khỏi nóc vũ đình trường đá đó, nắng còn ở lại cửa động lộ thiên một thoáng, cả chị Nhàn và tôi đều như có chút buồn phảng phất .

   Tôi hỏi chị một cách nhớ nhung rằng :

  ” Chị ơi, ngày di cư, em ở tuổi vài năm ” teen ” đầu, chị gần gấp đôi tuổi em, thủa đó, chị có may áo dài lụa mầu vàng mơ, và nhất là, chị có may áo ” vest ” mầu mơ chín ở phố Nhà Thờ Hà Nội không ? “

   Chị Nhàn cười xa vắng :

  ” Thế Mỵ. cũng biết tiệm chuyên may áo vest ở phố Hàm Long đó à ? “

 Bỗng lòng tôi chùng xuống chi lạ, ba tôi có lần đã cho mấy chị em tôi từ Hải Phòng về Hà Nội để may cho mỗi đứa một áo vest mầu vàng mơ tuỳ theo sở thích, hoặc mơ non, mơ chín, mơ sậm, mơ lạt vv…

  Và chính buổi đi may áo dài, áo vest ở hiệu may danh tiếng phố Hàm Long  xa xưa ấy, mà tôi nhớ mãi mầu mây thu Hà Nội . Ôi, có thể nói, ngoài mây thu vàng ở cái nơi tôi chỉ thấy đẹp thủa ấu thơ và thiếu niên ra, tôi không còn thấy thêm cái chất Hà Thành thanh lịch trong văn chương tiền chiến nữa .

    Thế nhưng hôm nay, tôi muốn nhắc tới một mầu mây Hà Nội rất kinh điển, chính mầu mây vàng lợt thôi, nhẹ nhàng , thơ mộng mà những người đã một thời say đắm nó, mây Hà Nội, như nhà thơ Nhị Thu, hay sau này , khi tôi lớn lên, trưởng thành rồi già đi như bây giờ, sắc mây vàng mỡ gà, vừa rực rỡ, vừa hoang mê, vừa thần thoại, chỉ còn trong cổ tích mất mát thôi.

    Ngay tức khắc tôi nhớ tới quý vị sĩ quan Quân Lực VNCH danh tiếng thơ văn lẫy lừng thuộc Cục Tâm Lý Chiến,  không thể nào không nhắc tới mây vàng cố đô Thăng Long, là các vị người Bắc di cư năm 1954.

     Để rồi tôi ngồi một mình xót xa, bây giờ ” điểm danh lại ” thì số quý vị đó đã không còn trên trái đất : Thi sĩ đại tá Cao Tiêu, Thi sĩ, Hoạ sĩ Tạ Tỵ , Nhà văn Trung tá Hà Thượng Nhân, Nhà văn Trung tá Phan Lạc Phúc, Nhà văn Thiếu tá Đặng Trần Huân, Nhà văn Thiếu tá Phạm Huấn , Thi sĩ Đại uý Du Tử Lê, Thi sĩ Trung uý Thanh Tâm Tuyền .

   Thưa , rất nhiều văn nghệ sĩ quân đội, gốc Hà Nội,  nhưng ở các đơn vị khác, chẳng hạn Nhà văn Trung tá Duy Lam ở QĐI/ QKI, Nhà thơ Trung tá Cung Trầm Tưởng ở Bộ Tư Lệnh Không Quân VNCH, Nhà thơ Trung tá Hoàng Ngọc Liên ở Binh Chủng Nhảy Dù VNCH.

    Hay, Thi sĩ Thiếu tá Tô Thuỳ Yên Trưởng phòng Văn Nghệ Cục Tâm Lý Chiến VNCH, nhưng ,không gốc Hà Nội .

     Tôi chỉ đan cử hôm nay về quý vị Sĩ quan QLVNCH gốc Bắc di cư đã mãn phần , và ít nhiều một thời gắn bó tới mầu mây vàng Hà Nội thôi.

  Bởi vì quý vị nêu trên đã mang theo sắc mây vàng quá khứ ra đi. Và , thực sự tôi muốn hoài niệm hình ảnh Thi Sĩ đại tá Cao Tiêu cùng phu nhân đã thưởng lãm mầu mây vàng Hà Nội ở Hồ Gươm, trước khi Thi Sĩ Cao Tiêu tức cựu Đại tá Hoàng Ngọc Tiếu nhập ngũ .

    Một bức ảnh đen trắng xưa, trên một ghế đá ở bờ hồ Gươm Hà Nội, Thi sĩ và phu nhân ngồi ngắm mây thu lượn quanh thành phố được tiếng là thanh lịch từ các thế kỷ trước .

   Buổi tôi hướng dẫn các động tác tập thể dục Dưỡng Sinh cho quý cụ cao niên, bịnh hoạn ở Câu Lạc Bộ Dưỡng Sinh Saigon , sau khi tôi ra tù cải tạo.

   Tôi tiếp chuyện một vị rất trưởng thượng quen quen .

    Cụ cho tôi coi một bao hình nhỏ, cụ đưa tôi bức hình vừa nêu, cụ hỏi :

” Cô có biết Đại tá Hoàng Ngọc Tiếu không, Thi sĩ đấy …”

   Tôi thưa với cụ là Thi sĩ Đại tá Cao Tiêu .

    Cụ gật đầu : ” Ông ấy là em ruột tôi ” .

    Tôi a  lên mừng rỡ , cụ tiếp ” Tôi là Hoàng Mai Đạt ” .

    Cụ Hoàng Mai Đạt nghệ sĩ hơn Đại tá Cao Tiêu, cụ vẫn vui vẻ thơ ca ở Câu lạc bộ Dưỡng Sinh trước khi qua Hoa Kỳ sau đó ít lâu .

    Lại một câu  chuyện về mây thu Hà Nội, cụ Hoàng Mai Đạt kể : ” Tôi biết cô không ở Hà Nội nhiều như chúng tôi, cái thế hệ mà thanh niên của thành phố có nhiều hồ, nhiều hơi thu lành lạnh, những đám mây vàng nhẹ như mối tơ vương sắc vàng rơi lững lờ trên thành phố thơ mộng từ ngõ hẻm ra đại lộ .

   Tôi lắc đầu, ” cháu không phải người Hà Nội của các cụ nhìn đâu cũng thấy chút gì vừa thân mật vừa kín đáo . Cháu lớn lên ở Saigon. Khung trời rộng quá, hầu hết mây trắng 4 mùa, nếu mây xám là sắp mưa…đơn giản, mau chóng như những cơn mưa rào, thật nhanh và chưa kịp lạnh cụ ạ .

     Thế rồi thì mỗi người mỗi chạy theo cái dòng chảy không riêng lẻ, nên chẳng thấy cô đơn lắm.

    Tôi qua Hoa Kỳ theo diện tị nạn, lại càng chẳng bao giờ nhớ cái mùa thu mây vàng như trong văn chương thơ nhạc tiền chiến, hay trước ngày đất nước qua phân .

   Tôi cũng không về Bắc sau khi mọi người bảo là ” thống nhất ” . Tôi không nhớ nhung gì hết phần đất bên kia sông Bến Hải, dù tôi rất nhiều lần đứng bên cầu Hiền Lương do công tác xã hội tôi phục vụ trong Quân Lực VNCH, suốt cả chiều dài lãnh thổ từ Bến Hải tới Sa Huỳnh, cận nam Quảng Ngãi .

 Cũng có lúc tôi buồn nhìn mây bay, nghe gió thổi ở miền địa đầu giới tuyến, nhưng quả thực, không thấy lại mây mầu vàng mỡ gà mà thuở thiếu niên ba tôi cho về Hà Nội, để may áo vest ở phố Hàm Long, e chỉ còn trong ký ức rất xa xăm.

   Và hôm theo gia đình chị Nhàn lên núi nghe gió hú trong đại hí trường, có một làn mây vàng ấm áp nhưng mong manh bay ngang đỉnh động đá khối khổng lồ, lộ thiên năm 1996.

Mầu mây vàng bất ngờ, khiến tôi nhắc đến hằng loạt tên tuổi những nhà thơ văn xuất thân ở Hà Thành thanh lịch, đã một thời hội tụ ở khuôn viên Cục Tâm Lý Chiến VNCH, rồi lưu vong, thả mây thu Hà Nội đi bát ngát, mênh mông…

Quý vị ấy không ai gặp ai nữa, kể cả những đám mây vàng tan loãng, hay đổi mầu trong không gian vô cùng mịt mù ngoài vũ trụ mênh mông…

    Hawthorne  10 – 6 – 2021

           CAO MỴ NHÂN

**

CHIẾC LÁ PHONG.     CAO MỴ NHÂN

” Mùa đã vàng chưa sắc lá thu ?”

Đã sang thu rồi mà mình còn tiếp tục dậy sớm, bởi vì mình muốn gặp anh trong nỗi nhớ nhung tuyệt vời, chỉ khoảnh khắc thời gian âm dương chuyển dịch đó, đêm sắp tan ra và ngày sẽ đưa mặt trời trở lại thế gian này, mình mới quên đi nỗi nhớ.

Anh khuyên mình nên sống vô tư, hồn nhiên theo ý Chúa.

Không. Mình sẽ chẳng bao giờ theo ý Chúa khi mùa thu vàng lá chờ mong, khi anh còn cách biệt mình cả một đại dương thầm kín tình buồn .

Hỡi anh ” Yêu Quí ” ơi, anh có biết hôm nay mình khóc sớm hơn hôm qua, và những hôm qua, mình khóc sớm hơn những hôm kia không?

Anh không thực sự hay giả bộ lơ là với nỗi ” Tình Thu ” của đất trời chung và của mình riêng đâu.

