Hãy học cách sắp xếp thời gian hiệu quả trong 1 ngày, cân bằng giữa công việc và cuộc sống.
Nhiều người thường nói: tôi không có thì giờ, tôi bận quá, tôi bận quá. Thượng Đế rất công bằng, mọi người trong chúng ta ai cũng có 24 giờ một ngày và người nào cũng phải chết.
Vậy thì khi người nào đó nói với bạn rằng tôi không có thì giờ hoặc tôi bận quá, bạn hãy tự hỏi mình người đó thân với bạn như thế nào? Khi một người nói với bạn tôi không có thì giờ thì bạn phải nghĩ rằng người đó không có thì giờ cho bạn, trong con mắt của người đó hoặc trong trái tim của người đó, bạn không phải là người thân. Nếu là người thân thì không bao giờ nói câu tôi bận quá, tôi không có thì giờ. Thì giờ người nào cũng bằng nhau, 24 giờ một ngày. Với 24 giờ, làm sao sử dụng cho hết: làm việc, ăn, ngủ, chơi, xem tivi, nghe radio, đọc sách, điện thoại, hoặc email cho người này hay người nọ. Nên bạn phải biết mình là ai khi nghe người nào nói rằng tôi có đọc email của bạn hay nhận điện thoại của bạn, nhưng rất tiếc tôi bận quá, tôi không có thì giờ trả lời.
Người trên trái đất này nhiều lắm hơn 6 tỉ, trời đất bao la nhưng tìm tri kỷ khó lắm. Tìm người hiểu mình, tìm người thương mình, xem mình như người thân thật khó. Nhiều khi mình tưởng người đó là bạn của mình nhưng chưa chắc người đó xem mình là bạn. Nếu bạn muốn biết người nào là bạn của mình thì hãy đợi xem khi bạn bệnh hoạn hay khốn khó, người đó có ở bên cạnh bạn hay không?
Người nào cũng có việc làm, có bổn phận, trách nhiệm, không phải ai cũng có thì giờ nghĩ đến người khác, có thì giờ quan tâm đến những người xung quanh mình, nhưng nếu biết sắp xếp thì mọi chuyện đều có thể làm được.
Có những chuyện trong cuộc sống xảy ra rất đỗi bình thường nhưng lại có kết thúc bất ngờ. Một cụ bà nằm trong viện dưỡng lão, con cháu không có thì giờ đến thăm, chỉ riêng có cô y tá chăm sóc cho cụ bà hàng ngày. Vào những ngày nghỉ hoặc ngày lễ, cô nhớ cụ bà, cô vào viện thăm cụ. Cụ bà cũng rất thương cô y tá này. Rồi một ngày kia, cụ bà qua đời. Luật sư của cụ bà gọi cô y tá đến văn phòng luật sư để nghe di chúc của cụ bà ở viện dưỡng lão. Cô y tá ngạc nhiên và vô cùng xúc động, không ngờ cụ bà để lại tài sản cho cô thay vì để lại cho con cháu của mình.
Đối xử với người xung quanh một cách chân thành, bạn sẽ nhận được phần thưởng xứng đáng.
Một câu chuyện khác về một cụ ông trong viện dưỡng lão. Ai cũng tưởng ông cụ rất nghèo, không thấy ai đến thăm, chỉ có những người làm từ thiện đến thăm người bệnh mà thôi. Một ngày kia, ông cụ gọi luật sư đến làm di chúc, để lại tài sản cho mấy con chó của cụ. Chó trung thành với chủ, chó không bao giờ bỏ chủ của mình. Chỉ có người ăn thịt chó chứ đâu ai nghe chó ăn thịt người bao giờ?
Tuổi già hiu quạnh, chỉ còn chú chó trung thành bên cạnh.
Thương người như thể thương thân, nói dễ nhưng làm khó lắm. Cho nhau nụ cười, tiếng cười, cho nhau một chút thì giờ và sự quan tâm, có bao nhiêu người làm được việc này?
Nhiều người thường nói:
– Tôi bận quá, tôi bận quá, tôi không có thì giờ.
Mọi người đều có thì giờ bằng nhau 24 giờ một ngày. Tôi bận quá, tôi bận quá, chỉ là một cách nói, một cách nói cho qua để khỏi làm mất lòng người nghe. Khi người ta quan tâm đến nhau, gần trút hơi thở cuối cùng, người bệnh vẫn gọi tên người mà họ yêu thương nhất và họ vẫn muốn gặp người này. Có nhiều người không muốn đi, cứ đợi chờ gặp một người nào đó lần cuối trong cuộc đời. Hơi thở đứt quãng, mệt nhọc nhưng không chịu nhắm mắt, vẫn chờ đợi bước chân của người mình thương xuất hiện trước cửa phòng bệnh.
Đó là người sắp chết, sắp thở hơi thở cuối cùng, còn người còn sinh tiền thì sao? Một chút thì giờ cho người khác có phiền lắm không? Có thương nhau thì hãy quan tâm đến người xung quanh ngay bây giờ, đừng chờ người đó sang bên thế giới thì hối tiếc cũng muộn quá rồi?
Một cô gái trẻ đã tâm sự: ba con bị thấp khớp, xương đau nhức, chân bị teo cơ không đi được nhưng ba nằm trên giường không một tiếng than. Niềm vui của ba là mỗi ngày chờ con cháu đi làm về ghé thăm, nghe ba nói chuyện. Vậy mà, con cứ cuốn vào cuộc sống cơm, áo, gạo, tiền, con không dành thời gian nhiều bên ba. Ba mất vào lúc sáng sớm, không kịp nhìn thấy mặt con lần cuối. Con chạy về, mặt ba còn hồng hào, thân thể còn ấm, mắt khép lại như muốn con cháu an tâm là ba ra đi thanh thản, không oán trách ai. Nhưng trong lòng con là một sự ăn năn, hối lỗi, ray rứt khôn nguôi. Khi ba cần con nhất, con đã không ở bên cạnh…
Khi biển sâu và trời rộng bao la, chẳng đo được công lao cha vun đắp.
Nghe cô gái kể, tôi nhớ ba mình vô cùng. Ngày tôi chuẩn bị vượt biên, tôi về thăm ba tôi. Tôi nắm tay ba tôi và nói:
– Con chuẩn bị vượt biên.
Mắt ba tôi sáng lên, ánh mắt thương yêu và hy vọng. Ba má tôi chỉ biết cầu nguyện cho con đi bình yên.
Ba tôi là người ít nói, lắng nghe nhiều nhưng mỗi lời nói của ba tôi rất sâu sắc và đầy ý nghĩa, chúng tôi phải lắng nghe.
Thế rồi tôi đi, chỉ một lần là thoát. Thuyền ra khơi, sóng to gió lớn, hết thực phẩm và nước uống. Mọi người chỉ cầu nguyện và cầu nguyện. Trước cái chết gần kề chỉ có sự cầu nguyện là linh thiêng nhất.
