Hoàng Hôn Của Các Đại Tướng – Giao Chỉ, San Jose.

Hoàng hôn của các đại tướng.

Giao Chỉ, San Jose.

Sáng nầy nhận được thư của niên trưởng hàng xóm Nguyễn Khắc Bình. Thứ sáu 16 tháng 7-2021 San Jose tưởng niệm thủ tướng Trần Thiên Khiêm tại nhà thờ Maria Goretti 2980 cầu nguyện lúc 11:30 và thánh lễ lúc 12 giờ. Ban tổ chức là tướng Bình nguyên TMT của đại tướng Khiêm và ông Ng Đức Cường nguyên tổng trưởng kinh tế trong nội các của thủ tướng đệ nhị cộng hòa. Ban tổ chức xin mời toàn thể đồng hương đến dự.                                                             Cũng vào dịp tháng 7 vào ngày 20-1974 cách đây 67 năm là dịp tưởng niệm cuộc di cư vĩ đại đưa 1 triệu người từ Bắc vào Nam. Tháng trước anh Dương Phục của Radio Saigon Houston hỏi rằng bác Lộc có biết đại tướng Khiêm ở CA không. Trả lời rằng ngày xưa ở Việt Nam chưa từng có dịp trực diện khi ông tướng còn trong quân đội. Sau này ông làm thủ tướng thì lại càng xa cách. Mấy năm gần đây tướng Bình có dịp mời ông đến thăm Việt Museum nên tôi mới có cơ hội nói chuyện. Nhắc lại chuyện xưa thời kỳ đất nước còn đủ hai đầu Nam Bắc, Sài Gòn Hà Nội cũng thực thú vị.

Những vị đại tướng VNCH.                                                                      

Quý vị có biết quân đội chúng ta có bao nhiêu ông đại tướng. Cao cấp và thâm niên nhất là đại tướng Lê Văn Tỵ, khi ông qua đời thời kỳ quốc trưởng Nguyễn Khánh đã truy thăng ông lên Thống Tướng. Các vị đại tướng khác là tổng thống Dương Văn Minh, Cố vấn Đặng Văn Quang, quốc trưởng Nguyễn Khánh, Tổng tham mưu truong Cao Văn Viên và thủ tướng Trần Thiện Khiêm.                  

 Hoàng hôn của các đại t ướng.                                                              

Ngoại trừ tướng Viên ra đi từ miền Đông, tất cả các vị đại tướng đều trải qua những ngày cuối cùng tại tiểu bang CA Hoa Kỳ. Nước Mỹ đã từng là đồng minh của các tướng lãnh cầm quyền. Rồi đã quay lưng bỏ rơi, nhưng sau cùng Hoa Kỳ cũng vẫn là nơi quý vị gửi nắm xương tàn. Tôi có dịp nói chuyện với đại tướng Cao Văn Viên tại cao ốc cao niên xứ Virginia, với quốc trưởng Nguyễn Khánh và thủ tướng Khiêm tại Việt Museum San Jose. Không hỏi về chiến tranh và quốc sự. Chỉ hỏi về tuổi hoa niên. Còn tuổi nào là tuổi của tình yêu lúc mới vào đời. Tình yêu nước, yêu người và yêu chính mình.  Các niên trưởng đều đồng ý là tuổi 20. Thời kỳ trước 1954, ở Secteur Hưng Yên đã có 3 vị sĩ quan trẻ tình cờ gặp nhau trên chiến trường Bắc Việt. Trung úy Nguyễn Văn Thiệu gốc Phan Rang, Trung Kỳ. Trung Úy Cao Văn Viên gia đình từ Lào trở về Hà Nội, Bắc Kỳ. Đại úy Trần Thiện Khiêm, quê Long An, Nam Kỳ. Không ai biết rằng sau này sẽ trở thành tổng thống, thủ tướng và tổng tham mưu trưởng. Cũng vào thời kỳ đó đại úy Nguyễn Khánh từ Sài Gòn ra hành quân Hà Nội đã lấy cô vợ của 36 phố phường. Nửa thế kỳ sau tôi hỏi niên trưởng Khánh ai lái xe đưa ngài từ Sacto về thăm bảo tàng của chúng tôi tại San Jose. Ông nói ngon lành. “Moi” lái chứ ai. Lại hỏi ai ngồi ghế chỉ huy bên cạnh. Bà ngoại hàng Đào của đám Bắc Kỳ nhà anh chứ còn ai. Mấy năm sau cả hai ông bà cùng vào ở chung một phòng trong nhà già bác sĩ Ngải. Luật nursing home là nam nữ bất khả chung phòng, ngoại trừ phòng của ông bà quốc trưởng. Khi quốc trưởng ra đi, khách vào thăm, cô gái hàng Đào Bắc Kỳ, một thời đệ nhất phu nhân hồn nhiên nói rằng anh Khánh đi công tác. Không có nhà. Bà đã thăng hoa ngay trước khi tình Bắc duyên Nam vẫn còn nguyên vẹn. Ông Khánh lấy vợ Bắc nhưng ông đại úy Khiêm thì vẫn một lòng một dạ với tình yêu Nam Kỳ. Ông lấy vợ Rạch Giá. Trong quân đội cấp bậc của chúng tôi xa cách. Trong chính quyền vai trò của chúng tôi lại càng cách biệt, nhưng về đường tình duyên chúng tôi chẳng khác biệt bao nhiêu. Nhà tôi cũng là nữ sinh trường Nguyễn Trung Trực cùng với chị em bà Trần Thiện Khiêm. Khi cùng ngồi nói chuyện tôi thưa rằng từ Bắc vào Nam tìm thấy hồ Than Thở ở Đà Lạt. Ai ngờ đi hành quân ở Hậu Giang thấy Rạch Giá cũng có hồ Than Thở. Xếp Khiêm vỗ đùi nói rằng: “Toi”nói đúng, “moi”lấy vợ Rạch Giá cũng thấy cái hồ Than Thở  Mệt lắm.  

Nói đến thủ tướng Trần Thiện Khiêm ai cũng tiếc rằng ông Thiệu ông Khiêm đều không ông nào để lại hồi ký. Lúc sinh thời thủ tướng Khiêm nổi tiếng là người ít nói dù trước năm 1975 hay sau này trải qua gần nửa thế kỷ lưu vong. Ngày xưa trong một buổi đại hội tại Vũng Tàu do tổng thống Thiệu chủ tọa có cả nội các và tướng lãnh tham dự. Hội trường có cả trăm người chiếu trực tiếp trên TV. Tổng thống thao thao bất tuyệt. Ông nội thẳng những điều cấm kỵ. Về bang giao Việt Mỹ, ông không ngần ngại nói rằng ảnh hưởng Hoa Kỳ Việt Nam rất quan trọng và trực tiếp. Bên Mỹ hắt hơi là bên ta sổ mũi. Suốt buổi thủ tướng ngồi bên cạnh, đeo kính mát, yên lặng và bình tĩnh. Báo chí gọi là ông Tư mắt Kính. Không nói. Không lỡ lời. Không sai lầm. Đó có thể là khuyết điểm của chính khách. Đó cũng có thể là ưu điểm của chính trị gia. Sau này ra hải ngoại cũng như thế. Dư luận có thể thêu vẽ và bình luận về vai trò của đại tướng trong chính trường Việt Nam từ binh biến 63 cho đến ngày tàn cuộc 75, nhưng không hề khai thác được điều gì trực tiếp từ niên trưởng Khi êm. Tất cả chỉ là suy diễn. 

Những ngày sau cùng.

Những năm gần đây niên trưởng Khiêm quanh quẩn tại San Jose. Vóc dáng cao lớn và khỏe mạnh với tuổi ngoài 90. Ông không ngần ngại xuất hiện trong các buổi họp mặt đông đảo. Cùng với niên trưởng đô đốc hải quân Trần văn Chơn và tham mưu trưởng Nguyễn Khắc Bình, quý vị làm thành bộ ba tương đắc của QLVNCH. Thêm vào sự hiện diện của tổng trưởng kinh tế Nguyễn Đức Cường và dân biểu dược sĩ Nguyễn văn Bẩy.  Dù sao cũng chỉ còn vang bóng một thời. Chung quanh là những người biết chuyện nhưng không nói và người không biết tha hồ lên tiếng. Văng vẳng đâu đây là lời nói than vãn của trung tướng Thiệu: Mất nước là mất tất cả. Trong hoàn cảnh cả cộng đồng Việt hải ngoại chia rẽ giữa 2 đảng Cộng Hóa và Dân Chủ, ông đại tướng cuối cùng của Việt Nam Cộng Hoà lặng lẽ ra đi.  Lúc cư ngụ ở San Jose niên trưởng Khiêm bị té và đau chân. Ông nằm trong Nursing home một mình. Hồ Than thở xứ Ki ên Giang của ông đã bỏ đi từ lâu sau một thời gian rất dài ông phải săn sóc cho bà. Ông thủ tướng đã trải qua giai đoạn rất vất vả nuôi vợ mệt mỏi hơn cả lúc cầm quyền. Ông vẫn nằm chờ đợi một mình. Một hôm có vị linh mục là cha xứ gốc Việt của miền Senter vào thăm thân phụ. Quan sát thấy tình cha con trong vòng đạo lý tôn giáo. Cha vào thăm con hay con vào thăm cha. Đại tướng bèn mời linh mục đến gặp. Ông muốn tìm về niềm tin tôn giáo vào những ngày cuối của cuộc đời. Tôi tưởng rằng niên trưởng Khiêm lẽ ra phải theo đạo từ thời ông Diệm, nhưng tôi nhầm. Thời đó mà rửa tội có thể do ảnh hưởng chính trị. Nhưng đến năm 2021 mà theo đạo là do tiếng gọi của con tim. Đại tướng hỏi vị chủ chiên tên họ là gì. Thầy tu thưa rằng họ Lê chữ đệm là Trung, tên gọi là Tướng. Lê Trung Tướng. Chuyện đơn giản thành phức tạp. Vào ngày đẹp trời. Ngay tại Nursing Home có ông Trung Tướng họ Lê rửa tội cho đại tướng thủ tướng họ Trần tại San Jose. Cuối tuần qua lễ tang đã tổ chức cho niên trưởng Khiêm tại San Deago nhưng hoàn cảnh hiện nầy mọi chuyện đều phải xếp hàng. Niên trưởng của chúng tôi, vị đại tướng cuối cùng của QLVNCH cũng đang xếp hàng nằm chờ chưa đến lượt hỏa thiêu. Con người một thời lẫm liệt, kiến trúc sư của biết bao nhiêu cuộc cách mạng và binh biến. Người đã từng chờ đợi Được làm Vua và thua làm đại sứ. Đã gần 50 năm lưu lạc xứ người. 10 năm nuôi vợ đau yếu và sau cùng hồn thiêng đã bay về cố hương nhưng xác tục vẫn nằm chờ trong phòng lạnh để hỏa thiêu cùng thiên hạ. Đại tướng Khánh, đại tướng Viên, đại tướng Khiêm ai cũng nghĩ rằng cuộc đời đẹp nhất ở tuổi cấp úy ngoài 20. Nếu phải được trở lại làm tuổi trẻ 20 sẽ làm lại từ đầu. Sáng suốt hơn, xây dựng hơn, bao dung hơn và giúp được biết bao nhiêu cho đất nước cho dân tộc và cho chính mình.