” Tại sao phải lơ là, dù tôi không là thi sĩ, nhưng lòng dạ vẫn mang mang mầu mây biếc ở thành San đấy chứ …”

Thế sao anh không mang mùa thu đến sớm cho mình …buồn .

Ố ô, dại quá Mỵ ơi, dẫu :

        Ngô đồng nhất diệp lạc

        Thiên hạ cộng tri thu…

Một cánh lá phong rơi, vàng võ cả không gian, nhân gian đều đón đợi thu về, sao phải buồn thế chứ .

Hỡi anh ” yêu quí “, sao cứ gọi tên anh hoài, anh đang muốn trốn mình trong những vách núi thành San, để đọc lại bài thơ ” Thành San thu biếc ” của người tình lỡ trăm năm, nhưng vĩnh cửu ngàn năm không phai tàn sắc lá …thu vàng .

Ố ô, lại ” Ố ô” , tiếng reo vui của một cuộc tình không bao giờ chấm dứt .

Anh hỏi sao chưa chán mùa thu ư, mà cứ thích nhìn sắc mầu thương nhớ thế, anh sẽ hiện diện nơi thơ như một dấu tích hằn sâu nỗi nhớ nhung, người thơ thường  ghi lại trong mỗi bài tình thơ đầy khói sương bao phủ, để chiếc lá vàng kia lẫn vào sắc lá huyền mơ tuyệt vời hư huyễn.

” Mùa đã vàng chưa sắc lá thu ”

Mình đã đến tận Colorado, lên tới Minnesota…chỉ vì hình ảnh những cây phong chan chứa sắc thu vàng, những năm khí núi hơi rừng huyền hoặc tình thơ, không sao xoá nổi mặt trởi ủ rũ nét u sầu .

Mình chưa kể cho anh nghe, vì anh chẳng khi nào thích nghe chuyện hão huyền, còn mình thì lại vô cùng huyễn ảo.

Rằng ngày xưa mới đó, nhưng nay khách văn chương đã trở thành người thiên cổ.

Khi còn học trung học, cô giáo Ninh dạy Việt văn ( xưa còn kêu là Giảng văn ) cho phân tích đoạn văn ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH của cụ NGUYỄN DU, bậc thi hào có lẽ chưa ai thay thế được, đoạn thơ có cảnh rừng phong :

Người lên ngựa, kẻ chia bào

Rừng phong thu đã nhuốm mầu quan san

Dặm hồng bụi cuốn chinh an

Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh

Người về chiếc bóng năm canh

Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi

Vầng trăng ai xẻ làm đôi

Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường …

   ( Đoạn Trường Tân Thanh –  Nguyễn Du )

Điều tôi muồn kể quý vị và anh nghe, là cây phong lá vàng trong thơ cụ Nguyễn Du, dấu tích cuộc chia tay, Thúc Sinh và Thuý Kiều, cuộc chia tay tình nghĩa nhất của Thuý Kiều .

Cây phong mà văn chương Trung Hoa phong kiến xưa gọi cây ngô đồng, mọc đầy rẫy ở Hoa Kỳ hiện nay vậy.

Thế thì, khi cây phong rụng chiếc lá vàng đầu tiên, cả thiên hạ đã biết mùa thu đang về .

Khi mới học và đọc :

Ngô đồng nhất diệp lạc

Thiên hạ cộng tri thu…

Tôi ngập ngừng trước bài viết của vị nào đó về cây ngô đồng là cây ” vông đồng ” có lá gói nem chua ở miền nam.

Tôi còn khờ đến nỗi tưởng chiếc lá ngô của cây bắp vẫn cho trái bắp luộc, bắp nướng như ở Dalat .

Tuy nhiên tôi cũng tự hiểu là chiếc lá ngô bắp dài thoong bao bọc cây bắp đó làm sao rụng được, vì khi muốn bỏ lá bắp ấy , người ta phải tước ra .

Thế thì một ngày kia, không khí Saigon gần Noel, trời cũng se lạnh. Tôi tới Úc Viên thăm Nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội , tôi cũng giả bộ đọc :

” Ngô đồng nhất diệp lạc

Thiên hạ cộng tri thu…”

Nữ sĩ Mộng Tuyết hỏi tôi:

Cao Mỵ Nhân biết lá ngô đồng như thế nào chưa ?

Tôi lặng thinh, vì …cả đời tôi đã biết ” cây ngô đồng ” đâu . Nữ sĩ Mộng Tuyết lẳng lặng mở tủ sách nơi phòng khách lớn , bà rút một cuốn sách dày. Đoạn bà mở một trang sách mà Nữ sĩ Mộng Tuyết đã ép mấy chiếc lá phong vàng ở Đài Loan trong dịp Nữ sĩ Mộng Tuyết đi họp Văn Bút Thế Giới năm nào đó, và trao cho tôi, bà nói :

” Để Cao Mỵ Nhân biết lá ngô đồng mùa thu đó nghe ”

Thế rồi thì một phần dân tộc theo đông tiến sau 30 -4 – 1975. Tôi đã tận mắt thấy từng loạt lá ngô đồng rụng như mưa rơi , không còn huyền thoại nữa .

Nhưng với tôi, tôi đến Hoa Kỳ trong mùa lá rụng, và gặp anh trong mùa lá rụng sau này .

Thế ư ? Anh có là Thúc Sinh đâu, và mình càng chẳng phải Thuý Kiều chứ, song tuổi tác đã thu phong lá vàng, nào có cần chi phải thấy một chiếc lá phong bay trước mặt, để thấy mùa thơ mộng nhất trong mỗi năm đã trở về .

Chính mình dẫu có anh hay không, mùa thu đã sẵn trong tâm hồn chứa chan sắc lá …văn chương đó rồi .. .

            CAO MỴ NHÂN

**

THƠ – CAO MỴ NHÂN

THẢ NHẸ TIẾNG BUỒN.  –  CAO MỴ NHÂN

Mỗi lần anh đọc thơ em

Là tình yêu trải đầy thềm nhớ nhung

Tiếng buồn thao thức bên lưng

Khiến anh nhìn lại, bâng khuâng nụ cười

 *

Em không thốt được một lời

Tiếng buồn thả nhẹ lên trời,bay cao

Mai đây dẫu ở phương nào

Sau lưng vẫn tiếng thì thào của anh

 *

Quan san từ thủa tóc xanh

Đến nay nụ trắng trên cành sương hoa

Thơ em ướt giọt châu sa

Cuộc tình dịu ngọt như là quả non

 *

Cần chi lòng dạ sắt son

Trái tương tư vẫn đang còn đong đưa

Tiếng buồn phảng phất hương xưa

Quả non chín đỏ môi chưa hẹn hò …

CAO MỴ NHÂN (HNPD)  