Chiếc thuyền đánh cá mỏng manh như chiếc lá ngoài biển khơi mênh mông được tàu Mỹ cứu, đưa vào Phi Luật Tân. Tôi được về Cali. Tôi vừa làm vừa học, bận tối tăm mặt mũi nhưng vẫn liên lạc thường xuyên với cháu tôi ở Pháp để nhờ chuyển thư về Việt Nam thăm gia đình.
Vài tháng sau khi tôi vượt biên, ba tôi qua đời, nhưng mọi người dấu không cho tôi hay sợ ảnh hưởng đến việc học của tôi. Lúc đó, Mỹ đang cấm vận Việt Nam không có liên lạc được phải qua một quốc gia khác như Pháp hay Canada để gởi thư.
Tôi thương ba má tôi lắm. Hồi nhỏ, tôi không được ở gần ba má tôi, vì phải đi học xa, ở xa mới có trường học tốt. Ba má tôi chú trọng đến việc học của con, cho đó là điều ưu tiên.
Nghĩa mẹ như biển rộng. Công cha như trời cao.
Ơn sinh thành dưỡng dục. Vời vợi tựa trăng sao
Bây giờ nhìn những người trẻ được ở gần cha mẹ, tôi ao ước vô cùng. Hãy dành thì giờ bên cạnh cha mẹ và hãy chăm sóc cha mẹ bằng cả tấm lòng. Được ở gần cha mẹ lúc cha mẹ lâm chung là điều hạnh phúc, không có cha mẹ làm sao có mình. Ba má tôi đã ra đi mấy chục năm rồi mà tôi tưởng chừng ba má tôi còn ở đâu đây, ở quanh chúng tôi.
Lúc người thân của mình còn hiện hữu hãy quan tâm, hãy cho họ thì giờ, nếu không sau này hối tiếc cũng không còn kịp nữa. Khi cha mẹ nhờ chở đi đâu, đi nhà thờ, đi chùa, đừng bao giờ nói: con không có thì giờ, con bận lắm,… thì sau này sẽ ân hận suốt đời.
Con sẽ không đợi một ngày kia Khi mẹ mất đi mới giật mình khóc lóc Những dòng sông trôi đi có trở lại bao giờ? Con hốt hoảng trước thời gian khắc nghiệt Chạy điên cuồng qua tuổi mẹ già nua Mỗi ngày qua con lại thấy bơ vơ Ai níu nổi thời gian? Ai níu nổi? Con mỗi ngày một lớn lên Mẹ mỗi ngày thêm già cỗi Cuộc hành trình thầm lặng phía hoàng hôn.
(Mẹ, thơ Đỗ Trung Quân)
Cho nhau tiếng cười, cho nhau một chút thì giờ có gì quá đáng? Hãy tự hỏi mỗi ngày mình bỏ bao nhiêu thì giờ xem tivi, nghe radio, đọc sách báo, nghe nhạc thì tại sao cho người khác một chút thì giờ thì lại phiền? Chỉ có lòng mình chưa đủ để quan tâm đến người bạn của mình mà thôi?
Hãy dành thời gian bên gia đình, người thân và bạn bè.
Xin đừng bao giờ nói: tôi bận quá, tôi không có thì giờ, tôi không có thì giờ. Mỗi ngày 24 giờ là nhiều lắm, nếu mình sử dụng hết 24 giờ này ngoài việc ăn, ngủ, làm việc thì còn thì giờ nhiều lắm. Nếu mình quan tâm đến người khác thì xin đừng bao giờ nói: tôi bận quá, tôi không có thì giờ.
Hãy bao dung, hãy rộng lượng, hãy thương người như thể thương thân, thì chúng ta có 24 giờ một ngày là nhiều lắm.
Thương người, đây là giá trị tinh thần quan trọng lắm. Thương người không phải chỉ cho họ thức ăn. Ở đây thức ăn nhiều quá, ai cũng sợ ăn nhiều rồi mập. Mập thì dễ sinh bệnh, cao mỡ, cao máu, cao đường. Thương người nên cho họ những gì thuộc về tinh thần: một lời cầu nguyện chân thành, những nụ cười hiền lành, tiếng cười giòn tan. Thương người nên quan tâm đến họ nhất là những lời an ủi trong lúc bệnh hoạn. Thương người nên cho họ niềm tin, hy vọng, lạc quan. An ủi bằng lời cầu nguyện, sự nhiệm mầu của sự cầu nguyện, lời cầu nguyện rất linh thiêng. Vì vậy, có những người vẫn đứng ngoài trời lạnh buốt giá trước tượng Phật bà Quan Âm hay Đức Mẹ Maria mà cầu nguyện một cách chân thành.
Tôi được biết nhiều người có niềm tin vào Đấng Tối Cao dễ sống vui vẻ, vượt qua những khó khăn giữa mùa dịch cúm Covid-19 này.
Hy vọng người thương người, cho nhau một chút thì giờ trong cuộc sống hàng ngày. Mong rằng sẽ không bao giờ phải nghe câu tôi bận quá, tôi không có thì giờ. Thì giờ nhiều lắm, thì giờ mênh mông, ban phát nó hay không là do ở mỗi người chúng ta.