Tuổi hoa niên cùng mặc áo chinh y, Lòng mở rộng giữa dòng đời ấm áp. Chín mươi năm, cuộc đời như gió thoảng. Chiều cô đơn về chậm hồn cao niên.(Giao Chỉ tưởng niệm niên trưởng Khiêm, cùng hội cùng thuyền những người con rể xứ Kiên Giang.)

Giao Chi San Jose.   giaochi12@gmail.com  (408) 316 8393




GỌI GIÓ VÀNG – Cao Mỵ Nhân

GỌI GIÓ VÀNG

Cao Mỵ Nhân

Thơ Đường qua thể loại thất ngôn bát cú thông thường, với hình thức một bài thơ gồm 8 câu, mỗi câu 7 chữ, 5 vần bằng  ở mỗi cuối câu: 1 2 4 6 8, cuối 3 câu: 3 5 7 thì tất nhiên là vần trắc rồi.

Nhưng không phải “chỉ có vậy.”  Nó, bài thơ thể loại này, còn bắt ta học gần nửa trăm quy luật: mà mỗi chữ, mỗi câu mang một nhiệm vụ riêng.

Các câu

1/ Phá đề

2/ Thừa đề

3+4 / Thực hay trạng: cặp đối thứ 1

5+6 / Luận: cặp đối thứ 2

7/ Chuyển

8 / Kết.

Xem ra quý vị cứ việc bám sát đề bài, với tinh thần nêu trên là qua cầu vui vẻ rồi.

Tôi nhớ cụ thi sĩ rất tên tuổi trong chiếu thơ Đường hàng chức sắc, nói với tôi rằng:

” Không phải cứ cặp đối 3+4 ( thực trạng ) với nội dung bài là đắc sách đâu, tất nhiên thực hay trạng của bài thơ Đường Luật là quan trọng rồi.

Nhưng, tôi nói cho Cao Mỵ Nhân biết, câu chuyển ( thứ 7 ), là đắt giá nhất, nó tóm gọn toàn bài trước khi kết thúc đấy .” ( Cụ Trình Xuyên ).

Sau khi tôi đã hoàn toàn chấm dứt cái nạn tù cải tạo do csvn áp đặt, đầu năm 1980, tôi bắt đầu sinh hoạt văn nghệ nơi các hội thơ, hội thảo thi ca cổ điển VN …xưa.

Tức là ngoài việc tôi gia nhập thi đàn Quỳnh Dao của quý vị nữ sĩ tên tuổi như Mộng Tuyết, Vân Nương, Quỳ Hương, Uyển Hương, Đinh thị Thục Oanh, Tuệ Mai vv…

Quý vị toàn gấp đôi, gấp rưỡi tuổi tôi, có vài vị nữ sĩ trẻ hơn các niên trưởng nêu trên, như Tuệ Nga, Tôn nữ Hỷ Khương, thì tôi trở thành ” Em út Quỳnh Dao “, có nghĩa là tuổi tác và sức khoẻ tôi còn xài được với thế hệ sau của quý niên trưởng chuyên xướng hoạ Thơ Đường.

Bên cạnh quý vị đương nêu, là quý thi khách Đường Thi như quý cụ Quách Tấn, Đông Hồ ( đã quá cố) , Giản Chi, Vũ Hoàng Chương,  Hà Thượng Nhân vv…cũng đã quá cố.

Song le, mỗi quý vị nữ sĩ Quỳnh Dao lại giao hảo với số khách Đường Thi riêng, mà khác đường lối chơi thơ cổ điển chung của thi đàn Quỳnh Dao, nên tôi vì là ” Em út Quỳnh Dao ” gần như tôi có bổn phận phải biết từng tích tắc khác biệt đó.

Thí dụ : Nữ sĩ Thu Nga thì thỉnh thoảng xướng hoạ với quý cụ thi sĩ Tế Nhị, Như Ý, Trình Xuyên, Linh Điểu vv…

Đại khái ” xã giao ” thơ, mà lại là thơ luật Đường , không phải đơn giản, chỉ 2 chữ ” Thôi, Xao ” của Giả Đảo đã là một thần thoại thích thú.

Nay, sau cuộc đổi đời 30 -4 -1975, sĩ khí người cầm bút đã gây nhiều mâu thuẫn thời thế, huống hồ chơi thơ luật, là các bậc thịnh Hán, túc Nho, có dịp biểu lộ tinh thần ” chi hồ giả dã ” thời đại ra, để khích bác điều bất như ý.

Do đó thế giới thơ của mỗi vị thì vô cùng …

Chuyện xướng hoạ thơ luật Đường vô hình chung cho ta cảm giác tôn ti trật tự của trước nhất là tuổi tác, các yếu tố khác như địa vị, gia thế vv…và nhất là thơ, có hay ho tới đâu, cũng phải qua ngưỡng cửa ” niên tuế ” khách thơ đang hiện diện ở hội thơ lúc đó.

Trong hội thơ Quỳnh Dao chúng tôi, kể từ ngày tôi tham dự , tôi luôn luôn là người giới thiệu chương trình hội thơ, thường thi đàn tổ chức thay phiên tại các tư gia của các nữ sĩ.

Cũng từ đấy, tôi may mắn được diện kiến các bậc ” Đường thi khách ” lão luyện còn …sót lại, mà tôi rất kính phục như quý cụ Quách Tấn ( Nha Trang ), Bùi Khánh Đản ( Saigon ) Chánh Hà, và nhất là nữ sĩ tiền chiến Ngân Giang, các vị ở Hà Nội từ thủa còn được tôn phong là Hà Thành thanh lịch.

Tức là thời đệ nhất bán thế kỷ vừa qua, không phải mang cái mầu sắc Xã Hội chủ Nghĩa hay vô sản, quý vị vô thăm Saigon và miền nam sau 30 – 4 – 2020, tôi mới có cơ hội được gặp quý cụ ” Đường thi chuyên nghiệp “.

Ngoài việc nữ sĩ chủ nhà buổi hội thơ hôm đó, mời tiệc, hội có thể mời thêm dăm ba khách ” thời thế ” , không làm thơ, nhưng muốn thả hồn theo dòng suy nghĩ riêng tư, thể hiện nơi hội thơ hậu chiến .

Cũng chính vì thế, mà không khí loãng ở một vài hội thơ sau cuộc đổi đời nêu trên, đã có lúc được khách tham dự phải bỏ cuộc, để mau chóng ra về, cho khỏi mang hoạ ” chính trị ” vào thân, vì bị Công An rình mò, bắt bớ.

Thí dụ : Tại tư thất nhà thơ hoàng phái Vĩnh Mạnh Thường Quân vào mùa xuân năm 1982, buổi đó được giới thiệu là có 3 vị thi sĩ lão thành đại diện cho 3 miền, gồm :  cụ Vũ Đình Liên ( Bắc) tác giả bài thơ” Ông Đồ “, cụ Vân Giang ( Trung ) và cụ Trác Ngọc ( Nam ) ngồi phía đầu dãy chiếu hoa trải kín nền phòng khách Thạch Động, chủ toạ.

Chúng tôi ngồi chung quanh chu vi chiếu thơ mở rộng.

Sau tất cả các thủ tục ban đầu, gồm giới thiệu thi tướng, thi tài vv… là ai muốn trình bầy ý thơ gì, cứ việc ” phát biểu “.

Nhà thơ ” Đường thi tức vị ” theo thời thế cho yên thân, đã hỏi cụ Vũ Đình Liên rằng :

” Cụ là chứng nhân của 2 thời đại thơ như Ông Đồ trước khi đi …cách mạng, và bài thơ Ông Đồ csvn, bút sắt thay bút lông ngày xưa vốn hoa tay thảo những nét, như phượng múa, rồng bay. Nay, nói theo thời đại ” logic ” tình hình thơ chung và riêng của cụ thế nào ?