  29 – 9 – 2024

LÁ THU.    CAO MỴ NHÂN

Anh về hái lá thu xanh

Đã phai sắc mộng biến thành huyền mơ

Lá phong vội đổi vàng tơ

Lẫn trong mầu nắng hoang sơ đẹp buồn

Tuổi mình vướng bận hoàng hôn

Thắm hương tri kỷ tâm hồn lãng du

Ngô đồng rụng chiếc lá thu

Bay theo bóng nhỏ mịt mù nhớ thương

Sao thu không thả màn sương

Lại hong ánh lửa cuối đường heo may

Hắt hiu chiếc lá trên tay

Phải bao nhiêu lá mới đầy tình em

Ô hay, lá rụng vàng thêm

Bâng quơ câu hỏi vương thềm thu ơi

Áo thay khi thấy mây trời

Cũng vàng như lá tuyệt vời ý thu …

     CAO MỴ NHÂN

***

  GỌI THU VÀNG.     CAO MỴ NHÂN

Đã đến, đã đi, và đã nhớ

Một thời thu bắc khứ Hoa Kỳ

Lá vàng rực rỡ mầu xa xứ

Chan chứa vàng thu sắc đắm si

*

Lạ quá, có gì mà quyến rũ

Hồn em, không , chỉ có thơ thôi

Thơ ư , tất cả toàn con chữ

Anh ở đâu, em nhớ tuyệt vời

*

Sao không mơ mộng mà thương nhớ

Tại lá vàng theo bướm vàng ư

Cả một trời vàng , mây giống lá

Bay vào vũ trụ , gọi là thu

*

 Vậy anh có đến xem thu mãn

Thu thịnh , thu khai, thu vãn buồn

Đang gọi nhau về , vàng lá vãng

Rụng tràn xuống cỏ, đẫm thu chôn…

  Los Angeles  25 – 9 – 2021

           CAO MỴ NHÂN

**

TƯỞNG MÙA THU.     CAO MỴ NHÂN

Hôm đó tưởng mùa thu

Em đưa hết sương mù

Trên tay cho anh giữ

Rồi khóc thầm trong thơ

*

Nhưng anh xua lá vàng

Gọi nắng về chứa chan

Trao em nguồn hy vọng

Giữa chiều buồn mênh mang

*

Em hỏi anh thu chưa

Hình như mây lưa thưa

Chút mông lung hò hẹn

Trên đỉnh núi sắp mưa

*

Khói trắng vờn tóc xanh

Cuộc tình sau mong manh

Không còn chi giữ lại

Cả giọt sương long lanh…

   CAO MỴ NHÂN

**

TIẾNG QUỐC KÊU THU.    CAO MỴ NHÂN

Thưa anh, mùa thực sự buồn

Mây vừa chở nắng đi luôn không về

Hoàng hoa nở tự trong mê

Tràn ra đường vắng lê thê thu vàng

*

Mấy vần lục bát sang trang

Thơ mang hồn mộng dở dang chuyện mình

Ô hay thời tiết đoan trinh

Trăm năm vẫn một cuộc tình chúng ta

*

Thưa anh, sương khói đang sa

Mầu vương sắc tím quê nhà lối xưa

Này em gió mới lưa thưa

Tóc bay, anh tưởng ta chưa hẹn hò

*

Bên sông bụi trắng mơ hồ

Nước tan sóng vỡ vi lô bạt ngàn

Chẳng còn dấu tích giang san

Cô đơn tiếng quốc gọi đàn hồi quy…

     CAO MỴ NHÂN

**

TUỔI VÀO THU.     CAO MỴ NHÂN

Tuổi vào thu, hẳn đời tươi mát lắm

Vì nước xanh và mây lặng lờ trôi

Vì khói lam và sương êm ả thôi

Nhưng hoa nở thì vàng chan chứa nắng

*

Hoa nở nhiều, nên càng nhiều cánh bướm

Bướm lượn vòng như đuổi bắt thời gian

Tuổi vào thu, thời gian càng vấn vương

Từng sợi tóc phai dần mầu đấy nhé

*

Ô, có gì phải ưu tư đâu nhỉ

Tuổi vào thu là tuổi đẹp nhất đời

Phải không anh, soi ngắm thử nụ cười

Suy ngẫm thử tháng năm xa bát ngát

*

Anh sẽ thấy những gì viên mãn nhất

Có hay không trong thời điểm này đây

Được hay thua như một thoáng hơi say

Rồi đọng lại tuổi vào thu chất ngất …

        CAO MỴ NHÂN

***




TẶNG SÁCH “TÔI PHẢI SỐNG” CỦA LINH MỤC NGUYỄN HỮU LỄ – Kiều Mỹ Duyên




BẦU CỬ MỸ: Hệ Thống Đại Cử Tri – Những Ý Kiến Ủng Hộ Và Chỉ Trích – Từ Thân Hữu HÀ GIANG.




THƠ ĐƯỜNG XƯỚNG HỌA: LỜI BÀN THI SĨ -Thơ CAO MỴ NHÂN và Thơ Họa của Các Thi Sĩ Thân Hữu.

LỜI BÀN THI SĨ

Thứ sáu rồi ư ? Lại cuối tuần

Lại ngồi kiểm điểm, đếm gian truân

Từ nam ra bắc , rồi đông tiến

Tới viễn tây , nào thấy bóng xuân

*

Thế giới bao la, sao hạn hẹp

Mùa xuân như quả chín trên cây

Xuân là hoa lá, là tươi đẹp

Cho tất cả chi trái đất này

*

Nếu vậy thì vui, vui lắm chứ

Tại sao có vẻ giống bâng quơ

Phải vì xuân giấu niềm tha thứ

Nên ngác ngơ buồn, buồn ngác ngơ

*

Ngớ ngẩn rồi, thi sĩ tự phê

Tự khoe thiên hạ nỗi ê chề

Mỗi tuần thứ sáu hồn buông thả

Ra khắp phương trời, mới hả hê

*

Hãy đọc thơ ông Hàn Mặc Tử

Qua ông Bùi Giáng, Vũ Hoàng Chương

Ba người ba lối, nhưng coi thử

Quý vị nêu trên, bước một đường

*

Gàn dở hay nhìn đời chán nản

Thưa không, họ rất …rất yêu đời

Họ đi bất chợt, không ai cản

Khiến họ cam đành bỏ cuộc chơi …

Hawthorne Thứ Sáu 13 – 9 – 2024

CAO MỴ NHÂN

****

Thơ Họa:

BÁI PHỤC CÁC ĐẠI THI NHÂN

Thứ sáu người ơi, lại hết tuần

Đếm cười khôn xuể nỗi chuyên truân

Di Nam, giã Bắc đời trôi nổi…

Đất khách lạc loài chẳng thấy xuân.

*

Càng mở lòng ra, càng chật hẹp

Sầu thu lá rụng xác xơ cây

Trời quen mây trắng, lam chiều đẹp

Đất lạ , cô đơn tủi phận này…

*

Buồn mãi mà chi, đừng vậy chứ

Giữa đời sao lại cứ lơ quơ

Vào hàng, hội nhập quên vì thứ…

Năm tháng quen rồi, hết ngẩn ngơ

*

Ngẫm mình thấy ngán, lại cười phê

Tự ngoáy lời  ngông, thưỡn miệng chề…

Ngó xuống, kênh kênh, không đến nỗi…

Ngửa lên nín bặt, hết ha hê. 

*

Say ngâm thi phú bao thi tử

Men nhấp, môi thầm nhẩm mấy chương

Ngẫu hứng, hàn đây ta tác thử…

Vài câu đã hóc… luật thi Đường.

*

Rõ chán, mọn tài nên chóng nản

–Đâu như mặc khách sống  sênh đời

Văn phong thanh thoát , khôn gì cản…

Khiến gã teo hồn, bỏ ý chơi…

CAO BỒI GIÀ

   13-9-2024

***

RONG CHƠI CUỐI TUẦN

Mải đếm ngày qua, đợi hết tuần

Có hai ngày nghỉ, thoát chuyên truân

Tha hồ thư giãn cho bằng thích

Phơi phới như vừa trở lại xuân.

*

Công viên góc phố dù hơi hẹp

Vẫn mát vòm xanh những tán cây

Hoa cỏ lúc nào trông cũng đẹp

Cho ta yêu quá thế gian này.

*

Một mình đi bộ, đời vui chứ !

Rũ bỏ bao điều nghĩ quẩn quơ

Tưởng tượng mình là trang lữ thứ

Thấy gì cũng lạ, ngó lơ ngơ.

*

Một làn gió nhẹ cũng làm phê

Quên tuổi vào thu, nỗi muộn chề

Hớn hở tung tăng chân sáo nhảy

Đùa cùng vạn vật, hát ha hê…

*

Nhẹ nhõm bước chân người lãng tử

Bên mình chỉ một túi văn chương

Nghĩ thầm, lẩm bẩm rồi ngâm thử

Khoe với vòm cây, cỏ cạnh đường.

*

Hai ngày thả lỏng quên buồn nản

Lại thấy lòng yêu quá cuộc đời

Chẳng có còn chi là vật cản

Hàng tuần, tiếp nối cuộc rong chơi.

  Sông Thu

( 14/09/2024 )

***

TRẺ LÀM, GIÀ HƯỞNG.

Vất vả tăng ca suốt cả tuần

Hôm nay chủ nhật hết nan truân

Thảnh thơi ca hát cùng bè bạn

Nhảy nhót tưng bừng thuở tuổi xuân.

*

Đồng lương mỗi tháng tuy hơi hẹp

Cố gắng dụm dành tậu ít cây

Chăm sóc mỗi ngày hoa trổ đẹp

Lòng vui, hạnh phúc quá thân này.

*

Cuối tuần được dịp đi chơi chứ

Bơi lội,hẹn hò hết quẩn quơ

Siêu thị dạo mua thêm mấy thứ

Khi về, túi rỗng mới buồn ngơ.

*

Bình bầu từng quý mới là phê

Tiên tiến bị rơi, dạ não chề

Công sức bao ngày thành cát bụi

Mặt mày ủ rũ chẳng cười hê.

*

Làm xếp trong tay nhiều đệ tử

Yêu thơ một bụng chứa văn chương

Giải lao, ngẫu hứng ta bèn thử

Một khúc thi ca,quán vệ đường.

*

Cuộc sống khó khăn xin chớ nản

Dặn lòng,cố gắng chốn trường đời

Gian truân thử thách khôn ngăn cản

Tích lũy, về hưu nghỉ dưỡng chơi.

  LAN

(14/09/2024).

***

THI ĐƯỜNG GIAN NAN

Tập tễnh mần thơ suốt một tuần!

Bao ngày học hỏi lắm chuyên truân!

Lời thô ý mọn quên nhiều chữ

Ngán ngẩm nghe hồn chẳng thiết xuân!

***

Áo não buồn tênh vì nghĩa hẹp

Thôi đành bỏ bút dạo vườn cây

Quỳnh hoa, nhánh liễu màu xinh đẹp

Cảm tạ người ơi quá tuyệt này!

***

Quay vào dạ nhẩm nên mừng chứ!

Giấy mực trên bàn lại gắng quơ

Tỉ mỉ từng câu dò mọi thứ

Ân cần chỉnh luật khó làm ngơ!

***

Thế rồi tự thưởng tách cà phê

Quẳng gánh suy tư khép miệng chề

Tác phẩm đầu tay lòng mở hội

Âm thầm giấu kín chả tung hê!

***

Xét lại hình như dùng vận tử

Đâu ngờ chính tả phạm vài chương

Làm siêng mấy bận khôn màng thử

Nhẫn nại cùng qua khắp nẻo đường

***

Thơ rèn trí luyện không hề nản

Lỗi bệnh Đường Thi nhớ cả đời

Ới bạn chung tình xin chớ cản!

Bằng bằng, trắc trắc ghẹo chàng chơi!

 Như Thu

09/14/2024

***

KHÔNG XUÂN

Loáng thoáng liền nghe: -Đã hết tuần

Mà đời cứ rứa, vẫn chiên truân*

Lìa quê đá sỏi, tìm trù phú

Mộng vỡ âm thầm, tuyệt vọng xuân

*

Lặng ngắm khung trời sau cửa hẹp

Đông tàn, gió lộng xác xơ cây

Hàn liêu một cõi sầu vô tận

Cỏ dại lìm im mãi chốn này

*

Cố níu ngàn xưa, chi nữa chứ

Tay đời đã mỏi, viển vông quơ

Bao lần sám hối lòng chưa thứ

Giọt lệ cô tình mãi ngẩn ngơ

*

Ngơ ngác mây trời khóc phủ phê

Trăng khuya bất động, chán chê chề

Trùng khơi sóng cuộn xô vào núi

Mãi vỗ ầm ào, có hỷ hê ?