Cắt 2 chữ đầu mỗi câu trong bài chính, thành bài ngũ ngôn:
Đón Tết rực vườn hoa
Xinh tươi đẹp ngọc ngà
Ý lời gieo vận đối
Tình nghĩa kết thơ hoà
Cánh phấn mai lơi lả
Tơ vàng bướm nhẩn nha
Tỏa quang ngời sắc thắm
Đón Tết rực vườn hoa
4. Cắt 2 chữ cuối mỗi câu trong bài chính, đọc ngược thành bài ngũ ngôn thứ 2:
Rực Tết đón chào Xuân
Ngời quang tỏa thế trần
Bướm vàng tơ lảng bảng
Mai phấn cánh lâng lâng
Kết nghĩa tình tuôn trải
Gieo lời ý ngập dâng
Đẹp tươi xinh sắc cảnh
Rực Tết đón chào Xuân
5. Cắt 3 chữ cuối mỗi câu trong bài chính, thành bài thơ 4 chữ:
Xuân chào đón Tết
Cảnh sắc xinh tươi
Dâng ngập ý lời
Trải tuôn tình nghĩa
Lâng lâng cánh phấn
Bảng lảng tơ vàng
Trần thế tỏa quang
Xuân chào đón Tết
6. Cắt 3 chữ cuối mỗi câu trong bài chính, chuyển ngược dưới lên thành bài thơ 4 chữ thứ 2:
Tết đón chào Xuân
Quang tỏa thế trần
Vàng tơ lảng bảng
Phấn cánh lâng lâng
Nghĩa tình tuôn trải
Lời ý ngập dâng
Tươi xinh sắc cảnh
Tết đón chào Xuân
7. Cắt 3 chữ đầu mỗi câu trong bài chính, thành bài thơ 4 chữ thứ 3:
Tết rực vườn hoa
Tươi đẹp ngọc ngà
Lời gieo vận đối
Nghĩa kết thơ hoà
Phấn mai lơi lả
Vàng bướm nhẩn nha
Quang ngời sắc thắm
Tết rực vườn hoa
8. Cắt 3 chữ đầu mỗi câu trong bài chính, chuyển ngược dưới lên thành bài thơ 4 chữ thứ 4:
Hoa vườn rực Tết
Thắm sắc ngời quang
Nha nhẩn bướm vàng
Lả lơi mai phấn
Hòa thơ kết nghĩa
Đối vận gieo lời
Ngà ngọc đẹp tươi
Hoa vườn rực Tết
9. Cắt 4 chữ đầu mỗi câu của bài chính, thành bài thơ 3 chữ:
Rực vườn hoa
Đẹp ngọc ngà
Gieo vận đối
Kết thơ hoà
Mai lơi lả
Bướm nhẩn nha
Ngời sắc thắm
Rực vườn hoa
10. Cắt 4 chữ cuối mỗi câu trong bài chính, ngược từ dưới lên thành bài thơ 3 chữ thứ 2:
Đón chào Xuân
Tỏa thế trần
Tơ lảng bảng
Cánh lâng lâng
Tình tuôn trải
Ý ngập dâng
Xinh sắc cảnh
Đón chào Xuân
11. Dùng 3 chữ đầu trong câu 8 của bài chính “thuận độc (bài 1) đảo ngược lại rồi thay cho 3 chữ cuối của câu 1, bài 1, và tiếp tục hoán đổi từ dưới lên cho đến hết 8 câu, thành một bài thất ngôn bát cú khác:
Xuân chào đón Tết, đón chào Xuân
Cảnh sắc xinh tươi tỏa thế trần
Dâng ngập ý lời tơ bảng lảng
Trải tuôn tình nghĩa cánh lâng lâng
Lâng lâng cánh phấn tình tuôn trải
Bảng lảng tơ vàng ý ngập dâng
Trần thế tỏa quang xinh sắc cảnh
Xuân chào đón Tết, đón chào Xuân
12. Dùng 3 chữ đầu trong câu 8 của bài “nghịch độc” (bài 2), đảo ngược lại rồi thay cho 3 chữ cuối của câu 1, bài 2, và tiếp tục hoán đổi từ dưới lên cho đến hết 8 câu, thành bài thất ngôn bát cú khác thứ 2:
Hoa vườn rực Tết rực vườn hoa
Thắm sắc ngời quang đẹp ngọc ngà
Nha nhẩn bướm vàng gieo vận đối
Lả lơi mai phấn kết thơ hòa
Hòa thơ kết nghĩa mai lơi lả
Đối vận gieo lời bướm nhẩn nha
Ngà ngọc đẹp tươi ngời sắc thắm
Hoa vườn rực Tết rực vườn hoa
Phương Hoa – Xuân Canh Tý – 2020
HÃY CHO NHAU TIẾNG CƯỜI
Sống ở Mỹ hơn nửa đời người, ngày 30 Tết, tôi đi chùa làm phóng sự cho báo, radio và tivi. Ngày mùng 1 Tết, tôi đi xông đất cơ sở thương mại của mình và bằng hữu, và tiếp tục đi chùa. Giao thừa năm nay và mùng 1 Tết, tôi ở nhà chờ tin vui của bằng hữu.
Kiều Mỹ Duyên bên trẻ em mồ côi Mexico
Giọng nói của Sơ Immacolata Đào ThịThu Thủy ở đầu giây:
– Chị khỏe không?
Tiếng nói của sơ cùng với tiếng cười giòn tan. Nghe giọng nói của sơ là biết mùa Xuân đã về. Giọng nói của sơ Đào Thủy với tiếng cười reo vui đặc biệt, hình như sơ không bao giờ biết buồn. Sơ đậu bằng Tiến sĩ giáo luật ở Roma. Trước đây, sơ là cô giáo, tôi nghĩ chắc cô giáo sơ Đào Thủy được học trò thương lắm. Tôi cũng là cô giáo của trường Văn Hóa Quân Đội Quang Trung, quận Hóc Môn, tỉnh Gia Định. Học trò của tôi năm nay đã có cháu nội, cháu ngoại. Thỉnh thoảng, học trò của tôi bồng cháu nội, cháu ngoại đến thăm. Ngày xưa, dạy học tôi nghiêm lắm, nhưng cô giáo sơ Đào Thủy cười tươi vui lắm. Ai bảo đi tu là khó, đi tu dễ lắm chứ!
Sơ Đào Thủy rất dễ thương, sơ yêu nghề dạy học và làm từ thiện. Sơ ở trong hội Hồng Ân giúp đỡ tích cực cho người nghèo ở rừng núi Bắc Việt và cao nguyên Trung phần. Có lần, sơ nói với tôi:
– Chị ơi, em bị bắt nạt hoài.
Giọng nói của sơ lúc nào cũng reo vui. Tôi tự nhủ: “Sơ tốt nghiệp Tiến sĩ giáo luật, ai dám bắt nạt sơ chứ?” Nhưng tôi lại nhớ có lần, chị Liên của sơ nói về ông anh cả quyền huynh thế phụ. Anh của sơ đi tu từ lúc 11 tuổi, đâu có ở nhà để “bắt nạt” các cô em. Anh của sơ chịu chức linh mục, làm phó xứ, chánh xứ, được mọi người kính trọng và thương mến. Ngài hiền lành, đức độ và quảng đại, giúp đỡ mọi người khi ai cần đến sự giúp đỡ của ngài. Ngài có kiến thức uyên thâm nhưng rất khiêm tốn.
Mấy hôm nay, tôi ở nhà vì thuốc chích ngừa Covid-19 hành hạ. Ngày thứ hai, thứ ba và thứ tư, tôi đau, đau không thể tưởng tượng được, đau như chưa từng đau. Đầu nhức như búa bổ, cánh tay nơi chích ngừa nóng như lửa, hai bàn tay lạnh như nước đá. Khổ như chưa từng khổ, vậy mà khi nghe tiếng cười giòn tan của sơ Đào Thủy, tôi cảm tưởng như cơn đau đi mất.
Tôi nói với sơ:
– Hy vọng một ngày nào đó khi nghe tiếng cười của sơ là tôi chạy ra đón sơ vào, lúc đó sơ đang ở ngoài bãi đậu xe.