Chúng ” cháu ” đã mất hết cảm hứng khi đọc lại bài thơ Ông Đồ xưa của cụ . Và, tại sao các cụ vô đây, để làm cái việc cho xe ba gác chở tất cả thơ hay, thơ đúng nghĩa thơ, của các thi sĩ danh tiếng cả nước, như thơ Vũ Hoàng Chương, thơ Đinh Hùng vv…” đem đi thiêu huỷ ?

Câu hỏi được đặt ra, nhưng không cần chờ nghe câu trả lời, nhà thơ trẻ ( ngoài 30 tuổi, cái tuổi dễ bị bắt nhất ) đứng lên cáo từ, và đi như chạy ra khỏi hội thơ.

Như tôi đã có dịp trình bầy nhiều lần là: Thơ luật Đường Tống đã phổ biến trong xã hội VN từ nhiều đời . Nét tinh hoa của thể luật này, tưởng kết thúc ngay từ đầu thế kỷ 20 vừa qua, với 2 hồi chuông báo tử thất thanh, của quý vị thi sĩ lỗi lạc Đường luật là cụ Tú Xương qua nỗi buồn phải chấp nhận hoàn cảnh tây học :

” Ném bút lông đi, viết bút chì …”

Cùng một cuốn thơ tạ từ năm tháng cũ :

” Mùa Cổ Điển ” của cụ Quách Tấn .

Tôi vốn ưa những điều ” ham hố ” .

Sau đại nạn 30 – 4 – 1975, thay vì đi tìm một ngoại ngữ học để có thể kiếm sống, tôi lại rong chơi ” Thơ Đường “, học hỏi và đi sát quý cụ để thấy được những kỳ bí, mà có lẽ chỉ ở thể loại này, người ta mới dễ bày tỏ, hứa hẹn, dặn dò quyết liệt người được nhận, hay phải trả lời thơ trao, hoặc tặng.

Nghe tin tôi vừa từ trại tù cải tạo về. Thi sĩ danh tiếng Bùi Khánh Đản cùng thi sĩ Bàng Bá Lân ( viết thơ mới nhiều hơn ) đã mỗi cụ một xe đạp mi ni, ghé thăm tôi sức khoẻ và hồn thơ khoảng khoát thế nào.

Cụ Bùi Khánh Đản viết trên một tờ giấy mầu vàng, rộng bằng trang báo lớn, bài thơ tên Quang Vinh như sau:

  QUANG VINH 

(Bài xướng)

Xiết chặt vòng tay cùng chặn gió

Mở đường kiếm khí dậy hào quang

Nước mây sẽ ấm trời băng lạnh

Cây cỏ rồi thay sắc đoạn trường

Hương chính nghĩa tràn trên đỉnh mộng

Lửa kiêu hùng đốt sạch rừng hoang

Chúng ta bỗng bật tim thành tiếng

” Sử Việt từ nay đẹp chữ vàng  “.

          Saigon 7/1980   

         BÙI KHÁNH ĐẢN

Dù mới từ trại tù cải tạo về, tôi cũng quên béng thân phận sĩ quan chế độ VNCH, rất dễ tái tù, khó tránh .

Tôi kính hoạ thơ cụ Bùi Khánh Đản tặng tôi như sau :

          GỌI GIÓ VÀNG 

              (Bài hoạ)

Vẫn thả diều lên, tìm hướng gió

Những ngày xanh biếc bầu trời quang

Để xem bóng nắng bao hy vọng

Còn thấy hơi sương phủ dặm trường

Thật rất vô tình nghe nước chảy

Thà đừng cố ý bước chân hoang

Đôi phen tim thắt vì thương tủi

” Mộng với thơ ai chép sử vàng ? “.

        Saigon 11-8-1980  

          CAO MỴ NHÂN

Cụ Bùi Khánh Đản ( 2010 ) và cụ Đỗ Bằng Đoàn ( 1908 – 1986 ) là đồng tác giả cuốn ” Đường Thi Trích Dịch” in roneo 300 cuốn tại Saigon năm 1959, gồm 503 bài của 133 tác giả.

Mới đây tôi được nghe: nhà xuất bản Văn Học Hà Nội đã  in tái bản tác phẩm đồ sộ ” Đường Thi Trích Dịch ” của 2 cụ nêu trên, dày 1271 trang, năm 2006.

Mỗi lần nhật nguyệt lững lờ trôi trên biển trời, cả thế giới

” Đường Thi ” lại như vần vũ gió mưa.

Những thế hệ suy tụng Đường Thi không xếp nếp thời gian, hiện nay ở quốc nội lẫn Hải ngoại, đang vun vén cả rừng hoa tuy bình cũ, nhưng rượu mới, ý thơ bát ngát, thanh sắc lạ lùng, nhưng đầy hứng cảm. Khách yêu thơ cổ điển ưa chuộng những tinh hoa ẩn hiện, linh diệu.

Song cũng chỉ hợp với quý vị tồn cổ, mang cảm giác thầm lặng trước sóng gió phế hưng của thể loại thi ca…đầy nguyên tắc từ xưa tới nay này.

              CAO MỴ NHÂN




Đọc ‘Hoa Cỏ Bên Đường’ của nhà báo Kiều Mỹ Duyên – PHAN TẤN HẢI & LÊ TỐNG MỘNG HOA – LÊ VĂN HẢI

Nữ Phóng Viên Chiến Trường Kiều Mỹ Duyên

Tôi hân hạnh được quen biết với Chị có lẽ đã trên 30 năm. Từ VN trước 75, tôi đã mến Chị qua bài phóng sự “Bay Trên Bầu Trời Lửa Đạn!” Rồi có duyên gặp Chị tại Hải ngoại. Mỗi lần xuống Nam Cali, có đến văn phòng địa ốc thăm Chị vài lần. Nhiều nhất đượcgặp Chị trong những buổi ra mắt sách.
Chị là cây bút hiếm có còn sót lại, gốc từ phóng viên chiến trường, đến nay vẫn sống chết với ngòi bút.
Nhớ thời khi Quê hương trong cơn “Binh lửa,” rất nhiều người vẫn theo đõi những bài phóng sự nóng hổi, khét mùi khói súng chiến trường có tên Kiều Mỹ Quyên, trên nhiều nhật báo ở Sài Gòn, nhất là trên nhật báo Hòa Bình. Tác giả bút ký chiến tranh độc đáo, có một không hai “Chinh Chiến Điêu Linh”
Qua Mỹ, người Nữ phóng viên nhỏ bé, còn xông sáo, thành công hơn cả trên chiến trường! Chị tốt nghiệp Đại học Cal Fulleton. Chủ nhân Ana Real Estate, một trong những văn phòng địa ốc lâu đời nhất, lớn nhất khu Sài Gòn Nhỏ.
Ngòi viết của Chị có mặt khắp nơi, trên khắp mọi phương tiện truyền thông, từ đài truyền hình, trên SBTN, SET, VNA TV, đến những đài phát thanh lớn, như Đài Á Châu Tự Do (RFA)…trên khắp mọi diễn đàn. Giống như “Tề Thiên Đại Thánh,” đâu cũng thấy!
VTLV hân hạnh giới thiệu Tác phẩm mới nhất của Chị xuất bản trong năm nay (2021) có tên “Hoa Cỏ Bên Đường” Bảo đảm rất khác với những ngòi bút nữ khác. Vì đã tôi luyện qua biết bao nhiêu chiến trường khốc liệt, dù qua bao nhiêu năm, vẫn sắc bén, như gươm như giáo, như súng như đạn, bắn vào con tim Người đọc, thành những mảng vết thương nhức nhối, mà sẽ…không bao giờ lành! Thử đọc mới biết!
LÊ VĂN HẢI

ĐỌC TUYỂN TẬP “HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG” CỦA KIỀU MỸ DUYÊN

LÊ TỐNG MỘNG HOA (VA)

Kiều Mỹ Duyên tham dự đại hội kỷ niệm 15 năm thành lập Đài Việt Nam Hải Ngoại.

Cô Lê Tống Mộng Hoa, một bằng hữu và là ân nhân của Hệ Thống Truyền Thông Việt Nam Hải Ngoại (áo dài vàng bên phải)

          Em đã đọc qua các bài giới thiệu tuyển tập HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG của nhà văn Huy Phương, nhà báo Chinh Nguyên và ký giả Mặc Lâm đài VOA. Cả 3 vị đều bộc lộ sự cảm phục và ngưỡng mộ lòng yêu thương, ham mê nghề nghiệp của “phóng viên chiến trường” xông pha vào nhiều chiến địa khốc liệt thập niên 1960 của người “nữ ký giả xuất sắc trong thời gian chiến tranh”: Kiều Mỹ Duyên.

Cả 3 nhà văn, nhà báo này đã viết rất chân tình, rất hay và dẫn dắt độc giả đến gặp một nhà báo lớn thành công, yêu thích nghề làm báo, một ký giả viết phóng sự chiến trường trong nước và viết báo ở hải ngoại qua hơn nửa thế kỷ (1968-2021):

Kiều Mỹ Duyên cũng là một nhà văn với lối hành văn giản dị mà lôi cuốn người đọc vô cùng. Lời giới thiệu tác giả HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG của 3 vị này đã quá đầy đủ và tuyệt dịu, vậy mà chị Kiều Mỹ Duyên vẫn muốn em viết đôi dòng cho tuyển tập này làm chi nữa?

          Vì vậy, em xin lỗi không giới thiệu sách HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG nữa mà chỉ “bật mí” những cá tính đặc biệt, đáng yêu của “chị Hai Kiều Mỹ Duyên” như tên gọi thân thương mà nhà văn Chinh Nguyên đã tặng cho chị.

          1/ Kiều Mỹ Duyên luôn nói cười vui vẻ, thân thiện mỗi khi gọi điện thoại cho bạn bè.