*

Áo bạc phong sương, màu lãng tử

Chén thù chén tạc khách văn chương

Câu thơ kết chuỗi niềm tang hải

Thật ấm lòng khi lỡ bước đường

*

Sống giữa vu vơ hoài cũng nản

Không hoa, tuế nguyệt vắng hương đời

Không xuân chẳng thể nên ngày hội

Có cuộc vui nào một khách chơi?

Lý Đức Quỳnh

   14/9/2024

* Truân chiên (tt): truân: vất vả; chiên: khó khăn= Khó khăn vất vả:

Ngày ngày tháng tháng nghiệp nghề truân chiên (cd).

Nguồn tham khảo: Từ điển – Nguyễn Lân.

NỖI LÒNG NGƯỜI ĐI

Thời gian chớp mắt đã thêm tuần

Lưu lạc sông  hồ lắm nỗi truân

Rảo khắp trời Nam rồi xuất ngoại

Hoa Kỳ trú ngụ ngóng tin xuân

——-

Đất nước giàu sang tình chẳng hẹp

Xuân về hoa bướm rạng ngời cây

Tấm lòng rộng mở luôn vui đẹp

Thế giới mê say nhập chốn này

——-

Niềm vui hẳn phải vui cùng chứ

Sao lại thẩn thờ mãi quẩn quơ

Chỉ tại nơi đây luôn thiếu thứ

Tình quê nghĩa xóm mới ngu ngơ

——

Cố hương luyến nhớ tự lòng phê

Xót nghĩ ưu tư lại chán chề

Thả lỏng vui đời thêm sức sống

Lo chi lão hạc cứ hà hê

——

Bên hiên phảng phất mùi Chi tử

Trong trắng gợi hồn thảo vội chương

Tức cảnh sinh tình ngâm hát thử

Bài thơ lục bát ngọt như đường

——

Bạn bè xa vắng thêm buồn nản

Vất vưởng ngày qua giữa cõi đời

Ai thắng ai thua giờ đếch cản

Từng người vội bỏ chẳng thèm chơi

    Hưng Quốc

Texas 9-14-2024

***

HƯƠNG YÊU CUỐI TUẦN

Không mong,  chẳng đợi lướt qua tuần

Gậm nhấm bên lòng những nỗi truân

Một thủa lao đao thầm quyết chiến

Đêm buồn vượt biển giữa mùa xuân

*

Người ta tấp nập đông đường phố

Vạn vật tô bồi lá thắm cây

Có biết mình ai đang lặng lẽ

Quay lưng chối bỏ cảnh nơi này

*

Quê hương phải kiếm nơi nào nhỉ

Mắt nhuộm u hoài bám víu quơ

Hà Nội mơ hồ qua sách vở

Hoàng Thành khắc đậm phải làm ngơ

*

Khơi dòng kỷ niệm tách cà phê

Thứ bảy nhàn ru ký ức về

Trí não thênh thang trầm biển phú

Say mềm chữ nghĩa thả tung hê

*

Đinh Hùng, Quang Dũng thơ nồng thắm

Nhật Tiến, Tuý Hồng tuyệt lắm chương

“Hồn bướm mơ tiên” tình hướng đạo

Văn thơ tuyệt tác mở con đường

*

Trầm mình thế giới đầy hoa mộng

Tóc nhuộm màu sương, nhuộm cuộc đời

Níu hái mây trời đan nắng lụa

Cuối tuần một cõi thỏa vườn chơi

      Minh Thúy Thành Nội

Tháng 9/16/2024

***

LỐI VÀO ĐỜI

thơ thẩn tìm vui..cũng hết tuần

cuộc đời chẳng đổi mãi chuyên truân

từ khi còn bé đà gian khó

ước mộng mơ hoài…chẳng bóng xuân

*

trần gian rộng thế mà vẫn hẹp…

đi khắp phương trời mãi thiếu cây..

…bóng mát ,nơi đâu là điểm tựa ?

cho ta núp bóng nắng mưa này !

*

được vậy , lòng đây mừng lắm chứ !

không còn lo nghĩ chuyện vu vơ

cứ xem như được trò tiêu khiển

và nghĩ rằng ta hết ngẩn ngơ

*

thời gian ấy thế vậy mà phê !

Lối sống xem ra chẳng chán chề

đừng đứng núi nầy mơ núi nọ

yên lòng chớ cậy kẻ tung hê !

*

vui với kiếp người thân lãng tử

rày đây mai đó chút văn chương

bạn bè bốn biển cùng suy thử…

tiến bước đi qua mọi nẻo đường

*

bền bỉ luyện rèn đừng chí nản

hành trang nhẹ gánh bước vào đời

ung dung tự tại…ai truy cản

bốn phía là nhà …mặc sức chơi !

Songquang

20240916

***

ĐÓNG CỔNG CHƠI ,

Mới đó loay hoay hết một tuần

Tháng ngày lọng cọng  gánh gian truân

Thời kỳ mờ mịt lùi hay tiến

Đến lúc yên bình ,biệt dấu xuân

*

Khép kín tâm hồn sau cửa hẹp

Quanh mình là bóng phủ hàng cây

Đâu còn hình dáng khung trời đẹp

Chỉ thấy tối tăm cõi tạm này !

*

Vẫn ước xuân về đây đấy chứ

Để người phấn khởi hết sầu quơ

Những mong chờ nốt đô rê thứ

Buồn sẽ xa dần , xua ngẩn ngơ

*

Có chặng nào đời sống phủ phê

Để thôi  dồn nén những tê chề

Đón mùi hạnh phúc lòng thư thả

Và lại rong chơi thấy đã hê ,

*

Tập tễnh thơ khi còn sĩ tử

Nhờ luôn tìm hiểu ,thích từng chương

Rồi thêm mài miệt ,hay làm thử

Rốt cuộc vần êm ,chẳng lệch đường

*

Thầm nhủ đừng bao giờ chán nản

Đừng nên nhụt chí khi vào đời

Đến hồi giã biệt ,không rào cản

Cứ thế mà đi ,đóng cổng chơi !

PHƯỢNG HỒNG

***

CUỐI TUẦN THƯ GIÃN

Ngày lại ngày qua ngóng hết tuần

Một tuần bận bịu thật đa truân

Chỉ mong thư giãn cho vơi bớt

Một chút ưu phiền giữa nắng xuân

*

Bạn hữu quanh ta tình rộng mở

Nói  cười nghe rộn rã ngàn cây

Gặp nhau tâm sự mà như đã

Quên hết âu lo thế giới này

*

Bao nhiêu thế sự không màng tới 

Tạm gác một bên không quẩn quơ

Rôm rả chuyện trò như trẻ nhỏ 

Thời gian một thoáng chốc ngu ngơ 

*

Nhâm nhi một chút vị cà phê

Giọt đắng cho tan nỗi chán chề

Bạn đốt cuộc đời qua khói thuốc

Bất cần mọi chuyện muốn tung hê

*

Lý sự tưởng như mình Lão Tử

Luận bàn thi phú với văn chương

Hả hê cất tiếng cười ròn rã

Tri kỷ là đây đã cuối đường

*

Hãy nhắn nhủ nhau đừng có nản

Cứ vui cho trọn giữa cung đời

Ung dung tự tại ngày nhàn tản

Chờ đợi một chiều ta nghỉ chơi

Toàn Như

***

BÓNG THỜI GIAN…

Thời gian chóng vánh đã qua tuần

Cuốn lịch gở dần máy chuyển truân

Cải tạo rừng thiêng xong xuất cảnh

Máy bay hạ cánh một trời xuân

*

Hoa Kỳ Hợp Chủng… lòng không hẹp…

Hiếu khách cưu mang, đủ loại cây

Mở rộng vòng tay cười thật đẹp

Chung cư giá rẽ ở nơi này…

*

An cư lạc nghiệp, vui lòng chứ…?

Trước lạ, sau quen hết quẩn quơ…

Thử thách ban đầu người lữ thứ…

Tình làng nghĩa xóm nhớ ngu ngơ…

*

Trung nguyên Đà Lạt, xứ cà phê

Mùi vị khác nhau rõ ế chề

Hợp Chủng Hoa Kỳ ta thả lỏng

Màu cờ sắc áo cứ tung hê

*

Du lịch khắp nơi đời lãng tử

Phong sương tuyết nguyệt nợ văn chương

Thất ngôn, bát cú thường ngâm thử

Đắc chí nghêu ngao khắp nẻo đường

*

Vạn sự khởi đầu nan chớ nản

Một lòng gắng sức, sống trên đời

Gian nan chẳng ngại ai ngăn cản

Cần kiệm nghỉ hưu thoải mái chơi…!

MAI XUÂN THANH

       Silicone Valley, 9/20/2024




THIÊN THẦN GÃY CÁNH- Cung Thị Lan (Chủ Tịch Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Hoa Kỳ)

Thiên Thần Gãy Cánh

Theo thông lệ, mỗi khi làm việc nhà, tôi thường mở Ipad để nghe các truyện văn học nước ngoài, sử ký hay tin tức. Những lần như thế, youtube thường gửi cho thêm cho tôi những video có những chủ đề liên quan. Thế mà, suốt cả một tuần, kể từ ngày 23 tháng 8, tôi không hiểu sao Ipad của tôi liên tiếp hiện ra những clip nhạc của một cô gái với giọng ca thật trong trẻo và thống thiết.