Sơ ĐàoThủy tiếp tục cười, tiếng cười reo vui. Sơ lúc nào cũng cười, ở sơ chỉ có mùa Xuân không có mùa Hạ, mặc dầu mấy tháng trước sơ chăm sóc cho hai người chị của sơ bị Covid-19 và cụ cố trong nhà già. May mắn, Chúa thương, hai chị của sơ đã bình phục.
Sr. Immacolata Đào Thị Thu Thủy
Hãy cho nhau tiếng cười reo vui, đời sống ngắn lắm, sự sống và sự chết gần nhau lắm, như sợi chỉ. Chỉ một cơn mê, chỉ một vài phút không thở, tim ngừng đập là lên đường ra đi mãi mãi, không bao giờ trở lại.
Hãy cho nhau nụ cười cho người còn hiện hữu, đừng đợi người ra đi rồi luyến tiếc. Muốn gặp ai thì cứ gặp, đừng chần chờ, vì không biết ngày mai mình còn thức dậy? Gặp người mình muốn gặp vài ba giây cũng đủ, nghe vài tiếng nói cũng đủ. Đâu cần ngồi bên cạnh cả ngày, cả tháng, cả đời? Biết đủ là đủ.
Trong những ngày bị thuốc chích ngừa Covid-19 hành hạ nằm một chỗ, mê mê tỉnh tỉnh, tôi có cơ hội để nghĩ rằng tình cảm giữa người và người vô cùng quan trọng. Một mai mình đi rồi không còn cơ hội để nghe tiếng cười của người khác hoặc nhìn thấy nụ cười của người mà mình quý mến. Tại sao không nói: Tôi đau quá, tôi cần nhìn nụ cười, tôi cần nghe tiếng cười, tiếng cười như một liều thuốc mầu nhiệm để chữa bệnh?
Trong những ngày đau đớn, quằn quại vì thuốc chích ngừa, tôi nghĩ đến việc nếu mình ra đi hôm nay hoặc ngày mai, mình không muốn thấy những người thân của mình buồn, mình không muốn nghe ai khóc, mình chỉ muốn nghe tiếng cười, tiếng hát những bài tình ca thật lãng mạn để tiễn người đi, hay kể những chuyện thật vui như khúc nhạc mừng đoàn quân chiến thắng trở về, vui ơi là vui.
Tiếng cười reo vui như khúc nhạc mừng chiến thắng.
Đời sống quá ư vất vả, ai cũng thích tiếng cười. Tiếng cười đem niềm vui và sức sống cho người xung quanh. Sống lạc quan khi có nụ cười, tiếng cười. Sự linh hoạt của đời sống là sự vui vẻ, yêu đời và lạc quan. Càng lớn tuổi, tôi càng thích tiếng cười. Tôi thích những người đem niềm tin đến cho mình, tôi cũng thích chính mình đem niềm tin đến cho người khác. Đem nỗi buồn làm phiền người khác để làm gì? Thương ai nên đem cho họ nụ cười, tiếng cười. Ngay cả người bệnh nằm trong viện dưỡng lão mà mình đem tiếng cười đến cho họ, nhìn vào mắt của bệnh nhân mình sẽ cảm thấy mắt của họ tươi hơn, khuôn mặt của họ có hồn hơn.
Hãy cho nhau nụ cười, cho nhau tiếng cười. Nếu mình có niềm vui trong lòng thì tiếng cười sẽ reo vui hơn, giòn tan hơn. Yêu người, yêu đời qua tiếng cười. Hãy yêu thương, lòng rộng mở, tiếng cười của mình sẽ hồn nhiên hơn, giòn giã hơn. Tôi yêu tiếng cười của trẻ thơ khắp nơi, nhất là các em trong viện mồ côi. Hãy ôm chặt các em trong tay với trái tim nồng nàn, chúng ta sẽ tìm thấy tình người trong vòng tay ấm áp của mình. Hãy nắm chặt tay người già trong viện dưỡng lão, chúng ta sẽ cảm nhận được người cần người dù trong chốc lát.
Kiều Mỹ Duyên bên trẻ em mồ côi ở Việt Nam
Có người suốt đời đi tìm nụ cười đã mất, tìm hoài, tìm mãi không được, vì người có nụ cười thân thiện, thương yêu đã không còn nữa, cho nên khi còn hiện hữu, gặp bằng hữu, chúng ta nên cười vui vẻ, tự nhiên mà cười, nếu không ngày mai không còn kịp nữa.
Tôi được may mắn quen nhiều người có tiếng cười reo vui. Catherine bận rộn suốt ngày, làm việc không có ngày nghỉ. Vậy mà lúc nào cũng nở nụ cười trên môi và tiếng cười reo vui. Trong suốt hành trình đi làm việc xã hội ở Á Châu với hội từ thiện Young Life. Catherine lúc nào cũng cười không biết mệt. Chồng của Catherine là một trong 9 tỷ phú người Việt Nam tị nạn ở Hoa Kỳ. Chúng tôi gặp nhau ở Cambodia. Chúng tôi đến từ Hoa Kỳ, ngừng lại ở Nam Hàn, rồi đến Cambodia. Catherine cùng chồng đến từ một quốc gia khác, chúng tôi gặp nhau ở Cambodia, ở trong một khách sạn International Continental của Pháp. Khách sạn trong rừng cây, bóng tối và rừng cây thành một màu đen, ngồi ăn chỉ thấy những bóng đèn rực rỡ bên ngoài khung cửa sổ. Catherine tươi cười quan tâm đến từng người, trong đó có người đến từ Cali và các tiểu bang khác. Trong phái đoàn có 2 tỷ phú, một người Mỹ và một người Mỹ gốc Việt, còn lại là triệu phú. Có lẽ tôi là người nghèo nhất trong phái đoàn.
Nhiều người đi làm từ thiện với các phái đoàn từ thiện quốc tế đều biết là chuyến đi rất vất vả. Chương trình sắp đặt không có một chút thì giờ nghỉ ngơi. Sáng thức dậy thật sớm, ra khỏi khách sạn khi mặt trời chưa mọc, khi trở về thì mặt trời đã đi ngủ. Buổi sáng, khuôn mặt người nào cũng tươi cười nhưng khi trở về thì tắt tiếng cười. Tiếng cười đi ngủ theo mặt trời, nhưng Catherine thì không. Catherine lúc nào cũng nói năng hồn nhiên, dù vào rừng hay lên núi.
Kiều Mỹ Duyên cùng hội từ thiện Young Life: Giáo sư Daniel Aldrich, cố vấn UCI (áo xanh da trời, đứng sau), ông bà Frank Jao, và trẻ em mồ côi ở Cambodia
Mục đích của hội từ thiện Young Life là đào tạo những nhà lãnh đạo trẻ đam mê làm việc xã hội, thay đổi xã hội bằng giáo dục. Young Life thành lập trung tâm huấn luyện giới trẻ ở Phi Luật Tân. Giáo sư Mỹ đến đây, tốn kém ít mà đào tạo được nhiều sinh viên, nhất là không mất nhân tài, vì họ học tại Á Châu và làm việc tại Á Châu, thay vì đến Mỹ, học rồi ở luôn không về nữa.