          Có lẽ nhờ duyên lành đưa đẩy mà em gặp và quen biết chị hơn 20 năm qua, mặc dù 2 người có cuộc sống và nghề nghiệp khác nhau. Chị là nhà địa ốc lớn, nhà báo nổi tiếng ăn nói khéo léo, mối giao thiệp lan rộng ra cả toàn cầu; còn em chỉ là “cô giáo dạy tiếng Việt không lương”, một chuyên viên điện toán tầm thường của chính phủ Liên Bang, chỉ giao tiếp trong phạm vi nhỏ hẹp của gia đình, sở làm, trường học tại địa phương.
          Điều khiến em thích thú nhiều nhất nơi chị là tiếng cười giòn giã, vui tươi mỗi lần chị gọi điện thoại hỏi thăm em.

          2/ Kiều Mỹ Duyên, nhà địa ốc giàu xụ luôn đòi “xin ăn” vì đang đói bụng?

          Mặc dù rất bận với 2- 3 công tác cùng một lúc, từ xa xôi chị vẫn gọi hỏi thăm và nói chuyện “thế sự gió mưa” với em ít nhất mỗi tuần 1 hoặc 2 lần.

          Em luôn cười thỏa thích khi nghe chị bảo: “Hoa ơi, mở cửa cho chị mau đi, chị đang đứng trước cửa đây nè, có gì cho chị ăn không, đói bụng quá!” Không những diễn màn hài hước “xin cơm chay” với em, vì biết em ăn chay trường tuy rằng chúng ta ở xa nhau vạn dặm (từ miền Tây sang miền Đông Hoa Kỳ), mà trong các chuyến đi hội họp ở các tiểu bang xa hoặc ở các quốc gia ngoài Hoa Kỳ, chị cũng “xin ăn” tại các chùa chiền và luôn được quý vị ni sư tiếp đãi ân cần, hậu hỹ. Chị còn được nhiều khách hàng của công ty Ana Real Estate (Broker An Nguyễn) làm thức ăn chay tinh khiết ngon lành mang đến biếu tặng chị vì lòng mến mộ, đến nỗi nhà văn Thu Nga (Tổng Giám Đốc Saigon Dallas Radio AM1600 kiêm Giám Đốc chi nhánh Hệ thống SBTN-TV Texas, bạn của chị ở Texas) đã phải than: “Mấy người này đang mang củi về rừng mà không biết!” Vì nhà nghèo mà lại đem dâng hiến cho nhà giàu, cũng lạ thật!

          3/ Hai chị em có chung một MƠ ƯỚC.

          Khi ký giả Mặc Lâm (đài VOA) phỏng vấn chị: “Bà có dự định gì cho những ngày sắp tới?”, sau hơn nửa thế kỷ hoạt động thành công trong lãnh vực báo chí truyền thông, chị đã tâm sự: “Cái mơ ước của chúng tôi suốt cuộc đời còn lại là giúp đỡ cho những người nghèo, những đứa trẻ mồ côi không cha không mẹ, hay là những người ở trong những làng quê hẻo lánh mà không được đi học thì mong rằng những đứa trẻ được đến trường, mong rằng những đứa trẻ có áo ấm mặc trong mùa đông và có thuốc men có thức ăn và có một đời sống văn minh cũng như tất cả mọi người.”

          Em đã cười vui sướng khi đọc đến đoạn này! Hi hi hi! Ha ha ha! Như vậy là hai chị em có chung một ước mơ, hèn gì tình thân thương giữa hai người tuy ở xa nhau, lối sống khác nhau vẫn còn được bền lâu, vững chãi.

          Xin cảm tạ ơn trên Trời Phật đã dẫn dắt cho em được quen biết với chị, một gương sáng hoạt động không ngừng nghỉ và đạt đến thành quả tốt đẹp rực rỡ trong môi trường báo chí, truyền thông cũng như địa ốc!

          Cầu mong cho tuyển tập HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG được đồng hương Việt Nam khắp nơi đón đọc thích thú và trở thành “Best Seller Book” năm nay giống như cuốn sách Chinh Chiến Điêu Linh của chị trước đây.

LÊ MỘNG HOÀNG

LÊ TỐNG MỘNG HOA (VA)-7/22/2021

Charity Group of VA Affection
Nhóm Từ Thiện Tình Thương VA
Caring and Sharing with Affection

Đọc ‘Hoa Cỏ Bên Đường’ của nhà báo Kiều Mỹ Duyên

Phan Tấn Hải

Không kể tới tuyển tập Chinh Chiến Điêu Linh, một tập bút ký xa xưa gồm nhiều bài có chủ đề một thời Chiến Tranh Việt Nam của phóng viên chiến trường Kiều Mỹ Duyên, tôi có nhiều cơ duyên đọc nhiều bài viết ở hải ngoại gần đây của người tôi quen gọi là chị An Nguyễn Kiều Mỹ Duyên, nhà báo của một thế hệ đã vào nghề phóng viên trước tôi nhiều thập niên. Những bài viết của chị gần đây thường là các đề tài bám sát đời thường. Thế rồi chị gom lại thành một tuyển tập có tên là Hoa Cỏ Bên Đường. Nơi đây, tôi chỉ viết về một số ghi nhận rời khi đọc tuyển tập này của nhà báo Kiều Mỹ Duyên, cũng là một người chị về nhiều phương diện.
 

Điều ghi nhận đầu tiên nơi chị là một thái độ tôn trọng các nhà tu bất kể dị biệt tôn giáo. Cái hay nơi chị là sự hồn nhiên, tôn kính rất mực thuần thành bất kể các tôn giáo khác nhau trong cộng đồng. Có thể đó là nhờ bản năng phụ nữ? Tôi không biết, nhưng hiển nhiên, chị là Phật Tử, điểm hay của chị là đã tiếp cận tất cả các tu sĩ tôn giáo khác như dường không hề dị biệt.
 

Điều này thực ra tôi đã học từ khi còn thơ ấu. Ba tôi dạy rằng đi qua chùa, nhà thờ, đền, miếu, thì phải cúi chào để bày tỏ lòng tôn kính, chớ có khởi tâm xúc phạm. Nhưng bản thân tôi không hoàn toàn hòa hài tự nhiên với nhiều tôn giáo khác, tuy rằng tôi luôn luôn chắp tay chào mỗi khi gặp linh mục, mục sư, giáo sĩ…

Kiều Mỹ Duyên phỏng vấn Hồng Y Francis George


Tôi đã kết thân, và đã giúp tận lực để in sách, rồi tìm người dịch sách cho Thầy Phó Tế Nguyễn Mạnh San, một người tôi rất mực tôn kính vì đã hoạt động trong cương vị luật sư hơn 2 thập niên trong hệ thống nhà tù Oklahoma. Tôi cũng đã có giao tình rất thân với Mục sư Nguyễn Quang Minh, một huynh trưởng hướng đạo và một thời là người thông dịch tòa án tại Quận Cam. Tôi vẫn còn nhớ cách Mục sư Nguyễn Quang Minh yêu cầu một thanh niên đang trong diện quản chế mỗi tuần hay mỗi hai tuần tới gặp mục sư ở một quán cà phê góc đường Bolsa/Magnolia, chỉ để uống cà phê chừng nửa giờ, rồi Mục sư bảo anh đang trong diện quản chế đó đi đâu gần đó, làm gì chút đỉnh, tới trưa thì cấp giấy là đã hoạt động cộng đồng vài giờ chi đó để tòa án sẽ tính điểm. Những lúc đó, có khi tôi chỉ ngồi nói chuyện với Mục sư Minh thôi, có khi tôi chụp hình rồi về tòa soạn Việt Báo viết một bản tin về tuổi trẻ Việt sinh hoạt cộng đồng theo quy định quản chế. Tôi cũng là nhà báo đầu tiên đăng các lời kêu gọi từ thiện của Mục sư Nguyễn Xuân Bảo, ngươi từng bị đốt nhà thờ; và trong một lần Mục sư Bảo từ Việt Nam ra, khi phi cơ ghé trạm Nam Hàn, nhằm lúc World Cup, Mục sư đã mua một quả bóng túc cầu có huy hiệu đặc biệt của sự kiện đó, về trao cho tôi, nói là Mục sư chỉ duy nhất mua 1 thứ về, và chỉ nghĩ tới tôi thôi, xem như “mua banh World Cup để tặng cho cậu con của anh Hải đấy.” Dù vậy, tôi vẫn thấy luôn luôn có một khoảng cách giữa tôi và các tu sĩ tôn giáo khác. Nhiều vị tu sĩ nói rằng lúc cầu nguyện, vẫn cầu nguyện cho tôi. Như Thầy Phó Tế Nguyễn Mạnh San nói, “Tôi luôn luôn cầu nguyện hàng ngày cho ông Phan Tấn Hải đấy. Ông Hải giúp tôi nhiều quá, nên tôi nghĩ tới ông hoài.” Tôi im lặng, lúng túng, vì bản thân mình là kiểu Phật Tử bên lề, không có thói quen cầu nguyện dù là cho mình hay cho người. Tôi chỉ khởi tâm từ để ước muốn bình an cho mọi người, nhưng không thực sự là cầu nguyện cụ thể. Có vẻ như mình ăn gian, vì họ cầu nguyện cho mình, mà mình không cầu nguyện cho họ. Nội mình lo canh giữ tâm mình cho đừng sai phạm cũng là hết ngày giờ rồi, hơi đâu mà cầu nguyện, nhưng chẳng hiểu sao chưa bao giờ tôi dám nói minh bạch. Chính những khi đó mới thấy mình với người là khác.