“I’m so lonely broken angel. I’m so lonely listen to my heart. One and only broken angel. Come and save me before I fall apart.”

Những lời ca đơn giản và âm điệu của bài hát được nhắc đi nhắc lại nhiều lần khiến tôi thuộc ngay. Tò mò, tôi ngưng công việc mình đang làm và ghé mắt nhìn vào màn hình xem hình ảnh trong ấy để thực sự hiểu rõ ý nghĩa của bài hát. Hình ảnh cô gái rơi từ cao xuống sau câu hát: “Hãy đến và cứu em trước khi em gục ngã!” (Come and save me before I fall apart.) đã làm tôi khá hồi hộp đến độ tôi phải kéo ngược trở lại đoạn video ngắn xem lại nhiều lần.

Rồi, tôi cảm thấy lo khi nghĩ bài hát và hình ảnh ấn tượng này có thể gây nên sự khích động cho các em trong tuổi thanh thiếu niên đang trong tâm trạng trầm cảm hay tuyệt vọng vì một vấn đề gì đó, dễ dàng nghĩ đến cái chết. Nhưng, mối bận tâm của tôi dần phôi phai vì những công việc khá bận rộn của tôi.
Chiều ngày thứ Sáu hôm đó, tôi cảm thấy khoan khoái tôi đã hoàn tất việc làm của sở. Vui hơn là tôi không phải chuẩn bị bữa cơm tối mà được con mời ăn tiệc ở nhà hàng. Một bữa tiệc với toàn bộ bà con và người thân quen. Không gì vui hơn chuyện được gặp con cháu trong đại gia đình sau một tuần bận rộn. Thế nhưng, một cặp vợ chồng đứa cháu họ từ chối không đến với lý do bận. Chuyện bận vì việc làm trên đất nước Cờ Hoa này luôn được thông cảm, cho dù ngay trong buổi tối thứ Sáu nên chúng tôi không thắc mắc gì. Nhưng vài ngày sau chúng tôi mới biết sở dĩ đứa cháu họ không đến được vì gia đình vợ của cháu đang đau buồn vì nhận tin em gái ruột duy nhất của vợ cháu mới quyên sinh. Tôi bàng hoàng khi nghe tin dữ này. Khi biết cô bé tự tử bằng cách trầm mình dưới nước, tôi càng đau nhói hơn. Bỗng dưng những âm giai của bài hát Broken Angel (Tạm dịch là Thiên Thần Gãy Cánh) vang dội trong đầu tôi như những lần tôi mở Ipad.

“I’m so lonely broken angel. I’m so lonely listen to my heart. One and only broken angel. Come and save me before I fall apart.”

“Come and save me before I fall apart.”  “Hãy đến và cứu em trước khi em gục ngã!”
Những lời trong bài hát khiến nước mắt tôi trào ra liên tục. Tưởng tượng cảnh cô bé đã ở trong tình trạng hết sức tuyệt vọng và buồn khổ trước khi quyết định kết liễu cuộc đời mình, tôi cảm thấy tim mình đau nhói với cảm giác thương tiếc khôn nguôi. Càng nghĩ đến cô bé, tôi càng thấy đau lòng với tin dữ. Có thể nào một cô gái trẻ đẹp trong lứa tuổi hai mươi, hồn nhiên vui vẻ thế mà giờ đây đã trở thành người thiên cổ. Tôi nhớ mãi hình ảnh cô bé trong ngày Đám Hỏi và Đám Cưới của con trai tôi. Cô luôn nở nụ cười vui tươi kèm theo những cử chỉ dịu dàng và sự quan tâm hết sức chu đáo đối với tôi:

“Bác muốn con giúp gì không?”
“Con xếp mấy cái bánh như thế này đúng không ạ?”
“Bác còn muốn con làm gì nữa không?”
“Bác muốn con chụp hình với bác ở đâu?”
“Bác cháu mình đứng như thế này nhé? Kiểu này nhé…”

Trời ạ! Có thể nào một cô gái hồn nhiên, hăng hái, hoạt bát như thế lại hủy hại thân thể mình. Tôi không thể nào chấp nhận tin vừa nghe. Khi nghe cháu tôi báo gia đình cô sẽ không gửi Cáo Phó và sẽ không cho bất cứ người nào thăm viếng từ biệt, tôi tự an ủi với ý nghĩ cho rằng mình chưa hề nghe tin dữ này, sẽ bình thản sống với sự tin tưởng rằng cô bé đang ở tiểu bang nào đó, bận rộn với công việc gì đó mà mình không thể gặp lại.

Thế nhưng, tôi không thể đành tâm tảng lờ như không có việc gì xảy ra. Qua tin nhắn điện thoại cầm tay, tôi đã viết vài hàng cho cô cháu dâu. Tôi khuyên cô nên chăm sóc ba mẹ kỹ lưỡng trong thời gian này vì ba mẹ cô đang tâm trạng rất đau lòng, cần được an ủi.

Vài ngày sau, chồng tôi cho biết ba mẹ cô cháu dâu cho phép vợ chồng tôi đến nhà quàn tiễn cô bé lần cuối nhưng chúng tôi chỉ có thể đến đó trong vòng nửa giờ, từ mười một giờ đến mười một giờ rưỡi ngày 29 tháng 8. Có lẽ những người làm việc ở nhà quàn hiểu tâm lý thương tổn của bậc cha mẹ mất con trong tình trạng như thế nên tổ chức ngắn gọn và mau lẹ. Y theo lịch, vợ chồng tôi không muốn mất một giây phút nào trong ba mươi phút ngắn ngủi ấy nên rời nhà rất sớm. Mười giờ bốn mươi lăm phút, chúng tôi đã có mặt tại trước nhà quàn. Đậu xe xong, chúng tôi ngồi im trong xe chờ đợi. Đây là nơi nông thôn rất yên tĩnh và biệt lập vì cách thành phố rất xa. Nhà quàn nhỏ gọn có hai ống khói lớn bằng thép song song, thẳng đứng lên trời. Bầu trời u ám với những đám mây xám làm cho khung cảnh vắng vẻ càng trở nên ảm đạm hơn.

Bỗng một cơn mưa nặng hạt rơi xuống, xóa tan cái màn u ám trước mặt kính xe của chúng tôi. Những giọt nước mưa lớn liên tiếp chảy dài trên mặt kính như những giọt nước mắt lăn không ngừng.

Khoảng mười phút, những giọt mưa trên mặt kính xe được xóa nhòa và tôi có thể nhìn thấy có một đốm sáng giữa những đám mây xám nhạt đã ửng hồng trên bầu trời. Mặt trời ló dạng, dần xua tan các đám mây xám khiến bầu trời sáng rực hơn. Một chiếc xe tiến vào bãi đậu. Không phải chiếc xe của ba mẹ cô bé mà là chiếc xe của con trai đầu của chúng tôi. Cháu xin phép hiệu trưởng nghỉ dạy vài giờ để đến đây. Đậu xe xong, cháu đi thẳng vào nhà quàn. Chúng tôi vẫn ngồi yên trên xe chờ xe của ba mẹ cô cháu đến. Đúng mười một giờ, xe của cháu họ tôi, vợ chồng chị của cô bé, trờ tới. Chiếc cửa xe vừa mở, mẹ cô bé khụy xuống đất, ba của cô và chị của cô vội vàng bước ra khỏi xe, cùng nhau dìu bà vào nhà quàn. Khó khăn lắm, họ mới có thể dìu bà đến cửa vì bà nhất quyết ghì ra phía sau, không muốn vào trong nhà quàn. Với những tiếng khóc nấc đau thương và thê thảm bà nhất định kéo trì cái thân hình ốm yếu của bà, không để vượt qua cái ranh giới của chiếc cửa mở do người quản trị đang kìm giữ. Khá đau lòng, tôi mở cửa xe, ào chạy về phía họ, ôm bà, khóc than với những lời an ủi mà tôi không nhớ mình đã nói điều gì. Cuối cùng, chúng tôi cũng đưa bà vào căn phòng, nơi có một số ghế xếp ngay ngắn trước một chiếc quan tài đơn giản, nắp che kín phần bên dưới và chỉ để lộ một nửa phần trên. Trong nửa phần trên ấy là khuôn mặt của cô gái trẻ trắng nhợt và đôi tay chắp ngay ngắn trên bụng. Hình ảnh này khiến bà mẹ khóc nức nở, gào thét rất thương tâm. Những tiếng khóc than xé lòng người và thân hình gầy guộc vật vã của bà khiến chúng tôi đau lòng không kém. Sáu người chúng tôi, mắt đỏ hoe, nghẹn ngào quây quanh bà nhưng bất lực, không biết tỏ cử chỉ hay dùng lời khuyên lơn an ủi nào để có thể xoa dịu được nỗi đau đớn trong lòng bà. Tôi gọi là “bà” vì vai vế nhưng thực sự bà còn rất trẻ, chỉ khoảng bốn mươi mấy tuổi.
Vài phút sau, một vị linh mục người da trắng với khuôn mặt nhân hậu, khoảng thất tuần, bước vào. Với lời nói dịu dàng, ông giới thiệu về mình và sự vinh hạnh làm Phép Xác cho cô bé. Bà mẹ vốn là người trọng lễ nghĩa nên im bặt khi thấy sự hiện diện của vị linh mục, nhưng sau đó, bà nức nở khóc bất kể những lời giảng đầy ý nghĩa của vị linh mục ra sao. Tôi chú tâm từng lời nói của ông về sự tạm bợ của cuộc sống, về sự giang tay cứu rỗi của Chúa, sự bình an của cô bé trên nước thiên đàng và cả cơn mưa bất chợt khá mầu nhiệm mà chúng tôi vừa chứng kiến cách đó hai mươi phút. Những lời thuyết phục của ông hết sức tâm lý dành cho tâm hồn đầy thương tổn của chúng tôi. Tuy nhiên, chúng không thể nào bù đắp sự đau khổ tột cùng của người Mẹ mất đứa con thân yêu.