Catherine đem nụ cười đến với những người nghèo, trẻ em mồ côi. Catherine giúp họ rất tận tình như người mẹ chăm sóc con cái của mình. Những đứa trẻ ở Miên rất thương Catherine.
Đi làm việc xã hội phải thức dậy từ 6 giờ sáng, sau đó lên đường. Chương trình dày đặc: gặp gỡ những người nghèo, trẻ con mồ côi, tặng quà, lắng nghe những lời tâm sự của họ, bàn kế hoạch cho những năm sắp tới,… nhiều việc làm lắm. Chuyến đi nào cũng để lại cho chúng tôi bùi ngùi, xúc động.
Catherine lúc nào trong bóp cũng đầy tiền mặt. Tiếng cười và sự ân cần, niềm nở của Catherine cùng đi theo những món quà. Buổi tối về khách sạn ăn cơm tối, Catherine vẫn cười, trong lúc mọi người với nụ cười đã tắt theo ánh sáng mặt trời. Trong phái đoàn đa số là người lớn tuổi, khó tìm thấy nụ cười hay tiếng cười. Phu quân của Catherine lúc nào cũng suy tư, ít nói và không bao giờ cười, trong khi vợ thì luôn cười. Hai thái cực khác nhau vậy mà họ sống hạnh phúc gần hết cuộc đời, lạ không?
Đi làm xã hội với phái đoàn từ thiện Young Life, trong đó có Catherine, mọi người cười thoải mái vì có nụ cười của Catherine. Mong Catherine mãi có tiếng cười hồn nhiên đem lại sự an ủi cho những người nghèo và trẻ mồ côi.
Hoa đào khoe sắc thắm ngày Mùng 1 Tết
Tôi có người bạn hơn nửa thập niên, cứ mỗi năm ngày mùng 1 Tết, bạn gọi chúc Tết tôi. Nghe điện thoại reo, nhìn số điện thoại, tôi biết tiếng cười sẽ đến ngay. Thật vậy, tiếng nói đi theo tiếng cười, chúng tôi nói đủ thứ chuyện, chuyện đời xưa, chuyện đời nay. Câu chuyện không có chủ đề nhưng nói hoài không hết. Năm nay, mùng 1 Tết cũng vậy, tiếng cười đi trước, đã mấy chục năm rồi, lời chúc Tết của người bạn bằng tiếng cười thay lời nói, chuyện nào cũng vui, chuyện trời trăng mây nước, chuyện cây cỏ phủ một màu tuyết trắng xóa. Tôi thì kể chuyện hoa mai, hoa đào. Có nhiều khi người bạn không biết mình là ai, tôi phải nhắc nhở và phân tích cho bạn biết, bạn là ai, rất tiếc người ở bên bạn không thấy bạn, không định được giá trị của bạn. Bạn đến với tôi, bao giờ cũng vậy, tôi nhắc lại những người bạn cũ, những người bạn đã ra đi không bao giờ quay trở lại với những nét độc đáo của họ.
Ở trên đời này, xung quanh ta đông người lắm, nhưng tìm được một người hiểu mình được bao nhiêu? Một người biết lắng nghe người khác nói chuyện với trái tim của mình không phải dễ tìm. Bạn tôi vui lắm nhưng tôi biết bạn tôi cô đơn, nhưng không phải vì cô đơn mà mùng 1 Tết gọi thăm tôi với tiếng cười và kể đủ thứ chuyện cho tôi nghe. Tôi cũng rất thích thú nghe chuyện tuyệt vời ở miền Đông với tiếng cười ấm áp, tiếng cười hồn nhiên của người bạn hơn nửa thế kỷ đó.
Đã mấy chục năm rồi, bạn thường gọi thăm tôi vào buổi sáng mùng 1 Tết thật sớm, nhưng năm nay bạn gọi vào buổi chiều. Cũng may, lúc đó tôi đang ở nhà, đang nhìn ra khung cửa: cỏ xanh, trái tắc nặng trĩu trên cành, màu vàng rực rỡ, hoa đào vẫn rung rinh trong gió. Tôi yêu cành mai, cành đào sau vườn nhà tôi, và những trái bưởi treo lủng lẳng trên cành cây xanh. Tiếng cười của người bạn vẫn vang vang trong gió. Tôi thích nghe tiếng cười của bạn nên im lặng và mắt thì nhìn ra vườn. Một ngôi vườn nhỏ, nếu so với mảnh vườn của ba mẹ tôi ở Việt Nam thì vườn nhà tôi ở đây nhỏ lắm, nhỏ lắm. Hình như những trái cây vàng rực rỡ trên cành cất tiếng cười. Những con chim nhỏ hót líu lo nhảy nhót từ cành cây này sang cành cây khác đón chào mùa Xuân. Xuân của đất trời và Xuân trong lòng người.
Những trái cây rực rỡ trên cành đong đưa theo gió, mùi hoa bưởi thơm ngát thoang thoảng trong vườn. Tôi định hái trái cây để tặng cho vị lãnh đạo tinh thần, nhưng vị lãnh đạo tinh thần nào giỏi, đạo đức thì không thiếu một thứ gì, không cần một thứ gì, vì hàng ngàn tín đồ của họ đem đến, đâu cần đến trái cây vườn nhà tôi?
Tiếng cười của bạn tôi vẫn reo vang. Năm nào, bạn tôi cũng gọi cho tôi với tiếng cười lạc quan pha chút nghịch ngợm của trẻ thơ vào ngày đầu năm.
Tiếng cười vui vẻ không thay thế được cơm gạo, nhưng tiếng cười hồn nhiên của trẻ thơ, của người già vẫn là nhu cầu cần thiết của người nghe, của bằng hữu. Bạn tôi không gọi tôi thường xuyên nhưng mùng 1 Tết năm nào cũng gọi. Trước khi đi xa gọi, trở về gọi, có chuyện vui đều gọi tôi. Bạn tôi rất hồn nhiên, chỉ kể chuyện vui, không bao giờ kể chuyện buồn.
Mỗi lần nói chuyện với tôi, bạn tôi thường nhắc đến những người con gái điên. Những người con gái này có học, con nhà giàu, viết văn, làm thơ, ca hát và sáng tác nhạc rất hay. Tôi cười vì những người con gái này là bạn của tôi đang ở rải rác khắp nơi trên thế giới. Họ vẫn tiếp tục cầm bút và vẫn viết, viết rất hay. Có lẽ nhờ có máu điên mà viết hay chăng? Tình yêu chân thật làm cho các bạn tôi điên. Tôi cũng mong những người bạn văn nghệ của tôi mãi mãi điên, để không ham danh, ham lợi. Mãi mãi là người điên để tôi được thưởng thức những sáng tác tuyệt vời của các bạn.Vì yêu mà điên thì cứ mãi là người điên thì tốt hơn.