Kiều Mỹ Duyên phỏng vấn Hồng Y Phạm Minh Mẫn (bên trái), 2003

Nhưng chị Kiều Mỹ Duyên thì hòa đồng rất mực tự nhiên. Như trong bài Tạ Ơn đầu sách Hoa Cỏ Bên Đường, câu cuối chị viết là: “Cầu xin Thượng Đế ban phúc lành cho quý ân nhân.” Nghe rất tự nhiên, và sẽ làm biết bao nhiêu người hài lòng. Thực ra trong xã hội Hoa Kỳ, câu nói đó là tự nhiên, vì đi đâu cũng gặp chữ “God bless.” Dù vậy, tôi chưa bao giờ nói được hai chữ đó. Hóa ra, tôi mới thấy rằng tự bản thân mình không tự nhiên, khi thắc mắc về chữ nghĩa phức tạp.

 Nhà báo Kiều Mỹ Duyên là người có nhiều cơ duyên lớn trong đời. Nếu bạn ghé thăm văn phòng của chị ở khu thương mại nơi góc đường Westminster & Euclid, bạn sẽ thấy trên tường là một tấm hình chị đứng chụp chung với Đức Đạt Lai Lạt Ma đời 14. Đó là một hy hữu, cực kỳ hiếm có.

Rồi những cơ duyên khác của một nhà báo — đúng ra, chị còn là một người hoạt động cộng đồng, và đó là một ưu thế khi so với một nhà báo bình thường như tôi — chị Kiều Mỹ Duyên cũng từng có những cơ hội rất hiếm, như đã phỏng vấn Đức Hồng Y Francis George, khi Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ họp đại hội ở khách sạn Bilmore, Los Angeles, các ngày 15, 16 và 17 tháng 6/2006. Cũng dịp này, chị phỏng vấn Giám Mục William S. Skylstad, về những vấn đề rất trọng đại, như: Sự phát triển Thiên Chúa Giáo ở Hoa Kỳ trong những năm sắp tới, hay là Chủ tịch hội đồng giám mục Hoa Kỳ có ý định đến thăm Việt Nam hay không, và nếu có là khi nào. Để nhắc về tầm quan trọng: Đức Hồng Y Francis George là 1 trong 15 Giám Mục từng nằm trong danh sách được xem là ứng viên vào chức Giáo Hoàng trong đại hội mật nghị “2005 Papal Conclave” ở Vatican để bầu chọn tân Giáo Hoàng sau khi Đức Giáo Hoàng John Paul II băng hà tháng 4/2005.

Bản thân tôi ở trong nghề báo cũng lâu, chứng kiến nhiều sự kiện ở Orange County, nhưng kỷ niệm về phỏng vấn các lãnh tụ thì hoàn toàn thiếu vắng. Có thể, bản thân tôi ưa phỏng vấn các nhà thơ, nhà văn bên lề xã hội hơn. Trong khi đó, chị Kiều Mỹ Duyên có những cơ duyên lớn hơn.

Nhà báo Kiều Mỹ Duyên viết nơi trang 85-86 của sách Hoa Cỏ Bên Đường, trích:

“Nhờ làm nghề truyền thông mà tôi được nhiều cơ hội gặp mọi người, từ anh lính đến Đại tướng, từ người dân đến Tổng Thống, từ một người giáo dân đến Đức Cha chủ tịch Hội Đồng giám mục Hoa Kỳ, Đức Cha chủ tịch Hội Đồng giám mục Việt Nam. Đi đến đâu, tôi cũng được giúp đỡ một cách tận tình để được phỏng vấn.

Tôi phỏng vấn nhiều nhân vật quan trọng trên thế giới và tôi được cử làm phóng sự, thuyết trình, gồm có: Tổng Thống Gerald Rudolph Ford, bộ trưởng Elizabeth Dole, Tổng Thống Nga Mikhail Sergeyevich Gorbachev. Tổng Thống Nga nói sở dĩ nước Nga có tự do, nhờ ông và Tổng Thống George W. Bush làm việc ròng rã suốt 10 năm, thường họp ở Canada. Ông cho biết ông tham gia chánh trị lúc 18 tuổi nhưng chỉ một lần thất bại. Ông bị bắt giam gần bờ biển, chiều chiều nghe tiếng sóng vỗ và nhìn lên núi, ông nhất định phải trở lại chính trường và phải làm Tổng Thống. Khuôn mặt ông rất lạnh, ông có bằng Tiến sĩ toán, cô con gái đi theo ông khuôn mặt cũng rất lạnh. Tôi gặp Tổng Thống Nga hai lần, một lần ở Anaheim. Truyền thông có chỗ ngồi riêng, gần sân khấu, an ninh cho từng người truyền thông rất kỹ, cẩn thận không kém gì lúc tôi gặp Tổng Thống Ronald Reagan ở Anaheim hồi mới sang định cư ở Mỹ, mấy năm đó tôi đang làm báo cho Mỹ.”

Trong tập bút ký Hoa Cỏ Bên Đường, nhà báo Kiều Mỹ Duyên cũng ghi lại những cơ duyên phỏng vấn quý Thầy Phật Giáo VN, như ngài Đại Lão Hòa Thượng Thích Tâm Châu, Thiền sư Thích Thanh Từ, Hòa Thượng Giác Nhiên, Thầy Tuệ Sỹ, Hòa Thượng Thích Quảng Thanh, Hòa Thượng Thích Mãn Giác…

Trong sách này chị Kiều Mỹ Duyên cũng kể lại một vài chi tiết lịch sử, có thể gây xúc động cho Phật Tử. Thí dụ, như chị kể lại nơi trang 94:

“Học trò của Đại Lão Hòa Thượng Thích Tâm Châu rất giỏi, rất giỏi và hiện nay trụ trì nhiều chùa ở khắp nơi trên thế giới. Có lần, thầy nhờ tôi gửi tiền về cho thầy Tuệ Sỹ. Thầy Tuệ Sỹ rất gầy, gầy không thể tưởng tượng được. Năm 2001, tôi cùng với phái đoàn từ thiện quốc tế dành thì giờ ghé thăm thầy Tuệ Sỹ. Chúng tôi đang ngồi quanh thầy thì một cụ bà, sau này chúng tôi biết bà cụ có người con trai làm trụ trì một ngôi chùa, cụ vừa đến quỳ xuống lạy thầy Tuệ Sỹ. Chúng tôi phải vội vội, vàng vàng tránh xa ra. Phòng khách của thầy Tuệ Sỹ nhỏ xíu, thầy ra tù về trú ngụ ở chùa Già Lam, Gò Vấp, không có hộ khẩu, không đi mua gạo được.”

Trong tuyển tập bút ký Hoa Cỏ Bên Đường, nhà báo Kiều Mỹ Duyên còn nhiều bài khác, mang chủ để sinh hoạt cộng đồng, hay khắc họa chân dung nhiều nhân vật — như viết về Hòa Thượng Thích Quảng Thanh, về Giáo sư võ Aikido Đặng Thông Phong, về phóng viên Phan Trần Mai…

Nhà báo Kiều Mỹ Duyên đã trở thành một trụ cột lớn trong cộng đồng qua nhiều hoạt động, trong đó viết sách chỉ là một mảng hoạt động của chị. Gần như là chị có mặt khắp nơi trong cộng đồng. Chị xông xáo làm từ thiện, chị say mê làm đài phát thanh, chị mưu sinh bằng nghề địa ốc, chị tham dự guồng máy đại bồi thẩm đoàn của Orange County, và vân vân.

Nói theo một kiểu từng nghe được, thì nhà báo Kiều Mỹ Duyên có mặt trên từng cây số của cộng đồng Việt. Trong đó, tuyển tập bút ký Hoa Cỏ Bên Đường là một dấu mốc của nhà báo Kiều Mỹ Duyên, nơi đó độc giả sẽ nhìn rõ hơn chân dung và hoạt động của một người đã từng là phóng viên trước 1975 và bây giờ thỉnh thoảng làm phóng viên vì muốn đóng góp cho cộng đồng. Hy hữu mới có người như chị. Dễ dàng đoán được rằng tuyển tập bút ký Hoa Cỏ Bên Đường của nhà báo Kiều Mỹ Duyên hẳn là sẽ được cộng đồng đón nhận nồng nhiệt.

PHAN TẤN HẢI




TÌNH YÊU, TÌNH YÊU, VÀ TÌNH YÊU ƠI! – Kiều Mỹ Duyên

Đôi chim có bạn líu lo, ca hát đêm ngày vui buồn cùng ai.

          Một cô gái dễ thương, chủ nhiệm một tờ báo về Orange County dự đại hội kể với tôi rằng có người nói với cô:

          – Tôi cho em một hòn đảo nếu em để tôi chăm sóc em trọn đời. 

          Em trả lời:

          – Em yêu người chứ em không yêu hòn đảo, vì hòn đảo không có tiếng nói.

          Tôi nhìn vào mắt cô gái với sự ngưỡng mộ và thích thú.

          Một chàng trai trung niên đến thăm tôi cùng với một cô gái trung niên nói:

          – Cô ơi, em có 5 bất động sản, đã trả hết nợ rồi. Cô làm ơn cho tên của cô này vào với em.

          Nói xong chàng trai đưa tay chỉ vào cô gái cùng đến thăm tôi.

          Chàng trai đưa cho tôi địa chỉ của 5 bất động sản. Tôi đưa cho cô nhân viên tìm ra chủ quyền của 5 bất động sản này.

          Khi cô gái vừa bước ra ngoài để tìm báo đọc, tôi nói với chàng trai:

          – Em có biết khi em cho tên cô gái vào chủ quyền thì cô gái có phân nửa chủ quyền tài sản của em không?

          Chàng trai vừa cười vừa nói:

          – Cái mạng của em, em còn cho cô ấy huống chi bất động sản hay tiền bạc?