Ngay khi lễ vừa xong, người đàn bà quản trị bước vào cho biết đã đến giờ đưa linh cữu vào phòng thiêu. Bà mẹ đau đớn nhào đến chiếc quan tài như muốn níu kéo lại nó, cố gắng hy vọng đứa con mình được sống lại và mình có thể ôm ấp nó như xưa. Sức mạnh của cái nhào bất thần ấy khiến chiếc quan tài trượt vào tận bức tường nên chồng bà phải kéo bà về lại ghế ngồi. Cô cháu dâu, trong trạng thái vô hồn, bước đến vị linh mục xin phép cho chúng tôi đặt những hoa trắng vào linh cữu của cô bé. Linh mục gật đầu rồi nhận vài chiếc hoa trắng đặt trên đầu cô bé. Chúng tôi lần lượt chia nhau những chiếc hoa trắng đặt xung quanh cô. Riêng tôi, khi đặt hoa vào bên cạnh cô bé xong, tôi đã đặt bàn tay mình trên đôi bàn tay của cô. Đôi bàn tay lạnh ngắt của cô làm tôi tưởng tượng sự lạnh buốt mà cô chịu đựng khi chìm trong nước sông. Tôi nghĩ phải chi mình có mặt trong lúc ấy để có thể nắm đôi bàn tay cô và kéo cô ra khỏi sức hút của Tử Thần. Có lẽ bất cứ người thân của cô hiện diện nơi đây cũng ao ước được làm điều tương tự như thế! Nhưng, có mấy ai có thể ngờ sự việc đã xảy ra như vậy cho dù mỗi người, khi còn trẻ, đã từng nghĩ đến chuyện quyên sinh khi gặp những điều bất như ý hay tuyệt vọng.

Hình ảnh người Mẹ đau đớn bất lực khi mất đứa con khiến những người chứng kiến đau lòng khôn tả. Ngay cả những người làm trong khu Nhà Quàn cũng không thể che giấu được những khuôn mặt đầy căng thẳng và những đôi mắt chứa chan niềm đau khổ vô biên. Không gì đau khổ hơn chuyện không có phương cách nào để an ủi người đang trong tình trạng đau khổ tột cùng. Những tiếng gào thét đau thương của bà mẹ xé nát lòng của chúng tôi và tôi đã xin cáo từ ngay khi chiếc quan tài đẩy vào phòng thiêu. Tôi cảm thấy mình không còn đủ can đảm để chứng kiến thêm chuyện đau lòng. Vợ chồng tôi và con trai tôi lần lượt ôm ba mẹ cô bé chào từ biệt. Tôi không biết nói gì hơn ngoài những lời nghẹn ngào là chúng tôi rất thương ông bà và mong ông bà giữ gìn sức khỏe.

Trên đường về, tôi chợt nhớ ra là Ngày Từ Biệt hôm nay chỉ có vỏn vẹn bảy người của gia đình tôi và gia đình của cô bé. Phải chăng đây là ước muốn của cô xui khiến ba mẹ cô cho phép chúng tôi tiễn đưa cô lần cuối cùng. Dù sao, tôi cố gắng an ủi mình bằng cách xóa sạch những diễn biến mà tôi chứng kiến trong ngày. Sự đau đớn của người Mẹ làm tôi kinh hoàng, tưởng chừng như bà sẽ ngất lịm sau khi mọi việc kết thúc chứ không thể nào chịu đựng thêm được nữa. Và khi tưởng tượng mình trong hoàn cảnh của bà, tôi cảm thấy tim mình đau thắt từng cơn.

Người Mỹ thường nói câu: “Hãy quên đi quá khứ buồn đau và tiếp tục cuộc sống bình thường với những người đang sống xung quanh mình!” Tôi cố gắng làm theo lời khuyên ấy bằng cách khuây khỏa qua những video hài hước. Thế nhưng, khi mở Ipad thì bài hát Broken Angel lại vang lên. Lần này thì bài hát được thêm vào bởi giọng ca nam đáp lại lời thống thiết khuẩn khoản của nữ ca sĩ:

You, you are the one
I miss you so much. Now that you’re gone
Don’t, don’t be afraid
I’ll be your side, leading the way
 
I wish that I could touch, touch you again
Feeling in love, don’t want it to end
Two, two worlds apart
Less in a dream, it’s breaking my heart
 
Những lời ca “I’ll be your side, leading the way” (Tôi sẽ bên cạnh em dẫn đường), “Two, two worlds apart. Less in a dream, it’s breaking my heart” (Hai thế giới cách xa. Dần tan trong giấc mơ làm tim tôi tan nát!)
 
Tôi tự hỏi: Hai thế giới biệt lập này là hai thế giới nào? Phải chăng là khoảng cách của hai người sau khi tình yêu tan vỡ hay khoảng cách của biệt ly của hai thế giới sống và chết. Có thể nào khoảng cách này xảy ra trong tích tắc, gây cho cảnh chia ly bất ngờ đến kinh hoàng.

Tôi không hiểu cô bé có hình dung được cảnh mẹ cô đau khổ trước khi quyết định hủy hại thân mình không. Tôi đoán cô đã phải đớn đau trong thế giới cô đơn với lý do nào đó. Có thể là cảm giác vô vọng và cô độc vì không ai có thể thấu hiểu nỗi lòng. Có thể là bất lực với sự kém cỏi và thua sút về mặt nào đó. Có thể là sự thua cuộc hay thất tình. Không ai biết lý do vì sao cô hành động như vậy và có lẽ cũng không ai ngờ một cô gái tươi vui lại hành động một cách đường đột đối với sinh mạng của mình như vậy.
Buổi tối hôm ấy, tôi không hề chợp mắt. Suốt đêm tôi thao thức với bao nhiêu ý nghĩ xung đột trong đầu. Càng nghĩ, tôi càng thương cô bé, mẹ cô bé và thương cả những bậc làm cha mẹ và những đứa trẻ có tinh thần yếu đuối. Trên đất Mỹ, phần lớn cha mẹ chỉ dành thời giờ để lo kế sinh nhai, và chú tâm việc học của con hầu mong con có việc làm cho tương lai rực rỡ hơn mình. Sự bận rộn hàng ngày và mệt mỏi sau những ngày làm việc khiến cha mẹ không thể gần gũi con cái nhiều để có thể chia sẻ tâm tư tình cảm. Có nhiều bậc phụ huynh không biết rằng có những đứa trẻ, mà trong đó có cả con mình, có tâm lý yếu đuối, luôn mặc cảm vì bản thân thua sút kém cỏi, nên thường trầm cảm, khép mình trong thế giới đơn côi, cô độc, rồi hành động không cân nhắc, dễ thiệt thân. Nếu không có sự giúp đỡ, an ủi, hay động viên tinh thần từ gia đình, các em này thường tựa vào bạn bè hay những thú vui không phù hợp. Đây không phải lần đầu tôi chứng kiến cảnh này. Sự mất mát đột ngột của con cái và tình trạng ân hận của những bậc cha mẹ từ những câu chuyện kể của những người thân quen của tôi và sự chính mắt chứng kiến từ thực tế đã làm tôi đau đáu buồn khổ. Nhưng rồi những người ấy và tôi không bao giờ nhắc đến những vấn đề này trong lúc cùng âm thầm cố quên đi.

Giờ đây, tôi bỗng nhớ lại thời gian hai mươi năm trước, lúc ba đứa con tôi trong lứa tuổi thanh thiếu niên. Hôm ấy, sau khi dự trại Hướng Đạo trên núi cao, chúng tôi về nhà khá tối. Để kịp ăn uống, nghỉ ngơi cho ngày hôm sau chúng tôi không ai nói ai, cố gắng dọn dẹp đồ đạc từ trại về. Riêng tôi, vội vã làm thức ăn tối rồi đem lên bàn ăn ngay. Khi đi ngang qua phòng khách thấy một chiếc ba lô bày bừa giữa nhà, tôi la chủ nhân của nó. Lúc đó, có lẽ vì tôi bị áp lực với thời gian cần kíp, nên tôi đã càu nhàu thêm về tính lè phè, không ý thức phải làm gì của một người đã từng đi Hướng Đạo. Chồng tôi và đứa con trai đầu của tôi cùng hùa theo lời càu nhàu của tôi, la thằng bé. Tôi lại xuống bếp rồi lên phòng ăn đem thêm những món cuối. Khi ngồi vào bàn, tôi không thấy thằng bé vừa bị la, gọi nó ra ăn cơm thì chồng tôi bảo nó vừa ra khỏi nhà, không biết đi đâu rồi. Tôi thảng thốt, nhớ lại những lời mình vừa càu nhàu. Linh tính chuyện gì không ổn, tôi lấy chìa khóa xe rồi tuôn ra khỏi nhà ngay. Trời lúc này tối đen. Ba con đường vắng ở góc nhà chúng tôi heo hắt những ánh đèn đường buồn bã. Không một người nào trên đường bộ hành và cũng không có chiếc xe nào qua lại trên những con đường nhựa. Tôi không biết tìm thằng bé hướng nào, rồ máy, tôi đạp ga trên những con đường thường đi làm theo quán tính. Đến một con đường hẹp tối đen, tôi bỗng giật mình, hãm tốc độ vì một bóng người trong y phục tối sẫm đang đi giữa đường. Bấm còi người ấy cũng không chịu bước vào lề. Tôi chiếu đèn soi rõ, nhận ra người ấy là con mình. Tôi dừng xe, bấm còi rồi kéo kính xe xuống, gọi tên nó. Thằng bé giật mình, dừng bước, đứng im nhưng không quay lại. Tôi gọi tên nó, bảo nó hãy lên xe. Nó quay lại nhìn xe tôi, ngần ngừ một lúc rất lâu rồi từ từ bước đến xe tôi. Đợi nó lên xe xong, tôi không nói gì, chở nó đi vòng vòng những con đường trong xóm. Xe chạy lòng vòng trên những con đường tối và vắng khoảng hơn mười lăm phút mà chúng tôi không ai nói với ai lời nào. Khi tôi lái xe vòng về nhà, nó chợt nói với tôi:

“Con không hiểu sao tính con khác với mọi người trong nhà. Con muốn cố gắng nhưng…”

Tôi đáp:
“Hóa ra chỉ vì sự khác biệt mà con muốn từ bỏ gia đình sao?”