Mãi đến bây giờ, tôi mới nhận ra một điều quan trọng là chúng ta rất cần nụ cười, cần tiếng cười trong đời sống hàng ngày: tiếng cười hồn nhiên của trẻ thơ, nụ cười héo hon của người già gần đất xa trời, giọng cười giòn tan của bạn bè, thân hữu,… Đúng là một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ?
Kiều Mỹ Duyên bên trẻ em mồ côi ở Cambodia
Hạnh phúc thay cho những ai có tiếng cười giòn tan thường đến với mình trong 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Tiếng cười hồn nhiên pha lẫn chút nghịch ngợm của trẻ thơ làm cho người nghe lạc quan, yêu người, yêu đời mà sống, vượt qua những nỗi khó khăn ở hiện tại.
Xin cảm ơn những nụ cười, những tiếng cười mà tôi đã được gặp, được nghe trong đời sống hàng ngày, nhất là vào mùa Xuân.
Orange County, 15/02/2021
KIỀU MỸ DUYÊN
(kieumyduyen1@yahoo.com)
THƠ XUÂN TÂN SỬU Xướng Họa: Tuyết Vân – Phương Hoa – Minh Thúy
XUÂN MONG ƯỚC
(Xướng)
Xuân về mừng đón Tân Niên
Hoa mai hoa cúc ngoài hiên nở rồi…
Xuân nay lặng lẽ bên đời
Ngắm xuân với những bồi hồi xót xa
Lặng trong ngày tháng phong ba
Bao nhiêu buồn khổ, bao là đắng cay
Vì đâu nên nỗi…cảnh này?
Xót thương nhân loại những ngày buồn đau
Năm qua bên cuộc bể dâu…
Dìm bao số phận…mà đau thương lòng
Xuân về tiễn biệt mùa đông…
Xuân mang thương nhớ cùng mong ước nhiều
Trời xuân hết cảnh đìu hiu
Xuân đem hy vọng đem điều thiết tha…
Mong cho hạnh phúc mọi nhà
Mùa xuân tươi thắm chan hoà niềm vui
Tuyết Vân (xuân 2021)
****
MỪNG XUÂN TÂN SỬU
(Họa)
Giao Thừa dâng lễ Tất Niên
Đì đùng tiếng pháo bên hiên nhộn rồi
Trăng non soi xuống trần đời
Tiếng chuông Trừ Tịch từng hồi ngân xa
Đường làng lũ lượt năm ba
Lên chùa hái lộc hương là mắt cay
Cỏ cây hoa lá nơi này
Thắm tươi quên hết bao ngày khổ đau
Xuân về sáng đẹp nương dâu
Tương lai tan biến niềm đau trong lòng
Không còn nặng mối sầu đông
Niềm vui đã thỏa còn mong chi nhiều
Gió Xuân rười rượi hiu hiu
Lòng Xuân phới phới trăm điều khai hoa
Chúc Xuân Trâu khỏe nhà nhà
Mừng Xuân Tân Sửu hợp hòa an vui…
Phương Hoa – Feb 2nd 2021
****
XUÂN 2021
(Họa)
Vạn vật thay sắc đầu niên
Đào , Mai nở nhắc bên hiên đây rồi
Đàn chim tung cánh bên trời
Tâm hồn lắng đọng từng hồi chuyện xa
Tha phương nhớ quá mẹ ba
Thời gian cơ cực toàn là lệ cay
Lưu vong tỵ nạn nơi này
Hằn sâu ký ức chuỗi ngày hận đau
Núi non mờ mịt ngàn dâu
Quê hương tan tác vết sâu ẩn lòng
Vùi theo quang cảnh sầu đông
Bây giờ lộc biếc thầm mong thật nhiều
Nâng từng giọt nắng hắt hiu
Cúc vàng nghiêng nụ yêu kiều sương sa
Đón Xuân chúc Tết bao nhà
Năm Tân Sửu được phước hoà lộc vui.
Minh Thuý Thành Nội
Tháng 2/2/2021
Lê Đình Thông: CON TRÂU TRONG VĂN HỌC
Năm Canh Tý (2020) qua đi, năm Tân Sửu (2021) thay thế. Sửu là con giáp thứ hai trong số 12 con giáp (十二支 : thập nhị chi). Tân là can thứ hai trong số thập can (十干).
Mười hai con giáp gồm có : Tý (chuột), Sửu (trâu), Dần (hổ), Mão (mèo), Thìn (rồng), Tỵ (rắn), Ngọ (ngựa), Mùi (dê), Thân (khỉ), Dậu (gà), Tuất (chó), Hợi (lợn).
Danh sách mười Can chép như sau. Số chót năm dương lịch tương ứng với Can + Chi. Năm 2021 : số 1 là Tân + Sửu (theo thứ tự mười hai con giáp).
Số
Can
Việt
Âm – Dương
Hành
0
庚
canh
Dương
Kim
1
辛
tân
Âm
Kim
2
壬
nhâm
Dương
Thủy
3
癸
quý
Âm
Thủy
4
甲
giáp
Dương
Mộc
5
乙
ất
Âm
Mộc
6
丙
bính
Dương
Hỏa
7
丁
đinh
Âm
Hỏa
8
戊
mậu
Dương
Thổ
9
己
kỷ
Âm
Thổ
Trâu là tên gọi tiếng Việt. Chữ Hán viết là 牛 (ngưu), tượng hình cái sừng trâu. Trong văn hóa nước ta, con trâu là điềm lành : nằm mơ thấy trâu vàng là điềm giàu sang, cưỡi trâu là có tin vui, trâu sinh nghé là ý nguyện viên thành.
Văn học nước Tầu có truyện Tây Du Ký, Ngưu ma vương là vua các loài trâu. Trong truyện Ngưu Lang Chúc Nữ, Ngưu Lang là thần chăn trâu, vì mê say Chúc Nữ dệt vải, chàng bỏ việc đồng áng, còn nàng bỏ khung cửi. Thượng đế bắt đôi tình nhân phải xa nhau, kẻ đầu sông Ngân, kẻ cuối sông. Cả hai khóc như mưa, biến thành mưa ngâu. Hàng năm, vào đêm 7 tháng Bảy âm lịch, cả hai được gặp nhau trên chiếc cầu Ô Thước. Trong triết học đông phương còn có sự tích Lão Tử cưỡi trâu.
Trâu trong tranh Đông Hồ
Lịch sử nước ta có sự tích Đinh Bộ Lĩnh thuở nhỏ cưỡi trâu, lấy cờ lau tập trận.