          Tôi nhủ thầm với chính mình tình yêu ơi, tình yêu sao mà dễ thương. Con người sống vì tình yêu, chết vì tình yêu. Tình yêu không thể giải nghĩa được tại sao mình thương yêu người này mà không  thương yêu người khác, tình yêu nhẹ như cơn gió thoảng.

Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

(Tống Biệt Hành- Thâm Tâm)

Làm sao cắt nghĩa được tình yêu!

Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều

Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt,

Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu…

(Vì sao- Xuân Diệu)

          Tôi được tham dự một tiệc cưới ở Bolsa, chú rể 80 tuổi, là một người nổi tiếng trong cộng đồng vì hoạt động xã hội, cô dâu gần 76 tuổi. 5 thế hệ trong gia đình tham dự tiệc cưới, nhưng 1 năm sau tôi đi thăm và cầu nguyện cho người vừa qua đời, cũng 5 thế hệ đội khăn tang. Tình yêu ơi, tình yêu, họ sống với nhau một năm, một năm hạnh phúc còn gì quý báu hơn? Tình yêu ơi, tình yêu ơi, tình yêu cất cánh cho hai tâm hồn hòa điệu. Tôi nghe chuyện tình của người trẻ, tôi nghe chuyện tình của người già, trái tim có tiếng nói của nó, không cần hỏi tại sao tôi yêu?

          Nếu tôi viết chuyện tình của người tôi quen viết hoài không hết. Tôi sợ nhìn những khuôn mặt với nước mắt, tôi thích nhìn nụ cười với những khuôn mặt đang yêu và được yêu rực rỡ thế nào! Tôi thích nghe tiếng cười giòn tan của những người cho trái tim của mình cho người khác. Ôi tình yêu sao mà đẹp quá?

          Có người nói thần tượng của tôi phải có tiếng nói, nghe tôi cười, nghe tiếng tôi khóc, khi tôi có việc khẩn cấp như Thần Chết thấp thoáng bên cạnh tôi thì thần tượng hiện hữu bên tôi, thần tượng của tôi không ngồi trên bàn thờ.

          Tình yêu vui thật, ngàn màu sắc khác nhau như thơ, lãng mạn, vui tươi, tình yêu không tính toán, khi yêu là yêu không cân nhắc, không phân biệt một thứ gì, không có sự ngăn cách.

          Tình yêu, tình yêu ơi, sao mà đẹp thế?

          Nếu không có tình yêu người ta sẽ không mặc đẹp, không có tình yêu người ta cũng sẽ không nghe nhạc. Tình yêu ơi sao mà mầu nhiệm? Những cô gái trẻ tâm sự với tôi, con mua áo đẹp để ra đường lọt vào mắt xanh của hoàng tử trong mộng, chàng trai ăn mặc đẹp để lọt vào mắt xanh của công chúa. Tình yêu sao mà tuyệt vời! Nếu không có tình yêu chàng trai sẽ không dành dụm tiền mua nhà rước nàng về dinh. Nếu không có tình yêu, không lập gia đình, không có những đứa trẻ thiên thần thì mua nhà có đất rộng để làm chi? Có vườn rộng rãi, có tiếng cười của trẻ thơ, tình yêu ơi sao mà tuyệt vời?

          Tình yêu ơi là tình yêu, có xe đẹp, có nhà đẹp, có tiền dành dụm để cùng người yêu đi du lịch vòng quanh thế giới thăm những kỳ quan trong chuyện cổ tích, tình yêu ơi sao mà đẹp quá?

          Nếu mọi người đều yêu thương nhau thì không có chiến tranh, không có nhà tù, không có chém giết lẫn nhau.

          Tình yêu ơi, tình yêu sao mà mầu nhiệm? Khi yêu đời sống rất đẹp, đẹp lắm người ơi và tình yêu làm cho người ta lạc quan hơn, yêu đời hơn, thấy gì cũng đẹp, nhìn đời bằng mắt màu hồng. Những người đang yêu hay đang có tình yêu nhìn vào đôi mắt của họ là biết ngay. Đôi mắt rực rỡ, nụ cười thật tươi, vui ơi là vui, tiếng cười nói trong trẻo, reo vui hơn. Tôi mong thế giới đầy tình yêu, người yêu người, Thượng Đế yêu người, chính quyền thương dân lo cho dân, cha mẹ thương con, ông bà đùm bọc con cháu của mình. Ôi tình yêu tuyệt vời, người yêu người, chỉ thấy việc tốt của người xung quanh, và người yêu người đời sống sẽ phong phú hơn, tuyệt vời quá.

          Mọi người yêu thương nhau, đầu óc không căng thẳng, không có mưu mô thủ đoạn lường gạt lẫn nhau. Tình yêu lên tiếng gọi, tình yêu ơi! Hãy nghe tiếng chim hót ngoài vườn buổi sáng, hãy nhìn những cánh hoa rực rỡ rung rinh trong gió, nghe mùi hoa lý hương thơm ngát trước sân nhà mà nghĩ đến người mình thương yêu nhất.

          Tình yêu ơi, hỡi tình yêu, con người thì đến lúc nào đó phải ra đi nhưng tình yêu vĩnh viễn vẫn còn ở đây, ở trong trái tim của những người thương yêu mình.

          Tình yêu sao mà tuyệt vời, tình yêu sao dễ thương và tình yêu vĩnh cửu.

Orange County, 12/07/2021

KIỀU MỸ DUYÊN

(kieumyduyen1@yahoo.com)




Giới Thiệu Tuyển Tập “HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG”- Giáo Sư Nguyễn Tường Tuấn

(Giáo sư Nguyễn Tường Tuấn, đồng sáng lập tổ chức Forgotten People Foundation – NGO, Western Oregon University, 2005-2006, cùng Tiến sĩ Jerry Braza. Giáo sư Tuấn Nguyễn, một cựu tù nhân chính trị và đã từng là một thuyền nhân, rất quan tâm đến cuộc sống của người dân Việt Nam. Tổ chức Forgotten People Foundation giúp đỡ trẻ em mồ côi, khuyết tật ở miền Bắc Việt Nam.)

          Thế hệ chúng tôi may mắn sinh ra và lớn lên nơi miền Nam tươi sáng. Trong cái hạnh phúc, là công dân của đất nước tự do, chúng tôi cũng phải gánh chịu nỗi bất hạnh của một quốc gia “nồi da xáo thịt“. Anh chị em miền Bắc, chưa bao giờ được hưởng cái không khí an lành của “Hòn ngọc viễn đông” một nửa hình chữ S đã từng là giấc mơ của cố Thủ tướng Tân Gia Ba, Lý Quang Diệu. Họ bị tẩy não ngay từ tấm bé, bằng lời thơ nô bộc “Yêu biết mấy nghe con tập nói – Tiếng đầu lòng con gọi Stalin – Thương cha, thương mẹ, thương chồng – Thương mình thương một, thương ông thương mười“. Chiến tranh xẩy ra vì thế, một nửa đất nước bị đầu độc, dù muốn hay không, thế hệ trẻ miền Bắc phải cầm súng lên đường, họ từ giã cha mẹ, vợ chồng, con cái, người yêu, để hy sinh cho bác và đảng, thực hiện giấc mơ “Sinh Bắc Tử Nam“.

          Thanh thiếu niên miền Nam cầm súng ra trận, không vì thằng bác khốn nạn, hay bè lũ đảng lưu manh. Chúng tôi chiến đấu để bảo vệ xóm làng, thành phố bình an. Cho dù phải hy sinh, thân xác phủ cờ vàng, người nằm xuống sẽ muôn đời được “Tổ Quốc ghi ơn”.

          Chiến sĩ Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, đã hiên ngang tái chiếm Cổ thành Quảng trị, anh dũng bảo vệ An Lộc, và kiêu hùng trên khắp mọi chiến trường. Trong từng thước đất của tổ quốc, chiếm lại bằng xương máu, người dân miền Nam Việt Nam không thể nào quên tên tuổi một nữ phóng viên chiến trường: Kiều Mỹ Duyên.

           Kiều Mỹ Duyên không ngồi tại văn phòng tiện nghi ở Sài Gòn để viết phóng sự. Chị mặc áo giáp, theo từng chuyến bay ra mặt trận, những bài tường thuật của chị là nhân chứng hào hùng cho tuổi trẻ chúng tôi, trong trận chiến bi thương, tàn khốc và bất công.

          Vâng, người lính Việt Nam Cộng Hòa đã hứng chịu mọi bất công nhất của thế giới tự do. Họ chiến đấu chống lại một chủ nghĩa cộng sản độc ác mà cả thế giới xa lánh. Tổng thống Hoa Kỳ Eisenhower từng vinh danh Việt Nam Cộng Hòa là thành trì chống cộng của thế giới tự do. Nhưng đám phóng viên, báo chí, truyền thông Mỹ không như thế. Họ ngồi trong phòng lạnh khách sạn Caravell, Majestic, cà phê La Pagode, Givral, Brodard tại Sài Gòn để viết phóng sự chiến tranh. Nếu có chăng, họ đi theo một vài đơn vị chiến đấu của Hoa Kỳ … Quân đội Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu, hy sinh trên 4 vùng Chiến thuật bị bỏ rơi trên báo chí Mỹ. Mậu Thân 1968, chúng tôi đẩy lùi cuộc tổng tấn công lịch sử của Bắc Quân trên khắp các thành phố miền Nam. Charlie, địa danh đi vào lịch sử với tên tuổi cố Đại tá Nguyễn Đình Bảo, báo chí Hoa Kỳ không hề biết.