Nó không đáp.

Tôi lại nói:

“Thực ra, trong nhà không ai giống tính ai hoàn toàn cả con à! Có người nhanh nhẹn trong việc gọn gàng ngăn nắp, có người thì chậm chạp. Nhưng khi chúng ta nhắc nhở nhau không phải là chúng ta ghét nhau. Đó là cách chúng ta quan tâm đến nhau, giúp nhau tiến bộ hơn. Có lẽ con thường nghe ba mẹ và anh la nên con buồn. Nhưng, trong nhà đâu phải chỉ có mỗi mình con bị la. Các con làm gì không phải, đều bị ba mẹ la cả. Ba mẹ la là để uốn nắn các con chứ đâu phải là ghét các con? Hôm nay con bị ba người trong nhà la cùng một lúc vì cả bố, mẹ và anh con đều thấy như vậy nhưng con đừng bao giờ quên là gia đình mình đều thương con, và quan tâm đến con. Con nghĩ lại đi! Có phải tất cả ba mẹ anh em con đều thương con không?”

Nó ngồi im không đáp.
Tôi ngừng xe trước nhà rồi bảo:
“Thôi vào nhà ăn cơm với mẹ rồi ngủ, mai đi học.”

Nó líu ríu làm y lời khiến tôi vui mừng khôn tả. Tôi không ngờ khi dùng chữ thương yêu trong lúc đối thoại lại hữu hiệu như thế.

Giờ đây nghĩ lại, nếu lúc đó, tôi không chạy theo nó để xoa dịu sự tổn thương trong lòng nó, thì có thể tôi cũng bị lâm vào tình trạng khủng hoảng tinh thần như bà mẹ cô bé, không thể tránh khỏi.
Trong những ngày này, tôi muốn dùng những giòng chữ giải tỏa tâm lý nặng nề của mình qua các trang nhật ký. Nhưng khi biết sự khủng hoảng tinh thần của những người mẹ mất con đến nỗi không thể sống trong căn nhà có nhiều kỷ niệm của đứa con đã mất thì tôi lại muốn gửi thông điệp đến quý độc giả (các bậc phụ huynh và các em thanh thiếu niên) để tránh những tình trạng làm đau lòng nhau.

Hãy ngay lập tức cứu các em trước khi các em ngã gục!” và “Xin hãy chia sẻ nỗi buồn của mình với cha mẹ với ghi nhớ: Cha mẹ lúc nào cũng thương yêu các con!”

Cung Thị Lan
Ngày 09.09.2024
 
 
Song: Broken Angel
 
You, you are the one
I miss you so much. Now that you’re gone
Don’t, don’t be afraid
I’ll be your side, leading the way
 
I’m so lonely broken angel.
I’m so lonely listen to my heart.
One and only broken angel.
Come and save me before I fall apart
 
I wish that I could touch, touch you again
Feeling in love, don’t want it to end
Two, two worlds apart
Less in a dream, it’s breaking my heart
 
 
Bài Hát: Thiên Thần Gãy cánh
 
Em, em là người anh nhớ em vô cùng.
Nhưng bây giờ em đã đi xa
Đừng, đừng sợ hãi!
Anh sẽ bên cạnh em, dẫn đường
 
Em thiên thần gãy cánh cô đơn
Em đơn độc nghe theo trái tim mình
Chỉ là thiên thần gãy cánh
Hãy đến và cứu em trước khi em gục ngã!”
     
Anh ước anh có thể chạm em lần nữa.
Để cảm thấy yêu đương, không muốn kết thúc
Hai thế giới cách xa
Tan dần trong giấc mơ làm tim anh tan nát
 
Cung Lan chuyển ngữ
* Nhà quàn = Nhà tang lễ.




VỀ CÁC ĐẠI HỌC XÁ TRẦN QUÝ CÁP, MINH MẠNG, THANH QUAN VÀ PHỤC HƯNG – Kiều Mỹ Duyên




TRANG THƠ CAO MỴ NHÂN:

THU ĐÊM  11 tháng  9.    CAO MỴ NHÂN

Đêm thu rồi, trăng sương buồn bã lắm

Rớt trên cây, từng cánh lá mong manh

Những giọt thu ướt át áo em xanh

Anh giả bộ vờ không hề ngó thấy

*

Đêm cũng xanh như áo em mặc đấy

Phải trăng thu hay rừng biếc mùa hoang

Phải sương thu hay một chút mơ màng

Em cứ tưởng người ta cùng luyến tiếc

Ô, đúng rồi lá đang rơi từng chiếc

Rất dịu dàng trăng đếm nỗi đam mê

Rất muộn màng em đón bước anh về

Nhưng chắc hẳn đợi mai kia thu vãn

Hỡi tình ơi, cứ lênh đênh, lãng đãng

Hết thu này, thu khác, vẫn bâng quơ

Hết thu này, thu khác, vẫn trông chờ

Thôi khép lại ngàn năm sau hạnh ngộ …

     CAO MỴ NHÂN

**

MỘT BÀI THƠ.  –   CAO MỴ NHÂN

Một bài thơ, phải thế nào

Gói tròn thương nhớ vào hào khí xưa

Giờ thì ngày nắng, đêm mưa

Non sông gió gọi hồn chưa nhập thần

 *

Tôi ngồi ôm cả phù vân

Đầy lòng khắc khoải những vần điệu xa

Một bài thơ của chúng ta

Đã bay trên nửa sơn hà lưu vong

 *

Xuân ơi, buồn thật mênh mông

Chắt chiu từng ổ pháo hồng hôm nay

Tặng người tất cả ngày mai

Trở về xây dựng tương lai huy hoàng

 *

Trọn đời hai chữ Việt Nam

Cờ vàng rực rỡ không gian trong lành

Một bài thơ cuối tặng anh

Chuỗi tâm tư sáng long lanh chan hoà…

CAO MỴ NHÂN (HNPD)

    9 – 9 – 202

**

MỘT NGÀY THỨ SÁU 13.     CAO MỴ NHÂN

*

Ôi, u tối , đen tối

Ngày thứ sáu mười ba

Em không là Eva

Anh không hề tội lỗi

*

Buổi tiệc cuối cùng nào

Của tất cả chúng ta

Những người vác thánh giá

Đi vào cõi mênh mông

*

Sao anh phủ nhận rằng không

Lời phúc âm sai

Nụ hôn của Judas

Muôn năm vẫn là phản bội

*

Thánh Đường chật người tới hội

Em đứng bơ vơ, chờ đợi

Cuộc tình buồn thống hối

Năm sau, mai sau, muôn sau thương đau…

Rancho Palos Verdes  6/13 .

       CAO MỴ NHÂN

**

BÓNG THỜI GIAN.    CAO MỴ NHÂN

Vừa thấy bóng thời gian đua ngoài cửa

Tung bụi mù trong khoảnh khắc hoang mê

Đoàn xích thố cuồng phi ngang biển lửa

Nhưng ngựa anh vĩnh viễn quên đường về

*

Người yêu hỡi tháng năm qua lãng đãng

Con đò tình thủa đó trôi lang thang

Sa trường nào xô anh vào dĩ vãng

Để hồn thơ em xa xót điêu tàn

*

Như điệp khúc tuyệt tình ca bất tận

Rượu hoàng hoa thấm ướt đất trời này

Non sông nào gầm lên câu uất hận

Nỗi kinh hoàng khổ lụy tựa cơn say

*

Rồi tất cả biến tan vào hiu quạnh

Những lời câm hoang phế huyễn hư trào

Bầy ngựa chiến ngủ yên ngoài đất lạnh

Thời gian nằm thổn thức khóc chiêm bao . ..