Hình luật triều Lý và triều Trẩn đều ngăn cấm việc giết trâu, mục đích là để bảo vệ việc đồng áng.
Ở Bắc Giang và nhiều sắc tộc miền thượng du có tục tế trâu. Saigon, thủ đô VNCH trước 1975, thuở xưa có tên là Bến Nghé.
I – Con trâu trong văn chương truyền khẩu :
Trong Việt Nam Văn Học Sử Yếu, giáo sư Dương Quảng Hàm chia văn học nước ta thành hai loại : văn chương bình dân và văn chương bác học. Văn chương bình dân gồm văn chương truyền khẩu (tục ngữ : lời nói có từ lâu đời) và ca dao (bài hát lưu hành trong dân gian)
Trong kho tàng tục ngữ, có nhiều câu nói truyền tụng nói về trâu như sau :
– Trên đồng cạn dưới đồng sâu Chồng cầy vợ cấy con trâu đi cầy.
– Ai nói chăn trâu là khổ?? Tôi chăn nàng còn khổ hơn trâu.
– Đêm qua kẻ trộm vào nhà, Làm thinh chợp mắt để mà mất trâu. Nằm đây chớ chẳng ngủ đâu, Thức mà giữ lấy con trâu con bò. Nằm đây nào đã ngủ cho, Thức mà giữ lấy con bò con trâu.
– Trâu ơi ta bảo trâu này Trâu ăn cho béo trâu cày cho sâu. Ở đời khôn khéo chi đâu, Chẳng qua cũng chỉ hơn nhau chữ cần.
– Tháng giêng là tháng ăn chơi, Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà Tháng ba thì đậu đã già Ta đi ta hái về nhà phơi khô Tháng tư đi tậu trâu bò Để ta sắm sửa làm mùa tháng năm.
– Trâu ơi ta bảo trâu này, Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta. Cấy cày giữ nghiệp nông gia. Ta đây trâu đấy, ai mà quản công! Bao giờ cây lúa còn bông, thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn”.
– Trâu năm sáu tuổi còn nhanh, Bò năm sáu tuổi đã tranh về già, Đồng chiêm xin chớ nuôi bò, Mùa đông tháng giá, bò dò làm sao!
– Trâu buộc thì ghét trâu ăn, Quan võ thì ghét quan văn dài quần.
– Dù ai buôn bán nơi đâu Mồng Mười, tháng Tám chọi trâu thì về
– Trời mưa trời gió đùng đùng Bố con ông Nùng đi gánh phân trâu Gánh về trồng bí trồng bàu Trồng ngô, trồng lúa, trồng rau, trồng cà.
II – Con trâu trong văn học thành văn :
Trong các tác phẩm văn học thành văn, cổ văn có Lục Súc Tranh Công là tiêu biều. Tân văn có tiểu thuyết Con Trâu của Trần Tiêu.
2.1. Lục Súc Tranh Công (六畜爭功) viết bằng chữ Nôm. Theo cụ Phó bảng Bùi Kỷ (1888-1960), tác giả Quốc Văn Cụ Thể (1932), tác phẩm này ra đời vào thời Lê mạt. Năm 1923, học giả Trương Vĩnh Ký có công phiên âm ra quốc ngữ.
Lục Súc Tranh Công viết theo thể nói lối, biến thể của song thất, gồm 570 câu. Không biết tác giả là ai, nhưng theo cụ Bùi Kỷ, tác giả hẳn là một nhà nho uyên bác, dùng nhiều điển cố.
Lục súc (六畜) gồm có ngựa, trâu, dê, chó, lợn (heo) và gà. Sau đây là trích đoạn về phần con trâu tranh công :
Trâu mỏi nhọc, trâu liền năn nỉ: “Một mình trâu ghe nỗi gian nan, Lóng canh gà vừa mới gáy tan, Chủ đã gọi thằng chăn vội vã. Dạy rằng: đuổi trâu ra thảo dã, Cho nó ăn ba miếng đỡ lòng. Chưa bao lâu thoắt đã rạng đông; Vừa đến buổi cày bừa bua việc. Trước cổ đã mang hai cái niệt, Sau đuôi thêm kéo một cái cày; Miệng đã dàm, mũi lại dòng dây, Trên lưng ruồi bâu, dưới chân đỉa cắn. Trâu mệt đà thở dài, thở vắn, Người còn hầm hét, mắng ngược mắng xuôi. Liệu vừa đứng bóng mới thôi, Đói hòa mệt, bước khôn dời bước. Ai thong thả, trâu nào ben đặng ? Trâu nhọc nhằn, ai dễ thế cho? Cày ruộng sâu, ruộng cạn cho no, Lại vườn đậu, vườn mè khiến chở
Làm không kịp thở, Ăn không kịp nhai. Tắm mưa, trải gió chi nài! Đạp tuyết, giày sương bao sá!
Có trâu, sẵn tằm tơ, lúa má, Không trâu, không hoa quả, đậu mè. Lúa gặt cất lên đà có trâu xe, Lúa chất trữ, lại để dành trâu đạp. Từ tháng giêng cho đến tháng chạp, Kể xuân, hè, nhẫn đến thu, đông. Việc cày bừa, nông vụ vừa xong, Lại xe gỗ, dầm công liên khói, Bất luận xe rào, xe củi. Nhẫn đến loài phân bổi, tranh che. Hễ bao nhiêu nhất thiết của chi, Thì đã phú mặc trâu chuyên chở.
Bao quản núi non hiểm trở ? Chi nài khe suối dầm dề ? Cong lưng chịu việc nặng nề, Cay đắng những lời dức lác!
Ăn thì những rơm khô, cỏ rác, Ở quản chi ràn lấm, tráp nè. Trâu dựng nên nông nọ, nỗi kia; Trâu làm đặng căn trên, bồ dưới. Nghĩ suy lại công trâu cho phải, Lẽ cho trâu thao lụa mặc dày. Không chi thì quần vải, dải gai, Không chi thì khố lưỡi cày cũng khá. Ăn cho phải những cơm với cá, Không nữa thì rau cháo cũng nên Đến mai sau già cả sức hèn, Cũng bảo dưỡng bổ công lao lý. Khi mạng một chẳng đơm, chẳng tế; Lẽ “sinh cử, tử táng”, mới ưng. Thủa sống đà không dạ yêu đương, Khi thác lại đoạn tình siêu độ. Bảo nhau sắm con dao, cái rổ, Khiến nhau vơ mớ củi, nắm nè. Rằng: Trâu này cốt Phật xưa kia, Phát đình liệu cho hồn thăng thiên giái. Còn hình tích giống chi để lại, Người người đều bàn bạc với nhau: Kẻ thì rằng: Tôi lãnh cái đầu, Người lại nói: Phần tôi cái nọng. Kẻ giành lòng bóng ép gối mà kê, Còn sừng đem về ép thoi làm lược. Kẻ thì chuốc hoa tai, làm bầu liều. Làm tù và mà thổi cũng kêu, Tiện con cờ mà đánh cũng tốt. Kẻ thì làm cái mõ, cáo hộp, Người lại tỉa cán quạt, cán dao.