          Trong nỗi cô đơn tội nghiệp đó, người nữ phóng viên chiến trường Kiều Mỹ Duyên đã trở thành “Tiếng nói, cho những người không tiếng nói“. Không những tại Việt Nam, khi đến Hoa Kỳ vào những ngày đầu tiên của thập niên 75, chị như cánh Chim ưng đã thay lông, đổi cánh, tung bay trên bầu trời bao la. Chị theo phi cơ của Cảnh sát Hoa Kỳ để tường thuật săn đuổi tội phạm. Chị vào thăm và làm việc trong nhà tù Mỹ, tham dự không mệt mỏi các hoạt động từ thiện qua tổ chức Y.M.C.A hoạt động tại nhiều quốc gia thứ ba trên thế giới. Kiều Mỹ Duyên là một Barbara Walter của người Việt không những tại Hoa Kỳ mà còn trên nhiều quốc gia khác. Chị phỏng vấn các vị chức sắc cao cấp Công giáo Hoa Kỳ, và Việt Nam; chị cũng có mặt trong những chương trình phỏng vấn những vị Hòa  thượng, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất. Về quốc tế, chị đã hỏi cựu Tổng thống Nga Gorbachev, một câu mà tất cả người Việt chúng ta cần nghe: Bao giờ đất nước Việt Nam thoát khỏi ách cộng sản? “Khi nào Trung Hoa cộng sản sụp đổ” đó là câu trả lời ngắn gọn của ông Gorbachev.

          Xin mời bạn cùng đọc “Hoa cỏ bên đường” để biết thêm về tầm vóc của chị Kiều Mỹ Duyên, một chiến sĩ tự do chưa hề buông súng.

Giáo sư Nguyễn Tường Tuấn

(Forgotten People Foundation – www.forgottenpeople.net – 2850 S.W Cedar Hills Blvd, Suite 131 | Beaverton, OR 97005)




NGƯỜI GIỮ LỬA – Phương Hoa

Thứ Bảy vừa rồi là ngày Ra Mắt Sách của Giáo Sư Nguyễn Văn Sâm, tại thành phố San Jose, Bắc California.  Đi cùng tôi là người bạn văn thơ Minh Thúy, từng đoạt giải nhì Văn cùng năm với tôi trong cuộc thi sáng tác Văn Thơ Lạc Việt 2016. Cô bạn gốc Huế này nhờ nhà ở gần San Jose hơn, lại thường hăng hái tham gia các sinh hoạt của cộng đồng Việt Nam ở đây, nên dù nhà tôi khá xa cũng có cơ hội dự buổi ra mắt sách của GS Sâm nhờ chạy đến nhà rồi bỏ xe đó đi theo xe với bạn.

Hôm ấy chúng tôi đến hơi sớm. Chủ tịch Văn Thơ Lạc Việt (VTLV) Chinh Nguyên đang bận trang trí cho buổi lễ vội vã dừng tay chào đón. Là người luôn nhiệt tình với các chương trình văn hóa Việt, ông chủ tịch Chinh Nguyên đã bỏ thời gian, tâm huyết, và nhiều công sức điều hành rất thành công cơ sở VTLV, tổ chức giải Văn Thơ LV hàng năm, xuất bản Tuyển Tập VTLV thường niên, và liên tục giúp tổ chức ra mắt sách cho rất nhiều tác giả đồng hương Việt.

Từ trái qua: GS Nguyễn Văn Sâm, Chủ Tịch VTLV Chinh Nguyên, Phương Hoa, Minh Thúy

GS Nguyễn Văn Sâm là nhà văn tiền bối mà tôi kính trọng, cũng là một trong các vị giám khảo của cuộc thi VTLV mà tôi đã thắng giải Văn năm trước, nên dù ở khá xa tôi cũng cố gắng đến để ủng hộ người.

Thấy GS Sâm xong việc đến ngồi chỗ bàn ký sách, tôi kéo Minh Thúy lại chào. Thật vui được nói chuyện trực tiếp với vị Giáo Sư mà từ khi quen biết đến giờ tôi chỉ trao đổi qua email và điện thoại. Chúng tôi phải chờ rất lâu mới chụp cùng GS được vài tấm hình kỷ niệm, vì ông bận ký sách liền tay.

Buổi lễ vừa bắt đầu khách đã ngồi kín các dãy ghế trong Câu Lạc Bộ Mây Bốn Phương. Một số người của Ban Tổ Chức và Ban Chấp Hành VTLV phải ra ngồi phía sau hậu trường. Tiến Sĩ Nguyễn Hồng Dũng hướng dẫn các thủ tục chào cờ Mỹ và chào cờ VNCH xong, thì MC Bác Sĩ Trần Văn Nam lên giới thiệu quan khách.

BS Nam quả là người có máu hài hước. Nhân đề cập đến chuyện chữ nghĩa theo thời gian bị “tam sao thất bổn”, ông đã “lẩy” câu Kiều thứ 57 của cụ Tiên Điền Nguyễn Du, “Sờ sờ nắm đất bên đàng…” bị ông làm cho “thất bổn” thành ra, “Xè xè nắm đất…” và đùa, ông đã nói vậy với bịnh nhân tiểu đường của ông, kêu họ phải chú ý tìm… mấy con kiến, làm mọi người cười ồ.

Diễn giả kế tiếp là nhà báo kỳ cựu Lê Văn Hải. Vẫn với giọng Bắc chậm rãi hiền từ như mọi khi, ông bày tỏ những nhận xét thật sâu sắc về tác giả và tác phẩm “Chuyện Đời Xưa” của GS Nguyễn Văn Sâm, và ông cũng ca ngợi nhà ngôn ngữ học Trương Vĩnh Ký là người có công lớn tưới bón cho tiếng Việt. Ông Hải còn cho biết, giới nhà báo như ông đã tôn Pétrus Ký là “Thánh Tổ” của báo Việt Ngữ, vì cụ là người đầu tiên lập ra tờ báo quốc ngữ của nước An Nam ngày ấy, lấy tên là “Gia Định Báo.”

Xen kẽ với quý vị diễn giả, các ca sĩ trong ban văn nghệ, Nguyệt Thanh, Thùy Nga, Khôi Nguyên, Hồng Hạnh… đã trình diễn những bài hát trữ tình rất hay và nhận được những tràng pháo tay vang dội cả hội trường.

Tiếp theo chương trình, TS Nguyễn Hồng Dũng lên giới thiệu tác phẩm “Chuyện Đời Xưa.” TS Dũng thao thao bất tuyệt điểm những câu, những chữ đặc biệt trong quyển sách của cụ Trương Vĩnh Ký mà GS Sâm đã chú thích rõ ràng. Ông còn nêu ra các thông điệp, bài học đạo đức trong cuộc sống mà tác giả muốn nhắn gửi trong nhiều câu chuyện, kèm theo chủ ý của GS Nguyễn Văn Sâm khi chú giải cho quyển sách này.

Đến lượt Chủ Tịch Văn Thơ Lạc Việt Chinh Nguyên giới thiệu về tác giả. GS Nguyễn Văn Sâm gốc Sài Gòn, thời VNCH dạy tại trường Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho, Pétrus Ký Sài Gòn, giảng sư Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, Đại Học Cao Đài Tây Ninh, và nhiều trường đại học khác. Ông cũng nhắc qua về những tác phẩm GS Nguyễn Văn Sâm xuất bản thời VNCH như “Văn Học Nam Hà,” “Văn Chương Nam Bộ…,” và ở hải ngoại đã in “Miền Thượng Uyển Xưa,” Câu Hò Vân Tiên,” cùng nhiều cuốn sách giá trị khác…

Sau đó GS Nguyễn Văn Sâm được mời lên trình bày về tác phẩm của mình.  Ông cho biết, quyển “Chuyện Đời Xưa” của Trương Vĩnh Ký là tác phẩm bán chạy nhất và đi vào lòng người nhiều nhất trong số hàng trăm quyển sách khác của cụ Trương ngày ấy. Sách hấp dẫn người đọc vì chứa đựng những câu chuyện vui về giáo dục luân lý, bài học làm người, và cách ứng xử những khi hữu sự. Thêm vào đó, “Chuyện Đời Xưa” được học giả Pétrus Ký viết hơn trăm năm trước, dùng văn nói thường nhật của người miền cực Nam, nên nó có giá trị lịch sử về ngôn ngữ Việt Nam. Và do đó ông mới chọn quyển sách này để in lại và chú thích thật rõ ràng hầu lưu lại cho các thế hệ con cháu Việt đời sau.

Sau đó, nhân thấy GS Sâm có chút thời gian rảnh tôi bước lại xin phép được hỏi ông vài chuyện. Trả lời câu hỏi điều gì đã khiến ông nghĩ đến việc in lại và chú giải quyển “Chuyện Đời Xưa” thay vì quyển sách khác.  Giáo Sư cho biết, ông nhận thấy quyển “Truyện Đời Xưa” của Trương Vĩnh Ký bản sớm nhứt in năm 1873 không ai còn tìm thấy, chỉ duy nhứt ấn bản 1914 còn tại thế là nhờ sự lưu giữ của cụ Vương Hồng Sển, vậy thì cần phải nhân bản nó để cho nhiều người có được. Từ sự suy nghĩ nếu in lại thì cũng nên làm chuyện gì có ích lợi cho người đọc, GS Sâm đã nẩy ra ý tưởng chú giải quyển sách.

Khi được hỏi là một nhà văn tiền bối, ông có lời khuyên gì cho những cây viết non trẻ của các thế hệ sau, GS Sâm trả lời khiêm nhường, nhưng là những lời khuyên vàng ngọc rất hữu ích:

– Tôi không dám có lời khuyên đến thế hệ đi sau, nhưng nguyên tắc cầm bút của tôi là tìm vui trong việc viết lách và nghiên cứu, cũng như sử dụng tối đa giờ giấc cho việc nầy. Cố đi với văn chương của mình suốt đời, không nửa chừng bỏ ngang vì bất cứ lý do gì, kể cả sự nghèo khổ bịnh tật, hay sự đánh phá của người khác. Quan trọng nhất, là tìm hướng viết đứng đắn, viết lách cẩn trọng, không viết vì tiền, vì thị hiếu của người nào, hay vì muốn có tiếng tăm, và sự đặt hàng mà mình thấy không hợp.