Hawthorne  7 – 9 – 2024

       CAO MỴ NHÂN

**

HƠI GIÓ THÌ THẦM.    CAO MỴ NHÂN

Mỗi ngày anh gọi tên em

Một lần, rồi cũng anh quên nhiều lần

Bởi vì danh tính phù vân

Nghe như hơi gió thì thầm bên tai

*

Thôi thì địa ngục, thiên thai

Kêu tên thay tiếng thở dài, thưa anh

Mỗi ngày tình muộn mong manh

Gió lên, mây nổi cuốn thành biển khơi

*

Tháng ngày cõi thế rong chơi

Có anh, nên đất với trời dửng dưng

Hồn chơi vơi giữa núi rừng

Lòng hoang liêu giữa đón mừng, chia phôi

*

Mỗi ngày anh hỡi chung đôi

Mà sao sương khói đơn côi đi về

Thở than hay tự vỗ về

Thiên thai, địa ngục cận kề tình ơi …

Hawthorne  9 – 9- 2024

       CAO MỴ NHÂN

**

NỖI NHỚ THIẾU ANH.     CAO MỴ NHÂN

Ba mươi hai năm trước

Em đến Chămpasak

Ngắm Wat Phou trong vắt

Bầu trời xanh bát ngát

*

Suối Tạc Phan xã Ba Chiêng

Rừng cà pha Paksong, vườn sầu riêng

Một con chim lạ to bè bay lạc

Người ta bảo loài chim thiêng

*

Chim đó lượn quanh dòng nước thẳng

Rồi tự ngã xuống chân thác phẳng

Nếu tiếp tục đi về hướng tây

Sẽ nghe sóng sông Mê Koong cuồng say

*

Tưởng Nam Lào bé nhỏ

Hoá ra trái đất nơi nào cũng rộng mở

Như cánh tay Thượng Đế dang ra

Em lọt thỏm giữa bao la

*

Ngày sau về lại Saigon

Hay ngày mai sang Thái

Nhìn giọt nước mắt rơi hôm xưa đó

Không có anh  cho em chờ đợi…

       CAO MỴ NHÂN




Bài Viết Của Văn Thi SĨ CAO MỴ NHÂN Về Nhà Thơ Cung Trầm Tưởng:

  TRỜI SÁNG HẲN .    CAO MỴ NHÂN 

Ông và tôi thức trắng một đêm khoảng cuối tháng 11/1994 , ở phòng khách tư thất vị  chủ tịch Cộng đồng VN ở Tây Bá Linh , khi đó bức tường Ô nhục giữa  đông tây Đức vừa được phá sập . 

Chúng tôi đi xe lửa  xuyên ngang nước Đức , từ Dortmund  Germany tới Berlin Germany , thì trời đã qua chiều , gần tối , dù đi từ sớm . 

Buổi chiều tối hôm đó , chúng tôi được gặp gỡ  đồng hương  ở ” Nhà Việt Nam  ” 

Đó là phái đoàn trung tâm Văn Bút VNHN đi hội  Văn Bút Quốc Tế kỳ thứ 61 họp ở Praha Tiệp Khắc  11/1994 , do thi sĩ Viên Linh  trưởng đoàn , cùng các thành viên Văn Bút VNHN  , gồm : nhà thơ giáo sư Nguyễn Sỹ Tế  , nhà báo giáo sư Phạm Việt Tuyền , thi sĩ Trung tá Cung Trầm Tưởng , nhà văn Trung tá Trần Ngọc Nhuận , thi sĩ thiếu tá Tô Thuỳ Yên  ( vừa từ VN qua Hoa Kỳ , chưa có thẻ xanh , nên phải hoãn chuyến đi  ) , và tôi , sau thêm thi sĩ Đỗ KH , và Nguyễn Minh Nguyệt , bạn của Cao Mỵ Nhân  , làm thơ . 

Sau khi hoàn tất công tác  “đại hội Văn Bút Quốc Tế” , kỳ thứ 61, tại Praha Tiệp Khắc  tháng 11 năm 1994, chúng tôi được Cộng đồng người Việt tị nạn CS ở Đức  ( mới thống nhất ) mời qua Dortmund  và Berlin  nói chuyện về Dòng Thơ Trong Tù . 

Thi sĩ Viên Linh đã kịp thời in tặng thi sĩ Cung Trầm Tưởng tập thơ  ” Lời Viết Hai Tay  ” , thơ Cung Trầm Tưởng viết ở trong tù  , quý vị khác tự mang sách truyện đến đại hội giới thiệu nếu muốn . 

Riêng Cao Mỵ Nhân tôi, thì mới được Nhà Xuất Bản Sông Thu của Thi Sĩ Thái Tú Hạp, giám đốc tuần báo Saigontimes ở Mỹ xuất bản cho tập truyện Chốn Bụi Hồng đầu tiên trước đó mấy tháng ( 7/ 1994 ), nên mang CHỐN BỤI HỒNG Tập 1 qua Tiệp Khắc và Đức , Pháp giới thiệu luôn. 

Do đó , buổi tối sau cùng của chương trình hàn huyên văn thơ , chúng tôi nghỉ lại nhà vị  chủ tịch Cộng đồng VN ở Berlin , để sẽ về Dortmund  lại , rồi đi Frankfurt ,trở về Hoa Kỳ  . 

Buổi tối đó , đang là mùa thu  Châu Âu , căn phòng rộng đã được xếp lớp cho cả đoàn , cứ mỗi người một nệm  ” tá túc ” qua  đêm ,  chứ tiền đâu cho cả đoàn vô khách sạn ngơi nghỉ . 

Thế thì có ngay , tôi cũng chẳng thiết ngủ , hơn nữa biết còn cơ hội nào gặp nhau , tôi bèn đối ẩm cùng ông , uống nước Trà suốt đêm , để chỉ nghe ông nói , không cần đàm thoại  . 

Nhà thơ thấy có người chịu ngồi nghe lời lời  châu ngọc , hàng hàng gấm thêu cùa mình , thì nhất định là vừa ý rồi . 

Trong cái phòng ngủ dã chiến , tất cả các tiếng ngáy đã được thử giọng , lên bổng xuống trầm , tưởng đâu ra đấy như một ban nhạc tự nhiên . 

Nhà thơ và nhà binh , đàn anh tôi  không hề ngáp vặt , rất tinh tấn , thơ Tàu cổ , thơ Tây , từ Lamartine  tới Jacques Prevert  . 

Thi sĩ Trung tá Không Quân  một thời với ca khúc lừng danh  :  

Lên xe , tiễn em đi 

Chưa bao giờ buồn thế 

Trời mùa đông Paris 

Suốt đời làm chia ly …

   ( thơ Cung Trầm Tưởng  –  nhạc  Phạm Duy  ) 

Cứ với giọng trầm mà không buồn , thi sĩ Cung Trầm Tưởng sau buổi tối  ” trắng đêm không ngủ  ”  nói được gần hết ý mình  . 

Bởi vì có nói như Tô Tần đi nữa , thì cũng vẫn chưa nói được hết , tôi quan niệm chắc ai trên đời cũng có chút gì không muốn nói ra , nên tôi  mỉm cười , chắc là hơi méo mó , tôi nói với bậc đàn anh tôi  rằng : 

Anh đúng là một ” thi bá  ” , vì những nhận xét về thơ , thao thức về thơ , vân vân thơ, ít ai kỹ càng và tỉ mỉ như anh .

Thưa  anh , có lẽ quý vị làm thơ nên nghĩ có một đạo , là   ” Đạo Thơ  ”  hay ” Tôn Giáo  Thơ  ”  . 

Tới lượt tôi cũng say mê Thơ , cũng sắp sửa …hùng hồn  ca tụng Thơ , thì Trời sáng hẳn  …

Hai chiếc ghế salon chắc cùng nóng lên tới 100 độ , vì cả hai. ” Thi Bá ” và tôi đều không rời khỏi chỗ ngồi cả đêm . 

Mặt trời đã lên tới khung kính cửa sổ phòng khách đại sảnh  ( trên lầu  ) tư thất vị  chủ tịch Cộng đồng VN ở Berlin  . ” Cung thì bá  ”  không hề mệt mỏi , chắc tôi hốc hác lắm , vì chăm chú  nghe giáo điều  Thơ  của ” Đạo Thơ  ” , nên tôi thốt : 

Thưa  ”  Thi Bá  ” , Mặt trời đã lên 2 con sào , vậy chuyện thơ tạm kết thúc ở đây , bây giờ anh dùng Trà hay cafe , để em pha . 

” Thi bá  ” Cung Trầm Tưởng  cười xoà  : ”  cô em ơi , cho anh ly cafe  đi , ban ngày rồi , cần phải thức , để đi nốt đường đời của mình . Vui nhá …”

Về lại Hoa Kỳ . Tám năm sau tôi mới có dịp lên Twin cities Minnesota  để ra mắt 2 tập thơ  : ” Đưa Người Tình Đi Tu  , và Lãng Đãng Vào Thu ” . 

 Mừng nhất là được tái ngộ  ” Thi Bá  ” của …tôi . Năm ấy thi sĩ Cung Trầm Tưởng đã chẵn 70 tuổi  , mái tóc trắng bạch hoàn toàn  .  Ông vẫn tinh tấn , vui tươi , ông là một trong những diễn giả  ” nói về thơ chung chung và thơ Cao Mỵ Nhân  ” . 

Nhưng trong phạm vi  nói chuyện  ở buổi ra mắt sách , nên vị ” Thi bá ”  năm xưa nơi Berlin  thức trắng đêm với những truyền thuyết thơ , đã tự thu gọn ý tưởng trong 20 phút .

Sự kiện  khiến tôi nhớ  lại mùa thu ở Đức cùng những lời hoa gấm mà hiểu rằng  : Thời gian không đợi ai , nên thơ cũng phải  …chạy như ma đuổi  ,  để giữ lại cho mình những ngôn từ bay bổng , rồi  mươi , mười lăm năm  sau ,  thơ đắm chìm trong tiếc nuối mênh mông …

Năm nay ” Thi Bá ”  84  tuổi rồi ( 2016 ) mầu tóc lẫn với sắc mây mùa hạ  , chưa có không gian nào phiêu bạt thêm một lần  lãng đãng  vào thơ nữa …

 Thời gian tại thế của Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng : 

Sinh ngày 28 – 2 – 1932.  Miền Bắc VN . 

Mất ngày    9 – 10 – 2022 tại Minnesota  USA .

   CAO MỴ NHÂN