Còn giò chia nhau, Làm nham, làm thấu.
Trâu gẫm lại là loài cầm thú, Phận sau chịu vậy, dám nài! Trâu thác đã công nghiệp phủi rồi, Trâu sống lại kiện nài với chủ: Không nhớ thủa bôi chuông đường hạ. Ơn Tề vương vô tội kiến tha, Tưởng chưng khi sức mọn tuổi già, Cám Điền tử dạy con chớ bán.
Lời cổ nhân còn dặn, Sao ông chủ vội quên ?
Chẳng nhớ câu “Dĩ đức hành nhân”. Lại lấy chữ “Báo ân dĩ oán!” Nói chi nữa cho dài chuyện vãn ? Thưa chủ xin nói thép một lời: Nhưng loài muông, vô tướng, vô tài, Nuôi giống ấy làm chi cho nhọc ? Ăn cho lớn, dưỡng vai, dưỡng vóc, Giỡn với nhau vạch cửa, vạch sân, Một ngày ba bữa chực ăn, Thấy đến việc lén mình lét lét. Chưa rét đã phô rằng rét, Xo ro đuôi quít vào trôn, Vấy bếp người, tro trấu chẳng còn, Ba ông táo lộn đầu, lộn óc, Chưa sốt đà nằm dài thở dốc. Le lưỡi ra phỏng ước dư gang. Lại thấy người lơ đĩnh lơ hoang Tài ăn vụng thôi thì hơn chúng. Nhưng muông biết cày nương, bừa ruộng, Thì muông kể biết mấy công ơn ? Muông, người cho ăn cháo, ăn cơm, Trâu, người bắt nhai rơm, nhai cỏ. Khi muông thác tống chung, an thổ, Có gạo tiền cấp táng toàn thân, Trách một lòng chủ ở bất công, Hậu ư bạc, bạc đem làm hậu”.
2.2. Tác phẩm Con Trâu của Trần Tiêu :
Trần Tiêu (1900 – 1954) là em ruột Khái Hưng. Ông viết văn là nhờ sự khuyến khích của Khái Hưng.
Con Trâu đăng trên báo Ngày Nay từ số 140 ngày 10 tháng 12 năm 1938, sau đó in thành sách và do nhà xuất bản Đời Nay ấn hành năm 1940.
Ngoài Con Trâu, Trần Tiêu còn viết :
– Chồng con (tiểu thuyết, 1941)
– Năm hạn (tập truyện ngắn, 1942)
– Sau lũy tre (tập truyện ngắn, 1942)
– Truyện quê (đoản thiên tiểu thuyết, 1942)
Trong Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan viết về tác giả tiểu thuyết Con Trâu như sau : “Người dân quê Việt Nam dưới ngòi bút của Trần Tiêu bao giờ cũng là người dân quê nghèo khổ và mê tín. Người dân quê của ông là những người bị xiềng xích trong hủ tục, họ nghèo vì những tục hủ và khổ cũng vì những tục này. Trần Tiêu là nhà văn cho chúng ta thấy cái mặt kém cỏi của người dân quê Việt Nam (…) nhưng vì nếu chỉ nghèo nàn, mê tín, tất đã bị diệt vong từ lâu rồi”.
Dưới đề mục ‘‘Mục đồng’’ mở đầu tiểu thuyết, Trần Tiêu viết như sau : ‘‘Nghé ơ ơ…ơ nghé ! Thằng Tửu ngồi trên mình trâu gọi nghé. Con trâu mẹ kêu thêm mấy tiếng ‘‘nghé ọ’’ và chân vẫn thản nhiên, đều đều bước một trên con đường đất gồ ghề.
Xa xa, cánh đồng cỏ nhấp nhô những mả. Một con nghé đứng sừng sững, cất đầu, ngơ ngác nhìn, đen sẫm in trên nền trời đỏ.
Bỗng nó nhảy quàng mấy cái, rồi vừa chạy vừa nhảy như một đứa trẻ nghịch ngợm, nó đến theo sau mẹ nó, thỉnh thoảng lại kêu mất tiếng ‘‘nghé ọ’’ còn non nớt.’’
Người miền bắc nói ‘‘mả’’ mộ (chôn người chết). Nghé là con trâu con.
Văn học nước ta có ‘‘Con Trâu’’ của Trần Tiêu. Văn học Pháp có nữ sĩ Marguerite Duras kể lại kỷ niệm về con trâu trong thuở niên thiếu ở nước Việt.
2.3. Nhà văn Marguerite Duras viết về con trâu :
Marguerite Duras (1914-1996) là con út trong gia đình gồm ba anh em. Cha bà là hiệu trưởng Trường Gia Định, mẹ : giáo viên. Duras là tác giả L’Amant, giải văn học Goncourt (1986). Trong tác phẩm này, bà thuật những kỷ niệm tuổi thơ, hình ảnh các trẻ chăn trâu (enfants sur les buffles) còn in đậm trong ký ức.
Kết luận :
Khác hẳn với câu tục ngữ ‘‘đàn gảy tai trâu’’, con trâu rất gần gũi với văn học, nghệ thuật. Tranh Đông hồ vẽ trẻ chăn trâu. Câu ca dao :
Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cầy với ta
Cấy cầy giử nghiệp nông gia
Ta đây trâu đầu ai mà quản công
Bao giờ cây lúa còn bông
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.
là lời nói thân tình của nhà nông với con trâu, coi trâu cầy như người bạn thân tình. Cả hai cùng làm lụng vất vả, cùng vui hưởng thành quả cần lao. Nhà nông thì gieo mạ, gặt lúa, con trâu có ‘‘ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn’’.
Trâu còn là bạn của các trẻ mục đồng, tai nghe tiếng sáo thổi vi vu trên mình trâu, ngắm nhìn con diều dật dờ trên trời quê xanh biếc.
Trong ca khúc ‘‘Em Bé Quê’’, nhạc sĩ Phạm Duy viết rằng :
Ao bảo chăn trâu là khổ
Chăn trâu sướng lắm chứ
Ngồi mình trâu, phất ngọn cờ lau
Và miệng hát nghêu ngao.
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Đường về xóm nhà
Chữ i chữ tờ
Lùa trâu nhốt chuống
Gánh nước nữa là xoxng
Khoai lùi bếp trấu
Ngon hơn là vàng.
Người viết xin kính chúc bạn đọc sang năm Tân Sửu luôn khỏe mạnh, không còn phải băn khoăn, lo lắng về dịch bệnh ; trong năm mới, mỗi người sẽ gặt hái mùa màng vui tươi, thịnh vượng.