Giáo Sư Sâm còn tâm sự, trong gần 40 năm cầm bút ở hải ngoại, ông viết truyện bằng văn phong Nam Kỳ lục tỉnh, và đề tài ông chọn thường là đời sống bi đát của người trong nước hoặc hải ngoại, nhưng ông thường nhắm vào mặt tâm hồn hơn là bề ngoài. Hiện tại, ông đã phiên âm rất nhiều tuồng hát bội chữ Nôm, khoảng 100 hồi tuồng Tây Du Ký và 120 hồi tuồng Tam Quốc, nhưng ngại thời nay không còn nhiều người lưu tâm đến nên ông chưa cho trình làng. Hát Bội cũng là một nét văn hoá độc đáo của Việt Nam không thua gì nghệ thuật Cải Lương, hy vọng Giáo Sư sẽ đưa ra sớm để các đoàn hát có cơ hội ra mắt bà con. Sắp tới, trước cuối năm nay ông sẽ cho in tập truyện ngắn thứ 6 “Giọt Nước Nghiêng Mình”.

Chiều đến, nhân tiện đang còn ở San Jose, Minh Thúy muốn kéo tôi qua dự lễ Vu Lan ở chùa Hồng Danh, nên dù chương trình văn nghệ vẫn còn tiếp tục trong buổi RMS, chúng tôi chào GS Sâm và CT Chinh Nguyên rồi len lén rút êm, sợ làm kinh động mọi người mãi mê xem ca nhạc.

Ra đến cửa, tôi gặp GS Lưu Khôn, người từng là Hiệu Trưởng trường Phan Thanh Giản trước 75, cũng là bạn đồng nghiệp của GS Sâm ở đại học Văn Khoa. Tôi mừng quá chụp hỏi thầy mấy câu về GS Sâm để bổ sung cho bài viết, vì khi nãy tôi nghe GS Sâm nói hai người là bạn cũ, còn BS Nam cũng đã giới thiệu GS Sâm là “sư” chữ Nôm và GS Lưu Khôn là “thầy” về Hán tự.

GS Lưu Khôn vui vẻ kể, ngày xưa ông và GS Nguyễn Văn Sâm là bạn cùng dạy ở đại học Văn Khoa và nhiều trường nữa. Ông nói hồi đó ông rất mê Hán Văn còn GS Sâm thì chuộng chữ Nôm. Sau qua Mỹ hai người đều bận rộn nên ít liên lạc với nhau.  Lần ra mắt sách này nhờ ông nghe qua truyền thông nên biết GS Sâm sắp ra mắt sách ở Jan Jose và tự đến để ủng hộ bạn.

– Ông ấy thích chữ Nôm và rất chịu khó. GS Khôn nói.  – Cả đời ông đi sưu tầm các sách truyện chữ Nôm cổ xưa. Mỗi lần đi đâu ông Sâm đều mang theo tiền mặt, kể cả khi về thăm quê bên Việt Nam, hễ gặp sách cổ là mua liền.

Khi GS Khôn kể ông dịch xong quyển “Bát Thập Tự Tự” của Lâm Ngữ Đường ra Việt Ngữ lúc ông “vừa tròn 80,” tôi thật sự…hết hồn, vì bây giờ trông ông cũng khoảng chừng đó là cùng, chắc nhờ làm việc nhiều bằng trí óc nên người ông cụ trông rất là linh hoạt và minh mẫn.  Thấy tôi tròn mắt ngạc nhiên và nói bác đã vượt ngưỡng cửa 80 mà trông còn trẻ lắm, ông cụ cho biết chỉ vài năm nữa là sẽ mừng thọ cửu thập niên! Càng nói chuyện, tôi càng khâm phục ý chí của GS Khôn, một người bị bịnh mắt kém bẩm sinh từ nhỏ mà cố gắng học hành tới nơi tới chốn, giờ gần qua tuổi đại thọ rồi vẫn còn ngồi dịch, biên khảo hàng trăm trang sách bằng cách viết tay, vì không thể nhìn thấy chữ trên máy vi tính.

Thời VNCH, GS Lưu Khôn đã xuất bản nhiều tác phẩm giá trị, “Hán Văn Tự Học” Khai Trí xuất bản, “Phê Bình Văn Học Việt Nam”, và dịch nhiều truyện chữ Hán như “Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa”, ở hải ngoại ông dịch Quỳnh Dao, “Tam Độ Mai” “Cho Trọn Cuộc Tình”…

Sau đó GS Khôn hỏi tôi có biết em học sinh, sinh viên nào nhận đánh máy thuê để ông nhờ đánh máy dùm tập bản thảo cho “Thư Mục Phan Thanh Giản” mà ông sắp hoàn thành. “Soạn để lại nhằm sau này có ai muốn tham khảo về cụ Phan Thanh Giản sẽ có tài liệu khỏi mất công họ đi tìm tòi,” ông nói.

– Nào giờ tôi toàn viết “hú họa” trên giấy, liệu chừng mà viết chứ không có theo hàng lối gì hết cô ơi, vì mắt tôi đâu có thấy hàng kẽ! Cho nên người đánh máy cũng sẽ rất vất vả.

Tôi nghe mà xúc động đến nghẹn lời. Một ông cụ gần chín chục, mắt không nhìn thấy cả đường kẽ hàng, mà còn ráng sưu tầm rồi ngồi mò mẫm viết tay những tác phẩm văn học để lại cho đời. Có thể nói GS Lưu Khôn cũng là một trong những “người giữ lửa” rất quan trọng cho tiếng Việt thân yêu. Ước gì tôi có thời gian để đánh máy giúp ông. Giã từ vị cựu giáo sư uyên bác mà lòng tôi áy náy khôn cùng.

Hôm thứ Bảy là một ngày may mắn cho tôi, được gặp tận mặt, nghe tận tai những lời hay ý đẹp của các diễn giả trí thức, và chuyện trò cũng những vị giáo sư khả kính mà ngày xưa còn nhỏ ở trong nước dù có tình cờ diện kiến quý thầy, “con nhãi” như tôi cũng phải…xanh mặt khép nép cúi đầu né qua một bên, chưa dám nhìn thẳng mặt hay cả gan đụng vào vạt áo của quý thầy, chứ đừng nói chuyện dám tay bắt mặt mừng, chụp hình chung để dành làm kỷ niệm như bây giờ…

*

Là người Việt Nam ai cũng biết, tiếng Việt và văn chương Việt vô cùng phong phú. Nhưng sau khi chúng ta mất miền Nam tự do, nền văn hóa đẹp đẽ và tiếng Việt nguyên thủy đã bị làm sai lạc cả ý nghĩa. Nhờ tấm lòng thủy chung của cộng đồng Việt hải ngoại cùng nhau giữ lửa, nên tiếng Việt và nền văn hóa Việt vẫn được bảo tồn, ít nhất cho đến bây giờ.  Công lao này là của rất nhiều người, gồm các nhà giáo dục, quý vị dân cử, nhà văn, nhà báo, các cơ sở truyền thông, và các tổ chức cộng đồng, đặc biệt là các hoạt động văn hóa Việt Nam, điển hình là Văn Thơ Lạc Việt.

Nhiều người lo không biết rồi đây các thế hệ tiếp nối còn được bao người có lòng với quê hương đất nước mà tiếp tục giữ gìn tiếng mẹ đẻ như thế hệ hiện tại?  Câu trả lời là, chúng ta vẫn còn hy vọng. Hiện tại các trường học dòng chính Hoa Kỳ, đặc biệt là ở Nam Cali, đã được đưa vào dạy song ngữ Anh-Việt toàn thời gian bắt đầu từ bậc Tiểu Học, và trường đại học Cal State Fullerton cũng đã có chương trình tốt nghiệp bằng Cử Nhân Việt Học. Những kết quả này đều là nhờ sự đấu tranh không mệt mỏi của các nhà giáo dục, các vị dân cử gốc Việt, và cộng đồng Việt Nam chúng ta.

Năm 1873 khi viết quyển “Chuyện Đời Xưa,” cụ Petrus Ký được cho là người giữ lửa cho ngôn ngữ của dân tộc Việt. Hiện tại, 144 năm sau, GS Nguyễn Văn Sâm là người tiếp nối đã bỏ tâm huyết để chú giải rõ ràng rành mạch theo tiếng Việt miền Nam ngày nay và in lại tác phẩm văn học cổ này. Như vậy GS Sâm cũng là một trong những “người giữ lửa” của thời đại chúng ta, cùng chung tay giữ gìn để ngôn ngữ Việt không bị mai một.

Xin trân trọng giới thiệu với quý độc giả tác phẩm “Chuyện Đời Xưa Của Trương Vĩnh Ký – Những Điều Thú Vị” của GS Nguyễn Văn Sâm, vừa ra mắt tại San Jose, miền Bắc Cali, hôm thứ Bảy tuần rồi, và sẽ ra mắt lần thứ hai ở Nam California vào Chúa Nhật 24 tháng 9 do Nha-Văn-Nhạc-Sĩ Cao Minh Hưng tổ chức, với sự góp mặt giúp vui của các thành viên Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ, tại Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu Westminster, Hoa Kỳ

Quý độc giả muốn mua quyển sách rất có giá trị Văn Học Việt Nam này xin mời liên lạc tác giả:

samnguyen20002002@yahoo.com

Phương Hoa